vietmessenger.com
Henri Charrière
Dịch giả: Đinh Bá Kha
Đời Mới xuất bản 1974
Post by Sơn râu 5 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu
14. Quán Rượu Về Đêm – Cuộc Cách Mạng
CHIẾC phi cơ chúng tôi đi từ Madrid đáp nhẹ nhàng xuống Maquetia, phi trường của đô thành Caracas. Bạn bè, con gái chúng tôi đang chờ ở phi cảng. Chỉ hai mươi phút, chúng tôi về đến nhà. Mấy con chó mừng rối rít. Bà vú già người da đỏ, như người trong gia đình, cứ hỏi mãi:
– Thưa bà, gia đình ông nhà ra sao? Gặp lại những người thương ở bên đó, tôi sợ ông bà không về. Nhờ Thượng Đế, hai ông bà đã về đây khỏe mạnh.
Vâng, nhờ ơn Thượng Đế, chúng tôi đã về đây, khỏe mạnh, vì sự cảm thông với những người quyến thuộc của tôi đối với tôi rất quan trọng. Không thể nào tôi phản bội lòng tin họ đặt nơi tôi và trong tương lai không vì lý do gì tôi làm chuyện bậy bạ. Ít ra tôi cũng sẽ cố gắng hết mình.
Cuộc tranh sống tiếp diễn. Chúng tôi bán tiệm ăn, tôi bắt đầu chán những món bít tết khoai chiên, vịt nấu cam và gà nấu rượu. Chúng tôi mua một quán rượu về đêm, lấy tên Caty Bar.
Ở Caracas, một quán rượu về đêm là một nơi mà khách hàng hoàn toàn đàn ông vì có gái để ngồi với họ, trò chuyện với họ, nhất là nghe họ nói, uống với họ, hoặc nếu họ không khát lắm thì giúp họ uống một ít. Một cuộc sống khác hẳn cuộc sống ban ngày, dồi dào hơn, hoàn toàn không yên tĩnh, nhưng mỗi đêm đều có thêm một chuyện mới lạ: bản ngã thứ hai của người khách trong quán rượu.
Nghị sĩ, dân biểu, tài phiệt, luật sư, sĩ quan, công chức cao cấp chạy nhốn nháo trong đêm để cho thoát ra số hơi quá đầy chất chứa trong ngày vì phải tuân theo kỷ luật để ra điều sống gương mẫu, tác phong không chút sơ hở trong mọi hoạt động. Rồi khi đến Caty Bar, mỗi người để lộ bộ mặt thật của mình. Bây giờ cho nổ tung, gác qua một bên thái độ giả nhân giả nghĩa bắt buộc phải có trong xã hội, quên hết nỗi lo âu về gia đình hay công việc làm ăn, hét lên niềm hân hoan được giải phóng của một giai cấp trưởng giả chán ngấy cảnh bị xiềng xích vì ước lệ xã hội và vì dư luận.
Tất cả, không trừ một ai, được trẻ lại trong vài giờ. Có rượu giúp vào, họ vứt bỏ các xiềng xích của xã hội và sống với quyền tự do la hét, bàn cãi, ra mặt hào hoa phong nhã với các gái đẹp trong quán rượu. Tại quán chúng tôi, không thể đi xa hơn nữa, vì Rita rất chặt chẽ về vấn đề này, không bao giờ cho một cô gái nào đi ra trong giờ làm. Nhưng mọi người đã được gần gũi các cô gái ngoan ngoãn nghe họ tự thuật (họ thích chuyện ấy lắm) và làm cho những giờ phút giải phóng của họ không trống vắng chỉ vì các cô gái trẻ và đẹp.
Tôi đã từng thấy nhiều người đến lúc rạng đông chỉ trơ có một mình (các cô gái đã chuồn ra cửa khác) nhưng vẫn thỏa thích, thoải mái. Một trong những người ấy là một nhân vật trong giới tài phiệt, phải có mặt ở văn phòng mỗi sáng đúng chín giờ; vì là một khách hàng trung thành nên tôi thường đưa ông ra xe. Đôi khi ông ta để tay lên vai tôi, tay kia vung lên chỉ dãy núi Caracas in trên nền trời bắt đầu sáng tỏ, ông nói:
– Henri, đêm đã hết, mặt trời sẽ mọc sau dãy núi Avila. Đêm hôm nay đã chấm dứt, không hy vọng kéo dài ở nơi khác, mọi nhà đều đóng cửa, một ngày sẽ đến với thực tế sự vật đặt chúng ta trước trách nhiệm của mỗi người. Việc làm, văn phòng, cuộc sống nô lệ hàng ngày đang đợi tôi, nếu không có những đêm như thế này, có thể nào chúng ta tiếp tục? Thế nhưng đêm đã mãn. Henri, bọn con gái đã biến mất về nhà, chỉ còn lại hai chúng ta như hai thằng ngốc.
Mặc dù có những giây phút tỉnh mộng đau đớn mà tuyệt diệu như vậy, họ vẫn trở lại vui hưởng giấc mộng về đêm, tuy biết chắc rằng, ngày đến giấc mộng ấy sẽ tan biến một cách tàn nhẫn. Chính tôi cũng tham gia với họ và tôi đã sống những giờ phút khó quên, hoàn toàn vượt ra ngoài các âu lo do cuộc sống hàng ngày đem đến cho chúng ta.
Không bao lâu, tôi mua thêm một quán rượu khác, quán Madrigal, rồi một quán thứ ba, quán Normandy.
Cùng với một đảng viên xã hội, anh Gonzalo Durand, thù ghét chế độ hiện tại, ngày đêm sẵn sàng bênh vực quyền lợi chủ nhân các hộp đêm, các quán rượu và nhà hàng, chúng tôi thành lập một hiệp hội bênh vực quyền lợi các loại trên trong hai tỉnh Federal và Miranda. Một thời gian sau, tôi được bầu làm Chủ tịch hiệp hội ấy và tôi hết lòng bênh vực các hội viên chống sự lạm quyền của một số viên chức.
Vì luôn luôn có sáng kiến hào nhoáng, nên tôi cải tiến quán rượu Madrigal thành một hộp đêm kiểu Nga lấy tên Ninoska và để cho nó có vẻ Nga hơn, tôi cho một anh Tây Ban Nha ở Canaries ăn mặc như một lính khinh binh Nga, ngồi trên một con ngựa không còn háu đá vì đã già. Người và ngựa làm nhiệm vụ gác cửa. Nhưng lại có chuyện mấy người khách cho thằng kỵ binh Nga uống rượu say mèm, chưa kể con ngựa. Dĩ nhiên, con ngựa không uống whisky bằng ly, nhưng khoái ăn đường nhúng trong rượu mạnh. Hậu quả là, khi cả người lẫn ngựa quá say rồi, đôi khi cả hai phi nước đại trên đại lộ có hộp đêm của tôi, đại lộ Miranda, một đại lộ quan trọng rất nhiều xe cộ; chúng chạy bậy chạy bạ, vừa chạy vừa la hét như giặc. Có thể trông thấy cảnh hỗn loạn; tiếng thắng xe tốc đường nhựa, xe đụng nhau, các tài xế hò hét, những cửa sổ mở ra với lời chưởi thề vì bị mất giấc ngủ. Tất nhiên là phải lo thu xếp những chuyện rắc rối, nhưng cũng chắc chắn là mọi người đã được cười vỡ bụng.
Để đối phó với mọi bất trắc, tôi có một nhạc sĩ duy nhất, nhưng không phải một nhạc sĩ tầm thường. Đó là một người Đức, Kurt Lorvendal, một tay chơi đại phong cầm có cặp tay võ sĩ đánh những bài cha cha cha say mê kinh khủng đến nỗi tiếng đàn làm rung chuyển đến tầng lầu thứ chín của ngôi nhà. Tôi không tin chuyện ấy, nhưng gác dan và chủ ngôi nhà, một đêm nọ, dẫn tôi lên để cho tôi thấy. Thật là không ngoa.
Một hộp đêm nữa của tôi, hộp đêm Normandy, có một địa điểm rất tốt: ngay trước trụ sở cơ quan an ninh quốc gia. Một phía là khủng bố, tra khảo, trước mặt là vui sống. Ít ra lần này tôi cũng được ở về phía tốt. Nhưng tôi vẫn làm rắc rối cuộc đời, vì tôi làm một việc tối nguy hiểm cho tôi, tôi nhận làm hộp thư bí mật cho tù nhân cả chính trị lẫn thường tội.
Năm 1958. Từ nhiều tháng nay, tình hình Venezuela bắt đầu rục rịch nghiêm trọng, nền độc tài của Perez Jimenez có phần trì trệ. Ngay cả giai cấp được ưu đãi cũng xa dần ông ta, ông chỉ còn hai hậu thuẫn, quân đội và cảnh sát chính trị, cơ quan Seguridad Nacional kinh khủng, ngày mỗi bắt thêm người.
Trong khi ấy, ba lãnh tụ chính trị quan trọng nhất của Venezuela, bị lưu đày, cùng nhau hoàn tất một kế hoạch cướp chính quyền ở Nữu Ước. Ba lãnh tụ là Raphael Caldera, Jovixo Vilalba, và một người xuất chúng, Romulo Betancourt. Lãnh tụ đảng Cộng sản, Machaldo không được mời. Tuy vậy, lịch sử cũng ghi chép nhiều người cộng sản đã hy sinh tính mạng.
Ngày mồng một tháng giêng, một thiếu tướng không quân, Castro Leon, cùng một số người âm mưu khởi loạn, một nhóm nhỏ phi công thả vài trái bom trên thành phố Caracas, đặc biệt là trên dinh Tổng Thống Perez Jimenez. Âm mưu thất bại và Castro Leon trốn sang Colombie.
Nhưng ngày 23 tháng giêng, lúc 2 giờ sáng, một phi cơ bay trên thủ đô Caracas. Perez Jimenez bay đi cùng với gia đình, các cộng sự viên thân tín và một phần tài sản của ông. Phi cơ chở một số người và tài vật quí giá như vậy, nên dân Venezuela đã mệnh danh chiếc máy bay ấy là “con bò thiêng”. Perez Jimenez biết mình đã thua, quân đội đã không còn ủng hộ ông sau mười năm độc tài, người ta để ông đi. Phi cơ của ông đi thẳng đến đảo Saint Domingue, tại đây một nhà độc tài khác, tướng Trujillo, chỉ còn cách tiếp đãi nồng hậu một đồng chí.
Caracas bừng tỉnh với một ủy ban lãnh đạo quốc gia, đứng đầu là Đô Đốc Wolfang Larrazabal ra tay lèo lái con thuyền đã bị người Thuyền Trưởng cùng thủy thủ đoàn buông trôi. Cách mạng nổi lên. Trong cuộc cách mạng, một thanh niên, Fabricio Ojeda giữ một vai trò quan trọng. Đáng lẽ về sau, ông ta có thể tự tạo cho mình một địa vị đặc ưu và giàu có, nhưng ông đã không làm chuyện kém cỏi ấy mà chỉ trở thành một trong những người du kích thuần khiết nhất. Ông bị “ám sát”, chết trong ngục tối của cơ quan cảnh sát. Tôi có biết ông và viết mấy giòng này gọi là kính phục ông. Có lẽ trong tương lai người ta sẽ dựng tượng ông.
Gần ba tuần, đường phố vắng bóng cảnh sát. Tất nhiên có những cảnh cướp bóc, hành hung, nhưng chỉ là đối với các môn đệ của Perez Jimenez. Đây là một dân tộc đã vùng dậy sau mười năm bị khớp miệng. Trụ sở của cơ quan an ninh quốc gia, trước mặt quán rượu Normandy của chúng tôi, bị tấn công và đa số cảnh sát viên bị giết.
Chính trong ba ngày tiếp theo ngài Perez Jimenez ra đi, tôi xuýt bị mất tất cả kết quả mười năm lao lực.
Từ nhiều nơi người ta điện thoại cho tôi biết tất cả các quán rượu, các hộp đêm, các nhà hàng sang trọng, là những nơi gặp gỡ của bọn được ưu quyền trong chế độ Perez Jimenez, đều bị tấn công và phá hủy. Chuyện này không nguy hiểm lắm đối với những chủ nhân không ở ngay tại chỗ. Nhưng chúng tôi ở trên lầu quán rượu Caty Bar. Đây là một biệt thự nhỏ ở trong sân thượng đường hẻm, tầng dưới là quán rượu, nhà ở tầng trên.
Tôi cương quyết bảo vệ cơ nghiệp và người thân của tôi. Tôi chế hai mươi chai xăng và dùng nó làm các trái bom molotov. Tôi để ngay ngắn trên mái nhà. Rita không chịu rời tôi, nàng đứng đấy cạnh tôi, trong tay cầm một chiếc bật lửa. Chúng nó đến.
Một bầy người chạy đến, cả trên một trăm tên phá hoại. Vì quán Caty Bar ở trong một ngõ cụt, có người đi vào đường hẻm, là vào quán rượu này.
Họ tiến về phía chúng tôi, tôi nghe rõ tiếng la hét: “Nhà này là nơi gặp gỡ của bọn theo Perez Jimenez! Phá!”. Họ nhào tới, tay cầm gậy sắt, cuốc, xẻng. Tôi định bật quẹt lửa.
Thình lình bọn người dừng lại. Bốn người đàn ông, hai tay dang ra, đứng ngang lối đi, chặn bọn người quá khích.
– Chúng tôi đây cũng là dân lao động, cũng là những người cách mạng. Từ nhiều năm chúng tôi biết những người này. Chủ nhân, anh Henri, là một người Pháp bạn dân, rất nhiều lần ông đã chứng tỏ như vậy. Mời các anh rút lui, không có công tác gì cho các anh ở đây.
Họ bàn cãi lung tung, nhưng đã bớt hăng, tôi nghe mấy người can đảm vừa rồi giải thích tại sao họ bênh vực chúng tôi. Cuộc bàn cãi kéo dài đến hai mươi phút, Rita với tôi vẫn ở trên mái nhà, tay cầm bật lửa. Hình như bốn người kia đã thuyết phục được họ nên đám người bỏ đi mà không có cử chỉ dọa nạt.
Xong, hú hồn, kể cả một số người của họ. Về sau, không thấy ai trở lại.
Bốn người của nhân dân đó, những người bênh vực chúng tôi là các nhân viên trong sở Thủy Cục Caracas. Quả vậy, bên cạnh quán Caty Bar, tại một sân rộng cuối con hẻm, là cổng vào một nhà kho của Sở Thủy Cục thường có xe bồn ra vào để tiếp tế nước cho những nơi thiếu nước vì lý do này hay lý do nọ. Nhân viên làm ở đó phần đông thuộc tả phái, tất nhiên. Nhiều khi chúng tôi mời họ ăn chơi nếu họ đến uống một ly cô ca. Chúng tôi bảo khỏi phải trả tiền, chúng tôi là những láng giềng tốt và họ hiểu rằng đối với chúng tôi, họ là những người có giá trị không kém những người khác. Vì ở dưới chế độ độc tài, ít khi họ nói đến chính trị, nhưng đôi lúc, sau khi uống vài ly, cũng có đôi người phát ngôn bừa bãi, bị nghe và bị tố giác. Thế là bị tù hoặc sa thải mất chỗ làm.
Rita, hoặc tôi, chúng tôi thường xin với khách hàng của chúng tôi tha cho một đôi người hoặc thu dụng làm việc lại. Vả lại, giữa các nghị sĩ, dân biểu hoặc các sĩ quan của chế độ, có nhiều người rất tốt bụng và rất nhân từ. Ít có người từ chối giúp đỡ.
Hôm đó, các nhân viên Sở Thủy Cục đã rất can đảm (vì không phải là chuyện đùa) trả nợ cho chúng tôi. Điều ly kỳ nhất là phép lạ như vậy cũng xảy đến cho hai cơ sở kia của chúng tôi. Quán Ninoska không hề bị bể một miếng kính. Quán Normandy, ở ngay trước sở an ninh quốc gia, địa điểm sôi động nhất của cuộc cách mạng, súng bắn tứ tung, dân chúng nổi loạn đốt phá bậy bạ tất cả các tiệm buôn ở đại lộ Mexico, thế mà tại quán rượu Normandy, hoàn toàn không bị hư hại gì hết, không bị mất cắp thứ gì. Do lệnh bí mật nào? Tôi không biết, và không bao giờ biết.
Trước kia dưới thời Perez Jimenez, là kỷ luật bắt buộc, làm việc, an ninh công cộng trước tiên. Từ mười năm, không ai dám có ý kiến, mọi người đều chỉ biết tuân theo. Báo chí bị khớp miệng.
Đến thời Larrazabal, người chiến sĩ Hải quân, mọi người nhảy múa, ca hát, mặc sức không tuân lệnh, tuyên bố hay viết những gì phát xuất từ đầu óc, các nhà trí thức chính trị và mị dân vô cùng hân hoan vì được xã hội thả dàn, vô tội vạ. Không khí rất dễ thở.
Ngoài ra, người chiến sĩ Hải quân là một nhà thơ, có tâm hồn nghệ sĩ, xúc động trước cảnh cơ cực của hàng ngàn người đổ xô từng đợt liên tiếp từ bốn hướng xứ Venezuela về Caracas sau khi nhà độc tài bị hạ bệ. Ông ta thiết lập kế hoạch khẩn cấp để phân phát cho những người khốn khổ ấy hàng triệu bạc trích trên ngân quỹ quốc gia.
Ông hứa tổ chức tuyển cử. Quá lương thiện, ông chuẩn bị cuộc bầu cử rất trung thực và tuy ông thắng ở Caracas, chính Betancourt đã đắc cử. Ông đã phải đối phó với một tình thế khó khăn, không ngày nào không có một âm mưu đảo chính, không ngày nào không chiến đấu chống lực lượng phản động.
Tôi vừa mua quán rượu lớn nhất Caracas, quán “Le grand Cafés”, trong khu phố Sabana Grande, hơn 400 chỗ ngồi. Đó là quán rượu mà năm 1931, tại hành lang nhà giam La Santé, Julot Huignard đã hẹn tôi đến: “Papilion, can đảm lên, hẹn gặp lại tại quán “Le grand Café” ở Caracas”. Hôm nay tôi có mặt tại nơi hẹn. Tuy rằng đến hai mươi tám năm sau, nhưng tôi đã đến. Tôi lại còn là chủ nhân của quán, nhưng Huignard không đến.
Thế là đối với tôi mọi việc có vẻ tốt đẹp. Tuy nhiên, tình hình chính trị trong nước không thuận lợi cho nhiệm vụ của Betancourt. Một âm mưu ám sát ông ghê tởm nhất, hèn hạ nhất làm giao động nền dân chủ quá trẻ trung và còn khập khiễng.
Do Trujillo, nhà độc tài xứ Saint Domingue, điều khiển từ xa, một chiếc xe hơi đầy nhóc chất nổ đã nổ tung khi chiếc xe của Tổng Thống đi dự lễ chạy ngang qua. Ông Chánh võ phòng chết ngay, anh tài xế bị thương nặng, Thiếu tướng Hopez Henriquez cùng bà vợ bị cháy thê thảm, và chính Tổng Thống bị hai cánh tay cháy đen. Hai mươi bốn giờ sau, cánh tay băng lại, ông nói chuyện với nhân dân Venezuela. Chuyện khó tin đến nỗi có người cho rằng người nói đó là một người giống Tổng Thống được đưa ra thay thế.
Không cần nói cũng rõ trong tình thế như vậy, cái xứ sở được thần linh phù hộ cũng bắt đầu bị bệnh say mê chính trị hành hạ. Mọi người đều mang vi trùng bệnh ấy trong người, mật vụ hiện diện khắp nơi, một giống người mới lạ xuất hiện. Trong hàng ngũ công chức, nhiều phần tử lợi dụng phe phái chính trị, một danh từ ghê gớm được đặt ra: “Chúng tôi chỉ huy”.
Viên chức nhiều cơ quan khác nhau nhiều lần đến “chặt chân” tôi. Người ta đào tạo đủ loại thanh tra, thanh tra về rượu mạnh, về thuế thị xã, về thứ này, thứ nọ. Phần đông các viên chức ấy không được huấn luyện trước và chức vụ của họ là do chính đảng của họ đề bạt.
Ngoài ra, vì chính quyền biết rõ dĩ vãng của tôi, vì tôi không thể nào tránh tiếp xúc với các cựu phạm đi qua, dù tôi sống lương thiện và không làm ăn gì với họ, vì thêm vào đó, tôi được tị hộ tại đây, thời hạn chưa triệt tiêu ở Pháp, bọn cảnh sát lợi dụng tình huống trên để dọa dẫm tôi, chúng nhằm vào dĩ vãng của tôi. Ví dụ chúng lôi ra vụ ám sát một người Pháp cách đây hai năm, không tìm ra thủ phạm. Tôi biết gì không? Tôi không biết hả? Trong hoàn cảnh của tôi, biết chút ít sẽ có lợi!
Ồ, những chuyện như vậy bắt đầu xảy ra! Tôi đã thấy chán bọn quỉ quái ấy! Đến nay chưa có gì quan trọng, nhưng nếu cứ tiếp tục và tôi nổi điên lên thì chưa biết trong một đôi năm sẽ ra sao. Không, không nên nổi điên ở đây, trong một quốc gia đã cho tôi cơ hội trở thành một người tự do, có một mái ấm gia đình.
Không cần phải suy đi nghĩ lại, tôi bán quán rượu “Le grand Café” cùng các cơ sở khác rồi tôi với Rita đi qua Tây Ban Nha. May ra có thể định cư và lập nghiệp ở đó.
Tôi không thể ở Tây Ban Nha. Quả thật các quốc gia Âu châu được tổ chức quá chặt chẽ. Tại Madrid, sau khi đã có mười ba giấy phép mở một doanh nghiệp, người ta nhã nhặn cho tôi biết phải có một giấy phép thứ mười bốn. Theo tôi nghĩ, sẽ dư ra một giấy phép. Thế là, Rita nhận thấy tôi không thể nào sống xa Venezuela, tôi cần ngay cả những đứa quấy rầy tôi, nên nàng muốn vì hạnh phúc của chúng tôi, chúng tôi trở về bên ấy, tuy rằng chúng tôi đã bán hết cơ nghiệp ở bên ấy.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.