vietmessenger.com
Trần Doãn Nho
Tập truyện Trần Doãn Nho
Bìa và phụ bản của họa sĩ Đinh Cường
Post by Sơn râu 12 Sep 2025

12. Good stuff
Khác với lệ thường, hôm nay Túc đến lớp sớm. Ngoài sách, báo tiếng Việt, một ít tranh ảnh về Hà Nội, Huế, Sài Gòn, cuốn “Chiến Tranh Việt Nam” bằng hình ảnh, anh còn mang theo một bản đồ Việt Nam, loại treo tường. Tấm bản đồ này anh nhờ người bạn dạy học mượn từ thư viện một trường high school. Donna Aube, cô giáo dạy lớp Anh văn cao cấp dành cho sinh viên nước ngoài, cũng đến sớm. Cô muốn giúp anh chuẩn bị chu đáo cho buổi thuyết trình về Việt Nam trong lớp do cô phụ trách. Cô chữa lại cho anh một số từ ngữ, và cách diễn đạt, đồng thời gợi ra một số câu hỏi mà có thể anh sẽ được bạn đồng lớp hỏi sau bài thuyết trình. Thực ra, cũng chẳng có gì quan trọng, vì đây là lớp học tiếng Anh, chứ không phải là lớp Sử. Cô Donna muốn học trò trình bày được suông sẻ, dễ hiểu trước sinh viên của đủ thứ quốc tịch, vì không thiếu lúc, do vấn đề phát âm, sinh viên không hiểu câu hỏi và câu trả lời của nhau. Thế mà, khi lên đứng trên bục, anh vẫn cảm thấy lúng túng. Nhìn tấm bản đồ Việt Nam khá lớn, choáng gần nửa cái bảng, tự dưng anh cảm động. Anh muốn nói thật nhiều về đất nước Việt Nam. Anh muốn truyền đạt những dằn vặt, ray rứt cũng như những hy vọng, mơ ước của anh về tương lai của đất nước trước cái thế giới nhỏ bé này. Anh nói về các triều đại, về các cuộc kháng chiến chống xâm lăng và về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa rồi. Đồng thời anh cũng trình bày tại sao anh đã bỏ nước ra đi và những tệ hại của chế độ cộng sản mà anh đã từng sống qua.
Sau khi anh thuyết trình xong, nhiều câu hỏi được đặt ra. Một sinh viên Morocco phát biểu:
– Thú thật, đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến nước Việt Nam.
Anh hỏi:
– Bạn bao nhiêu tuổi?
-18.
– Lúc bạn sinh ra, chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt rồi.
Một sinh viên Nam Hàn:
– Hóa ra Việt Nam cũng bị chia đôi như nước chúng tôi. Nhưng bạn hạnh phúc hơn tôi vì quê hương bạn đã được thống nhất.
– Nhưng … thống nhất dưới chế độ cộng sản còn tệ hơn là được chia đôi!
– Tôi không hiểu bạn nói gì? Chẳng lẽ bạn không muốn quê hương bạn thống nhất?
Một sinh viên Nhật:
– Tôi không hiểu tại sao nhân dân của bạn lại cứ ưa đánh nhau vậy. Đất nước đã nghèo mà cứ lo đánh nhau thì chỉ có mà nghèo thêm.
– Nhưng giờ hết chiến tranh rồi.
– Tôi thấy nước bạn vẫn còn đánh nhau …
– Bạn hiểu lầm rồi.
– Ô, không còn đánh nhau bằng súng đạn mà bằng kiểu khác.
– Nhật cũng có nhiều phe phái …
– Chúng tôi cãi nhau, nhưng đất nước thì chúng tôi cứ xây dựng.
Một cô sinh viên Đài Loan:
– Theo tôi biết, Việt Nam vốn là một phần của Trung Hoa.
– Người Trung Hoa muốn vậy, nhưng chúng tôi muốn độc lập. Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, nhưng có một lịch sử hoàn toàn khác.
– Cha tôi hiện có một nhà máy ở Sài Gòn.
Một sinh viên lớn tuổi người Albania:
– Việt Nam trước đây là bạn thân của Albania. Tôi thông cảm với bạn, vì tôi cũng như bạn, đều là nạn nhân của chế độ cộng sản. Cộng sản ở đâu cũng giống nhau …
Túc đưa một xấp ảnh vẽ các đền đài, lăng tẩm của Việt Nam để sinh viên chuyền nhau xem. Xong, anh định phát biểu đôi lời để chấm dứt phần thuyết trình, thì một sinh viên Âu châu trạc tuổi anh đứng lên:
– Tôi muốn biết lá cờ Việt Nam …
Anh cám ơn anh sinh viên vì đã nhắc anh nhớ đến lá cờ. Anh lấy từ trong xách lá cờ vàng ba sọc đỏ bằng giấy và đưa cho cả lớp xem. Người sinh viên nói bằng một thứ tiếng Anh rất khó nghe. Anh phải cố gắng lắm mới hiểu ý anh ta nói:
– Tôi đến từ Tây Ban Nha. Tôi học Sử. Tôi có hiểu biết đôi chút về Việt Nam. Tôi hoàn toàn không đồng ý đây là lá cờ của Việt Nam. Lá cờ Việt Nam bây giờ là … như thế này …
Anh sinh viên bước lên bảng, dùng phấn vẽ nguệch ngoạc một hình vẽ chữ nhật và ngôi sao ở giữa:
– Nếu tôi nhớ không lầm thì nó như thế này.
Túc cướp lời:
– Đó là lá cờ của cộng sản.
– Tôi không cần biết cộng sản hay không cộng sản. Tôi chỉ biết hiện nay có một nước Việt Nam và một lá cờ Việt Nam.
– Người cộng sản đã cưỡng chiếm nước tôi.
– Chiến thắng nào cũng là cưỡng chiếm hết.
– Bạn không sống với cộng sản, nên bạn không rõ. Cộng sản cũng như một đạo quân xâm lăng. Họ dùng quỷ kế để cướp chính quyền và cư xử với nhân dân còn tệ hơn một kẻ xâm lăng.
– Tôi không quan tâm đến điều đó. Tôi học Sử. Tôi quan tâm đến những gì có thực.
– Cộng sản đi ngược lại lịch sử. Họ sẽ sụp đổ. Lá cờ này sẽ là lá cờ của Việt Nam trong tương lai.
– Đó là chuyện của tương lai. Trước mắt, đó chỉ là lá cờ của bạn …
Anh lúng túng. Anh không muốn đi sâu hơn vào những tranh cãi chính trị. Điều giản dị là anh chỉ muốn giới thiệu một số nét về Việt Nam. Vả lại, đây là một lớp học Anh văn. Anh tự cảm thấy anh cũng không đủ những thuật ngữ chính trị cần thiết để diễn tả những ý kiến của mình. Trong lúc anh đang tìm một câu thích hợp để cho vấn đề trôi qua và chấm dứt phần thuyết trình, thì cô Donna lên tiếng:
– Cám ơn Túc, cám ơn Ricardo. Hai bạn đã cống hiến cho lớp học một không khí sinh động để học Anh ngữ. Tôi không quan tâm đến chính trị. Nhưng tôi biết chắc chắn rằng vì vấn đề chính trị mà có một cộng đồng Việt Nam ở đất Mỹnày. Tôi kể cho các bạn nghe một câu chuyện ngắn: Ba năm trước đây, nhân nghỉ hè, tôi về chơi ở nhà một người bạn ở Atlanta, bang Georgia. Chắc các bạn biết rõ Atlanta. Đó là một địa danh nổi tiếng thời nội chiến Mỹ và được diễn tả khá kỹ trong “Gone with the Wind”, của Mitchell. Tôi được mời tham dự một party được tổ chức nhân kỷ niệm ngày ông tổ của giòng họ cô bạn đến định cư ở Mỹ vào đầu thế kỷ trước. Trong số những di vật truyền lại qua nhiều thế hệ, có một lá cờ của quân đội ly khai miền Nam thời nội chiến. Cô cho tiết tổ tiên cô chiến đấu trong phe Confederate, tức là phe ly khai. Giòng họ cô vẫn xem lá cờ như một thành tích, một vinh dự, dù phe ly khai đã thất bại. Trở lại trường hợp Túc. Tôi nghĩ rằng Túc có quyền xem lá cờ của Túc là lá cờ chính thức của Việt Nam. Đó là nỗi niềm, một ước mơ, một hy vọng. Theo tôi, đó là một kỷ niệm quý báu, cho dù đó không phải là kỷ niệm đẹp chăng nữa. Kỷ niệm, như Feinstein Forman nói, là một Good Stuff. Kỷ niệm, rút cuộc, nuôi dưỡng phần còn lại của cuộc đời …
*
Cô Donna, dáng người nhỏ nhắn so với bất kỳ người Mỹ trung bình nào. Nếu không có mái tóc vàng và cái mũi cao, thì trông cô giống một người Á châu. Cô gốc Irish, nhưng có pha một ít giòng máu Ý vì bà nội cô là người Ý. Túc đoán chừng cô bốn mươi lăm. Thực ra, cô mới có bốn mươi mốt, theo như cô cho biết. Rõ là già trước tuổi. Những nếp nhăn sâu ở quanh đôi mắt, hai bên khóe miệng. Khuôn mặt cô vốn nhỏ nhắn, lại càng nhỏ hơn với chiếc cằm nhọn. Đã thế, cô lại thích mặc áo rộng. Ít khi nào cô mặc một cái áo sơ mi vừa cỡ. Thường thì cái nào cũng rộng thùng thình. Một hôm, trong ngày Spree Day của trường, cô Donna kéo Túc ra ngoài. Hai người đi trên sân cỏ, vừa đi vừa nhai sandwich, uống cô ca. Cô hỏi:
– Anh có đi lính không? Trông anh còn trẻ quá mà.
– Không. Hồi chiến tranh, tôi còn nhỏ.
– Vậy anh biết gì về chế độ miền Nam Việt Nam?
– Ba tôi là sĩ quan. Ông chết trong nhà tù.
Cô Donna chép miệng:
– Thế à! Thật không may cho anh. Anh sang Mỹ như thế nào? Boatpeople hả?
– Không. Vì ba tôi chết ở trong tù, nên gia đình tôi được chính phủ Mỹ cho đi y như những gia đình cựu tù nhân chính trị khác.
– À ra thế!
Cô Donna im lặng một lát rồi nói:
– Anh còn nhớ Ricardo? Anh chàng sinh viên Tây Ban Nha ấy mà? Anh ta hoạt động cho Đảng Xã Hội Tây Ban Nha đấy.
– Vậy sao? Anh ta là chính trị gia?
– Vâng. Anh ta đến Mỹ để học, nhưng không ưa chính sách Mỹ.
Anh gật gật đầu tỏ ý hiểu, nhưng không quan tâm đến chuyện này lắm. Anh lơ đãng nhìn từng đám sinh viên nam nữ hát hò, nhảy múa, la hét khắp sân trường. Da đen, da trắng, da nâu, mũi cao, mũi tẹt … Dưới gốc cây đàng kia, một cặp đeo riết lấy nhau, hôn nhau say đắm. Một thế giới lạ hoắc đối với anh. Thời còn cắp sách đến trường, anh đâu có được cái hồn nhiên như thế này. Tuổi trẻ anh không vui, vì vừa lớn lên thì ba anh đi ở tù, rồi ba mất. Gia đình anh trải qua những ngày tháng gian truân nhất trong cuộc sống. Bây giờ đến xứ sở này, cắp sách đi học lại thì hầu như tuổi trẻ đã sắp qua. Anh bùi ngùi nói:
– Tôi hầu như không có tuổi trẻ.
– Anh muốn nói …
– Hồi tôi đi học, nhà nước cộng sản chưa đổi mới. Những người như tôi bị phân biệt đối xử. Hồi cô còn đi học như thế này, hẳn là vui lắm. Như đám sinh viên kia.
Giọng cô Donna nghe như trầm xuống:
– Tuổi trẻ tôi cũng không được vui như anh nghĩ.
Anh ngạc nhiên:
– Vậy sao? Đất nước này đâu có chiến tranh, đâu có hận thù.
Cô Donna nhìn anh:
– Anh quên rằng, nước Mỹ cũng chịu đựng cuộc chiến tranh không thua gì nước anh …
Chàng ngớ ra:
– Ồ, tôi quên điều đó.
– Không sao. Có nhiều điều trong cuộc sống ta nên quên đi để khỏi vướng bận …
Ngừng một lát, cô tiếp:
– Thế mà, vẫn có vô số điều không thể quên được. Nếu quên, đôi khi cuộc sống trở thành vô nghĩa, dù những điều ta muốn nhớ chỉ làm ta thêm bối rối. Anh ngạc nhiên nhìn cô Donna và cố hiểu hết những điều cô muốn nói qua
cách diễn tả có phần rắc rối. Chừng như hiểu được ý anh, cô nói gọn lại:
– Nói vắn tắt, có những điều ta phải nhớ. Đó có thể chỉ là những gì lỉnh kỉnh, đôi khi hoàn toàn vô nghĩa, nhưng gói ghém dường như toàn bộ cuộc đời. Anh đồng ý chứ?
Anh gật đầu, nhìn cô giáo Mỹ và có cảm giác cô đang nói những gì mà anh nghĩ trong đầu. Anh có vô vàn điều để nhớ, nhất là vì cuộc đời anh như hai đoạn đời tách bạch hẳn nhau. Còn cô giáo người Mỹ này có gì mà lại phải băn khoăn về những gì đáng nhớ và những gì đáng quên. Làm người Mỹ thì phải hạnh phúc chứ! Anh nói ra ý nghĩ của mình:
– Làm người Mỹ tự nó đã là hạnh phúc.
– Tôi không nghĩ thế.
Túc mong cô Donna nói tiếp một đôi điều, nhưng cô im lặng. Ngang qua thùng rác, cô ném mẩu sandwich thừa và lon cô ca, rồi nói:
– Tôi bận, phải đi bây giờ.
Cô mở cái xách nãy giờ vẫn đeo lủng lẳng trên vai, rút một tấm cạc đưa cho anh:
– Đây là địa chỉ nhà tôi. Tôi thích được tiếp anh tại nhà tôi sau semester này. Anh có bận không?
Anh vui vẻ nhận lời:
– Tôi học tiếp khóa hè, nhưng không bận lắm. Tôi rất thích đến thăm cô tại nhà.
– Vậy nhé. Ngày giờ chúng ta định sau. Có gì chúng ta sẽ thảo luận ở party cuối khóa học nhé.
Cô Donna chào anh, bước vội đi. Cái dáng nhỏ nhắn của cô lẩn trong đám sinh viên đang cười đùa, la hét ầm ĩ.
*
Sau khi điện thoại để check lại cái hẹn lần cuối, Túc lái xe ra đi. Cô Donna ở một town khác với town của anh, cách nơi anh ở khá xa. Anh phải ra highway, chạy mấy chục miles rồi mới rẽ vào exit. Con đường bây giờ lặng lẽ đi xuyên qua các cánh rừng nhỏ, vòng vèo dưới chân mấy ngọn đồi. Hình như có tiếng ve kêu trong một lùm cây nào đó. Anh không xác định được vì tiếng gió rít qua cửa gương hòa cùng vô số âm thanh khác từ trong rừng vọng lại. Nếu quả có một con ve nào lạc về đây thì cũng lạ!
Nhà dễ kiếm. Cái single house nhỏ nhắn màu lam nhạt nằm ngay dưới con dốc nhỏ. Phía trước là một cái farm rộng. Bên cạnh nhà là một khoảng rừng với một tấm bảng lớn dựng ở mé đường: “Theo Properties”. Anh vừa dừng xe thì cô Donna đã chạy ra, cười:
– Chào mừng. Anh có thể đậu xe ngay tấm bảng đó.
Anh đùa:
– Người ta lại tưởng là “tài sản của Theo” mất. Còn nhà cô thì sao? Có thuộc “Theo” không?
– Ông nội tôi đã trả hết tiền rồi.
Cô Donna hôm nay trông trẻ trung hơn mọi lần ở lớp. Cô mặc quần jean bó sát, áo T-shirt ngắn tay, cổ hở. Một sợi dây chuyền dài có tấm “lắc” tròn đung đưa ngang bụng. Tóc bới cao. Cô đưa Túc đến một căn phòng ở phía sau. Căn phòng trông ra một con đường nhỏ dẫn đến ngọn đồi phía bên kia. Cô đưa tay chỉ căn phòng nhỏ và một khoảng vườn, nói:
– Đây là tất cả những gì tôi có.
Túc đứng tần ngần ở cửa, nhìn quanh. Toàn là chậu hoa. Cái treo lủng lẳng. Cái kê trên đá, trên bục gỗ. Cái trồng dọc theo lối đi.
Anh nói:
– Vườn của cô toàn là hoa.
– Không phải đâu. Chỉ có một ít là hoa, nhưng tôi không chăm sóc, nên cũng như không. Còn thì là cây và lá. Tôi thích lá.
Lúc đầu, anh tưởng là hết mùa hoa nên chẳng thấy có bông hoa nào. Đúng là chỉ có lá. Lá leo, lá bò, lá quấn quít, lá rũ …
Cô Donna lên tiếng:
– Mời vào.
Cô đẩy nhẹ cánh cửa, nhường lối cho Túc vào. Căn phòng nhỏ nhắn. Mọi vật trong phòng cũng nhỏ nhắn. Cái TV, computer, cái bàn, tủ sách … dường như chủ nhân muốn tất cả đều phải được thu vén, tém tủm đến mức tối đa. Anh nhìn quanh, cố tìm khuôn ảnh người mà anh muốn được biết
đến đầu tiên: chồng và con của cô Donna. Nhưng chẳng có. Hai chiếc ảnh lồng kính để ở bàn đọc sách lại là của hai ông bà già. Chắc là bố và mẹ của cô Donna.
Cô Donna lấy một chiếc bàn xếp để ở góc phòng, kéo ra đặt ở chính giữa phòng. Hai chiếc ghế có sẵn.
– Mời Túc ngồi.
Anh đáp vâng, nhưng vẫn bước quanh. Đến tủ sách, anh tò mò nhìn các tựa sách. Ngoài một số sách dạy học, hầu hết số còn lại là truyện. Anh ngạc nhiên khi thấy có mấy cuốn sách nói về Việt Nam: một cuốn hồi ký chiến tranh, một cuốn phóng sự bằng hình ảnh và một cuốn có tựa đề
“Understanding Vietnam”. Anh cầm lên xem. Cô Donna lên tiếng:
– Đó là cuốn sách mới nhất về Việt Nam. Túc đọc chưa?
– Thú thật là tôi không có thì giờ để đọc sách. Tôi cần trau dồi Anh văn cho khá trước khi nói đến việc đọc sách. Cô cũng quan tâm đến Việt Nam?
– Vâng, đôi chút. Túc dùng trà, cà phê hay nước ngọt?
– Xin cô cho cốc cà phê.
Anh để cuốn sách vào kệ, đến ngồi ở bàn. Cô Donna loay hoay chế cà phê. Cô nói:
– Anh có diet không?
– Không. Người Việt Nam đang cần mập mà.
– Ờ, có bài báo cho rằng muốn khỏi mập, không cần diet gì hết. Chỉ cần ăn uống theo kiểu Việt Nam.
– Cô có bao giờ dùng món ăn Việt Nam chưa?
– Thỉnh thoảng. Như hôm nay chẳng hạn.
Đẩy cốc cà phê còn bốc khói sang cho Túc, cô Donna đến oven. Cô trở lại bàn với hai chiếc dĩa giấy và một hộp giấy đựng thức ăn. Cô cười:
-Tôi đãi anh một món đặc biệt. Món “tra ro”.
Túc thắc mắc:
– “Tra ro”. Tôi không biết món này.
Cô Donna mở hộp giấy, lấy thức ăn ra sắp vào đĩa, Túc nhìn món ăn, chợt bật cười:
– Chả giò. Cô nói “tra ro, tra ro”, tôi không hiểu. Cô thích món ăn này?
– Đây là món ăn Việt Nam mà tôi thích nhất.
– Cô làm?
– Anh đùa đấy sao? Món ăn Mỹ tôi còn chưa biết làm, tôi làm sao làm được món ăn Việt Nam! Tôi đặt ở một tiệm ăn Việt Nam dưới downtown đấy.
– Thế à!
Anh chợt cảm động vì anh lại được mời một món ăn Việt Nam tại một gia đình “rất Mỹ” này. Cô Donna mời, giọng ân cần:
– Ăn đi Túc. Tôi không định mời anh ăn tối đâu. Vừa ăn “tra ro” Việt Nam vừa uống cà phê Mỹ. À phải thêm một tí sauce nữa mới thú. Đây … anh phải quệt thêm một ít mayonaise. Thế nào? OK!
– Tuyệt!
Ăn đồ chiên nặng bụng, anh không mấy thích. Nhưng để chìu lòng cô giáo, anh ăn một cách hăm hở. Cô Donna nhai từng miếng chả giò một cách ngon lành. Anh hỏi:
– Người Mỹ cũng thích món ăn Á Đông?
– Có lẽ thế. Món ăn Á Đông, nhất là món ăn Trung Hoa, kích thích được cả thính giác, thị giác, vị giác. Món ăn Mỹ chỉ chú trọng đến diet và ca-lo-ri … Người Mỹ cẩn thận quá, mà rốt cuộc, người mập cũng nhiều mà người chết cũng nhiều.
Túc cười:
– Thế mà cả thế giới đều muốn bắt chước Mỹ.
– Tôi không nghĩ như thế. Người Mỹ vô cùng lầm lẫn …
Cô Donna không nói tiếp, đứng dậy đi vào phòng trong. Cô mang ra một cái va li nhỏ. Cô nói:
– Good stuff của tôi.
– Good stuff?
– Hình như tôi đã có lần nói về good stuff trong lớp. Tôi thích dùng chữ đó, khi đề cập đến những kỷ niệm quí giá trong một đời người. Riêng với tôi, cái này phải nói “no good stuff” mới đúng. Trong này chứa đựng những kỷ niệm. Tôi sẽ nhường cho anh một trong những kỷ niệm đó.
Cô Donna mở va li và lần lượt sắp trên bàn đủ thứ đồ vật lỉnh kỉnh: ảnh, những mẩu báo, huy hiệu quân đội, mũ lưỡi trai, cây bút, lá cờ, áo … Cô Donna nói:
– Hầu hết các thứ này đều từ Việt Nam gửi về. Hai chục năm hơn rồi đấy. À, đây là vật tôi muốn tặng anh. Cô Donna lôi ra một lá cờ xếp gọn, trăng ra. Anh reo lớn:
– Cờ Việt Nam!
Cô đưa cho anh. Anh cầm lấy, trải lên trên bàn. Đây là một lá cờ vàng ba sọc đỏ bằng vải. Lá cờ nhỏ, cũ kỹ, ố, sờn, có nhiều vết lủng. Một vài chỗ, màu đỏ nhòe đi. Cô nói: – Thắng bại là vấn đề của lịch sử. Đối với mỗi cá
nhân, kỷ niệm là điều đáng ghi nhớ. Tôi tin là anh thích nó.
– Vâng. Ba tôi đã chiến đấu dưới lá cờ này.
Cô tiếp tục lôi ra thêm mấy lá cờ nữa: cờ Mỹ, cờ Mặt Trận Giải Phóng, cờ đỏ sao vàng. Cô chỉ vào lá cờ đỏ sao vàng:
– Chỉ có lá cờ này tôi mới mua sau này ở Mỹ nhân một buổi tiệc gây quỹ cho Hội Cựu Chiến Binh Mỹ ở Việt Nam. Còn ba lá kia là từ chiến trường. Anh xem … lá nào cũng có vết đạn. À, cái này tôi cũng mới mua sau này.
Cô Donna đưa cho anh tấm huy hiệu bằng bàn tay. Anh xem và hỏi:
+ POW, MIA là gì?
– Anh không biết à? Đây là huy hiệu của Hội Cựu Tù Nhân Chiến Tranh và gia đình những người Mỹ có than nhân bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam.
Túc nhìn cô Donna:
– Vậy cô có thân nhân đi đánh nhau ở Việt Nam?
Cô Donna không trả lời. Cô lấy ra một chồng thư:
– Đây là thư anh ấy viết.
— “Anh ấy” là ai?
– Boyfriend của tôi.
-Ồ!
Anh chợt hiểu. Anh im lặng nhìn cô Donna. Cô đưa cho anh một lá thư:
– Đây là lá thư cuối cùng của Jerry.
Anh cầm lá thư. Chữ chi chít, rất khó đọc. Thỉnh thoảng có vài địa danh bằng tiếng Việt. Anh để ý một đoạn “Đi trong rừng, anh vừa sợ Việt cộng, vừa sợ “con vat”. “Con vat” là gì vậy hở cưng? Ở nước Mỹ chúng mình làm gì có “con vat”. Trời đất ơi, cả bầy nó phóng vào cổ anh, tai anh, chân anh mà hút máu … “
Anh buột miệng:
– Con vắt.
– Cái gì?
Cô Donna vừa hỏi anh lại vừa tiếp tục soạn ra những kỷ niệm của cô. Cô đưa cho anh một vật khác.
– Ao dai.
– Ồ, chiếc áo dài.
Một chiếc áo dài Việt Nam màu tím nhạt, cổ cao, có hàng nút bóp. Anh trăn qua, trở lại chiếc áo để nhìn, rồi đặt xuống bàn, lấy một xấp ảnh lên xem. Toàn ảnh lính. Anh chàng Jerry của cô Donna cao, to. Khuôn mặt tròn trịa đeo cặp kính cận. Một vài chiếc ảnh chụp chung với lính Việt Nam. Anh chợt bồi hồi, nhớ đến mẹ. Mẹ anh cũng thường soạn ra một số di vật hiếm hoi của ba anh mà bà còn giữ được: cái huy chương, một vài giấy tờ cũ và dăm ba chiếc ảnh của ba trong bộ đồ trận. Kỷ niệm nào cũng quí giá như nhau. Anh nghĩ.
Cô Donna nói:
– Anh thấy mệt với những kỷ niệm của tôi chưa?
Anh cười:
– Tôi muốn biết nhiều hơn về boyfriend của cô.
– Ồ, đơn giản thôi. Anh ấy học cùng lớp với tôi ở college. Đang học, anh bị gọi đi lính. Chúng tôi trù liệu sẽ làm đám cưới sau khi anh ấy mãn hạn phục vụ ở Việt Nam. Nhưng … mọi chuyện không thành. Anh ấy mất tích trong
một trận đánh. It’s God’s plan, who knows!
Cô nhún vai, lắc đầu buồn bã. Anh hỏi:
– Mất tích?
– Mất tích hay chết cũng giống nhau. Tôi nói mất tích vì cho đến giờ gia đình anh ấy cũng không có xác anh ấy. Ồ, đất nước Việt Nam mênh mông …
– Rồi sau đó …
Túc định nói tiếp là sau đó cô lấy chồng chứ gì. Nhưng anh thấy không hay, nên bỏ lửng câu nói. Cô Donna lại tiếp:
– Sau đó … Ô, sau đó, tôi vẫn đi học, ra trường, đi dạy và ở đây. Điều mong mỏi của tôi là gia đình anh ấy sẽ có được xác anh ấy, một ngày nào đó. Riêng tôi …
– Thật không may cho cô!
– Anh cũng thế. Ba anh chết trong tù. Riêng tôi … À, tôi rất thích một câu chuyện cổ tích của Việt Nam. Một người vợ bồng con chờ chồng đi chinh chiến về. Chờ lâu quá nên hóa đá cả hai mẹ con.
– Hòn Vọng Phu.
– Uh huh! Hon Vong Phu. Có phải bà ta hóa đá vì quá tuyệt vọng không?
– Toi cho la nhu vay.
– Không phải. Tôi nghĩ là bà ta cũng có hạnh phúc. Đợi chờ cũng là một thứ hạnh phúc, Túc không nghĩ vậy à?
Thực tế là anh chẳng hề nghĩ đến điều đó. Anh nhớ đến những buồn rầu, khắc khoải của gia đình anh trong thời gian ba anh đi cải tạo. Anh nhìn cô Donna, lắc đầu:
– Hồi ba tôi đi ở tù, tôi buồn lắm.
– Có lẽ thế. Nhưng mà … À, tôi chỉ nói đến tôi. Theo tôi, hạnh phúc chẳng bao giờ có thực. Nó chỉ là một trạng thái bất chợt của tâm hồn thôi?
Cô Donna chống hai tay lên cằm, giọng chợt trầm xuống:
– Túc biết không, tôi mong, tôi mong … Jerry sẽ trở về. Và tôi sẽ được dự đám tang của anh ấy. Tôi sẽ mua một bó hoa đẹp nhất để đặt lên mộ … Rồi sau đó, sau đó là gì nhỉ?
À, mà thôi ..
Cô nhìn Túc:
– Túc cất lá cờ đi. Tất nhiên là muốn làm bao nhiêu lá cờ mà chẳng có. Nhưng lá cờ này khó kiếm lắm. Nó là lá cờ thực. Nó từ đất nước của anh gửi qua. Nó có mùi thuốc súng, mùi máu. Tôi cũng giữ mấy lá cờ. Điều quan trọng là kỷ niệm. Ăn tiếp đi.
Cô Donna dồn các thứ ra một bên bàn, đẩy dĩa chả giò vào gần Túc. Anh cầm một miếng nữa, cắn ăn.
– Chắc cà phê nguội rồi. Để tôi hâm lại nhé.
Cô Donna đi đến bếp, rồi trở lại với bình cà phê nóng. Cô chế vào ly anh. Anh vừa nhấm nháp cà phê vừa nhìn lại căn phòng. Bây giờ, anh mới nhận thấy căn phòng không có hoa, hoa giả cũng như hoa thật, như hầu hết căn phòng của người Mỹ. Ở bàn viết, ngoài bức ảnh của hai ông bà già, còn có một bức tranh lồng kính cỡ vừa. Tranh vẽ một đôi tình nhân, chàng tỏ tình, nàng e ấp. Anh hỏi:
– Tranh của ai vậy cô?
– The Lovers của Picasso. Anh biết Picasso chứ?
– Ờ … ờ … vâng, tôi biết.
Thực ra, anh chỉ nhớ mang máng anh có đọc cái tên này đâu đó hồi còn ở Việt Nam.
– Còn hai ông bà …
– Ông cụ bà cụ tôi. Hai ông bà hiện vẫn ở với tôi.
Cô Donna uống cạn cốc cà phê, đẩy sang một bên, rồi bắt đầu xếp lại các thứ lỉnh kỉnh vào trong va li.
Anh đứng dậy, xếp phụ cô Donna. Cô xua tay:
– Tôi làm được mà. Anh cứ tự nhiên.
Anh xếp lá cờ lại, bỏ vào túi quần. Cô Donna hỏi:
– Anh bận?
– Vâng, tôi có cái hẹn lúc sáu giờ.
– Anh cứ tự nhiên, tôi thì weekend là ở nhà, ít khi đi đâu.
– Xin cảm ơn cô đã cho tôi một cuộc gặp gỡ vô cùng thú vị. Tôi rất sung sướng được có một món quà đặc biệt.
Cô Donna tiễn anh ra cổng. Anh dừng lại, bắt tay cô:
– Cầu chúc cô đạt được mong ước. Jerry sẽ về.
Cô cười:
– Cám ơn. Mọi việc tùy thuộc vào chính phủ. Người Mỹ chúng tôi vẫn thường tin vào những gì chính phủ hứa. Như ngày xưa. Hồi tiễn Jerry lên đường, tôi được nghe nói Jerry sẽ trở về sau hai năm. Tôi được nghe nói chiến tranh là cần thiết. Nhiều bạn bè tôi đi biểu tình chống chiến tranh.
Tôi không tham gia. Tôi không quan tâm đến chính trị. Tôi chỉ quan tâm đến Jerry. Tôi muốn được sống với Jerry và có một đứa con với anh ấy. Giản dị biết bao. Nhưng làm sao được. Trước tôi chỉ biết chờ. God’s plan, who knows! Bây giờ, tôi cũng còn chờ.
Cô ngừng lại một lát, rồi thở dài:
– Ồ, thôi anh về. Tôi lắm chuyện quá.
Anh nhắc lại câu nói của cô Donna:
– Chờ đợi cũng là một thứ hạnh phúc!
Çô Donna gật đầu, cười buồn.
Cuối tháng 3-1995
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.