Cựu Hải quân Đại tá Hung Cao (gốc Việt), được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn làm Thứ trưởng Bộ Hải quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on October 3, 2025 by dongsongcu

03/10/2025

Post by Sơn râu 5 Oct 2025

Cựu HQ Đại tá Hung Cao (ảnh của calverttaskgroup.org)

Photo edited by Sơn râu

Cựu HQ Đại tá Hung Cao, cựu ứng cử viên Thượng viện của Đảng Cộng hòa Tiểu bang Virginia, vừa được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn làm Thứ trưởng Hải quân Hoa Kỳ với tỷ lệ phiếu 52-45 hôm thứ Tư, ngày 1 tháng 10 năm 2025. Việc phê chuẩn ông Hung Cao diễn ra sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố trong một bài đăng trên Truth Social hồi tháng hai rằng ông đã đề cử ông Hung Cao cho vị trí này. Trong bài đăng của mình, ông Trump ca ngợi ông Hung Cao là “hiện thân của Giấc mơ Mỹ”, và nhấn mạnh rằng ông Hung Cao đã “phục vụ trong chiến đấu với tư cách là Sĩ quan tác chiến Đặc biệt Hải quân Hoa Kỳ” trong 25 năm.

Thứ trưởng Hải quân, một cấp chỉ huy thứ hai quan trọng giúp cho hoạt động của Bộ Hải quân hùng mạnh và hữu hiệu hơn. Lần đầu tiên trong lịch sữ Hải quân Hoa Kỳ, một người Việt Nam tị nạn được làm Thứ trưởng Bộ Hải quân với một lực lượng 480 Chiến hạm các loại bao gồm: Hàng không mẩu hạm, Tàu ngầm, Tuần dương hạm, Khu trục hạm, Chiến hạm thuỷ bộ, Chuyển vận hạm và 2623 Phi cơ tối tân, hiện đại. Và Lực lượng Thuỷ quân luc chiến, tinh nhuệ hùng mạnh của quân đội Hoa Kỳ, một hải lực hùng mạnh nhất Thế giới.

Cựu HQ Đại tá Hung Cao và Tổng thống Donald Trump (ảnh của derechadiario.com.ar)

Cựu HQ Đại tá Hung Cao tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy) năm 1996. với Văn bằng Cử nhân khoa kọc kỹ thuật đại dương, và thụ huấn chương trình hành quân đặc biệt Hải quân. Sau khi hoàn tất huấn luyện tại các trường huấn luyện đặc biệt Hải quân từ năm 1997 đến năm 2013, ông được thuyên chuyển đến nhiều đơn vị chuyên môn trong ngành người nhái Hải quân. Trong thời gian phục vụ tại các đơn vị trên, ông theo thụ huấn nhiều chương trình huấn luyện chuyên môn như tháo gỡ đạn dược và mìn bẫy dưới nước (EOD), hành quân đặc biệt, thợ lặn, chiến tranh trên biển, kỹ thuật (cao cấp) tháo gỡ đạn dược-thủy lôi-mìn (Master EOD Technician), và bằng nhảy dù.

Có một kỷ niệm, và cũng là một thành tích đầu đời binh nghiệp đối với Cựu HQ Đại tá Hung cao . Đó là vào ngày 19 tháng 7 năm 1999, một tai nạn phi cơ xảy ra trên biển Đại Tây Dương. Lúc bấy giờ ông còn là HQ Thiếu úy, sĩ quan hành quân, và kỹ thuật trên chiến hạm trục vớt USS Grasp (ARS 51), nhận được lệnh phải cấp cứu phi cơ lâm nạn, chiến hạm USS Grasp liền khẩn cấp vận chuyển đến khu vực phi cơ bị rơi. Sau khi xác định được phi cơ bằng hệ thống sonar, đích thân HQ Thiếu úy Hung Cao thi hành nhiệm vụ đặc biệt lặn sâu 37m dưới đáy biển, vớt được xác John F. Kennedy Jr bị tử nạn trong phi cơ (John F. Kennedy Jr là con trai của Cố Tổng thống John F. Kennedy).

Tháng 9 năm 2013, HQ Trung tá Hung Cao được chọn làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện người nhái trục vớt Hải quân Hoa Kỳ (Naval Diving and Salvage Training Center), là Trung tâm huấn luyện lớn và quy mô nhất trên thế giới, chuyên môn đào tạo 23 ngành lặn dưới biển. Mỗi năm trung tâm đào tạo 1200 Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Thủy thủ, Binh sĩ và Nhân viên từ các quân binh chủng Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh gởi đến thụ huấn.

Photo edited by Sơn râu

Cựu HQ Đại tá Hung Cao, Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân (ảnh của theepochtimes.com)

Sau nhiệm ky hơn 2 năm chỉ huy Trung tâm huấn luyện người nhái trục vớt Hải quân, HQ Trung Tá Hung Cao cùng với toàn thể nhân viên trung tâm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, huấn luyện 4,000 ngàn Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Thủy thủ trở thành người nhái chuyên nghiệp dưới biển.

Đến tháng 6 năm 2016, HQ Trung tá Hung Cao bàn giao lại chức vụ Chỉ huy trưởng lại cho HQ Trung tá Cameron Chen, Sau đó ông được thuyển chuyển phục vụ tại Ngũ giác đài.

Trong suốt thời gian phục vụ và chiến đấu trong Hải quân, Cựu HQ Đại tá Cao Hùng được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: Huy chương Bronze Star; Huy chương Meritorious Service Medal; Huy chương Joint Service Commendation Medal; 2 huy chương Navy Commendation Medal; Huy chương Army Commendation Medal; 3 huy chương Navy Achievement Medal; Huy chương National Defense Service Medal with one bronze star; 3 Huy chương Iraq Campaign Medal; Huy chương Global War on Terrorism Expeditionary Medal; Huy chương Global War on Terrorism Service Medal; Global War on Terrorism Service Medal; huy chương Military Outstanding Volunteer Service Meda; Huy chương NATO Medal và một số huy chương cấp đơn vị various unit and service awards.

Cựu HQ Đại tá Cao Hùng là một trong năm HQ Trung tá được đề cử thăng cấp Đại tá vào tháng 5 năm 2017, bốn vị khác đó là HQ Trung tá Han Quang Bui, Bác sĩ y khoa; HQ Trung tá Hien Trinh, Bác sĩ nha khoa và HQ Trung tá Tu Amh C. Halquist, Bác sĩ nha khoa và HQ Trung tá Tuan Nguyen, ngành giao tế Hải quân, nay là Phó Đề đốc, Tùy viên cao cấp Quốc phòng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, Trung Quốc.

Cựu HQ Đại tá Cao Hùng là sĩ quan cao cấp gốc Việt duy nhất theo ngành chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân), đây là ngành đòi hỏi phải có thể lực, gian khổ và nguy hiểm. Nhiệm vụ của người nhái tác chiến Hải quân (SEAL) được biết đến như: Đột kích, do thám, chống khủng bố, trinh sát, giải cứu con tin, truy lùng buôn lậu ma túy v.v… Người nhái Hải quân là lực lượng tinh nhuệ nhất của quân đôi Hoa Kỳ, họ là những chiến sĩ đa năng, hoạt động và chiến đấu trên không, trên bộ và dưới biển.

Chúc mừng Tân Thứ trưởng Hải quân Hoa Kỳ Hung Cao.

Nguyễn Quân

Nguồn: congress.gov; insidedefense.com; news.usni.org; breitbart.com; en.wikipedia.org; bienxua-Hải Quân Trung Tá Hoa Kỳ gốc Việt Cao Hùng được chính thức thăng cấp Đại Tá; bienxua-15 trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp đại tá năm 2017.

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 5 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

14. Quán Rượu Về Đêm – Cuộc Cách Mạng

CHIẾC phi cơ chúng tôi đi từ Madrid đáp nhẹ nhàng xuống Maquetia, phi trường của đô thành Caracas. Bạn bè, con gái chúng tôi đang chờ ở phi cảng. Chỉ hai mươi phút, chúng tôi về đến nhà. Mấy con chó mừng rối rít. Bà vú già người da đỏ, như người trong gia đình, cứ hỏi mãi:

– Thưa bà, gia đình ông nhà ra sao? Gặp lại những người thương ở bên đó, tôi sợ ông bà không về. Nhờ Thượng Đế, hai ông bà đã về đây khỏe mạnh.

Vâng, nhờ ơn Thượng Đế, chúng tôi đã về đây, khỏe mạnh, vì sự cảm thông với những người quyến thuộc của tôi đối với tôi rất quan trọng. Không thể nào tôi phản bội lòng tin họ đặt nơi tôi và trong tương lai không vì lý do gì tôi làm chuyện bậy bạ. Ít ra tôi cũng sẽ cố gắng hết mình.

Cuộc tranh sống tiếp diễn. Chúng tôi bán tiệm ăn, tôi bắt đầu chán những món bít tết khoai chiên, vịt nấu cam và gà nấu rượu. Chúng tôi mua một quán rượu về đêm, lấy tên Caty Bar.

Ở Caracas, một quán rượu về đêm là một nơi mà khách hàng hoàn toàn đàn ông vì có gái để ngồi với họ, trò chuyện với họ, nhất là nghe họ nói, uống với họ, hoặc nếu họ không khát lắm thì giúp họ uống một ít. Một cuộc sống khác hẳn cuộc sống ban ngày, dồi dào hơn, hoàn toàn không yên tĩnh, nhưng mỗi đêm đều có thêm một chuyện mới lạ: bản ngã thứ hai của người khách trong quán rượu.

Nghị sĩ, dân biểu, tài phiệt, luật sư, sĩ quan, công chức cao cấp chạy nhốn nháo trong đêm để cho thoát ra số hơi quá đầy chất chứa trong ngày vì phải tuân theo kỷ luật để ra điều sống gương mẫu, tác phong không chút sơ hở trong mọi hoạt động. Rồi khi đến Caty Bar, mỗi người để lộ bộ mặt thật của mình. Bây giờ cho nổ tung, gác qua một bên thái độ giả nhân giả nghĩa bắt buộc phải có trong xã hội, quên hết nỗi lo âu về gia đình hay công việc làm ăn, hét lên niềm hân hoan được giải phóng của một giai cấp trưởng giả chán ngấy cảnh bị xiềng xích vì ước lệ xã hội và vì dư luận.

Tất cả, không trừ một ai, được trẻ lại trong vài giờ. Có rượu giúp vào, họ vứt bỏ các xiềng xích của xã hội và sống với quyền tự do la hét, bàn cãi, ra mặt hào hoa phong nhã với các gái đẹp trong quán rượu. Tại quán chúng tôi, không thể đi xa hơn nữa, vì Rita rất chặt chẽ về vấn đề này, không bao giờ cho một cô gái nào đi ra trong giờ làm. Nhưng mọi người đã được gần gũi các cô gái ngoan ngoãn nghe họ tự thuật (họ thích chuyện ấy lắm) và làm cho những giờ phút giải phóng của họ không trống vắng chỉ vì các cô gái trẻ và đẹp.

Tôi đã từng thấy nhiều người đến lúc rạng đông chỉ trơ có một mình (các cô gái đã chuồn ra cửa khác) nhưng vẫn thỏa thích, thoải mái. Một trong những người ấy là một nhân vật trong giới tài phiệt, phải có mặt ở văn phòng mỗi sáng đúng chín giờ; vì là một khách hàng trung thành nên tôi thường đưa ông ra xe. Đôi khi ông ta để tay lên vai tôi, tay kia vung lên chỉ dãy núi Caracas in trên nền trời bắt đầu sáng tỏ, ông nói:

– Henri, đêm đã hết, mặt trời sẽ mọc sau dãy núi Avila. Đêm hôm nay đã chấm dứt, không hy vọng kéo dài ở nơi khác, mọi nhà đều đóng cửa, một ngày sẽ đến với thực tế sự vật đặt chúng ta trước trách nhiệm của mỗi người. Việc làm, văn phòng, cuộc sống nô lệ hàng ngày đang đợi tôi, nếu không có những đêm như thế này, có thể nào chúng ta tiếp tục? Thế nhưng đêm đã mãn. Henri, bọn con gái đã biến mất về nhà, chỉ còn lại hai chúng ta như hai thằng ngốc.

Mặc dù có những giây phút tỉnh mộng đau đớn mà tuyệt diệu như vậy, họ vẫn trở lại vui hưởng giấc mộng về đêm, tuy biết chắc rằng, ngày đến giấc mộng ấy sẽ tan biến một cách tàn nhẫn. Chính tôi cũng tham gia với họ và tôi đã sống những giờ phút khó quên, hoàn toàn vượt ra ngoài các âu lo do cuộc sống hàng ngày đem đến cho chúng ta.

Không bao lâu, tôi mua thêm một quán rượu khác, quán Madrigal, rồi một quán thứ ba, quán Normandy.

Cùng với một đảng viên xã hội, anh Gonzalo Durand, thù ghét chế độ hiện tại, ngày đêm sẵn sàng bênh vực quyền lợi chủ nhân các hộp đêm, các quán rượu và nhà hàng, chúng tôi thành lập một hiệp hội bênh vực quyền lợi các loại trên trong hai tỉnh Federal và Miranda. Một thời gian sau, tôi được bầu làm Chủ tịch hiệp hội ấy và tôi hết lòng bênh vực các hội viên chống sự lạm quyền của một số viên chức.

Vì luôn luôn có sáng kiến hào nhoáng, nên tôi cải tiến quán rượu Madrigal thành một hộp đêm kiểu Nga lấy tên Ninoska và để cho nó có vẻ Nga hơn, tôi cho một anh Tây Ban Nha ở Canaries ăn mặc như một lính khinh binh Nga, ngồi trên một con ngựa không còn háu đá vì đã già. Người và ngựa làm nhiệm vụ gác cửa. Nhưng lại có chuyện mấy người khách cho thằng kỵ binh Nga uống rượu say mèm, chưa kể con ngựa. Dĩ nhiên, con ngựa không uống whisky bằng ly, nhưng khoái ăn đường nhúng trong rượu mạnh. Hậu quả là, khi cả người lẫn ngựa quá say rồi, đôi khi cả hai phi nước đại trên đại lộ có hộp đêm của tôi, đại lộ Miranda, một đại lộ quan trọng rất nhiều xe cộ; chúng chạy bậy chạy bạ, vừa chạy vừa la hét như giặc. Có thể trông thấy cảnh hỗn loạn; tiếng thắng xe tốc đường nhựa, xe đụng nhau, các tài xế hò hét, những cửa sổ mở ra với lời chưởi thề vì bị mất giấc ngủ. Tất nhiên là phải lo thu xếp những chuyện rắc rối, nhưng cũng chắc chắn là mọi người đã được cười vỡ bụng.

Để đối phó với mọi bất trắc, tôi có một nhạc sĩ duy nhất, nhưng không phải một nhạc sĩ tầm thường. Đó là một người Đức, Kurt Lorvendal, một tay chơi đại phong cầm có cặp tay võ sĩ đánh những bài cha cha cha say mê kinh khủng đến nỗi tiếng đàn làm rung chuyển đến tầng lầu thứ chín của ngôi nhà. Tôi không tin chuyện ấy, nhưng gác dan và chủ ngôi nhà, một đêm nọ, dẫn tôi lên để cho tôi thấy. Thật là không ngoa.

Một hộp đêm nữa của tôi, hộp đêm Normandy, có một địa điểm rất tốt: ngay trước trụ sở cơ quan an ninh quốc gia. Một phía là khủng bố, tra khảo, trước mặt là vui sống. Ít ra lần này tôi cũng được ở về phía tốt. Nhưng tôi vẫn làm rắc rối cuộc đời, vì tôi làm một việc tối nguy hiểm cho tôi, tôi nhận làm hộp thư bí mật cho tù nhân cả chính trị lẫn thường tội.

Năm 1958. Từ nhiều tháng nay, tình hình Venezuela bắt đầu rục rịch nghiêm trọng, nền độc tài của Perez Jimenez có phần trì trệ. Ngay cả giai cấp được ưu đãi cũng xa dần ông ta, ông chỉ còn hai hậu thuẫn, quân đội và cảnh sát chính trị, cơ quan Seguridad Nacional kinh khủng, ngày mỗi bắt thêm người.

Trong khi ấy, ba lãnh tụ chính trị quan trọng nhất của Venezuela, bị lưu đày, cùng nhau hoàn tất một kế hoạch cướp chính quyền ở Nữu Ước. Ba lãnh tụ là Raphael Caldera, Jovixo Vilalba, và một người xuất chúng, Romulo Betancourt. Lãnh tụ đảng Cộng sản, Machaldo không được mời. Tuy vậy, lịch sử cũng ghi chép nhiều người cộng sản đã hy sinh tính mạng.

Ngày mồng một tháng giêng, một thiếu tướng không quân, Castro Leon, cùng một số người âm mưu khởi loạn, một nhóm nhỏ phi công thả vài trái bom trên thành phố Caracas, đặc biệt là trên dinh Tổng Thống Perez Jimenez. Âm mưu thất bại và Castro Leon trốn sang Colombie.

Nhưng ngày 23 tháng giêng, lúc 2 giờ sáng, một phi cơ bay trên thủ đô Caracas. Perez Jimenez bay đi cùng với gia đình, các cộng sự viên thân tín và một phần tài sản của ông. Phi cơ chở một số người và tài vật quí giá như vậy, nên dân Venezuela đã mệnh danh chiếc máy bay ấy là “con bò thiêng”. Perez Jimenez biết mình đã thua, quân đội đã không còn ủng hộ ông sau mười năm độc tài, người ta để ông đi. Phi cơ của ông đi thẳng đến đảo Saint Domingue, tại đây một nhà độc tài khác, tướng Trujillo, chỉ còn cách tiếp đãi nồng hậu một đồng chí.

Caracas bừng tỉnh với một ủy ban lãnh đạo quốc gia, đứng đầu là Đô Đốc Wolfang Larrazabal ra tay lèo lái con thuyền đã bị người Thuyền Trưởng cùng thủy thủ đoàn buông trôi. Cách mạng nổi lên. Trong cuộc cách mạng, một thanh niên, Fabricio Ojeda giữ một vai trò quan trọng. Đáng lẽ về sau, ông ta có thể tự tạo cho mình một địa vị đặc ưu và giàu có, nhưng ông đã không làm chuyện kém cỏi ấy mà chỉ trở thành một trong những người du kích thuần khiết nhất. Ông bị “ám sát”, chết trong ngục tối của cơ quan cảnh sát. Tôi có biết ông và viết mấy giòng này gọi là kính phục ông. Có lẽ trong tương lai người ta sẽ dựng tượng ông.

Gần ba tuần, đường phố vắng bóng cảnh sát. Tất nhiên có những cảnh cướp bóc, hành hung, nhưng chỉ là đối với các môn đệ của Perez Jimenez. Đây là một dân tộc đã vùng dậy sau mười năm bị khớp miệng. Trụ sở của cơ quan an ninh quốc gia, trước mặt quán rượu Normandy của chúng tôi, bị tấn công và đa số cảnh sát viên bị giết.

Chính trong ba ngày tiếp theo ngài Perez Jimenez ra đi, tôi xuýt bị mất tất cả kết quả mười năm lao lực.

Từ nhiều nơi người ta điện thoại cho tôi biết tất cả các quán rượu, các hộp đêm, các nhà hàng sang trọng, là những nơi gặp gỡ của bọn được ưu quyền trong chế độ Perez Jimenez, đều bị tấn công và phá hủy. Chuyện này không nguy hiểm lắm đối với những chủ nhân không ở ngay tại chỗ. Nhưng chúng tôi ở trên lầu quán rượu Caty Bar. Đây là một biệt thự nhỏ ở trong sân thượng đường hẻm, tầng dưới là quán rượu, nhà ở tầng trên.

Tôi cương quyết bảo vệ cơ nghiệp và người thân của tôi. Tôi chế hai mươi chai xăng và dùng nó làm các trái bom molotov. Tôi để ngay ngắn trên mái nhà. Rita không chịu rời tôi, nàng đứng đấy cạnh tôi, trong tay cầm một chiếc bật lửa. Chúng nó đến.

Một bầy người chạy đến, cả trên một trăm tên phá hoại. Vì quán Caty Bar ở trong một ngõ cụt, có người đi vào đường hẻm, là vào quán rượu này.

Họ tiến về phía chúng tôi, tôi nghe rõ tiếng la hét: “Nhà này là nơi gặp gỡ của bọn theo Perez Jimenez! Phá!”. Họ nhào tới, tay cầm gậy sắt, cuốc, xẻng. Tôi định bật quẹt lửa.

Thình lình bọn người dừng lại. Bốn người đàn ông, hai tay dang ra, đứng ngang lối đi, chặn bọn người quá khích.

– Chúng tôi đây cũng là dân lao động, cũng là những người cách mạng. Từ nhiều năm chúng tôi biết những người này. Chủ nhân, anh Henri, là một người Pháp bạn dân, rất nhiều lần ông đã chứng tỏ như vậy. Mời các anh rút lui, không có công tác gì cho các anh ở đây.

Họ bàn cãi lung tung, nhưng đã bớt hăng, tôi nghe mấy người can đảm vừa rồi giải thích tại sao họ bênh vực chúng tôi. Cuộc bàn cãi kéo dài đến hai mươi phút, Rita với tôi vẫn ở trên mái nhà, tay cầm bật lửa. Hình như bốn người kia đã thuyết phục được họ nên đám người bỏ đi mà không có cử chỉ dọa nạt.

Xong, hú hồn, kể cả một số người của họ. Về sau, không thấy ai trở lại.

Bốn người của nhân dân đó, những người bênh vực chúng tôi là các nhân viên trong sở Thủy Cục Caracas. Quả vậy, bên cạnh quán Caty Bar, tại một sân rộng cuối con hẻm, là cổng vào một nhà kho của Sở Thủy Cục thường có xe bồn ra vào để tiếp tế nước cho những nơi thiếu nước vì lý do này hay lý do nọ. Nhân viên làm ở đó phần đông thuộc tả phái, tất nhiên. Nhiều khi chúng tôi mời họ ăn chơi nếu họ đến uống một ly cô ca. Chúng tôi bảo khỏi phải trả tiền, chúng tôi là những láng giềng tốt và họ hiểu rằng đối với chúng tôi, họ là những người có giá trị không kém những người khác. Vì ở dưới chế độ độc tài, ít khi họ nói đến chính trị, nhưng đôi lúc, sau khi uống vài ly, cũng có đôi người phát ngôn bừa bãi, bị nghe và bị tố giác. Thế là bị tù hoặc sa thải mất chỗ làm.

Rita, hoặc tôi, chúng tôi thường xin với khách hàng của chúng tôi tha cho một đôi người hoặc thu dụng làm việc lại. Vả lại, giữa các nghị sĩ, dân biểu hoặc các sĩ quan của chế độ, có nhiều người rất tốt bụng và rất nhân từ. Ít có người từ chối giúp đỡ.

Hôm đó, các nhân viên Sở Thủy Cục đã rất can đảm (vì không phải là chuyện đùa) trả nợ cho chúng tôi. Điều ly kỳ nhất là phép lạ như vậy cũng xảy đến cho hai cơ sở kia của chúng tôi. Quán Ninoska không hề bị bể một miếng kính. Quán Normandy, ở ngay trước sở an ninh quốc gia, địa điểm sôi động nhất của cuộc cách mạng, súng bắn tứ tung, dân chúng nổi loạn đốt phá bậy bạ tất cả các tiệm buôn ở đại lộ Mexico, thế mà tại quán rượu Normandy, hoàn toàn không bị hư hại gì hết, không bị mất cắp thứ gì. Do lệnh bí mật nào? Tôi không biết, và không bao giờ biết.

Trước kia dưới thời Perez Jimenez, là kỷ luật bắt buộc, làm việc, an ninh công cộng trước tiên. Từ mười năm, không ai dám có ý kiến, mọi người đều chỉ biết tuân theo. Báo chí bị khớp miệng.

Đến thời Larrazabal, người chiến sĩ Hải quân, mọi người nhảy múa, ca hát, mặc sức không tuân lệnh, tuyên bố hay viết những gì phát xuất từ đầu óc, các nhà trí thức chính trị và mị dân vô cùng hân hoan vì được xã hội thả dàn, vô tội vạ. Không khí rất dễ thở.

Ngoài ra, người chiến sĩ Hải quân là một nhà thơ, có tâm hồn nghệ sĩ, xúc động trước cảnh cơ cực của hàng ngàn người đổ xô từng đợt liên tiếp từ bốn hướng xứ Venezuela về Caracas sau khi nhà độc tài bị hạ bệ. Ông ta thiết lập kế hoạch khẩn cấp để phân phát cho những người khốn khổ ấy hàng triệu bạc trích trên ngân quỹ quốc gia.

Ông hứa tổ chức tuyển cử. Quá lương thiện, ông chuẩn bị cuộc bầu cử rất trung thực và tuy ông thắng ở Caracas, chính Betancourt đã đắc cử. Ông đã phải đối phó với một tình thế khó khăn, không ngày nào không có một âm mưu đảo chính, không ngày nào không chiến đấu chống lực lượng phản động.

Tôi vừa mua quán rượu lớn nhất Caracas, quán “Le grand Cafés”, trong khu phố Sabana Grande, hơn 400 chỗ ngồi. Đó là quán rượu mà năm 1931, tại hành lang nhà giam La Santé, Julot Huignard đã hẹn tôi đến: “Papilion, can đảm lên, hẹn gặp lại tại quán “Le grand Café” ở Caracas”. Hôm nay tôi có mặt tại nơi hẹn. Tuy rằng đến hai mươi tám năm sau, nhưng tôi đã đến. Tôi lại còn là chủ nhân của quán, nhưng Huignard không đến.

Thế là đối với tôi mọi việc có vẻ tốt đẹp. Tuy nhiên, tình hình chính trị trong nước không thuận lợi cho nhiệm vụ của Betancourt. Một âm mưu ám sát ông ghê tởm nhất, hèn hạ nhất làm giao động nền dân chủ quá trẻ trung và còn khập khiễng.

Do Trujillo, nhà độc tài xứ Saint Domingue, điều khiển từ xa, một chiếc xe hơi đầy nhóc chất nổ đã nổ tung khi chiếc xe của Tổng Thống đi dự lễ chạy ngang qua. Ông Chánh võ phòng chết ngay, anh tài xế bị thương nặng, Thiếu tướng Hopez Henriquez cùng bà vợ bị cháy thê thảm, và chính Tổng Thống bị hai cánh tay cháy đen. Hai mươi bốn giờ sau, cánh tay băng lại, ông nói chuyện với nhân dân Venezuela. Chuyện khó tin đến nỗi có người cho rằng người nói đó là một người giống Tổng Thống được đưa ra thay thế.

Không cần nói cũng rõ trong tình thế như vậy, cái xứ sở được thần linh phù hộ cũng bắt đầu bị bệnh say mê chính trị hành hạ. Mọi người đều mang vi trùng bệnh ấy trong người, mật vụ hiện diện khắp nơi, một giống người mới lạ xuất hiện. Trong hàng ngũ công chức, nhiều phần tử lợi dụng phe phái chính trị, một danh từ ghê gớm được đặt ra: “Chúng tôi chỉ huy”.

Viên chức nhiều cơ quan khác nhau nhiều lần đến “chặt chân” tôi. Người ta đào tạo đủ loại thanh tra, thanh tra về rượu mạnh, về thuế thị xã, về thứ này, thứ nọ. Phần đông các viên chức ấy không được huấn luyện trước và chức vụ của họ là do chính đảng của họ đề bạt.

Ngoài ra, vì chính quyền biết rõ dĩ vãng của tôi, vì tôi không thể nào tránh tiếp xúc với các cựu phạm đi qua, dù tôi sống lương thiện và không làm ăn gì với họ, vì thêm vào đó, tôi được tị hộ tại đây, thời hạn chưa triệt tiêu ở Pháp, bọn cảnh sát lợi dụng tình huống trên để dọa dẫm tôi, chúng nhằm vào dĩ vãng của tôi. Ví dụ chúng lôi ra vụ ám sát một người Pháp cách đây hai năm, không tìm ra thủ phạm. Tôi biết gì không? Tôi không biết hả? Trong hoàn cảnh của tôi, biết chút ít sẽ có lợi!

Ồ, những chuyện như vậy bắt đầu xảy ra! Tôi đã thấy chán bọn quỉ quái ấy! Đến nay chưa có gì quan trọng, nhưng nếu cứ tiếp tục và tôi nổi điên lên thì chưa biết trong một đôi năm sẽ ra sao. Không, không nên nổi điên ở đây, trong một quốc gia đã cho tôi cơ hội trở thành một người tự do, có một mái ấm gia đình.

Không cần phải suy đi nghĩ lại, tôi bán quán rượu “Le grand Café” cùng các cơ sở khác rồi tôi với Rita đi qua Tây Ban Nha. May ra có thể định cư và lập nghiệp ở đó.

Tôi không thể ở Tây Ban Nha. Quả thật các quốc gia Âu châu được tổ chức quá chặt chẽ. Tại Madrid, sau khi đã có mười ba giấy phép mở một doanh nghiệp, người ta nhã nhặn cho tôi biết phải có một giấy phép thứ mười bốn. Theo tôi nghĩ, sẽ dư ra một giấy phép. Thế là, Rita nhận thấy tôi không thể nào sống xa Venezuela, tôi cần ngay cả những đứa quấy rầy tôi, nên nàng muốn vì hạnh phúc của chúng tôi, chúng tôi trở về bên ấy, tuy rằng chúng tôi đã bán hết cơ nghiệp ở bên ấy.

Vết Nám – Hồi ký tù cải tạo

 Hoàng Long Hải

Posted on 13 Mar 2015 by quanvan.net

Post by Sơn râu 5 Oct 2025

Trốn tù

Bài 13

Mấy đêm nay Quang treo võng nằm ngủ, không ngủ đất như các bạn. Sự thao thức về công việc đang chuẩn bị làm Quang khó ngủ, trăn qua trở lại, có thể gây phiền phức cho bạn, và cũng có thể làm họ đặt dấu hỏi, tại sao Quang không ngủ được êm như mấy hôm trước kia.

Có thể họ nghi ngờ Quang âm mưu trốn trại. Điều đó không có gì lạ. Ai chẳng muốn trốn trại nếu có dịp. Quang không sợ họ sẽ “báo cáo với bộ đội” rằng họ nghi anh muốn trốn trại. Chỉ những ai tư cách tệ lắm, không đáng làm người, mới có những hành động chó má như vậy, làm “ăng-ten” cho địch. Còn phần đông thì đám tù binh nầy biết thương nhau. Nghe tin ai trốn được, người ta mừng.

Đối với Quang, việc trốn trại là dứt khoát. Tháng trước gia đình lên thăm, vợ Quang nói: “Phải đi anh à! Cố gắng mấy cũng không ở được với họ.” Vợ Quang chỉ nói chừng đó, không nói nhiều được vì khi thăm nuôi, có “vệ binh” canh chừng.

Phòng bên nầy là nơi anh gặp vợ, các con và cha mẹ. Phòng bên kia, qua một tấm ván gỗ, có thể có một người nào đó đang rình nghe gia đình anh nói gì. Quang cúi xuống nhìn qua phía dưới tấm vách ván. Dưới đó có một khoảng cách với mặt đất. Quang thấy phía bên kia có đội “dép râu”. Vậy là chắc rồi còn gì. Người rình bên kia đang nằm hay ngồi trên giường lắng nghe gia đình Quang nói gì, đôi dép để dưới đất. Anh ta không mà không ngoan.

Đoán chắc như thế, Quang đưa ngón tay lên miệng ra dấu, và chỉ qua phòng bên kia. Ai nấy đều biết, mặt sợ hãi. Cái “chế độ rình rập” nầy khó sống thật. Không phải “cách mạng” rình rập “ngụy”. Chính họ cũng “rình rập” nhau như thế. Không bao giờ họ tin nhau, không có sự thành thật, chân thành. Vậy mà họ cũng ở với nhau được. Tài thật. Câu thơ của Trần Dần, Quang nghe đọc đã lâu, khi học Việt Văn với ông thầy năm Đệ Tứ, lại hiện ra trong trí Quang:

                        Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người

                Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.

“Già rô” còn không tin “Già Rô”! Vậy thì ai tin ông ta? Một chế độ mà người dân không tin lãnh tụ chắc chắn không phải là chế độ có Tự Do, Dân Chủ được.

Đó là động cơ quan trọng nhất để Quang có quyết định trốn trại. Trốn trại rồi sẽ vượt biên. Việc thăm nuôi củng cố thêm ý định trốn trại của Quang. Hôm đó, Quang nói với vợ: “Anh sẽ về!”

Quang không giải thích gì thêm. Vợ Quang cũng không hỏi sẽ về như thế nào. Chồng của cô “tin tưởng một cách tuyệt đối vào chính sách trước sau như một của cách mạng” hay sao? Cô không tin vậy. Cô hiểu chồng, nhưng không dám hỏi thêm. Phòng bên có kẻ đang rình.

Quang chuẩn bị trốn trại khá kỹ, suy nghĩ về việc ấy một cách cẩn thận, “ăn chắc”. Chỉ mới tuần trước, “Dũng Long Biên” trốn trại một cách ngoạn mục, ngay trước mặt bộ đội, như một màn ciné 007, khiến ai nấy thích thú, bàn qua bàn lại mãi.

“Dũng Long Biên” tham gia tổ trồng rau muống ở đám đất

bên cạnh Suối Máu. Cái tên nghe đã ghê! Con suối ở phía bên kia Quốc Lộ 1. Bên nầy là Trại Tù. Trước kia là Trại Tù Binh Việt Cộng Suối Máu, là nơi giam cán binh Cộng Sản bị bắt. Nay là nơi giam các sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trình diện họ tập theo lệnh Ủy Ban Quân Quản Saigon. Họ “đổi chỗ” cho nhau.

Người canh tù thì nay làm người tù. Người tù trở lại làm người canh tù.

Mỗi khu, trại có 5 khu, có trồng một đám rau muống bên bờ suối, để trại “cải thiện”. Do đó, mỗi sáng, có một tổ “Cải Tạo Viên” được bộ đội dẫn từ Khu ra đám rau muống để “thu hoạch”, bón phân, tưới rau…

Khi toán tù nhân từ cổng trại đi ra, bộ đội chận xe và người trên Quốc Lộ lại để toán tù qua đường. Khi họ qua xong, bộ đội cho giao thông trở lại như cũ.

“Dũng Long Biên” ở trong đám tù thuộc Tổ Rau. Hai tay anh ta xách hai thùng tưới tưới nước. Khi “Dũng Long Biên” ra tới gần nửa đường lộ, một chiếc xe Honda 67 do một thanh niên cầm lái vượt đám đông đang đứng chờ, trờ tới. “Dũng Long Biên” nhảy lên yên sau. Chiếc xe Honda phóng đi, rất nhanh. Hình ảnh “Dũng Long Biên” nhảy lẹ lên xe và tiếng rú của ống khói xe làm cho người ta mới giật mình, chưa rõ chuyện gì thì chiếc xe đã chạy được một đoạn khá xa.

Bấy giờ mấy “chú bộ đội” mới biết có người trốn trại. Họ đưa súng lên trời, nổ mấy phát. Không ai biết họ bắn chỉ thiên để báo động hay không dám bắn ngang vì sợ trúng dân. Nhưng trước khi có tiếng sung nổ, người ta nghe tiếng động của hai cái thùng tưới từ tay “Dũng Long Biên” buông ra, rớt xuống mặt đường nhựa cứng. Có lẽ “Dũng Long Biên” cũng hồi hộp không kém mọi người, xe đã chạy một đoạn đường, anh ta mới nhớ ra tay anh còn cầm hai cái thùng tưới, chưa kịp buông.

Cảnh trốn trại hồi hộp và hấp dẫn ấy là câu chuyện được bàn qua tán lại tới những mấy ngày. Không biết mấy “chú bộ đội” nghĩ như thế nào, nhưng với đám tù binh, những người chứng kiến tận mắt hay chỉ được nghe lại, coi như được xem một màn ciné hấp dẫn mà ít lâu nay, chẳng được xem ở ngoài đời.

Bấy giờ có không ít lời bàn của “Mao Tôn Cương thời đại”. Có người thạo tin cho biết “Dũng Phi Long” là chồng đã ly dị của nữ danh ca Thanh Lan. Chương, tổ trưởng Tổ Rau chúa chúng tôi khen: “Một đứa trốn trại hay hơn tài từ ciné, lấy một con nhỏ hát hay nhất xứ, bỏ nhau uổng thiệt!”

Trắc cười: “Người ta là danh ca mà anh gọi nó là “con nhỏ”, nghe đâu có được.”

Chương cãi bướng: “Danh ca cũng còn nhỏ tuổi hơn “moa”, “moa” gọi con nhỏ là được rồi.”

Câu cãi bướng của Chương làm ai nấy đều cười. Người ta có thiện cảm với Chương vì anh là thiên tài đàn ghi-ta đấy.

Việc “Dũng Long Biên” trốn trại làm Quang phải suy nghĩ không ít. Vậy là bọn bộ đội phải cẩn thận hơn, nghiêm nhặt hơn khi dẫn tù đi tưới rau. Nó có nghĩa là việc trốn trại của Quang sẽ khó khăn hơn. Quang phải tính toán, chuẫn bị kỹ hơn.

Trước hết, không thể thiếu một cái gì. Một sĩ quan Biệt Cách Dù, trước khi “nhảy toán” phải kiểm soát rất kỹ lưỡng. Một toán 6 người, không thể khi nhảy xuống rừng rậm rồi mới nhớ ra: “Chết rồi! Quên cái… nầy, hay quên cái… kia”. Không được quên một cái gì hết, cái hộp quẹt, hộp xăng đặc, thậm chí cây kim băng… Không ai có thể tiếp tế cho toán một cái gì khi họ hoạt động đơn độc giữa rừng già. Mối quan hệ với thế giới bên ngoài, chỉ là “vô tuyến”. Thậm chí nhiều khi cắt đứt hoàn toàn, cả “im lặng vô tuyến”.

Việc trốn trại của Quang phải như vậy. Hơn thế nữa, bây giờ chỉ có một mình Quang, không có đồng đội.

Kể từ chân, Quang mang giày “bata”. Giày “bata” chỉ khó khăn khi xuống suối là phải cởi ra. Nhưng hôm nay, Quang không xuống suối, Quang phải trốn rước khi công việc “canh tác” bắt dầu. Trên đường đi trốn, mang giày bata, ít ai nghi ngờ gì.

Quang lựa môt cái quần kaki mầu vàng sẫm. Quần nầy không làm cho bộ đội nghi ngờ mà khi trà trộn trong dân chúng, không ai để ý gì.

Quang phải mặc một cái áo sơ mi trắng. Dân chúng không ai nghĩ người mặc áo sơ mi trắng là người trốn trại tù. Nhưng với bộ đội, mặc áo sơ mi trắng đi tưới rau bị chúng nghi “là cái chắc”. Mấy hôm nay, cuối xuân, nhưng buổi sáng trời còn lạnh. Ngoài cái áo trắng, Quang mặc cái áo “trây-dy” của lính chế độ cũ. Quang bẻ cổ áo trắng xuống, bẻ cổ áo “trây-dy” cao lên, gài nút cổ, vì lạnh. Hoàn toàn, không ai biết, bên trong cái áo lính là cái áo trắng.

Mũ, dễ thôi. Quang dùng cái mũ lưỡi trai màu xanh biển, vợ mới đem cho hôm thăm nuôi.

&

Thế rồi Quang sắp hàng đi tưới sau.

Sau khi trung úy Đoan vào trại dẫn tù đi tưới rau, ra tới  cổng Khu, tổ trưởng Tổ Rau Lê Văn Chương đứng đầu toán, ngó lên chòi cao, cất mũ, báo cáo với “chú bộ đội” đang ngồi canh vắt vẻo trên ấy:

-“Báo cáo anh, 11 người đi tưới rau.”

Anh vệ binh trên chòi ngoái cổ ra đếm hàng tù binh. Sau khi đếm đủ số người, anh ta ra lệnh: “Cho đi.” Thế là đám tù lục tục kéo nhau đi ra, người quang gánh để “thu hoạch rau”, người mang thùng tưới nước. Ra khỏi cổng, họ ghé vào bờ tường ngôi nhà bên đường, mỗi người chọn một cái cuốc. Dĩ nhiên, cuốc phải để ngoài vòng rào trại, không để bên trong bao giờ. Bộ đội biết rõ cuốc là một vũ khí lợi hại, nếu tù nổi loạn. “Cách mạng” không tin bọn “ngụy” bao giờ. “Cải tạo viên” thường leo lẻo cái miệng “Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối khoan hồng nhân đạo của cách mạng”, nhưng vác cuốc đánh vào đầu “cách mạng” thì lúc nào cũng có thể xảy ra.

            Trên đường đi, Quang than “Tôi cứ đau bụng hoài”. Nghe thế, tổ trưởng Lê Văn Chương trả lời, nói hơi to: “Coi chừng ông bị kiết. Mấy bữa nay tụi nó kiết dữ lắm”.

            Ra gần tới ruộng rau, Quang đi chậm lại, nói với Trung úy Đoan:

            -“Báo cáo anh! Tôi xin đi ngoài!”

            Đoan bảo: “Anh đi đi.”

            Quang quay lại nói với anh vệ binh đi sau cùng: “Báo cáo anh, tôi qua bên kia suối đi cầu.”

            Anh vệ binh gật đầu!

            Tổ trưởng Lê Văn Chương dẫn hết cả toán đi dọc theo suối, xa về đằng kia. Anh ta biểu mọi người sắp hàng ngang, dọc theo luống rau. Chương cầm một cái cuốc, nói: “Các bạn làm theo tôi. Cuốc sâu về phía bên kia gốc rau, không xa lắm, không gần lắm. Xong, cạy lưỡi cuốc lên một chút, rút cuốc ra, lát cuốc tiếp bên cạnh lát trước. Xong, bọn mình cho phân xuống, ít thôi vì loại phân nầy nóng. Tưới nước xong thì về.”

            Trung úy Đoan hỏi:

            -“Cuốc lên như thế để làm gì?”

            Chương giải thích:

            -“Rau nầy cắt hai lứa rồi, đã già. Nay phải làm trẻ lại. Cuốc như thế cho rễ rau đứt ra. Rau sẽ mọc rễ mới, mạnh hơn. Cọng rau mới to, xanh hơn. Đây là vớt lần chót, lứa sau trồng rau mới, không xài gốc rau nầy nữa.”

            Đoan nói, thật thà:

            -“Nhà tôi làm nghề nông, chưa từng có ai suy nghĩ và làm như các anh. Các anh thông minh thật.”

            Vậy rồi Tổ Rau lúi húi làm việc, mong cho xong để về.

            Xong việc, như thường lệ, Tổ Rau tập họp. Trung úy Đoan đếm người.

Thiếu một người.

            Vì muốn về sớm nên ai nấy láo nháo hỏi xem anh chàng nào vắng mặt, ham hái rau hoang hay đi đâu chưa về. Thông thường, khi công việc xong, mọi người xuống suối rửa tay chân. Nhân tiện, có người hái một nắm rau trai mọc hoang bên bờ suối, đem về nấu canh. Vì thế, có người la to:

            -“Còn ai dưới suối không? Nhanh lên mà về.”

            Không nghe, thấy gì cả. Trung úy Đoan đi xuống suối tìm. Một lúc sau, anh ta lên, nói: “Không có ai cả. Vậy là có người trốn trại rồi.”

            Lê Văn Chương kiểm điểm từng người trong tổ, xong, nói to với Trung úy Đoan: “Vắng mặt anh Quang.”

            Những người trong toán rau lại bàn tán lao xao. Hơn mười phút sau, xem không thấy còn ai đâu nữa, Trung úy Đoan ra lệnh: “Đi về”. Anh ta sợ trong khi mọi người đang giao động vì có người trốn trại, tình trạng lộn xộn có thể xảy ra, không kiểm soát được.

            Khi vệ binh dẫn Tổ Rau rời khỏi chỗ canh tác, Trung úy Đoan đi ngược trở lại con suối, đi dọc bờ, như cố ý kiếm tìm.

            Thấy vậy, Lê Văn Chương cười, nói nhỏ với mấy người đi bên cạnh:

            -“Quang đâu ở dưới suối mà tìm. Nó lên xe Lam ra Biên Hòa rồi. Dân Biệt Cách Dù, không trốn trại ngây thơ như Trung úy Đoan nghĩ đâu. Nó trốn ngay trước mắt mọi người mà không biết.”

            Trắc hỏi:

            -“Ông thấy nó trốn?”

            Chương cười: “Sao không?’ Rồi Chương giải thích:

            -“Nó giả đi cầu bên kia suối. Khi bọn mình tới đằng kia cuốc rau thì nó từ bên suối đi ra lộ, tỉnh bơ. Ra gần tới nơi, nó cởi cái áo lính ra, làm như người dân thường. Vừa lúc đó có chiếc xe Lam từ Hố Nai chạy tới. Quang sợ trễ xe, liền chạy vội ra đường, ra dấu cho xe dừng lại. Anh ta lên xe, như khách đi đường…”

            Nguyễn Thụy Hiền, vốn là người thật thà, nghe kể câu chuyện như vậy, không tin, hỏi:

            -“Nhắm bộ ông vạch kế hoạch cho nó trốn trại chắc?”

            Chương nói:

            -“Chút nữa về nhà kể tiếp. Nói đây không tiện.”

            Vừa lúc đó, người đi đầu toán thấy có cái áo lính của Quang bỏ lại bên bụi cỏ cao, bèn nhặt lên, nói to: “Áo thằng Quang! Áo thằng Quang!”

&

            Chiều hôm đó, như thưòng lệ, lãnh phần ăn xong, nhiều người trong Đội 3 dọn cơm ra ăn. Người thì bưng môt cái tô, người thì dọn ra trên cái bàn gỗ tạp, hai ba ngưòi ăn chung, có tô canh rau muống hoặc rau trai. Những người trong Tổ Rau thường được Trung úy Đoan “bồi dưỡng” cho mỗi người một nắm rau, để thưởng công họ trồng trọt, chăm bón.

            Ăn gần xong, Hiền hỏi Chương, ngồi ở phía bên kia:

            -“Ông Chương kể tiếp chuyện ông làm đạo diễn cho cuốn phim “Quang trốn trại đi.”

            Chương nói:

            -“Ông nói vậy chết tui. Nhưng tui biết nó… trốn trại.”

            -“Sao ông biết?” Trắc hỏi.

            -“Từ sáng, khi chuẩn bị đi, tui đã nghi. Quang có vẻ khác lạ nhưng làm ra bộ bình tĩnh. Bộ đội thì không biết, nhưng phe ta thì biết ngay. Khi nó kêu đau bụng. Tui nói to cho Trung úy Đoan nghe “Ông bị kiết” để y khỏi nghi nếu Quang xin đi cầu. Khi ra tới bãi, Quang đi cầu phía nầy, tui dẫn anh em đi xa phía kia. Vậy, Quang mới dễ trốn.”

            -“Khi nó trốn, anh thấy không?” Trần Hưng hỏi.

            -“Thấy sao không! Tui biểu mấy ông sắp hàng hướng mắt về phía suối. Tui đứng ngược lại, hướng nhìn ra lộ. Tui thấy Quang đi ra, rất bình tỉnh, cởi áo lính vụt vào bụi, cũng rất bình tĩnh. Nhưng khi chiếc xe Lam chạy tới, Quang phải chạy cho kịp xe. Lúc ấy y mới vội. Tui phục thầm anh Biệt Cách Dù trốn trại mà làm như người đi thăm ruộng. Tiếc thiệt!”

            -“Tiếc cái gì?”

            -“Tui mà không làm Tổ trưởng Tổ rau, tui có thể trốn trại như Quang. Lỡ một dịp may.”

            Sau câu chuyện trốn trại của Quang, có người tiếc cho Chương, một thiên tài “Tây Ban Cầm”. Anh ta đánh đàn Tây Ban Cầm một tay, sinh viên Đại Học Đà Lạt, xuất thân khóa 17 Võ Bị, Trưởng phòng 3 bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân khu 2.

Trần Phú Trắc gọi đùa anh là “Chương Rồng”. Trên đường di tản theo Quốc Lộ 7, Chương bị thương ở bàn chân phải, không chữa trị đúng cách nên ngón chân cái của anh ngóc đầu lên, như cái Đầu Rồng./

hoànglonghải

 Ghi chú: Chuyện có thật, tác giả hư cấu chi tiết.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 5 Oct 2025

Phần 18

Trong Chương VIII hai anh đại tá công an Việt cộng đả động đến một số văn nghệ sĩ ở hải ngoại. Những ông văn nghệ sĩ đẻ bọc điều này, nhanh chân bỏ nước chạy lấy người, phú lỉnh được sang Pháp, sang Mỹ. Nếu các ông bị kẹt giỏ ở Thành Hồ chắc chắn tên tuổi các ông không được Cớm ViXi nhắc đến trong quái phẩm chúng gọi là “Truyện” này. Kẹt giỏ, các ông cũng giã từ vòng tay ấm, vòng tay lạnh của bà vợ gầy để đi tù mút mùa Lệ Thu như chúng tôi thôi.

Những người bị nhắc đến trong chương này là Việt Định Phương, em Martine Bokassa, rồi “Mai Thảo, Trần Bích Loan của nhóm Sáng Tạo do USIS dựng lên…” – tên cúng cơm của thi sĩ Nguyên Sa được Cớm Cộng thêm vô một chữ O to tổ bố – Võ Đại Tôn, đặc biệt luật sư Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch – dường như anh là chủ tịch tiên khởi, tức bom-nhe, thứ nhất – của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại – tôi không biết nên sài ở đây tiếng “bị” hay tiếng “được” với việc bọn Cớm Cộng nhắc đến Luật sư Trần thanh Hiệp và Hội Văn Bút: “… chủ tịch của nó là Trần Thanh Hiệp mà mọi người đều biết là tay sai lâu năm của Sứ quán Mỹ ở Sàigòn…”

Tôi thú nhận trong những gì tôi viết ra cứ 10 phần thì có 5 phần diễu cợt, bông lơn, tán nhảm, đấu hót lia chia, 3 phần do tôi phịa ra, chỉ có may mắn hai phần là sự thật. Song ở cái bài viết hôm nay – một sáng chủ nhật mùa xuân ở vườn đất xứ Mẽo Virginia của những người Mẽo yêu nhau, người Mít ở nhờ – tôi long trọng xin lỗi tất cả quý vị – nhân sĩ quốc gia, quốc dzô và bạn hữu, thân cũng như sơ – những người đã bị công an Việt cộng vu khống, bôi bẩn vì các vị có liên can xa gần đến anh em chúng tôi. Các vị đã phải chịu một tình trạng mà bọn tù nạn nhân cộng sản chúng tôi trong những nhà tù gọi là “bị văng miểng”. Miểng đây là miểng lựu đạn. Bọn xấu quẳng lựu đạn vào gầm bàn bọn ngồi ăn nhậu ở cùng phòng ăn với các vị. Chúng định giết bọn kia nhưng vì các vị ngồi gần bọn kia nên các vị bị miểng lựu đạn nổ dzăng trúng, thường thì các vị bị trúng miểng lựu đạn nơi gọi là ti-bịa, các bà các cô thường bị trúng vào chỗ để ngồi.

Và “đặc bịt” Chương BKCB này đụng đến nhà văn Mai Thảo. Tôi nghe nói ông có làm bài thơ gì đó trong có hai câu:

Ta thấy tên ta những bảng đường

Đời ta lịch sử chép ngàn chương.

Đời ông lịch sử chép ngàn chương là chuyện tất nhiên kiêm tự nhiên, chuyện chắc như bắp rang, như gạch tầu, như đinh 10 phân đóng cột gỗ lim. Trong số ngàn trang ấy tôi xí phần viết về ông vài ba trang lấy thảo.

Cả đời tôi không có một trang truyện nào ký tên tôi được xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo. Đúng thôi. Những gì tôi viết đều thuộc loại “hàng chợ”, mà đã là “hàng chợ” tức là hàng rẻ tiền, hổng phải thứ hàng nghệ thuật cao giá. Ba mươi mùa cóc chín trước đây ở Sàigòn tôi nghe nói – tôi chỉ nghe nói lại thôi, người nói không nói trước mặt tôi – ông Sần Foóng, tức Trần Phong Giao, báo Văn, tòa soạn ở đường Phạm Ngũ Lão trước rạp xi nê Thanh Bình – xếp hạng tôi – Hát Hát Tê – hổng phải là “nhà văn”. Nghe nói lại câu đó, không những tôi không buồn mà trái lại tôi còn coi ông Sần Foóng như người tri kỷ. Tôi hổng phải là nhà văn và chưa một lần tôi tự nhận là nhà văn. Cho đến bây giờ tôi vẫn tự nhận tôi là người viết tiểu thuyết. Khi bị gọi là “nhà văn” tôi thấy ngượng. Bởi vậy việc tôi không có mặt trên tạp chí Sáng Tạo của ông Mai Thảo là hợp lý.

Và cũng bởi vậy, tôi không được giao du thân mật với ông chi nhiều, tôi hân hạnh được ông gọi bằng mày, xưng tao nên “kính trọng không bằng vâng lời”, tôi cũng xưng tao với ông và kêu ông bằng mày.

Nhà văn Mai Thảo, tháng Ba, tháng Tư năm 1975, chỉ có một thân, một mình, không vợ, không con. Dường như tháng ấy, ngày ấy ông cũng chẳng có nhân tình, nhân bánh gì cả. Vậy mà nhiều ông văn nghệ sỡi vợ con đùm đề, có ông còn đèo bòng vợ lớn, vợ bé, vẫn bỏ nước chạy lấy người thoát thân, ông Mai Thảo cu ky đờ luých vẫn cứ lang thang trên những vỉa hè Sàigòn thất thủ. Trước ngày 30 Tháng Tư 75 ông ngụ trong một phòng ở Nhà Chiều Tím cạnh phở 79 đường Võ Tánh. Sau Tháng Tư đen hơn mõm chó ông về ở một phòng trong căn nhà của ông anh ông – ông Nguyễn đăng Viên – đường Phan Đình Phùng.

Từ 30 Tháng Tư năm 1975 ông Mai Thảo cũng sống lêu bêu, vất vưởng không khác gì các ông văn nghệ sĩ VNCH lớn nhỏ khác. Phải nói rõ, những ông văn nghệ sĩ được nói đây là những ông văn nghệ sĩ xi -dzin, tức là thường dân, lại có nghĩa là không ở trong quân đội. Những ông văn nghệ sĩ quân nhân còn kẹt lại một tháng sau ngày Việt cộng vào Sàigòn đã lên đường đi cải tạo hết. Ngày tháng phất phơ không có việc làm, các ông văn nghệ sĩ bắt chước các thầy Min Đơ, Min Toa đạp xế đạp đi lang thang tìm nhau, gặp nhau ở những quán cà phê vỉa hè, đi ăn nhậu cũng vỉa hè cho đỡ buồn. Thường dân Sàigòn thất nghiệp cũng mần y như những ông văn nghệ sĩ cho qua thì giờ. Nghĩa là thường dân ngày ngày cũng không có việc làm, cũng đạp xế đi lang thang, cũng ngồi cà phê vỉa hè cả buổi tán dóc cho đỡ buồn. Gặp nhau tất nhiên là hỏi thăm kẻ còn, người phú lỉnh, người đi cải tạo, rồi trao đổi những tin đồn. Thường dân làm như thế thì không sao, nhưng văn nghệ sĩ làm như vậy là không được, văn nghệ sĩ không có quyền tụ tập, trao đổi với nhau những tin đồn.

Những ngày ấy Sàigòn có thật nhiều tin đồn. Đại khái vài tin: quân ta còn rất đông trong rừng sẽ kéo về một ngày rất gần, Rằn ri xuất hiện ở ngay Cát Lái, Thủ Thiêm, phi cơ thả dù đồ tiếp tế xuống Dốc Mơ, Đà Lạt v.v… Ai sáng tác những tin đồn ấy? Tôi không biết. Tôi chỉ biết những ông văn nghệ sĩ kẹt giỏ Sàigòn không phải là những người sáng tác tin đồn. Các ông loan truyền những tin đồn các ông nghe được thì có, sáng tác thì không.

Hai ký giả Nguyễn Tú, Như Phong Lê Văn Tiến bị tóm ngay từ những ngày đầu tháng Năm 1975.

Tiếp theo là Uyên Thao, Vũ Ánh, Đoàn Kế Tường, Văn Chi. Nếu các ông Chu Tử, Hồ Anh, Phạm Duy còn kẹt lại ở Sàigòn tôi chắc bọn công an đặc vụ từ Hà Nội vào cũng đem xe bông đến tận nhà các ông, ưu ái đưa các ông đi cất ngay mà không đợi đến mùa ổi chín năm sau.

Tháng Ba năm 1976, công an Vixi mở chiến dịch bắt văn nghệ sĩ Saigon. Trước khi viết đến chiến dịch bắt bớ này, tôi ghi lại vài dòng về vụ nổ bom làm chết người mà bọn công an Việt cộng nói là có dính líu đến một số văn nghệ sĩ. Tôi xin nói ngay những gì tôi viết đây là những gì cá nhân tôi được nghe nói. Những sự kiện này không có gì bảo đảm là chính xác.

Vụ nổ xẩy ra ở Hồ Con Rùa đường Duy Tân. Cả Thành Hồ xã hội chủ nghĩa chỉ có một tờ nhật báo Saigon Giải Phóng. Tờ báo này không loan một mẩu tin nào về vụ nổ ở Hồ Con Rùa, nên người dân chỉ biết về vụ nổ qua những tin truyền miệng mơ hồ. Nghe nói có nhiều người chết oan. Vụ nổ Hồ Con Rùa xẩy ra vào khoảng đầu năm 1976. Vài tháng sau chiến dịch bắt bớ văn nghệ sĩ Sàigòn được tiến hành.

Huỳnh Bá Thành, dân Quảng Nam, trước năm 1975 vẽ biếm họa ký tên họa sĩ Ớt ở nhật báo Điện Tín do Thượng nghị sĩ Hồng Sơn Đông làm chủ nhiệm. Trước năm 1975, làng báo Sàigòn có những họa sĩ Chóe, Tuýt, Hĩm, anh họa sĩ Ớt không sao nổi lên được. Việt cộng vào Sàigòn, anh cu Ớt trở thành công an nằm vùng Huỳnh Bá Thành. Quyển “Vụ án Hồ Con Rùa” do Huỳnh Bá Thành viết là quyển truyện mở đầu một lô những quyển “Vụ án đủ thứ” sau đó.

Vụ nổ xưa rồi. Đã hơn hai mươi mùa lá rụng trên đường Duy Tân cây dài bóng mát. Riêng tôi, tôi có hai điều cần viết về vụ nổ Hồ Con Rùa:

– Người anh em nào gài chất nổ tại sao không cho nổ ở một cơ sở nào của Việt cộng? Bất cứ cơ sở nào cũng được, không cần phải là cơ sở quan trọng. Ngay gần đó, có Nhà Thanh Niên của ta bị Việt cộng chiếm làm nhà triển lãm thường trực Tội Ác Mỹ Ngụy. Tại sao người anh em không làm cử chỉ đẹp, cho chúng tôi được vinh hạnh theo là cho nổ trong cái phòng triển lãm ấy? Biết là khó đấy nhưng anh em cho nổ ở công trường Hồ Con Rùa, người bị chết chỉ là anh em, con cháu chúng ta thôi.

Công an Việt cộng không bắt được ai là người đặt bom ở Hồ Con Rùa. Vụ án chìm dần trong quên lãng và thời gian. Bọn cộng sản có cái bệnh chung là chuyên giấu giếm, che đậy những sự kiện xấu xảy ra trong xã hội chúng cầm quyền. Việt cộng tiết lộ rất mơ hồ về vụ nổ Hồ Con Rùa cũng như về vụ cô đào Thanh Nga cùng ông chồng Đổng Lân bị bắn chết ở Thành Hồ năm 1978. Đây là thời gian Tàu cộng và Việt cộng đang hục hặc hăm he đánh nhau. Việt cộng đổ là do bàn tay lông lá của bọn phản động Bắc Kinh đã hạ sát đào Thanh Nga chỉ vì Thanh Nga đóng vai “Thái Hậu Dương Vân Nga” trong vở tuồng cùng tên. Đại khái sự tích vở tuồng như sau: Cuối đời nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt nhỏ bé ở miền Nam sau ít năm độc lập lại bị người Hán tính chuyện xâm lăng. Quốc gia lâm nguy, vua ít tuổi không thể lãnh đạo quân dân chống cường địch, may sao nước nhà có Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn là người anh dũng. Bà Thái Hậu họ Dương bèn dẹp tình riêng, lo chuyện chung, lấy hoàng bào của Vua cho Lê Tướng quân mặc. Hành động của bà Thái hậu đa tình cho nhân dân biết cơ nghiệp nhà Đinh – mở đầu bởi người hùng Cờ Lau Đinh Bộ Lĩnh – đến đây là chấm dứt. Ngôi Vua đã được đích thân Thái Hậu Mẹ Vua trao cho Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn để Tướng quân đánh giặc ngoại xâm, cứu nước. Nghe nói Dương Thái Hậu còn đi xa một bước nữa trên đường thưởng công cho Thập đạo Tướng quân bằng cách trở thành vợ của Tướng quân.

Đấy là ý chính vở tuồng “Thái Hậu Dương Vân Nga.” Ngoài việc kêu gọi đánh quân nhà Hán – năm 1978 là quân Trung cộng cờ đỏ búa liềm năm sao vàng – vở tuồng còn có ý đồ khuyên đàn bà con gái miền Nam bại trận nên quên chồng cũ – những anh bại trận này đã chết và còn sống cũng như đã chết – để trao thân gửi phận cho những anh chồng mới trẻ, khỏe hơn, những anh chiến thắng v.v….

Và chỉ có thế thôi – mà theo Việt cộng – “bọn phản động Bắc Kinh đã giết nữ nghệ sĩ Thanh Nga…” Năm 1962, đào Thanh Nga đóng vai chính trong bộ phim tình cảm Hai Chuyến Xe Bông của đạo diễn Hoàng Anh Tuấn hiện sống ở San José, Cali. Hai chuyến xe bông? Phải chăng đây là cái tên tiền định? Cô đào tài sắc có ông chồng chết theo. Đám tang hai người cùng cử hành một ngày, một giờ. Dù là vợ chồng cũng không tiện hai quan tài đi cùng một chuyến xe bông ra nghĩa địa. Khi cô đào bị bắn chết thê thảm anh Con trai bà Cả Đọi đang nằm phơi rốn cho muỗi đốt trong cái gọi là Trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, anh chắc đám tang cô ít nhất phải có Hai Chiếc Xe Bông chứ không phải một.

Vòng vo tam quốc. Xin lỗi đã đưa quý vị đi theo cô đào Thanh Nga Cải Lương chi bảo tài sắc nổi nhất, đắt giá nhất một thời … đến nghĩa trang, bỏ quên nhà văn Mai Thảo Bảng Đường nằm cu ky hơi lâu trong căn phòng của ông ở đường Phan Đình Phùng. Căn nhà đẹp này nguyên là nhà của một ông anh của ông. Ông anh ù té chạy được trước 30 tháng 4. Một ông anh khác của ông về ở nhà này, dành cho ông một phòng. Có đêm theo ông đi chơi quá khuya – nhà tôi ở mút chỉ cà tha tận đầu đường Lê Văn Duyệt, bị đổi tên là đường Cách Mạng Tháng Tám, gần Ngã Tư Bẩy Hiền – tôi theo ông về ngáo với ông trong phòng này. Tôi thấy trong ngăn kéo bàn ngủ bên giường của ông có mấy bài thơ mới làm của Thi bá Vũ Hoàng Chương. Sau 30 tháng 4 năm 1975, Thi bá và bà vợ bị đuổi ra khỏi cái vi la sang trọng trong khu Lăng Cha Cả – khi Thi bá là Thi bá, người ta hân hoan được mời ông về nhà ở với người ta trong vi la này. Khi cộng sản nói cối dép râu vào Sàigòn. Thi bá không những chỉ hết là Thi bá mà còn bị coi như một thứ tội nhân văn học, người ta đuổi ông bà đi không chút xót thương.

Thi bá cùng bà vợ về sống trong một khu lao động bên Khánh Hội, Thi bá vẫn mần thơ. Ông làm nhiều bài thơ ngắn, bốn câu, sáu câu, viết ngay vào mảnh giấy trao cho người đến thăm ông. Lý do Việt cộng bắt ông là: “sáng tác và phổ biến thi văn phản cách mạng”.

Trong tác phẩm Quần đảo Ngục tù – The Gulag Archipelago – Tác giả Alexander Solzhenytsin viết đại khái: Sống trong kìm kẹp của bọn mật vụ cộng sản, người dân khiếp sợ đến nỗi không những không ai không dám làm một hành động phản kháng mà còn không ai dám bỏ trốn. Như con chim trước con rắn, người ta chỉ mong bọn công an đến gõ cửa nhà người khác. Nhớ lại thời người dân ở Leningrad bị khủng bố, tôi nghĩ nếu chúng tôi, những người dân hiền lành, chỉ chống đối bọn công an đêm đêm đi bắt người bằng cách lén ra phá hoại xe ô tô của chúng thôi, đã có biết bao nhiêu người không bị bắt, thoát khỏi việc bị chết trong ngục tù vì bọn công an Leningrad không có xe để đi bắt họ. Có thể nói tất cả mọi người dù biết mình sắp bị bắt vẫn cứ chịu chết ở nhà chờ chúng đến bắt. Người ta nghĩ rằng với sự kiểm soát chặt chẽ của công an mình không thể nào trốn thoát được. Bỏ trốn chỉ thêm tội nặng. Nhưng tôi biết một sinh viên khi thấy bọn công an đến bắt anh, tung cửa sổ nhẩy ra vườn sau chạy thoát. Và anh thoát luôn. Mười mấy năm sau trở về thành phố tôi lại gặp anh….

Tình trạng người dân khiếp sợ bọn công an ở Nga dù sao cũng vẫn không nặng bằng tình trạng xẩy ra ở Sàigòn và những tỉnh miền Nam Việt Nam, nơi từng là một quốc gia riêng với đủ thứ lệ bộ, lễ nghi của một quốc gia độc lập, nơi người dân trong mấy chục năm trời từng đổ máu, đổ nước mắt chống cộng sản. Trong cái gọi là Khóa bồi dưỡng chính trị cho văn nghệ sĩ Sàigòn, Hai Khuynh một cán bộ biên tập tạp chí Đại Đoàn Kết, đến dự với tư cách hướng dẫn viên, nói:

– Nếu chúng tôi còn yếu như năm 1954 thì lần này có thể trong số các anh có vài anh bị chúng tôi cho đi mò tôm rồi đấy. Chuyện trả thù tắm máu không xảy ra vì bây giờ chúng tôi mạnh rồi, chúng tôi có Đảng lãnh đạo với chính sách đúng đắn…

Ý Hai Khuynh muốn nói là Việt cộng khi vào Sàigòn đã tha, đã không đè cổ năm bảy văn nghệ sĩ VNCH ra cắt tiết lấy máu tươi cúng Chủ tịch Hồ Chí Minh mừng ngày Chủ tịch dzô dinh Độc Lập. “Mò tôm” là hai tiếng mới tinh, mới có từ những năm 1946, 1947 trong ngôn ngữ Việt Nam bốn ngàn bốn mươi năm văn hiến diễn tả việc giết người của Việt cộng. Đêm đến , người chống đối hay không chống đối nhưng bị Việt cộng cho là nguy hiểm bị chúng trói tay, bịt mắt dẫn ra bờ sông, bãi cát vắng tanh – Tội nhân được đưa ra bờ sông không phải để đứng ngóng đò như trong thơ Tê Tê Ca Hát mà là để – bị bắn vào đầu, bị đâm, bị cắt cổ rồi bị đạp một đạp cho nhào xuống sông. Từ đó, nạn nhân sẽ vĩnh viễn làm bạn với cá tôm. Người dân miền Bắc gọi việc đó là “cho đi mò tôm”. Hai Khuynh là dân miền Nam kháng chiến tập kết ra Bắc nên sài tiếng “mò tôm” khá nhuyễn.

Tôi nghĩ ta không nên vu cho Việt cộng nhiều tội ác hơn là những tội ác họ đã làm với đồng bào của họ. Việt cộng, nón cối, dép râu, AKa, tóc bím, răng cải mả, mông đít to như cái thúng, ngơ ngáo kéo nhau vào Sàigòn như đàn bò vào thành phố ba triệu dân mà chỉ có ba anh – Xin lỗi – Tính lại chỉ có bốn anh Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Vũ Hạnh và Thái Bạch là bốn người quen sơ sơ. Ký giả Thái Bạch, thường được anh em gọi là Thái Bịch, mặt mũi khó đăm đăm, những ngày trước 30 Tháng Tư năm 1975 ngồi xào nấu tin lô can, tin xe cán chó, tin người đánh nhau được gọi là tin “Từ thành đến tỉnh” trong tòa soạn nhật báo Xây Dựng của Linh mục Thiên Hổ Nguyễn Quang Lãm ở đường Thánh Mẫu, Ngã Ba Ông Tạ nổi tiếng về mục Cờ Tây.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 5 Oct 2025

79. Tô Thùy Yên

Tuy xuất bản cách đây đã khá lâu, nhưng tập thơ của Tô Thùy Yên còn tiếp tục được đọc rất nhiều.  Sách dày trên 200 trang, gồm một số các bài thơ Tô Thùy Yên đã viết từ khoảng năm 1956 tới nay.

Nhiều bài thơ trong tập đã được đăng trên các tạp chí như Sáng Tạo, Văn

Nghệ, Văn, trước đây, người đọc muốn được đọc lại nhưng không có trong tuyển tập. Bù lại độc giả lại được đọc một số bài Tô Thùy Yên viết sau năm 1975. Theo phần lớn người đọc thì, loạt thơ Tô Thùy Yên sáng tác sau 1975, là phần thật sự quan trọng đối với sự nghiệp của ông.

Tô Thùy Yên làm thơ rất sớm. Và, ngay từ những bài thơ đầu tiên của ông, đã cho thấy, ông là một tài năng khác thường.

Nhận xét về thơ Tô Thùy Yên, Võ Phiến đã viết trong bộ sách nhận định về văn học miền Nam của mình, phần nói về thơ, như sau:

“Gần như toàn bộ sự nghiệp thi ca của ông là một dấu hỏi khổng lồ nêu lên trước cái bí ẩn muôn đời của vũ trụ. Bí ẩn đó là ám ảnh chủ yếu của đời ông. Ngoài ra còn gì nữa đâu? Ái tình chăng? Hiếm lắm. Ông cách xa sự đắm đuối nhiều lắm. Ca ngợi thiên nhiên chăng? Ít lắm, thơ ông không phải thơ ngâm vịnh. Kêu gọi yêu nước, phát huy lý tưởng, cổ xúy tín ngưỡng chăng? Ô không, ông ngờ vực tất cả trên đời. Tự dưng cất tiếng hát cho đời vui chăng? Đừng hòng! Ông không phải là con chim ngứa cổ … ”.

Như thế, Tô Thùy Yên tự tách mình ra khỏi vòm trời thi ca cũ.

Tôi chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng

Giăng qua đôi bờ vực thẳm

Chẳng cần phải đọc những bài thơ tự do, thơ xuôi, người ta mới thấy cái mới lạ của thơ Tô Thùy Yên. Cái mới lạ nằm ngay trong những bài thơ 5 chữ, 7 chữ của ông:

Cô đơn bằng Thượng Đế

Yếu đuối như linh hồn

Làm sao tôi trèo lên

Vực thẳm tờ bản thảo

Trắng im lìm giá băng

Gập buổi trời mưa bay phơi phới

Lá cành sáng rỡ sắc hồi xuân

Ta nhìn ngọn cỏ, lòng mê mẩn

Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân

Sống trên đời chuyện ghê gớm quá

Vậy mà ta sống có kỳ không

Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới

Những người đã chết, chết như rơm.

Dường như không một từ, một chữ nào mới, trong những đoạn thơ vừa trích dẫn. Thế nhưng đọc, ta tưởng chừng như không nắm nổi ý nghĩa. Chữ nghĩa qua bàn tay xử dụng của Tô Thùy Yên tựa hồ một thứ kim khí nấu chẩy, sáng lóa ý thức. Trải qua cuộc biển dâu 1975, thơ Tô Thùy Yên đã trút bỏ đi hết những vẻ hào nhoáng không cần thiết như trước đó người ta vẫn còn thỉnh thoảng thấy xuất hiện trong thơ ông. Ông nói thẳng những điều ông muốn nói, bằng một thứ ngôn ngữ, ông vớt lên được từ đáy sâu cuộc sống, thường người ta đã để chìm mất trong dòng chẩy của cuộc sống mà không hay biết.

Tàu đi như một cơn giông lửa

Sắt thép kinh hoàng va đập nhau

Ta tưởng chừng nghe thời đại động

Xô đi ầm ĩ một cơn đau

Ngồi đây giữa những phân cùng bụi

Trong chuyển rời xung xát bạo tàn

Ta trở thành than thành súc vật

Tiếng người e cũng đã quên ngang

Ta nghe rêm nhói thân tàn rạc

Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau

Nghe cả hồn ta bị cán nghiến

Trên đường lịch sử sắt tuôn mau

Những ai đã từng ngồi trên chuyến xe lửa chở tù đi cải tạo, hẳn còn phải rùng mình khi đọc lại những dòng thơ ấy. Người ta thường ví thi sĩ như một loài chim hiếm. Khi loài chim ấy xuất hiện thường báo hiệu một sự đổi thay của thời đại. Không ai chờ đợi cả. Nhưng cái gì phải đến cứ đến Tô Thùy Yên là con chim đưa tin ấy.

Và chim đã ở lại chịu tin xấu:

Tàu ơi hãy kéo còi liên tục

Cho tiếng rền vang khắp địa cầu

Lay động những tầng mê sảng tối

Loài người hãy thức, thức cùng nhau

Hình như khi còn trẻ đã có lần Tô Thùy Yên nhận mình là người chép sử sau này.

Có vẻ đúng như vậy.

Chỉ có điều ông là người chép sử quá buồn.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 5 Oct 2025

78. Tô Kiều Ngân

Tô Kiều Ngân là một người đa tài. Hình như ông không học ai cả, nhưng ngoài thổi sáo, ông còn có thể chơi được cả đàn tranh, đàn bầu, Tây-ban-cầm và dương cầm. Không xuất sắc lắm, nhưng cũng đủ để đệm cho các nghệ sĩ trong ban Tao Đàn chẳng hạn ngâm thơ, nếu chẳng may Ngọc Bích hay Phạm Đình Chương, bị kẹt xe hay vì lý do nào đó, không kịp có mặt trong phòng vi âm của Đài vào đúng giờ phát thanh hay thu thanh.

Cũng nên nhắc lại ở đây, trong rất nhiều năm chương trình của ban Tao Đàn cũng như các ban văn nghệ khác, của Đài đều được phát thanh trực tiếp. Chỉ mãi về sau này các chương trình mới được thu thanh [vào băng nhựa] trước.

Ông khởi sự viết từ năm 1950, cộng tác với các báo Đời Mới, Thẩm Mỹ, Sáng Tạo, Nghệ Thuật, Khởi Hành … và từng làm chủ bút các báo quân đội Chiến Sĩ, Tiền Phong, Văn Nghệ.

Tác phẩm của Tô Kiều Ngân đã được xuất bản gồm hai cuốn: “Người Đi Qua Lô Cốt” [tập truyện ngắn] và “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa” [Thơ]. Dù Tô Kiều Ngân có viết gì chăng nữa, đối với các độc giả ông vẫn có vẻ là một nhà thơ nhiều hơn nhà văn. Tô Kiều Ngân thuộc rất nhiều thơ, thơ Việt Nam, thơ Đường, thơ Tây.

Những người quen biết ông nói rằng, có dịp được đi dạo chơi với ông, trong cảnh chiều, cảnh sáng, một cơn gió, một vạt nắng, một trận mưa, qua các kinh rạch, vườn tược, ở đâu dường như ông cũng đã có sẵn một vài câu thơ đọc cho nghe. Những câu thơ như thế qua giọng đọc của ông dễ dàng  thấm lan vào lòng người nghe cùng một lúc người ta có cảmtưởng như mọi vật trở nên đẹp hơn.

Người ta cũng cho rằng, nghe Tô Kiều Ngân ngâm thơ trên Đài khác với nghe ông đọc thơ bên ngoài. Ông thường đọc chứ không ngâm. Nhất là nếu lại được nghe Tô Kiều Ngân đọc thơ của chính ông thì quả là một điều thích thú, khó quên:

Này đây em con đường

Này đây em đồng cỏ

Này đây ánh tà dương

Đây vầng trăng mới nở

Này đây tiếng hồ cầm

Này đây hương suối tóc

Này đây tiếng em cười

Này đây lời em khóc

Màu áo em tím buồn

Bài thơ em vẫn thích

Ôi đây những con đường

Chiều mưa tuôn rả rích

Thôi rồi thôi rồi thôi

Anh trở về kỷ niệm

Ngồi đợi tháng năm tàn

Xóa phai tình thương mến

Tô Kiều Ngân còn dịch rất nhiều thơ Đường ra Việt ngữ.

Một trong những bài thơ dịch ông thường đọc cho các bằng hữu nghe là bài “Hoài Thương Biệt Hữu Nhân” của Trịnh Cốc:

Dương liễu giang đầu dương liễu xuân

Dương hoa sầu sát độ giang nhân

Sổ thanh phong địch ly đình vãn

Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần

Bản dịch của Tô Kiều Ngân như sau:

Đầu sông dương liễu xanh xanh

Hoa dương buồn chết lòng anh sang đò

Chia tay địch thoảng mơ hồ

Tiêu Tương bạn đến tôi vô xứ Tần.

Tô Kiều Ngân có đủ các điều kiện để có thể qua Mỹ theo diện HO, nhưng ông đã quyết định ở lại Việt Nam. Cấp bậc sau cùng của ông trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là Trung Tá. Ông đã bị đi tù cải tạo nhiều năm.

Ông tên thật là Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926 tại Huế.

Tô Kiều Ngân

Gió bụi một thời

dongsongcu.wordpress.com

Phan Xuân Sinh

Posted on September 9, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 4 Oct 2025

Ảnh minh hoạ

Tôi rời Đà Nẵng gần cuối năm 1974 để vào sống tại Sài Gòn. Trong dự trù, sau khi giải ngũ tôi được lãnh số tiền trợ cấp hàng tháng để yên tâm đi học trở lại. Số tiền nầy dư giả cho tôi trang trải mọi chi phí về chuyện ăn ở tại Sài Gòn mà không cần sự trợ cấp của gia đình. Tất cả hồ sơ giải ngũ của tôi từ Trung Tâm 1 Quản Trị được gửi vào Trung Tâm 3 Quản Trị. Nếu không có biến chuyển gì thì tháng 4 năm 75 tôi sẽ ra Hội Đồng để duyệt xét mức độ tàn phế…nhưng chiến cuộc leo thang, mọi dự định liên quan đến cuộc đời tôi đều trật.

Tháng 3 Đà Nẵng mất, suốt ngày tôi lang thang ngoài phố, ngồi các quán café Thu Hương, Thanh Bạch v.v… ở đường Lê Lợi tìm người quen mới chạy thoát vào Sài Gòn, để hỏi thăm tin tức liên quan tới Đà Nẵng, liên quan đến gia đình đang kẹt lại. Mọi tin tức tôi thu lượm được đều xấu. Tối về mở radio để nghe BBC hay VOA về tình hình chiến sự ngoài đó, tôi đều thất vọng. Làn sóng di dân vào phía Nam bằng mọi phương tiện nhiều vô kể, trong đó những thảm cảnh xẩy ra cho người dân không ít. Chỉ có người dân gánh chịu mọi hậu quả tang thương nhất trên con đường chạy loạn.

Một hôm, ngồi một mình trên chiếc ghế kê sát vỉa hè của quán Thanh Bạch, tôi gặp Cường đang đi trên hè phố, mặc bộ đồ lính của Trinh Sát Trung đoàn 51, lon trung úy màu đen trên cổ áo. Bộ đồ lính thân quen với tôi, đến khi tôi bị bỏ cuộc tại chiến trường, mới rời nó. Tôi đứng dậy gọi Cường. Cường đứng lại nhìn tôi rồi chạy lại ôm tôi. Hai đứa ràn rụa nước mắt, không ngờ rốt cuộc hai đứa lại gặp nhau tại Sài Gòn. Cường không ngờ rằng tôi vào được Sài Gòn giữa lúc tình thế hổn loạn như thế nầy, với tấm thân tật nguyền của tôi, chứ Cường không biết tôi đã vào trước. Còn tôi không nghĩ gặp lại Cường vì đơn vị của Cường lúc đó đang trấn thủ tại địa đầu giới tuyến, không cách nào thoát được. Cường cùng một khóa với tôi ở quân trường Thủ Đức, 2 đứa ra cùng 1 đơn vị đại đội Trinh Sát của Trung Đoàn 51/ Biệt lập, đóng quân tại Quảng Nam. Sau khi tôi bị thương trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 thì đơn vị ra Huế sáp nhập vào Sư Đoàn 1. Sư Đoàn 3 vào Quảng Nam thay chổ của Trung Đoàn 51 cũ.

Tôi nhớ lại lúc mới ra trường, Cường với tôi làm trưởng toán viễn thám. Lúc nào nhảy viễn thám thì đi riêng theo toán của mình, còn lúc nào hành quân diện địa thì đi chung với nhau. Cường bao giờ cũng mang đầy đủ đồ đạc trong ba lô nặng trĩu khi đi hành quân, còn tôi sợ mang nặng nên đồ đạc mang theo đại khái. Trời lạnh tôi hay rúc vào chăn của Cường, hay khi dừng quân ăn cơm Cường bao giờ cũng chia cho tôi những đồ ăn mang theo. Tội nghiệp con bồ của nó ở Sài Gòn lấy chồng khác, làm cho nó mất ăn mất ngủ mấy tháng. Nó nói với tôi là tụi nó yêu nhau khi còn đi học hơn 2 năm rồi, ăn nằm với nhau như vợ chồng thế mà vẫn chia tay dễ dàng. Tôi nói đùa với nó là bởi vì mầy ăn nằm với con nhỏ thường xuyên, bây giờ mầy ở xa làm sao nó chịu nổi. Chẳng lẽ đêm nào cũng nằm chàng hảng chờ mầy sao? Đâu được, phải kiếm ngay 1 thằng khác để làm chuyện đó chứ. Con gái như vậy mới thực dụng, yêu mấy thằng tác chiến làm gì cho khổ, trước sau gì cũng chết, rồi chít khăn tang, rồi cô nhi quả phụ, đủ thứ lỉnh kỉnh, rắc rối cuộc đời. Lấy 1 thằng lính kiểng ở Sài Gòn khỏe re,đêm nào cũng bắt nó làm tình cho bỏ ghét. Cái lý luận cùn của tôi coi vậy mà thằng Cường tin phong phóc. Sau khi ăn cơm chiều, 5 thằng sĩ quan viễn thám ra ngồi trước hiên hút thuốc. Cường nói với tôi là tau nghĩ đi nghĩ lại mấy ngày nay, mầy phân tích đúng, thôi thì để cho nó lấy chồng cho rồi chứ chờ mình biết khi nào mới xong. Mấy thằng ngồi quanh cười hể hả bắt tay Cường như chia sẻ một chút đắng cay.

Chúng tôi ngồi trước quán Thanh Bạch mấy tiếng đồng hồ, kể cho nhau nghe về chuyện của đơn vị, chuyện riêng tư, chuyện thiên hạ. Nghĩa là nhớ đâu kể đó, nhớ đâu hỏi đó. Tôi hỏi Cường về Sài Gòn có gặp lại con bồ cũ của nó không? Nó cười cười khoái chí:

– Em nghe tau về có qua thăm, em khóc dữ lắm. Em bảo là gia đình của em bắt em phải lấy thằng đó cho an toàn. Còn tau ở tận ngoài Vùng 1, chổ khỉ ho cò gáy, chết sống mong manh. Chờ làm chi cho uổng đời con gái. Có một điều lạ, là khi gặp lại em, trong lòng tau dửng dưng hết sức. Em bảo là muốn có với tau 1 đứa con, nên tau chìu ý em. Sau khi thằng chồng đi làm là em qua nhà tau ở tới chiều, ngày nào cũng vậy. Thôi thì mình cũng làm ơn, làm phước một lần.

Nghe cái giọng đểu cáng của nó, làm cho tôi khựng lại. Một thằng khi mới ra đơn vị hiền lành, ngô nghê, bị mấy thằng lính chọc quê. Thế mà trong vòng mấy năm chiến trường trui rèn cho nó trở thành 1 con người cứng cỏi, lọc lừa như vậy. Cường kể cho tôi nghe về chuyện bỏ Huế ra đi, nó không ngờ tan hàng nhanh quá trong lúc các đơn vị vẫn còn đóng quân tại chổ. Đài phát thanh Huế kêu gọi các đơn vị tử thủ để giữ Huế. Trên máy truyền tin cấp chỉ huy ra lệnh không được di chuyển đơn vị, nằm yên tại chổ chờ lệnh. Chờ dài cổ không có lệnh lạc gì cả, gọi lại Phòng 3 trung đoàn, sư đoàn, thì không liên lạc được vì nơi đó tắt máy yên lặng. 7 giờ tối nghe BBC mới biết Huế sắp mất. “Quần Thần lơ láo” mạnh ai nấy chạy.

Cường hỏi tôi:

– Mầy còn nhớ thằng Thẻo không?

Tôi gật đầu.Thẻo là hạ sĩ mang trung liên của Trung đội Viễn Thám, nhà ở Cầu Hai, gia đình làm nghề đánh cá. Thẻo dẫn Cường chạy theo nó về nhà ở Cầu Hai rồi lấy ghe đưa Cường vào Lăng Cô, để nhập vào đoàn người chạy loạn vượt đèo Hải Vân vô Đà Nẵng. Từ đó Cường may mắn leo được lên tàu hải quân vào Vũng Tàu.

Trong những ngày gần cuối tháng 4 năm 75 tụi tôi sáng nào cũng đi uống café, chiều thì làm vài xị đế, nói chuyện đủ thứ trên đời, vui buồn, cười đùa, hằn học v.v.. phần nhiều nói về đơn vị cũ. Sau nầy có một thằng bạn của Cường phục vụ tại tiểu khu Quảng Nam cấp bậc thiếu úy, chạy thục mạng, qua bao nhiêu gian truân mới vào được tới Sài Gòn, nhập bọn với tụi tôi. Nó biết tôi là dân Đà Nẵng, nên cay đắng kể cho tôi nghe về những giờ phút hấp hối của Đà Nẵng trong những ngày cuối tháng 3.

Nó khinh tởm kể về những cấp chỉ huy hèn mạt của nó. Ngồi trên tàu cùng với vợ con chuẩn bị chạy vào Sài Gòn mà vẫn ra lệnh trên máy truyền tin cho các đơn vị tiếp tục chiến đấu. Đến giờ phút cuối mà còn lường gạt thuộc cấp của mình một cách hèn hạ như vậy, thì thử hỏi làm sao đất nước không rơi vào tay cộng sản nhanh chóng được. Tụi tôi những thằng sĩ quan cấp bậc tép riu, chỉ huy những đơn vị nhỏ, trấn giữ các tiền đồn heo hút làm sao chạy kịp. Khi đã biết mình bị bỏ rơi, thì liều mạng mở đường máu. Còn nếu không còn cách nào khác thì cùng với anh em, bắn tới viên đạn cuối cùng rồi tự tử. Tôi ngồi nghe mà thấm đau. Những nhọc nhằn, nghiệt ngã đối với anh em chúng tôi trong giờ phút cuối cùng của cuộc chiến, nó giống như những vở kịch mà người ta mang những mặt nạ cho thích nghi với cuộc sống, thay lên đổi xuống không ngượng ngập. Đầu óc của anh em chúng tôi trong veo, cả tin và chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của thượng cấp. Ngồi kể cho nhau nghe mà lòng của tụi tôi đầy ngán ngẫm, mọi thần tượng trong quân đội trước đây tụi tôi rất kính trọng, bây giờ đều sụp đổ.

Một lần ngồi uống rượu ngà ngà, Cường hỏi tôi có còn nhớ lần nhảy viễn thám ở quận Đức Dục không? Nghe nhắc lại tôi tỉnh người ngay. Làm sao tôi quên được một kỷ niệm khó quên. Lúc đó tôi và Cường mới về đơn vị. Trung đội tôi được chia thành 3 toán để đi nhảy viễn thám. Tôi, Cường và Sơn (Sơn ra đơn vị trước tụi tôi 3 tháng) là toán trưởng của 3 toán đó. Toán của tôi nhảy đầu, tôi vừa từ trực thăng nhảy xuống thì nghe tiếng hô “xung phong” vang dội núi rừng. Thằng lính truyền tin chỉ kịp bấm vào ống liên hợp của máy PRC25, báo cho đại đội biết là toán đã bị phát hiện, rồi tháo máy vất lại đó bỏ chạy. Sau nầy tôi được Cường cho biết là toán của tôi bị phát hiện nên 2 toán còn lại rút về ngay, chứ không nhảy viễn thám bữa đó. Trong 5 thằng tụi tôi trên người chỉ còn lại bộ đồ đang mặc còn tất cả vất hết. Vì phải lo thoát thân ra khỏi vùng bị phát hiện nên không biết địa hình và phương hướng. Từ sáng chạy tới chiều, mọi người mệt lả mới tìm chổ nghỉ chân. Khi tỉnh người lại tôi mới thất kinh, bây giờ tôi làm sao định hình để tìm điểm đứng của mình hiện tại, núi rừng trùng trùng điệp điệp trên tay không có máy tuyền tin, súng ống, bản đồ, la bàn v.v…

Chuẩn úy mới ra lò, kinh nghiệm chiến trường không có, mà lại cầm mạng sống của 5 thằng lính ngu ngơ như mình. Tôi không biết phải tính sao với cái vốn liếng chiến trường là con số không nầy, chỉ biết ngữa mặt lên trời phó thác cho số mạng. Lúc nầy tôi mới thấy sợ, đang ở trong vùng địch đóng mà trên tay không có một tấc sắt hộ thân, chỉ biết trông cậy vào đôi chân “chạy” của mình. Những bài học về “Mưu Sinh Thoát Hiểm” ở quân trường Thủ Đức sợ quá bay đi đâu mất. Trong đầu cũng chẳng còn một chút xíu nào trang bị cho một người lính khi gặp hiểm nguy. Tôi tự trách mình, khi học ở quân trường xem thường các bài học về chiến thuật, cứ ngủ gà ngủ gật, đêm ngày cứ lo viết thư tình cho mấy con bồ, không để tâm trí cho cái chuyện “làm quan” của mình, cái chuyện chết sống của đời mình. Tôi nghĩ trong đầu, nếu có dịp trở về Thủ Đức để học lại, hay tu nghiệp tôi sẽ không bao giờ bỏ sót một tiết học nào. Thế nhưng bây giờ thì quá muộn.

Ngồi nghỉ chừng 1 tiếng đồng hồ, tôi hỏi chung chung:

– Bây giờ mình đi, hay ngồi nghỉ ở đây?

Hợi (trung sĩ, toán phó) trả lời:

– Chạy từ sáng tới giờ, chân tay bủn rủn đứng không nổi thì làm sao mà đi được. Để anh em nghỉ đêm ở đây rồi mai tính sau, Thiếu úy ạ!

Thường thường trong các đơn vị quân đội, các thuộc hạ hay gọi chỉ huy của mình lên một cấp bậc. Nghe nó gọi mình là “Thiếu úy”, trước đây thì không sao, nhưng bây giờ tôi thấy nó mỉa mai quá. Một thằng sĩ quan ngu ngơ, mặt mày búng ra sữa mà chỉ huy 4 thằng kinh nghiệm đầy mình trên trận mạc. Tự nhiên sao tôi cảm thấy thẹn quá. Để đỡ bớt chút thẹn thùng nầy, tôi nói:

– Thôi được, mình di chuyển vào phía trong, tránh đường mòn xa xa để họ khỏi phát hiện. Tìm một lùm cây, anh em mình nằm chung với nhau, sống thì sống hết, còn chết thì cũng vậy cho có bạn.

Thằng Hải Con (sau nầy nó làm tài lọt cho tôi) xoay qua tôi:

– Đi hành quân, đừng nói chuyện “chết”, xui lắm Thiếu úy ơi!

Tôi làm thinh, cùng với anh em đi tìm chổ nghỉ. Tôi không tài nào ngủ được, một tiếng động nhỏ cũng làm cho tôi hết hồn. Nhìn qua bên cạnh, tôi thấy mọi người đều ngủ say, hình như họ quen với chuyện hiểm nguy, nên cứ tỉnh bơ. Còn tôi lần đầu tiên gặp hoàn cảnh nguy kịch nầy, sợ hãi và lo lắng không làm cho tôi chợp mắt được. Tôi ngồi dậy bò ra bên ngoài dựa lưng vào gốc cây, lấy nón lưỡi trai che kín để hút thuốc vừa canh chừng cho anh em ngủ. Hít một hơi thuốc thật dài, tôi thấy nó “đã” làm sao đâu, một hơi thuốc mà cả ngày không đụng tới, không thấy thèm, không nghĩ tới nó vì vừa sợ, vừa chạy. Còn bây giờ được ngồi yên một chỗ, định thần trở lại, bụng đói meo nhưng điếu thuốc cần hơn. Lật đồng hồ trên tay, bây giờ mới 5 giờ chiều mà núi rừng đã tối mò,còn một đêm dài dằng dặc phải nghĩ ra cách thoát khỏi nơi đây. Nhớ lại cái thời Đông Châu, nghĩ cái chuyện thoát thân thôi mà Ngũ Tử Tư sau một đêm đầu bạc trắng. Còn tôi bây giờ không biết có được may mắn như ông không?

Sau 1 đêm phờ phạc, chẳng nghĩ ra được cách thoát thân, hay sớ rớ bị họ tóm cổ. Tôi thông cảm tâm trạng của người trong tư thế cùng đường vì chính tụi tôi đang ở trong tình huống nầy. Sau nầy qua Mỹ, tôi có làm một bài thơ về nhân vật nầy:

*“… Ngài vượt qua cửa ải thoát thân

Ta cũng trốn chạy năm lần bảy lượt

Cái nguy của ta Ngài đâu sánh được

Rừng thẳm bể sâu tan xác như chơi

Ta mạt kiếp kẻ bất phùng thời

Sống chết trong đường tơ kẻ tóc

Thân rời rã, hồn xiêu phách lạc

Mê man mù tịt cõi đi về…”

Nửa đêm, tất cả đều thức dậy thầm thì bàn chuyện thoát thân. Tôi đề nghị, phải tìm cho ra một con suối rồi men theo bờ suối đi xuống đất liền. Để giải quyết tình trạng “khát nước” của tất cả anh em, còn “đói” có thể chịu đựng được vài ngày. 1 thằng toán viên làm khó tôi:

– Còn tới được đất liền, thì đi đâu?

Hỏi một câu mà tôi chưa nghĩ ra được cách trả lời. Tôi buộc miệng:

– Nhắm hướng mặt trời mọc mà đi.

Trời ơi, sao tôi thông minh quá vậy. Bài học ngày xưa thời tiểu học mà không biết đấng vô hình nào nhắc cho tôi nhớ lại. Miền Trung của tôi phía tây giáp núi, phía đông giáp biển. Cứ theo hướng đông mà đi thế nào cũng gặp Quốc Lộ 1, con đường xuyên Việt nầy là cái xương sống của đất nước, bao giờ cũng được lính Quốc Gia bảo vệ. Từ toán Phó cho tới toán viên mới bắt đầu tin tưởng vào tôi, thằng chuẩn úy non sữa nầy cũng còn có chút thông minh, đáng tin cậy được. Tôi nói với trung sĩ Hợi áp tai xuống đất nghe xem có tiếng nước chảy gần đây không? Hợi làm theo lời tôi và nói có nghe nhưng chắc còn xa lắm, vì tiếng kêu quá nhỏ. Tôi bảo cứ 15 phút thì áp tai một lần, nếu không nghe tức là mình đi trật hướng, còn nếu nghe tiếng nước rõ hơn, tức là mình đi đúng hướng. Thế mà tìm ra được con suối chúng tôi phải mất gần 5 tiếng đồng hồ. Tới nơi, việc đầu tiên là uống một bụng nước, tắm rửa nghỉ ngơi, sáng hôm sau đi tiếp. Đường trên núi thì chúng tôi ngày đi đêm nghỉ, còn dưới đồng bằng thì ngược lại ngày nghỉ đêm đi. Thật tình thì chúng tôi di chuyển rất chậm, đường trên rừng núi phải luồn lách để vượt qua và giữ cự ly với con suối để giải quyết tình trạng khát nước của anh em.

Một lần chúng tôi đi gần vào chổ đóng quân của quân giải phóng (tôi đoán như vậy). Vì chúng tôi thấy họ tắm giặt dưới suối. Tìm một bụi cây rậm rạp, cách con suối 50 mét, chúng tôi nằm yên bất động, để chờ không còn người nào thì chúng tôi mới di chuyển tiếp. Đây là lần đầu tiên tôi mới chạm mặt với những con người của giải phóng quân. Buồn cười nhất, có một người vắt cái khăn trên vai, vừa đi vừa nghêu ngao hát “Em ơi, nếu mộng không thành thì sao. Non cao đất rộng biết đâu mà tìm…” Bản nhạc Duyên Kiếp của Lam Phương, bản nhạc mà tụi tôi sau nầy hay đùa là nó cũng đã vượt lằn ranh của thù hận, tụi tôi nhìn nhau mĩm cười. Người anh em bên kia chiến tuyến cũng tình tứ quá đi chứ. Sau lớp đàn ông tắm xong, thì tới lớp đàn bà tắm. Con mắt mấy thằng tụi tôi muốn nổ tung vì cái cảnh thay áo quần của họ.

Gần 3 ngày sau, chúng tôi mới xuống được đất liền. Sức khỏe của anh em rất bệ rạc. Tôi bảo với trung sĩ Hợi là leo lên cây thật cao để quan sát tình hình chung quanh, đến chạng vạng tối là tụi tôi di chuyển thật nhanh. Đêm hôm sau vào lúc 1 giờ sáng chúng tôi tới được một khu nhà tranh cách 1 cái đồi chừng 500 mét. Đói quá không còn chịu nổi, chúng tôi mò vào nhà bếp của một trong những căn nhà đó để tìm cơm nguội. Không ngờ một ông cụ trong nhà phát hiện. Ông nằm trên nhà nói vọng xuống bếp:

– Mấy ông là Quốc Gia hay Giải Phóng?

Thằng Hải bò lên gần cửa nhà trên, trả lời nho nhỏ:

– Quốc Gia.

Ông thắp đèn dầu đi xuống bếp, rồi cũng nói nho nhỏ cho chúng tôi đủ nghe:

– Đi khỏi đây nhanh lên, căn cứ West đóng trên ngọn đồi đã mất cách đây mấy ngày.

Thằng Hải nói:

– Đói quá bác ơi, 5 ngày ni không có hạt cơm bỏ bụng, làm sao đi nổi. Bác làm ơn cho tụi con một chén cơm được không?

Ông già gật đầu, bảo tụi tôi lên nhà trên ngồi ở đó rồi ông nấu cho một nồi cơm, rang một lon đậu phụng, xong mang chén đủa lên nhà trên cho tụi tôi ăn trong bóng tối. Ông chỉ cho tụi tôi chạy theo đường mòn trước nhà, chừng 5 cây số sẽ thấy một cái đồn nghĩa quân. Chúng tôi không ngờ gặp được một người tốt như vậy. Quốc gia hay cộng sản đối với người dân vùng nầy lúc đó chẳng có gì quan trọng. Miễn sao để cho họ yên thân, còn bên nào cũng được. Tôi hứa trong lòng có dịp trở lại vùng nầy, tôi sẽ tìm gặp ông, cám ơn ông thật nhiều mà trong lúc nguy biến gấp quá, chúng tôi không nói gì được. Làm sao phải trả lại ông một món nợ vô cùng to lớn mà ông đã giúp cho chúng tôi trên con đường sinh tử của chiến tranh. Nghĩ vậy nhưng không bao giờ có một dịp gặp lại ông lão ấy. Một điều lạ, sau khi ăn uống xong trong người thấy phục hồi ngay, có lẽ vì quá sợ sẽ bị bắt nếu chần chờ trể nãi, vì vậy đứa nào cũng cảm thấy đủ sức chạy đường dài. Chạy đến 5 giờ sáng chúng tôi mới nhìn thấy đồn nghĩa quân hiện ra giữa cánh đồng mờ mờ, bao bọc chung quanh nhiều lớp concertina.

Dừng lại giữa đường, tôi nói với tất cả anh em là mình ra nằm ngoài bờ ruộng, vì đứng lại trên đường rất nguy hiểm. Một phần sợ nghĩa quân trong đồn bắn ra, một phần sợ du kích phát hiện, chúng tôi cùng nhau bò ra bờ ruộng để chờ trời sáng, nằm trong tư thế yên lặng. Khi mặt trời bắt đầu lên, mọi vật đều trông thấy rõ ràng, tôi giơ cao áo thun trắng cho lính gác trong đồn trông thấy, chúng tôi đứng trên bờ ruộng chờ đợi. Tôi thấy anh em nghĩa quân chạy ra giao thông hào trong tư thế sẳn sàng tác chiến, mọi họng súng chỉa đến chúng tôi. Một người lính trên vọng gác ra lịnh cho tụi tôi chỉ 1 người đến gần hàng rào nói chuyện, còn mấy người kia đứng yên tại chổ. Tôi bước đến trước nói chuyện với một người chỉ huy trong đồn (tụi tôi sau nầy mới biết đó là trung đội trưởng nghĩa quân). Tôi cho anh biết tên đơn vị của chúng tôi, nhảy viễn thám bị VC phát hiện nên phải chạy thoát. Bây giờ nhờ anh liên lạc giùm để cho trực thăng đến đón chúng tôi. Anh vào trong trại gọi máy chừng nửa giờ rồi bước ra báo cho tôi biết 1 giờ sau trực thăng sẽ tới.

Anh ra lệnh cho anh em trong đồn ra mở cổng cho tụi tôi vào bên trong. Khi vào trong đồn lúc ấy tụi tôi mới chắc chắn mình còn giữ được mạng sống. Anh nấu nước mời chúng tôi uống và hỏi chuyện đủ thứ. Trong lời nói chuyện anh rất nể nang chúng tôi, vì anh nghĩ 2 chữ “Trinh Sát” của tụi tôi đang mang là thuộc loại lính thứ dữ, chứ anh đâu biết bây giờ tụi tôi chỉ là những con “thỏ đế” run sợ trước mọi thứ. Tôi thầm khâm phục tinh thần của anh em nghĩa quân, sự chiến đấu dũng cảm của họ giữa cái đồn heo hút, súng ống không đầy đủ, lương bổng chẳng bao nhiêu và mọi thứ đều thiếu thốn, thế mà họ là mối khiếp sợ của du kích trong vùng đó. Sức chiến đấu gan lì của họ không thua gì các đơn vị chủ lực.

Anh lính nghĩa quân gác ngoài cổng gọi vào cho biết, có 3 chiếc trực thăng trên bầu trời. Tụi tôi mừng quá chạy ra bên ngoài nhìn lên, tất cả đưa tay vẫy. Tôi nói với anh Trung đội trưởng nghĩa quân cho tôi xin một trái lựu đạn khói, rồi bảo một người lính của tụi tôi chạy ra tìm một bãi trống ném trái khói ra đó để trực thăng đáp. Chúng tôi lần lượt bắt tay từng người lính nghĩa quân và nói lời cám ơn, rồi ra bãi chờ trực thăng bốc. 1 chiếc sà xuống bãi để bốc chúng tôi, còn 2 chiếc gunship bay phía trên làm nhiệm vụ yểm trợ. Leo lên được máy bay chúng tôi đưa tay vẩy chào các anh nghĩa quân trong đồn. Khi máy bay lên cao độ nhìn xuống tôi mới biết cái đồn nghĩa quân nầy heo hút thật. Tội nghiệp những con người chiếu đấu âm thầm không một lời than thở. Bay chừng nửa giờ, chúng tôi nhìn xuống thấy phi trường trực thăng của trung đoàn phía dưới, phi trường thân quen mà chúng tôi từng đi hành quân viễn thám hay diều hâu bằng trực thăng. Trông thấy lính đứng lố nhố dưới sân bay, tôi biết anh em trong đại đội trinh sát ra đón chúng tôi, tâm trạng buồn bã của mọi người trong 5 ngày mất tích của tụi tôi, như “một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”.

Họ mừng biết mấy thấy chúng tôi trở về, tâm trạng của những người cùng cảnh ngộ thương nhau lắm. Chúng tôi bước xuống máy bay, cả đại đội ào ra ôm lấy tụi tôi. Mừng mừng, tủi tủi như người chết đi sống lại. Đại úy Điệp, đại đội trưởng của tụi tôi đến bắt tay rồi ôm tôi, ông nói những lời khen tôi sẽ là một sĩ quan giỏi sau nầy. Tôi không có dịp thể hiện bài học Lãnh Đạo Chỉ Huy mà trong quân trường đã dạy, không ra 1 mệnh lệnh nào để cả toán chúng tôi tránh được sự truy lùng của VC. Chỉ biết chạy và trong cái may mắn đó là trên con đường di chuyển chúng tôi không đối mặt với họ. Thế thì tôi không biết làm thế nào tôi trở thành một sĩ quan tác chiến giỏi được. Tôi cúi mặt cảm thấy thẹn thùng với lời khen tặng đó. Trong trung đội viễn thám của tụi tôi các sĩ quan ở chung một phòng. Trung đội trưởng là Thiếu úy Âu (khoá 24 sĩ quan Đà Lạt, Âu cũng học một lớp với tôi thời trung học), trung đội phó là Thiếu úy Nguyên. Sơn, Cường và tôi chuẩn úy làm trưởng toán. 8 giờ tối ngày hôm đó, mệt quá tôi lo đi ngủ trước, còn những người khác ngồi đánh domino. Đang thiu thiu thì Sơn dựng tôi dậy bảo là Đại úy bồi dưỡng cho mầy, ngồi dậy ăn. Tôi nhìn trên bàn có một dĩa thịt gà lớn và 1 soong cháo. Thằng lính làm ở Câu Lạc Bộ mang đồ ăn cho tụi tôi. Sơn nói với nó là xuống lấy 1 lít đế lên, ghi sổ cho Thiếu úy Âu thiếu chịu. Âu hỏi Sơn tại sao lại ghi chịu cho tau. Sơn giải thích là Đại đội trưởng bồi dưỡng thức ăn thì Trung đội trưởng phải bồi dưỡng rượu chứ. Âu gật gù bảo với thằng lính còn đứng đó, mang cho tau 3 lít, để tau cho tụi nầy chết đêm nay. Thế là anh em tụi tôi ngồi uống tới sáng.

Tuổi trẻ của tụi tôi thế đó, được trui rèn và trưởng thành trong chiến tranh. Ngụp lặn giữa 1 biển lửa ngùn ngụt thiêu hủy tất cả. Sống sót được đó là một phép lạ. Tôi nhìn Cường ngồi gật gù trên ghế, mới có 6 năm trong chiến trường, mới có 27 tuổi đầu trông như một ông cụ non. Cái hồn nhiên không có trong tuổi trẻ của chúng tôi, mà hạt mầm nầy nó đã chai cằn và lụi tàn trong bệnh hoạn. Những gì nhớ lại đã trải qua trong thời chinh chiến, nó giống như một cơn lốc cuốn phăng tất cả chỉ còn để lại hoang tàn đổ nát cho một đất nước điêu linh, lòng người tan vỡ.

*(Bài thơ nầy trong tập “Đứng Dưới Trời Đổ Nát”, so sánh cái hiểm nguy của Ngũ Tử Tư và cái nguy hiểm của tôi khi tìm đường thoát thân ra khỏi đất nước. Ông thì ra khỏi đất nước nuôi chí lớn rất thành công. Còn tôi thì nuôi chí nhỏ lụn bại suốt cả cuộc đời. Khi viết bút ký nầy tôi thấy cái tình huống tương đối giống nhau nên tôi để mấy câu thơ vào).

Phan Xuân Sinh

(Nguyên là một cựu trung đội trưởng trinh sát của trung đoàn 51 BB. Ông đã để lại trên chiến trường một bàn chân. Đọc hồi ký chiến trường này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn về vai trò trinh sát, viễn thám, thám kích, biệt kích, mà phía Bắc quân đồng cho một tên: thám báo).

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 4 Oct 2025

Google photo edited by Sơn râu

13. Hai Mươi Bảy Năm Sau – Thời Thơ Ấu

CÁC biến chuyển xảy đến mau lẹ. Là công dân Venezuela, tôi có giấy thông hành và được cấp rất nhanh. Khi được trao giấy thông hành, tôi run lên vì cảm động. Tôi lại run một lần nữa khi đến nhận lại, từ Tòa Đại sứ Tây Ban Nha với con dấu chiếu khán thời hạn ba tháng. Tôi run khi người ta đóng dấu vào tờ thông hành lúc tôi bước lên tàu Napoli, một chiếc tàu rất đẹp chở tôi với Rita sang Âu Châu, đến Barcelone. Tôi run khi nhận tờ thông hành từ tay người cảnh binh Tây Ban Nha, sau khi được đóng chiếu khán nhập cảnh. Tờ thông hành cải tạo tôi thành công dân một quốc gia, là một bảo vật nên Rita đã may vào mỗi túi trong của áo tôi một phẹt mơ tuya kéo để trong bất cứ trường hợp nào không thể mất được.

Trong cuộc hành trình này, tất cả đều đẹp, ngay đến đại dương khi nổi lôi đình, ngay cả giọt mưa quất mạnh sân tàu, ngay cả người thủy thủ gác hầm tàu bẩn thỉu miễn cưỡng để tôi đi xuống xem chừng chiếc Lincoln đồ sộ chúng tôi vừa tậu có được chắc chắn hay không. Tất cả đều đẹp bởi vì lòng tôi và Rita như mở hội. Tại phòng ăn, phòng khách, chung quanh chúng tôi có người hay không, cặp mắt chúng tôi tìm nhau để trao đổi những ý nghĩ mà không ai nghe được. Chúng tôi đi Tây Ban Nha, gần biên giới nước Pháp vì một lý do mà trong nhiều năm tôi không dám mơ ước. Bằng ánh mắt tôi nói với Rita:

– Cám ơn cưng. Nhờ cưng mà anh tìm lại được người thân. Rồi chính em đã đưa anh tới.

Và ánh mắt nàng nói:

– Em đã hứa với anh một ngày nào đó, tùy anh, bất cứ ở chỗ nào, nếu anh tin em, anh sẽ đi gặp người thân của anh mà không e ngại gì cả.

Thật vậy, chuyến đi vội vã này là để gặp gia đình tôi trên đất Tây Ban Nha, xa lánh cảnh sát Pháp. Đã 26 năm tôi không gặp bà con. Họ đồng ý đến gặp tôi. Chúng tôi đã chung sống một tháng, chính tôi mời. Tháng nghỉ hè của họ, tháng tám.

Ngày này qua ngày khác, tôi thường đứng rất lâu trên sân tàu, như thể chỗ đó gần mục đích chuyến đi hơn. Tàu đã vượt qua Gibreltar, chúng tôi không còn thấy đất liền, sắp đến nơi.

Ngồi thoải mái trong một chiếc ghế dài ở sân tàu Napoli, hai chân gác trên miếng gỗ bán nguyệt màu trắng kéo dài chiếc ghế, mắt tôi nhìn vào chân trời để chờ trông thấy mảnh đất lục địa Âu Châu xuất hiện. Mảnh đất Tây Ban Nha dính liền với mảnh đất Pháp.

1930-1955: Hai mươi sáu năm. Lúc bấy giờ tôi 24 tuổi. Bây giờ năm mươi. Nhiều người chết trước khi đến tuổi này. Ngực tôi đập mạnh khi không thể lầm lẫn, tôi trông thấy bờ biển. Con tàu đi nhanh, nó lướt sóng vẽ thành thành chữ V đồ sộ, chân chữ V lớn dần, lớn dần đến lúc tan loãng trên mặt biển.

Lúc tôi từ biệt nước Pháp trên chiếc tàu Marinière, chiếc tàu đáng nguyền rủa, một thứ ngục thất trước khi đến ngục thất để đi Guyane, vâng, lúc chiếc tàu rời xa bờ, tôi không trông mảnh đất của tôi xa dần tôi vĩnh viễn (lúc bấy giờ tôi tưởng như vậy), bởi vì chúng tôi bị nhốt vào những cái chuồng bằng sắt dưới đáy tàu.

Còn bây giờ, trong chiếc áo khách chơi du thuyền, túi áo được Rita gắn phẹt-mơ-tuya kéo, bọc kỹ tờ giấy thông hành mới, do tổ quốc mới của tôi cấp, với một căn cước khác. “Người Venezuela, người Venezuela sao? Mày, một người Pháp, cha mẹ Pháp, hơn thế nữa, là giáo chức, lại là người tỉnh Ardèche nữa cơ chứ? Thế mới hay!”.

Mảnh đất Âu-Châu tiến lại rất nhanh nên tôi phân biệt rõ ràng các lồi lõm, trên mảnh đất ấy, mẹ tôi đã nằm xuống, cha tôi đã an giấc ngàn thu, và hiện những người thân của tôi đang sống.

Mẹ tôi? Một bà mẹ, một bà tiên, vâng, những nâng niu trìu mến giữa mẹ với tôi có một mối cảm thông sâu xa nên hai người chỉ là một.

Có lẽ lúc ấy tôi lên năm, ông ngoại Thierry mua cho tôi một con ngựa sắt rất xinh. Đúng là một con tuấn mã đẹp vô song. Mình màu nâu lợt, gần ngả màu hung! Chòm lông mao không chê được: đen, luôn luôn rũ về phía bên mặt. Trên đất bằng phẳng, mỗi lần tôi nhấn trên bàn đạp là bà vú phải chạy theo đứng gần tôi, rồi bà lại đẩy lên dốc để rồi qua một khoảng đường bằng nữa, tôi đến trường mẫu giáo.

Bà Bonnot, hiệu trưởng, bạn của mẹ tôi, đón tôi trước trường, vuốt mái tóc dài uốn cong nơi trên vai tôi như mái tóc con gái rồi nói với Louis, người gác dan:

– Mở cửa rộng ra để con tuấn mã vào trường.

Hùng dũng như Artaban, hai chân nhấn mạnh trên bàn đạp, tôi chạy ào vào sân trường. Trước tiên, tôi đi một vòng danh dự, rồi nhẹ nhàng, tôi bước xuống ngựa, tay sắm dây cương để cho nó khỏi chạy xa tôi. Tôi hôn vú Thérèse, bà đang đưa bữa điểm tâm của tôi cho bà Bonnot. Tất cả lũ bạn nhỏ của tôi, cả trai lẫn gái, đổ xô đến ngưỡng mộ, vuốt ve con ngựa sắt duy nhất trong cả hai thôn, thôn Pont d’Ucel và thôn Pont d’Aubenas.

Mỗi ngày trước khi đi về, tôi hơi đau lòng phải làm theo lời mẹ tôi dặn: luân phiên cho chúng nó mượn con tuấn mã. Tuy vậy, tôi vẫn cho mượn. Nghe chuông reo, Louis, ông gác dan, đem con ngựa lại chỗ nhà chơi, rồi sau khi sắp hàng và hát bài: “Chúng tôi sẽ không đi vào rừng”, chúng tôi vào lớp học.

Tôi biết rằng cách kể chuyện của tôi làm cho nhiều người mỉm cười, nhưng xin hiểu cho, khi tôi kể lại chuyện thời thơ ấu, không phải một người sáu mươi lăm tuổi viết cho giới thượng lưu xem, mà là một đứa bé, là bé Riri ở thôn Pont d’Ucel viết, bởi lẽ thời ấu thơ ấy ăn sâu vào tâm khảm, nó viết ra những chữ nó dùng lúc bấy giờ, những tiếng nó đã nghe, và mẹ tôi là một bà tiên, các chị tôi là “chị nhỏ”, tôi là “em tý” của các chị, cha tôi luôn luôn là “ba”.

Thời ấu thơ… một mảnh vườn có nhiều trái phúc bồn tử mà mấy chị em hái ăn trước khi chín; những trái lê mềm rệu chúng tôi không được hái, trước khi ba tôi cho phép, những cây lê thấp; và bò như một tên mọi da đỏ, để những người đứng ở cửa sổ trên lầu không trông thấy, tôi hái ăn đầy bụng đến nỗi phải bị tiêu chảy.

Đã tám tuổi đầu rồi mà nhiều khi tôi còn ngủ trên đùi ba tôi hay trong đôi tay má tôi. Tôi không nghe thấy có người thay quần áo cho tôi và những ngón tay thon mềm của má tôi tròng áo ngủ cho tôi. Nhiều khi trong lúc má tôi kéo chăn đắp cho tôi trên chiếc giường nhỏ. Tôi thức giấc, quàng tay sau cổ, ôm chặt má tôi, lâu, rất lâu, hình như vậy, rồi tôi ngủ trở lại không biết má tôi bỏ đi lúc nào. Tôi được cưng nhất trong ba đứa con: đúng quá, tôi là con trai, sẽ là người thừa kế giòng họ. Các chị lớn hơn tôi nhiều, rất nhiều. Chị cả đã mười một tuổi. Chị thứ mười tuổi. Thế thì dù sao cũng phải đối xử cho công bình, phải không? Ông vua là con đây phải vậy không má? Các chị là công chúa.

Mẹ tôi đẹp làm sao, mảnh mai, dong dỏng cao, luôn luôn phong nhã. Khỏi cần phải tỏ ra đây hình dáng của mẹ tôi. Mẹ tôi đẹp nhất, quí phái nhất, hiền dịu hơn tất cả các bà mẹ. Phải nhìn mẹ tôi đánh đàn dương cầm, ngay trong khi tôi quì trên ghế sau lưng bà lấy hai tay nhỏ xíu bịt mắt bà. Có một bà mẹ chơi dương cầm không xem bản nhạc, cũng không cần thấy phiếm đàn, còn gì kỳ diệu hơn! Vả lại, trời sinh mẹ tôi không phải để làm giáo viên. Ông ngoại tôi rất giàu, mẹ tôi không học trường công, mẹ tôi với dì Léontice học tại các trường đắt tiền nhất, chọn lọc nhất tỉnh Avignon, như tất cả các thiếu nữ con nhà trưởng giả! Không phải lỗi mẹ tôi nếu ngoại Thierry thích sống sang trọng, đi bằng xe song mã có hai con ngựa xám chấm trắng hùng dũng kéo chạy hay bằng xe độc mã bằng gỗ trắc, vâng, gỗ trắc, với một con ngựa ô lộng lẫy. Với số của hồi môn khá lớn, đáng lẽ người thiếu nữ đẹp như má tôi không phải đi làm và lấy chồng giàu sang, nhưng một ngày nào đó bỗng nhiên má tôi phải làm một cô giáo tầm thường. Tội nghiệp mẹ tôi, chỉ vì ông ngoại, tuy dễ thương nhưng sống rất hào hoa (ông không có vẻ gì như vậy), chơi bời trác táng tại Avignon và thường hay gặp các cô thôn nữ trẻ đẹp trong các cuộc du ngoạn đồng quê, nên mẹ tôi không còn của hồi môn và phải đi làm.

Dĩ nhiên các chuyện ấy, tôi loáng thoáng nghe được trong khi người lớn nói chuyện với nhau mà không để ý đến thằng bé, đặc biệt là dì Léontine đã đem ông ngoại về nuôi, ở Fabras. Vả lại, lẽ ra má tôi và chị tôi đã có thể cứu vãn một phần nào nếu ông ngoại không có ý nghĩ điên cuồng bày ra các khu vườn treo trên mái nhà ở Yvonegue. “Ba tưởng ba ở Babylone!” dì Léontine nói. Má tôi dịu dàng sửa lại: “Nói cho đúng, các khu vườn ấy thật rực rỡ”. Phiền một nỗi là vì mấy khu vườn rực rỡ ấy mà các ngôi nhà bị rạn nứt đến nỗi phải dùng thanh sắt hình chữ X để chống đỡ các bức vách. Kết quả: những ngôi nhà rất đẹp đã bán với giá rẻ mạt.

Ông ngoại tôi thật ghê gớm: Ông có một cụm râu cằm nhỏ và râu mép trắng như tuyết giống râu Raymond Poincaré. Tay trong tay, buổi sáng tôi đi với ông tôi từ nông trại này đến nông trại khác. Vì là thư ký tòa hành chánh xã Fabras (dì Léontine nói ông ngoại phải đi làm để trả tiền thuốc lá). Ông luôn luôn có những giấy tờ cần đem đến cho nông dân hay lấy từ các nông dân đem về xã. Tôi nhận thấy dì tôi có lý khi nói rằng ông ngoại dừng lại lâu hơn ở những nông trại có gái đẹp. Nhưng ông tôi lại giải thích với tôi rằng sắc đẹp của bà chủ nông trại mà chúng tôi dừng lại lâu không ăn nhập gì. Ông chỉ muốn trò chuyện với bà ấy vì bà ấy dễ thương và nói chuyện rất hay. Tôi thì khoái lắm vì đó là nông trại duy nhất người ta cho tôi cởi con lừa nhỏ và dẫn bé Mireille, cùng tuổi với tôi và biết nhiều chuyện hơn con bé láng giềng ở thôn Pond d’Ucel, đi chơi trò cha mẹ.

“Chúng ta sung sướng quá chừng” như má tôi thường nói.

– Cũng may mà ông Ngoại bị phá sản, má mới biết ba con, một con người tuyệt hảo. Vả lại, nếu má không mất của hồi môn, hôm nay đã không có con.

– Thế thì con ở đâu?

– Xa lắm, rất xa, nhưng chắc chắn là không ở đây.

– Ồ, má tiên nữ, Ông ngoại thích các khu vườn treo lơ lửng là hết sức may mắn cho con.

Lên tám tuổi, các chuyện dại dột bắt đầu. Tôi lén đi bơi ở sông Ardèche. Tôi học bơi một mình trong con kinh, con kinh sâu nhưng chỉ rộng có năm thước. Trong lứa tuổi bảy từ đến tám, dĩ nhiên chúng tôi không mặc quần tắm, cả bọn tắm truồng trùng trục, phải để ý đến ông phu tuần phiên. Tôi nhảy tũm xuống con kinh. Phải cho cái bụng đập xuống nước và nhờ trớn nhảy, đến gần bờ bên kia. Bơi sãi hai ba cái, được rồi, tôi vớ mấy cây lác. Đến nơi, một thằng lớn chờ mấy đứa nhỏ. Nó canh chừng chúng tôi rất cẩn thận. Chính nó, với lứa tuổi mười hai, ý thức đầy đủ trách nhiệm, đưa tay cho chúng tôi nắm để lôi chúng tôi lên bờ, hoặc nhảy xuống nước gấp khi có đứa không vớ được mấy bụi lác.

Đẹp thay những ngày nắng ấm trong nước trong veo của sông Ardèche! Những con hương ngư, dùng tay mà bắt! Tôi chỉ trở về nhà khi mình mẩy đã khô hẳn. Lúc ấy tóc tôi hớt ngắn, càng hay, nó khô mau hơn.

Cạnh Trường Tiểu học chúng tôi ở hai căn trên lầu nhất, vì ba dạy nam sinh, và má dạy nữ sinh, có một nông trại mở quán cà phê, do vợ chồng Ông Debannes làm chủ. Mỗi lần biết rằng tôi ở nhà hai Ông Bà ấy, má tôi yên trí, nên bất cứ đi đâu về, khi má hỏi: “Riri, đi đâu về đó?”, tôi đáp: “Ở nhà Ông bà Debannes”, là không bị rày la gì hết.

Năm 1914. Chiến tranh và ba tôi ra đi. Mọi người ra ga tiễn ba. Ba thuộc binh chủng Kỵ binh, sẽ về sớm. Ba nói với chúng tôi: “Ở nhà chóng ngoan, nghe lời má. Còn mấy đứa con gái, các con giúp má trong công việc bếp núc, vì rồi đây má sẽ dạy cả hai lớp, lớp của má và lớp của ba. Chắc không lâu đâu, ai cũng nói như vậy”. Rồi trên sân ga, bốn mẹ con nhìn con tàu lăn bánh, trên tàu ba đưa tay lên cao tạm biệt chúng tôi, nửa mình ba thò ra ngoài cửa để có thể nhìn thấy chúng tôi được lâu hơn.

Bốn năm chinh chiến không ảnh hưởng gì đến hạnh phúc gia đình chúng tôi. Phải thắt lưng buộc bụng thêm tý nữa. Tôi ngủ trên giường lớn với má tôi, tôi nằm vào chỗ ba tôi đang ở mặt trận chiến đấu anh dũng.

Bốn năm trong lịch sử thế giới không là bao.

Bốn năm đối với một đứa bé sáu tuổi rất quan trọng.

Tôi lớn nhanh, chúng tôi chơi trò làm lính và đánh giặc. Tôi về nhà áo quần tả tơi, mặt mày đầy cục u, nhưng dầu thắng hay bại, tôi vẫn vui vẻ, không bao giờ khóc. Má tôi băng bó các chỗ sây sát, đắp thịt bò tươi lên trên con mắt bị bầm. Bà dịu dàng la rầy tôi chút ít, không bao giờ la hét om sòm. Những lời khiển trách được nói thì thầm, vì không nên để cho các chị tôi biết má tôi giảng luân lý cho tôi, giữa má tôi với tôi mà thôi: “Riri cưng, con nên ngoan, má mệt rồi. Lớp học sáu mươi đứa, má đứt hơi. Con thấy đó, má chịu hết nổi, quá sức má, con ạ. Con nên giúp má, bằng cách phải ngoan ngoãn, và biết vâng lời”. Câu chuyện luôn luôn kết thúc bằng những nụ hôn và lời hứa sẽ ngoan hiền từ một ngày đến một tuần. Khi nào tôi cũng giữ lời hứa.

Chị cả tôi đã lớn, mười ba tuổi, Yvonse mười hai. Tôi vẫn nhỏ nhất và các chị ấy cũng thương tôi nhiều. Dĩ nhiêu lâu lâu tôi có kéo tóc các chị, nhưng cũng ít khi lắm.

Từ ngày ba ra đi chinh chiến, chiếc dương cầm được đóng lại, chỉ mở lại khi nào ba trở về.

Củi chất ở sân chơi nhà trường bị trộm, má tôi bực bội lo sợ ban đêm. Tôi nổi tức với má tôi, nhưng tôi lấy hai tay bé nhỏ ôm má, tôi có cảm tưởng tôi che chở má tôi: “Má ơi, má đừng sợ, con là đàn ông trong nhà này, con đã lớn đủ che chở cho má”. Tôi lấy cây súng săn của ba, để vào đó hai viên đạn bắn heo rừng. Một buổi tối, bà tiên của tôi thức giấc, lay tôi, mình toát mồ hôi, nói nhỏ vào tai tôi:

– Má nghe có kẻ trộm, có tiếng kéo miếng gỗ.

– Đừng sợ má.

Chính tôi trấn an má tôi. Tôi nhẹ nhàng đứng lên, như thế từ ngoài sân người ta có thể nghe tiếng động trong buồng. Tôi cầm súng trong tay. Hết sức cẩn thận, tôi mở cửa sổ, có tiếng kẹt cửa nho nhỏ, tôi nín thở, rồi vừa kéo cánh cửa về phía tôi, vừa dùng mũi súng hất chốt cửa, tôi kê báng súng vào vai, sẵn sàng bắn vào kẻ trộm, rồi tôi đẩy cánh cửa mở ra không tiếng động. Ánh trăng sáng trong sân như ban ngày: và chúng tôi thấy rõ trong sân chơi không có ai hết. Đống củi vẫn được xếp ngay ngắn: “Má ơi, không có gì hết, má đến xem coi”. Rồi hai mẹ con quấn lấy nhau, chúng tôi đứng một lúc ở cửa sổ, yên trí đã biết rõ không có kẻ trộm, má tôi sung sướng trông thấy con mình can đảm.

Mặc dù gia đình êm ấm, năm lên mười, vì không có ba tôi ở nhà, nên đôi khi tôi làm nhiều chuyện dại dột, tuy tôi không muốn làm cho má tôi, một bà tiên mà tôi yêu quí, phải buồn lòng, nhưng luôn luôn tôi mong, tôi tin rằng má tôi không bao giờ biết các chuyện ấy. Lấy đuôi một con mèo cột vào chuông của nhà người ta, đem chiếc xe của người phu gác sông quăng xuống cầu Ardèche trong khi anh ta đang lội xuống sông để bắt những người dùng lưới bắt cá. Còn những chuyện khác nữa… Dùng ná cao su bắn chim, và khoảng từ mười đến mười một tuổi, tôi với thằng bé Riquet Debannes đã đi ra ngoài đồng với cây súng của ba tôi để bắn một con thỏ mà nó đã trông thấy chạy nhảy trong một vườn trồng đậu. Lấy súng ra rồi đem cất lại mà không để cho má tôi biết, như vậy đến hai lần, thật quả là một kỳ công.

Năm 1917. Ba tôi bị thương. Ba tôi bị vô số mảnh đạn súng cối trong đầu, nhưng không nguy đến tánh mạng. Tin như sét đánh, do hội Hồng Thập Tự đưa đến. Không có tiếng la hét, hầu như không ai khóc. Hai mươi bốn giờ trôi qua, mọi người đều trầm lặng, má tôi dạy học, không ai biết gì hết. Tôi nhìn má tôi thán phục. Thường ngày, tôi ngồi ở bàn đầu, hôm nay tôi ngồi ở cuối lớp để canh chừng bọn học trò, quyết can thiệp nếu có đứa nào nghịch ngợm. Đến ba giờ rưỡi, má tôi chịu hết nổi, tôi cảm thấy như vậy vì đáng lẽ có bài Vạn vật. Má tôi đi ra sau khi viết trên bảng đen mẫu đề một bài toán và nói: “Cô cần đi ra vài phút, các em làm bài này trên vở toán”.

Tôi đi ra theo má tôi, bà đứng dựa vào cây Mimosa ở ngay cổng vào. Má tôi khóc. Má yêu quí của tôi đã gãy đổ. Hai chị tôi không có ở nhà, các chị học Trường Cao đẳng Aubenas, đến 6 giờ mới về.

Tôi đứng sát vào má tôi, không khóc. Trái lại, tôi tìm lời khuyên giải mà tôi và tâm hồn trẻ thơ của tôi đã tìm ra câu trả lời này, khi bà vừa nức nở, vừa nói: “Tội nghiệp ba con đã bị thương”, như thể tôi chưa biết việc ấy. “Má ơi, càng tốt, vì như vậy đối với ba chiến tranh không còn nữa, chúng ta vững tin ba còn sống trở về với chúng ta.” Bỗng nhiên má tôi nhận thấy tôi nói có lý.

– Ừ, đúng vậy. Cưng ơi, con nói có lý, ba sẽ còn sống trở về với chúng ta.

Một nụ hôn trên trán tôi, một nụ hôn trên má mẹ tôi rồi tay trong tay, chúng tôi trở về lớp.

Bờ biển Tây Ban Nha rõ dần, tôi có thể phân biệt các chấm trắng là những mái nhà. Bờ biển hiện rõ như đã hiện rõ kỳ nghỉ hè năm 1917 tại Saint Chamas, ba tôi được đổi đến đây để canh giữ kho thuốc súng. Các vết thương không nặng lắm, chỉ vài biến chứng do các mảnh đạn súng cối li ti còn ở trong đầu, chưa giải phẫu để lấy ra. Ba tôi được xếp loại phù trợ, sẽ không còn ra trận nữa.

Không thể tìm ra nhà ở vì người quá đông. Người ta sống trong các hang đá, Ba tôi đã thực hiện một việc màu nhiệm: cô giáo ở Saint Chamas để lại cho ba tôi căn nhà suốt kỳ nghỉ hè. Hai tháng trọn sống với ba! Trong căn nhà, có đầy đủ hết, kể cả một cái nồi kiểu Na Uy.

Chúng tôi đoàn tụ một nhà, tràn đầy vui tươi, sức khỏe, hạnh phúc. Má tôi mặt mày rạng rỡ, chúng tôi đã thoát khỏi cuộc chiến ghê gớm, nhưng đối với những người khác, chiến tranh vẫn tiếp diễn, má tôi nói: “Các con ơi, đừng nên ích kỷ, không nên chỉ nghĩ đến mình hoặc vui chơi lêu lổng. Không nên suốt ngày chạy nhảy, hái táo, mỗi ngày phải để ra ba giờ để nghĩ đến người khác”.

Chúng tôi theo mẹ đến bệnh viện: mỗi buổi sáng, bà đến đó để khuyến khích và săn sóc những người bị thương. Mỗi chúng tôi phải làm một cái gì hữu ích: đẩy xe lăn cho người bị thương nặng, đưa tay dìu người mù, buộc vết thương, gọt táo cho họ, viết hộ thư, nghe chuyện của những người bệnh nằm kể về gia đình, nhất là con cái.

Trên đường về, khi xe lửa đến Vogué, má tôi đau nặng nên chúng tôi đến nhà chị ba tôi ở Lanas, cách Aubenas ba mươi cây số, nhà cô Antoinette, cũng là một giáo chức.

Vị bác sĩ chẩn mạch nhận thấy mẹ tôi bị một bệnh truyền nhiễm kỳ lạ, có lẽ đã bị mắc khi mẹ tôi săn sóc cho những người lính từ Đông Dương về ở Saint Chamas, nên người ta bắt chúng tôi phải xa mẹ tôi.

Các chị tôi vào nội trú ở trường Cao Đẳng Aubenas, còn tôi thì vào nội trú tại trường Cao Đẳng con trai, cũng ở Aubenas.

Hình như bệnh mẹ tôi đã thuyên giảm, dù sao tôi vẫn buồn, tôi từ chối đi dạo với các bạn ngày chủ nhật hôm nay. Các chị tôi đến thăm tôi rồi trở vào trường. Tôi đưa hai chị ra khỏi cổng trường. Lúc ấy chỉ có một mình, tôi ném một con dao vào một cây ngô đồng. Mỗi lần ném, con dao đều cắm vào vỏ thân cây.

Tôi chơi như vậy cho qua thì giờ, lòng quặn đau, trên con đường ở trước trường. Con đường ấy đi từ ga xe lửa Aubenas cách đó phỏng 500 thước.

Tôi nghe tiếng còi mỗi khi xe lửa đến rồi đi. Tôi không mong đợi ai và vì thế tôi không cần nhìn dưới đường để xem những người từ xe lửa bước xuống.

Tôi ném con dao, rồi ném nữa, không biết mệt. Đã năm giờ chiều. Mặt trời xuống thấp, chói mắt, tôi đổi qua bên kia, rồi tôi thấy tử thần lặng lẽ đi về phía tôi.

Các sứ giả của tử thần, đầu cúi xuống, mặt khuất sau tấm vải nhung đen đổ xuống gần đụng đất, dù họ tang phục, tôi vẫn nhận ra đó là dì Ontine, cô Antoinetre, bà nội tôi, và phía sau là các ông có vẻ như núp sau các bà. Bà tôi, cúi quặp xuống, cùng ông nội ông ngoại tôi, đều mặc đồ đen.

Tôi không đi về phía họ, tôi không cử động, làm thế nào cử động được? Giòng máu tôi đã biến mất, tim tôi đứng lại, mắt tôi muốn khóc, nhưng không còn nước mắt. Đám người dừng cách tôi mười thước. Họ không dám, hơn thế, tôi chắc họ xấu hổ, họ muốn chính họ chết đi còn hơn gặp tôi và nói với tôi điều mà tôi đã biết rồi, bởi vì lối hóa trang thành những phù thủy bất thường đã cho tôi biết mà không cần phải lên tiếng: “Má con đã chết, chết một mình”. Có ai trong lúc má tôi chết? Không ai hết, bởi vì, ngay tôi là đứa con được má tôi cưng nhất cũng không có mặt. Chết và chôn mà tôi không hề thấy, chết mà không hôn tôi lần cuối. Ba tôi, như lúc đánh giặc dưới đường hầm có lẽ đi trước. Hầu như ba tôi đã gượng đứng thẳng người. Khuôn mặt thảm hại của ông chỉ còn là hình ảnh của sự đau khổ tuyệt vọng, nước mắt chảy không thôi, tôi vẫn không nhúc nhích, ông không đưa tay ra đón tôi, ông biết rằng tôi không cử động. Cuối cùng ba tôi đến với tôi, ôm tôi vào lòng mà không nói một lời nào. Lúc bấy giờ tôi mới òa khóc khi nghe nói: “Má mất đi gọi tên con”. Tôi ngã ra bất tỉnh.

Ngôi nhà mà cô Antoinette đến để thay thế mẹ tôi và phụ trách luôn hai lớp học, ngôi nhà có bà nội và ông nội tôi đã già, ngôi nhà tôi đã được đưa về lại vì người ta sợ tôi ở một mình trong nội trú, ngôi nhà mà một ông già đau khổ cùng hai bà cố gắng ban phát tình thương cho tôi, cha tôi vẫn còn tại ngũ, ngôi nhà mà mỗi căn phòng là một nơi thiêng liêng, mỗi đồ vật là một thánh tích, ngôi nhà u ám, buồn bã, chán nản, mặc dù đầy ánh sáng mặt trời cuối mùa hạ, ở đó ông nội nhắc đến ba tôi sắp về nhưng không bao giờ về, ngôi nhà mà tất cả đều làm cho tôi khó chịu, đau xót, mọi cử chỉ, lời nói dù thành thật đến mấy đối với tôi cũng có một kết quả ngược lại, ngôi nhà không còn là ngôi nhà của chúng tôi.

“Trước kia, má tôi không nói với tôi như vậy, hơn thế nữa các bà ấy không có quyền nghĩ rằng người ta có thể thay thế một bà mẹ như má tôi”. Tôi không còn muốn nghe những lời nói dịu dàng, tôi có thể nhận các cử chỉ săn sóc, ăn cần của các dì, cô, của ông nội ông ngoại, nhưng không nhận ngôn ngữ của một bà mẹ. Tôi không muốn bất cứ ai ru ngủ hay nuông chiều. Tôi nói điều ấy với các bà có thiện tâm ấy, mà không la hét, không chống đối, gần như một lời cầu xin. Tôi đoán họ đã hiểu.

– Con không muốn sống ở đây nữa. Xin cho con vào nội trú; con sẽ có đủ thì giờ để về ở cái nhà này trong mấy tháng hè, không cần con có mặt khi có học trò học.

Nghỉ hè, tại sao lại nghỉ hè ở đây? Không thể được, không thể chấp nhận chuyện ấy, cười đùa trong ngôi nhà này là xúc phạm đến người đã khuất. Nghỉ hè tôi sẽ đi Fabras, nơi nhà dì Ontine để cùng tụi bạn nhỏ của tôi đi chăn cừu, chăn dê trên các đồng cỏ, nơi mà tôi chưa hề đến.

Chiến tranh chấm dứt, ba tôi đã về. Một ông khách đến thăm ba tôi, ông ấy ăn phô mát và uống vài ly rượu chát đỏ. Hai người kiểm điểm những người trong xứ đã chết, rồi ông khách nói một câu rất vụng về: “Chúng ta đã thoát khỏi cuộc chiến tranh này, phải vậy không, ông Charrière? Cả người anh rể của ông cũng vậy. Nếu chúng ta không lợi lộc gì, chúng ta không mất mát gì”.

Tôi ra đi trước khi ông khách về, đêm đã xuống. Tôi đợi ông ấy đi qua và dùng ná cao su bắn một cục đá vào sau đầu của ông. Ông ta vừa la bai bãi, vừa vào nhà láng giềng để băng bó vết thương rỉ máu. Ông ta không hiểu ai đã ném đá vào ông và tại sao. Ông ta không biết rằng ông bị bắn là vì trong danh sách những nạn nhân chiến cuộc, ông đã quên kể một nạn nhân quan trọng nhất, một người chết không bao giờ đền bù được. Mẹ tôi.

Không, chúng ta khổ nhiều vì cuộc chiến tranh khốn nạn này.

Rồi mỗi năm, lúc tựu trường, tôi trở lại thành phố Crest, trong tỉnh Drôme, vào nội trú trường Cao Đẳng để học thi vào Đại Học Mỹ Nghệ tại Aix en Provence.

Rồi mỗi năm, tôi cùng ba tôi với hai chị tôi bỏ nhà đi nghỉ hè ở Fabras. Kỳ nghỉ hè này cũng đáng ghi nhớ lắm. Vì ba tôi đã có những ngôn ngữ, những cử chỉ, những âu yếm của má tôi.

Trong trường, tính tình tôi trở nên hung tợn. Tôi chơi bóng thuẫn, đứng hàng tiếp ứng. Tôi chơi tàn nhẫn, không chịu ai nhường và cũng không nhường đứa nào.

Tôi vào nội trú ở Crest đã sáu năm, trong sáu năm tôi là một học trò giỏi, nhất về môn toán, nhưng cũng trong sáu năm tôi bị điểm không về hạnh kiểm. Khi nào có đấm đá là có tôi đều đều, một hai lần mỗi tháng, tôi đánh lộn với tụi bạn học, luôn luôn là ngày thứ năm. Ngày chủ nhật, tôi ra nhà người bảo lãnh tôi hoặc tôi chơi bóng thuẫn.

Nhưng mỗi thứ năm, ngày thân nhân đến thăm học sinh, tôi cần phải đánh lộn, mỗi tháng ít nhất một lần, đôi khi hai lần. Không thể nào khác hơn.

Các bà mẹ đến thăm con, họ đưa con đi ăn ở ngoài trường rồi buổi chiều, khi nào trời tốt, các bà không làm gì hơn là đi dạo với con trong sân trường, dưới mấy cây dẻ. Mỗi thứ tư, mặc dù cố tự hứa sẽ không đứng ở cửa sổ thư viện nhìn cảnh ấy, nhưng không đừng được, ngày hôm sau, tôi không tự cưỡng nổi. Tôi phải đứng tại một chỗ có thể trông thấy tất cả. Và tôi đã phát giác hai thái độ đều làm tôi nổi tức.

Những đứa có mẹ ăn mặc xấu xí hoặc tồi tàn, hoặc quê mùa. Bọn này có vẻ xấu hổ vì mẹ chúng. Tôi trố mắt nhìn. Trời ơi, quả thật chúng xấu hổ thật. À, bọn khiếp nhược, chó má, khốn nạn! Vả lại, nhìn là thấy ngay. Thay vì đi cho hết vòng, hoặc đi tới đi lui cả chiều dài sân trường, chúng ngồi vào chiếc ghế dài, trong một góc, rồi không nhúc nhích cử động nữa. Chúng không muốn thiên hạ thấy mẹ chúng, chúng giấu đi, bọn chó má đã sớm tưởng rằng người trí thức, người sang trọng phải như thế nào, và trước khi trở thành Kỹ Sư Mỹ Nghệ, chúng muốn quên nguồn gốc của chúng. Những thằng ấy, sau này, khi đột ngột bị cha mẹ bất thình lình đến giữa lúc chúng tiếp bọn vô sở bất vi, có thể đưa cha mẹ vào trong bếp, rồi ra nói với khách: “Xin lỗi quí vị, đó là những người bà con xa ở tỉnh lên bất thình lình”.

Gây chuyện với hạng ấy không phải là việc khó. Khi một thằng đuổi mẹ nó về trước giờ bước vào thư viện, nơi tôi đang đứng, tôi tấn công lập tức:

– Ê, Pierrot, tại sao mày để mẹ mày đi mau vậy?

– Bà ấy có việc gấp.

– Không phải. Mày là một thằng nói dối, mẹ mày về thôn gấp bằng chuyến xe lửa bảy giờ. Tao nói cho mày biết tại sao mày đuổi bà về, tại mày xấu hổ vì bà. Đồ khốn nạn, mày thử nói tao nói không đúng xem sao!

Tôi luôn luôn thắng trong các trận đụng độ. Tôi đánh lộn quá nhiều nên trở thành rất giỏi trong nghề đấm đá. Cho dù tôi ăn đòn nhiều hơn đối phương, tôi cũng đếch cần, tôi vẫn thích thú. Tuy nhiên, không bao giờ tôi tấn công một đứa yếu hơn tôi.

Một loại khác làm cho tôi phẫn nộ, là loại mà tôi gọi bọn khoe khoang, với bọn này, tôi đánh hăng máu nhất. Đó là những đứa có mẹ đẹp, thanh lịch, quí phái. Khi người ta mười sáu, mười bảy tuổi, người ta hãnh diện trình bày cho thiên hạ trông thấy một bà mẹ như vậy, và chúng đã vênh vang nắm tay mẹ chúng đi qua đi lại, lại còn làm nhiều điệu bộ xem đến bực mình.

Mỗi lần nhận thấy một đứa có bộ tịch quá khoe khoang – gần như một sự khiêu khích, – hoặc khi thấy bà mẹ nó có dáng đi giống mẹ tôi, cũng mang bao tay, cởi ra hoặc cầm bao tay để thòng xuống rất duyên dáng, thế là không kìm hãm nổi nữa, tôi điên tiết lên.

Đương sự vừa bước vào là tôi nhào tới:

– Không cần phải khoe khoang, đồ cục mịch, vì có một bà mẹ ăn diện theo thời trang năm ngoái. Mẹ tao còn đẹp hơn, thanh lịch hơn, quí phái hơn nhiều! nữ trang của mẹ tao là thứ thiệt không phải đồ giả như của mẹ mày. Thứ đồ rẻ tiền. Dù tao không thạo cũng thấy ngay mà!

Không cần phải nói, phần nhiều bọn thanh niên bị tấn công như vậy không chờ hết câu đã đưa quả đấm vào mặt tôi. Thường thì quả đấm đầu tiên làm tôi xây xẩm. Tôi đấm đá như một thằng du đãng, đánh bằng đầu, đá bằng chân, thoi bằng cùi chỏ trong lúc xáp lá cà, trong tôi sôi sục hân hoan, như thể tôi đã chà đạp lên trên những bà mẹ đã cả gan khoe mình đẹp đẽ và thanh lịch bằng mẹ tôi.

Quả là có một mãnh lực nào thúc đẩy tôi, tôi không thể làm khác. Từ ngày mẹ tôi mất, khi tôi gần mười một tuổi, tôi vẫn giữ vết hằn về sự bất công mà số phận đã dành cho tôi. Tuổi mười một không hiểu vì sao người ta không thể chấp nhận sinh ly tử biệt. Những người quá già chết đi còn được. Nhưng mẹ mình, trời ơi, một bà tiên đang độ thanh xuân, đẹp đẽ, khỏe mạnh tràn đầy tình thương đối với mình, có thể nào chết được? Không phải chỉ có chuyện ấy mà tôi còn phải hiểu, phải chấp nhận cái chết đáng ghê tởm! Không, không thể được, không thể nào được! Các người hãy giấu kỹ các bà mẹ nếu không muốn tôi nổi loạn. Chưa hết! Có lẽ tôi ghen cả với con cừu non mà mẹ nó lấy lưỡi liếm để nó khỏi kêu be be.

Vì một trận đấm đá loại ấy mà đời tôi hoàn toàn thay đổi.

Quả thật thằng ấy không có quyền nằm ngủ thản nhiên sau khi đã đóng kịch buổi chiều. Tự cao tự đại hãnh diện về số tuổi mười chín, về môn toán được nhiều điểm, số một của các ứng viên kỳ thi sắp tới vào trường Cao Đẳng Mỹ Nghệ. Cao, rất cao, không chơi thể thao vì suốt ngày chỉ học gạo, nhưng rất mạnh. Một hôm trong khi đi dạo chơi, nó đã một mình dở lên cả một thân cây lớn để cho chúng tôi thò tay vào hang một con chuột đồng.

Thằng ấy đã trải qua một ngày thứ năm vui như hội! Một bà mẹ mảnh mai, thân hình gần thanh tú, không, phải trung thực mà nói, cũng thanh tú như mẹ tôi, một chiếc áo dài trắng điểm chấm xanh, cánh tay áo phồng, giống hệt áo của mẹ tôi. Đôi mắt mở lớn đen huyền, một chiếc mũ nhỏ xinh xinh có điểm thêm một mạng mỏng che mặt bằng vải tuyn trắng.

Và thằng sinh viên Cao đẳng Mỹ nghệ tương lai vênh vang đi dạo với bà ấy trong sân trường suốt buổi chiều, đi tới, đi lui, đi ngang, đi vòng quanh, đi theo góc chéo. Chốc chốc mẹ con lại hôn nhau, chẳng khác một đôi nhân tình. Đáng lẽ tôi phải ở vào địa vị của nó, đáng lẽ mẹ tôi tựa vào cánh tay tôi, rất nhẹ, như một con linh dương và tôi cũng hôn mẹ tôi trên đôi má mịn màng.

Nó vừa trở vào tôi tấn công ngay:

– À, mày hả! Mày giỏi làm trò xiếc cũng như mày giỏi toán! Tao không ngờ mày quá…

– Mày sao vậy Henri?

– Không sao hết, tao phải nói với mày chuyện vừa xảy ra, mày đã khoe mẹ mày như người ta khoe một con gấu trong rạp xiếc, để lòe các bạn học. Mày nên biết không lòe tao được đâu. Vì mẹ mày là đồ bỏ nếu so với mẹ tao, chỉ có hào nhoáng bên ngoài loại điếm hạng sang như tao thường thấy ở Vals les Bains trong mùa nghỉ hè.

– Tao sẽ đấm vào mặt mày và mày biết tao đấm khá mạnh. Rút lại câu mày vừa nói. Mày cũng biết tao mạnh hơn mày.

– Mày xìu rồi phải không? Này, tao biết mày mạnh hơn tao. Vậy thì để cân bằng lực lượng, chúng mình sẽ quyết đấu, mỗi đứa với một cây compa có mũi nhọn. Đi kiếm cây của mày đi, tao đi lấy cây của tao. Nếu mày không phải một thằng hèn, nếu mày chống đỡ nổi cả cho mày và mẹ mày, tao sẽ đợi mày ở sau cầu tiêu trong vòng 5 phút.

– Tao sẽ đến.           

Vài phút sao, nó ngã lăn ra, mũi compa của tôi đâm sâu đúng vào phía dưới quả tim nó.

Ba tôi đến. Ba tôi cao lớn, khoảng một thước tám mươi, có phần nặng nề, đúng là con Ông giáo và một bà nhà quê. Mặt ba tôi tròn, rất hiền từ, đôi mắt màu nâu lại điểm ánh vàng, tia mắt có phần thơ dại, có lẽ vì bọn học trò cứ nhìn vào mắt ba tôi như nhìn vào một tấm kính. Hẳn là đôi mắt ba tôi đã giữ lại như đã thấm nhuần một cái gì rất tinh khiết bí mật, mà chỉ tuổi thơ mới có: tính ngây thơ và hồn nhiên.

Đối với ba tôi, cái chết của mẹ tôi không chỉ là một sự mất mát khủng khiếp. Cái chết ấy không gây nên một vết thương được hàn gắn dần dần, mà là một vết thương vĩnh cửu, luôn luôn đau xót như ngày đầu. Mối tình của ba tôi tuyệt đối, duy nhất. Mẹ tôi, Loulou như ba tôi thường gọi, không còn hiện hữu bằng xương bằng thịt nữa, nhưng vì không thể đi bên cạnh ba tôi nữa, nên đã vô hình ẩn náu vào trong ba tôi hai mươi bốn giờ trên hai mươi bốn. Tuy vậy, vầng trán vẫn thanh thản. Trên vầng trán, không có vết hằn đau khổ hay lo âu. Nhưng ba tôi không còn có thể cười đùa, ca hát, dù nho nhỏ cũng không được. Vết hằn nằm sâu trong lòng ba tôi. Bề ngoài, ba tôi cố gắng giữ vẻ thanh thản tự nhiên. Tôi biết hiện nay ba tôi vẫn nhịn một bữa săn bắn vì có một học sinh cần được kèm thêm để thi đỗ. Vì trong làng và vùng phụ cận, ai cũng biết ba tôi rất thích ăn mía, nên chỉ xem đống mía đồ sộ ở cửa vào nhà chúng tôi là biết ngay, đã nhiều đứa trẻ được ba tôi nhẫn nại, nhẹ nhàng, cương quyết đưa đến đỗ đạt.

Tôi đã mười bảy tuổi khi tôi từ phòng ông dự thẩm bước ra. Ông khuyên ba tôi, nếu muốn ngưng tố quyền, phải buộc tôi ký tên đăng lính Hải quân. Tại ty cảnh binh Aubenas, tôi ký tên nhập ngũ ba năm.

Thực ra ba tôi không rày la tôi về lỗi lầm nghiêm trọng tôi vừa phạm.

– Henri, (ba tôi gọi tôi là Henri khi ông tỏ vẻ nghiêm khắc), Henri, nếu ba hiểu, và ba tin rằng ba hiểu, con đã đề nghị đánh nhau bằng khí giới bởi vì đối phương của con mạnh hơn con phải không?

– Thưa vâng.

– Thế là con bậy rồi. Chỉ bọn du đãng mới đánh nhau như vậy. Con không phải là một tên du đãng.

– Dạ.

– Con xem đó, con đã tự đưa con và đưa nhà mình vào tình thế hết sức rắc rối. Con nên nghĩ đến nỗi phiền muộn của mẹ con ở dưới cửu tuyền.

– Con không nghĩ đã làm cho má con buồn phiền.

– Tại sao vậy Henri?

– Chính vì má mà con đánh lộn.

– Mày muốn nói gì?

– Con không muốn thấy bọn bạn học đem mẹ chúng nó ra trêu tức con.

– Henri, ba nói cho con biết, không phải vì má con nên xảy ra vụ đánh lộn này cũng như các vụ trước. Không phải vì tình thương chân chính đối với má con. Lý do, con là một đứa ích kỷ, thấy không? Vì định mệnh đã đem má con đi, nên con muốn tất cả bọn con nít khác cũng không có mẹ như con. Như vậy không tốt, như vậy là bất công, nhưng con làm như vậy ba không ngạc nhiên. Ba cũng vậy, ba đau khổ khi một bạn đồng sự quàng tay vợ đến thăm ba. Ba không thể trông thấy hạnh phúc của họ, hạnh phúc đáng lẽ ba cũng được hưởng, còn hơn họ nữa, mà không nghĩ đến nỗi bất công thê thảm của số mạng. Tuy vậy ba không ganh ghét họ, trái lại, ba mong ước họ không phải gặp chuyện khủng khiếp như ba.

“Nếu quả thật con là hình ảnh của linh hồn mẹ con, con sẽ hoan hỉ khi thấy người khác sung sướng. Con xem đấy, để ra khỏi tình trạng này, con phải vào Hải quân. Ít ra cũng phải ba năm cực nhọc. Và trong ba năm ấy, ba cũng sẽ bị trừng phạt, vì con sẽ xa ba”.

Rồi ba tôi nói một câu khắc sâu mãi mãi trong tâm khảm tôi.

– Con biết không, tuổi nào cũng có thể mồ côi. Suốt đời con nên nhớ điều ấy.

Còi tàu Napoli làm tôi giựt mình và xóa mờ dĩ vãng xa xôi, những hình ảnh của tuổi mười bảy tôi cùng ba tôi bước ra khỏi ty cảnh binh, sau khi tôi ký giấy tình nguyện gia nhập Hải quân. Nhưng liền sau, xuất hiện trước mặt tôi cảnh tôi gặp ba tôi lần cuối, một cảnh đau lòng đến tuyệt vọng.

Cảnh ấy đã diễn ra trong một phòng tiếp thân nhân u ám của nhà tù La Santé, mỗi phòng cách nhau một thước, mỗi tù nhân đứng sau một hàng song sắt trong một thứ xà lim. Cổ tôi nghẹn lại vì xấu hổ, vì ghê tởm cho đời tôi đã đưa ba tôi đến đây khoảng ba mươi phút trong cái chuồng cọp này.

Ba tôi đến không phải để rầy la tôi đã là nghi can số một trong một vụ bẩn thỉu. Ba tôi đứng kia, vẻ mặt đau khổ như ngày nào ông báo tin mẹ tôi chết. Ông đã tự ý vào nhà giam này để thăm thằng nhỏ trong nửa giờ, không với ý định khiển trách hành vi bất hảo của nó, hay vạch cho nó thấy hậu quả của vụ này đối với danh dự và cuộc sống yên ổn của gia đình, ông không nói: “Mày là đứa con bất trị”, không, ông xin tha thứ đã không biết dạy dỗ tôi.

Ba tôi không đến để nói: “Mày đã phạm vào tội…”, trái lại, ông nói một điều tôi không bao giờ ngờ, một câu đi vào tận cùng lòng tôi hơn tất cả mọi lời khiển trách trên thế gian:

“Con vào đây, Ba nghĩ đó là lỗi tại ba. Con tha thứ cho ba, tha thứ cho ba đã quá nuông chìu con”.

Rồi chính trên Địa trung hải mà hiện giờ tàu Napoli đang nhẹ nhàng lướt sóng, chính trên biển này, sau vài tuần ở kho 5 Hải quân tại Toulon, tôi được đưa lên tàu Thionville. Một chiếc tuần dương hạm mảnh mai, thanh nhã đã được thiết trí để đạt tốc độ tối cao: không một chút tiện nghi, chỉ có rất nhiều hầm chứa than đá.

Không gì khó chịu hơn là không khí kỷ luật sắt của Hải quân vào năm 1923. Vả lại, các binh lính hải quân đã được sắp hạng từ một đến sáu tùy theo trình độ học vấn, tôi ở vào trình độ cao nhất, hạng sáu. Thế là một thanh niên mười bảy tuổi vừa bước khỏi lớp dự bị cao đẳng Mỹ Nghệ, không thể nào hiểu, không thể nào chấp nhận phải mù quáng và lập tức tuân lệnh những hạ sĩ quan, trình độ học vấn kém nhất. Nhiều lắm họ học đến lớp ba. Hầu hết là người xứ Bretagne. Tôi không có ác cảm với người xứ ấy. Để trở thành lính hải quân tốt, chịu đựng gian khổ, tôi không cãi họ. Nhưng về mặt tâm lý, đó là vấn đề khác.

Tôi nổi lên tranh đấu ngay. Tôi không thể tuân hành những lệnh không đầu không đuôi. Tôi không chịu theo học các lớp chuyên môn, đối với sở học của tôi đó là chuyện đương nhiên, và lập tức tôi được xếp vào hạng vô kỷ luật, bất khả dụng, không nghề chuyên môn.

Người ta dành cho chúng tôi các công việc ghê tởm nhất, bực bội nhất, tồi bại nhất. “Anh thuộc hạng bất khả dụng phải không? Thế là chúng tôi sẽ cho anh thành hạng làm gì cũng được”. Các tạp dịch như gọt khoai, đánh bóng đồ bằng đồng suốt ngày, bốc lên tàu những cục than đá nặng năm kí để sắp vào hầm tàu rộng lớn như sắp sách trong tủ thư viện, lau chùi sân tàu, tất cả đều là việc của chúng tôi.

– Anh đứng một đống sau ống khói làm gì đấy?

– Thưa trung sĩ, chúng tôi vừa rửa xong sàn tàu.

– Vậy hả? Thế thì rửa lại, mà lần này thì từ lái tới mũi. Lần này phải cho bóng hơn, nếu không sẽ biết mặt tôi.

Thằng chó ấy đã ở trong hải quân 15 năm. Trình độ học vấn: có lẽ lớp tư. Tụi nó còn nói nó không phải dân Bretagne ở bờ biển, mà là một thằng nông dân ở trong ruộng.

Một lính hải quân trông khá xinh với cái búp len đỏ trên mũ, cái áo ngoài xanh cổ rộng, cái mũ bê rê dẹp nghiêng trên vành tai, quần áo hào hoa như người thường nói. Nhưng bọn bất khả dụng như bọn chúng tôi, không có quyền cho sửa lại quần áo cho vừa với thân hình. Chúng tôi càng ăn mặc xốc xếch, bộ tịch càng tồi tàn, bọn hạ sĩ quan càng thích chí. Thế là có vụ lộn xộn. Trong hoàn cảnh như vậy, bọn cứng đầu không ngừng bày ra và phạm phải những lỗi lầm khá nặng. Ví dụ mỗi lần cặp bến, chúng tôi lên bộ và ở lại đêm trên phố. Đi đâu bây giờ? Trong các nhà điếm, dĩ nhiên. Tôi cùng một hoặc hai thằng bạn nữa có cách xoay xở. Mỗi đứa có gấp một con điếm, không những để làm tình không tốn tiền, mà còn được nó cho một hai tờ để ăn nhậu một chầu. Không phải chúng tôi mê các nàng mà chính các nàng khoái chúng tôi. Chúng tôi về bằng ngả công xưởng, vào lúc bốn giờ sáng, ngất ngư vì làm tình quá độ, lại còn say chếnh choáng.

Muốn về tàu, không khó. Chúng tôi tìm một lính canh người A Rập.

– Ai đi đó? Trả lời, nếu không tôi bắn! Mật hiệu là gì? Nếu mày không nói, tao bắn.

– Chính mày mới không biết. Cái đầu mày nhỏ quá nên mày quên mất rồi.

– Tao quên hả? Hôm nay là “Rochefort”.

– Mày nói đúng, được rồi.

Chúng tôi thoát và đi đến một lính canh khác.

– Ai đi đó? Khẩu hiệu!

– Rochefort.

– Tốt. Vào đi.

Các hình phạt cứ gia tăng. Mười lăm ngày tù, rồi ba mươi ngày. Để sửa sai một thằng hỏa đầu quân từ chối không cho chúng tôi một miếng thịt và một khúc bánh mì sau khi làm tạp dịch gọt khoai, chúng tôi lấy trộm luôn cả một cái đùi, nấu chín ngon lành, bằng cách thọc một chĩa ba vào lỗ thông hơi ở trên lò lúc thằng hỏa đầu quân quay lưng. Chúng tôi đem xuống hầm tàu ăn đã thôi. Kết quả: 45 ngày tù tại nhà giam hải quân; tại đây tôi học được câu: “Ở truồng là không mặc quần áo gì hết! Mày không biết sao?”. Tôi bị lột truồng trong sân nhà giam ở Toulon, trời mùa đông lạnh giá, trước bể giặt đồ; chúng tôi bắt buộc phải nhảy xuống đó.

Chỉ vì một cái mũ bê rê hải quân không đáng giá mười quan mà tôi phải ra trước hội đồng kỷ luật. Lý do: hủy hoại quân phục.

Trong hải quân, ít ra là trong thời kỳ ấy, mọi người đều bóp mũ của mình. Không phải để phá hủy, nhưng để cho đẹp. Người ta nhúng nước chiếc bê-rê, rồi ba đứa ráng sức kéo nó ra, khi nó đã rộng hết cỡ rồi, để vào trong một cái cốt vòng tròn để chiếc mũ có hình một cái bánh tráng. Bọn con gái thường bảo: “Chiếc mũ bánh tráng thật dễ thương hết sức”. Nhất là khi có thêm một bông len màu hỏa hoàng xinh xinh được xén tỉa cắt bằng kéo. Đối với các thiếu nữ trong thành phố bất cứ thuộc giới nào, sờ vào bông len mũ ấy rất hên, nhưng phải đổi bằng một chiếc hôn.

Lão đại úy lo ngại vì mấy đứa con khó thi đậu tiểu học. Lão cho rằng không phải lỗi chúng nó mà lỗi tại các thày cố ý đặt những câu hỏi nó không biết. Đối với con họ thì lại khác: giữa nhà giáo với nhau, họ bênh nhau. Thế mà tôi là con giáo viên.

Charrière, mỗi người một lần. Ở đây, với tôi, không có chuyện ân huệ. Trái lại!

Tôi trở thành nạn nhân của thằng cha đần độn ấy. Hắn không buông tha tôi, hành hạ tôi không ngừng. Đến nỗi tôi bị tù đến ba lần. Nhưng không bao giờ quá năm ngày 23 giờ, vì quá sáu ngày, sẽ bị kể là đào ngũ. Suýt nữa tôi bị xem là đào ngũ ở Nice. Tôi ngủ đêm với một con điếm ghê gớm và thức dậy quá trễ. Chỉ còn một giờ nữa tôi trở thành lính đào ngũ. Tôi vội vàng mặc quần áo chạy đi tìm một anh cảnh sát để được bị bắt. Tôi thấy một anh đứng đó và yêu cầu anh bắt tôi. Trúng phải một thằng cha mập bự, quá hiền lành, quá tốt bụng:

– Thôi nhỏ ơi! Không nên khùng như vậy! Hãy ngoan ngoãn về dưới tàu rồi giải thích cho người ta hiểu. Ai cũng qua một thời tuổi trẻ.

Dù tôi có nói rằng trong một giờ tôi sẽ trở thành lính đào ngũ, anh ta vẫn không chịu hiểu. Thế là tôi lượm một viên đá, quay về phía tủ kính bày hàng và nói với anh cảnh sát:

– Nếu anh không bắt tôi, tôi đếm đến ba là tôi cho tủ hàng kia bay lên trời.

– À, thằng nhỏ này điên rồi! Đi, về bót!

Thế là vì đã làm méo mó một cái mũ lính thủy để cho nó đẹp ra mà tôi bị đưa vào các trung đội trừng giới ở Calvi, trên đảo Corse. Không ai có thể ngờ đó là bước đầu đi đến tù đày.

Các trung đội trừng giới có y phục đặc biệt. Vừa đến nơi, chúng tôi được một “ủy ban tiếp nhận” đón; ủy ban này có nhiệm vụ xếp loại từng người, hoặc là phần tử nguy hiểm, hoặc là hạng lơ mơ, hoặc là loại bất lực. Buổi lễ thân mật ấy được mệnh danh là cuộc biểu diễn. Phải chứng tỏ rằng mình là người xứng đáng bằng cách thử sức liên tiếp với hai hay ba người cũ. Vì đã quen đấm đá ở trường Cao Đẳng Crest, nên tôi biểu diễn không tệ lắm. Đến trận thứ nhì, môi tôi bị tét, mũi bị sưng to, bọn cũ ngưng cuộc biểu diễn. Tôi được xếp vào hạng nguy hiểm.

Thời kỳ trừng giới. Tôi làm tại vườn nho một nghị sĩ người Corse. Từ lúc mặt trời mọc đến xẩm tối, không nghỉ, không có quà, vì cần phải trừng trị bọn cứng đầu. Chúng tôi không còn thuộc binh chủng hải quân, chúng tôi thuộc trung đoàn bộ binh 173 ở Bastia. Tôi còn nhớ vòng thành Calvi, đoạn đường đi bộ năm cây số đến Calenzana là nơi làm việc, vai mang cuốc hoặc xẻng, vòng về chạy bộ đến nhà giam. Thật chịu không nổi, thật là bất nhân. Chúng tôi nổi loạn, và vì tôi là một trong những người cầm đầu, nên tôi cùng mười hai tên nữa bị đưa đi một trại trừng giới ghê gớm hơn, trại Corté.

Một thành trì ở trên đỉnh núi, sáu trăm bực cấp phải leo lên và đi xuống mỗi ngày hai lần để đến làm việc gần một nhà ga, xây đắp một sân vận động cho quân nhân trong quận.

Chính trong địa ngục này, trong tập thể ma đầu này, tôi đã nhận được mấy chữ từ Toulon gởi đến, do một thường dân ở Corté lén đưa cho tôi: “Anh yêu quí, nếu anh muốn rời khỏi nơi khốn khổ này, anh hãy chặt ngón tay cái. Luật pháp ấn định rằng người mất ngón tay cái đương nhiên được xếp vào hạng phù trợ, nhưng trong trường hợp ngón tay ấy bị đứt vì một tai nạn lúc hành quân, thì được xem như bất lực vĩnh viễn và được giải ngũ. Luật ngày 1831, chỉ thị ngày 23 tháng 7 năm 1883. Em chờ anh. Clara”. Địa chỉ: quán Moulin Rouge, khu phố đặc biệt, Toulon.

Tôi thi hành gấp. Công việc của chúng tôi là mỗi ngày phải lấy trong núi ra độ hai thước khối đất chở bằng xe cút kít đến một nơi cách đó năm mươi thước để những chiếc xe vận tải chở những gì không cần cho việc tráng đều mặt sân vận động. Chúng tôi được chia từng toán hai người. Để khỏi bị kết tội đã cố ý hủy hoại thân thể, có thể bị thêm 5 năm tù quân kỷ nữa, tôi không nên chặt ngón tay cái bằng một dụng cụ sắt bén.

Cùng với Franki, một người Corse trong toán của tôi, chúng tôi đào từ chân núi thành một hầm khá rộng. Chỉ cần một lưỡi cuốc nữa là tất cả khối đất ở trên sẽ đổ trên đầu tôi. Bọn hạ sĩ quan canh giữ chúng tôi rất khắt khe. Trung sĩ Anbertini luôn luôn ở bên lưng chúng tôi, cách vài ba thước. Vì vậy âm mưu của tôi khó thực hiện, nhưng có điều hay là nếu mọi việc êm xuôi, thằng chả sẽ là một nhân chứng vô tư.

Franki đã để phía trên chỗ đất doi ra một tảng đá lớn có cạnh sắc, tôi để ngón tay cái tôi lên trên tảng đá và để chiếc khăn tay trong miệng để khỏi thét lên. Chỉ còn năm, sáu giây để cho đổ đóng đất xuống người tôi. Franki sẽ dùng một viên đá khác nặng gần mười kí để đập nát ngón tay tôi, công việc không thể hỏng. Bắt buộc người ta sẽ phải chặt ngón tay cái của tôi, dù cho nó không hoàn toàn bị đứt ra.

Lão trung sĩ đứng cách chúng tôi ba thước, đang gỡ đất dính vào đế giày. Franki cầm viên đá, giơ lên thật cao và đập xuống. Ngón tay cái của tôi dập nát. Tiếng động trùng hợp với tiếng cuốc của bọn khác, lão trung sĩ không thấy gì hết. Thêm hai phát cuốc, đất đổ trên người tôi, tôi để cho bị lấp vùi. Có tiếng la hét, tiếng kêu cứu, người ta lôi tôi ra và cuối cùng tôi lòi ra, dính đầy đất, ngón tay cái hoàn toàn dập nát. Tôi đau thấu trời xanh. Tôi cũng cố gắng nói với viên trung sĩ:

– Rồi đây chúng nó sẽ nói tôi cố ý làm ra thế này.

– Charrière, không sao đâu. Tôi trông thấy tai nạn, tôi nghiêm khắc nhưng đứng đắn. Tôi sẽ nói lên những gì tôi đã thấy, đừng sợ gì hết.

Hai tháng sau, tôi được giải ngũ, có tiền cấp dưỡng, ngón tay trái của tôi chôn tại Corté, tôi được chuyển đến kho 5 ở Toulon rồi được trả tự do.

Tôi đến cám ơn Clara, ở quán Moulin Rouge. Nàng nhận thấy không ai để ý đến ngón tay cái ở bàn tay trái và với bốn hoặc năm ngón tay, tôi vẫn mơn trớn ra gì. Đó là điều quan trọng. Giã biệt hải quân, đại đội trừng giới với tất cả những chuyện rắc rối.

– Ba nhận thấy con có thay đổi. Ba không biết rõ như thế nào. Ba hy vọng ba tháng vừa qua con sống với bọn thanh niên hư hỏng không để lại dấu vết nào.

Tôi hiện ở với ba tôi trong ngôi nhà của tuổi thơ ấu; tôi trở về đây ngay sau khi được giải ngũ. Phải chăng đã có sự thay đổi sâu xa trong tôi?

– Thưa ba, con không biết, nên không thể trả lời ba, hình như con dữ tợn hơn, ít chịu theo nếp sống mà ba đã dạy con lúc còn bé. Ba nói đúng, có một cái gì thay đổi nơi con. Con cảm thấy như vậy trong ngôi nhà này, nơi cha con mình đã sống hạnh phúc với má cùng các chị con. Con không còn thấy xấu hổ khi ở đây, bên ba. Có lẽ con đã chai lì.

– Con định làm gì?

– Ba khuyên con nên làm gì?

– Tìm công ăn việc làm càng sớm càng tốt. Con đã hai mươi mốt tuổi rồi.

Hai kỳ thi tuyển nhân viên. Một ở Rivas, vào bưu điện, và một ở Avignon làm nhân viên dân sự trong cơ quan hành chánh của quân đội. Ông ngoại Thierry cùng đi với tôi.

Thi viết và vấn đáp rất cừ. Nếu không đỗ đầu thì cũng vào mười người đỗ cao. Vì có đến một trăm mười chỗ, nên không gì khó khăn. Tôi đóng trọn vai trò, tôi làm theo lời khuyên bảo của ba tôi, tôi sẽ là công chức. Tôi thành khẩn, tôi trả ơn ba má tôi bằng cách ấy. Một cuộc sống đàng hoàng, lương thiện. Nhưng giờ đây, viết mấy giòng này, tôi không khỏi tự hỏi cậu bé Charrière, cũng là con một giáo chức, sẽ làm công chức được bao lâu với tất cả những gì đang sôi sục trong người?

Đọc kết quả được gởi đến trong buổi sáng, ba tôi hoan hỉ quyết định tổ chức một buổi tiệc nho nhỏ để ăn mừng. Dì Léontine, chú Dumarché, ông ngoại Thierry, bà nội. Một ổ bánh lớn, một chai sâm banh thứ thiệt, con gái một ông bạn của ba được mời dự tiệc. “Con bé là một người vợ xuất sắc cho thằng nhỏ”.

Lần đầu tiên trong mười năm, không khí vui vẻ trở về với ngôi nhà. Có một lúc tôi tự trách, nhưng rồi tôi chấp nhận mọi người cười vui dưới mái nhà này lần đầu sau ngày mẹ tôi qua đời. Tôi chấp nhận vì tôi đã vì cha mẹ tôi, quyết định như cha mẹ tôi đã sống, một cuộc sống dung dị.

Tương lai sẽ được bảo đảm, đầy tin tưởng.

– Rồi bây giờ thì chắc rồi, Henri đỗ thứ ba. Thế là trong hai mươi năm, nó sẽ có một sự nghiệp tốt lành.

Tôi đi dạo quanh vườn với người con gái mà ba tôi mơ ước được biến thành cô dâu và sẽ đem lại hạnh phúc cho tôi. Nàng khá xinh, con nhà gia giáo, có phần quí phái và rất thông minh. Nàng có một điều khiến tôi thích nàng: mẹ nàng mất đi khi nàng vừa lọt lòng, như vậy là tôi giàu tình mẫu tử hơn nàng. Tôi sẽ không là kỹ sư Mỹ nghệ, nhưng tôi sẽ có một địa vị khả quan.

Hai tháng sau, bom nổ!

“Vì lý do ông không thể nạp cho chúng tôi chứng chỉ hạnh kiểm tốt trong hải quân, chúng tôi rất tiếc báo tin không thể tuyển dụng ông”.

Buổi sáng người phát thơ đem bưu phiếu truy lãnh 6 tháng tiền cấp dưỡng cựu chiến binh, ba tôi vắng nhà. Từ ngày nhận được văn thư đã làm tan biến hết ảo vọng, ba tôi buồn bã, ít nói. Ba đau khổ.

Tại sao phải tiếp tục như thế này? Mau lên, một chiếc va li, vài bộ quần áo, mình nên lợi dụng cuộc họp giáo chức ở Aubenas để biến đi.

Bà nội tôi bắt gặp tôi tại bực cấp:

– Henri, con đi đâu đó?

– Con đi đến nơi nào người ta không hỏi chứng chỉ hạnh kiểm của con trong Hải quân. Con sẽ tìm gặp một người đã quen lúc ở đại đội trừng giới tại Calvi, anh ta sẽ dạy con sống ngoài lề cái xã hội mà con đã ngu ngốc tin tưởng, anh ấy biết rõ con không còn mong gì nơi cái xã hội này. Con đi Ba Lê, đến Montmartre, nội ạ.

– Con sẽ làm gì?

– Con chưa biết, nhưng có lẽ không gì hay. Con xin giã từ nội, xin nội hôn ba giùm con.

Chúng tôi tiến rất nhanh gần đất liền, bây giờ đã trông thấy rõ các cửa sổ trên các tòa nhà.

Tôi trở lại mảnh đất này sau một cuộc viễn du rất lâu, để gặp lại những người thân thuộc sau hai mươi bảy năm trời.

Gia đình tôi nay ra sao? Hơn hai mươi năm họ đã sống, cố gắng quên tôi. Đối với họ, tôi đã chết, đối với con họ, không bao giờ có tôi, không bao giờ tên tôi được nói đến. Hoặc giả chỉ trong một đôi lần trong vòng thân mật, với ba tôi, có lẽ vậy. Mới từ năm năm nay, họ phải dần dần tạo ra cho con họ một ông cậu Henri đang sống ở bên Venezuela.

Vâng, họ phải làm tất cả để xóa bỏ đứa em thằng cháu, thằng cậu của con cháu họ trong danh sách những người thương. Từ năm năm nay chúng tôi viết thư cho nhau. Họ viết những bức thư dễ thương, nhiều lời thân ái. Nhưng dù sao, họ cũng bị ràng buộc vì quá khứ, vì xã hội. Những bức thư, dễ thương lắm, hay lắm, nhưng họ không sợ tiếng thị phi sao, họ không ngại gặp lại một đứa em là một tên tù vượt ngục đi hẹn gặp ở Tây Ban Nha sao?

Tôi không muốn họ đến với một ý nghĩ làm một bổn phận, tôi muốn họ chạy đến với một tấm lòng chứa đầy tình cảm chân thành đối với tôi.

Tuy nhiên, nếu họ biết…

Nếu họ biết, trong khi bến bờ kia dần dần xích gần lại, dãy bến bờ đã lùi xa gấp cách đây hai mươi bảy năm, nếu họ biết rằng trong mười ba năm tù đày, tôi vẫn ở bên họ.

Nếu hai chị tôi trông thấy những hình ảnh sống động mà tôi đã tự tạo ra trong ngục thất, trong chuồng cọp nhà cấm cố!

Nếu các chị ấy biết tôi đã sống với các chị, với tất cả những người trong gia tộc, nhờ họ tôi đã thấy hoàn cảnh bất khả thắng, đã tìm thấy bình an trong tuyệt vọng, đã quên mình là một tên tù, đã từ chối tự vẫn, nếu các chị biết rằng những tháng, những ngày, những giờ, những phút, những giây trong những năm cô độc hoàn toàn, im lặng hoàn toàn, đã tràn đầy những hình ảnh nhỏ nhặt nhất của tuổi thơ ấu thần tiên.

Bờ biển mỗi lúc một gần thêm, chúng tôi trông thấy Bacelone, chúng tôi sẽ vào hải cảng này. Còi tàu vang lên: U! U! Tôi muốn dùng bàn tay làm ống loa để trước miệng hét lên niềm vui sống. “Hỡi bà con, tôi đến đây! Chạy mau lên!”, chẳng khác nào lúc còn bé tôi hét lên với họ như vậy trong các đồng cỏ ở Fabras khi tìm thấy một cụm hoa tím. “Tao xí phần rồi.” Yvonne vừa la lớn vừa lấy tay vẽ một vòng tròn tưởng tượng để cho tôi biết tất cả hoa tím ở đó là của chị ấy. “Phần chị, miếng này”, chị Hélène nói, luôn luôn rộng rãi. Tôi thì không chỉ riêng một chỗ nào, nhưng tôi nhanh tay hái hết hoa tím, bất cần thuộc quyền sở hữu của ai.

– Làm gì đó cưng? Em tìm anh gần một giờ rồi đó. Em xuống cả chỗ để xe.

Vẫn ngồi trên ghế, tôi vòng tay ôm Rita, nàng cúi xuống hôn nhẹ lên má tôi. Và chỉ lúc ấy tôi ý thức rằng, nếu tôi đến với gia đình tôi mang theo nhiều mặc cảm và nhiều thắc mắc, hiện giờ trong vòng tay, tôi có gia đình của riêng tôi, do tôi tạo lấy, gia đình đã đưa tôi đến đây. Và nhận thấy tác dụng màu nhiệm của một mối tình chân thực, tôi nói:

– Em yêu, anh vừa sống với dĩ vãng, vừa nhìn về mảnh đất đang tiến đến gần chúng ta, trên đó những người thân của anh đã chết và đang sống.

Thành phố Barcelone, chiếc xe hơi bóng lộn trên bến, các va li xếp ngay ngắn trong thùng xe, chúng tôi đi ngang qua đô thị ấy mà không ghé nghỉ đêm, vì chúng tôi nôn nóng vượt qua cánh đồng đi về phía biên giới nước Pháp trong một ngày chan hòa ánh nắng. Nhưng hai giờ sau, vì quá xúc động, nên tôi phải cho xe đậu bên lề đường lộ, vì không thể lái được nữa.

Tôi bước xuống, mắt hoa lên vì đã cố nhìn cảnh vật, những thửa ruộng cày lên, những cây ngô đồng cao vút, những đám lau lách lay động, những mái tranh, những mái ngói các trang trại nhà cửa, những cây bạch dương reo dưới gió, những đồng cỏ tập hợp tất cả các màu xanh, những con bò sữa đang nhai cỏ rung chuông nơi cổ, những vườn nho, ồ, những lá nho không đủ phủ kín những chùm nho tươi tốt. Mảnh đất Catalogne này, giống hệt vườn tược tốt của nước Pháp mến yêu, tất cả đều là của tôi, của tôi từ bao giờ từ khi tôi mới sinh ra, chính tôi đã đi dạo chơi với ông Ngoại tôi, trong cảnh sắc ấy, trong đồng ruộng ấy, chính trên cái luống cày ấy tôi đã mang túi săn của ba tôi, trong những ngày đi săn, chúng tôi xịt con chó Clara đuổi theo một con thỏ hay một con chim mỏ nhác. Ngay cả đến các hàng rào, cái khuôn viên nhà cửa cũng giống như bên quê nhà tôi. Lại những rãnh nước để tưới vườn, lâu lâu có một tấm ván bắc ngang qua, không cần đến gần tôi cũng biết trong ấy có nhiều ếch và với một lưỡi câu ở đầu một sợi dây cùng một miếng vải đỏ, tôi có thể câu như ngày xưa, câu mấy cũng được.

Và tôi quên hẳn rằng cánh đồng mênh mông kia ở Tây Ban Nha, bởi vì nó là hình ảnh y chang của thung lũng Ardich hay sông Rhône.Và cảnh vật mà tôi quên khuấy đi, khác hẳn cảnh vật tôi vừa sống trong hai mươi bảy năm, những khoảng đất không đếm hết thoai thoải xa tít, được chăm bón như những khu vườn của các linh mục hay của các ông giáo, cảnh vật ấy mê hoặc tôi như một người mẹ siết một đứa con vào lòng. Điều này không có gì lạ, tôi là con đẻ của mảnh đất này kia mà?

Và trên con đường giữa Barcelone với Figueras tôi đã ào khóc. Tôi khóc rất lâu, mãi đến lúc bàn tay của Rita dịu dàng, rất dịu dàng, đặt lên trên gáy tôi và tiếng nàng nói: “Ta nên cảm ơn Thượng Đế, rất gần nước Pháp của anh và chỉ ba ngày nữa là gặp người thân của anh”.

Chúng tôi nghỉ tại một khách sạn gần biên giới nước Pháp nhất. Ngày hôm sau, Rita đáp xe lửa đi Saint Péray tìm Dì Ju. Trong khi nàng đi, tôi kiếm thuê một biệt thự. Chính tôi cũng có thể đi đến đó, nhưng đối với cảnh sát Pháp tôi vẫn là một tên tù vượt ngục Guyane. Tôi đã thuê được một biệt thự rất đẹp ở Rosas, tại bờ biển.

Papillon, gắng kiên chí vài phút nữa, mày sẽ thấy từ xe lửa bước xuống người đàn bà đã yêu ba mày, người đàn bà đã nuôi dưỡng dưới mái gia đình, sự hiện diện cùng linh hồn của mẹ mày, người đàn bà đã viết cho mày những bức thư tuyệt diệu đã làm sống lại trong lòng mày hình ảnh của những người đã yêu mày và mày đã yêu.

Rita, bước xuống trước. Với những cử chỉ ân cần của một đứa con, nàng đưa tay đỡ một bà to lớn hiền lành, vóc dáng như một bà nhà quê, bước xuống sân ga. Tiếp theo là chiếc va li do một người hành khách nhã nhặn chuyền cho nàng.

Rồi hai cánh tay to lớn ôm lấy tôi, siết tôi vào lòng, đôi cánh tay ấy truyền qua tôi hơi ấm của cuộc đời cùng với muôn ngàn chuyện không thể diễn tả bằng lời. Đôi cánh tay nói với tôi: “Lâu quá! Hai mươi bảy năm sau, mặc dù ba anh đã vĩnh viễn khuất bóng, mặc dù má anh ra đi, đã ba mươi chín năm, có một người đã thay thế, dì đây, dì thay cho cả hai. Anh biết không, ba má anh ở trong tôi, không phải cánh tay tôi siết chặt anh, không phải hai cánh tay, mà sáu cánh tay mãi mãi về với anh, và nói với anh rằng chúng tôi luôn luôn yêu anh. Không bao giờ thời gian có thể làm phai mờ hình ảnh của anh, không bao giờ chúng tôi tin rằng anh có tội, không bao giờ chúng tôi bôi xóa tên anh trên danh sách những người thân quý. Nhất là, Riri, người con của chúng tôi đã bỏ nhà ra đi nay trở về, không bao giờ con nên nói lớn hay nên thì thầm, hay nên nghĩ rằng con phải xin tha thứ, vì chúng tôi đã tha thứ cho con lâu rồi”.

Thế là một tay quàng vai Rita, một tay quàng vai bà kế mẫu, tôi ra khỏi nhà ga, quên khuấy rằng hành lý phải cùng đi theo với hành khách.

Dì Ju reo hò như một thiếu nữ trước chiếc xe lộng lẫy của con bà. Dì Ju cũng tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhận thấy trong dịp cảm động đặc biệt này, các va li không được tham dự vào phép lạ đang diễn ra và không có chân để chạy theo chủ chúng nó đang hân hoan sung sướng. Rồi Dì Ju bảo tôi đi lấy chiếc va li không hồn, đồng thời dì cứ tiếp tục nói với thằng con của dì, không chút lo ngại về việc không đi lấy chiếc va li, có vẻ dì muốn nói: “Nếu có vĩnh viễn mất mày, cũng sẽ không mất gì nhiều, tao sẽ không tiếc gì mày cho lắm nếu vì lấy lại mày, ta phải hy sinh mấy phút không được gần gũi đứa con vừa tìm lại”.

Rita với Dì Ju đến lúc mười một giờ sáng, đến ba giờ sáng hôm sau, quá mệt vì đường xa, vì tuổi già, vì xúc động, vì mười sáu giờ liên tiếp cùng nhau gợi lại kỷ niệm xưa, Dì Ju đã ngủ vùi trên vai tôi như một đứa trẻ.

Tôi lăn ra giường và ngủ ngay, toàn thân ê ẩm như giần, kiệt sức, hết thở nổi, không còn chút nghị lực nào để thức. Một hạnh phúc lớn lao cũng đè bẹp con người như một tai họa lớn lao.

Dì Ju về nhà tôi, thức dậy trước tôi và chính họ đã đưa tôi ra khỏi giấc ngủ say sưa để cho tôi biết đã mười một giờ sáng, mặt trời sáng chói, trời trong xanh, cát vàng nóng rực, cà phê và bánh ngọt đang chờ tôi, phải ăn sáng thật nhanh rồi còn ra biên giới tìm chị tôi cùng gia quyến “sẽ đến lúc hai giờ”. Có lẽ sớm hơn, Dì Ju nói, bởi vì anh rể anh phải chạy nhanh hầu tránh cảnh vợ chồng anh bị gia quyến bao vây để mừng rỡ trước.

Tôi đậu chiếc Lincoln ngay gần đồn quan thuế và gần anh cảnh sát Tây Ban Nha.

Họ kia rồi!

Họ đi chân, vừa đi vừa chạy, bỏ lại ông anh rể tôi đang nối đuôi với chiếc D. S. tại đồn quan thuế Pháp.

Người dẫn đầu chạy đến tôi, hai tay đưa ra trước là chị Hélène. Chị chạy vượt qua miếng đất không thuộc về ai hết, đi từ đồn này đến đồn kia, từ nước Pháp sang nước Tây Ban Nha. Tôi tiến về phía chị, ruột thắt lại và cảm động. Lúc cách nhau bốn thước, chúng tôi dừng lại để nhìn kỹ trong đôi mắt của nhau. Đúng là chị Hélène thời thơ ấu của tôi, đúng là Riri, thằng em, thuở nào, ánh mắt mờ lệ của chúng tôi nói lên như vậy. Rồi chúng tôi ngã vào vòng tay nhau. Thật kỳ lạ. Đối với tôi người chị ngũ tuần ấy vẫn là người chị bé nhỏ thuở nào. Tôi không trông thấy khuôn mặt đã già của chị, tôi không thấy gì hết, ngoại trừ ánh mắt vẫn không thay đổi và đối với tôi, nét mặt của chị không thay đổi.

Chúng tôi quên tất cả mọi người, chúng tôi ở trong vòng tay nhau rất lâu. Rita đã hôn hết mấy đứa cháu. Tôi nghe: “Mợ đẹp quá!”. Tôi bèn quay lại, buông chị Hélène của tôi ra rồi đẩy Rita trong vòng tay của chị và nói: “Chị nên thương mợ ấy nhiều vì chính mợ ấy sẽ đưa em đến chị”.

Ba đứa cháu gái của tôi rất đẹp, anh rể tôi cao ráo khỏe mạnh, tỏ vẻ cảm động thành thật được gặp lại tôi. Chỉ thiếu thằng cháu lớn, Jacques, được động viên hiện chiến đấu ở Algérie.

Rồi chúng tôi đi Rosas, chiếc Lincol đi trước, chị tôi ngồi bên tôi.

Bữa ăn đầu tiên quanh một bàn tròn không bao giờ tôi quên được. Đôi lúc cặp chân tôi dưới chiếc khăn bàn run đến nỗi tôi phải đưa tay nắm lại.

Thời gian từ năm 1929 đến 1956 biết bao nhiêu chuyện đã xảy ra cho họ và cho tôi. Bao đoạn đường đã đi qua, bao cuộc tranh đấu để đến đây, bao trở ngại phải vượt qua! Trong bữa ăn, tôi không nói đến những năm tháng bị lưu đày. Tôi chỉ hỏi ông anh rể xem có gây phiền phức và đau khổ cho họ không. Anh vui vẻ trấn an tôi, nhưng tôi đoán họ cũng đã khổ nhiều vì đã có một người em, một người em vợ bị tù khổ sai: “Anh chị không bao giờ hoài nghi em và em nên nghĩ rằng dù em có tội, anh chị chỉ tội nghiệp cho em chứ không từ em”.

Không, tôi không hề kể chuyện về nơi tù đày, tôi không kể gì về vụ án xử tôi. Đối với họ, và tôi cũng thật tin rằng đối với tôi, đời tôi bắt đầu từ ngày nhờ Rita tôi đã chôn vùi con người cũ, mạo hiểm để làm sống lại Henri Charrière, bé Riri, con của giáo chức ở tỉnh Ardèche.

Mái ấm gia đình tôi đã nới rộng, tôi đã nới rộng, tôi đã tìm lại gia đình tôi. Mấy đứa cháu gái đã sung sướng bất ngờ có được một ông cậu từ trên trời rơi xuống với một chiếc xe Hoa Kỳ đẹp phi thường, kể lại các câu chuyện người da đỏ và vô số chuyện về đời sống của cậu ở Nam Mỹ. Quả là một ông cậu xứ Mỹ. Cậu cháu mến nhau vô cùng.

Tháng tám qua mau trên cát vàng bờ biển Rosas.

Tôi đã tìm lại dáng dấp của mẹ tôi khi thấy chị tôi gọi các con của chị. Tôi đã tìm lại những tiếng kêu la thời thơ ấu, những lúc cười không đâu, nỗi sung sướng của bé Riri trên bãi bể Palavas, nơi chúng đến nghỉ hè với ba má tôi.

Một tháng, ba mươi ngày, thật là quá dài trong một ngục tối đối diện với chính mình, nhưng thật ngắn ghê gớm khi sống cùng những thân quyến vừa gặp lại. Tôi thật sự say sưa hạnh phúc. Không những tôi đã tìm lại chị tôi, anh rể tôi, mà còn có những đứa cháu gái dễ yêu, những đứa hôm qua chưa biết, nay đã gần như con gái tôi.

Tôi đứng trên bãi bể với Rita rạng rỡ vì thấy tôi sung sướng. Đây là một thắng lợi của nàng, một món quà đẹp nhất nàng dàng cho những người thân của tôi và cho tôi. Tôi nằm chống tay trên bãi, trời đã khuya, có lẽ nửa đêm. Rita cũng nằm dài trên cát, đầu tựa vào đùi tôi và tôi vuốt tóc nàng:

– Ngày mai họ sẽ đi hết. Mau quá nhỉ, nhưng thật là thần tiên! Đúng vậy em ạ, không nên đòi hỏi quá nhiều, thế mà vẫn buồn vì phải xa họ. Biết khi nào gặp lại, một chuyến đi huyền viễn thế này quá đắt.

– Anh nên tin vào tương lai, em chắc có một ngày mình sẽ gặp lại họ.

Chúng tôi đưa mọi người đến biên giới. Họ đem Dì Ju cùng đi. Cách biên giới một trăm thước, chúng tôi chia tay nhau. Nước mắt không chảy vì tôi nói với họ tôi tin tưởng ở tương lai: trong vòng hai năm, chúng tôi sẽ nghỉ hè với nhau không chỉ một tháng, mà hai tháng.

– Cậu nói thật hả cậu?

– Thật mà, các cháu, thật và chắc.

Chiếc D.S. đen nhè nhẹ lướt đi. Tôi đứng trên đường lộ, Rita nép vào cánh tay tôi. Bao nhiêu khuôn mặt trong xe đều quay về chúng tôi, chúng tôi đưa tay vẫy mãi đến khi một chiếc xe khác đến đậu sát vào xe họ để trình diện với thuế quan Pháp.

Giã từ mọi người! Không biết có gặp nhau lại không.

Một tuần lễ sau, một chị nữa đổ bộ xuống phi cảng Barcelone, chị đi một mình. Gia đình chị không thể đi cùng. Chị vừa bước xuống phi cơ, trong đám bốn mươi hành khách, tôi nhận ra ngay. Và chị thì không chút bỡ ngỡ, tiến về phía tôi sau khi ở quan thuế ra.

Ba ngày ba đêm, và thời gian chị ở với chúng tôi quá ít nên tôi không muốn mất một phút, ba ngày ba đêm, hầu như trọn vẹn, chúng tôi lặng mình trong dĩ vãng. Chị với Rita mến nhau ngay và như vậy chúng tôi có thể kể cho nhau nghe nỗi niềm tâm sự, chị kể cả cuộc đời của chị, tôi thì những gì có thể kể được.

Phó chưởng lý, mày đã thua ván đầu, và các anh nữa, các anh bồi thẩm Pháp ra mặt đắc chí khi nghe tiếng “chung thân”, kết quả của sự phán quyết rất cân bằng, rất sáng suốt, rất lương thiện, rất công bình của các anh! Không ai trong các anh tiên đoán rằng con người mà các anh đưa đến “máy chém khô”, về sau, đành rằng rất lâu về sau, có ngày sẽ đứng cách biên giới Pháp một trăm thước gặp lại thân quyến mình.

Tại đây, người ấy không núp trong bụi, ngoái cổ để xem có ai đuổi theo không, người ấy không đến để xin giúp đỡ hay cứu trợ cho gia đình, người ấy không đến như một kẻ chiến bại, bị săn đuổi, phải van xin từng mảnh tình thương, không, người đứng đó là một kẻ chiến thắng, đã đánh bại sự phán quyết phi nhân và bất công, đã chiến thắng bản thân vì đã trở nên thuần thục, đã chấp nhận sống gần như mọi người, chiến thắng trong đời sống, chiến thắng trong thành công, trước mắt mọi người, và để cho thiên hạ trông thấy, đã đến với chiếc xe hơi đẹp nhất trần gian, cầu kỳ sang trọng như chửi vào mặt mọi người.

Hai ngày sau, mẹ của Rita từ Tanger đến. Đặt hai bàn tay thon mềm trên hai má tôi, bà hôn tôi và nói: “Con trai của mẹ, mẹ rất sung sướng thấy con yêu Rita và Rita yêu con”. Trong hào quang của làn tóc bạc, mặt bà ánh lên một vẻ đẹp trong sáng huyền diệu mà luôn luôn tôi thấy phảng phất ở Rita.

Chúng tôi ở Tây Ban Nha quá lâu, hạnh phúc đã làm chúng tôi quên ngày tháng. Cho nên chúng tôi không thể về Venezuela bằng tàu biển, mất những mười sáu ngày. Chúng tôi sẽ đáp máy bay (chiếc Lincoln sẽ được chở bằng đường thủy sau), với lẽ chúng tôi phải lo công việc làm ăn.

Tuy nhiên, chúng tôi đi một vòng quanh Tây Ban Nha; trên các hoa viên lơ lửng trên không trung tại Grenade, một kỳ công của nền văn minh Ả Rập, phía dưới tháp canh, tôi đọc thấy khắc vào đá câu này của một thi sĩ:

Dale limosna, nuijér, que no hay en la vida nada comme la pena de ser ciego en Grenada, có nghĩa là: “Hãy bố thí cho nó, nàng ơi, vì trong đời không còn gì buồn khổ hơn là người mù ở Grenade”.

Có chứ, có một điều tệ hơn là mù ở Grenade, đó là đang độ hai mươi bốn tuổi, trẻ trung, khỏe mạnh, tin tưởng vào cuộc đời, vô kỷ luật, vâng, có phần không được lương thiện, nhưng không thật sự hư hỏng, dù sao cũng không phải là kẻ sát nhân thế mà lại bị kết án khổ sai chung thân vì một tội do kẻ khác phạm: Đó là vĩnh viễn biến mất một cách chung quyết, tuyệt vọng, chịu cảnh tàn rữa dần dần về một tinh thần cũng như thể chất mà không được muôn một cơ may ngóc đầu lên để trở thành một con người.

Biết bao người đã bị một nền công lý nghiệt ngã, một chế độ lao tù phi nhân đã nghiền nát và thủ tiêu dần dần đã muốn trở thành người đui ở Grenade! Tôi là một trong những người ấy.

Vết Nám – Hồi Ký Tù Cải Tạo

Hoàng Long Hải

Posted vào Tháng Ba 8, 2015 bởi quanvan.net 

Post by Sơn râu 4 Oct 2025

 “Tôi xin vào… tắm”

Bài 12

“Chưa bắt chước chuột, đã lo ỉa bếp.”

(tục ngữ)

Ở trại “tù cải tạo” nầy có nhiều điều thật buồn cười đến đau xót. Cả chục gian nhà nằm trong vòng rào thứ nhất. Nhà cầu, nhà xí hay cầu tiêu, hay nhà ỉa, như các nói của Bộ đội”, gọi thế nào cũng được lại nằm trong vòng rào lớn, nhưng lại ngoài vòng rào nhỏ.

Khi đi cầu, anh em ít khi dùng giấy lau đít vì kiếm không ra giấy. Có trường hợp như anh Bùi Thành Trai được quản giáo khen là người “chịu khó nghiên cứu triết học Mác – Lênin” vì anh đã nhờ quản giáo mua một lượt mấy cuốn sách bàn về chủ nghĩa Cộng Sản. Loại nầy giá rẻ lắm.

Anh ta có nghiên cứu gì đâu!

Khi quản giáo khen Bùi Thành Trai chịu nghiên cứ chủ nghĩa Mác, cả đám đang đứng trong hàng cười rúc rích. Anh ta cả đời đọc chưa hết trang sách đã ngáy khì khò rồi, nghiên cứu cái gì được!

Bùi Thành Trai mua sách để lấy giấy làm cái việc vệ sinh ấy. Anh em khác không tiền hay tiếc tiền thì mỗi lần đi cầu, xách theo một cái loon sắt hay một cái chai bia lớn đựng nước.

Thấy người ta xách cái chai đi ngang qua, họa sĩ Nguyễn Uyên nói đùa với tôi: “Đi nhậu! Xách bia đi nhậu đấy!” Nói xong, Nguyễn Uyên cười nham nhở, hề hề!

Ra tới cổng hàng rào trong, người tù đứng lại, ở tư thế “nghiêm”, bỏ cái chai xuống đất, cất mũ, ngó lên cái chòi cao, có “chú bộ đội” chưa đầy 20 tuổi, ngồi canh, “vách đốc củ tỏi” trên đó, nói lớn:

– “Báo cáo anh! Tôi đi ngoài.”

Khi còn do “bộ đội quản lý trại giam”, “tù cải tạo” gọi bộ đội bằng anh, dù là sĩ quan cũng vậy. Ở trại do Công an quản lý, không được gọi bằng anh, phải gọi là cán bộ. Cấp chỉ huy thì gọi bằng ban, có nghĩa là ban tham mưu hay ban gì đó, không phải là ban cua hay ban sởi (bệnh sởi).

Gặp “chú bộ đội” dễ tính, chờ anh ta trả lời “đi đi” thì mới đi. Chưa có lệnh đi mà đã đi có thể bị khiển trách, bị mắng, bị đuổi vào hoặc bị dọa bắn… Chỉ dọa thôi chớ chưa bắn lần nào.

Gặp “chú bộ đội Bắc kỳ” từng “đứng lên đánh đổ bọn cường hào ác bá” thì “chú bộ đội”, chỉ mới là “vệ binh”, chưa vào hẳn “giai cấp thống trị”, đã có thái độ không khác gì với giai cấp đã từng bị đánh đổ, chưa thành chuột đã “bắt chước chuột ỉa bếp”. “Chú bộ đội” bắt bẻ:

– “Đi đâu mà gọi “nà” đi ngoài. Muốn trốn trại hả? Đi ỉa thì báo cáo “nà” đi ỉa. Nhớ không?”

Anh “tù cải tạo” nói “báo cáo nhớ”, cho xong chuyện. Thế là được nghe hai tiếng “đi đi!”

Anh ta đội nón lên đầu, cái chai cầm tay đi ra nhà cầu. Khi đi cầu xong rồi, về gần cổng, cũng phải đứng lại, thế “nghiêm”, bỏ mũ và cái chai không xuống, quay mặt về hướng chòi, nói “báo cáo anh! Tôi vào”.

Chờ “chú bộ đội” bảo “vào đi!” mới được vào. Gặp khi “chú bộ đội đang ngủ gà ngủ gật, không nghe “báo cáo” thì người đi cầu đứng nghiêm chờ cũng… hơi lâu!

Gặp “chú bộ đội” nhiễu sự, nếu báo cáo là “đi ỉa” hoặc đi cầu, “chú” lại bắt bẻ:

– “Ăn nói gì mà bất “nịch” sự thế”. Không được “lói” “nà” đi ỉa. Phải gọi “nà” đi ngoài. Nghe không?”

Thế là trái nghịch với “chú bộ đội” trước, nhưng anh tù cải tạo cũng cứ “báo cáo anh! Tôi nghe!” không cần thắc mắc. Thế cho xong để được đi…ỉa.

Anh bạn Cường của tôi gặp trường hợp khá buồn cười. Tại anh ta đãng trí hay hôm đó bị tào tháo đuổi gấp quá nên khi “báo cáo anh”, anh bạn tôi quên… cất mũ. Vậy là “chú bộ đội” nổi sùng vì cái tội vô lễ không cất mũ. “Chú bộ đội” “giáo dục” sự “vô lễ không cất mũ” bằng cách:

– “Đứng đó, không đi đâu hết!”

Anh bạn tôi đành đứng đó, như trời trồng, mặt mày nhăn nhó, khó chịu, vặn vẹo thân mình. Anh ta chẳng dám đi ra mà cũng chẳng đi vào vì “chú bộ đội” bảo “đứng đó”. Hồi lâu, “bài học tập giáo dục” đứng nghiêm tại chỗ chấm dứt. “Chú bộ đội” nói:

– “Đi đi!”

Anh bạn tôi bèn nói:

– “Báo cáo anh, tôi xin vào đi… tắm.”

Nói xong, không cần “chú bộ đội” nói thêm gì nữa, anh ta ba chân bốn cẳng chạy nhanh ra giếng, mượn gầu của người ta đang múc nước ở đó mà dội ào ào lên người, không cần cởi quần áo.

Câu chuyện anh ta xin vào đi… tắm trở thành đề tài cho anh em vui cười, chọc quê. Có lần, Cường bực mình nói:

– “Đ. má nó. Tao hận cái thằng bộ đội nầy suốt đời.”

Không biết về sau, nếu khi Cộng Sản hô hào “Hòa hợp hòa giải”, anh ta có thể quên câu chuyện ỉa… trong quần để hòa hợp với họ được không!?

Nhà cầu nầy mới xây, theo kiểu Tây, nghĩa là chỗ ngồi thì trên cao, phân người rơi vào những cái thùng sắt đặt bên dưới.

Hằng ngày, những cái thùng phân ấy được lôi ra, đổ xuống hố, vài ba tuần, có khi phân chưa kịp “hoai” thì đã được moi lên, đem bón rau muống để “làm giàu quê hương, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”.

&

Chúng tôi được chia thành từng đội ở trong các nhà số 2, số 3, số 4, v.v… Nhà 1 đã có người ở trước, tại đây có hai “nhân vật” đặc biệt, một là “Hùng Con”, dân “Bắc Kỳ ri-cư”, như người ta thường đùa với nó, hai là “Quảng Què”, dân Saigon lâu năm, nhân vật nào cũng có thành tích lạ lùng như sau:

Gọi là “Hùng Con” vì anh ta nhỏ tí chút, cở bằng đứa bé 11 hay 12 tuổi, nhưng theo anh ta thì anh đã lớn tuổi. Có lần anh ta nói:

– “Em cháu mới lấy chồng!”

– “Uở, mầy chừng đó mà có em gái lấy chồng. Sao nó lấy chồng sớm thế?” – Có người hỏi.

– “Không! Cháu lớn rồi, cháu gần 20 tuổi, bởi vì “Mỹ Ngụy” chích thuốc làm cho cháu không lớn để cháu dễ đi vào những chỗ đánh nhau lấy tin cho họ nên cháu mới nhỏ con vậy.” “Hùng Con” giải thích.

Lắm người không tin, mắng nó:

– “Mày nói tằm bậy! Mỹ Ngụy nào mà làm thế. Mày nghe Việt Cộng tuyên truyền đấy! Biết chửa? Người ta thiếu gì phương tiện tình báo.”

“Hùng Con” nói:

– “Thật ra, cháu cũng không biết đâu! Khi “cách mạng” bắt cháu điều tra, họ nói vậy nên cháu tin như vậy!”

Có người nói to, cười:

– “Chết cha rồi! Tin Dziệt Cộng là đời mày tiêu luôn. Mày ở tù là phải.”

“Hùng Con” láu cá nói:

– “Cháu thì tin chút ít nên bị bắt còn mấy chú tin nhiều nên đóng tiền để đi ở tù.”

Thấy nó nói vậy, nhiều anh em bỏ đi. Có người nói: “Thằng láu cá!”

Thật ra thì “Hùng Con” có làm tình báo cho Sư Đoàn Dù. Hồi Mậu Thân, nó khoảng tuổi giống như tuổi người ta đoán bây giờ, được một đơn vị Dù nào đó đang hành quân ở An Phú Đông, nhờ nó đi vào xóm nhà dân, giả làm người chạy nạn để dò xét binh lính Cộng Sản còn núp lén trong đó.

“Hùng Con” “hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc”, được thưởng tiền, được giới thiệu về sư đoàn để tiếp tục công việc do thám ở nhiều nơi khác, giúp cho Dù nhiều trận đuổi Việt Cộng chạy có cờ. “Hùng Con” được phong làm “Hạ Sĩ Danh Dự” và được tướng Dư Quốc Đống nhận làm con nuôi. Đấy là anh ta nói vậy, không biết trúng trật vào đâu nhưng có điều thật là sau ngày 30 tháng Tư, “Hùng Con” bị bọn “Dziệt Cộng nằm vùng” tố cáo. Bộ Đội tới tận nhà bắt “Hùng Con” đem đi điều tra, xong cho vô tù, trại Suối Máu.

“Hùng Con” có một màn biểu diễn rất hay làm mọi người để ý, thích thú.

Tối tối, “Hùng Con” sang các nhà khác chơi, xin một điếu thuốc lào. Thằng bé 11 tuổi hút thuốc lào thành thạo như một dân ghiền điệu nghệ. Nó cầm cái điếu, thổi vào nõ cho tàn thuốc còn sót lại bay ra; xong, hai ngón tay nhỏ của nó xe xe viên thuốc lào cho thật tròn, gọn, đặt vào nõ. Nó lấy ngón tay ém viên thuốc cho chặt, một tay thì cầm đóm lửa đang cháy, một tay từ từ đưa cái điếu lên miệng, đặt ngay ngắn vào giữa hai hàng môi. Nó rít một hơi thật dài. Ngọn lửa bị sức hút kéo vào nõ, đốt cháy hết thuốc trong nõ. Tiếng nước trong điếu kêu lên sọc sọc, giòn giã. Xong, “Hùng Con” đặt điếu xuống, nhẹ nhàng nằm ngữa người xuống chiếu, nhắm mắt lim dim. Có người nói to: “Phê! Phê! Nó phê (1) rồi đó.”

“Hùng Con” vẫn nhắm mắt, miệng nở nụ cười thật tươi. Nhìn nó, ai cũng vui và lần sau, “Hùng Con” chưa kịp xin, người ta đã gọi nó cho thuốc hút. Không chắc người ta thương nó, nhưng người ta muốn xem một hoạt cảnh ngộ nghĩnh. Một thằng bé 11 tuổi hút thuốc điệu nghệ còn hơn cả người lớn, những anh mới tập hút thuốc lào. Người lớn có thể say, có lần té vì đứng dậy khi vừa hút xong. “Hùng Con” thì khác. Kéo xong hơi thuốc lào, bao giờ nó cũng nằm ngã xuống chiếu, nhắm mắt để thưởng thức cái “phê” của thuốc lào.

Khỏi đi “lao động”, hằng ngày “Hùng Con” vui chơi từ nhà nầy qua nhà khác. Đôi khi “Hùng Con” cũng thuật lại những trận đánh ngày trước “Hùng Con” có tham dự, nhất là những trận đánh hồi tết Mậu Thân. Có khi, “Hùng Con” kể: “Dziệt Cộng nằm chết đầy đường, máu chảy lênh láng. Không có chỗ để cháu đặt chân đi qua. Cháu sợ muốn chết, nhưng cháu vẫn đi. Đã có lệnh sai đi thì cháu đi.”

Có lần, một anh chàng tinh nghịch nói:

– “Mầy nói mầy hai mươi tuổi. Mầy nói láo. Để tao coi cu mầy có lông chưa.”

Nói xong, anh ta xông tới. Mọi người cười hô hố, hưởng ứng. “Hùng Con” giận, bỏ đi. Không bao giờ “Hùng Con” trở lại nhà đó vì “mấy chú bất lịch sự.”

Một năm sau, khi tôi rời trại đi nữa thì “Hùng Con” vẫn còn đó.

Có người nói “Không thể giam tù một thằng bé con lâu như thế!” Có người lại nói: “Dziệt Cộng mà lớn bé gì. “Lao động là vinh quang” tuốt, chẳng chừa thằng nào.”

&

Nhân vật thứ hai là “Quảng Què”. Gọi như thế vì anh ta tên Quảng và què một chân. Anh nầy tuy lớn tuổi nhưng không lễ phép như “Hùng Con”. Với ai, “Hùng Con” cũng gọi bằng chú, bằng bác và xưng cháu.

“Quảng Què” chẳng thèm gọi ai bằng anh hoặc bằng ông. Anh ta cứ gọi trổng: “Ê! Xích ra!”, “Ê! Đưa đây!” tùy theo trường hợp. Anh ta làm như mọi người đều có chung một cái tên “Ê”

“Quảng Què” thuộc thành phần thương phế binh, giải ngũ từ trước 1975, khi cái thời “huy hoàng của thương phế binh” được “anh râu kẽm” (2) ủng hộ, xúi bậy đã qua. Tuy nhiên, cái dư âm thương phế binh biểu tình, giành đất, làm nhà, đòi hỏi nọ kia khiến người ta ngán vẫn còn.

Với cái “hào quang” đó, “Quảng Què” trở thành cái bang ở chợ Thái Bình, ngang ngược lắm, ai cũng sợ.

Sau ba mươi tháng Tư, anh ta xoáy đâu đó được một cái ví trong chỉ có ít tiền và một cái “Chứng Chỉ Tại Ngũ” tên là Nguyễn Quảng, cấp bậc đại úy. Họ tên thì trùng với anh ta, nhưng cấp bậc chức vụ thì không. Trước khi bị thương và bị cưa chân, cấp bậc của “Quảng Què” là “binh nhì”, chức vụ là … “khinh binh”. Anh ta nhớ mang máng như vậy.

Mới “đứt phim” (3) được nửa tháng, anh ta đang hành hiệp ở chợ Thái Bình, giựt cái bót của một chị phụ nữ. Chị ta hô hoán lên. Mấy “chú bộ đội” cùng mấy chú “cách mạng ba mươi” (4) bắt “Quảng Què” đem về trụ sở phường.

Cán bộ Dziệt Cộng hỏi:

– “Anh là lính “ngụy”, có giấy tờ gì không? Nếu thật là lính “ngụy” sẽ được đưa đi học tập.”

Nghe nói “học tập”, “Quảng Què” nghĩ ngay tới quân trường, chỗ đó anh ta có đi học và học lâu hơn ở nhà trường khi anh ta còn nhỏ.

Ở quân trường thì lính ăn uống cực khổ, ngày nào cũng chỉ có cơm, cá mối, rau muống luộc hoặc canh su, canh cải. Nghe nói người ta học ra sĩ quan ăn uống sướng hơn. KBC Thủ Đức sang hơn nhà hàng. “Bốn người một mâm”. Thịt gà, thịt heo, thịt bò ê hề (5). Bây giờ “Qủng Què” được đi học tập với sĩ quan. Vì vậy, Quảng Què chìa ngay ra cái “Chứng Chỉ Tại Ngũ” của đại úy Nguyễn Quảng.

Cầm cái “Chứng Chỉ Tại Ngũ”, cán bộ hỏi:

– “Anh tên là Nguyễn Quảng?”

– “Dạ! phải!”

Cán bộ lại hỏi:

– “Cấp bậc đại úy?”

Quảng Què cũng ừ luôn để được “đi học” chung với sĩ quan cho được ăn uống sung sướng, đầy đủ, như ở “trường Thủ Đức”.

Thế là anh ta bị đưa vào trại Suối Máu. Vô tới đây thì Quảng Què mới biết mình đi ở tù.

Tù Dziệt Cộng thì khổ sở không thể nào kể xiết. Vậy là “Quảng Què” có ba, bốn mối hận: Hận ông trời bắt anh ta què, hận chế độ cũ bắt anh ta đi lính, hận dân chúng hô hoán khiến bộ đội đến bắt anh ta đi tù, hận “cách mạng” đã bỏ tù anh.

Anh ta kêu oan rằng anh chỉ là binh nhì, không biết tại sao người ta ghi anh là đại úy. Bộ đội ghi nhận, nhưng cho rằng anh khai dối với “cách mạng”. Tội khai gian là tội lớn nhưng cũng hứa sẽ giải quyết.

“Sẽ” có nghĩa là việc chỉ có thể xảy ra ở “thì tương lai”, còn khi nào thì chưa “cụ thể”. Hai năm rồi mà “thì tương lai” vẫn chưa tới.

Tuy vậy, anh ta cũng được “cách mạng” chiếu cố.

Trước hết là kêu anh ta lên văn phòng làm việc, khơi sâu mặc cảm giữa sĩ quan và binh lính để giao cho “Quảng Què” công tác theo dõi những phần tử phản động, phát biểu linh tinh, âm mưu trốn trại, v.v… “Cách mạng” sẽ khoan hồng cứu xét, sớm cho về sum họp với gia đình. Không biết “Quảng Què” có thực hiện công tác gì không nhưng lời hứa thì coi như hứa… chùa. Hai năm rồi, chưa thấy gì.

Buổi chiều, dãy nhà bếp chỉ còn lại vài ba anh em lui cui hâm nấu món ăn gì đó trên những cục than đang tàn dần trong bếp, “Quảng Què”, tay cầm nạng, tay cầm gầu nước, không nói một lời báo động cho ai, tạt nước vào bếp cho lửa tắt hẳn, bỏ ghét những người có đồ ăn đem nấu nướng.

Nước tạt vào tro than nóng kêu xè một tiếng lớn, bụi bay lên mù mịt. Có người bỏ đi, cũng có người cự nự. “Quảng Què” không những thấy mình sai còn chưởi thề, nói năng thô lổ. Thấy thái độ “Quảng Què” như vậy, người ta cũng đành thôi. Người ta biết “Quảng Què” chẳng biết phù thịnh phù suy gì chi rắc rối.

Những người chung trại với anh ta bây giờ là ngang hàng với cấp chỉ huy của anh ta ngày xưa. Ngày đó, anh sợ họ khiển trách, phạt tạ, v.v… Bây giờ họ sa cơ thất thế, anh ta làm vậy cho bỏ ghét. Chỉ là bỏ ghét! Cái ghét đó được “đường lối và chính sách” của “cách mạng” “bồi dưỡng” thêm cho thật sâu sắc và triệt để..

&

Lần thăm nuôi đầu tiên, “Quảng Què” cũng gởi thư về cho vợ, bảo lên thăm và tiếp tế lương thực cho anh ta. Vợ anh ta ở Saigon, trại Suối Máu ở Biên Hòa nên đường đi thăm gần, xe đò cũng tiện.

Bộ đội đặt một cái bàn ngay cổng nhà thăm nuôi, có khối trưởng hay đại diện khối ngồi bên cạnh để giúp dò tên “cải tạo viên” được thăm.

Khi vợ “Quảng Què” đến thăm, bộ đội hỏi:

– “Chị thăm ai?”

– “Dạ, tui thăm anh Quảng.”

Anh bộ đội dò tên trong danh sách, lại hỏi:

– “Chồng chị là anh Nguyễn Quảng có phải không?”

Vợ Quảng Què xác nhận:

– “Dạ phải! Chồng tui là Nguyễn Quảng.”

“Chú bộ đội” lại hỏi:

– “Anh Nguyễn Quảng là đại úy phải không?”

– “Không! Chồng tui là binh nhì.”

“Chú bộ đội” xác nhận:

– “Ở đây không có anh Nguyễn Quảng nào là binh nhì. Chỉ có anh Nguyễn Quảng đại úy.”

Vốn quê mùa, vợ “Quảng Què” thật thà nói:

– “Chắc là anh Quảng đi học tập lâu ngày, nay lên đại úy!”

Dĩ nhiên, “chú bộ đội” không tin như vợ “Quảng Què”, hồi lâu mới tìm ra anh khai gian cấp bậc, cố “xác minh” một lần nữa:

– “Có phải chồng chị bị què phải không?”

Chị vợ nhanh nhẩu:

– “Dạ đúng! Đúng chồng tui què một chân.”

Nhờ “xác minh” cái chân què đó, chị vợ được vào khu thăm nuôi.

Mới thấy vợ, “Quảng Què” tức giận:

– “Mày ở nhà lấy thằng nào mà bụng mầy to vậy?”

Chị vợ ra dấu biểu chồng im. “Quảng Què” tức tối chống nạng quày quả đi vào, không cần thăm. Chị vợ chạy theo nói nhỏ:

-“Không phài có bầu anh ơi! Mì! Mì gói!”

Té ra vì “bộ đội” không cho gia đình tiếp tế mì gói, sợ trốn trại, nên khi viết thư gởi về nhà, người viết thư giúp khéo léo báo cho vợ “Quảng Què” biết là “Quảng Què” cần có mì gói nhưng phải kín không cho bộ đội thấy. Vợ “Quảng Què” lanh trí lận hai chục gói mì vào bụng, làm như người có bầu.

Việc “học tập lâu ngày lên đại úy” và vợ “Quảng Què” có bầu trở thành câu chuyện vui của nhiều người.

“Quảng Què” không được thăm nuôi nhiều vì vợ anh ta nghèo. Mỗi lần đi thăm, vợ “Quảng Què” tiếp tế cho chồng cũng ít ỏi.

Vừa thiếu ăn, vừa tức tối và ganh tị vì những người khác được thăm nuôi nhiều đồ ăn, lại quen thói chôm chỉa từ trước, nên bây giờ “Quảng Què” “hành hiệp” ngay trong trại giam.

Ban đầu thì người ta không biết, sau tìm ra thủ phạm. Quản giáo bắt “Quảng Què” làm tờ kiểm điểm, nhưng cái chứng tật “Quảng Què” đã quen, nên anh ta cứ bị anh em bắt tội ăn cắp nhiều lần.

Cuối cùng, trong một buổi lên lớp toàn trại 4, trong phần khen thưởng, vài cá nhân, vài tổ được bộ đội khen “học tập tốt, lao động tốt”, riêng “Quảng Què” thì bị “cảnh cáo trước toàn trại”.

Anh ta bị gọi lên trình diện trước anh em, ông đại úy chính trị viên đọc lệnh như sau:

“Nay cảnh cáo có ghi hồ sơ học tập anh Nguyễn Quảng, cấp bậc: đại úy, chức vụ: khinh binh…”

Cả trại cùng cười về mục cấp bậc và chức vụ trái khoáy như vậy.

Thời gian một năm ở tù tại Suối Máu, chúng tôi chỉ được thăm nuôi một lần. Nhà tôi và 6 đứa con đều được gặp nhau ở khu vực dành cho tù cải tạo và gia đình, cùng với tất cả tù cải tạo T4. Các ngày khác thì dành cho các T1, T2, T3…

Hôm T2 được thăm, đội tôi đi tưới rau phía ngoài bờ suối.

Khi ra tới cổng, thấy thân nhân vào cổng đông lắm. Có người đi xe hơi lên thăm tù.

“Chương Rồng” hỏi:

– “Ai mà giờ nầy còn đi xe hơi, sang vậy?”

Có người giải thích:

– “Bà Nga, vợ ông Trung tá Lê Ngọc Trụ. Ông Trụ chết trong vụ trực thăng Mỹ “bắn lầm” ở trường Phước Đức trong Chợ Lớn, nay bà lấy một ông đại úy đang ở T2.”

Tôi nhớ cô nầy, là em vợ ông Nguyễn Đôn Dương, chủ nhà sách Gia Long ở Huế. Khi còn đi học, tôi hay tới nhà sách nầy, gặp em ông Dương là Nguyễn Đôn Hà, bạn học, sau nầy cùng binh chủng Thiết Giáp.

Nghe nói ông Trụ thuộc phe ông Kỳ. Khi ông Kỳ làm thủ tướng, ông Trụ làm Cảnh Sát Trưởng quận 5. Trong chế độ cũ, làm Cảnh Sát Trưởng ở một quận toàn “chú Ba xì thẩu”, vợ đi xe hơi thì có gì lạ mà phải hỏi!

hoànglonghải

(1) Nói tắt chữ effet, có hiệu quả, kết quả, tiếng Pháp.

(2) “Anh râu kẽm” hay “tướng râu kẽm” là tiếng báo chí hồi 1964, 65 dùng để gọi Nguyễn Cao Kỳ. Khoảng năm 1970, 71 vì mất ăn Kỳ dùng thương phế binh để phá Thiệu.

(3) Đứt phim, tiếng lóng, để gọi ngày 30 tháng Tư.

(4) “Cách mạng ba mươi”, tiếng lóng để gọi những người mới theo Cộng Sản sau khi đứt phim.

(5) KBC của trường Bộ Binh Thủ Đức là 4.100. Bốn ngàn một trăm, đọc trại để đùa là “Bốn người một mâm”

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 4 Oct 2025

Phần 17

Cuộc họp giao ban thường lệ buổi sáng của Ban An Ninh công an thành phố. Chỉ huy các đơn vị trực thuộc đã đông đủ. Màn che tấm bản đồ thành phố đóng khung trải gần kín cả bề mặt vách tường được kéo ra. Cán bộ tham mưu thuyết trình về những diễn biến mới nhất trong hai mươi bốn giờ qua.

Chỉ huy trưởng lắng nghe. Bản báo cáo ngắn gọn. Thông thường đồng chí sẽ phát biểu một số vấn đề rút ra từ tình hình được phản ánh và ra những chỉ thị cần thiết. Cuộc họp chỉ kéo dài 15 phút.

Sáng hôm ấy cũng vậy. Nhưng khi chỉ huy các đơn vị rời phòng họp thì đồng chí Tư Tuân, phụ trách đơn vị chống phá hoại tư tưởng được mời ở lại.

Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.

– Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?

– Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng…. Tư Tuân định hỏi “có vấn đề mới gì không?” nhưng anh thấy câu hỏi ấy thừa, bởi chỉ huy trưởng đã mời ở lại, hẳn phải có “vấn đề” cần trao đổi. Vì vậy anh bỏ lửng câu nói, nhìn đồng chí cấp trên của mình, chờ đợi.

– Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng đó là khói của đốm lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là cần phải chú ý tới nó.

– Vâng, Tư Tuân vừa nói, vừa lắc đầu – Thú thật với anh, tôi chán ngấy mà vẫn phải đọc. Anh em Việt kiều về thăm quê hương cũng nói với tôi, họ chẳng bao giờ thèm để mắt tới món hàng ôi đó! Thế nhưng những tên bồi bút đã nhẵn mặt và số em út mới ngoi lên lại vẫn sản xuất ra những món hàng này để lên dây cót tinh thần lẫn nhau, gây ảo tưởng cho nhau. Chỉ một số người di tản bị lừa bịp, còn đa số những người khác không xa lạ gì với những lời dối trá ấy. Đọc những thứ ấy giống như phải mổ một xác chết thối rữa để giám định y khoa. Chán thật.

– Ừ. Chán thật. Kể ra, ta đâu có lạ gì chúng nó.

Đột nhiên đồng chí chỉ huy trưởng đặt một câu hỏi mà thoạt nghe, tưởng đâu như ngoài đề câu chuyện đang trao đổi:

– Anh Tư còn nhớ vụ áp phe Martine Bokassa năm nào chớ?

Nghe người chỉ huy hỏi. Tư Tuân sực nhớ câu chuyện cũ mà báo chí Sàigòn thời ngụy đã đăng tải dài dài, nhưng anh chưa hiểu đồng chí chỉ huy trưởng của mình nhắc lại câu chuyện giật gân ấy với dụng ý gì.

Bokassa nguyên là một trung sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp. Những năm sống ở Việt Nam, trong những mối quan hệ “nhân tình” ông đã gửi lại Sàigòn một đứa con gái. Pháp bại trận ở Điện Biên Phủ, Bokassa trở về quê hương. Một thời gian sau, ông được bầu làm Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi. Nhớ đến giọt máu còn để lại ở Việt Nam, ông ngỏ ý nếu ai tìm ra và đưa được người con gái của ông về Trung Phi ông sẽ hậu tạ.

Như vớ được một món bở, sứ quán một nước tư bản ở Sàigòn, lúc bấy giờ đã tìm một cô gái lai da đen đưa sang Trung Phi và bảo đó là con của vi đương kim Tổng thống nước này. “Sứ giả” được đón tiếp nồng nhiệt và trả công rất hậu. Người con gái da đen xấu số đang sống lam lũ ở một xóm nhà lá của Sàigòn, nghiễm nhiên trở thành “ái nữ” của một Tổng Thống. Báo chí gọi cô ta là Công chúa Lọ Lem của thời đại.

Ít lâu sau, bọn CIA lại tìm một cô gái da đen khác với đủ bằng chứng khẳng định cô Martine Bokassa thứ hai đó là con gái của Tổng thống Bokassa. Việt Định Phương, chủ nhiệm tờ báo Trắng Đen, cầm đầu phái đoàn nhận lãnh “sứ mạng” đưa cô gái ấy sang Trung Phi. Cùng đi với Việt Định Phương còn có bà mẹ của cô gái. Bokassa nhận ra người “vợ” cũ và thừa nhận cô gái bà ta là Martine Bokassa chính hiệu. Tuy thế, ông ta vẫn xử sự đẹp với cô gái thứ nhất: nhận cô ta làm con nuôi. CIA đã thắng lớn và kéo hẳn Bokassa về với nước Mỹ, đẩy lùi uy tín của nước tư bản kia. Song CIA không phải dừng lại tại ấy. Sau này cô gái ấy lấy một viên thiếu tá thân Mỹ và nghe đâu chính người con rể này đã làm cuộc đảo chính Bokassa. Xứ Trung Phi giầu kim cương đã rơi vào khu vực ảnh hưởng của Mỹ. Chắc rằng Việt Định Phương cũng kiếm chác khá nhiều đô la, chưa kể số kim cương do Bokassa thưởng công.

– Đấy! Vẫn giọng trầm dịu, đồng chí chỉ huy trưởng nói tiếp – Nay vẫn tên Việt Định Phương là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trắng Đen. Lại cũng vẫn Mai Thảo, Trần Bích Loan của nhóm “Sáng Tạo” do USIS dựng lên… Vẫn nhưng quân bài ấy trên tay bọn chủ cũ đang múa may ở Mỹ. Chúng đã sử dụng ngòi bút để tập hợp bọn phản động ở nước ngoài. Chính tên Việt Định Phương ấy núp dưới biệt danh Trúc Việt đã tô son vẽ phấn cho tên Võ Đại Tôn, suy tôn hắn thành “người hùng phục quốc”, móc nối Võ Đại Tôn với Vàng Pao, đặt Tôn lên lưng cọp rồi đẩy hắn về Việt Nam để phá hoại. Âm mưu chưa thực hiện được thì Võ Đại Tôn đã bị ta tóm cổ trên đường thâm nhập.

Tư Tuân xen vào:

– Sau Võ Đại Tôn, chắc chúng sẽ nặn ra con rối khác.

– Đấy, đấy! – chỉ huy trưởng ngắt lời – Vấn đề là chỗ ấy. CIA đâu từ bỏ những tên âm binh ấy, cháy tên này thì chúng tạo ra tên khác đế… nướng tiếp. Không hiểu sau vụ ấy, cái tên chủ báo Trắng Đen kia nhận được bao nhiêu đô la nhỉ?

– Cái đó thì chịu. Nhưng có tin nhiều tên trong bọn phản động lưu vong định vặt lông tên đểu cáng ấy, khiến nó phải lỉnh ở xó xỉnh nào đó, ít thấy xuất hiện. Nghe nói nó chuồn qua Châu Âu rồi.

– Chắc thế thôi. Dẫu sao con rối ấy đã diễn xong phần kịch bản mà bọn chủ dành cho nó. Và đến lượt một con rối khác. À, mà tên thật của nó là gì nhỉ?

– Dạ, Phạm Thu Trước.

– Anh nhớ khá nhỉ, – Chỉ huy trưởng cười.

– Thật tình tôi không muốn nhớ những tên ấy, nhưng vẫn phải nhớ. Thật là “tai nạn nghề nghiệp”

– Sao “ông bạn” lại coi là tai nạn nhỉ? – Chỉ huy trưởng cười thông cảm và nói tiếp – Cuộc đấu tranh còn tiếp tục, thì ta còn phải tiếp tục nhớ đến chúng. Dầu cho bọn này chết già, chết ráo, cũng vẫn chưa xong. Lại có một số tên khác mới nẩy lên, không chỉ ở bên đó mà ngay cả ở đây – Chỉ huy trưởng lật những trang của tờ “Kháng Chiến” và dừng lại ở trang in bài ký tên Trần Tam Tiệp – Như tên này, anh Tư có biết không?

Tư Tuân kéo tờ báo đến trước mặt, đọc lướt vài dòng. Cái tên Trần Tam Tiệp ấy nghe rất lạ. Anh cố nhớ nhưng vẫn mù tịt. Chỉ huy trưởng nói tiếp:

– Tên này chưa từng xuất hiện trên làng văn, làng báo Sàigòn trước đây. Thật ra, trước đây hắn cũng có viết đôi bài báo nhưng đều ký tên người khác. Tôi cũng mới biết qua về lai lịch của hắn. Hắn nguyên là Trung tá An ninh Không quân ngụy. Điều này đã được bộ tàng thư xác định. Ấy thế mà nay nó lại là Tổng thư ký cái “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” đóng trụ sở ở Paris. Công khai đấy, khỏi cần kiểm chứng, vì chúng treo bảng hiệu đàng hoàng. Và Tiệp đã xách cặp đi dự hết hội nghị này đến hội thảo kia, còn chủ tịch của nó là Trần Thanh Hiệp mà mọi người đều biết là một trong những tay sai lâu năm của sứ quán Mỹ ở Sàigòn. Đằng sau bảng hiệu ấy là gì, đó lại là chuyện khác. Trong bài báo này, Tiệp lên tiếng đòi ta tha cho số bồi bút phản động đã bị bắt và cho bọn ấy ra nước ngoài. Láo thật. Anh đọc qua bài biết của nó đi, rồi ta bàn.

Tư Tuân đọc lướt mấy trang báo. Cũng những luận điệu vu cáo rẻ tiền. Cả cái lối hành văn, thuật ngữ đã quen thuộc đối với anh. Từ khi được giao phụ trách đơn vị này, anh đã chịu khó đọc hàng lô sách, tiểu thuyết của số “nhà văn” cũ và sách báo mới được bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài. Thật là chán đến buồn nôn. Nhưng anh vẫn ráng đọc “để xem chúng thế nào”. Rặt một lũ chống cộng cuồng si, thể hiện lộ liễu ý thức phản động cao độ. Đã có anh em nói đùa rằng “anh Tư đang trở thành nhà nghiên cứu văn học thực dân mới” Cũng không ngoa đâu vì đến nay Tư Tuân có thể quen thuộc khuynh hướng, bút pháp những tên “nổi tiếng”. Nhưng cái tên Trần Tam Tiệp này thì anh chịu.

Khi Tư Tuân đọc xong, chỉ huy trưởng hỏi:

– Anh thấy thế nào?

– Thằng này láo, – Tư Tuân buột miệng.

– Đành thế. Nhưng cái mà chúng ta quan tâm là sự tác động ngầm đối với những người ở lại đây, mặc dầu những người ấy không cần và không muốn nó bảo vệ. Sau gần mười năm sống dưới chế độ mới, họ đã tìm câu kết luận cho chính họ, họ đã tạo dựng một cuộc sống mới. Nhiều người tiếp tục theo đuổi nghề văn, nghề báo, một số đã chuyển sang nghề khác vì thấy phù hợp với họ hơn; trừ một số ít ngựa quen đường cũ, bị rủ rê, có người không đủ nghị lực, lại chứng nào tật ấy. Có người phải di chuyển đến một nơi xa xôi nào đó để cắt mối liên lạc cũ. Thậm chí có người tự nguyện trở vào trại.

Thế đấy. Cuộc sống nào cũng có quy luật riêng của nó. Ở đây là quy luật của bọn phản cách mạng, bọn vong quốc lang thang ở các nước Tây phương. Do bản chất và chịu sự tác động của bọn chủ, chúng còn biết làm gì khác, nếu không tiếp tục chống lại tổ quốc bằng cách thò vòi, kích động, móc nối những đồng bọn của chúng còn lại ở trong nước. Nếu ta chặt đứt những cái vòi ấy, chúng sẽ tịt ngòi.

– Vâng. Tôi nắm được vấn đề anh gợi ý. Xin anh cho tôi có thời gian nghiên cứu thêm.

Chỉ huy trưởng đứng dậy, trao cho Tư Tuân cả mớ báo ấy và dặn:

– Anh mang về đọc hết đi. Tôi chỉ xem qua, nhưng thấy có một số bài có giọng văn quen quen. Trong hoàn cảnh đất nước ta mọi sự phức tạp hơn chứ chẳng phải là chuyện văn chương nhảm nhí. Có những tín hiệu có ích cho chúng ta đấy! Tôi sẽ gửi thêm cho anh những tin tức từ bên ngoài để anh nắm thêm. Ta sẽ có dịp bàn tiếp.

Tôi bỏ qua không điểm khoảng 40 trang hai anh cớm cộng viết tưởng tượng lèm bèm về anh em chúng tôi. Chương VIII của NTBKCB quý bạn vừa đọc gồm 8 trang, đánh số từ 74 đến 81.