Banco Papillon – Giang hồ tung cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

ĐỜI MỚI xuất bản 1974

Post by Sơn râu 25 Sep 2025

Google image edited by Sơn râu

4. Giã Từ Callao

Vào lúc mười giờ sáng hôm sau, tôi đến tìm lão người Liban.

– Thế là tôi đi Callao hoặc Ciudad Bolivar, đến các địa chỉ anh cho tôi rồi người ta trả tiền cho tôi theo các chi phiếu anh đã trao cho tôi phải không?

– Đúng vậy, anh cứ đi yên trí.

– Và nếu người ta cũng ám sát luôn anh thì sao?

– Đối với anh việc ấy không quan hệ gì, anh vẫn nhận được tiền. Anh đi Callao hả?

– Vâng.

– Quê anh vùng nào ở Pháp?

– Về phía Avignon, cách Marseille không xa.

– Kìa, tôi có anh bạn người Marseille, ở gần đây. Anh ấy tên Alexandre Guigne.

– Không lý! Bạn thân của tôi đó.

– Cũng là bạn thân của tôi. Được biết anh quen với anh ấy, tôi rất mừng.

– Anh ta ở đâu và làm sao tìm gặp được?

– Anh ấy ở Ba Tây, tại Bona Vista. Đường đi rất xa và phức tạp lắm.

– Anh ta làm gì bên ấy?

– Thợ hớt tóc. Muốn tìm, rất dễ, hỏi người thợ hớt tóc trồng răng người Pháp.

– Anh ấy cũng là thợ trồng răng nữa sao? Tôi hỏi mà không khỏi bật cười.

Bởi vì Alexandre Guigne là một mẫu người kỳ lạ, tôi biết hắn rất rõ. Vào tù một lần với tôi năm 1933, chúng tôi cùng đi đường với nhau và hắn có dư thì giờ kể tỉ mỉ vụ án của hắn.

Vào năm 1929 hay 1930 gì đó, trong đêm thứ bảy, Alexandre cùng một người bạn thong dong bước từ trần nhà xuống tiệm kim hoàn lớn nhất thủ đô Lisbonne. Hai đứa đã phá cửa vào căn nhà của một nha sĩ ở ngay trên tiệm kim hoàn. Để dò dẫm phạm trường, để biết chắc rằng anh nha sĩ thứ bảy nào cũng đi và để lấy dấu cửa vào nhà và cửa vào phòng làm việc, hắn phải đến đó làm răng nhiều bận.

– Tôi công nhận việc chữa răng tuyệt hảo vì răng trám đến nay vẫn tốt. Trong hai đêm, tụi tôi có đủ thì giờ lấy hết các nữ trang và cắt rất sạch sẽ và không tiếng động hai tủ sắt và một tủ nhỏ bằng thép.

“Thời kỳ ấy chưa có máy ảnh tự động, nhưng hẳn là thằng cha nha sĩ tả hình dáng người khác tài tình kỳ lạ, vì tụi tôi vừa rời Lisbonne là bị bọn cảnh sát chụp đầu ngay ở nhà ga. Tòa án Bồ Đào Nha kết án tụi tôi 10 và 12 năm lưu đầy. Một thời gian sau, tụi tôi gặp nhau lại ở ngục thất xứ Angola, phía dưới xứ Congo thuộc Bỉ và xứ Congo thuộc Pháp. Vượt ngục không khó khăn gì cả: người ta đem tắc xi đến rước tụi tôi. Như một thằng ngốc, tôi đi Brazaville, thằng bạn tôi đi Léopolville. Tôi miễn kể lại những chuyện phiêu lưu mạo hiểm của tôi ở Congo, nhưng vài tháng sau tôi bị bắt. Thằng bạn tôi cũng vậy. Người Pháp, không chịu trao tôi cho Chính Phủ Bồ Đào Nha và đưa tôi qua Pháp; tại đây, tôi bị xử 20 năm khổ sai thay án 10 năm ở Bồ Đào Nha.”

Hắn trốn sang Guyane. Tôi được biết hắn bước qua Georgetown và quả thật hắn đã đi đến Ba Tây bằng cách cỡi bò xuyên rừng sâu.

Hay là tôi đi tìm hắn?

Vâng, tôi sẽ đi Bona Vista.

Quả là một ý kiến rất hay.

Tôi đi với hai người khoe biết rõ đường đi Ba Tây, họ giúp tôi mang đồ đạc để nằm ngủ và nấu ăn. Trong hơn mười ngày, chúng tôi đi lang thang trong rừng mà không đến được Santa-Helena, làng hầm mỏ cuối cùng trước khi đến biên giới Ba Tây; sau 15 ngày chúng tôi đến gần biên giới xứ Guyane thuộc Anh, nơi một mỏ vàng, thị trấn Aminos. Nhờ bọn Da đỏ, chúng tôi đến con sông Cuyuni rồi vào một làng nhỏ của xứ Venezuela tên Castillejo. Ở đây, tôi mua dao phạng và dũa biếu người Da đỏ để tỏ lòng biết ơn rồi tôi từ biệt mấy người dẫn đường, dằn lòng lắm tôi mới không đánh chúng vỡ mặt, vì thực ra chúng không biết vùng này hơn tôi.

Rốt cuộc tôi tìm được trong làng một người biết rõ xứ này và sẵn sàng đưa đường. Bốn năm ngày sau, tôi đến Callao.

Đuối sức, mệt nhoài, gầy như một cái đinh, cuối cùng tôi gõ cửa nhà Maria lúc chạng vạng.

– Anh ấy về! Anh ấy đã về! Esmeralda hét lớn.

– Ai? Giọng Maria từ trong buồng vọng ra. Tại sao mày hét lớn vậy?

Xúc động trước người con gái tươi mát sau mấy tuần vừa qua, tôi ôm Esmeralda trong vòng tay và để bàn tay trên miệng nàng để cản nàng trả lời.

– Tại sao có người đến thăm mà lại ồn quá vậy? Maria vừa từ trong buồng bước ra, vừa hỏi.

Một tiếng thét, một tiếng thét từ đáy lòng, một tiếng reo vui, tràn đầy tình yêu và ước mơ thành đạt, Maria lao vào đôi tay tôi.

Sau khi ôm Picolino và hôn hai cô em Maria, José đi vắng, tôi nằm cạnh Maria rất lâu. Nàng hỏi đi hỏi lại tôi một chuyện: nàng không thể tin rằng tôi đi thẳng đến nhà nàng mà không ghé qua nhà Charlot hay vào một vài quán nước trong làng.

– Anh sẽ ở lại Callao ít lâu nhá?

– Ừ, anh sẽ thu xếp để ở lại đây một thời gian.

– Anh phải lo cho sức khỏe của anh, anh phải mập ra, em sẽ làm nhiều món ăn ngon cho anh. Khi nào anh ra đi, tuy rằng tim em sẽ mang vết hằn suốt đời – em không trách anh vì anh đã nói trước rồi – em muốn anh khỏe mạnh để khỏi bị cạm bẫy ở Caracas.

El Callao, Uasipata, Upata, Tumeremo, những thôn xóm mang tên kỳ lạ, những chấm nhỏ trên bản đồ một nước rộng lớn bằng ba lần nước Pháp, ẩn sâu vào một góc thế giới, ở đó danh từ văn minh tiến bộ không nghĩa lý gì, giữa lòng tạo vật huyền diệu nhất, đàn ông, đàn bà già trẻ sống cuộc sống của đầu thế kỷ này, tràn đầy đam mê chân thật, lòng nhân ái, niềm yêu đời và tình nhân loại… Ít có những người vào lứa tuổi bốn mươi mà không khổ vì nền độc tài ghê gớm của Gomez. Chỉ một tiếng vâng hoặc tiếng không là họ bị truy tố, bị đập đến chết, bị bất kỳ một viên chức nào quất bằng roi gân bò. Trong những năm từ 1925 đến 1933, khi họ từ 15 đến 20 tuổi, tất cả đều bị bọn mật vụ của nhà độc tài săn đuổi như những con vật và một khi đã bị bọn tuyển mộ binh sĩ tròng dây vào cổ, họ bị lôi đến trại lính. Đó là thời kỳ một người con gái đẹp có thể bị một viên chức có quyền thế chọn lựa và bắt đem đi rồi quăng ra đường sau khi đã chán chê. Nếu gia đình cô gái phản đối là bị tiêu diệt ngay.

Đôi khi cũng có những cuộc nổi dậy, thật ra là những cuộc tự sát tập thể của những người trả thù dù rằng biết sẽ mất mạng, như trường hợp đại tá Zapata. Quân đội liền được đưa đến và những người sống sót suốt đời bị tàn tật vì tra tấn.

Dù vậy, dân chúng hầu hết thiếu học, của các thôn xóm bán khai ở đây vẫn còn giữ nguyên lòng tin yêu vào con người. Đó là một bài học vững chắc khiến tôi vô cùng cảm kích.

Nằm dài bên Maria, tôi suy nghĩ đến các điều trên. Tôi đã khổ nhục, đúng, tôi đã bị kết án oan ức, lại cũng đúng, bọn cai ngục Pháp cũng dã man và có lẽ còn quái ác hơn bọn mật vụ và quân nhân của nhà độc tài, nhưng tôi vẫn còn đây, nguyên vẹn, sau khi đã trải qua một cuộc phiêu lưu tuy nguy hiểm nhưng vô cùng hấp dẫn. Tôi đã đi bộ, chèo xuồng, cỡi ngựa trong rừng, nhưng sống một ngày bằng một năm, bởi vì cuộc sống ngoài vòng pháp luật, tự do hoàn toàn, không hàng rào luân lý, không tuân theo một mệnh lệnh nào cả, cuộc sống ấy quả thật đầy đủ.

Vì vậy tôi tự hỏi tôi có nên đi Caracas và để lại sau lưng mảnh địa đàng này không. Tôi tự đặt đi đặt lại câu hỏi ấy.

Ngày hôm sau có tin buồn. Người đại diện của lão Liban, một chủ tiệm kim hoàn nhỏ chuyên làm các hoa lan bằng vàng, nhẫn ngọc trai và đủ thứ nữ trang nho nhỏ hết sức độc đáo, cho tôi biết không thể trả tiền các chi phiếu cho tôi vì lão người Liban nợ hắn quá nhiều. Thế là hỏng rồi! Được, tôi sẽ đến địa chỉ thứ hai ở Ciudad Bolivar để nhận tiền. Tôi hỏi:

– Anh biết lão này không?

– Khốn nỗi, tôi quá biết lão. Nó là thằng ăn trộm đã mang hết đồ đạc bỏ trốn, kể cả những nữ trang hiếm có tôi giao nó giữ.

Nếu thằng chó chết này nói đúng thì quả thật là xui hết chỗ nói. Tôi lại nghèo hơn trước khi đi với Jojo. Tệ thật. Số mạng quá bí mật. Một việc như thế này chỉ có thể xảy đến cho tôi mà thôi. Bị một tên người Liban lường gạt thì hết chỗ nói!

Tôi trở về nhà, hai chân nặng như chì và đầu cúi rạp. Vì mười ngàn Mỹ kim xui xẻo ấy, tôi đã xuýt chết nhiều lần, thế mà bây giờ không có một xu dính túi. Ồ, thằng cha Liban không cần bung súc sắc gian. Hơn thế, nó không cần nhọc công gì cả, nó chỉ đợi người ta mang tiền đến dâng.

Vì quá mê cuộc sống, nên tôi tự trách: “Mày được tự do, tự do, thế mà nổi sùng với vận số hả? Đừng có đùa! Có lẽ mày đã thua canh bạc này, nhưng cuộc phiêu lưu vẫn kỳ thú!”. Đặt tiền đi! “Banco”. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi sẽ giàu to hoặc chết tươi!… Hồi hộp cao độ như thể ngồi trên miệng hỏa diệm sơn để canh chừng, tuy biết rằng nhiều miệng hỏa diệm sơn khác có thể mở ra và phải tiên đoán sẽ có nhiều cuộc nổ lớn khác, thế không quí giá hơn đã mất mười ngàn mỹ kim hay sao?

Tôi đã lật ngược thế cờ và thấy rõ tình thế: phải trở lại hầm mỏ gấp trước khi thằng người Liban gãy cổ. Sẽ kiếm một con lừa, các thức ăn rồi lên đường! Súng và dao găm vẫn còn đây. Chỉ có một điều thắc mắc: mình có nhận ra đường đi không?

Tôi thuê một con ngựa, Maria cho rằng ngựa tốt hơn lừa. Điều lo ngại duy nhất là bị một mũi giáo đâm vào mình vì có những đoạn đường mũi giáo tung ra từ tứ phía.

– Em biết đường, anh có muốn em cùng đi không? Maria nói với tôi. Em thích được đi với anh vô cùng. Em chỉ đi đến chỗ trạm cuối đường nơi người ta để ngựa lại rồi đi xuồng.

– Maria, đường đi rất nguy hiểm đối với em, nhất là quá nguy hiểm lúc em về một mình.

– Em chờ một người nào đi qua đó để đi về Callao. Như vậy sẽ không hề gì. Cưng của em, nói đồng ý đi!

Tôi hỏi José, ý kiến José, anh ta tán thành: “Tôi sẽ cho nó mượn khẩu súng lục. Maria biết bắn”, anh nói.

Thế là sau năm giờ cỡi ngựa (tôi có thuê thêm một con cho Maria) chỉ còn Maria với tôi ngồi trên bờ suối. Nàng mặc chiếc quần kỵ mã, quà tặng của một cô bạn xứ Ilanera. Xứ Ilanera là một cánh đồng mênh mông của Venezuela, ở đó đàn bà đều can đảm, bất khuất, bắn súng lục hoặc súng trường như đàn ông, múa dao phạng như một tay kiếm, cỡi ngựa như những nữ kỵ mã chính cống. Thật chẳng khác nào những đấng mày râu thế nhưng họ vẫn biết chết cho tình yêu.

Maria thì khác hẳn. Nàng dịu hiền, đa tình, gần với thiên nhiên đến nỗi người ta có cảm tưởng nàng với thiên nhiên là một. Tuy vậy nàng vẫn biết tự vệ dù có vũ khí hay không có vũ khí, vì nàng rất đảm lược.

Tôi không bao giờ, không bao giờ quên được những ngày băng rừng trước khi đến trạm cuối đường. Những ngày, những đêm tuyệt vời, đôi quả tim reo vui khi quá mệt, chúng tôi không thể hét lên nỗi sung sướng.

Không bao giờ tôi diễn tả đầy đủ nỗi niềm hạnh phúc trong những giờ phút nghỉ chân đầy thơ mộng, chúng tôi vùng vẫy trong suối nước thủy tinh để rồi sau đó, vẫn còn ướt nước và hoàn toàn khỏa thân, chúng tôi làm tình trên bãi cỏ bờ suối, chìm ngập trong tiếng kêu ròn rã của chim, của bướm, của chuồn chuồn trong rừng sâu, đang nhảy múa hòa nhịp với mối tình của đôi trai gái đang yêu nhau giữa thiên nhiên.

Đứng lên tiếp tục cuộc hành trình, chúng tôi vẫn còn thấy say sưa ân ái và ngây ngất hương tình nên tôi phải tự sờ vào người để xác nhận là tôi vẫn còn nguyên vẹn.

Chúng tôi càng gần đến trạm cuối đường, tôi nghe càng rõ giọng tinh khôi thiên phú của Maria hát vang những bản luân vũ trữ tình. Đường đi càng rút ngắn, tôi càng cho ngựa đi chậm lại và tìm cớ này cớ nọ để dừng chân thêm nữa.

– Maria, nên để cho mấy con ngựa nghỉ một chút.

– Đi như chúng đi, khi đến nơi, không phải chúng mệt đâu mà chúng ta mệt, nàng vừa nói vừa cười lớn để lộ hàm răng ngà ngọc.

Chúng tôi phải mất 6 ngày mới đến trước trạm cuối đường. Vừa trông thấy nhà trạm, trong một thoáng tôi có ý nghĩ ngủ một đêm ở đó rồi sáng hôm sau trở về lại Callao. Sống trở lại sáu ngày tinh khiết đam mê còn quan trọng ngàn lần hơn số bạc mười ngàn mỹ kim. Ước vọng ấy mãnh liệt đến độ tôi run lên. Nhưng mạnh hơn ước vọng ấy, tôi nghe một giọng khuyên: “Papillon, quan trọng trong số tiền cần để mày thực hiện ý đồ của mày. Không nên bỏ qua!”.

– Nhà trạm kia rồi, Maria nói.

Rồi, mâu thuẫn với chính tôi, với tất cả những gì tôi cảm nghĩ, tôi nói với Maria một câu trái ngược với câu tôi muốn nói:

– Ừ, nhà trạm kia rồi, Maria ạ. Cuộc hành trình của chúng ta đến đây chấm dứt, ngày mai anh xa em.

Với bốn người thủy thủ lực lưỡng, chiếc xuồng lướt trên con sông mặc dù nước ngược. Mỗi mái chèo đưa tôi xa dần Maria đang đứng trên bờ nhìn tôi khuất dần.

Đâu là bình yên, đâu là tình ái, đâu là người đàn bà định mệnh cùng tôi xây dựng tổ ấm, thành lập gia đình? Tôi cố không nhìn lui, vì sợ sẽ ra lệnh cho bọn chèo xuồng: “Trở lại”. Tôi phải đi đến hầm mỏ đề lấy tiền và lao mình gấp vào những phiêu lưu mạo hiểm khác để có đủ số tiền lộ phí của cuộc du hành vĩ đại đến Ba Lê, đi và về, nếu có ngày về.

Tôi chỉ hứa một điều: không hại tên người Liban. Tôi sẽ lấy phần tiền của tôi, không hơn nhưng cũng không kém. Hắn sẽ không bao giờ biết rằng hắn được tha thứ là nhờ sáu ngày du hành của tôi trong cảnh Thiên Đàng bên người con gái kiều diễm nhất thế gian, Maria, thiên thần bé bỏng xứ Callao.

– Thằng Liban hả? Hình như nó đã đi rồi, Miguel nói sau khi ôm tôi trong vòng tay lớn.

Tôi tìm thấy căn nhà đóng kín cửa, nhưng vẫn còn tấm biển kỳ lạ:

“Tài sản lớn nhất của tôi là tính lương thiện”

– Anh tin nó đã đi rồi phải không? Ồ, thằng chó chết!

– Papillon, hãy bình tĩnh. Chúng ta sẽ biết ngay.

Sự bán tín bán nghi, cũng như niềm hy vọng không kéo dài. Mustafa xác nhận thằng Liban đã đi, nhưng đi đâu? Chỉ sau hai ngày điều tra mới tìm ra một người thợ mỏ cho biết nó đã cùng ba tên hộ vệ đi về hướng Ba Tây. “Tất cả dân hầm mỏ đều nói nó là một người lương thiện mà!”. Lúc bấy giờ tôi mới kể câu chuyện đã xảy ra ở Callao và những gì tôi được biết về cái thằng cha hợp tác với nó ở Ciudad Bolivar đã cao bay xa chạy. Bốn hoặc năm người trong đó có một người Ý cho biết tôi nói đúng, vì bọn ấy đã phá sản. Chỉ có một người Guyane già không tin giả thuyết ấy. Đối với lão, chỉ có một thằng ăn trộm: thằng cha người Hy lạp ở Ciudad Bolivar. Người ta cãi nhau sôi nổi để bênh hoặc chống, nhưng trong thâm tâm tôi linh cảm tôi đã mất hết. Bây giờ làm gì đây?

Đến tìm Alexandre Guigne ở Bona Vista? Xứ Ba Tây xa quá. Muốn đi Bona Vista, phải vượt qua 500 cây số đường rừng. Kinh nghiệm sau cùng của tôi quá nguy hiểm. Chỉ một tý nữa là tôi bỏ xác ở đó. Không, tôi sẽ thu xếp để sau này còn liên lạc với vùng mỏ và tôi sẽ lên trở lại nếu được tin thằng Liban đã lòi mặt ra. Xong xuôi, lên đường đi Caracas, sau khi ghé qua đưa Picolino cùng đi. Đó là giải pháp khôn ngoan nhất. Ngày mai tôi sẽ lên đường đi Callao.

Tám ngày sau, tôi đến nhà José và Maria. Tôi thuật hết mọi chuyện. Maria tìm lời lẽ dịu hiền, dễ thương khuyến khích tôi. Cha nàng nài nỉ tôi ở lại với gia đình ông. “Nếu anh muốn, chúng ta sẽ đánh cướp hầm mỏ Caratal”. Tôi vỗ vai ông, mỉm cười: Không được, tôi không thích chuyện ấy chút nào, tôi không nên ở lại. Chỉ có tình yêu Maria có thể giữ tôi lại ở Callao. Tôi đã tự buộc tôi hơn là tôi tưởng và hơn ý tôi muốn. Quả là một mối tình chân thật, bền chặt, nhưng dù thế cũng không đủ để thắng ý chí trả thù của tôi.

Mọi việc đã sắp đặt xong, tôi đã thương lượng với một xe cam nhông, ngày mai sẽ khởi hành lúc 5 giờ sáng.

Trong lúc tôi cạo râu, Maria bước ra khỏi buồng và chui trốn vào buồng các cô em. Với linh tính huyền bí của đàn bà, nàng biết rằng lần này là lần đi thật. Picolico ngồi tại bàn ở phòng giữa, mặt mũi sạch sẽ, tóc tai chải chuốt gọn gàng. Esmeralda đứng cạnh, tay để trên vai nó. Tôi toan bước vào buồng Maria vừa đi vào, nhưng Esmeralda chận lại:

– Henri, không được.

Và đột nhiên, nàng chạy ra phía cửa và cùng biến mất vào buồng.

José đưa chúng tôi ra xe. Dọc đường, chúng tôi không nói câu nào.

Bây giờ thì trực chỉ Caracas, càng nhanh càng tốt.

Vĩnh biệt Maria, đóa hoa bé bỏng của xứ Callao, tình yêu và tình thương em cho anh nhiều hơn tất cả khối vàng của vùng hầm mỏ này.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply