Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Bài 50 

Tự do – Bài cuối

Điều lạ thường, người dân Venezuela có sức lôi cuốn và hấp dẫn tôi đến mức tôi quyết định tin tưởng họ. Tôi không vượt ngục nữa. Là tù nhân, tôi chấp nhận hoàn cảnh bất thường này, hy vọng có ngày tôi sẽ được là một phần tử trong dân tộc họ. Nói ra có vẻ ngược đời. Tuy cách họ đối xử với tù nhân man rợ như vậy không khuyến khích tôi sống chung với họ được nhưng tôi hiểu rằng họ coi các hình phạt đối với thể xác là bình thường với tù nhân cũng như với lính. Lính phạm lỗi cũng bị quất roi gân bò. Rồi vài ngày sau, vẫn người lính đó lại nói chuyện với viên giám thị, cai đội hay sĩ quan đã đánh mình bình thường như không có chuyện gì xảy ra.
Chế độ tàn bạo ấy là do tên độc tại Gomez thống trị nhiều năm trường đã để lại cho họ. Tập quán này còn tồn tại đến mức một người đứng đầu một đơn vị dân sự cũng phạt dân chúng trong phạm vi của mình bằng cách cho vài roi gân bò.
Nhờ một cuộc cách mạng mà tôi đã đến gần với tự do hơn. Một cuộc đảo chính nửa dân sự, nửa quân sự đã làm tổng thống nước Cộng Hòa, tướng Angarita Medina, một trong những người theo chủ nghĩa tự do lớn nhất của Venezuela, phải rút khỏi vị trí của mình. Ông ta quá tốt và quá dân chủ, đến nỗi không biết cách hay không nỡ chống lại cuộc đảo chính. Hình như ông dứt khoát không chịu để xảy ra một cuộc đổ máu giữa những người Venezuela với nhau chỉ để ông duy trì được chức vị của mình. Chắc chắn là người quân nhân dân chủ lớn này không hay biết những gì diễn ra ở El. Dorado. Dù sao thì một tháng sau ngày Cách mạng, tất cả các sĩ quan đều được thay đổi. Một cuộc điều tra về cái chết “của tội nhân” do thuốc xổ được tiến hành. Ông giám đốc cùng người em rề của ông biến mất và một nhà cựu luật sư kiêm nhà ngoại giao đến thay thế.
– Được rồi, Papillon, ngày mai tôi sẽ trả tự do cho anh, nhưng tôi muốn anh đem cậu Picolino khốn khổ ấy theo anh vì anh vẫn lo cho cậu ấy. Cậu ta không có giấy căn cước, tôi sẽ cấp. Còn giấy căn cước (cédula) của anh đây là hợp lệ, với tên thật của anh. Điều kiện như sau: anh phải sống một năm ở một làng nhỏ rồi mới được đến ở một thành phố lớn. Đây không phải là quản thúc mà là để người ta có thể xem anh sống ra sao và xem cách anh chống chọi với đời như thế nào. Nếu trong vòng một năm, người chủ sự hành chính ở vùng đó cấp cho anh giấy chứng nhận về hạnh kiểm tốt thế là ông ta đã chấm dứt tình trạng cư trú bắt buộc (confinamiente) của anh. Tôi cho rằng Caracas sẽ là một thành phố lý tưởng đối với anh. Dù sao anh cũng được phép cư trú hợp pháp ở nước này. Chúng tôi không cần biết quá khứ của anh. Chỉ cần anh chứng minh với mọi người là anh xứng đáng được trở thành một người đáng kính nể. Tôi hy vọng trong năm năm nữa, anh sẽ là đồng bào của tôi do anh xin nhập tịch để có một tổ quốc mới. Cầu Chúa sẽ ở bên anh! Cảm ơn anh đã cáng dáng cái thân tàn ma đại của Picolino. Tôi chỉ có thể trả tự do nó nếu có ai ký nhận sẽ đảm nhận nó. Mong rằng nếu được nằm bệnh viện nó sẽ khỏi được. 
Thế là bây giờ ngày mai, Picolino và tôi được trả tự do thật sự. Tim tôi nóng ran lên, tôi đã vĩnh viễn chiến thắng “Con đường của sự thối nát”, lúc đó là tháng 8 năm 1944. Tôi chờ đợi ngày này từ mười ba năm. Tôi lui về căn nhà nhỏ ở khu vườn. Tôi xin lỗi các bạn tôi, tôi muốn được ngồi lại một mình. Cảm xúc của tôi quá mãnh liệt, quá đẹp đẽ nên tôi không thể bộc lộ trước mặt người khác được. Tôi xem đi xem lại tấm căn cước mà ông giám đốc trao cho tôi: hình của tôi ở góc trái, trên là số 1728629, cấp ngày 3 tháng 4 năm 1944. Đứng giữa là tôi, phía dưới là tên tục. Phía sau là ngày sinh: 10 tháng 11 năm 1096. Giấy căn cước hoàn toàn hợp lệ, còn được giám đốc Sở Căn cước ký tên và đóng dấu đàng hoàng. Tình trạng: là “cư dân”. Từ “cư dân” thật là tuyệt vời, thế có nghĩa là tôi được cư trú ở Venezuela. Tim tôi đập mạnh. Tôi muốn quỳ xuống tạ ơn trời. Tôi không biết cầu nguyện, cũng chưa được rửa tội. Tôi cầu trời nào chứ? Vì tôi có theo đạo nào đâu? Chúa lòng lành của những người theo đạo Cơ đốc ư? Hay đạo Tin lành? Hay đạo của người Do Thái? Của người Hồi? Tôi sẽ chọn ông Trời nào để hiến dâng lời cầu nguyện mà tôi phải hoàn toàn tự đặt ra vì tôi không biết trọn vẹn một bài kinh nào? Nhưng tại sao hôm nay tôi lại phải hỏi xem nên cầu ông Trời nào nhỉ? Trong đời tôi đã chẳng luôn luôn cầu nguyện (cũng có lúc nguyền rủa nữa) Đức Chúa hài đồng Giêsu nằm trong cái giỏ cạnh bốn con lừa và con bò? Có phải trong tiềm thức, tôi còn thù oán các xơ bà tốt bụng ở Colombia chăng? Vậy thì sao không chỉ nghĩa đến Đức giám mục cao cả có một không hai ở Curacao, Đức Cha Irenée de Bruyne, hay xa hơn nữa, vị linh mục nhân hậu ở nhà tù Conciergerie?
Ngày mai tôi sẽ được tự do, hoàn toàn tự đo. Năm năm nữa, tôi sẽ nhập quốc tịch Venezuela vì chắc chắn là tôi sẽ không phạm một lỗi nào trên đất nước đã cho tôi nơi ẩn náu và đã tin tôi. Trong đời, tôi phải lương thiện gấp đôi tất cả mọi người.

Quả thật sở dĩ tôi không phạm tội giết người mà vẫn có một ngài chưởng lý, mấy tên cảnh sát và mười hai viên bồi thẩm bị thịt tống tôi đi tù, chẳng qua vì tôi là một kẻ du đãng. Vì tôi thật sự là một kẻ giang hồ nên người ta mới dễ dàng thêu dệt quanh nhân cách của tôi một mớ hổ lốn những điều bịa đặt. Mở két bạc của người khác không phải là một nghề đáng tin cậy, và xã hội có quyền cũng như có bổn phận phải tự bảo vệ. Sở dĩ tôi đã có thể ném vào con đường của sự – thối nát, – tôi phải thành thật thú nhận như vậy là vì tôi sống như một kẻ thường xuyên có khả năng rơi vào đấy. Cách trừng phạt tôi như vậy không xứng đáng với một dân tộc như dân tộc Pháp, xã hội có quyền tự vệ chứ không có quyền trả thù một cách hèn hạ như vậy – tất cả những việc đó lại là chuyện khác. Không thể xóa sạch quá khứ của tôi bằng cách lấy một mảnh giẻ lau đi, tôi phải tự khôi phục danh dự của mình đối với bản thân mình trước đã, rồi sau đó, đối với mọi người xung quanh. Vậy thì hỡi Papi, hãy cảm ơn Chúa lòng lành của những người Cơ đốc đi, hãy hứa với Người một điều gì cực kỳ quan trọng.
Lạy Chúa, xin người tha tội cho con nếu con không biết cầu nguyện nhưng Người hãy trông vào con, Người sẽ thấy là con không đủ chữ nghĩa để bày tỏ lòng biết ơn của con đối với Người đã đưa con đến chốn này. Cuộc đấu tranh thật là khó khăn, vượt qua nỗi đắng cay mà người ta đã bắt con phải chịu không phải dễ dàng, nếu con vượt qua được tất cả mọi trở ngại và sống khỏe mạnh cho đến người lành hôm nay, chắc chắn là có bàn tay Người đã phù hộ cho con. Con biết làm gì đây để chúng tỏ con thành thật biết ơn Người?
– Từ bỏ việc trả thù.
Tôi đã nghe thấy hay tưởng chừng nghe thấy câu trả lời này? Tôi không rõ, nhưng nó đã tát mạnh vào mặt tôi khiến tôi phải công nhận là hình như tôi có nghe trả lời như vậy thật.
– Không! Điều ấy thì không! Người đừng bắt con làm như vậy. Những kẻ đó đã làm con đau khổ quá nhiều. Làm sao con có thể tha thứ cho bọn cảnh sát gian xảo, cho tên làm chứng điêu toa Polein? Thôi không cắt lưỡi lão chưởng lý vô nhân đạo? Không thể được. Không, không và không! Con rất ân hận đã làm trái ý người nhưng bằng bất kỳ giá nào, con sẽ trả thù. 
Tôi đi ra ngoài, tôi sợ yếu lòng, tôi không muốn thoái chí. Tôi đi vài bước trong vườn. Toto sửa sang cho thân cây đậu cuốn quanh mấy cái sào. Toto, dân thủ đô Paris chứa chan hy vọng đối với hạ lưu ở đường Lappe, Antartaghia, tên móc túi, sinh ra ở đảo Carse nhưng trong nhiều năm đã nẫng túi tiền của dân Paris, và Deplanque, tên sát nhân người Dijon đã giết một thằng cũng làm ma-cô như nó, cả ba người đến gần tôi Họ ngắm tôi, mặt mày họ rạng rỡ vì thấy tôi cuối cùng đã giành được tự do. Chẳng bao lâu nữa cũng sẽ đến lượt họ.
– Cậu không mang về chai rượu vang hay rượu rum nào để ăn mừng việc cậu đi à?
– Xin lỗi, tớ bị xúc động quá nên quên. Các cậu tha thứ cho tớ nghe.
– Không, Papi ơi, không có gì phải tha thứ cả, tôi sẽ pha cà phê nóng cho tất cả đây?
– Anh Papi, anh bằng lòng nhé, bây giờ anh đã được hoàn toàn tự do sau bao nhiêu năm đấu tranh. Chúng tôi đều mừng cho anh.

Tôi hy vọng rồi cũng đến lượt các cậu. Chắc chắn là như vậy rồi, – Toto nói. – Đại úy nói với tôi rằng cứ mười lăm ngày, ông lại trả tự do cho một người trong bọn ta. Được tự do rồi, anh định làm gì đây?
Tôi do dự một hai giây, rồi tuy sợ bị những kẻ cùng cảnh tù đày kia thấy mình lố bịch, tôi cũng can đảm đáp:
– Tớ sẽ làm gì à? Cũng chẳng có gì phức tạp lắm: tớ bắt đầu lao động và sẽ luôn luôn làm ăn lương thiện. Đất nước này đã tin cậy tớ, tớ mà phạm tội gì thì xấu hổ lắm.
Tường sẽ nhận được một lời mỉa mai, ai dè cả ba người đều cùng thú thật:
– Tôi cũng vậy, tôi quyết định sẽ sống cho đúng đắn. Papillon ạ, anh nói đúng, sẽ khó đấy, nhưng phải làm như vậy và dân Venezuela cũng xứng đáng được chúng mình kính nể.
Tôi không tin ở tai tôi nữa. Toto, tên lưu manh hạ lưu ở khu Bastille cũng có những ý nghĩ như thế ư? Thật là bất ngờ, Antartaglia suốt đời chỉ đi móc túi người khác cũng phản ứng như vậy sao? Thật tuyệt vời. Và Deplanque ma cô chuyên nghiệp lại không dự định tìm một người phụ nữ nào để lợi dụng khai thác họ ư? Cái đó còn lạ hơn. Tất cả chúng tôi cùng phá lên cười.
– Chà! Lại có chuyện như vậy nữa sao. Thật là đáng giá ngàn vàng, nếu nay mai cậu trở về khu Montmartre, ra Quảng trường Trắng mà kể lại chuyện này thì chẳng ai tin đâu.
– Những tay anh chị trong giới chúng ta sẽ tin đấy. Họ hiểu mà. Chỉ có bọn trưởng giả mới không chịu tin. Đại đa số dân Pháp không chịu thừa nhận rằng một người có quá khứ như chúng ta có thể trở thành người tốt về mọi mặt. Đấy là điều khác nhau giữa dân Ven ezuela và dân chúng ta. Tớ đã kể cho các cậu nghe luận điểm của một ngư dân nghèo ở Irapa: bác ta đã giải thích cho khu trưởng rằng không có người nào là đồ bỏ cả và phải tạo cơ hội cho người ta trở thành lương thiện. Những ngư dân hầu hết là mù chữ ở vịnh Paria, bên lề thế giới, lọt thỏm vào giữa cái cửa sông Orénoque mênh mông, có một triết lý nhân văn mà nhiều đồng bào của chúng ta không có nổi. Quá nhiều tiến bộ về máy móc, một cuộc sống bon chen, một xã hội chỉ theo đuổi một lý tưởng duy nhất là làm sao có được nhiều phát minh về máy móc, tiến tới một cuộc sống ngày càng dễ dãi hơn, tiện nghi hơn. Thường thức các phát minh về máy móc cũng giống như mút kem, chỉ lôi cuốn người ta thèm khát nhiều tiện nghi hơn nữa và đấu tranh liên tục để đạt tới cái đích đó. Những cái đó giết chết tâm hồn, lòng trắc ẩn, sự thông cảm, và sự cao thượng. Người ta không còn thì giờ để quan tâm đến người khác, lại càng ít thì giờ hơn để quan tâm đến những kẻ phạm tội. Ngay các nhà cầm quyền ở chốn này cũng khác ở nước ta, vì họ chịu cả trách nhiệm vê sự yên tĩnh công cộng. Dù họ có thể bị gặp nhiều điều phiền phức lớn lao nhưng họ cũng nghĩ rằng cứ phải làm liều một chút để cứu lấy một con người. Và như thế thật tuyệt vời.
Tôi có một bộ đồ xanh nước biển do học trò của tôi bây giờ là đại tá, tặng: Anh ta đã vào trường sĩ quan được một tháng, sau khi lọt vào số ba người đỗ dầu trong cuộc thi tuyển. Tôi sung sướng thấy mình cũng góp phần vào thành công của anh bằng các bài tôi đã giảng cho anh. Trước khi đi, anh đã tặng tôi mấy bộ quần áo còn mới của anh, vừa khít với tôi. Tôi ra đi, ăn vận chững chạc nhờ Francisco Bolagno, hạ sĩ của quân cảnh vệ quốc gia, nay đã là chủ gia đình và đã là bố.
Viên sĩ quan này, ngày nay đã là đại tá, trong hai mươi sáu năm liền đã dành cho tôi một tình bạn chân thành và không bao giờ phai nhạt. Ông là biểu trưng chân chính của tính cương trực, cao thượng, và của những tình cảm cao cả nhất mà một con người có thể có được. Tuy ở một địa vị cao trong thứ bậc quân sự, ông luôn luôn biểu lộ tình bạn trung thành của ông đối với tôi và sẵn sàng giúp tôi bất cứ việc gì. Tôi đã chịu ơn đại tá Francisco Bolagno Utrera rất nhiều.

Phải, tôi sẽ làm hết cách để trở thành người lương thiện và giữ sao cho mình mãi lương thiện. Chỉ có một điều phiền phức là tôi chưa làm việc bao giờ, tôi không biết làm gì cả. Tôi phải làm bất cứ việc gì để kiếm sống. Cũng không dễ, nhưng chắc chắn là tôi sẽ làm được. Ngày mai tôi sẽ trơ thành một người như những người khác. Công tố viên! Ngươi đã thua ta rồi: ta đã thoát hẳn ra khỏi con đường của sự thối nát.
Tôi trăn trở hồi lâu trên võng, thao thức trong đêm cuối cùng của cuộc đời tù tội long đong. Tôi ngồi dậy, đi ra thăm cái vườn mà tôi đã bỏ biết bao nhiêu công sức để săn sóc trong những tháng qua. Trăng sáng như ban ngày. Nước sông lặng lẽ chảy ra biển. Không có tiếng chim: chúng đang ngủ. Trời đầy sao, nhưng trăng sáng quá, phải đứng quay lưng lại phía trăng mới thấy được sao. Trước mặt tôi là bóng tối của rừng, chỉ có một điểm sáng mờ mờ là làng El Dorado. Cảnh tĩnh mịch sâu lắng của thiên nhiên làm cho tôi thư thái. Nỗi bồn chồn đã lắng dịu dần và đêm thanh vắng đã đem lại cho tôi sự thanh thản mà tôi đang cần. Tôi tưởng tượng thấy rất rõ nơi mà ngày mai tôi từ xà-lan đặt chân lên mảnh đất của Simon Bolivar, người đã giải phóng nước này khỏi sự thống trị của Tây Ban Nha và đã để lại cho các thế hệ sau những tình cảm nhân đạo và sự thông cảm đã làm cho tôi có thể bắt đầu được sống lại.
Tôi đã ba mươi bảy tuổi, tôi còn trẻ. Thể trạng của tôi hoàn hảo. Tôi chưa bao giờ ốm nặng, thần kinh tôi hoàn toàn bình thường. Tôi dám nói vậy. Con đường thối nát mà không để lại trong tôi những dấu vết sa đọa. Tôi cho đó chủ yếu là do tôi không bao giờ thực sự thuộc về nó cả.
Trong những tuần tự do đầu tiên, tôi không những phải tìm cách kiếm sống cho mình, mà còn phải săn sóc và nuôi sống Picohno. Đối với tôi, trách nhiệm ấy thật nặng nề. Tuy cậu ta là gánh nặng đối với tôi, tôi sẽ giữ lời hứa với giám đốc trại giam, cho đến khi nào đưa được Picolino vào bệnh viện, nơi có những người chuyên môn giỏi chữa bệnh cho cậu, mới thôi. 
Tôi có nên báo tin cho bố tôi biết là tôi đã được tự do không? Đã nhiều năm, ông cụ không biết gì về tôi. Không biết bây giờ ông cụ ở đâu? Những tin tức duy nhất mà ông cụ có được về tôi là do cảnh sát đến hỏi mỗi lần tôi vượt ngục. Không, tôi không được hấp tấp. Tôi không có quyền làm vết thương có sẽ đã thành sẹo sau bao nhiêu năm nay, lại rớm máu. Tôi sẽ viết thư cho ông cụ khi nào tôi đã ổn định, đã có một vị trí nhỏ vững vàng, không có vấn đề gì rắc rối, khi tôi đã có thể nói với ông cụ: “Thưa ba, con của ba đã được tự do, đã trở thành một người tốt và lương thiện. Con đã sống như thế này, bằng cách này. Ba không phải cúi đầu khi nghĩ về con nữa, và cũng vì thế cho nên con mới viết thư này để nói với ba là con luôn luôn yêu thương và tôn kính ba”.
Đang có chiến tranh, không biết quân Đức có chiếm đóng làng chúng tôi không? Ardèche không phải là một vùng có chút gì quan trọng về chiến lược của nước Pháp. Chắc chúng cũng chẳng chiếm đóng hết cả tỉnh này. ở đấy phỏng chúng kiếm được cái gì ngoài hạt dẻ ra? Phải, chỉ khi nào tôi tự thấy mình đã xứng đáng tôi mới viết thư, hay nói cho đáng tôi mới viết thư, hay nói cho đúng hơn mới tìm cách viết thư về nhà. 
Tôi sẽ đi đâu bây giờ? Tôi sẽ định cư ở một làng gần mỏ vàng tên gọi là Le Callao. Tôi sẽ sống ở đó một năm – thời gian người ta đòi hỏi tôi phải sống trong một cộng đồng nhó. Rồi tôi sẽ làm gì? Ai mà biết được: Mi đừng đặt trước những vấn đề như vậy. Dù phải cuốc đất để kiếm miếng ăn, mi cũng phải làm, có thế thôi.
Tôi phải tập sống tự do, việc này sẽ không dễ đâu. Mười ba năm rồi, không kể mấy tháng ở Georgetown, tôi không phải lo đến chuyện kiếm ăn. Dù sao hồi ở Georgetown, tôi cũng đã xoay xở được. Cuộc phiêu lưu vẫn tiếp tục, tôi phải nghĩ ra phương kế để mà sống, dĩ nhiên là không làm hại đến ai. Rồi sẽ tính sau! Nào, cứ đến Le Callao đã.
Bảy giờ sáng. Ánh nắng đẹp vùng nhiệt đới, bầu trời xanh không gợn một bóng mây, chim hót líu lo các ngói niềm vui sống. Các bạn tôi đã về tựu ở cổng vườn. Picolino mặc quần áo thường, cạo râu sạch sẽ. Tất cả mọi thứ: cảnh thiên nhiên, vật và người đều toát lên niềm vui và đều mừng cho tôi được tự do. Có một thiếu úy cùng đến với nhóm bạn bè tôi: anh ta sẽ cùng đi với chúng tôi đến làng El Dorado.
– Chúng ta hây hôn nhau, rồi anh đi đi, – Toto nói. Như vậy sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người.
– Từ biệt các bạn thân mến, nếu có dịp đi qua Le Callao các bạn đến tìm tôi nhé. Nếu tôi có nhà riêng thì đó cũng là nhà của các bạn.
– Từ biệt Papi, chúc anh gặp may mắn nhé! 
Chúng tôi đi nhanh xuống bến và lên xà-lan. Picolino đi khá vững vàng. Cậu ta chỉ bị liệt từ hông trở lên, chứ chân thì không sao. Mười lăm phút sau, chúng tôi đã qua sông.
– Giấy tờ của Picolino đây. Anh bạn Pháp, chúc anh may mắn nhé. Từ giờ phút này anh được tự do Adios!
Rứt bỏ những xiềng xích đeo đẳng mình đã mười ba năm cũng chẳng khó khăn gì. “Anh được tự do từ giờ phút này”. Người ta đã quay mặt đi, không giám sát anh nữa. Chỉ có thế thôi. Chúng tôi leo nhanh con đường đá cuội từ bờ sông đi lên. Chúng tôi chỉ có một gói nhó, ở trong có ba cái áo sơ-mi và một cái quần dài để thay đổi. Tôi mặc bộ com-lê màu xanh hàng hải, sơ-mi trắng, thắt ca-vát xanh cùng màu với áo ngoài.
Nhưng dĩ nhiên làm lại cuộc đời không phải như khâu lại chiếc khuy áo. Và nếu giờ đây, hai mươi lăm năm sau, tôi đà có vợ, có một con gái, đã sống sung sướng ở Caracas, đã là công dân Venezuela, thì đó là do trải qua biết bao nhiêu chuyện khác, bao nhiêu thành công và đổ vỡ, nhưng là của một người tự do và một công dân đứng đắn. Sau này có lẽ tôi sẽ có dịp kể những chuyện đó, và còn nhiều chuyện ly kỳ nữa không thể kể ở đây.

Đôi lời của Sơn râu cùng bạn đọc.

*_Kết thúc câu chuyện ở đây bạn có cảm nghĩ gì sau khi đọc và theo dõi cuộc đời của Papilon? Riêng tôi, tôi đã sống cùng tác giả qua câu chuyện này, những bất hạnh, không may, những gian trá, lừa lọc đã đẩy tác giả vào vòng lao lý phải mang thân phận tù khổ sai lưu đày biệt xứ. Nhưng với tấm lòng can đảm luôn nung nấu ý chí phục thù những kẻ đã nhân danh đại diện cho pháp luật đẩy tác giả vào tình huống đen tối đó, xét xử hời hợt trên những chứng cứ không khả tín. Tác giả đã trãi những năm tháng dài nơi xứ người sống trãi qua bao vinh nhục, hiểm nghèo sóng gió, với đức tin và lòng tốt luôn trân quý tình bạn, nhưng sẵn sàng tiêu diệt ngay kẻ thù của mình khi mạng sống bị đe dọa.. đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc khi gấp lại chương cuối trong tay.

Tình bạn bất diệt

Papillon – Người tù khổ sai


Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

32. Lá Quốc kỳ màu vàng của chúng ta

Ta đi trong tuyết ươm hơi lạnh
Mà lửa từ tim vẫn nhóm hồng
Với lá Hoàng Kỳ trên ngực áo
Ta thấy còn hơi ấm non sông

1.

Có một thời công chuyện làm ăn khó khăn, tôi mua một chiếc ghe nhỏ, theo anh em làm nghề dân chài, đi đánh cá Salmon. Ðó là thời vàng son cách đây hơn 10 năm của “làng” ghe đánh cá Salmon gốc Việt ở British Columbia, Canada. Làm 4 tháng, nghỉ 8 tháng ăn lương thất nghiệp. Tôi thấy cái 8 tháng ăn lương thất nghiệp có vẻ ngon cơm, đi đó đây nói chuyện, viết lách, hội thảo, biểu tình… mà không sợ vợ con ở nhà ăn mì gói… Đó là lý do tôi thành “dân chài”, mặc dù cái “thuở ban đầu lạng quạng ấy”, tôi không biết vá lưới, không biết mặt con cá Salmon nó dài ngắn, méo tròn ra sao… Đúng là liều mạng!

Thuở đó, Ba tôi còn sống, ở Việt Nam, nghe tin tôi ra biển, ông than trời, vì biết tôi không thể là dân làm biển. Ông tưởng tượng tôi đi chân trần, vác lưới ra biển, mặt mày đen như cục than hầm, nhấp nhô trên sóng nước… như mấy ông dân chài Phan Thiết ở Lạc Đạo, Bình Hưng, Thương Chánh… rồi nghĩ đến cái thời “vàng son” khi tôi từ đơn vị về thăm nhà, ngừng xe jeep trước cửa, bông mai trên bâu áo, ra trường Thủ Đức mấy năm mà vóc dáng vẫn chưa tan nát nét thư sinh, ông lấy làm hãnh diện với bà con làng xóm… Ông thở dài, và khi biển động, bão tố ở biển Phan Thiết xa Canada gần nửa quả địa cầu, ông lại đứng ngồi không yên nhìn ra biển rộng tưởng chiếc ghe tôi đang quay cuồng trong cơn bão, tưởng chừng khi biển Phan Thiết động thì sóng Canada cũng vỗ ầm ầm… Ba tôi than trời là đúng, tôi ra biển nhiều lần song vẫn bị say sóng hộc máu, lưới quăng xuống nước, cá buồn tình trốn mất tiêu… và cuối cùng, tôi bán ghe sau 5 năm chọn lầm cái nghề “Hà Bá” chê lỗ vốn này.

Tôi thương Ba tôi khi nghĩ đến ông, nhưng ông xa tôi nghìn trùng. Cái gần gũi theo tôi lên ghe ra biển là cái “còm piu tơ” Mackintosh và mấy cái thư của cô bé gái 10 tuổi con tôi. Tôi làm nghề biển mà không bỏ được cái nghiệp… báo. “Nghiệp báo!” Đúng là Phật dạy nghìn năm trước không sai! Báo ở đây là nghề viết lách trăm cay ngàn đắng cùa những tên cầm bút còn chút liêm sỉ và lương tâm… chứ không phải là thứ nghiệp báo trầm luân địa ngục gì cả!

Khi mỗi lần ghe vô bến, bán cá và vá lưới xong, tôi kéo giây điện gắn vô máy và gõ lọc cọc. Bài vở, tin thức lấy từ báo Tây và cái radio… rồi nhét vô cái đầu cho nó làm việc, xong sang/copy vô cái disket gửi qua Toronto cho chủ nhiệm Bùi Bảo Sơn… Tạp chí Lửa Việt vì thế mà tôi vẫn có mặt, cho dù tôi lênh đênh trên sóng nước theo đuôi bầy cá Salmon…

Có một hôm, thả lưới xong, tôi bóc cái thư cô bé gái gửi cho bố, tôi vô cùng xúc động. Thư con tôi có mấy dòng tiếng Anh “con nhớ Daddy! Con nhớ Daddy!” mà trên đầu thư con tôi vẽ một lá quốc kỳ mầu vàng ba sọc đỏ bằng bút chì mầu. Thì ra con tôi biết lá cờ trên bàn tôi là gì, và những gì tôi giải thích cho nó biết… Đọc thư con, nhìn những dòng chữ con nít, nhìn lá cờ… tôi thấy cả một vùng biển cửa sông Skeena gần Alaska ấm lại…

2.

Tại Mỹ cũng như tại Canada, tờ lịch vừa qua bước vào ngưỡng cửa tháng 12 là thiên hạ chuẩn bị cho mùa Giáng sinh. Một hôm cô bé lớp tiểu học con tôi về nhà, vừa bỏ sách vở xuống bàn là nó kéo tôi ra phòng khách:

– Ông thầy trường con gắn cờ Việt cộng trên cây Giáng Sinh đó Ba!

– Sao con biết đó là cờ Việt cộng?

– Thì có lần ba chỉ con cờ đỏ sao vàng là cờ Việt cộng, là cờ bỏ tù Ba, là cờ mà Ba Mẹ phải chạy trốn. Con ghét lá cờ đó lắm! Tại sao trường không treo cờ mình Ba?

Tôi bảo con tôi:

– Con giỏi lắm! Ba thương con lắm! Ba với con lên trường, con chỉ cho Ba lá cờ Việt cộng trên cây Giáng Sinh nhen!

Cô bé nhanh nhẩu:

– Con dắt Ba đi liền được không Ba?!

Trường cách nhà tôi chỉ vài trăm mét. Hai cha con vô trường, và quả đúng như lời cô bé, một lá cờ đỏ sao vàng nhỏ chen giữa những lá cờ các quốc gia khác được trang trí gắn trên cây Giáng sinh sặc sỡ những bóng đèn màu nhấp nháy. Tôi dắt con vào xin gặp ông hiệu trưởng, giải thích cùng ông về lá cờ, về kiếp nạn của dân tộc Việt Nam, và hơn nửa triệu người Việt Nam bỏ nước vượt biển ra đi,vùi thây trong biển cả chỉ vì lá cờ này… Và lá cờ cờ đỏ sao vàng là cơn ác mộng của tôi, gia đình tôi, dân tộc tôi.

Ông thầy Canada nghe tôi giải bày, cảm thức những xúc cảm của tôi khi tôi nói, ông hiểu ra, và khi tôi bảo ông rằng tôi sẽ làm đơn chuyển con tôi đi trường khác học nếu ông còn giữ lá cờ đỏ này trên cây Giáng sinh. Ông từ tốn dắt cha con tôi ra cây Giáng sinh, gở bỏ lá cờ đỏ sao vàng, và quay lại hỏi con tôi:

– Con muốn thầy thay lá cờ nào lên đây?

– Dạ, lá cờ con làm ở nhà!

– OK, mai con đem cờ con làm lên trường nghe!

– Dạ! Mai con đem lên! Con cám ơn thầy!

Đêm đó, nhỏ bé con tôi hí hoáy cắt giấy, tô vẽ một lá cờ vàng ba sọc đỏ nhỏ xíu. Sáng hôm sau nó lên trường thật sớm. Giờ ăn trưa, nó chạy một mạch về nhà:

– Daddy! Cây Giáng sinh ở trường thầy con cho gắn một lá cờ vàng như lá cờ của Ba để trên bàn. Con làm lá cờ đó hồi hôm Ba biết không?

– Ba biết! Ba biết! Ba thấy con làm! Con giỏi lắm! Ba thương con!

Tôi ôm con tôi vào lòng, hôn trên trán nó, và tôi thấy Vancouver ấm cả một trời mùa Đông…

3.

Bình là một thuyền nhân tỵ nạn đi chui, nghĩa là anh em hắn phóng lên ghe tôi giờ chót khi tôi và đám bạn đẩy ghe ra biển. Ðến Canada, hắn ở cùng thành phố Vancouver với tôi. Khá lâu không gặp, có lần tôi lang thang trong chợ Longdale Market ở North Vancouver, gặp hắn làm nhân viên security trong chợ, có job tốt, vợ con, nhà cửa đàng hoàng. Tôi mừng là anh em chúng tôi không tên nào chết trên biển, không tên nào thất nghiệp và ba trợn khi đến xứ người… Tôi không mong gì hơn.

Khoảng một tuần sau đó, bất ngờ Bình phone tôi:

– Anh Hai, sáng nay tôi vô làm, thấy thằng manager cho giăng một dãy cờ trên gần nóc lòng chợ, có cả cờ đỏ sao vàng. Tôi xì nẹt và cự lộn với nó!

– Bộ không sợ nó đuổi sở sao?

– Đuổi, tôi tìm chỗ khác làm, chịu nhục làm ở đây mỗi ngày thấy lá cờ này tôi chịu không được! Thằng manager thấy tôi nóng, lúc đầu nó ngạc nhiên, sau tôi giải thích nó hiểu ra, nó đồng ý bỏ lá cờ đó, nhưng nó ra điều kiện là tôi phải tự vô kho mang thang ra leo lên tháo cờ, và thay vào bất cứ một lá cờ quốc gia khác mà tôi không “up set, không nhức đầu” ngay hôm nay. Nó không chấp nhận để giây cờ trong chợ có một khoảng trống. Anh có lá cờ quốc gia nào sẳn ở nhà, lái xe mang gấp qua cho tôi trước khi chợ đóng cửa!

– OK, chuyện gì chứ chuyện này tao bay qua liền!

Mặc dù thằng em thuyền nhân đi chui của tôi nó không tham gia sinh hoạt đấu tranh nào, năm 1975 nó còn nhỏ, chưa đi lính, nhưng nó có tinh thần quốc gia ngon lành, và phản ứng hết sẩy, ngon lành hơn bất cứ ai “ăn cơm quốc gia thờ ma Việt vẹm”.

Ngày hôm nay, ai thăm chợ Longdale Market ở North Vancouver, Canada vẫn còn thấy trên nóc chợ một lá cờ vàng ba sọc đỏ giăng giữa hàng cờ các quốc gia khác, đó là lá cờ của tôi và Bình. Hạ được cờ đỏ VC, treo lên lá cờ vàng trên nóc chợ ở Canada là một kỷ niệm khó quên của anh em tàu BI 25803 của tụi tôi khi vào Pulau Bidong năm 1980 trước đây.

4.

Tại Canada, tỉnh Alberta là nơi lá cờ vàng ba sọc đỏ được treo thường trực tại hai thành phố Calgary và Sandre. Chế độ Hà Nội nhiều lần cay cú và can thiệp yêu cầu kéo xuống, nhưng chính phủ các cấp Alberta vẫn lạnh như tiền, quyết tâm giữ lá cờ của cộng đồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản là một yếu tố quan trọng để nhà nước Alberta “gửi gió cho mây ngàn bay những lời phản đối, yêu cầu của Hà Nội” .

Những đồng hương Việt Nam có dịp ngang qua Calgary, ngay trên góc xa lộ Deerfoot và International Avenue (đường 17), sẽ thấy có một công viên treo một dọc cờ các quốc gia tự do trên một hàng trụ cờ, và lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay giữa hàng cờ đó.

Thành phố Vancouver cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong một tình huống rất lý thú. Trên đường Kingsway, một trong nhưng con đường chính của thành phố đẹp nhất Bắc Mỹ này, gần giữa hai góc đường số 10th Ave và 11th Ave, có một hãng bán xe khá đắt tiền có tên là Technique Auto Sale. Bỗng một hôm, bà con Việt Nam đi xe bus ngang hãng xe, thấy một hàng cờ trong đó có lá cờ đỏ sao vàng tổ bố. Thế là nhiều cú phone gọi tới tấp tới anh em Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Thủ Đức Vancouver:

– Trời ơi mấy ông ơi! Tụi Việt cộng nó treo cờ đỏ sao vàng trên đường Kingsway! Bây giờ mấy ông làm sao chớ!

– Chỗ nào Bác!

– Chỗ tiệm bán xe trên đường Kingsway, gần góc 11!

– OK bác! Tụi cháu đến đó ngay!

Tôi và Trần Văn Trung SĐ18 phóng xe đến đó, và y như rằng, lá cờ đỏ sao vàng “đang giỡn mặt bà con” dưới trời Vancouver. Tôi và Trung vào hãng xe, tự giới thiệu là đại diện cho Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Võ Khoa Thủ Đức thuộc cộng đồng Việt Nam, xin gặp manager…

– Thưa ông, sao hôm nay hãng ông lại có sáng kiến treo 12 lá cờ trước hãng xe, và tại sao lại có lá cờ đỏ sao vàng?

– Hãng tôi buôn bán xe, 12 lá cờ được treo là 12 sắc dân đông đảo có mặt sinh sống tại vùng Vancouver Mainland và vùng phụ cận. Người Việt các ông trong vùng này theo tôi đoán có khoảng 40 ngàn dân, do đó tôi treo lá cờ đỏ sao vàng của nước ông!

Tôi biết ngay là hãng xe có một sự nhầm lẫn “vĩ đại và vô tình”. Tôi từ tốn giải thích:

– Vì nhu cầu buôn bán, hãng ông mới treo các lá cờ quốc gia của các sắc dân. Chúng tôi đến đây với thiện chí là giúp các ông tránh khỏi những hiểu lầm không lợi cho việc buôn bán của hãng ông. Việc treo các lá cờ khác, chúng tôi không có ý kiến, nhưng treo lá cờ đỏ sao vàng thì không nên?

– Tại sao/Why? Xin ông nói rõ hơn!

– Thưa ông, lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ của đảng cộng sản Việt Nam và đảng đó đã áp đặt thành cờ của nước Việt Nam cộng sản; lá cờ đó không đại diện cho nước Việt Nam tự do của chúng tôi. Vì lá cờ này mà dân tộc tôi đau khổ, vì lá cờ này mà chúng tôi phải bỏ nước ra đi và có mặt ở đây, vì lá cờ này mà nửa triệu người Việt Nam vùi thân trong lòng biển trên đường tìm tự do. Quý hãng treo lá cờ này là khơi lại niềm đau, nỗi hận của 40 ngàn người Việt sinh sống ở đây, và họ sẽ không vào xem xe các ông, không mua xe các ông, và họ có thể tập trung hàng ngàn người biểu tỉnh chống lá cờ đỏ trước hãng ông…

Người Manager hiểu ra ngay sự tình, và ông đồng ý. Ông cho người tháo lá cờ đỏ sao vàng xuống. Nhưng ông bỗng nói:

– Tháo lá cở đỏ xuống thì một trụ cờ bỏ trống…

– Vậy ông có thể thay lá cờ vàng Việt Nam của chúng tôi lên được không?

– OK được! Chừng nào ông giao lá cờ đó cho chúng tôi?

– Ngay hôm nay!

Chúng tôi cho Trung bay về trụ sở Hội Cựu Chiến Sĩ mang đến hãng xe lá cờ vàng ba sọc đỏ. Hãng xe hí hoáy móc vào thanh ngang của trụ cờ nhưng không được, vì cờ không có lổ ngang đủ rộng. Người manager không trả lại cờ, ông giữ lại và mang vào office. Chúng tôi cám ơn ông và từ giả hãng xe. Trên đường về, tôi nói với Trung:

– Đem được cờ đỏ VC xuống là tụi mình thắng VC 1-0 rồi! Chuyện họ treo cờ mình lên được thì càng tốt, không có cũng không sao, miễn là đừng có cờ đỏ sao vàng treo lên trong thành phố này là OK.

Mấy hôm liền sau đó, chúng tôi cứ lái xe lạng qua lại trước hãng xe xem có gì lạ không. Cây cột cờ vẫn để trống, không cờ đỏ, không cờ vàng. Tôi nghĩ bụng, chắc hãng xe muốn giữ thái độ trung lập. 1-0 là tỷ số chấp nhận được. Nhưng ngày hôm sau nữa, khi tôi lái xe qua đường Kingsway để ý cây trụ cờ trống như thường lệ, mắt tôi sáng lên khi thấy lá cở vàng ba sọc đỏ rực rỡ, mới toanh đồng dạng với hàng cờ các nước khác, tung bay trong gió. Thì ra hãng xe thuê may lá cờ vàng theo mẫu lá cờ chúng tôi cho hãng nhưng có một lỗ ngang để luồn vào. Họ đã giữ lời hứa treo lá cờ vàng.

Tôi phone Trung và các bạn:

– Hạ VC thêm một quả nữa! 2-0!

– Cái gì?

– Hãng xe treo cờ mình, đẹp, mới toanh, rực rỡ! Gặp nhau tại Hội quán ngay. Phone cho mấy ông thần nước mặn của mình luôn. Ứng tiền mua giùm một cái thiếp cám ơn, một bó hoa, một case beer, lấy ở nhà một chai rượu chưa khui…

– Để làm gì?

– Tặng hãng xe, sao đó mình khao quân!

– Nghe 5, nhận 5!

Nội trong hôm đó, chúng tôi đã tiếp xúc cám ơn hãng xe, để lại trong văn phòng họ một chai rượu, một case beer, một bó hoa và một thiệp cám ơn… nhân danh Cộng đồng Người Việt vùng Greater Vancouver, Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Võ Khoa Thủ Đức Vancouver… Và cuối tháng, khi báo Việt Nam Vancouver (một ấn bản địa phương của Nguyệt San Việt Nam) ra lò, chúng tôi đã gửi cho hãng xe 40 số báo free mà trang bìa là 1 trang quảng cáo cho hãng xe không lấy tiền. Quảng cáo ngay nơi trang bìa sau tờ báo với lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay. Đây là lá cờ vàng ba sọc đỏ duy nhất tại Vancouver rực rỡ, lồng lộng trong nắng tại Vancouver, bất chấp những cú phone và văn thư khiếu nại, phản đối của sứ quán cộng sản tại Ottawa. Tỷ số 2-0 này sẽ tồn tại cho đến ngày tàn trận đấu dài mà thời gian trận đấu được tính bằng năm, bằng tháng trên nỗi đau của dân tộc…

Hiện nay, âm mưu và nổ lực của tà quyền Taliban VC ở Hà Nội vẫn còn đang tiến hành quyết liệt: Phân hóa cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, lăng nhục cuộc chiến đấu chính nghĩa của QLVNCH và bôi bẩn, hạ thế giá lá cờ vàng ba sọc đỏ. Chúng ta mất gần hết, chỉ còn lại mầu cờ. Và chúng ta không chấp nhận những phản bội của bất cứ ai, bất cứ từ đâu tới. Lịch sử sẽ không tha thứ cho những ai bôi đen lịch sử bằng cách hạ nhục lá cờ vàng!

Trung tá David L. Tran (gốc Việt), Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Đại tá.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on August 15, 2025

Nguyển Quân.

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Trung tá David L. Tran, nguyên Chỉ huy trưởng Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn, Thủy Quân Lục Chiến (ảnh của MWSS-373).

Trung tá David L. Tran (gốc Việt), Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (TQLC) vừa được Hội đồng thăng cấp T QLC (U.S. Marine Corps Officer Promotion Selection Board) đề cử thăng cấp Đại tá cho tài khoá YF27, theo thông báo từ mynavyhr.navy.mil ngày 14 tháng 8 năm 2025. Trung tá David L. Tran là một trong 158 Trung tá hiện dịch (active-duty) TQLC được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2025, danh sách đề cử thăng cấp đang được chuyển đến văn phòng Tổng thống đề cử và Quốc hội, để Uỷ ban quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services Committee) xác nhận bầu chọn.

Trung tá David L. Tran được Thăng cấp Trung tá ngày 1 tháng 5 năm 2021, ông nguyên là Chỉ huy trưởng Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn TQLC từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 6 năm 2023. Sau nhiệm kỳ chỉ huy Phi đoàn yểm trợ 373, ông tu nghiệp chương trình đào tạo lãnh đạo cao cấp về phát triển và phối hợp Chiến lược An ninh Quốc gia tại Trường Dwight D. Eisenhower (Dwight D. Eisenhower School for National Security and Resource Strategy). Hiện nay Trung tá David L. Tran đang phục vụ tại Bộ tham mưu liên quân Hoa Kỳ (Joint Staff).

Trung tá David L. Tran (ảnh của Hạ sĩ I Jaime Reyes, Không 3 Thuỷ quân lục chiến).

Trung tá Tran mang cấp bậc Thiếu úy năm 2005, sau kht tốt nghiệp Đại học California, Riverside.

Năm 2006, Thiếu úy* Tran thụ huấn khóa căn bản Sĩ quan TQLC và khóa Sĩ quan công binh chiến đấu TQLC. Sau khi hoàn tất các khóa học trên, Thiếu úy trần được thuyên chuyển về Phi đoàn 372 yểm trợ Không đoàn 3 TQLC tại Camp Pendleton, California làm Trung đội trưởng công binh kiêm Đại đội phó.

Năm 2007, Trung úy* Tran phuc vụ tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1, Sư đoàn 1 TQLC, ông được điều động làm Trung đội trưởng công binh chiến đấu trong Lực lượng đặc nhiệm Chromite (Task Force Chromite) khai triễn đến tỉnh Al Anbar, yểm trợ cho cuộc hành quân IRAQI FREEDOM.

Năm 2008, Trung úy Tran trở về phục vụ tại Phi đoàn yểm trợ 372 (MWSS-372) đảm nhận nhiệm vụ Sĩ quan phụ tá Phòng hành quân, kiêm Sĩ quan hành quân Phi đoàn, và được chọn là Sĩ quan công binh xuất sắc trong năm 2008 của Liên đoàn 37 yểm trợ Không đoàn TQLC.

Năm 2009, Trung úy Tran được thăng cấp Đại úy và phục vụ tại Sư đoàn 3 TQLC tại Okinawa Nhật Bản, ông được điều động đến Baghdad, Iraq chiến đấu và yểm trợ cho cuộc hành quân IRAQI FREEDOM. Sau chuyến công tác hành quân IRAQI FREEDOM, ông trở lại Sư đoàn 3 TQLC và được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng, Đại đội công binh chiến đấu (CEC), Tiểu đoàn công binh chiến đấu, Sư đoàn 3 TQLC.

Năm 2011, Đại úy* Tran được giao phó nhiệm vụ Sĩ quan hành quân và giám sát TQLC trong Lực lượng đặc nhiệm hổn hợp dân sư và quân sự tại Phi Luật Tân. Lực lượng đặc nhiệm phối hợp thường mở các cuộc huấn luyện và thao dượt song phương gồm 800 binh sĩ.

Năm 2012, Đại úy Tran hoàn tất khóa học tại trường Expeditionary Warfare School in Quantico, Virginia. Và phục vụ tại Liên đoàn 1 tiếp liệu (MLG tại Camp Pendleton, California. Theo nhu cầu tại chiến trường A Phú Hãn, đơn vị ông được điều động đến căn cứ Leatherneck, tỉnh Helmand, A Phú Hãn để yểm trợ cuộc hành quân Operation ENDURING FREEDOM.

Năm 2013, Đại úy Tran phục vụ tại Trung đoàn 17 tiếp liệu, ông là Sĩ quan kế hoạch hành quân kiêm Sĩ quan ban 4 ( tiếp liệu ), sau đó ông được thuyên chuyển về làm Đại đội trưởng đại đội Alpha, kiêm Sĩ quan hành quân Tiểu đoàn 7 công binh yểm trợ.

Năm 2015, Thiếu tá Tran* được chọn tu nghiệp chương trình cao cấp tại trường kỹ thuật thuộc Đại học California, Los Angeles (UCLA). Sau khi hoàn tất tu nghiêp, ông phục vụ tại Trung tâm bộ chiến của Không quân TQLC tại Twentynine Palms, California.

Năm 2019, Thiếu tá Tran được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn 7 công binh yểm trợ.

Năm 2020, Thiếu tá Tran làm Tham mưu phó, Phòng 3, Liên đoàn 1 tiếp vận TQLC (1st Marine Logistics Group).

Từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 6 năm 2023, Trung tá David L. Tran chỉ huy Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn TQLC.

Từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 6 năm 2024, Trung tá David L. Tran tu nghiệp chương trình đào tạo lãnh đạo cao cấp về phát triển và tích hợp Chiến lược An ninh Quốc gia tại Trường Dwight D. Eisenhower.

Từ tháng 7 năm 2024 đến nay, Trung tá David L. Tran phục vụ tại Bộ tham mưu liên quân Hoa Kỳ (Joint Staff).

Thiếu tá* David l. Tran “trái” trong buổi lễ đơn vị nhận giải thưởng ngày 28 tháng 8 năm 2017 (ảnh của Hạ sĩ I Isaac Cantrell – Marine Corps).

Trung tá David L. Tran hoàn tất văn bằng cao học khoa học kỹ thuật công chánh tại Đại học UCLA (Sustainability Innovation Grant winner, City of Los Angeles). Ngoài ra ộng còn thụ huấn và tu nghiệp nhiều khóa học quân sự chuyên môn tại các Trường Expeditionary Warfare School; Đại học California, Los Angeles (UCLA); Trường chỉ huy tham mưu TQLC (USMC Command and Staff College) và Trường Chiến lượt An ninh Quốc gia Dwight D. Eisenhower.

Trong suốt thời gian phục vụ TQLC, Trung tá Trần được ân thưởng các loại huy chương** cao quý như: Huy chương Meritorious Service Medal with one gold star; huy chương Joint Service Commendation Medal; 2 huy chương Navy and Marine Corps Commendation Medal with two gold stars; huy chương Joint Service Achievement Medal; huy chương Navy Marine Corps Achievement Medal with one gold star và huy hiệu tuyên công Combat Action Ribbon.

Danh sách Trung tá David L. Tran và 157 Trung tá TQLC hiện dịch (active-duty) được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2025 cho tài khoá YF27, đang được chuyển đến văn phòng Tổng thống đề cử và Quốc hội xác nhận. Sau khi được Uỷ ban quân vụ Thượng viện bầu chọn, Trung tá David L. Tran sẽ được chính thức thăng cấp Đại tá, ông sẽ là 1 trong 6 Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt. Danh tính 6 vị Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt: Elizabeth Pham; Jackson T. Doan; John T. Nguyen; Ly T. Fecteau (hồi hưu); William H. Seely III (thăng cấp Thiếu tướng, hồi hưu tháng 5 năm 2025) và David L. Tran.

Chúc Tân Đại tá David L. Tran thăng tiến binh nghiệp.

Nguyễn Quân

Chú thích: *Ghi theo thời gian mang cấp bậc; **Ghi theo tài liệu thăng thưởng huy chương năm 2023.

Nguồn: mynavyhr.navy.mil; marines.mil/News/Messages; linkedin.com; 3rd Marine Aircraft Wing; Marine Wing Support Squadron 373; Marine Corps officer promotions; Air Ground Combat Center Twentynine Palms; bienxua-Trung tá gốc Việt David L. Trần, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.

Kỹ nữ bên Tàu

saigonnhonews.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 24 tháng 11, 2025

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

(Hình minh họa: Unsplash)

Trong kho tàng văn học Đông Á, không có nhân vật nào vừa khiến người ta thương cảm, vừa khiến người ta… tội nghiệp cho các ông thi sĩ như hình tượng kỹ nữ.

Tàu là xứ sản sinh ra cả kho tàng chuyện buồn rơi nước mắt về những người con gái sa cơ thất thế, phải bán phấn buôn hương để đổi lấy cơm gạo. Mà nói cho ngay, nhờ mấy em mà thơ đời Đường mới thăng hoa, văn đời Tống mới thở dài, còn mấy ông thi sĩ mới có cái cớ để… ôm lưng người đẹp vừa nhậu vừa ngâm thơ.

Ngẫm lại, kỹ nữ bên Tàu vừa là nạn nhân, vừa là nguồn cảm hứng, vừa là “người tình văn học” của biết bao văn nhân mặc khách. Sách sử kể rằng nghề kỹ nữ bên Tàu có từ thời Xuân Thu. Cái nghề “bán thân mẹo dậu” này không chỉ để chỉ chuốc rượu, đàn hát, trò chuyện, mà còn ôm ấp, mua vui, thậm chí bán thân xác – mà nay gọi là “ anh hai dịch vụ tăng hai?”

Quản Trọng, tướng quốc của Tề Hoàn Công, còn có sáng kiến kiếm tiền bằng cách mở tới 700 lầu xanh, vừa để “quản lý xã hội”, vừa để thu thuế cho quốc khố. Đọc tới đây, tôi xin tâm phục, khẩu phục, bái phục, tao lạy mầy luôn tầm nhìn chiến lược của tổ nghề kinh doanh dịch vụ người lớn.

Nhưng điều đáng nói hơn là: kỹ nữ bên Tàu để lại dấu ấn quá sâu trong văn chương tao đàn, mầy đàn.

Trước hết phải kể tới Đỗ Mục, tác giả bài Khiển Hoài mà dân mê thơ Đường ai cũng biết. Ông bị đày tới Dương Châu, gặp một em kỹ nữ trẻ đẹp. Tương truyền, một buổi chiều mưa gió, Đỗ Mục ôm cái lưng nhỏ xíu, thon thon của cô mà thốt ra mấy câu thơ nổi tiếng. Người đời sau đọc mà thương cô bao nhiêu thì cũng… nghi ngờ cái động cơ sáng tác không trong sáng của ông bấy nhiêu.

Rồi đến Bạch Cư Dị. Bị biếm chức, bị đày đi làm Tư Mã ở Cẩm Giang, ông gặp người kỹ nữ chơi đàn tỳ bà. Nàng là một tài nữ lỡ vận, “ngày xưa phong lưu phóng khoáng, giờ xuống thuyền gõ đàn kiếm cơm.” Ông nghe xong mà thổn thức, viết ra bài Tỳ Bà Hành, một kiệt tác dài hơi, vừa ca ngợi tiếng đàn, vừa thương phận người kỹ nữ khi phấn lạt hương phai.

Nói thiệt, nếu không có mấy em kỹ nữ, chưa chắc đời Đường đã có những bài thơ khiến đời sau phải học thuộc tới nằm lòng. Thành thử, tôi dám quả quyết rằng giới văn nhân phải mang ơn kỹ nữ không ít.

Cái hay của kỹ nữ bên Tàu ở chỗ họ không chỉ bán thân xác mà còn bán tài nghệ. Họ hát, múa, đánh đàn, làm thơ đối đáp, pha trà, chơi cờ… đủ thứ nghệ thuật tao nhã. Nói theo kiểu thời nay, họ là đa năng, đa tài thời phong kiến, vừa đẹp, vừa khéo, vừa biết cách nắm thóp tâm lý khách hàng.

Nhưng sau những ánh đèn lầu xanh, sau tiếng đàn, tiếng hát, lại là những phận đời tăm tối. Không ai tự nguyện bước vào con đường này. Họ là nạn nhân của nghèo đói, chiến tranh, loạn lạc, hoặc bị gia đình bán đi trả nợ. Cái nghề bị khinh rẻ nhưng lại được hưởng nhiều ánh mắt ham muốn của đàn ông – một nghịch lý kéo dài mấy nghìn năm.

Trước khi trách, hãy nhìn lại xã hội. Thời nào cũng vậy: người đàn ông có quyền thế thì phóng túng, còn phụ nữ thì bị cột bởi “tam tòng tứ đức”. Một cô gái phạm sai lầm là bị đời chửi bới cả đời. Còn một ông quan lớn lỡ bước vào thanh lâu thì gọi là “khám điền thổ”, “khảo sát xã hội”, “giải trí lành mạnh”, hoặc “thẩm định văn hóa”.

Cho nên mới có chuyện văn nhân thương hại kỹ nữ mà vẫn… đi kỹ nữ cho em kiếm tí tiền. Mâu thuẫn vậy mà cả hai đều sống khỏe re!

Tiếc thay, càng vào thời phong kiến về sau, số phận người kỹ nữ càng hẩm hiu. Các cô bị xem như món hàng, bị bán, bị chuộc, bị quản lý bởi “má mì”, bị kẻ quyền thế cưỡng bức. Văn chương thì nói hay lắm, nhưng hiện thực thì tàn nhẫn vô cùng.

Tuy vậy, chính trong hoàn cảnh cay đắng đó mà hình tượng kỹ nữ trở thành nơi ký thác của lòng thương cảm, của cái đẹp đượm buồn. Thúy Kiều của Nguyễn Du, dù là nhân vật Việt Nam, nhưng lại mang bóng dáng các cô gái Tàu trong văn chương cũ: tài sắc, đa truân, lao lung vì chữ hiếu, bị xã hội dày vò đến tận cùng.

Ta nói “nghề xưa như trái đất,” nhưng ở bên Tàu, cái nghề ấy còn gắn với cả một tầng văn hóa: lầu xanh, tỳ bà, thơ Đường, rượu nồng, đèn mờ, khách làng chơi, và cả những giọt lệ cuối đêm về ế khách.

Điều đáng buồn nhất: dù bao đời qua, dù thơ văn có làm đẹp nghề bao nhiêu, thì kỹ nữ bên Tàu vẫn chỉ là người phụ nữ bị bóc lột. Một nhà nho có thể thương họ trong thơ, nhưng ngoài đời vẫn để họ sống phận bọt bèo. Một ông quan có thể say mê tiếng đàn, nhưng vẫn xem họ như món đồ trang sức mua vui.

Đến cuối cùng, kỹ nữ bên Tàu là một bi kịch kép: bi kịch của thân phận phụ nữ và bi kịch của một xã hội trọng nam khinh nữ kéo dài hàng nghìn năm.

Nhưng nếu không có họ, lịch sử văn học Trung Hoa đã mất đi một nửa linh hồn. Có lẽ vì vậy mà bao người đọc, dù thế kỷ 21 hay đời Đường, vẫn thương cho tiếng tỳ bà giữa đêm trăng nước Cẩm Giang, hay cái lưng bé nhỏ trong buổi chiều mưa ở Dương Châu.

Một tiếng thở dài từ nghìn năm trước, còn vọng mãi tới bây chừ mà chưa có nhừ!

Kỹ nữ bên Tây

saigonnhonews.com

Đoàn Xuân Thu

 Post 25 tháng 11, 2025

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

(Hình minh họa: Unsplash)

Nhắc chuyện kỹ nữ bên Tàu thì đầy nước mắt, còn nói đến kỹ nữ bên Tây thì phải đổi giọng đôi chút. Bởi bên Tây, nghề bán phấn buôn hương không phải là “phận bạc,” “kiếp hồng nhan” như văn chương Á Đông hay than thở.

Ngược lại, nhiều cô xem đó là một nghề chuyên nghiệp, có đăng ký kinh doanh đàng hoàng, có đóng thuế thu nhập, có bảo hiểm sức khỏe, có quỹ hưu trí như ai. Nói trắng ra, kỹ nữ bên Tây là… “tiểu thương,” mà vốn liếng lại là thứ trời cho, khỏi cần vay ngân hàng.

Trước khi bàn chuyện sâu hơn, xin kể câu chuyện có thật tại tiểu bang Victoria, Úc Châu – nơi tôi đang sống. Ở đây, luật pháp không cấm nghề mại dâm. Và kết quả là: 50 lầu xanh treo đèn đỏ, 18 dịch vụ gái gọi, 75 cơ sở vừa nhà thổ vừa gái gọi, và thêm 520 thương vụ nhỏ lẻ do chủ tự điều hành. Nếu tính thêm số kỹ nữ hoạt động tại nhà riêng, trong nhà thổ chui, hoặc trên đường phố thì con số này chắc phải nhân đôi.

Nhưng điều làm ta giật mình là suy nghĩ của họ. Một kỹ nữ Tây chưa chắc nghèo. Ngược lại, nhiều người xem nghề này là… cơ hội phát triển kinh tế cá nhân.

Lấy ví dụ em kỹ nữ 29 tuổi ở Tây Úc – câu chuyện mà báo chí Úc từng đăng. Em khởi nghiệp lúc 18 tuổi, khi đang là thợ cắt tóc trong một hộp đêm. Lương bèo, làm mệt, mà bị khách sàm sỡ hoài. Hai người bạn cùng phòng – là “công nhân tình dục chuyên nghiệp” – rủ cô vào nghề. Và em suy nghĩ một buổi chiều rồi… chịu liền.

Lý do? Em nói rất thật:

“Tôi năng động về chuyện phòng the. Tôi nghĩ mình có thể kiếm nhiều tiền từ sự năng động đó.”

Nghe xong mà tôi muốn xỉu. Phụ nữ Á Đông nếu nói vậy chắc bị họ hàng chửi thấy thương luôn, nhưng bên Tây thì đó là… tuyên ngôn nghề nghiệp.

Suốt 11 năm làm nghề, em xây dựng thương hiệu riêng: ảnh đẹp, tư thế duyên dáng, lời quảng cáo lịch sự. Giá dao động từ 450 đến 600 đô mỗi giờ. Khách toàn loại “tai to mặt lớn,, thích thuê phòng khách sạn 4-5 sao. Nhiều ông còn bao cô bay xuyên bang hoặc ra nước ngoài thư giãn.

Lịch làm việc của em cũng rất… văn phòng:

-Ngày thường: 2–3 tiếng.

-Cuối tuần: “tăng ca” vì khách đông.

Có những khách chỉ muốn cô ngồi ăn tối, trò chuyện, chứ không phải chuyện ấy. Nói thiệt, bạn gái nhiều ông còn không chịu ngồi nghe lâu vậy. Thành ra, kỹ nữ bên Tây đôi khi giống như nhà tâm lý học phiên bản sexy, vừa nghe chuyện đời, vừa giải tỏa stress, vừa tính tiền theo giờ.

Em không chỉ kiếm tiền – em còn biết giữ tiền. Tài khoản hưu trí có, bảo hiểm tư có, đầu tư bất động sản có, tiền tiết kiệm có. So với nhiều thanh niên Úc suốt ngày ăn mì gói chờ tuần sau lãnh lương, em kỹ nữ này đúng là đại gia trẻ tuổi.

Nhưng cuộc đời nào cũng có mặt tối. Em tâm sự:

“Nghề này làm hư một phần cảm xúc tình yêu. Tôi vẫn yêu được, nhưng khó giữ được.”

Lý do dễ hiểu: khi chuyện thân xác trở thành dịch vụ, thì tình cảm dễ bị bào mòn. Em kể đã từng yêu một khách hàng. Hai người quen nhau ba năm rưỡi. Em bỏ nghề để yêu cho trọn vẹn. Nhưng rồi chia tay. Em quay lại nghề cũ trong cay đắng.

“Đồ Sở Khanh!” – em chửi như vậy. Đọc mà thương, mà cũng… buồn cười.

(Cũng như Kiều với Thúc Sinh đấy thôi)

Em nói thêm điều khiến nhiều người giật mình:

“Tôi chỉ chấp nhận một vợ một chồng. Nếu tìm được đúng người, tôi sẽ dừng ngay.”

Mâu thuẫn của nghề là ở chỗ đó: bán tình dục nhưng lại mong tình yêu thuần khiết. Nghe ngược đời, nhưng lại rất người.

Dưới mắt nhiều học giả phương Tây, mại dâm là lĩnh vực không bao giờ có lời giải. Một nhà nghiên cứu xã hội từng phát biểu: “Mại dâm làm tổn hại phẩm giá phụ nữ. Họ không chọn nghề này; họ là nạn nhân của sự thống trị phái nam.”

Câu này nói đúng một phần – nhưng không trúng hết mọi trường hợp. Xã hội Tây phương, dù hiện đại, vẫn tồn tại đủ kiểu kỹ nữ: Vì nghèo mà làm; Vì nghiện ma túy mà làm; Vì bị buôn người mà làm, Và một nhóm ít ỏi – vì tự nguyện.

Trong số tự nguyện, có người xem đây là con đường làm giàu nhanh nhất, nhẹ nhàng hơn đổ mồ hôi trong nhà máy. Nhưng bên dưới vẻ tự tin khoe thu nhập cao, họ vẫn đối diện nguy hiểm: bệnh tật, bạo hành, khách bẩn tính, xã hội đánh giá, gia đình từ mặt.

Không phải ai cũng sống được như cô gái Tây Úc vừa kể.

Cho nên, nghề kỹ nữ bên Tây dù được hợp pháp hóa vẫn không thể trở thành “nghề như mọi nghề.” Luật pháp có thể quản lý, nhà nước có thể thu thuế, nhưng cảm xúc, tâm lý, nhân phẩm thì không có bộ luật nào bảo vệ trọn vẹn.

Và dẫu họ tự tin đến mấy, họ vẫn dễ trở thành nạn nhân của lòng tham và sự lợi dụng. Bởi đàn ông… thời nào cũng vậy: rất giỏi nói lời đường mật để rồi quay mặt bỏ đi.

Nhưng cũng phải nói công bằng: xã hội Tây coi kỹ nữ thoáng hơn. Không ai chửi họ là “đồ làm nhục tổ tông”. Không ai dùng văn chương để mạt sát. Nhiều nơi còn có công đoàn dành riêng cho “công nhân tình dục”, có văn phòng pháp lý hỗ trợ kiện khách hàng bạo hành, quỵt tiền, xâm phạm quyền cá nhân.

Tây mà! Việc gì cũng có thể tổ chức thành nghiệp đoàn.

Kết lại câu chuyện kỹ nữ bên Tây, ta thấy rõ hai mặt: Một nghề được hợp thức hóa, có thu nhập cao, có quyền lựa chọn; nhưng đồng thời, là một nghề làm hao mòn trái tim và dễ đẩy người ta vào vùng tối.

Dù họ gọi bản thân là “doanh nhân kinh doanh vốn tự có,” thì rốt cuộc, đó vẫn là nghề lấy thân xác làm phương tiện. Mà bất cứ thứ gì đem ra đổi lấy tiền, thì sớm muộn cũng hao đi phần hồn của nó.

Xã hội có thể đổi thay, luật pháp có thể nới rộng, nhưng cái giá mà phụ nữ phải trả trong nghề này, dù ở Đông hay Tây, vẫn luôn đắt hơn đàn ông nghĩ rất nhiều.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Chương 15.

Vài chuyện cũ còn nhớ về đường phố Sài Gòn ngày xưa.

Cách nay vài năm, trong báo có đăng tin người bỏ xứ đi xa, nay muốn biết địa chỉ một thân nhơn, cho địa chỉ: “số nhà số mấy? và đường gọi “d’Adran” nhưng báo chí không đăng trả lời, tôi định là không biết. Nay tôi tìm ra, vậy xin cho hay, nhưng đã muộn:

– Đường ở Chợ Cũ Sài Gòn tên gọi “đường d’Adran” đó là đường gọi “rue Georges Guynemer” tức đường bắt đầu sau tòa tạp tụng và nối liền mối đường Đỗ Hữu Vị chạy tuốt xuống đụng mé sông mang tên đường mé sông ấy là quai de Belgique, chỗ cầu móng cũ nay đã hư tệ. Tên mới tôi xin chừa vì tôi không rành.

Georges Marie Guynemer là phi công Pháp, sanh trưởng tại Paris (24-12-1894) tuổi vừa 22, đã bắn hạ rất nhiều máy bay của địch (A lơ măng) chức đại úy đeo ba lon và đã có ngũ đẳng bội tinh, và sau tử trận mất tiêu thỉ thể và xác máy bay, đất không chôn được xác anh hùng và hồn thiêng bất tử vẫn tồn tại phiêu phiêu trên mây bạc. Ngày 26 Avril 1920, hội đồng đô thành Sài Gòn chọn tên người vị quốc vong thân, đặt thay tên đường cũ “rue d’Adran”, nhờ đó mà tôi biết được, lúc nhỏ, theo Ba tôi lên trên nầy năm 1919, đã từng cha con dạo phố và để chưn nơi đường nầy, và nhớ bên mé hữu, kể từ đường Đỗ Hữu Vị đi xuống mé sông thì sau và ngang miếng đất trống Tổng Ngân khố, đất trống do phá bỏ chợ cũ còn đất lại và mé tay mặt đó có một tiệm thợ bạc lớn, treo bảng hai chữ “Kim Ngọc” và thân phụ tôi dạy cho biết đó là lò ông thợ cha của hội đồng quản hạt tên Khá (Trần Văn Khá) tức rể của đốc phủ Vịnh (Nguyễn Văn Vịnh, trước có ngồi làm ở tỉnh Sốc Trăng), ông Vịnh là bào huynh của Duyên (giáo sư) của Liễn (dược sư) người gốc làng Tân Trụ (Chợ Lớn) v.v…Tên ď’Adran kéo qua nhắc lại Bá Đa Lộc, nay đã bị phá mồ (lăng Cha Cả) nhưng tưởng nên ghi lại để cho người đến sau được rõ, đó là:

Những chỗ cũ, tên cũ cần ghi lại để biết:

1. Trường gọi “collège d’Adran” ở đâu?

2. Place Pigneau de Béhaine?

3. Statue Pigneau de Béhaine?

1. Collège d’Adran. Danh từ nầy thay đổi nhiều lần và nhiều người lầm lộn với trường gọi “des stagiaires” v.v … Tôi biết sao thì nói là: Collège   d’Adran: năm 1862, qua năm 1910, đổi làm Ecole des Filles Françaises; qua năm 1922, xây cất thêm và đặt “Ecole Normalde d’in tuteurs” (đào luyện giáo viên) sau thêm lớp cao cấp “écoles primaires supérieures” để qua nhiều trào và nôm na vẫn gọi “Trường Sở Cọp” vì cọp Sở Thú gần bên. Năm 1942, đời Thống đốc Tây Rivoial, lấy tên cũ gọi là “collège d’Adran” nhưng tên nầy không tồn tại.

2. Place Pigneau de Béhaine. Đó là chỗ trước Nhà thờ, tượng đồng hình Bá Đa Lộc đứng che chở cho đông cung Cảnh, tuy bị hạ bệ từ lâu, nhưng bệ đá màu đỏ tươi rất đẹp, vẫn không hề hấn và giữ lại làm bệ tượng Maria bằng thạch cao nay còn thấy.

Nhắc lại đây, Place nầy trước ở chỗ gọi Place de l’Horloge (đời Amiraux) là chỗ nay có vườn cây nơi đường Đồng Khởi, giữa 2 đường La Grandière và Espagne, đồng hồ chỉ giờ đời Tây qua sau dẹp đã có đồng hồ lớn tòa Bưu chính (Hôtel des Postes).

Xin nhắc luôn Cathédrale (nhà thờ lớn) đặt tên Vương cung thánh đường ấy, thì khởi công xây cất từ năm 1879, (như vậy đã trên 100 năm) nhưng vườn ấy có lúc bị bỏ thiếu sự chăm nom, đợi đến 1893, vườn mới được tu bổ lại, và tên đặt làm Place Pigneau de Béhaine là có từ 1920.

3. Statue Pigneau de Béhaine. Đã nói tượng đồng nầy ở trước nhà thờ lớn. Đó là tượng do Dormier chế tác và được dựng Mars 1902. 4. Nói lại đây, có stèle (bia đá) đặt nơi hông viện bảo tàng Bách Thảo, là do Taboulet xin dựng lên để ghi chỗ ở xưa của Đức Cha Cả, bia nầy dựng năm 3 Octobre 1936, có Phạm Quỳnh chứng kiến. (Chữ Pháp “décédé” đối với một chức sắc lớn của Gia tô giáo, lựa dịch trên bia “tịch” thì là chữ mượn của đạo Phật? Năm trước ra Huế, tôi gặp một tượng d’Adran và đông cung, tượng giấy bồi và giấu trong kho kín Tôn Nhơn Phủ …

(viết ngày 29-9-1993 tức 14-8 Quí Dậu, trung thu tiền nhứt nhựt)

Dị đoan, đồng diêu, ca dao

Người mới, đời mới, thuyết Mác Lê cũng mới, dị đoan đã bớt người tin theo. Tôi thuật lại đây hàm bà lằng cuốc chí, ai tin cùng không cũng mặc và tôi cứ thuật. Lúc tôi được bảy, tám tuổi, tôi ở châu thành Sốc Trăng, trong xóm có một nhỏ hai dòng máu, tên Hên (Hưng), sau thuần lại và làm hương hào và gọi hương hào Hên, lúc còn học lớp chót và nhỏ hơn tôi vài tuổi, nhưng tánh tình Hên ương ngạnh không ai chịu nổi. Chính nó bày ra hay nó học lỏm ở đâu rồi truyền cho chúng tôi, là mỗi khi muốn ngạo ai, chọc tức

ai, thì nó hô lớn: “Bồ kề!” rồi nó bắt chúng tôi phải vỗ tay và lặp lại hai tiếng ấy. Không ai hiểu nghĩa là gì, chính người lớn cũng lây chứng và nhại theo “Bồ kề!” và sau đó nó còn bày ra nói nguyên dọc “Bồ kề! ác táp lách xi cu la Canh ti nả. Bồ kề!”.

Không nói và la theo nó thì nó đánh, nó giọi trên đầu, mượn cha phải nói theo cho khỏi chuyện gì. Trong xóm có một trưởng lão, tức một ông già chệc Tiều, cao lớn, mặt đỏ au, tóc bạc trắng búi một bì bi (đuôi sam nhỏ xíu, thắt lòng thòng sau lưng, tay cầm một ống điếu tre dài nơi đầu có gắn một nồi thuốc hút, cái đầu ngậm vào mồm là một ống đá cẩm thạch rất đẹp, mỗi khi chúng tôi ra đường đụng đầu với ông lão nầy thì thằng Hên hô to: “Bồ kề? Bổ cu ông già?” và lẹ như chớp nháng, tức thì ông nổi tam bành, chơn rượt, tay bổ tưới ống điếu vào đầu đứa nào chạy không kịp thì lãnh đủ, miệng ông chửi: “Lù má mẩy là thằng xích câm xa”, chúng tôi chạy ra xa, khỏi tầm tay thì đứng lại hô Bồ kề như cũ.

Ngày nay chuyện xưa kể lại dông dài mà nhơn vật cũ đâu còn móng nào, trừ kẻ hèn nầy tuổi đã 92 và nhờ chưa xuống dưới gặp lại bạn cũ, tôi lần mò tìm hiểu và nay phân tích lại cho các bạn trẻ biết, thì:

– Bồ kề? là tiếng Triều Châu, phiên âm Hán tự là “Bất hảo” (đúng ra bồ ềnh (bất an) là Bồ hố? bất hảo, hoặc đủ chữ là “Bồ xừ phềnh an! (Vô sự bình an) nhưng không hiểu sao mà thằng Hên bày ra hai chữ Bồ kề! Và nguyên câu “ác táp lách xi cu la Canh tỉ nả!” Đúng ra là tiếng Tây “La tablette de chocolat de la rue Catinat” câu nầy là tôi sắp đặt lại về sau cho có nghĩa còn hồi đó, đúng ra thằng Hên nó theo mẹ lên Sài Gòn rồi khi trở về Sốc Trăng nó truyền bá ra làm vậy. (Xin các bạn trẻ rán hiểu lấy). Còn “bổ cu ông già,” tôi không cần giải thích cho thêm rắc rối, bổ cu (beaucoup) như dễ hiểu dễ biết quá mà!

Tôi đánh máy đến trang nầy rồi tự thấy mừng vì tuy tuổi đã hơn chín chục mà trí nhớ vẫn còn sắc bén, và bình tâm xét lại, tôi sanh năm 1902, và cái năm sanh ra có câu “Bồ kề! ác táp lách” ấy, có lẽ là lối năm 1910, và đúng như sử sách ghi chép lại, thì năm 1911, Tân hợi, là năm bên Trung Quốc xảy ra vụ làm cách mạng lật đổ nhà Thanh và từ bên Tàu cho đến đâu đâu có Chệc Tàu ở, thì họ đều cắt đuôi, bỏ đeo bì bi (đuôi sam) trên đầu, và đúng y chang câu đồng dao do thằng Hên bày hát: và đúng với một sự tôi cho là kỳ, là lạ, là vào mấy năm 1910, 1911 ấy, tre trồng trong rẫy ở Sốc Trăng, tôi thấy trước mắt, hễ trồng cắm rễ vào dất thì tre mọc èo uột lâu lắc, và nếu dộng ngược gốc tre cắm xuống đất thì tre vẫn mọc và mọc mạnh mọc mau là khác và câu tục ngữ địa phương để lại và nay tôi nhắc ra đây, còn người mới, tin cùng không tôi cóc cần biết và câu kinh nghiệm ấy là: “Trồng tre trở gốc về trời! Ông Bồn về Tàu, thằng chệc đứt đuôi!” (tôi giải thích thêm: ông Bồn, tức là vị thần của người Hoa thờ nơi các chùa miễu của họ, Bổn cảnh thành hoàng, nói tắt. Ông Bổn về Tàu, tức là năm Tân Hợi ấy (1911), người Hoa nhiễm tiến bộ văn minh, một phần dân Tàu, bớt tin dị đoan, bỏ hay nhẹ bớt tục thờ cúng và đã đưa ông Bồn về …)

Tục người Tàu dưỡng tóc kết đuôi sam, theo Ba tôi nói lại, là có lẽ tục của dân tộc Mãn Châu (Mandchourie) có lẽ họ thờ “động vật tổ” (totem) của họ là “lư: là con lừa, cho nên y phục đại lễ Thanh triều, tay áo lất lên như móng lừa, họ lễ bái, lạy khúm núm như lừa quì bái và tóc trên đầu vẫn cạo chung quanh sạch bách, chỉ chừa một lọn kết và kèm thêm tóc giả hoặc chỉ tơ đỏ đen làm bì bi và nghĩa kín ít nói cho biết là họ ngầm muốn tỏ ra: “tứ xứ di tồn Trung Quốc” (ý đen là vốn di man (man là người phương Nam nước Tàu), bốn dân “mọi” ấy cạo sạch, chỉ chừa người Hán còn lại, v.v ..

Xin thêm, năm cách mạng Tân Hợi, quốc kỳ Trung Quốc ban đầu là cờ ngũ sắc (Hán, Mãn (mandchou), Mông (Mongol, Mông Cổ), Hồi (Mahométan), Tạng (Tibétan)).

Chính vậy cho nên ngày nay họ chưa chịu buông tay cho độc lập cho tiểu quốc nầy. Tôi đã sa đà vì tôi viết để nhắc việc cũ cho quên việc rối trong nhà, cô bác anh em đọc rồi xin bỏ qua cho. Vạn tạ.

(29-9-93) Trung thu tiền nhứt nhựt, nói làm vầy cho khỏi dị đoan cữ 5, 14, 23 …)

(viết thêm ngày 30 Septembre 1993)

Về hai chữ Bồ kề ở Sốc Trăng nghe lúc bé thơ. Về hai tiếng Tiều ở Sốc Trăng đến nay còn ít ai cắt nghĩa: “Bồ kề”. Xin thưa lại: “Trong một bài viết nơi trước, tôi đã nói “Bồ kề” là “bất hảo” của người Triều Châu, nhưng nay tôi gẫm lại và dám quả quyết: “Bồ kề” không phải tiếng Tiều chi cả, và rõ lại có lẽ đó là hai tiếng “Bồn kèn” ở Sài Gòn thuở những năm 1910 – 1911 hoặc trước đó vài mươi năm và Bồ kề như vậy là “Bồn Kèn” (kiosque à musique) do Tây khi mới qua, họ xây tại Bồn Nước ngày nay trước hãng Charner cũ và Bồn Kèn nầy mắt tôi đã thấy, vẫn là một bệ xây đá  xanh tám góc vuông vức, mỗi chiều thứ năm trong tuần, họ sai sơn đá đem kèn đem trống đến và tấu nhạc võ lên … – Ông bà nhà quê lớp xưa để lại thành ngữ “đánh mũi đích” (musique)

– Thơ Huỳnh Mẫn Đạt “… nhạc Tây hơi trỗi lạ …”

– Thơ cỡ Bùi Hữu Nghĩa: “Tò le kèn thổi tiếng năm ba …” và như vậy tôi dám chắc ở Sốc Trăng trẻ nhỏ lớp tôi những năm lối 1910 – 1911, có thằng Hên là con ý Bang Chu, ý nầy dắt nó lên Sài Gòn dạo chơi và nó mua về Sốc Trăng thứ bánh kẹo chocolat hiệu Nestlé (ở Sài Gòn mang về) “và mang theo hai tiếng “Bồn kèn” mà nó lặp lại và biến ra Bồ kề là như vậy …

Tiếng Tàu, tiếng Quảng (Quảng Đông) và tiếng Tiều (Triều Châu) của tôi, là những tiếng học đường học xá, nhưng tôi dám chắc vẫn có căn có bồn.

Nhắc lại: đồng dao hay câu do thằng Hên dạy chúng tôi hát thuở ấy: “Ác táp lách xi cu la Canh ti nả Bồ kề” là tiếng Tây ba trợn, “la tablette de chocolat Catinat Bồn kèn”.

Cũng vào những năm 1911, cách mạng xảy ra bên nước Tàu lật đổ nhà THANH, thì tại Sốc Trăng nhóm người Tàu cũng dẹp theo tục cúng cô hồn tháng 7 (lễ vong xá cô hồn) và thay thế vào lễ giựt giàn là lấy tiền cúng ma cho vào kết (caisse) hội từ thiện (lập nhà thương, lập trường học, chẩn

bần tiếp tế, v.v..) chớ trước 1911 ấy thì lễ cúng cô hồn tháng 7 ở Sốc Trăng, tôi còn nhớ: Sốc Trăng có ba nhóm người Tàu, thì có ba nghĩa địa chôn:

– Nghĩa địa dành cho người Phước Kiến, đường Bãi Xàu (ông Tiêu ốm nhom); – Nhóm Quảng Đông, nghĩa địa cũng ở đường qua Bãi Xàu và ông Tiêu cũng ốm teo …

– Nhóm Tiều, nghĩa địa ở trên đường đi ra Đại Ngãi, thì ông Tiêu (Tiêu điện ma vương) mới thật là cao lớn dình dàng, cao gần gần ba mét, áo giáp xanh lè rực rỡ, tay cầm cây giản thật lớn, lẫm liệt oai phong, trên mão có bóng hình Phật Bà Quán Âm để trị bớt tánh hung Tiêu điện cho bớt ăn thịt hồn ma bóng quỉ, và đáng ghê sợ hơn cả, ngó ông mà khiếp vía là ông Tiêu nầy le lưỡi dài tới bụng! Nay tôi nhớ lại và nhắc lại nghe chơi, để trẻ sắp nhỏ trong nhà được biết, quãng những năm 1910 – 1911, từ Sốc Trăng muốn lên Sài Gòn phải đi thuyền, theo ghe chài chở lúa, hoặc đi tàu thủy (lối 1920 v.v..) chớ đường bộ chưa có.

Khi lên tới Sài Gòn nhà ngủ Nam chưa có, phải tìm nhà quen hoặc ở nhà tiếp khách của Ba Tầu và thuở đó ở Sài Gòn và Chợ Lớn, vẫn người Tàu gần như làm chủ, vì Nhà Nước Tây nhắm mắt chỉ lo thâu thuế và đã để chệc khách muốn làm chi chi cũng được, Tây giao cho bảy bang (Thất phủ miếu, thờ Quan Đế) mà kỳ thật nói 7 bang mà đếm chỉ có Phước Kiến (chành lúa, người Phước Kiến), Hẹ (Ha kas, ít người, chuyên bán và làm thịt thú: dê, trừu, bò …), Tiều (Triều Châu, làm rẫy, làm mướn coolie gánh lúa) và Quảng (Quảng Đông), buổi ấy người Tầu khác, như Bắc Kinh, Tô Châu, chưa có, và mỗi năm rằm tháng giêng (Thượng nguyên), rằm tháng 7 (Trung nguyên), rằm tháng 8 (Trung thu) và rằm tháng 10 (Hạ nguyên) những lễ Tàu ấy thường thì đường lớn (Quảng tống cái, rue de Canton), đường Thủy binh (rue des marins) đều có “cộ 7 bang” (ép người Chà Ấn độ bán vải, nhập cho đủ số 7 bang) đều có bong bằng tre bên giấy hoa hòe xanh đỏ, gọi “Thể lâu” và làm lễ cúng tháng 7 cô hồn rất lớn và mỗi khi như vậy thì ở Sốc Trăng người Tàu hưởng ứng theo và bang Triều Châu lúc ấy bang trưởng là Lưu Liễu, ngoài gọi Bang Tư (thứ 4) người Tiều mẹ Việt, bang Tư nầy quen giao thiệp với mấy ông mấy thầy trong tòa bố tòa án, và quen tánh ăn to xài lớn (sanh nghiệp là chứa bài, vì vậy sau bị hạ và chết bị đâm lối năm 1946), bang Tư nầy tổ chức cúng cô hồn tháng 7 rất trọng thể, nơi nghĩa địa (Nhị tì) mướn đến hai gánh hát Tiều, một “thùng xanh hay thùng đỏ”, tiếng Tiều là áng láng, xe láng, (láng là rương, áng là đỏ, xe là thanh, xanh) còn gánh khác nữa là gánh thùng sơn màu đen gọi “ô láng” của bà bang Bủi Thiêm nhà ở châu thành, ngay khu chợ Sốc Trăng do hai người con trai là chủ gánh hát (tôi quên tên) và em của chủ gánh hát là cũ Cụi, cũ là cựu, cậu, và Cụi là Quế, cũ Tư Cụi nầy, là công tử nửa mùa, hai người con gái nay còn là cô Hai (vợ Xã Liên) và cô Ba, nay có chồng và ở đường Nguyễn Thông (Sài Gòn).

Mỗi rằm tháng 7 ở Sốc Trăng ấy, là một ngày lễ, vui lớn, nay không còn gặp nữa và ở nghĩa địa Tiều nơi đường đi Đại Ngãi nầy, vui và đông nghẹt khách dạo chơi, quán bán cháo Tiều bán vịt luộc, hủ tíu cá, quán bán chả giò, nem bún, v.v… đếm không xiết và vui không chỗ nói …

Ở Sài Gòn cũng như ở Sốc Trăng, nhạc Tây chưa có, chỉ có kèn lính tập (clairon) còn nhạc Tàu thì tôi nhớ có:trống Bắc cấu (trống Quảng Đông) và “Tùa lầu cấu (Đại lão cổ) là trống nhạc Tiều, phèng la, chụp chõa Quảng, và hát Tiều ở Nghĩa địa Tiều ở Sốc Trăng, tôi nhớ họ hát sáng đêm và vẫn hai rạp hát chọn một tuồng tích và hát thi đua với nhau, tiếng Tiều là hát “siêu tạo” cứ gánh thùng đen hát Tam Quốc thì gánh nọ cũng đổi lớp và hát Tam Quốc y theo, đôi bên bày ra thí võ trên sân khấu rồi kình chống nhau, kéo nhau xuống sân cỏ rồi đánh vật với nhau đổ máu trầy da và đúng ngày rằm cúng ngọ xong thì bày ra thí giàn, quăng thẻ gỗ từ trên giàn cho người đứng dưới tranh giành lấy thẻ ấy vào miễu cho ủy ban tổ chức coi theo số thẻ cây mà phát thưởng, và những vật thưởng ấy gồm cốm nếp, thịt heo tươi, lễ vật cúng kiến cho hồn ma (bánh ếch, bánh tét v.v …) và nhứt là rau muống kết làm giỏ tre gọi “đụng”, đụng đây là tiếng chuyên môn, theo chính tả Lê Ngọc Trụ diễn là vật góp mua từng con vật (heo) cắt xả, rả ra miếng lớn, chia nhau, nhưng đây là thịt chặt từng đùi, từng miếng lớn kết lại trong đụng ngoài che bằng rau muống, và như vậy đụng rau muống thì giàn ở Sốc Trăng những năm 1910 – 1911 đó vẫn bị dân giành giựt nhau dữ hơn đụng bánh trái khác và xin cho tôi nói tha cầu biệt dạng, vừa rồi tôi có xem chớp diễn ti vi tuồng Hồng Lâu Mộng của hãng Hong Kong, tôi rất bất mãn và không tiếp xem đến mãn tuồng, tuy vậy tôi được phép cho ý kiến và tôi bất mãn vì hãng phí mấy trăm triệu đô la mà diễn lại vẫn không tuân theo niên kỷ đời Tào Tuyết Cần viết về đời Thanh Khương Hi, Kiền Long, vì Vương Hi Phụng, công tử Di Hồng (Bảo Ngọc) làm sao uống trà trong tách (tasse Hồng Kông đời nay) và bắt người xem phim đời nhà Thanh còn mê tín, bắt mạch (chẩn mạch), hốt thuốc, ăn mặc y phục, v.v… đều lai căng, nachronique, bất tuân thời đại, và Bảo Ngọc, 19 tuổi đã có vợ, đi thi đỗ cao và bỏ nhà đi tu … mà diễn viên theo trong phim theo tôi là kép trộng tuổi, đẹp trai xứng đáng thật nhưng niên kỷ chưa đúng, riêng các tiểu thơ, tỷ tắc, con đòi, Tạp Nhân, Bảo Thoa v.v .. đều theo tôi là gái 16, 17 còn trong phim đều trộng tuổi hơn tuy rằng vẫn là người đẹp. Tôi nói dông dài và muốn chờ xem nếu có thể được là chờ xem phim sẽ quay lại và giữ đúng nề nếp tục lệ hơn.

Theo tôi, đời nào vẫn nên giữ và diễn lại cho gần đúng vào đời ấy thì mới gọi là “làm văn hóa” Hồng Lâu Mộng còn tin thần thánh ma quỉ, và năm 1910 – 1911, ở Sốc Trăng còn tin á rắc, tin ông Tà, ngày nay người Miên dùng thuốc Tây và như vậy tôi cho là “đã lạc ông Bổn” và đã mất căn cội.

Đã lỡ sa đà xin sa đà luôn và cho nói luôn, chuyện cũ nhớ lại, năm 1921, quan 5 Colonel Đỗ Hữu Chẩn đem xác em là quan 3 Đỗ Hữu Vị về và làm lễ an táng tại vườn Bà Lớn đường Nguyễn Trãi ngày nay, thì đường nầy mang tên là đường Frères Louis và còn sầm uất tre mọc đầy hai bên lề đường và đường vẫn còn trải đá ong, ngày đem xác từ tàu đậu nơi bến Nhà Rồng (Messageries Maritimes) trường Chasseloup có biệt phái một tốp học sanh và tôi được cử thay mặt 2ème année, theo các anh lớp 3è và 4è và lớp quartier européen, cả thảy độ 4, 5 chục đứa, có thầy gác (surveillant) dẫn ra trường, đi bộ xuống bến tàu rồi theo xe chở quan tài, cuốc bộ dọc theo đường Catinat, tới Frères Louis rồi đến vườn (nghĩa trang họ Đỗ Hữu) nghe đọc diễn văn rồi cuốc bộ về trường, chung qui đi bộ nổi trên mười cây số đường mà không thấy rằng dài, và nay nhớ lại, sao dời vật đổi, họ Đỗ Hữu đã lu mờ, chính bộ sắc phục chức Capitaine Aviateur, nỉ đen nút xi vàng của Đỗ Hữu Vị, tôi vẫn thấy cất giữ chung với áo triều phục bông bạc màu xanh da trời của Nguyễn Thông, viện bảo tàng có còn giữ lại hay đã dẹp đâu rồi?

Nơi đường Nguyễn Trung Trực ngày nay, đời thuộc địa tây, gọi rue Filippini, ngày nay ban đêm đi còn rùng rợn, vì có bụi da sum sê thật lớn, lá xào xạc như có ma treo võng chờ nhát kẻ gan thỏ, đọc sách cũ nhớ có kể lại Filippini nầy (1834 – 1887) vốn là quận trưởng (préfet) bên Pháp, qua đây bổ nhiệm làm thống đốc Nam kỳ, chẳng may qua đời ở Sài Gòn và làm đám ma thật lớn, định chở xác về xứ và trối trăn làm linh xa, bàn đưa thật cao và khi di táng, bắt mé nhánh cây để đừng vướng ngọn linh xa và đã mé nhánh quá trớn và mé thế nào, khiến người những Pháp dọc theo đường đời linh xa đều phàn nàn và cho rằng lễ táng vượt bực và về sau nhựt báo Tây kể lại đúng là một trò cười vì dường như xác đã dời về xứ âm thầm từ trước. Rõ lại Filippini đã làm rộn dân chúng lúc chết hơn là lúc sống. Ở đây đã sáng suốt giữ lại những con đường đầy ân tình cũ: Pasteur, Calmette, trường Marie-Curie, tưởng cũng nên nhắc ơn Yersin đã cho ta nghỉ mát Đà Lạt … và nhớ lại nhà trứ danh Thảo mộc học Pierre (1833 – 1905) tôi đã từng thấy một bia đá xinh xinh nơi Vườn Bách Thảo, nay có còn hay chăng? Tội nghiệp cho ông, ông bỏ công sưu tầm, nghiên cứu Cam bốt, Nam kỳ Thủy chân lạp, Xiêm quốc Thái Lan, vùng Đông Mã Lai Á, xong rồi về nước Pháp, trải nửa đời người, từ 1879 đến 1899, soạn được bộ “Thảo mộc học” danh vang hoàn cầu, ông được cấp mỗi năm 6.000 franc để ông tiếp tục soạn sách nghiên cứu, thế mà hội đồng quản hạt rị mọ viết thơ đòi ông phải nạp trong năm và cho hoàn toàn bộ sách ấy bằng không sẽ bị truất chút bổng cấp ấy, ông thua buồn trả lời nước Anh vẫn cấp mỗi năm 60.000 francs để ông Hooker nghiên cứu cũng như ông nhưng về thảo mộc của Ân Độ, thơ ông gởi năm 1903 cho hội đồng quản hạt mà không quảng lượng ấy, để qua năm 1905, ông từ trần, với mớ tuổi 72, và với câu đau đớn, tôi xin chép lại đây: “Me reposer? (có người hỏi như vậy), me reposer? jen’en ai pas le temps la vie est si courte” và tôi dịch: “Đâu có thời giờ cho tôi nghỉ? Đời cụt ngắn kia mà!”

Làm tàng nói về đường lộ tên Tây, xin nói luôn: Đời thuộc địa Pháp, nơi xóm Lò Heo Cầu Ông Lãnh cũ, có một đường ngắn từ Douaumont qua Galliéni tên “Belland”. Nhớ lại, người Tiều làm nghề trồng rau, ta gọi “Chệc Rẫy”, nay lão tây nầy phải gọi là gì? Lão có công năm 1897 mua hột giống từ Ceylan Lanka (Sirilanca ngày nay) mua 1.000 hột cao su về răm giống ở Suối Giao, chỉ mọc 37. Không ngả lòng, qua 1899, mua 1.000 nữa, nhưng phen nầy cho 600.

Belland mừng quá, qua năm 1901 đặt mua 15.000 rồi 1902 cũng 15.000 nữa và được tuần tự 4.300 rồi 9.000 cây cao su con. Và từ 1904, liên tiếp đất nầy có vườn trồng hévéas cho mủ như bây giờ đã thấy. Nhớ thêm và tức cười, có một Tây chủ vườn cao su to lớn ở Biên Hòa, Bà Rịa gì đó, một bữa nọ, lão ta đến khu có mấy chục gốc cổ thụ cao su, (chỗ trước kia là bộ văn hóa của Ngô Trọng Hiếu đó mà), cây đã quá già, không ai lấy mủ, mủ ứ lại, gốc nổi u nổi nần như cổ nổi bướu của mấy bà già thầy lễ thầy giác … có người tọc mạch hỏi “cây nầy là cây gì?”

Lão lắc đầu trả lời: “Không biết!” Mà trời đất ôi! Ông cha ông lấy nước chúng tôi, hút máu rúc rỉa tận cốt tủy chúng tôi, suốt tám chín chục năm, ông được sai qua đây làm chủ vườn mà không nhìn ra cây nầy, hèn chi ông Giáp cho các ông một bài học ở Điện Biên Phủ, cũng vừa!

Trên đây tôi nhắc ông Pierre, chủ đầu tiên của vườn bách thảo. Bia đá ghi công ông nơi vườn, không biết còn mất thế nào, còn con đường ở Dakao, mang tên của ông sau đổi tên là đường Phạm Đăng Hưng, rồi nay là đường Mai Thị Lựu. Mỗi lần tôi đi trên đường nầy, để đến nhà bạn Vĩnh Bảo nghe tranh nghe kìm, tôi nhớ và ngậm ngùi cho  ngôi chùa nay gọi “Phước Hải tự” mà cơ khổ, đó đâu phải là chùa thờ Phật và đó là “Ngọc Hoàng điện” kia mà. Tôi chưa vào trong và không biết thay đổi thế nào? Duy theo tôi, đổi mà làm chi? Giữ lại như cũ, có lẽ, thâm thúy và cao kiến hơn. Tôi còn giữ của nơi nầy một viên gạch do một sư già cho năm trước. Gạch màu trắng y như màu sành sứ Giang Tây, vuông vức đo đúng 20 phân bề dài, 10 phân bề ngang, và 5 phân 1/2 bề gáy, đo mét Tây xinh xắn, viên nào y như viên nấy, tôi tâng tiu dùng làm gối nằm để xứng với sập “quí phi sàng” nơi nhà, mỗi khi đi mây về gió, thì gợi lại cảnh một khu u tịch của cái chùa mà vẫn là điện Ngọc Hoàng nầy. Tôi quên nói cho rõ hơn: viên gạch có một cạnh phủ lớp men xanh thật dày, và lớp men xanh ấy, đó là viên xanh bắt chỉ của khu u tịch nầy. Một bữa, trời chạng vạng nhá nhem, cũng không hiểu vì duyên cớ gì tôi lọt vào chốn nầy, tôi đang ngắm nghía lần hồi văn thật xanh thật khéo trên vách tường đã rêu phong nọ, dưới chơn vách là một bụi tre già lốm đốm màu vảy đồi mồi, lá múa lơ thơ, đong đưa hai cây quạt lá cũ treo nhún nhắn bên cạnh mấy chùm tóc rối phất phơ theo chiều gió, một mụ Bắc sồn sồn lom khom đang lăm băm vái van khấn nguyện gì đó, à phải rồi, chỉ còn một hôm nầy nữa, ngày mai nầy là sang Tết năm mới, quạt kia, mớ tóc kia quạt để cho mát, tóc rối gỡ ra treo đầy cầu mong hết rối rắm vò đầu xuân nhựt v.v .. , mụ đang trút cỗi mớ sầu tư, tôi lật đật và khép nép tránh chỗ cho lời khấn của mụ được như nguyện, trong chùa hay điện, nghe dội ra ba tiếng chuông và trống buổi kinh chiều, mụ ôi, than thở mà chi, đời vẫn là đời và đời nầy ai lại khỏi mang mền chút ưu tư riêng, tôi mảng nghĩ ngợi xa gần, thoạt nhìn lại sau lưng, mụ sồn sồn không thấy nữa, chỉ thấy ba tóm nhang nhá nhem, một luồng hương nhẹ thoảng … phải chăng: ba hồi chiêu mộ, một vũng tang thương, sẽ gội sạch trong buổi năm tàn tháng hết nầy.

(viết ngày 15-8-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Bài 49

Nhà lao El Dorado

Hai giờ sau, chúng tôi đến một khu làng lớn ở cửa biển, tự xưng là thành phố và lấy tên là “Guiria”. Xã trưởng đích thân trao chúng tôi cho cảnh sát địa phương. Tại Sở cảnh sát chúng tôi được đối xử cũng tạm được, nhưng lại bị hỏi cung, và người hỏi cung, chẳng hiểu biết gì, nhất định không công nhận là chúng tôi từ Guyane thuộc Anh, nơi chúng tôi đã được tự do, đến đây. Ngoài ra khi y bảo chúng tôi giải thích cho y biết tại sao chúng tôi đến Venezuela trong tình trạng cùng quẩn và kiệt lực đến thế này, sau chuyến đi ngắn ngủi từ phố George đến vịnh Paria, y cho là chúng tôi đã giỡn mặt y khi chúng tôi kể chuyện gặp bão ở biển.
– Hai tàu chở chuối đã bị đắm mất tiêu cả người lẫn hàng, trong cơn gió lốc, một tàu hàng chở bốc-xít cùng bị đắm, tất cả thủy thủ đều chết, thế mà các anh trên cái thuyền dài có năm mét, bị mưa bão vùi dập, lại thoát được? Ai tin nổi chuyện này? Ngay người điên đi ăn xin ở chợ cũng không nghe được. Các anh nói dối.Có một cái gì ám muội trong những điều các anh vừa kể. – Xin ông cứ hỏi tin tức ở thành phố George thì biết.
– Tôi không muốn người Anh cười tôi.
Viên thư ký hỏi cung đần độn và ương bướng, đa nghi và kiêu căng, không biết đã báo cáo thế nào, và gửi báo cáo đi cho ai. Dù sao thì một buổi sớm kia, chúng tôi cũng bị gọi dậy từ năm giờ, bị xích tay và đưa lên xe đến một địa điểm xa lạ.
Làng Guiria nằm trong vịnh Paria, đối diện với Trinidad như tôi đã nói. Nó còn có lợi thế là ở cửa sông Orenoque một con sông rất lớn, gần bằng sông Amazon. Năm đứa chúng tôi bị xích trong một chiếc xe tải trên đó còn có mười cảnh sát viên, đi về hướng Ciudad Bolivar, thủ phủ quan trọng của bang Bolivar. Chuyến đi trên những con đường đất hết sức nhọc nhằn cảnh sát cũng như tù, bị xóc lên xóc xuống, xô đi xô lại như những bao tải đựng hồ đào trên mái xe, còn lắc lư hơn ngồi trên cộ lết, cuộc hành trình kéo dài năm ngày. Đêm thì mọi người ngủ trên xe, sáng hôm sau lại tiếp tục phóng như điên đến một nơi nào chẳng biết. Cuộc hành trình đến sụn xương sống này, vượt qua hơn một ngàn ki-lô-mét cách bờ biển đến một vùng rừng nguyên thủy, theo một đường lộ bằng đất từ Guidad Bolivar đến El Dorado. Khi đến làng El Dordo, thì cả lính lẫn tù đều phờ phạc.
Nhưng El Dorado là gì? Trước hết đó là niềm hy vọng của dân Tây Ban Nha đi chinh phục Châu Mỹ, thấy dân Anh-điêng ở vùng này có vàng, đã chắc mẩm là ở đấy có một núi vàng, hay ít ra cũng là núi nửa đất, nửa vàng. Cuối cùng, El Dorado chỉ là một làng nằm trên con sông đầy những giống cá chuyên ăn thịt, chỉ trong vài phút có thể ăn nghiến ngấu hết một con người hay một con thú, những con cá điện, gọi là trembladores, cứ lượn quanh mồi, người hay vật, truyền điện rất nhanh vào mồi để rồi hút máu của nạn nhân mà thịt xương đã bị giòng điện phân hủy. ở giữa sông có một hòn cù lao, và trên cù lao có một trại giam. Đó là nhà tù khổ sai El Dorado của xứ Venezuela. Khu giam tù khổ sai này là nơi cực nhọc, man rợ và vô nhân dạo nhất mà tôi được thấy trong đời, vì ở đây tù nhân bị đánh đập tàn nhẫn. Đó là một khuôn đất vuông vắn mỗi bề dài một trăm năm mười mét lộ thiên, có dây thép gai bao quanh. Gần bốn trăm nhân mạng nằm giữa trời trong mưa nắng vì quanh khu đất này chỉ có vài tấm tôn kẽm.

Không nghe chúng tôi nói lấy một lời, không giải thích gì về quyết định này, họ tống chúng tôi vào trại giam El Dorado, ba giờ trưa, khi chúng tôi còn chết mệt vì chuyến đi xa và bị xích trong xe. Ba giờ rưỡi, chúng hỏi tên và ghi tên chúng tôi, họ gọi chúng tôi lại giao cho hai đứa trong bọn tôi mỗi đứa một cái xẻng, ba đứa kia mỗi đứa một cái cuốc. Năm tên lính, súng và roi gân bò trong tay, có một hạ sĩ chỉ huy, đứng vây quanh chúng tôi, buộc chúng tôi phải đến nơi làm việc, nếu không sẽ bị đánh. Chúng tôi hiểu ngay rằng đây là do chỉ huy trại giam muốn ra oai với chúng tôi. Lúc này mà kháng lệnh là rất nguy hiểm. Cứ làm đã, rồi sau sẽ hay.
Đến chỗ làm việc của tù nhân, họ bắt chúng tôi đào một đường hào ra phía đường giao thông mà họ đang mở ở giữa rừng. Chúng tôi làm tùy theo sức từng người, không nói gì, cũng không ngẩng đầu lên. Chúng tôi nghe thấy tiếng chửi rủa và những tiếng đánh đập đã man mà tù nhân luôn luôn phải chịu đựng. Không một ai trong bọn chúng tôi bị đánh một roi gân bò.
Buổi làm việc ngay khi vừa đến trại giam là để cho chúng tôi thấy rõ các tù nhân bị đối xử ra sao. Hôm ấy là thứ bảy. Sau giờ làm, còn đầy mồ hôi và bụi đất, chúng tôi bị đưa vào trại, vẫn không qua một thủ tục nào.
– Năm thằng dân Cayenne lại đây. – Tên hạ sĩ giám thị gọi. Tên này là người lai, cao một mét chín mươi, tay cầm một cây roi gân bò. Nó là một tên đần độn thô lỗ chỉ chuyên giữ trật tự ở bên trong trại giam. Họ chỉ cho chúng tôi chỗ mắc võng ở nơi trống trải gần cổng ra vào trại giam, nhưng tại đấy cũng có một cái mái tôn, ít ra chúng tôi cũng được che nắng che mưa.
Đa số tù nhân là người Colombia, số còn lại là dân Venezuela. Không một trại cải hối nào của tù khổ sai có thể ví với cái cảnh ghê tởm của trại lao động khổ sai này. Một con lừa bị đối xử như những người ở đây chắc phải chết mất. Nhưng gần như tất cả mọi người đều khỏe mạnh, vì thức ăn thức uống ở đây rất dồi dào và ngon lành.
Bọn chúng tôi họp ngay một cuộc hội nghị quân sự nhỏ. Nếu có ai trong bọn chúng tôi bị lính đánh, tốt nhất là chúng tôi ngưng làm việc, nằm ra đất và dù bị đối xử ra sao cũng không đứng dậy. Thế nào cũng phải có một người chỉ huy đến và chúng tôi sẽ hỏi tại sao chúng tôi không phạm tội gì mà lại phải ở trong trại giam khổ sai này? Hai người đã mãn hạn tù là Guittou và Barrière đã lên tiếng đòi phải rả họ về Pháp. Rồi chúng tôi quyết định gọi hạ sĩ giám thị đến. Tôi sẽ nói chuyện với y. Y được mệnh danh là Negro Blanco (Mọi Trắng). Guittou đi kiếm y. Tên đao phủ tới, tay vẫn cầm roi gân bò. Cả năm chúng tôi vây quanh y.
– Các anh muốn gì?
Tôi nói:
– Chúng tôi chỉ nói với anh một lời thôi, chúng tôi sẽ không phạm một lỗi gì trái với quy chế ở đây, do đó anh không có lý do gì để đánh bất cứ ai trong chúng tôi. Vì chúng tôi thấy anh đánh bất kể ai, đôi khi chẳng có lý do gì, chúng tôi mời anh đến để nói với anh rằng ngày nào anh đánh một người trong bọn chúng tôi anh sẽ chết ngay. Anh hiểu chưa?
– Rồi, – tên Mọi Trắng nói.
– Một kiến nghị cuối cùng nữa.
– Gì thế – Y nói, giọng nghe đùng đục.
– Nếu những gì tôi vừa nói với anh cần được nhắc lại cho người khác, thì người đó phải là một sĩ quan chứ không thể là lính được.
– Đồng ý, – y nói rồi đi. Sự việc này xảy ra ngày chủ nhật là ngày mà tù nhân không phải đi làm. Một sĩ quan tới.
– Tên anh là gì?
– Papillon.
– Anh chỉ huy những người dân Cayenne này à?
– Chúng tôi có năm người, ai cũng là chỉ huy cả. 
– Thế thì tại sao người nói chuyện với giám thị lại là anh?
– Vì tôi nói tiếng Tây Ban Nha khá hơn mọi người kia.
Đấy là một đại úy quân cảnh vệ quốc gia. Y nói với tôi rằng y không phải là chỉ huy đơn vị này. Có hai sĩ quan cao cấp nhưng họ không có mặt ở đây. Kể từ khi chúng tôi đến, y giữ quyền chỉ huy. Hai viên sĩ quan kia thứ ba mới về.
– Anh đã nhân danh anh và nhân danh các bạn anh, dọa giết giám thị nếu các anh bị y đánh. Có đúng thế không?
– Đúng thế đấy, và lời đe dọa đó cần được coi là một lời hứa chắc. Bây giờ tôi nói thêm cho ông biết là chúng tôi sẽ không bao giờ tạo ra lý do để các ông trừng phạt thể xác chúng tôi. Đại úy cũng biết là không có tòa án nào xét xử chúng tôi vì chúng tôi không phạm tội gì ở Venezuela cả.
– Tôi không biết. Các ông đến trại không có giấy tờ gì hết, chỉ có một giấy của giám đốc ở làng viết là “những người này phải làm việc ngay sau khi đến nơi”. 
– Vậy thì ông hãy đối xử cho công bằng, vì ông là quân nhân, và ông phải đợi cấp chi huy của ông đến đã. Ông phải báo cho lính của ông biết và đối xử với chúng tôi khác với các tù nhân khác. Tôi nhắc lại để ông biết chúng tôi không phải và không thể là những kẻ bị đem ra tòa xử vì chúng tôi không hề phạm tội gì ở Venezuela. 
– Được, tôi sẽ ra lệnh như vậy. Tôi mong rằng các ông không nói dối tôi.
Tôi có thì giờ nghiên cứu các tù nhân suốt buổi chiều chủ nhật đầu tiên này. Điều thứ nhất làm tôi ngạc nhiên là tất cả tù nhân đều khỏe mạnh về thể xác. Điều thứ hai là họ bị đánh như cơm bữa nên họ quen chịu đựng đến nỗi ngay cả chủ nhật là ngày nghỉ, họ có thể dễ dàng tránh được việc đó bằng cách giữ mình cẩn thận, nhưng hình như họ đi tìm một khoái cảm bệnh tật trong khi đùa với lửa một cách ngông cuồng. Họ không ngừng phạm những điều cấm kỵ: chơi xúc xắc vào nhà tiêu hôn hít một cậu pê-đê, ăn cắp của bạn, ăn nói thô tục với những người đàn bà trong làng vẫn mang quà bánh hay thuốc lá cho tù nhân. Mấy người đàn bà này cũng trao đổi hàng hóa với họ. Một cái rổ đan, một đồ vật chạm được đem đổi lấy ít tiền hay vài bao thuốc lá. Thế mà cũng có những tù nhân tìm cách cướp giật qua hàng rào dây thép gai những thức mà các bà đưa ra mời chào rồi chạy biến lẫn vào đám đông, không chịu đưa ra món hàng mà lẽ ra họ phải đem đổi. Kết quả là những hình thức roi vọt, được áp dụng bừa bãi chẳng đâu vào đâu đã làm cho da thịt họ chai lì, tạo nỗi khiếp sợ trong trại giam mà chẳng có lợi gì đối với trật tự xã hội, cũng như chẳng cải tạo được những con người khốn khố này. Nhà giam cấm cố ở đảo Sant-Joseph với cảnh im ắng của nó còn ghê rợn hơn thế này. ở đây, sự sợ hãi chỉ trong chốc lát, tù nhân có thể nói chuyện với nhau ban đêm, ngoài giờ làm việc và ngày chủ nhật, lại được ăn uống đầy đủ, cho nên rất có thể chịu đựng được án tù của mình, vốn không hao giờ quá năm năm. Chúng tôi hút thuốc, uống cà phê và trò chuyện với nhau cho qua ngày chủ nhật. Vài tù nhân người Colombia mon men đến gần. Chúng tôi gạt họ đi một cách nhã nhặn nhưng kiên quyết, phải để cho mọi người thấy chúng tôi là một loại tù đặc biệt, nếu không thì hỏng hết.
Sáu giờ sáng hôm sau, ngày thứ hai, ăn xong bữa sáng thịnh soạn, chúng tôi đi làm cùng các tù khác. Sau đây là cách khởi đầu công việc, hai hàng người đứng đối diện với nhau, năm mươi tù nhân, năm mươi lính, mỗi tên lính phụ trách một tù nhân. Giữa hai hàng người là năm mươi dụng cụ, cuốc, xẻng hay rìu. Hai hàng người theo dõi nhìn nhau. Hàng tù nhân thì lo lắng, hàng lính thì hung hãn.
Viên đội hô: “Tên Mỗ… lấy cuốc
Kẻ khốn khổ đó hối hả vác cuốc lên vai, và đâm đầu chạy đi làm việc. Viên đội lại hô “numéro” có nghĩa là (đội viên số một, hai ba v.v….” tên lính mang số đó lao theo người tù và lấy roi gân bò quất y. Cảnh tượng hãi hùng này diễn ra mỗi ngày hai lần. Trên đường từ trại giam đến nơi làm việc, người ta có cảm giác đấy là những kẻ chăn lừa chạy theo đánh con lừa của mình chăn.
Chúng tôi chờ đến lượt mình, lo sợ đến lạnh người. May thay, nó không như thế.
– Năm người Cayenne, lại đây! Các anh trẻ, cầm cuốc, còn hai người già kia cầm hai cái xẻng đây. 

Chúng tôi bắt đầu đi không phải chạy nhưng cùng là rảo bước, có năm tên lính và một tên cai giám sát, và cứ thế chúng tôi đến công trường lao dịch của trại. Ngày lao động hôm nay dài và nản hơn ngày đầu tiên. Những người bị chú ý nhiều nhất đã kiệt sức, la hét như điên và quỳ xuống lạy van, xin lính đừng đánh họ. Buổi chiều, họ phải gom những mớ củi cháy dỡ thành một đống lớn. Một số phải quét dọn ở phía sau. Mỗi tên lính dùng roi gân bò quật người tù y phải giám sát để người này nhặt các mảnh vụn rồi chạy đem đến khu trung tâm trại. Phải chạy như ma đuổi, một số tù phát điên thật sự và trong lúc vội vã đôi khi họ cầm củi ở đầu còn cháy đỏ. Tay bị bỏng, bị quất roi tới tấp, nhiều khi họ dẫm cả bàn chân đất lên đống than hồng hay một cành củi còn bốc khói ở dưới đất, cành tượng quái dị này kéo dài ba giờ. Không ai trong bọn tôi phải tham gia việc dọn sạch bãi đất mới khai quang này. Cũng là may, vì chúng tôi vừa cắm đầu cuốc đất, vừa nhắn nhau bằng những câu ngắn gọn là mỗi đứa chúng tôi sẽ nhảy xổ vào năm tên lính, kể cả giám thị, cướp súng của chúng và bắn vào lũ man rợ đó.
Hôm nay thứ tư, chúng tôi không ra chỗ làm việc. Hai sĩ quan chỉ huy đội cảnh vệ quốc gia gọi chúng tôi lên bàn giấy. Hai quân nhân này rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi đến El Durado mà không có tài liệu gì chứng tỏ là có một tòa án nào đã gửi chúng tôi đến đây. Họ hứa với chúng tôi là ngày mai sẽ hỏi lên giám đốc cơ quan hình sự. Cũng không lâu la gì, hai viên thiếu tá chỉ huy đội cánh vệ trại giam này quá là nghiêm khắc, có thể nói là trấn áp, nhưng lại đứng đắn, vì họ đòi giám đốc trại phải đích thân đến giải thích cho chúng tôi rõ. Ông ta đã đến, cùng đi với người em rể tên là Russian và hai sĩ quan đội cảnh vệ quốc gia:
– Francese. Tôi là giám đốc trại El Dorado đây. Các anh muốn nói với tôi điều gì vậy?
– Trước hết, tòa án nào đã ra lệnh giam chúng tôi vào trại lao động khổ sai này? Bao nhiêu lâu và về tội gì? Chúng tôi đến Irapa ở Venezuela bằng đường biển. Chúng tôi không phạm một tội nhỏ nào. Vậy thì chúng tôi ở đây vì lẽ gì? Và các ông bắt chúng tôi phải làm khổ sai là nghĩa lý gì?
– Trước hết, hiện nay đang là thời chiến, vậy chúng tôi phải biết rõ các anh là ai.
– Đúng, nhưng điều đó không giải thích được việc chúng tôi bị tống vào trại giam này.
– Các anh đã trốn tránh pháp luật của nước Pháp vì vậy chúng tôi cần phải biết rõ họ có đòi lại các anh không.
– Tôi thừa nhận điều đó, nhưng tôi vẫn cứ hỏi: tại sao lại đối xử với chúng tôi như chúng tôi đang phải chịu án?
– Bây giờ các anh tạm ở đây căn cứ vào điều luật về “vaguesét maleantes”* (*vegueset maleantes (tiếng Tây Ban Nha): luật đối với những người vô cư đi lang thang) trong khi còn điều tra thêm về các anh.
Cuộc tranh luận sẽ còn kéo dài nếu một sĩ quan không đưa ý kiến riêng của mình ra để cắt đứt vấn đề.
– Thưa ông giám đốc, thật ra chúng ta không thể đối xử với năm người này như các tù nhân khác. Trong khi chờ báo cáo về Caracas về hoàn cảnh đặc biệt này, tôi đề nghị sử dụng những người này vào việc khác chứ đừng bắt họ làm đường.
– Những người này nguy hiểm lắm, họ đe dọa sẽ giết giám thị nếu họ bị đánh. Có đúng không?
– Thưa ông giám đốc, chúng tôi không chỉ đe dọa người đó đâu: chúng tôi sẽ giết ngay bất cứ kẻ nào dại dột đánh một người trong chúng tôi.
– Nếu là lính thì sao?
– Cũng vậy thôi. Chúng tôi không làm gì để phải chịu một chế độ như thế này. Luật lệ và chế độ lao tù của nước chúng tôi có thể khủng khiếp và vô nhân đạo hơn của các ông, nhưng bị đánh như súc vật, chúng tôi quyết không chấp nhận.
Viên giám đốc đắc ý quay về phía các sĩ quan của mình: “Các ông đã thấy họ là những người nguy hiểm chưa?” Viên thiếu tá lớn tuổi hơn ngập ngừng một chút rồi kết luận, làm mọi người kinh ngạc:
– Những người Pháp vượt ngục này nói có lý, không điều gì ở Venezuela chứng minh được là họ phải chịu đựng các hình phạt tuân theo luật lệ của trại giam này. Tôi công nhận họ nói đúng. Cho nên có hai diện, thưa ông giám đốc: hoặc ông cho họ làm việc gì khác với các tù nhân thường, hoặc họ không đi làm việc. Để họ chung với mọi người, có ngày họ sẽ bị lính đánh thôi.
-Chúng ta sẽ xét việc đó sau. Bây giờ, cứ để họ ở lại trại. Mai, tôi sẽ cho các ông biết phải làm gì. 
Viêm giám đốc cùng người em rể ra về.
– Tôi cảm ơn các sĩ quan. Họ cho chúng tôi thuốc lá và hứa trong buổi điểm danh tối sẽ thông tri cho sĩ quan và binh lính là tuyệt đối không được đánh chúng tôi bất cứ vì lý do gì.
Chúng tôi ở đây đã được tám ngày. Chúng tôi không phải làm việc. Hôm qua chủ nhật, đã xảy ra một sự việc khủng khiếp. Những người tù Colombia đã rút thăm để xem ai phải giết tên giám thị Mọi Trắng. Thăm rơi vào một người trạc ba mươi tuổi. Họ đã làm cho anh ta một cái muỗng bằng sắt, cán được mài trên nền xi- măng thành một mũi xiên rất nhọn, hai cạnh đều sắc. Người ấy đã can đảm nhận lời cam kết. Anh đâm tên Mọi Trắng ba nhát ở gần tim. Viên giám thị được cấp tốc đưa đi bệnh viện, thủ phạm giết người bị trói vào một cây cột ở giữa trại. Bọn lính đi tìm các vũ khí khác Như một lũ điên, chúng dùng roi vọt quất tứ tung.
Trong cơn tức giận sôi sục, do tôi chưa cởi quần kịp cho nó soát, một tên lính đã quật một roi gân bò vào đùi tôi. Barriére liền cầm một chiếc ghế dài và giơ lên toan phang vào đầu nó. Một tên lính khác dùng lưỡi lê đâm suốt qua cánh tay anh trong lúc tôi cũng đá vào bụng tên lính đã đánh tôi làm y nằm sóng soài ra đất.
Tôi vừa nắm lấy khẩu súng rớt dưới đất thì một có tiếng hô lớn:
– Ngừng lại tất cả! Không được đụng đến mấy người Pháp. Anh người Pháp cũng bỏ súng xuống! – Đó là đại úy Floran đã gặp chúng tôi hôm đầu tiên chúng tôi đến trại.
Ông ta can thiệp đúng vào lúc tôi sắp bắn vào đám lính. Không có ông, chúng tôi chắc có thể giết được một hai tên lính, nhưng chúng tôi cũng bỏ xác một cách ngu ngốc ở cái xứ Venezuela sơn cùng thủy tận này, trong khi chúng tôi đã đi gần tới đích.
Nhờ có sự can thiệp kiên quyết của viên đại úy, bọn lính rời nhóm chúng tôi để đi hành hung chỗ khác. Và đến đây chúng tôi đã chứng kiến một chuyện ghê tởm cực kỳ khó lòng có thể tưởng tượng được.
“Tội nhân” bị trói vào một cái cột ở giữa trại giam và bị ba người, một tên giám thị và hai tên lính, đánh liên tục đến nhừ tử, từ năm giờ chiều đến sáu giờ sáng hôm sau. Đánh đập một con người cho đến chết cũng mất khá nhiều thời gian. Những lúc ngừng đánh (chỉ mấy giây thôi), là để hỏi tội nhân xem tòng phạm là những ai, ai đã đưa cái muỗng, ai đã mài sắc nó. Anh ta không tố giác ai, mặc dầu người ta đã hứa với anh là hễ anh nói ra, cuộc tra tấn sẽ ngưng ngay. Anh ta ngất đi nhiều lần. Họ đổ hàng xô nước cho anh tỉnh lại. Mức độ cao nhất là lúc bốn giờ sáng. Những kẻ tra tấn thấy da thịt nạn nhân không phản ứng nữa dù chỉ là co lại khi bị đánh, nên họ đã dừng lại.
– Nó đã chết chưa? – Một sĩ quan hỏi.
– Không biết nữa.
– Cởi trói ra, bắt nó quỳ sấp xuống
Bị bốn tên lính giữ chặt, người tựa quỳ ở tư thế gần như bò bốn chân. Bấy giờ một tên đao phủ lấy roi gân bò quất một phát thẳng theo các khe giữa hai mông đít, đầu ngọn roi chắc còn đi xa tới quá bộ phận sinh dục. Cú đánh của kẻ tra tấn điêu luyện này làm tội nhân cuối cùng phải rên lên một tiếng. Viên sĩ quan nói:
– Tiếp tục đánh. Nó chưa chết.
Anh ta bị đánh cho đến sáng. Trận đòn xứng đáng với thời Trung Cổ này, có thể làm chết một con ngựa, lại không làm tội nhân chết hẳn. Sau khi họ để anh ta yên một giờ không đánh, và sau khi họ dội vài xô nước vào người, anh ta vẫn còn sức để đứng dậy, tuy cũng được bọn lính đỡ thêm. Anh ta đứng thẳng một lát, không cần tựa vào ai, viên y tá đến cạnh, tay cầm một ly nước:
– Uống tí thuốc xổ đi, mày sẽ hồi lại, – một sĩ quan ra lệnh.
Tội nhân do dự rồi uống liều thuốc một hơi. Một phút sau, anh ta ngã vật ra, vĩnh viễn nằm xuống. Trong cơn hấp hối, từ miệng anh thốt ra một câu: “Đồ ngốc, chúng nó đầu độc mày rồi”.
Tất cả các tù nhân, kể cả chúng tôi, không có ý định làm gì, dù động đậy một ngón tay. Mọi người, không trừ ai, đều khiếp sợ. Đây là lần thứ hai trong đời, tôi muốn chết đi cho xong. Trong khoảng vài ba phút, tôi chú ý đến khẩu súng của một tên lính đứng gần tôi cầm hờ hững. Tôi chỉ kìm lại được khi nghĩ rằng có thể chưa kịp lên qui-lát và bắn vào đám lính thì đã chết rồi.
Một tháng sau. Mọi Trắng lại trở về, và hơn bao giờ hết vẫn là nỗi khiếp sợ của trại giam. Tuy nhiên số nó đã được định đoạt là phải chết ở El Dorado. Một đêm, một người lính gác đã chĩa súng vào nó khi thấy nó đi qua.
– Quỳ xuống, – người lính ra lệnh.
Mọi Trắng tuân theo.
– Cầu kinh đi, mày sẽ chết.
Người đó để nó cầu một bài kinh ngắn rồi hạ nó bằng ba phát súng. Có những tù nhân nói rằng người lính kia ghê tởm thấy tên đao phủ này đánh các tù nhân quá ư man rợ nên đã giết nó. Lại có người kể rằng Mọi Trắng đã tố giác người lính nọ với cấp trên của anh ta, nói rằng nó đã biết anh ta từ hồi ở Caracas trước lúc đi quân dịch theo nó hồi ấy anh ta là một thằng kẻ cắp. Nó đã được chôn cất gần người tù tội nhân, chắc hắn đã từng là kẻ cắp nhưng cũng là một con người có lòng dũng cảm và một phẩm giá khác thường.
Tất cả những sự việc ấy đã làm cho quyết định về chúng tôi bị chậm lại. Các tù nhân khác cũng không được đưa đi làm việc trong mười lăm ngày. Barrière được một bác sĩ trong làng chữa cho khỏi vết thương do lưỡi lê đâm.
Lúc này chúng tôi đã được kính nể. Hôm qua Chapar đã đi làm đầu bếp cho giám đốc ở trong làng. Guittou và Barrière đã được trả tự do vì tin tức về chúng tôi đã được thông báo từ Pháp. Vì hai người đã mãn hạn tù nên họ được thả. Tôi đã khai một tên Ý. Tên thật của tôi cùng với dấu tay và án tù chung thân của tôi đã được thông báo. Deplanque với án hai mươi năm cũng như án của Chapar đều được thông báo, vị giám đốc có vẻ tự hào khi cho chúng tôi biết tin tức nhận được từ bên Pháp, ông nói:
– Tuy nhiên, vì các anh không làm việc gì xấu ở Venezuela, nên các anh chỉ bị giữ một thời gian, sau đó các anh sẽ được trả tự do. Nhưng muốn được vậy, các anh phải làm việc, có thái độ tốt: các anh đang ở trong thời kỳ cần theo dõi.
Nhiều lần nói chuyện với tôi, các sĩ quan phàn nàn về việc khó kiếm ra rau tươi ở trong làng. Trại có một khu nông nghiệp nhưng không có rau, mà chỉ trồng lúa, bắp, đậu đen thôi. Tôi đề nghị sẽ trồng cho họ một vườn rau nếu tôi có hạt giống. ý kiến được chấp thuận ngay.
Điều lợi nhất: Deplanque và tôi được ra khỏi trại, và vì có thêm hai người tù biệt xứ bị bắt giữ ở Luidad Bolivar, nên họ đã nhập bọn với chúng tôi. Một người tên Toto, là dân Paris, người kia dân Corse. Bốn chúng tôi đã làm hai căn nhà nhỏ bằng gỗ tốt, mái lợp lá cọ Deplanque và tôi ở một căn, hai cậu nọ ở căn kia. 
Toto cùng tôi làm những cái bàn cao, bốn chân bàn đặt trong những cái lon đổ dầy dầu hôi để kiến không lên ăn hạt giống. Chúng tôi đã có ngay những cây cà chua, cà tím, đưa tây và đậu xanh. Chúng tôi bắt đầu cấy lên trên những tấm ván vì cây con đã đủ sức chống được kiến. Để trồng cà chua mới, chúng tôi đào một cái hố lúc nào cũng có nước ở bên vườn. Làm như vậy cho cây luôn có độ ẩm và ngăn cách loại ký sinh vốn rất nhiều ở nơi đất chưa được khai thác này.
– Cái gì thế này nhỉ, – Toto gọi tôi. – Anh thử xem hòn đá cuội này, nó sáng biết chừng nào.
– Cậu rửa sạch đi xem.
Rửa xong cậu ta đưa cho tôi coi. Đó là một viên thạch anh, to bằng gạt đậu. Rửa sạch rồi, mặt cắt của nó bóng hơn nhiều vì nó có một lớp vỏ kết rất cứng bao quanh.
– Có phải là kim cương không nhỉ?
– Câm miệng đi Toto, nếu là kim cương thì không phải ba hoa, mày không thấy nếu chúng ta may mắn vớ được một cái mỏ kim cương thì sẽ ra sao à? Giấu đi, để tối về xem sao.
Buổi chiều, tôi dạy toán cho một viên hạ sĩ đang chuẩn bị thi lên cấp sĩ quan. Con người rất mực cao thượng và thẳng thắn ấy (anh đã chứng tỏ những đức tính ấy trong tình bạn dài hai mươi lăm năm với (tôi), bây giờ là đại tá Frasnciseo Bolsgno Utrera. 
– Franclsco, có biết cái gì đây không? Có phải thạch anh không?
– Không phải -Sau khi xem xét rất tỉ mi anh nói – – Đây là kim cương. Anh giấu kỹ đừng cho ai trông thấy. Anh tìm thấy nó ở đâu?
– Dưới gốc cà chua.
– Lạ thật. Có phải anh lấy nước ở sông lên tưới cà chua không? Khi múc nước sông anh có cào xuống đáy làm cho cát lẫn vào nước không?
– Rất có thể như vậy.
– Vậy thì đúng rồi. Viên kim cương này anh đã mang từ dưới sông Rio Caroni lên đấy. Anh có thể tiếp tục kiếm dưới sông đi, nhưng cũng để ý xem trong vườn có còn những viên khác không, vì không bao giờ người ta lại chỉ tìm được có một viên đá quý. Đã kiếm ra một viên ở đâu thì thế nào cũng còn những viên khác. 
Toto bắt tay ngay vào việc.
Chưa bao giờ cậu ta làm nhiều như vậy, đến nỗi hai anh bạn kia, vốn không được chúng tôi kể lại việc này, phải nói:
– Làm vừa vừa tôi Toto, xách nước sông kiểu đó thì chẳng bao lâu sẽ lao lực mà chết. Đã thế lại còn tha cả cát về nữa.
– Đề cho đất tươi hơn các cậu ạ, – Toto đáp, – Đất có lẫn cát, lọc nước tốt hơn.
Mặc cho chúng tôi trêu chọc. Toto cứ tiếp tục xách nước không ngừng. Một hôm vào lúc giữa trưa cậu ta bị ngã ngay trước chỗ chúng tôi đang ngồi ở bóng râm. Trong đống cát văng tứ tung, có một viên đá to bằng hai hạt đậu. Một lần nữa lớp vỏ bộc bị vỡ, nếu không cũng chẳng ai biết. Cậu ta vồ lấy viên đá một cách quá vội vã.
– Này, có phải kim cương không? – Deplanque nói bọn lính bảo là dưới sông có kim cương và vàng đấy.
– Bởi vậy tôi mới xách nhiều nước thế chứ. Các anh cũng thấy là tôi không ngốc chứ. – Toto nói, mãn nguyện vì đã biện minh được cho sự hăng hái của mình. 
Nói tóm lại trong sáu tháng Toto đã có được sáu bảy ca-ra kim cương. Tôi có độ mười hai ca-ra cộng thêm hơn ba chục viên đá nhỏ, và như vậy đã là hàng kinh doanh được rồi, theo lối nói lóng của dân thợ mỏ. Nhưng một hôm tôi kiếm được một viên hơn sáu ca-ra sau này đưa về Caracas dũa đi còn được gần bốn ca-ra. Hiện tôi vẫn còn giữ nó và đeo thường xuyên ở tay. Deplanque và Antartaglia cũng gom góp được vài viên đá quý. Tôi vẫn còn cái plan trong nhà giam cũ, và tôi đã cất cả vào đấy Bọn họ thì lấy những khúc sừng trâu nhọn đầu để làm chỗ giấu các vậy báu nho nhỏ ấy.
Chẳng ai biết gì về việc này, trừ ông đại tá tương lai, lúc này dang là hạ sĩ Francisco Bolagno. Cà chua và các cây khác mọc đều, các sĩ quan trả tiền rất sòng phẳng số rau mà hàng ngày chúng tôi đem lên bếp của họ.
Chúng tôi được tương đối tự do. Không có ai canh gác khi chúng tôi làm việc và ngủ ở hai căn nhà nhỏ. Chúng tôi không bao giờ đi vào trại giam. Chúng tôi được kính nể và đối xử tử tế. Tất nhiên mỗi lần gặp giám đốc là chúng tôi lại năm nỉ để ông cho chúng tôi được hưởng tự do. Lần này ông cũng đáp: “Sắp sửa rồi”. Nhưng chúng tôi ở đây đã được tám tháng mà vẫn chẳng có gì thay đổi. Tôi đã bắt đẩu tính chuyện trốn đi. Toto không chịu, cả mấy cậu kia cũng vậy. Để nghiên cứu giòng sông, tôi kiếm được một cuộn dây và cái lưỡi câu.
Tôi bán cá, đặc biệt loại cá Caribes chuyên ăn thịt, có con nặng đến một ký, hàm răng bố trí như răng cá mập, và cũng khủng khiếp như thế. 
Hôm nay, có chuyện náo động, Gaston Duranton, còn gọi là thằng Khoèo, đã trốn biệt mang theo bảy mươi ngàn bolivar trong két sắt của giám đốc. Câu chuyện về gã giang hồ này khá độc đáo.
Khi còn nhỏ, nó đã ở nhà trừng giới ở đảo Cleron, làm thợ ở xưởng giày tại đó. Một bữa, sợi dây cu-roa dùng để chuyển chiếc giầy đặt trên đầu gối đưa xuống dưới chân nó bị đứt. Nó bị gãy xương hông. Vì chữa chạy không chu đáo, cái xương hông chỉ liền có một nửa: suốt quãng dời niên thiếu và một phần tuổi trưởng thành chân nó cong queo, người nó vẹo một bên. Nhìn nó đi thật là khổ tâm. Thằng nhỏ gày ốm, thân hình vẹo vọ, khó nhọc kéo lê cái chân không còn điều khiển được nữa. Nó vào trại giam năm hai mươi lăm tuổi. Vì phải sống những thời gian dài ở các trại cải tạo, nên không có gì lạ khi ra khỏi đấy, nó trở thành kẻ cắp.
Ai cũng gọi nó là thằng Khoèo. Không mấy người biết tên nó là Gaston Duranton. Nó khoèo, vậy người ta gọi nó là thằng Khoèo có sao đâu. Tuy vậy vẹo vọ như vậy, nhưng nó cũng vượt ngục ra khỏi trại giam và đến được Venezuela. Chuyện ấy xảy ra dưới thời lão độc tài Gomez. Rất ít tù khổ sai thoát khỏi sự đàn áp của lão ta. Chỉ có vài trường hợp ngoại lệ, trong đó phải kể đến trường hợp bác sĩ Bougrat vì bác sĩ đã cứu được tất cả dân chúng đảo ngọc trai “Margarita” khỏi bệnh dịch sốt vàng da.

Thằng Khoèo bị bọn “Sagrada”, tức đội cảnh sát đặc biệt của Gomez bắt và đưa đi làm đường ở Venezuela. Các tù nhân Pháp và Venezuela bị xích vào những hòn lê có in lõm hình hoa huệ Toulon. Mỗi khi tù nhân khiếu nại điều gì, thì người ta lại nói với hắn: “Nhưng mà những thứ dây xích, xì ga ma-ni, hòn lê này là từ trước của mày đem sang đấy chứ? Trông bông huệ kìa!” *(*Hoa huệ vốn là biểu trưng của Vương quốc Pháp kể từ triều đại nhà Capet)
Tóm lại, thằng Khoèo trốn khỏi trại lưu động làm đường. Vài ngày sau, nó bị bắt, và bị đưa trả về nơi giam lưu động nọ. Trước tất cả tù nhân, nó phải nằm sấp trần truồng để chịu một trăm roi gân bò. 
Rất hiếm người chịu đựng nổi trên tám mươi roi. Điều may cho nó là nó gầy ốm, và khi nó nằm bụng sát đất roi không đánh vào gan, bộ phận dễ bị dập nếu bị đánh mạnh. Lệ thường ở đây, sau mỗi lần bị roi vọt hai mông đít bị băm nát, là phải xát muối vào vết thương rồi để nằm ngoài nắng. Nhưng người ta cũng lấy lá cây dày để che đầu cho nó, vì người ta chấp nhận cho nó chết vì đòn roi chứ không thể để cho nó chết nắng được.
Thằng Khoèo lại sống sót được sau nhục hình kiều thời Trung cổ này và lần đầu tiên nó đứng lên, thì lạ thay, nó không còn “khoèo” nữa. Trận đòn đã làm cho chỗ xương nối lệch lại trật khớp và trở về đúng chỗ. Lính và tù đều reo lên coi đó là một phép mầu, và chẳng còn ai hiểu ra sao nữa. Ở cái đất nước mê tín này, người ta cho là Chúa đã thưởng cho nó và đã chịu đựng sự tra tấn một cách xứng đáng. Từ ngày ấy, nó không bị xích, cũng không phải đeo hòn lê nữa. Nó được che chở và chuyển sang việc phân phối nước cho các tù khổ sai. Thân hình nó đã mau nhờn nở nang và ăn được nhiều, nó trở thành một thanh niên cao lớn như lực sĩ. Nước Pháp biết là có những tù khổ sai phải làm đường ở Venezuela. Cho rằng những năng lực này sẽ được áp dụng tốt hơn hết ở Guyane thuộc Pháp, thống chế Franchet d’Esperey được cứ đi công cán để đề nghị với vị độc tài đang vui vì không phải bỏ tiền và cũng có nhân công – trả lại những người đó cho nước Pháp. Gomez chấp nhận, và một chiếc tàu đã cập bến Puerto Cabelle để đón những người này về. ở đấy, có những pha hài hước kinh khủng vì có những người từ các nông trường làm đường ở khắp nơi đến chưa biết chuyện thằng Khoèo.
– A! Marcel khỏe chứ!
– Cậu là ai nhỉ?
– Thằng Khoèo.
– Cậu rỡn mặt với tôi đấy hả! – Tất cả những ai được Gaston chào hỏi đều trả lời như vậy khi thấy chàng trai cao dẹp vừng vàng trên đôi chân thẳng tắp này. Thằng Khoèo còn trẻ và thích đùa nên luôn miệng gọi những ai nó quen trong khi mọi người xuống tàu, và dĩ nhiên, không ai thừa nhận là thằng Khoèo lại có thể đứng thẳng dậy được. ở trại tù khổ sai, tôi được chính nó và những tù khác ở đảo Royale kể lại chuyện này.
Nó lại vượt ngục năm 1943, và trôi giạt về El Dorado. Vì nó đà sông ở Venezuela rồi, nên dĩ nhiên nó không để lộ chuyện nó còn là tù, và nó được giao việc nấu bếp thay cho Chapar chuyển sang làm vườn. Nó ở trong làng cùng với giám đốc, nghĩa là ở bên kia sông.
Trong phòng làm việc của giám đốc có một cái két sắt đựng tiền của trại. Ngày hôm đó, nó lấy cắp bảy mươi ngàn bolivar, tương đương với gần hai mươi ngàn đô-la lúc bấy giờ. Do đó xảy ra chuyện náo động ở khu vườn chúng tôi: ông giám đốc, ông em rể và hai viên chỉ huy đội cảnh vệ làm rum beng lên. Ông giám đốc muốn đưa chúng tôi vào trại. Hai viên sĩ quan không chịu. Họ bảo vệ chúng tôi cũng là bảo vệ việc tiếp tế rau xanh của họ. Chúng tôi cuối cùng cũng thuyết phục được ông giám đốc là chúng tôi không cung cấp được cho ông tin tức gì cả; nếu chúng tôi biết được thì chúng tôi có thể cũng đã đi với nó, rằng mục đích của chúng tôi là được tự do ở Venezuela chứ không phải ở Guyane thuộc Anh, địa điểm duy nhất mà nó có thể đến được. Lần theo vết đàn kền kền đã ăn xác nó, người ta tìm thấy thằng Khoèo chết trong rừng cách trại bảy mươi ki-lô-mét, rất gần biên giới Guyane thuộc Anh. Cách giải thích thứ nhất, cách giản tiện thứ nhất, là nó đã bị người Anh-điêng giết. Về sau, có một người bị bắt ở Giudad Bolivar trong khi đang đổi những tờ giấy bạc năm trăm Bolivar mới tinh. Nhà Ngân hàng đã phát số tiền cho giám đốc trại El Dorado nắm được số hiệu của tập giấy bạc và thấy đấy chính là số tiền bị mất cắp. Tên kia thú nhận và tố giác hai tên khác. Nhưng không sao bắt được hai tên này. Đó là câu chuyện về cuộc đời và cái chết của anh bạn thân của tôi, Gaston Duranton, còn gọi là thằng Khoèo. 
Một số sĩ quan lén lút dùng tù nhân vào việc mò vàng và kim cương ở dòng sông Rio Caroni. Cũng có kết quả khả quan, không nhiều lắm nhưng cũng đủ để kích thích những kẻ đi tìm kim cương. Phía dưới vườn tôi có hai người làm việc suốt ngày với cái nón kiểu Tàu lật ngửa, đầu nhọn ở dưới, vành tròn ở trên. Vì kim cương nặng nhất nên nó lắng xuống đáy nón. Đã có một người chết vì đã lấy cắp của “chu”. Chuyện tai tiếng này làm việc khai thác “mỏ” lén lút phải chấm dứt.
Ở trại có một người, xăm khắp cả thân trên. Trên cổ có dòng chừ: “Đù mẹ thợ hớt tóc”. Tay phải y bị liệt. Miệng y méo xệch và cái lưỡi to thường thè lè ra, dớt dãi chảy dòng dòng làm ai cũng thấy là y bị chứng liệt nửa người. Y là người ở đâu? Không ai biết. Y đến đây trước chúng tôi. Y ở đâu tới? Có điều chắc chắn y là tù khổ sai hay là dân bị biệt xứ đã vượt ngục. Trên ngực y có xăm dòng chữ Bat d’Af (tức Bataillon d’Afrique – tiểu đoàn Phi châu viết tắt). Dòng chữ cái đó cũng như “Đù mẹ thợ cắt tóc” ở phía gáy, làm người ta biết ngay mà không sợ lầm rằng y là tù khổ sai.
Lính và tù đặt tên cho y là Picolino. Y được đối xử tử tế và ngày ngày nhận ba lần xuất ăn chu đáo, có cả thuốc lá. Đôi mắt xanh của y rất sinh động, và cái nhìn của y không phải lúc nào cũng buồn. Khi y nhìn người nào y mến, đồng tử mắt y long lanh lên vì vui thích. Ai nói gì với y, y hiểu hết, nhưng y không nói được, cũng không viết được; tay phải y bị liệt còn bàn tay trái của y lại mất ngón cái và hai ngón khác nữa.
Cái thân tàn ma dại này đứng bám lấy hàng rào dây thép gai hàng giờ liền, đợi tôi mang rau đi ngang, vì đấy là con đường ngày ngày tôi qua lại để mang rau đến bếp của sĩ quan. Buổi sáng, mỗi lần đem rau đến đó, bao giờ tôi cũng dừng lại nói chuyện với Picolino. Y đứng dựa vào dây thép gai, nhìn tôi bằng đôi mắt xanh rất đẹp, đầy sức sống, trong một thân thể gần như đã chết. Tôi ôn tồn nói chuyện với y, và y dùng đầu và mi mắt để lộ cho tôi thấy là y đã hiểu chuyện của tôi. Bộ mặt tê liệt của y lóe sáng lên một chút, và đôi mắt long lanh ấy muốn nói với tôi biết bao nhiêu điều Bao giờ tôi cũng cho y một vài món quà: một mớ cà chua, rau diếp, hay dưa leo, ăn ngay được với nước sốt dầu giấm, hay một quả dưa bỏ nhỏ, một con cá nướng lò than. Y không đói, vì thức ăn ở nhà tù Venezuela rất dồi dào, nhưng những món của tôi cũng lạ miệng so với bữa ăn chính thức. Cùng với quà tặng đó, bao giờ tôi cũng kèm theo vài điếu thuốc. Việc thăm hỏi ngắn ngủi của tôi với Picolino đã trở thành một thói quen cố định làm cho lính và tù gọi y là “Con trai của Papillon”.


Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 30 Nov 2025

31. “Tản mạn” Nhân mùa Phật Đản 2008

Trước ngày Phật Đản 2008, tôi chộp được bản tin của Thông Tấn Xã VC chạy như sau:

Hà Nội (TTXVN) – Ban tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 cho biết, 1.500 đại biểu cửa 600 đoàn đến từ 95 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đăng ký Đại lễ, diễn ra từ ngày 13 đến 17/5 tại Hà Nội. Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 – Phật lịch 2552 là một lễ hội tôn giáo, đan xen tinh hoa văn hóa, nghi lễ truyền thống Phật giáo của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đây là lần đầu tiên Đại lễ được tổ chức tại Việt Nam, và là dịp để giới thiệu những tinh hoa văn hóa của Phật giáo và dân tộc Việt Nam đến thế giới.

Ban tổ chức cho biết Đại lễ sẽ được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, với các phần nghi lễ tôn giáo trang trọng và ấn tượng. Trong thời gian diễn ra Đại lễ có Chương trình nghi lễ-văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, Phật giáo Việt Nam hòa đồng cùng quốc tế, và triển lãm giới thiệu Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc phát triển vững bền.

Các đại biểu cũng sẽ tham gia các chương trình văn hóa, văn nghệ và tham quan di tích lịch sử và thắng cảnh tại Quảng Ninh và Ninh Bình. Đặc biệt trong đêm bế mạc, hàng nghìn đại biểu cùng các tăng ni, phật tử trong và ngoài nước sẽ tham gia lễ đốt nến cầu nguyện vì hòa bình./.

Tôi là một người theo đạo Phật không giống ai, ít khi đi chùa, nghe tụng kinh thì hiểu không nổi, Thầy tụng lâu quá thì tôi buồn ngủ, cái lưng đau phải dựa vào tường, nếu không thì có thể té lăn ra sàn chánh điện, ăn mặn nhiều hơn ăn chay, chấp ngã nặng, hễ nghe ai bênh cộng sản thì nổi nóng muốn phát ngôn tiếng “Đỗ Mười”. Thành ra, ngày cuối đời chắc tôi khó chui vô Niết Bàn cùng bà con cô bác…

Còn nữa, tôi còn cái tội không trọng tăng, tức mấy ông Thầy quốc doanh. Bất chấp ổng thuyết, ổng tụng ra sao, nhưng ổng mà mê và ca tụng cộng sản là tôi từ liền, có điều kiện là tôi “kê” Thầy mà không sợ phạm giới! Cái ông Thầy Chân Quang nào đó trong nước giảng kinh trong mấy cái cassette bán ra nước ngoài, nghe hay hay, nhưng lâu lâu lại ca tụng đảng và “bác Hù”, tôi bực mình ném mấy cái tape vô thùng rác!

Ba Má tôi thường bảo “Phật tại tâm“, thành ra tôi tự an ủi là không chừng trong tim tôi có Phật. Tôi đi đâu trái tim tôi nằm trong lồng ngực đi theo đó, và Phật ở cùng tôi. Tôi cố làm điều thiện, nghĩ điều thiện, yêu lẽ phải, thương người, trừ VC… cho chắc ăn.

Ngày xưa ở Vạn Hạnh, tôi học văn học Việt Nam từ thầy Nguyễn Đăng Thục, và văn học Phật giáo từ Thầy Thích Minh Châu. Sau này bị VC đi trong các trại tù, tôi cay cộng sản, ra nước ngoài nghe tin Thầy Thích Minh Châu làm đại biểu quốc hội VC, tôi coi như Thầy đã chết “từ muôn trăng thế kỷ“! Người theo đạo Phật đúng nghĩa không thể tin và làm việc cho kẻ ác, mà VC là kẻ ác. Theo kẻ ác là phản Phật.

Nếu theo kiểu lý sự của tôi mà xét cho cạn tàu ráo máng, thì bên trong Việt Nam ngày nay có hàng ngàn ông Thầy theo kẻ ác. Theo tin thiên hạ đồn rằng ở hải ngoại chừ cũng có nhiều Thầy “đổi giọng chim đa đa” để về Việt Nam cùng đảng ta dự Phật Đản do VC tổ chức ở Hà Nội? Nếu đúng vậy thì công đức, nghiệp quả của quý Thầy coi như đi đoang là cái chắc!

Năm nay, nhân Phật lịch 2552, chế độ Hà Nội “cắc cớ” “đăng cai” với LHQ để dành tổ chức Đại Lễ Phật Đản tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia Hà Nội mà theo tin của VNTTX của Hà Nội thì có đến 1500 đại biểu của 600 phái đoàn từ 95 quốc gia trên thế giới tham dự. Tôi hiểu ngay là cộng sản đã dùng Đại lễ Phật Đản cho nhu cầu tuyên truyền chính trị, còn mấy ông Tây phương, thượng tọa, đại đức, giáo sư, tiến sĩ … nhận lời mời của Hà Nội hay Phật giáo quốc doanh nhà nước là họ bị mà con mắt, chẳng hiểu gì cả. Đối với cộng sản, dường như thế giới vẫn còn khờ khạo như con nít. Tôi có lộng ngôn không? Tôi có vọng ngữ không? Nam Mô A Di Đà Phật, không!

Một chế độ cướp của dân, hành hạ dân, coi dân như cỏ rác, coi Phật, chùa chiền, kinh kệ như phương tiện làm giàu và che mắt thế gian, vô cùng tàn nhẫn, ác độc với đồng loại… thì tổ chức Đại Lễ Phật Đản là xúc phạm Đức Thế Tôn.

Trong tháng 3/2008 vừa qua, trong một cơ duyên không ngờ, thay vì về Canada, tôi bọc một vòng qua Denver ra mắt tập “Blood & Tears on Truong Son Mountain” (Máu và Nước Mắt trên lưng Trường Sơn), ở lại Denver 3 hôm, tôi thăm chùa Như Lai, thăm Thầy Thích Chánh Lạc… và trong một buổi giảng, tôi nghe Thầy “dũa cộng sản rất nặng tay” và Thầy cắt bớt phần giảng, cho tôi 15 phút nói chuyện.

Trước chánh điện, lạy Phật xong, tôi nói chuyện Bi, Trí, Dũng của mấy ông Thầy quốc doanh trong nước cho nó không lâm vào phần tục lụy nhiều mà mang tội. Tôi nói chuyện Phật dạy mà! Tôi nói ông Thầy nào không xót thương, không đau với nỗi đau của chúng sinh và Phật giáo đồ Việt Nam dưới tai ách của cộng sản, ông Thầy đó không có chữ Bi của nhà Phật; ông Thầy nào mà 33 năm nay không nhận ra, không thấy được tội ác của đảng CSVN đốì với đồng bào và Phật giáo, ông Thầy đó không có chữ Trí của Phật; ông thầy nào có được Bi, được Trí mà còn run sợ trước bạo quyền, không dám nói lời thật, không dám bênh vực đạo pháp, lẽ phải, ông Thầy đó không có chữ Dũng của nhà Phật. Không có Bi, không có Trí, không có Dũng… thì không thể là con Phật, không thể làm tăng sĩ hoằng dương Phật pháp được, ngoại trừ làm SƯ QUỐC DOANH. Nếu không có cả Bi, Trí, Dũng mà tiếp tay cho cộng sản dưới màu áo cà-sa, ông Thầy đó là VIỆT GIAN.

Nói đến dây, tôi sợ ai đó quăng lên một cái ghế hay đèn cầy vì tội vọng ngữ, ai ngờ bà con Phật tử vỗ tay ào ào. Tôi vui hết biết, vì được bà con chia sẻ những điều mình nói thật và thẳng từ trái tim và khối óc của mình.

Bạch Đức Thế Tôn! Từ Tây Tạng, qua Miến Điện, đến Việt Nam… Chúng sinh oan khổ dưới kiếp nạn của cộng sản Tầu và cộng sản Việt Nam, con không nghĩ Đức Thế Tôn sẽ có mặt tại Hà Nội trong các ngày 13, 14, 15, 15, 17 tháng 5 này, bất chấp lời tụng kinh của bao nhiêu Thầy từ 95 nước kéo về. Họ là những kẻ không BI, không TRÍ, không DŨNG, họ tụng kinh với khoảng không, với nhang khói dưới mầu cờ đỏ nhuộm thấm máu xương của lương dân Việt Nam!

Bạch Đức Thế Tôn! Trước ngày đản sinh Phật, con không nói điều này không được, con phải nói, dù mai này có phải chui xuống địa ngục, không được lên Niết Bàn cũng nói! Nam Mô Ai Di Đà Phật! Một lần nữa, lạy Đức Thế Tôn! Xin đừng về Hà Nội năm nay!

Vô chùa tụng hết hồi kinh
Bạch Phật cứu độ chúng sinh bao lần?
Phật ngồi đẫm lệ phân vân
Trái tim Bồ Tát vô ngần khổ đau….

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 29 Nov 2025

Chương 14.

Nhắc lại những trường day nghề đời Tây tôi đã biết.

(Dạy Công Nghệ, Kỹ Nghệ)

Theo tôi hiểu, chánh phủ thuộc địa Pháp, khi đặt chơn vào nước mình, (tôi muốn nói đất Nam kỳ) sau khi lấy được sáu tỉnh, họ chỉ mong đào tạo một số người để làm tay sai cho họ. Tỷ dụ đầu tiên là đào tạo người coi việc biên chép (thơ ký) và người làm thông ngôn giữa họ và người bồn xứ (indigène), thì họ lập ra trường dạy chữ Tây và tiếng Tây, tiêu biểu là trường Trung học gọi Collège Chasseloup-Laubat và sở dĩ họ chọn tên ông nầy đặt tên cho trường là để nhớ ơn và công của lão, với chức bộ trưởng bộ gì đó, có lẽ là bộ Thủy binh (Marine) và tuy chẳng hề đến Nam kỳ, nhưng lão khăng khẳng một mực xin hoàng đế Napoléon III, đừng nghe lời nhượng hay bán lại cho ta và quyết giữ đất nầy làm thuộc địa. Chasseloup- Laubat đột ngột chết năm 1878 và được dựng hình nơi quê quán ở Marennes năm 1874, trong khi tại Sài Gòn nầy, tên ông được chọn để đặt tên cho con đường và cũng tên trường, và đường nầy thay cho đường cũ kỳ cựu nối liền làng Phú mỹ vô tới Chợ Lớn trước gọi Boulevard, sau đổi còn là “rue” và nay gọi đường Nguyễn Thị Minh Khai, thay thế cho tên cũ, “Xách Lu”  (Chasseloup), qua Hồng Thập Tự, rồi xuống làm đường Chữ Thập Đỏ, một thời gian sau tôi nhớ mại đường nầy lại mang tên Xô Viết Nghệ Tĩnh hay Tịnh gì gì đó, và đến đây, muốn viết có chút ích lợi, tôi sẽ ghi vào đời Tây, đường ban sơ đặt tên là đường Stratégique (đường chiến lược), lần 2 đổi gọi đường số  25, qua lần 3 đặt thiệt thọ là rue Chasseloup-Laubat kểtừ năm 1865 và tới năm 1955, mới có tên Việt là đường Hồng Thập Tự. Và tôi rất mừng vì đã tuổi 92 khỏi đi học nơi nhà trường vì thú thật làm sao nhớ nổi bao nhiêu tên đổi thay liền liền như vậy. Không phải tôi dám nói đến đụng chạm, nhưng quả trước đây tôi từng viết và tưởng riêng mình là thổ công đất Sài Gòn này, nhưng nay tôi mới rõ và tự thẹn sức học và biết về môn Sử Địa của tôi vẫn còn kém và thua xa sức biết của một anh làm nghề đạp xe xích lô đương thời, anh xích lô phải thuộc làu và biết rành tên đường tên phố hiện hữu thì mới mong hành nghề và kiếm đủ tiền nuôi vợ nuôi con, chớ như tôi đã già, thì làm sao theo dõi và biết được.

Như phần viết trên đây, tật ham nói sa đà, tôi đã kéo dài và nói nhiều về đường và xuýt lạc đề quên nói tóm lại, khi người Pháp đã có thơ ký và thông ngôn, khi đó họ mới nghĩ qua mớ tay sai khác và họ đã đào tạo lập ra mấy trường sơ đẳng và dạy về kỹ nghệ ở Nam kỳ, tại Sài Gòn, như sau:

a. Trường dạy về máy tàu và máy xe ô tô, tên gọi Ecole des Mécaniciens Asiatiques, sau đổi gọi Ecole Rosel (tên người sáng lập) nay là trường Trung học cơ khí, ở đường Huỳnh Thúc Kháng.

b. Trường dạy bá nghệ, tên Pháp là Ecole Pratique d’Industrie đường Hồng Thập Tự.

c Trường dạy vẽ ở Gia Định (Ecole de dessin à Gia Định)

d. Trường dạy về đồ mộc ở Thủ Dầu Một, vì nơi đây có gỗ danh mộc nhiều.

e. Trường dạy về nghề đồ gốm ở Biên Hòa, vì đất sét ở đây nhiều và hạp nghề.

Tôi kể như trên mà không biết trường nào có trước, trường nào có sau, duy tôi xin kể nhiều về trường Rosel, vì ông nầy là ân nhơn đỡ đầu cho tôi khi tôi thi đậu ra trường và ông cũng nên gọi là ân nhơn của nhiều thế hệ người hành nghề về máy, máy tàu như máy xe hơi, chính ông Tôn Đức Thắng cũng là môn đệ của Rosel trong khóa dạy ban sơ, như tôi đã hiểu.

Rosel, người lùn, không hơn 1 mét 50, nhưng có bề ngang, đi đứng nhậm lẹ, tay bằng miệng miệng bằng tay, tiếng nói rồn rảng như máy nổ, có thể nói ông là thực dân xấu nhứt, ông hay rầy và quở các học trò trường ông, nhưng xin cho tôi cải chính minh oan cho ông và tôi dám quả quyết Rosel là người thương và giúp ích cho người Việt ta nhiều hơn các Tây ở đây tôi đã biết. Rosel là kỹ sư về máy nơi Sở Ba Son (Arsenal) ông xin tách khỏi bộ Thủy binh và ông đã lập ra trường, ban đầu đặt trí và tạm ở chung với trường Bá Nghệ đường Chasseloup-Laubat, năm tạo lập kể là 1906, nhưng qua năm 1908, là thiệt thọ ở nơi hiện nay (đường Huỳnh Thúc Kháng) và năm 1948 nhớ công cán đào tạo nên đặt trường tên là Ecole Rosel. Theo tôi Rosel giỏi nghề giao thiệp, nhờ sửa chữa máy tàu máy xe mà ông thân thiện với các tai to mặt lớn và nhờ giúp nhiều cho thống đốc, khiến nên khi sắp hạng và định lương cho học trò trường, Rosel đã òn ỷ và xin được sắp hạng người học trò của ông được ăn lương ngang hàng với lương thơ ký ngạch Soái phủ, ngang thơ ký dinh Thống đốc (ông cắt nghĩa phải được lương cao thì ông mới tuyển được nhiều người học nghề máy). Ngoài số lương hậu hỷ, thầy thợ dạy nơi trường, ông đều cấp nhà ở khỏi tiền. Vào năm 1922, hai trường dạy nghề đều giao cho Rosel làm hiệu trưởng và gọi chung là Ecole Technique Spéciale de Sài Gòn. Rosel sanh năm 1866 ở Toulon, đậu bằng diplôme trường quốc gia mỹ nghệ của tỉnh Aix, đi lính thủy dưới quyền Thủy sư đề đốc Amiral Courbet, dự trận đánh ở Tonkin, xin nên bộ nhận chức đốc học trường Máy từ 1906 và năm về hưu 1924, được phong chức mécanicien en chef và đặc biệt phong chức mécanicien-inspecteur (thanh tra các trường dạy máy). Lúc kẻ hèn là tôi làm việc giấy, coi về mua vật liệu cho trường, tôi ngán vì học tiếng Pháp mà lần hồi quên mất vì quanh năm chỉ quen với nào bù lon (boulon), nào long đền (rondelle), một phần khác vì nợ bao đồng quá nặng, tôi xin thuyên chuyển và đổi về làm bút toán nơi tòa bố tỉnh Sa Đéc, thì tại trường Máy còn hai công chức kỳ cựu là ông Phạm Công Nghiệp, coi về trả tiền mua vật liệu, ông Nghiệp suốt ba chục niên làm nơi trường, sau mắc bịnh tâm thần, ông Rosel cho ở nhà dưỡng bịnh ngót đôi ba tháng lãnh lương đủ và trọn, một ông nữa là Đinh Văn Long, gọi Nhứt Long, vì chức giáo và nổi tiếng dạy Pháp văn, đào luyện nhiều thế hệ sốp phơ lái ô tô và thầy đội coi máy tàu các tỉnh Nam kỳ và cấp bằng có gạch chữ “ancien élève de l’Ecole dé Mécaniciens Asiatiques, chữ viết tay mực son, những chuyên viên ấy đều được trọng dụng, tỷ như người tôi mang ơn nuôi cơm không nhận tiền là Phạm Văn Lẫm, nhiều năm làm sếp máy hãng mía làm đường ở Hiệp Hòa và như Tư Dền, Sáu Hòa, Hòa Nhỏ, cả ba lái xe cho quan tây lớn và lương thật cao, Dền sốp phơ mà lương 60$ mỗi tháng và chức là major dạy lái và chạy xe cho thống đốc Cognacq

đến Pagès. Rosel, thình lình đang mạnh khỏe, một đêm vào năm 1939, ông dùng cơm tối, bị mắc nghẹn, phu nhơn định sai người đi rước bác sĩ Viel, Rosel cản lại rằng họ ăn giá mắc (10$ thay giá ban ngày là 5$), hà tiện năm đồng bạc, đêm ấy ông nghẹt thở và năm ấy tôi không hay và rất tiếc không được tiễn một quan thầy đỡ đầu tốt bụng. Duy anh Nguyễn Văn Thành, có nhà ở Kho Đạn gần vườn thảo cầm, một tay lo việc tẩm liệm và quan tài của Rosel được đưa xuống tàu chở về an táng ở quê nhà tại Toulon. Khu trường Máy do Rosel tạo lập, chiếm trọn một vuông đất bao gồm bốn đường cái quan trọng, mặt hậu trổ ra đường Hàm Nghi, từ ngày 30-4-1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to, Sở Ba Son hiện được tôn trọng và có tượng đồng ông Tôn Đức Thắng, tôi tiếc và viết lại đây không rõ tượng đồng bán thân của Rosel có còn hay đã dẹp nơi lầu thượng trên căn phòng Trường Máy cũ, nhà nầy đã cất lại làm trung học.

Nhắc lại ông Emmanuel Rosel, tuy được kể về hưu năm 1924 như đã nói nơi đoạn trên, nhưng ông vẫn được lưu dụng tại chức cho đến ngày mãn phần, thọ 73 tuổi, vả lại những gì tôi nói đây đều do ký ức nhớ chớ không thấy hoặc riêng tôi tôi chưa gặp sách nào kể cho rành về mấy trường công nghệ ở Miền Nam nầy, vậy tôi kể luôn, nơi đường cũ Chasseloup-Laubat, vẫn có một trường tên Pháp gọi “Ecole Professionnelle d’Industrie” sau goi Ecole Pratique d’industrie, tôi không biết lập năm nào và hiệu trưởng tên gì tôi không biết, duy tôi biết lối 1928, vẫn đặt dưới quyền thanh tra của ông Rosel, và trường dạy về làm đồ mộc, học trò ra trường vẫn được tuyển vào xưởng mộc của Tây, là kỹ sư Foinet và một hãng gọi Etablissement Lamorte, đóng bàn, ghế gỗ giá ty, rất khéo, hãng nầy có đặc quyền mua gom gỗ Giá Tỵ và khi nào hàng nầy dư dùng mới bán gỗ Giá Ty ra cho các tiệm Tàu mua về đóng thùng đựng nước và bàn ghế cho dân dùng. Theo tôi biết, trường Bá nghệ đường Chasseloup nầy có một Tây chức là phó giám đốc tên Robert và một phó giám đốc khác tên Thưởng (đốc Thưởng) ông nầy, tôi xin kể lại là thân phụ của ba người trai thảy đều khác lạ: một người là Nguyễn Văn Huấn, làm thơ ký Ngân khố, vào đời tổng thống Pétain, có lịnh sa thải công chức bê bối, Huấn làm việc ở Kho bạc Cần Thơ, viên kho bạc Pháp công trực, không ưng hạ cấp Huấn và phúc trình binh vực Huấn rằng Huấn làm việc trôi chảy, còn tánh tình cứng cỏi, thì không đáng phải bị khiển trách; một người trai nữa là Nguyễn Văn Thìn, là người đã kết bạn với danh kỵ Ba Trà, tôi đã kể trong quyển “Sài Gòn tạp pín lù” và mấy cô lưu lạc; một người trai thứ ba là Nguyễn Văn Khai, làm thông ngôn tòa đại hình Sài Gòn, đẹp trai, nói tiếng Pháp rất thành thạo, người vợ là một huê khôi, nhưng mạng yểu, thường ngồi xe ô tô dạo phố với Ba Trà, khi mãn phần, chồng là Khai khóc và đề bia mộ đá: “Elle a vécu ce que vivent les roses, l’espace d’un matin” (câu nầy tôi nhớ mại và không đạt đúng nguyên văn).

Một trường thứ 3 tôi biết là trường dạy vẽ ở Gia Định, nay vẫn còn, vẫn đào tạo và dạy môn vẽ dessin, luyện công chức sau nầy bổ qua trường Công lộ (Travaux Publics) vẽ họa đồ nhà, vẽ kiểu xây cầu cống, v.v .. và trường nầy cũng đào tạo dessinateur du cadastre et arpenteur, dạy vẽ địa đồ ruộng, đo đất ruộng vườn. Tôi nói đây có phần lộng ngôn nói hỗn, nhưng già rồi nên không sợ ai mà không nói. Sở dĩ theo tôi hiểu, người Tây qua đây là để khai thác thuộc địa, gánh vàng gánh bạc về nước họ, nhưng luật trời chí công, họ như mẹ gà, ấp mớ trứng vịt, nay vịt con đã trộng và đều nhảy xuống nước lội te te trong khi mẹ gà trên bờ kêu trời mà chịu. Những năm 1930 lối đó, bên Pháp có phong trào “Mặt trận bình dân” (Front Populaire) và ở đây, học trò đã trưởng thành và trở nên sinh viên, Pháp muốn giữ sự kìm chế, nên phải mở ở Hà Nội các trường từ Cao đắng (écoles supérieures) đổi tên làm Đại Học (Lycée, Faculté, v.v…) khi ấy mới có nhơn tài bản xứ học với những họa sư giỏi Tardieu, v.v … và trở nên những Nguyễn Gia Trí, những Nguyễn Sáng v.v .. nhưng đến vấn đề nầy, tôi xin nhường lời cho các nhà nghệ thuật kể lại và tôi chỉ biết những chuyện vặt vạnh những chi tiết nhỏ, thuật lại  nghe chơi, và xin nói cho công bình, người Pháp qua đây bỏ xác và đổ máu rất nhiều, nhưng kết quả vẫn ngoài ý muốn của họ.

Kể sơ như về ruộng điền thì ngoài Bắc có Puginier, trong Nam có Evêque d’Adran, hội Mission Evangélique Miền Hậu Giang và trên Nam Vang làm chủ, về tiền tệ, bày ra đúc tiền điếu, đúc bạc trắng, thì Ba Tàu ở Chợ Lớn làm đầu nậu, đúc tiền Chinh (do Sùng Trinh nhà Minh), ăn trên đầu Tây thuộc địa, và Tây Thuộc Địa mảng chạy giấy tờ sang bên Tây, ru chánh phủ và Nội các Tây ngủ say, ở bên nầy bày ra lấy độc trị độc, cho phép hội lập ra, nào Cao Đài, nào Hòa Hảo, nào Phật, nào Gia tô, tranh nhau giành nhau, rốt cuộc binh Nhựt thua ở đâu mà vẫn chạy tràn về đây, gom lúa, thâu cao su, lật đổ toàn quyền Đơ cu (một cu còn chịu không nổi!) và rất cuộc như ngày nay đã thấy, tôi không cần nói nhiều.

Riêng về trường mỹ nghệ, tôi nhớ ở Thủ Dầu Một trước có lập trường dạy làm đồ mộc, và nhờ đó sanh ra những nhà làm đồ mộc nhờ khai thác và đốn cây danh mộc thiên nhiên trên rừng, tỷ như rừng vùng Bình Thuận (cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận), có cây quí, gỗ trắc, cẩm lai, mun, gõ đỏ (gọi cây bên theo tiếng Thổ) nay còn địa danh Tánh Linh, theo tôi là viết và nói sai, chớ thật ra đó là “đất Tấn Linh” vì theo tôi biết ngày xưa ông bà ta để lại: và để lại rất phân minh và rất rành rọt, tiếc thay chúng ta không nghe và không biết áp dụng, tỷ như ở Lục tỉnh ngày xưa, mỗi bên kinh, rạch, mé sông thì đặt ra tỷ như mé tả là chữ Nhiêu (tổng Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa), mé hữu là chữ Phong (Phong Mỹ, Phong Điền) hễ đọc ra là biết ngay thuộc bên nào, và hễ dưới sông thì chữ Tấn (Vàm Tấn là Đại Ngãi (Sốc Trăng Vàm Tấn lại là tiếng mượn của Đàn Thổ, Kơ me) và Tấn Linh mới có nghĩa, chớ Tánh linh, theo tôi thì vô nghĩa. Và nơi Tấn Linh nầy ngày xưa Pháp định mở đường xe lửa (xe hỏa) và dạy đốn gỗ rừng, lúc đó rừng nầy cây gốc thật to thật quá lớn, vả lại rừng thường ngập lụt nên thợ rừng hủy hoại gỗ súc, bày ra làm giàn trò cao và chỉ đốn nội khúc trên của cây gỗ lớn, đổ thừa dưới đất có đỉa có vắt, có thú dữ (cọp voi), tre trúc cũng dùng câu liêm móc giựt chỉ dùng đoạn trên (tre, trúc) và về sau, khi gỗ đã trở nên quá quí mới nhớ lại mà cho thợ rừng đào mốc lấy lại những gốc cây bỏ lóng trước, và khi ấy mới biết tiết kiệm, cưa lại theo mặt gỗ đứng, lấy từng lớp mỏng và dùng làm mặt bàn tròn, có thứ to lớn, đến 1 mét 80 c/m kính tâm hoặc đến 2 mét, nay rất quí hiếm và trước đây còn lại nơi Thủ Dầu Một và nơi Lái Thiêu, hai nhà của hiệu Thuận Hòa và của nhà Nguyễn Long Thao, làm và bán bàn viết mặt đá, ván ngựa (gọi ván ba tức gồm ba tấm ván), ván hai hay ván đôi (có hai tấm) và ván một (chỉ một tấm) v.v. Ở Thủ tôi biết có một người thợ rất khéo và đã chế tạo ra một chiếc xe đạp, chỉ sợi dây sên (chaine) là bằng thép, còn sườn, vành, v.v .. đều toàn bằng gỗ, xe vẫn chạy như xe kim khí, và người thợ mộc nầy đã được phần thưởng xứng đáng. Nhưng xe không được phổ biến và chỉ để thấy người thủ công của ta vẫn hoa tay giỏi. Tóm lại, nghề như vẽ tranh như nay đang thạnh hành, thì có lúc, trong xứ vẫn thiếu vật liệu (thiếu màu vẽ, thiếu  giấy, thiếu đất trắng và đồ nội hóa kém sút, cho nên trường dạy làm đồ gốm ở Biên Hòa, theo tôi biết, một đoạn lối 1950-60, lò gốm Biên Hòa sản xuất gốm kém thua lúc Pháp còn ở đây, phải nói Pháp dạy rất kỹ và rất khó tánh, sinh viên làm món chưa vừa ý, họ đều bỏ không cho nung. Còn ngày nay, tôi chịu thua và không biết được.

Đến đây, bài đã quá dài, và giấy còn thừa, tôi xin nhảy qua giới chơi đồ cổ và kể lại thời Bollaert ông nầy toan xin làm một món gốm, thị trường trả lời vật liệu thiếu (thiếu borate) không làm được. Xin chở ra một cổ vật sang Pháp, thì bị cản trở, nhưng món ấy vẫn chở ra khỏi đây vì chở bằng tàu chiến nên chở dễ dàng.

Nay việc cũ, nhắc lại và xin độc giả bỏ qua cho: trong bốn ngành mỹ nghệ:

1. Về máy móc, tôi làm nơi trường Máy ông Rosel ngót sáu năm từ 1923 đến 1928, tôi mua tôle thiếc lợp nóc chuồng gà Mỹ của thống đốc, được đặc hạng 18 tháng mà thăng lên một cấp, ông Favier phó và ông Rosel cho tôi theo xe để học. lái xe, nhưng tôi thừa dịp để xe đi dạy người khác, còn tôi thì xuống xe và dùng thì giờ đi với chị em và đến nay tôi vẫn không biết lái xe.

2. Về tranh, tôi xét không đủ tiền theo kịp các tay điên tiền. Khi làm nơi viện quốc gia ở vườn thú ở đây, tôi thấy cả mấy chục tấm tranh vẽ màu, mực Tầu, vẽ dầu, có một bức màu ba phụ nữ Bắc, Trung, Nam, ngồi chùm nhum trên sàn nhỏ, tôi cho là rất khéo, những tranh ấy đều do họa sư Pháp vẽ, không biết hiện nay về đâu?

3. Về gốm, mặc dầu tôi chơi gốm cổ, nhưng tôi không sắm gốm Biên Hòa, chỉ có đôi gốm do đời Tây để lại và nay rất khó kiếm. Nay gốm mới tôi không quan tâm nữa.

4. Rốt cuộc, tôi thích đồ mộc, vì theo tôi đồ mộc Thủ và Lái Thiêu, gỗ tự nhiên trắc, cẩm lai, lâu niên thành cổ. Mộng mẹo cho thật khít khao, để lâu năm thì quí. Nhà Tân Hanh, trước ở đường Nguyễn Trãi, khi chủ mất, nhà bị bán, chủ xin được yên thân vùi xác trong một chiếc hòm cây Giá Tỵ, kỳ dư liễn, hoành sơn son thiếp vàng, vô số kể, treo đầy vách, nay về tay ai.

– Tôi đã bỏ qua nhiều dịp tốt, nay tiếc đã muộn. Nhà Tái Hiệp Hòa ở Chợ Lớn, tôi gặp năm nọ đã lâu, 12 (mười hai) chiếc ghế gỗ mun, do thợ Bà Rịa làm năm 1900 hay lối đó, ra giá mỗi ghế 600 bạc cũ đời Thủ hiến Trần Văn Hữu, cả thảy giá 7.200, tôi cò kè trả bớt không được, khi về nhà lấy tiền trở lại chủ nhựt sau thì ghế đã bán mất, tiếc quá. – Nhà Huê Hưng chứa cả kho đồ mộc kiểu đời Thanh, sập ba thành, bàn mặt đá quí giá rẻ mạt, nhưng mua về không chỗ chứa, nay đâu còn? Nhà Huê Hưng cũng đã dẹp.

– Lúc ở Sa Đéc, chủ Quảng Đông tiệm mộc tên Đăng Quán, quen thân, một hôm tôi mời chơi bài thiên cửu, Quán nói mắc dỡ nhà cũ cho kịp sáng chủ nhận tiền, sau đó Quán cho biết phải đỡ nhẹ lấy bộ cột cho kịp lúc vì cột ấy toàn gỗ mun, mà người chủ bán nói cột sơn dầu hắc bán giá cột chụm củi và rõ lại người chủ ấy là bạn học bên Tây đồng song với bác vật Lưu Văn Lang, tên Lương Văn Mỹ, kỹ sư công chánh.

Tôi gần đây đã gặp một bộ ghế cây trắc giả bắt chước bàn ghế dây mây đan (rotin tressé) mộng khít rịt, tôi mua không kịp, nay về đảo Đài Loan, đáng tiếc, hoặc tại tôi vô duyên.

(viết tiếp từ 27-9-1993)

Tôi viết ba lăng nhăng trối mặc tôi, các bạn trẻ xài được thì cứ xài …

Nay tôi nhớ lại, năm 1919, khi tôi được chấm cho vào học nơi trường Trung học tây Chasseloup-Laubat, lúc ấy chưa có người quen ở Sài Gòn ưng làm correspondant tức người bảo chứng cho học trò ở xa nhà là tôi, (sau tôi xin được ông Thanh, em ông Cao Đắc Lỹ là chú của bạn đồng song tên Tệt (Trước, Tre) nhận cho tôi ở đậu ngày nghỉ lễ hay chủ nhựt, nhưng tôi cũng ít đến sẵn tánh nhút nhát, nhà ông Thanh nầy nhớ số 90 đường dEspagne, và có chứa ông Nguyễn Văn Sâm, làm chánh trị bị giết trên xe buýt, cũng người Sốc Trăng, nhắc lại năm 1919, tôi thường ghé một nhà ở đường Mạc Mahon, ngang dinh Toàn quyền, mỗi khi ra trường ngày nghỉ lễ, vì nhà nầy là trụ sở của một trường do một ông Tây làm quan to ở Bắc, về hưu, nên vô Sài Gòn xin được lập trường lớn dạy nghề thêu thùa, nhưng tuyển học trò trong Nam không ai vào học, vỏn vẹn năm 1919 ấy, chỉ có bốn người học trò, một nữ ba nam, trong số có anh Hải, con ông Quản tên Đủ, làm nghề đóng sách cho tòa bố ở Sốc Trăng, anh Hải nầy có tên khác là Chơn, nhận làm correspondant cho tôi, về sau anh học lươn khươn không ra gì, rồi bỏ học, lại trở nên đứng dọn bàn rồi thăng lên là đầu bếp cho Bussière, tham biện chủ tỉnh tỉnh Sốc Trăng, có dắt Chơn (Hải) sang Pháp làm bồi (boy à tout faire) bồi dọn bàn mà lãnh nấu bếp luôn, chính anh Chơn khi đi bên Tây rồi trở về, đã nói với tôi, tưởng đâu ông chủ là Bussière, chức ở bên nầy là quan cai trị chủ tỉnh, thế mà ở bên Pháp, ông chỉ có duy nhứt một con bò cái nuôi để lấy sữa và nhà ở của ông và vườn của ông là nhà mướn, vườn mướn, còn lúc học thêu ở Sài Gòn, học trò gì mà chỉ một nữ ba nam, không thấy thầy đến dạy, bốn người ở chầu chực, chờ lãnh tiền cơm rồi thua buồn lần hồi bỏ học, ông chủ trường là ông Georges Bois, lặn hụp rồi cũng mất tăm mất dạng và trường dẹp luôn, day qua tôi có bạn là Tăng Thiện Lăng, học lớp nhứt ở Sốc Trăng, năm 1919, lên đây học trường Máy của ông Rosel, Lăng trong lúc học năm đầu (1ère année), lén lấy sắt lấy thép, lấy chì, của nhà trường, rồi lén lút đúc bàn tay sắt (tên tiếng Pháp là coup de poing américain) và đúc lưỡi búa thép, lưỡi bề ngang 4 hay 5 c/m, cán bằng gỗ cứng, búa lợi hại và bén ngót, dùng để đi đánh lộn giữa học trò các trường tại Sài Gòn thì chém hay búa đầu nhau, học trò trường Chasseloup chia ra có hai phe, phe dân tộc Nam, gồm hai nhóm, nhóm có học bổng chánh phủ hoặc làng xã tỉnh hạt cấp, nhóm khác không học bổng và do cha mẹ khá giả xin được cho con vào học, hai nhóm nầy nói chí tình, đều lo học hành và giữ hạnh kiểm tốt, duy trường Chasseloup vẫn có một nhóm thứ 3 mà có lẽ là nhóm chánh, gồm học trò dân tộc Âu Pháp, chữ gọi “quartier européen” nhưng kỳ trung đó là dân tộc phức tạp Tây lai có, Chà và đen, dân Pháp có, mà phần lớn là Ba Tầu, con Chệc nhà giàu trong Chợ Lớn hoặc con các bang trưởng Quảng Đông hay Triều Châu ở Lục tỉnh gởi lên, thảy đều có máu mặt, thảy đều là con nhà giàu sụ, tóm lại thảy đều là công tử mất dạy, học không lo học chữ và nghĩa và học những thói xấu, tập làm công tử bột, làm trai hư “có mèo” có bồ bạn gái trường Áo Tím (nữ trung học Gia Long) hoặc bạn gái “đầm lai” trường áo trắng Nhà Phước (do các dì phước, cũng gọi bà phước (soeur ou révérendre mère carmélites gọi tắt Nhà Phước, Nhà Trắng) hoặc học trò nữ quốc tịch Âu Pháp trường Ecole des filles françaises, sau gọi trường Marie Curie, nhưng nói đây như vậy là tôi nói tằm ruồng vô trật tự và xin nói cho chính đáng (hay chí đáng), riêng phận tôi, ai mặc ai, tôi giữ phận tôi – và Ba tôi hy sanh, nhịn ăn nhịn mặc, gởi lên tôi đây để học chữ Tây, cơm nhà áo mẹ, tôi học rất chuyên cần và rất phát, không dám làm phụ lòng Ba tôi, cho nên nói chí tình Chơn (Hải) rồi Tăng Thiện Lăng, mỗi chủ nhựt hay ngày nghỉ lễ, thường đến đón tiếp tôi từ cổng cửa lớn trường Chasseloup là để cùng nhau đi hoặc ăn sáng, tô hủ tíu ba xu, hoặc uống giải khát “Au Rendez vous des Poilus” là quán ở đường Amiral Courbet, chuyên bán cà phê, nước ngọt, sau nầy Lăng học đủ ba năm nơi Trường Máy Rosel và được bổ nhiệm làm đội máy coi tàu và giữ kho gọi  Vọng Thoàn, nơi tỉnh nhà Sốc Trăng và phân tay với tôi, thi đậu và làm thơ ký quét bu rô làm tôi mọi cho chánh phủ Tây,Hơn Nửa Đời Hư là vậy, nói càng xấu nhục …

Trở lại như đã nói rồi trường Trung học collège Chasseloup-Laubat lập ra từ năm 1874, nhưng tương đương với trường công và chánh thức của Tây bày ra, nhưng một vì khó có phương tiện nhập học trường công nầy, hai là một lẽ riêng hiểu của tôi là dạy chữ mà ít lo và để tự do phóng túng về đạo đức, một lẽ thứ ba là về sau có phong trào Tây không theo Thiên chúa giáo, hoặc theo đạo Tam Điểm (loge maconique), ghét và nghịch với đạo Gia tô, nên bên Gia tô giáo nảy lập ra một trường nay đồ sộ và còn tại chỗ duy đã đổi cách dạy dỗ khác, tôi muốn gọi và nói và cám ơn tuy không có học trường nầy và đó là Institution Taberd, trường chọn tên như vậy, nhưng người tạo lập, sáng tạo và tự xuất tiền lập công đức lớn thật lớn này là ông Kerlan, mà tôi xin kể sơ lược như vầy:

Kerlan, trước tiên là người thế tục (laique) (không theo đạo Gia tô. Tên họ đủ là Henri, Marie Thérèse, Alexandre Juhel des Isles de Kerlan. Sanh năm 1844 tại Angers (Maine et Loire), khu paroisse de la Trinite. Học trường collège de Combrée, và tuy không theo đạo nhưng được tuyển cho nhập học ngày 26 septembre 1864 nơi trường chủng viện Séminaire des Missions Entrangères. Được phong mục sư prêtre ngày 15 juin 1867 và ngày 16 aout được cắt về xứ Nam kỳ.

Đến địa phận nầy, đức Cha Mgr Miche sai đi Bà Rịa, trước giữ chức Trợ tế (vicaire) rồi lên làm mục sư (curé). Tiếp theo đó, được cho làm phụ tá cho cha R.P. Gernot giữ họ đạo dòng Cái Mơn. Đến năm 1871, được làm mục sư (curé) địa phận Sài Gòn. Kể từ đây, ông chuyên và bành trướng làm toàn việc thiện. Ông xuất tiền nhà, tiền của ông có, lập năm 1874 (đồng thời đồng niên với trường Bổn Quốc collège Chasseloup) ông lập Institution Taberd nầy. Trường chuyên dành cho trẻ lai bị bỏ rơi … , tiếc thay danh ấy thọ nhưng mạng lại yểu, Kerlan về với Chúa ngày 27 Mars 1877, lên trái trời (petite vérole noire (trái đen), tức lên trái (variole) do một bịnh nhơn lây cho. Trường Taberd mở rộng, xây lầu, cất cao và rộng thêm mãi, nhưng nay tôi không vào bên trong được và không biết nơi sân trong của trường có còn tồn tại tượng đồng bán thân của Kerlan chăng, tượng nầy do Thủy sư Đề Đốc Dupré dựng lên và đến ngày 14 Mai 1877 Dupré đặt tên Kerlan cho một con đường mới nối đại lộ Norodom qua đường Lucien Mossard.

(viết ngày 27-9-1993)

Trường Taberd hữu ích và đã đào tạo khá nhiều công chức cho chánh phủ thuộc địa Pháp. Môn dạy chữ rất hay, thi đậu rất nhiều, nhưng cũng dạy kinh, các thầy dòng có tục hết lòng dạy bọn đẹp trai, gọi tục ấy là “cộ” Ra trường quen kinh và theo Gia tô giáo cũng bộn. Từ những năm 1920 về sau, trong Nam người như của  cải, phát mạnh, lúa có giá, dân sanh đẻ mau, Nhà Nướcthuộc địa mở ra lớp dạy và luyện thi tú tài, gọi “tú tài bản xứ” lớp ấy mở tại trường Chasseloup học sinh học tấn phát, thi đỗ bằng Brevet Supérieur, Baccalaureat français rồi “lô canh” rồi tăng collège thành lycée trường lang sa, tách nhóm Việt qua lập trường Pétrus (1928) và môn dạy lấy cấp bằng thấy kiếm ăn được, trường nở ra:

– Trường Nguyễn Xích Hồng, mời giáo sư Pháp dạy, lương tính mỗi giờ 5$00.

– Trường Huỳnh Công Phát nối lấy chỗ và N.X.H. chạy vô Gia Định.

– Trường Chấn Hưng hay Chấn Thanh ở Cầu Muối (Ông Lãnh).

– Trường Huỳnh Khương Ninh, học trò ương ngạnh, giấu thầy nghề võ, học môn xành tả (thần đả) thử sức chém đứt lưng xảy ra án mạng …

– Trường Nguyễn Phan Long, ông chọn rể, gả con, nghĩa tế, công tử con nhà giàu lớn ở Sốc Trăng, tên Giang Đông Đẩu, ông Long thấy không dạy được, vận động cho Đẩu qua Pháp, Đẩu trở về chở theo một ô tô nhớ như hiệu Alpha-Roméo, đăng bộ tại Paris, qua Sài Gòn, lính cò phạt, phải gởi giấy phạt sang Paris, lính Tây, cò (cẩm) Pháp chịu thua, Đẩu về làm công tử tại quê nhà ở quận Long Phú (Bang Long) chủ quận đốc phủ Lê Quang Trường cũng chạy mặt.

Trường mở rộng xuống Cần Thơ cũng có trường tư, trường Đồng Nai của Đoàn Quan Tấn và một trường nữa của Lê Bá Cang ở Sài Gòn thì ở Cần Thơ có trường Hậu Giang (Bassac của Phạm Văn Bạch). Rồi nào trường của Cao Đài, của Hòa Hảo, trường Nguyễn Tích Thiện ở châu thành Sốc Trăng, giám thị trường là Phan Văn Hùm, sau trường đổi chủ và giao cho thầy cũ lớp nhứt, trường tỉnh Sốc Trăng là ông Trần Văn Điền, là thầy đào tạo ra tôi ngày nay, với ân sư dạy lớp nhì (cours moyen) là ông Trần Tấn Chức.

(viết tiếp ngày 28-9-1993, nối bài “Vườn ông Thượng”)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 29 Nov 2025

Bài 48

Nước Venezuela – Các ngư dân ở Irapa.

Tôi đã khám phá ra một thế giới mới, những con người, một nền văn minh hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Những phút đầu tiên trên đất Venezuela vô cùng cảm động, và phải một tài năng hơn hẳn cái vốn liếng chữ nghĩa ít ỏi của tôi mới giải thích, diễn đạt, vẽ lên nổi cái không khí tiếp đón nồng nhiệt mà những người dân hào hiệp ở đây đã giành cho chúng tôi. Đàn ông, da trắng hay da đen, nhưng đa số là da màu sáng như màu da trắng bị rám nắng vài ngày, hầu hết mặc quần xắn đến đầu gối.

– Tội nghiệp, sao trông các ông thảm hại đến vậy – cánh đàn ông nói.

Làng dân chài nơi chúng tôi đến là làng Irapa, một công xã thuộc một bang tên là Sucre. Các cô gái và các thiếu phụ, hơi nhỏ người nhưng duyên dáng vô cùng, và cả các bà già nữa không trừ một ai, đều biến thành nữ y tá, xơ từ thiện hay mẹ bảo trợ chúng tôiHọ tập họp ở một căn nhà đã mắc sẵn năm cái võng len, kê sẵn bàn cho chúng tôi, họ lấy dầu ca-cao xoa lên thân thể chúng tôi từ đầu đến chân, không bỏ sót một centimét da bị tróc. Chúng tôi lả đi vì đói và mệt, vì phải nhịn ăn quá lâu ngày nên bị mất nhiều nước. Những người vùng ven biển này biết là chúng tôi cần ngủ nhưng cũng phải cho ăn chút ít một.

Mỗi đứa chúng tôi nằm trên võng, vừa ngủ, vừa được các nữ y tá bất ngờ bón cho ăn từng miếng. Tôi quá mệt mỏi, khi được đặt lên võng, những chỗ da bị trơ thịt ra được xoa dầu ca-cao rồi, sức lực của tôi đã hoàn toàn tan biến đâu mất và tôi cứ mơ mơ màng màng ngủ, ăn và uống mà không biết gì hết.

Một món gì giống cháo bột sắn ở quê tôi không được dạ dày rỗng tuếch của tôi tiếp thu. Mà không phải chỉ mình tôi như vậy. Tất cả chúng tôi đã nhiều lần nôn ra một phần hay tất cả những món ăn mà các bà các chị đã đưa vào mồm chúng tôi từng muỗng một.

Dân trong làng này nghèo xác xơ. Nhưng tất cả mọi người, không trừ một ai, đều giúp đỡ chúng tôi. Ba ngày sau, do được tập thể này săn sóc và do tuổi còn trẻ, chúng tôi đã gần lại người. Chúng tôi ngồi dậy hàng giờ dưới mái lán lợp bằng lá dừa râm mát, các bạn tôi và tôi đã trò chuyện với người làng. Họ không dư dả để lo chúng tôi có quần áo mặc ngay một lúc. Và những nhóm nhỏ đã được hình thành. Nhóm này chuyên lo cho Guittou, nhóm nọ, cho Deplanque. Độ gần mười lo cho tôi.

Những ngày đầu, họ cho chúng tôi mặc đủ thứ đồ hú họa, cũ kỹ nhưng rất sạch. Bây giờ, mỗi khi có điều kiện, họ mua cho chúng tôi chiếc áo sơ-mi mới, cái quần dài, sợi thắt lưng hay đôi giày vải. Trong số phụ nữ săn sóc tôi có những cô gái trẻ, dân tộc Anh-điêng pha trộn với máu Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha. Một cô tên là Tibisay, cô kia là Nenita. Các cô đã mua cho tôi một cái áo sơ mi, một cái quần dài, một đôi giày vải mà họ gọi là “aspargate”, đế giày bằng da, không có gót, phần che chân là sợi vải tết lại. Chỉ có cổ chân và gót chân được bao bọc còn ngón chân thì để hở.

– Không cần hỏi các anh từ đâu đến. Cứ trông các anh xăm mình, chúng tôi cũng biết là các anh đã vượt ngục từ trại giam của Pháp.