vietmessenger.com
Nguyễn Đình Toàn
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 24 Aug 2025

18. Hoàng Xuân Sơn
Những người yêu thơ nhất bây giờ cũng tỏ ra … sợ đọc thơ! Vì sao? Vì nhiều thơ quá!
Giở bất cứ một tờ báo, một tập san nào hiện có ra, người ta sẽ thấy ngay điều đó. Trên kệ của các tiệm sách lớn, nhỏ, luôn thấy có những tập thơ mới được bầy thêm, dù các chủ tiệm đều cho biết, đó là thứ hàng … khó bán nhất! Tin từ trong nước còn cho hay: hàng năm có từ 700 đến 800 tập thơ được in ra, nghĩa là trung bình cứ mỗi ngày có ít nhất 2 tập thơ được xuất bản. Với số lượng thơ như thế, ngay cả những người yêu thơ nhất cũng không thể nào không ngần ngại mỗi khi muốn tìm đọc thơ.
Và người ta đọc thơ theo cái cách gặp đâu đọc đó, đọc theo các bài điểm sách trên báo chí, [nếu không tin được các bài điểm sách thì cũng lấy được từ đó những thông tin.] Lại còn chuyện thơ hay, thơ dở, và dễ sợ hơn nữa là thơ không hay không dở, thứ thơ người ta cho rằng, đôi khi, làm hỏng cả cái “gu” đọc thơ [của mình].
Trong tình trạng thơ như thế, mà một nhóm các tác giả, những người không biết có ai sống được bằng nghề văn không, nhưng đã bắt đầu ngay từ lúc còn là học sinh, sinh viên, cho đến nay ít nhất nửa đầu đã bạc, vẫn còn tiếp tục viết, hẳn phải là những người yêu văn chương lắm [nếu không muốn nói là trời hành] đã xúm nhau lại, góp sức, góp tiền, xuất bản thơ cho Hoàng Xuân Sơn. Như cái tựa của nó, tập “Lục Bát Hoàng Xuân Sơn” được trình bày trang nhã, in trên giấy dày, gồm gần 100 bài lục bát. Thơ lục bát nhưng chỉ có vài bài được viết theo thể thông thường, câu trên 6 chữ, câu dưới 8 chữ, tất cả những bài còn lại đều được tác giả chẻ ra làm nhiều dòng, mỗi
dòng có khi chỉ một chữ, hay hai, ba chữ, nhưng vẫn là cấu trúc của những câu lục bát:
Thân Thồ
Ngày khuyu xuống trên thân thồ
kiếp xưa chim lạc
ốm o gầy mòn
hát ru trầm
điệu vai thon
gối đầu lên nỗi mất còn
thịt xương
em nhẹ quá
như bông hường
mà tôi cánh bướm tà dương
chập chờn
chẻ hai lời
vệt môi hôn
mớm câu họa mị nhiếp hồn tân toan
Ù,
kiếp vui cũng họa hoằn
thì đường quang quẽ đừng băn khoăn
chờ
tôi-nơi-em-khất-đời-thơ
có nhau vụng dại
dăm tờ
bối thơm
Bàn về cái-sự-xuống-dòng này của Hoàng Xuân Sơn [và nhiều người làm thơ khác đã làm như thế] Cao Vi Khanh người đề “Bạt” cho tập thơ, viết:
“Chấm hàng là chấm hàng. Chấm và hết. Không có hỏi han lôi thôi. Mà cũng không có phân trần lếch thếch. [thơ chứ bộ nhân tình nhân ngãi gì sao mà ỉ ôi … ]

Xuống hàng là xuống hàng. Giống y cái ngã ba đường đời vậy đó. Tới đó là phải anh-đường-anh-tôi-đường-tôi. Tới đó là người-lên-ngựa-kẻ-chia-bào. Có níu có kéo có trì thì cũng có cưỡng lại được đâu. Thì còn hỏi tại sao làm chi cho thêm ngớ ngẩn. Mà có hỏi thì cũng có ai trả lời đâu. Thiên hà ngôn tai! Tới đó thì xuống hàng vậy đó. Mà điều có thấy không dưng nghe như thảm thiết hơn khi lời thơ bị bứt rời ra, đứt lìa. Và hình ảnh không còn là một bức tranh tĩnh [chết] nữa mà trở thành một hoạt cảnh sống [động] hẳn hoi. Mà tôi cánh bướm tà dương chập chờn. Thơ đi một hơi một mạch
nghĩa là vẫn còn đó, sức sống. Sự liền lạc của chữ nghĩa mang trong nó hình ảnh của gắn bó, của tồn tại, nghĩa là của hy vọng [dù le lói]. Như vậy là câu thơ không chuyển được hết cái ý nghĩa của thôi-đành, của đành-vậy, của cũng- đành, của đầu-hàng, của chịu-trận, của hết-thuốc-chữa … nghĩa là của hy vọng.
mà tôi cánh bướm tà dương
chập chờn

[hai chữ chập chờn rớt xuống hàng in hình như đôi cánh mỏi đã rụng xuống chiều nào, thấy không]. Câu thơ động đậy làm hình ảnh cánh bướm xao xác,
chấp chới, như rụng, như rơi. Ý thơ được phụ diễn thêm bằng hình thơ. Tuyệt cú! Chẳng phải phương pháp audio-visuel vẫn được coi là cách thức truyền đạt hiệu quả nhất sao. Thơ lục bát của chúng ta, kể từ Xuân Diệu, Huy Cận, đến những Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, đã
có nhiều thay đổi. Ý tứ đòi hỏi sự thay đổi từ ngữ.
Đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ buồn tự nghìn xưa thổi về
Phất phơ hồn của bông hường
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng
[Xuân Diệu]
Em vào tắm dưới tòa sen
Những khe nước chẩy, những miền hải lưu
[Nguyên Sa]
Bóng xô dài ngã lao đao
Phải chăng lòng nặng chữu đầu mà đi
[Tô Thùy Yên]
Mình tôi với tuyết non cao
Với con phố tịnh buốt vào thị da
Những câu lục bát ấy đã khác xa với nhau và càng khác xa với những câu lục bát của ca dao, của Tản Đà, của Nguyễn Bính. Nhưng về hình thức chúng vẫn giữ nguyênvẹn là những câu 6/8.
Cắt hai câu 6/8 ra làm nhiều chữ, đoạn, có là một cách tân [phá thể] thực sự cần thiết đối với thơ lục bát hay đó chỉ là một việc làm có tính hình thức?
Sau đây là lời biện của Cao Vi Khanh cho sự phá thể đó của thơ lục bát và cho thơ Hoàng Xuân Sơn:
“Lục bát bị xé từng mảnh rồi ráp lại theo cái nhìn vỡ vụn của con mắt điêu linh. Chỏng ngược đầu xuống đất, mọi sự có dị thường hơn khi đứng hai chân trên mặt trần gian này mà làm thơ? Thơ lộn lạo như cõi hồng trần tất tả, thở hổn hển khi con tim đập sái nhịp nhân gian, mệt đừ:
tiễn cung. vút
một đuôi mày
hỡi ơi tình lụy
ngón tay
trễ tràng
Từ cái vị trí lỏng chỏng của cuộc sống bất an, của cái tâm bất định, của cái tình bất khả, thơ là đường bay lên của con tim bất trắc, trong một thế giới bất ổn. Như vậy có gì bất thường đâu khi lục bát vặn vẹo, co rúm hay luông tuồng, suồng sã … chẳng qua như cái hơi thở của mình, những khi đời … dở chứng”.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.