Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2025

20. Huy Cận.

Sau cái chết của Huy Cận, những nhà thơ cùng thời với ông, và cả những văn nghệ sĩ thường được gọi chung là tiền chiến, còn lại những ai? Thêm bà Anh Thơ vừa mất nữa có thể coi đấy như những chiếc lá cuối cùng rời bỏ cái tàn cây mùa đông đã khô héo: chấm dứt một mùa thơ. Một mùa thơ huy hoàng trong lịch sử thi ca của chúng ta. Bởi vì, cùng một lúc, trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bao nhiêu tài năng lớn, mỗi người đủ lớn để tạo ra một thế giới thơ của riêng mình. Nhớ lại, năm 1940, khi tập Lửa Thiêng, tác phẩm đầu tay của Huy Cận được in ra, Hoài Chân – Hoài Thanh đã không tiếc những lời khen ngợi:

“Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc kết thành bao nhiêu châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn ghi lại trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan được”.

Người Pháp coi thơ Paul Claudel như một hạt kim cương. Cứ như cách nói của Hoài Thanh – Hoài Chân, thì cũng có thể coi thơ Huy Cận là một kho tàng châu ngọc. Thời tiền chiến nói chung, tuy chúng ta có rất nhiều thi sĩ, nhưng hễ cứ nhắc tới thơ tiền chiến, người ta luôn luôn nhớ ngay tới Huy Cận và Xuân Diệu.

Vì sao?

Không phải vì Huy Cận và Xuân Diệu là những đỉnh  cao nhất. Nhưng dường như vì họ, một người là biểu tượng cho nỗi buồn Đông phương trầm mặc vẫn còn chiếm hết một nửa tâm hồn mọi người [Huy Cận] và một người làm choáng váng tâm hồn mọi người vì những cái mới lạ vừa nhập được từ Tây Phương như ngọn đèn điện sáng choang chiếu vào cái nửa âm u trầm mặc ấy [Xuân Diệu].

Đêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn

Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi

[Huy Cận]

Hôm nay trời nhẹ dâng cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

Lá hồng rơi nhẹ ngõ thuôn

Sương trinh buông kín từ nguồn yêu thương

Phất phơ hồn của bông hường

Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng

[Xuân Diệu]

Khép lại Lửa Thiêng, Thơ Thơ độc giả lại có thể nhập vào những thế giới khác của những: Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Hồ Dzếnh, Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Nhược Pháp, Chế Lan Viên, Huyền Kiêu, Trần Huyền Trân và nhất là Thâm Tâm.

Cái mới của Thâm Tâm không có vẻ gì Tây phương cả nhưng vẫn làm người ta sửng sốt, thích thú. Trong khi thơ của những người khác trau chuốt, mượt mà, một mình Thâm Tâm gồ ghề, trúc trắc, cái trúc trắc chỉ có những tài năng lớn mới có được:

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Dáng chiếu không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Người đi ừ nhỉ người đi thật

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say

Thơ của họ hợp lại làm nên một trời thơ. Cái trời thơ ấy thấm nhập và làm nên một phần tâm hồn vài ba thế hệ người Việt Nam. Khi chiến tranh xẩy ra, con người chia phe này phe khác, cái tình yêu thơ, từ đó yêu cả người làm thơ, đối với một số độc giả, đã trở thành một nỗi tổn thương, trở thành vết rạn nứt trong tâm hồn. Đối với người miền Nam, sinh trưởng ở miền Nam hay từ Bắc di cư vào sau hiệp đinh Geneve 1954, thì chỉ riêng cái việc, các nhà thơ ở lại miền Bắc không còn làm thơ như trước nữa đủ là một nỗi đau. Thơ của họ đã khác hẳn. Họ làm thơ không phải vì thơ nữa mà vì những mục đích khác. Những gì họ viết ra trước đây, họ chính thức công khai từ bỏ, coi đó như những lỗi lầm. Ở miền Nam khi ấy, người ta lấy đó làm một điều đáng tiếc nên đã cố gắng sưu tầm, giữ lại những thứ bị vứt đi đó, tự huyễn hoặc bằng cách nghĩ rằng, làm như thế là để “bảo vệ văn hóa”.

Chỉ đến khi Xuân Diệu, viết rõ ràng trên báo, bảo những kẻ làm cái công việc ấy là: “Chúng gội vào cái thứ nước người ta tống ra đó và lấy làm thơm lắm”, người ta mới bật ngửa, không hiểu tại sao một tác giả, lại có thể dùng

những lời lẽ nặng nề, tục tĩu đến như thế để nhục mạ những người yêu thơ của mình và của những người đồng thời với mình.

Nhất là, sau đấy, khi được phép, họ, không một ai lại không vội vàng nhận lại tất cả những gì mình đã công khai từ chối, chính mình lại gội lại thứ nuớc mình tống ra đó! Tuổi trẻ mới lớn lên, thấy người trước ăn ở như thế, cư xử như thế, không biết họ nghĩ sao về những bực tiền bối, có khi sau này họ còn phải học trong các chương trình giáo khoa nữa?

Cái chết của Xuân Diệu, của Huy Cận, liệu có trả lại cho người đọc sự thưởng ngoạn tinh khiết đối với thơ của họ?

Phải mất bao nhiêu thời gian? Thơ Xuân Diệu, thơ Huy Cận in dấu trong lòng những người còn sống đây và những thế hệ mai sau liệu có gì khác

chăng?


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply