Bút ký chiến trường – Người lính dần đi xa

Phan Nhật Nam.

Post by Sơn râu 29 Nov 2025

Khi Beo Gấm trở về núi cũ.. (*)
(*) “Beo Gấm Chiến Trường”: Danh hiệu của Tướng Quân Lê Quang Lưỡng, Nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù/QLVNCH. (1972-1975)

1. Mở trận. Năm 1963, anh là viên thiếu úy hai-mươi tuổi, vừa ra trường, đến trình diện Tiểu Đoàn 7 Dù, doanh trại đóng tại phi trường Biên Hòa, căn cứ Không Đoàn 23. Anh ngơ ngác lạc lõng giữa đám sĩ quan xa lạ, sành sõi, lớn tuổi cùng chung đơn vị trong buổi đầu tiếp xúc – Những “ông sĩ quan nhảy dù” – Anh gọi họ như thế. Anh cũng rơi vào tình cảnh bối rối, ngần ngại đối với những người lính cứng cỏi, dạn dày chiến trận mà anh nhận nhiệm vụ chỉ huy. Thế nên, có dịp rảnh rỗi,  anh theo xe lam ba bánh qua vùng Ngã Ba Tam Hiệp, tìm đến những gã bạn thân quen cùng khóa như một cách tự nâng đỡ – Những thiếu uý thuộc Tiểu Đoàn 5, chung hệ thống Chiến Đoàn 2 Dù với tiểu đoàn của anh. 
..Thằng nầy chung khóa với tôi, đại úy. Hắn là một trong mấy đứa nhỏ tuổi nhất khóa! Thiếu Úy Hiếu giới thiệu anh với viên đại đội trưởng. 
– Không cần nói, tao nhìn là biết ngay. Viên đại úy tỏ vẻ thông cảm, cách thân mật của kẻ đàn anh.. Mầy ở đây với thằng Hiếu, ra ngồi chơi ngoài quán, hoặc xuống dưới câu lạc bộ, đừng đi đâu xa. Lát nữa, tao cũng có chuyện bên tiểu đoàn 7, để tao chở về bển.. Mầy ở đại đội của ai?
– Thưa đại úy.. Tôi.. em ở đại đội ông Phát. Anh lúng túng, ngượng ngập, tội nghiệp. 
– Phát “râu” hả? Ổng bạn tao, mầy ở với ông Phát là có phước, ổng chịu chơi, dễ tính. Đụng phải đại đội thằng “Lh” là chết ngay. Cái mặt ngơ ngơ như mầy chịu gì nổi mấy giả! 
Khi viên đại úy bước đi, anh nói với Hiếu: Đại đội trưởng của mầy vui quá, bên tao, mấy ông đại úy nghiêm lắm, nhất là tiểu đoàn trưởng. 
– Nhảy dù ở đâu cũng vậy, tiểu đoàn trưởng ở đây còn nghiêm hơn nữa, nhưng “ông Lưỡng tao” dễ lắm, cả tiểu đoàn ai cũng quý và phục ổng. Ổng cùng khóa với ông tiểu đoàn trưởng như tao với mầy vậy, nên không hề có chuyện mất lòng. Anh nhận thực lời bạn với ý nghĩ: Hóa ra, trong nhảy dù cũng có một “Ông Đại Úy” xuề xòa, dễ tính và “hay” như vậy. 
Và Đại Úy Lê Quang Lưỡng chứng thật nhận xét trên của những viên thiếu úy sau đó ngay trên chiến địa.

Mật Khu Đỗ Xá nằm giữa hai tỉnh Quảng Ngãi-Kontum vốn là vùng bất khả xâm phạm thuộc Liên Khu V cộng sản do Tướng Nguyễn Đôn chỉ huy. Từ chiến tranh 1946 -1954, nơi nầy đã là căn cứ địa an toàn của toàn vùng Nam-Ngãi-Bình-Phú, nối liền đường chiến lược lên cao nguyên, qua Lào. Binh đoàn viễn chinh Pháp không hề có khả năng hành quân xâm nhập trong suốt thời gian dài chín năm chiến tranh. Năm 1960, khởi cuộc Đông Dương lần hai, Đỗ Xá thêm một lần lập lại chức năng quan trọng của mình với danh xưng “Khu an toàn giải phóng”. Nhưng danh hiệu nầy hoàn toàn bị phá vỡ trong ngày 27 tháng 4, 1964 khi chiến dịch tấn công Đỗ Xá bắt đầu. Từ phi trường Quảng Ngãi, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân, 18 trực thăng H34 đợt đầu tiên đồng loạt đưa toàn bộ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, mũi nhọn xung kích của  cánh quân B vào trận địa. Phía cộng sản không chỉ bố trí súng chống máy bay chung quanh bãi đáp, nhưng dài theo thung lũng dọc đường bay trực thăng chuyển quân. Chúng ta nghe lời kể từ Đại Úy “Woody” Goodmansee, trưởng toán trực thăng võ trang (nay đã là Trung Tướng Lục Quân hồi hưu).. “Trong đợt đầu, trực thăng bay thấp khoảng 100 bộ, tất cả bốn trực thăng Dragon đều thả khói hai bên trực thăng (để ngụy trang). Tôi có thể thấy các lằn đạn xoẹt ngang dọc từ cả hai bên (lộ trình bay). Trong một vòng bay từ tây sang đông, tôi bị một súng phòng không 50 ly nhắm bắn từ phía nam, một lằn đạn xoẹt qua dưới bụng trực thăng.. (1) 
Đấy là cảnh tượng trên không, dưới đất, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù bị tấn công ngay tại bãi đáp, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Ngô Quang Trưởng tung hết bốn đại đội xung kích lẫn đại đội chỉ huy cự địch. Khẩu 57lyKhông Giật của đại đội chỉ huy công vụ (vốn là súng phá công sự, chống chiến xa) nay biến thành vũ khí bắn thẳng để bảo vệ cận phòng bộ chỉ huy tiểu đoàn, bởi bốn đại đội tác chiến đã được lệnh dàn ngang tràn ngập mục tiêu trong thời hạn ngắn nhất. Đại Úy Lê Quang Lưỡng dẫn đầu Đại Đội 54 xung phong tràn qua phòng tuyến giặc, chiếm lĩnh trận địa, không để phía đối phương có đủ thời giờ thu gọn chiến trường, tổ chức đội hình rút lui. Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn II đích thân chỉ huy trận địa từ trên không; trực thăng chở ông và các Tướng Lữ Lan, Trần Văn Minh (Tư lệnh không quân sau nầy) phải bay sát ngọn cây để tránh đạn phòng không, nhìn xuống thấy dạng hình lớp lớp áo rằn ri chuyển động như rừng chuyển sóng. Không nao núng bởi thế trận căng thẳng, lại vốn là chỉ huy trưởng tiên khởi của Liên Đoàn Nhảy Dù (1955-1959), Tướng Trí hiểu rõ năng lực tác chiến của các thành phần đơn vị, nhân sự chỉ huy đang có mặt trên chiến địa (các Thiếu Tá Phan Trọng Chinh, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 50 Bộ Binh; Thiếu Tá Sơn Thương, Liên Đoàn Trưởng Biệt Động Quân trước kia đã là những sĩ quan nhẩy dù thuộc quyền của Tướng Trí), ông thả nốt biệt động quân vào trận, tiếp sức nhảy dù cày sạch vùng bất khả xâm phạm gọi là Đỗ Xá. Chỉ riêng ngày thứ hai của cuộc hành quân, phía biệt động đã tịch thu được một đại liên 30ly, một trung liên, sáu tiểu liên, và 144 súng cá nhân, một ngàn bịch chất nổ, một số lượïng lớn quân trang, lựu đạn, mìn và tài liệu quan trọng. Cuối trận, tổng số vũ khí có thêm hai phòng không 52 ly, một đại liên 30 ly và 69 súng cá nhân với 62 xác đếm tại hiện trường; 17 tù binh bị bắt. 
Cuộc hành quân chấm dứt đúng một tháng sau, 27 tháng 5 do Trung Đoàn 50 Bộ Binh của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh hoàn tất quét sạch toàn vùng Đỗ Xá khi Nhảy Dù và Biệt Động Quân đã kết thành vòng đai chận bít không để lực lượng cộng sản chạy lẫn vào vùng núi phía tây, hoặc về phía nam Tây Nguyên. Số lượng vũ khí và nhân mạng phía cộng sản bị thiệt hại như kể trên không phải là một thắng lợi quân sự quá to lớn, nhưng đứng về mặt chính trị đã chứng minh điều quan trọng: Sau những xáo trộn chính trị, tình hình quân sự không ổn định (1963-64), Quân Lực VNCH đã lấy lại sức mạnh chiến đấu cơ hữu, có khả năng thực hiện những cuộc hành quân lớn cấp trung đoàn, sư đoàn, nếu như những sĩ quan tham mưu, chỉ huy được yểm trợ xác đáng, và nhất là để họ toàn quyền điều động đơn vị quân binh theo thực tế chiến trường chứ không là một biểu diễn bề mặt vì mục tiêu chính trị.

Mặc biến động chính trị bày cảnh hỗn loạn cực độ ở Sàigòn, người lính nơi chiến địa vẫn vững chắc tay súng. Tháng Giêng 1965, Chiến Đoàn 2 Dù xử dụng Tiểu Đoàn 7 Dù làm thành phần nút chặn để không cho lực lượng cộng sản chạy thoát ra ngã Quốc Lộ 15 (đoạn nối Sàigòn-Vũng Tàu dọc chân núi Ông Trịnh, vùng có tên Mật Khu Hắc Dịch) và hai Tiểu Đoàn 5, 6 nhẩy trực thăng xuống ngay giữa lòng mật khu, xong cùng lúc lùa địch từ núi ra quốc lộ. Trong đêm tối, viên thiếu úy Tiểu Đoàn 7 nằm sát trên đất, lắng tai nghe phía tiểu đoàn bạn hô rền xung phong sau mỗi đợt trực thăng bắn yểm trợ tiếp cận.. Đạn, bom chém cành lá cây rừng từng tràng rần rật, rung sâu mạch đất. Có lúc, viên sĩ quan trẻ tuổi kia tưởng chừng như toàn khu rừng đồng bốc cháy, và hắn thấy ra dạng hình hàng loạt người xô đẩy, săn đuổi, chạy vùn vụt qua vũng lửa chập chờn vàng tươi, tiếng thét âm âm gào rợn. Bình minh đến từ lúc nào không biết (do lửa đã thay ánh sáng mặt trời xé toang màn đêm) khiến cánh quân Tiểu Đoàn 7 thấy rõ khu rừng hầu như bật tung, rơi rụng hết cành lá, chỉ còn trơ trụi những thân cây xám đen, dựng đứng tua tủa, nghi ngút khói. Qua màn khói dày, viên thiếu úy nhận ra “Ông Lưỡng Tiểu Đoàn 5” đi ngã nghiêng giữa đám cây rừng gãy đổ ngỗn ngang. Khi đi ngang gã thiếu úy, Đại Úy Lưỡng cười vui: “..À thằng em, thấy anh Ba (Đại úy, mang huy hiệu cấp bậc Ba Hoa Mai Vàng) đánh giặc ngon không mậy?” Lần nầy, gã thiếu úy đã có phần cứng cáp, dạn dĩ, y đứng thẳng, đưa tay chào kính với lời kính phục: “Tụi em nằm đây suốt đêm, chờ bên đại úy đuổi vi-xi chạy ra”. Mầy còn nước không? 
“Dạ không, hai ngày nầy lính em cũng không ăn gì hết.” Ờ há, hôm nay còn tết đó mầy.. Đại Úy Lưỡng chuyển câu chuyện qua với những sĩ quan bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 7 đi tới. Cách nói dung dị, từ tốn với âm sắc dễ dàng của người miền Nam.

2. Tác Chiến là một Nghệ Thuật. 
Dẫu mới thành hình cuối năm 1965, nhưng dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng, Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù đã không hề vấp phạm khuyết điểm (coi như là tất nhiên) của một đơn vị tân lập. Đầu năm 1966, tiểu đoàn khai trận ngay trên Vùng Tuyến Lửa, nam sông Bến Hải. Có thể do công tác điều nghiên kỹ, phía cộng sản nhất quyết diệt gọn Tiểu Đoàn 2 Dù để đột phá mắc xích vòng đai điện tử phía nam khu Phi Quân Sự, hàng rào phòng thủ mà Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara đánh giá có khả năng ngân chận sự xâm nhập quân đội miền Bắc. Nhưng phía chỉ huy quân sự cộng sản của mặt trận Trị-Thiên đã nhầm lẫn khi khai 
chiến cùng với lực lượng Dù gồm hai Tiểu Đoàn 2 và 6. Thế nên, thay vì đánh vỡ được mắc xích như dự định, lực lượng cộng sản lại bị quân nhảy dù quét sạch ra khỏi nam sông Bến Hải, vùng thôn Diêm Hà Trung, Diêm Hà Thượng.. Và hàng rào điện tử cắm được mốc đầu tiên trên những cồn cát bắt đầu từ mạn Bắc Cửa Việt (nơi Sông Đồng Hà đổ ra biển). 
Để tưởng thưởng cho chiến công khai trận, cũng để đơn vị bổ sung quân số sau thiệt hại không tránh khỏi, tiểu đoàn được đưa về giữ an ninh vòng đai ngoại ô Sài Gòn, vùng Xã Vĩnh Hạnh, Vĩnh Lộc, Bà Điểm, Hốc Môn, Gia Định. Và như trong câu chuyện thần kỳ, vào một buổi chiều, một đại đội của tiểu đoàn sau ngày hành quân lục soát, bất ngờ gặp phải Tiểu Đoàn Đặc Công của Tỉnh Đội Gia Định.. Lính nhảy dù (do không phải mang ba-lô vì đang hành quân lục soát) tốc chiến xung phong ngay vào đội hình của đơn vị đặc công. Phía cộng sản núng thế trước một địch thủ quá cường mãnh, vừa đánh vừa lui về vùng kinh rạch Xuân Thới Thượng để trở lại khu an toàn Đức Hòa, Đức Huệ, hoặc vùng du kích Củ Chi, Tỉnh Hậu Nghĩa. Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng được tin khẩn báo, huy động toàn thể bốn đại đội tác chiến vây chặt khu vực hành quân.. Bộ đội đặc công cùng đường phải rút vào những ấp Vĩnh Hạnh, Vĩnh Lộc, dựa vào giao thông hào, và thành ấp để kháng cự. Không có ưu thế chiến trận do được chuẩn bị trước như thường thủ đắc, không công sự, hầm hào ẩn núp, tác chiến, đơn vị đặc công bị đánh tan ngay sau cuộc giao tranh ngắn ngủi, phải phân tán từng đơn vị tiểu tổ, cá nhân nương bóng tối chém vè vào vùng lau sậy, kinh rạch. Thây người chết nằm chật cả một vùng đồng trống, máu đẫm ướt sênh sếch những gốc chân rạ khô se của những thửa ruộng mới gặt. Thắng lợi quá lớn xẩy ra nơi một vùng cận kề Sài Gòn khiến báo chí, giới chức cao cấp hành chánh, quân sự trung ương có cơ hội đến đến thăm viếng đông đảo. Lần đầu tiên, họ được chứng kiến tận mắt sức chiến đấu thượng phong của binh đội Nhảy Dù Quân Lực Cộng Hòa, dẫu đối phương là đơn vị đặc công sừng sỏ, hậu thân những đơn vị du kích địa phương đã dựng nên những kỳ tích huyền thoại “Bộ đội Mười-tám thôn vườn trầu Hốc Môn, Bà Điểm”, hoặc chiến công vang dội dòng “An Phú Đông nơi hàng dừa xanh soi bóng..”
trong chiến tranh chống Pháp năm xưa. Nay, thời, thế đã đổi, và người cũng đã đổi. Và, tính chất cuộc chiến đã hẳn là thay đổi. Một thời gian sau không lâu, cũng trên đất Gia Định nầy, chúng ta sẽ chứng kiến những chiến công khác của “Lê Lợi 612” (3) với những tiểu đoàn nhảy dù dưới quyền. Lẽ tất nhiên luôn có mặt Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của ông.

Với những chiến công thâu đạt cấp kỳ như trên vừa kể, Tiểu Đoàn 2 là đơn vị đầu tiên của Lữ Đoàn Nhảy Dù được ân thưởng Giây Biểu Chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu sau chưa đầy một năm thành lập. Tiểu đoàn cũng là đơn vị độc nhất có một giàn đại đội trưởng thuần cấp bậc đại úy, không riêng đối với nhảy dù mà chắc rằng cũng của toàn quân lực. Đơn vị sẽ chứng tỏ tiếp năng lực vượt trội của mình nơi những chiến trường kế tiếp để trở nên biểu trưng huyền thoại: Đơn vị Không Hề Thất Bại với Người Chỉ Huy có danh hiệu Beo Gấm Chiến Trường.

Mùa đông 1967, vùng Bắc Tây Nguyên, Tỉnh Kontum với những vị trí chiến lược Dak Tô, Dak Sút (“Dak: Suối”) bao quanh bởi các cao độ Ngok Jrong; Ngok Niay; Ngok Wank.. với đỉnh Ngọc Linh trấn thủ (cao 8520 bộ; “Ngọc” do phiên âm từ “Ngok: Núi”) là những vị trí chiến thuật mà phía cộng sản quyết tâm chiếm giữ để nối vùng Tam Biên (Mặt Trận B3) xuống đồng bằng Nam-Ngãi (phần Trận Đỗ Xá đã trình bày tổng quát). Hơn thế nữa, Bộ Tổng quân ủy Hà Nội còn có mục tiêu chiến lược (bao gồm yêu cầu chính trị-quân sự) muốn chứng minh Chiến Thuật Lùng và Diệt do Tướng Westmoreland chủ trương không khả năng thực thi đối với cuộc chiến Miền Nam. Phối hợp với Sư Đoàn 4 Bộ Binh (đơn vị Mỹ nổi tiếng ở mặt trận Triều Tiên 1950-1953), từ giữa năm 1967, Lữ Đoàn 173 Nhẩy Dù Mỹ được đưa vào vùng để thực hiện mục tiêu Lùng và Diệt của Tướng West. Trận chiến kéo dài suốt mùa mưa qua mùa khô giữa ba trung đoàn/Sư Đoàn 320 Bộ Binh Bắc Việt với các đơn vị: Trung Đoàn 503/LĐ173Dù/Mỹ, Trung Đoàn 8, và 12/SĐ4BB/Mỹ bất phân thắng bại. Đơn vị hai bên thay phiên nhau chiếm đóng và phản công lấy lại những ngọn đồi quanh lòng chảo Quận Dak Tô. Điển hình, trận đánh ngày 19 tháng 11 trên Đồi 875 (Cao độ 875 thước), Mỹ xử dụng Tiểu Đoàn 2/TrgĐ503/LĐ173 tiến chiếm mục tiêu, gặp phải thế trận phục kích của Trung Đoàn 174/SĐ320/BV bao vây; phi cơ Mỹ được gọi đến giải vây, lại ném nhầm quả bom 500 pound vào đội hình quân bạn gây thiệt hại trầm trọng. Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn 173 Nhẩy Dù, Sư Đoàn 4 Bộâ Binh phải tăng cường tiếp viện đơn vị lâm chiến. Nhưng mãi đến 22 tháng 11, trận chiến vẫn chưa kế thúc, bởi bộ đội Bắc Việt áp dụng chính xác, khôn ngoan phương thức tác chiến, kỹ thuật tránh bom, pháo Mỹ bằng cách: “Bám chặt thắt lưng địch mà đánh” – Thêm tai nạn dội bom nhầm trong ngày 19/11 làm giới chức Mỹ không dám khai triển toàn diện sức mạnh của phi, pháo cơ hũu. (4) 
Chiến Đoàn 3 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy gồm các Tiểu Đoàn 2, 3, 7 nhận lệnh vào vùng dứt điểm trận địa. Và trận chiến đến đây không còn là thuần túy diễn tiến quân sự giữa hai phe lâm chiến, nhưng đã là mục tiêu để giới chức lãnh đạo của tất cả các bên đánh giá lại khả năng đơn vị và chiến lược, chiến thuật áp dụng. Toàn thế giới, quốc hội, báo chí Mỹ đồng trông vào hoạt động quân sự của Mỹ và Nam Việt Nam ở vùng Tây Nguyên xa khuất nầy để lượng định “Ai Thắng Ai” nơi diễn trường Đông Dương. Cuối cuộc, sau lần xung kích dứt điểm với ba tiểu đoàn, Chiến Đoàn 3 Nhẩy Dù đã dựng nên Lá Cờ Vàng cùng chiếc nón Đỏ giữa vũng rừng bốc màn khói đục, trên đất đá điêu tàn của Đỉnh Ngok Wank, Cao Độ 1416; cũng chấm dứt mưu định đánh chiếm Tây Nguyên trong chiến dịch mùa khô 1967. Chiến cuộc 1972, hay 1975 (phía cộng sản chủ công thực hiện) tại Tây Nguyên sau nầy chỉ là bản sao lại với kinh nghiệm rút tỉa được từ những trận đánh ở những năm 1965, 1967 – Chiếm đóng được Tây Nguyên tức chiếm được Miền Nam – Giá máu của bao nhiêu quân binh qua những chiến công giữ vững Tây Nguyên đã không được người gọi là “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu” lưu tâm đến trong lần ra lệnh rút bỏ cao nguyên ngày 17 tháng 3, 1975 – Đưa đến hệ quả (tất nhiên) toàn diện sụp đổ Miền Nam, 30 tháng Tư, 1975.

Công trận lừng lẫy nâng cấp Trung Tá Chiến Đoàn Trưởng Nguyễn Khoa Nam nên thành Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng, (Sau biến cố Mậu Thân (4/1968), Chiến Đoàn Dù biên chế thành Lữ Đoàn). Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng được đề nghị giữ chức vụ Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn I Dù, dẫu trên cấp số tổ chức phải là một 
chức vụ với cấp đại tá. Năm 1967 chấm dứt để sắp chứng kiến trận thư hùng mới bắt đầu từ Giao Thừa Mậu Thân, 1968. Và Chiến Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng lại thêm một lần. Chúng ta nên nhắc lại yếu tố: Người Lính Lê Quang Lưỡng chỉ kinh qua những chức vụ chỉ huy trưởng các đơn vị tác chiến kể từ một ngày xa xưa năm 1955 mãi đến hôm ấy. Và những ngày dài lửa đạn sau nầy..

3. Giữa những vũng lửa.. 
31-Tết Mậu Thân, 1968.
Huế là một mặt trận quan trọng thứ hai sau Sài Gòn, là nơi phía cộng sản chiếm đóng được một phần thành phố, khu vực Quận Tả Ngạn Sông Hương (bao gồm Thành Nội, khu dân cư Chợ Đông Ba, Gia Hội) trong thời gian từ 31 tháng 1 đến 24 tháng 2, 1968; thành lập được một tổ chức chính trị, Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình. Việc tấn công chiếm đóng Huế tuy đưa đến hậu quả thất bại quân sự (đối với lực lượng cộng sản), nhưng Hà Nội lại chứng tỏ sách lược “Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy” có cơ sở thực tiễn, phát triển đúng các bước chiến lược song song với những chiến dịch quân sự, và họ đạt được thế thượng phong 
thuận lợi chính trị qua khai hội Hội Nghị Paris (1968-1973). Mặt trận Huế có nhiều giai đoạn với nhiều đơn vị tham chiến: Sư Đoàn I Bộ Binh với Đại Đội Trinh Sát Hắc Báo; Chiến Đoàn A/SĐ/TQLC; Liên Đoàn Biệt Động Quân; Thiết Đoàn Chiến Xa; Pháo Binh, và các lực lượng diện địa, cảnh sát thuộc Tiểu Khu Thừa Thiên của phía VNCH; Và thành phần Thủy Quân Lục Chiến, Không Kỵ Mỹ thuộc phía đồng minh. Nhưng do chủ đề của bài viết, chúng tôi chỉ khai triển giai đoạn đầu của chiến dịch (từ 31/1-12/2/1968) với Chiến Đoàn 1 Dù của Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng. Trước Tết Mậu Thân 1968, Chiến Đoàn Dù gồm ba Tiểu Đoàn 2,7,9 chịu trách nhiệm toàn vùng từ Huế đến Quảng Trị suốt từ mùa Hè 1967. Ngày 28/1/1968, bộ chỉ huy Chiến Đoàn 2 của Trung Tá Đào Văn Hùng bàn giao vùng trách nhiệm lại cho Chiến Đoàn 1 của Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng, ba tiểu đoàn kể trên vẫn giữ nguyên nhiệm vụ chỉ định, chỉ thay đổi những vị trí theo phối trí như sau: Tiểu Đoàn 2 chịu trách nhiệm vùng quận Quảng Điền (Đông-Bắc Huế), vùng sình lầy dọc Phá Tam Giang phía đông Quốc Lộ I; Tiểu Đoàn 7 đóng quân ở Căn Cứ Tử Hạ (Cây số 17 – Trên Quốc Lộ I, đoạn Huế-Quảng Trị), chịu trách nhiệm vùng núi Tây Quốc Lộ I; Tiểu Đoàn 9 tăng phái cho Tiểu Khu Quảng Trị (cách Huế 70 cây số về hướng Bắc). Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 1 cùng với Pháo Đội C của Đại Úy Bùi Đức Lạc đóng cùng vị trí với Tiểu Đoàn 7. Đêm Giao Thừa, Tiểu Đoàn 9 ở Quảng Trị bị tấn công trước hết. Đại Đội 94 đóng ở Tri Bưu, làng Công Giáo cực Tây thành phố bị tràn ngập bởi một tiểu đoàn cộng sản; Đại Đội Trưởng Thừa, hai Trung Đội Trưởng Lộc, Hổ đồng tử trận. Chiến trận được mô tả khách quan như sau qua ghi nhận của viên cố vấn Mỹ: “Đại Đội 94 còn chừng 10 đến 15 người do một hạ sĩ quan chỉ huy (đúng ra là Chuẩn Úy Chỉ – Pnn) , tìm đường về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đóng tại Hạnh Hoa Thôn (ngỏ vào Quảng Trị – Pnn); đại đội nầy bị tràn ngập bởi Trung Đoàn 812 Bắc Việt (thật sự là Tiểu Đoàn Đặc Công của đơn vị nầy – Pnn) . Phần lớn lính nhảy dù chết tại vị trí chiến đấu, trong số có Cố Vấn John Church – Đúng như tinh thần của Chiến Binh Nhảy Dù – Chiến đấu đến người lính cuối cùng!”(5) Nhưng sau thiệt hại ban đầu, Tiểu Đoàn 9 tổ chức lại thế trận, cùng các lực lượng bộ binh và diện địa Tiểu Khu Quảng Trị bẻ gãy mũi tiến công của binh đội cộng sản; các đại đội của TĐ9 khép chặt vòng vây, diệt gọn các lực lượng xâm nhập thuộc Trung Đoàn 812, thây chết nằm chật cánh đồng Chi Khu Mai Lĩnh. Mặt trận Quảng Trị mau chóng kết thúc trong ngày Mồng 4. Không chút nghỉ ngơi, Tiểu Đoàn 9 trực thăng vận liền vào Thành Mang Cá (nơi đặt Bộ Tư Lệnh SĐIBB với Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng), tăng cường Chiến Đoàn 1 thực hiện nhiệm vụ quan trọng: Bảo vệ Thành Mang Cá, tiến ra giải tỏa các cứ điểm trong Thành Nội, để đạt kết thúc quét sạch toàn diện lực lượng cộng sản chiếm đóng thành phố Huế, hiện thực hùng tâm giữ nước của Quân Dân Miền Nam – Cũng để chứng thực cùng lịch sử – Có hay không có cuộc xâm lăng gọi là “Giải phóng Miền Nam” trên vùng đất khổ nạn đau thương nầy. Từ ngày Mồng Một Tết (30 tháng 1/1968) khi hay tin Tiểu Đoàn 9 bị tấn công ở Quảng Trị, Thiếu Tá Lê Quang Trưởng từ Thành Tử Hạ (Cây Số 17) cùng Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn đã vào đến Mang Cá để chứng thật cùng Tướng Ngô Quang Trưởng điều cao quý cảm khích: Những Người Bạn Chiến Đấu luôn có mặt cùng nhau – Tình bạn trong sáng giữa những người lính chiến không chút tỵ hiềm được hình thành từ ngày tuổi trẻ hơn mười năm trước (Dẫu hai người nay cách nhau một khoảng cách về cấp bậc (Chuẩn Tướng-Thiếu Tá), tuy rằng đã cùng chung một khóa sĩ quan, với một đơn vị đầu đời, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù). Thiếu Tá Lưỡng tổ chức những quân nhân tiền trạm của ba tiểu đoàn Dù (những quân nhân chuyên trách truyền tin, tiếp tế, tải thương..) thành những đơn vị chiến đấu – Và chính thành phần quân nhân tác chiến tại chỗ nầy đã giữ vững Mang Cá trong đợt tấn công đầu tiên của Tiểu Đoàn 12 Đặc công cộng sản. Mang Cá đã là mục tiêu điểm hẹn của tất cả mọi mũi tấn công do chính Thủ Trưởng đơn vị E6 (E: Trung đoàn) Nguyễn Trọng Đấu chỉ huy với ý niệm chỉ đạo chiến dịch – Chiếm được Mang Cá 
có nghĩa đánh sập được trung tâm đầu não của phía quân lực cộng hòa. Biết rõ như thế, nên đêm Mồng Một, hai Tiểu Đoàn 2 và 7 được lệnh bôn tập từ Quảng Điền, An Lỗ về Huế bằng phương tiện đôi chân trên quãng đường mười-bảy cây số dày đặc phục kích. Tiểu Đoàn 7 bị chận ngay tại làng Đốc Sơ, Cầu An Hòa, mối nối phía Tây vào khu vực Hoàng Thành Huế, Đại Úy Nguyễn Lô và đại đội của anh, mũi nhọn xung kích của Tiểu Đoàn 7 bị thiệt hại nặng, tiểu đoàn phải phân tán mỏng quanh những mồ mã, nhường mục tiêu lại cho Tiểu Đoàn 2; Đại Úy Nghi, tiểu đoàn phó TĐ2 chịu phận tử thương trong đợt xung phong đầu tiên. Hai tiểu đoàn tiếp nương nhau băng qua hào rộng, vượt Cầu An Hòa, chiếm Cửa Chánh Tây, sân bay Tây Lộc, bao quanh Thành Mang Cá một vòng đai vững chắc, để từ đây dần chiếm lại Đại Nội do đơn vị Hắc Báo/SĐIBB trách nhiệm trấn giữ, nhưng do ít quân số phải rút lui từ đêm trước. Ngày mồng Bốn (2/2/68), được tăng viện Tiểu Đoàn 9 từ Quảng Trị vào, vòng đai nhảy dù dần nới rộng ra, từ Mang Cá qua Hồ Tỉnh Tâm, Cửa Đông Ba, Cửa Thượng Tứ (Chánh Nam), đường ra khu dân cư, phố chính Trần Hưng Đạo. 

Ngày 12/2, sau hơn hai tuần liên tục tác chiến, quân số tham chiến của Chiến Đoàn 1 Dù chỉ còn lại khoảng left align imagemột tiểu đoàn (thiệt hại hơn 1/3; có đại đội bị hoàn toàn bất khiển dụng) và các mục tiêu chiếm đóng xong lại không đủ quân số phòng giữ, nên chiến đoàn được lệnh bàn giao vùng trách nhiệm lại cho đơn vị bạn, Lữ Đoàn A/SĐ/TQLC. Để từ đây, các đơn vị Quân Lực VNCH hiệp cùng binh đoàn TQLC/Mỹ thực hiện nên khung cảnh bi hùng của cuộc chiến giữ nước: Lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được kéo lên trên Kỳ Đài giữa mưa mờ mùa Xuân xứ Huế tang tóc, sáng ngày 24 Tháng 2, 1968.Trở lại Sàigòn, Chiến Đoàn 1 Dù được chỉ định ngay nhiệm vụ bảo vệ vòng đai thủ đô, mặt trận phía tây, đường đi về Tây Ninh, Hậu Nghĩa trong Chiến Dịch Trần Hưng Đạo, tiếp Chiến Dịch Toàn Thắng quét sạch, diệt gọn lực lượng cộng sản bôn tập từ những mật khu miền Đông Nam Bộ đánh chiếm Sàigòn từ đêm Giao Thừa Mậu Thân (29/1/1968). Với biên chế mới nên thành cấp lữ đoàn, Trung Tá Lê Quang Lưỡng tiếp tục giữ chức Lữ Đoàn Trưởng. Thật ra, ông đã có quyết định thăng chức từ ngày 1 tháng 1, 1968 – Ngày nhận nhiệm vụ chỉ huy Chiến Đoàn 1.

32- Toàn Thắng, 1970.
Từ giữa năm 1969 qua 1970, Lữ Đoàn I Dù thống thuộc Sư Đoàn Dù phối hợp với Đệ Nhất Sư Đoàn Không Kỵ Mỹ (1stCAV), Sư Đoàn 25 BB/Mỹ; Sư Đoàn25BB/VNCH trong khuôn khổ các cuộc Hành Quân Toàn Thắng dưới quyền Tư Lệnh Quân Đoàn III Tướng Đỗ Cao Trí, đã quét sạch toàn vùng mật khu tưởng như bất khả xâm phạm thuộc các tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Long, Phước Long (Sông Bé), những vùng đất mang tên “Chiến Khu Đ; Khu Tam Giác Sắt..v.v”, để chuẩn bị sau nầy cho một kế hoạch lớn, quan trọng hơn một chiến dịch quân sự thuần túy. 
Năm 1970, để thực hiện sách lược “..chận đứng cuộc xâm lăng (của Bắc Việt) đối với quốc gia ấy (Miền Nam Việt Nam), cũng để công cuộc Việt Nam Hóa chiến tranh, và kế hoạch rút quân Mỹ được tiếp tục”(6), chính phủ Mỹ chấp thuận kế hoạch phối hợp và yểm trợ quân lực VNCH hành quân vượt biên đánh chiếm 
bản doanh Trung ương cục cộng sản miền Nam, bí danh “R” – Mục tiêu nằm rộng, sâu trên đất Miên song song với hai vùng lãnh thổ Vùng III và IV của miền Nam (bao gồm các Tỉnh Sông Bé, Bình Long, Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Kiến Tường); và những binh trạm cộng sản đối diện những tỉnh Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuộc thuộc Vùng II Tây Nguyên. Ngày 1 tháng 5, đại quân Miền Nam gồm 50,000 người theo ba mũi tấn công vào đất Miên dưới ba kế hoạch hành quân mang Danh Hiệu: Bình Tây (Vùng II); Toàn Thắng (Vùng III); và Cửu Long (Vùng IV). Riêng tại Vùng III chiến thuật, các cuộc Hành Quân Toàn Thắng (Chỉ danh từ 42 – 46) có những mục tiêu quan yếu nằm trong hai vùng đất mệnh danh, “Lưỡi 
Câu” – Đối diện các Tỉnh Phước Bình (Sông Bé); Bình Long; Tây Ninh); và “Mõ Vẹt” – Đối diện với Tỉnh Hậu Nghĩa, Kiến Tường (Vùng VI). Lực Lượng Nhảy Dù huy động toàn bộ ba lữ đoàn chiếm đóng các căn cứ hỏa lực (CCHL) được đặt tên từ A (Anne), B (Barbara).. đến V (Vichy) xen kẻ với các đơn vị Không 
Kỵ Mỹ (CAV) chạy dài từ Tây Ninh sang Sông Bé, để từ đấy dùng làm căn cứ tấn công vào đất Miên song song với lực lượng Không Kỵ Mỹ, có thiết giáp và phi pháo Mỹ yểm trợ. Chỉ riêng cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42, cánh quân phía Bắc gồm Nhảy Dù, SĐ25BB, BĐQ tiến sâu vào đất Miên đến 60 cây số (quân lực Mỹ chỉ được phép vào sâu 30 cây số – Lệnh Tổng Thống Nixon), truy kích Trung Ương Cục cộng sản phải chạy trốn lên vùng Kratié; tịch thu 2000 vũ khí các loại, 308 tấn đạn dược; phía cộng sản bị thiệt hại nặng về nhân mạng với 3, 588 tử thi để lại trận địa (dù phần lớn bộ phận đã được lệnh tránh tác chiến, rút đi không kịp mang theo kho tàng, quân trang dụng). Hành quân Toàn Thắng 43 tiếp theo cũng có kết quả tương tự, gây thiệt hại cho đối phương 3,190 tử thương; và quan trọng hơn hết, toàn bộ khu vực hậu cần gồm căn cứ huấn luyện, bệnh viện giải phẫu đồng bị phá hủy. Quân lực cộng hoà tịch thu hơn hai triệu đạn, 300 xe vận tải của bộ phận chuyển vận.
Tổng kết toàn bộ cuộc hành quân qua Campuchia, chuyên viên quân sự ước tính thiệt hại to lớn của phía cộng sản, với nhân lực bị tổn thất nặng (11,349 chết; 2328 tù binh bị bắt), và quân trang bị, kho tàng bị phá hủy – Số lượng người và vũ khí có khả năng tổ chức, trang bị cho 54 tiểu đoàn trong một năm. Về mặt trận chính trị, chế độ Lonol có điều kiện duy trì vững chắc do tình hình quân sự được cải thiện: Đường Số 4 nối Nam Vang – Hải Cảng Shihanouk được khai thông khi quân lực VNCH chiếm đóng, kiểm soát được vị trí chiến lược Kompong Speu.(7)Nhưng thành quả lớn nhất của cuộc hành quân là số lượng 50,000 người Việt (hoặc Miên gốc Việt) được giải thoát ra khỏi cuộc tàn sát của “Lính Campuchia bao gồm Lính Lonol, lính Shihanouk, lẫn lính Kmer đỏ” nhân dịp sau khi Lonol đảo chính lật đổ chính quyền Shihanouk, cũng là dịp để tàn sát người Việt với oán thù nuôi dưỡng hằng thế kỷ – Nay trút xuống thêm do sự chiếm đóng của phía quân đội cộng sản. Quân và Dân mang căn cước Việt Nam Cộng Hòa hứng chịu toàn phần hậu quả của trận cuồng phong lịch sử hung hãn nầy. 
Màn đầu của chiến dịch “Cứu Dân” được thực hiện do khi Lữ Đoàn 1 điều động đơn vị cơ hữu, Tiểu Đoàn 1 Dù vào hành quân phía bắc Trại Lực Lượng Đặc Biệt Kà-tum (Thuộc Tỉnh Bình Long, sát biên giới Miên-Việt). Tiểu đoàn giải cứu được một thanh niên người Việt sống sót sau cuộc tàn sát ở đồn điền Mimot (Khu đồn điền người Pháp trong lãnh thổ Campuchia). Người nầy cầu xin quân Dù tiếp cứu hàng ngàn người dân đang bị kẹt trong vùng Mimot và sắp sửa lính Miên “cáp-yuồn – Chặt đầu – Cáp: chặt; Yuồn: Việt”. Đại Tá Lưỡng (vinh thăng từ 1/1/1970) khẩn cấp chuyển lời cầu xin đau thương nầy đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đang họp cùng Tướng Đỗ Cao Trí. Tướng Trí khẩn lệnh Đại Tá Lưỡng xử dụng trực thăng cơ hữu của Việt Nam trong đêm tối đỗ ngay Tiểu Đoàn 2 Dù (đơn vị đầu tiên của Đại Tá Lưỡng) xuống đồn điền Mimot. Lính Miên không phải là địch thủ của lính Dù nên toàn bộ bị bắt sống và hàng ngàn đồng bào sau đó được di chuyển liền về Thiện Ngôn bằng GMC của quân đội.(8) Cuộc hành quân giải cứu có mặt đủ tất cả những giới chức cao cấp nhất của mặt trận: Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn III, Thiếu Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhảy Dù; Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng, và nhiều sĩ quan tham mưu cao cấp của Quân Đoàn III cùng Sư Đoàn Dù.. Bởi vị tư lệnh cao nhất của chiến trường, Tướng Quân Đỗ Cao Trí đã cùng hai đại đội đầu tiên nhảy xuống khu đồn điền Mimot ngay trong đêm. Có một điều cần phải nói rõ thêm: Bản doanh bộ chỉ huy cộng sản của Tướng Trần Văn Trà không xa khu vực Mimot, nhưng “bộ đội giải phóng” án binh bất động để mặc lính Campuchia tàn sát “đồng bào người Việt của họ” vì lý do “bảo mật vị trí, công tác”, cũng như không muốn mất lòng “bạn – Bạn nào hở trời (!?)” đang cho họ mượn đất lập căn cứ theo tinh thần “anh em quốc tế vô sản (!)”. Một lý do nữa có thể dùng giải thích đối với hành vi bất nhân, vô đạo nầy là: Những người Việt (hầu hết là đàn bà, con trẻ) để mặc bị giết do đã bị phía cộng sản (Cộng sản Việt, bất kể Nam hay Bắc) quy kết, xếp loại: “Ngụy”-Ngụy Dân thuộc Ngụy Quân; Ngụy Quyền”. Người cộng sản (Việt cộng, nếu muốn gọi đúng, đủ danh từ, bản chất) vốn nhiều lần im lặng.. Im lặng (và vỗ tay reo mừng) khi quân Pháp giết “Người cách mạng quốc gia” giai đoạn 1939-1945. Im lặng lần Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa (tháng 1/1974); im lặng như lớp lớp sóng biển đông chìm lấp vạn thây người ba nước Đông Dương bị hải tặc Thái, Mã giết hại những ngày họ liều chết vượt biên sau 1975, để sau nầy những người sống sót trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, đơn vị đồng bào thân thương, một vấn đề “bức xúc” của những người cầm quyền ở Hà Nội. Màn hí kịch bi thảm cực độ nầy hiện tại đang diễn ra với cách dàn dựng trân tráo tàn nhẫn nhất được tiếp tay bởi những nhân sự tên gọi Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ, Nhất Hạnh.. Và nhiều kẻ nữa. Sự thật đơn giản trên hình như đã, đang được (thật ra là bị) nhiều người trong chúng ta quên khuất. Quên theo nghĩa của một tiến triển hợp lý, tự nhiên.

33-Hạ Lào, 1971. 
Hành Quân Lam Sơn 719 được khai diễn như một thử thách do toan tính từ những yêu cầu chính trị – Những đòi hỏi chính trị của người Mỹ nơi Toà Bạch Ốc, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, và những người Việt cầm quyền tại Dinh Độc Lập, Sàigòn. Đối lại, Bộ Tổng Quân Ủy ở Hà Nội không phải đợi đến tháng Hai, năm 1971 (khi cuộc hành quân khai diễn) mà từ 1959, đã quyết định thành lập Đoàn 559 để thiết lập, kiến tạo đường giây tiếp vận Bắc-Nam chạy dọc theo hai triền Tây-Đông Trường Sơn. Đến năm 1971, công tác đã hoàn thành một đường giây hậu cần chiến lược, triển khai lực lượng và cơ sở vật chất ở nam sông Gianh -Quảng Bình để tạo chân hàng chi viện cho các chiến trường miền Nam, và bảo đảm chiến dịch của chiến trường Trị-Thiên kế cận miền Bắc (9). Đường giây nầy trước tiên (1959) do Thượng Tá Võ Bẩm trách nhiệm (chỉ xử dụng chủ yếu đường Tây Trường Sơn với nhân lực, cơ giới còn là thứ yếu); đến năm 1965, đường phía Đông được hoạch định để nên thành một hệ thống xa lộ (với ống dẫn dầu vào tận các ngã rẽ xuống đồng bằng Trung-Nam Bộ, tổng cọng chiều dài 20,000 cây số) do những chuyên viên xây dựng cao cấp như Phan Trọng Tuệ, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông kiêm Tư lệnh lực lượng Đường 559; Tuệ được Hoàng Văn Thái, Tổng cục phó Tổng Cục Hậu Cần (phân biệt với Tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Cục Chính Trị) thay thế vào năm 1966. Tất cả đặt dưới quyền Đồng Sĩ Nguyên, Tư Lệnh Bộ Đội Trường Sơn từ 1966 đến 1975. (9Bis) Bởi không biết rõ, đủ những điều trên (hoặc cố tình như không biết), nên những người soạn thảo kế hoạch hành quân Việt-Mỹ ước tính trong vùng Hạ Lào, tại vị trí tiếp vận Tchépone, dọc Đường Số 9 chỉ có khoảng từ 11,000 đến 12, 000 lính Bắc Việt, chủ yếu là thành phần phụ trách tiếp vận, bảo vệ đường giây, với số vũ khí nặng có chừng 1400 đến 2000 đơn vị. Vì ước tính như thế, nên những giới chức Mỹ-Việt chỉ đạo cuộc hành quân nghĩ rằng sẽ chiếm phần ưu thắng khi huy động hết lực lượng trừ bị quốc gia gồm hai Sư Đoàn Dù và TQLC; xử dụng Sư Đoàn I Bộ Binh, một Liên Đoàn Biệt Động Quân/Quân Khu I làm thành phần xung kích có pháo binh diện địa của quân khu, và cơ hữu của các đơn vị yểm trợ; Lữ Đoàn I Thiết Kỵ tăng cường, phối hợp hành quân. Tổng cộng đạo quân gồm từ 15,000 đến 16,000 người. Về phía Mỹ, phi cơ B52 của không lực; chiến đấu cơ của hải quân; trực thăng của bộ binh đảm trách phần yểm trợ bao vùng, không yểm chiến thuật, và không vận, dẫu bị hạn chế bởi Tu Chính Án Cooper – Church cấm xử dụng không quân Mỹ trên đất Lào. Sư Đoàn 101 Nhảy Dù và Lữ Đoàn 1/Sư Đoàn 5 Bộ Binh Cơ Giới Mỹ đảm trách phần an ninh bên trong lãnh thổ Việt Nam, phần tiếp giáp với khu vực hành quân của Lam Sơn 719; Pháo Đội 108 Mỹ với pháo tầm xa 175 ly đóng ở Khe Sanh yểm trợ tăng cường cho pháo binh của đơn vị Việt Nam (10) Phần viết tiếp theo sẽ giới hạn diễn tiến cuộc hành quân qua hoạt động của Sư Đoàn Nhẩy Dù liên quan đến Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn I Dù, Đại Tá Lê Quang Lưỡng.

Điểm tiếp vận Tchépone thuộc vùng Binh Trạm 604 và 611 (Lưu ý những phiên hiệu để biết, chúng được xây dựng từ những năm 1960, 1961), nằm trên Đường Số 9 (nối Quảng Trị và Savannakhet của Hạ Lào) cách xa biên giới Lào-Việt khoảng 20 miles (30 cây số). Với ước tính như phần trên vừa trình bày, giới chức quân sự Mỹ-Việt có suy diễn: “Giá như phía cộng sản có tăng cường thêm quân số, lực lượng trừ bị cho chiến trường nầy cũng không thể quá hơn một sư đoàn (!)” Ngày 8 tháng Hai, 1971, chiến dịch bắt đầu với Lữ Đoàn I Dù gồm hai tiểu đoàn cơ hữu (1, 8) tùng thiết chiến xa của Lữ Đoàn I Thiết Kỵ vượt qua Căn Cứ Hỏa Lực Bravo của Tiểu Đoàn 5 (cứ điểm bảo vệ hậu tập) tiến đến Bản Đông, vị trí nằm giữa đoạn đường tới Tchépone. Ngày 9, Tiểu Đoàn 9 trực thăng vận xuống chiếm đóng Bản Đông, làm đầu cầu cho cánh quân bộ của Lữ Đoàn 1 và Lữ Đoàn Thiết Kỵ. Mưa lớn làm con đường biến thành một bãi lầy, dính chắc chiến xa và bộ binh, thêm các thành phần thuộc Trung Đoàn 64/SĐ320CS ngăn chận, phá quấy liên tục, nên đoàn quân chỉ có thể di chuyển được một đoạn ngắn tối thiểu trong hai ngày 9, 10.. Mãi đến ngày 11, Tiểu Đoàn 8 của Trung Tá Văn Bá Ninh, thành phần tiền phong của lữ đoàn mới tiếp xúc được với Tiểu Đoàn 9 ở Bản Đông, thiết lập nên Căn Cứ Hỏa Lực A Lưới, cũng là Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 – Thành phần xa nhất của mũi tiến quân trên Đường Số 9. Tiểu Đoàn 1 khám phá một kho quân trang, quân dụng; Tiểu Đoàn 8 tìm thấy 2000 chiếc xe đạp của Trung cộng còn mới, và 1000 chiếc cũ đã xử dụng, kho nhiên liệu để chạy động cơ máy nổ, quân xa; Tiểu Đoàn 9 tung quân lục soát quanh căn cứ khám phá một trung tâm huấn luyện rất quy mô ngụy trang dấu kỹ trong một khu rừng rậm.. Những thu hoạch chiếm cứ của Lữ Đoàn I Dù tuy quan trọng nhưng không phải Mục Tiêu Lớn của chiến dịch; khi chiếc sườn thiết lập trên Đường 9 đã vững, bộ 
tư lệnh hành quân tiếp khai triển lực lượng bảo vệ hai mặt bắc, nam của con lộ huyết mạch. Mặt Bắc, đổ bộ hai Tiểu Đoàn 21 và 39 Biệt Động Quân thiết lập hai Căn Cứ Hỏa Lực Ranger South và Ranger North (Các căn cứ thường có ám số, hoặc ám danh với danh tự Mỹ để dễ liên lạc trên tầng số không lục với phi cơ, pháo binh Mỹ yểm trợ) trong hai ngày 8 và 11/2; trực thăng vận hai Tiểu Đoàn 2 và 3 Dù xuống tại hai cao điểm đặt tên Căn Cứ 30, Căn Cứ 31; Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù đóng tại Căn Cứ Hỏa Lực 31 (Cao độ 456 thước) với Tiểu Đoàn 3 của Trung Tá Lê Văn Phát. Về mặt nam Đường 9, các tiểu đoàn của Trung Đoàn 3/SĐIBB trực thăng vận chiếm đóng các căn cứ có tên Hotel, Blue, Don, Delta và Delta1. Sư Đoàn TQLC đóng tại Khe Sanh và những cao độ như đỉnh Cô Rốc (cao 800 thước) ở phía Nam làm thành phần trừ bị cuộc hành quân. Tính đến ngày 11/2 tình hình được đánh giá là khả quan với hai cạnh sườn Đường Số 9 được bảo vệ khá kỹ, thời tiết tương đối tốt, Lữ Đoàn 1 của Đại Tá Lê Quang Lưỡng cùng lực lượng thiết kỵ của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật sẵn sàng vượt tuyến xuất phát A Lưới để tiến chiếm Tchépone như dự tính. Nhưng một điều thậm vô lý đã xẩy đến mà hôm nay hơn ba-mươi năm sau vẫn không được giải thích: Chiến trận bỗng nhiên bị chận đứng lại – Suốt bốn ngày từ 11 đến 14 không một lệnh nào đến cùng với Sư Đoàn Dù, cụ thể đối với Lữ Đoàn I của Đại Tá Lê Quang Lưỡng với Thiết Kỵ của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật , thành phần xung kích đang sẵn sàng tiến chiếm Tchépone bằng ngã đường bộ. 
Sau nầy (Sau 30/4/1975), Tướng Hoàng Xuân Lãm có giải thích (về việc ngưng tiến quân trong những ngày 11-14/2/71) như sau: “Vào ngày thứ hai của cuộc hành quân (9/2), chiếc trực thăng chở những sĩ quan cao cấp của quân đoàn gồm Trưởng Phòng III, Trưởng Phòng IV bị bắn rơi có tấm bản đồ Hành Quân Lam Sơn 719.. Nên Tướng Lãm án binh sau tuần lễ đầu là để hoàn tất kế hoạch điều động cho phù hợp với tình hình, vì nhờ tấm bản đồ của Trưởng Phòng III/Quân Đoàn (Phòng Hành Quân), đối phương đã biết được ý định điều quân, lực lượng tham chiến, cũng như kế hoạch lui binh của ta.”(11) Việc đình hoãn cuộc tấn công thì được Tướng Davidson, Trưởng Phòng Quân Báo (Phòng II), Bộ Tư Lệnh MACV tìm hiểu qua một lý do khác: “Trong cuộc họp ngày 12/2 với Tướng Lãm và các tư lệnh chiến trường, Thiệu nói với Lãm: “Cẩn thận khi tiến quân về hướng Tây, và hủy bỏ cuộc hành quân nếu như quân đội cộng hòa bị tổn thất đến số 3000 thương vong..”(12). Không biết ai đã là người đã thực sự ra lệnh đình hoãn cuộc tiến quân, chỉ biết quân đội cộng hòa đã mất đi một số ngày thuận lợi vô cùng quý giá. Và trong những ngày quyết định kia, phía cộng sản, đã từ thái độ phân vân ở những ngày đầu tháng Giêng.. “Khi chúng đổ quân vào Đông Hà, trong anh em cán bộ chúng tôi vẫn còn những câu hỏi thắt mắc: “Liệu chúng nó ra Miền Bắc hay sang Lào?”(13) đến cách thức quyết định có những hành động cụ thể ..”Cũng trong ngày 9 (9/2), Trung Đoàn 88 vừa đặt ba-lô xuống là chiến đấu ngay” (14) Phía Mỹ-Việt, hẳn cũng có người thấy ra điều vô lý nguy hại kia, nên ngày 14/2, Tướng Abrams, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ tại VN đích thân đến gặp Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng để thúc dục đến mức như van nài phải thực hiện kế hoạch tiến chiếm Tchepone như dự liệu (15). Ngày 14 qua đi không động tỉnh. Quá nôn nóng bởi tình hình tắc nghẻn, người lính thuần thành kinh nghiệm Abrams bay ra Đông Hà với Tướng Viên, và Tướng Sutherland, Tư Lệnh Quân Đoàn XXIV (Lực lượng Mỹ ở Vùng I) trực tiếp gặp Tướng Lãm để thúc dục việc khai triển Sư Đoàn I BB ở phía nam Đường 9, để giữ an toàn cho Thiết Kỵ-Nhảy Dù (trên con đường) tiến chiếm Tchépone. (15Bis) Nhưng tất cả thúc dục đã là vô ích. Năm ngày mất đi là thời gian đủ để ba Sư Đoàn 304, 308, 320 khai triển, tổ chức toàn hảo thế trận với hai trung đoàn chiến xa hạng nặng có pháo tầm xa 130 ly, 122 ly yểm trợ.. Cơn bão lửa sẵn sàng chụp xuống cùng lúc với quyết định cuối cùng của Tổng Thống Thiệu nói cùng Tướng Lãm trong ngày 19/2: “Lưu ý nguy hiểm đối với sư đoàn 308 với chiến xa T34, T54.. Hãy cẩn thận, từ từ cho tăng cường lục soát về hướng Tây-Nam” (16)

Chúng ta không được phép khe khắt, chủ quan, thiên lệch khi tìm hiểu, tra cứu đối với người và việc thuộc về lịch sử; nhưng phải có bổn phận khách quan nhận ra những khuyết điểm của quá khứ để tránh lỗi lầm cho tương lai – Mà đôi khi (rất nhiều khi) tương lai là một sự đã rồi không khả năng, cơ hội phục hồi (như trường hợp hôm nay với quân lực và chế độ Việt Nam Cộng Hòa). Sau chiến trận Hạ Lào, riêng về mặt quân sự, các sư đoàn bộ binh, nhảy dù, TQLC; lữ đoàn thiết kỵ; chiến đoàn BĐQ; các đơn vị pháo binh, công binh.. đã gánh chịu phần tổn thất (vũ khí, phương tiện, quân số, khả năng tác chiến..) vô cùng trầm trọng mà cá nhân người lãnh đạo Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu qua chức vụ Tổng Tư Lệnh Quân Đội phải hoàn toàn trách nhiệm chứ không ai khác. Những tính toán chính trị và sai lầm chiến lược, chiến thuật về chiến dịch Hạ Lào đã đưa đến hậu quả tất nhiên nơi chiến trường với giá máu của vạn quân binh tham chiến. Căn cứ Ranger North và Ranger South của Biệt Động Quân bị tràn ngập ngày 24/2 bởi lực lượng Trung Đoàn 102/SĐ308; chiều ngày 25/2, Căn Cứ 31 của Lữ Đoàn 3 Dù thất thủ; 
với quân số thực tế chỉ gồm hai Đại Đội 33 và 34 (-), Pháo Đội C/TĐ3PB/ND, và thành phần chỉ huy của lữ đoàn phòng thủ nên không thể nào đương cự đối với những đợt tấn công cấp trung đoàn có chiến xa yểm trợ, sau khi đã bị tê liệt toàn diện bởi pháo tầm xa cường tập hủy diệt. Trên chiến trường, nơi Đồi 31 đã xẩy ra thảm kịch.. “Ba phần tư ngọn đồi (Đồi 31 của Lữ Đoàn 3 Dù; Tiểu Đoàn 3 Dù-Pnn) đã nằm trong tay địch. Chúng tôi chỉ còn giữ được một phần bộ chỉ huy tiểu đoàn, lữ đoàn, nhưng không còn ai ở trong những vị trí đó.. Sau khi tái phối trí lực lượng, chúng tôi được lệnh trực tiếp của tiểu đoàn tổ chức một cuộc phản kích toàn bộ trên trận tuyến, cố gắng chiếm lại những vị trí đã mất với hy vọng không quân (Mỹ) sẽ yểm trợ hữu hiệu.. Đợt phản kích không đủ sức mạnh để đạt hiệu quả mong muốn, và từ dưới chân đồi tràn lên một đợt sóng biển người và xe tăng..”(18) Thất bại của các đơn vị (nhảy dù, biệt động quân) trong việc bảo vệ các căn cứ có những nguyên nhân cụ thể, và ảnh hưởng tương quan.. Hoặc vì trường hợp một cá nhân: “Vào lúc nầy (15 giờ 20 chiều ngày 25 tháng 2, 1971-Pnn), một phản lực cơ F4 của Hoa Kỳ bị bắn cháy, Toán Điều Không Tiền Tuyến (FAC) đã phản ứng bằng cách ngưng yểm trợ Đồi 31 để ưu tiên dồn nỗ lực vào việc cấp cứu phi công” (19); Hoặc đấy là tình hình chung: “Đêm chót (25/2/1971), Bắc Việt pháo kích liên tục cho đến sáng, (quân binh Đồi 31) không ngóc lên được. Không quân Hoa Kỳ lại yểm trợ không hữu hiệu.. Khi chiến xa và bộ binh của Lữ Đoàn 1 Đặc Nhiệm đến nơi thì Đồi 31 đã mất” (19Bis). Do không biết tình hình đích xác ở Đồi 31, Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng cố gắng lần cuối, dùng hai đại đội của Tiểu Đoàn 8 do Thiếu Tá Phú, Tiểu đoàn phó chỉ huy cùng một lực lượng thiết kỵ gồm năm chiến xa M41 và một số thiết vận xa MPC của Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh cố đánh giải vây và tiếp viện Căn Cứ 31. Nhưng khi lực lượng tiếp cứu tới nơi thì phần lớn Đồi 31 đã do lực lượng cộng sản kiểm soát. Cuộc hành quân giải vây biến thành cuộc hành quân tái chiếm, và trận xa chiến giữa hai bên diễn ra qua ba đợt trong những ngày từ 25 đến 28 gây nên tổn thất lớn cho đôi bên cả chiến xa lẫn nhân mạng. 
Tiêu diệt xong Căn Cứ 31, lực lượng cộng sản mặt Bắc Đường 9 tập trung vào Căn Cứ Đồi 30 do Tiểu Đoàn 2 Dù trấn giữ. Với can đảm, khôn ngoan, và bình tĩnh tuyệt vời, viên sĩ quan Ban 3 Tiểu Đoàn, Đại Úy Trần Công Hạnh đã điều động phi cơ AC130 thả trái sáng, và hướng dẫn phi cơ chiến thuật Mỹ (Hạm Đội 7 bay vào) yểm trợ tiếp cận để phần còn lại của tiểu đoàn rút bỏ căn cứ vào lúc 9 giờ sáng ngày 3/3/1971 sau khi phá hủy những khẩu pháo binh nặng của lực lượng pháo Quân Đoàn I, và cơ hữu của pháo binh Dù . 
Khi dãy căn cứ mặt Bắc bị nhổ bỏ, Lữ Đoàn I Dù đối diện cùng lần với ba sư đoàn Bắc Việt, cũng do đối phương đã biết rõ kế hoạch tiến chiếm Tchepone bằng đường bộ bị hủy bỏ, và lữ đoàn cùng các thành phần cơ hữu chỉ còn đợi lệnh rút lui theo một kế hoạch đã hoàn toàn bạch hóa bởi sự kiện bản đồ hành quân đã bị mất từ ngày 9 tháng Hai. “Lê Lợi 612” siết cau vầng trán.. Những thành phần sống sót của hai Tiểu Đoàn 2, và 3 đã mất hết khả năng chiến đấu, đạn không còn,  thương binh không tải thương được, người chết không thể lấy về – Những người chết hằng quen biết, những người bị địch bắt giữ quá thân thiết như Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Phan, Lữ Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Thọ.. Và bao nhiêu quân binh nhớ mặt thân yêu của hai Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 5, những đơn vị đầu đời thân thiết của ông; những tiểu đoàn thuộc quyền cơ hữu: 1, 8, 9.. Beo Gấm của Chiến Trường dần nhận rõ ra sự bất lực của chính mình và đơn vị – Tất cả đã rơi vào chiếc bẫy sập xuống. 
Sau khi Tiểu Đoàn 4 và 5 do hai viên sĩ quan lừng lẫy của Sư Đoàn I Bộ Binh, Trung Tá Lê Huấn và Thiếu Tá Trần Ngọc Quế chỉ huy “đặt chân” xuống Tchépone, chiến dịch Hành Quân Lam Sơn 719 được đánh giá coi như đạt “mục tiêu bề mặt”, và lệnh triệt thoái được khởi đầu vào ngày 9 tháng 3. Bấy giờ, Lữ Đoàn 1 chỉ còn trông cậy vào sức của riêng mình để tồn tại và rút lui khỏi vùng chiến trận mà đến lúc nầy quân số địch đã lên đến 40,000 người – Gấp bốn lần số lượng ước tính ban đầu. Nếu ngày khởi cuộc, Căn Cứ A Lưới là đầu cầu xa nhất của mũi tấn công, thì nay là cứ điểm rút lui sau cùng, khi các căn cứ Lolo và Sophia của bộ binh đã di tản. Toàn bộ gánh nặng cuộc hành quân triệt thoái của cánh quân bộ binh trên Đường Số 9 đè nặng lên trách nhiệm cá nhân Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 hằng ngày Lê Lợi 612 phải xử dụng trực thăng để thống nhất liên lạc giữa các đơn vị bị phân tán sau những thiệt hại lớn; các chỉ huy trưởng đơn vị hoặc chết, hoặc bị thương như trường hợp toàn ban chỉ huy của TĐ1 và TĐ7 Dù đồng bị nạn. Ngày di tản khỏi A Lưới, mọi người đồng có ý kiến Đại Tá Lưỡng nên dùng đường bộ để được an toàn hơn, nhưng do ý muốn ở lại với những đơn vị thuộc quyền, nên ông là người cuối cùng lên trực thăng. Chiếc tàu bị bắn rơi sau năm phút cất cánh, Đại Úy Hồng Thu, người thân tín (theo ông từ ngày ở Tiểu Đoàn 5) nhảy đè lên che thân Đại Tá Lưỡng. Chiếc trực thăng Mỹ hộ tống hạ xuống, Thu đẩy ông lên gấp.. (Phải sống với người như thế nào “Lê Lợi 612” mới có người đàn em sẵn sàng liều thân như thế). Rừng núi Hạ Lào dưới thân máy bay mờ khói đạn. Mắt người lính kiên cường thoáng mờ màn nước.. “Đích Thân Lê Lợi” hẳn không khóc cho lần sống sót của bản thân. Ông khóc cho bao người chết không về. Những người sống cùng ông từ rất lâu.

34-An Lộc, 1972. 
Bỗng chốc thị trấn nhỏ về cực đông-nam miền Nam, phần cuối con Đường 13 trở thành địa danh vang dội toàn thế giới… Guernica, Arden, Berlin của Thế Chiến lần thứ Hai không còn ý nghĩa khi so với thị trấn bề dài 1800 thước và bề ngang từ cửa Phú Lổ đến hàng rào phòng thủ tiểu khu đo đúng 1000 thước. Trên diện tích bé nhỏ này, lại nhỏ hơn nữa của những ngày “tử thủ”, khi thành phố “co” lại với khoảng 900 thước bề dài còn lại – Một ô vuông cây số hứng chịu gần 60 ngàn quả đạn, đạn đại bác bắn tập trung từ mười vị trí trở lên trong 100 ngày vây khốn. 
Trong qui ước truyền tin quân đội, chữ A được đánh vần là “Alpha” hay “Anh Dũng”. An Lộc cũng bắt đầu với chữ A, thế nên chúng tôi gọi “An Lộc là Anh Dũng” – Tỉnh từ này đã được dùng quá nhiều, đến độ nhàm chán, nhưng ngoài nó ra không còn một danh từ nào xác thực và đúùng đắn hơn. Phải, An Lộc là Anh  Dũng. Chiến đấu ở An Lộc- Sống ở An Lộc- Chết ở An Lộc là Anh Dũng. Phẩm tính của người và sự kiện nơi An Lộc là tỉnh từ giản dị đầy đủ nầy.

Đường 13 chạy từ Ngã Ba Chơn Thành đến An Lộc đo được 30 cây số, tiếp tục về hướng Bắc thêm 18 cây số nữa là Lộc Ninh, bên kia biên giới là Snoul, qua Snoul con đường ngã theo hướng Tây-Bắc để tới Kratié, nằm cạnh bờ Cửu Long. Nép bên bờ trái con sông, đường chạy tiếp về phía bắc để gặp Stungsteng, vị trí chiến thuật quan trọng của đường giây ông Hồ từ Bắc vào. Khởi đầu cuộc chiến “Đông Dương lần thứ Hai (1960)”, những công thần đầu tiên của Trung ương Cục Miền Nam đã lần mò, tìm kiếm, ráp nối lại con đường.. Bắt đầu từ vùng suối Đá, suối Chà Là, suối Ma.. Bình Long, Phước Long, băng qua biên giới, đến những “mật khu” đã vang danh theo chiều rộng thế giới: Lưỡi Câu, Mõ Vẹt. Trong cuộc chiến năm 1970, đại quân Miền Nam từ Bình Long, Tây Ninh, đồng loạt xua quân qua biên giới, quét sạch, diệt gọn các nơi chốn nầy (Đã trình bày ở phần trên về kỳ tích của nhiều đơn vị có sự góp công của Lữ Đoàn I Dù). Nay, hai năm sau, những ngày đầu 1972, một lực lượng cộng khác, thứ cộng nguyên gốc, theo một kế hoạch được bảo mật tinh vi, chuẩn bị yểm trợ cho mục tiêu chính trị (Hình thành ở Hòa Hội Paris được khai mạc từ 1968) từ miền Bắc xuôi theo Đường 13 vượt qua Snoul cùng ào vào Lộc Ninh với ba sư đoàn chính qui thượng thặng, sau khi được giàn đại pháo 130ly đã dọn sẵn đường. Sau Lộc Ninh là An Lộc. Và thị trấn nhỏ bé của miền cực đông-nam Nam bộ, bắt đầu co vào trong một thế gọi là “tử thủ”. Địa ngục có thật bắt đầu từ ngày đầu tháng 4-72 ở đây. Nơi An Lộc.Những đơn vị, người lính kiệt liệt của An Lộc đã được nói tới nhiều nhưng chắc không đầy đủ, vì An Lộc không những chỉ có Tướng Lê Văn Hưng với các Trung Đoàn 8, 9, 48, 52/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Đại Tá Nguyễn Văn Huấn với Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù; Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, và Đại Tá Trần Văn Nhật với thành phần cơ hữu của Tiểu Khu Bình Long.. Còn có Lữ Đoàn I Nhẩy Dù với Đại Tá Lê Quang Lưỡng, đơn vị tham chiến từ ngày 7-4, “bắt tay” An Lộc lần một vào ngày 17-4; và lần thứ hai, sau trận đánh trên tất cả các trận đánh, Tiểu Đoàn 6 Dù “clear” hai cây số còn lại vào đến Xã Thanh Bình (khu đồn điền Xa Cam) trong “bốn mươi-lăm phút chiến trận”. An Lộc được “bắt tay” lần thứ hai lúc 17g45 Ngày 8 Tháng 6, 1972.

Đến Lai Khê ngày 5 tháng 4, 1972, Lữ Đoàn 1 Dù nhập cuộc ngay ngày sau. Đại Tá Lê Quang Lưỡng nhìn con đường sáu-mươi cây số trước mặt với những hiểm nghèo cao nhất đang chờ đợi. Lê Lợi di chân lên mặt đường như thể đo độ cứng của con đường, sự chịu đựng của mặt nhựa, nhưng thật ra ông đang ước tính bao nhiêu mìn bẩy, ổ phục kích nơi những cây số phía Bắc.. Ở Bầu Bàng, Bầu Lòng, Chơn Thành, Suối Tàu Ô. Ông nói cùng Ngọc Long (Danh hiệu truyền tin của Trung Tá Ngọc, Lữ Đoàn Phó) và Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền, Trưởng Ban Hành Quân) : Con đường dài quá, tụi nó có đủ yếu tố thuận lợi.. Địa thế, quân số, hỏa lực để chơi mình bất cứ lúc nào, ở đâu, nếu chúng muốn. Mình có ba tiểu đoàn, nghe thì nhiều, thực tế không bao nhiêu, mình lại phải phân tán.. Nhưng nhiệm vụ phải thi hành khẩn cấp, mình chỉ còn có được con đường khốn nầy – Vậy mình phải đi lên nó.. Đi theo kiểu chân chim: “Thằng 8” (Tiểu Đoàn 8) đi trước, đóng quân lại; “Thằng 5” theo đường cũ leo cao hơn.. “Thằng 6” đi sau hết. Pháo sẽ theo thằng 5 ở bước đầu; thằng 8 ở bước sau. Giai đoạn I, mục tiêu 1 là Bầu Bàng; mục tiêu 2 là Chơn Thành. Đến Chơn Thành, lập thêm đầu cầu phía Bắc mình sẽ qua giai đoạn II. Các tiểu đoàn trưởng 5, 6, 8, cùng gật đầu đồng ý, vì họ cũng không thấy có biện pháp tốt hơn kế hoạch “Bước chân chim” với ý chí “Cố Gắng” như khẩu hiệu của binh chủng. Ngày 7 tháng 4, Tiểu Đoàn 8 vượt tuyến xuất phát, lấy con đường làm chuẩn, mở rộng đội hình ra hai bên, đến hoành độ 48 thì ngừng lại. Tiểu Đoàn 5 vượt qua mặt TĐ8, bung quân tối đa để lục soát và tránh phục kích. Mấy trăm con người chìm hẳn vào vũng xanh đậm của rừng dày đan lá. Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Chí Hiếu kẹp sát ống liên hợp vào mang tai, linh cảm nguy biến hẳn sẽ tới.. Súng nổ, thoạt đầu chỉ có hướng trước mặt, đoàn quân dừng lại, lập tức hướng cánh trái súng dồn dập đổ xuống: Tiểu đoàn cộng quân dựa thế vào giải mô đất của đường rầy xe lửa cũ (Lộ trình Sàigòn-Lộc Ninh, đã bị bỏ phế từ đầu thập niên 60) để tấn công chia cắt đội hình nhảy dù. Chỉ còn một phương cách – Phản tấn công vào thế trận đối phương. Trận chiến kéo dài nửa ngày, cuối cùng Bắc quân rút lui về hướng tây; thương binh nằm chật vùng rừng, ngỗn ngang trên đất. Tiểu Đoàn Trưởng Hiếu nhìn vào bản đồ: Bàu Hót, toạ độ 78051.. Còn bao nhiêu cái bàu nữa mới tới được An Lộc? Chiến trường mới qua được một ngày.
Từng cây số đường được nhích lên khó khăn, gần đến Chơn Thành độ căng cứng chiến trường càng hiện rõ. Lê Lợi đã nghe ra “mùi” địch – Mùi của pháo, cối mà chắc chắn sẽ mãnh liệt không kém như kỳ ở Hạ Lào – Chỉ mới đây. Năm ngoái. Đại Tá Lưỡng cau cau chiếc trán. Quyền nầy, cố gắng xin mấy trực thăng, ngày mai mình “thẩy” Thằng 6 lên trên Chơn Thành, xong cho lục soát về ngược lại. Đâu ai bắt buộc mình phải đi từ dưới nầy đi lên để rơi vô phục kích của tụi nó?! Bùi Quyền (Sĩ quan thủ khoa Khóa 16 Đà Lạt), Thiếu Tá Trưởng Ban 3 (Ban Hành Quân) nhìn người chỉ huy kính phục.. Anh nghĩ thầm: Lê Lợi hay thật, biết cách chuyển đổi thế trận để đối thủ không thể lường được.Ngày 9, có trực thăng, Tiểu Đoàn 6 bất thần nhẩy lên phía Bắc Chơn Thành, xong quay ngược lại để đón Tiểu Đoàn 5 từ Bầu Bàng vọt lên. Đúng hai giờ chiều, hai tiểu đoàn “bắt tay” nhau cái rụp ở Chơn Thành. Lê Lợi gật gù tự đánh giá: Tụi nó kông biết mình làm trò gì với cú nhẩy của Thằng 6.. Đi lên hay đi xuống? Thêm một ngày tương đối bình yên đi qua. Đại Tá Lưỡng cởi đôi giày. Toàn ban tham mưu lữ đoàn bắt chước. Mỗi chiều được cởi giày là một hạnh phúc! 
Thêm hai ngày đẹp đẽ đi qua, lữ đoàn đi được ba-mươi cây số về phiá bắc. Đối với một địa thế bằng phẵng, tốc độ tiến quân hiện tại kể là quá chậm, nhưng Lê Lợi không muốn đơn vị tăng phái, Thiết Đoàn Kỵ Binh 1/5 của Đại Tá Đức mở vào quá sâu, dễ bị lún lầy, và bộ binh nhẩy dù không bảo vệ cạnh sườn được. Ngày 12, lại theo chiến thuật “bước chân chim”: TĐ8, pháo binh Dù, và thiết kỵ nhảy bước lớn từ cực Nam (của đoàn quân) qua mặt Chơn Thành, đến ngang TĐ5 bỏ pháo binh lại, tiếp tục “mu” lên hướng Bắc. Lê Lợi nói lời hy vọng: Nếu “Thằng 8” tới được Suối Tàu Ô, thì hy vọng tuần sau mình “đụng” nó- Nó, tức là An Lộc với quảng cách còn lại khoảng mười cây số. 
Nhưng hy vọng của ông vỡ tung như bọt nước: Tiểu Đoàn 8 vừa chạm tới “Hoành độ 72”, cách con suối khoảng hơn một cây số thì đụng. Quân cộng sản không cần ngụy trang, chựïc sẵn ở vị trí phục kích. Lê Lợi rung tay, ép sát ống liên hợp máy truyền tin vào tai nghe các đơn vị báo cáo dồn dập: Tụi nó gom tôi và con cái ông Đức (Thiết Đoàn Trưởng 1/5 Chiến Xa) thành vòng tròn.. Pháo dữ quá, đề-lô tụi nó theo sát đây.. Chúng bắn không phí một quả! Đào Thiện Tuyển, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 8 nói nhanh giữa tiếng đạn. Sau TĐ8 là TĐ5, Nguyễn Chí Hiếu bảo cáo đỉnh đạt, điềm tỉnh: Trình Lê Lợi, tôi chưa có vị trí, pháo binh cũng thế. Chúng pháo từ xa, cối gần hơn, và B40, 75(Ly) Không Giật chỉ cách tôi khoảng 50 thước. Dứt. 
Ngày 13 tháng 4, tình hình bế tắc nghẹt thở: Tiểu Đoàn 8 bị vây kín; 5 bị cô lập; 3 Pháo Dù chưa thiết lập xong các vị trí pháo; bộ chỉ huy lữ đoàn và TĐ6 kẹt cứng trong vòng đai chi khu Quận Chơn Thành. Như nước tràn chiếc ly rạn nức, Đại Tá Trương Hữu Đức, Thiết Đoàn Trưởng 1/5 tăng phái hành quân với Lữ Đoàn 1 tử nạn trực thăng, và người em thân thiết của Lê Lợi: Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù tử trận nơi Căn Cứ Charlie, chiến trường Kontum. Đại Tá Lưỡng có cảm giác “tê cứng” trong khoảng khắc rất rõ. Lữ Đoàn 1 trở lại Chơn Thành, giao vùng trách nhiệm cho đơn vị bạn, Sư Đoàn 21 Bộ Binh để nhận nhiệm vụ mới – Phải vào An Lộc bằng một đường khác. Đến nhanh hơn. Khẩn thiết hơn. Bởi lúc 7 giờ 15 sáng ngày 13 “khốn nạn” nầy, xe tăng T54 cộng sản đã vào sát hầm chỉ huy của Tướng Lê Văn Hưng. Toàn bộ chỉ huy mặt trận không còn ai, không còn thời gian (tính theo từng ngày, giờ một) để giải bài toán An Lộc ngoài LêLợi Lê Quang Lưỡng và những tiểu đoàn nhảy dù thuộc quyền của ông.

Chiếc trực thăng chỉ huy ở một cao độ rờn rợn lạnh người lượn vòng thứ năm trên An Lộc. Đại Tá Lưỡng hỏi Thiếu Tá Quyền..
– Thấy cái đồi ở phía đông-nam không?
– Thấy đại tá.
– Chỗ đó. 
Vâng, mình đi thêm một vòng để thấy rõ hơn đại tá.. LêLợi gật đầu đồng ý, ra dấu cho Quyền bảo phi công quay lại đường bay. Không cẩn thận không được. Bao tính mạng quân binh tùy thuộc vào quyết định về vị trí nầy: Bãi đáp trực thăng đổ quân. Cũng là đầu mối để thực hiện kế hoạch tăng viện, giải vây An Lộc, chứng thực cùng cả nước và thế giới sức chiến đấu của người lính Miền Nam. 
.. Mình sẽ xuống cái ấp gì đây Quyền; ấp tên nghe lạ quá? Lê Lợi chỉ xuống xóm nhỏ nằm ẩn dưới màu xanh của khói rừng mờ đục và cũng do đạn pháo liên tục..
– Dạ, ấp Srok Ton Cui, chắc là tên Miên. Quyền kiểm chứng lại trên bản đồ.
.. Ừ, cái ấp đó được dãy đồi phía tây-bắc che dấu; trực thăng khi vào vùng sẽ bay sát ngọn cây từ dưới lên, tránh được “đề-lô” tụi nó quan sát. Thả ở đó mình có bất ngờ vì nó cứ tưởng mình không bao giờ dám đỗ quân ở hướng đông (Đông Thị Xã An Lộc); nó giữ chặt phía nam vì đó là đường về của mình.. Mình nhẩy xuống ấp đó, xong chiếm ngay mấy cái đồi chung quanh là giữ được đầu cầu. Phải hết sức cẩn thận trong líp đầu tiên thả “Thằng 6”. Vâng đại tá. Quyền không bàn gì thêm. Lê Lợi đã “đánh hơi” chiến trường không chút sơ hở.

Ngày 14 tháng Tư, bãi đáp là một đoạn đường nhựa ở Ấp Srok Ton Cui, Đường 245 nối từ Xa Trạch vào đồn điền Quản Lợi, tây-nam An Lộc, cách nhau bởi hệ thống đồi với cao độ 150 thước. 14 giờ 30, chiếc trực thăng đầu tiên đỗ Đại Đội 62/Tiểu Đoàn 6 Dù do Đại Úy Ngô Xuân Vinh chỉ huy xuống vùng ruộng của Ấp Suối Rô dưới chân đồi không tên (Cao độ 176 thước) thay vì nơi Ấp Ton Cui như đã ấn định. Vinh lúng túng không biết điều quân theo hướng nào do lộn bãi đáp; nhưng Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh và bộ chỉ huy tiểu đoàn đã xuống kịp.. Đánh lên đồi đi! Giữ lấy nó để làm an ninh bãi đáp cho mầy thằng (đại đội) xuống sau.. Đỉnh dục Vinh gấp vì đang lúc khó khăn nhất của cuộc hành quân không vận. Để em xin trong An Lộc bắn lên trên đó mấy trái cho ăn chắc, lên khơi khơi ngán quá! Vinh vào thẳng tầng số pháo binh An Lộc xin tác xạ yểm trợ. Pháo An Lộc đã “tiêu” gần hết, “rỏ giọt “cho Vinh đúng ba trái! Dứt tiếng nổ, Vinh xua quân lên đồi.. Địch chỉ là một toán tiền đồn nên Đại Đội 62 thanh toán trong mấy mươi phút chóng vánh. Đỉnh đưa bộ chỉ huy lên đồi đặt tên “Đỉnh E” (Chữ thứ Sáu-Con Số 6 của tiểu đoàn). Đại Đội 61 xuống tiếp, chiếm cao độ đông-bắc của E, đặt tên E2. Nhưng chiến trận không chỉ lànhững thắng lợi bình yên suông xẻ nầy, phát hiện được cuộc trực thăng vận, pháo cộng sản từ phía bắc, và 75 ly không giật từ cơ sở cao-su Tân Lợi (Ba cây số đông-bắc An Lộc) cùng dập xuống E và E2. Lính Tiểu Đoàn 6 vội vàng đào hố dưới giàn lưới đạn với chiếc ba-lô là vật che chở chiếc đầu mong manh. Tiểu đoàn trưởng Đỉnh; Nghiêm (Sĩ quan Ban 3); Cố vấn Morgan tất cả đồng bị thương vì mảnh pháo.. Đỉnh đè tay lên miếng băng, nói nhanh với Vinh: Mầy gắng giữ thằng E nầy, tao xuống dưới kia, có bãi tải thương, và giữ bãi cho ngày mai. Mầy thâm niên coi luôn “Thằng 1” bên E2. E cũng có tên nguyên thủy, Đồi Gió – Gió lửa và gió bão như một tên tiền định. 
Ngày 15 tháng 4, bộ chỉ huy lữ đoàn, hai Tiểu Đoàn 5, và 8 xuống bãi bình an. Lê Lợi lên Đồi E họp với hai tiểu đoàn trưởng 5 và 8 Dù.. 
– Mình đi liền, anh Ninh (Tiểu Đoàn Trưởng TĐ8), đưa thằng con vào An Lộc, nhưng khoan vào hẳn, tới ngang chỗ con suối thì đợi tôi. Tôi và Hiếu (TĐ5) vào Ấp Sóc Gòn, mình dọn đường vào thật sạch, có gì bung ra lại, hoặc để cho đơn vị khác sau nầy vào dễ dàng hơn. Đồi Gió-An Lộc chỉ cách quảng bốn cây số qua những sườn đồi thoai thoải của rừng cao su Phú Hòa, chuyển quân bình thường chỉ mất khoảng hơn hai giờ.. Nhưng vì đây là An Lộc, Đại Tá Lưỡng hiểu rõ độ chật của chiến trường, và đấy cũng là chiếc bẩy đang siết chặt nên ông không thể không cẩn thận khi đến với nó. Ngày 16, để Tiểu Đoàn 6 ở lại giữ Đồi Gió, Lê Lợi sấn hai “Thằng 5 và 8” song song tiến vào An Lộc. Tiểu Đoàn 5 chia làm hai cánh vào ấp Sóc Gòn, quân đang đà di chuyển bỗng nhiên khựng lại.. Dân ùa ra như thác lũ băng qua con đê nhỏ.. Lính mình.. lính mình.. Toàn là đàn bà, con nít, những người đàn ông già lão. Tiểu Đoàn Trưởng Hiếu (TĐ5) dạn dày kinh nghiệm, dặn các đại đội trưởng: “Cẩn thận, nó lùa dân đi trước để mình bị trói tay, thế nào cũng đụng ở đây. Đợi đến sát ấp là nhào vào, không cần tiền pháo yểm.” 
Bìa làng đến gần.. 100, 80, 50.. thước, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù – Đơn vị Nhảy Dù Việt Nam hai lần nhảy xuống Điện Biên Phủ 1954. Tiểu đoàn đã khai sinh bốn vị tướng lãnh cho quân lực – Và cũng là đơn vị đầu đời của Đại Tá Lê Quang Lưỡng, vị tướng tương lai của trận chiến 1972 là Người Thứ Năm – Con Số Năm định mệnh của chính nó cũng như của Người Lính Đại Diện: Lê Lợi Lê Quang Lưỡng. Đơn vị bách thắng hôm nay đứng trước Ấp Sóc Gòn với một trạng huống kỳ dị: 
Họ phải xung phong vào một mục tiêu với tư thế cá nhân chiến đấu để giữ an toàn cho người dân.. Hai lần, ba đợt.. Tiểu đoàn không sao dứt điểm mục tiêu. Cuối cùng, khi chắc chắn những người dân còn kẹt lại đã rời ấp, Lê Lợi quyết định dội trận lửa. Hai-mươi phi tuần khu trục Việt Nam và Mỹ lần lượt thay nhau vào vùng. Khu vực của ấp từ một dạng hình lục giác (Ấp Chiến Lược kiểu mẫu xây dựng từ đầu thập niên 60) nay không còn một hình thù nào nữa, ngỗn ngang gò đống bốc khói điêu tàn. Nhưng so với An Lộc bên cạnh, Ấp Sóc Gòn chỉ là một lò than nhỏ. Ngày 17, Bộ chỉ huy lữ đoàn cùng TĐ5 rời bỏ Ấp Sóc Gòn, di chuyển song song với TĐ8 theo đường Tỉnh Lộ 303 vào An Lộc. Từ suối Quản Lợi, Tiểu Đoàn 8  vào thẳng vòng đai thị xã lúc 7 giờ sáng sau khi diệt xongnhững chốt nhỏ.. Nhảy Dù! Nhảy Dù! Người lính Tiểu Khu Bình Long nhảy ra khỏi hố phòng thủ, anh báo hiệu cho những ngưòi lính cùng tuyến.. Nhảy Dù! Nhảy Dù! Phải ở trong cảnh chết mới hiểu được độ xúc động khi nhìn thấy bạn đến tiếp cứu. Phải từ sự chết, người dân mới thấy ra nỗi hân hoan sống lại khi nhìn ra vóc dáng anh lính cộng hòa giữa vũng lửa. Một Giờ, chiều ngày 17 tháng 4, 1972 Đại Tá Lữ Đoàn trưởng Lữ Đoàn 1 Dù bước chân vào trong vòng đai An Lộc. An Lộc được cứu viện lần thứ nhất.
.. Không còn gì hết Quyền hả? 
– Vâng. Kinh thật. 
Hai người trao đổi câu nói ngắn. Đại Tá Lưỡng mượn chiếc xe jeep của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân do Quyền cầm lái chạy như bay qua gò đống, hầm hố và xác người. Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh còn hai hộp bia và chai bia lớn..
– Mời anh Lưỡng. Tốt quá. Có được anh tôi vững tâm. Ông tướng mới nhất quân lực cười tươi trên nét mặt lo âu.. Có anh, tôi mừng lắm! 
Trên đường đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long của Đại Tá Trần Văn Nhật, Đại Tá Lưỡng hỏi Quyền.. Mầy biết tao vào An Lộc bằng cách nào không? 
Quyền không hiểu ý câu nói, anh đưa mắt hỏi thầm.. À, tao vào bằng lưng, chân bị vọt bẻ quá, phải xoay lưng đi ngược.. Cái mặt mà sưng bằng cái lưng là không  khá. Khó lắm đó mầy. Quyền nghĩ thầm.. Lê Lợi 612 biết nói đùa quá. Cách đùa rất chính xác. Vượt hẳn hết ý niệm từ trước, bỏ xa trí tưởng tượng đã xếp đặt, An Lộc không “hư” từng khu, không đổ từng khóm, An Lộc vỡ nát, vỡ tan tành, vỡ vụn… Không còn sự sống trên mặt đất, không còn dấu vết người trên mặt đất, thành phố chìm dưới hầm, sâu dưới đất, càng sâu càng tốt như một ổ mối khổng lồ dưới lớp đất bùn bề mặt. Một diện tích rộng chưa tới cây số vuông đã có lần nhận được 8000 viên đạn như trong đêm 11 rạng 12 tháng 5; 8000 viên đạn loại xuyên phá chưa kể hỏa tiễn và cối tung hoành trên mảnh đất chỉ bằng khu vực Đa Kao. Mỗi thước vuông đất phải nhận hơn 10 trái đạn. Đạn delay (công phá, nổ chậm) xuyên xuống đất hơn một thước mới nổ. Không cần phải trúng ngay hầm chỉ cần nổ bên cạnh cũng đủ xô ngã vách hầm. Dân và lính thụ động co rút dưới hỏa ngục đổ từ trên trời xuống trong hơn hai tháng. Pháo không phải từng cơn, từng giờ, từng loạt, pháo đầy trời như mưa, pháo ào ạt như gió, pháo kín mít như mây. Pháo không vạch từng đường như Mậu Thân, pháo không đi từng luồng như ở Hạ Lào. Pháo và trời chan hòa trộn lẫn như mưa bay giăng giăng che kín không gian của những ngày xuân mưa bụi. Dưới bầu trời đầy những đóa hoa tử thần đó. An Lộc co quắp, vật vã, tan thành mảnh, phất phới bay như tờ giấy xé nát được tung lên giữa trời gió lớn. Một hỏa tiễn nâng chiếc xe jeep bay bổng, khối sắt nặng 1/4 tấn vừa rơi xuống chạm mặt đất lại bị thổi ngược lên cao, nhẩy lên một mái hầm như hộp thiếc nhỏ bị quay cuồng vì những viên đạn tinh nghịch chính xác trong phim cao bồi Mỹ.. 
Lê Lợi và Tố Quyên đứng im, nhìn kỹ thêm một lần trước An Lộc điêu tàn. Hai người lính không thể nói thêm một lời nào. Họ cúi thấp người, bước xuống chiếc hầm của Đại Tá Trần Văn Nhật – Bộ chỉ huy Tiểu Khu Bình Long (20)

Không phải đợi đến lúc bước xuống căn hầm chỉ huy ngột ngạt của Tiểu Khu Bình Long, Đại Tá Lưỡng mới thấy ra sự chật chội thụ động của chiến trường, nhưng từ khi cùng Quyền bay trực thăng trên các cao độ vùng đông-nam An Lộc, ông đã biết rất rõ độ ngặt nghèo thu hẹp của trận địa. Ông cần một nút thoát hơi cho An Lộc, và đối với đơn vị của ông – Đồi Gió, cao độ “E” của Tiểu Đoàn 6 Dù là điểm thở quan yếu nầy. Vì từ cao điểm “E”, An Lộc có được một bàn đạp để khai triển lên Bắc hay xuống Nam do được dãy cao độ 160, 175, 140 bảo vệ cạnh sườn phía Đông. Vì lý do nầy, Tiểu Đoàn 6 và pháo đội 105ly của Tiểu Đoàn 3 Pháo Dù giữù nhiệm vụ trấn đóng yết hầu mặt trận An Lộc là những đơn vị hứng chịu những mũi nhọn tiến công nặng nề nhất kể từ ngày bước xuống Đồi Gió. 
Chúng ta theo dõi diễn tiến chiến trận của đơn vị nầy.. Khi Đại Đội 62 của Vinh “con” lên Đồi Gió chiều ngày 14 tháng Tư thì bộ chỉ huy cộng sản mặt trận Bình Long cũng nhận ra cuộc đổ quân tăng viện, và dồn tất cả hỏa lực của vùng Bắc; Tây-Bắc An Lộc đồng đổ xuống vùng Đồi Gió, nơi có ba cao độ nổi rõ lên tạo  điểm chuẩn để pháo binh địch rơi xuống không trật một trái ra ngoài mục tiêu. Cũng bởi, phía chỉ huy cộng sản tại mặt trận đã xác định rõ qua một công điện gởi về Trung ương cục R: “Một D (Tiểu Đoàn) Ngụy Dù chiếm Đồi Gió, gây khó khăn cho việc chiếm Bình Long, phải diệt gọn “D Ngụy” với tất cả phương tiện”(21) 
Song song với chỉ thị của Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng qua việc để lại Đồi Gió bộ chỉ huy nhẹ của lữ đoàn với Lữ Đoàn Phó Trung Tá Lê Văn Ngọc, Đại 
Đội 3 Trinh Sát, và pháo đội 105ly ND; Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, Tiểu Đoàn Trưởng 6 Dù cũng không hoàn toàn thụ động đối với tình thế ngặt nghèo dưới cơn mưa pháo. Đỉnh nhận định: “Nó phân tán pháo binh, tập trung hỏa lực để bắn mình.. Tại sao mình không phân tán các “đứa con” ra ngoài để tránh pháo, cũng để phòng thủ lưu động được toàn miền? Đỉnh phối trí các “đứa con” theo thế trận: Đại Đội 63 của Đại Úy Hoàng trấn giữ ngã Ba đường 245, Bắc của Ấp Ton Cui; Trung Úy Cao Hoàng Tuấn chỉ huy ĐĐ64 giữ phần chính của ấp. Khi các đại đội đã vào vị trí. Đỉnh tự hỏi: “Dẫu đã có một hàng rào phía đông của “E”, nhưng không hiểu đồi có giữ được không?” Thắc mắc của Đỉnh không kéo dài lâu, phía cộng sản cho liền đáp số. Đại Đội 63 bị tấn công trước, ngay vào lúc buổi trưa ngày 17 với một lự c lượng quân số áp đảo, bởi phía chỉ huy cộng sản cũng đã hiểu ra rằng: Ấp Ton Cui là “bãi đáp trực thăng hữu dụng để tăng viện An Lộc”; nhưng thêm ước tính nhầm là bộ chỉ huy TĐ6 vẫn còn ở tại ấp nên họ đã sử dụng một quân số vượt trội để quyết “diệt gọn” bộ chỉ huy tiểu đoàn. Đại Đội 63 có  được vị trí phòng thủ nên giữ tuyến chắc chắn; đến chiều tối, Đại Đội 64 được lệnh kéo lên tăng cường bởi Trung Tá Đỉnh hiểu rõ thêm ý đồ của đối phương. Quảng cách hai đại đội khoảng chừng 600 thước, nhưng Trung Úy Tuấn phải mất năm giờ mới “bắt tay” được đại đội bạn. Hai viên đại đội trưởng nói cùng nhau: 
“Một mình tao nó đánh không xong, nay hai đứa sức mấy tụi mình bị lũng.” Từ An Lộc, Đại Tá Lưỡng theo dõi diễn tiến trận đánh của Tiểu Đoàn 6, và ông cũng thấy ra rằng nếu TĐ6 bị bứng khỏi khu vực Đồi Gió có nghĩa, các đơn vị của lữ đoàn hoàn toàn mất hẳn với liên lạc bên ngoài – Lần tiếp vận của Lữ Đoàn 1 hoá ra  chỉ tăng cường quân số cho đạo quân bị vây ở An Lộc thêm đông đảo. Ông trầm ngâm bảo Quyền: Hỏi bên Mỹ, rồi xin ở quân đoàn phi vụ “Daisy Cutter – Bom BLU-82B” (22) thả xuống cho tụi “Thằng Đỉnh”.. Phải có thứ nầy mới ăn thua đủ với bọn chúng!! Trái bom từ bụng chiếc phi cơ vận tải võ trang AC130 (Phi cơ AC130 thiết trí giàn phóng lựu 20, 40ly; đại liên 7.26ly; đại bác 105ly, chuyên trách công tác yểm trợ cận phòng, thả bom dọn bãi, phá chướng ngại vật (thiên nhiên) lớn, thả trái sáng yểm trợ tác chiến đêm) chứa 15,000 cân Anh thuốc nổ và mãnh thép rơi bằng dù chính xác vào giữa đội hình đơn vị cộng sản chấm dứt cuộc huyết chiến rạng sáng ngày 18 giữa tiếng reo hò của binh sĩ hai đại đội 63, 64. Ngày 18 tương đối bình yên, Trung Tá Đỉnh đưa Đại Đội 61 xuống thay thế để hai Đại Đội 63, 64 trở lại đồi với lời khen ngợi: “Làm trưởng ấp một đêm là giỏi lắm  rồi.. Lấy được hai K54 (súng ngắn của người chỉ huy) như vậy nó đánh hai toa phải là cấp tiểu đoàn, và thằng tiểu đoàn trưởng thế nào cũng đã về với bác nó!”.
Hai-mươi bốn giờ “bình an” của ngày 18 đi qua nhanh chóng để bão lửa phục thù của Bắc quân ào xuống. Đồi Gió hay cao độ 175 dần nát vụn dưới cơn pháo cường tập liên hồi, đồng thời phá nổ tung kho đạn dã chiến của pháo đội 105ly của pháo đội/TĐ3Pháo Dù. Tiểu Đoàn Trưởng Đỉnh và cố vấn Peyton đồng bị thương cùng với 32 quân binh.. Trong hầm chỉ huy của Đại Tá Nhật, Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng biết đã đến lúc địch quyết tâm dứt điểm Đồi Gió, khóa cửa ngõ vào thị xã trước khi thanh toán mục tiêu chính: Cứ điểm trung tâm phòng thủ An Lộc. Ông mau mắn quyết định: Tiểu Đoàn 6 không còn nhiệm vụ giữ  pháo binh, tiểu đoàn trưởng toàn quyền điều động đơn vị để giữ thế trận. Trên Đồi Gió, Đỉnh lẫm bẩm:”Chỉ 48 giờ mất toi sáu khẩu pháo và ngàn quả đạn, thêm một lô thương binh không tải thương.. Ở làm gì nơi cái đồi quái quỷ nầy nữa.” Dọt! Đỉnh để lại hai Đại Đội 63, 64 do Tiểu Đoàn Phó Phạm Kim Bằng trấn giữ, đẩy Vinh “con” xuống lại Ấp Ton Cui với lời dặn: “Mầy cố gắng bắt tay “Thằng 1” (ĐĐ 61) dưới kia để có bãi tản thương, tiếp tế, ở trên nầy nó pháo mờ người không làm ăn gì được.” Từ chân đồi đến ấp chỉ khoảng 400 thước nhưng Vinh với ĐĐ62 phải mất hẳn một đêm 19 mới đi thấu. Quân binh hai bên trộn với nhau như gạo và trấu, chỉ còn cá nhân chiến đấu qua cách sờ nón sắt để phân biệt ta hay địch! Đêm 19 chuyển qua ngày 20 với tiếng kèn thúc quân vang dội dọc Đường 245, cùng lúc, đầu con đường, nghe rõ tiếng động cơ máy nổ của tăng T54 rầm rầm di chuyển.. Đỉnh rung tay: Bỏ mẹ, nó dứt điểm mình rồi! Tăng T54 ầm ầm tiến lên Đồi Gió trước (ý hẳn phía cộng sản ước tính bộ chỉ huy TĐ6 vẫn còn ở trên đồi) .. Tiểu Đoàn Phó Phạm Kim Bằng cùng hai đại đội trưởng Hoàng, Tuấn cùng ra giao thông hào với khinh binh, đợi chờ những chiếc tăng lố nhố lính Bắc quân tùng thiết xông lên. Trận chiến không cân sức dần tàn vào trưa ngày 20 với kết thúc bi thảm: Tiểu Đoàn Phó Bằng bị bắn tung một mắt; Đại Đội Trưởng Tuấn hứng ngay quả 75 ly, giã từ đời ở số tuổi 23. Bằng buông ống liên hợp máy truyền tin thều thào bảo Hoàng khi máu chảy xuống ướt đẫm mặt: “Thay tôi, dẫn hai đại đội về Đồi 169, đem theo thương binh, chết để lại.” 
Thanh toán xong Đồi Gió, quân cộng sản tập trung, điểm danh, chuyển lệnh ngay trên Đường 245 trước khi thanh toán phần còn lại của Tiểu Đoàn 6 ở Ấp Ton Cui. 
Không lẽ đời mình tàn tại cái chỗ khốn nạn nầy hay sao Nghiêm? Đỉnh than nhẹ với Nghiêm, sĩ quan Ban 3 khi chờ lệnh Lê Lợi. Hơn hai-mươi bốn giờ của ngày 19 và 20 tháng Tư, Đại Tá Lưỡng không hề chợp mắt, ông ngồi cạnh máy truyền tin theo dõi và ra từng lệnh ngắn cần thiết đến Tiểu Đoàn 6 bởi ông biết rõ: Sinh  mạng đơn vị đang đụng trận ngoài kia hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi quyết định của ông. Ông cũng phải dấu đi mối đau riêng tư về tin Thiếu Tá Bằng bị thương nặng – Bằng là một trong đại đội trưởng thân yêu của ông từ ngày mở trận Tiểu Đoàn 2 ở năm 1965 – Ông sống cùng, với bao nhiêu người đã nằm xuống, tưới máu lên từng ngày, giờ chiến địa. Phải vô cùng khó khăn Lê Lợi mới lập lại được liên lạc với Đỉnh (do các tầng số âm thoại bị phá bởi phía Bắc quân dò được các tầng số âm thoại đang xử dụng) qua hệ thống máy cố vấn Mỹ với trạm chuyển tiếp trên Núi Bà Đen (Tây Ninh), nơi cách An Lộc 100 cây số đường chim bay..
..Đây Lê Lợi 612.. Đỉnh chong đôi mắt mệt mỏi nghe rõ từng chữ: “Sẽ có ba line B52 đánh xuống chỗ anh, cách anh chỉ 500 thước thôi (phi cơ B52 dùng trong công tác yểm trợ chiến thuật CAS (Close Air Support) trên lý thuyết phải có khoảng cách an toàn hai cây số), ở ba hướng, Bắc, Đông, và Nam, xong anh theo  hướng Đông-Nam đến bờ Sông Bé có trực thăng rước về.. Gắng lên, đời anh và tôi chỉ có một lần”. Ba line B52 đánh xuống như cơn địa chấn, 500 thước đối với bom 500 cân Anh thả một loạt 24 trái (số lượng tối thiểu tùy theo cự ly bay, và giờ hoạt động trên mục tiêu) (23) quả thật không còn “khoảng cách an toàn” nào nữa. Những chiếc B52 vừa đi qua, Đỉnh báo cáo cùng “612”: Xong rồi, xin Lê Lợi màn khói. Không có khói, thôi anh và con cái dọt đi. Tôi nghe. Đỉnh nói với hơi thở hụt Rừng còn nguyên độ nóng trận bom, nồng mùi lửa, khói trộn tro than bốc dày che khuất bầu trời xanh ánh trăng.. Đại úy đại đội trưởng Vinh “con” đi khi binh số 1; Thiếu tá trưởng Ban 3, Nghiêm tiếp làm khinh binh số 2; và người thứ ba, Tiểu đoàn trưởng Đỉnh. Tiểu Đoàn 6 Dù, hậu thân của 6th B.E.P, đơn vị đầu đời của viên sĩ quan kiệt liệt Đại Úy Đỗ Cao Trí lần đầu tiên buộc phải chấp nhận thất bại, im lìm rời khỏi chiến trường. Khởi đi từ 01 giờ 42 phút ngày 21 tháng Tư, tiểu đoàn bị phục kích thêm hai lần nữa, bởi đi theo suối thì gặp các căn cứ cộng sản; đi trên cao độ thì bị pháo.. 5 Giờ chiều tại trãng trống để đợi trực thăng đến bốc đi, đơn vị lại bị phục kích thêm một lần thứ ba – Lê Lợi biết rõ những điều nầy nhưng ông chấp nhận – Bởi chỉ tìm được đường sống trong ngã chết, vì hướng Đông-Nam là an toàn khu nơi đặt bộ chỉ huy tiền phương của mặt trận Bình Long, nên phía cộng sản không thể nào nghĩ ra rằng: Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang lưỡng đã chọn làm hướng lui quân cho Tiểu Đoàn 6 khi ông đã dội B52 xuống những hướng đối chiếu.

Tan hàng ngày 21 tháng Tư, nhưng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù với châm ngôn của binh chủng đã thực hiện và hoàn tất sự cố gắng qua từng người lính – Phần đông lại là tân binh, quân phạm được ân xá cho trở về quân đội trong thời buổi nước nhà nguy biến. Với quân số 412 người vừa được bổ sung sau thiệt hại Đồi Gió mà 3/4 là tân binh.. Có cậu lính trẻ vốn là Nhân Dân Tự Vệ tập bắn XM16 cặp hông như bắn súng Thompson thời Thế chiến thứ Hai. Nhưng “tập bắn” cũng chỉ là cách nói để tạm yên lòng vì một tháng nơi Căn Cứ Lai Khê (Bộ tư lệnh tiền phương của Quân Đoàn III), thành phần tân binh khác lạ kia của Tiểu Đoàn 6 chỉ được huấn luyện kỹ thuật tác chiến, tác xạ bằng.. lý thuyết suông! Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Đỉnh thúc dục các đại đội trưởng..Các ông cố gắng dạy tụi nó được phút nào hay phút đó.. Tập tháo ráp súng, tập tác xạ, nhận thủ lệnh khi giữ đội hình khi di chuyển.. Tập riết bằng miệng rồi cũng nên quen chứ bộ. Mình cố gắng dạy đám lính mới nầy để đánh phục hận vụ Đồi Gió hôm tháng Tư. Không có gì thay đổi thì đầu tháng Sáu mình go! Trước sau gì tiểu đoàn mình cũng phải trở lại An Lộc. 
Ngày 4 tháng Sáu, 1972 như một câu chuyện thần kỳ về lần chuyển hóa những con người bình thường bỗng nhiên hóa thân nên những chiến sĩ lẫm liệt. Với đám tân binh chưa được một lần tác xạ đạn thật, Tiểu Đoàn 6 Dù dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Đỉnh với giàn đại đội trưởng, trung đội trưởng sống sót từ trận Đồi Gió như được thúc dục bởi một nguồn lực muốn chứng tỏ quyết tâm lập lại danh dự người lính, nên từ khi xuống bãi đáp Bàu Đồng Lô, tiểu đoàn dưới sự dẫn đầu của Lộc, Đại Đội Trưởng Đại Đội 61 đã đi như ánh chớp qua các mục tiêu..Ấp Đức Vinh1, Đức Vinh 2, cách An Lộc đúng năm cây số đường thẳng. Để hiện thực trong trận chiến cuối cùng ngày 6 tháng 6, 1972.. Hai Đại Đội 61, 62 rời khỏi khu đóng quân , xếp hàng hai bên ven đường. Gần hai trăm con người lẫn nhanh vào kku rừng phía tây..Nhào vào..Nhào vào sâu hơn nữa.. Hai đại đội trưởng hét vang thúc lính tấn công theo hướng Tây-Đông. Đại đội 62 của Vinh bảo về bộ chỉ huy tiểu đoàn bố trí qua theo mặt Bắc- Hướng An Lộc. Khi tất cả đã ở yên trên các vị trí chỉ định. Tiểu Đoàn Trưởng Đỉnh hạ lệnh lần cuối: 63 bọc xuống phía Nam, không cho tụi nó chạy lui; 61, 62, 64 dánh từ Tây sang Đông, bao giờ đến đường rầy thì ngừng lại đợi lệnh. Dàn hàng ngang và đánh thật nhanh. Nhanh đến mức có gã lính mới lần đầu tiên thấy lính Miền Bắc quá gầy yếu, nhỏ bé.. Hắn ta nhào vào quên cả tác xạ! Pháo địch bắn cản đổ xuống như trút. Mặc! Đỉnh thúc tiểu đoàn ào tới theo cách bộ đội cộng sản tránh bom “bám chặt thắt lưng kẻ thù mà đánh”. Bị thương ném lui ra đằng sau để Tiểu Đoàn Phó Tùng (đã bị thương khi xuống bãi trực thăng ngày 4) thâu nhặt, bảo vệ.. Ào tới! Ào tới! Đánh kiểu “Blích -kiết” của tụi Đức, bảo lính vừa đi vừa bắn.. Đừng cho tuị nó ngóc đầu!! 
Chiến trận chấm dứt sau năm giờ tiến quân thần tốc với kết quả, tiểu đoàn 1 chết, 63 bị thương đổi lại 90% địch chết tại hầm. Và cuối cùng ngày 8 tháng 6.. Cứ theo chiến thuật như ngày hôm kia..Xung phong! Xung phong! Tiếng hét, đạn nổ.. Lựu đạn M26; phóng lựu M79; hoả tiễn M72 chêm vào với đạn súng tay như một chuỗi pháo liền bất tận.. Những cán binh cộng sản còn sống thuộc hai đại đội C7, C8 bỏ giao thông hào, từng cặp một (bị xiềng vào nhau bởi một dây xích – để không cho phép bỏ chạy khi tác chiến) chạy tản ra đồng trống.. Bỏ ba-lô.. Bỏ ba-lô đuổi theo.. Đuổi theo đừng cho thằng nào chạy thoát!! Lính tân binh thâm niên công vụ 16 ngày lần đầu đụng trậân không biết sợ, cặp súng vào hông đuổi theo đám cán binh thất thế.. Hai đại đội bị “dứt nọc” sau 2giờ12 phút chiến trận với một tù binh độc nhất sống sót còn lại: Tù binh Nguyễn Văn Tiền. Thừa thắng xông lên, Vinh trở quân đánh vào mục tiêu hướng Bắc – Mục tiêu chính nằm ở ngã tư đường vào đồn điền Xa Cam – Cửa ngỏ An Lộc. Bộ phận cộng  sản bố trí hướng về phía Bắc (hướng của Tiểu Đoàn 8 Dù) xây lưng về hướng tiến quân của đại đội của Vinh.. Tất cả để cò vào vị trí “auto”.. Bắn! Bắn! Những tấm lưng thịt người nẩy lên bừng bực..Đạn đi qua thịt người, găm vào đất. Đất vốn màu đỏ sậm trở nên đỏ tươi. Đỏ gắt. Đỏ ướt. Đơn vị cộng sản chạy dạt về hướng tây. Gặp Đại Đội 63 của Thái Tường. Lính Tiểu Đoàn 8 cách nơi đụng trận khoảng 800 thước, đứng dậy khỏi hố chiến đấu hoan hô lính Tiểu Đoàn 6 dứt điểm, diệt gọn mục tiêu. 
17 giờ 45 Vinh “con” bắt tay Hồng Ni (TĐ8) cách tấm bảng “Đồn Điền Xa Cam” 100 thước. Trước mặt hai người bạn (cùng Khóa 20 Thủ Đức) An Lộc được buổi chiều bình yên bốc khói bếp nấu cơm. 
Trên trực thăng bay đến An Lộc, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 (Chỉ huy tổng quát cuộc hành quân giải tỏa An Lộc), Nguyên Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Dù, cũng là Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù có câu trả lời với Lê Lợi..
– Hoàn Mỹ (Chuẩn Tướng Hậu) xem con cái tôi đánh có đẹp không?
– Không, không thể nói chúng nó đánh đẹp, mà phải nói là quá đẹp. Cũng không được nữa, phải nói lỗi lạc và phi thường. Đại Tá Lưỡng vốn quen biết Chuẩn Tướng Hậu từ rất lâu, ngày cùng ở Tiểu Đoàn 5.. Nhưng chưa bao giờ nghe ông Hậu nói một câu với những tỉnh từ nồng nhiệt như thế. Nhưng theo ý của người viết đoạn ký nầy, món quà “đẹp” nhất là cảnh người lính nhảy dù đem cơm khô, trái cây hộp; bác sĩ, y tá ra trực hai bên Đường 13 để chửa bệnh, biếu phần “cơm dằn đường” cho đồng bào. “Cơm dằn đường” – Ai sinh ra loại cơm đau đớn tội nghiệp như thế hở trời?!(24)

4. Trận chiến tàn cuộc
Suốt năm 1972, Lữ Đoàn 1 trong khuôn khổ Sư Đoàn Dù là một trong những đơn vị của toàn quân lực đã có mặt trên toàn ba vùng đất lửa: Trị-Thiên; Tân Cảnh, KonTum, và nhất là chiến công vừa kể trên trong kỳ tích giải cứu, phá vòng vây của địch tại An Lộc. Riêng về vùng Trị Thiên, kể từ tháng 5, 1972 sau khi Tướng Ngô Quang Trưởng nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I, toàn bộ Sư Đoàn Nhảy Dù được chỉ định tăng phái hành quân dài hạn tại Vùng I, là đại đơn vị trách nhiệm toàn vùng Tây-Bắc mặt trận Trị-Thiên với vùng hành quân bao gồm từ tây Quốc Lộ I vào Trường Sơn trấn giữ mặt núi, đối diện với những sư đoàn chính quy cộng sản trên cao độ Động Ông Đô, đỉnh cao nhất của Trường Sơn, trấn giữ thế trận hai sườn đông- tây để những đơn vị bạn, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân, lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu Quảng Trị dựng nên kỳ tích lịch sử: Dựng Cờ Vàng lên Cổ Thành Quảng Trị, 14 tháng 9, 1972.
Sau Hiệp Định Paris, 1973 Sư Đoàn Nhảy Dù là lực lượng chiến lược chống giữ cả hai mặt Bắc và Nam đèo Hải Vân. Vùng trách nhiệm kéo dài qua ba tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên-Quảng Nam, chịu áp lực từ phía cộng sản có thể tập trung quân dứt điểm toàn vùng theo chiến thuật Đông-Tây: Cắt Thừa Thiên (Bắc Hải Vân) theo chiều ngang của Sông Bồ (An Lỗ, Quảng Điền, Thừa Thiên); hoặc từ Quận Thường Đức đổ xuống đồng bằng Quảng Nam (Trận Mật Khu Đỗ Xá, 1964 kể bên trên là hiện thực bước đầu của ý niệm chiến lược nầy của phía cộng sản – Không phải chỉ riêng đối với giai đoạn chiến tranh 1960-1975, mà xuyên suốt trong diễn tiến chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) để hoàn tất sự chia cắt Vùng I Chiến Thuật theo chiều ngang Nam Hải Vân. Với tình thế chống địch cả hai đầu, sư đoàn nay đặt dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng. Thêm một lần Tướng Quân phải tìm cách thế để đơn vị tồn tại, chiến đấu, và vượt thắng bằng khả năng quân sự độc đáo, bản lãnh riêng. Do hạn chế bởi các điều khoản Hiệp Định Paris: Không được tăng quân số và áp dụng biện pháp thay thế “Một Đổi Một” (Chương II-Điều 7); cùng sự cắt giảm viện trợ Mỹ (Điển hình từ 1Tỷ47 rút xuống còn 1Tỷ, xong 700 Triệu, để kết thúc với 654 Triệu cho tài khóa 1975) (25) – Tướng Lưỡng cùng ban tham mưu sư đoàn sáng tạo nên kế hoạch: Tạo dựng những “Đại Đội Đa Năng” với quân số cơ hữu của sư đoàn bằng cách giảm thiểu đến mức tối đa các thành phần tham mưu, yểm trợ, kể cả trung tâm huấn luyện. Thế nên, cuối năm 1973, sư đoàn đã có đến 12 Đại Đội Đa Năng làm thành phần trừ bị cho chính mình – 12 đại đội hay là 3 tiểu đoàn – Tức là một lữ đoàn trừ bị. Với cách biên chế, tổ chức mới mẻ nầy, sư đoàn hoàn tất được một lần hai nhiệm vụ: Bảo vệ mặt Bắc Hải Vân với Lữ Đoàn II và một Tiểu Đoàn Đa Năng; thành phần còn lại của sư đoàn chiếm đóng, bảo vệ  mặt Nam Hải Vân qua cuộc tiến công từ Đại Lộc lên Cao Điểm 1062 – Chế ngự toàn vùng Thường Đức, vùng núi cực tây Quảng Nam-Đà Nẵng. Quận Thường Đức cách Đà Nẵng 50 cây số đường chim bay, với những cao điểm 1235 và 1062 kiểm soát được toàn vùng cận sơn và đồng bằng. Nhưng không chỉ như thế – 
Nếu chiếm giữ được Thường Đức, lực lượng cộng sản sẽ mở một được một đường hành lang thông suốt chạy từ Bắc Kontum (vùng Dak To, Dak Pek, Dak Nhét đã chiếm được từ tháng 4/1972) xuống vùng bình nguyên (khỏi phải dùng đường từ Kontum, Pleiku ở phía Nam, xa xôi, với quá nhiều trở ngại); chưa hết con đường nầy còn nối với mặt trận Trị-Thiên (Bắc Hải Vân) mà không cần băng qua đất Lào. Vùng Cao Độ 1062 do đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội Miền Bắc trấn giữ: Sư Đoàn 304 Điện Biên, và SĐ2CS tăng cường từ Mặt Trận B3 (Tây Nguyên). Trận chiến trên các cao điểm chung quanh 1062 bắt đầu từ ngày 8 tháng 8/ 1974 chấm dứt vào cuộc phản công cuối cùng ngày 8 tháng 11 cùng năm do bảy Tiểu Đoàn Nhảy Dù 1, 2, 3, 6, 7, 8, 9 trong số chín tiểu đoàn có mặt tại vùng hành quân đã liên tục tác chiến, đánh ngày, đêm, cận chiến, du kích, đột kích, trận địa chiến.. Có thể nói đây là chiến trận lớn nhất sau cái gọi là “Hiệp định tái lập hòa bình tại Việt Nam”. Người lính nhảy dù trả giá cho ngọn đồi và hòa bình với sinh mạng 500 chiến sĩ; 2000 người bị thương trận. Cuộc huyết chiến tại cao điểm 1062 tạm kết thúc đợt giao tranh thứ nhất (cuối tháng 8/ 1974) với 200 xác bộ đội cộng sản (kiểm kê sơ khởi); 40 tù binh bị bắt tại trận địa. Trương Công Phê, Sư đoàn trưởng Sư Đoàn 304 (còn có danh hiệu “Sư Đoàn Thép”) có kết luận: “Sư Dù là một sư mạnh”. Nhưng phần thưởng lớn lao nhất, hãnh diện là lời của đồng bào Đại Lộc: “Nhảy Dù tới bà con ơi! Nhảy Dù tới! Chúng ta không chạy nữa, quay lại làm ăn như cũ, đừng sợ gì nữa!” (26) Phải, đồng bào đã từng nói như thế ở Huế, Mậu Thân 1968; và mới đây, năm 1972 ở An Lộc, Bình Long, và tiếp theo ở Quảng Trị chỉ trong khoảng tháng 4, tháng 5.
Ngày 1/1/1975, một lần nữa để đáp ứng tình hình chiến trường càng ngày càng trở nên khốc liệt khó khăn, dưới quyền tổ chức và quyết định của Tướng Lưỡng, Sư Đoàn Nhảy Dù thành lập Lữ Đoàn IV Nhảy Dù, và tiếp theo sẽ là Lữ Đoàn V Nhảy Dù. Lữ Đoàn IV Nhảy Dù do Trung Tá Lê Minh Ngọc giữ chức lữ đoàn  trưởng, gồm:
– Tiểu Đoàn 12ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm.
– Tiểu Đoàn 14ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu tá Nguyễn Đức Tâm.
– Tiểu Đoàn15ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Phú.
– Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Đặng Hữu Minh.
– Đại Đội 4 Trinh Sát do Trung Úy Trần Chí Mỹ giữ chức đại đội trưởng đang hình thành.
Riêng kế hoạch phát triển thêm Lữ Đoàn V Nhảy Dù đang được hoàn chỉnh, bởi chưa có lữ đoàn trưởng, chỉ thành lập được ba Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn gồm có các Tiểu Đoàn 16, 17 và 18 với dự tính: Tiểu Đoàn16ø do Trung Tá Phạm Kim Bằng làm Tiểu Đoàn Trưởng. Tiểu Đoàn 17ø, Thiếu Tá Lê Hữu Chí; Tiểu Đoàn 18 do Thiếu Tá Hồng Thu dự trù đảm nhiệm. Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh; Đại Đội 5 Trinh Sát chưa được thành hình. (27)

Sau ngày 10, tháng 3, 1975 khi mặt trận Vùng II suy sụp trầm trọng bởi lần di tản bộ tư lệnh cùng toàn thể các đơn vị khỏi Tây Nguyên bắt đầu từ ngày 17 tháng 3, 1975. Tình hình quân sự Miền Nam trở nên cầm đầu đã mất hết khả năng kiểm soát, lãnh đạo đất nước. Riêng Bộ Tổng Tham Mưu, quyền điều hành, quyết định nằm trong tay một viên tướng chuyên ngành tiếp vận, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân – Một trong những nhân tố chính của tổ chức siêu tài chánh-kỹ nghệ “Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội” với đồng tiền máu của mỗi người lính góp vào trong những năm 1968-1972. Trong tình huống cực kỳ khó khăn, nguy biến kia, Sư Đoàn Nhảy Dù lại được lệnh rời bỏ Đà Nẵng, và bị xé ra từng mảnh nhỏ, dàn mỏng trên những trận địa không chiều sâu, hở cạnh sườn, thiếu yểm trợ không quân, thậm chí đến không có pháo binh diện địa hỏa yểm tiếp cận. Cuối cùng không thành phần trừ bị, tiếp ứng (28).. Tất cả để thực hiện một sách lược gọi là “Đầu bé – Đít to” của chính đương kim Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. “Đầu bé”ù là vùng Quảng Trị, Thừa Thiên, vùng đông dân cư Bình Định, Khánh Hòa; và “Đít to” tức là vùng Sài Gòn-Chợ Lớn, đồng bằng Sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ. Nhưng thực tế diễn tiến chiến sự đã cho thấy: Không có một kế hoạch nào tồn tại được, bởi đây là một kế hoạch đặt trên sự lừa dối, và bất lực trước tình thế – Cũng như không một thân thể nào tồn tại được khi đã bị bẻ gẩy sống lưng – Thủ phủ vùng Tây Nguyên, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thị Xã Pleiku hoàn toàn bị bỏ ngỏ, rơi vào tay cộng sản không tiếng súng kể từ ngày 17 tháng 3, 1975. Trước tình trạng cực độ vô lý: “Chưa đánh đã có lệnh tháo chạy” đã có lúc, Tướng Quân Lê Quang Lưỡng ngỏ ý thẳng với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Hãy để Sư Đoàn Dù về Sài Gòn (đang tăng phái hành quân tại Vùng I của Tướng Trưởng) lật đổ con người đã không còn năng lực lãnh đạo, và càng ngày càng lộ rõ ý đồ phá vỡ sức chiến đấu của quân lực điển hình qua việc xé lẻ hai Sư Đoàn Nhảy Dù, TQLC; Lữ Đoàn Thiết Kỵ, các Liên Đoàn Biệt Động, Biệt Kích.. Những lực lượng xung kích, tổng trừ bị quốc gia.(28Bis) Điển hình Lữ Đoàn 147/Sư Đoàn TQLC vừa bị bức tử nơi bến phà Thuận An chưa xong việc đếm xác, đến lượt hai Lữ Đoàn 258 và 369 vô cớ rút từ Huế vào Đà Nẵng, xong từ Đà Nẵng vào Sài Gòn.. Tàu thủy đến ngang NhaTrang lại được lệnh trở lui tái chiếm Đà Nẵng!! Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù không còn được quyền ra lệnh cho các đơn vị trực thuộc, bởi tất cả lệnh điều động (cấp tiểu đoàn) chỉ được phát xuất từ Dinh Độc Lập. 
Rời Huế (cuối tháng 3) trong hoàn cảnh hỗn loạn của cuộc rút quân vô cùng phi lý, và vô kế hoạch của người nắm giữ vận mệnh quốc gia, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu; lại tiếp nhận lệnh điều động trực tiếp từ “Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nguyễn Văn Thiệu”, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Văn Phát gồm các Tiểu Đoàn 2 (Thiếu Tá Trần Công Hạnh); Tiểu Đoàn 5 (Trung Tá Bùi Quyền): Tiểu Đoàn 6 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành – Khác với Nguyễn Văn “Thành Râu”, Tiểu Đoàn Trưởng 11). Gọi là ba tiểu đoàn nhưng thực sự toàn bộ các đơn vị phải phân tán dọc trục lộ Quốc Lộ 21 thành những chốt nhỏ cấp tiểu đội để có thể liên hoàn yểm trợ nhau trong tình huống đơn độc chiến đấu. Đối lại phía cộng sản, sau khi chiếm xong toàn bộ Ban Mê Thuộc kể từ 15 tháng 3, và không cần phải củng cố vị trí vừa chiếm xong (rút kinh nghiệm của Mậu Thân 1968; Tổng Công Kích 1972) hai Sư Đoàn 320, và F10 đồng lần rời bỏ Ban Mê Thuộc, bôn tập theo Quốc Lộ 21 về phía bình nguyên duyên hải. Hai Sư Đoàn F10 và 325 với một lực lượng tấn công từ Miền Bắc vào gồm: 2376 xe các loại, trong đó có 100 xe tăng; thiết giáp; gần 185 pháo lớn từ 85 đến 155 ly; hơn 100 khẩu cao xạ.. (29) Số lượng quân trang, vũ khí nầy chỉ riêng cho mặt trận Ban Mê Thuộc, chứ thật sự để xâm lăng Miền Nam, quân đội cộng sản Hà nội đã chuyển vào Miền Nam từ 1974 đến tháng Tư/1975 một tổng số 823,146 tấn quân dụng vũ khí “gấp 1.6” số lượng tiếp vận trong 13 năm từ 1960 đến 1973!! Về quân số, chỉ hai năm 1973-74 đã nhập ngũ thêm 150.000 tân binh để gởi vào Nam thay thế 68,000 quân thiệt hại, với 8000 cán bộ chuyên môn các ngành (30). Tóm lại 16 sư đoàn bộ binh của miền Bắc kéo vào không thiếu một đơn vị mà đích thân Kissinger đã phải kêu lên ngao ngán sau khi nghe báo cáo từ tướng Weyand sau lần qua lượng định tình hình Việt Nam (28/3 đến 4 tháng /4) tại buổi họp tại Phòng Bầu Dục tòa Bạch Ốc với hầu hết quan chức cao cấp của chính phủ Mỹ: “Hiện tại, toàn thể quân lực Bắc Việt Nam đã ở Miền Nam… Chỉ cần một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (Mỹ) là đủ chiếm đóng hết Miền Bắc. Rõ ràng Hiệp Định (tái lập) Hòa Bình Paris đã bị vi phạm trầm trọng” (31) Phải có học vị tiến sĩ  (xuất thân ở Đại Học Harvard), với chức vụ ngoại trưởng Liên Bang Bắc Mỹ mới biết được điều đơn giản nầy thì quả tình con người được tiếng là tài giỏi, thông minh nầy cũng không “khá” hơn bao nhiêu người tầm thường khác. Ba Tiểu Đoàn 2, 5, 6 không yểm trợ, không trừ bị tiếp ứng bị lực lượng hai sư đoàn cộng sản tràn qua như một điều tất nhiên sau ngày Nha Trang bỏ ngỏ, 31 tháng 3. Cũng là ngày Huấn Khu Dục Mỹ (gồm các Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động; Pháo Binh, Bộ Binh) tự tan rã.

Phòng tuyến của chiến lược “Đầu bé- Đít to” kia lại thêm lần điều chỉnh, củng cố với một “cái đầu” tại Phan Rang (quê nội của Nguyễn Văn Thiệu). Vùng Phan Rang với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân không hề là vị trí phòng thủ hữu hiệu của bất cứ hình thái chiến tranh nào. Bởi đối phương có thể hành quân tiếp  cận đến Phan Rang bằng nhiều hướng: Quốc Lộ I (Hướng Bắc từ Cam Ranh, Nha Trang đánh vào); Quốc Lộ 11 từ Đà Lạt đánh xuống từ phía Tây-Bắc; từ bờ biển đổ bộ vào (hướng Đông); hoặc đánh vòng từ hướng Nam lên theo Quốc Lộ I. Thành phần binh lính trách nhiệm phòng thủ Phan Rang vốn là những đơn vị đã 
bị thiệt hại lớn ở mặt trận Vùng I (Trung Đoàn 4, 5/SĐ2BB); các Tiểu Đoàn 31, 36, 52 Biệt Động đã mất sức do đã phải tác chiến liên tục từ mặt trận Chơn Thành (Vùng III); Về phía nhảy dù, Lữ Đoàn 2 vừa bị thiệt hại ở mặt trận Khánh Dương, nay được thay thế bởi Lữ Đoàn 3 với Đại Tá Nguyễn Thu Lương Lữ Đoàn Trưởng; Trung Tá Trần Văn Sơn Lữ Đoàn Phó, chỉ huy ba Tiểu Đoàn 3, 7, 11. Toàn thể đạo quân nầy phải chiến đấu tự tồn, không tiếp tế, không yểm trợ đối mặt với đại quân của Quân Đoàn 2 Bắc Việt do Trung Tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy, gồm hai đơn vị chủ lực SĐ325 và SĐ3 của Tây Nguyên (vẫn tiếp tục làm thành phần mũi nhọn tấn công mãi cho đến mặt trận Long Khánh (cuối tháng 4) sau nầy), ngoài ra còn có Đoàn 968 vừa thành lập từ Lào bôn tập về), cùng lực lượng chủ lực, du kích địa phương. Với tương quan lực lượng quá chênh lệch như thế, nên dù người lính cộng hòa có nỗ lực chiến đấu kiên trì bao nhiêu cũng không thể giữ vững các vị trí chiến thuật dọc Quốc Lộ I, có thể ngăn cản đà tiến quân của phía cộng sản (chưa kể đến tình trạng suy sụp, đỗ vỡ tinh thần do lo lắng về gia đình của những đơn vị di chuyển từ Miền Trung vào). Ngày 16/4 toàn bộ cấp chỉ huy cao cấp của mặt trận gồm Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Đại Tá Nguyễn Thu Lương, và nhiều liên đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng đều bị bắt. Trong tình hình ngặt nghèo dồn dập diễn ra, “Đích Thân Lê Lợi 612” đúng danh hiệu “Đích Thân” luôn có mặt cùng mỗi người lính trong những giờ phút gay go nhất. Tướng Quân bay ra Phan Rang, trên chiến địa Khánh Dương đầu tháng 4 để trực tiếp chỉ huy các phi vụ “móc” con cái “Thằng Quyền (Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5); Thằng Hạnh (TĐ2); Thằng Thành (TĐ6).. Tướng Quân tiếp nặng lòng đau đớn cùng lần lui quân bi phẫn của Lữ Đoàn 2 từ phi trường Phan Rang với kết quả, TĐ11ND mất liên lạc toàn bộ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành, cùng một số chiến sĩ trung kiên đồng lọt vào tay địch! Trong trận chiến tuyệt vọng này, Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ Đoàn Phó, và nhiều chiến hữu khác của đoàn quân nhảy dù đồng bị hy sinh với niềm uất hận không thể đền bù. Chỉ mỗi TĐ3 Dù do Trung Tá Lã Quý Trang chỉ huy còn 100 chiến sĩ được trực thăng được trực thăng bốc từ bãi bể nam Thị Xã Ninh Chữ, Phan Thiết. Riêng TĐ7ND của Trung Tá Nguyễn Lô bảo toàn quân số do được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu rút ra khỏi Phan Rang trước khi trận đánh khai diễn.

Lữ Đoàn I ND do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh Lữ Đoàn Trưởng, Trung Tá Lê Hồng Lữ Đoàn Phó gồm ba Tiểu Đoàn 1, 8, 9NDø, Đại Đội 1 Trinh Sát, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh, Đại Đội 1 Quân Y, Đại Đội 1 Công Binh tăng phái Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn chỉ huy tổng quát, trấn giữ Quận Lỵ Xuân Lộc, chận đứng bước tiến từ hướng bắc của quân đoàn cộng sản vào Thủ Đô Sài Gòn. Lươc lượng diện địa phòng thủ Long Khánh LĐ1ND đã làm tròn trách nhiệm giao phó, không để cho địch quân tiến thêm được một tấc đất, buộc đoàn quân “Sinh Bắc – Tử Nam” của dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đại Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng phải trả một giá đắt với 6000 xác chết; 37 chiến xa bị phá hũy. Riêng đối với một đơn vị cấp lữ đoàn, với thiệt hại nghiêm trọng phải chịu đựng sau hơn gần hai tuần chiến đấu liên tục (10/4-21/4) chống chọi nhiều đợt tấn công của Quân Đoàn 4 CS gồm ba sư đoàn bộ binh 6, 7, 431 được hai lữ đoàn xe tăng 203, 204 tăng cường hành quân, dưới yểm trợ của đại pháo tầm xa, có các đơn vị đặc công đánh xuyên phá, mở cửa.. Cuối cùng Lữ Đoàn 1 Dù lại phải đảm nhận thên nhiệm vụ cuối cùng: Bảo vệ tập hậu đoàn quân rút lui gồm các thành phần của Sư Đoàn 18 Bộâ Binh, Tiểu Khu Long Khánh, các thành phần pháo binh cơ hữu và diện địa, lại thêm hàng chục ngàn dân chúng đi theo.. Nên bất chấp ngăn cản của phủ tổng thống do đích thân Tổng Thống Thiệu ra lệnh; bộ Tổng tham mưu với Tổng Tham Mưu Trưởng Khuyên, Đại Tá Lưỡng điều động trực tiếp, xử dụng TĐ 7 Dù và hai chi đoàn chiến xa M113/ Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi làm thành phần tiếp cứu. Lực lượng hỗn hợp nầy xuất phát từ Phước Tuy (Bà Rịa) đi ngược lên Tỉnh Lộ 2, đón thành phần triệt thoái của Sư Đoàn 18, Tiểu Khu Long Khánh, và Lữ Đoàn I Dù về Bà Rịa an toàn. Nhưng cuối cùng, đêm 28 rạng ngày 29/4/75, quân CSBV cường tập tấn công vào lực lượng Nhảy Dù ở Láng Cạn, Bà Rịa, lính các Tiểu Đoàn 1, 8, 9 đánh trả quyết liệt, liên hoàn bảo vệ đơn vị đến Giờ Thứ 25 mới rút xuống Vũng Tàu để lui về Gò Công, từ đây di tản ra hạm đội. Có thể nói Lữ Đoàn 1 ND là đơn vị có quân số đông đảo nhất đã di tản ra khỏi nước. 
Được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu, Lữ Đoàn 2 Dù sau khi rút khỏi Phan Rang về Sàigòn, đặt thuộc quyền điều động của Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh QĐIII/QKIII. Tướng Toàn đã tạm thời chỉ định Trung Tá Nguyễn Lô, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ7ND kiêm nhiệm chức vụ Lữ Đoàn Trưởng LĐ2ND trách nhiệm,  điều động hai Tiểu Đoàn 5 và 7, chận đứng địch trên tuyến Biên Hòa – Xa lộ Đại Hàn – Sàigòn do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh/Lực Lượng Xung Kích/QĐIII (LĐ3KB/LLXKQĐIII) chỉ huy tổng quát. Nhiệm vụ chính của LĐ2ND là tiến quân bên phải đường sắt hướng về Sàigòn; đến ngoại ô Bắc Sàigòn, co cụm lại, bố trí dọc xa lộ Biên Hòa, chặn địch vào thủ đô. Sau 30 tháng Tư, 1975 người đi qua vùng nầy vẫn còn thấy những xác Lính Nhảy Dù chết trong trận chiến giờ cuối cùng bảo vệ Miền Nam.

Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù do Trung Tá Trần Đăng Khôi làm Lữ Đoàn Trưởng, Trung Tá Bùi Quyền Lữ Đoàn Phó với ba Tiểu Đoàn 2, 5, 6 Nhảy Dù từ Phan Rang được rút về đóng ở trại Hoàng Hoa Thám, Tân Sơn Nhất. Đây là đơn vị đã đánh trận cuối, vô cùng ác liệt ngay trong lòng Thủ Đô Sài Gòn-Chợ Lớn, tiêu diệt  nhiều chiến xa T54, T59, và PT76 của địch từ Bà Quẹo, Ngã Tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Trường Đua Phú Thọ, và Chợ Lớn v.v.. Tới giờ phút chót của buổi sáng 30 tháng Tư, các chiến sĩ LĐ3ND vẫn vững tay súng giữ vị trí được giao phó, đơn vị chỉ buông vũ khí sau khi Dương Văn Minh nghe lệnh đầu hàng. Tất cả cấp chỉ huy của lữ đoàn, và các tiểu đoàn đều cùng ở lại cùng anh em binh sĩ, chịu hoàn cảnh tù tội khắc ngiệt nơi Miền Bắc, không người nào dưới mười năm đày ãi, khổ sai: Các Trung Tá Phạm Kim Bằng, Trần Đăng Khôi, Nguyễn Lô, Bùi Quyền.. Thiếu Tá Trần Công Hạnh, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Đức Tâm, Ngô Xuân Vinh.
Cấp đại úy, trung úy không thể kể đủ vì quá đông. Điều đáng hãnh diện là hầu hết sĩ quan nhảy dù đồng chứng tỏ bản lĩnh kiên cường của Người Lính Mũ Đỏ trong hoàn cảnh khắc nghiệt của trại tù làm đối phương dẫu đang ở vị thế kẻ thắng trận cũng phải kiêng dè, kính nể. Trường hợp của các Trung Tá Phạm Kim Bằng, Nguyễn Lô; Thiếu Tá Trần Công Hạnh là những điển hình rõ nét nhất. 
Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tân lập do Trung Tá Lê Minh Ngọc làm Lữ Đoàn Trưởng, với ba Tiểu Đoàn 12, 14 và 15 Nhảy Dù, có đầy đủ quân số tác chiến và đã đưa vào hoạt động thật sự ở Đà Nẵng, Quân Đoàn I/Quân Khu I. Được rút về Sài Gòn giữa tháng 2/75, biệt phái cho Biệt Khu Thủ Đô để ngăn chận CSBV ở cửa ngõ  Thủ Đô Sài Gòn qua cư xá Thanh Đa, xa lộ Biên Hòa, cầu Tân Cảng.

Vào thời điểm Sài Gòn bắt đầu rơi vào tình trạng hỗn loạn, chấm dứt cuộc chiến uất hận, Người Lính Nhảy Dù cùng chiến hữu Liên Đoàn 81 Biệt Kích, Lữ Đoàn Thiết Kỵ.. vẫn chiến đấu kiêu hùng cho đến viên đạn sau cùng, lấy chính xác thân để chận chiến xa của quân thù trên Cầu Xa Lộ, trên đường phố Sài Gòn. Trong  một cao ốc đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, hai sĩ quan và sáu binh sĩ nhảy dù tử thủ cho đến khi hết đạn, họ cho nổ hai quả lựu đạn cuối cùng để tự sát trên sân thượng. Tại Ngã Tư Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt, đồng bào chứng kiến bốn chiến sĩ nhảy dù trang bị đại liên M60, phóng lựu M79; và họ đã quyết chiến đấu tới cùng cho đến khi hết đạn, xong bình tỉnh bước ra ngoài, nắm vai nhau, thành một vòng tròn.. Họ nổ trái lựu đạn sau lời hô quyết tử.. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Nhảy Dù Cố Gắng! Nhảy Dù! Nhảy Dù!
Điển hình là những vụ tự sát tập thể hoặc cá nhân của những Lính Mũ Đỏ: Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái cùng bảy chiến sĩ tại góc đường Trần Hưng Đạo-Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn; Chuẩn Úy Tô Chiêu Minh Đại Đội 204/Quân Cảnh Dù chết ngay trước cổng Trường Trung Học Đắc Lộ, Tân Việt trước cổng Trại Hoàng Hoa  Thám – Ngôi nhà vĩnh cữu của Người Lính Nhảy Dù. Còn rất nhiều trường hợp lẫm liệt hy sinh với lần đất nước tiêu vong.

Cùng lúc, tiếp theo những tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Vị Quốc Vong Thân: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long.. Còn có những Người Lính khác – Những Người Lính Nhảy Dù chết khắp nơi. Những cái chết không ai hay, những người chết không ai biết tính danh đã làm màu Mũ Đỏ thêm thắm tươi sắc máu Trung Nghĩa, và Giải Băng Tang Đen dài cùng nỗi Đau Thương của toàn Dân Tộc.

Lần Chào Kính Cuối Cùng.. 
Lịch sử, quân đội của nhiều dân tộc thường kết liền với danh tính của những cá nhân kiệt liệt – Những người dựng nên các triều đại, chỉ huy những chiến dịch lớn, quyết định vận mệnh của dân tộc, quân đội ấy.. Hán Cao Tổ, Lưu Bang (202 Trước CN); Minh Thái Tổ diệt Nhà Nguyên ( 1368). Đối với Nước Việt, những chiến thắng Vân Đồn, Vạn Kiếp (1285) của đời Nhà Trần gắn liền với danh hiệu Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Và gần đây, danh tính những danh tướng Eisenhower, Patton (Mỹ); Montgomery (Anh), Rommel (Đức); Yamamoto (Nhật).. cùng lần được nhắc nhở với những sự kiện chính trị-quân sự quan trọng của quốc gia họ trong tiền bán Thế Kỷ 20. Sau chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) không thể không nói đến Võ Nguyên Giáp, De Lattre..v.v. Riêng với Miền Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, kỳ diệu đáng tự hào thay, suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1954-1975), từ những xung đột giáo phái ở những năm khởi đầu nền Đệ Nhất Cộâng Hòa thành lập ở Miền Nam (1955-1963) tiếp cho đến ngày tàn cuộc 30 tháng Tư, 1975, luôn bền bỉ đứng trong hàng quân, và kiên cường chỉ huy chiến đấu: Người Lính Nhảy Dù – Đích Thân 612 Lê Lợi Lê Quang Lưỡng – Không một năm tháng ngơi nghỉ. Không một chiến dịch vắng mặt. 
Hiện diện trong cơn pháo tập. Giữa trùng vây. Đầu tuyến xung kích. Cảm động biết bao và đáng kính phục dường nào. Đích Thân luôn hứng chịu đầu ngọn cuồng phong bão lửa. Đích Thân luôn có mặt cùng “con cái”. Đích Thân luôn có mặt với “mấy thằng em”.

Vĩnh Biệt Lê Lợi- Đích Thân 612!!

Viết lần Nhất – Ngày 1 tháng 11, 2005
Ngày Các Thánh trên Trời
Và Người Lính dưới mặt Đất. 
Viết lại lần Hai- Tháng 7 
Ngày Rằm Xá Tội Vong Nhân -Tháng 8, 2013
Phan Nhật Nam

Mùa Xuân đen

vietmessneger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 29 Nov 2025

30. Dòng đời cho đến hôm nay

Thuở nhỏ dường như tôi không có học lớp mẫu giáo, hay có thể có mà tôi không biết. Tôi chỉ mang máng nhớ có học trong một ngôi trường gạch nhỏ gần Cây Trôm cách thành phố Phan Thiết khoảng 5, 6 cây số gì đó về hướng Ma Lâm, nhưng không biết đó là lúc học sổ hàng rào hay học đánh vần. Tôi chỉ nhớ trường nằm phía Tây liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm.

Thời đó, tôi không biết Ma Lâm là gì, liên tỉnh lộ 8 là gì, chỉ biết trường nằm không xa cái bàu nước mà mỗi lần đi học, gặp ông thầy, đám trẻ tụi tôi đều trịnh trọng ôm sách cúi đầu chào.

Chiến tranh, chả nhớ năm nào, khoảng 1946, 1947 hay 1948 gì đó, thằng nhóc có biết mẹ gì đâu, chỉ biết chạy theo cha mẹ, chạy theo dòng đời loạn lạc, rày đây mai đó, cho đến một hôm, ông già liên lạc được một ông chú ruột đang ở thành phố, ông dắt tôi về Phan Thiết giao cho ông chú nhờ nuôi thằng nhóc, cho thằng nhóc đi học. Thế là tôi từ tên học trò nhà quê chuyên đá dế rơi tòm vào nhà thờ Tin Lành Phan Thiết trước Chùa Ông. Chú ông già tôi chính là cụ mục sư Lê Khắc Chấn.

Tôi ở trong nhà thờ, hàng ngày đi học chung với hai thằng em chú bác khác tên Lê Khắc Minh và Lê Khắc Quang (nay đã bò qua 6 bó, sống ở Cali). Ba thằng nhóc tôi đi học ở trường tiểu học Đức Nghĩa. Tại đây, ngoài hai nhóc con ông chú, tôi còn nhớ duy nhất thằng bạn thời tiểu học là Lê Giao, sau này cùng chui vô Phan Bội Châu với tôi. (nay dường như Lê Giao ở Hòa Lan).

Ngày đến trường xếp re dưới cây thước bảng gõ cọc cọc trên bảng, tên của ông thầy nay đố mà tôi nhớ, chiều về cả đám lại ngán cây chổi lông gà của ông tôi, tức cụ mục sư Lê Khắc Chấn. Cụ rất nghiêm, lười biếng, lạng quạng là ăn chổi… Cũng vì “ba đứa chúng mình” gây lộn vì chuyện gì đó mà tôi cóc nhớ, nên cả ba nhóc bị một trận chổi phạt “tưng bừng” của ông cụ…

Sau trận đòn này, nằm đêm tôi nhớ những con dế, những gốc rạ, những đêm trăng vằng vặc, những ngày câu cá bên bờ suối… và tôi xin phép ông tôi để về quê trở lại. Tôi rời trường Đức Nghĩa phóng về Trinh Tường ở với Bà Nội. Nhà bà Nội tôi cách trường Trinh Tường chừng vài đám ruộng. Tôi vô trường này bắt đầu từ lớp nhì.

Trường này được coi là “giao lộ” giữa thành phố và nông thôn, nửa quê, nửa tỉnh, thành phần học sinh từ thôn quê có, từ thành phó cũng có. Thằng bạn duy nhất mà tôi nhớ tên là Huỳnh Ngọc Phẩm, sau này cũng chui vô Phan Bội Châu cùng lớp tôi. Phẩm cũng là tên học rất ngầu, viết chữ đẹp, khi học ở Tứ 3, tôi làm báo tường, Phẩm là tên viết bản in.

Tôi và Huỳnh Ngọc Phẩm vô Phan Bội Châu một lượt. Tôi nhớ như in ngày thi vô đệ thất Phan Bội Châu, dù bà Nội tôi biết tôi học vào hạng “siêu nhất nhì trường làng”, bà cũng không tin thằng nhóc con nhà nghèo “không cha, không mẹ” như tôi lại có thể lọt vô cái nhà trường “lừng danh” như Phan Bội Châu. Bà nghĩ trên 2 ngàn thằng nhóc, đa số là con cái tinh hoa con nhà giàu, sẽ bít cửa tiến thân của thằng cháu nhà quê của bà. Bà mua một con gà trống tổ chảng, làm thịt, cúng vái. Bà vái cái gì đố tôi mà biết, lâm râm cái chi bố tôi mà hay…

Mà linh thiệt! Thi xong, tôi về nhà hồi hộp! Vô đệ thất Phan Bội Châu thuở ấy như ngày nay ngồi trong phi thuyền chờ đếm 10 xuống đến zero! Hôm sau xuống trường Nữ Phan Thiết xem dán bảng kết quả, tai tôi lùng bùng thấy tên mình đứng thứ 17 trong số 50 tên nhóc chằng chịt những Đinh, Lê Lý, Trần, Đặng, Nguyễn… chút nữa quên, Mai, Lại…. Bố khỉ! Viết thiếu hai tên Mai Thiết, Lại Thế Thiết sợ nó nói tôi kỳ thị họ hàng…

(Tôi sau này là dân Bộ Binh, hai thằng này, một thằng là dân Pháo binh Dù, một thằng là mũ nâu BĐQ thứ hét ra khói, ra lửa…)

Trở lại chuyện xưa. Khi thấy tên mình trên bảng đậu, tôi xem lại năm sinh, sợ lộn tên thằng phải gió nào mà mừng hụt thì quê, thấy đúng là chàng, tôi phóng xe đạp cùn, chạy một mạch về nhà…

– Nội! Nội đâu rồi! Có cái này hay lắm Nội!

Nội tôi bỏ nồi cơm sau bếp bước vội ra:

– Cái gì mà mày la làng la xóm vậy?

– Con đậu vô đệ thất Phan Bội Châu rồi!

– Thiệt không con?

Nội tôi mừng rỡ, song hỏi lại lần nữa .

– Thiệt không con? Thiệt không con?

– Thiệt mà Nội! Con coi đúng tên con, đúng họ con, đúng ngày sinh con mà!

Nội tôi ôm tôi vào lòng. Bà mừng, bà hãnh diện và cảm động lắm. Bà nhớ những đêm tôi học bài bằng đèn dầu, nhà không có bàn học, lấy bộ ván làm bàn, chân quỳ dưới đất viết bài, hay nằm sắp trên ván làm bài. Chuyện tôi vô đệ thất Phan Bội Châu là điều ngoài sự mơ ước trong đầu bà. Rồi bà chợt buột miệng:

– Chắc nhờ Nội cúng con gà trống van vái Trời Phật phò hộ đó con!

– Con đâu biết Nội! Nhưng Nội có biết không? Trong trường con học ngầu lắm, bộ Nội tưởng con bết hả! Con và thằng Phẩm là hai đứa nhứt nhì trong lớp đó Nội! Con mà ngu thì con gà trống làm gì nổi để đậu được Nội!

– Thôi đừng cãi nữa! Thằng cứng đầu! Đi ăn cơm đi! Mai Nội cho tiền mua sách vở và quần áo để vô trường!

Ngày đầu tiên nhập học, lớp đệ thất mới toanh của tôi là một tập hợp “loạn xà ngầu” của những thằng nhóc quê có, tỉnh có, tuổi tác, vóc dáng khá cách biệt. Già nhất lại là hai tên nhà quê lên tỉnh học, tên nhỏ con nói tiếng trọ trẹ giọng Huế làm tụi tôi chú ý tên Hoàng Công Bình, đến từ đầu cầu Phú Long.

Tên cao thủ nhà quê, to, cao nhưng đạo mạo đáng nể tên là Huỳnh Ngọc Ghênh, đến từ Mũi Kê Gà gần Bình Tuy. Ông thầy hướng dẫn đầu tiên tên gì, tôi đố mà biết, “ra lệnh” bọn tôi bầu chọn trưởng lớp và phó lớp. Tụi tôi ngó nhau, “nhất trí” đồng loạt chỉ tên to con, đạo mạo đáng nể:

– Anh Huỳnh Ngọc Ghênh làm trưởng lớp thầy!

Ông thầy ghi vào sổ Thất 3: Trưởng lớp Huỳnh Ngọc Ghênh.

– Còn phó lớp, các em chọn ai?

Cặp mắt mấy thằng nhóc rà qua lại như “radar rà mìn”, rồi chả biết sao, cả đám đồng loạt:

– Anh Hoàng Công Bình thầy!

Ông thầy lại lui cui ghi Hoàng Công bình làm phó trưởng lớp dưới tên Huỳnh Ngọc Ghênh. Xong rồi, thầy giao lớp lại cho hai ông Trưởng, Phó mới toanh rồi ra khỏi lớp, đi về phòng ông hiệu trưởng, tôi quên mất, dường như là thầy Lê Tá thì phải.

Lớp mới còn ồn ào. Ghênh đứng dậy, lên bục nhìn xuống như một ông tướng cồ lô, ra lệnh:

– Các anh về lại chỗ ngồi! Và giữ trật tự!

Chả hiểu tại sao cái đám nhóc vô trật tự mới gặp nhau buổi đầu lại tuân lệnh Ghênh răm rắp. Khi Ghênh vừa về lại bàn đầu thì thầy hướng dẫn lớp trở lại. Như một cái máy mới ra lò, Ghênh đứng dậy và hô lớn:

– Cả lớp đứng dậy!

Như mấy ông nhà binh, cả lớp đứng dậy cái ào để chào thầy. Khi thầy vào ghế ngồi, Ghênh hô: “Ngồi xuống!” Cả lớp ngồi xuống êm ru. Buổi học đầu tiên bắt đầu, nề nếp, trật tự, nghiêm trang. Và bọn nhóc Thất 3 tụi tôi dường như đứa nào cũng thấy mình đổi đời, lớn hơn thêm. Tui bây giờ là một học sinh trung học trường Phan Bội Châu số một rồi nha! Từ Tiểu học vô Trung học là một nấc mới vươn lên từ chuỗi đời thơ ấu.

Thời gian bào mòn đời người trong cõi tử sinh phù du bèo bọt. Thời gian bào mòn lại không khốc liệt bằng chiến tranh, bom đạn. Chiến tranh đã tàn phá và cướp đi không biết bao nhiêu tuổi xuân của lớp tuổi chúng tôi, người ngã xuống giữa chiến trường, người vùi thân trong tù ngục, người chết giữa biển đông, người ra đi vì bệnh tật…

Lớp chúng tôi đã đi chung với nhau từ đệ nhất cấp lên đệ nhị cấp, và sau đó chia tay trước sân trường Phan Bội Châu. Chiến tranh cuốn hút mỗi đứa vào một lộ trình sinh tử khác nhau. Đặng Hùng đã chết rất sớm khi chưa rời ghế Phan Bội Châu trong một trận đá banh, đạp đinh và bị “tetanus” trong năm đệ tứ, Trần Thành Bang chết trận, Đỗ Hữu Vịnh chết bệnh sau 75 tại Việt Nam, Nguyễn Văn Chúc ngồi xe lăn năm 71 khi dắt đại đội hành quân vướng mìn VC; Huỳnh Ngọc Ghênh, trưởng lớp, ra khỏi Đại Học Huế, chui vào Thủ Đức, ra trường làm nghề thẩm vấn tù binh tại Trung Tâm Thẩm vấn tù binh Biên Hòa, sau 75 bị đưa ra Bắc và chết trong tù. Tin anh em tù Bắc cho hay Ghênh bị VC hành quyết trong một vụ trốn trại, giờ không biết mồ mã anh ở phương nào.

Hiện nay tôi không biết chính xác lớp tôi ai còn, ai mất. Người trưởng lớp Huỳnh Ngọc Ghênh đã ra đi, ông phó lớp Hoàng Công Bình, sau thời gian dài làm hiệu trưởng dưới chế độ đen thui… nay đã về hưu. Tôi không biết làm sao có thể đếm được anh em ai còn ai mất. Đại gia đình Phan Bội Châu có cái truyền thống rất là hay, là cứ hai năm tổ chức hội ngộ một lần, và trong các cuộc hội ngộ đó, mình gặp bạn cũ, người xưa, mò tin anh em, bè bạn… Vui có, buồn có, nước mắt có, hạnh phúc có… Cái gì cũng có, nhưng người muôn năm cũ thì chắc không còn gì “để nhớ để thương”!

Hè năm 2006, Lại Thế Thiết và phu nhân không biết đi đâu lại lạc đến chốn Vancouver và ghé nhà thăm tôi. Trong bữa cơm trưa tại nhà, hai đứa tôi có “điểm danh” những anh em trong lớp, và Thiết không ngờ lớp mất quá nhiều. Thôi thì còn được đứa nào mừng đứa đó. Nếu Hội Ngộ PBC 2008 tại DC mà “hàng thần lơ láo” lớp tôi chỉ có mình tôi giữa hàng bánh căn mì Quảng… thì làm sao tôi nuốt cho vô. “Hỡi cô ngồi đổ bánh căn! Cô ngồi múc bột biêt chăng tôi buồn!”

Mùa Xuân tóc trắng mắt cay

Nghìn xưa còn đó những ngày liệt oanh.

Du tử – Núi Ba Sơn – Tưởng khúc Phạm Nhuận

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 30/06/2013  

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

Nhà thơ Du Tử Lê và tác giả

như cơn gió mùa thu hao trầy cũ
mang thầm tiếng Hà-nội xưa về
áo khoác lính trông nguyên cự phách
cơ thể nhẹ dường thất lạc số quân
dẫu di tản vẫn nguyên vẹn thường trú
suối nguồn thơ giữa lau sậy bãi bồi

người tự nhận moa là kẻ homeless
con dốc ngược thắp thuốc nghẹn montréal
khi tôi chết hãy mang tôi ra biển
cà phê đen tuồng như quên bỏ đường
khói giạt bay nói chi lời muối xát
cứ sống thở bởi thánh nữ vẫn cần tôi
con dế tự tử là chuyện riêng của nó
mai chúng ta ấm bụng phở góc đường
che dung dị mây vẫn trôi tiền kiếp
đội nắng mưa băng tuyết mỗi hạn kỳ
khúc Hát Tê mãi chưa buông dấu chấm
ngày tôi chết hậu vận hẳn còn xa

tôi vẫn thích giọng thơ người kể
dù ngỗn ngang vướng phải những ngắt rời
chấm phết ấy tựa địa hình sông núi
xa muôn trùng người ở tận cali

ngày huỡn đãi ngó lui nhìn ảnh cũ
nhớ áo lính thôi máng hoa mai
ở đây đôi khi tôi làm đứa du thủ
tròng áo lưu vong thử vác nặng câu thơ.

Núi Ba Sơn

Sơn là núi, khe đồi nằm lũng thấp
mây mang thân lưu trú để sa sầu
Sơn là người cũng thấy mình hư ảo
em thơ đi lục bát cắt đường đau
chốn mù sương bỏ về trong tịnh khẩu
xô ai ngồi nhật nguyệt mòn bên vai

núi nặng lắm nghìn cân so họ Tạ
có vàng không chiều dâng lên Hoàng xuân
sao núi lặng nghe đời nghiêng nhạc Trịnh
sóng xô chân vỡ vị mặn bạc đầu

giở trang kinh ghi vội lời vĩnh quyết
hỏi han giùm núi nhẹ chút phù vân?
cõi nhân gian ôi tuyệt cùng bạc bẽo
xin trôi thân ẩn bóng núi bên triền
tưởng mây bay va vào khung viễn mộng
choàng vai nhau vơi đầy tình hư không

(Phong là gió, có khi xem hiền hữu
nhờ cưu mang
thổi hộ lòng
cho giạt tới muôn phương
đùa nhẹ thoảng lời giễu nhại cuối:
gió đưa nhời ấy về giời
tôi xin ở nại hứng đời trắng tay).

* thi sĩ hoàng xuân Sơn
văn sĩ song thao tạ trung Sơn
nhạc sĩ trịnh công Sơn
ba Sơn chụm lại
chẳng màng núi cao
tiếc là chẳng được hân hạnh
quen thêm ngọn núi nào khác
cho đủ Thất sơn vây bọc
buồn thay buồn thay!

Tưởng khúc Phạm Nhuận

người ở lại hay phiêu bồng biên giới
dòng sông xưa nghi hoặc sóng thôi bồi
con nước cũ ngại triều dâng thấm rượu
đẫm vào thơ mai ta đi nào kịp vẫy tay chào

người vẫn hiểu càn khôn bày giới hạn
khoảng trống lặng nhuốm vàng hề rêu rong
ở thành nội còn bay hoài sợi tóc
nhớ giùm cho sương khói một phương trời

chén rượu đầy tịnh không ai chia cạn
giọt chiều tà hoen sẫm st-denis
rót câu kinh từ mịt mùng trôi tụng
mang tôi về diện bích bóng hình xưa

đường có xa vô thường để nhìn mặt
bao năm qua chim trốn tuyết quên lời
hót cho đời những tiếng thanh tao
nguyền quá khứ cứ yêu không ngần ngại

ngày đóng lại cài then không bằng hữu
đêm phôi pha chìa khóa rời mất tăm
tôi phá mồi trên chiếu đời mông quạnh
trang thơ rời mặt trời và dòng sông.

* Trong bài có vay mượn một vài ảnh hình và chữ nghĩa cá biệt của nhà thơ Phạm Nhuận. Lại nghe giờ này người ưa trì chú tụng niệm. Lành thay!

Hồ Đình Nghiêm

Giờ giấc? Chuyện chết giấc!

Đoàn Xuân Thu

August 22nd, 2025

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

1.

Tưởng chuyện “giờ giấc” chỉ là việc ngó đồng hồ mà biết sáng hay chiều, ai dè bước ra khỏi Việt Nam mới thấy đời không đơn giản mà đang giỡn.

Mở mắt ra ở Melbourne trời 4 độ C lạnh run, răng va lập cập như đàn kiến đang gõ trống. Gọi cho em bên Little Sài Gòn hỏi em ăn sáng phở hay mì thì em nói trong nắng hạ hoàng hôn em ăn instant noodle tức em ăn mì gói cho đỡ đói.

Sao kỳ vậy? Thưa quý vị, tại vì Trái Đất không nằm phè ra cho dễ hiểu, mà nó lại… nghiêng. Cái trục nghiêng 23.5 độ ấy khiến Bắc bán cầu và Nam bán cầu “không chơi chung được mùa nào”.

Cho nên, tháng Tám ở Việt Nam là mùa Hè đổ lửa, còn ở Úc – Melbourne chẳng hạn – lại là giữa mùa Đông lạnh teo bugi, nếu có bugi. Còn ai không có bugi thì lạnh cái khác…

Khi người Việt trong nước đang ngồi quạt mo, Úc đã lấy áo len. Khi bà con ở Sài Gòn hớn hở đón Xuân thì Úc đang… lá Thu rơi. Bán cầu lệch mùa, dân tình lệch cảm xúc, đó là chuyện thường tình!

2.

Múi giờ – chuyện đau đầu từ kinh tuyến!

Địa cầu có 360 độ, người ta chia đều ra 24 múi giờ, mỗi múi 15 độ kinh tuyến. Mỗi nước nằm chỗ nào thì canh giờ theo múi giờ chỗ đó.

Giờ quốc tế gọi là GMT, giờ Việt Nam là GMT+7, Melbourne là GMT+10 vào mùa Đông, và… GMT+11 vào mùa Hè (vì có vụ gọi là “giờ tiết kiệm ánh sáng” – Daylight Saving Time).

Hậu quả là: có hôm mình gọi điện về Việt Nam hỏi “Sáng chưa?”, bên kia trả lời: “Sáng sớm… hôm sau rồi ông ơi!”

Tranh Bảo Huân

Chưa hết! Có lần em Út Đẹt ở Little Saigon (California) gọi điện về Melbourne thăm người yêu cũ – một anh chàng tị nạn mới qua Úc. Cô gọi lúc 10 giờ sáng giờ Cali, tưởng anh đang nhâm nhi cà phê sáng. Ai dè bên Melbourne là… 3 giờ khuya. Chàng đang ngủ ngon lành, ke ướt đầy mồm, ngáy như trâu rống, mộng thì điện thoại reo vang như còi báo cháy! Bị đánh thức giữa giấc mơ ăn bò viên rạp Đại Đồng Cao Thắng, chàng nổi nóng, không thèm bắt máy. Kết quả: nàng giận, không thèm gửi $100 như đã hứa. Vậy là chỉ vì múi giờ mà tan tình ta, mất tiền em cho. Khổ chưa?

Bảo Huân

3.

AM, PM và mối tình oan trái với đồng hồ 12 giờ.

Giờ giấc trên thế giới có hai phe: một bên dùng hệ 12 giờ (thường là Mỹ, Úc, Philippines), bên kia dùng hệ 24 giờ (quân đội, bệnh viện,  chánh án, y tá).

Hệ 12 giờ chia ngày ra AM và PM:

* AM (Ante Meridiem) = Trước trưa, từ nửa đêm đến 11:59 sáng.

* PM (Post Meridiem) = Sau trưa, từ 12:00 trưa đến 11:59 khuya.

Chuyện tưởng đơn giản, nhưng thử hỏi: 12 AM là mấy giờ?

Nếu bạn nói “12 giờ trưa”, xin chúc mừng… trễ máy bay! Vì 12 AM là nửa đêm!

Một ông Mít kiều mới qua Úc đặt vé máy bay đi Sydney “12 AM” mà tưởng trưa, ra sân bay lúc 11 giờ sáng, bị hãng bay nó cười: “Bay đi hồi khuya rồi, ông nội!”

Trong khi đó, hệ 24 giờ thì đỡ nhầm: 12 giờ trưa là 12:00, 5 giờ chiều là 17:00, 11 giờ đêm là 23:00.Nhưng nhiều người Mỹ lại kêu: “Khó thấy bà làm sao nhớ?” – thế là họ trung thành với AM-PM, rồi sau đó… la làng vì lỡ hẹn.

4.

Đồng hồ từ đâu ra? Ai bày ra cái vụ 24 giờ này?

Trách ai bây giờ? Hãy trách… người Ai Cập cổ đại. Chính họ là người đầu têu chia ngày thành 24 giờ.

Lý do? Nghe rất “nghệ”: bốn ngón tay (trừ ngón cái) mỗi ngón có 3 đốt, cộng lại 12 đốt. Dùng ngón cái đếm, được 12 giờ. Hai bàn tay là 24 giờ. Đơn giản, tiện tay, khỏi cần máy tính!

Chữ “giờ” tiếng Anh là “hour”, bắt nguồn từ Latin “hora”. Phát âm tiếng Mỹ là /ˈaʊɚ/, tức là chữ “h” câm – giống như tình yêu cũ, thấy có mà thật ra… mất mẹ nó rồi!

Một giờ có 60 phút, một phút có 60 giây, vậy một giờ = 3600 giây. Ai rảnh thì cứ đếm, còn tui thì chừng nào tới giờ cơm bụng đói là biết thôi.

5.

Múi giờ và những tai nạn dở khóc dở cười.

Thời đại Zoom, Skype, FaceTime… chỉ cần sai giờ là hỏng hết. Tình yêu xuyên biên giới mà không canh đúng giờ là tiêu:

– Em đang rót rượu đỏ nhậu thì anh… đang ngáp ngủ.

– Anh nói “nhớ em” thì bên kia… hết pin.

– Hẹn họp 10 giờ sáng giờ New York, nhưng sếp ở Melbourne vô trễ 14 tiếng, mất hợp đồng 2 triệu đô, giờ ngồi bán cà phê dạo.

Chưa hết, nhiều bạn trẻ du học Úc, học online lớp bên Anh, họp nhóm với bạn ở Mỹ, mà mẹ thì gọi điện từ Việt Nam lúc 3 giờ sáng… Lịch học, lịch họp, lịch ăn, lịch ngủ – lộn tùng phèo như cháo lòng không có huyết heo và giò cháo quảy.

6.

Kết luận: Đồng hồ thì có số, nhưng đời thì… loạn cào cào.

Người ta hay nói: “Thời giờ là vàng bạc.” Ừ thì đúng, nhưng vàng này hay đổi giá, còn bạc thì lúc trắng lúc đen. Đời đen bạc là thế đấy!

Thời gian là một chiếc áo may sẵn, nhưng không ai mặc vừa. Người thì thấy nó chật – trễ chuyến bay, trễ cuộc hẹn, trễ tình yêu. Kẻ thì thấy nó rộng – ngồi chờ cuộc gọi không đến, đợi tin nhắn không về.

Với dân viễn xứ như tui, thời gian không chỉ là mấy con số chạy lòng vòng trên mặt đồng hồ. Nó là cảm giác “lạc nhịp” với quê hương. Là khoảnh khắc nhớ mẹ thuở xưa, miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương lúc trời khuya lạnh lẽo. Là khi muốn hỏi “má hết bịnh chưa?” thì ở bên kia… má đang đi chợ.

Tái bút – Tình giờ vẫn còn … nguyên vẹn.

Từ Melbourne – nơi đang là mùa Đông, tôi xin gửi lời chào đến Little Saigon – nơi chắc đang hè chói chang. Nếu có ai hỏi: “Bây giờ là mấy giờ?” – tôi chỉ biết trả lời: “Giờ là… giờ nhớ nhau!”

Còn đúng mấy giờ? Xin coi đồng hồ! Hay… hỏi trái tim mình.

ĐXT

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

Chương 13.

Vườn Ông Thượng.

Long là Vườn ông Thượng là chưa đúng. Vườn ông Thượng, cũng gọi là công viên Tao Đàn. Phiên dịch Parc Maurice. Tôi không hay giỏi hơn ai, chỉ được cái già (tuổi 92) và là mọt sách.

Tôi lại ham nói, nay xin nói về công viên tên Pháp gọi “Parc Maurice Long” và có một tên Tây khác nữa là “Jardin de la ville”. Theo tôi hiểu “parc” là vườn, công viên, hoa viên, gọi như vậy đều được. Có người đã nói và có lẽ nói ẩu là Vườn Tao Đàn, có người gọi là Vườn Ông Thượng và Thượng đây là toàn quyền Pháp tên Maurice Long.

Tôi nghe thì tức tức, nhưng cãi cọ, cãi giống làm chi, cũng là người kiếm cơm bằng viết lách như nhau. Nay tôi nói như dưới đây, nghe hay không, cũng mặc. Theo tôi tra cứu trong sách đã có, thì Maurice Long làm toàn quyền cõi Đông Dương đến hai kỳ, lần 1 từ 21-2-1920 đến 17-11-1920; và lần thứ 2, từ ler-4-1921 đến 14-4-1922. Nhưng Maurice Long khi ở Pháp trở lại kỳ nhì, khi tàu đến Colombo, ông vướng bịnh thiên thời (choléra) và tắt thở ngày 15-1-1923 quan tài được chở về Pháp theo chiếc André Lebon. Cho hay làm đến chức toàn quyền mà cũng bị giặc trời như ai, quả trời xanh có mắt.

Còn danh từ “vườn ông Thượng”, theo tôi, ông Thượng đây là kính trọng không dám gọi tên và chỉ gọi theo chức tước, Thượng đây là ông Tả quân có lăng mộ thờ nơi Bà Chiểu, ngài có miếu thờ trấn chận trước dinh tòa bố của Tây mà không bị Tây phá và ngày xưa, đất của ngài, chạy dài suốt từ lăng miếu đến khỏi dinh Toàn quyền Tây cũ và ăn lấn luôn vườn Tao đàn nên dân chúng gọi “vườn ông Thượng” là vậy. Năm 1920, học trò trường Chasseloup- Laubat bỏ trường làm “reo” (grève) lần thứ nhứt ở đây – có tôi trong số nghịch ngợm nầy, thì đã có danh từ “vườn ông Thượng” từ lâu từ đời cố hỷ nào cũng không chắc. Nay tôi xin trích dẫn ra đây lai lịch Parc Maurice Long nhưng không chỉ tôi cóp theo sách nào. Đầu tiên, vườn nầy vẫn thuộc và dính liền với hoa viên dinh Toàn quyền cũ. Vào năm 1869, Phó Thủy sư đô đốc Contre-Amiral Chier, với trách nhiệm làm toàn quyền, ra lịnh cắt đứt phần sau của hoa viên và giao cho đô thành làm vườn công cộng cho dân chúng dạo chơi, nhưng suốt ba chục năm trường, đô thành nhận lãnh mà không làm gì theo ý toàn quyền là phải nối dài đường Taberd (nay là Nguyễn Du) chạy nối giáp tới đường Verdun (C.M.T.8 nay) và khai thông vườn với ba cổng (cửa) lớn Taberd, Verdun, Chasseloup (nay đã có rồi).

Đến năm 1899, hoa viên nầy bị bỏ rơi, đô thành không thiết tha đến và vì vậy, có việc vườn bị cắt đất bán chia tam xẻ tứ và nảy ra có: âm nhạc.

– Hội hiếu nhạc “société philharmonique” chiếm một khoảnh (1896) nay quốc gia.

– Hội Tam Điểm (Loe Maonnique) chiếm một phần (1897) và năm nầy có đường Miss Cavell (nay Huyền Trân công chúa).

– Cùng một lúc, có một thực dân Pháp đề nghị xin mướn trọn hoa viên trong 15 năm để lập vườn trồng cây vani, y cho dân được dạo chơi trong vườn, chừng ấy đô thành mới tỉnh ngộ và không chấp nhận lời bao thầu như vậy.

– Năm 1902, hội Câu lạc bộ Thể thao “Cercle Sportif” thành lập chiếm một phần.

Đến ngày 26-2-1923, hội đồng đô thành mới thật thức dậy và để tưởng niệm toàn quyền làm khá nhiều việc ích cho xã hội và đặt tên là Parc Maurice Long. Nhưng vườn vẫn còn bị chia cắt vì thống đốc Krautheimer, năm 1926 và 1927 lập nơi góc Chasseloup và Verdun Viện Dục nhi “Institut de Puériculture”, năm 1932 trở nên trụ sở bộ Y tế và hội A.M.A.S.

Đến đây, tôi nghẹt lối, hồng biết gì thêm nữa, duy nay còn dư chút giấy, tôi xin thêm: Về Maurice Long, Tây với Tây phá nhau, nên đã có báo đối thủ, nhạo chơi và đặt tên lại là Maurice Scieur de Long và scieur de long là thợ xả súc gỗ thành gỗ ván, đố v.v .. , nhưng toàn quyền vẫn cười và không giận.

Một đàng khác, năm 1947, từ Sốc Trăng tôi chạy lên đây, và khi chạy lên xóm Cù lao ở chung với bà Năm Sa Đéc, trên đường gọi đường Võ Di Nguy, mé trái từ viện bảo tàng về xóm, nơi một quán nhỏ bé của một anh thợ hớt tóc quen nhau từ ở Sốc Trăng, khi tôi ngồi cho thợ cắt tóc, chợt tôi thấy treo trên vách, một bức ảnh vẽ dâu màu, là ảnh Maurice Long, miệng ngậm ống điếu cối, râu ria xồm xàm, tóc tai bù rối, tôi chăm chú nhìn thật kỹ, thì đó là một bức họa độc đáo, nói ra đây thì tục và đó là ảnh một con đầm lõa thể nằm lõa lồ, tóc thả xuống, hai vế dựng ngược lên và mồm của toàn quyền Pháp là cửa mình của mụ đầm. Tôi nài mua, anh thợ hẹn sẽ bán … sau tôi trở lại thì anh thợ nầy dọn đi mất!

(viết thêm ngày 26-9-1993)

Công viên Tao Đàn, tên Pháp Parc Maurice Long, tên xưa vẫn là Vườn ông Thượng và một lần nữa, tôi xin lặp lại rằng ông Thượng đây, chính là ngài Tả quân có lăng mộ và miếu thờ ở Bà Chiểu, mà xưa kia không một ai dám gọi ngài bằng tên tộc, chính chức phẩm cũng tránh và kính nể gọi Ông Thượng là đủ, thậm chí ngài làm thái giám, thì dân chúng ở đây cũng kiêng cữ không dám nói chữ “giám” và dùng chữ “giếm” để thay thế. Một tên Pháp khác là Jardin de la ville, thì rất phân minh rồi, duy còn một danh từ mượn của tiếng Tây là “Vườn Bờ Rô” Bờ rô là gì, đến nay còn phân vân bất nhứt, mạnh ai nấy nói và giải thích, không ai nhượng cho ai:

– Một thuyết, do anh giáo Trần Văn Xường, dạy ở Chợ Lớn, nay đã khuất, Xường, tiếng Tàu, tức là Tường, vẫn cho rằng, hoặc người Tây coi sóc vườn có tên là ông Bureau, hoặc giả, ông nầy làm trên văn phòng (bureau) và khi người phu làm vườn muốn lãnh tiền thì lên “bureau” mà lãnh, nên gọi vườn như vậy. Nay anh Xường đã không còn, tôi xin miễn luận.

– Một thuyết thứ 2 là theo như tôi đã nghe người tuổi tác dẫn giải cho biết, thì “Bờ rô” có lẽ do chữ “préau” của Pháp. Vả lại, hiển nhiên:

– “Préau” là sân có lợp nóc để tránh mưa gió của các tu viện, bịnh viện, ngục thất và học đường, mỗi lycée nào cũng có, trường Chasseloup có một préau, không biết nay ra thế nào, và préau nầy ở mé đường Lê Quí Đôn, sát cửa vào. Vậy tôi xin chừa danh từ “Vườn Bờ Rô” cho người cao kiến dạy lại. Riêng như tôi biết và chứng cớ rành mạch thì nơi mé sân túc cầu, phía đường Huyền Trân, lúc đầu tôi có thấy một bệ khá cao và rộng, đời Tây, họ làm nơi diễn tuồng, diễn thuyết, có khi dọn làm sân đánh võ “boxe” và gọi “préau”.

Qua năm có bày hội chợ, gọi kermesse, lối những niên 1930- 35 gì đó, thì họ đặt thêm nhiều chậu kiểng cau vàng và lấy préau nầy làm “théâtre de verdure” rạp hát ngoài trời hoặc lộ thiên gì đó và vợ chồng tôi vẫn có đến dự.

Nay nói luôn bắc cầu qua vài địa danh tiếng Tây, nay đã lạc lối, tỷ như:

– Service de pyrotechnie, đã dịch “Sở kho đạn”, tưởng khỏi cần dài dòng …

Có 3 địa danh đều do chữ “ma” khởi đầu:

– Thành “Ô Ma” là thành lính tập “tirailleurs”, Pháp gọi Camp des Mares. Khu đất rộng bao la hà lãng, nay lấy làm trường Đại học Sư phạm, v.v …, trước khi thuở đàng cựu, có miếu thờ cô hồn và Ngũ Hành, có chứa hai con sấu to dữ và nơi mé Nguyễn Cư Trinh, tôi có gặp sau Tây dỡ mất là một trại thật lớn lợp ngói có rất nhiều cột gỗ và mối ăn, gọi Hiển Trung Từ do chúa Nguyễn Ánh lập thờ công thần (có thờ lính Pháp tên Manuel (Mạnh Hòe) nữa và đời Tây thì để luôn làm miếu của Trại Lính Tập, Hiển Trung Từ nầy vẫn liệt vào hàng cổ tích (monuments historiques), nhưng đến kỳ Tây trở lại thì nhà binh Tây dỡ bỏ … Chính lối năm 1948 hay 1949, tôi đi với ông Pierre Dupont vào đây tìm trụ sở miếu Hiển Trung, có gặp một ngôi mộ cổ kiên cố và đã lạc lối khó biết đường về.

Sau đó là cơ quan mật thám (service du sureté) v.v…Lính tập gọi tirailleurs là lính người Nam và người gốc Đàng Thổ (khmer) Nam kỳ, bị Tây bắt đi lính và tập luyện dạy biết bắn súng, khi còn là trai đúng tuổi quân dịch thì rất sợ làng xã bắt đi lính nhưng khi nhập ngũ xong thì trở về làng

và làng xã đều lánh mặt vì sợ trả thù. Khu Thành Ô Ma nầy gồm khu rộng chung quanh theo tên cũ là đường Arras, Frères Louis, Nancy va đường xe lửa Biên Hòa – Hà Nội, mé đường ngang rạp chớp bóng thẳng lên nhà thương bà Từ Dũ ngày nay và dọc theo đường sắt cũ, trước kia thường ngập lụt, và gọi “Đường nước Nhỉ” – tên ấy chọn thật đúng, nước ứ đọng thường. Trong sách Trương Vĩnh Ký để lại và tạp chí Excursions et  Reconnaissances cũ, có nói trước khi biến ra Thành Ô Ma, thì Tây có lập sở Nuôi Ngựa (Haras) sau dời về Tân Sơn Nhứt.

– Một địa danh cũ nữa là Mare’s aux Poissons, truy ra ngày xưa khi Tây qua đây, thú tiêu khiển ngày được nghỉ lễ hoặc ngày chủ nhật, để giết thì giờ, họ ít đi săn bắn vì cũng ít an ninh, nên thông thường họ thích đi câu cá, còn phụ nữ Pháp thì chiều chiều ngồi xe song mã, thắng hai ngựa, chạy vòng chung quanh Sài Gòn – Gia Định và gọi Tours de l’inspection, dạo vòng quanh đường tuần tra. Quan viên, nhứt là kỹ sư quan võ thì câu nơi Thành Ba Son, tiếng Pháp là Mare’s aux Poissons, nhưng đã có người diễn khác và rằng có một thợ tên “Son” thứ ba, nên đặt gọi Ba Son. Tôi biết một giai thoại có một thợ Sở Ba Son, có tánh lập dị, thích hút xì gà (cigar) (thuốc cuốn để nguyên lá) và ngày nào, chiều ra sở đón xe lửa về Gò Vấp ai ai cũng vẫn thấy cụ ta ngậm xì gà, sau mới rõ một tuần cụ chỉ ngậm duy nhứt một điếu, cứ lên xe là quẹt đốt rồi để tắt v.v… chừng ấy dân Gò Vấp mới đặt tên cho cụ là “Ông Xì gà tuần”.

Một thuyết nữa là Trại chữa ghe tàu Ba Son, Pháp vẫn gọi “bassin de radoub” bassin là ụ nước, radoub là sửa chữa ghe tàu, từ Bassin biến ra Ba Son, dễ ợt!

Vậy tôi xin chừa độc giả mặc tình chọn lựa. Ngày xưa chúa Nguyễn lập và tàu đi biển vẫn gọi tàu ô, vì lập nơi Ba Son, nên nay khó làm cầu bắc ngang qua Thủ Thiêm, khiến Thủ Thiêm ngó ngang Sài Gòn mà không phát triển được.

– Một địa danh nữa là “Ô Cấp” tức Pháp là “je vais au cap”, và cap là cap Saint-Jacques, tức đi Vũng Tàu. Tôi không cần nói dài. Độc giả dư biết.

– Còn 6, 7 cơ sở nhà binh cũ của Tây, xưa thuộc cơ mật, ít cho nói, nay xin kể mà không dẫn giải.

– II ème R.I.C. Onzième Infanterie Coliniale là Thành Sơn đá, khu Đại học Lâm Nông tên chánh thức là Caserne Martin des Pallières (lập lối 1870 đến 1873). Sau khi binh Tây rút lui về xứ, tôi đề nghị và kiến trúc sư Lê Văn Lắm cắt Thành Sơn đá làm thông thương và có đường Đinh Tiên Hoàng nối dài tới Chasseloup như hiện nay.

– Khu lính thủy (Marine) gọi Garnier;

– Trại San đầm Gendarmerie Le Lièvre;

– Khu Pháo thủ (Artilletie) (cam Virgile);

– Tòa án nhà binh (Tribunal Militaire, Justice Militaire;

– Direction du Génie;

– Direction d’artillerie

– Bureau de recrutemant la Grandièrem, v.v.

Khi Tây qua đây, ở Miền Nam, vẫn do quan võ cai trị nên dinh họ ở gọi dinh Phó Soái, vì chánh soái, tức là quan Toàn Quyền Đông Dương. Chính trạng sư (luật sư) Blancsubé (đường Lăng Xi Bề) (1834 – 1888) năm 1879 tranh đấu và thắng được, giành quyền cai trị trả về quan văn mới có bỏ chức Phó Soái (La Lăng De: de La Grandière và gọi dinh thống đốc v.v .. Blancsubé ở Tòa binh vực cho nhóm Chà Ấn bán vải, trước đây còn câu rao hàng “Première qualité? Mêm xôi (Même chose) Blancsubé!” và vải bán vo vo.

(viết ngày 21-9-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

Bài 47

Trốn khỏi Georgetown

Le Guittou cũng tán thành. Anh ta cũng nghĩ rằng chắc phải có những nước tốt hơn và sống dễ chịu hơn ở Guyane thuộc Anh. Chúng tôi bắt đầu chuẩn bị một cuộc trốn chạy khỏi thành phố George. Đúng là đi khỏi đất Guyane thuộc Anh là phạm một tội nặng. Chúng tôi đang ở trong thời chiến mà không đứa nào trong bọn tôi có hộ chiếu.
Chapar, sau khi được thả, đã từ Cayenne trốn đi và đã ở đây đã ba tháng. Y làm kem cho một hiệu bánh của người Tàu và được trả công một đô-la rưỡi một ngày. Y cũng muốn đi khỏi thành phố Georege. Một anh tù người Dijon, tên là Deplanque, và một dân Bordeaux cũng muốn tham dự cuộc vượt ngục. Quých và anh cụt thì thích ở lại. Cả hai thấy ở đây tốt hơn.
Vì cửa sông Demerara bị kiểm soát rất ngặt nghèo và nằm trong tầm các ổ súng máy, phóng ngư lôi và đại bác, chúng tôi sẽ làm một tàu đánh cá y hệt một chiếc tàu đăng ký ở thành phố George và chúng tôi sẽ giả làm chiếc tàu đó để ra đi. Tôi tự trách mình đã không biết ơn Indara và đã không đáp ứng lại cho xứng đáng với tình yêu tuyệt đối của nàng đối với tôi.
Nhưng tôi không thể làm khác được, nàng cứ đeo dính lấy tôi, làm tôi khó chịu, tôi đâm bực bội. Những con người giản dị, rõ ràng là không kiềm chế nổi ham muốn của mình, không chờ người mình yêu phải đòi hỏi mới hiến thân: Cô gái Ấn Độ này xử sự đúng như hai chị em Anh-điêng ở Guagira đã từng xử sự với tôi. Khi tình dục các cô nảy nở, các cô tự hiến mình. Và nếu ta không chiếm đoạt các cô thì đó là điều rất nghiêm trọng.
Một nỗi đau thật sự, dai dẳng nảy nở trong bản ngã thầm kín nhất của họ và việc ấy làm tôi phát bẳn vì tôi không muốn làm khổ Indara cũng như hai chị em Anh-điêng kia và tôi phải ép mình để trong vòng tay tôi, Indara được thỏa mãn đến mức tối đa. Cuộc đào tẩu của chúng tôi được chuẩn bị rất kỹ. Một chiếc thuyền rộng và dài có một lá buồm tốt, có cả buồm mũi và bánh lái loại tốt nhất được sửa soạn rất thận trọng để cảnh sát không để ý thấy được. ở Penitence Rivers, nhánh sông nhỏ đổ vào sông Demerara, chúng tôi dấu thuyền của chúng tôi về phía xuôi so với khu chúng tôi ở. Nó được sơn và mang số như một thuyền đánh cá đã đăng ký tại thành phố George. Nếu đèn pha chiếu vào thì chỉ thấy có thủy thủ là khác. Để gạt mọi người, chúng tôi không đứng lên, vì những người Tàu trên thuyền mà chúng tôi đội lốt đều nhỏ và gầy, còn chúng tôi thì cao lớn và khỏe mạnh.
Mọi việc diễn ra êm ru, và chúng tôi ra khỏi sông Demerara êm thấm. Tuy vui mừng vì đã ra đến biển mà không bị lộ, điểm duy nhất làm tôi không tận hưởng trọn vẹn thành tựu này, là cái tội đã đi trốn như một thằng ăn trộm không báo trước được cho nàng công chúa Ấn của tôi. Tôi không vừa lòng về mình. Cô em, bố cô và cả giòng giống cô chỉ làm điều tốt với tôi, còn tôi tôi đã bội bạc. Tôi không tìm những lý lẽ để biện minh cho thái độ của mình. Tôi chỉ thấy những gì tôi làm là không lịch sự và tôi không hài lòng về tôi chút nào. Tôi cố tình để lại trên bàn sáu trăm đô-la, nhưng những thứ tôi đã nhận được không thể trả bằng tiền bạc.
Chúng tôi phải đi hướng Bắc – Bắc bốn mươi tám giờ. Tôi lại trở về với ý nghĩ trước đây của tôi là đến Honduras thuộc Anh. Muốn vậy, phải vượt biển hai ngày. Cuộc đào tẩu gồm năm người: Le Guittoun, Chapar, Barrière, một gã người Bordeaux, Deplanque, một gã người Dijon, và tôi Papillon, thuyền trưởng.

Chúng tôi đi được độ ba mươi giờ thì gặp một trận bão kinh khủng tiếp theo là một trận gió xoáy. Sấm, chớp, mưa, sóng lớn hỗn độn, gió trên biển quăng quật điên cuồng, kéo chúng tôi đi một cách thảm hại, chúng tôi không sao chống đỡ nổi. Tôi chưa từng thấy, hay tưởng tượng thấy cảnh nào tương tự như thế. Theo kinh nghiệm bản thân, đây là lần đầu tiên, gió vừa thổi vừa xoay chiều đến độ các luồng gió alizé bị xóa sạch hoàn toàn và trận gió điên cuồng làm chúng tôi xoay tít như chong chóng. Cứ thế này độ tám ngày khéo chúng tôi lại trở về trại giam mất. Sau này, đến Trinidad, tôi mới được ông Agostini lãnh sự Pháp cho biết là cơn bão này rất đặc biệt. Nó đã cưa gãy hơn sáu ngàn cây dừa ở đồn điền ông. Cơn bão hình mũi khoan này đã tiện cả vườn dừa của ông ở ngang thân. Có những căn nhà bị bốc lên cao, đưa đi xa, rồi rơi xuống đất hoặc xuống biển. Chúng tôi mất hết: thực phẩm đồ đạc cùng những thùng nước ngọt. Cột buồm bị gãy ở độ cao hai mét và nghiêm trọng hơn cả là bánh lái cũng bị vỡ. Phúc làm sao, Chapar vớt được một cái chèo nhỏ trông như một thứ xẻng, và tôi đã dùng cái xẻng đó để lái thuyền. Ngoài ra chúng tôi phải ở truồng lột hết quần áo để ghép lại thành buồm. Tất cả áo vét, sơ mi, quần dài đều được đem ra dùng. Cả năm chúng tôi đều mặc xi-líp. Cái buồm làm bằng quần áo và víu lại với nhau bằng một cuộn dây thép nhỏ còn sót trên thuyền, được đem gắn vào mẩu cột buồm cụt, đã đẩy cho thuyền chúng tôi tạm đi được.
Gió alizé lại thổi đúng hướng và tôi lợi dụng nó, lái thẳng về phía Nam để tới bất cứ nơi nào, kể cả Guyane thuộc Anh. ở đây, hình phạt gì đối với chúng tôi cũng được hoan nghênh. Thái độ của tất cả các bạn chúng tôi trong và sau cái mà tôi không gọi là bão, vì gọi thế chưa hết ý, mà phải nói là cơn tai biến, cơn hồng thủy, hay cơn cuồng nộ, đều chững chạc. Chỉ sáu ngày sau, trong đó có hai ngày gió yên sóng lặng hoàn toàn, chúng tôi mới thấy đất liền. Với mẩu buồm thủng lỗ chỗ, nhưng vẫn được gió đẩy đi, chúng tôi không thể lái thuyền theo ý mình được. Cái giầm con cũng không giúp chúng tôi lái được vững vàng, chắc chắn. Lái phải ở trần, toàn thân chúng tôi cháy xém làm sức đề kháng của chúng tôi cũng giảm sút. Mũi đứa nào cũng tróc hết da, trơ cả thịt. Cả môi, chân, da giữa hai đùi và bắp vế đều cũng tróc hết da. Cơn khát nước hành chúng tôi đến nỗi Deplanque và Chapar uống cả nước mặn. Sau khi uống, hai đứa lại càng khổ hơn. Mặc dù khát và đói cùng cực, có một điều tốt là không ai, hoàn toàn không một ai kêu ca. Cũng không đứa nào khuyên nhủ đứa khác điều gì.
Đứa uống nước mặn cũng như đứa dội nước biển lên người nói là cho mát rồi tự nhận thấy rằng làm như vậy các vết thương lại càng loét sâu hơn và khi nước bay hơi thịt da lại càng đau nhức hơn.
Chỉ một mình tôi là còn một mắt mở được và lành lặn, mắt tất cả các bạn đều mưng mủ và phải nhắm nghiền vì mi mắt cứ dính bết vào nhau. Mắt tuy đau nhưng vẫn phải rửa vì bắt buộc phải mở mắt để nhìn cho rõ. ánh mặt trời chiếu thẳng đứng càng làm cho các vết thương của chúng tôi đau vô cùng, tưởng chừng không sao chịu đựng nổi. Deplanque sắp phát rồ, đòi nhảy xuống nước.
Đã gần một giờ, tôi thấy lờ mờ đất liền ở phía chân trời. Tất nhiên, tôi hướng ngay về phía đó mà không nói gì, vì tôi chưa chắc là đúng. Chim chóc lượn quanh chúng tôi, như vậy là tôi đã không lầm. Tiếng chim đã báo cho các bạn tôi biết. Bị ánh nắng và sự mệt mỏi làm cho u mê đi, họ nằm dài ở lòng thuyền lấy tay che mặt cho đỡ nắng.
Guittou sau khi súc miệng để cố nói cho được đã bảo tôi:

– Papi, cậu có thấy bờ không?
– Thấy rồi.
Theo cậu đoán thì độ bao nhiêu lâu chúng tôi tới bờ được.
– Độ năm bảy giờ nữa. Các cậu ơi, tớ cũng chịu hết nổi rồi. Tớ cùng bị phỏng da như các cậu, mông đít tớ còn trơ cả thịt và bị cọ sát với ghế và nước biển. Gió không mạnh, thuyền không đi nhanh được, cánh tay tớ luôn bị chuột rút, bàn tay tớ cũng tê cứng, từ lâu không nắm nổi giầm lái nữa. Các cậu có bằng lòng làm thế này không? Ta hạ buồm xuống, che làm mái để tránh nắng như thiêu như đốt này cho đến tối. Cứ mặc cho thuyền tự nó trôi vào bờ. Phải làm như vậy, nếu không, một cậu nào hãy ra cầm lái thay tớ.
– Thôi đi Papi, đừng làm vậy. Cứ làm như cậu nói và tất cả vào ngủ trong bóng râm, chỉ để một người canh thôi.
Tôi lấy quyết định chung của anh em lúc trời đang nắng, vào hồi mười ba giờ. Được thỏa thuận một cách tự nhiên như con vật, tôi nằm dài ra lòng thuyền và thế là cũng được ở trong bóng râm. Các bạn tôi dành cho tôi nơi tốt nhất ở đằng mủi để hứng được gió. Người gác phải đều chìm ngay vào cõi hư vô. Mệt nhoài, lại có bóng râm che ánh nắng gay gắt, chúng tôi đã ngủ thiếp đi.
Một tiếng còi thét lên làm chúng tôi choàng dậy.
Tôi vén buồm lên, bên ngoài là đêm tối. Không biết mấy giờ? Khi tôi về chỗ ngồi, bên bánh lái, một làn gió mát mơn trớn thân thể bị tróc hết da của tôi, và tôi thấy lạnh. Nhưng khoan khoái biết bao vì không bị cháy da thịt nữa.
Chúng tôi dỡ buồm ra. Sau khi lấy nước biển rửa mắt – may cho tôi là tôi chỉ bị một mắt đau và mưng mủ – tôi đã nhận thấy rất rõ đất liền ở bên phải và bên trái tôi. Chúng tôi đang ở đâu vậy? Tôi nên đi về phía nào bây giờ? Chúng tôi lại nghe tiếng còi rúc một lần nữa. Tôi biết là tín hiệu từ phía phải tới. Không biết người ta muốn nói cái quái vì với chúng tôi?
– Cậu bảo chúng ta ở đâu nhỉ? – Chapar hỏi.
– Thật sự tớ cũng không biết gì. Nếu miền này không phải là nơi trơ trọi và là một cái vịnh thì có lẽ chúng ta ở mỏm đầu của Guyane thuộc Anh, phần đất dài đến tận sông Orenoque là biên giới tự nhiên với Venezuela. Nhưng nếu miền đất bên phải lại bị cắt khỏi phía bên trái bởi một quãng hơi rộng, thì cái bán đảo này lại là một hòn đảo và đấy là Trinidad. Bên trái sẽ Venezuela, và chúng ta đang ở trong vịnh Ria. Trí nhớ của tôi về cái bản hải đồ mà tôi đã có dịp nghiên cứu đã cho tôi thấy được tình trạng nước đôi này. Nếu bên phải là Trinidad và bên trái là Venezu ela, chúng tôi sẽ chọn phía nào đây? Quyết định này liên quan đến vận mạng của chúng tôi. Với gió nhẹ như thế này, đi vào bờ không khó lắm. Lúc này, chúng tôi chưa đi về hướng nào cả. Đến Trinidad, là gặp “dân ăn thịt bò rán” cũng một chính quyền như ở Guyane thuộc Anh.
– Chắc chắn sẽ được đối xử tử tế, – Guittou nói.
– Phải, nhưng họ sẽ quyết định thế nào khi ta rời khỏi lãnh thổ của họ trong thời chiến một cách lén lút và không có giấy phép nữa?
– Thế Venezuela thì sao?
– Cũng chưa biết sẽ ra sao – Deplanque nói – Dưới thời Gomez làm tổng thống, tù nhân phải làm đường vô cùng cực khổ, rồi bị họ trả cho nước Pháp, ở đấy họ gọi tôi là dân Cayenne.
– Nhưng bây giờ không như vậy nữa rồi, đang là thời chiến mà.
– Theo như tôi nghe được ở Georgetown thì họ không tham chiến, họ trung lập.
– Chắc không?
– Chắc chứ!
Nếu vậy thì rất nguy hiểm cho chúng ta. Chúng tôi đã nhận ra ánh sáng đèn trên bờ phải và cả bên bờ trái nữa. Lại tiếng còi, lần này hú ba lần. Những ánh đèn tín hiệu từ bờ biển bên phải hướng về chúng tôi. Đằng trước, hai mỏm đá nhọn rất to, đen ngòm nổi trên mặt biển. Chắc vì vậy mà họ hú còi để báo cho chúng tôi

biết là có nguy hiểm.
– Ồ phao nổi kìa! Có cả một chuỗi dài. Sao ta không neo vào một cái để chờ trời sáng nhỉ. Hạ buồm xuống đi Chapar.
Y hạ ngay những mẩu quần và áo sơ mi mà tôi gọi một cách hợm hĩnh là buồm. Tôi dùng giầm hãm thuyền, cho mũi tiến sát gần một cái “phao” đầu mũi thuyền, may còn một đoạn thừng buộc chắc vào vòng sắt nên bão không dứt dứt được. Chúng tôi đã neo xong thuyền không neo vào cái phao kỳ cục này vì nó nhẵn thín chẳng có chỗ nào để buộc, mà neo vào sợi dây cáp nối nó với một phao khác. Thuyền chúng tôi đã được buộc chắc vào sợi cáp hẳn là dùng để phân ranh giới một luồng nước gì đó. Chẳng bận tâm đến những tiếng còi từ bờ bên phải cứ tiếp tục réo lên, tất cả chúng tôi nằm trong lòng thuyền, dùng buồm đắp lên người để che gió. Người tôi bị gió lạnh ban đêm làm tê cóng đã ấm dần lên, rất dễ chịu, và chắc tôi là một trong những người đầu tiên đã ngáy lên như sấm.
Khi tôi thức dậy, trời đã sáng rõ và rất quang đãng. Mặt trời đang mọc, sóng hơi to, và nước biển trong vắt màu xanh ve chứng tỏ đáy biển toàn san hô.
– Ta làm gì bây giờ nào? Phải lên bờ chứ? Tớ chết vì đói và khát mất thôi.
Đây là lần đầu tiên có người phàn nàn sau những ngày nhịn nhục, đến hôm nay đúng là bảy hôm.
Chúng ta ở quá gần bờ, nên có lên bờ cũng chẳng có tội! – Chapar nói vậy.
Ở chỗ tôi ngồi, trông xa về phía trước, qua hai tảng đá to từ dưới biển nhô lên, tôi thấy rất rõ chỗ bờ biển bị nứt đôi. Như vậy bên phải đúng là Trinidad rồi, và bên trái là Venezuela. Hẳn là chúng tôi đang ở trong khu vực vịnh Paria, và nếu nước màu xanh chứ không phải vàng do đất phù sa của dòng sông Orenoque, thì như thế tức là chúng tôi ở trong luồng nước của cái lạch chảy giữa hai quốc gia rồi đổ ra biển.
– Ta làm gì bây giờ? Các cậu biểu quyết đi, việc này rất quan trọng nên tôi không dám tự quyết một mình. Bên phải là đảo Trinidad của Anh, bên trái là Venezuela. Các cậu muốn đi phía nào? Căn cứ vào tình trạng thuyền của bọn ta và tình hình sức khỏe chung, chúng ta phải lên bờ càng sớm càng tốt, trong chúng ta có hai người đã được tự do là Le Guittou và Corbière còn lại ba người: Chapar, Deplanque và tớ có thể gặp nhiều nguy hiểm nhất, cho nên chúng tớ phải quyết định. Các cậu thấy thế nào? Đến Trinidad là khôn ngoan hơn, Venezuela là xứ lạ.

Chúng ta chẳng cần phải tự quyết định dâu: chiếc hải thuyền kia sẽ quyết định cho chúng ta, – Deplanque nói.
Đúng là có chiếc hải thuyền đang tiến nhanh về phía chúng tôi. Nó đã dừng lại cách chúng tôi ngoài năm mươi mét. Một người trên thuyền đó cầm loa. Tôi trông thấy một lá cờ, không phải là cờ Anh. Lá cờ có nhiều sao rất đẹp, cả đời tôi chưa thấy nó bao giờ.
Chắc đấy là cờ Venezuela. Sau này là “cờ của tôi”, cờ của tổ quốc mới của tôi, đối với tôi và đối với bất cứ người bình thường nào khác đó là vật tượng trưng cảm động nhất, tập trung trong một mánh vải những đức tính cao quý nhất của một dân tộc lớn, dân tộc tôi.
– Quien son vosotros? (Các anh là ai?)
– Chúng tôi là người Pháp
– Es tan locos? – (Các anh có điên không?)
– Sao vậy?
– Porque son amarados a mina (Vì sao anh neo thuyền vào mìn)
– Vì thế mà các ông không dám đến gần phải không?
– Phải, cởi dây ra ngay đi.
– Xong rồi đây.
Trong nháy mắt, Chapar đã cởi dây thừng ra. Chúng tôi đã neo thuyền vào một chuỗi mìn nổi, không hơn không kém.
– Phúc tổ các anh không bị nổ tung lên đấy, – thuyền trưởng chiếc hải thuyền sang kéo thuyền của chúng tôi, giải thích với tôi như vậy. Rồi từ hải thuyền, họ chuyển cho chúng tôi càphê, sữa hộp và thuốc lá.
– Các anh đến Venezuela đi, các anh sẽ được đối xử tử tế tôi bảo đảm với các anh như vậy. Chúng tôi không thể nào kéo các anh vào tận bờ được, vì chúng tôi phải cấp tốc đi đón một người bị thương nặng ở hải đăng Barimas. Nhưng các anh nhất thiết đừng cố đến Trinidad, vì mười phần chắc chín là các anh sẽ va phải mìn, thế là…
Sau câu tạm biệt “Adios, buena suerte” (chúc các anh may mắn) chiếc hải thuyền quay đi. Họ để lại cho chúng tôi hai lít sữa. Chúng tôi sửa sang lại buồm. Đã mười giờ sáng rồi, dạ dày chúng tôi đã phỏng phao lên, do có cà phê và sữa, rồi phì phèo điếu thuốc trên môi, tôi cho thuyền xô ào vào bãi cát mịn, ở đó độ năm mươi người đã tựu tập để xem những ai đi trên chiếc thuyền kỳ lạ: cột buồm thì cụt, buồm là áo sơ mi, áo vét và quần ghép lại với nhau.


Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

14. Một trời một biển – Kết

Trong thời gian thực tập ngắn hạn trên các đơn vị bờ, trước khi chính thức đổi xuống chiến hạm, Tần nghĩ là mình có chút ít may mắn khi được lệnh thuyên chuyển đến căn cứ Hải quân Cát Lở, tức Duyên đoàn 33 ở Rạch Gừa. Chỉ cách Vũng Tàu vài cây số. Quay trở về Sài Gòn cho một cuối tuần rong chơi kể cũng gần và thuận đường đi. Với lại, cần gì, những con sóng biển Vũng Tàu từ bãi Trước vòng qua bãi Sau, đang làm nền cho biết bao nhiêu bóng sắc giai nhân, mỹ miều yểu điệu trong đôi ba vuông lụa nhỏ, chắc chắn sẽ làm cuộc đời Tần tươi hẳn lên. Ở đó, biết đâu Tần lại có thêm một mối tình biển mặn, sẽ làm con tim đang tơi tả của chàng càng thêm rướm máu! Ô hay, phải chăng những cái đau đớn do tình yêu mang lại bao giờ cũng là những cái đau đớn thèm thuồng?

Quả đúng như lời Thành nói lúc trước, chuyện đi thực tập Ðệ thất Hạm đội chỉ tùy thuộc vào trình độ sinh ngữ chớ không phải thứ hạng đậu cao thấp trong kỳ thi mãn khóa. Thủ khoa mà yếu Anh văn như Trần Ngọc Ðiềm đi nữa thì vẫn phải lê gót đến Duyên đoàn, Giang đoàn nếm mùi súng đạn của Việt cộng thôi. Rồi không hẹn mà gặp, Thành lại công tác cùng một đơn vị với Tần trong giai đoạn này. Trong bộ ba “ngự lâm pháo thủ” của Ðệ nhị Hải sư, giờ, chỉ có Thắng là được diễm phúc… lênh đênh trên mặt biển Thái Bình Dương.

Kể ra trong số sáu đứa gửi đến thực tập tại Duyên đoàn 33, Duyên đoàn La-ve Con-Cọp, mà có được một thằng bạn thân thì cũng là trường hợp hi hữu. Bởi vậy không tay bắt mặt mừng sao được khi tình cờ gặp lại nhau:

– Ê, đù me, sao mầy lại có mặt ở đây, Thành? Tao cứ tưởng mầy đã xuống chiến hạm Mỹ ở Tân cảng từ lâu rồi chớ!

Thành cười vang:

– Còn lâu, tao cũng đâu có giỏi gì hơn mầy. Gì chớ Anh ngữ thì tao chê! Hồi ở trung học, Pháp văn là sinh ngữ một của tao mà, bởi vậy cho nên…

Tần an ủi bạn:

– Ðậu cao như mầy, tài năng lãnh đạo như mầy mà mấy giả không biết đem chuông đi gióng xứ người thì kể ra cũng dở, có mắt không tròng. Chớ còn mấy thằng lẹt đẹt ở phía sau như tao, thì sao cũng được!

Thành phân bua:

– Giỡn hoài mậy! Chưa chắc tụi đi thực tập Hạm đội Bảy lại sướng hơn tụi mình à nghen. Chỉ cần một tuần lễ gặm bánh mì thôi là tụi nó… nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương, nhớ phở, nhớ hủ tiếu ngay. Một hai tháng trời không cơm cháo, chà, dài quá, đù me chắc tao chịu không thấu!

– Ừa, mầy nói cũng có lý đó! Vả lại, tao mới nghe mấy cha khóa đàn anh của tụi mình nói là ở ngoài Vũng Tàu có nhiều mục, nhiều chỗ ăn chơi lắm mầy ơi. Quán nhậu, snack-bar, tắm hơi, vũ trường… món nào cũng có hết. Ðã vậy, lại chàng ràng chộn rộn, vui nhộn hơn Nha Trang nhiều!

– Còn vụ hành quân, diệt Cộng thì sao?

– Hải quân mà hành quân, diệt Cộng cái gì mậy? Theo tao nghĩ thì cùng lắm là tối tối mấy giả dẫn lính đi kích xung quanh căn cứ, bảo vệ vòng đai. Còn ghe duyên đoàn thì hiển nhiên tuần tiễu quanh năm suốt tháng ở ngoài khơi lẫn trong vịnh của cửa sông Cần Giờ, Soài Rạp. Mà thử hỏi, mấy năm nay có bắt được chiếc tàu xâm nhập nào của Việt cộng ở vùng này đâu? Tụi nó chẳng có dại gì mà chui vào hang cọp 33 đầu rằn, mầy biết hôn?

– Chưa chắc! Sở dĩ không bắt được tàu xâm nhập trong vùng này thì cũng có thể là màng lưới ngăn chận của Hải quân mình rất hữu hiệu đó mầy!

– Mà thôi, bỏ chuyện đánh giặc đó qua một bên đi! Hãy đem đồ đạc của mầy cất vô phòng đặng rồi tao với mầy phóng ra phố chơi! Hải quân Thiếu úy mới ra trường vẫn còn lèng xèng lắm, không có cấp số xe Jeep mầy à! Lại cứ nhảy xe Lam như hồi nào mình ở quân trường…

Những ngày đầu ở căn cứ Cát Lở, phải nói là những ngày vui. Bởi vì các đại niên trưởng khóa đàn anh cũng có phần nào dễ dãi đối với các sĩ quan thực tập. Có lẽ “đoạn trường” này ai nấy đều đã qua cầu. Hoặc giả, cũng có lẽ chẳng ai muốn các tân Thiếu úy mới mãn khóa, không kinh nghiệm chiến trường, lại được vinh thăng Trung úy kèm theo anh dũng bội tinh với nhành dương liễu ở ngay đơn vị mình. Dễ mang tai mang tiếng với đời lắm!

Tuy nhiên, cũng phải làm một vài việc cho ra vẻ để… báo cáo. Bởi thế, vào một chiều trời vừa tối hẳn, Trung úy Tâm liền âm thầm dẫn tất cả sáu sĩ quan thực tập cùng hai tiểu đội lính… đi kích. Tần rất đỗi ngạc nhiên vì mục này chàng chưa từng học qua ở trong trường. Không thấy nói đến trong bất cứ một chương nào của hàng hàng lớp lớp sách vở Hải quân. Nhất là khi Tần được phát mấy ve thuốc thoa muỗi và vác trên vai ống hỏa tiễn không giựt chống chiến xa M-72. Trời đất, làm như mình là sĩ quan bộ binh không bằng. Trong khi đó, Thành cũng lận vô lưng vài chai thuốc chống muỗi và thủ khẩu phóng lựu M-79. Hai đứa vừa nai nịt vừa yên lặng nhìn nhau cười tủm tỉm.

Không biết tin tức tình báo ghi nhận Việt cộng chuyển quân, xâm nhập vũ khí như thế nào mà giờ này cả bọn, quan cũng như lính, cứ mon men lần ra bờ sông, tìm những gò đất cao đóng chốt. Trên lối mòn ẩm mục, thỉnh thoảng Tần bước trật chân xuống trũng sâu, đạp lên những cành khô gãy vụn chìm trong nước biển mặn, làm phát ra những tia lân tinh lấp lánh như đóa hoa ánh sáng kỳ diệu. Lạ quá, chẳng khác gì những đóa hoa sen nở rộ dưới chân đức Phật! Thích quá, vì chàng bỗng thấy tâm hồn mình rất thanh bình an lạc trong cõi trời đất mông lung, trải rộng vô bờ bến này!

Thành và Tần tìm được một cái gò lớn, bằng phẳng như một cái mả lạn đầy cỏ. Lại phải sống cảnh màn trời chiếu đất? Ðâu có được! Hai đứa bèn lui cui tháo trong ba lô moi ra tấm poncho, phủ lên cỏ làm chiếu, rồi thêm một cái mền vải dù rằn ri làm… màn. Lệnh im lặng vô tuyến đã ban hành nhưng hai đứa nằm kề nhau không tán gẫu không được. Tần gợi chuyện:

– Số hai thằng mình lông bông quá! Phải chi hồi đó chịu khó nghe Lab, cố gắng học thêm Anh ngữ, đừng trốn ra hàng dương hút thuốc ngó trời thì đỡ rồi. Giờ này nếu không ở bên Tàu thì cũng ở bên Phi, nếu không ghé Macao, Hồng Kông thì cũng vô vịnh Subic Bay. Ê, mà mấy giả có ra lệnh cấm hút thuốc không ta?

– Cấm cái gì, tao đã nghe mùi thuốc lá nặc nồng đánh bạt cả mùi bùn! Nhưng mấy giả đã dặn nếu có hút thì phải lấy tay che lại, bụm lại vì đốm sáng rất dễ nhận trong ban đêm.

Tần mò gói Kool trong túi lấy ra một điếu, quay mặt xuống đất bật hộp quẹt châm lửa, rít một hơi dài. Ðã thiệt, cho một điếu thuốc giữa rừng hoang! Tần hỏi bạn:

– Hút không mậy? À, rồi còn vụ canh gác, mật khẩu ra sao hả?

– Hút đi, tao có gói Pall Mall! Chắc là cả bọn chùm nhum một chỗ, với tay ra là đụng, cho nên khỏi cần mật khẩu! Còn canh gác thì có đám lính đã nhận lệnh công tác hết rồi! Phía sau lưng mình là đường cái, chỉ cần lo cái mặt sông thôi. Mà khoảng này sông rộng quá, trông như biển, còn khuya mới thấy ghe, bè của Việt cộng bằng mắt thường.

– Hình như Trung úy Tâm có mang theo ống viễn vọng kính hồng ngoại tuyến gì gì đó mầy à! Nhưng rồi sao, chẳng lẽ mấy giả định dẫn đám mình ra đây ngủ một giấc rồi dẫn về?

– Giỡn hoài mậy, mầy phải thức trắng đêm và lõ con mắt cho thiệt lớn, đặng ngó chừng Việt cộng tới mà làm thịt nó!

– Tao buồn ngủ rồi, mầy có ngon thì ở đó ráng thức canh Việt cộng đi! Chừng nào tụi nó tới hãy dựng tao dậy đặng tao thụt cho tụi nó một quả M-72 cho tụi nó biết tay!

Nói xong, Tần dụi thuốc rồi chui vô mền, cuộn tròn như con tôm và… ngủ thiệt. Ðược một giấc khá lâu, chàng bỗng giựt mình thức dậy vì mực nước biển đã lên ngập cả giày. Dụi mắt, ngó dáo dác xung quanh mới hay mình đang nằm trên một hòn đảo nhỏ, nước với nước bao bọc tứ bề. Thành vẫn còn ngồi xổng lưng, bó gối chờ Việt cộng. Tần hỏi:

– Mấy giờ rồi mậy, Thành? Bộ mầy không ngủ à?

Thành gắt gỏng:

– Ði kích Việt cộng mà ngủ cái mẹ gì mậy!

Biết thằng bạn mình đang bực, có thể vì Trung úy Tâm tính sai gió nước hoặc vì lạ chỗ ngủ không được, cho nên Tần im lặng. Thành cũng im lặng. Một hồi, Tần nói giả lả:

– Ê, rồi mấy chả phải tính sao đây, hả? Nếu cứ ngồi không chờ nước lên như vầy hoài thì chỉ cần một hai giờ nữa là chắc hai thằng mình phải mang chưn vịt lội vô bờ mất…

Mà rồi đúng như Tần dự đoán, chẳng mấy chốc có lệnh rút quân không kèn không trống, trong vòng trật tự. Ðịch không hề xuất hiện và ta suýt bị chết ngộp, chết trôi vì… nước.

Chẳng biết có phải vì ảnh hưởng của sự… bất phân thắng bại trong vụ đi kích có hình thức vừa rồi hay không, mà từ đó mãi về sau toán sĩ quan thực tập chỉ làm việc, học hỏi tại đơn vị. Theo dõi mọi diễn biến tại trung tâm hành quân trong những vụ hành quân phối hợp với Ðặc Khu Vũng Tàu, Rừng Sát. Quan sát lối điều hành công tác dân vận, chiêu hồi. Xem xét việc bảo trì chiến đĩnh, nhận và phân phối hàng tiếp liệu… Kể ra cũng lắm việc phải làm!

Thời gian qua, phải nói bọn Tần đã sống những ngày vui, an nhàn tại căn cứ Cát Lở. Nhưng, rất tiếc, những ngày vui lại thường hay mắc phải cái chứng bịnh: qua mau! Và dĩ nhiên, không có một cái vui nào mà không tiềm ẩn bên trong một nỗi buồn nho nhỏ. Vì sau giờ làm việc, những lần ra phố nhậu nhẹt, hoặc tắm biển, hoặc đi thăm những danh lam thắng cảnh của thành phố biển mặn lừng tiếng ở miền Nam này, đối với Tần, đều dần dần đâm ra nhàm! Chẳng có gì mới lạ hết! Bởi biết trước tánh mình mau chán, cho nên bên cạnh những thường nhật của cuộc đời, Tần vẫn hay dành thì giờ tìm vui trong các thú giải trí tâm linh như đọc sách, viết thư. Ðọc sách, ngoài việc thuần túy… mua vui cũng được một vài trống canh, theo chàng, còn để mở mang kiến thức, am tường những điều hay lẽ phải của tiền nhân thánh hiền để lại, cùng thưởng thức những cảnh trời tươi đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên mà tác giả đã cố công vun xới, trình bày, vẽ ra. Còn viết thư thì đối với chàng chỉ có mỗi một mục đích duy nhất: nhận và đọc thư của những người thân quen. Ðể gần gũi, gắn bó thêm và dễ dàng theo dõi cuộc sống của họ. Như bức thư của Thắng vừa mới gửi tới cho Tần chẳng hạn:

Hạm đội Bảy, ngày…

Tần thân mến,

Cũng gần hết giai đoạn hai của chương trình thực tập, tao mới có chút thì giờ rảnh rỗi viết thư thăm mầy. Ðể tao kể sơ sơ cho mầy nghe về chuyến đi của tao. Có nhiều cái hay mà cũng lắm cái dở mầy ơi!

Trước hết là tao không được thực tập trên các Khu trục hạm Ð hay DE, Destroyer hay Destroyer Escort, hoặc Thiết giáp hạm, Cruiser, như phần lớn bạn bè cùng khóa, mà trên một LST tàng tàng như mấy chiếc 500 của mình thôi. Ðặc biệt hơn một chút là loại LST này có trang bị súng 76ly2 đôi thay vì cà-nông Bofors, 40ly đôi. Mỗi gắp đạn cũng có bốn viên, thả xuống nòng bằng máy viễn khiển thay vì bằng tay.

Như mầy biết, tàu Mỹ thường hoạt động dài hạn ở ngoài khơi, từ 3 đến 6 tháng ròng rã mới trở về bến. Sở dĩ tụi nó làm được là vì tụi nó có tàu tiếp tế thường xuyên. Hằng tuần. Không riêng gì dầu mà là đủ mọi thứ, gồm thực phẩm tươi, thực phẩm khô (khỏi cần phải đi chợ, kiểm thực gì ráo), phim ảnh giải trí (toàn phim tình cảm mới toanh nghen mậy), thư từ, sách báo… Mỗi lần có nhiệm sở tiếp tế cũng vui lắm. Tụi nó hẹn nhau ở một vị trí nào đó, rồi vì tàu tao nhỏ nên phải tăng vận tốc cho kịp với tàu cung cấp và chạy song song, cách nhau chừng 20, 30 thước. Bên kia bắn đạn, phóng dây nhỏ sang trong khi bên này tụi tao phải đội nón sắt. Rồi dây nhỏ kéo dây lớn, dây lớn kéo ống dầu và dây highline. Ống dầu thì để chuyển dầu còn dây highline dùng để chuyển thực phẩm và nhân viên đi bờ (phải ngồi vào một cái thúng có móc, bởi vậy tụi tao hay gọi dây highline là dây tử thần). Biển êm không nói gì, gặp lúc biển động đi bờ kiểu này cũng dễ bị rớt xuống biển lắm nghen mậy.

Ngoài việc đi ca xây tua thường xuyên 24 trên 24 như trên tàu mình, ở tàu Mỹ có cái lạ là không cho phép nhân viên uống rượu, mặc dù trên tàu vẫn có đầy đủ beer và whisky. Cứ mỗi chúa nhựt, tàu sẽ thả trôi lềnh bềnh, rồi thả you-you xuống cặp một bên hông ít sóng, làm chỗ nhâm nhi cho những ai muốn uống rượu. Phải đu xuống bằng thang dây máng trên thành tàu, kể cũng cực khổ cho những đồ đệ của Lưu Linh như tụi mình đó mầy. Nhiều thằng Mỹ con uống say mèm không leo lên nổi phải dùng cần trục, móc dây ngang bụng câu lên… Trong khi ở tàu mình, chuyện nhậu nhẹt rượu chè coi bộ tự do, văn minh tân tiến hơn nhiều hả Tần?

Tuy nhiên, việc ăn uống trong carré sĩ quan rất là quan liêu, quan lại mầy ơi. Ngay cả khăn ăn của các sĩ quan cũng đều có thêu tên riêng nữa mầy. Và có bồi Phi Luật Tân bưng khay đi vòng quanh mời từng người, xong, còn phải đứng hầu một bên, phòng khi có ai muốn ăn thêm món đó thì gọi tiếp. Yes sir, yes sir… đàng hoàng nghen mậy. Sao tao thấy tủi hổ và tội nghiệp cho tụi chiêu đãi viên da vàng này quá chừng.

Bọn tao ba thằng, gồm hai thằng Hóa, Chình cơ khí và tao, vừa ghé cảng Yokosaka (đọc là Yo-Kos-Ka) ở Nhật. Có gặp Thư và Cân cơ khí bên Ð. Năm thằng tao nhập bầy đi Tokyo chơi. Ý là có mua cuốn tự điển Anh-Nhật mà cũng không nói chuyện được với dân bản xứ. Cách phát âm chữ Nhật dị kỳ, bí hiểm lắm. Ngay cả việc tìm ga xe lửa tốc hành cũng khó. Ấy vậy mà lúc thằng Thư làm trò khỉ, giở giọng “hú, hú…, xịch, xịch…, Tokyo” thì nó lại hiểu mới là vui chớ mậy. Nó chở tui tao thẳng tới nhà ga luôn! Kể cũng tức cười mầy ơi! Tụi tao có đi tuốt lên Tháp Tokyo, cao hơn Tháp Eifel bên Tây 13 thước, trình giấy thông hành cho tụi nó đóng dấu làm kỷ niệm. Sau đó, lại vòng lên hướng bắc đi thăm núi Phú-Sĩ, đâu cũng khoảng 100 dặm bằng xe lửa tốc hành. Thấy tuyết phủ đầy trên đỉnh, trắng hếu!

Với hai trăm đô-la đổi được lúc xuống tàu, có lẽ tao sẽ mua quà lặt vặt hết để về cho bà con và bạn bè mỗi người một món. Vì tao chẳng biết phải mua cái thứ gì để về bán lại có lời, mầy à! Vả lại, lúc về hình như tụi nó sẽ gửi tụi tao theo Boeing 747, cho nên chắc cũng không thể mang theo những món hàng cồng kềnh và nặng ký được.

Thôi, để dành đó, lúc về lại Việt Nam gặp mầy nói tiếp cho đã! Còn mầy với thằng Thành dạo này ra sao? Có gì vui không? Về Sài Gòn thăm em điều chi hả? Tao rành mầy quá! Có đi ăn mì vịt tiềm và nhậu nghêu luộc chấm nước mắm ở Nguyễn Tri Phương giùm tao không? Ở đây tụi tao thèm cơm lắm mầy ơi, đồ ăn Mỹ ăn ba lần phải nghỉ một bữa vì nó không tiêu! Chán quá trời…

Bạn thân của mầy,

Thắng

Chỉ bấy nhiêu thôi mà Tần cảm thấy mình như đang chơi vơi với bạn trên vòm trời xa lạ Ðông Kinh. Ai lại không thích du hành xứ người một lần trong đời cho biết! Nhưng, mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau! Tần không có chỉ tay xuất ngoại thì chắc suốt đời phải sống quanh quẩn với quê hương, xóm giềng thôi… Chẳng biết Thắng có nhận được lá thư nào gửi từ Việt Nam trong thời gian lênh đênh trên tàu Mỹ không nhỉ? Hừ, phải chi có Thắng ở gần bên thì Tần sẽ có dịp trao đổi và xem thư “bồ” của nhau như hồi nào còn ở trong trường. Vì Tần cũng vừa có thư của Phượng, cô giáo làng sư phạm Qui Nhơn:

Quảng Nam, ngày…

Anh Tần thương mến,

Không ngờ Phượng ni còn diễm phúc được đọc thơ anh. Tưởng là đường đời đôi ngả chia ly rồi chớ. May phước mà con Trâm còn lui tới địa chỉ cũ của hắn ở ngoài phố, rứa là nhà bà dì của nó. Bằng không, chắc là chẳng bao giờ mình có dịp nối lại đường… tơ (lỡ đánh rơi chữ h rồi), anh hỉ?

Nghĩ chẳng mấy chốc mà Phượng đã tốt nghiệp, đi dạy còn mấy anh thì đã ra trường, mãn khóa. Nhớ lại hồi mới gặp nhau, rứa mà đã hai năm qua, ngày nớ răng mà mình hồn nhiên thơ dại quá. So với bây chừ, tuổi đời ngày một thêm chồng chất, tâm hồn Phượng cứ ngày một thêm già đi, cằn cỗi, tối tăm. Phượng những tưởng các anh sẽ có dịp trở lại Qui Nhơn vài lần nữa, nhưng than ôi, chẳng bao giờ… Buồn hỉ? Phải chi Phượng biết trước được chuyện đời, lắm khi chỉ xảy ra một lần rồi thôi, thì ngày nớ có lẽ Phượng cũng dám bỏ trường trốn ra ngoài đi chơi với anh một đêm lắm! Như con nhỏ Trâm tê! Ngày ni nghĩ lại, tưởng như mình đã vô tình đánh mất một cơ hội bằng vàng, tiếc ơi là tiếc. Nói rứa chớ anh nào có nghĩ gì đến Phượng? Với ngần ấy nữ sinh duyên dáng ở xứ thùy dương, thì anh còn tìm mô ra thì giờ cho cô giáo làng nội trú nữa, đúng rứa hỉ?

Phượng bây chừ đã xa anh thêm một xí nữa vì Phượng đã đổi tuốt về miền khô cằn sỏi đá: quận Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mí lại trường Phượng đang dạy nằm sâu trong đất liền, chớ không sát bờ biển như xưa, lúc tá túc ở trường sư phạm Qui Nhơn, cho nên không làm răng mà Phượng thấy được bóng dáng con tàu của anh… Buồn năm phút! Nhưng mà, biết mô được, lần ni lại chẳng là hữu duyên thiên lý… anh nờ!

Thôi, ít hàng thăm anh, cho phép Phượng dừng bút. Chúc anh luôn vui vẻ, yêu đời. Phượng bận phải trở lại… gõ đầu đám trẻ! Cho Phượng gởi lời thăm các anh Thắng, Thành, Ðức… nếu anh có dịp gặp lại bạn anh..

Vẫn mến thương anh như ngày nào,

Hoàng thị Túy Phượng

TB: Anh Tần ơi, rứa là con nhỏ Hằng sắp sửa làm đám cưới. Cũng là cựu giáo sinh Qui Nhơn. Hình như trong đám bạn của Phượng chẳng có đứa mô chịu lấy chồng dân… hai quần hết. À, Phượng vẫn còn giữ hai tấm bóng của anh trong bóp, một chụp ở Hòn Chồng và một chụp trên tàu lớn. Gởi tặng anh tấm bóng mới nhứt của Phượng để anh thấy Phượng đã đổi thay

Ðã đổi thay? Ðúng, phải như vậy mới được chớ! Vì nhớ ngày nào Phượng và Hằng của Thắng ỷ mình có chút nhan sắc, đã chổng đảnh làm cao, coi bọn Thắng với Tần không ra cái thể thống… quan tàu gì cả. Giờ, có lẽ em đang “mống chuồng” mà không tìm được ý trung nhân chăng? Tần cười thầm! Xui cho mầy quá đi Thắng ơi, Hằng của mầy sắp sửa đi lấy chồng rồi! Phải chi có Thắng ở đây thì Tần sẽ có dịp bắt bẻ thằng bạn mình đủ mọi điều trước khi cho nó xem thư của người em gái hậu phương… xa! Tần không ngờ là mình được đọc cái thư chứa chan tình cảm như vậy. Ðiện Bàn là đâu? Quảng Nam là đâu? Chắc rồi sẽ có ngày nào đó, Tần tìm cách đặt chân tới! Nếu HQ-406 của chàng có dịp đi công tác vùng ngoài… nớ! Phượng ơi, em hãy ráng đợi chờ anh!

À, sao không nghe Phượng nhắc nhiều đến Trâm của Thành ha? Biết đâu lại cũng đang sắp sửa đi lấy chồng như Hằng, Tần đoán mò! Câu chuyện này chỉ cần hỏi ngay thủ phạm, Thành, thì biết liền. Nhưng Tần không thèm đá động tới vì dạo sau này Thành như có ý muốn dấu bạn, dấu Thắng và Tần những liên hệ mật thiết với Trâm. Khi yêu thương đã đi lần đến hôn hít, ăn nằm thì phải biết! Mà hình như trong bộ ba cô giáo làng thì Hằng thân với cả hai, Phượng và Trâm, Tần nghĩ. Tuy nhiên, có lẽ Hằng nghiêng về Phượng hơn vì cùng một tánh ý dè dặt, không buông thả như Trâm. Còn giữa Phượng và Trâm thì chắc là chơi với nhau cũng chỉ trên cương vị để… chơi vậy thôi chớ không mấy thân lắm thì phải, Tần lại đoán mò!

Mà thôi, dẹp cô giáo qua một bên đi! Tần xếp lại tờ thư, đặt tấm ảnh đã đổi thay, đã già dặn của Phượng lên trên rồi dồn cả hai vào phong bì. Bây giờ Tần cần phải quay về với Loan, cô học trò nhỏ có đôi tay dài như vượn của chàng. Vì trước đây, như chàng đã tự hứa, rằng, anh nguyện sẽ đền bù cho em… Tần không ngờ Loan mỗi ngày một đẹp ra. Với tấm hình kiểu cọ, mới chụp gửi cho chàng, phía sau có ghi dòng chữ Gửi anh yêu quí, Loan , thì bảo đảm, nếu Thắng mà thấy được thì nó sẽ… lé mắt luôn! Khuôn mặt trái soan đều đặn, đôi mắt tròn mở lớn với nét mơ màng và ướt át hơn cả cặp mắt bồ câu, sóng mũi dọc dừa thẳng đứng tự nhiên, và đôi môi trái tim hồng mịn cười chúm chím… Tần phải chu mỏ, hôn một cái… “chụt.” Tất cả được ôm ấp bởi mái tóc cắt ngắn, uốn dợn, xõa xuống bờ vai trần trắng ngần. Lại thêm bàn tay búp măng năm ngón, thon dài và nhọn như mũi viết đang ngại ngùng e ấp nâng một bên cằm nữa chớ, sao mà em… kiểu vở dễ thương chi lạ!

Mỹ Tho, ngày…

Tần yêu quí của em,

Em không ngờ anh đã dành những ngày phép ra trường để đến với em, cùng em vui chơi khắp phố phường tỉnh lẻ của hai đứa mình. Kể ra, anh tìm được nhà em thì cũng là tài lắm đó. Vì như anh đã biết, sau Mậu Thân, toàn bộ khu bờ giếng trên đã được phóng đường, phân lô lại, lộn xộn hết trơn. Lúc nhìn anh trong bộ quân phục trắng như bông bưởi, thiệt tình, em ngỡ như mình đang sống trong mơ. Còn em, em có giống con lọ lem không khi bất chợt tiếp anh trong bộ bà ba mặc ở nhà, không son phấn sửa soạn chi hết vì em đang lui cui làm bếp? Chắc là quê mùa, xấu xí lắm hả anh?

Không đâu em, đó chính là hình ảnh khó quên mà anh sẽ mang theo suốt cuộc đời này! Như em đã có lần nói trong thư, “cái gì thật tình cờ không sắp đặt trước thường vẫn hay làm lòng mình thêm vương vấn.” Nhưng, những điều em nhắc về em hình như vẫn còn thiếu một điểm đặc biệt nào nữa, à, tóc mai em sợi vắn sợi dài đang lấm tấm vài giọt mồ hôi, trong như những giọt sương mai đọng lại hai bên bờ thái dương. Có thể nhờ vậy mà thêm vào đó, đôi má em sao mà hồng và đôi môi em sao mà mọng đỏ… Phải chi không có má và chị em của em quanh mình lúc ấy, thì em biết anh sẽ làm gì em không? Có lẽ anh sẽ ôm em vào lòng, hôn lấy hôn để những môi, những mắt, những mi! Và rồi ngay sau đó anh sẽ tiếp tục ăn tươi nuốt sống em vì anh đã thấy đôi gò ngực em phập phồng dưới làn áo mỏng, ươn ướt mồ hôi…, ôi, sao mà tình không chịu được!

Rồi lần đầu tiên trốn nhà, hò hẹn đi chơi với… trai sao em run quá, hồi hộp quá. Nhứt là lúc anh cầm lấy tay em đi dạo bờ sông. Em cứ lẩn tránh đôi mắt quyến rũ, sáng như sao đêm vời vợi của anh, nhìn sang bên kia cồn Rồng, những chiếc thuyền con và đò ngang bé bỏng. Anh có để ý điều này không? Rồi anh lại choàng tay qua lưng em, khe khẽ ôm em như chuyền hơi ấm, làm em bắt rùng mình vân vê tà áo phất phơ bay. Nhưng lần lần em lại cảm thấy dạn dĩ hơn. Nói năng ý tứ hơn chớ không còn lắp bắp, vụng về, nhớ trước quên sau nữa… Anh đừng cười em nha! Ngẫm nghĩ lại, cái gì cũng vậy, nếu là lần đầu tiên bất chợt đến với mình thì vẫn thường hay đi vào đời mình bằng một nét thật đậm, anh nhỉ! Anh yêu, em nói thế để anh hiểu rằng, có thể em không phải là người con gái đầu tiên đến với anh, nhưng ngược lại, với anh em đã có mối tình đầu. Vì vậy, em mong rằng anh hãy cẩn thận, nâng niu… chớ đừng đang tâm vò nát nó nghen anh .

Loan ơi, những lời của em nói ra đây sao mà làm cho lòng anh xót xa chi lắm! Tuy em không hẳn là người tình đầu của anh, nhưng chính em là người trong mắt anh ngay từ thuở bé! Tình yêu chưa đến được chỉ là vì ngăn cách bởi tuổi tác, vóc dáng đó thôi. Hơn nữa, em là học trò của anh mà, em không nhớ sao? Thầy giáo mà đi yêu học trò mới lớn, ngực vun chum chúm vú cau thì coi sao được! À, ngẫm nghĩ lại, với anh, hình như cái gì cũng vậy, nếu hễ bạo phát thì cũng sẽ bạo tàn. Bởi vậy, em khỏi lo, vì bây giờ chắc là anh cũng đã có chút ít kinh nghiệm trên bước đường tình!

Mà này anh ơi, nếu không gì trở ngại thì khoảng hai tuần nữa em sẽ có mặt ở Sài Gòn, để lo thi vào lớp Cán sự Y tế, trong hai ngày… Em sẽ tá túc tại nhà của cô Hai em ở đường Cao Thắng, nhà số… Hi vọng rằng cuối tuần ấy, sau ngày thi, mình sẽ gặp lại nhau nếu anh được phép hoặc có thể… vì em một lần, chịu khó nhảy dù về thủ đô chơi. Em những mong được gần bên anh, phút nào hay phút nấy…

Thư vắn tình dài, chắc anh đã hiểu nỗi lòng của người con gái đang yêu và đã được yêu.

Em của anh,

Loan

Tần đã đọc đi đọc lại bức thư của Loan không biết bao nhiêu lần rồi mà lần nào lôi ra đọc lại cũng y như vậy, vẫn thấy lòng mình nôn nao, lâng lâng khó tả. Vì tình yêu đã đến với Loan thật trang trọng, trong trắng và ngây thơ. Phải chăng nó đẹp quá, thánh thiện quá tuy cũng không kém phần mong manh quá. Bởi thế, bằng mọi giá, Tần phải cố giữ cho nó đẹp, đẹp mãi, không phai! Loan ơi, sao anh nhớ em quá chừng chừng trong cảnh chim hồng lẻ bạn này!

Và thật hên cho hai đứa chúng mình vì cuối tuần em thi xong thì cũng là ngày anh chấm dứt chương trình thực tập. Anh được phép trở về Sài Gòn du hí vài hôm trước khi trình diện Hạm Ðội. Mà cho dầu nếu không có phép đi nữa thì anh cũng sẽ, không phải riêng gì… vì em một lần… mà còn cho chính anh nữa chi, bay về thành phố hoa đèn với người tình yêu dấu. Anh cần phải sống những phút giây đáng sống với em, trước khi quăng mình vào sương khói phong ba, thật sự sống đời một trời một biển của người lính tàu…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

Bài 29.

75 Tuổi bất ngờ còn Xuân

Vancouver đang dang tay đón mùa xuân với rừng hoa Anh Đào mặc áo trắng rực rỡ dọc theo đường lên đồi Queen Elizabeth Park. Đầu tháng 4 đang ấm mấy ngày, trời bỗng phủ những cơn mưa lạnh như những ngày vào Đông, những kẻ tha hương tuổi vừa qua sáu bó sầu đời nhớ về quê cũ ngậm ngùi nghe những đóm lửa hồng dĩ vãng còn âm ỉ nóng.

Sáng nay, Ngọc Hoài Phương gửi cho tờ Hồn Việt số tháng Tư 2007, đang buồn giở trang báo, bỗng thấy có chạy đăng nửa trang chúc mừng ngồ ngộ ở trang Hồn Việt số 89: Mừng bạn 65 tuổi.

Người có cái diễm phúc được chúc mừng tên Vũ Đình Ích. Anh Ích mà tôi chưa hân hạnh được quen được chúc là “đã tròn 65 tuổi và hãy tiếp tục chơi với đời thêm 65 năm nữa!” Chắc gần bằng tuổi con cháu ông Bành cổ! (Chả biết lão Bành Đức Hoài của Tầu có là cháu chít mấy trăm đời gì không?)

Tôi nghĩ Ngọc Hoài Phương và các bạn anh định lằn ranh già trẻ ở mốc 65 nên mới chơi cái trò ngộ nghĩnh này. Một lô bạn bè tôi, trong đó có nhà thơ Trần Thúc Vũ đã không may mắn vượt qua cái mốc này. Mới đó mà anh mất đã gần 2 năm…

Nhiều người khi qua tới xứ tự do, không bị công an và quản giáo VC kềm kẹp, cũng lăn ra chia tay đời trong khoảng 55 đến 65.

Cách đây vài năm, họa sĩ Chóe sau khi ra tù ở Sài Gòn sống nín thở một thời gian, mò được qua Virginia chữa bệnh dự định hết bệnh anh ở luôn không về lại thiên đường mù VC, anh cũng không trèo qua khỏi con số 65 này và ra đi vĩnh viễn nơi đất tự do. Tôi và Chóe một thời thủ trang 3 Sóng Thần, cả hai đều bị rắc rối với cục ANQĐ vì những loạt bài chống tham nhũng khi còn mặc áo nhà binh, VC vô chiếm xong Sài Gòn, hai thằng bị tống vô tù VC tiếp. Đúng là “sinh nghề tử nghiệp!?” Nhưng mà mình có sống bằng cái nghề cầm bút đâu hở Trời!

Những cựu sĩ quan tù “cải tạo” từ trong lò tù VC ra nước ngoài như mấy cái cây mục, nước tự do tưới sống được bao nhiêu hay bay nhiêu, cây nào yểu thì đi trước 65, cây nào nhờ hồng phúc ông bà cố tổ thì lết qua khỏi 65 để từ từ bò tới mốc cây số 75 hay xa hơn.

Thành ra, kể từ đây, anh nào chưa qua con số 65 thì vẫn được coi là trung niên, tức loại còn được coi là thanh niên già. Mà già trẻ gì cũng vẫn là thanh niên. Thanh niên lại là rường cột của nước nhà. Vậy ai chưa qua tuổi 65 mà ngồi nhà không chịu tham gia tranh đấu chống cộng, đấu tranh cho tự do dân chủ thì chúng ta cứ gọi họ là thành phần trốn quân dịch! Còn đã như vậy mà lại đi đi về về xứ CHXHCNVC xoèn xoẹt thì phải gọi là thành phần đào ngũ bỏ anh em mới đúng văn phạm.

Chà! Coi bộ thành phần đào ngũ này hơi nhiều đó bà con. Mùa xuân năm nay, VC xài luật rừng mạnh tay, coi chừng về Việt Nam lâm nạn chạy không kịp! Để khỏi mích lòng người đời hai bên lằn ranh 65, kẻ viết bài này không dám viết lời kết, mà chỉ xin chạy mấy dòng thơ nhân cái quảng cáo chúc mừng “Mừng bạn 65 tuổi” của Ngọc Hoài Phương và các bạn anh.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

Chương 12.

Luận về đồ xưa, sách cũ và nói thêm về lăng Phạm Đăng Hưng ở Gò Công.

Đồ cổ ngoạn

Xin hỏi đồ xưa là gì và sách cổ khác với sách cũ thế nào? Tôi trả lời lẹ, những việc ấy tôi đã có nói rồi trong bộ “Hiếu cổ đặc san”, nay sách ấy đã bán hết, nay không cần lặp lại và xin tóm tắt gọn:

Lấy một tỉ dụ nhỏ, khi tôi năm 1947 bỏ chạy từ Sốc Trăng lên Sài Gòn, kết bạn với Năm Sa Đéc, mướn một chòi lá mỗi tháng trả ba đồng, ở xóm Cù lao đường Võ Di Nguy cũ, trước chòi có một dây bầu, lúc ấy vận cũng vừa đỏ, Viện Bảo tàng trong Thảo cầm viên mời tôi vô làm thơ ký trả lương công nhựt, tôi thấy giàn bầu kết chà tre, tôi bèn lựa một nhánh trúc con, cắt làm cán bút, trở vô làm theo lối tạm bợ chạy gạo qua ngày, cán bút ấy là một nhánh tre quèn, nhưng đối với tôi nay là vật kỷ niệm, trở nên vật xưa.

Xin lấy một tỉ dụ khác, cũng lúc ấy, tôi lượm một miếng gỗ trắc đáng cho vào bếp chụm, tôi đưa cho một thợ dân làng Đình Bảng, tôi tuyển vào viện bảo tàng làm phu gác đêm và gặp tay khéo có hoa tay, miếng gỗ trở nên một cây dao rọc giấy và cây dao ấy tôi vẫn giữ, kể như hai vật nầy, nếu rớt rơi giữa đường, ít ai ngó ngàng đến, chẳng qua biết giá trị hay là không, cũng tùy người.

Cán bút tre và dao rọc giấy nầy, nay đổi bút Waterman hoặc dao rọc mạ vàng, tôi cũng không ưng. Trái lại đời Tây trở qua, Bollart và ông Bảo Đại kéo nhau ra một hải đảo, ký kết với nhau gì đó và đổi nhau hai cây bút máy mắc tiền, nhưng tôi dám chắc hai ông không giữ hai bút kia đâu, rất đổi ngai vàng còn bỏ, huống hồ vật ti tiểu, có tiền muốn mua lúc nào lại chẳng được.

Và nghĩ lại cũng buồn, trên kia một nước lân bang nọ, người ta biết củng cố ngôi, còn ông nầy lại bỏ ngôi, âu  cũng vận mạng gì đó, chớ chi ông biết nhẫn nại và chịukhó một thời gian, thì ắt cũng được đất phong hầu, nói nữa không hay.

Mấy hàng trên đây, tôi cố viết để tả nỗi lòng, nhưng đọc giả khi đọc ắt là nhức mắt vì tôi nói quá mơ hồ, làm sao hiểu được nỗi lòng của tôi, ấy chẳng qua là tại tôi bất tài, viết không được hết ý, kỳ trung tôi muốn giải thích, “chơi đồ cổ” cũng như “chơi sách xưa sách cũ” đều là phải có chút năng khiếu và chút ít thiện chí, chớ không phải có nhiều tiền, rồi ỷ của, mua quấy mua quá, rồi tự hào “đã biết và thành thạo chơi đồ xưa!”.

Tôi xin lấy tỷ dụ của tôi mà nói: Năm 1928, khi tôi được từ Trường Máy Ecole des Mecaniciens Asiatiques ở Sài Gòn, được thuyên chuyển về làm việc bút toán nơi tòa hành chánh cũ tỉnh Sa Đéc, lúc ấy, tôi quả có lòng ham muốn và muốn học chơi đồ xưa, nhưng tôi nào biết ất giáp gì và mấy lần tôi có dịp đi ngang hai nhà buôn đồ xưa, nhà ông Tư Muôn và nhà ông Thợ Thiệu, tôi vẫn thấy chưng bày nhiều dĩa “ám long” cũng gọi dĩa long ám, có mây xanh xanh vẽ trên lòng dĩa màu trắng đẹp, hỏi giá, trả lời “mỗi dĩa 5$00″, nhưng nào tôi dám mua, xin nhớ 5$00 lúc ấy (lối 1928) giá trị tương đương hoặc nhiều hơn 50.000 đồng giấy ngày nay (1993); lại nữa, lúc ấy, tôi đang không đủ tiền chợ tiền cơm, tiền đâu có mà sắm sanh đồ chơi quí giá.

Trái lại ngày nay, những dĩa ám long long ám ấy đã không còn thấy nữa, hoặc đã xuất ngoại, hoặc đã cất giấu trong tủ “nhược thâm trân tàng” chăng?

Về sách báo cũ, sau ngày 30-4-1975 cũng đã biến mất, nay mấy nhà bán sách cũ, nếu còn giữ được thì bán giá “mắc như vàng” tôi nào dám rớ. Chung qui, mọi vật đều tương đối, thay đổi về giá tiền và về giá trị tùy thời. Người biết chơi, không nên tị hiềm và phải ở theo thời mới được. Vừa rồi, tôi nhơn đọc báo, thấy trên tờ Văn Nghệ số 110 (từ 7 đến 13 th. 10, 1993) có bài “Nỗi buồn Lăng Mộ” của Nguyễn Hoài Nhơn viết và tỏ ý than tiếc cho mộ Phạm Đăng Hưng, ngoại tổ vua Tự Đức bị phá hư và không ai lo tu bổ, nay tôi không có ý làm quảng cáo nhưng xin tán đồng ý của tác giả Hoài Nhơn và tôi thầm trách làng xã ở Gò Công có di tích cũ mà không biết giữ gìn, trái lại tỷ như ở hạt Sa Đéc vẫn có lăng mộ ông Nguyễn Thành Nhơn, ông Nhơn nầy là quan lớn đời vua Gia Long, vẫn không nghe bị phá phách gì và theo tôi chắng qua hai chữ may và rủi và có lẽ mộ lăng ông Nhơn được ở ném về địa phận một vùng yên tịnh, có làng xã biết giữ gìn di tích cũ xưa, và trái lại ở Gò Công, làng xã đã không biết bảo tồn lăng mộ P.Đ.H. và thêm nữa cháu con dòng họ Phạm cũng không biết bảo thủ lăng mộ của ông bà để lại và nhứt là từ ngày họ Nguyễn Phước đã có người bất tài (B.Đ.) kế vị, không được như trên kia, hoàng tử đất Angkor, B.Đ. đã bỏ nước ra đi, và nhà Ngô Đình lên ngồi ghế tổng thống chỉ lo củng cố địa vị họ mình và thêm nữa chính Ngô Đình Nhu, học bên phương Tây mà áp dụng trật lất lấy gương Khu Chiến lược của Mã Lai Á hay của Nam Dương quần đảo đem về đây thi hành lỏng lẻo, khiến nên đã đuổi dòng Phạm Đăng không cho ở nơi nhà cũ, bỏ trống nhà nầy phải theo lịnh Đình Nhu ra ở dưới quyền kiểm tra của ấp Chiến Lược tai hại kia và đến đây xin cho tôi nhắc lại chuyện xưa, năm đó, Tây còn ở đây, tôi đã làm tài khôn dẫn dắt đưa nhơn viên và hội viên hội Pháp Société des Etudes Indochinoises (hội cổ học Ấn Hoa) đến Gò Công viếng di tích “nhà cổ P.Đ.H.”, thì năm ấy, nhà cửa dòng họ của bà Từ Dũ Thái hậu, lúc ấy, đã tiêu điều, đồ từ khí trong nhà, như lư hương và đồ thờ phượng (chưn đèn, lư đồng) đã bán hoặc bị mất cắp từ trước, (buổi đó tôi không xem phần lăng mộ, nên nay xin miễn bàn đến) và trở lại nếu mộ cũ P.Đ.H. ngày nay bị phá bị làm cho hư tệ, tôi xin qui tội cho nhà Ngô Đình trước và sau đó xin mạn phép trách làng xã Gò Công, thật là quá lơ là và không lo gìn giữ bảo tồn di tích cũ xưa. Nay thì đã muộn, lăng mộ điêu tàn, dầu có xuất tiền muôn bạc triệu sửa chữa cũng không làm sao còn y như cũ. Ở Huế thì lăng mộ Kiên Thái Vương cũng điêu tàn, duy như tôi đã từng thấy nhiều nơi từ Thổ Nhĩ Kỳ nơi Istanbul, qua La Mã (Rome) Pháp đền đài vua chúa nơi nơi đều giữ lại kỹ càng và lấy đó làm phương làm chỗ khai thác du lịch, v.v .. , duy có nước mình, dân ương ngạnh quá nhiều, khiến lăng bà Thái hậu Từ Dũ thì bị đào và ăn cắp vàng nữ trang, mộ cấp nhà giàu như mộ bà Hà Minh Phải ở Tân Sơn Nhứt cũng bị đào và kẻ trộm đã lấy cắp đầu lâu của bà H.M.P. miệng có ngậm kim cương lớn hột mà tên trộm lúc đào tìm không thấy và những sự việc hư tệ phá hoại như vậy, chỉ tạm nên trách giáo dục còn non, dân tín còn thiếu và không tiền không bề thế thì trách làng trách xã cũng nên tội nghiệp cho làng cho xã và riêng tôi, tôi phải chịu tội nói oan …

Trở lại vấn đề chơi đồ cổ và chơi sách hiếm, theo tôi phải có bản lĩnh trước đã rồi sẽ nói về phương tiện và may rủi về sau. Chung qui tôi có phần dị đoan và xin độc giả bỏ qua cho … Và âu cũng là “vận, hạn”.

Tôi đã bắt quàng nói về lăng mộ cũ, nay nói qua đồ cổ và sách cũ, theo tôi, chánh phủ nên cứ cho chơi, cho dân chơi líp (libre) mà chúng khỏi làm chính trị! Lời nói ấy là lời một kẻ già nói tầm xàm bá láp, xét lại ngày xưa già nên nết nên trên cao chấp nhận lời của hội nghị Diên Hồng, còn nay già như tôi, tưởng nên câm miệng lại là hơn, tuy vậy, đã trót và lỡ lời, thì cũng nên nói luôn, còn chấp nhận cùng chăng là của người cao kiến khác.

(viết ngày 25-9-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

Bài 46

Quán tre

Pascal Fosco từ khu mỏ bốc-xít xuống. Y là một trong những kẻ đã âm mưu dùng võ khí cướp bưu điện Marseille. Tòng phạm với y đã bị chém đầu. Pascal là người tốt nhất trong bọn chúng tôi. Tuy là thợ máy giỏi, anh chỉ kiếm được bốn đô-la một ngày, nhưng vẫn tìm cách nuôi một hay hai tù nhân gặp khó khăn.
Khu mỏ đất nhôm này ở rất sâu trong rừng. Xung quanh mỏ, hình thành một làng của công nhân và kỹ sư. Trên bến, chất quặng được đổ suốt ngày xuống nhiều tàu để chở đi. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ tại sao ta không mở quán ở cái nơi khỉ ho cò gáy này nhỉ? Tối đến, những người sống ở đấy chắc buồn đến chết. 
– Đúng đấy. – Fosco nói với tôi, – quả là chẳng có quái gì để giải trí.
Và vài hôm sau, một cái thuyền nhỏ, sau hai ngày ngược sông, đã đưa Indara, Quých-Quých, anh Cụt và tôi đến mỏ Mackenzie.
Nơi các kỹ sư, quản đốc, và thợ chuyên môn ở thì gọn gàng sạch sẽ, có những căn nhà nhỏ đủ tiện nghi, nhà nào cũng chăng lưới thép để muỗi không vào được. Trong làng thì lại tồi tàn quá. Không có nhà nào bằng gạch, đá hay xi-măng, chỉ có những túp lều vách đất và tre, mái bằng lá cọ rừng, hoặc lợp tôn kẽm là cùng. Bốn quán nước có bán cả thức ăn, đều dơ bẩn khủng khiếp mà vẫn đông nghịt khách. Các thủy thủ đánh lộn với nhau để mua một ly bia không ướp lạnh. Không quán nào có tủ lạnh.
Pascal nói có lý, có rất nhiều việc làm được ở chốn hẻo lánh này. Nói cho cùng thì tôi đang ở trên đường vượt ngục; đây vẫn là một chuyến phiêu lưu, nên tôi không thể sống bình thường như các bạn khác được. Làm việc là để kiếm sao vừa đủ sống, chứ tôi chẳng mấy để tâm. Vì ở đây hễ trời mưa là đường xá lầy lội, nên tôi chọn một địa điểm tương đối cao ở phía sau khu trung tâm. Tôi tin là dù trời mưa nơi tôi ở cũng không bị nước vào trong nhà hay xung quanh nhà.
Trong mười ngày, được thợ mộc da đen ở mỏ giúp, tôi đã dựng lên một phòng hình chữ nhật dài hai mươi mét, rộng tám mét. Ba mươi bàn mỗi bàn có bốn ghế có thể chứa được một trăm hai mươi người ngồi thoải mái. Một cái bục cao để các nghệ sĩ lấy chỗ biểu diễn, một quầy rượu, rộng đúng bề ngang quán và có hơn một chục ghế cao. Bên cạnh quán rượu là một căn nhà khác có tám phòng, vừa đủ cho mười sáu người ở rộng sãi.
Khi tôi về Georgetown để mua các dụng cụ, ghế, bàn v.v….. tôi mướn luôn bốn cô gái da đen đẹp người để phục vụ khách hàng. Daya đã làm ở tiệm ăn, cũng quyết định theo chúng tôi. Một người phu sẽ gõ trên cây đàn piano mà tôi mới thuê được. Chỉ còn lo việc tiết mục trình diễn.
Sau nhiều khó khăn vất vả và ba hoa hươu vượn, tôi cũng thuyết phục được hai cô gái Nam Dương, một cô Bồ Đào Nha, một cô Tàu và hai cô tóc nâu bỏ nghề làm điếm để trở thành nghệ sĩ thoát y. Một tấm rèm đỏ cũ mèm mua lại ở một tiệm lạc-son được dùng làm màu sân khấu.
Tôi tổ chức đưa tất cả những người này lên khu mỏ bằng một chuyến đi đặc biệt trên một chiếc thuyền của ngư dân Tàu. Một tiệm rượu nhận bán chịu cho tôi đủ các thứ đồ uống có thể có được. Tiệm đó tin tôi, tôi sẽ trả tiền hàng tháng những gì tôi đã bán được, sau khi kiểm hàng. Và tiệm đó sẽ gửi dần cho tôi những thứ rượu tôi cần. Một cái máy hát cổ lỗ sĩ và những đĩa hát đã mòn sẽ phát nhạc khi anh nhạc sĩ đàn pianô của tôi ngưng hành hạ cây đàn. Đủ loại áo ngoài, váy lót bít tất đen và màu, nịt treo tất, còn rất tốt, tôi chọn mua vì màu sắc sặc sỡ của chúng tại nhà một người ấn đã gom từ đóng đồ bỏ đi của một gánh hát rong, sẽ là “trang phục” của các “nghệ sĩ” tương lai của tôi.
Quých đã mua gỗ cây và giường. Indara thì mua ly tách và những gì cần cho một tiệm rượu, tôi lo rượu và vấn đề nghệ thuật. Gói gắm xong những việc đó trong một tuần, phải cố gắng cật lực. Cuối cùng rồi cũng xong, dụng cụ và người chiếm cả một thuyền.

Hai hôm sau, chúng tôi đến nơi. Sự có mặt của mười cô gái ở giữa rừng thẳm này là một cuộc cách mạng thật sự. Mỗi người xách theo một gói đồ đã leo lên “Quán tre”, tên tôi đặt cho hộp đêm của tôi. Những cuộc tập dượt bắt đầu. Dạy các “nghệ sĩ” của tôi cởi áo quần không phải là dễ. Trước hết tôi nói tiếng Anh và những lời chỉ dẫn của tôi không được hiểu kỹ, sau nữa là vì các cô chỉ quen thay quần áo thật mau cho xong rồi tống khách đi cho nhanh. Còn bây giờ thì trái hẳn, các cô càng làm từ từ bao nhiêu, lại càng hấp dẫn bấy nhiêu. Đối với mỗi cô, lại phải có một chiến thuật khác. Cách làm cũng phải phù hợp với quần áo. Cô nàng “Hầu tước phu nhân” mặc coóc-xê hồng và váy phồng, trong là quần rộng viền đăng-ten trắng, thoát y chầm chậm, sau tấm bình phong có cái gương to phản chiếu để khán giả có thể ngắm lần lượt từng mảng da của nàng.

Rồi cô “Mau lên” một cô gái có cái bụng phẳng nhẵn, tóc nâu, da màu cà-phê nhạt, một bản mẫu tuyệt đẹp của một cuộc lai máu, chắc hẳn là giữa một gã da trắng với một cô da đen màu sáng. Nước da cô này như hạt cà-phê mới bắt đầu rang hơi vàng chút xíu càng làm nổi bật thân hình cân đối của cô. Mớ tóc dài xoăn tự nhiên rủ xuống đôi vai tròn trĩnh tuyệt vời của cô bộ ngực cao đầy đặn, tuy hơi nặng mà vẫn không kém phần hống hách, chĩa ra hai đầu vú màu chỉ hơi xẫm hơn màu da một chút, giương cao lên ngạo nghễ, đẹp vô cùng. Đấy là cô “Mau lên”. Tất cả quần áo của cô này đều mở bằng khóa kéo “féc-mơ-tuy”. Cô mặc quần cao bồi để trình diễn, đầu đội một cái mũ rộng vành và một cái áo ngắn, tay áo có tua bằng da. Theo tiếng nhạc quân hành, cô xuất hiện trên sân khấu và tháo giày bằng cách đá tung từng chiếc lên. Quần dài cô mặc xẻ hai bên. áo chẽn được mở ra thành hai mảnh bằng khóa kéo ở mỗi bên tay.
Với khán giả, cách làm này tác động thật dữ dội vì bộ ngực trần bật lên, như cái lò xo bị nén quá lâu. Đùi và thân trần trụi, cô dang hai chân, tay chống nạnh, vẻ thách thức, cô nhìn thẳng vào đám khán giả, rồi lột mũ, ném lên một chiếc bàn gần sân khấu nhất. Hôm khai trương, Quán Tre đông tưởng muốn vỡ. Ban tham mưu của mỏ đến đủ mặt. Đêm vui kết thúc bằng khiêu vũ và khi các khách cuối cùng ra về thì trời đã sáng. Thắng lợi hoàn toàn, không thể nào ước mong được hơn thế. Cũng phải chi phí tốn kém nhưng giá cao nên bù lại được, và quán ở giữa rừng, cho nên tôi hoàn toàn tin chắc là có nhiều đêm không có đủ chỗ cho khách.
Bốn cô gái chạy bàn của tôi phục vụ không xuể. Các cô này mặc váy rất ngắn, cổ áo khoét sâu, đầu buộc khăn ma-đra đỏ, cũng làm khách mê mẩn. Indara và Daya mỗi người giám sát một phía, khách trong quán gọi gì, thì đã có anh cụt tay và Quých ở quầy rượu cho đưa tới ngay. Còn tôi phải có mặt ở khắp nơi, chỗ nào trục trặc thì chỉnh đốn ngay, chỗ nào có gì lúng túng thì chỉ dẫn kịp thời. 
– Ăn chắc rồi – Quých nói khi chỉ còn lại các cô gái phục vụ, các nữ nghệ sĩ và chủ quán trong gian phòng rộng. Chủ và người làm ai cũng mệt lả nhưng vui mừng vì thấy kết quả. Tất cả mọi người sửa soạn đi ngủ.
– Papillon, dậy đi chứ?
– Mấy giờ rồi?
– Sáu giờ chiều rồi. – Quých nói với tôi. – Cô công chúa của anh đã giúp chúng ta đấy. Nàng dậy từ hai giờ dọn dẹp xong xuôi sẵn sàng để đêm nay lại bắt đầu nữa.
Indara mang một bình nước nóng đến. Sau khi tắm rửa, cạo râu tươi tỉnh và khoan khoái, tôi ôm ngang lưng Indara rồi cùng bước vào Quán Tre, mọi người xúm lại hỏi han rối rít.
– Ông chủ ơi, tình hình khá chứ?
– Em thoát y có được không? Theo ông chủ thì chỗ nào không được nào?
– Em hát gần đúng, phải không ông? Cũng may là khán giả dễ tính cả.
Cái nhóm mới thành lập này rất dễ mến. Lũ điếm biến thành nghệ sĩ này rất coi trọng công việc của mình và tỏ ra sung sướng từ bỏ được nghề cũ. Việc buôn bán không thể nào khấm khá hơn thế này được. Chỉ có điều khó khăn duy nhất là quá nhiều khách đàn ông lẻ loi mà quá ít đàn bà.

Tất cả các khách hàng đều muốn được ngồi kèm một cô gái, nhất là một nghệ sĩ nếu không được cả đêm thì cũng phải lâu hơn bây giờ. Thế là họ ganh ty nhau. Thỉnh thoảng, lỡ ra có hai phụ nữ ngồi cùng một bàn, là khách hàng phản đối ngay. Các cô gái da đen cũng được quý chuộng, trước hết các cô cũng đẹp, nhưng chủ yếu là vì ở trong rừng này không có đàn bà. Tuy bận ở quầy, thỉnh thoảng Daya cũng chạy ra bàn và trò chuyện với tất cả mọi người. 
Khoảng hơn hai mươi khách được thường thức sự hiện diện của cô gái ấn này vì sắc đẹp của cô quả là hiếm có. Để tránh sự ganh tỵ và đáp ứng yêu cầu của khách đòi phải có một nghệ sĩ ngồi tại bàn mình, tôi bày đặt trò sổ số. Sau mỗi tiết mục thoát y hay ca hát, một bánh xe to có ghi số từ 1 đến 32, – mỗi bàn một số, riêng quầy rượu là hai số – sẽ quyết định cô gái vừa biểu diễn sẽ phải đến bàn nào. Muốn chơi xổ số, phải mua một vé, giá tương đương với tiền một chai whisky hay sâm banh.
Tôi cho là làm như vậy có hai điều lợi. Thứ nhất là tránh được những sự khiếu nại. Ai trúng số sẽ được nghệ sĩ ngồi cả giờ tại bàn mình mà chỉ phải trả tiền một chai rượu, được phục vụ theo cách sau đây: trong khi nữ nghệ sĩ chỉ còn cái quạt lông che thân thì tôi cho bánh xe quay. Nó chỉ vào số nào thì cô gái đứng lên một cái mâm gỗ sơn bạc và bốn chàng trai khỏe mạnh nhấc bổng mâm lên, đưa tới cái bàn may mắn trúng số. Cô nàng mở chai sâm banh và, vẫn cứ trần truồng như vậy chạm cốc một lượt rồi xin lỗi và đi vào để năm phút sau trở lại ngồi vào chỗ, lần này ăn mặc đàng hoàng.
Trong sáu tháng công việc chạy đều, nhưng mùa mưa đã qua, một loạt khách mới đến. Đó là những người đi tìm vàng và kim cương được tự do đi thăm dò trong rừng ở cái đất phù sa màu mỡ này. Đi tìm vàng và đá quý bằng những phương tiện cổ hủ cực nhọc vô cùng. Họ thường chém giết hay lấy cắp của nhau. Cho nên tất cả có vũ khí và khi đã có một túi vàng nhỏ hay một nắm kim cương là họ không cưỡng được sự cám dỗ, lao vào ăn tiêu như điên. Bán được một chai sâm-banh, mỗi cô gái cũng được hưởng một tỷ lệ khá lớn. Từ đó, vừa hôn khách, vừa đổ sâm banh hay whisky vào xô đựng đá cho chai mau hết, làm chỉ trong nháy mắt. Có vài người tuy đã uống rồi, nhưng vẫn thấy được cái mánh này và phản ứng dữ dội đến nỗi tôi phải cho gắn chặt bàn và ghế xuống sàn nhà. 
Với loại khách mới này, điều phải xảy ra đã xảy ra. Cô gái ấy được người ta gọi là “Hoa Quế” Da cô cũng giống màu cây quế thật. Cô gái mới tới này, được tôi vớt từ khu nghèo khổ của thành phố George, có lối thoát y làm cho khách phát cuồng lên.
Khi đến lượt cô ta biểu diễn, phải đem một cái ghế tràng kỷ lên sân khấu, cô ta không chỉ cởi quần áo và những kỷ xảo đặc biệt tinh vi, mà sau khi đã trần như nhộng, lại còn nằm dài ra ghế và tự vuốt ve mơn trớn mình. Những ngón tay thon dài của cô lướt trên da thịt trần tụi của mình, mân mê thân thể mình từ tóc đến ngón chân. Không một chỗ nào trên thân thể mà cô lại không mó máy đến. Khỏi phải nói rõ cách phản ứng của những con người thô lỗ của miền rừng rú này, nhất là khi họ đã sặc sụa hơi men.
Tính vốn vụ lợi. Hoa Quế bắt khách mua vé xổ số cho tiết mục của cô ta với giá hai chai sâm banh chứ không phải một như những cô khác. Sau khi mua vé nhiều lần hòng dành được Hoa Quế mà không được lần nào, một gã thợ mỏ vạm vỡ, có bộ râu đen rất rậm, khi cô gái Ấn của tôi đi mời mọi người mua vé số cho lần thoát y cuối cùng của Hoa Quế, chỉ còn cách mua cả ba mươi vé xổ số (tức chỉ trừ hai vé của quầy rượu). Sau khi trả tiền sáu mươi chai rượu sâm~banh, tin chắc là mình sẽ trúng, chàng rậm râu tin tưởng chờ Hoa Quế thoát y rồi đợi quay số. Hoa Quế cũng bị kích thích rất mạnh vì từ tối đã uống quá nhiều. Khi cô ta biểu diễn lần cuối thì đã bốn giờ sáng. Ngấm rượu, cô lại càng tỏ ra dâm đãng và có những cử chỉ trắng trợn hơn bao giờ hết. Vù vù? Bàn cò quay đã bắt đầu chạy và con cò bằng sừng sẽ chỉ số trúng.
Chàng rậm râu, sau khi xem cô bé Hoa Quế biểu diễn, đã bị kích thích đến tột độ. Anh chàng ngồi đợi, tin chắc là người ta sắp đưa cô ta trần truồng, trên cái khay bạc, đến cho y, chỉ che có cái quạt lông che thân, hai chai sâm banh được kẹp giữa hai cái đùi tuyệt đẹp. Nhưng tai hại thay, anh chàng mua ba mươi vé lại thua. Số 31 trúng, nghĩa là quầy rượu được. Thoạt tiên y chưa hiểu ra, mãi đến khi cô nghệ sĩ được nhấc lên đặt ở quầy rượu y mới vỡ lẽ. Thế là cái gã ngốc ấy phát điên lên, xô bàn nhảy ba bước tới quầy rượu. Y rút súng lục bắn ba phát vào cô gái, tất cả sự việc này diễn ra trong khoảng chưa đầy ba giây.
Hoa Quế đã chết trong tay tôi. Tôi đến đỡ cô ta lên sau khi đánh gục thằng thú vật ấy bằng một cây dùi cui của quân đội Mỹ mà lúc nào tôi cũng mang trong người. Do tôi bị vấp phải một cô chạy bàn đang cầm khay nên tôi can thiệp chậm, làm thằng súc sinh có đủ thì giờ gây ra chuyện rồ dại này. Kết quả là cảnh sát bắt Quán Tre phải dẹp tiệm và chúng tôi phải trở về Georgetown.
Chúng tôi ai trở về nhà người ấy. Indara cô gái Ấn chính cống định mệnh chủ nghĩa, chẳng thay đổi tính nết chút nào. Với cô, sự sụp đổ này chẳng có gì quan trọng. Tìm việc khác mà làm, có vậy thôi. Các chú Tàu cũng thế. Chẳng có gì thay đổi trong nhóm, chúng tôi vẫn ăn ý với nhau. Chẳng ai trách một lời về cái sáng kiến kỳ cục của tôi lấy gái ra để mở số, cái sáng kiến đã là nguyên nhân của sự tai tiếng. Chúng tôi gom góp tiền nong dành dụm được, để trả tất cả các món nợ và đưa đỡ một món tiền cho bà mẹ Hoa Quế. Chúng tôi chẳng băn khoăn lo lắng gì. Tối nào chúng tôi cũng đến quán rượu, nơi các cựu tù nhân vẫn tụ tập. Các buổi tối vẫn vui, nhưng thành phố George trong hoàn cảnh chiến tranh bị hạn chế nhiều đã làm tôi mệt mỏi. Thêm vào đó nàng công chúa của tôi không bao giờ ghen nên tôi lúc nào cũng được tự do. Bây giờ cô nàng đeo tôi từng bước và ngồi hàng giờ cạnh tôi bất cứ tôi ở đâu.
Những khả năng buôn bán ở thành phố George trở thành phức tạp. Và có một ngày, tôi bỗng nảy ra ý muốn rời đất Guyane thuộc Anh này sang một nước khác. Chẳng có gì phải sợ, lúc này đang có chiến tranh, không nước nào trả chúng tôi về chỗ cũ, ít ra đấy cũng là điều tôi ước đoán.