Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 24 Aug 2025

19. Hồ Hữu Tường

Chiều thứ bẩy mùng 6 tháng 7, 2003, nhật báo Người Việt, Tạp Chí Thế Kỷ 21, Đài Phát Thanh VNCR, và Hội Văn Học Nghê Thuật Việt Mỹ [VALAA] tại quận Cam đã tổ chức một buổi tưởng niệm nhà văn Hồ Hữu Tường tại trụ sở của báo Người Việt.

Một số khá đông các người lưu tâm đến các sinh hoạt văn hóa Việt Nam tới dự. Các diễn giả như bác sĩ Trần Ngươn Phiêu, giáo sư Lê Phước Sang, giáo sư Trần Văn Chi đều có chung sự do dự không biết nên gọi Hồ Hữu Tường là nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa hay nhà chính trị hay giáo sư?

Vì cả đời ông đã làm tất cả các công việc ấy và đã để lại nhiều ảnh hưởng.

Phần lớn các độc giả cũng như quần chúng Việt Nam biết đến Hồ Hữu Tường qua các bộ tiểu thuyết:

Thứ nhất: bộ Một Thuở Ngàn Năm, tiểu thuyết chính trị, trào lộng, gồm các cuốn Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Đại Náo Hoa Kỳ, Tiểu Phi Lạc Náo Sài Gòn. Thứ hai: bộ tiểu thuyết lịch sử xã hội miền Hậu Giang, gồm 4 tập: Mai Thoại Dung, Tam Nhơn Đồng Hành, Ông Thầy Quảng, Bủa Lưới Người.

Thứ ba: bộ Gái Nước Nam Làm Gì, tiểu thuyết chống Pháp, gồm các tập Thu Hương và Chị Tập. Ngoài ra ông còn viết rất nhiều tiểu luận liên quan đến mọi vấn đề chính trị, kinh tế, triết học v.v … Những bài báo ông viết ngay trong thời kỳ còn đang học trung học và sau đó khi sang Pháp du học, trong đó có cả những bài viết bằng tiếng Pháp, ký tên Nguyễn Ái Quốc sau này nhiều người lầm tưởng là của Hồ Chí Minh, thì chưa có một công trình nào sưu tầm, xác định rõ ràng cả. Hồ Hữu Tường ký nhiều bút hiệu như Huệ Minh, Nguyễn Huệ Minh, Khổng Cưu, Duy Minh, Huấn Chi, Duy Cúc.

Sở dĩ người ta được biết những sự thực đó là do những người như bác sĩ Trần Ngươn Phiêu, tuy nhỏ hơn những người như Phan Văn Hùm, Nguyễn An Ninh, Hồ Hữu Tường, nhưng khi ấy cũng là sinh viên yêu nước, đang du học tại Pháp và có những sinh hoạt gần gũi với nhóm, kể lại. Một chi tiết đặc biệt người ta không thể quên khi nhắc tới Hồ Hữu Tường là ông sống trải qua các thời kỳ Pháp thuộc, đệ nhất rồi đệ nhị Cộng Hòa, thời nào ông cũng bị bắt, bị ở tù, thậm chí bị kết án tử hình rồi được tha. Thời gian ở tù của Hồ Hữu Tường qua các chế độ thực dân Pháp và của những người quốc gia có dài nhưng ông không chết. Ông đã chết sau khi cộng sản chỉ giam giữ ông một thời gian ngắn.

Ông Hồ Hữu Tường tự nhận mình là một nhà văn hóa nhiều hơn một nhà văn. Trong cuốn Tương Lai Văn Hóa Việt Nam, tác phẩm đắc ý nhất của ông, Hồ Hữu Tường viết:

“Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin … để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về

cho dân tộc ta, dân tộc Việt”. Hồ Hữu Tường định nghĩa hai chữ “Văn Hóa” như sau:

“Văn trong nghĩa cầu nguyện của nó, là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ, là hung bạo. Hóa trong nghĩa cầu nguyện của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại, thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho con người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn”.

Tóm lại theo định nghĩa của Hồ Hữu Tường, văn hóa là những gì làm cho người trở nên “Người” hơn. Và đó là điều nhân loại chưa làm được. Cả Tây phương lẫn Đông phương đều chưa làm được. Những gì Tây phương sản xuất ra trong văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học … đã bị cái ông gọi là “quái hóa” khuất phục. Chính cái “quái hóa” này đã biến những tư tưởng đẹp đẽ như “tự do, bình đẳng, bác ái, thành phương tiện, thành khí giới để chinh phục. Quái hóa đã sui khoa học chế ra đại bác, chiến xa, phi cơ, hơi ngạt, vi trùng, nguyên tử để giết người, để chinh phục kẻ yếu, để đè nén, áp bức dày xéo chúng ta”.

Còn Đông phương “chỉ có những thuật tu dưỡng, chứ đã có văn hóa bao giờ?”. Vì thế, có thể nói, mộng ước, hoài bão của Hồ Hữu Tường và ông kêu gọi mọi người Việt Nam cùng làm với ông, là xây dựng cho Việt Nam một nền văn hóa nhắm mục đích làm cho con người mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn. “Nó là cuộc vận dụng thường xuyên của tinh thần, văn hóa phải làm sao cho cái chân, cái thiện, cái mỹ, thấm nhuần lý trí, tình cảm, bản năng, cơ thể mọi người, mọi chế độ, của mọi tương quan xã hội. Lương tri sẽ là sản phẩm của người. Nó có nguồn gốc ở người. Nó là một vật nhân bản”. Hoài bão như thế, mong ước như thế, cầu nguyện như thế, nhưng cũng ngay trong Tiếng Gọi Đàn [1945] của ông, Hồ Hữu Tường đã biết rằng “dù có thét to đến bực nào, dù có một giọng tha thiết như thế nào, dù có những luận điệu đanh thép cách nào, tiếng gọi đàn của tôi cũng sẽ là tiếng kêu trong sa mạc”.

Tóm lại qua những gì Hồ Hữu Tường đã viết, đã làm, người ta có thể đi đến kết luận, hình như ông chỉ có một niềm ao ước thực sự: muốn mọi người và chính bản thân trở thành những người Việt Nam bình thường, yêu nước, muốn cho đất nước được vẻ vang, dân tộc được thế giới kính nể vì đạo đức, vì sự hiểu biết, lấy chân, thiện, mỹ làm tiêu chuẩn sống, đúng nghĩa những con người văn hóa như quan niệm của ông, rõ hơn, theo đúng nghĩa cầu nguyện của hai chữ văn hóa theo cách nói của ông.

Nhưng làm thế nào để đạt những điều ấy thì đọc hết những cuốn sách của ông người ta không khỏi có lúc ngẩn ngơ tự hỏi, chúng ta có bao nhiêu người đạt tới trình độ hiểu biết của Hồ Hữu Tường? Bản thân ông đã thực hiện được bao nhiêu sở nguyện trên thực tế ngoài phần lý thuyết? Và sau cùng, từ bấy đến nay, chúng ta sống xa dần hay gần thêm được bao nhiêu những gì ông rao giảng, mơ ước?


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply