This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam Post by Sơn râu 26 Sep 2025
61. Phan Khôi.
Phan Khôi là ai? Hỏi những người trẻ ở trong nước hiện nay ít người biết. Người lớn và các nhà phê bình văn học tránh không nhắc đến ông. Các thầy cô không nói đến Phan Khôi vì tên ông không có trong chương trình học.
Ông theo kháng chiến từ những năm đầu. Và ông cũng tự xác định vị trí của mình như sau:
Tuổi già thêm bệnh tật
Kháng chiến thấy thừa ta
Mối sầu như tóc bạc
Cứ cắt lại dài ra
Nắng chiều đẹp có đẹp
Tiếc tài gần chạng vạng
Mặc đầu gần chạng vạng
Nắng được thì cứ nắng
Hình như công việc quan trọng nhất người ta giao phó cho ông trong những năm kháng chiến là thỉnh thoảng làm giám khảo các cuộc thi thơ, thi văn nghệ. Tính ông cương trực, hay nói thẳng, nên chắc cũng không được lòng nhiều người. Trong cuốn hồi ký của mình Tô Hoài viết: “Ông [tức Phan Khôi] chẳng coi tôi ra cái đinh gì. Nhưng ông cũng hãi tôi chứ?”.
Tô Hoài không nói rõ vì sao ông Phan Khôi hãi ông. Trả lời phỏng vấn của một đài phát thanh ngoại quốc mới đây, về các văn nghệ sĩ ở trong nước cùng thời với mình, có vẻ như Tô Hoài chẳng coi ai ra gì, đánh giá mọi
người đều xoàng. Không biết trước có như vậy chăng? Tô Hoài gọi lối viết, luận lý của Phan Khôi như gừng, cay nhưng chịu. Về cái chết của ông Phan Khôi, cũng trong cuốn hồi ký của mình Tô Hoài kể: “Đứng từ phòng trên một căn lầu, nhìn qua cửa sổ xuống dưới đường, thấy đám ma của ôngPhan Khôi đi qua, đằng sàu quan tài chỉ có một mình chị Hằng Phương đi đưa. Hằng Phương là vợ nhà phê bình Vũ Ngọc Phan và là cháu gọi ông Phan Khôi bằng cậu”.
Google image edited by Sơn râu
Như thế hẳn Đảng và Hội Nhà Văn miền Bắc không cho là ông có công trạng gì. Còn những người quen biết chắc sợ bị liên lụy nên không ai tham dự đám táng cả. Theo các tài liệu còn lưu giữ được thì ông Phan Khôi, trước kháng chiến, tuy là một nhà nho nhưng lại chính là người đứng lên hô hào ủng hộ phong trào thơ mới. Không chỉ cổ động suông, ông còn cho đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn số 122 xuất bản ngày 10 tháng 3 năm 1932 tại Sài Gòn bài thơ Tình Già của ông, làm rúng động khắp ba miền Nam, Trung, Bắc. Dư luận chia làm hai phe. Phe đả kích, phần lớn là những người già, cho rằng, đây là một điều sỉ nhục cho thơ Việt Nam.
Ngược lại những người ủng hộ, giới trẻ, lại tin rằng bài Tình Già sẽ mở cánh cửa lớn cho cho trào lưu thi ca mới, thay thế cho nền thi ca gò bó cũ.
Ông Phan Khôi không đơn độc. Phe chống đối yếu dần. Một lớp các nhà thơ trẻ đầy tài năng lúc bấy giờ như: Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Vũ Hoàng Chương, Chế Lan Viên, Thái Can, Đông Hồ, Nguyễn Vĩ, Tế Hanh, Thanh Tịnh … đã ủng hộ thơ mới, tung những sáng tác của họ ra và làm thành một nền thi ca rực rỡ mới. Như thế, ông Phan Khôi được coi là người khai sáng phong trào thơ mới ở Việt Nam lại không phải là người làm nhiều thơ.
Suốt đời ông chỉ làm đôi ba bài. Sáng tác chính của ông là truyện ngắn và ký sự. Vì đăng truyện ngắn Ông Năm Chuột của Phan Khôi tờ báo Văn ở Hà Nội đã bị đóng cửa và tác giả đã bị thù ghét. Bằng truyện ngắn này, ông muốn nói thẳng ra rằng, giai cấp thống trị nào cũng thối nát và luôn tìm mọi cách che giấu tội lỗi của mình, nhưng càng tìm cách che đậy bao nhiêu người ta càng thấy rõ bấy nhiêu.
Năm Chuột là người lưu lạc tới cư ngụ trong làng ông Phan Khôi và làm nghề thợ bạc. Năm Chuột nổi tiếng là thợ khéo nhưng cũng mang tiếng gian, hay tráo bạc, tráo đồng lấy vàng của khách hàng, nghĩa là ăn cắp. Cái cách nói móc và sự hiểu biết của Năm Chuột làm nên cái hấp dẫn của câu chuyện hay nói cách khác, nghệ thuật viết truyện ngắn của Phan Khôi.
Ông cũng là một trong những người đã phát động phong trào Trăm Hoa Đua Nở ở miền Bắc, chống sự độc tài về văn hóa sau năm 1954, nên bị đảng cộng sản thù ghét và bao vây kinh tế, sống trong cảnh nghèơ túng, không sáng tác được gì nữa cho đến khi chết.
Sau đây là nguyên văn bài thơ Tình Già, bài thơ được coi như mở đầu chơ thơ mới Việt Nam của Phan Khôi:
Độc giả Việt Nam ở hải ngoại trong vài năm gần đây, đã được đọc mấy tác phẩm của nhà văn Phạm Quỳnh, đó là các cuốn:
– Giải Oan Lập Một Đàn Tràng
– Phạm Quỳnh Tuyển Tập và Di Cảo
– Phạm Quỳnh Hành Trình, Nhật Ký
Sách do các nhà Tâm Nguyện và An Tiêm xuất bản. Như mọi người đều biết, vị vua cuối cùng của chúng ta là Bảo Đại. Ông Phạm Quỳnh là Lại Bộ Thượng Thư, chức vụ tương đương với Thủ Tướng Chính Phủ hiện nay, trong triều đại cuối cùng ấy.
Ông vừa là nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa, vừa là chính trị gia, giữ chức vụ quan yếu nhất trong các Bộ, bên cạnh Hoàng Đế. Hiển nhiên những gì ông viết ra, để lại, hết sức quan trọng đối với chúng ta, vì nó liên quan tới một giai đoạn lịch sử còn ảnh hưởng tới cả đất nước hiện tại.
Giải Oan Lập Một Đàn Tràng là chữ lấy trong truyện Kiều của Nguyễn Du [Giải oan lập một đàn tràng ven sông].
Ông Phạm Quỳnh cũng là người đã viết ra câu:
Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn
Tiếng ta còn thì nước ta còn
Dùng mấy chữ của Nguyễn Du để đặt tên cho tác phẩm của mình, có lẽ ông Phạm Quỳnh cũng hé mở cho mọi người thấy rằng, lịch sử cận đại của chúng ta có nhiều nỗi oan khiên chăng?
Hãy lấy đoản văn Một Ngày Một Đêm của ông làm thí dụ. Cái ngày ông Phạm Quỳnh nói đến trong chuyện của ông là ngày 9 và cái đệm đó là đêm 10 tháng 3 năm 1945. Đó cũng là ngày và năm Nhật đảo chính Pháp trên bán đảo Đông Dương. Đọc Một Ngày Một Đêm chúng ta biết được, về phương diện lịch sử, vào thời điểnt trọng đại ấy, Hoàng Đế và Triều Đình ta đầ làm những gì?
Google image edited by Sơn râu
Ông Phạm Quỳnh viết:
“Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm xong, tôi đang ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên, khi ở
phía dưới. Đương phân vân thì thấy quan Đề Đốc Hộ Thành Phan Gia Trung chạy vào Bộ. Ông nói: ‘Có biến to. Nghe đâu lính khố đỏ phản lại Tây, đương đánh nhau dữ. Xin cho đóng các cửa thành’. Tôi cũng hối ông truyền cho lính đóng chặt các cửa thành, nội bất xuất ngoại bất nhập.
Khi bấy giờ đứng ở thềm Bộ Lại, Ông Đề với tôi cùng sực nhớ Hoàng Đế và Hoàng Hậu ngự ra Quảng Trị đã mấy bữa nay, có lẽ chiều nay hay sáng mai về, nhưng chưa biết hiện giờ đã hồi loan chưa. Vì những khi các ngài ngự vi hành như thế này, thì chỉ lính canh trong Đại Nội và viên Võ Hộ
Giá Tây mới biết giờ đi, giờ về mà thôi. Tôi nói với ông Đề:
‘Thôi quan lớn cứ đốc suất việc cấm phòng trong thành cho cẩn mật. Để tôi vô Nội, nếu Ngài đã hồi loan thì tôi chầu Ngài, nếu chưa thì tôi sẽ đi tìm Quan Ba Bon để hỏi’. Ông Đề cũng nói: ‘Phải đấy cụ nên vô Nội để chầu các Ngài là phải. Bấy giờ, trời tối đen và hơi mưa phùn, ông liền nói:
‘Tôi sẵn cái xe tay kéo tôi đây, cụ lên xe mà đi cho mau”.
Như thế, theo lời kể của ông Phạm Quỳnh, chúng ta được biết, vào đêm xẩy ra vụ Nhật đảo chính Tây, Vua và Hoàng Hậu không có ở trong Đại Nội. Các quan thì cũng gần như cũng chắng biết chuyện gì đang xẩy ra, chỉ nghe nói ‘lính khố đỏ phản lại Tây’. Sau đó người Nhật đã cho ông Phạm Quỳnh biết, qua một người thông ngôn:
“Hiện quân Nhật đang giải võ quân Pháp vì có việc lôi thôi giữa quân Nhật và quan Toàn Quyền Decoux. Nhưng không việc gì đến người Việt Nam ta”.
Giải võ xong người Pháp, người Nhật, chính xác là hai quan lãnh sự Watamata và Ishida đã đến Nội ‘xin chầu Hoàng Đế để tâu việc cần’ đúng như những chữ ông Phạm Quỳnh dùng.
Ông cho biết thêm:
“Buổi tiếp kiến này là một giai đoạn quan hệ trong lịch sử nước ta, vì là buổi đề cập tới vấn đề độc lập nước Việt Nam”.
Google image edited by Sơn râu
Tình hình nước ta sau đó diễn ra thế nào cho đến nay, mọi người đã biết.
Có vài điều, chỉ khi đọc sách của ông, nhiều người trong chúng ta mới biết, đó là cách xưng hô, các từ ngữ được dùng trong triều đình.
Chẳng hạn như xe của Vua gọi là “xe ngự”, xin được gặp Vua để trình việc gọi là “xin chầu” để “tâu”. Vua làm gì đó, chẳng hạn ra vào, gọi là “ngự”. Vua nói gọi là “ban”. Vua tha lỗi gọi là “ban xá”. Vua gọi các quan vào chầu gọi là “triệu”. Các quan gọi nhau dùng từ “quan lớn” hoặc thân mật thì gọi là “cụ”. Quân lính nói với các quan gọi là “bẩm”. Nghĩa là cũng gần giống như trong các truyện Tàu chúng ta thường đọc. Cho đến năm 1945 trong triều đình hình như vẫn chưa có điện thoại, nên khi muốn thông tin gì đó, người ta vẫn phải tìm cách đi lại gặp nhau.
Vua đã di chuyển bằng xe hơi. Nhưng các quan vẫn còn dùng “xe tay”, nghĩa là xe do người kéo.
Tuy Giải Oan Lập Một Đàn Tràng của Phạm Quỳnh đã được viết cách đây hơn nửa thế kỷ, nhưng cho đến nay vẫn vẫn còn có thể coi là mẫu mực cho những ai muốn học viết tiếng Việt một cách giản dị, mạch lạc, trơng sáng.
Phạm Quỳnh cũng là người chủ trương tạp chí Nam Phong, tạp chí đã đóng góp rất nhiều vào việc khai hóa dân trí, nhất lă bản lãnh ai thức các lớp thanh niên giữa giao thời Hán và Tây học.
Ông Phạm Quỳnh đã bị cộng sản giết chết khi họ cướp được chính quyền từ tay người Nhật. Dư luận cho rằng, không biết đến bao giờ đất nước mới có được một bậc trí giả tầm cỡ như vậy.
Đọc sách đôi khi chúng ta không khỏi có lúc thắc mắc tự hỏi, tại sao, chúng ta không thiếu những nhà văn, nhà thơ, các học giả thông kim bác cổ, nhưng chúng ta lại không có những nhà tư tưởng, những triết gia?
Và đó có phải là lý do giải thích vì sao, văn học chúng ta không thực sự đạt tới những đỉnh cao?
Nguyên cớ của sự bất như sở nguyện ấy, có phải chính vì cái học của chúng ta, có điều gì đó, cần xét lại chăng? Cái học nói tới ở đây là cái học của người xưa, ông Phạm Quỳnh, nhìn lại, suy ngẫm lại.
Trong một lá thư gửi bạn, ông Phạm Quỳnh viết:
“Xét ra cái tôn chỉ của đạo Nho ta là ở sự thực hành. Người đi học hễ đã biết suy nghĩ, tất có cái chí muốn thi thố ngay, vì học là cốt cho biết những lẽ khôn ngoan của các thánh hiền đời trước đã phát minh ra để trước là sửa mình, sau là tề nhà, sau nữa là trị nước; chứ học mà không đem ra ứng dụng được ở đời thời cái học ấy các cụ cho là không có giá trị gì.
Cứ lý tưởng mà xét thời cái chí ấy cũng không khỏi hẹp hòi một chút vì rằng, sự tư tưởng với sự hành động không tất nhiên là phải tùy thuộc lẫn nhau, nếu chỉ biết tư tưởng để mà hành động, thời tư tưởng ấy sẽ bị hành động hạn chế mà không bao giờ tiến lên được: coi như nước ta văn hiến đã từ bao giờ, tuy những bậc hiền nhân quân tử chẳng thiếu gì mà trước sau gọi được là bậc đại triết học có người nào? Chỉ vì cái quan niệm về sự học vấn tư tưởng của các cụ ta ngày xưa vụ thực quá, học để mà làm, chứ không học để cho biết, cho nên sự học không ra ngoài phạm vi việc làm, không siêu việt được lên cõi lý tưởng cao thượng thuần túy, như ở các nước văn minh khác: đó cũng là một khuyết điểm trong văn hóa cũ của chúng ta”.
Luận về cái học như vậy, nhưng ông Phạm Quỳnh cũng công nhận, về thực tế, cái chí của các cụ như thế cũng là hay lắm: nước ta sở dĩ sinh tồn được đến nay, từng trải biết bao nhiêu nông nỗi gian nan mà không đến lụn bại, cũng là nhờ cái chí đó của mấy mươi đời nho học.
Bàn về cái chí ấy của các cụ, ông Phạm Quỳnh viết:
“Tôi thường nghĩ đến cái chí ở việc đời của các các cụ ta ngày xưa mà lấy làm sợ: cái chí của các cụ thật là bền, là mạnh vô cùng, cảng không siêu việt lắm lại càng cương nghị nhiều. Trừ những người bẩm tính đa sầu, muốn ẩn nhẫn cho an ủi chút lòng phiền muộn xa xôi, còn ai đã chuyên tâm về sự học hành cũng là có bụng về thời thế, cũng là mong có ngày đem tài kinh luân ra thi thố với đời, giúp cho dân, phù cho nước. Dẫu có muốn hiển đạt cho mình cũng là để cho tới địa vị có thể suy khứ được thời thế, biến hóa được nhân tâm, mà ra công phù trì cho thế đạo, chỉnh đốn lấy cương thường.
Mục đích sự học của người ta rõ ràng như vậy, nên khổ công, dầu bạc đầu chưa nghỉ và nếu chẳng toại chí thì lấy làm di hận suốt đời. Có yếm thế cũng có nghĩa là cùng không thể sao được nữa mới chịu để mình vào chốn bang quan, chứ không lấy sự yếm thế làm chủ nghĩa một đời”.
Ông Phạm cho rằng hình thức của nho học đã lỗi thời bỏ đi không lấy gì làm tiếc. Nhưng tinh thần kia phải cố mà cứu vớt, vì cả xã hội luân lý nước ta nương tựa vào đấy. Ông Phạm Quỳnh viết tiếp:
“Tinh thần nho học chính là ở cái chí về thế đạo cương thường, như ta nói ngày nay là nghĩa vụ về quốc gia, xã hội vậy. Nghĩa vụ ấy, phàm làm dân trong một nước ai cũng phải có một phần, nhưng nhất là kẻ thượng lưu học thức, lại càng phải nên thận trọng lắm. Ngày nay phàm người biết trông biết nghĩ, cũng từng nhận rằng buổi này là buổi giao thời, về chính trị, xã hội, luân lý, chưa đâu là thành giường mối cả, lòng người lơ láo không biết lấy gì làm phương châm, thành ra một cái xã hội sốc nổi, tạm bợ, người nào chỉ biết người nấy, mang nhiên không hiểu gì đến việc nước, việc đời, mà trong cách làm ăn cư xử có lắm điều thương phong hóa, bại cương thường mà không biết”.
Những điều ông Phạm viết ra đó, cách nay đã hơn nửa thế kỷ, có bao nhiêu điều còn đúng với cuộc sống chúng ta đang sống đây?
“Lấy cái chí giúp đời ngày xưa mà thi hành vào thời thế bây giờ, dùng phương pháp ngày nay mà đạt cái chí nguyện trăm năm của các cụ, đem học vấn tư tưởng giúp cho xã hội quốc gia, đó là phận sự của bọn mình.
Ngày xưa các cụ học là để sửa mình. Tề nhà, trị nước, ngày nay chúng ta học cũng phải lấy ba điều đó làm mục đích. Tuy cái học xưạ với cái học nay không giống nhau, mà tôn chỉ của sự học cung là một, duy phương pháp để thực hành tôn chỉ ấy phải tùy thời thay đổi thôi.
Vậy nay ta phải dem hết trí tuệ mà nghiên cứu những vấn đề hiện thời rồi mới tìm phương giải quyết cho thoả đáng. Ta phải bình tĩnh mà quan sát, vấn đề nào cũng phải xét cho hết các phương diện, tìm cho đến ngành ngọn, cứu cho ra gốc nguồn, rồi mới bầy tỏ một cách rõ ràng sáng suốt cho quốc dân đều được biết: vấn đề đã bầy tỏ rõ ràng thời giải quyết không khó, chỉ sợ mập mờ chưa tỏ mới lo thi thố sai lầm vậy”.
Tóm lại ông Phạm Quỳnh phân định việc học nhắm hai mục đích rõ rệt: “học để biết và học để làm”. Chúng ta chưa có những nhà tư tưởng thuần túy, nên chưa có triết gia. Những lời ông luận về “học để hành” có thể coi là những lời tâm huyết. Nó còn giúp được gì cho học giới ngày nay chăng, điều ấy còn tùy thuộc mỗi người vậy.
Vào lúc mười giờ sáng hôm sau, tôi đến tìm lão người Liban.
– Thế là tôi đi Callao hoặc Ciudad Bolivar, đến các địa chỉ anh cho tôi rồi người ta trả tiền cho tôi theo các chi phiếu anh đã trao cho tôi phải không?
– Đúng vậy, anh cứ đi yên trí.
– Và nếu người ta cũng ám sát luôn anh thì sao?
– Đối với anh việc ấy không quan hệ gì, anh vẫn nhận được tiền. Anh đi Callao hả?
– Vâng.
– Quê anh vùng nào ở Pháp?
– Về phía Avignon, cách Marseille không xa.
– Kìa, tôi có anh bạn người Marseille, ở gần đây. Anh ấy tên Alexandre Guigne.
– Không lý! Bạn thân của tôi đó.
– Cũng là bạn thân của tôi. Được biết anh quen với anh ấy, tôi rất mừng.
– Anh ta ở đâu và làm sao tìm gặp được?
– Anh ấy ở Ba Tây, tại Bona Vista. Đường đi rất xa và phức tạp lắm.
– Anh ta làm gì bên ấy?
– Thợ hớt tóc. Muốn tìm, rất dễ, hỏi người thợ hớt tóc trồng răng người Pháp.
– Anh ấy cũng là thợ trồng răng nữa sao? Tôi hỏi mà không khỏi bật cười.
Bởi vì Alexandre Guigne là một mẫu người kỳ lạ, tôi biết hắn rất rõ. Vào tù một lần với tôi năm 1933, chúng tôi cùng đi đường với nhau và hắn có dư thì giờ kể tỉ mỉ vụ án của hắn.
Vào năm 1929 hay 1930 gì đó, trong đêm thứ bảy, Alexandre cùng một người bạn thong dong bước từ trần nhà xuống tiệm kim hoàn lớn nhất thủ đô Lisbonne. Hai đứa đã phá cửa vào căn nhà của một nha sĩ ở ngay trên tiệm kim hoàn. Để dò dẫm phạm trường, để biết chắc rằng anh nha sĩ thứ bảy nào cũng đi và để lấy dấu cửa vào nhà và cửa vào phòng làm việc, hắn phải đến đó làm răng nhiều bận.
– Tôi công nhận việc chữa răng tuyệt hảo vì răng trám đến nay vẫn tốt. Trong hai đêm, tụi tôi có đủ thì giờ lấy hết các nữ trang và cắt rất sạch sẽ và không tiếng động hai tủ sắt và một tủ nhỏ bằng thép.
“Thời kỳ ấy chưa có máy ảnh tự động, nhưng hẳn là thằng cha nha sĩ tả hình dáng người khác tài tình kỳ lạ, vì tụi tôi vừa rời Lisbonne là bị bọn cảnh sát chụp đầu ngay ở nhà ga. Tòa án Bồ Đào Nha kết án tụi tôi 10 và 12 năm lưu đầy. Một thời gian sau, tụi tôi gặp nhau lại ở ngục thất xứ Angola, phía dưới xứ Congo thuộc Bỉ và xứ Congo thuộc Pháp. Vượt ngục không khó khăn gì cả: người ta đem tắc xi đến rước tụi tôi. Như một thằng ngốc, tôi đi Brazaville, thằng bạn tôi đi Léopolville. Tôi miễn kể lại những chuyện phiêu lưu mạo hiểm của tôi ở Congo, nhưng vài tháng sau tôi bị bắt. Thằng bạn tôi cũng vậy. Người Pháp, không chịu trao tôi cho Chính Phủ Bồ Đào Nha và đưa tôi qua Pháp; tại đây, tôi bị xử 20 năm khổ sai thay án 10 năm ở Bồ Đào Nha.”
Hắn trốn sang Guyane. Tôi được biết hắn bước qua Georgetown và quả thật hắn đã đi đến Ba Tây bằng cách cỡi bò xuyên rừng sâu.
Hay là tôi đi tìm hắn?
Vâng, tôi sẽ đi Bona Vista.
Quả là một ý kiến rất hay.
Tôi đi với hai người khoe biết rõ đường đi Ba Tây, họ giúp tôi mang đồ đạc để nằm ngủ và nấu ăn. Trong hơn mười ngày, chúng tôi đi lang thang trong rừng mà không đến được Santa-Helena, làng hầm mỏ cuối cùng trước khi đến biên giới Ba Tây; sau 15 ngày chúng tôi đến gần biên giới xứ Guyane thuộc Anh, nơi một mỏ vàng, thị trấn Aminos. Nhờ bọn Da đỏ, chúng tôi đến con sông Cuyuni rồi vào một làng nhỏ của xứ Venezuela tên Castillejo. Ở đây, tôi mua dao phạng và dũa biếu người Da đỏ để tỏ lòng biết ơn rồi tôi từ biệt mấy người dẫn đường, dằn lòng lắm tôi mới không đánh chúng vỡ mặt, vì thực ra chúng không biết vùng này hơn tôi.
Rốt cuộc tôi tìm được trong làng một người biết rõ xứ này và sẵn sàng đưa đường. Bốn năm ngày sau, tôi đến Callao.
Đuối sức, mệt nhoài, gầy như một cái đinh, cuối cùng tôi gõ cửa nhà Maria lúc chạng vạng.
– Anh ấy về! Anh ấy đã về! Esmeralda hét lớn.
– Ai? Giọng Maria từ trong buồng vọng ra. Tại sao mày hét lớn vậy?
Xúc động trước người con gái tươi mát sau mấy tuần vừa qua, tôi ôm Esmeralda trong vòng tay và để bàn tay trên miệng nàng để cản nàng trả lời.
– Tại sao có người đến thăm mà lại ồn quá vậy? Maria vừa từ trong buồng bước ra, vừa hỏi.
Một tiếng thét, một tiếng thét từ đáy lòng, một tiếng reo vui, tràn đầy tình yêu và ước mơ thành đạt, Maria lao vào đôi tay tôi.
Sau khi ôm Picolino và hôn hai cô em Maria, José đi vắng, tôi nằm cạnh Maria rất lâu. Nàng hỏi đi hỏi lại tôi một chuyện: nàng không thể tin rằng tôi đi thẳng đến nhà nàng mà không ghé qua nhà Charlot hay vào một vài quán nước trong làng.
– Anh sẽ ở lại Callao ít lâu nhá?
– Ừ, anh sẽ thu xếp để ở lại đây một thời gian.
– Anh phải lo cho sức khỏe của anh, anh phải mập ra, em sẽ làm nhiều món ăn ngon cho anh. Khi nào anh ra đi, tuy rằng tim em sẽ mang vết hằn suốt đời – em không trách anh vì anh đã nói trước rồi – em muốn anh khỏe mạnh để khỏi bị cạm bẫy ở Caracas.
El Callao, Uasipata, Upata, Tumeremo, những thôn xóm mang tên kỳ lạ, những chấm nhỏ trên bản đồ một nước rộng lớn bằng ba lần nước Pháp, ẩn sâu vào một góc thế giới, ở đó danh từ văn minh tiến bộ không nghĩa lý gì, giữa lòng tạo vật huyền diệu nhất, đàn ông, đàn bà già trẻ sống cuộc sống của đầu thế kỷ này, tràn đầy đam mê chân thật, lòng nhân ái, niềm yêu đời và tình nhân loại… Ít có những người vào lứa tuổi bốn mươi mà không khổ vì nền độc tài ghê gớm của Gomez. Chỉ một tiếng vâng hoặc tiếng không là họ bị truy tố, bị đập đến chết, bị bất kỳ một viên chức nào quất bằng roi gân bò. Trong những năm từ 1925 đến 1933, khi họ từ 15 đến 20 tuổi, tất cả đều bị bọn mật vụ của nhà độc tài săn đuổi như những con vật và một khi đã bị bọn tuyển mộ binh sĩ tròng dây vào cổ, họ bị lôi đến trại lính. Đó là thời kỳ một người con gái đẹp có thể bị một viên chức có quyền thế chọn lựa và bắt đem đi rồi quăng ra đường sau khi đã chán chê. Nếu gia đình cô gái phản đối là bị tiêu diệt ngay.
Đôi khi cũng có những cuộc nổi dậy, thật ra là những cuộc tự sát tập thể của những người trả thù dù rằng biết sẽ mất mạng, như trường hợp đại tá Zapata. Quân đội liền được đưa đến và những người sống sót suốt đời bị tàn tật vì tra tấn.
Dù vậy, dân chúng hầu hết thiếu học, của các thôn xóm bán khai ở đây vẫn còn giữ nguyên lòng tin yêu vào con người. Đó là một bài học vững chắc khiến tôi vô cùng cảm kích.
Nằm dài bên Maria, tôi suy nghĩ đến các điều trên. Tôi đã khổ nhục, đúng, tôi đã bị kết án oan ức, lại cũng đúng, bọn cai ngục Pháp cũng dã man và có lẽ còn quái ác hơn bọn mật vụ và quân nhân của nhà độc tài, nhưng tôi vẫn còn đây, nguyên vẹn, sau khi đã trải qua một cuộc phiêu lưu tuy nguy hiểm nhưng vô cùng hấp dẫn. Tôi đã đi bộ, chèo xuồng, cỡi ngựa trong rừng, nhưng sống một ngày bằng một năm, bởi vì cuộc sống ngoài vòng pháp luật, tự do hoàn toàn, không hàng rào luân lý, không tuân theo một mệnh lệnh nào cả, cuộc sống ấy quả thật đầy đủ.
Vì vậy tôi tự hỏi tôi có nên đi Caracas và để lại sau lưng mảnh địa đàng này không. Tôi tự đặt đi đặt lại câu hỏi ấy.
Ngày hôm sau có tin buồn. Người đại diện của lão Liban, một chủ tiệm kim hoàn nhỏ chuyên làm các hoa lan bằng vàng, nhẫn ngọc trai và đủ thứ nữ trang nho nhỏ hết sức độc đáo, cho tôi biết không thể trả tiền các chi phiếu cho tôi vì lão người Liban nợ hắn quá nhiều. Thế là hỏng rồi! Được, tôi sẽ đến địa chỉ thứ hai ở Ciudad Bolivar để nhận tiền. Tôi hỏi:
– Anh biết lão này không?
– Khốn nỗi, tôi quá biết lão. Nó là thằng ăn trộm đã mang hết đồ đạc bỏ trốn, kể cả những nữ trang hiếm có tôi giao nó giữ.
Nếu thằng chó chết này nói đúng thì quả thật là xui hết chỗ nói. Tôi lại nghèo hơn trước khi đi với Jojo. Tệ thật. Số mạng quá bí mật. Một việc như thế này chỉ có thể xảy đến cho tôi mà thôi. Bị một tên người Liban lường gạt thì hết chỗ nói!
Tôi trở về nhà, hai chân nặng như chì và đầu cúi rạp. Vì mười ngàn Mỹ kim xui xẻo ấy, tôi đã xuýt chết nhiều lần, thế mà bây giờ không có một xu dính túi. Ồ, thằng cha Liban không cần bung súc sắc gian. Hơn thế, nó không cần nhọc công gì cả, nó chỉ đợi người ta mang tiền đến dâng.
Vì quá mê cuộc sống, nên tôi tự trách: “Mày được tự do, tự do, thế mà nổi sùng với vận số hả? Đừng có đùa! Có lẽ mày đã thua canh bạc này, nhưng cuộc phiêu lưu vẫn kỳ thú!”. Đặt tiền đi! “Banco”. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi sẽ giàu to hoặc chết tươi!… Hồi hộp cao độ như thể ngồi trên miệng hỏa diệm sơn để canh chừng, tuy biết rằng nhiều miệng hỏa diệm sơn khác có thể mở ra và phải tiên đoán sẽ có nhiều cuộc nổ lớn khác, thế không quí giá hơn đã mất mười ngàn mỹ kim hay sao?
Tôi đã lật ngược thế cờ và thấy rõ tình thế: phải trở lại hầm mỏ gấp trước khi thằng người Liban gãy cổ. Sẽ kiếm một con lừa, các thức ăn rồi lên đường! Súng và dao găm vẫn còn đây. Chỉ có một điều thắc mắc: mình có nhận ra đường đi không?
Tôi thuê một con ngựa, Maria cho rằng ngựa tốt hơn lừa. Điều lo ngại duy nhất là bị một mũi giáo đâm vào mình vì có những đoạn đường mũi giáo tung ra từ tứ phía.
– Em biết đường, anh có muốn em cùng đi không? Maria nói với tôi. Em thích được đi với anh vô cùng. Em chỉ đi đến chỗ trạm cuối đường nơi người ta để ngựa lại rồi đi xuồng.
– Maria, đường đi rất nguy hiểm đối với em, nhất là quá nguy hiểm lúc em về một mình.
– Em chờ một người nào đi qua đó để đi về Callao. Như vậy sẽ không hề gì. Cưng của em, nói đồng ý đi!
Tôi hỏi José, ý kiến José, anh ta tán thành: “Tôi sẽ cho nó mượn khẩu súng lục. Maria biết bắn”, anh nói.
Thế là sau năm giờ cỡi ngựa (tôi có thuê thêm một con cho Maria) chỉ còn Maria với tôi ngồi trên bờ suối. Nàng mặc chiếc quần kỵ mã, quà tặng của một cô bạn xứ Ilanera. Xứ Ilanera là một cánh đồng mênh mông của Venezuela, ở đó đàn bà đều can đảm, bất khuất, bắn súng lục hoặc súng trường như đàn ông, múa dao phạng như một tay kiếm, cỡi ngựa như những nữ kỵ mã chính cống. Thật chẳng khác nào những đấng mày râu thế nhưng họ vẫn biết chết cho tình yêu.
Maria thì khác hẳn. Nàng dịu hiền, đa tình, gần với thiên nhiên đến nỗi người ta có cảm tưởng nàng với thiên nhiên là một. Tuy vậy nàng vẫn biết tự vệ dù có vũ khí hay không có vũ khí, vì nàng rất đảm lược.
Tôi không bao giờ, không bao giờ quên được những ngày băng rừng trước khi đến trạm cuối đường. Những ngày, những đêm tuyệt vời, đôi quả tim reo vui khi quá mệt, chúng tôi không thể hét lên nỗi sung sướng.
Không bao giờ tôi diễn tả đầy đủ nỗi niềm hạnh phúc trong những giờ phút nghỉ chân đầy thơ mộng, chúng tôi vùng vẫy trong suối nước thủy tinh để rồi sau đó, vẫn còn ướt nước và hoàn toàn khỏa thân, chúng tôi làm tình trên bãi cỏ bờ suối, chìm ngập trong tiếng kêu ròn rã của chim, của bướm, của chuồn chuồn trong rừng sâu, đang nhảy múa hòa nhịp với mối tình của đôi trai gái đang yêu nhau giữa thiên nhiên.
Đứng lên tiếp tục cuộc hành trình, chúng tôi vẫn còn thấy say sưa ân ái và ngây ngất hương tình nên tôi phải tự sờ vào người để xác nhận là tôi vẫn còn nguyên vẹn.
Chúng tôi càng gần đến trạm cuối đường, tôi nghe càng rõ giọng tinh khôi thiên phú của Maria hát vang những bản luân vũ trữ tình. Đường đi càng rút ngắn, tôi càng cho ngựa đi chậm lại và tìm cớ này cớ nọ để dừng chân thêm nữa.
– Maria, nên để cho mấy con ngựa nghỉ một chút.
– Đi như chúng đi, khi đến nơi, không phải chúng mệt đâu mà chúng ta mệt, nàng vừa nói vừa cười lớn để lộ hàm răng ngà ngọc.
Chúng tôi phải mất 6 ngày mới đến trước trạm cuối đường. Vừa trông thấy nhà trạm, trong một thoáng tôi có ý nghĩ ngủ một đêm ở đó rồi sáng hôm sau trở về lại Callao. Sống trở lại sáu ngày tinh khiết đam mê còn quan trọng ngàn lần hơn số bạc mười ngàn mỹ kim. Ước vọng ấy mãnh liệt đến độ tôi run lên. Nhưng mạnh hơn ước vọng ấy, tôi nghe một giọng khuyên: “Papillon, quan trọng trong số tiền cần để mày thực hiện ý đồ của mày. Không nên bỏ qua!”.
– Nhà trạm kia rồi, Maria nói.
Rồi, mâu thuẫn với chính tôi, với tất cả những gì tôi cảm nghĩ, tôi nói với Maria một câu trái ngược với câu tôi muốn nói:
– Ừ, nhà trạm kia rồi, Maria ạ. Cuộc hành trình của chúng ta đến đây chấm dứt, ngày mai anh xa em.
Với bốn người thủy thủ lực lưỡng, chiếc xuồng lướt trên con sông mặc dù nước ngược. Mỗi mái chèo đưa tôi xa dần Maria đang đứng trên bờ nhìn tôi khuất dần.
Đâu là bình yên, đâu là tình ái, đâu là người đàn bà định mệnh cùng tôi xây dựng tổ ấm, thành lập gia đình? Tôi cố không nhìn lui, vì sợ sẽ ra lệnh cho bọn chèo xuồng: “Trở lại”. Tôi phải đi đến hầm mỏ đề lấy tiền và lao mình gấp vào những phiêu lưu mạo hiểm khác để có đủ số tiền lộ phí của cuộc du hành vĩ đại đến Ba Lê, đi và về, nếu có ngày về.
Tôi chỉ hứa một điều: không hại tên người Liban. Tôi sẽ lấy phần tiền của tôi, không hơn nhưng cũng không kém. Hắn sẽ không bao giờ biết rằng hắn được tha thứ là nhờ sáu ngày du hành của tôi trong cảnh Thiên Đàng bên người con gái kiều diễm nhất thế gian, Maria, thiên thần bé bỏng xứ Callao.
– Thằng Liban hả? Hình như nó đã đi rồi, Miguel nói sau khi ôm tôi trong vòng tay lớn.
Tôi tìm thấy căn nhà đóng kín cửa, nhưng vẫn còn tấm biển kỳ lạ:
“Tài sản lớn nhất của tôi là tính lương thiện”
– Anh tin nó đã đi rồi phải không? Ồ, thằng chó chết!
– Papillon, hãy bình tĩnh. Chúng ta sẽ biết ngay.
Sự bán tín bán nghi, cũng như niềm hy vọng không kéo dài. Mustafa xác nhận thằng Liban đã đi, nhưng đi đâu? Chỉ sau hai ngày điều tra mới tìm ra một người thợ mỏ cho biết nó đã cùng ba tên hộ vệ đi về hướng Ba Tây. “Tất cả dân hầm mỏ đều nói nó là một người lương thiện mà!”. Lúc bấy giờ tôi mới kể câu chuyện đã xảy ra ở Callao và những gì tôi được biết về cái thằng cha hợp tác với nó ở Ciudad Bolivar đã cao bay xa chạy. Bốn hoặc năm người trong đó có một người Ý cho biết tôi nói đúng, vì bọn ấy đã phá sản. Chỉ có một người Guyane già không tin giả thuyết ấy. Đối với lão, chỉ có một thằng ăn trộm: thằng cha người Hy lạp ở Ciudad Bolivar. Người ta cãi nhau sôi nổi để bênh hoặc chống, nhưng trong thâm tâm tôi linh cảm tôi đã mất hết. Bây giờ làm gì đây?
Đến tìm Alexandre Guigne ở Bona Vista? Xứ Ba Tây xa quá. Muốn đi Bona Vista, phải vượt qua 500 cây số đường rừng. Kinh nghiệm sau cùng của tôi quá nguy hiểm. Chỉ một tý nữa là tôi bỏ xác ở đó. Không, tôi sẽ thu xếp để sau này còn liên lạc với vùng mỏ và tôi sẽ lên trở lại nếu được tin thằng Liban đã lòi mặt ra. Xong xuôi, lên đường đi Caracas, sau khi ghé qua đưa Picolino cùng đi. Đó là giải pháp khôn ngoan nhất. Ngày mai tôi sẽ lên đường đi Callao.
Tám ngày sau, tôi đến nhà José và Maria. Tôi thuật hết mọi chuyện. Maria tìm lời lẽ dịu hiền, dễ thương khuyến khích tôi. Cha nàng nài nỉ tôi ở lại với gia đình ông. “Nếu anh muốn, chúng ta sẽ đánh cướp hầm mỏ Caratal”. Tôi vỗ vai ông, mỉm cười: Không được, tôi không thích chuyện ấy chút nào, tôi không nên ở lại. Chỉ có tình yêu Maria có thể giữ tôi lại ở Callao. Tôi đã tự buộc tôi hơn là tôi tưởng và hơn ý tôi muốn. Quả là một mối tình chân thật, bền chặt, nhưng dù thế cũng không đủ để thắng ý chí trả thù của tôi.
Mọi việc đã sắp đặt xong, tôi đã thương lượng với một xe cam nhông, ngày mai sẽ khởi hành lúc 5 giờ sáng.
Trong lúc tôi cạo râu, Maria bước ra khỏi buồng và chui trốn vào buồng các cô em. Với linh tính huyền bí của đàn bà, nàng biết rằng lần này là lần đi thật. Picolico ngồi tại bàn ở phòng giữa, mặt mũi sạch sẽ, tóc tai chải chuốt gọn gàng. Esmeralda đứng cạnh, tay để trên vai nó. Tôi toan bước vào buồng Maria vừa đi vào, nhưng Esmeralda chận lại:
– Henri, không được.
Và đột nhiên, nàng chạy ra phía cửa và cùng biến mất vào buồng.
José đưa chúng tôi ra xe. Dọc đường, chúng tôi không nói câu nào.
Bây giờ thì trực chỉ Caracas, càng nhanh càng tốt.
Vĩnh biệt Maria, đóa hoa bé bỏng của xứ Callao, tình yêu và tình thương em cho anh nhiều hơn tất cả khối vàng của vùng hầm mỏ này.
Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…
Tôi ghé phòng Y hỏi thăm một người đàn bà đang ngồi trước cửa,
– Chị ơi! Chị làm gì ở đây? Sao hôm nay phòng nào cũng trống không vậy chị? Bà con đi đâu hết rồi?
Người nữ quân nhân (hay công chức) trả lời,
– Tôi là nhân viên của Ty Cảnh Sát tỉnh Bình-Thuận bị tập trung ở phòng Y. Hôm nay xe đã tới chở các ông, các bà ở mấy phòng khác đi sạch trơn. Cán bộ canh gác cũng lên xe đi hết, chỉ bốn người của Quân Khu 6 chúng tôi còn ở đây thôi anh ơi!
– Mấy người ở phòng “Zét” đi lúc nào vậy chị?
– Mấy ông phòng “Zét” tập trung từ sáng sớm, mãi tới hơn 3 giờ chiều họ mới bị còng tay đưa lên xe, chẳng biết đi đâu.
Phòng Y và phòng Z ở sát vách nhau, vậy mà cả tuần lễ sau tôi mới biết phòng Y chứa những người bị gọi tập trung theo lệnh của Quân Khu 6.
(Quân Khu 6 gồm các tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy.)
Tôi cám ơn chị nữ công chức Việt-Nam Cộng-Hòa rồi lên văn phòng chính của trại để hỏi cho rõ sự tình. Ngay cửa vào, tôi chạm mặt một cán bộ người Nam.
Vừa nghe tôi xưng danh, hắn đã hét lên,
– Anh là Vương Mộng Long hả? Anh đi đâu mà giờ này mới vác mặt tới đây? Xe của Quân Khu 5 chờ anh cả nửa ngày mà không thấy anh, họ đã khởi hành rồi! Anh đúng là thằng phá hoại!
La hét xong, y quay vào trong ra lệnh,
– Ðồng chí trực trại đem thằng này đi nhốt cho tôi!
Thế là tôi bị còng hai tay dẫn tới góc rào, tống vào cái điếm canh bỏ trống nằm đằng sau một cái lô cốt lớn bên phải cổng trại.
Tới 6 giờ chiều thì kẻng tan sở gióng lên. Mấy người bị quản thúc trong phòng Y lần lượt theo nhau đi ra cổng.
Trong khi đó tôi ngồi bên song sắt ngó ra ngoài. Tôi không biết những bạn bè cùng phòng Z của tôi đã bị đem đi đâu. Nhưng cứ nghĩ tới câu nói mà tên cán bộ người Hải Hưng đã nói với tôi: “Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”
Tôi thấy số mình còn hên. Có khi phải bất đắc dĩ chạy xe ôm không công một ngày mà tôi đã được toàn mạng cũng nên.
Ðúng 6 giờ 5 phút, tên cán bộ đã ra lệnh nhốt tôi chợt đi xăm xăm tới cửa điếm canh,
– Anh đã cơm nước gì chưa? Nếu đói thì chờ đó! Chút nữa sẽ có người đem cơm cho anh ăn.
Chợt nhớ tới cái giấy chứng nhận của tên Việt-Cộng ở Tòa Ðô Chánh, tôi nói với tên cán bộ,
– Hôm nay tôi tới trễ là có lý do! Cán bộ hãy mở còng tay để tôi lấy bằng cớ cho cán bộ coi.
Ðọc xong những chữ viết và săm soi kỹ cái dấu mộc đỏ, y gật gù,
– Tôi sẽ giữ cái giấy chứng nhận này. Bây giờ tôi cho phép anh về. Sáng mai đúng 8 giờ anh phải tới trình diện tôi trong phòng trực.
Năm phút sau tôi ra tới cổng, chị Bền đang chờ tôi, mặt chị không giấu nổi nỗi âu lo,
– Chuyện gì vậy chú?
Tôi vắn tắt kể cho chị biết lý do vì sao tôi tới trễ và lặp lại những lời người nữ Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết đã nói với tôi cho chị nghe.
Ngày 21 tháng 5 tôi gửi xe sau quán của chị Bền rồi vào văn phòng chính của trại. Ở đây đã có bốn người, ba nam, một nữ của phòng Y ngồi chờ sẵn.
Năm chúng tôi là những người còn sót lại sau cùng của đợt tập trung ngày 11 tháng 5 năm 1975 của Ủy Ban Quân-Quản Thành Phố Sài-Gòn, Gia-Ðịnh.
Sau này tôi mới hay, hôm qua, 20 tháng 5 là thời hạn chót để các đơn vị địa phương tới tiếp nhận người.
9 giờ sáng chúng tôi được lệnh lên xe. Tôi lựa một chỗ ngồi bên trái, đằng sau xe để khi ra tới đường Lê Văn Duyệt tôi có thể vẫy tay báo hiệu cho chị Bền.
Xe vừa ra tới cổng, tôi đã thấy chị Bền và đứa con gái lớn của chị đứng bên lề vẫy tay. Tôi chắc mẩm rằng, thế nào chiều nay gia đình tôi cũng sẽ nhận được tin tôi bị đưa đi xa rồi.
Chúng tôi được chở đi quanh co một hồi rồi đậu trước khám đường Chí -Hòa.
Tên cán bộ trưởng toán ra lệnh cho chúng tôi xuống xe rồi dẫn chúng tôi đi vòng vòng một lúc sau thì chui vào một cái sân cỏ nhỏ. Y bảo chúng tôi đứng chờ nơi sát cổng, còn y thì ôm một tập hồ sơ đi vào phòng trực.
Tôi thấy dưới hiên một dãy nhà có vài người đứng chen chúc nhau. Trong số những người đang đứng lố nhố đó, tôi nhìn mặt được ba ông Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hòa, Lương Ðình Chi và Nguyễn Hiệp. Tôi giơ tay vẫy họ, họ vẫn tỉnh bơ, có lẽ họ không nhận ra tôi.
Sau mười phút đợi chờ, tên cán bộ trưởng đoàn hối hả đi ra, y ngoắc tay cho chúng tôi đi theo.
Tới xe, y lớn tiếng nói với tên Việt-Cộng tài xế,
– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình đi Quang Trung!
Xe nổ máy chạy ra ngoại ô Sài-Gòn, hướng về Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung.
Tới cổng Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung tên cán bộ trưởng đoàn lại lếch thếch ôm cái cặp đi vào.
Lần này chúng tôi không được xuống đất, mà phải ngồi yên tại chỗ.
Mười phút sau thằng Việt-Cộng lại đi ra, lại ban lệnh cho thằng tài xế,
– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình về Hoa Lư!
Trưa hôm đó chiếc GMC chở chúng tôi ngừng bánh trước một tòa nhà khá lớn nằm đối diện với sân vận động Hoa Lư trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Vị trí này là cơ ngơi của một bộ gì đó tôi không nhớ, nay là chỗ đóng quân tạm thời của một đơn vị trực thuộc Quân Khu 7 Cộng-Sản. Trước sân có vài chiếc xe quân sự đang đậu.
Tên cán bộ dẫn giải ôm cặp hồ sơ đi vào cổng, mười phút sau lại đi ra.
Lần này y cho chúng tôi xuống xe. Chỉ tay về hướng căn phòng cuối dãy nhà, y ra lệnh,
– Các anh chị vào nghỉ trong đó, chờ phương tiện đi Quân Khu Ngoài!
Tôi nghĩ: “Quân Khu Ngoài chắc là Quân Khu 5 và Quân Khu 6”
Ngay khi đó, hai cán bộ Việt-Cộng khác từ sau khu dinh thự tiến ra vẫy tay gọi tên trưởng toán dẫn giải; rồi cả ba chụm đầu vào nhau bàn tán.
Mấy phút sau, ba tên này vừa nhìn về phía chúng tôi vừa viết viết, ký ký cái gì đó trên một mảnh giấy.
Cuối cùng, một thằng già Nghệ-Tĩnh bước tới trước mặt chúng tôi. Y hắng giọng “khạc! khạc!” vài ba cái rồi nói,
– Tôi đã ký nhận danh sách của các anh chị. Các anh các chị cứ ở tạm đây. Hôm nào có người ở Quân Khu Ngoài vào nhận, tôi sẽ cho các anh các chị đi. Bây giờ các anh các chị có thể về nhà, sáng mai đúng 8 giờ phải có mặt ngay chỗ này!
Nghe được câu này, tôi khoan khoái thở ra: “Thế là chưa sao! Chưa sao!”
Xế chiều, tôi mò về tới quán của chị Bền. Tôi kể cho chị hay diễn biến chuyện đã xảy ra trong ngày. Chị gật gật đầu,
– Như vậy chú còn hên hơn anh Bền! Không rõ giờ này anh Bền ở đâu? Chắc không lâu nữa chú sẽ bị chở đi gặp anh Bền. Gặp anh Bền, chú nhớ nói với anh ấy rằng, vợ con anh ấy suốt ngày cầu Trời Phật phù hộ, độ trì cho anh ấy. Vợ con anh ấy vẫn mong đợi từng ngày để gặp lại anh ấy!
Chị Bền đưa hai bàn tay lên vuốt mặt, nước mắt đã rơi, chị tôi không nói thêm được lời nào nữa…
Hôm đó tôi về tới nhà sớm hơn mọi ngày. Vợ chồng con cái chở nhau trên chiếc Honda đi quanh phố một vòng mà thấy trong lòng thật là vui, quên hết muộn phiền, lo âu.
Từ ngày 22 tháng 5 tôi không còn dùng Honda để làm phương tiện di chuyển nữa; tôi tới sân vận động Hoa Lư theo hai tuyến đường xe Lamb. Vì nếu tôi tiếp tục dùng Honda mà bất chợt người ta bắt tôi đi, thì gia đình tôi làm sao hay biết mà đi tìm xe? Vả lại cái sổ chủ quyền của chiếc xe lúc nào cũng phải nằm trong túi người lái nó. Lái xe mà không có sổ chủ quyền, gặp các trạm kiểm soát giao thông thì xe sẽ bị tịch thu ngay. Người nhà có tìm ra xe mà không có sổ chủ quyền thì cũng bó tay. Trong thời gian gửi xe ở quán cháo lòng của vợ anh Bền, tôi cũng gửi chị Bền cái sổ chủ quyền chiếc Honda của tôi.
Ðược cái là vấn đề kiểm soát giờ giấc của bọn Việt-Cộng này cũng rất dễ dãi, không chút khắt khe. Chúng tôi có tới trễ, tới muộn nửa giờ, một giờ, cũng không ai làm khó dễ gì.
Hàng ngày chúng tôi chỉ cần có mặt ký tên trên sổ điểm danh một lần, rồi muốn đi đâu thì đi, lâu lâu lại tạt về phòng cho có mặt.
Gần tới cuối tháng chúng tôi có thêm hai ông bạn mới. Hai ông này là hai ông thiếu tá khóa 10 Ðà Lạt; một ông làm Trưởng ty Cảnh-Sát, một ông làm Trưởng ty Chiêu-Hồi. Chẳng rõ các ông này do cơ quan nào mang tới gửi ở đây. Chắc hai vị này cũng là những người đang chờ bị bốc đi như chúng tôi.
Mãi hai ngày sau tôi mới biết ông Trưởng ty Cảnh-Sát tên là Nguyễn Hồ Ðịch, còn ông Trưởng ty Chiêu-Hồi tên là Trần Hướng Trung.
Một buổi trưa tôi rủ hai ông đàn anh Võ-Bị tản bộ ra ngã tư ăn bún bò. Khi chúng tôi quay về thì thấy bốn người Quân Khu 6 đang tụ họp trong văn phòng để làm việc gì đó. Lúc trở ra mặt người nào người nấy đều có vẻ tươi vui. Chúng tôi đang chuẩn bị đi về, nên không kịp hỏi han xem có chuyện gì đã xảy ra. Sáng hôm sau thì bốn người bạn này không xuất hiện nữa.
Thấm thoát đã qua đầu tháng 6, qua tin truyền đi trên Truyền Thanh và Truyền Hình thì Ủy Ban Quân Quản Thành Phố đã ra thông cáo rằng sĩ quan cấp thiếu tá trở lên sẽ phải trình diện đi học tập cải tạo tại vài địa điểm trong Sài-Gòn.
Tên Việt- Cộng thường ngồi nhận chữ ký hằng ngày của chúng tôi cho chúng tôi biết rằng từ nay Quân Khu 7 sẽ không cho phép các Quân Khu khác tới nhận người nữa. Như thế là chúng tôi không còn phải lo lắng chuyện sẽ bị chuyển giao cho các Quân Khu Ngoài.
Y nói, chúng tôi chỉ cần có mặt ở đây vào ngày các lớp học tập khai giảng thì đơn vị này sẽ cung cấp phương tiện để đưa chúng tôi tới trường, tới lớp. Y nhắc nhở chúng tôi nhớ chuẩn bị đem theo áo quần cùng những vật dụng cần thiết như kem đánh răng, bàn chải để tiện dùng trong thời gian một tháng học tập xa nhà.
Cũng từ ấy, chúng tôi có thể chia phiên nhau, một người có mặt, hai người kia ở nhà. Ba chúng tôi đều biết địa chỉ của nhau. Do đó, người trực có thể đi kêu hai người kia nếu có chuyện gì cần gấp.
Tên cán bộ quản chế cho chúng tôi biết rằng các trung tâm sẽ nhận người đăng ký từ ngày 13 tới 15 tháng 6 năm 1975. Chúng tôi sẽ được chở tới trung tâm vào ngày cuối, tức là 15 tháng 6 để khỏi phải chờ lâu tại trung tâm trước khi tới địa điểm học tập.
Ðúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 6 năm 1975 tôi và hai ông đàn anh được đưa lên xe để di chuyển tới các trung tâm tiếp nhận.
Xe chạy thẳng một lèo tới Trường Trung Học Lasan Taberd thì ngừng, tôi bị gọi xuống. Tên cán bộ hướng dẫn đem tôi vào văn phòng của trường, giao nạp tôi cho một sĩ quan Cộng-Sản.
Cầm cái biên nhận tù binh, tên cán bộ dẫn giải bắt tay tôi rồi nói,
– Mừng anh! Chúc anh học tập tốt, lao động tốt để sớm về sum họp với gia đình.
Sau đó tôi được một tên bộ đội dẫn lên lầu để nhập bọn cùng vài sĩ quan cấp thiếu tá đã trình diện sáng nay; vì vậy tôi không rõ hai ông thiếu tá khóa đàn anh của tôi bị đưa tới trung tâm nào. Mãi tới sáu năm sau, 1981 tôi mới gặp lại hai vị này ở Trại Z30C Hàm-Tân, Thuận-Hải.
Từ 15 tháng 6 năm 1975 tôi bắt đầu một chuyến đi xa dài ngày…
Nửa năm đầu, từ tháng 6 năm 1975 tới giữa tháng 10 năm 1975 tôi bị giam tại trại Long-Giao. Qua một tháng sống đời tù đày, tôi bắt đầu có ý định vượt ngục. Tôi đã bàn chuyện trốn trại cùng hai ông thiếu tá cựu quận trưởng, nhưng giờ chót hai ông này thối chí, nên tôi đành phải huỷ bỏ mưu đồ.
Nửa năm kế đó tôi bị chuyển về trại giam Suối Máu, Tam-Hiệp, Biên-Hòa, chờ ngày bị đưa ra Bắc.
Hai tuần lễ sau ngày bị đưa ra đất Bắc, nửa đêm 8 tháng 8 năm 1976, tôi vượt ngục lần đầu. Trải qua mười ngày lặn lội trong rừng dưới cơn bão số 6, tôi và người bạn đồng hành bị bắt lại, bị cùm, bị đánh đập, khảo tra, rồi được cho về Ðội 11, Trại 4, Liên Trại 4 để tiếp tục lao động.
Một hôm trời giăng giăng mưa phùn, tôi và bạn tù đi cấy lúa vần công cho Thôn Nam Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bình, Yên-Bái thì thấy hai ông tù cải tạo khiêng một cái võng có người nằm bên trong.
Cái võng được phủ bằng chiếc mền Trung Cộng màu đỏ. Theo sau cái võng là một ông tù đeo cái balô, có lẽ trong balô là tài sản của người nằm trên võng.
Có một vệ binh Việt-Cộng đeo AK đi canh chừng đằng sau ông tù đeo balô. Chắc mấy người này đang đưa một ông tù bệnh nặng lên bệnh xá của liên trại để chữa trị.
Tôi ngừng tay cấy, lớn tiếng hỏi,
– Ê! Ai đó? Các cha?
Ông tù mang ba lô liền lớn tiếng đáp lời,
– Tước! Tước rằn ri!
– Phải Nguyễn Ðỗ Tước Biệt Ðộng Quân không?
– Ðúng rồi!
– Bệnh gì vậy?
– Kiết lỵ!
Chiều hôm đó cái võng lại quay về, vẫn có chiếc mền đỏ Trung Cộng phủ bên trên.
Tôi lại hỏi,
– Hết bệnh chưa?
Ông tù mang ba lô lại đáp lời,
– Chết rồi!
Tôi chỉ còn biết ngậm ngùi đứng nhìn theo bóng chiếc mền đỏ đi xa dần về hướng Trại 8 nơi Ðèo Lũng Ngàn.
Ngày xưa, trước tôi, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ở Pleime. Tết Dương Lịch 1978 vừa đi qua thì tôi vượt ngục lần thứ hai. Sau hai tháng lặn lội trong rừng, chưa vượt khỏi biên giới Việt-Lào, tôi lại bị bắt. Thất bại lần này, qua những trận khảo đả dã man của kẻ thù mà tôi không thành người tàn phế cũng là nhờ phúc đức ông bà đã che chở cho tôi.
Năm 1981 tôi bị chuyển trại về Nam, trại tù mới có tên Z30C Hàm-Tân, Thuận Hải.
Rồi một sớm tinh mơ cuối năm 1984 tôi vượt ngục lần thứ ba.
– “Anh thấy có mất mặt không? Cán bộ Thắng nó nói bây giờ các anh có người bà con nào thật xa theo “cách mạng” cũng cố khai vô lý lịch để mong được khoan hồng. Kỳ cục không?”
– “Còn “ông” thì sao?” Tôi hỏi kháy Trắc.
Trắc trả lời, giọng cương quyết:
– “Tui thì dứt khoát. Tui coi như không có hai thằng chú tui. Cả ba tui, thời theo “kháng chiến”, tui cũng bỏ luôn, không thèm khai.”
Không cần nghĩ tới hai ông chú, một ông là Giám Đốc Sở Công An, một ông là Giám Đốc Sở Thương Nghiệp tỉnh Thuận Hải, Trắc nói với tôi rằng anh ta khai cha chết sớm, còn không khai gì về hai ông chú cả.
Tôi nói:
– “Chức vụ như vậy là mạnh lắm, đứng ra bảo lãnh là ông về cái một.”
Trắc nói:
– “Tui cũng có tự ái chớ anh. Tui không cần đâu!”
Họ đã bị bắt, bị bắn và không biết bao nhiêu người đã bỏ thây trên biển cả. Một cảnh đồng bào vượt biên.
Thế rồi vì lý lịch là cháu “anh Tám Thẹo” – tiếng chúng tôi hay gọi đùa “ông tông tông”, nên Trắc “được tha ra khỏi trại cải tạo” – câu trong lệnh tha thường ghi – sau tôi những năm năm.
Anh ngồi gỡ thêm 5 cuốn lịch nữa. Tội nghiệp! Mà cháu ông Thiệu, anh ta được cái gì chứ?! Ra trường khóa 21 Thủ Đức, Trắc đi Dù, về tiểu đoàn 5 với ông Trần Quốc Lịch, băng rừng, lội suối cũng như mọi người.
Một lần, Trắc nhớ hành quân ở giới tuyến, trong một đêm mưa phùn gió Bấc, ông Lịch sáng tác bài thơ, Trắc nhớ được mấy câu:
Bữa trước mưa đêm cũng chốn nầy
Bây giờ mưa gió lại về đây.
Ô hay mưa chẳng thương đời lính.
. . . . . . . .
“Chốn nầy” là Quảng Trị, quê hương thơ ấu của tôi!
Hành quân ở đó mà gặp mùa mưa phùn gió Bấc thì da diết khó quên.
Hồi còn ở trại Trảng Lớn, cùng chung L3-T3, Tôn Thất Chu đến thăm tôi.
Ông nầy cũng là hạng “học trò quái kiệt” của tôi đấy!
Hồi học với tôi, anh ta nghịch lắm, được cái là tuy học không chăm nhưng rất lễ phép. Đậu trung học, anh vào Quốc Học. Năm thi Tú Tài 1, anh “quay phim” bị giám khảo bắt được, đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật, cấm thi ba năm, không những vì tội quay phim mà còn bướng, cải lấy được với giám khảo.
Năm sau, anh ta thay giấy khai sinh, thêm dấu ư và dấu ngã, từ Chu ra Chữ, đi thi lại như thường. Những năm “đấu tranh” của cái gọi là “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc”, anh ta từ Quốc Học về trường cũ, phá cổng trường vào kêu gọi học sinh bãi khóa.
Ông cai trường giận anh ta lắm, cứ nói hoài câu: “Thằng Chu chớ không ai hết. Hắn phá cổng trường! Hắn phá cổng trường!”
Vì tham gia đấu tranh, anh bỏ học rồi nhập ngũ.
Bây giờ thì hai thầy trò gặp nhau trong “trại cải tạo”. Tác phong của Chu vẫn như cũ, vui đùa tự nhiên và vẫn nghịch, dù đang ở tù.
Anh ta nói:
– “Không biết chắc em có về trước thầy không?! Ba em bảo lãnh cho em rồi.”
Ba của Chu là ông Tôn Thất Khâm, thiếu tướng Việt Cộng. Ông ta ở ngoài Bắc về, hiện nghỉ hưu ở Huế. Chu cũng có một người chú nữa, Việt Cộng nằm vùng, bị Thanh Niên Cộng Hòa bắn chết ở Nam Hòa khoảng năm 1960.
Chu lại nói:
– “Ba em dặn em được về thì nhớ nghe lời ba dặn, đừng như Tôn Thất Đính.”
Tôi hỏi:
– “Đính nào, mà sao?”
Té ra Chu có một người anh tên là Tôn Thất Đính, đại úy, trước 1972, phục vụ ở tiểu khu Quảng Trị. “Mùa Hè Đỏ Lửa”, Đính bị Việt Cộng bắt, đưa ra Bắc.
Thiếu tướng Việt Cộng Tôn Thất Khâm nghe tin con bị bắt, bảo lãnh cho con về Hà Nội chơi, thăm cho biết “Thủ Đô Cách Mạng Việt Nam” văn minh tiến bộ như thế nào!!!
Ông ta cho con biết rằng Hiệp Định Paris 73 ký rồi, sắp trao trả tù binh, và yêu cầu con ở lại miền Bắc với cha, đừng về miền Nam nữa.
Đính nhứt định về, nói là về với mẹ ở trong Nam.
Ông Khâm chiều ý con nhưng dặn, nếu có về thì đừng đi “lính ngụy” nữa. Đính hứa.
Về tới miền Nam, khi còn ở Trại An Dưỡng, anh xin trở lại Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, “quên” lời hứa với cha.
Ông Khâm rất giận con việc nầy, nên lần nầy không bảo lãnh cho Đính nữa. Chỉ bảo lãnh cho Chu và ông anh cả, Trung tá Tôn Thất Thuyên.
Chu có một người chị nữa, cũng là học trò của tôi, nổi danh ở Huế một thời vì đẹp, sexy và có mái tóc vàng như “Mùa Hè Rực Rỡ”, như đào ciné.
Người ta đồn sau nầy vì cô ta mà một ông thầy chùa cởi áo tu. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” mà.
Hỏi Chu, Chu nói:
– “Tụi nó nói tầm bậy. Chồng chị ấy học sư phạm ra!”
Chu đưa cho tôi xem bản sao tờ bảo lãnh của cha, lời lẽ khá cảm động: “Tôi vì công tác cách mạng nên không có cơ hội chăm sóc con cái để đến nỗi gia đình ly tán như thế nầy. Tôi cũng thương các con tôi, vì Bác Hồ có nói tình yêu gia đình cũng thiêng liêng như tình yêu tổ quốc…”
Tôi nói:
– “Thư viết hay đó! Không biết mấy ông Việt Cộng đọc có thương tình mà cho ông về sớm không!? Thôi cứ “an tâm học tập cải tạo” đi.”
Chu nói:
– “Ba em nói nếu em “học tập” ở Huế thì nay em đã được về rồi.”
Tôi cười, nói đùa:
– “Tha ông về sớm để ông theo ông Đính chớ gì?”
Chu chỉ cười.
Đơn bảo lãnh của ông Khâm cũng được “cách mạng” xét tới, sau khi Chu ở “tù cải tạo” hơn ba năm, đủ để đi HO.
Chu đi tìm Hồ Đức Trai, cũng là học trò cũ của tôi. Cả hai đến thăm thầy.
Chu nói đùa:
– “Tù trò đi thăm tù thầy nên không có quà, chỉ có hai tay không?”
Tôi cười:
– “Khi tui bắt đầu đi dạy, có bà thím nói “Bộ hết nghề rồi hay răng mà đi dạy. Nghề nớ bạc bẻo lắm.”
Tui cười, chấp nhận chuyện bạc bẻo đó.
Nay ở trong tù mà mấy ông tới thăm tui là quí rồi. Ông Trai đi lính khi mô?”
– “Em học Võ Bị, mãn khóa về học thêm ở Phú Thọ, đậu kỹ sư, nhưng bằng của em thì do đại tướng Cao Văn Viên ký. Chưa kịp ký thì ông dọt mất, thành ra em mất cái bằng kỹ sư.”
Tôi nói:
– “Bỏ đi! Không chắc “cách mạng” cần tới bằng cấp của người miền nam. Hồng hơn chuyên mà.”
Ở trại nầy, tôi cũng có nhân vật khác, cũng khá buồn cười là anh Đặng Mậu Hùng. Anh thuộc loại sinh viên xuất sắc của viện Đại Học Huế hồi đầu thập niên 1960. Cùng với Huỳnh Hữu Tuệ – em họ tôi, người tôi từng làm precepteur khi tôi học ở Quốc Học, – (1) được học bỗng du học Canada.
Tuệ lên máy bay đi Canada dễ dàng, vì bố anh ta thuộc nhóm các ông Võ Như Nguyện, Đinh Sơn Thung, Đỗ Mậu, theo cụ Ngô khi cụ còn “lê gót nơi quê người” – câu cũ trong bài hát “suy tôn Ngô tổng thống” của Nguyễn Hiền- lại còn được chọn làm trưởng nhóm du học sinh nầy.
Hùng bị kẹt lại, bộ Nội Vụ không cho đi vì có bố tập kết ngoài Bắc. Hùng tiếp tục học ở Đại Học Huế, đậu cử nhân khoa học, bị động viên, ra trường được chọn làm giáo sư ngành văn hóa tại trường Võ Bị Quốc Gia. Khi trường Võ Bị muốn kiện toàn đội ngũ giáo sư cho chính của trường, Hùng lại được du học Mỹ, không bị trở ngại như lần trước. Đậu kỹ sư hóa học ở Mỹ rồi về nước, Hùng tiếp tục dạy ở Võ Bị cho đến 30 tháng Tư thì đi ở tù. (2)
Hùng là em vợ Lê Trọng Thọ, hai anh em cùng trình diện và “học tập” cùng chung trại Trảng Lớn với tôi.
Một lần chúng tôi nói chuyện chơi với nhau, Hùng nói đùa:
– “Ông già không bảo lãnh cho tui về là tui từ ông luôn.”
Tôi cười, nói:
– “Chuyện từ nhau là chuyện vô duyên. Cha mẹ có từ con thì con vẫn là con cha mẹ. Nó không thể chui đất mà lên được, dù là cán bộ Cộng Sản. Ai cũng phải có cha mẹ. Con từ cha mẹ thì cha mẹ vẫn là cha mẹ mình. Còn nếu như từ để khỏi nuôi cha mẹ là tội bất hiếu.”
Hùng thành thật nói:
– “Nóng về thì nói bậy nhưng tôi chắc ông không đủ sức để lo cho tôi về.”
Quả thật, ông cụ có bảo lãnh cho Hùng nhưng Hùng không về sớm được. Có người quen ở Huế nói với tôi rằng ngày xưa ông từng làm Công An Liên Bang, nhưng rất thường giúp đỡ những người hoạt động cách mạng, bất kể đảng phái Quốc gia hay Cộng sản.
Sau cách mạng tháng tám, ông làm việc cho Việt Minh, rồi đi tập kết, không dám trốn Việt Minh về với vợ con vì sợ Tây trả thù. Khổ nỗi, vì lý lịch từng làm Công An Liên Bang nên Cộng sản chẳng tin dùng gì ông, ông chỉ là nhân viên thường. Họ chỉ cần ông lúc ban đầu, khi mới cướp chính quyền mà thôi.
Một hôm tôi đi múc nước dưới đường mương để tưới rau. Đang lum khum với cái gầu thì có người đứng trên bờ mương gọi: “Anh Hải.”
Tôi bước lên khỏi mương, hỏi:
– “Xin lỗi, trông quen quen mà không biết ai?”
Anh ấy cười, nói:
– “Anh nhớ Hoàng Ngân Hà và chị Ái Loan không?”
Tôi hốt hoảng:
– “Thôi chết rồi! Thọ phải không? Thọ em chị Loan phải không? Tui xa quê sớm quá, đám nho nhỏ sau nầy, nhớ tên mà không nhớ mặt. “Ông” bị “tội” chi mà vô đây?”
– “Em trung úy. Đang học đại học nửa chừng thì em đi Thủ Đức.”
Về trại Suối Máu, tôi lại gặp một người học trò cũ khác, anh Trần Hữu Xiêm. Ông nầy cũng “buồn cười” không khác gì ông Chu.
Năm đệ tam, Xiêm học với tôi. Anh thuộc loại học trò xuất sắc, giống như trường hợp Võ Thế Hiệp vậy. Giáo sư Nguyễn Ngọc Minh dạy kèm cho cả hai anh Toán và Lý Hóa, các môn khác, tôi chỉ sách cho họ tự học thêm. Cuối năm đệ tam, cả hai thi tú tài 1 và trúng tuyển.
Người Xiêm to cao, trắng trẻo, thi vào không quân và tốt nghiệp, làm “giặc lái” máy bay L. 19 ở Nha Trang.
Ra trường, anh về phục vụ ở vùng I. Một lần lái L.19 hộ tống cho đoàn xe của một người bạn trên quốc lộ 1, anh suýt chết khi qua đèo Hải Vân. Máy bay bị gió thổi sà ngang đầu mấy chiếc xe đang đậu trên đỉnh chờ đổi giờ đèo, ai cũng khiếp đảm. Anh cũng hú hồn thoát chết.
Được nửa năm, An Ninh Quân Đội “điều chuẩn an ninh”, phát hiện bố anh là “Ủy viên trung ương đảng” ở ngoài Bắc nên anh bị “cấm bay”, được giao công tác trên mặt đất.
Anh của Xiêm là Trần Hữu Tín cũng bị vạ lây. Tín đang làm ở phòng 2 bộ Tổng Tham Mưu, bị thuyên chuyển về Khối Chiến tranh Chính trị Tiểu khu Gia Định.
Bây giờ cả hai anh em cùng đi “tù cải tạo” với nhau.
Sau vụ “cấm bay” được nửa năm, cấp chỉ huy xét lại nên Xiêm được bay như cũ.
Xiêm kể:
– “Ngày 2 tháng Tư (1972), em bay quan sát từ Đà Nẵng ra Bến Hải. Ngang cầu Đông Hà em thấy 7 chiếc xe tăng đang từ hướng Bắc chạy vào, hai chiếc đầu gần tới cầu Đông Hà rồi.
Em rà thấp xuống coi thử xe tăng ai mà hơi lạ lạ. Nhìn kỹ, té ra xe tăng Việt Cộng, chúng từ ngoài kia, theo quốc lộ mà vào. Em gọi về trung tâm hành quân ở Đà Nẵng, xin máy bay oanh tạc.
Đà Nẵng biểu chờ, phải trình trung tướng đã. Mẹ nó lên. Xe tăng Việt Cộng sắp tới cầu Đông Hà rồi mà còn biểu chờ. Xe tăng nó qua cầu được là coi như xong.
Nghe em chưởi thề trong máy, một anh chàng A-37, chẳng biết tên họ là chi, cùng tần số, bảo em:
– “Đ. mẹ, đếch có chờ. Ông chỉ điểm đi, tôi chơi liền”.
“Thế là em rà xuống thấp, bắn trái khói. Anh chàng kia cùng người bạn, hai chiếc A-37 nhào xuống chơi trò “cua rang muối”.
Năm chiếc cháy ngay trên đường, hai chiếc hoảng hồn lao xuống ruộng, em chi điểm tiếp cho hai anh chàng kia rang cháy luôn. Còn thêm khoảng cở mười chiếc ngoài kia đâm đầu chạy vào, như tụi liều mạng vậy. Bọn em cũng hết bom, nhưng dưới đất thì kêu réo om sòm vì xe tăng Việt Cộng tới.
May khi đó, Thiết Đoàn 21 Chiến Xa của Trung tá Nguyễn Hữu Lý kịp phá sập cầu Đông Hà.”
Tôi hỏi:
– “Trong bản tự khai, ông có khai vụ nầy ra không?”
– “Có chớ, sao không?” Xiêm trả lời tự nhiên. “Biểu thành thật khai báo là em khai hết. Sợ gì? Mà hình như ba em ông “đấu tranh” dữ lắm. Em gái em ở Huế gởi thư cho biết nhiều lần ba em ngồi uống trà suốt đêm không ngủ. Bảo lãnh cho một thằng con rang hết cả chục con cua của “cách mạng” chắc khó lòng cho ông dữ!” Nói xong, Xiêm cười hề hề!
Sau đó ít lâu, có đợt đày tù cải tạo ra Bắc. Cả hai anh em của Xiêm đều có mặt trong đợt nầy.
Khi ở trại Z-30A, một hôm, Nguyễn Minh Chiếu, thiếu úy, nhân viên cũ của tôi, nay tù chung cùng một trại, hỏi: “Anh có biết thằng cha Tấn không?”
Tôi nói: “Có nghe người ta nói sơ, buồn cười lắm phải không?”
– “Mắc cười lắm. Ba anh ta tập kết ngoài Bắc, y ở lại trong Nam cùng với mẹ. Mẹ nuôi cho ăn học, khi “đứt phim”, anh ta đang học đại học khoa học. Cha anh ta từ Bắc vào “công tác” ở Saigon và thăm gia đình. Việc học hành lúc đó “cà lơ phất phơ”, tới trường thì chỉ có hát hò, học tập chính trị, chán quá, anh ta bỏ đi chơi, suốt ngày ngồi quán caphê, nghe lén nhạc vàng.”
– “Ông bố không biết?” Tôi hỏi.
– “Biết chớ. Cho nên ông biểu thằng con ra thăm Hà Nội một chuyến cho biết, thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, văn minh, tiến bộ…”
– “Cha con đi với nhau?” Tôi hỏi.
Không trả lời tôi, Chiếu kể tiếp:
– “Cha dẫn con đi quanh Hà Nội, chỉ cho con thấy những ưu việt của xã hội Việt Cộng như cột ăngten đài phát thanh Hà Nội, cửa hàng mậu dịch vân vân…”
– “Mấy cái đó, có chi đặc biệt mà khoe!” Tôi góp ý.
– “Về tới miền Nam, thằng con than thở với mẹ, xin mẹ cho đi vượt biên.”
– “Trước đó chưa có ý định vượt biên?” Tôi hỏi.
– “Đâu có! Ban đầu tưởng Việt Cộng ngon. Ai ngờ ra tới thủ đô Hà Nội, sợ quá, về tới nhà xin mẹ vượt biên.” Chiểu kể.
– “Bà ấy cho con đi? Hai chục năm, cha con mới gặp nhau mà!”
Tôi than.
– “Ban đầu thì chưa. Bỗng một hôm, cha con đụng độ dữ dội, nên bà phải cho thằng con trai vượt biên.”
– “Đụng độ vì gì?”
– “Anh ta có thằng bạn đến chơi. Thằng bạn kể chuyện nước Mỹ văn minh tiến bộ, sản xuất theo giây chuyền. Đặt lên đầu giây chuyền một con heo sống, cuối giây chuyền là những hộp thịt, vô thùng đàng hoàng, chỉ cần cho lên xe phân phối mà thôi.
Nghe chuyện, thằng con góp ý:
– “Xã hội chủ nghĩa văn minh hơn mày. Nếu đầu giây chuyền để những hộp thịt heo, cuối giây chuyền sẽ có con heo sống.”
“Tình cờ ông bố ngồi nghe chuyện. Biết thằng con kể chuyện xỏ lá, bèn nổi giận mắng con. Thằng con cãi lại, chê thủ đô xã hội chủ mà cha dẫn đi xem chẳng ra con mẹ gì cả. Thế là ông ta tuyên bố từ con. Bà mẹ thấy cha con căng quá, bèn cho con vượt biên.”
– “Vượt biên bị bắt?” Tôi hỏi.
– “Ở trại nầy, hễ ai tích cực lao động, giác ngộ học tập, anh ta cho là ngu, không thèm chơi.”
hoànglonghải
(1) Huỳnh Hữu Tuệ, du học Canada năm 1961, đậu kỹ sư rồi tiến sĩ toán, dạy đại học ở Québec, Michigan, Mascơva và Hà Nội (sau 1975), đảng viên đảng Cộng Sản Canada, chủ tịch cái gọi là “Việt Kiều Yêu Nước” Canada. Thân phụ là ông Huỳnh Hữu Hiến, một thành viên của “đảng cụ Ngô” như các ông Võ Như Nguyện, Ngô Ganh, Ngô Đình Thảng, Phùng Ngọc Trưng, v.v… Anh Đặng Mậu Hùng, vì thân phụ là Đặng Mậu Tư, đi tập kết, nên việc du học của Hùng bị trở ngại. Hai người nầy là bạn học, cùng quê ở Huế và cùng là sinh viên giỏi của viện đại học Huế. Hùng có thân phụ đi tập kết nhưng lại thuộc thành phần chống Cộng, hoàn toàn trái ngược với Tuệ.
(2) Hùng cưới vợ Quảng Trị, cô Mai (em) của nhà sách Sáng Tạo. Hùng kể lại cho tôi nghe khi còn đi học, mỗi tuần, Hùng chạy xe gắn máy từ Huế ra thăm “bồ” ở Quảng Trị, cách Huế 60Km. Về sau, Hùng cưới cô nầy làm vợ.
Hoàng Trinh – nghe nói là sui gia với Trường Chinh – lên bục nói về “Sự bế tắc văn học nghệ thuật tư bản” nói chung và nói riêng về tình trạng tắc tị trong lãnh vực tiểu thuyết ở các nước Âu Mỹ.
Hoàng Trinh nói dễ thôi. Các đàn anh lý thuyết văn nghệ Liên Xô ăn lương tháng viết vung xích chó cả ngàn bài nghiên cứu về văn học nghệ thuật tư sản – tư bản, các đàn em chỉ việc dịch và đọc. Tất nhiên là văn học nghệ thuật tư bản đồi trụy, thối nát, tắc nghẽn, cuồng dâm, ca tụng bạo lực, ăn bám, thối nát, đang rẫy chết và chết đến đít rồi. Chuyện tất nhiên khỏi cần nói thêm. Hoàng Trinh kể một tác phẩm kịch điển hình làm bằng chứng là “văn học nghệ thuật tư sản thối nát quá cỡ…”
Vở kịch Hoàng Trinh đưa ra là vở Le Balcon của Jean Genet. Việc dùng kịch Le Balcon để đả kích văn nghệ tư sản cũng chẳng phải là sáng kiến của Hoàng Trinh, đàn anh Nga Cộng viết, Hoàng Trinh chỉ việc nhai lại.
Jean Genet là văn sĩ thuộc loại “thiên tài hắc ám, quỷ ám” của Pháp. Người Pháp có tiếng “maudit” chỉ loại người này. Ra đời năm 1911 ở Paris, bị mẹ bỏ rơi, được nuôi trong Viện Cô Nhi, năm 13 tuổi Jean Genet bị đưa đến Trại Trừng Giới, bỏ trốn, đi bụi đời, bị bắt nhiều lần vì những tội trộm cướp; năm 1948 phạm trọng tội bị án tù chung thân. Nhiều văn sĩ Pháp, trong đó có Jean-Paul Sartre, người vận động tích cực nhất, gửi kiến nghị thư lên Tổng thống Pháp xin ân xá cho Jean Genet, tác giả những tác phẩm Notre Dame’s Les Fleurs, Journal d’un voleur, Querelle, Miracle de la rose v.v… Jean Genet được ân xá, Jean Paul Sartre phong thánh cho Jean Genet, gọi Jean Genet là một thiên tài văn nghệ. Jean Genet qua đời năm 1986.
Đây là lời Hoàng Trinh kể kịch Le Balcon:
– Kịch xẩy ra trong một nhà ăn chơi ở thủ đô một quốc gia Âu châu. Nhà ăn chơi này do một phụ nữ làm chủ. Khách chơi là bọn đàn ông giàu tiền có ẩn ức sinh lý, những anh muốn được làm đại tướng, chánh án, giáo chủ. Chị chủ nhà tổ chức những phiên tòa cho chánh án rởm xử, những trận đánh cho đại tướng rởm chỉ huy, những thánh lễ cho giáo chủ rởm hành lễ. Đêm ấy có cuộc nổi loạn nổ ra trong thủ đô.
Anh Tổng Giám đốc Cảnh sát là tình nhân của chị Chủ Chứa. Anh đến cho mọi người trong nhà biết với lực lượng cảnh sát anh có thể dẹp được đám nổi loạn nhưng phiền một nỗi là Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Chưởng lý, Đại tướng, Giáo chủ v.v… nghe tiếng súng nổ và biết có loạn đã bỏ thủ đô phú lỉnh ra nước ngoài hết. Anh Xếp Phú lít than thở: “Phải chi bây giờ có Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Giáo chủ, Đại tướng v.v… xuất hiện trên ban-công Hoàng cung cho nhân dân thấy thì nhân dân bỏ bọn nổi loạn ngay.
Chị Chủ nẩy ra sáng kiến:
– Khó gì? Ở đây mình có đủ triều đình. Mình có ông Đuy Quốc Tô đây là Đại tướng, ông mần vai đại tướng quen rồi, ông còn oai phong hơn cả đại tướng thứ thiệt. Mình có ông Đờ Cốc Si Cốc đây là Chủ tịt Quốc hội, có ông Lơ Poan vẫn mần Giáo chủ hành lễ trang trọng. Ông Pip Pơ Lô đây đóng vai Chánh án đẹp lão nhất thế giới. Còn em. Em đóng vai Nữ hoàng? Được hông? Ai cũng nói trông em giống Nữ hoàng lắm. Người ta còn khen em đẹp hơn Nữ hoàng năm bẩy thành…
Và thế là – xin bạn đọc nhớ đây là lời kể của kép Hoàng Trinh ở Nhà Hát Thành Hồ tháng Bẩy năm 1976 – kế hoạch được chấp thuận. Triều đình Nhà Thổ đủ mặt Nữ hoàng, văn võ bá quan, lãnh đạo tôn giáo, tư pháp, lập pháp, quân đội, cảnh sát đàng hoàng xuất hiện. Nhân dân thấy triều đình vẫn vững như chum vại bèn bỏ rơi đám nổi loạn, tan hàng trở về nhà. Cuộc nổi loạn bị diệt thê thảm.
– Đây chỉ là chuyện kịch thôi – lời Hoàng Trinh – nhưng xin quý bạn nhớ rằng bọn văn sĩ tư sản đồi trụy đã khinh khi tất cả những giá trị của xã hội. Nữ hoàng của họ là chị chủ chứa, những nhà cầm quyền của họ là những tên đàn ông bệnh hoạn tâm-sinh lý. Không những bọn văn sĩ tư sản chỉ miệt thị những giá trị tư sản mà thôi, họ còn miệt thị cả nhân dân nữa. Nhân dân trong kịch Le Balcon được trình bày như một lớp người ngu đần chuyên bị đánh lừa và chỉ bị lợi dụng.
Lý luận gia Mác-xít ăn theo Hoàng Trinh nhận “nhân dân” thuộc phe anh, bọn văn sĩ tư sản đồi trụy phỉ báng những nhân vật lãnh đạo tư sản thì anh cho là đúng, là được, nhưng khi văn sĩ tư sản miệt thị “nhân dân” thì anh phẫn nộ. Anh hằn học:
– Jean Genet chửi cả “nhân dân”…
Tất cả những gì xấu xa trên cõi đời này đều của phe tư sản, tất cả những gì tốt đẹp trên cõi đời này đều của phe cộng sản. Thái độ nhận vơ lố bịch ấy của những người cộng sản – thường được gọi là “vơ vào” – đã làm họ bị kê tủ đứng vào miệng khi Liên Xô, thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, phơi bầy những tội ác ghê rợn của cộng sản đối với loài người. Chuyện ấy ta chẳng cần phải nói nhiều hơn.
Chi tiết cần ghi lại về buổi nói chuyện của Hoàng Trinh là khi anh ta nói:
– Thưa quý bạn, Le Balcon kết thúc bằng câu nói của chị chủ nhà thổ. Khi cuộc nổi loạn đã bị dẹp, chị nói với cử tọa: “Kịch đến đây là hết. Trời sắp sáng. Mời quý vị trở về nhà. Xin quý vị nhớ cho rằng chẳng phải chỉ ở đây quý vị mới thấy kịch, mói đóng kịch. Ở bất cứ đâu cũng kịch mà thôi. Ở những nơi khác còn kịch cợm, còn giả dối hơn ở đây nữa”.
Hoàng Trinh vừa nói đến câu trên – “Ở đây kịch, ở đâu cũng kịch, kịch cả mà thôi” – thì khựng lại vì tiếng vỗ tay ồ ạt nổi lên.
Quý anh văn nghệ sĩ bộ môn Cải lương ngồi trên lầu Nhà hát vỗ tay trước. Bọn chúng tôi vỗ theo. Tôi – thú thực vẫn không coi trọng lắm quý anh cải lương – nhưng tôi thán phục quý anh quá cỡ thợ mộc khi tôi dự Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai cùng với quý anh và được thấy quý anh biểu diễn phản ứng tuyệt vời hai lần bằng những cái vỗ tay điệu nghệ thần sầu, quỷ khốc, nhân kinh, cán cộng ngẩn ngơ của quý anh.
Quý anh vỗ tay đây là vỗ tay hoan hô Jean Genet. Hổng phải quý anh vỗ tay hoan hô Kép Cộng Hoàng Trinh. Tất nhiên Jean Genet viết đã hay, quý anh sử dụng Jean Genet cũng tuyệt chiêu, bằng những tràng pháo tay ấy quý anh nói với bọn cán cộng:
– Đúng. Kịch cả mà thôi. Chúng tôi đến đây xem các anh đóng kịch. Chúng tôi cũng đóng kịch với các anh.
Nhưng quý anh nào là người đã nghĩ ra cách nói ấy đầu tiên? Quý anh bộ môn cải lương nào là người thứ nhất đã vỗ tay để cả nhà kịch chúng tôi bắt chước hôm ấy?
Trong Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị tháng Bẩy năm 1976, quý anh cải lương không chỉ phát biểu bằng cách vỗ tay một lần, các anh vỗ tay hai lần. Lần nào tôi cũng thấy thán phục sự linh động, óc thông minh của quý anh.
Hai mươi mốt ngày học xong, ngày bế mạc cũng được tổ chức linh đình ở Nhà Hát Lớn. Mỗi tổ cử một đại diện lên phát biểu cảm tưởng sau khóa học. Ông Nguyễn Hữu Ba đại diện tổ Cổ Nhạc lên máy.
Tội nghiệp ông già Nguyễn Hữu Ba. Ông lên nói láp nháp vài câu là được rồi. Không ai, kể cả cán cộng, muốn ông nhiều lời. Ông nói dai quá. Đã nói dai, ông còn ngắc ngứ, vô duyên.
Khi ông nói:
– Đã bao nhiêu năm chúng ta ôm người đàn bà Phi Luật Tân và gọi bà ta bằng mẹ… Bi giờ đã đến lúc chúng ta trở về với bà mẹ Việt Nam đích thật của chúng ta…
Ý ông Nguyễn Hữu Ba muốn nói bao nhiêu năm nay bọn đàn địch Sègoòng vẫn ôm cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon mà coi đó là đàn của mình, nay nhờ Bác và Đảng cho sáng mắt, sáng lòng, hãy trở về với cây đàn cò…
Một lần nữa phải nói “Tội nghiệp…” bọn đàn địch Sègoòng có bao giờ nhận những cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon, ha-uây-iên, vi-ô-lông là đàn Việt Nam đâu. Bọn đàn đúm cũng chẳng bao giờ ôm một người đàn bà Phi Luật Tân mà gọi là mẹ. Khi ông Nguyễn Hữu Ba nói đến bà mẹ Việt Nam bị các con yêu bỏ rơi, bỏ quên, bỏ xó, có vẻ xúc động ông ngừng lại.
Ông Ba vừa ngừng lại thì tiếng vỗ tay nổi lên từ trên lầu Nhà Hát. Một lần nữa, lại quý anh cải lương Sègoòng vỗ tay… đuổi. Ông Ba ngẩn người, ông chờ tiếng vỗ tay ngừng để tiếp tục nói. Nhưng những người vỗ tay không chịu ngừng. Ông Nguyễn Hữu Ba còn đứng đó, họ còn vỗ tay. Cuối cùng đương sự phải chịu nhận mình bị đuổi và cúi đầu đi xuống.
Quân tử Tầu có câu: “Quân tử trả thù mười năm chưa muộn”
Người viết bài này cảm khái thêm câu: “Tiểu nhân ca tụng hai mươi năm chưa muộn”
Tháng Bẩy năm 1976, tháng Mười năm 1995… Hai mươi mùa lá rụng đã rơi trên đường đời của chúng ta. Sáng nay bình yên ngồi viết ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, Virginia Đất Tình Nhân, tôi ca tụng quý anh nghệ sĩ cải lương Sàigòn ta. Tôi thán phục hai lần vỗ tay tuyệt vời của quý anh tháng ấy, năm ấy.
Chúng ta đã thấy những trò, những cảnh ruồi bâu kiến đậu trong cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị chúng ta tham dự ở Thành Hồ. Nhiều anh em ta bắt buộc phải lên micro phát biểu đã tránh né, đàng hoàng, rất khéo như Ngọc Chánh, Bạch Tuyết. Nhiều anh chị em ta lên nhận mình “mắt mù, tai điếc, nay may mắn được Đảng cho sáng mắt sáng lòng” làm chúng ta tủi hổ. Nhưng thôi, chúng ta nên quên. Tết đến, ngày xuân, năm mới. Ở xứ người chúng ta nên vui vẻ, thương yêu nhau. Tôi không bới móc tội lỗi của người khác để tội lỗi của tôi không bị người khác bới móc.
Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ
Vai kép tuồng kia vẫn diễu hoài
Thơ Thanh Nam, Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi, làm ở Saigon năm1970. Và đây là thơ Francis Quarles:
Ôi hồn ta… ngồi yên mà coi
Vở tuồng đời
Đừng phê phán trước khi tuồng hết
Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười
Thi sĩ khuyên ta ngồi yên mà coi. Nhưng làm sao ta ngồi yên mà coi được? Ta không phải là khán giả ngồi xem cái vở tuồng đời. Ta là một nhân vật trong vở tuồng ấy, ta bị quay cuồng, ta khóc, ta cười trên sân khấu Đời ấy.
Nếu nói được như chị chủ Le Balcon: “Kịch cả mà thôi. Giả hết”, chắc ta có thể thản nhiên sống trong vở tuồng đời. Khổ nỗi, đôi khi ta không thể đóng kịch, ta không giả dối được. Vì không đóng kịch được nên đôi khi ta bị roi đời quất hằn trên mặt. Song cuối cùng tôi thấy khi ta bị hổ nhục ta thấy hổ nhục, còn khá hơn là khi ta bị hổ nhục mà ta vẫn nhơn nhơn mặt trơ, trán bóng cho là ta không có gì để phải nhục nhã.
Trong những năm gần đây, cái thú đọc sách của mọi người, nói chung, đôi khi nhuốm một chút buồn nản. Không phải chúng ta thiếu sách, ngược lại nữa là đằng khác. Cứ đọc những quảng cáo về các buổi ra mắt sách hàng ngày trên báo chí đủ thấy. Có thể số sách ấn hành đã lên đến con số hàng trăm rồi mà
hình như mình chưa kịp đọc cuốn nào. Cuộc sống hối hả cứ cuồn cuộn trôi, những sự việc người ta chưa kịp nhận rõ ra sao đã xẩy ra chuyện khác.
Chỉ cần lấy con số 911 làm thí dụ đủ thấy điều đó. Sau biến cố Trung Tâm Thương Mãi Mỹ ở Nữu Ước bị khủng bố, ngày 11 tháng 9, thì hình như con số 911 không chỉ còn là con số để người ta bấm máy điện thoại kêu cứu trong trường hợp khẩn cấp nữa. Nó đã trở thành dấu mốc có thể thay đổi cả cục diện thế giới.
Cũng nên nhắc lại ở đây một chi tiết nhỏ: người Mỹ có thói quen viết [hay đọc] tháng trước rồi mới tới ngày và năm. Nên thay vì như chúng ta, người Việt Nam, nói ngày 11 tháng 9, thì người Mỹ nói tháng 9 ngày 11. Như thế, hình như chúng ta sống và không theo kịp những sự việc xẩy ra chung quanh. Nói cách khác chúng ta luôn bị thời cuộc bỏ lại đằng sau. Trong cái cuộc sống vận chuyển với tốc độ chóng mặt như thế người ta không còn thì giờ chú ý đến thiên nhiên nữa gần như là một điều tự nhiên. Người ta bỏ quên thiên nhiên. Rồi, bị thiên nhiên bỏ quên lại. Vì thế, chúng ta không lạ khi thấy thiên nhiên vắng bóng dần trong các tác phẩm của chúng ta.
Nói như vậy không có nghĩa bảo rằng chúng ta thiếu những trang, những dòng tả cảnh trong các truyện dài, truyện ngắn, các ca khúc, chẳng hạn.
Nhưng tả cảnh chỉ là nhìn ngắm. Nhìn ngắm không phải là yêu. Không yêu thì không thể có sự chia sẻ được. Người ta sống như xâm chiếm thiên nhiên, khai thác chứ không bù đắp.
Hồng Nhan Xuân của Phạm Quốc Bảo gồm trên bốn chục đoản văn, gọi là những truyện ngắn cũng được, viết về nhiều đề tài. Như hết thẩy chúng ta, Phạm Quốc Bảo cũng bị chi phối bởi mọi thứ trên đời: chiến tranh, bệnh tật, cơm ăn, áo mặc, lưu vong, người sống, người chết, chuyện Tiệp Khắc, Ba Lan … Nhưng điểm đặc sắc nhất trong các truyện ngắn của Phạm Quốc Bảo là những dòng ông nói về thiên nhiên. Hai truyện đầu của tập sách Đi Tua và Cắm Trại Trễ giống như một dòng suối trong mát từ lâu lắm người ta mới tìm thấy lại trong khu rừng văn chương của chúng ta. Truyện giản dị, kể lại một chuyến đi”tua”của một số du khách tới khu Wawona Mariposa, vùng phía nam của công viên quốc gia Yosemite, để được chiêm ngưỡng rừng cây Sequoia, một thứ đại cổ thụ sống hàng ngàn năm nổi tiếng trên thế giới của Hoa Kỳ, nằm về phía Đông Trung và Bắc California.
Cây seqouia có hiện tượng lạ, khi sống từ độ tuổi ngoài một ngàn năm trở lên, tự nhiên ruột cây có thể bị cháy đen từ gốc ngược lên dần dần cho đến khi cây chết đổ xụp xuống, như một hình thức tự hủy. Cây có thể đâm nhiều
nhánh cành to bằng thân chính. Lỗ hổng của thân cây cháy mục đủ để làm thành một đường đi xuyên qua rộng từ hai đến bốn mét. Cây nhỏ trồng bên đường cao chừng nửa thước đã có tuổi khoảng bốn chục năm rồi.
Phạm Quốc Bảo có lối viết đơn giản, ít dùng từ hoa mỹ, thích hợp để viết những truyện như thế. Đọc những truyện này đôi lúc người ta có cảm tưởng như đọc truyện thần tiên hay cổ tích. Những gì ông viết về thiên nhiên đều dịu dàng, và chính sự dịu dàng này làm cho những lời miêu tả của ông cùng một lúc toát ra vẻ gì đó như trò chuyện với thiên nhiên.
Truyện Đi Tua kết thúc bằng cảnh các du khách xúm lại quanh một cây sequoia đổ, đất bám ở cụm rễ còn đỏ tươi, mấy người cảnh sát vùng rừng núi [rangers] đang chỉ trỏ thảo luận.
Riêng một ranger khác đứng sát bên thân cây đổ, nước mắt liên tiếp chẩy trên má và dính óng ánh trên bộ râu xồm màu vàng nhạt của ông.
Phạm Quốc Bảo viết:
“Ông ranger kia khóc tận tình, khóc lớn và dai một cách tự nhiên. Và tay ông luôn vuốt ve lớp vỏ sần sùi của thân cây đổ, miệng ông lẩm bẩm. Đến gần mới nghe loáng thoáng tiếng ông nghẹn ngào đứt quãng.
Tại sao?… Sao mày quá yếu vậy?… Gió đêm qua có mạnh lắm đâu … Gió trốc sao? Trời ơi, mày còn quá trẻ … Gốc còn mạnh thế này. Chưa có một vết nám cháy nào … Dù sao tao cũng có lỗi với mày. Ông tao đã trồng nên mày. Cha tao đã cả đời chăm sóc cho mày. Còn tao thì … Tại sao?… TạiSao?.
Người gác rừng khóc một cái cây bị gió làm trốc gốc. Người ta có thể tin những giọt nước mắt của ông. Đến ông là đời thứ ba trông nom cho cái cây ấy. Cái tình sâu như thế thì đến chúng ta chỉ nghe chuyện thôi cũng
có thể chẩy nước mắt huống chi ông. Nếu cái cây có linh hồn hẳn nước mắt của người ranger cũng làm nguôi ngoai phần nào nỗi chết yểu của nó.
Truyện Cắm Trại Trễ cũng có một nội dung tương tự. Vài gia đình cùng đi cắm trại trong một rừng thông, đốt lửa chơi. Sẵn lá và quả thông khô rơi đầy mặt đất, một cô bé nhặt ném vào đống lửa ngồi nghe tiếng nổ lách tách cho vui tai.
Chỉ đến khi được người ranger cho biết những lá thông khô sẽ biến thành một thứ phân bón để những trái thông khô nứt nở thành cây thông con thì:
“… khi bước lên xe rời khỏi nơi cắm trại, thấy một trái thông khô nằm lăn lóc trong sàn xe, cô bé Linh Đa nhặt lên một cách thận trọng hơn bao giờ và bỏ lại trên nền lá thông khô”.
Liệu trong đời sống riêng của chúng ta, những người Việt Nam, còn bao người có đủ ba đời sống để trông nom một cái cây, và rỏ những giọt nước mắt như của người ranger Mỹ trong truyện nhỉ?
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam Post by Sơn râu 25 Sep 2025
58. Phạm Huấn.
Phạm Huấn từng là sĩ quan trong binh chủng nhẩy dù của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau ông được chuyển qua phòng Báo Chí Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và làm việc tại đó cho đến ngày 30 tháng 4, 1975, với cấp bậc Thiếu Tá.
Một Ngày Tại Hà Nội là cơ hội hãn hữu một phóng viên chiến tranh có dịp thực hiện. Nó ghi lại chuyến trở về Hà Nội của một người rời bỏ Hà Nội sau
khi đất nước bị chia cắt năm 1954. Hà Nội, và cả miền Bắc, như một thế giới khép kín kể từ đó.
Chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn. Người ta chưa thể hình dung, rồi ra nó sẽ chấm dứt như thế nào. Và điều ấy có nghĩa là không có hay chưa thể có lối về Hà Nội, lối về miền Bắc. Vì thế, khi Phạm Huấn cùng với hai sĩ quan khác của VNCH, Thiếu Tá Phạm Công Chất và Thiếu Úy Dương Phục, được tháp tùng một phái bộ Mỹ tới Hà Nội với tư cách quan sát viên, tham dự vào một cuộc trao đổi tù binh giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, là một sự kiện mọi người miền Nam khi ấy đều nao nức mong đợi “để xem sự thể ra sao”.
Phạm Huấn viết:
“Thật chẳng khác một giấc mơ, khi máy bay đáp xuống phi trường Gia Lâm, chúng tôi với quân phục và huy hiệu của Quân Lực VNCH trên người, bước xuống giữa một rừng sĩ quan và cán bộ Bắc Việt, mà không phải nổ súng và ngược lại, đối với tôi, một người ở trong quân ngũ 18 năm liên tiếp, một sĩ quan với huy hiệu nhẩy dù trên ngực áo, đã có quá nhiều kinh nghiệm với cộng sản, cái giây phút chúng tôi đặt chân xuống Gia Lâm là một giây phút kỳ lạ đáng ghi nhớ”.
Một ngày tại Hà Nội là những gì Phạm Huấn kể lại từ cái “giây phút đáng ghi nhớ” ấy, trong một ngày ở Hà Nội, cùng với một số hình ảnh Hà Nội ông đã chụp được trong chuyến đi này. Phạm Huấn viết tiếp:
“Ngồi trên chuyến xe di chuyển từ Gia Lâm về Hà Nội, nhìn thấy Hồ Gươm, Tháp Rùa, tôi có trong lòng một nỗi xao xuyến muốn làm ứa lệ.
Tôi biết rằng, nhìn thấy Hà Nội đây, là nhìn thấy bằng một triệu đôi mắt của những người xa Hà Nội năm nào. Tôi đang di chuyển an lành trên những đường phố Hà Nội đây, là đòi hỏi bằng xương máu của bao nhiêu bằng hữu, bao nhiêu huynh đệ, bao nhiêu người quen biết và không quen biết, đã chết và còn sống, của 17 triệu dân miền Nam yêu nước, đang trông ngóng một ngày hòa bình, thống nhất, nhưng không phải hòa bình với bất cứ giá nào. Tôi hiểu được tại sao con người có tình riêng nhưng không thể tách rời khỏi tập thể. Con đường này xưa chúng tôi hàng ngày đi qua,cắp sách đến trường. Căn nhà này, xưa, tôi đã ở. Bạn bè tôi xưa, những ai còn, ai mất? Người yêu tôi xưa, bây giờ bao tuổi, bao già? Tôi có thể gọi tên từng đứa bạn, gọi tên từng người con gái đẹp của Hà Nội khi xưa, tôi có thể chỉ đúng căn nhà họ ở, bây giờ họ còn ở đấy chăng? Ngồi trên máy bay nhìn xuống Hà Nội, Hà Nội giống như một khuôn mặt kiều diễm. Tháp Rùa chẳng khác cái nốt ruồi của thành phố! Tôi biết rằng, nếu biết được tôi nghĩ như thế, ai sẽ mỉm cười. Cái cậu con trai nhẩy chân sáo trên lối đi này khi xưa là tên vẫn còn ẩn úp trong tôi thật sao? Tôi mừng biết bao, khi nhận ra, với ba mươi năm liền nghe tiếng nổ, nhìn thấy khói, ngửi thấy mùi tử khí, tai tôi chưa điếc, mắt tôi chưa mờ, mũi tôi vẫn còn phân biệt được những mùi hương phảng phất của sương mù tháng giêng Hà Nội”.
Vâng, cho đến hôm nay, Hà Nội đã trở thành một địa điểm du lịch, bất cứ người Việt Nam nào, muốn nhìn thấy Hà Nội, muốn trở lại Hà Nội, gần như không còn có gì khó khăn nữa.
Nhưng khi cuốn sách của Phạm Huấn được xuất bản lần thứ nhất, cầm cuốn sách trong tay, nhìn những tấm hình được chụp lướt vì ngồi trong xe chạy, mọi người đều xúc động. Có những con đường người ta có thể nhận ra ngay như những con đường quanh hồ Gươm. Có những góc phố người ta biết là Hà Nội nhưng trong giây phút chưa thể gọi đúng tên. Các thiếu nữ áo cánh trắng quần đen chở nhau trên những chiếc xe đạp. Các cán bộ, bộ đội, quần áo màu xám, nón cối, cũng cắm cúi đạp xe hay ngược xuôi trên các hè đường, ai nấy hình như đều có vẻ gì đó hấp tấp, ngơ ngác chẳng muốn nhìn nhau nữa. Những chiếc ghế đá sứt mẻ không người ngồi, xe đạp, xe đạp, xe đạp … và những khu phố vắng tanh, những chiếc cột đèn cũ kỹ tự năm nào với các thanh sắt mỏng đan chéo đen sẫm đứng sừng sững, tựa những nỗi buồn hiện nguyên hình, câm nín. Mỗi tấm hình trong cuốn sách đã được Phạm Huấn dùng một câu thơ, một lời ca, rút ra từ một bản nhạc nào đó làm chú thích. Đọc những chú thích ấy, cùng với những hình người ta tưởng chừng như, chúng chìm sâu, khua động những ảnh nhìn thấy lại, đối với những người từng sống ở Hà Nội, tầng trí nhớ.
Chưa bao giờ người ta cảm nhận được cái vẻ đẹp của một thành phố tan lẫn với thi ca và âm nhạc một cách cụ thể đến thế, cùng một lúc, người ta tưởng chừng như nỗi buồn trong lòng sa xuống tận cõi chết.
Trước khi mất, Thanh Nam đề bạt cho cuốn sách của Phạm Huấn được tái bản ở hải ngoại bằng những dòng sau:
“Đọc hết những bài viết, ngắm đi ngắm lại bức bản đồ Hà Nội in năm 1951, rồi coi đến những người, những cảnh Hà Nội vào thời 1973, qua gần 100 bức ảnh mà tác giả đã khéo léo thu nhận được vào ống kính; tôi thật tình xúc động khi nhớ lại ngày mình rời xa thành phố này vào năm 1953,
cách đây vừa đúng 30 năm, nhớ lại những giấc mơ trở về Hà Nội của mình: Chắc chắn trong buổi trùng phùng cũng có nỗi xúc động ứa lệ như Phạm Huấn nói”.
Ấn bản Một Ngày tại Hà Nội ở hải ngoại lần này được đóng bìa cứng, lớp bìa mỏng bọc ngoài là một tác phẩm của Nguyễn Cao Đàm chụp hình đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc. Hình đen trắng, trông mờ mờ như được chụp trong một buổi sáng hay buổi chiều sương mù. Trước khi rời Hà Nội nhà Nguyễn Cao Đàm ở ngay bên bờ hồ. Có thể nói bức hình đó đã được ông vừa chụp qua cảnh thực vừa chụp qua tâm tưởng.
Có lẽ đến hơn phân nửa tác giả được Phạm Huấn trích dẫn trong cuốn sách nay không còn nữa. Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng, Đinh Hùng, Mai Thảo, Vũ Thành, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Cao Đàm, Thanh Nam … người chết trong nước, trong tù, người mất ở hải ngoại.
Tất cả không ai được nhìn thấy lại Hà Nội. Phạm Huấn là người thứ nhất trong số mhững người xa Hà Nội, được nhìn thấy lại Hà Nội sau hai chục năm xa cách, thì ngay sau cái ngày từ Hà Nội về ấy, lại nói rằng, nếu Hà Nội như vậy, ông sẽ không bao giờ trở lại nữa. Lời nguyện ấy, ông còn giữ đến bây giờ. Những người quen biết Phạm Huấn trước đây đều rất buồn khi thấy ông hiện ở trong tình trạng bệnh tật trầm trọng. Ông gần như bị suy sụp hoàn toàn, ngay cả đi lại cũng phải có người dìu đỡ. Ông vừa mắc chứng parkinson vừa bị alzheimer.
Cùng quý bạn đọc, vì có chút việc riêng nên râu tôi tạm ngưng post bài lên trong vòng 2 tuần lễ hẹn sẽ gặp lại sau vào tháng 10. Các bạn có thể coi lại các bài cũ đã post.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.