Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 4 Oct 2025

Google photo edited by Sơn râu

13. Hai Mươi Bảy Năm Sau – Thời Thơ Ấu

CÁC biến chuyển xảy đến mau lẹ. Là công dân Venezuela, tôi có giấy thông hành và được cấp rất nhanh. Khi được trao giấy thông hành, tôi run lên vì cảm động. Tôi lại run một lần nữa khi đến nhận lại, từ Tòa Đại sứ Tây Ban Nha với con dấu chiếu khán thời hạn ba tháng. Tôi run khi người ta đóng dấu vào tờ thông hành lúc tôi bước lên tàu Napoli, một chiếc tàu rất đẹp chở tôi với Rita sang Âu Châu, đến Barcelone. Tôi run khi nhận tờ thông hành từ tay người cảnh binh Tây Ban Nha, sau khi được đóng chiếu khán nhập cảnh. Tờ thông hành cải tạo tôi thành công dân một quốc gia, là một bảo vật nên Rita đã may vào mỗi túi trong của áo tôi một phẹt mơ tuya kéo để trong bất cứ trường hợp nào không thể mất được.

Trong cuộc hành trình này, tất cả đều đẹp, ngay đến đại dương khi nổi lôi đình, ngay cả giọt mưa quất mạnh sân tàu, ngay cả người thủy thủ gác hầm tàu bẩn thỉu miễn cưỡng để tôi đi xuống xem chừng chiếc Lincoln đồ sộ chúng tôi vừa tậu có được chắc chắn hay không. Tất cả đều đẹp bởi vì lòng tôi và Rita như mở hội. Tại phòng ăn, phòng khách, chung quanh chúng tôi có người hay không, cặp mắt chúng tôi tìm nhau để trao đổi những ý nghĩ mà không ai nghe được. Chúng tôi đi Tây Ban Nha, gần biên giới nước Pháp vì một lý do mà trong nhiều năm tôi không dám mơ ước. Bằng ánh mắt tôi nói với Rita:

– Cám ơn cưng. Nhờ cưng mà anh tìm lại được người thân. Rồi chính em đã đưa anh tới.

Và ánh mắt nàng nói:

– Em đã hứa với anh một ngày nào đó, tùy anh, bất cứ ở chỗ nào, nếu anh tin em, anh sẽ đi gặp người thân của anh mà không e ngại gì cả.

Thật vậy, chuyến đi vội vã này là để gặp gia đình tôi trên đất Tây Ban Nha, xa lánh cảnh sát Pháp. Đã 26 năm tôi không gặp bà con. Họ đồng ý đến gặp tôi. Chúng tôi đã chung sống một tháng, chính tôi mời. Tháng nghỉ hè của họ, tháng tám.

Ngày này qua ngày khác, tôi thường đứng rất lâu trên sân tàu, như thể chỗ đó gần mục đích chuyến đi hơn. Tàu đã vượt qua Gibreltar, chúng tôi không còn thấy đất liền, sắp đến nơi.

Ngồi thoải mái trong một chiếc ghế dài ở sân tàu Napoli, hai chân gác trên miếng gỗ bán nguyệt màu trắng kéo dài chiếc ghế, mắt tôi nhìn vào chân trời để chờ trông thấy mảnh đất lục địa Âu Châu xuất hiện. Mảnh đất Tây Ban Nha dính liền với mảnh đất Pháp.

1930-1955: Hai mươi sáu năm. Lúc bấy giờ tôi 24 tuổi. Bây giờ năm mươi. Nhiều người chết trước khi đến tuổi này. Ngực tôi đập mạnh khi không thể lầm lẫn, tôi trông thấy bờ biển. Con tàu đi nhanh, nó lướt sóng vẽ thành thành chữ V đồ sộ, chân chữ V lớn dần, lớn dần đến lúc tan loãng trên mặt biển.

Lúc tôi từ biệt nước Pháp trên chiếc tàu Marinière, chiếc tàu đáng nguyền rủa, một thứ ngục thất trước khi đến ngục thất để đi Guyane, vâng, lúc chiếc tàu rời xa bờ, tôi không trông mảnh đất của tôi xa dần tôi vĩnh viễn (lúc bấy giờ tôi tưởng như vậy), bởi vì chúng tôi bị nhốt vào những cái chuồng bằng sắt dưới đáy tàu.

Còn bây giờ, trong chiếc áo khách chơi du thuyền, túi áo được Rita gắn phẹt-mơ-tuya kéo, bọc kỹ tờ giấy thông hành mới, do tổ quốc mới của tôi cấp, với một căn cước khác. “Người Venezuela, người Venezuela sao? Mày, một người Pháp, cha mẹ Pháp, hơn thế nữa, là giáo chức, lại là người tỉnh Ardèche nữa cơ chứ? Thế mới hay!”.

Mảnh đất Âu-Châu tiến lại rất nhanh nên tôi phân biệt rõ ràng các lồi lõm, trên mảnh đất ấy, mẹ tôi đã nằm xuống, cha tôi đã an giấc ngàn thu, và hiện những người thân của tôi đang sống.

Mẹ tôi? Một bà mẹ, một bà tiên, vâng, những nâng niu trìu mến giữa mẹ với tôi có một mối cảm thông sâu xa nên hai người chỉ là một.

Có lẽ lúc ấy tôi lên năm, ông ngoại Thierry mua cho tôi một con ngựa sắt rất xinh. Đúng là một con tuấn mã đẹp vô song. Mình màu nâu lợt, gần ngả màu hung! Chòm lông mao không chê được: đen, luôn luôn rũ về phía bên mặt. Trên đất bằng phẳng, mỗi lần tôi nhấn trên bàn đạp là bà vú phải chạy theo đứng gần tôi, rồi bà lại đẩy lên dốc để rồi qua một khoảng đường bằng nữa, tôi đến trường mẫu giáo.

Bà Bonnot, hiệu trưởng, bạn của mẹ tôi, đón tôi trước trường, vuốt mái tóc dài uốn cong nơi trên vai tôi như mái tóc con gái rồi nói với Louis, người gác dan:

– Mở cửa rộng ra để con tuấn mã vào trường.

Hùng dũng như Artaban, hai chân nhấn mạnh trên bàn đạp, tôi chạy ào vào sân trường. Trước tiên, tôi đi một vòng danh dự, rồi nhẹ nhàng, tôi bước xuống ngựa, tay sắm dây cương để cho nó khỏi chạy xa tôi. Tôi hôn vú Thérèse, bà đang đưa bữa điểm tâm của tôi cho bà Bonnot. Tất cả lũ bạn nhỏ của tôi, cả trai lẫn gái, đổ xô đến ngưỡng mộ, vuốt ve con ngựa sắt duy nhất trong cả hai thôn, thôn Pont d’Ucel và thôn Pont d’Aubenas.

Mỗi ngày trước khi đi về, tôi hơi đau lòng phải làm theo lời mẹ tôi dặn: luân phiên cho chúng nó mượn con tuấn mã. Tuy vậy, tôi vẫn cho mượn. Nghe chuông reo, Louis, ông gác dan, đem con ngựa lại chỗ nhà chơi, rồi sau khi sắp hàng và hát bài: “Chúng tôi sẽ không đi vào rừng”, chúng tôi vào lớp học.

Tôi biết rằng cách kể chuyện của tôi làm cho nhiều người mỉm cười, nhưng xin hiểu cho, khi tôi kể lại chuyện thời thơ ấu, không phải một người sáu mươi lăm tuổi viết cho giới thượng lưu xem, mà là một đứa bé, là bé Riri ở thôn Pont d’Ucel viết, bởi lẽ thời ấu thơ ấy ăn sâu vào tâm khảm, nó viết ra những chữ nó dùng lúc bấy giờ, những tiếng nó đã nghe, và mẹ tôi là một bà tiên, các chị tôi là “chị nhỏ”, tôi là “em tý” của các chị, cha tôi luôn luôn là “ba”.

Thời ấu thơ… một mảnh vườn có nhiều trái phúc bồn tử mà mấy chị em hái ăn trước khi chín; những trái lê mềm rệu chúng tôi không được hái, trước khi ba tôi cho phép, những cây lê thấp; và bò như một tên mọi da đỏ, để những người đứng ở cửa sổ trên lầu không trông thấy, tôi hái ăn đầy bụng đến nỗi phải bị tiêu chảy.

Đã tám tuổi đầu rồi mà nhiều khi tôi còn ngủ trên đùi ba tôi hay trong đôi tay má tôi. Tôi không nghe thấy có người thay quần áo cho tôi và những ngón tay thon mềm của má tôi tròng áo ngủ cho tôi. Nhiều khi trong lúc má tôi kéo chăn đắp cho tôi trên chiếc giường nhỏ. Tôi thức giấc, quàng tay sau cổ, ôm chặt má tôi, lâu, rất lâu, hình như vậy, rồi tôi ngủ trở lại không biết má tôi bỏ đi lúc nào. Tôi được cưng nhất trong ba đứa con: đúng quá, tôi là con trai, sẽ là người thừa kế giòng họ. Các chị lớn hơn tôi nhiều, rất nhiều. Chị cả đã mười một tuổi. Chị thứ mười tuổi. Thế thì dù sao cũng phải đối xử cho công bình, phải không? Ông vua là con đây phải vậy không má? Các chị là công chúa.

Mẹ tôi đẹp làm sao, mảnh mai, dong dỏng cao, luôn luôn phong nhã. Khỏi cần phải tỏ ra đây hình dáng của mẹ tôi. Mẹ tôi đẹp nhất, quí phái nhất, hiền dịu hơn tất cả các bà mẹ. Phải nhìn mẹ tôi đánh đàn dương cầm, ngay trong khi tôi quì trên ghế sau lưng bà lấy hai tay nhỏ xíu bịt mắt bà. Có một bà mẹ chơi dương cầm không xem bản nhạc, cũng không cần thấy phiếm đàn, còn gì kỳ diệu hơn! Vả lại, trời sinh mẹ tôi không phải để làm giáo viên. Ông ngoại tôi rất giàu, mẹ tôi không học trường công, mẹ tôi với dì Léontice học tại các trường đắt tiền nhất, chọn lọc nhất tỉnh Avignon, như tất cả các thiếu nữ con nhà trưởng giả! Không phải lỗi mẹ tôi nếu ngoại Thierry thích sống sang trọng, đi bằng xe song mã có hai con ngựa xám chấm trắng hùng dũng kéo chạy hay bằng xe độc mã bằng gỗ trắc, vâng, gỗ trắc, với một con ngựa ô lộng lẫy. Với số của hồi môn khá lớn, đáng lẽ người thiếu nữ đẹp như má tôi không phải đi làm và lấy chồng giàu sang, nhưng một ngày nào đó bỗng nhiên má tôi phải làm một cô giáo tầm thường. Tội nghiệp mẹ tôi, chỉ vì ông ngoại, tuy dễ thương nhưng sống rất hào hoa (ông không có vẻ gì như vậy), chơi bời trác táng tại Avignon và thường hay gặp các cô thôn nữ trẻ đẹp trong các cuộc du ngoạn đồng quê, nên mẹ tôi không còn của hồi môn và phải đi làm.

Dĩ nhiên các chuyện ấy, tôi loáng thoáng nghe được trong khi người lớn nói chuyện với nhau mà không để ý đến thằng bé, đặc biệt là dì Léontine đã đem ông ngoại về nuôi, ở Fabras. Vả lại, lẽ ra má tôi và chị tôi đã có thể cứu vãn một phần nào nếu ông ngoại không có ý nghĩ điên cuồng bày ra các khu vườn treo trên mái nhà ở Yvonegue. “Ba tưởng ba ở Babylone!” dì Léontine nói. Má tôi dịu dàng sửa lại: “Nói cho đúng, các khu vườn ấy thật rực rỡ”. Phiền một nỗi là vì mấy khu vườn rực rỡ ấy mà các ngôi nhà bị rạn nứt đến nỗi phải dùng thanh sắt hình chữ X để chống đỡ các bức vách. Kết quả: những ngôi nhà rất đẹp đã bán với giá rẻ mạt.

Ông ngoại tôi thật ghê gớm: Ông có một cụm râu cằm nhỏ và râu mép trắng như tuyết giống râu Raymond Poincaré. Tay trong tay, buổi sáng tôi đi với ông tôi từ nông trại này đến nông trại khác. Vì là thư ký tòa hành chánh xã Fabras (dì Léontine nói ông ngoại phải đi làm để trả tiền thuốc lá). Ông luôn luôn có những giấy tờ cần đem đến cho nông dân hay lấy từ các nông dân đem về xã. Tôi nhận thấy dì tôi có lý khi nói rằng ông ngoại dừng lại lâu hơn ở những nông trại có gái đẹp. Nhưng ông tôi lại giải thích với tôi rằng sắc đẹp của bà chủ nông trại mà chúng tôi dừng lại lâu không ăn nhập gì. Ông chỉ muốn trò chuyện với bà ấy vì bà ấy dễ thương và nói chuyện rất hay. Tôi thì khoái lắm vì đó là nông trại duy nhất người ta cho tôi cởi con lừa nhỏ và dẫn bé Mireille, cùng tuổi với tôi và biết nhiều chuyện hơn con bé láng giềng ở thôn Pond d’Ucel, đi chơi trò cha mẹ.

“Chúng ta sung sướng quá chừng” như má tôi thường nói.

– Cũng may mà ông Ngoại bị phá sản, má mới biết ba con, một con người tuyệt hảo. Vả lại, nếu má không mất của hồi môn, hôm nay đã không có con.

– Thế thì con ở đâu?

– Xa lắm, rất xa, nhưng chắc chắn là không ở đây.

– Ồ, má tiên nữ, Ông ngoại thích các khu vườn treo lơ lửng là hết sức may mắn cho con.

Lên tám tuổi, các chuyện dại dột bắt đầu. Tôi lén đi bơi ở sông Ardèche. Tôi học bơi một mình trong con kinh, con kinh sâu nhưng chỉ rộng có năm thước. Trong lứa tuổi bảy từ đến tám, dĩ nhiên chúng tôi không mặc quần tắm, cả bọn tắm truồng trùng trục, phải để ý đến ông phu tuần phiên. Tôi nhảy tũm xuống con kinh. Phải cho cái bụng đập xuống nước và nhờ trớn nhảy, đến gần bờ bên kia. Bơi sãi hai ba cái, được rồi, tôi vớ mấy cây lác. Đến nơi, một thằng lớn chờ mấy đứa nhỏ. Nó canh chừng chúng tôi rất cẩn thận. Chính nó, với lứa tuổi mười hai, ý thức đầy đủ trách nhiệm, đưa tay cho chúng tôi nắm để lôi chúng tôi lên bờ, hoặc nhảy xuống nước gấp khi có đứa không vớ được mấy bụi lác.

Đẹp thay những ngày nắng ấm trong nước trong veo của sông Ardèche! Những con hương ngư, dùng tay mà bắt! Tôi chỉ trở về nhà khi mình mẩy đã khô hẳn. Lúc ấy tóc tôi hớt ngắn, càng hay, nó khô mau hơn.

Cạnh Trường Tiểu học chúng tôi ở hai căn trên lầu nhất, vì ba dạy nam sinh, và má dạy nữ sinh, có một nông trại mở quán cà phê, do vợ chồng Ông Debannes làm chủ. Mỗi lần biết rằng tôi ở nhà hai Ông Bà ấy, má tôi yên trí, nên bất cứ đi đâu về, khi má hỏi: “Riri, đi đâu về đó?”, tôi đáp: “Ở nhà Ông bà Debannes”, là không bị rày la gì hết.

Năm 1914. Chiến tranh và ba tôi ra đi. Mọi người ra ga tiễn ba. Ba thuộc binh chủng Kỵ binh, sẽ về sớm. Ba nói với chúng tôi: “Ở nhà chóng ngoan, nghe lời má. Còn mấy đứa con gái, các con giúp má trong công việc bếp núc, vì rồi đây má sẽ dạy cả hai lớp, lớp của má và lớp của ba. Chắc không lâu đâu, ai cũng nói như vậy”. Rồi trên sân ga, bốn mẹ con nhìn con tàu lăn bánh, trên tàu ba đưa tay lên cao tạm biệt chúng tôi, nửa mình ba thò ra ngoài cửa để có thể nhìn thấy chúng tôi được lâu hơn.

Bốn năm chinh chiến không ảnh hưởng gì đến hạnh phúc gia đình chúng tôi. Phải thắt lưng buộc bụng thêm tý nữa. Tôi ngủ trên giường lớn với má tôi, tôi nằm vào chỗ ba tôi đang ở mặt trận chiến đấu anh dũng.

Bốn năm trong lịch sử thế giới không là bao.

Bốn năm đối với một đứa bé sáu tuổi rất quan trọng.

Tôi lớn nhanh, chúng tôi chơi trò làm lính và đánh giặc. Tôi về nhà áo quần tả tơi, mặt mày đầy cục u, nhưng dầu thắng hay bại, tôi vẫn vui vẻ, không bao giờ khóc. Má tôi băng bó các chỗ sây sát, đắp thịt bò tươi lên trên con mắt bị bầm. Bà dịu dàng la rầy tôi chút ít, không bao giờ la hét om sòm. Những lời khiển trách được nói thì thầm, vì không nên để cho các chị tôi biết má tôi giảng luân lý cho tôi, giữa má tôi với tôi mà thôi: “Riri cưng, con nên ngoan, má mệt rồi. Lớp học sáu mươi đứa, má đứt hơi. Con thấy đó, má chịu hết nổi, quá sức má, con ạ. Con nên giúp má, bằng cách phải ngoan ngoãn, và biết vâng lời”. Câu chuyện luôn luôn kết thúc bằng những nụ hôn và lời hứa sẽ ngoan hiền từ một ngày đến một tuần. Khi nào tôi cũng giữ lời hứa.

Chị cả tôi đã lớn, mười ba tuổi, Yvonse mười hai. Tôi vẫn nhỏ nhất và các chị ấy cũng thương tôi nhiều. Dĩ nhiêu lâu lâu tôi có kéo tóc các chị, nhưng cũng ít khi lắm.

Từ ngày ba ra đi chinh chiến, chiếc dương cầm được đóng lại, chỉ mở lại khi nào ba trở về.

Củi chất ở sân chơi nhà trường bị trộm, má tôi bực bội lo sợ ban đêm. Tôi nổi tức với má tôi, nhưng tôi lấy hai tay bé nhỏ ôm má, tôi có cảm tưởng tôi che chở má tôi: “Má ơi, má đừng sợ, con là đàn ông trong nhà này, con đã lớn đủ che chở cho má”. Tôi lấy cây súng săn của ba, để vào đó hai viên đạn bắn heo rừng. Một buổi tối, bà tiên của tôi thức giấc, lay tôi, mình toát mồ hôi, nói nhỏ vào tai tôi:

– Má nghe có kẻ trộm, có tiếng kéo miếng gỗ.

– Đừng sợ má.

Chính tôi trấn an má tôi. Tôi nhẹ nhàng đứng lên, như thế từ ngoài sân người ta có thể nghe tiếng động trong buồng. Tôi cầm súng trong tay. Hết sức cẩn thận, tôi mở cửa sổ, có tiếng kẹt cửa nho nhỏ, tôi nín thở, rồi vừa kéo cánh cửa về phía tôi, vừa dùng mũi súng hất chốt cửa, tôi kê báng súng vào vai, sẵn sàng bắn vào kẻ trộm, rồi tôi đẩy cánh cửa mở ra không tiếng động. Ánh trăng sáng trong sân như ban ngày: và chúng tôi thấy rõ trong sân chơi không có ai hết. Đống củi vẫn được xếp ngay ngắn: “Má ơi, không có gì hết, má đến xem coi”. Rồi hai mẹ con quấn lấy nhau, chúng tôi đứng một lúc ở cửa sổ, yên trí đã biết rõ không có kẻ trộm, má tôi sung sướng trông thấy con mình can đảm.

Mặc dù gia đình êm ấm, năm lên mười, vì không có ba tôi ở nhà, nên đôi khi tôi làm nhiều chuyện dại dột, tuy tôi không muốn làm cho má tôi, một bà tiên mà tôi yêu quí, phải buồn lòng, nhưng luôn luôn tôi mong, tôi tin rằng má tôi không bao giờ biết các chuyện ấy. Lấy đuôi một con mèo cột vào chuông của nhà người ta, đem chiếc xe của người phu gác sông quăng xuống cầu Ardèche trong khi anh ta đang lội xuống sông để bắt những người dùng lưới bắt cá. Còn những chuyện khác nữa… Dùng ná cao su bắn chim, và khoảng từ mười đến mười một tuổi, tôi với thằng bé Riquet Debannes đã đi ra ngoài đồng với cây súng của ba tôi để bắn một con thỏ mà nó đã trông thấy chạy nhảy trong một vườn trồng đậu. Lấy súng ra rồi đem cất lại mà không để cho má tôi biết, như vậy đến hai lần, thật quả là một kỳ công.

Năm 1917. Ba tôi bị thương. Ba tôi bị vô số mảnh đạn súng cối trong đầu, nhưng không nguy đến tánh mạng. Tin như sét đánh, do hội Hồng Thập Tự đưa đến. Không có tiếng la hét, hầu như không ai khóc. Hai mươi bốn giờ trôi qua, mọi người đều trầm lặng, má tôi dạy học, không ai biết gì hết. Tôi nhìn má tôi thán phục. Thường ngày, tôi ngồi ở bàn đầu, hôm nay tôi ngồi ở cuối lớp để canh chừng bọn học trò, quyết can thiệp nếu có đứa nào nghịch ngợm. Đến ba giờ rưỡi, má tôi chịu hết nổi, tôi cảm thấy như vậy vì đáng lẽ có bài Vạn vật. Má tôi đi ra sau khi viết trên bảng đen mẫu đề một bài toán và nói: “Cô cần đi ra vài phút, các em làm bài này trên vở toán”.

Tôi đi ra theo má tôi, bà đứng dựa vào cây Mimosa ở ngay cổng vào. Má tôi khóc. Má yêu quí của tôi đã gãy đổ. Hai chị tôi không có ở nhà, các chị học Trường Cao đẳng Aubenas, đến 6 giờ mới về.

Tôi đứng sát vào má tôi, không khóc. Trái lại, tôi tìm lời khuyên giải mà tôi và tâm hồn trẻ thơ của tôi đã tìm ra câu trả lời này, khi bà vừa nức nở, vừa nói: “Tội nghiệp ba con đã bị thương”, như thể tôi chưa biết việc ấy. “Má ơi, càng tốt, vì như vậy đối với ba chiến tranh không còn nữa, chúng ta vững tin ba còn sống trở về với chúng ta.” Bỗng nhiên má tôi nhận thấy tôi nói có lý.

– Ừ, đúng vậy. Cưng ơi, con nói có lý, ba sẽ còn sống trở về với chúng ta.

Một nụ hôn trên trán tôi, một nụ hôn trên má mẹ tôi rồi tay trong tay, chúng tôi trở về lớp.

Bờ biển Tây Ban Nha rõ dần, tôi có thể phân biệt các chấm trắng là những mái nhà. Bờ biển hiện rõ như đã hiện rõ kỳ nghỉ hè năm 1917 tại Saint Chamas, ba tôi được đổi đến đây để canh giữ kho thuốc súng. Các vết thương không nặng lắm, chỉ vài biến chứng do các mảnh đạn súng cối li ti còn ở trong đầu, chưa giải phẫu để lấy ra. Ba tôi được xếp loại phù trợ, sẽ không còn ra trận nữa.

Không thể tìm ra nhà ở vì người quá đông. Người ta sống trong các hang đá, Ba tôi đã thực hiện một việc màu nhiệm: cô giáo ở Saint Chamas để lại cho ba tôi căn nhà suốt kỳ nghỉ hè. Hai tháng trọn sống với ba! Trong căn nhà, có đầy đủ hết, kể cả một cái nồi kiểu Na Uy.

Chúng tôi đoàn tụ một nhà, tràn đầy vui tươi, sức khỏe, hạnh phúc. Má tôi mặt mày rạng rỡ, chúng tôi đã thoát khỏi cuộc chiến ghê gớm, nhưng đối với những người khác, chiến tranh vẫn tiếp diễn, má tôi nói: “Các con ơi, đừng nên ích kỷ, không nên chỉ nghĩ đến mình hoặc vui chơi lêu lổng. Không nên suốt ngày chạy nhảy, hái táo, mỗi ngày phải để ra ba giờ để nghĩ đến người khác”.

Chúng tôi theo mẹ đến bệnh viện: mỗi buổi sáng, bà đến đó để khuyến khích và săn sóc những người bị thương. Mỗi chúng tôi phải làm một cái gì hữu ích: đẩy xe lăn cho người bị thương nặng, đưa tay dìu người mù, buộc vết thương, gọt táo cho họ, viết hộ thư, nghe chuyện của những người bệnh nằm kể về gia đình, nhất là con cái.

Trên đường về, khi xe lửa đến Vogué, má tôi đau nặng nên chúng tôi đến nhà chị ba tôi ở Lanas, cách Aubenas ba mươi cây số, nhà cô Antoinette, cũng là một giáo chức.

Vị bác sĩ chẩn mạch nhận thấy mẹ tôi bị một bệnh truyền nhiễm kỳ lạ, có lẽ đã bị mắc khi mẹ tôi săn sóc cho những người lính từ Đông Dương về ở Saint Chamas, nên người ta bắt chúng tôi phải xa mẹ tôi.

Các chị tôi vào nội trú ở trường Cao Đẳng Aubenas, còn tôi thì vào nội trú tại trường Cao Đẳng con trai, cũng ở Aubenas.

Hình như bệnh mẹ tôi đã thuyên giảm, dù sao tôi vẫn buồn, tôi từ chối đi dạo với các bạn ngày chủ nhật hôm nay. Các chị tôi đến thăm tôi rồi trở vào trường. Tôi đưa hai chị ra khỏi cổng trường. Lúc ấy chỉ có một mình, tôi ném một con dao vào một cây ngô đồng. Mỗi lần ném, con dao đều cắm vào vỏ thân cây.

Tôi chơi như vậy cho qua thì giờ, lòng quặn đau, trên con đường ở trước trường. Con đường ấy đi từ ga xe lửa Aubenas cách đó phỏng 500 thước.

Tôi nghe tiếng còi mỗi khi xe lửa đến rồi đi. Tôi không mong đợi ai và vì thế tôi không cần nhìn dưới đường để xem những người từ xe lửa bước xuống.

Tôi ném con dao, rồi ném nữa, không biết mệt. Đã năm giờ chiều. Mặt trời xuống thấp, chói mắt, tôi đổi qua bên kia, rồi tôi thấy tử thần lặng lẽ đi về phía tôi.

Các sứ giả của tử thần, đầu cúi xuống, mặt khuất sau tấm vải nhung đen đổ xuống gần đụng đất, dù họ tang phục, tôi vẫn nhận ra đó là dì Ontine, cô Antoinetre, bà nội tôi, và phía sau là các ông có vẻ như núp sau các bà. Bà tôi, cúi quặp xuống, cùng ông nội ông ngoại tôi, đều mặc đồ đen.

Tôi không đi về phía họ, tôi không cử động, làm thế nào cử động được? Giòng máu tôi đã biến mất, tim tôi đứng lại, mắt tôi muốn khóc, nhưng không còn nước mắt. Đám người dừng cách tôi mười thước. Họ không dám, hơn thế, tôi chắc họ xấu hổ, họ muốn chính họ chết đi còn hơn gặp tôi và nói với tôi điều mà tôi đã biết rồi, bởi vì lối hóa trang thành những phù thủy bất thường đã cho tôi biết mà không cần phải lên tiếng: “Má con đã chết, chết một mình”. Có ai trong lúc má tôi chết? Không ai hết, bởi vì, ngay tôi là đứa con được má tôi cưng nhất cũng không có mặt. Chết và chôn mà tôi không hề thấy, chết mà không hôn tôi lần cuối. Ba tôi, như lúc đánh giặc dưới đường hầm có lẽ đi trước. Hầu như ba tôi đã gượng đứng thẳng người. Khuôn mặt thảm hại của ông chỉ còn là hình ảnh của sự đau khổ tuyệt vọng, nước mắt chảy không thôi, tôi vẫn không nhúc nhích, ông không đưa tay ra đón tôi, ông biết rằng tôi không cử động. Cuối cùng ba tôi đến với tôi, ôm tôi vào lòng mà không nói một lời nào. Lúc bấy giờ tôi mới òa khóc khi nghe nói: “Má mất đi gọi tên con”. Tôi ngã ra bất tỉnh.

Ngôi nhà mà cô Antoinette đến để thay thế mẹ tôi và phụ trách luôn hai lớp học, ngôi nhà có bà nội và ông nội tôi đã già, ngôi nhà tôi đã được đưa về lại vì người ta sợ tôi ở một mình trong nội trú, ngôi nhà mà một ông già đau khổ cùng hai bà cố gắng ban phát tình thương cho tôi, cha tôi vẫn còn tại ngũ, ngôi nhà mà mỗi căn phòng là một nơi thiêng liêng, mỗi đồ vật là một thánh tích, ngôi nhà u ám, buồn bã, chán nản, mặc dù đầy ánh sáng mặt trời cuối mùa hạ, ở đó ông nội nhắc đến ba tôi sắp về nhưng không bao giờ về, ngôi nhà mà tất cả đều làm cho tôi khó chịu, đau xót, mọi cử chỉ, lời nói dù thành thật đến mấy đối với tôi cũng có một kết quả ngược lại, ngôi nhà không còn là ngôi nhà của chúng tôi.

“Trước kia, má tôi không nói với tôi như vậy, hơn thế nữa các bà ấy không có quyền nghĩ rằng người ta có thể thay thế một bà mẹ như má tôi”. Tôi không còn muốn nghe những lời nói dịu dàng, tôi có thể nhận các cử chỉ săn sóc, ăn cần của các dì, cô, của ông nội ông ngoại, nhưng không nhận ngôn ngữ của một bà mẹ. Tôi không muốn bất cứ ai ru ngủ hay nuông chiều. Tôi nói điều ấy với các bà có thiện tâm ấy, mà không la hét, không chống đối, gần như một lời cầu xin. Tôi đoán họ đã hiểu.

– Con không muốn sống ở đây nữa. Xin cho con vào nội trú; con sẽ có đủ thì giờ để về ở cái nhà này trong mấy tháng hè, không cần con có mặt khi có học trò học.

Nghỉ hè, tại sao lại nghỉ hè ở đây? Không thể được, không thể chấp nhận chuyện ấy, cười đùa trong ngôi nhà này là xúc phạm đến người đã khuất. Nghỉ hè tôi sẽ đi Fabras, nơi nhà dì Ontine để cùng tụi bạn nhỏ của tôi đi chăn cừu, chăn dê trên các đồng cỏ, nơi mà tôi chưa hề đến.

Chiến tranh chấm dứt, ba tôi đã về. Một ông khách đến thăm ba tôi, ông ấy ăn phô mát và uống vài ly rượu chát đỏ. Hai người kiểm điểm những người trong xứ đã chết, rồi ông khách nói một câu rất vụng về: “Chúng ta đã thoát khỏi cuộc chiến tranh này, phải vậy không, ông Charrière? Cả người anh rể của ông cũng vậy. Nếu chúng ta không lợi lộc gì, chúng ta không mất mát gì”.

Tôi ra đi trước khi ông khách về, đêm đã xuống. Tôi đợi ông ấy đi qua và dùng ná cao su bắn một cục đá vào sau đầu của ông. Ông ta vừa la bai bãi, vừa vào nhà láng giềng để băng bó vết thương rỉ máu. Ông ta không hiểu ai đã ném đá vào ông và tại sao. Ông ta không biết rằng ông bị bắn là vì trong danh sách những nạn nhân chiến cuộc, ông đã quên kể một nạn nhân quan trọng nhất, một người chết không bao giờ đền bù được. Mẹ tôi.

Không, chúng ta khổ nhiều vì cuộc chiến tranh khốn nạn này.

Rồi mỗi năm, lúc tựu trường, tôi trở lại thành phố Crest, trong tỉnh Drôme, vào nội trú trường Cao Đẳng để học thi vào Đại Học Mỹ Nghệ tại Aix en Provence.

Rồi mỗi năm, tôi cùng ba tôi với hai chị tôi bỏ nhà đi nghỉ hè ở Fabras. Kỳ nghỉ hè này cũng đáng ghi nhớ lắm. Vì ba tôi đã có những ngôn ngữ, những cử chỉ, những âu yếm của má tôi.

Trong trường, tính tình tôi trở nên hung tợn. Tôi chơi bóng thuẫn, đứng hàng tiếp ứng. Tôi chơi tàn nhẫn, không chịu ai nhường và cũng không nhường đứa nào.

Tôi vào nội trú ở Crest đã sáu năm, trong sáu năm tôi là một học trò giỏi, nhất về môn toán, nhưng cũng trong sáu năm tôi bị điểm không về hạnh kiểm. Khi nào có đấm đá là có tôi đều đều, một hai lần mỗi tháng, tôi đánh lộn với tụi bạn học, luôn luôn là ngày thứ năm. Ngày chủ nhật, tôi ra nhà người bảo lãnh tôi hoặc tôi chơi bóng thuẫn.

Nhưng mỗi thứ năm, ngày thân nhân đến thăm học sinh, tôi cần phải đánh lộn, mỗi tháng ít nhất một lần, đôi khi hai lần. Không thể nào khác hơn.

Các bà mẹ đến thăm con, họ đưa con đi ăn ở ngoài trường rồi buổi chiều, khi nào trời tốt, các bà không làm gì hơn là đi dạo với con trong sân trường, dưới mấy cây dẻ. Mỗi thứ tư, mặc dù cố tự hứa sẽ không đứng ở cửa sổ thư viện nhìn cảnh ấy, nhưng không đừng được, ngày hôm sau, tôi không tự cưỡng nổi. Tôi phải đứng tại một chỗ có thể trông thấy tất cả. Và tôi đã phát giác hai thái độ đều làm tôi nổi tức.

Những đứa có mẹ ăn mặc xấu xí hoặc tồi tàn, hoặc quê mùa. Bọn này có vẻ xấu hổ vì mẹ chúng. Tôi trố mắt nhìn. Trời ơi, quả thật chúng xấu hổ thật. À, bọn khiếp nhược, chó má, khốn nạn! Vả lại, nhìn là thấy ngay. Thay vì đi cho hết vòng, hoặc đi tới đi lui cả chiều dài sân trường, chúng ngồi vào chiếc ghế dài, trong một góc, rồi không nhúc nhích cử động nữa. Chúng không muốn thiên hạ thấy mẹ chúng, chúng giấu đi, bọn chó má đã sớm tưởng rằng người trí thức, người sang trọng phải như thế nào, và trước khi trở thành Kỹ Sư Mỹ Nghệ, chúng muốn quên nguồn gốc của chúng. Những thằng ấy, sau này, khi đột ngột bị cha mẹ bất thình lình đến giữa lúc chúng tiếp bọn vô sở bất vi, có thể đưa cha mẹ vào trong bếp, rồi ra nói với khách: “Xin lỗi quí vị, đó là những người bà con xa ở tỉnh lên bất thình lình”.

Gây chuyện với hạng ấy không phải là việc khó. Khi một thằng đuổi mẹ nó về trước giờ bước vào thư viện, nơi tôi đang đứng, tôi tấn công lập tức:

– Ê, Pierrot, tại sao mày để mẹ mày đi mau vậy?

– Bà ấy có việc gấp.

– Không phải. Mày là một thằng nói dối, mẹ mày về thôn gấp bằng chuyến xe lửa bảy giờ. Tao nói cho mày biết tại sao mày đuổi bà về, tại mày xấu hổ vì bà. Đồ khốn nạn, mày thử nói tao nói không đúng xem sao!

Tôi luôn luôn thắng trong các trận đụng độ. Tôi đánh lộn quá nhiều nên trở thành rất giỏi trong nghề đấm đá. Cho dù tôi ăn đòn nhiều hơn đối phương, tôi cũng đếch cần, tôi vẫn thích thú. Tuy nhiên, không bao giờ tôi tấn công một đứa yếu hơn tôi.

Một loại khác làm cho tôi phẫn nộ, là loại mà tôi gọi bọn khoe khoang, với bọn này, tôi đánh hăng máu nhất. Đó là những đứa có mẹ đẹp, thanh lịch, quí phái. Khi người ta mười sáu, mười bảy tuổi, người ta hãnh diện trình bày cho thiên hạ trông thấy một bà mẹ như vậy, và chúng đã vênh vang nắm tay mẹ chúng đi qua đi lại, lại còn làm nhiều điệu bộ xem đến bực mình.

Mỗi lần nhận thấy một đứa có bộ tịch quá khoe khoang – gần như một sự khiêu khích, – hoặc khi thấy bà mẹ nó có dáng đi giống mẹ tôi, cũng mang bao tay, cởi ra hoặc cầm bao tay để thòng xuống rất duyên dáng, thế là không kìm hãm nổi nữa, tôi điên tiết lên.

Đương sự vừa bước vào là tôi nhào tới:

– Không cần phải khoe khoang, đồ cục mịch, vì có một bà mẹ ăn diện theo thời trang năm ngoái. Mẹ tao còn đẹp hơn, thanh lịch hơn, quí phái hơn nhiều! nữ trang của mẹ tao là thứ thiệt không phải đồ giả như của mẹ mày. Thứ đồ rẻ tiền. Dù tao không thạo cũng thấy ngay mà!

Không cần phải nói, phần nhiều bọn thanh niên bị tấn công như vậy không chờ hết câu đã đưa quả đấm vào mặt tôi. Thường thì quả đấm đầu tiên làm tôi xây xẩm. Tôi đấm đá như một thằng du đãng, đánh bằng đầu, đá bằng chân, thoi bằng cùi chỏ trong lúc xáp lá cà, trong tôi sôi sục hân hoan, như thể tôi đã chà đạp lên trên những bà mẹ đã cả gan khoe mình đẹp đẽ và thanh lịch bằng mẹ tôi.

Quả là có một mãnh lực nào thúc đẩy tôi, tôi không thể làm khác. Từ ngày mẹ tôi mất, khi tôi gần mười một tuổi, tôi vẫn giữ vết hằn về sự bất công mà số phận đã dành cho tôi. Tuổi mười một không hiểu vì sao người ta không thể chấp nhận sinh ly tử biệt. Những người quá già chết đi còn được. Nhưng mẹ mình, trời ơi, một bà tiên đang độ thanh xuân, đẹp đẽ, khỏe mạnh tràn đầy tình thương đối với mình, có thể nào chết được? Không phải chỉ có chuyện ấy mà tôi còn phải hiểu, phải chấp nhận cái chết đáng ghê tởm! Không, không thể được, không thể nào được! Các người hãy giấu kỹ các bà mẹ nếu không muốn tôi nổi loạn. Chưa hết! Có lẽ tôi ghen cả với con cừu non mà mẹ nó lấy lưỡi liếm để nó khỏi kêu be be.

Vì một trận đấm đá loại ấy mà đời tôi hoàn toàn thay đổi.

Quả thật thằng ấy không có quyền nằm ngủ thản nhiên sau khi đã đóng kịch buổi chiều. Tự cao tự đại hãnh diện về số tuổi mười chín, về môn toán được nhiều điểm, số một của các ứng viên kỳ thi sắp tới vào trường Cao Đẳng Mỹ Nghệ. Cao, rất cao, không chơi thể thao vì suốt ngày chỉ học gạo, nhưng rất mạnh. Một hôm trong khi đi dạo chơi, nó đã một mình dở lên cả một thân cây lớn để cho chúng tôi thò tay vào hang một con chuột đồng.

Thằng ấy đã trải qua một ngày thứ năm vui như hội! Một bà mẹ mảnh mai, thân hình gần thanh tú, không, phải trung thực mà nói, cũng thanh tú như mẹ tôi, một chiếc áo dài trắng điểm chấm xanh, cánh tay áo phồng, giống hệt áo của mẹ tôi. Đôi mắt mở lớn đen huyền, một chiếc mũ nhỏ xinh xinh có điểm thêm một mạng mỏng che mặt bằng vải tuyn trắng.

Và thằng sinh viên Cao đẳng Mỹ nghệ tương lai vênh vang đi dạo với bà ấy trong sân trường suốt buổi chiều, đi tới, đi lui, đi ngang, đi vòng quanh, đi theo góc chéo. Chốc chốc mẹ con lại hôn nhau, chẳng khác một đôi nhân tình. Đáng lẽ tôi phải ở vào địa vị của nó, đáng lẽ mẹ tôi tựa vào cánh tay tôi, rất nhẹ, như một con linh dương và tôi cũng hôn mẹ tôi trên đôi má mịn màng.

Nó vừa trở vào tôi tấn công ngay:

– À, mày hả! Mày giỏi làm trò xiếc cũng như mày giỏi toán! Tao không ngờ mày quá…

– Mày sao vậy Henri?

– Không sao hết, tao phải nói với mày chuyện vừa xảy ra, mày đã khoe mẹ mày như người ta khoe một con gấu trong rạp xiếc, để lòe các bạn học. Mày nên biết không lòe tao được đâu. Vì mẹ mày là đồ bỏ nếu so với mẹ tao, chỉ có hào nhoáng bên ngoài loại điếm hạng sang như tao thường thấy ở Vals les Bains trong mùa nghỉ hè.

– Tao sẽ đấm vào mặt mày và mày biết tao đấm khá mạnh. Rút lại câu mày vừa nói. Mày cũng biết tao mạnh hơn mày.

– Mày xìu rồi phải không? Này, tao biết mày mạnh hơn tao. Vậy thì để cân bằng lực lượng, chúng mình sẽ quyết đấu, mỗi đứa với một cây compa có mũi nhọn. Đi kiếm cây của mày đi, tao đi lấy cây của tao. Nếu mày không phải một thằng hèn, nếu mày chống đỡ nổi cả cho mày và mẹ mày, tao sẽ đợi mày ở sau cầu tiêu trong vòng 5 phút.

– Tao sẽ đến.           

Vài phút sao, nó ngã lăn ra, mũi compa của tôi đâm sâu đúng vào phía dưới quả tim nó.

Ba tôi đến. Ba tôi cao lớn, khoảng một thước tám mươi, có phần nặng nề, đúng là con Ông giáo và một bà nhà quê. Mặt ba tôi tròn, rất hiền từ, đôi mắt màu nâu lại điểm ánh vàng, tia mắt có phần thơ dại, có lẽ vì bọn học trò cứ nhìn vào mắt ba tôi như nhìn vào một tấm kính. Hẳn là đôi mắt ba tôi đã giữ lại như đã thấm nhuần một cái gì rất tinh khiết bí mật, mà chỉ tuổi thơ mới có: tính ngây thơ và hồn nhiên.

Đối với ba tôi, cái chết của mẹ tôi không chỉ là một sự mất mát khủng khiếp. Cái chết ấy không gây nên một vết thương được hàn gắn dần dần, mà là một vết thương vĩnh cửu, luôn luôn đau xót như ngày đầu. Mối tình của ba tôi tuyệt đối, duy nhất. Mẹ tôi, Loulou như ba tôi thường gọi, không còn hiện hữu bằng xương bằng thịt nữa, nhưng vì không thể đi bên cạnh ba tôi nữa, nên đã vô hình ẩn náu vào trong ba tôi hai mươi bốn giờ trên hai mươi bốn. Tuy vậy, vầng trán vẫn thanh thản. Trên vầng trán, không có vết hằn đau khổ hay lo âu. Nhưng ba tôi không còn có thể cười đùa, ca hát, dù nho nhỏ cũng không được. Vết hằn nằm sâu trong lòng ba tôi. Bề ngoài, ba tôi cố gắng giữ vẻ thanh thản tự nhiên. Tôi biết hiện nay ba tôi vẫn nhịn một bữa săn bắn vì có một học sinh cần được kèm thêm để thi đỗ. Vì trong làng và vùng phụ cận, ai cũng biết ba tôi rất thích ăn mía, nên chỉ xem đống mía đồ sộ ở cửa vào nhà chúng tôi là biết ngay, đã nhiều đứa trẻ được ba tôi nhẫn nại, nhẹ nhàng, cương quyết đưa đến đỗ đạt.

Tôi đã mười bảy tuổi khi tôi từ phòng ông dự thẩm bước ra. Ông khuyên ba tôi, nếu muốn ngưng tố quyền, phải buộc tôi ký tên đăng lính Hải quân. Tại ty cảnh binh Aubenas, tôi ký tên nhập ngũ ba năm.

Thực ra ba tôi không rày la tôi về lỗi lầm nghiêm trọng tôi vừa phạm.

– Henri, (ba tôi gọi tôi là Henri khi ông tỏ vẻ nghiêm khắc), Henri, nếu ba hiểu, và ba tin rằng ba hiểu, con đã đề nghị đánh nhau bằng khí giới bởi vì đối phương của con mạnh hơn con phải không?

– Thưa vâng.

– Thế là con bậy rồi. Chỉ bọn du đãng mới đánh nhau như vậy. Con không phải là một tên du đãng.

– Dạ.

– Con xem đó, con đã tự đưa con và đưa nhà mình vào tình thế hết sức rắc rối. Con nên nghĩ đến nỗi phiền muộn của mẹ con ở dưới cửu tuyền.

– Con không nghĩ đã làm cho má con buồn phiền.

– Tại sao vậy Henri?

– Chính vì má mà con đánh lộn.

– Mày muốn nói gì?

– Con không muốn thấy bọn bạn học đem mẹ chúng nó ra trêu tức con.

– Henri, ba nói cho con biết, không phải vì má con nên xảy ra vụ đánh lộn này cũng như các vụ trước. Không phải vì tình thương chân chính đối với má con. Lý do, con là một đứa ích kỷ, thấy không? Vì định mệnh đã đem má con đi, nên con muốn tất cả bọn con nít khác cũng không có mẹ như con. Như vậy không tốt, như vậy là bất công, nhưng con làm như vậy ba không ngạc nhiên. Ba cũng vậy, ba đau khổ khi một bạn đồng sự quàng tay vợ đến thăm ba. Ba không thể trông thấy hạnh phúc của họ, hạnh phúc đáng lẽ ba cũng được hưởng, còn hơn họ nữa, mà không nghĩ đến nỗi bất công thê thảm của số mạng. Tuy vậy ba không ganh ghét họ, trái lại, ba mong ước họ không phải gặp chuyện khủng khiếp như ba.

“Nếu quả thật con là hình ảnh của linh hồn mẹ con, con sẽ hoan hỉ khi thấy người khác sung sướng. Con xem đấy, để ra khỏi tình trạng này, con phải vào Hải quân. Ít ra cũng phải ba năm cực nhọc. Và trong ba năm ấy, ba cũng sẽ bị trừng phạt, vì con sẽ xa ba”.

Rồi ba tôi nói một câu khắc sâu mãi mãi trong tâm khảm tôi.

– Con biết không, tuổi nào cũng có thể mồ côi. Suốt đời con nên nhớ điều ấy.

Còi tàu Napoli làm tôi giựt mình và xóa mờ dĩ vãng xa xôi, những hình ảnh của tuổi mười bảy tôi cùng ba tôi bước ra khỏi ty cảnh binh, sau khi tôi ký giấy tình nguyện gia nhập Hải quân. Nhưng liền sau, xuất hiện trước mặt tôi cảnh tôi gặp ba tôi lần cuối, một cảnh đau lòng đến tuyệt vọng.

Cảnh ấy đã diễn ra trong một phòng tiếp thân nhân u ám của nhà tù La Santé, mỗi phòng cách nhau một thước, mỗi tù nhân đứng sau một hàng song sắt trong một thứ xà lim. Cổ tôi nghẹn lại vì xấu hổ, vì ghê tởm cho đời tôi đã đưa ba tôi đến đây khoảng ba mươi phút trong cái chuồng cọp này.

Ba tôi đến không phải để rầy la tôi đã là nghi can số một trong một vụ bẩn thỉu. Ba tôi đứng kia, vẻ mặt đau khổ như ngày nào ông báo tin mẹ tôi chết. Ông đã tự ý vào nhà giam này để thăm thằng nhỏ trong nửa giờ, không với ý định khiển trách hành vi bất hảo của nó, hay vạch cho nó thấy hậu quả của vụ này đối với danh dự và cuộc sống yên ổn của gia đình, ông không nói: “Mày là đứa con bất trị”, không, ông xin tha thứ đã không biết dạy dỗ tôi.

Ba tôi không đến để nói: “Mày đã phạm vào tội…”, trái lại, ông nói một điều tôi không bao giờ ngờ, một câu đi vào tận cùng lòng tôi hơn tất cả mọi lời khiển trách trên thế gian:

“Con vào đây, Ba nghĩ đó là lỗi tại ba. Con tha thứ cho ba, tha thứ cho ba đã quá nuông chìu con”.

Rồi chính trên Địa trung hải mà hiện giờ tàu Napoli đang nhẹ nhàng lướt sóng, chính trên biển này, sau vài tuần ở kho 5 Hải quân tại Toulon, tôi được đưa lên tàu Thionville. Một chiếc tuần dương hạm mảnh mai, thanh nhã đã được thiết trí để đạt tốc độ tối cao: không một chút tiện nghi, chỉ có rất nhiều hầm chứa than đá.

Không gì khó chịu hơn là không khí kỷ luật sắt của Hải quân vào năm 1923. Vả lại, các binh lính hải quân đã được sắp hạng từ một đến sáu tùy theo trình độ học vấn, tôi ở vào trình độ cao nhất, hạng sáu. Thế là một thanh niên mười bảy tuổi vừa bước khỏi lớp dự bị cao đẳng Mỹ Nghệ, không thể nào hiểu, không thể nào chấp nhận phải mù quáng và lập tức tuân lệnh những hạ sĩ quan, trình độ học vấn kém nhất. Nhiều lắm họ học đến lớp ba. Hầu hết là người xứ Bretagne. Tôi không có ác cảm với người xứ ấy. Để trở thành lính hải quân tốt, chịu đựng gian khổ, tôi không cãi họ. Nhưng về mặt tâm lý, đó là vấn đề khác.

Tôi nổi lên tranh đấu ngay. Tôi không thể tuân hành những lệnh không đầu không đuôi. Tôi không chịu theo học các lớp chuyên môn, đối với sở học của tôi đó là chuyện đương nhiên, và lập tức tôi được xếp vào hạng vô kỷ luật, bất khả dụng, không nghề chuyên môn.

Người ta dành cho chúng tôi các công việc ghê tởm nhất, bực bội nhất, tồi bại nhất. “Anh thuộc hạng bất khả dụng phải không? Thế là chúng tôi sẽ cho anh thành hạng làm gì cũng được”. Các tạp dịch như gọt khoai, đánh bóng đồ bằng đồng suốt ngày, bốc lên tàu những cục than đá nặng năm kí để sắp vào hầm tàu rộng lớn như sắp sách trong tủ thư viện, lau chùi sân tàu, tất cả đều là việc của chúng tôi.

– Anh đứng một đống sau ống khói làm gì đấy?

– Thưa trung sĩ, chúng tôi vừa rửa xong sàn tàu.

– Vậy hả? Thế thì rửa lại, mà lần này thì từ lái tới mũi. Lần này phải cho bóng hơn, nếu không sẽ biết mặt tôi.

Thằng chó ấy đã ở trong hải quân 15 năm. Trình độ học vấn: có lẽ lớp tư. Tụi nó còn nói nó không phải dân Bretagne ở bờ biển, mà là một thằng nông dân ở trong ruộng.

Một lính hải quân trông khá xinh với cái búp len đỏ trên mũ, cái áo ngoài xanh cổ rộng, cái mũ bê rê dẹp nghiêng trên vành tai, quần áo hào hoa như người thường nói. Nhưng bọn bất khả dụng như bọn chúng tôi, không có quyền cho sửa lại quần áo cho vừa với thân hình. Chúng tôi càng ăn mặc xốc xếch, bộ tịch càng tồi tàn, bọn hạ sĩ quan càng thích chí. Thế là có vụ lộn xộn. Trong hoàn cảnh như vậy, bọn cứng đầu không ngừng bày ra và phạm phải những lỗi lầm khá nặng. Ví dụ mỗi lần cặp bến, chúng tôi lên bộ và ở lại đêm trên phố. Đi đâu bây giờ? Trong các nhà điếm, dĩ nhiên. Tôi cùng một hoặc hai thằng bạn nữa có cách xoay xở. Mỗi đứa có gấp một con điếm, không những để làm tình không tốn tiền, mà còn được nó cho một hai tờ để ăn nhậu một chầu. Không phải chúng tôi mê các nàng mà chính các nàng khoái chúng tôi. Chúng tôi về bằng ngả công xưởng, vào lúc bốn giờ sáng, ngất ngư vì làm tình quá độ, lại còn say chếnh choáng.

Muốn về tàu, không khó. Chúng tôi tìm một lính canh người A Rập.

– Ai đi đó? Trả lời, nếu không tôi bắn! Mật hiệu là gì? Nếu mày không nói, tao bắn.

– Chính mày mới không biết. Cái đầu mày nhỏ quá nên mày quên mất rồi.

– Tao quên hả? Hôm nay là “Rochefort”.

– Mày nói đúng, được rồi.

Chúng tôi thoát và đi đến một lính canh khác.

– Ai đi đó? Khẩu hiệu!

– Rochefort.

– Tốt. Vào đi.

Các hình phạt cứ gia tăng. Mười lăm ngày tù, rồi ba mươi ngày. Để sửa sai một thằng hỏa đầu quân từ chối không cho chúng tôi một miếng thịt và một khúc bánh mì sau khi làm tạp dịch gọt khoai, chúng tôi lấy trộm luôn cả một cái đùi, nấu chín ngon lành, bằng cách thọc một chĩa ba vào lỗ thông hơi ở trên lò lúc thằng hỏa đầu quân quay lưng. Chúng tôi đem xuống hầm tàu ăn đã thôi. Kết quả: 45 ngày tù tại nhà giam hải quân; tại đây tôi học được câu: “Ở truồng là không mặc quần áo gì hết! Mày không biết sao?”. Tôi bị lột truồng trong sân nhà giam ở Toulon, trời mùa đông lạnh giá, trước bể giặt đồ; chúng tôi bắt buộc phải nhảy xuống đó.

Chỉ vì một cái mũ bê rê hải quân không đáng giá mười quan mà tôi phải ra trước hội đồng kỷ luật. Lý do: hủy hoại quân phục.

Trong hải quân, ít ra là trong thời kỳ ấy, mọi người đều bóp mũ của mình. Không phải để phá hủy, nhưng để cho đẹp. Người ta nhúng nước chiếc bê-rê, rồi ba đứa ráng sức kéo nó ra, khi nó đã rộng hết cỡ rồi, để vào trong một cái cốt vòng tròn để chiếc mũ có hình một cái bánh tráng. Bọn con gái thường bảo: “Chiếc mũ bánh tráng thật dễ thương hết sức”. Nhất là khi có thêm một bông len màu hỏa hoàng xinh xinh được xén tỉa cắt bằng kéo. Đối với các thiếu nữ trong thành phố bất cứ thuộc giới nào, sờ vào bông len mũ ấy rất hên, nhưng phải đổi bằng một chiếc hôn.

Lão đại úy lo ngại vì mấy đứa con khó thi đậu tiểu học. Lão cho rằng không phải lỗi chúng nó mà lỗi tại các thày cố ý đặt những câu hỏi nó không biết. Đối với con họ thì lại khác: giữa nhà giáo với nhau, họ bênh nhau. Thế mà tôi là con giáo viên.

Charrière, mỗi người một lần. Ở đây, với tôi, không có chuyện ân huệ. Trái lại!

Tôi trở thành nạn nhân của thằng cha đần độn ấy. Hắn không buông tha tôi, hành hạ tôi không ngừng. Đến nỗi tôi bị tù đến ba lần. Nhưng không bao giờ quá năm ngày 23 giờ, vì quá sáu ngày, sẽ bị kể là đào ngũ. Suýt nữa tôi bị xem là đào ngũ ở Nice. Tôi ngủ đêm với một con điếm ghê gớm và thức dậy quá trễ. Chỉ còn một giờ nữa tôi trở thành lính đào ngũ. Tôi vội vàng mặc quần áo chạy đi tìm một anh cảnh sát để được bị bắt. Tôi thấy một anh đứng đó và yêu cầu anh bắt tôi. Trúng phải một thằng cha mập bự, quá hiền lành, quá tốt bụng:

– Thôi nhỏ ơi! Không nên khùng như vậy! Hãy ngoan ngoãn về dưới tàu rồi giải thích cho người ta hiểu. Ai cũng qua một thời tuổi trẻ.

Dù tôi có nói rằng trong một giờ tôi sẽ trở thành lính đào ngũ, anh ta vẫn không chịu hiểu. Thế là tôi lượm một viên đá, quay về phía tủ kính bày hàng và nói với anh cảnh sát:

– Nếu anh không bắt tôi, tôi đếm đến ba là tôi cho tủ hàng kia bay lên trời.

– À, thằng nhỏ này điên rồi! Đi, về bót!

Thế là vì đã làm méo mó một cái mũ lính thủy để cho nó đẹp ra mà tôi bị đưa vào các trung đội trừng giới ở Calvi, trên đảo Corse. Không ai có thể ngờ đó là bước đầu đi đến tù đày.

Các trung đội trừng giới có y phục đặc biệt. Vừa đến nơi, chúng tôi được một “ủy ban tiếp nhận” đón; ủy ban này có nhiệm vụ xếp loại từng người, hoặc là phần tử nguy hiểm, hoặc là hạng lơ mơ, hoặc là loại bất lực. Buổi lễ thân mật ấy được mệnh danh là cuộc biểu diễn. Phải chứng tỏ rằng mình là người xứng đáng bằng cách thử sức liên tiếp với hai hay ba người cũ. Vì đã quen đấm đá ở trường Cao Đẳng Crest, nên tôi biểu diễn không tệ lắm. Đến trận thứ nhì, môi tôi bị tét, mũi bị sưng to, bọn cũ ngưng cuộc biểu diễn. Tôi được xếp vào hạng nguy hiểm.

Thời kỳ trừng giới. Tôi làm tại vườn nho một nghị sĩ người Corse. Từ lúc mặt trời mọc đến xẩm tối, không nghỉ, không có quà, vì cần phải trừng trị bọn cứng đầu. Chúng tôi không còn thuộc binh chủng hải quân, chúng tôi thuộc trung đoàn bộ binh 173 ở Bastia. Tôi còn nhớ vòng thành Calvi, đoạn đường đi bộ năm cây số đến Calenzana là nơi làm việc, vai mang cuốc hoặc xẻng, vòng về chạy bộ đến nhà giam. Thật chịu không nổi, thật là bất nhân. Chúng tôi nổi loạn, và vì tôi là một trong những người cầm đầu, nên tôi cùng mười hai tên nữa bị đưa đi một trại trừng giới ghê gớm hơn, trại Corté.

Một thành trì ở trên đỉnh núi, sáu trăm bực cấp phải leo lên và đi xuống mỗi ngày hai lần để đến làm việc gần một nhà ga, xây đắp một sân vận động cho quân nhân trong quận.

Chính trong địa ngục này, trong tập thể ma đầu này, tôi đã nhận được mấy chữ từ Toulon gởi đến, do một thường dân ở Corté lén đưa cho tôi: “Anh yêu quí, nếu anh muốn rời khỏi nơi khốn khổ này, anh hãy chặt ngón tay cái. Luật pháp ấn định rằng người mất ngón tay cái đương nhiên được xếp vào hạng phù trợ, nhưng trong trường hợp ngón tay ấy bị đứt vì một tai nạn lúc hành quân, thì được xem như bất lực vĩnh viễn và được giải ngũ. Luật ngày 1831, chỉ thị ngày 23 tháng 7 năm 1883. Em chờ anh. Clara”. Địa chỉ: quán Moulin Rouge, khu phố đặc biệt, Toulon.

Tôi thi hành gấp. Công việc của chúng tôi là mỗi ngày phải lấy trong núi ra độ hai thước khối đất chở bằng xe cút kít đến một nơi cách đó năm mươi thước để những chiếc xe vận tải chở những gì không cần cho việc tráng đều mặt sân vận động. Chúng tôi được chia từng toán hai người. Để khỏi bị kết tội đã cố ý hủy hoại thân thể, có thể bị thêm 5 năm tù quân kỷ nữa, tôi không nên chặt ngón tay cái bằng một dụng cụ sắt bén.

Cùng với Franki, một người Corse trong toán của tôi, chúng tôi đào từ chân núi thành một hầm khá rộng. Chỉ cần một lưỡi cuốc nữa là tất cả khối đất ở trên sẽ đổ trên đầu tôi. Bọn hạ sĩ quan canh giữ chúng tôi rất khắt khe. Trung sĩ Anbertini luôn luôn ở bên lưng chúng tôi, cách vài ba thước. Vì vậy âm mưu của tôi khó thực hiện, nhưng có điều hay là nếu mọi việc êm xuôi, thằng chả sẽ là một nhân chứng vô tư.

Franki đã để phía trên chỗ đất doi ra một tảng đá lớn có cạnh sắc, tôi để ngón tay cái tôi lên trên tảng đá và để chiếc khăn tay trong miệng để khỏi thét lên. Chỉ còn năm, sáu giây để cho đổ đóng đất xuống người tôi. Franki sẽ dùng một viên đá khác nặng gần mười kí để đập nát ngón tay tôi, công việc không thể hỏng. Bắt buộc người ta sẽ phải chặt ngón tay cái của tôi, dù cho nó không hoàn toàn bị đứt ra.

Lão trung sĩ đứng cách chúng tôi ba thước, đang gỡ đất dính vào đế giày. Franki cầm viên đá, giơ lên thật cao và đập xuống. Ngón tay cái của tôi dập nát. Tiếng động trùng hợp với tiếng cuốc của bọn khác, lão trung sĩ không thấy gì hết. Thêm hai phát cuốc, đất đổ trên người tôi, tôi để cho bị lấp vùi. Có tiếng la hét, tiếng kêu cứu, người ta lôi tôi ra và cuối cùng tôi lòi ra, dính đầy đất, ngón tay cái hoàn toàn dập nát. Tôi đau thấu trời xanh. Tôi cũng cố gắng nói với viên trung sĩ:

– Rồi đây chúng nó sẽ nói tôi cố ý làm ra thế này.

– Charrière, không sao đâu. Tôi trông thấy tai nạn, tôi nghiêm khắc nhưng đứng đắn. Tôi sẽ nói lên những gì tôi đã thấy, đừng sợ gì hết.

Hai tháng sau, tôi được giải ngũ, có tiền cấp dưỡng, ngón tay trái của tôi chôn tại Corté, tôi được chuyển đến kho 5 ở Toulon rồi được trả tự do.

Tôi đến cám ơn Clara, ở quán Moulin Rouge. Nàng nhận thấy không ai để ý đến ngón tay cái ở bàn tay trái và với bốn hoặc năm ngón tay, tôi vẫn mơn trớn ra gì. Đó là điều quan trọng. Giã biệt hải quân, đại đội trừng giới với tất cả những chuyện rắc rối.

– Ba nhận thấy con có thay đổi. Ba không biết rõ như thế nào. Ba hy vọng ba tháng vừa qua con sống với bọn thanh niên hư hỏng không để lại dấu vết nào.

Tôi hiện ở với ba tôi trong ngôi nhà của tuổi thơ ấu; tôi trở về đây ngay sau khi được giải ngũ. Phải chăng đã có sự thay đổi sâu xa trong tôi?

– Thưa ba, con không biết, nên không thể trả lời ba, hình như con dữ tợn hơn, ít chịu theo nếp sống mà ba đã dạy con lúc còn bé. Ba nói đúng, có một cái gì thay đổi nơi con. Con cảm thấy như vậy trong ngôi nhà này, nơi cha con mình đã sống hạnh phúc với má cùng các chị con. Con không còn thấy xấu hổ khi ở đây, bên ba. Có lẽ con đã chai lì.

– Con định làm gì?

– Ba khuyên con nên làm gì?

– Tìm công ăn việc làm càng sớm càng tốt. Con đã hai mươi mốt tuổi rồi.

Hai kỳ thi tuyển nhân viên. Một ở Rivas, vào bưu điện, và một ở Avignon làm nhân viên dân sự trong cơ quan hành chánh của quân đội. Ông ngoại Thierry cùng đi với tôi.

Thi viết và vấn đáp rất cừ. Nếu không đỗ đầu thì cũng vào mười người đỗ cao. Vì có đến một trăm mười chỗ, nên không gì khó khăn. Tôi đóng trọn vai trò, tôi làm theo lời khuyên bảo của ba tôi, tôi sẽ là công chức. Tôi thành khẩn, tôi trả ơn ba má tôi bằng cách ấy. Một cuộc sống đàng hoàng, lương thiện. Nhưng giờ đây, viết mấy giòng này, tôi không khỏi tự hỏi cậu bé Charrière, cũng là con một giáo chức, sẽ làm công chức được bao lâu với tất cả những gì đang sôi sục trong người?

Đọc kết quả được gởi đến trong buổi sáng, ba tôi hoan hỉ quyết định tổ chức một buổi tiệc nho nhỏ để ăn mừng. Dì Léontine, chú Dumarché, ông ngoại Thierry, bà nội. Một ổ bánh lớn, một chai sâm banh thứ thiệt, con gái một ông bạn của ba được mời dự tiệc. “Con bé là một người vợ xuất sắc cho thằng nhỏ”.

Lần đầu tiên trong mười năm, không khí vui vẻ trở về với ngôi nhà. Có một lúc tôi tự trách, nhưng rồi tôi chấp nhận mọi người cười vui dưới mái nhà này lần đầu sau ngày mẹ tôi qua đời. Tôi chấp nhận vì tôi đã vì cha mẹ tôi, quyết định như cha mẹ tôi đã sống, một cuộc sống dung dị.

Tương lai sẽ được bảo đảm, đầy tin tưởng.

– Rồi bây giờ thì chắc rồi, Henri đỗ thứ ba. Thế là trong hai mươi năm, nó sẽ có một sự nghiệp tốt lành.

Tôi đi dạo quanh vườn với người con gái mà ba tôi mơ ước được biến thành cô dâu và sẽ đem lại hạnh phúc cho tôi. Nàng khá xinh, con nhà gia giáo, có phần quí phái và rất thông minh. Nàng có một điều khiến tôi thích nàng: mẹ nàng mất đi khi nàng vừa lọt lòng, như vậy là tôi giàu tình mẫu tử hơn nàng. Tôi sẽ không là kỹ sư Mỹ nghệ, nhưng tôi sẽ có một địa vị khả quan.

Hai tháng sau, bom nổ!

“Vì lý do ông không thể nạp cho chúng tôi chứng chỉ hạnh kiểm tốt trong hải quân, chúng tôi rất tiếc báo tin không thể tuyển dụng ông”.

Buổi sáng người phát thơ đem bưu phiếu truy lãnh 6 tháng tiền cấp dưỡng cựu chiến binh, ba tôi vắng nhà. Từ ngày nhận được văn thư đã làm tan biến hết ảo vọng, ba tôi buồn bã, ít nói. Ba đau khổ.

Tại sao phải tiếp tục như thế này? Mau lên, một chiếc va li, vài bộ quần áo, mình nên lợi dụng cuộc họp giáo chức ở Aubenas để biến đi.

Bà nội tôi bắt gặp tôi tại bực cấp:

– Henri, con đi đâu đó?

– Con đi đến nơi nào người ta không hỏi chứng chỉ hạnh kiểm của con trong Hải quân. Con sẽ tìm gặp một người đã quen lúc ở đại đội trừng giới tại Calvi, anh ta sẽ dạy con sống ngoài lề cái xã hội mà con đã ngu ngốc tin tưởng, anh ấy biết rõ con không còn mong gì nơi cái xã hội này. Con đi Ba Lê, đến Montmartre, nội ạ.

– Con sẽ làm gì?

– Con chưa biết, nhưng có lẽ không gì hay. Con xin giã từ nội, xin nội hôn ba giùm con.

Chúng tôi tiến rất nhanh gần đất liền, bây giờ đã trông thấy rõ các cửa sổ trên các tòa nhà.

Tôi trở lại mảnh đất này sau một cuộc viễn du rất lâu, để gặp lại những người thân thuộc sau hai mươi bảy năm trời.

Gia đình tôi nay ra sao? Hơn hai mươi năm họ đã sống, cố gắng quên tôi. Đối với họ, tôi đã chết, đối với con họ, không bao giờ có tôi, không bao giờ tên tôi được nói đến. Hoặc giả chỉ trong một đôi lần trong vòng thân mật, với ba tôi, có lẽ vậy. Mới từ năm năm nay, họ phải dần dần tạo ra cho con họ một ông cậu Henri đang sống ở bên Venezuela.

Vâng, họ phải làm tất cả để xóa bỏ đứa em thằng cháu, thằng cậu của con cháu họ trong danh sách những người thương. Từ năm năm nay chúng tôi viết thư cho nhau. Họ viết những bức thư dễ thương, nhiều lời thân ái. Nhưng dù sao, họ cũng bị ràng buộc vì quá khứ, vì xã hội. Những bức thư, dễ thương lắm, hay lắm, nhưng họ không sợ tiếng thị phi sao, họ không ngại gặp lại một đứa em là một tên tù vượt ngục đi hẹn gặp ở Tây Ban Nha sao?

Tôi không muốn họ đến với một ý nghĩ làm một bổn phận, tôi muốn họ chạy đến với một tấm lòng chứa đầy tình cảm chân thành đối với tôi.

Tuy nhiên, nếu họ biết…

Nếu họ biết, trong khi bến bờ kia dần dần xích gần lại, dãy bến bờ đã lùi xa gấp cách đây hai mươi bảy năm, nếu họ biết rằng trong mười ba năm tù đày, tôi vẫn ở bên họ.

Nếu hai chị tôi trông thấy những hình ảnh sống động mà tôi đã tự tạo ra trong ngục thất, trong chuồng cọp nhà cấm cố!

Nếu các chị ấy biết tôi đã sống với các chị, với tất cả những người trong gia tộc, nhờ họ tôi đã thấy hoàn cảnh bất khả thắng, đã tìm thấy bình an trong tuyệt vọng, đã quên mình là một tên tù, đã từ chối tự vẫn, nếu các chị biết rằng những tháng, những ngày, những giờ, những phút, những giây trong những năm cô độc hoàn toàn, im lặng hoàn toàn, đã tràn đầy những hình ảnh nhỏ nhặt nhất của tuổi thơ ấu thần tiên.

Bờ biển mỗi lúc một gần thêm, chúng tôi trông thấy Bacelone, chúng tôi sẽ vào hải cảng này. Còi tàu vang lên: U! U! Tôi muốn dùng bàn tay làm ống loa để trước miệng hét lên niềm vui sống. “Hỡi bà con, tôi đến đây! Chạy mau lên!”, chẳng khác nào lúc còn bé tôi hét lên với họ như vậy trong các đồng cỏ ở Fabras khi tìm thấy một cụm hoa tím. “Tao xí phần rồi.” Yvonne vừa la lớn vừa lấy tay vẽ một vòng tròn tưởng tượng để cho tôi biết tất cả hoa tím ở đó là của chị ấy. “Phần chị, miếng này”, chị Hélène nói, luôn luôn rộng rãi. Tôi thì không chỉ riêng một chỗ nào, nhưng tôi nhanh tay hái hết hoa tím, bất cần thuộc quyền sở hữu của ai.

– Làm gì đó cưng? Em tìm anh gần một giờ rồi đó. Em xuống cả chỗ để xe.

Vẫn ngồi trên ghế, tôi vòng tay ôm Rita, nàng cúi xuống hôn nhẹ lên má tôi. Và chỉ lúc ấy tôi ý thức rằng, nếu tôi đến với gia đình tôi mang theo nhiều mặc cảm và nhiều thắc mắc, hiện giờ trong vòng tay, tôi có gia đình của riêng tôi, do tôi tạo lấy, gia đình đã đưa tôi đến đây. Và nhận thấy tác dụng màu nhiệm của một mối tình chân thực, tôi nói:

– Em yêu, anh vừa sống với dĩ vãng, vừa nhìn về mảnh đất đang tiến đến gần chúng ta, trên đó những người thân của anh đã chết và đang sống.

Thành phố Barcelone, chiếc xe hơi bóng lộn trên bến, các va li xếp ngay ngắn trong thùng xe, chúng tôi đi ngang qua đô thị ấy mà không ghé nghỉ đêm, vì chúng tôi nôn nóng vượt qua cánh đồng đi về phía biên giới nước Pháp trong một ngày chan hòa ánh nắng. Nhưng hai giờ sau, vì quá xúc động, nên tôi phải cho xe đậu bên lề đường lộ, vì không thể lái được nữa.

Tôi bước xuống, mắt hoa lên vì đã cố nhìn cảnh vật, những thửa ruộng cày lên, những cây ngô đồng cao vút, những đám lau lách lay động, những mái tranh, những mái ngói các trang trại nhà cửa, những cây bạch dương reo dưới gió, những đồng cỏ tập hợp tất cả các màu xanh, những con bò sữa đang nhai cỏ rung chuông nơi cổ, những vườn nho, ồ, những lá nho không đủ phủ kín những chùm nho tươi tốt. Mảnh đất Catalogne này, giống hệt vườn tược tốt của nước Pháp mến yêu, tất cả đều là của tôi, của tôi từ bao giờ từ khi tôi mới sinh ra, chính tôi đã đi dạo chơi với ông Ngoại tôi, trong cảnh sắc ấy, trong đồng ruộng ấy, chính trên cái luống cày ấy tôi đã mang túi săn của ba tôi, trong những ngày đi săn, chúng tôi xịt con chó Clara đuổi theo một con thỏ hay một con chim mỏ nhác. Ngay cả đến các hàng rào, cái khuôn viên nhà cửa cũng giống như bên quê nhà tôi. Lại những rãnh nước để tưới vườn, lâu lâu có một tấm ván bắc ngang qua, không cần đến gần tôi cũng biết trong ấy có nhiều ếch và với một lưỡi câu ở đầu một sợi dây cùng một miếng vải đỏ, tôi có thể câu như ngày xưa, câu mấy cũng được.

Và tôi quên hẳn rằng cánh đồng mênh mông kia ở Tây Ban Nha, bởi vì nó là hình ảnh y chang của thung lũng Ardich hay sông Rhône.Và cảnh vật mà tôi quên khuấy đi, khác hẳn cảnh vật tôi vừa sống trong hai mươi bảy năm, những khoảng đất không đếm hết thoai thoải xa tít, được chăm bón như những khu vườn của các linh mục hay của các ông giáo, cảnh vật ấy mê hoặc tôi như một người mẹ siết một đứa con vào lòng. Điều này không có gì lạ, tôi là con đẻ của mảnh đất này kia mà?

Và trên con đường giữa Barcelone với Figueras tôi đã ào khóc. Tôi khóc rất lâu, mãi đến lúc bàn tay của Rita dịu dàng, rất dịu dàng, đặt lên trên gáy tôi và tiếng nàng nói: “Ta nên cảm ơn Thượng Đế, rất gần nước Pháp của anh và chỉ ba ngày nữa là gặp người thân của anh”.

Chúng tôi nghỉ tại một khách sạn gần biên giới nước Pháp nhất. Ngày hôm sau, Rita đáp xe lửa đi Saint Péray tìm Dì Ju. Trong khi nàng đi, tôi kiếm thuê một biệt thự. Chính tôi cũng có thể đi đến đó, nhưng đối với cảnh sát Pháp tôi vẫn là một tên tù vượt ngục Guyane. Tôi đã thuê được một biệt thự rất đẹp ở Rosas, tại bờ biển.

Papillon, gắng kiên chí vài phút nữa, mày sẽ thấy từ xe lửa bước xuống người đàn bà đã yêu ba mày, người đàn bà đã nuôi dưỡng dưới mái gia đình, sự hiện diện cùng linh hồn của mẹ mày, người đàn bà đã viết cho mày những bức thư tuyệt diệu đã làm sống lại trong lòng mày hình ảnh của những người đã yêu mày và mày đã yêu.

Rita, bước xuống trước. Với những cử chỉ ân cần của một đứa con, nàng đưa tay đỡ một bà to lớn hiền lành, vóc dáng như một bà nhà quê, bước xuống sân ga. Tiếp theo là chiếc va li do một người hành khách nhã nhặn chuyền cho nàng.

Rồi hai cánh tay to lớn ôm lấy tôi, siết tôi vào lòng, đôi cánh tay ấy truyền qua tôi hơi ấm của cuộc đời cùng với muôn ngàn chuyện không thể diễn tả bằng lời. Đôi cánh tay nói với tôi: “Lâu quá! Hai mươi bảy năm sau, mặc dù ba anh đã vĩnh viễn khuất bóng, mặc dù má anh ra đi, đã ba mươi chín năm, có một người đã thay thế, dì đây, dì thay cho cả hai. Anh biết không, ba má anh ở trong tôi, không phải cánh tay tôi siết chặt anh, không phải hai cánh tay, mà sáu cánh tay mãi mãi về với anh, và nói với anh rằng chúng tôi luôn luôn yêu anh. Không bao giờ thời gian có thể làm phai mờ hình ảnh của anh, không bao giờ chúng tôi tin rằng anh có tội, không bao giờ chúng tôi bôi xóa tên anh trên danh sách những người thân quý. Nhất là, Riri, người con của chúng tôi đã bỏ nhà ra đi nay trở về, không bao giờ con nên nói lớn hay nên thì thầm, hay nên nghĩ rằng con phải xin tha thứ, vì chúng tôi đã tha thứ cho con lâu rồi”.

Thế là một tay quàng vai Rita, một tay quàng vai bà kế mẫu, tôi ra khỏi nhà ga, quên khuấy rằng hành lý phải cùng đi theo với hành khách.

Dì Ju reo hò như một thiếu nữ trước chiếc xe lộng lẫy của con bà. Dì Ju cũng tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhận thấy trong dịp cảm động đặc biệt này, các va li không được tham dự vào phép lạ đang diễn ra và không có chân để chạy theo chủ chúng nó đang hân hoan sung sướng. Rồi Dì Ju bảo tôi đi lấy chiếc va li không hồn, đồng thời dì cứ tiếp tục nói với thằng con của dì, không chút lo ngại về việc không đi lấy chiếc va li, có vẻ dì muốn nói: “Nếu có vĩnh viễn mất mày, cũng sẽ không mất gì nhiều, tao sẽ không tiếc gì mày cho lắm nếu vì lấy lại mày, ta phải hy sinh mấy phút không được gần gũi đứa con vừa tìm lại”.

Rita với Dì Ju đến lúc mười một giờ sáng, đến ba giờ sáng hôm sau, quá mệt vì đường xa, vì tuổi già, vì xúc động, vì mười sáu giờ liên tiếp cùng nhau gợi lại kỷ niệm xưa, Dì Ju đã ngủ vùi trên vai tôi như một đứa trẻ.

Tôi lăn ra giường và ngủ ngay, toàn thân ê ẩm như giần, kiệt sức, hết thở nổi, không còn chút nghị lực nào để thức. Một hạnh phúc lớn lao cũng đè bẹp con người như một tai họa lớn lao.

Dì Ju về nhà tôi, thức dậy trước tôi và chính họ đã đưa tôi ra khỏi giấc ngủ say sưa để cho tôi biết đã mười một giờ sáng, mặt trời sáng chói, trời trong xanh, cát vàng nóng rực, cà phê và bánh ngọt đang chờ tôi, phải ăn sáng thật nhanh rồi còn ra biên giới tìm chị tôi cùng gia quyến “sẽ đến lúc hai giờ”. Có lẽ sớm hơn, Dì Ju nói, bởi vì anh rể anh phải chạy nhanh hầu tránh cảnh vợ chồng anh bị gia quyến bao vây để mừng rỡ trước.

Tôi đậu chiếc Lincoln ngay gần đồn quan thuế và gần anh cảnh sát Tây Ban Nha.

Họ kia rồi!

Họ đi chân, vừa đi vừa chạy, bỏ lại ông anh rể tôi đang nối đuôi với chiếc D. S. tại đồn quan thuế Pháp.

Người dẫn đầu chạy đến tôi, hai tay đưa ra trước là chị Hélène. Chị chạy vượt qua miếng đất không thuộc về ai hết, đi từ đồn này đến đồn kia, từ nước Pháp sang nước Tây Ban Nha. Tôi tiến về phía chị, ruột thắt lại và cảm động. Lúc cách nhau bốn thước, chúng tôi dừng lại để nhìn kỹ trong đôi mắt của nhau. Đúng là chị Hélène thời thơ ấu của tôi, đúng là Riri, thằng em, thuở nào, ánh mắt mờ lệ của chúng tôi nói lên như vậy. Rồi chúng tôi ngã vào vòng tay nhau. Thật kỳ lạ. Đối với tôi người chị ngũ tuần ấy vẫn là người chị bé nhỏ thuở nào. Tôi không trông thấy khuôn mặt đã già của chị, tôi không thấy gì hết, ngoại trừ ánh mắt vẫn không thay đổi và đối với tôi, nét mặt của chị không thay đổi.

Chúng tôi quên tất cả mọi người, chúng tôi ở trong vòng tay nhau rất lâu. Rita đã hôn hết mấy đứa cháu. Tôi nghe: “Mợ đẹp quá!”. Tôi bèn quay lại, buông chị Hélène của tôi ra rồi đẩy Rita trong vòng tay của chị và nói: “Chị nên thương mợ ấy nhiều vì chính mợ ấy sẽ đưa em đến chị”.

Ba đứa cháu gái của tôi rất đẹp, anh rể tôi cao ráo khỏe mạnh, tỏ vẻ cảm động thành thật được gặp lại tôi. Chỉ thiếu thằng cháu lớn, Jacques, được động viên hiện chiến đấu ở Algérie.

Rồi chúng tôi đi Rosas, chiếc Lincol đi trước, chị tôi ngồi bên tôi.

Bữa ăn đầu tiên quanh một bàn tròn không bao giờ tôi quên được. Đôi lúc cặp chân tôi dưới chiếc khăn bàn run đến nỗi tôi phải đưa tay nắm lại.

Thời gian từ năm 1929 đến 1956 biết bao nhiêu chuyện đã xảy ra cho họ và cho tôi. Bao đoạn đường đã đi qua, bao cuộc tranh đấu để đến đây, bao trở ngại phải vượt qua! Trong bữa ăn, tôi không nói đến những năm tháng bị lưu đày. Tôi chỉ hỏi ông anh rể xem có gây phiền phức và đau khổ cho họ không. Anh vui vẻ trấn an tôi, nhưng tôi đoán họ cũng đã khổ nhiều vì đã có một người em, một người em vợ bị tù khổ sai: “Anh chị không bao giờ hoài nghi em và em nên nghĩ rằng dù em có tội, anh chị chỉ tội nghiệp cho em chứ không từ em”.

Không, tôi không hề kể chuyện về nơi tù đày, tôi không kể gì về vụ án xử tôi. Đối với họ, và tôi cũng thật tin rằng đối với tôi, đời tôi bắt đầu từ ngày nhờ Rita tôi đã chôn vùi con người cũ, mạo hiểm để làm sống lại Henri Charrière, bé Riri, con của giáo chức ở tỉnh Ardèche.

Mái ấm gia đình tôi đã nới rộng, tôi đã nới rộng, tôi đã tìm lại gia đình tôi. Mấy đứa cháu gái đã sung sướng bất ngờ có được một ông cậu từ trên trời rơi xuống với một chiếc xe Hoa Kỳ đẹp phi thường, kể lại các câu chuyện người da đỏ và vô số chuyện về đời sống của cậu ở Nam Mỹ. Quả là một ông cậu xứ Mỹ. Cậu cháu mến nhau vô cùng.

Tháng tám qua mau trên cát vàng bờ biển Rosas.

Tôi đã tìm lại dáng dấp của mẹ tôi khi thấy chị tôi gọi các con của chị. Tôi đã tìm lại những tiếng kêu la thời thơ ấu, những lúc cười không đâu, nỗi sung sướng của bé Riri trên bãi bể Palavas, nơi chúng đến nghỉ hè với ba má tôi.

Một tháng, ba mươi ngày, thật là quá dài trong một ngục tối đối diện với chính mình, nhưng thật ngắn ghê gớm khi sống cùng những thân quyến vừa gặp lại. Tôi thật sự say sưa hạnh phúc. Không những tôi đã tìm lại chị tôi, anh rể tôi, mà còn có những đứa cháu gái dễ yêu, những đứa hôm qua chưa biết, nay đã gần như con gái tôi.

Tôi đứng trên bãi bể với Rita rạng rỡ vì thấy tôi sung sướng. Đây là một thắng lợi của nàng, một món quà đẹp nhất nàng dàng cho những người thân của tôi và cho tôi. Tôi nằm chống tay trên bãi, trời đã khuya, có lẽ nửa đêm. Rita cũng nằm dài trên cát, đầu tựa vào đùi tôi và tôi vuốt tóc nàng:

– Ngày mai họ sẽ đi hết. Mau quá nhỉ, nhưng thật là thần tiên! Đúng vậy em ạ, không nên đòi hỏi quá nhiều, thế mà vẫn buồn vì phải xa họ. Biết khi nào gặp lại, một chuyến đi huyền viễn thế này quá đắt.

– Anh nên tin vào tương lai, em chắc có một ngày mình sẽ gặp lại họ.

Chúng tôi đưa mọi người đến biên giới. Họ đem Dì Ju cùng đi. Cách biên giới một trăm thước, chúng tôi chia tay nhau. Nước mắt không chảy vì tôi nói với họ tôi tin tưởng ở tương lai: trong vòng hai năm, chúng tôi sẽ nghỉ hè với nhau không chỉ một tháng, mà hai tháng.

– Cậu nói thật hả cậu?

– Thật mà, các cháu, thật và chắc.

Chiếc D.S. đen nhè nhẹ lướt đi. Tôi đứng trên đường lộ, Rita nép vào cánh tay tôi. Bao nhiêu khuôn mặt trong xe đều quay về chúng tôi, chúng tôi đưa tay vẫy mãi đến khi một chiếc xe khác đến đậu sát vào xe họ để trình diện với thuế quan Pháp.

Giã từ mọi người! Không biết có gặp nhau lại không.

Một tuần lễ sau, một chị nữa đổ bộ xuống phi cảng Barcelone, chị đi một mình. Gia đình chị không thể đi cùng. Chị vừa bước xuống phi cơ, trong đám bốn mươi hành khách, tôi nhận ra ngay. Và chị thì không chút bỡ ngỡ, tiến về phía tôi sau khi ở quan thuế ra.

Ba ngày ba đêm, và thời gian chị ở với chúng tôi quá ít nên tôi không muốn mất một phút, ba ngày ba đêm, hầu như trọn vẹn, chúng tôi lặng mình trong dĩ vãng. Chị với Rita mến nhau ngay và như vậy chúng tôi có thể kể cho nhau nghe nỗi niềm tâm sự, chị kể cả cuộc đời của chị, tôi thì những gì có thể kể được.

Phó chưởng lý, mày đã thua ván đầu, và các anh nữa, các anh bồi thẩm Pháp ra mặt đắc chí khi nghe tiếng “chung thân”, kết quả của sự phán quyết rất cân bằng, rất sáng suốt, rất lương thiện, rất công bình của các anh! Không ai trong các anh tiên đoán rằng con người mà các anh đưa đến “máy chém khô”, về sau, đành rằng rất lâu về sau, có ngày sẽ đứng cách biên giới Pháp một trăm thước gặp lại thân quyến mình.

Tại đây, người ấy không núp trong bụi, ngoái cổ để xem có ai đuổi theo không, người ấy không đến để xin giúp đỡ hay cứu trợ cho gia đình, người ấy không đến như một kẻ chiến bại, bị săn đuổi, phải van xin từng mảnh tình thương, không, người đứng đó là một kẻ chiến thắng, đã đánh bại sự phán quyết phi nhân và bất công, đã chiến thắng bản thân vì đã trở nên thuần thục, đã chấp nhận sống gần như mọi người, chiến thắng trong đời sống, chiến thắng trong thành công, trước mắt mọi người, và để cho thiên hạ trông thấy, đã đến với chiếc xe hơi đẹp nhất trần gian, cầu kỳ sang trọng như chửi vào mặt mọi người.

Hai ngày sau, mẹ của Rita từ Tanger đến. Đặt hai bàn tay thon mềm trên hai má tôi, bà hôn tôi và nói: “Con trai của mẹ, mẹ rất sung sướng thấy con yêu Rita và Rita yêu con”. Trong hào quang của làn tóc bạc, mặt bà ánh lên một vẻ đẹp trong sáng huyền diệu mà luôn luôn tôi thấy phảng phất ở Rita.

Chúng tôi ở Tây Ban Nha quá lâu, hạnh phúc đã làm chúng tôi quên ngày tháng. Cho nên chúng tôi không thể về Venezuela bằng tàu biển, mất những mười sáu ngày. Chúng tôi sẽ đáp máy bay (chiếc Lincoln sẽ được chở bằng đường thủy sau), với lẽ chúng tôi phải lo công việc làm ăn.

Tuy nhiên, chúng tôi đi một vòng quanh Tây Ban Nha; trên các hoa viên lơ lửng trên không trung tại Grenade, một kỳ công của nền văn minh Ả Rập, phía dưới tháp canh, tôi đọc thấy khắc vào đá câu này của một thi sĩ:

Dale limosna, nuijér, que no hay en la vida nada comme la pena de ser ciego en Grenada, có nghĩa là: “Hãy bố thí cho nó, nàng ơi, vì trong đời không còn gì buồn khổ hơn là người mù ở Grenade”.

Có chứ, có một điều tệ hơn là mù ở Grenade, đó là đang độ hai mươi bốn tuổi, trẻ trung, khỏe mạnh, tin tưởng vào cuộc đời, vô kỷ luật, vâng, có phần không được lương thiện, nhưng không thật sự hư hỏng, dù sao cũng không phải là kẻ sát nhân thế mà lại bị kết án khổ sai chung thân vì một tội do kẻ khác phạm: Đó là vĩnh viễn biến mất một cách chung quyết, tuyệt vọng, chịu cảnh tàn rữa dần dần về một tinh thần cũng như thể chất mà không được muôn một cơ may ngóc đầu lên để trở thành một con người.

Biết bao người đã bị một nền công lý nghiệt ngã, một chế độ lao tù phi nhân đã nghiền nát và thủ tiêu dần dần đã muốn trở thành người đui ở Grenade! Tôi là một trong những người ấy.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply