Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Đan

8khung.blogspot.com

18/4/2015

Post by Sơn râu 15 Dec 2025

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Đan sinh năm 1925 tại Nam Định, đến với nhiếp ảnh năm 18 tuổi. Năm 1950 ông vào Saigon làm phóng viên ảnh cho tờ Indochine Sud-Est Asiatique. Đến 1954 ông đưa vợ con vào theo. Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, ông mở hiệu ảnh ở Saigon kiếm sống. Ông đã tham dự nhiều cuộc thi, triển lãm. Tính riêng trong khoảng 1959-1963 ông đã giành được 70 huy chương quốc tế các loại. Ông cũng đã thực hiện được 5 tập sách ảnh: Việt Nam khói lửa (1969), Hình ảnh kinh tế Việt Nam (1974), Quê hương Việt Nam (1996), Hình ảnh Việt Nam (2003), Non sông nước Việt (2012).

Bao giờ cây lúa có bông

Cửu đỉnh

Đi chùa Hương

Kiếp phù du

Nắng hạn

Ngoại ô

Nguồn sống

Trăng treo

Thác Bản Giốc

Dấu chân người tỵ nạn

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 15 Dec 2025

3. Long Châu, Những Ngày Rong Ruổi

Long Hồ và Long Châu là hai hiếc tàu tư nhân. Long Hồ chuyên chở gạo và Long Châu là tàu dầu thường di chuyển trên vùng duyên hải Việt Nam, từ Nam ra Trung và ngược lại. Đôi khi hai chiếc tàu này cũng chuyên chở hàng hóa trên trục Sài Gòn – Nam Vang.
Vào đầu tháng Tư Long Châu chứa đầy xăng dầu đang nằm ở Đà Nẵng, trong những ngày tình hình sôi nổi của cuộc chiến Long Châu quay đầu trở lại Vũng Tàu khoảng giữa tháng Tư. Trên đường vào Vũng Tàu Long Châu chở hơn một tiểu đội lính Lôi Hổ, một Đại Tá Cảnh Sát và người “tài lọt”. Đến Vũng Tàu hầu hết lính Lôi Hổ và cơ khí chạy máy xuống tàu Long Châu trở lại với gia đình. 
Trưa 29 tháng 4 Long Hồ từ cảng Sài Gòn, kho 5, ra đi và hội ngộ cùng Long Châu sáng 30 tháng 4 ngoài khơi Vũng Tàu. Lúc đó Long Châu có người lái tàu là quan tàu Kh, nhưng không có người chạy máy (vì người thợ máy từ Đà Nẵng vào đã xuống tàu trở lại với gia đình). 
Vì muốn đưa tài sản và số xăng dầu ra nước ngoài, chủ nhân của Long Hồ và Long Châu, sáng 30 tháng 4 đã liên lạc thỏa thuận, đồng ý trả một số vàng và đô la để mướn ba người thợ máy theo Long Hồ ra Vũng Tàu qua chạy máy cho Long Châu. Ba thợ máy đó có hai anh em anh Hoàng (Hoàng và N) và một người bạn (Si), họ đều tốt nghiệp trường Việt Nam Hàng Hải, từng đi tàu hoặc có kinh nghiệm điều hành máy tàu. 
Trên Long Châu có gia đình quan tàu Kh (cha, mẹ, vợ, một người con và cô em vợ), cùng với anh chị em và thân nhân của anh Hoàng (anh K, chị Th vợ anh K, bé Kt con của anh K, T, N, S, Th, H, C và tôi.) Những người này đã có mặt trên Long Châu hoặc từ Long Hồ chuyển qua từ sáng 30 tháng 4, ngoại trừ tôi. C sau khi đến Guam vì nhớ gia đình người thân nên đã cùng với 1545 người khác ngày 16 tháng 10, 1975 tự nguyện lên tàu Việt Nam Thương Tín trở về Sài Gòn. Nhưng khi Việt Nam Thương Tín đến Vũng Tàu thì những người này bị bắt và đưa thẳng vào nhà lao. 
Chiếc radio nhỏ trên Long Châu lúc nào cũng oang oang loan tin từ đài phát thanh Sài Gòn. Khoảng 10:30 trưa 30 tháng 4, 1975 sau lệnh buông súng vô điều kiện của Tổng Thống Dương Văn Minh được loan đi từ đài phát thanh Sài Gòn thì những con tàu và đoàn người ngoài khơi Vũng tàu không còn lý do gì để lảng vảng đây nữa. Tất cả quay đầu ra đi. Từ đây đoàn người sẽ ra đi tìm Tự Do mọi nơi. Hầu hết gia đình binh lính Lôi Hổ và những người trên tàu đánh cá được Đệ Thất Hạm Đội Th Bình Dương vớt và đưa về Subic Bay, đảo Guam hoặc Wake. 
Long Hồ và Long Châu cũng rời Vũng Tàu lên đường. 
Gió biển thổi tung bay ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ bay hiên ngang trong gió mặc cho lời tuyên bố đầu hàng của vị nguyên thủ quốc gia đã loan đi. Biển cả bao la và mênh mông, con thuyền cứ bềnh bồng rời xa bờ bến cũ. Tôi hỏi thì được anh Hoàng cho biết thuyền đang chạy về hướng Nam, và chưa biết sẽ đi về đâu. Tôi lảng vảng trên tàu rồi xuống hầm máy nghe tiếng máy nổ nhức tai lại chạy lên boong tàu. Thời gian trôi qua thật chậm. Không gì làm tôi thấy mình như dư thừa, tôi hỏi anh Hoàng: 
– “Sao tàu trống rỗng như vầy mà không cho người ta lên đi?” 
– “Không được. Không thể để nhiều người lên tàu được vì bà chủ tàu muốn mang tàu đi Panama. Người tỵ nạn đâu muốn đi Panama, có họ khó xử lắm.” 
– “Nói vậy tui cũng đâu muốn đi Panama, sao kỳ vậy?” 
– “Tụi mình thì khác. Đến đó rồi hãy tính.” 
Biết không thể thay đổi được gì tôi làm thinh và chỉ nhìn xa xa trên biển cả, nhớ về gia đình anh em. Có lẽ mỗi con người đều có định mệnh, tôi nghĩ người đáng ra đi có lẽ là anh Hát chứ không phải tôi! Và có lẽ định mệnh đã xếp đặt cho Phương không có mặt ở nhà buổi chiêu hôm ấy, để tôi phải xa Phương! Từ đây những tâm tư về gia đình và người thân rồi cũng trở thành một thứ ký ức, và những bước đi vẫn phải tiếp tục mang theo những ký ức đó. 
Con tàu cứ ra đi và bóng đêm thì cứ lại gần. Chúng tôi, những đứa bạn cùng trang lứa, cùng khóa học, cùng đứng trên ngưỡng cửa học đường và cùng mơ ước cho một tương lai – S, H, Th, N, và tôi. Đêm nay cùng ngồi trên boong tàu, nhìn lên bầu trời đầy sao mà suy ngẫm: không biết vì sao nào của mình, của tuổi trẻ Việt Nam! Tiếng máy tàu vẫn nổ xình xịch đều đặng, và Long Châu Long Hồ vẫn nối đuôi đi trong đêm trường.
Sáng ngày hôm sau, mọi nguời thức giấc con tàu vẫn xình xịch chạy về phương Nam. Nhìn quanh ba bên bốn phía chỉ thấy toàn là biển mênh mông. Tàu chạy khoảng chừng 10 hải lý một giờ, chúng tôi, những người rảnh rỗi nhất trên thế gian lúc này, lấy lưởi câu móc mồi thả đại xuống biển mua vui may đâu bắt được cá. Không ngờ bất thình lình dây câu căng thẳng và từ xa phía sau con tàu một con cá nhảy tung lên mặt nước. Ngay lập tức chúng tôi báo phòng máy cho tàu chạy chậm lại, rồi từ từ kéo giây câu về. Một con cá rất lớn dính câu, đang vùng vẫy trong nước. Chúng tôi vui mừng reo hò cùng nhau kéo cá về, con cá vùng vẫy chạy loạn xạ trong dòng nước, cố phấn đấu để được tự do, nhưng rồi cuối cùng cũng bị mang lên boong tàu. Đó là con cá Dũa, miệng dài và nhọn nặng cở 25 ký! Ngày hôm đó mọi người trên tàu có một bửa cá ăn no say. 
Con tàu vẫn tiếp tục đi. 
Đến ngày thứ ba, bà chủ tàu bên Long Hồ liên lạc qua bảo Long Châu và Long Hồ đều phỉa ghé Singapore. 
Ông Si, người thợ máy và là bạn của anh Hoàng, phản đối lời nói của bà chủ tàu, nói: 
“Tại sao phải ghé Singapore mà không đi thẳng xuống Úc Đại Lợi luôn? Không phải bà chủ tàu đã thỏa thuận như vậy khi còn ngoài khơi Vũng Tàu sao.” 
Ông Kh, thuyền trưởng nói: 
“Phải ghé Singapore để lấy thêm nhiên liệu và thực phẩm.” 
“Gạo chứa đầy tàu rồi. Bộ xăg không đủ xuống đến Úc sao?” 
“Không. Xăng không đủ đi xa như vậy được.” Ông Kh trả lời ông Si. 
Vậy là cả Long Hồ và Long Châu phải ghé hải cảng Singapore. 
Khi Long Hồ và Long Châu cập bến, chính quyền Singapore ra lịnh mọi người phải rời khỏi tàu. Nhóm anh Hoàng và ông Si thấy có điều gì không ổn và chống đối không chịu rời khỏi tàu. Theo lời của ông Si thì bà chủ tàu đồng ý trả một số tiền và vàng cho ông Si và nhóm anh Hoàng để đưa tàu đến Úc hay Panama. Nhưng khi đến Singapore thì được biết chồng của bà chủ tàu đã có mặt tại Singapore, hai vợ chồng chủ tàu đồng tình với chính quyền Singapore buộc mọi người phải xuống tàu, điều này đã làm bất mãn ông Si và ông này cự tuyệt, không chịu rời tàu, chỉ đòi tiếp tế nhiên liệu xong sẽ lên đường. Sau một thời gian dàng xếp, điều đình, nhân viên hải cảng Singapore bảo nhóm anh Hoàng và ông Si sau khi xuống tàu, khám sức khỏe, chích thuốc và lấy thêm lương thực xong sẽ cho trở lại tàu tiếp tục đi. Trước lời đề nghị của hải cảng Singapore mọi người rời tàu lên bờ ngoại trừ ông Si và hai anh em anh Hoàng. Các anh ấy bảo với chúng tôi trước khi bước xuống tàu, rằng: 
“Tụi bây cứ xuống đi, ba đứa tao sẽ ở lại đây coi tàu. Tao nghĩ chắc họ lật lọng muốn nuốt tiền công của tụi tao nên bày đặc cái vụ khám bịnh chích thuốc này chứ mình có bịnh hoạn gì mà phải khám phải chích. Có biết bao chủ tàu khác ở cảng Sài Gòn mướn mình lái tàu họ đi mà mình đồng ý lái tàu bà này thì bả phải trả tiền công theo hợp đồng sáng 30 tháng 4 chứ.” 
Nói xong chúng tôi, những người trẻ và đàn bà con nít, không liên cang gì đến hợp đồng giữa chủ tàu và những người thợ máy, đều xuống tàu khám bịnh chích thuốc. 
Sau khi mọi người đều xuống chỉ còn lại ba người chống đối không chịu rời tàu và ôm súng cố thủ con tàu. Lập tức nhân viên hải cảng Singapore điều động một tiểu đội lính Singapore đến cô lập chiếc Long Châu. Trước sự áp bức của nhân viên hải cảng và sự lật lọng của chủ tàu ông Si chống đối đến cùng và đã tỏ thái độ bằng cách mang trái lựu đạn của lính Lôi Hổ để lại trên tàu, ném xuống biển nổ vang rền làm nước tung tóe. Tiếng nổ của quả lựu đạn trên cảng Singapore bên cạnh chiếc Long Châu chứa đầy xăng dầu đã làm đám lính và nhà chức trách trên hải cảng Singapore trở nên căng thẳng. Toán binh lính chạy loạn xa, la hét như chưa từng đánh giặc. Những người lính Singapore ôm súng lên đạn két két, người này quì sau lưng người kia trên sân tàu. Tôi thấy những người lính Singapore run sợ đến nổi thay vì chỉa súng lên Long Châu họ lại chỉa ngay vào đầu người chiến binh phía trước họ. Sau giây phút đó Long Châu chỉ còn ba người và một số lựu đạn, súng ống. Những tiếng loa kêu gọi ba người nên bỏ cuộc, nhưng vô hiệu nghiệm. Câu chuyện rất bình thường lại trở nên gay cấn và trở thành sự đối đầu giữa cảnh sát Singapore và Long Châu, cũng chỉ vì lòng người thay đổi! Nhưng toán lính án binh bất đông trên hải cảng, một hồi sau nhân viên hải cảng trao vị Đại Tá Cảnh Sát lúc trước xuống tàu khám bịnh chích thuốc trở lại tàu Long Châu. 
Phần chúng tôi, những người vừa bước xuống tàu để khám bịnh chíct thuốc thì bị giữ lại không cho trở lại tàu và cũng không khám bịnh chích thuốc gì cả. 
Một tiếng rồi hai tiếng đồng hồ trôi qua không một tiếng động phát ra từ Long Châu. Những người lính Singapore vẫn án binh trên sân tàu. Bất chợt sân tàu giấy động, viên Đại Tá Cảnh Sát bước ra và nói đã bắt trói ba người kia rồi! Sau này chúng tôi biết là viên Đại Tá này đã thông đồng và lấy tiền bà chủ tàu trở lại tàu ve vảng, chờ lúc ba người kia mệt mỏi ngủ, và không để ý thừa cơ bắt họ giao lại cho cảnh sát Singapore. 
Vậy là xong, nhóm ba người anh Hoàng bị bó tay. Và những người còn lại trong nhóm anh Hoàng chín người, trong đó có tôi, đều bị cô lập trong một khuôn viên rộng lớn. 
Một tuần sau chính quyền Singapore gom góp những người vượt biên tỵ nạm và những chiếc tàu có khả năng vượt trùng dương mang ra cho đi. Chúng tôi biết tin về nhóm ba người anh Hoàng rất giới hạn, chỉ biết các anh vẫn còn cô lập trên Long Châu. 
Hôm đó khoảng ngày 10 tháng 5 năm 1975 chín người chúng tôi được mang ra chia năm xẻ bảy thành nhiều nhóm nhỏ và từng cá nhân riêng biệt, đưa lên những chiếc tàu được trang bị lương thực để tiếp tục cuộc hành trình tìm tự do. Khi ra sân tàu thì S, N, vợ chồng anh K và đứa con nhỏ được đưa lên Long Hồ. Còn lại bốn đứa chúng tôi: Th, H, C và tôi thì bị xé lẽ và đưa lên ba con tàu đánh cá nhỏ. Ba con tàu đánh cá đó là Việt Thủy 1, 2, 3. Có nghĩa là những người cùng rời Vũng Tàu trên chiếc Long Châu giờ này đều bị tan hàng, mỗi người một nẻo.
Trưa ngày 10 tháng 5 sân tàu hải cảng Singapore nhộn nhịp với hàng ngàn người tỵ nạn nhôn nháo trên ba con tàu đậu san sát nhau. Long Hồ và Long Châu cũng được đưa lên đầy người và đậu cách biệt với ba chiếc tàu đánh cá Việt Thủy.
Tôi không ngờ chuyến nhảy xuống biển để trở lại Sài Gòn của tôi cuối cùng lại đặt chân trên chiếc Việt Thủy mong manh này. Nhìn hàng trăm người chen lấn nhau trên chiếc tàu đánh cá nhỏ bé, tôi lại nhớ thân phận những người ướt tả tơi run sợ chấp tay lạy những làn đạn ngoài khơi Vũng Tàu cách đây hơn một tuần! Tôi nghĩ chắc tôi số con rệp, tàu lớn không đị lại đi nhảy xuống biển để rồi cuối cùng lại lên chiếc tàu nhỏ mong manh này. Trong một thoáng suy nghĩ đến bạn bè, và nhìn thấy cảnh náo loạn không trật tự nơi sân tàu, tôi liền nhảy xuống tàu Việt Thủy 3 đi tìm Th H và C trên hai chiếc Việt Thủy khác. Khi gặp Th H C tôi nói là ba con tàu đậu sát bên nhau, hãy lẩn quẩn đâu đây đợi khi nào sắp đến giờ lên đường thì tất cả đều chuyển qua chiếc Việt Thủy 3 để cùng đi cho đở buồn. Quang cảnh nơi đây như một buổi chợ, tuy mọi người được chỉ định đi trên con tàu nào nhưng rồi không ai kiểm soát ai, nên khi đoàn người đông như kiến thì sự di chuyển lại càng thêm dễ dàng. Và cuối cùng trước khi tàu rời bến bốn đứa chúng tôi cùng có mặt trên chiếc Việt Thủy 3. 
Mấy ngày đầu tháng 5 năm 1975 làn sóng người rời bỏ quê hương ra đi rất đông. Họ ra đi bằng mọi phương tiện, tàu lớn, tàu nhỏ, ngay cả những chiếc ghe chỉ dùng để di chuyển trên sông cũng được tận dụng để vượt biên. Điểm đến của làn sóng người Việt vượt biên là mọi nơi, mọi quốc gia ngoài Việt Nam và Trung Hoa. Và Singapore là một đảo quốc nằm phía nam Việt Nam đã đón nhận nhiều người đến. Nhưng Singapore không có chương trình định cư nên những người đến đây lần lượt phải tiếp tục lên đường. Vì vậy mà ba con tàu đánh cá Việt Thủy sau khi đến Singapore lại được trang bị lương thực, nước uống đầy đủ bởi Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc rồi đẩy ra khơi với một tấm bản đồ thế giới, và trên mỗi chiếc Việt Thủy là hàng ngàn người lớn – bé – già – trẻ – trai – gái chen chúc nhau trên chiếc tàu không dài quá 15 thước và rộng cở ba, bốn thước, làm bằng gỗ. 
Mặt trời vừa ngã bóng, cái nắng ban trưa vẫn còn gay gắt, nhưng có lẽ không ai để ý đến vì đoàn tàu sắp nhổ neo. Long Hồ, Long Châu và những chiếc tàu sắt đã ra đi. Còn lại trên hải cảng là ba chiếc Việt Thủy. Giây phút kiểm sóat cuối cùng đã hoàn tất, mọi người đã nhận diện gia đình thân nhân, ba vị “thuyền trưởng” của ba con tàu đã hứa hẹn nhau cùng nối đuôi. Sân tàu lặng lẻ, không người tiển đưa, không người bịn rịn, và đặt biệt không có hồi còi tàu thứ ba, vì đã không có hồi còi tàu thứ nhất! 
Ba con tàu lặng lẻ rời bến. 
Tôi nhìn lại sân tàu, một khoảng không gian trơ trụi. Và trước mặt, một trùng dương bao la. Thằng bạn ngồi bên cạnh rít lên một điếu thuốc đỏ rực, chuyền tay cho thằng khác, và nói: “Từ đây đến Subic Bay chắc cũng phải mất một tuần.” Buổi chiều, gió biển rít từng cơn lạnh buốt, và con tàu không một mái hiên để trú.

Đồng Sa Băng. 2 tháng 6, 2009.

Những năm “cải tạo” ở Bắc Việt

Trần Huỳnh Châu

Post by Sơn râu 15 Dec 2025

Phần 5: Khổ sai

Mỗi bước vào nhà tù Cộng sản, ai cũng được nghe thuyết ngay rằng “Lao Động là Vinh Quang”. Câu nầy thực ra chẳng mới mẻ gì. Vã lại chúng ta chẳng ai khinh lao động, dù là lao động chân tay hay trí óc. Có thể có một số người ở thành phố, giầu sang, ngại lao động chân tay. Nhưng đó chỉ là số ít và tất cả chúng ta đều biết rằng, nếu chúng ta ngại làm việc chân tay thì đó là vì chúng ta lười biếng, hoặc vì thấy lối làm việc đó không đem lại kết quả bằng những phương cách làm việc khác, chứ chúng ta không hề có ý khinh bỉ lao động chân tay. Quan niệm kẻ giàu sang không thèm động đến chân tay, cái gì cũng phải có kẻ hầu người hạ, là quan niệm đã qúa xưa mà chúng ta không cần phải nhắc đển để bàn cãi gì nữa.

Nhưng Cộng sản thì cứ làm như là mọi người không ai chịu lao động, nên cứ hô hào “lao động là vinh quang” để bắt người ta làm khổ sai cho chúng. Người ta không muốn làm lao động trong chế độ Cộng sản không phải vì khinh lao động , nhưng vì người ta thấy rõ là chỉ làm khổ sai, làm dưới sự chỉ huy của những tên cán bộ dốt nát, và làm ra được cái gì thì Đảng và Nhà nước lấy đi chứ không phải mình hưởng. Mà Nhà nước lấy đi để xử dụng vào việc gì thì chỉ có Đảng và Nhà nước biết, chứ “nhân dận làm chủ” thì chỉ có quyền tiếp tục lao động khổ sai chứ không có quyền biết về sản phẩm của mình.

Ở ngoài xã hội đã thế, trong trại giam tất nhiên phải tệ hơn nữa. Mỗi ngày chúng tôi phải làm lao động ít nhất tám giờ. Ngày thứ bảy cũng phải làm nguyên ngày. Ngày chủ nhật được nghỉ. Nhưng cứ vài tuần lại có một ngày chủ nhật làm “lao động xã hội chủ nghĩa”. Ngoài xã hội, “lao động xã hội chủ nghĩa” có nghĩa là làm việc ngày chủ nhật không được ăn lương. Trong trại giam, tất nhiên là không ăn lương rồi. Trong khi chế độ tự do buộc chính quyền và chủ nhân phải trả tiền phụ trội cho công nhân, viên chức khi làm việc trong ngày nghỉ hoặc giờ nghỉ, thì chế độ Cộng sản bắt làm không lương trong ngày nghỉ và gọi đó là “lao động xã hội chủ nghĩa”.

Giờ làm việc được quy định tùy theo mùa. Mùa làm thông tầm (làm luôn trưa), có khi về trại nghỉ trưa, nhưng thời gian nghỉ trưa rất ngắn. Mùa hè thì nghỉ trưa lâu nhưng phải đi làm thật sớm trong buổi sáng và về rất trễ trong buổi chiều. Dù sao, tổng cộng cũng phải đủ 8 giờ.

Tù nhân được tổ chức thành đội và tổ. Mỗi đội gồm chừng 40, 50 người. Ban Tư
Quản do trại chỉ định, gồm có đội trưởng, tất cả mọi việc trong đội cho cán bộ quản giáo. Cán bộ quản giáo đội là người của ban Giám thị đưa đến để theo dõi đội hàng ngày. Mỗi buổi đi làm, ngoài cán bộ quản giáo, còn có hai cảnh vệ vác súng đi theo canh chừng. Muốn đi tiểu tiện, đại tiện, phải xin phép cảnh vệ. Đi xong, trở về chỗ làm việc, phải báo cáo.

Ai làm việc kém, bị coi là lơ là thì bị cắt bớt khẩu phần lương thực. Theo quy chế, khẩu phần tính chung là 15 ký gạo mỗi tháng. Ai làm việc kém, bị ăn 13,5 ký một tháng. Ai làm giỏi được ăn 18 kí. Nhưng Nhà nước không cho thêm lương thực, cho nên nếu có một người ăn 18 ký thì phải có hai người ăn 13 ký rưởi để bù lại chỗ thiếu. Ngược lại, nếu có nhiều người ăn 13 ký rưỏi, thì không bắt buộc phải có người ăn 18 kí. Cho nên người nào tỏ ra mình lao động giỏi, lấy điểm với cán bộ để được ăn 18 kí, là ăn trên khẩu phần của người khác.

Như đã nói trong mục ĐÓI, khẩu phần 15 ký thực ra không bao giờ có đủ, mà chỉ độ 10 đến 12 ký thôi; cho nên khẩu phần 13 ký lại càng thê thảm. Ngoài việc ăn 13 kí, còn có thể bị nhốt vào phòng kỷ luật với lý do “lãng công”, “chống đối lao động”. Nhốt vào phòng kỷ luật, thì nhốt biệt giam, phòng tối, bị cùm một chân hoặc hai chân, và chỉ ăn khẩu phần 10 kí, nghĩa là mỗi bữa ăn một nắm cơm, nếu là bữa ăn cơm, hoặc 1 -2 khúc sắn nhỏ, nếu là bữa ăn sắn. Vào phòng kỷ luật, chỉ vài tuần là người xanh lướt, đi không nổi, rất dễ bị liệt. Cho nên mặc dầu biết lao động thực ra chỉ là khổ sai, chúng tôi vẫn phải đi làm hằng ngày để khỏi vào phòng kỷ luật, giữ lấy mạng sống hầu có ngày gặp lại vợ con, có ngày làm cái gì cho Tổ Quốc.

Hồi ở trại Quảng Ninh, chúng chưa áp dụng việc cắt giảm khẩu phần đối với những người yếulao động. Vào đến Thanh Hóa, ở phân trại B, chúng muốn áp dụng, nhưng gặp lúc chúng tôi đấu tranh, nhất định, không bình bầu ai 18 kí, ai 13 ký gì cả, và tuyên bố hẳn với cán bộ rằng dù có phân biệt khẩu phần thì về đến đội, chúng tôi sẽ chia đều ra mà ăn. Chúng tạm hoãn việc áp dụng qui chế này. Nhưng đến đầu năm 1979, tại phân trại C, chúng tự chỉ định người ăn 13 kí, 18 ký và cho biết nếu không ăn đúng như thế chúng sẽ nhốt vào phòng kỷ luật. Thực tế, chúng đã nhốt một số vào phòng kỷ luật nên chúng đã áp dụng được khẩu phần phân biệt. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn trao phần ăn cho nhau để luân phiên chịu phần ăn 13 kí.

Năm 1979, tôi và Hoàng Xuân Hảo ăn chế độ 13 ký trong ba tháng liền. Cũng may là lúc đó chúng tôi đều đã được vợ ra thăm nuôi, nên chẳng ngại gì việc khẩu phần sút giảm. Chúng tôi ngồi ăn khẩu phần 13 kí, vui vẻ đua nhau “binh xập xám”. Thế mà cũng có người báo cáo, và tên cán bộ quản giáo lại xỉ vả chúng tôi.

Công việc thì tùy từng đội. Có đội trồng rau, có đội đập đá, có đội làm gạch, có đội làm lò rèn, có đội đi xây nhà, sửa đưòng, có đội đi đào đá ong. Ngoài ra còn có đội làm bếp.

Hồi ở Quảng Ninh, tôi ở đội 4, phụ trách phá núi để trồng chè. Đây là công việc nặng. Núi phần lớn là đá sỏi, khi cuốc phải dùng cuốc chim. Chúng tôi phải khai hoang trước, sau mới cuốc cho núi thành từng bậc tam cấp, trên mỗi bậc phải dùng cuốc chim đào mương rồi gánh đất thịt từ dưới chân núi lên đổ vào các mương cho đầy, xong mới trồng chè trên các mương đó. Phải chi đất đều đã tận dụng cả rồi mới khai thác đến núi đá bằng cách đó thì còn có lý. Đằng này đất ở dưới còn chưa khai thác hết, và khai thác rất cẩu thả, thế mà lên núi đá trồng chè theo kiểu phí sức như thế, thực chẳng hợp lý về kinh tế chút nào cả. Nhưng ”nước sông còng tù”, chúng cứ bắt chúng tôi làm như thế. Năm đầu chúng tôi trồng xong, năm sau đi làm việc khác, nhìn lại đồi chè thấy toàn cỏ dại vì chẳng có phân công cho đội nào chăm sóc cả.

Việc trồng rau, mới nghe tưởng nhẹ, nhưng cũng không nhẹ đâu. Không có hệ thống tưới, chúng tôi phải gánh nước để tưới. Mỗi ngày, gánh hàng trăm đôi nước, đường đi phải lên dốc xuống gò trong khi bụng đói thân gầy, chẳng phải là chuyện dễ. Lại còn cái nạn tưới phân Bắc (phân người). Phân không kip ủ đã bắt lấy ra dùng. Dòi bọ và lải tùm lum trong đó. Lúc ở Quảng Ninh phải lấy phân cả những cầu tiêu khu nữ tù nhân thì có cả những “băng” vệ sinh trong ấy, gánh phân có khi đỏ lòm! Mà chúng tôi chẳng ai có găng tay, giày bốt gì cả. Cứ cởi trần ra, tay trần chân không, độc có cái quần đùi, nhảy xuống đống phân, vọc vào thùng phân, pha nước mà tưới. Làm xong thì tắm xà-phòng cũng là xà-phòng của nhà gửi ra chứ xà-phòng trại phát một năm chỉ dùng một tháng. Mùa nóng thì làm công việc này xong, tắm rửa không có gì trở ngại. Mùa rét mà làm công việc này, không tắm không được, mà tắm xong thì người xanh xám vì lạnh cóng.

Mỗi năm cứ theo mùa mà trồng rau. Mùa hè rau muống, mùa thu cải thìa, mùa đông cải bắp và su hào. Ngoài ra có trồng thêm bí ngô. Trại Quảng Ninh hay Thanh Hóa thì thấy quanh đi quẩn lại cũng chi trồng có thế thôi.

Ở Quảng Ninh, đầu năm 1978, thu hoạch được cải bắp và su hào rất khá, nhưng chúng tôi chẳng được ăn bao nhiêu. Cải bắp thì chúng tướt lá xanh bên ngoài (thứ lá thường vứt đi hoặc nấu cho heo ăn) cho chúng tôi ăn. Còn bắp cải thật sự thì cán bộ ăn hoặc chở đi bán. Su hào thì thỉnh thoảng mới được ăn quả su hào nấu với muối, còn thường thì chỉ ăn canh lá su hào mà thôi.

Hồi ở trại số 5 Thanh Hóa, chúng tôi thấy những câu khẩu hiệu nhan nhản ở ngoài đồng, trong đó có câu:

Hạt lúa là hạt lúa vàng,
Phơi khô quạt sạch, sẵn sàng nhập kho.

Câu này diễn tả có phần đúng. Phơi khô, quạt sạch lúa rồi để nhập kho Nhà nước, chứ không phải để mình ăn. Nhà nước quản lý mà. Hồi đó anh em tụi tôi vẫn thường cười câu nói của Cộng sản “Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, Đảng lãnh đạo”. Công việc của người làm chủ, thực ra chỉ là việc lãnh đạo và quản lý, thế mà hai việc nầy Đảng và Nhà nước nắm cả rồi, thì Nhân dân còn công việc gì để làm chủ nữa? Nhân dân chỉ còn công việc lao động, sản phẩm của lao động thì được nhập kho Nhà nước, thế là xong.

Chúng tôi là thân phận thằng tù, đâu dám bì với nhân dân. Thế mà nhân dân còn vậy, huống gì chúng tôi. Chúng tôi có kêu ca cũng chẳng được, đành cứ làm lao động sản xuất, và được bao nhiêu gạch, bao nhiêu lúa (tại trại số 5 Thanh Hóa, có trồng lúa nhiều nhưng do các đội tù hình sự làm), bao nhiêu rau, bao nhiêu đá dăm, bao nhiêu đá ong v.v.. thì những sản phẩm nầy được chở đi đâu, được xử dụng như thế nào, chúng tôi không có quyền hỏi đến. Truớc kia, trong chế độ Cải Huấn của ta, có các Trung Tâm dạy nghề, và sản phẩm làm ra, sau khi trừ vốn và bỏ một phần nhỏ vào quỹ điều hành, được kể là của phạm nhân có công sản xuất. Tiền bán được sẽ ghi vào sổ cho phạm nhân đó để họ tiêu dùng. Còn chi phi ăn uống của phạm nhân thì hoàn toàn do ngân sách quốc gia đài thọ. Chính quyền Cộng sản miệng chửi người khác bóc lột, nhưng chúng bắt tù làm khổ sai và tiền bán sản phẩm được nhập quỹ Nhà nước. Tất cả tù đều phải làm khổ sai. Cho nên Cộng sản có thể giam giữ rất nhiều tù mà không sợ tốn. Có lẽ Nhà nước còn có lợi khi giam giữ tù chứ chẳng phải chi tiêu gì.

Cộng sản chửi địa chủ, nhưng chúng tôi thấy không có người địa chủ nào có thể bắt tá điền làm việc cực nhọc như chúng tôi (cuốc núi đá, đào đá ong, hốt phân người…) mà lại cho ăn bằng thức ăn dành cho súc vật, và ăn quá đói.

Qua mấy trại giam, chúng tôi thấy thời gian ở phân trại C, trại số 5 Thanh Hóa là cực khổ nhất về phương diện lao động. Sau cuộc đấu tranh cuối năm ’78 và đầu năm ’79, chúng đàn áp tàn bạo, và bắt chúng tôi làm khổ sai thật nặng. Mùa hè năm ’79, đội chúng tôi phụ trách trồng sen trong một khu hồ rất rộng. Muốn trồng sen, trước hết phải dọn hồ. Hồ toan là gai góc, cỏ rậm, ở gần khu gia đình cán bộ, phân người tùm lum dưới hố. Và đỉa, chao ôi là đỉa. Nhất là lúc hết xuân sang hè, sao mà đỉa ra lắm thế. Hồ này rộng phải đến có mấy chục mẫu. Đội chúng tôi chỉ có 30 người, cũng có lúc được các đội khác tăng cường, phái xuống hồ, hụp lặn mà gỡ cho hết gai góc, dọn cho sạch cỏ và cây dại, rồi mới đi nhổ sen giống về trồng. Buổi nào làm lao động xong, người chúng tôi cũng đầy máu vì đỉa. Anh Nguyễn Thành Danh (trước là Thiếu tá , con trai ông Nguyễn văn Vàng cựu Bộ trưởng tại Phủ Thủ Tưóng), có lần bị hai con đỉa chui vào dương vật, may mà chúng nó vào một lát rồi theo đường nước tiểu chui trở ra, vì không chịu được nhiệt độ nóng trong cơ thể con người. Nhưng chúng nó đã cắn hút máu bên trong rồi và anh Danh thuộc loại máu khó đông đặc nên không cầm máu được. Cứ thế máu chảy qua đến ngày hôm sau, quần đỏ lòm, chúng tôi đùa là “lâu lắm mới thấy một người có kinh nguyệt”. Sau, phải kiếm Vitamine K trong anh em cho anh ấy mới cầm được máu. Tiến sĩ Hoàng Xuân Hảo thì người thấp mà không biết bơi, gặp có chỗ hồ sâu lút đầu, mấy lần suýt chết đuối.

Chúng tôi vừa ngâm mình dưới hồ, vừa nhắc cho nhau lịch sử Việt Nam. Việt sử chép rằng khi quân Tàu sang đô hộ, chúng rất tàn bạo, bắt dân ta lên núi tìm sừng tê giác, xuống biển mò ngọc trai.. Xuống biển mò trai thì nước biển còn sạch mà không có đỉa. Còn nay Cộng sản bắt dân ta xuống hồ trồng sen cho cán bộ chúng ngồi chơi hồ sen với nhau, mà hồ nước thì dơ bẩn đầy những cứt đái, gai góc và đầy đỉa. Và người làm dưới hồ thì toàn là thành phần trí thức của dân tộc Việt Nam. Hòa giải hòa hợp dân tộc của Cộng sản là thế đấy.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 15 Dec 2025

14. Y Sĩ Thiếu Tá Đặng Vũ Vương

Đặng Vũ Vương sinh năm 1941 tại Phú Thọ, Bắc phần. Di cư vào Nam 1954, trung học J.J Rousseau, tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1965, cựu Nội Trú các Bệnh viện Sài Gòn. Viết báo Tình Thương mục Quan điểm của Sinh Viên Y Khoa Sài Gòn 1963-1965. Quân Y sĩ hiện dịch Quân Lực VNCH 1966-1975, đơn vị phục vụ cuối cùng là Quân Y Viện Nguyễn Huệ, Nha Trang. Cấp bậc Thiếu Tá. Ty nạn Hoa Kỳ từ 1975 và hành nghề Y khoa, nghỉ hưu 2012. Hiện sống tại tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ.

Y Sĩ Thiếu tá Đặng Vũ Vương

Nghiêm Sỹ Tuấn Và Tôi

Bạn Ngô Thế Vinh có gọi điện thoại cho tôi và cho biết đang liên lạc với những bạn bè cũ và các cộng sự viên của Nghiêm Sỹ Tuấn ở báo Tình Thương của Sinh Viên Y Khoa Sài Gòn năm xưa hãy gửi bài về cho Vinh để làm một thứ monograph về Nghiêm Sỹ Tuấn – của một thời hoạt động trí thức thật sôi nổi, hào hứng của SVYK Sài Gòn thập niên 60.

Nghiêm Sỹ Tuấn đã ra đi đúng nửa thế kỷ. Đối với những bạn bè, thân hữu và cộng sự viên đã quen biết và mến Tuấn trong thời gian ngắn ngủi trên thế gian của Tuấn, nhân cách, kiến thức cũng như tư tưởng của Nghiêm Sỹ Tuấn đã để lại sự nuối tiếc khôn nguôi về một hành trình trí tuệ và học hỏi đầy hứa hẹn và đầy những nguyện vọng đâm chồi bị cắt ngắn bởi thời cuộc. Sự hy sinh của bao nhiêu Y sĩ trẻ trong cuộc chiến vừa qua là những mất mát to lớn cho đất nước và xã hội và để lại bao nhiêu đau xót cho gia đình và thân thuộc của họ.

Nghiêm Sỹ Tuấn với tài năng và nhân cách trong cuộc đời ngắn ngủi của một Sinh Viên Y Khoa và một Y Sĩ trong thời chiến là điển hình của một thầy thuốc kiêm một “quân tử” (gentleman), một mẫu người tượng trưng cho cái hỗn hợp (amalgame) tốt và đẹp nhất của truyền thống văn hóa cổ truyền VN và kiến thức, tư tưởng tân tiến của Tây phương.

Những đặc điểm của Nghiêm Sỹ Tuấn đã được bộc phát và thể hiện trong thời gian sinh hoạt với báo Tình Thương từ 1963 đến 1965. Lượng sản xuất (output) bài viết của NST không nhiều nhưng những kiến thức, những ý tưởng cộng với tinh thần làm việc và sự cố công tìm tòi và học hỏi của Tuấn trong thời gian đó đã mang nhiều đóng góp để đưa báo Tình Thương trở thành một sản phẩm ngôn luận trí thức với những sáng tác văn hóa và văn nghệ đặc thù của một thời gian và không gian thật sôi động và nhiệt huyết của Đại Học Y Khoa Sài Gòn những năm 60. Nghiêm Sỹ Tuấn và tôi vào Y Khoa cùng một năm và cùng ra trường năm 1965, tôi bên Quân Y và Tuấn là dân Y. Chúng tôi có quen biết nhau và giao thiệp với nhau vì học chung lớp và chung bạn nhưng sự thân thiết thật sự có từ ngày cùng làm chung tờ báo Tình Thương.

Nhìn bề ngoài về vóc dáng và hình thể thì Tuấn thân hình thấp nhỏ và nét mặt không gì đặc biệt trừ đôi mắt thông minh và cách ăn nói trầm tĩnh rành mạch. Nhìn Tuấn mặc quốc phục áo dài đen quần ống dài trắng và chít khăn thì không khác gì hình ảnh một ông tú, ông cử ngày xưa.

Cái dáng dấp thư sinh và nho nhã bề ngoài của Tuấn che lấp một ý chí, tâm hồn vững mạnh và những hoạt động nội tâm và trí tuệ mãnh liệt ở bên trong. Vì phải bàn luận về những đề tài “Quan điểm” của báo nên tôi thường hay sang nhà Tuấn ngồi nói chuyện hết giờ này qua giờ kia. Vừa bước qua cửa căn nhà tường gỗ 3 căn phòng của gia đình Tuấn, ngay tại phòng ngoài rộng độ 12 hay 14 thước vuông thì thấy cái bàn khá lớn phủ đầy sách, đằng sau bàn là tủ sách, buồng thì nhỏ chỉ còn chỗ cho vài cái ghế và chừa lối đi vào buồng trong và cũng là chỗ để gác chiếc xe đạp hay xe gắn máy qua đêm. Tò mò nhìn vào đống sách trên bàn thì thấy đủ loại sách: sách tiếng Việt, sách Hán Nho, sách tiếng Pháp và cả tiếng Đức, có cả đàn guitare espagnole và sách dạy chơi guitare của Carulli. Đặc biệt trên kệ tủ sách còn thấy toàn bộ đầy đủ 9 symphonies của Beethoven, Von Karajan conductor, thu trên đĩa nhựa được đựng trong một hộp lớn, theo tôi nghĩ anh sinh viên nghèo Nghiêm Sỹ Tuấn này chắc phải bóp bụng để dành tiền mới mua được bộ đĩa nhạc này khá bộn tiền, hồi đó chưa có cassette hay CD.

Nếu là mùa Giáng sinh thì vừa bước qua cửa nhà thì thấy ngay có 2 cái biểu ngữ viết chữ Latin lớn dán cao trên tường, một biểu ngữ với câu GLORIA IN EXCELSIS DEO và cái kia với câu IN TERRA PAX HOMINIBUS. [Vinh danh Thiên Chúa Trên Trời, Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm.]

Nhờ đó tuy không hỏi nhưng tôi nghĩ rằng gia đình Tuấn theo đạo Công giáo. Trong những buổi bàn luận về các đề tài triết lý Tây phương, Tuấn rất chú ý tới phần Éthique. Tuy tiếng Việt đều gọi morale và éthique là đạo đức / nguyên tắc xử thế vì hai thứ đó đều liên quan tới những giá trị và nguyên tắc xã hội, morale thì vạch rõ những cái tốt cái xấu, cái đúng cái sai, cái gì được chấp nhận hay không, để mọi người tuân theo trong khi đó éthique không đặc biệt liệt kê những giá trị và nguyên tắc xã hội mà điểm chính là tăng cường sự suy nghĩ và suy xét về những giá trị và nguyên tắc đạo đức để tìm đạt được những quy tắc hướng dẫn cách ứng xử đối với bản thân, thích hợp với mọi tình cảnh và hoàn cảnh khác nhau.

Nghiêm Sỹ Tuấn đặc biệt chú ý tới triết lý của Schopenhauer. Đại ý, Schopenhauer coi thế giới hiện tượng (monde phénoménal) mà các con người sống trong đó như là một thế giới hão huyền (illusoire) luôn luôn bị điều khiển bởi “volonté” (ý lực). Chính volonté (“ý lực”) cấu tạo ra và chỉ đạo mọi sinh vật – kể cả những con người phải sống trong trạng thái đấu tranh thường xuyên đưa đến khổ đau. Con người vẫn thích tin rằng đời sống của bản thân mang một ý nghĩa cao cả nhưng theo Schopenhauer không còn có gì nữa trong đời sống của họ hơn là sự thúc giục để thỏa mãn những ham muốn (désirs).

Theo Schopenhauer phương cách để cố thoát khỏi cái guồng máy đó là cố chấm dứt mọi ham muốn, hoặc là bằng sự theo đuổi các hoạt động nghệ thuật như âm nhạc hay bằng sự trầm tư (contemplation) hoặc nữa là sống một cuộc đời hy sinh khổ hạnh. Nghiêm Sỹ Tuấn sống không thể nói là khổ hạnh nhưng Tuấn sống sơ sài giản dị, ngoài việc học hành thì ham mê văn chương, đọc sách và âm nhạc; về đời sống tình cảm không thấy Tuấn có người yêu dù lúc vào học y khoa đã trên 22 tuổi và ra trường cũng đã 28 tuổi, nếu năm sinh đúng là 1937. Chỉ sau khi Tuấn mất có loan truyền là Tuấn có một mối tình lớn với một nữ y tá tại Bệnh viện Nhi Đồng?

Khi làm báo Tình Thương, phụ trách mục Quan Điểm đòi hỏi có kiến thức triết lý khá vững ngoài những kiến thức xã hội, chính trị v.v … nên chúng tôi cần phải đọc và tham khảo nhiều sách. May mắn hồi đó nhà sách Khai Trí có nhập cảng nhiều sách văn chương và triết lý tiếng Pháp loại édition bìa mềm, giá tương đối rẻ nên tôi dốc tiền mua rất nhiều sách loại đó. Tôi còn nhớ khi một bài viết có đề cập tới quan niệm về tiến hóa của Teilhard de Chardin thì Nghiêm Sỹ Tuấn đã có ngay cuốn Le Phénomène Humain cho tôi mượn tham khảo để nắm rõ những ý niệm như “Omega Point” và “noosphere” … trong tư tưởng triết lý về tiến hóa của De Chardin. Nhờ thế tôi mới rõ thêm là Tuấn cũng ham mê đọc sách về triết lý như tôi và nhờ đó tôi có cơ hội bàn luận với Tuấn về những tư tưởng của Kant, Spinoza và những triết gia hiện sinh như Camus và Sartre v.v … Tôi cũng biết ngoài mục Quan điểm, Nghiêm Sỹ Tuấn còn đóng góp trong các mục khác bằng việc dịch sách (như là Lịch sử Y học, tuyển tập Dưới Mắt Thượng Đế … ), viết truyện v.v …

Ra trường, vì là Quân Y Hiện Dịch nên tôi ra đơn vị đầu năm 66, vài tháng sau đó Nghiêm Sỹ Tuấn bị trưng tập và tình nguyện đi Nhảy Dù.

Đã là Quân Y hiện dịch và đã ăn lương của quân đội trong bao nhiêu năm thì có lựa chọn hay phải bị bổ nhiệm đi các đơn vị tác chiến nguy hiểm thì cũng dễ chấp nhận còn như Tuấn là dân y bị trưng tập thì nếu có lựa chọn được nơi bổ nhiệm ít nguy hiểm như Không quân, Hải quân hoặc nha sở v.v … thì không ai thắc mắc. Tôi tin rằng việc lựa chọn đi Nhảy Dù của Tuấn là một thử thách đặc tính (character) và ý chí cá nhân để chứng tỏ với bản thân khả năng phục vụ trong vai trò của một Quân Y sĩ bình thường trong những tình cảnh và hoàn cảnh khác thường hoặc phi thường.

Như tôi đã viết phía trên sự theo đuổi Éthique của Nghiêm Sỹ Tuấn luôn luôn thúc đẩy Tuấn vào những lựa chọn thích hợp với ý tưởng và ý chí của mình trong đó có sự can đảm, sự tự kìm chế, sự hy sinh và có cả lòng trắc ẩn. Những tính nết trên của Tuấn được các bạn đồng ngũ và thuộc cấp tại đơn vị cho biết sau khi Tuấn đã mất kể lại những giờ phút cuối cùng của Tuấn khi Tuấn vẫn hăng say cố băng bó chữa trị cho đồng đội bị thương đến khi lìa đời. Một chuyện được kể lại như huyền thoại là có một thuộc cấp của Tuấn nói rất mong có được cái máy ảnh như của Tuấn đang đeo trên vai, chẳng bao lâu sau đó người quân nhân này tử trận, Tuấn đến đưa đám tang anh đó rồi sau đó lẳng lặng để lại cái máy ảnh trên bàn thờ của anh ấy.

Lần cuối cùng tôi gặp Tuấn là buổi chiều hôm đó, tháng Ba hay tháng Tư năm 68, sau Tết Mậu Thân, đang cùng với bà xã đi trên con đường Hai Bà Trưng thì Nghiêm Sỹ Tuấn ngồi trong xe Jeep mặc quân phục Nhảy Dù, cho ngừng xe nhảy xuống lôi kéo chúng tôi ghé vào tiệm cà phê gần đó (cách nhà thờ Tân Định không xa). Tuấn cho biết sắp phải rời Sài Gòn đi hành quân có thể là ra miền Trung và vội phải từ giã, dù gặp nhau chưa đầy mươi phút và đó cũng là lần cuối tôi gặp Nghiêm Sỹ Tuấn vì vài tuần sau đó có tin Tuấn tử trận tại Khe Sanh.

Cái đêm buồn nhất là đêm ngồi trông quan tài Tuấn trong cái phòng khá rộng chỉ có tôi và 1, 2 quân nhân thay phiên nhau ngồi canh quan tài. Những năm sau đó tôi thỉnh thoảng có ghé thăm nhà Tuấn để hỏi thăm cụ thân sinh và nói chuyện với em trai (Nghiêm Sỹ Anh?) của Tuấn, lúc này đã dọn nhà về Gia Định. Nhà mới này ở trong ngõ hẻm nhưng có tường gạch và sàn đá hoa, nhà cũng nhỏ nhưng thoáng hơn nhà cũ trong cư xá, đặc biệt vẫn có cái bàn giấy cũ và kệ sách ở phòng ngoài và đập vào mắt vẫn còn thấy cái hộp đĩa nhạc Beethoven năm xưa mà tôi nghĩ gia đình vẫn giữ lại để anh linh của Tuấn được toại nguyện khi trở về thăm chốn cũ giữa những đồ vật đã quen thuộc.

Mỗi người trong chung ta trong đời đều có cơ may hay duyên số được gặp, quen biết hay thân thiết với một số người và rồi họ ra đi. Trong thời gian tuy ngắn ngủi được giao tiếp với những người này, nhân cách, tính tình, kiến thức và tư tưởng đặc biệt của họ đã để lại những ấn tượng khó phai mờ mà chúng ta trân trọng giữ như bảo vật làm hành trang cho cuộc đời mình. Tôi có vài người bạn như vậy. Tôi coi hình ảnh của Nghiêm Sỹ Tuấn trong thời kỳ tuổi trẻ sinh viên của tôi như là một sao chổi xẹt qua bầu trời của một thời Đại học, của một thời Tình Thương, chợt bay qua rồi chợt biến nhưng dấu vết nhân cách và trí tuệ của Nghiêm Sỹ Tuấn sẽ mãi mãi được ghi trong kho tàng ký ức và luyến thương của tôi.

Bài này được viết với trí nhớ nay đã thấp kém về những sự việc đã xảy ra trên 50 năm nhưng có những điểm nét về Nghiêm Sỹ Tuấn vẫn còn nổi bật và sáng loáng dù thời gian dài đã trôi qua và tôi cố ghi lại ở trong bài viết này trước khi trí nhớ hoàn toàn buông bỏ tôi.

Tôi xin chấm dứt bài này bằng vài nhận xét triết lý. Trên 50 năm đã trôi qua từ ngày chết của Nghiêm Sỹ Tuấn, tuổi đời của anh em mình nay đã cao, ai cũng trên 75 tuổi. Nay đến lượt chúng ta phải đối phó với cái mortalité (tính cách tử vong) của chính bản thân. Cicéron đã nói “philosopher ce n’est autre chose que s’apprêter à mourir”. Sửa soạn và sẵn sàng với sự ra đi của chính mình cũng là cơ hội để đặt câu hỏi về nghĩa lý của đời sống mình và nhìn lại đời sống và cái chết của các người thân và bạn bè và hỏi: tại sao? Nghĩa lý gì của cuộc đời họ với chúng ta?

Riêng đối với tôi được làm bạn và được làm việc với Nghiêm Sỹ Tuấn cùng chia sẻ kiến thức và tư tưởng cũng như được quý trọng nhân cách và lý tưởng của Tuấn trong cái thời gian tuổi trẻ đẹp đẽ và thăng hoa nhất của đời mình là một đặc ân (privilège) mà tôi trân trọng gìn giữ kỷ niệm báu vật của tình bạn đó suốt nửa thế kỷ vừa qua.

ĐẶNG VŨ VƯƠNG

Michigan, 28/08/2018

Ông Đại Sứ

vietmessenger.com

Morris L. West

Bản dịch của Chu Việt

Post by Sơn râu 15 Dec 2025

Chương 6

SAU ĐÁM TÁNG, ĐẠI-TƯỚNG OLLIVER đưa tôi về bản doanh để dùng cơm trưa với bộ tham mưu của ông. Tòi lấy làm thú vị về sự tiêu khiển này và cũng biết ơn ông đã cho tôi viếng thăm qua cái thế giới đơn giản hơn của người lính nhà nghề.

Khi còn trẻ, tôi đã nuôi dưỡng trong một thời gian khá lâu một mối khinh bỉ kín đáo đối với những kẻ mãn nguyện sống suốt đời dưới cái chế-độ phụ hệ đầy thiện ý của nhà binh. Đối với tôi dường như họ đã tránh khỏi một cách quá dễ dàng việc đi tìm một triết lý và sự cần thiết phái có một sự phê phán đạo đức rộng rãi. Họ là những người lính đánh thuê xả thân vì một nghệ thuật bạo tàn và rồi nghệ thuật ấy sau rốt chắc cũng phải bị triệt bỏ nếu giống người còn muốn sống sót. Cũng giống như những người cảnh sát, họ luôn luôn nhắc nhở ta về sự yếu đuối, bất lực và ác ôn của con người. Họ là khí cụ tiêu cực của những chính sách, hay hoặc dở, mà họ không được tham dự vào việc hoạch định. Họ đã tạo ra một giai cấp đặc biệt cho chính họ, một giai cấp có thuyết tạo

lập riêng và những ảo tưởng riêng về sự cần ích, sự thiêng liêng hay anh hùng chủ nghĩa. Họ tận tụy với những gì thuộc về quốc gìa chứ không

phải vũ trụ. Họ giống như những nhà phù thúy bí mật hoài công với một linh đơn nguy hiểm để chống lại cái ngày mà họ có thể bị chỉ định đem chết chóc và tàn phá ném lên một thế giới không hay biết gì …

Thương thay cho sự xấc xược trẻ người non dạ của tôi! Ngày nay, trong sự ô danh bí ẩn của tôi, tôi thèm được như họ. Tôi thèm thuồng cái ngây thơ trong mục đích nguy hiểm của họ. Tôi thèm thuồng cái luân lý trong sự phục tùng của họ và sự vô trách mặc nhiên ngay cả khi dưới sự chỉ huy sai lạc của thượng cấp. Phẩm giá của họ có nền tảng sâu hơn là phẩm giá của tôi bởi vì nó bắt nguồn từ một ý niệm phục vụ và đời sống của họ luôn luôn bị cầm đỡ đề khẳng định phẩm giá ấy.

Đại-tướng Tolliver tiếp khách rất giỏi và tôi thấy rõ là bộ tham mưu của ông rất kính trọng ông. Chung quanh bàn ông họ nói chuyện rất thú vị, kiểu nói chuyện tự do chỉ trích, xen lẫn với những ký ức ở quê nhà và điểm thêm những câu chuyện chiến dịch và đồn trú. Họ nói lên một thứ âm điệu của những người bà con thân thuộc, một sự hãnh diện của gia đình mà ngay đến vị tướng lãnh người Việt cũng dường như chia xẻ với họ. Họ cũng chia xẻ cả với tôi nữa bởi vì tôi là đại diện vị Tổng Tư-lệnh tối cao của họ và họ cũng không tha diễu cợt một cách lễ độ cái nghề cằn cỗi và rắc rối mà tôi đã dấn thân vào.

Trong một khoảnh khắc, tôi cảm thấy mình được gột rửa sạch sẽ mặc dầu trong khi đó tôi biết tôi vẫn chưa được tha thứ. Nhưng khi xong bữa cơm tôi lại quay về với những rối ren của công việc tôi làm. Đại-tướng Tolliver mời tôi lại bên với Trần-hưng-Đạo và đưa chúng tôi vào một căn phòng riêng. Ông cho đem đến cho chúng tôi cà phê, xì-gà, một chai rượu mạnh ngon rồi bỏ đi. Ông là một quân nhân chứ không phải một nhà ngoại giao. Ông không muốn dây phần vào các công chuyện ngoắt ngoéo của chứng tôi.

Trần-hưng-Đạo là một ngạc nhiên về nhiều điểm. Đối với một người Việt nam, ông gần như người khổng lồ. Ông cao gần một thước tám, thân hình lực lưỡng, vai rộng; đôi mắt ông sáng, nụ cười cởi mở, tiếng Anh ông nói gần hoàn hảo. Trông ông giống một người Thượng-hải hơn là người Việt và nước cờ đầu tiên ông đi cũng bất ngờ như vậy.

« Thưa ông Đại-sứ, chắc ông đã biết rõ là đối với Tổng-thống Cung tôi là một kẻ mưu phản. Điều đó có nghĩa tôi là một người tướng lãnh tin tưởng rằng chúng ta đang thua trận và là một người dân bất mẫn đối với chính phủ. Tôi đang tìm kiếm một đường lối để thay đổi cả hai hoàn cảnh ấy. Ông Harry Yaffa cho tôi biết rằng chính ông cũng có một vài ý kiến về vấn đề này. »

« Vâng, thưa Trung-tướng. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẵn sàng tiết lộ những ý kiến ấy ra. » Những người Á-châu mà lại đi chấp dụng những lối làm quen mau mắn và mạnh bạo của Tây phương bao giờ cũng làm tôi khó chịu. Với tôi thì dường như họ đã bỏ rơi mất một sự lọc lựa quý báu để chạy theo một cái gì tầm thường và thiếu thành thật. Do đó tôi đã cộc cằn với ông tướng có thân hình lực lưỡng này. Ông biết rõ điều này và ông biết rõ tại sao, cho nên những lời lẽ ông nói sau ôn hòa hơn nhiều.

« Ông Đại-sứ tha lỗi cho tôi, nhưng tôi biết ông đã tiết lộ nhiều điều nghiêm trọng. Nhưng có lẽ nói cho thận trọng hơn thì ông có ý muốn thấy một sự thay đổi không khí chính trị.»

«Vâng, đổi không khí. Nhưng không nhất thiết là đổi thay chính quyền.»

«Ông có nghĩ rằng được cái nọ mà không cần phải có cái kia không?»

«Trong lúc này tôi không chắc. »

«Nhưng nếu các biến cố chứng tỏ rằng cần phải thay đổi chính quyền-nếu, thí dụ như các lời phản kháng của ông không được chú ý đến, nếu các vụ.

trừng phạt ông tính đưa ra áp dụng không có tác dụng nào, thì sao? »

«Khi ấy chúng ta phải trông cậy vào chính nhân dân Việt Nam để họ tự đem lại sự thay đổi.»

Ông nâng ly rượu mạnh lên, ngửi một cách thích thú, nhấm nháp chút đỉnh rồi đặt ly xuống. Giọng ông nói nhẹ nhàng và châm biếm.

«Thưa ông Đại-sứ, tôi thấy ông là một người rất chính xác, do đó tôi cũng phải chính xác đối với ông. Nhân dân Việt-nam .. họ là ai? Có phải là những người Thượng sinh sống như dân sơ khai trên rừng núi? Những dân chài lưới miền châu thổ không biết đọc, biết viết? Người Thái? Người Chàm? Người nông dân ở dưới ruộng không được quyền đầu phiếu và nếu có cũng không thể xử dụng lá phiếu vì chúng tôi không có được những cuộc bầu cử như Hoa-kỳ? Nếu có sự đổi thay, chính phải là do những người có giáo dục có tổ chức và phương tiện vật chất để thực hiện. Khi đã đổi thay xong, đất nước còn phải được cai trị, chiến tranh còn phải được tiếp tục, nếu chúng ta không muốn rơi vào sự rối loạn hoàn toàn và chịu số phận trung lập thảm bại của các nước láng giềng chúng ta. Chắc ông thấy rõ điều đó? »

«Vâng, tôi thấy rõ. Nhưng cho đến đày Trung tướng mới chỉ cho tôi biết phải làm cái gì mà thôi. Tôi quan tâm muốn biết có thể làm được cái gì và làm thế nào. »

Vì quá quen thuộc với các cuộc đối thoại với người Đông-phương, tôi tưởng rằng ông sẽ khựng lại và không đả động gì đến vấn đề nữa hay ít nhất thì cũng né tránh câu trả lời. Nhưng không. Ông nở một nụ cười rộng rãi với tôi, ngả người về phía sau ghế một cách thoải mái và nói:

«Trước hết, ta có thể làm được gì? Có thể làm một cuộc đảo chánh. Nếu tôi định nghĩa đúng thì đảo chánh là một cuộc đổi thay chinh quyền rụp một cái. Đảo chánh không phải là cách mạng, vì đối với chúng tôi, cách mạng là một chuyện phải đổ máu và bi thảm. Đảo chánh có nghĩa là áp dụng áp lực ở một điểm duy nhất, vào một thời khắc chọn lựa làm cho chính quyền mất thăng bằng sụp đổ và một chính quyền khác lên thay thế … Vậy bây giờ, ai có thể áp dụng được áp lực ấy? Chỉ có Quân đội, vì Quân đội có tổ chức, có nhân lực và sự đe dọa của vũ khí. »

« Vậy nghĩa là dù muốn dù không chúng ta cũng phải, chịu cam kết với một hội đồng quân lực»?

. «Thưa ông Đại-sứ, nó có khác gì nhiều với nền độc tài quân sự hiện nay không? »

« Có thể sẽ kém ổn định hơn. »

« Nó cũng sẽ ôn hòa hơn bởi vì cái hệ thống kiểm soát để quân bình nội bộ của nó sẽ hoạt động chống lại những kẻ cực đoan.»

« Vẫn còn có một chữ nếu to lớn. »

« Thưa ông Đại-sứ, bao giờ cũng có chữ nếu cả. Ông nhớ câu kinh Ki-tô giáo, « Nếu ta chết trước khi ta tỉnh, dậy … ». Chỉ có cái chết là điều chắc chắn duy nhất ta có mà thôi.»

« Thế là Quân đội sẽ làm một cuộc đảo chánh. Làm thế nào mà tổ chức được? »

« Thưa ông Đại-sứ, đó là một vấn đề hết sức thực tiễn … »

Trên mặt tường đối diện với ông là một bản đồ chiến sự lớn của miền Nam Việt-Nam. Ông tự đẩy mình ra khỏi ghế ngồi, bước ngang căn phòng

và đến đứng cạnh bản đồ, trông thật giống ông giáo giảng bài cho một tên học trò ngốc nghếch. Ông vẫn còn làm cho tôi bực mình về sự tin tưởng

mạnh mẽ của ông. « Quân đôi Cộng-hòa gồm có bốn quân đoàn. Quân đoàn I kiểm soát miền Đông Bắc, từ biên giới của Bắc Việt qua Đà-nẵng và đến biên giới phía Tây. Quân đoàn II, căn cứ tại Pleiku, kiểm soát những tỉnh của cao nguyên miền Trung. Quân đoàn III kiểm soát vùng châu thổ và Quân đoàn IV kiểm soát biệt khu Saigon. Ngoài những đại đơn vị đó ra, chúng tôi có một lực lượng hải quân nhỏ, không quan trọng lắm đối với nhận định của chúng tôi và một lực lượng không quân nhỏ – vô cùng quan trọng. Rồi … !»

Òng lấy ngón tay chỉ vào bản đồ để nhấn mạnh «Biệt khu Saigon gồm một vòng đai bảo vệ quanh thủ đô và trụ sở của chính phủ. Hiện nay biệt khu

đang trong tình trạng thiết quân luật và vị tư lệnh quân đoàn là một người Ki-tô giáo rất mực trung thành với chế độ. Quân lính thì – ngoại trừ Lữ-

đoàn Phòng vệ Phủ Tổng-thống – có thể ngả về bên này hay bên kia. Do đó chiến lược cướp chính quyền phải gồm có bốn giai đoạn. Thứ nhất, chúng

tôi sẽ đưa về hai tiểu đoàn đã tự tay lựa chọn từ miền Bắc và miền Trung. Chúng tôi đưa từ miền Nam lên một tiểu đoàn nữa. Như vậy là chúng ta có ba mũi dùi chĩa vào trung tâm thành phố. Giai đoạn hai, chúng tôi chiếm Bộ Tham-mưu Quân đoàn III làm cho đơn vị này không có ai chỉ huy nữa. Khi đã chiếm xong, có thể khắc phục dễ dàng các đơn vị trưởng đem quân theo ba tiểu đoàn của chúng tôi.

Giai đoạn ba, các đơn vị Không quân đe dọa thả bom Phủ Tổng-thống và thành phố. Giai đoạn bốn, chúng tôi kiểm soát được thủ đô và quân lực.

Chúng tôi thành lập một chính phủ do một ủy ban gồm ba hay bốn tướng lãnh kiểm soát. Chúng tôi điều hành chính phủ với nhân viên dân sự hiện đang nắm chính quyền điều khiển tại các Bộ và những người này có thể tiếp tục công việc của họ một cách bình thường »

Ông ngưng nói ở điểm đó và đối diện với tôi, nét mặt tin tưởng và tươi cười, như thể ông vừa phê xong « cần phải được chứng nghiệm » ở cuối định lý Pythagore. Nhưng tôi vẫn chưa chịu chấp nhận sự chứng minh của ông một

cách tin tưởng như ông đã làm.

« Thưa Trung-tướng, theo tôi thấy thì Trung-tướng bất cứ lúc nào cũng có thể tự ý làm hành động ấy được. Tại sao Trung-tướng còn chờ đợi?

Tại sao Trung-tướng lại đến gặp tôi làm chi? »

« Bởi vì chúng tôi cần có – không biết gọi là cái gì nhỉ? – một hóa vật để khởi sự một phản ứng hóa học. Đây, tôi sẽ nói ông rõ tại sao. Vị tư lệnh Quân đoàn I là một người hùng, cứng rắn, một quân nhân giỏi. Ông vốn không ưa sự ngoan cố của Tổng-thống chúng tôi, do đó ông theo chúng tôi hết mình. Nhưng để có thể di chuyển quân lính về thủ đô, ông phải đưa quân qua vùng Quân đoàn II mà vị tư lệnh rất lừng chừng. Ông này cũng ghét chính quyền như tôi nhưng căn cứ của ông ở một tỉnh mà Tỉnh-trưởng là thù nghịch với ông, cho nên ông muốn có sự bảo đảm. Vị tư lệnh ở dưới vùng châu thổ cũng ở trong một vị trí tương tự … Đây 1à điểm mà Tổng-thống chúng tôi đã tỏ ra rất khôn ngoan. Ông bao gìờ cũng ghép cho ba người chống nhau đi đôi với nhau. Không bao giờ để cho hai người thân nhau ở một chỗ cả. »

« Thế còn Trung-tướng giữ vai trò gì trong kế-hoạch? »

« Tôi ở Saigon. Tôi có trách nhiệm thi hành những kế hoạch chiếm Bộ tư-lệnh Quân đoàn III và bắt các sĩ quan của đơn vị này theo phe chúng tôi. »

« Còn Không-quân? »

« Toàn thể Không-quân theo chúng tôi cả. Nhưng Không-quân tuy thuộc vào Hoa-kỳ và xăng nhớt và bảo trì, do đó cần được bạn đồng minh bảo đảm rằng họ sẽ không bị bắt dưới đất. »

« Thật ra thì Trung-tướng muốn chúng tôi trở thành cộng sự viên trong vụ nổi loạn này.»

« Không phải thế, thưa ông Đại-sứ. Chúng tòi chỉ yêu cầu ông đứng ra bảo hiểm cho chúng tôi mà thôi. »

« Và các điều khoản chính xác của khế ước bảo hiểm mà òng muốn chúng tôi đứng ký tên ra sao? »

« Có ba điều, thưa ông Đại sứ: không phản bội, không can thiệp và Hoa-kỳ tiếp tục yễm trợ bằng tiền và võ khí khi chúng tôi lập được một chính phủ khả trợ … À còn một điều nữa, rất quan hệ. Chúng tôi cần có một dấu hiệu rõ rệt chứng tỏ ông thuận thi hành khế ước với những điều khoản mà chúng tôi đã đặt ra. »

« Đó là một tài liệu thật rõ ràng, mặc dầu nó vẫn chỉ là một tài liệu giả thiết. Tuy nhiên theo quan điểm chúng tôi thì nó hãy còn thiếu xót. Chúng tôi muốn thấy một điều khoản nữa thêm vào đó. »

« Điều khoản gì vậy, thưa ông Đại-sứ? »

« Là trong trường hợp có thay đổi chính phủ, không được có sự hung bạo nào trong việc đối xử với cá nhân Tổng-thống Cung hay bất cứ Bộ-trưởng nào trong nội-các của ông; họ sẽ phải được giam lại rồi sau đó dẫn độ

ra ngoại quốc một cách an toàn. »

Ông suy nghĩ về điều này trong một lúc lâu. Má ông bóp lại và sau đó lại phồng ra. Ông trở lại bàn và uống cạn ly rượu mạnh một hơi. Sau đó ông ngồi xuống và hút xì-gà trong dáng suy tưởng. Giọng ông nói đều đều,

« Nếu chúng tôi có thể đảm bảo với ông điều đó, thưa ông Đại-sứ, liệu ông có ủng hộ chúng tôi theo những điều kiện hạn chế mà tôi đã trình bầy sơ qua? »

« Với điều kiện vẫn được giả thiết từ trước đến sau là chính phủ hiện tại không còn có thể điều hành một cách hữu hiệu nữa. »

« Chắc là theo quan điểm của ông Đại-sứ? »

« Theo quan điểm của tôi và chính phủ tôi ở Hoa-thịnh-đốn … Dĩ nhiên bao giờ ông cũng có tự do hành động đơn phương và chịu lấy hậu quả.»

« Ông mặc cả sát ván quá »

« Tôi đâu có mặc cả, Trung tướng. Tôi chỉ thảo luận về một hoàn cảnh giả thiết mà chúng tôi mong là sẽ không xây đến.»

Gương mặt dịu dàng của òng sa sầm lại; đôi mắt ông lanh lợi và mệt mỏi. Tuy vậy ông vẫn còn tự chủ được và tiếp tục câu chuyện một cách đều đều như cũ.

« Thưa ông Đại-sứ, ông là một tay chơi xi-phé rất giỏi. Nhưng ông không thể suốt đời chờ cho bốn cây xì lên một lúc. Ông vẫn có thể thắng được với

các hoa xấu hơn. »

« Để tôi cắt nghĩa cho Trung-tướng nghe điều này. Chúng ta không thể thắng gì được vì chúng ta chơi tay đôi với chủ sòng với một cỗ bài đã được trang xếp. Hôm qua chẳng hạn, ván bài đã kết thúc ra sao? Chúng ta mất đi mười người và chúng ta chi tiêu mất nửa triệu đô-la tiền thuế do dân chúng tôi đóng góp. Hôm nay đây, chỉ đoán bậy cũng đã tiêu mất tám trăm ngàn đô-la! Cho tới giờ này, chúng ta đã được cái gì? Một lời yêu cầu bảo hiểm toàn hạng cho một cuộc đảo chánh quân sự do ba kẻ lưng chừng đứng ra tổ chức với một ông tướng quá nhiều thiện chí mà lại không đảm bảo được các đường liên lạc của mình … Ông thấy rõ tình hình ra sao chứ?»

« Vậy ông muốn gì, thưa òng Đại-sứ – một cuộc trả giá giữa con quỷ sứ ông quen biết với con quỷ sứ ông không quen biết? »

« Không. Chúng tôi muốn có một chính phủ thân hữu có thể duy trì được trật tự với công bằng và đem cuộc chiến tranh này đến một sự kết thúc

khả dĩ đảm bảo được an ninh và hòa bình cho miền Nam Việt-nam. »

« Nếu tôi hứa với ông điều ấy, ông sẽ biết tôi là kẻ nói dối. »

« Vậy Trung-tướng có thể hứa chắc được điều gì? »

« Sự thân hữu, được. Một quân-đội thống-nhất, được. Hòa giải với Phât-giáo, được. Chấm dứt xáo trộn trong dân chúng, được. Phần còn lai là một dấu hỏi nhưng tôi tin chắc rằng chúng tôi có thể làm được khá hơn chế độ hiện nay.»

« Nhưng các ông vẫn chưa sẵn sàng. »

« Chưa ».

« Bao giờ các ông sẫn sàng được? »

« Trong sáu tuần nữa – miễn là chúng tôi có thể hy vọng được vào khế ước bảo hiểm một cách phải chăng ».

« Nếu các ông có thể tự tổ chức được cuộc nổi loạn võ trang, tại sao các ông lại không tự tổ chức được lực lượng để điều đình thỏa đáng với chính phủ hiện nay? Với ba quân đoàn và không quân chắc chắn là các ông có thể mặc cả được với Tông-thống Cung »

«Nhưng ông ấy sẽ không mặc cả đâu. Ông ấy sẽ chia rẽ trên dưới và mua chuộc, dọa nạt cho đến khi chúng tôi tiêu tan hết quyền lực mặc cả. Đó là

phương pháp của ông mà ông lại là bậc thầy của phương pháp ấy nữa, Chắc ông cũng biết là chẳng ai lý luận được với Cung cả. Ông đã thử làm rồi.

Ông ta chẳng đối thoại với ai trừ Thượng-đế-mà dù có thế đi nữa tôi nghĩ rằng Thượng-đế cũng phải thua ôngấy! ». Ông đập mạnh nắm tay trên  bàn và ông nói cộc cẳn, cao giọng vì giận dữ.

«Ông Đại-sứ, ông hãy cho chúng tôi một điều gì rõ rệt! Chúng tôi không phải là con nít! Tụi Việt-cộng lại mới tăng cường thêm ba tiểu đoàn so với

tuần trước. Chúng ta mỗi ngày mỗi yếu dần bởi vì không ai còn tin tưởng ở cấp lãnh đạo nữa. Vậy ông trả lời thế nào? Có, không, hay có lẽ? »

« Có lẽ ».

« Được lắm! Một câu hỏi nữa: Làm sao chúng tôi biết được khi có lẽ trở thành có!»

« Ông sẽ biết. Đó là tất cả những điều mà tôi có thể nói với ông ».

« Chúng tôi sẽ tiếp xúc với ông bằng cách nào? »

« Trung-tướng đừng làm vậy. Từ phút này trở đi tôi không thể tiếp xúc thêm được với ông hay với bạn hữu ông về vấn đề này nữa. Với tư cách Đại-sứ, tôi đã được ủy nhiệm cạnh chính phủ hợp pháp của nước này – mặc dù chính phủ ấy như thế nào. »

« Và ông định nghĩa một chính phủ hợp pháp như thế nào, ông Đại-sứ? »

« Trong một thể chế không thể có được bầu cử tự do thì chúng ta phải định nghĩa nó đơn giản là một chính phủ đang và có khả năng cai trị. »

« Vậy trong khi chúng tôi chưa phải là một chính phủ nhưng chỉ là một phe đối lập thì chúng tôi nói chuyện với ai, nếu không nói với ông? »

« Với ông Harry Yaffa. »

« Phương vị của ông ấy thế nào »

« Ông Yaffa là một nhân viên tình báo mà các hoạt động có thể bị tước bỏ và phủ nhận bất cứ lúc nào. Đó là cách chơi của ván bài ấy. Chắc ông cũng biết. »

Ông nhìn tôi trừng trừng một lúc với vẻ lỳ lợm và đăm chiêu. Rồi gương mặt ông nở lên một nụ cười chấp nhận miễn cưỡng.

« Nói về chơi xì, ông Đại-sứ … tôi tự hỏi ai là người đã thực sự xếp sẵn cỗ bài? »

Sau khi Đạo ra về, tôi ngồi lại với Đại-tướng Tolliver hơn một tiếng đồng hồ để thảo kế hoạch cho tôi thăm viếng các vùng chiến trường. Do nhiều lý do, dự án thăm viếng có một sự quan trọng đặc biệt đối với tôi. Trước hết điều tối quan trọng là tôi phải có sự hiểu biết đầu tay về đất nước uày, những điều kiện sinh hoạt  và những vấn đề rất đặc biệt của một cuộc chiến tranh khuynh đảo trong một nước bị phân hóa và có nhiều sắc dân. Tôi vẫn còn hy-vọng rằng nếu được thêm nhiều am hiểu và kinh nghiệm hơn, tôi có thể thiết lập được một mối liên hệ tương đắc với Cung, là người mà mặc dầu có cái tiểu xảo làm tôi giận dữ – vẫn là một người đáng kính trọng hơn là Đạo. Điểm thứ hai là tôi muốn vắng mặt ở Saigon khi các sự trừng phạt được thi hành. Tòi không muốn báo chí tiếp xúc với tôi, mà sự bình luận hàng ngày của họ có thể làm cho tình hình trầm trọng hơn. Và ngay chính Cung nữa cũng có thể tỏ ra biết điều trong khi tôi vắng mặt hơn là với sự hiện diện có tính cách buộc tội của tòi. Sau hết chính tôi cũng cần có sự tiếp xúc sống sượng và làm lành bệnh của thực tế nữa. Sau mấy ngày đối thoại ngoại-giao vừa qua, tôi cảm thấy tôi như một người lang thang trong đêm tối, nói năng lảm nhảm. Đại-tưởng Tolliver nhắc lại lời cảnh cáo về những sự nguy hiểm của cuộc thăm viếng nhưng tôi thấy rõ là ông rất vui mừng thấy tôi đi được. Cả ông nữa cũng chịu không nổi những cuộc đàm thoại, những âm mưu và quan tâm sâu xa đến tinh thần của quân lính mình. Khi tôi thuật lại cho ông nghe cuộc đàm thoại giữa tôi và Trung-tướng Đạo, ông xì hơi mũi một cách nóng nẩy và kết tội Đạo là tên nói dối.

« Tất cả chuyện nói di chuyển một tiểu đoàn từ mỗi vùng chiến thuật về là tào lao … ». Ông chỉ vào một bản đồ hành quân riêng của ông.

« Hãy lấy thí dụ Quân đoàn I, ở gần giới tuyến phía Bắc. Vị tư lệnh quân đoàn này là Trung-tướng Thọ. Ông là một quân nhân giỏi và ông thừa biết rằng nếu ông rút cả một tiểu đoàn ra thì Việt-cộng sẽ đổ xô vào như nước chảy qua cổ chai. Vả lại đó là một miền rừng núi. Tất cả lực lượng của Thọ đều được phân tán thành những đơn vị nhỏ bởi vì ông không thể di chuyển những lực lượng. tập trung lớn lao … Lại còn cái chuyện vô lý về không-quân e sợ chúng ta nữa. Họ vẫn có tiếp tế riêng của họ về xăng, đạn dược và cơ phận dự trữ. Nếu họ muốn bay thẳng từ đây ra Hà-nội, chúng ta đâu cản họ được.»

« Vậy tại sao Đạo lại nói dối tôi một cách ngu ngốc như vậy? Hắn chắc thừa biết là tôi sẽ kiểm chứng tin tức của hắn với Đại-tướng ».

Đại tướng Tolliver mỉm cười và nhún vai với vẻ tuyệt vọng khôi hài. « Đó là cung cách làm việc ở đây. Đạo chỉ muốn nói với ông rằng hắn biết là

ông không tin hắn và hắn cũng sẽ không tin ông. Dĩ nhiên hắn, cũng có kế hoạch đàng hoàng, mà có lẽ cũng rất thành công được nữa. Nhưng chừng

nào ông vẫn chân trong chân ngoài, hắn sẽ không cho ông biết những kế hoạch ấy đâu. »

« Đời nào tôi lại đưa cho hắn hay bất cứ ai một tấm ngân phiếu chưa ghi số tiền được. »

« Tôi cũng không muốn cho hắn lấy một đồng xu bằng gỗ ». Tolliver nói một cách nhấn mạnh.

«Nếu có một cuộc đảo chánh thì người lãnh đạo sẽ phải là Khiết, ở dưới vùng châu thổ. Hắn là một chiến lược gia giỏi nhất trong bọn và đánh cũng dữ nữa. Dĩ nhiên Đạo sẽ là thành phần trong Hội-đồng quân nhân; nhưng theo quan điểm của chúng tôi, hắn là thành phần mà chúng ta ít cần đến nhất. Hắn đang chơi với cả hai phe đối nghịch và phe trung dung nữa. Ông đừng quên hắn vẫn còn là Tham-mưu phó của Cung. »

« Thế ra chúng ta ở một đầu và Cung ở đoạn giữa. Ai mua chuộc Đạo ở đầu

kia? »

« Thưa ông Đại-sử, nếu ông muốn tôi đoán, thì đó là bọn Pháp. Cả đất nước này lúc nhúc những tên gián điệp gô-lít và bọn này thì tiền nhiều ứ đến mang tai. Bọn chúng trợ cấp cho các chủ đồn điền cao-su và các chủ xí nghiệp đóng thuế cho Việt-cộng để tiếp tục làm ăn. Bọn chúng đang mua chuộc dư luận trung lập ở bất cứ đâu có thể mua đươc bởi vì đó là điều tối hậu mà chúng mong muốn – một quốc gia trung lập như Lào và Cam-bốt để cho Pháp tự do đi lại với Hà-nội và cả phía Bắc nữa. »

« Và tướng Đạo là một người trung lập? »

« Một kẻ hoạt đầu. » Tolliver nói. « Giống như bao kẻ khác trong bọn họ. Tôi cũng chẳng ưa thích gì Cung hơn ông, thưa ông Đại-sứ; nhưng Cung còn to tát gấp đôi bất cứ người nào mà tôi đã gặp ở đây từ trước đến nay. Người ta có thể bán đứng ông nhưng không bao giờ có thể mua đứt ông được!»

« Đại-tướng có nghĩ rằng chúng ta nên ủng hộ ông vô điều kiện không? »

« Không thể được », Tolliver nói không lấy gì làm vui vẻ. « Và đó là điều khó khăn của hoàn cảnh chúng ta từ Đài-loan đến Bangkok. Chúng ta cũng giống như anh chàng có cô nhân tình đang bắt chẹt mình. Hắn không chịu cưới cô ả, không bỏ cô được và chắc chắn là không thể yêu cô được! »

Từ đó đến hết buổi chiều tôi trở lại tòa Đại-sứ dự thảo một bản phúc trình dài và chi tiết cho Raoul Festhammer ở Họa – thịnh – đốn. Bản văn tổng kết sau chót của tôi hãy còn rõ ràng trong tâm trí tôi bởi vì nó tiêu biểu cho đường lối theo đuổi thật sát sự lương thiện hoàn toàn của tôi. Khi tôi hoàn toàn hứng chịu tất cả tội lỗi về chuyện đã xẩy ra về sau này và đã nhiều lần sẵn sàng như vậy, thì tôi lại nhớ đến bản phúc trình và có một cái gì ngăn tôi lại để khỏi hết sức tự khinh ghét mình.

« … Do đó, mặc dầu ông có nhiều khuyết điểm nguy hại, tôi vẫn tự thấy ngả về Tổng-thống Cung là người duy nhất đủ sức mạnh và không tham nhũng để giữ vững cán cân quyền lực trong nước này. Tuy nhiên, tôi không thể và tôi không dám tuyệt đối tin cậy ở ông. Bởi vậy qua các phương tiện của CIA và ông Harry Yaffa, tôi bắt buộc phải duy trì sự liên lạc với các phần tử chống đối hiện nay đang âm mưu lật đổ chế độ và một ngày kia có thể thực hiện việc ấy được. Làm như vậy rõ rệt là tôi đang làm cho Tổng-thống Cung phải khó khăn hơn mới duy trì được sự ôn định trật tự và lòng trung tín. Tuy nhiên tôi không thể để chúng ta thiếu chuẩn bị trong việc đối phó với sự đổi thay chính phủ hay không có bạn hữu trong một chế độ mới. Tất cả điều tôi có thể làm được là cho anh biết rõ cái hiểm họa đó và những lý do khiến tôi phải chấp nhận nó … Cũng còn có một hiểm họa nữa mà tôi phải trình bầy với anh một cách rõ rệt và thẳng thắn. Hiểm họa đó là chính tôi, hoặc vì thiếu sót trong sự hiểu biết, kinh nghiệm hay tư thế, có thể bị bó buộc phải quyết định sai lầm và như vày có thể làm thiệt hại lớn cho tất cả chúng ta. Chẳng hạn tôi nghĩ rằng tôi đã không thành công lắm với Cung mà đáng lý ra tôi phải thành công bởi vì ông thấy tôi quá chính xác và không đủ tế nhị để thông cảm với hoàn cảnh rất phức tạp của riêng ông. Ngược lại tôi tin

rẳng ông là người biết lợi dụng mau lẹ bất cứ sơ hở nào để lộ ra … Thật là dễ cho tôi nếu tôi khước từ sự liều lĩnh cá nhân này bằng cách đưa tin cho anh và yêu cầu anh ra chỉ thị từ Hoa-thịnh-đốn; nhưng đó không phải là điều mà anh đã đòi hỏi tôi làm, và sau khi nói cho anh biết rõ hiểm họa ấy, tôi chỉ còn biết làm hết sức mình … Ước chi bao giờ mình cũng có thể hoặc tin chắc được ở đạo đức của chính mình hoặc hoàn toàn không có chút đạo đức nào … »

Tôi kết thúc bản phúc trình và đưa cho Mel Adams xem để hắn cho biết ý kiến. Khi đọc xong, hắn trả lại và nhìn tôi một cách soi mói kỳ lạ. «Đó là một tài liệu rất thành thật làm tôi hết sức kính phục ông.»

« Nhưng anh không đồng ý với nó? »

« Thưa ông, tòi nghĩ rằng nó thiếu một kết luận.»

«Đúng như vậy, anh Mel. Mà phải như vậy. Tôi chưa sẵn sàng đi tới một kết luận!»

« Thưa ông, theo một ý nghĩa nào đó, thì thật đúng. Theo một ý nghĩa khác, thì lại hơi sai. Ông phải đi tới một kết luận mới được. Ông đã quyết định tiếp tục chia rẽ với hy vọng rằng phe bên này hoặc phe bên kia sẽ tự có

sáng kiến đưa ra một giải đáp khả dĩ chấp nhận được. Điều đó rất hay nếu ông muốn chủ trương trung lập hết mình. Nhưng nếu ông muốn duy trì trò chơi quyền lực, ông phải lựa chọn dứt khoát. Trong tài liệu này, ông không

lựa chọn gì cả. »

« Tôi chưa sẵn sàng hoặc chưa đủ tin tức để lựa chọn. Anh Mel, anh đừng thúc đẩy tôi. »

« Tôi không có thúc đẩy ông. Tôi chỉ muốn ý kiến của tôi được ghi lại. »

« Nó được ghi lại rồi, anh Mel. »

Hắn cám ơn tôi một cách cứng nhắc và rút lui. Tôi dự thảo một văn thư chính thức gửi Bộ Ngoại giao, tuyên bố sự cưỡng đặt những sự trừng phạt. Ngày mai tôi sẽ đích thân chuyển giao văn thư và cuộc đấu tranh công khai sẽ có nhiều người tham dự. Sau đó lại có cuộc đấu trí với báo chí và một cuộc giao tiếp ngắn bằng điện thoại có tính cách nói chuyện chơi với Đại-sứ Anh-quốc. Hắn đoán chừng một cách hơi sắc mắc đối với tôi – là tôi quá bận công việc nên không viếng thăm xã giao các bạn đồng song như thường lệ được. Tuy vậy, tất cả đều nóng lòng  muốn gặp tôi và có lẽ tôi sẽ vui lòug đến dự một buổi tiệc rượu, mặc dầu chỉ được thông báo ít ngày giờ trước? Một vài bạn đồng sông người Á-châu hơi dễ xúc động và họ có thể cho tôi là chểnh mảng nhiệm vụ nếu tôi không cố gắng để gặp họ. Người Anh và người Mỹ cần phải sát cánh mới phải chứ? Nhất là đối với các bạn người Pháp đang cầm một cái gậy lớn khuấy chọc lung tung. Vậy thì tối mai nhé? Hắn rất vui sướng …

Tất cả câu chuyện hắn nói có nghĩa là bọn Pháp đang dẫm lên chân hắn và hắn muốn phe phẩy bản Minh-ước Đại-Tây-Dương vào mặt chúng. Tuy nhiên hắn nói rất đúng về các bạn đồng sông Á-châu và tôi thì không mất thì giờ nhẩy từ sứ quán này sang sứ quán khác khắp Saigon được.

Bởi vậy đó là một sự trả giá phải chăng. Tôi nghĩ với mặc cảm phạm lỗi rằng biết bao nhiêu người phải gặp như vậy mà tôi lại gửi đi có vài tấm thiệp mời của riêng tôi; nhưng trước hết tôi cần phải có một dự trữ thì giờ để cập nhật hóa sự nghiên cứu của riêng tôi. Tôi cũng cần ít nhất phải có một chút tiêu khiển nhưng đào đâu ra được trong một thành phố khép chặt trong lệnh giới nghiêm và ở đó tôi lại là một người, trong bao người chỉ có một, bị ghi tên sẵn để ám sát?… Tôi nhặt nhạnh các giấy tờ còn lại để đem về nhà làm việc sau khi ăn cơm tối.

Tiệc rượu, hội họp và từng chồng, từng chồng giấy tờ! Một trong những sự mỉa mai của Ngoại-giao là sự hưng thịnh hay suy vong của các quốc gia và sự sống, chết của hàng ngàn kẻ vô danh lại tùy thuộc vào những điều nhỏ nhặt như vậy.

Tôi dạo bước trong khu vườn trước bữa ăn, bởi vì nếu tôi đi lại trong vườn sau đó thì tôi sẽ chặn mất chùm tia sáng của một con mắt quang điện, chuông báo động sẽ réo lên và lính gác sẽ chạy tới để bảo vệ cho tấm thân thiêng liêng của tôi. Tôi hít cái không khí thơm tho nặng nề và lấy tay sờ những cánh hoa nhung dầy của miền nhiệt đới. Tôi thử gợi chuyện với chú làm vườn người Việt nhưng hắn nói tiếng Pháp cũng it như tôi nói tiếng Việt nên chúng tôi rốt cuộc chỉ trao đổi những cái gật đầu và cử chỉ bằng tay. Tôi tán dóc một hồi với những người lính gác nhưng họ đều rụt rè và trịnh trọng vì chưa thể biết được rằng ông Đại sứ bao giờ cũng chỉ là một người luôn luôn đơn độc và đôi khi kinh ngạc bởi những hình chắp rắc rối của chính trị mà những miếng chính bao giờ cũng thiếu. Bill Slavich đi ngang qua khu vườn trong phiên tuần đêm của hắn để kiểm soát các đồn canh, các hệ thống báo động và những gia đình ở trong vòng tòa Đại-sứ. Chúng tôi cùng sánh bước một lúc trên thảm rêu ẩm ướt của bãi cỏ. Cả hắn cũng gặp khó khăn như tôi. Hắn là người của Harry Yaffa, một nhân viên của cái tiểu thế giới kỳ lạ những công chức mà nghề nghiệp có tính cách bí mật, bạo động và bạc bẽo. Câu chuyện của chúng tôi tẻ ngắt và tôi chấm dứt bằng cách nhờ hắn kiếm cho tôi một người tẩm quất đến xoa bóp cho tôi mỗi ngày một giờ để làm cho tôi hết những sự căng thẳng. Hắn hứa sẽ làm theo rồi quay đi. Tôi tự thấy mình phân vân với sự chú ý đến sắc dục là không biết một người trẻ tuổi như hắn tiêu khiển như thế nào, một người mà những nơi thường năng lui tới đều là những ngõ ngách của một thế giới chìm ẩn.

Nghĩ vậy lại đem tôi quay trở về với Harry Yaffa, con người âm mưu  chuyên nghiệp mà tôi đã chỉ định làm người tin cẩn và đưa tin trong tất

cả những sự thương lượng với các ông tướng làm loạn. Tôi đã đọc tất cả những báo cáo của hắn và ghi chép tất cả các cuộc đàm thoại giữa chúng tôi

và khi duyệt lại tôi thấy thiếu sót một cách khôn khéo. Về những điệp viên của Pháp? Những hoạt động của bọn chúng đã được ghi nhận và ảnh hưởng của chúng đã được đánh giá. Về những người âm mưu của Quân-đội? Mỗi người đều có phiếu tiểu sử và ngay cả đến số tiền họ hiện có tại các chương mục ngân hàng và sản nghiệp của họ cũng được tổng kết. Về các gián điệp trong hang ngũ Phật-giáo, những tên phản động trong hàng giáo phẩm Ki-tô giáo? Mỗi người đều có một hồ sơ và hoạt động của họ đều được cập nhật hóa. Về các điệp viên của chúng ta ở Vạn-tượng và Nam-vang, về các liên-lạc-viên của chúng ta trong đám phi-công bay trên các đường bay nha phiến từ Miến-điện và các thuyền trưởng có tàu bè đi lại buôn bán dọc theo bờ biển từ Bangkok đến vịnh Bắc Việt? Tất cả đều có tên trong danh sách. Vậy tôi còn muốn gì hơn nữa? Và nếu tôi muốn thêm, tôi chỉ việc đòi hỏi là có ngay. Vậy thì tại sao lại không tin cậy được con người ấy? Hắn đã không chịu nói dối với tôi. Hắn đã thú nhận rằng có những bí mật mà tôi không nên dự vào, những kinh nghiệm cho tôi biết đó là tập quán thông thường và thận trọng của nghề nghiệp. Có điều gì về con người ấy làm tôi ghê tởm đến độ bao giờ tỏi cũng phải trịnh trọng đối với hắn và không bao giờ gọi hắn bằng tên thân mật? Tôi sợ hắn hay hắn sợ tôi? Liệu một con người như hắn có thể trở thành một kẻ chuyên vơ vét các bí mật để hưởng thụ riêng hay là để chấp hành một sự chuyên chế bỉ ổi nào? Liệu có một tệ đoan đặc biệt nào mà nạn nhân là những người làm việc trong cái thế giới bí mật đó-một tham vọng nắm quyền cai trị từ hậu cung của ông vua, hay là một động lực bất chính hàng ngày đều bước trong hiểm họa bị phả hủy?

Đó là một ý nghĩ đen tối và ý nghĩ đó làm lôi xáo động trong lúc đi bách bộ giữa hương thơm quyện lấy người của hoa nhài và hoa đại. Nhưng tuy vậy cũng con một ý nghĩ đen tối hơn làm tôi xáo động hơn thế nữa. Trong số những người mà tôi đã tiếp xúc trong mấy ngày qua, người nào cũng đã bộc lộ sự bất tin cần đối với tôi môt cách không úp mở. Đối với Cung, tôi là con người bất định, đi nước cờ nào cũng lưỡng lự nước đôi: đối với Yaffa, tôi là kẻ có thể thất bại mà hắn phải chuẩn bị để chống đỡ cho lỗi lầm của mình; đối với tướng Đạo tòi là một bạn đồng minh hoài ngh ; đối với Mel Adams, tôi là một phóng viên báo chí lương thiện nhưng sự lương thiện không đủ, tôi đủ kinh nghiệm để biết rằng một người có quyền hạn lớn luôn luôn bị hoài nghi, ngay cả đối với nhân viên của mình. Trong quá khứ Gabrielle đã luôn luôn là lương tri và thành trì của tôi. Không có nàng tôi là mồi ngon cho những khắc khoải và tội lỗi. Tôi như một nhà sư bị ám ảnh bởi những sự mơ màng bí ẩn về ham mê sắc dục, một công bộc phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân mà lại có khuynh hướng cường hào ác bá. Mặc dầu là tôi không đầu hang những sự cám dỗ đó, tôi biết là vẫn có chúng và sự hấp dẫn của chúng đã làm tòi mất tin tưởng ở những mục đích cao đẹp nhất … Tôi không biết những mối ngờ vực của tôi có in hằn lên nét mặt tôi như những cái nháy, cái giựt của gân mặt một kẻ cuồng đạo không?…

Một cơn gió đêm nhẹ nổi lên và đưa những đám mây thấp của vùng châu thổ cuồn cuộn đến. Rồi trời bắt đầu mưa – một cơn mưa bụi nhẹ nhàng và ướt át, làm tôi phải vào trong nhà để ngồi uống rượu và ăn cơm một mình. Anne Beldon đang dùng cơm với một người bạn làm việc ở một sứ quán khác và George Groton thì có lẽ đang ngồi xếp chân trong một ngôi chùa nào đó để đàm đạo về đạo pháp với một người mặc áo cà-sa vàng.

Trong khi tôi đang làm việc với một tài liệu dầy cộm về tình trạng kinh tế của miền Nam Việt-nam thì Groton bước vào. Lúc đó mới quá mười giờ. Hắn thở không ra hơi và quần áo ướt dẫm. Hắn đã ở một ngôi chùa ở đâu phía Bắc thành phổ và từ đó đi bộ về. Hắn đã quên khuấy mất giờ giới nghiêm và đã phải trải qua một tiếng đồng hồ nguy hiểm tránh né lính gác

và các đội tuần tiểu lưu động. Hắn cũng đói bụng nữa vì cũng như một nhà sư đắc đạo, hắn chưa ăn hột nào kể từ chính ngọ. Tôi bảo hắn lên lầu thay quần áo rồi bảo quản gia sửa soạn bữa ăn cho hắn. Hai mươi phút sau, vừa ngồi ăn với thịt gà nguội và một chai vang, hắn thuật cho tôi nghe bản báo cáo đầu tiên của hắn một cách thành khẩn.

« … Trước hết, nhà sư trong Sứ-quán đưa cho tôi một bức thư giới thiệu luàn lưu. Thư đó viết bằng tiếng Pháp và trông có vẻ thân thiện lắm.

Thư nói, «người thanh niên này là một môn đệ nhà Phật – nên rất có thiện cảm với chúng ta. Anh được sự tin cẩn của ông Đại-sứ Hoa-kỳ là người cũng thông hiểu Thiền-đạo. Vậy xin thỉnh cầu tiếp đãi anh tử tế và gắng giải thích cho anh lập trường của chúng ta» … Đến đó thì được lắm, nhưng ở cuối thư nhà sư có viết vài dòng tiếng Việt. Tôi yêu cầu ông dịch lại cho tôi nghe thì hóa ra nó là một trong những tiền-đề của Long Thọ nói về sự  nghiên cứu cõi Niết-bàn, Dịch qua nghe như thế này, «Vì mọi vật đều tương đối nên chúng ta không biết cái gì là hữu lượng cái gì là vô lượng. Chúng ta không biết cái gì vừa là cả hữu lượng lẫn vô lượng ở cái nhất thời. Chúng ta không biết cái gì là sự chối bỏ cả hữu lượng lẫn vô lượng» … Tôi hỏi như vậy nghĩa là gì thì ông nói rằng theo thông lệ trong thư từ nào cũng có một câu nhắc nhở đến chân lý tinh thần của Đạo pháp.

Tôi chấp nhận điều đó, nhưng tôi đâm ra lo ngại. Tôi bèn đi tới kết luận – mặc dầu chưa chứng minh được – là nhà sư dùng câu trích dẫn đó để ngụ ý rằng ông không tin chắc ở tôi … Dầu vậy ông cũng đã cho tôi địa chỉ của ba ngôi chùa nhỏ ở quanh thành phố mà cho tới nay vẫn chưa bị xáo trộn hay bị cảnh sát canh gác gì hết. Ông cũng cho tôi danh tính của các vị sư trụ trì và các nhà sư khác nói và nghe hiểu được tiếng Pháp … »

Hắn ngưng nói và nhấm nháp rượu vang tựa hồ  như đang cố gắng tìm danh từ để diễn đạt cảm giác của mình. Rồi hắn tiếp tục một cách hơi bối rối.

«Tôi tưởng tôi đã chuẩn bị khá đầy đủ cho công tác này nhưng chưa đâu vào đâu cả. Khi đến ngôi chùa thứ nhất, tôi tựa như tín-đồ Tin-lành đi vào

một thánh đường Ki-tô giáo ở đảo Sicile. Mỗi vật đều xa lạ, lòe loẹt, với quá nhiều hình ảnh, lụa là và hương hoa lễ vật. Sau khi sống ở Nhật-bản mà mọi vật đều ít oi và có kỷ luật, tôi thấy tất cả không khí đó thương không nổi và tầm thường là khác nữa. Nhà sư đầu tiên phụ trách việc giao dịch với tôi khá trẻ tuổi. Nhưng hắn đã học ở trường Pháp và hắn chỉ cho tôi biết những điều mà hắn muốn cho tôi biết. Chính phủ đàn áp và kỳ thị, giáo dân Ki-tô muốn hội họp lúc nào cũng được. Phật tử thì phải xin phép chính quyền. Phật tử không được nắm giữ những chức vị cao trong chính phủ. Vụ người chết ở Huế là sự mưu sát có toan tính chứ không phải chỉ là kết quả của nổi dậy và xáo trộn. Phật giáo, vì không muốn gì hơn là được sống để làm công việc thiện và tín ngưỡng đã bó buộc phải tổ chức để tự bảo vệ … Hàng trăm sư và vãi vẫn còn bị giam Rất nhiều vị đã bị đánh đập và tra tấn để thú nhận là có cấu kết với Cộng-sản.

Tôi cần phải nói rằng hắn đã trình bầy có lý nhưng nghe giống một bản cáo trạng nhiều hơn. Không thấy có sự khoan dung, sự hiể biết như người ta

thường mong đợi ở những người có tin ngưỡng. Tuy nhiên khi hắn thấy tôi đồng ý với câu chuyện hắn kể, hắn dẫn tôi vào một căn phòng trong đó các nhà sư đang in truyền đơn và thư từ với một rừng máy đánh chữ và một máy quay ronéo kiểu của Pháp. Họ làm công việc đó cũng hữu hiệu lắm Tôi yêu cầu được gặp nhà sư trụ trì nhưng hắn bảo tôi là ông đã già lắm và chỉ ngồi tụng niệm suốt ngày. Tuy nhiên tôi cứ thúc hắn và sau cùng tôi đã gặp được nhà sư trụ trì. Ông đã già lắm và rất yếu đuối, nói chuyện như người nói thầm. Nhà sư trẻ ngồi với chúng tôi suốt thời gian đó và qua cuộc đàm thoại tôi chỉ được biết rằng nhà sư trụ trì đã khá đến gần Niết – bàn và chỉ muốn bỏ ngoài tai tất cả thế sự …

« Cuộc hội kiến chỉ kéo dài năm phút và sau đó tôi phải hứng chịu cuộc tấn công tuyên truyền. Tôi hỏi có thật như người ta đã buộc tội rằng Tăng-giới đã bị Cộng-sản xâm nhập không. Thật như đã lỡ đá phải tổ ong. Thôi thì họ giận dữ, làm như bị thóa mạ ghê gớm – và họ nhất quyết rằng tôi không nên rời khỏi chùa cho đến khi nào họ đã thuyết phục được tôi tin rằng họ đều là những người Việt trung tín, bị áp chế bởi một ông quan đi đạo Thiên-chúa và cai trị với một thiên mệnh của Đấng Ki-tô. Khi sau rốt họ buông thả cho tòi về, họ cho một nhà sư khác dẫn tôi ra, hiển nhiên là với nhiệm vụ làm cho tôi gội sạch những tư tưởng nhiềm độc! »

«Tôi muốn hỏi anh vài câu, George. Họ có thù nghịch đối với người Mỹ

không? »

«Thưa ông không, họ đã quan trọng hóa việc họ tán thành cái mà họ gọi là hành động mạnh mẽ của chúng ta chống sự chuyên chế. Họ nhắc đến mối giao hảo của họ với báo chí Mỹ và ai cũng biết rõ là họ có liên lạc trực tiếp với hầu hết những ký giả thâm niên ở Saigon. Cũng biết rõ là họ đã tổ chức được liên lạc giữa bọn họ với các nhà chùa khác và họ liên lạc rất mau lẹ, rất cỏ hiệu

quả. »

« Có nói gì đến trung lập hay người Pháp không? »

« Ở trong ngôi chùa thứ nhất thì không. Nhưng tại ngôi chùa thứ hai tôi có nói chuyện với nhà sư trụ trì và tôi nhấn mạnh xin được đàm đạo riêng với ông. Nhà sư này trẻ hơn -vào khoảng năm mươi lăm tuổi. Ông rất trầm tĩnh và lịch lãm. Chúng tôi cùng uống trà và ông hỏi tôi rất lâu về quá khứ học đạo giác ngộ của tôi. Ông cũng khá chuẩn bị để thảo luận về ảnh hưởng của sự bành trướng Cộng – sản đối với tương lai Phật-giáo. Ông tin rằng những người đã chấp nhận Tứ Diệu-Đế thì phải coi chủ nghĩa Mác-xít như một hiện tượng chuyển tiếp, trước hết nó sẽ được thấm nhuần và sau đó bị biến cải bởi giáo lý của Đức Phật. Òng cũng sẵn sàng công nhận có « những nhà sư trẻ và náo động » trong hệ thống sư sãi. Nhưng ông tin rằng những người đó cũng sẽ thay đổi với kinh nghiệm và sự tham thiền. Khi tôi nói về những vụ tự sát ông liền chỉnh tôi. Tự sát là một ý niệm ghê tởm đối với Phật-giáo. Tuy nhiên ông nhắc lại lời Kinh Liên-hoa kêu gọi tất cả Phật-tử hy sinh nếu đạo pháp bị lâm nguy, Tôi hỏi ông xem trong chùa có ai có thể là tử đạo không thì ông cho biết có một ni-cô rất già đã sẵn lòng tự thiêu nhưng ông đã khuyên ngăn. Sau đó tôi hỏi ông có nghĩ rằng nên trung lập hay không thì ông cho rằng điều đó là mặc nhiên trong giáo lý của Đức Phật Thích-ca bởi vì tất cả những giải pháp có tính cách vật thể đối với những đau khổ của con người đều là phù du như chính con người vậy.

« Có bộ máy tuyên truyền nào trong chùa ấy không? »

« Thưa ông, họ không cho tôi xem. Tôi có ấn tượng là nhà sư trụ trì là một người có cá-tính mạnh đang cố gắng bảo toàn sự tự lực cánh sinh của mình. Một lần nữa chắc ông cũng thấy tôi rất khó mà đi đến một kết luận cứng nhắc. Sau hết tôi xin nhà sư giới thiệu chó tôi một ngôi chùa nào đó để tôi có thể cùng với các vị sư sãi tụng niệm, lễ bái trong một ngày và cố gắng để cho cuộc viếng thăm của tôi ít ra cũng đem lại chút lợi lộc về tinh thần. Ông liền nói tên một ngôi chùa và đưa tôi một lá thư gửi vị sư trụ trì. Đó là nơi tôi ở lại cho đến bây giờ và đó cũng là nơi mà tôi nghĩ rằng tôi đã đào được mỏ vàng lần đầu … Ở đấy có một người Pháp, hắn nói rằng hắn đã chiến đấu ở Điện-Biên-Phủ rồi sau đó hắn võ mộng đối với Tây-phương và tất cả những gì mà Tây-phương tượng trưng. Theo câu chuyện của hắn thì hắn đã theo đạo Phật vì thành tâm tin tưởng và đã ở ngôi chùa đó chín năm.»

« Anh có nghĩ rằng hắn là một tên gián điệp không? »

« Có thể lắm. Tôi ở cùng trai phòng với hắn. Tôi cùng ngồi đọc kinh với hắn và hắn dịch lại cho tôi nghe. Chúng tôi cùng nhau tụng niệm và nói chuyện rất lâu trong lúc đi bách bộ trong vườn nhà chùa. Hắn ta rất giầu kinh nghiệm và thông minh. Hắn kể cho tôi một câu chuyện nghe như lời tường thuật của một kẻ đã mục kích những ngày cuối cùng của Điện-Biên-Phủ và làm thế nào hắn đã trốn thoát sau ba tháng làm tù binh. Hắn không phải là người trí thức nhưng chắc chắn hắn đã thấu triệt và thông cảm những thái độ căn bản của Phật-giáo. Hắn nói về một sự phục hưng Phật-giáo ở Á – châu nhưng khi tôi ngỏ ý là việc ấy có một nền tảng chính trị thì hắn vội gạt phăng ý kiến ấy đi. Hắn cho rằng sự phục hưng ấy là một hiện tượng tâm linh căn cứ trên nhu cầu muốn hòa bình của mọi người và căn cứ theo tuyên ngôn của Kinh Phạn ngữ « Đức Phật Thích ca đã chính ngài đạt tới hòa bình và răn dậy hòa bình cho chúng sinh. » Khi tôi nói về những cuộc biểu tình và nổi loạn thì hắn gạt đi và cho là « những cuộc biểu dương ngay thật của một dân tộc hãy còn bất thiện toàn nhưng đang đi tìm con đường thiện toàn! » Hành động của chinh phủ thật là hiếu chiến, tàn bạo và điên rồ hết chỗ nói! Tôi nói đến sự khuynh đảo trong các chùa chiền và tôi ngạc nhiên thấy hắn đồng ý với tôi. Nhưng hắn gạt vấn đề đi cho rằng không quan trọng bởi vì sự thiện toàn của con đường đi sau rốt sẽ xóa bỏ hết sự bất thiện toàn của những kẻ đi trên con đường ấy. Về Tổng-thống Cung, hắn gọi là con cháu của những tín đồ Ki-tô giáo quá khích thuở xưa, một tay cầm cây thánh giá còn tay kia xách bị tiền. »

«Đó là một quan điểm hết sức tiện lợi. »

«Quả tiện lợi đối với người đã đưa nó ra, thưa ông. »

Hắn ngả người về phía trước một cách hăng say và phác họa những cử chỉ nhấn mạnh lời nói nên rượu vang bị sánh ra trên bàn và hắn phải vừa nói vừa thấm chỗ rượu đánh đổ. « … Đó là chỗ mà người ta bắt đầu nghe thấy nốt nhạc đánh sai. Con người đó – tên hắn là Armand Leroux-quá mãnh liệt, quá Pháp đi nên không thể đóng vai tông đồ của chủ nghĩa trầm lặng mà nói cho ai tin được cả. Sau hết tôi cố gắng bắt hắn trả lời những vấn đề cá biệt. Phật-giáo có những nỗi thống khổ chính đáng không ?… Có. Những thống khổ đó có thể được xoa dịu bằng cách nào?

… Chỉ có cách là lập một chính phủ Phật-giáo có đại diện của thiểu số Ki-tô giáo tham gia theo tỉ lệ. Thành lập một chính phủ như thế bằng cách nào?… Chấm dứt chiến tranh. Trung-lập-hóa miền Nam Việt Nam và hiệp thương sống chung hòa- bình với miền Bắc. Sự hiệp thương đó thực hiện ra sao? … Trên căn bản quyền lợi kinh tế hỗ tương và, dĩ nhiên trên căn bản ảnh  hưởng bành trướng của Phật-giáo. Rồi có lẽ vì hắn đang đà nói nên không gìn giữ – hay có lẽ bởi vì sự tiết lộ đã được toan tính cẩn thận – hắn bèn rút cây xì ách ra khỏi tay áo. Hắn nói « … Không, thưa ông, xin chờ tôi một chút! Tôi có ghi lại đây vì dường như rất quan trọng.» Hắn lục lọi tìm trong túi áo và sau cùng lấy ra một phong bì nhầu nát cầm lên đọc nguyên văn.

«… Điều mà Hoa-kỳ không hiểu được là miền Bắc và miền Nạm Việt Nam đều có chung một mối quan tâm; đó là sự sợ hãi và căm thù truyền thống đối với Trung-hoa là kẻ đã có lần thống trị họ. Mặc dầu Hồ Chí Minh được Trung Hoa cho vũ khí và huấn luyện giúp, ông cũng không ưa thích gì bọn họ hơn là Phùng-văn-Cung. Đó là lý do tại sao ông không leo thang chiến tranh bởi vì nếu làm vậy, quân Trung-hoa sẽ tràn ngập miền Bắc và dùng miền Bắc làm một thứ hành lang quân sự. Do đó, dẫu rằng toàn thể nước Việt- nam đều là Cộng-sản, họ cũng vẫn đoàn kết chốnglại Trung-hoa. Đó là điều mà người Mỹ nhầm lẫn. Họ chi đô-la và máu để thiết lập một vùng đệm chống Trung-hoa khi mà họ có thể có được mà không mất gì-nếu họ chịu sống chung với chủ nghĩa Mác-xít và kết thân với Phật-giáo ở Á-châu.

Đó là điều làm Cung trở nên phản động. Ông ta là cách có hại cho quốc gia. Nhưng nếu bị người một người Ki-tô giáo muốn bảo tồn đạo giáo một Mỹ thúc đẩy mạnh, ông rất có thế sẽ hiệp thương với Hồ chí-Minh. Và khi đó thì kết quả cũng sẽ tương tự, chỉ phải cái là đường lối ấy lâu hơn một chút »

«Và chỉ có vậy thôi, George? »

«Thưa ông chỉ có vậy thôi. Dường như hắn nhận ra hắn đã nói quá và cố ý trở lại vấn đề tham thiền như con đường dẫn tới Niết-bàn … Về phần tôi, tôi cũng ngồi tham thiền rất lâu và sau đó quyết định là đã đến lúc quay về để kể lại ông nghe. »

«Từng đó cũng đủ để suy nghĩ nhiều, George. Anh có thể đánh cho tôi một bản báo cáo được không? »

«Thưa ông, vâng, nhưng bắt buộc nó phải thiếu sót. Khi thảo xong báo cáo, tôi muốn trở lại những chùa đó để bổ túc những thiếu sót ».

«Tôi cũng muốn anh làm như vậy – giờ anh hãy cố tóm lược cho tôi. Trước hết, có sự khuynh đảo trong Tăng giới? »

« Vâng. Lớn lao như thế nào chưa biết. »

« Thế là Tổng-thống Cung được một điểm. Thứ hai là có triệu chứng một phong trào Liên-Phật-giáo? ».

« Triệu chứng nhưng khòng có gì đảm bảo. »

« Cố chứng có về dư luận khuynh trung – lậpmạnh mẽ ? »

« Chứng cớ rất hùng hồn. »

« Lại một điểm nữa cho Cung! Theo anh thì có sự tin tưởng là Phật giáo có thể hòa-đồng được với chủ nghĩa Mác – xít và tối hậu thì cải biến được

nó? »

« Sự tin tưởng ấy, theo ý tôi, rất mãnh liệt và phổ biến. Tôi nghĩ nó lại càng mãnh liệt và phổ biến hơn là vì bọn Việt-cộng không bao giờ tấn công chùa chiền và cá nhân các tăng ni cả. Trái lại, bọn chúng thường vẫn tụng niệm và cúng lễ vật trong các xóm làng. »

« Một câu hỏi chót: Phản ứng cá nhân của anh đối với sự tiếp xúc đầu tiên với phái Đại-thừa ấy ra sao?

Câu trả lời của hắn đến một cách chậm chạp nhưng rất rõ rệt. « Tôi cảm thấy rối trí, không thích thú và ngờ vực. Nhưng chắc vì tôi đã quen thuộc với một phái lọc lựa và trí thức hơn. Do đó tôi phải nghi ngờ chính tôi nữa, thưa ông. »

« Tất cả chúng ta đều phải nghi ngờ như vậy, George. Vấn đề là mọi người khác đều muốn chúng ta chắc chắn ở chúng ta – làm như chúng ta mang chân lý ở trong túi không bằng! »

Nghe vậy, hắn ngước mắt nhìn một cách sắc bén và đôi mắt trẻ, thông minh của hắn thăm dò nét mặt tôi. Trong đôi mắt đó có sự lo âu và có lẽ cả một thoáng sợ hãi nữa. « Thưa ông, ông nói như thể ông đã trải qua một thời gian khó khăn lắm. »

« Rất khó khăn, George. Và sẽ còn khó khăn hơn nhiều nữa. »

Tôi kể lại cho hắn nghe những biến cố xẩy ra trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ qua và những nỗi ngần ngại buồn bực của tôi. Hắn im lặng nghe và khi tôi nói xong hắn ngồi một lúc lâu lấy cái nĩa vẽ những hình thù rắc rối trên khăn bàn hoen ố. Sau hết hắn nói:

« Thưa ông, có hai điều dường như rõ rệt lắm. Ông sẽ bị thiệt thòi nhiều nếu ông vững mạnh trong sự kiên nhẫn hơn là quả quyết trong hành động. Có biết bao nhiêu là quan điểm và bao biết nhiêu là tin tức trái nghịch nhau nên không thể tự mình để mình bị xô đẩy mặc dầu cuộc khủng hoảng xảy ra như thế nào …

Vấn đề thứ hai là chính sách của chúng ta. Bởi vì chúng ta dấn thân vào một hành động quân sự nên do chính sự kiện đó chúng ta cũng phải dấn thân vào những giải pháp ngắn hạn mà xét theo lịch sử không thể là những giải pháp đúng. Yễm trợ Cung hay là làm một cuộc đảo chính để có một chế độ khác! Thỏa mãn Phật – giáo và cũng làm cho Ki-tô giáo vui lòng nữa. Đẩy lui Việt-cộng lên phía Bắc biên giới và đóng chặt biên giới Lào và Cam-bốt lại! Nhưng dù rằng chúng ta có làm được tất cả những việc đó, chúng ta cũng không giải quyết được gì. Ông không thể đóng kín những ý kiến lại như đóng kín một con tiểu quỷ trong cái chai. Ông không thể chiến đấu với bọn Việt-cộng mà bỏ quên Trung-hoa, một nước khổng lồ hàng ngàn năm nay có một dân số sinh sản mau như ruồi muỗi và lần đầu tiên trong lịch sử có một mục tiêu thống nhất. Chúng ta sẽ sống với Trung-hoa như thế nào trong một trăm năm tới đây?

Các nước ở Á-châu sẽ sống với Trung Hoa như thế nào? Còn Phật-giáo thì ra sao? Khuynh đảo hay chẳng khuynh đảo thì họ cũng vẫn hiện hữu như Hồi-giáo, Ki-tố giáo và Ấn-độ giáo. Với tôn giáo cũng vậy, cũng không thể có giải pháp ngắn hạn được …

Òng có thể ngăn cản hay phá vỡ được một cuộc cách mạng nhưng ông không thể làm ngừng cái quá trình tiến hóa đã gây ra cách mạng được … Theo một quan điểm thì ông có thể cười chế riễu tất cả các kẻ đầu trọc trong chùa ríu rít chung quanh chiếc máy ronéo rẻ tiền. Theo một quan điểm khác, ông có thể cho bọn họ là nguy hiểm đến độ đập lên đầu họ và bắt họ bỏ tù. Nhưng họ cũng hiện hữu! Họ hiện hữu như những con người, như một xã hội và như một triệu chứng của cuộc biến đồi không thể tránh khỏi. Nếu chúng ta nói rằng chúng ta muốn sửa lại cuộc biến đổi đó thì tôi chắc chúng ta cũng có một chính nghĩa … Một chính nghĩa cũng vững mạnh bằng Trung – hoa, Nga-sô hay Hồ-chí-Minh vậy. Nhưng nếu chúng ta nói, như đôi khi chúng ta dường như nói rằng, chúng ta muốn qui định cái tính chất của cuộc biến đổi và bảo đảm cho sự tất hữu của nó thì thôi chúng ta đã đứng ngoài cuộc và chắc chắn phải thất bại sâu cay … Xin lỗi ông. Tôi mỏi mệt và mất thăng bằng. Nhưng tôi quan tâm đến việc này. Và lo lắng cho ông nữa ».

Tôi biết ơn hắn và xúc động với mối thương hại sâu xa cho tuổi trẻ và lý tưởng của hắn. Nhưng làm cách nào tôi có thể cho hắn biết sự thật cay đắng là biến đổi không phải chỉ là kết quả của sự tăng trưởng tự nhiên mà cũng còn là kết quả của sự đấu tranh nữa. Mặc dầu Thiên-chúa giáo định nghĩa nó là một trận chiến giữa cái tốt và cái xấu hay Cộng-sản gọi nó là biện chứng Mác-xít hay Phật g’áo phô bầy nó ra như Phật Thích-ca chế ngự được Tề-thiên Đại-thánh dưới lòng bàn tay của Ngài. Làm sao tôi có thể cho hắn biết tôi đã dấn  thân vào hành động và những giải pháp ngắn hạn đến mức nào?…

Tôi bảo hắn đi nghỉ, rồi tôi ngồi lại làm việc rất khuya với mớ giấy tờ. Tôi vẫn còn làm việc khi Anne Beldon dự dạ hội khuya về và bước vào; bởi vậy nên hai chúng tôi xuống bếp tự pha lấy cà phê uống và nói chuyện lăng nhăng cho đến nửa đêm.

Dấu chân người tỵ nạn

Đồng Sa Băng

2. Biển và tôi

Ba con tàu đổ bộ kéo miệng lên kín nghít vội vàng di chuyển ra giữa dòng sông Sài Gòn. Tối 29 tháng 4 bầu trời đen như mực, những người trên tàu lớn – bé – già – trẻ đều được lệnh ngồi im xuống sàn tàu. Con tàu được điều chỉnh với tiếng máy thật nhỏ, chỉ đủ sức để đẩy khối sắc và đoàn người đi trong im lặng.
Đoàn tàu chứa đầy gia đình binh lính Lôi Hổ, lính thiện chiến của QLVNCH. Những người lính này thường được di chuyển vào ban đêm để đột nhập vào phòng tuyến của địch. Hay những đêm tối trời họ nhảy dù xuống mật khu trà trộn trong vùng địch với những phi vụ tình báo. Hoặc những cuộc trinh sát một còn một mất. Nhiều khi họ chỉ được trở về thành phố sau nhiều tháng sống trong rừng sâu, vì vậy mà lối ăn mặc, tóc tai và bản tính của họ có phần không giống với những binh chủng khác. 
Nhưng đêm nay những người lính Lôi Hổ này như cọp trong chuồng. Trước mặt họ không có quân thù, không có rừng sâu, không có những tiếng kêu rùng rợn của loài cầm thú, hay tiếng cóc nhái rỉ rã giữa đêm trường nằm ngóng quân thù. Mà chỉ có một màng đêm đen tối. 
Khi con tàu qua địa phận Rừng Sát những tiếng súng nhỏ nổi lên lẻ tẻ từ hai bên bờ sông nhưng không đáng kể, con tàu vẫn âm thầm trôi đi trong bóng tối. Ngồi khép mình bên mạn thuyền tôi nhìn về vùng trời Sài Gòn, nơi đó có Mẹ, có anh em, và Phương. Có lẽ giờ này Phương đã ngủ yên giấc! Nhìn chung quanh, khối người chật như nem nhưng tuyệt nhiên im phăng phắc. Tiếng sóng lăn tăn vẫn vỗ vào mạn thuyền nghe róc rách, và con tàu di chuyển thật chậm. Nhìn về bầu trời Thủ Thiêm, những ngọn lửa đỏ làm sáng cả góc trời và chen lẫn những tiếng nổ ì ạch. Một đêm tôi thức trắng, và có lẽ nhiều người khác cũng thức trắng đêm. 
Sáng 30 tháng 4, 1975 ba con tàu đã có mặt ngoài khơi Vũng Tàu. Chúng di chuyển sát nhau và quần thảo trên vùng biển nhỏ, dường như họ đang chờ đợi ai. Gió biển lạnh, thổi rì rào làm buốt da thịt. Màu nước biển đen và ánh sáng mập mờ đã thu đại dương bao la thành một không gian nhỏ bé bao quanh con tàu. Và trong không gian nhỏ này, con tàu cứ lảng vảng như vẫn còn luyến tiếc điều gì nơi bến nó ra đi. 
Khi mặt trời bắt đầu ló dạng trên biển Đông, xa xa những tia sáng yếu ớt màu hồng đập vào mặt nước làm lóe lên những gợn sóng bạc đầu thì, nhấp nhô từ xa những con thuyền, to có, nhỏ có bắt đầu lù lù hiện ra. Một chiếc, hai chiếc, rồi ba chiếc, những chiếc ghe đánh cá bằng gỗ đông nghẹt người cứ nhô lên rồi lại chìm xuống. Trời đã sáng, đoàn tàu càng lúc càng nhiều hơn. Mọi người trên tàu đổ bộ đã tỉnh. Từ phía chân trời hiện lên chiếc tàu hải quân Mỹ màu xám tro nằm lù lù trên mặt biển. Thế là những chiếc tàu vượt biên đều quay đầu về chiếc tàu hải quân Mỹ mà chạy. 
Bên cạnh tàu hải quân Mỹ, khoảng vài ba trăm thước, là chiếc xà lang chở đầy người lố nhố. Chiếc xà lang này đi từ Đà Nẳng vào từ mấy ngày nay. Tàu hải quân Mỹ, chiếc USS Thomaston LSD- 28 thuộc đệ thất hạm đội Thái Bình Dương, có bải đậu trực thăng. Bên cạnh chiếc LSD là một chiếc soái hạm (thuộc loại FFG) chạy theo sau hộ tống. 
Khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4, từ xa chiếc tàu đánh cá chở đầy người đang bập bềnh nhấp nhô theo nhịp sóng như muốn chìm trong biển sâu, cố gắng lại gần tàu đổ bộ. Khi đến gần, những người trên tàu đánh cá chờm mình lên mũi tàu van xin được cứu vớt. Nhìn họ như những con chim ướt sũng, run rẫy trong cơn gió lớn muốn tìm một tàn cây để núp. Con tàu nhỏ bé vẫn bập bếnh trên ngọn sóng và những khuôn mặt hãi hùng giương tròn đôi mắt nhìn về chiếc tàu đổ bộ khẩn cầu. Nhưng, một khẩu lệnh từ đâu trên chiếc tàu đổ bộ đưa xuống: “Bắn!” 
Liền sau tiếng “Bắn” người lính Lôi Hổ kéo cò cây súng M16 rắc một tiếng. Hàng loạt những viên đạn bay vèo vèo về chiếc tàu đánh cá, găm chụt chụt xuống nước, ria thành hình chữ V bao quanh mũi tàu. Chiếc tàu đánh cá mong manh khựng lại, và những người trong tàu chấp tay lạy như rái. Những gương mặt hốc hác run rẩy lại càng thêm run rẩy, và con tàu nhỏ bé lặng lẽ lùi dần ra xa. 
Tôi đứng đó, tay siết chặt thành tàu nhìn đám người chấp tay lạy trước làn đạn mà lòng tê cứng. Không biết họ kinh hoàng hay chính lòng tôi thấy sợ. 
Ngoài khơi Vũng Tàu lúc này tàu vượt biên càng đông hơn, quần thảo lại một vùng như buổi chợ nổi. Tiếng kêu cứu, van xin, la hét như loạn. Mọi người đều nhắm vào chiếc tàu hải quân Mỹ và chiếc xà lang khổng lồ. 
Nhưng tiếng súng chát chúa vừa rồi xua đuổi con tàu đánh cá đã giấy lên một không khí rối loạn trên mặt biển. Đáp lại những tiếng súng từ chiếc tàu đổ bộ là, chiếc soái hạm chạy bắn nước, đánh một vòng bên cạnh chiếc LSD như con ngựa trở chứng! Và kế tiếp là lệnh từ đâu đưa ra bảo mọi người phải vứt tất cả súng ống xuống nước mới được lên tàu lớn. Những khẩu Carbin xếp, M16, và những cây súng lục ngắn gọn rất đẹp lần lượt được ném xuống biển sâu! Từ đây trên tàu đổ bộ trở thành một nơi vô trật tự, không ai nghe ai. Nơi đây nếu còn luật lệ thì chỉ còn luật mạnh còn yếu chết. 
Trong đám tàu kia có hai chiếc tàu buôn: Long Hồ và Long Châu, hai chiếc tàu cùng một chủ đang đi bên cạnh nhau. Tôi biết anh Hoàng là sĩ quan cơ khí của tàu Long Hồ, mấy tuần nay tình hình rối loạn ở Sài Gòn tôi không liên lạc được. Bây giờ Long Hồ xuất hiện ở đây, tôi nghĩ thế nào cũng có người quen trên đó. Trước những cảnh đáng sợ, tiếng súng đạn và con người cấu xé lẫn nhau để được bốc lên tàu lớn, đã làm chùn ý tưởng “ra đi ôm mộng trùng dương” của tôi. Tôi quay mắt theo dõi chiếc Long Hồ. Bất chợt chiếc tàu đổ bộ tôi đi quay đầu về chiếc Long Châu. Khi hai chiếc tàu sắp chạm nhau tôi mới biết là trên Long Châu có một vị quân nhân Lôi Hổ cấp Tá có gia đình đang đi bên tàu đổ bộ, và vị sĩ quan cấp Tá này muốn nhảy qua tàu đổ bộ cùng gia đình. Trong khi hai chiếc tàu đang điều động gần nhau tôi thấy anh em anh Hoàng có mắt trên Long Châu, tôi vội mừng như kẻ sắp chết đuối vớ được phao, tôi la lớn: 
– “Anh Hoàng tui qua bên tàu anh được không?” 
Anh Hoàng liền đáp: 
– “Tàu tao trở lại Sài Gòn.” 
Nghe mấy tiếng “trở lại Sài Gòn” tôi mừng quá. Tôi liền nói: 
– “Anh đợi tui qua với, tui cũng muốn trở lại Sài Gòn.” 
Anh Hoàng liền nói: 
– “Ừ, qua đi.” 
Tôi quay qua Điện: 
– “Anh ở lại đi nhe, tui trở lại Sài Gòn.” 
Điện nghe tôi nói thế liền đáp: 
– “Mầy về thì tao cũng về chứ đi một mình chi.” 
Tôi chen chân bước về hướng mũi tàu, nơi hai chiếc tàu sẽ chạm nhau cho vị sĩ quan cấp Tá bước qua. Tôi liền nói với mấy anh Lôi Hổ đang ôm súng đứng trước mũi tàu: 
– “Anh cho tôi qua chiếc tàu kia nhe.” 
– “Không được. Không được lộn xộn, trở lại không tao bắn chết bây giờ.” 
Anh lính Lôi Hổ nhìn tôi sừng sộ, nạt. 
Nhìn nét mặt anh tôi hoảng sợ, liền ôm túi sách lùi lại phía sau tàu. Hai chiếc tàu chỉ còn một chút nữa là chạm nhau, tôi thấy viên sĩ quan cấp Tá đang đứng trên mũi Long Châu, chờ bước qua. Tôi ao ước được làm như ông ta, nhưng không được! Hai con tàu chỉ cập sát nhau để chuyển một người rồi sẽ gian ra xa. Tôi quẩn trí, không biết phải làm sao để qua bên kia, để được về với gia đình, với Phương, và với sự bình an mà hằng ngày tôi vẫn có, và nhất là để khỏi thấy cảnh con người đối xử tàn nhẩn với con người. Chỉ một bước thôi, một bước là tôi sẽ xa rời những ưu phiền sợ sệt, những hãi hùng mà sáng nay tôi đã chứng kiến. Nhưng bước chân đó tôi không thực hiện được! Khi hai con tàu xích gần lại nhau thì người trên tàu đổ bộ xôn xao, ồn ào như náo loạn. Người lính Lôi Hổ phải bắn chỉ thiên mấy phát và ra lệnh mọi người đứng im tại chỗ. Tôi nhìn anh Hoàng, chỉ tay xuống biển ra ni và nói: 
– “Anh thả phao xuống kéo tui lên được không? 
Anh Hoàng nhìn xuống mặt nước, ngước mặt nhìn tôi nói: 
– “Được. Nhưng mầy dám nhảy xuống không?” 
Lúc này hai chiếc tàu đâu lại thành hình chữ V, vị sĩ quan cấp Tá sắp bước chân qua, và Điện đang đứng sát bên tôi. Tôi không còn thì giờ để do dự, chỉ có giây phút này thôi rồi hai con tàu sẽ xa nhau, và cơ hội trở lại Sài Gòn sẽ không đến với tôi lần thứ hai trên biển này. Tôi liền tròng túi hành trang qua cổ, xong, nhảy xuống biển! 
Liền theo đó Điện cũng nhảy xuống biển theo tôi. 
Hai chiếc phao từ Long Châu liệng xuống nhưng cả tôi lẫn Điện đều chụp hụt, lập tức hai chiếc phao bị dòng nước tống ra phía sau. Con nước giữa hai chiếc tàu như một dòng sông chảy xiết, chỉ trong vòng vài ba phút phấn đấu tôi đã mệt lã, và con nước xoi tôi và Điện về phía đuôi tàu. Tôi ngóc đầu lên nhìn những người trên tàu Long Châu, con sóng lại đánh tôi lao chao, tôi quậy tay chân giữ thăng bằng, và hai cái phao thứ hai liệng xuống. Tay tôi quờ quạng trong con sóng và chụp được chiếc phao, khi tôi chỉ còn cách chân vịt khổng lồ của Long Châu không bao xa. Tôi vội vàng chui đầu vô phao cấp cứu, lấy sợi dây còn lại quấn lia lịa trên mình, trên phao, rồi nằm như con cá chết! Mấy người trên Long Châu kéo tôi lên khỏi mặt nước, bỏ trên boong tàu. Tôi mệt lã người, chỉ hỏi: 
– “Điện đâu?” 
– “Nó chụp hụt phao, nước đẩy ra sau và được tàu đánh cá vớt rồi.” 
Tiếng nói của ai đó trên tàu Long Châu cho tôi biết. 
Tôi nằm sãi sòng trên boong tàu, người lã đi. Hơn nữa tiếng đồng hồ sau tôi bình phục và đi lại trên tàu Long Châu. Chiếc tàu đổ bộ hải quân đã tách xa Long Châu và đang nhập với những chiếc tàu khác bên cạnh xà lang và tàu hải quân Mỹ. Tôi dõi mắt nhìn theo những chiếc tàu chung quanh nhưng không thấy bóng dáng Điện. Từ đó tôi mất liên lạc Đện. 
Nhìn lại trên tàu Long Châu chỉ có trên dưới 20 người kể cả gia đình thuyền trưởng và anh em anh Hoàng. Những người trong nhóm anh Hoàng tôi đều biết. 
Đã gần trưa ngày 30 tháng 4, Long Châu chở đầy xăng dầu và Long Hồ chở gạo nằm ì tại chỗ. Máy vẫn nổ nhưng tàu chỉ lần quần ngoài khơi Vũng Tàu, chưa chịu đi. Tôi hỏi chừng nào quay đầu trở lại Sài Gòn thì chỉ nghe anh Hoàng nói đợi một lát nữa. Nữa tiếng đồng hồ rồi một tiếng, hai tiếng đồng hồ trôi qua tàu vẫn chưa nhúc nhích. Tôi đi lòng vòng trên tàu, vào những phòng ngũ của thủy thủ xem xét. Lật nệm giường ngủ lên tôi thấy súng M16, đạn dược và lựu đạn nằm la liệt dưới giường. Thì ra chiếc Long Châu từ Đà Nẵng vào chở hơn một tiểu đội Lôi Hổ. Khi đến Vũng Tàu những người lính Lôi Hổ trở vào bờ bỏ lại súng đạn nơi đây, và trong số người từ Đà Nẵng vào có vị sĩ quan cấp tá Lôi Hổ, một đại Tá Cảnh sát và một tài lọt. Tôi nôn nóng đợi không biết chừng nào tàu sẽ trở lại Sài Gòn. Nơi đây không khí càng lúc càng sôi nổi. Những chiếc ghe đánh cá thi nhau chạy về tàu lớn. 
Khoảng 10:30 trưa 30 tháng 4, trên radio lời tuyên bố đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh được loan đi. Chấm dứt! Chính thể Việt Nam Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam chấm dứt vào lúc trưa 30 tháng 4, 1975! 
Ngoài khơi biển Vũng Tàu dậy sóng. Những chiếc tàu con chạy loạn xạ tìm tàu cứu vớt. Chiếc LSD hải quân Mỹ thả lưới xuống kéo người từ xà lang và những chiếc ghe con. Từ xa tôi nhìn về chiếc LSD, hàng hàng lớp lớp những bàn tay con người nhôn nháo bám vào mảnh lưới để được kéo lên như kéo những kiện hàng. Người đạp lên người, những bàn tay bám víu vào mảnh lưới không chịu nỗi sức nặng của chính mình, và rớt lủm bủm xuống nước giữa hai con tàu. Xa quá, tôi không biết những người rơi rớt xuống biển có được cứu vớt lên không? Hay chỉ là miếng mồi cho cá! Hay có lẽ đã bị nghiền nát bởi hai thành tàu! 
Từ thành phố Sài Gòn những chiếc trực thăng ào ạt mang người di chuyển ra chiếc LSD và Đệ Thất Hạm Đội Thái Bình Dương. Khi những nhân viên cuối cùng đáp xuống chiếc LSD an toàn thì những chiếc trực thăng cũng lần lượt bị xô xuống biển, lấy chỗ cho chiếc khác đáp xuống. 
Trời về chiều, gió thổi mạnh và bọt nước chung quanh chiếc LSD như lớp sương mù. Và hết lưới này đến lưới khác, bóng người vẫn đu đeo, và bóng người vẫn rơi rớt giữa hai con tàu. Ba con tàu đổ bộ từ căn cứ chuyển vận kho 18, Tân Thuận Đông quay đầu lên đường đi Subic Bay, Phi Luật Tân. Những tàu sắt có khả nămg đi một mình thì ra đi. Long Châu và Long Hồ cũng bắt đầu lên máy. Tôi quay qua hỏi anh Hoàng: 
– “Sao anh đi hướng này?” 
– “Thì tao nói với mầy tàu tao trở lại Sài Gòn để khỏi bị nhiều người bu lên, đơn giảng vậy thôi.” 
Tôi ngỡ ngàng nhìn anh Hoàng! 
Long Châu hú lên một hồi còi, tôi nhìn lại chiếc xà lang và đám ghe nhỏ mong manh. Chắc Điện đang loi nhoi đu đeo theo lưới trong đám người đó! Rồi tôi tự hỏi: “Long Châu sẽ đi về đâu?” Long Châu, những ngày rong ruổi!

Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn

vietmessenger.com    

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 14 Dec 2025

Chương 3

Bàn Phiếm Về Chén Trà Đại-Tống (960-1280).

Đời Tống (960-1280) bên Trung-quốc, có để lại ngày nay cho người sưu tập nào muốn tìm của lạ, một loại chén đất nung da màu lông thỏ đỏ, chữ gọi “Thố hào trản», gọi cách khác là “hoàng thố ban trích châu”(giọt lốm đốm như trong men, màu lông thỏ (gouttes et perles (dans l’émail) de la couleur du poil de lièvre) (xin xem tập “ Cảnh Đức trấn đào lục ».)

Chén nầy, vật khinh hình trọng, rất quí, vì xưa trên bảy trăm năm; nhưng nay giả nhiều thiệt ít, những thứ gặp tại Đông kinh và Hưong cảng, muốn mua phải dè dặt. Năm 1960, khi ấy tôi còn làm quản thủ công nhựt nơi bảo tàng trong vườn bách thảo (Sai-gòn) tôi có soạn và đăng trong báo Bách khoa số 89 đề ngày 15-9-1960, một bài luận về chén trà Đại Tống ấy, hiện nhà tôi có một cái, lấy tựa là “Từ chén trà Đại Tổng đến tích trảm Trịnh Ân ».

Đến nay là năm 1971, câu chuyện đã được mười một tuổi. Vậy xin dở ra viết lại, cho thấy tôi đã tiến hay lùi.

Bài của tôi trong Bách-khoa số 89 ngày 15-9-1960, như vầy (có sửa đôi chỗ):

“Bữa thứ hai 2-10-1939, nhằm 20 tháng 8 năm Kỷ Mão, lúc ấy thái bình lắm, quân đội lùn chưa có mặt tại Sai gòn, tôi (tác giả), có đến nhà tầm tầm Pháp ở đường Lagrandiere cũ, nay là đường Gia Long, lối văn phòng ba luật sư Tuyên-Huyền-Huệ, đấu giá mua được một cái bát bằng đất nung, thấy lạ vì có cái đế ngộ nghĩnh bằng ngà cũ. Đế lên nước đỏ au, có lẽ vì lâu đời, màu đỏ bầm như củ nghệ thúi, toàn diện trong và ngoài đã lạc tinh, lộ “vân”ngà ngà trắng trắng, bóng nổi đều đều tuyệt khéo, “y như mặt võng đan», quả là một thành công có thiên tạo giúp sức, đành rằng đó là ngà tiện do tay phàm chế tạo, nhưng vân ngà mặt võng nầy vốn thật thiên nhiên. Trời sanh ngà có vân, để phân biệt với ngà giả (nhơn tạo) không khi nào có “mặt võng». Tôi có tánh nói dài dòng, nhưng ai biết nghe lời thì khỏi mua lầm ngà giả tạo, làm bằng keo hóa học.

Nhưng tôi nói có chẽn dừng, không phải ngà giả tạo là vật bỏ đi, vì tỷ như bài con chim, khi xưa làm bằng ngà thiệt, thì lâu ngày lên nước, có vân khác nhau, bọn điếm  đàng nhìn đó mà biết hết, nên sau chế lại cây bài làm bằng “xục-cáo”(thục cao), một loại keo tốt, trắng nõn không đổi màu, nên ít bị ăn gian, đồ giả mà hay và nên khen ở chỗ đó.

Mua vì mê cải đế bằng ngà, tính ra cả chén và đế, cộng luôn 10% tiền công lão hộ-giá-vièn Tây gõ búa ngà phát mãi, vị chi là 45$ + 4$50 = 49$50. Nay nghĩ lại giựt mình, một đồng năm 1939 ăn một ngàn đồng năm 1971, thì cái chén Tống có đế ngà ấy, nay đáng 49.500$, hay gọn hơn đáng 50.000$, một là vì thứ thiệt, hiếm có, hai là vì đồng bạc ngày nay có chơn biết chạy, không còn giá trị như trước. Đem chén về nhà, không dám cho vợ thấy, lén lấy ra xem và tự hỏi: “ Đế ngà vân đẹp, tiện khéo; cớ sao dùng kê một cái chén xoàng xĩnh thế nầy»? Mà thật vậy. Chén hình thù thô-kệch, thêm trên miệng có mẻ hai chỗ nhỏ. Lão Révertégat, thanh tra tiều học, biết chơi đồ cổ, khi mua rồi, nó nói nó nhượng cho mình cũng vì hai chỗ thẹo nầy. Nhưng đã tập tành mon men sưu tập và học khảo cứu, thì phải cắn răng chi ra nửa tháng lương, đề có một mẫu đo đất nung hay đo gom chánh hiệu đời Tống đề so sánh và học tập thêm. Nghĩ như vậy rồi tự khen mình dám ăn xài, mua một vật hữu ích. Nhưng rồi hối tiếc, vì đã có vật ấy trên tay, nay thử đem đặt cái chén giữa đường qua lại, dám chắc trong nửa ngày không một ai chịu khó cúi xuống lượm chén lên, bằng có lượm cũng không xem vật ấy là một cổ ngoạn hy hữu. Nếu người lượm thuộc hạng mót sọt rác, khi gặp ai hỏi mua, trả năm xu một cắc, thì đã lật đật bán cấp kỳ, người nào trả đến ba hào bốn giác thì bợm mót sọt rác sẽ cười thầm, tự cho mình trúng mối to, hoặc giả kẻ kia không ba trợn cũng là người điên của.

Hình minh họa

Cái bát quả thật xấu xí, không đáng gọi là mỹ thuật phẩm chút nào. Chén làm vầy, gọi nó là cái mẻ, cái nắp tĩn nước mắm, cũng không ai phản đối. Thế mà được đặt trên đế ngà, kính cẩn sang trọng và nếu không gàn sao dám mua nửa trăm bạc, sướng đời chưa? Thú thật hôm ấy, tôi cố mua cho kỳ được vật nầy vì đinh ninh trong trí rằng nếu vật ấy không quí, thì chủ nó không dại gì tiện cho nó một chưn đài bằng ngà khéo lộng lẫy như vậy. Về sau nhờ nghiên cứu kỹ càng thêm thì rõ ràng trong các sách khảo cứu Pháp Anh đã từng nói đến chén này1, đã có in hình chụp ảnh và mô tả kỹ lưỡng đồ đất nung Tống loại này và danh từ chuyên môn gọi đó là đồ “fourrure de lièvre “(màu da lông thỏ), một danh phẩm gốm của tỉnh Phước Kiến, sản xuất tại Ki-ngan (Kiết-an). Gọi theo Nhựt Bản thì đó là chén “Temmoku”và mãi đến nay, tôi mới thấy trong bộ Cảnh-Đức Trấn Đào Luc (đã in), gọi “Thố Hào Trân”và men chén ấy gọi “hoàng thố ban trích châu». (Temmoku, có sách dịch Thiên mẫu san, sách khác viết ra chữ Hán là Thiên Mục Thủ, vậy theo mặt chữ nên đọc Thiên Mục Thủ.)

Vả chăng ngày nay ai cũng biết:

– Nhà Đại Tống, do vua Triệu Khuông Dẫn dựng nghiệp, cai trị Trung quốc từ năm 960 đến năm 1276 hay

1279 mới dứt; tính chung được trên ba trăm năm, chia ra Bắc Nam lưỡng triều:

– Bắc Tống, đóng đô tại Biện-lương (Khai phong phủ), chín đời vua, trị vì từ 960 đến 1127, là 167 năm;

– Nam Tông, thuyền đò về Hàng Châu, chín đời vua, từ 1127 đến 1279 là 152 năm.

Cộng: 319 năm.

Như vậy thì:

– Nếu lấy năm chót (1279) mà đoán, thì chén nầy tính đến năm nay 1971, ít nữa cũng đã 1971-1279 =692 tuổi.

– Bằng như dựa theo trích dẫn sau đây và lấy năm Đại Tống nguyên niên (960) mà đếm, thì độ chừng, chén nầy cao niên nhứt, cũng được 1971-960=1011 tuổi chẵn.

Đồ đất nung, thứ men mốc-mốc, đỏ đỏ thâm thâm, chỗthì sót men lòi da cháy sạm, chỗ thì men dày nhều đùn cục dưới chân món đồ, danh từ chuyên môn gọi “giọt lụy”(traces de larme), những món đồ ấy, coi vậy mà không dễ gì bắt chước, đồng tiền bọn chơi đồ cổ cũng khó ăn và người đời nay, với dụng cụ và cơ khí tối tân, tuy nhái được mà không giống hệt đồ xưa, vì vậy muốn biết rõ từ món cổ vật, phải chịu xuất tiền ra mua sách, chớ mua bừa có ngày tổ trác, thì mất tiền mua chớ trách ai. Có một nước láng giềng của Trung Hoa, trình độ văn minh đang trong thời kỳ vọt cao, nền tài chánh ngày nay dồi dào, nước ấy đã chầy năm nghiên cứu và tìm đủ phương thế để nhái tạo thứ đồ đất nung có tráng men như loại chén này, nhưng đến bây giờ vẫn chưa được thành công mấy. Đồ của xứ nầy sản xuất, chỉ gạt được các tay mơ, còn chập chững, vọc vạch chơi đồ xưa chưa nóng tay, chớ đối với hạng khá thông thạo, từng đạp gai, từng rờ rẫm quen mặt với món đồ, thì người bán cũng như bọn giả tạo, cũng khó đánh lận tròng đen họ được.

1. Lẽ đúng phải in hình ra cho mỗi người thấy một chút. Nhưng vì kỹ thuật trong nước chưa in hình được khéo, nên chúng tôi tạm chừa hình lại sau sẽ in làm một quyển album duy nhứt, khi viết xong bộ sách này và sẽ bán riêng cho những người muốn khảo cứu. Tạm thời, xin qui vị tìm xem trong sách sẵn có, như sách Les poleries et porcelaines chinoises của bà Daisy Lion Gold Schmidt, pl.IX.D. Kien, dit Temmoku (musée Guimet), hoặc trong bộ “Céramique ancienne de l’Asie “par Fujio Koyama, No 34 page 82, hình rất rõ và khéo, trong mới thấm hiểu. Nước người ta in một cuốn sách mỹ thuật, không kể phí tổn. Bên nước ta, sách in để tặng biếu, nên có khác. Không phải lỗi tại soạn-giả. V.H.S.

Mà nghĩ cũng trớ trêu ngộ thật: cái ông nghệ sĩ nào thuở đó, nặn được cái chén lưu truyền đời đời làm vậy, mà có dè đâu hỏng ký tên để danh hiệu của mình vào! Hay không là ở chổ đó! Không bì đời nay chế tạo đồ xấu, đồ giả mạo, lại ký hiệu xưa ngờ ngờ, một cách công khai! Cho nên nhà chơi đồ cổ, không tiếc tiền mua cái chén, cũng vì muốn mua lại cái thành thật quân tử của cổ nhân. Xin nhắc lại, cái chén Đại Tống, sau buổi lộn xộn thất điên bát đảo của thời kỳ trước và sau năm đảo chánh 1945, được tôi (tác giả) giấu kín và đem lên Sai Gòn. Tôi xin vô làm tại viện bảo tàng từ năm 1947 và ngày 13 tháng 9 năm 1954, có ông Serge Elisseeff, nguyên là người Nga nhập Pháp tịch, lão thông chữ Hán, chức làm quản thủ viện bảo tàng Cernuschi tại Paris, nơi đây tàng trữ những cổ vật di tích thuộc văn hóa phương Đông. Năm ấy nhơn đi công cán bên Nhựt Bản, sẵn dịp thuận đường, ông ghé viếng viện bảo tàng Sài Gòn. Sau buổi viếng ở đây, chúng tôi mời ông hạ cố đến viếng tệ thất trong Bà Chiểu, cho ông thấy một nhà cổ Việt Nam như thế nào. Đến nơi, ông trầm trồ khen kiểu kiến trúc nhà Việt, có khác đôi chút kiểu nhà Tàu và rất khác xa nhà Nhựt Bản.

Xem cuộc thế nhà ở xong, ông day qua xem bộ môn đồ gốm và sứ của chúng tôi sưu tập bấy lâu. Bỗng ông vói cầm cái chén Đại Tống, ngắm nghia hồi lâu kế day qua hỏi chủ nhà:

– Ông biết chén nầy thuộc loại đời nào chứ? (Giọng ông hỏi như giảm khảo hạch sinh viên).

– Thưa tiên sinh, chủ nhà đáp, ắt đời Đại Tống. Nhưng sẳn đây, dám hỏi tiên sinh, chẳng hay Tiền Tống hay Hậu Tống, xin tiên sinh dạy cho biết? Lại nữa, tiên sinh dạy giùm chẳng hay đó là chén uống trà hay chén uống rượu, tiên sinh cao kiến, dạy cho với nào!

– Chén trà phải hơn, ông khách lạ đáp.

– Thưa tiên sinh, theo kẻ hậu sinh nầy biết, có lẽ chén nầy trước dùng uống rượu, sau đó đổi qua dùng làm chén uống trà.

– Á hay! Hãy cắt nghĩa cho tôi nghe với!

– Dạ thưa, tiên sinh đọc nhiều sách Hán, ắt dư rõ tích Tống Thái Tổ, Triệu Khuôn Dẫn, khai cơ dựng nghiệp như thế nào? Để thêm sáng câu chuyện, kẻ hậu sinh xin nhắc lại sự tích có thủ có vĩ cho dễ hiểu:

Tiền nhựt, vào đời Ngũ Đại Tàn Đường, bước đầu thế kỷ thứ X, giặc dậy tứ tung bên Trung Hoa, nhơn dân lấy làm khổ sở. Các vị tưởng trấn thủ những quan ải trong địa, sẵn binh quyền trong tay, đều nổi lên, mạnh ai nấy chiếm cứ một địa phương, kẻ xưng hùng, người xưng bá. Lúc ấy có ông Quách Oai (Quách Ngan Oai) làm tổng trấn thành Phàn Châu, cũng như ai, bèn soán vị, xưng đế hiệu, dựng nhà Hậu Châu, mở một kỷ nguyên mới. Châu Thái Tổ Quách Ngạn Oai trị vì từ năm 951 đến năm 954, thọ năm mươi mốt tuổi. Ông không con nối dòng, nên lập Sài Vinh, cháu vợ, gọi Sài phu nhơn bằng cô, làm Đông cung thái tử, cho ăn họ Quách. Sài thái tử ở với cha nuôi rất có hiếu và Châu Thái Tổ Quách Oai, lúc gần băng, gọi thái tử đến trối rằng:

– Vương nhi có biết vì sao vua chúa đời trước thường bị khai quật lăng tẩm hầu hết chăng? Chẳng qua cũng vì lúc thăng hà, ham chôn vàng bạc châu báu theo quá nhiều, mà trên đời có chi làm hư lòng người, giục lòng người, nhứt là của bọn vô tín ngưỡng, chúng thèm ước của quí vật lạ chôn theo xác chết mà quên hết đạo đức lễ nghĩa. Cho nên trẫm dặn vương nhi khi trẫm xa băng án giá rồi, thì vương nhi nhớ kỹ dầu một vật báu cũng đừng chôn theo. Cũng đừng tẩn liệm bằng tơ lụa và trang sức đắt tiền. Vương nhi nhớ bỏ lệ dùng cung nhân coi sóc lăng phần và bỏ lập cung viện quanh lăng vì xa xí vô ích. Việc phụng tự hãy giao cho người có nhà cửa gần lăng, lựa lối ba mươi nóc gia giao phó cho họ là đủ giữ gìn rồi. Tùy nơi nhơn tâm để lại chớ không phải để binh sĩ đông mà lăng mộ khỏi bị thú vật đạp phá hay quân gian lén đào mạch trộm của quí. Cũng bãi bỏ lệ tạo người đá, voi đá, ngựa đá, mà trẫm cho rằng xa xỉ. Hãy liệm trẫm trong một cái hòm bằng gốm nung. Cấm tuyệt dùng đá xây huyệt mả. Kim tỉnh xay bằng gạch được rồi. Hãy lựa thứ gạch xấu, không dùng được lần thứ hai. Đồ dịch1 lựa hai tên là đủ.

Nhưng vương nhi nhớ cho kỹ, là phải lập cho trẫm một bia đá có khắc thật rõ nét, hai câu như vầy:

“Châu thiên tử bình sanh háo kiệm,

Di mạng dụng bố y ngõa quan».

1. Đồ dịch phải chăng là người tù mắc tội đồ nay dùng phục dịch tại lăng để quét lá rụng, nhổ cỏ dại và không cho trâu bò lại gần lăng? Hoặc đó là “mọi”chôn sống theo người chết cho hồn sai khiến? Trong sách không nói rành.

Dịch: Vua nhà Châu sanh tiền chuộng tiết-kiệm;

Di mạng dặn liệm bằng bố vải và dùng hòm bằng gốm để chôn 1.

Mấy hàng tài liệu trên đây, đối với người ngoại cuộc, khi đọc lên, chỉ đem lại sự ngáp dài buồn ngủ, nhưng đối với chúng tôi, học đòi khảo cồ, thì quả vô cùng hệ trọng, vì đây là một bằng chứng xác nhận rằng loại hũ đựng cốt (urne funéraire) đã có, chẳng những đời Đại Tống, theo như sách Pháp đã nói, mà có trước từ đời Hậu-Châu (951-959) rồi. Vả lại hai đời không cách xa nhau bao nhiêu, (cuối Châu 959, kbai Tống 960), cho nên dầu gặp hai loại ấy cũng khó mà định tuổi một cách chẳng sai lầm.

Vua Quách Oai mất rồi, con nuỏi là Sài Vinh lên kế vị, chọn đế hiệu là Châu Thế Tôn, trị vì từ năm 954 đến năm 959, tuy ngắn ngủi, chỉ có sáu năm, (thọ ba mươi chín tuồi), nhưng để được hai phát minh nay còn nhắc đời:

1) Thứ nhứt, tương truyền vào đời ông, tìm ra men màu xanh da trời. Một hôm, có sớ tâu lên đãi lịnh vua, muốn biết vua chọn màu gì cho thợ chuyên làm đồ gốm đồ sành, vẽ lèn các món ngự dụng. Vua phê vỏn vẹn bốn chữ: “Vũ quá thiên thanh». Nhờ đó mà thợ chế ra được màu xanh lơ, trong sách Pháp dịch là: couleur bleue du Ciel après la pluie. Nghiệm ra, khi mưa tạnh, bao nhiêu bụi trần đều quét sạch, trên trời da xanh ngắt trong khe, tuyệt không có một chút bợn nhơ còn gì đẹp hơn? Đồ sành đời Châu Thế Tôn, thuộc vào buổi sơ khai, vừa hết gốm chớ chưa qua hẳn sành, hiếm lắm và quí lắm. Danh từ chuyên môn gọi Sài dao hay Sài diêu (Tch’ai-yao), ngày nay kiểm không ra. Truyền tụng có câu: “Ngàn vàng dễ kiếm, Sài diêu khôn tìm ». Hiếm cho đến đỗi thành huyền thoại, các nhà khảo cổ Tây phương lấy làm ngộ không biết Sài diêu thật có hay  không và không viện bảo tàng Âu Mỹ tích trữ được môt mảnh nào, cho biết mặt.

Người Trung Hoa nâng lên hàng quí như ngọc và gọi Sài ngọc. Trước năm đảo chánh 1945, có một chủ tiệm hoa kiều trong Chợ Lớn có khoe với tôi một miếng sành nhỏ màu xanh đậm da trời, cẩn trong một miếng vàng vuông, ông ta làm mặt sợi dây nịt da đeo thường bữa. Tôi muốn quá, theo nài nỉ hoài, xin đổi một chiếc vòng ngọc thạch quí giá, hoặc bù một số tiền lớn, nhưng nói cách mấy, ông chủ tiệm không khứng rời miếng sành nhỏ kia. Ngày nay mảnh Sài diêu ấy còn hay đã mất, tôi không biết, vì chính sau cuộc phong ba năm 1945, hai tôi chạy một người một ngã và cho đến ngày nay tôi không gặp cố nhân Hoa kiều.

Nay tôi cũng ngờ không biết miếng sành ấy có phải thật là Sài diêu chăng, cũng chưa ắt. (Xem thêm qua bộ Cảnh Đức trấn đào lục về sự tích Sài dao).

2) Thứ nhì.

– Đời Châu Thế Tôn SàiVinh có chế ra một đồng tiền bằng đồng, ngày nay cũng là một báu vật, người sưu tầm tiền cổ, cho là một vật quí còn hơn vàng. Nguyên mấy năm ấy (954-959), vì chiến tranh dây dưa mãi nên đồng kém hụt, có bao nhiêu đều đúc binh khí và mũi tên, nên trong nước có nạn khan tiền, trong dân gian, việc đổi chác lấy làm khó khăn. Chau Thế Tôn là người thực hành vì thuở nhỏ từng lưu lạc đó đây với bộ ba Triệu Khuông Dẫn và Trịnh Ân, nay thấy dân hụt tiền xài cốt Phật bằng đồng có thể thay cốt bằng gỗ hay bằng đá hay chất khác được, ben truyền linh lấy tượng Phật lấy đồng đúc tiền gọi tiền “ Châu ngươn thông bửu ». Ngờ đâu dân chúng đời ấy rất sợ Trời Phật, khi hay được tiền Châu nguơn là bằng đồng của tượng Phật đúc ra, họ đều lấy đeo cổ đeo tay làm bùa hộ mạng, khiến nèn tiền đã hút khan nay lại còn khan hút hơn nữa. Sau vua Sài Vinh mất, thọ có ba mươi chín tuổi, thiên hạ cũng đồ thừa trách ông sao dám nấu Phật lấy đồng. Vềsau, mỗi lần có người từ trần, đều lấy tiền Châu ngươn mang theo để hộ mạng dễ nói chuyện với Diêm vương và bọn quỉ sứ cũng kiêng nể, khiến cho tiền Châu nguơn mất hết, và câu đồng diêu trên cũng lặp lại nữa, đồi hai chữ: “Ngàn vàng dễ kiếm, Sài diêu khó tìm », đổi lại: “Ngàn vàng dễ kiếm, Châu nguơn khó tìm».

Tuy thọ không lâu (39 tuổi), tuy làm vua rất ngắn (sáu năm), nhưng danh tiếng Châu Thế Tôn thật là trường tồn. Một tiếng thơm thứ ba của Sài Vinh xin kể ra luôn, là tánh ông rất hiền, ở với hai em là Khuông Dẫn, Trịnh Ân đều nhịn nhuc, sau lên làm vua thì hết lòng với dân, chia ngọt xẻ bùi, đồng cam cộng khổ, sánh với các vua chúa đời Ngũ Đại, thì ông được tiếng là minh quân hiền nhứt, nên khi mất, dân chúng tiếc thương ông lắm. Hỏi mấy ai được vậy?

1. Tài liệu viết theo truyện Phi long diễn nghĩa, bản dịch Huynh Công Giác, in lần nhứt năm 1908, nhà Phát Toàn, Sai Gòn, trang 342.

Nhưng Sài Thế Tôn là người bẩm thọ yểu, không kham việc chinh nam phục bắc, năm 959, đi đánh giặc về, đau rồi mất. Con là Lương Vương lên noi ngôi, (sau bị truất, thụy phong Cung Đế, trị vì hai năm 959-960, mất năm 973, thọ hai mươi hai tuổi). Cung đế lúc lên ngôi, chưa đầy tám, chín tuổi, các tướng sĩ phe đảng của Triệu Khuông Dẫn đều không bằng lòng thần phục một ông vua nhỏ oắt và cũng lạ hoắc, làm sao biết xét công hãn mã của minh. Vì vậy nửa đêm, ngoài mặt trận, binh kéo đến cầu Trần kiều đóng lại đó, đêm khuya tướng sĩ tụ họp, lấy huỳnh bào đắp lên mình Khuông Dẫn, xóc ra ngồi ghế giữa rồi tung hô vạn tuế. Sử gọi đoạn nay là “binh biến Trần kiều ». Lúc ấy, người em thứ ba trích huyết thề nguyền, bộ ba “Sài Vinh, Triệu Khuông Dẫn, TrịnhÂn “(Trịnh Ân sau Tống Thái Tổ phong đến Nhữ Nam Vương), đã cùng nhau uống máu ăn thề, nguyện lấy gương Đào Viên tam thệ Lưu-Quan-Trương đời Tam Quốc, nay anh lớn Sài Vinh vừa mất, anh thứ là Khuông Dẫn lại truất ngôi của con Sài Vinh, từng gọi mình bằng chú, giành làm vua lấy, Trịnh Ân là người bộc trực ăn ngay nói thẳng, hễ mỗi lần có chén, “rượu vào lời ra », thường kbông dè dặt lời nói và một đòi khi xúc phạm đến Tống Thái Tô. Chỗ anh em thì tha thứ được, mà nay là niềm tôi chúa sao nên? Bởi vậy, trong truyện “Tam hạ Nam Đường », tác giả bịa ra chuyện “ Xích tu long túy tửu hắc hổ qui thần”để nhắc việc Tống Thái Tổ, không biết say giả hay say thiệt, nhè nghe lời sủng phi là Hàn Tố Mai, hạ bút trong cơn say, phê chữ trảm “trên tờ sớ, đề cho Hàn Phụng chém đầu Trịnh Ân, cơn say qua, thì đầu Trịnh Ân đã rụng! Nhữ Nam Vương vương phi là Đào Tam Xuân, dấy binh quyết báo thù chồng.

Non nước này, ta lại thấy ngón “giang hồ mã thượng”của ông vua từng ăn cơm dạo khắp xứ, quen gần đủ mặt gái sông hồ, tôi muốn nói Tống Thái Tổ Triệu Khương Dẫn. Vì để thủ tiêu luôn một nhân chứng bép xép lỗ miệng không thua Tam đế Trịnh Ân, Thái Tổ bèn giả sợ oai Trịnh vương phi, nên nạp mạng ái phi là cục cưng Hàn Tố Mai cho Đào võ trạng Tam Xuân, để cho bà này lăn đèn đốt sống Tố Mai tế chồng là Trịnh Ân. Kế rất độc, một mũi tên giết hai con điểu, vừa thủ tiêu một bà phi quá hiểu biết việc trong cung cấm (Tố Mai), vừa làm hết giận một nữ tướng giỏi, còn nhiều hữu dụng mai sau (Tam-Xuân)! Sau khi làm hai việc, có một không hai ấy, chém bạn giết vợ, có lẽ vừa ăn năn, vừa để chứng tỏ bản lĩnh cao cường của minh, Tống Thái tổ hạ chỉ giới tửu, từ đó cấm dùng rượu mỗi khi có lễ sự và khuyên nên dùng trà thay cho rượu, vì trà vừa tinh khiết vừa hiền hơn rượu, trà uống mãi không say, trà không làm hư đại sự. Vì thế, thưa tiên sinh Elisst eff, tôi, một tiểu sinh nước Việt, dám nói: chén Đại Tống, trước kia dùng để uống rượu, sau đó đổi lại làm chén dùng để uống trà.

Nghe đến đây, nhà học gia Pháp trầm ngâm không kết luận rằng thuyết của tôi đúng hay sai, chỉ gật đầu ra chiều suy nghĩ lung lắm. Trước khi từ giã, tôi mời nhà học giả ký vào sồ vàng, ông S. Elisseeff niềm nở ký tên, hạ bút phê một câu nay tòi còn giữ làm kỷ niệm quí:

“ Avec toule notre reconnaissance à Monsieur SEN, pour avoir fait de notre escale a Saigon, une pierre blan-che sur notre route ».

13-IX-54

Serge Elisseeff

Dịch. – “Đa tạ ông Sển, ông đã, trên bước đường tôi ghé Sai Gòn, giúp tôi ghi dấu cuộc viễn du bằng một viên bạch thạch”.

Dường như chưa bằng bụng, khách nói vói thêm:

– Vậy mà thuở nay chánh phủ qui quốc không khứng: gởi những người thiện chí qua học thêm bên xứ tôi, để ngày nay trở lại trách chúng tôi không sớm đào tạo cho quý quốc những chuyên gia lành nghề.

Nghe mấy lời có hơi chua chát, chủ nhà đánh liều, chát chua trả lại:

– Dạ dám thưa tiên sinh, nói thì dễ, đến khi thực hành mới thấy khó vô cùng. Nghĩ cho cùng, trước đây, muốn học khoa như tiên sinh nói, ít nhứt phải có văn bằng tú tài Pháp. Học xong mấy năm, nếu không có Pháp-tịch thì cũng không trông mong gì gia nhập sở chuyên môn là trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extreme-Orient) và cũng vô phương xuất đầu lộ diện các sở tương đương đời đó. Mà Việt tịch, dầu hèn cũng thề, cũng là quốc tịch của chúng tôi, bỏ sao nên, bỏ sao đành? Cho nên không trách đồng bào chúng tôi, cho đến ngày nay, qua được Pháp quốc, chọn nghề Luật, hoặc nghề thuốc, tương lai thấy sẵn sàng, thêm chắc ăn hơn!”

Hễ đại nhơn thì đại độ. Vốn một học giả chơn thành, khách nhã nhặn siết mạnh tay chủ nhà, từ giã mặt không sắc giận, mặc dầu câu trả lời, gẫm lại, vì quá thành thật, đã gần như trắng trợn.

Phụ trương.

Hình chén Đại Tống (960-1279) (ảnh 1 pl.1).

Kinh-tâm: 185 ly Tày (0m185m/m)

Bề cao:

50 ly Tây (0m05 hay 50m/m)

Giá mua: 49$50 (bạc 1939).

Chỗ và ngày mua: Phòng đấu giá Lagrandiere cũ, ngày 2-10-1939.

Chú thích.

– Chén uống trà đời Tống: miệng rộng, túm lần xuống đến chưn, xem giống hình u con tây (tê giác) tiện tròn, túm đit và để lật ngửa (en forme de corne de rhinocéros renversée).

Danh từ chuyên môn: Trung hoa gọi: Thố hào trản t’ou hao tsien (tasse fourrure de lièvre); cũng gọi “hoàng thố ban trích châu” (boang-t’ou-pan-ti-tchou) (gouttes et perles (dans l’émail) de la couleur du poil de lièvre).

Có khi lại tùy màu khác đi và gọi “tasse plumes de perdrix “(chén màu lông chim đa-đa, chim giá-cô) (thiếu danh từ gọi theo Tàu). Chén nầy rằn-ri, sắc đen sắc trắng xen lộn nhau (PI. VII, C sách Poteries et porcelaines chinoises của bà Daisy Lion-Goldschmidt). Khi khác gọi tắt là “kien”, vì làm ở Kiến An, tỉnh Phước Kiến (Fou-kien). Nhật-bản gọi: Temmoku. Chất bên trong, (gọi cốt của món đồ): đất đen, nặng, da nhám xàm (trước, trong Bách-khoa, tôi gọi đất sa-thạch (grès), nay tôi rõ lại không phải sa thạch, nên xin đính chính), đây là đất đặc biệt tỉnh Kiến An và Phước Kiến có mà thôi.

Men ngoài: khi hồng hồng (màu lông thỏ); khi đen bóng rằn ri (lông đa đa), thường đóng giọt nơi chưn, nơi đít, gọi “giọt lụy” (gouttes de larme); trong chén màu đen, thường ẩn lộ ánh sáng sáng chói chói do chất kim khí lẫn lộn; và vì da có lằn có sọc, do đó người Trung Hoa đặt tên rồi các nước khác họa theo mà gọi: danh từ “fourrure de lievre” và “plumes de perdrix”, người Anh, người Mỹ, cũng để ý mà gọi theo. Những ánh sáng chớp chớp trên món đồ, nguyên là phản ứng của chất sắt, chất kim, do sức nóng của lửa lò biến ra, có chỗ tựu lại thành “vết dầu” (taches d’huile), hoặc “giọt lụy” (gouttes de larme), thảy đều giống y như danh từ đã gọi. Vì không khi nào trong lò lấy ra, cái nào giống cái nào, nên ngày xưa người thợ tin chắc đó là biến hóa phi thường do thần linh ám trợ (người đời Tống rất nhiễm sâu đạo Lão Trang, khác với người đời Đường nghiêng về Phật giáo). Người nay tiến hóa đến cung trăng cũng thám hiềm được, nhưng chưa tìm ra bí quyết chế tạo đồ gốm Tống, có lẽ vì xưa dùng củi chụm lò bằng thứ gỗ gì đó và vật liệu đất trộn, màu pha, gì gì đó, đến nay đã thất truyền, thậm chí ngày nay sử dụng cơ khí tinh xảo thay cho bàn tay người thợ Tống và lò chạy điện hay đốt dầu cặn (mazout) có thề giữ hỏa độ không sai chạy chút nào, thêm vật liệu chọn lọc kỹ lưỡng tinh vi, không sai phân hào nào, vậy mà không làm sao trở lại y như đời Tống được. Trong sach Les poteries et porcelaines chinoises của bà Daisy Lion-Goldscbmidt có kể lại rằng năm 1935, nhà khảo-cồ J.M. Plumer có gặp tại Kien ning (Kiến Ninh, thuộc miền bắc tỉnh Phước Kiến), một đống cao như núi, gồm hằng hà sa số đồ Temmoku hư bề vô dụng của lò xưa bỏ lại, thêm có rất nhiều hộp đất để đựng các món Temmoku lúc đặt vào lò hầm cho chín,

– Các hộp đất nầy (Pháp gọi casettes) chứng rằng đời Tống, nghệ thuật hầm gốm đã tiến hóa tinh vi lắm chớ chẳng chơi. Trong sách kể tiếp, tại tỉnh Giang-Tây, nơi gọi Yunglo gần Kinganfou (Kiết An Phủ), năm 1938, nhà khảo cổ A.D. Brankstón cũng gặp rất nhiều Temmoku tại phủ Ki Ngan nầy, màu gốm da lu (grès) vàng lợt (grès chamois). Thứ Temmoku nay, men mịn, màu tối sẩm, có đốm da qui (écaille de tortue), bên phía trong Temmoku nầy lại có màu lông thỏ (fourrure de lièvre). Có nhiều miểng chén còn cho thấy hình chim chóc, hoặc lá cây giống hệt lá thiệt, có thứ khác thì vẽ màu đen, hình nầy hình nọ trong bộ ô (đóng khung). Thứ chén tro hình lá cây, có gan có chỉ y như thật, nay nghiệm ra khi đó người thợ lấy lá cây tươi đặt vào lòng chén rồi để luôn vào lò hầm, gặp lửa nóng, lá cây cháy ra tro, biến mất, để lại gân, chỉ và cộng cuống của lá mà thôi, rõ ràng đời Tống bên Tàu đã phát minh cách in rập trên đồ sành (décalcomanie) rồi đó. Đủ hiểu đời Tống, họ tiến hóa trong nghề chế tạo đồ gốm đến bực nào. Sách kể tiếp rằng lò ở Ki-ngan-fou, qua thế kỷ XV, vẫn còn thịnh hành.

Hình số 2. – (Xem Pl. 22, fig. 22, 22b trong tập số 4 H.C.Đ.S. “Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa”).

Đây là một cái hũ sành để đựng bài cốt đốt thành tro (Pháp gọi urne funéraire và cho rằng làm vào đời Tống).

Cốt thai là đất nung, lòng để trần, ngoài có tráng men sành trắng ngà trồ rạn, lớp như “ồ nhện” (craquelé en

toile d’araignée), lớp giống da Kỳ Đà (craquelé en peau de lézard) lại có chạm sâu trong cốt thai, hình nhánh và lá cây, dưới lớp men trắng ngà, không có vẽ màu. Nơi nắp và nơi miệng hủ có đắp nổi dún kiểng hoa sen. Trong hũ nầy có đến hai kiểu, biết từ đời Tống, là:

 a) chạm sâu vào cốt thai và

b) đắp nồi hình len cốt thai.

Xong rồi mới áo thêm lớp men cho thêm khéo, vừa che nét chạm, vừa bít kẹt những nơi đắp nổi. Hủ này đào gặp tại làng Đà Hào, Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, lúc làm đường xe lửa xuyên Đông Dương (Trans-Indochinois). Không kể những tài liệu trong các sách Pháp Anh, nói nhiều về hũ đựng tro cốt này, mà cho đến nay vẫn còn tồn tại phong tục người Tàu đem tro cốt người chết của họ về Trung quốc. Nguyên người Tàu rất sợ cảnh chết tha phương, hài cốt lạnh lẽo chôn chỗ đất lạ quê người, nên họ có phong tục trước đây, sống tụ tập làm bảy bang (Phườc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ (Akas), Hải Nam, vân vân và khi chết cũng chôn cất trong nghĩa địa phân biệt của bảy bang ấy. Mỗi năm họ đều có đóng góp tiền chung đậu lo việc cúng quải hồn người chết. Và trừ phi những người có thế lực, nhưng thân quyến bên Tàu đã không còn hay còn rất ít, như Chú Hỏa, Quách Đàm, thì làm mả mồ thật đồ sộ chôn cất tại đây, còn lại bao nhiêu người chết, có lệ chôn quá ba năm thì phải đào mả, lấy cốt, rửa sạch, sắp vào cái tiểu sành hay cái hộp nhỏ bằng cây gỗ sao, niêm phong tử tế rồi gởi hết sang Trung quốc, tỉnh nào theo tỉnh nấy. Thân nhơn được báo tin, đến lãnh hài cốt về, được thêm tiền để chôn cất (nhớ độ sáu đồng bạc, bạc trước 1945). Cũng có lưu manh nhận diện lãnh cốt về bỏ không chôn, miễn được sáu đồng bạc (6$00) đỡ ngặt nghèo, nhưng luôn luôn họ vẫn đùm bọc lấy nhau, như người bạc số không ký quĩ đủ tiền đem xương khô về xứ, thì đã có sẵn bang trưởng hay người đồng tánh xuất tiền làm cho mát dạ người quá vãng, tôn trọng chủ nghĩa có từ đời Hạng Võ: “Phú qui bất hườn hương, như y cảm dạ hành”. Nghĩ cho lính Nhựt trước đây cũng đóng hộp cây cho cốt ve xu và nay lính Mỹ khi chết cũng đem xác liệm về quê. Và cũng vì phong tục đáng khen ấy, cho nên tương truyền đời Tống, khi người Tàu qua đây gây chiến tranh cùng người nước Nam, vùng Thanh Hóa, khi tử trận, có khi họ lựa phong thủy, chôn kín tại chỗ; có khi họ liệm hài cốt tướng tá hay binh sĩ vào những hũ sành loại này.

Hũ có cái da trơn, vẽ chạm chim, lá, có khoét ba chân dính nhau bằng một vành tròn bằng đất nung, hình như để đặt đèn chong dưới hũ cho ấm nắm tro tàn, chớ vẫn không cho lạnh hồn lạnh cốt. Có thứ thật lớn, vẽ chim lạc và hoa lá màu đỏ, tôi từng thấy ở viện bảo tàng ở Bruxelles, ắt dành cho hạng tưởng hay quan chức to, ở viện Guimet tại Paris cũng có một cái; có cỡ trung trung lối hai tấc Tây bề cao, da rạn, vẽ hoa vị đỏ sáu kiếng, có thứ da trơn, có thứ vẽ hồi văn rất khéo, có thứ in hình nổi kiểng sen như hũ tại nhà. Lại có hũ nhỏ có một tấc Tây bề cao, theo sách dùng để đựng mễ cốc cho người đã chết, bao nhiêu đồ đất nung da gốm da lu có từ đời Tống ấy, ngày nay các nhà sưu tập vẫn quí nó hơn đồ sử men lam và mua rất cao giá. Nét vẽ tuy mộc  mạc, nhưng khi xem kỹ mới thấy điêu luyện vô cùng, vì mỗi nét đều có một ý nghĩa kín, dường như người họa sĩ Tống nuôi một ẩn ý giấu trong nét bút, nói cách khác, nét bút của họ như “nhốt” trong hình bông lá, chim cò, một ảnh hưởng không nói ra của đạo Lão, Trang, cũng như họ đã nhốt tinh thần và nét bí ẩn đạo Phật trong kiểng sen, cuống sen bay lá sen thi vị hóa mà ngày nay nhờ lạc tinh sau bảy tám trăm năm bị chôn dưới đất, lại trỗ màu ngọc thạch, da céladon, có nét rạn hồng hồng kiều “ổ nhện” càng tăng nét độc đáo. (Xin xem kỹ chương 3 tập “Khảo về đồ sứ cổ Trung-hoa”, H.C.Đ.S. tập số 4). Có nhiều lăng mộ vùng Thanh Hóa xưa đến đời Hán

(xem B.E.F.E.O.).

Những năm “cải tạo” ở Bắc Việt

Trần Huỳnh Châu

Post by Sơn râu 14 Dec 2025

Phần 4: Rét, Nóng và bịnh tật

Đói rét vẫn đi liền với nhau. Càng đói càng thấy rét, và càng rét càng thêm đói.Chúng tôi được chở ra Bắc vào đầu mùa đông năm ’76 là mùa đông rét nhất trong mấy mươi năm. Đêm rét nhất năm đó là 3o C. Thế mà trại giam không có cửa kính, nằm trên sập gỗ và chúng tôi thiếu áo ấm, thiếu mền, thiếu ăn. Có bao nhiêu áo quần đem mặc cả vào người, kể cả áo mưa. Có bao nhiêu khăn lông đem quấn cả vào đầu vào cổ. Có bao nhiêu tấm nylon đem che loạn cả lên. Người nào trông cũng giống như đàn bà đẻ ở nhà quê ngày xưa. Buồng nào trông cũng như buồng đẻ. Nhưng không có lò than để sưởi. Lạnh nhất là những hôm gió bấc mưa phùn tháng chạp ta. Giá mỗi buổi sáng có một tô phở nóng nước béo ăn vào thì chắc ấm được ngay. Nhưng buổi sáng không có ăn gì. Buổi trưa ăn đói. Buổi chiều ăn đói. Cho nên bụng thì cồn cào lép kẹp, quần áo thì mong manh, mà rét năm ’76 kéo dài gần hai tháng liền. Rét liên tục từ Noël tới Tết. Sau Tết trời mới bắt đầu dễ chịu lại. Năm đầu tiên rét nhiều và thiếu áo ấm nhưng được cái là chúng tôi mới ra chưa phải lao động. Những năm sau thì ít rét hơn, và chúng tôi đã được gia đình gởi áo ấm ra (trại cũng có phát cho mỗi người một cái áo trấn thủ, tức là loại áo vải may kẹp bông bên trong nhưng bông mỏng thôi, và chỉ che được từ ngực tới giữa bụng, không có tay), nhưng lại phải làm lao động ngoài trời.

Mùa đông đầu tiên, có người rét quá, lấy tấm nylon quấn vào, lấy áo mưa nylon mặc vào mà ngủ, tưởng là ấm, nhưng vì hơi nước trong người bốc ra không bay hơi được, người ướt đẫm, sáng ra thì bị cảm. Đầu hôm còn ngủ được, từ nửa đêm trở đi sao mà nước mát, đến thế!Anh Lê Thành Châu, (Tổng Giám đốc Khai Hoang Lập Ấp), nổi tiếng là sợ đỉa, nhưng đến ngày tắm giặt thì cũng bất chấp đỉa, cũng nhào xuống nước ngay.

Lúc nào chúng tôi cũng chỉ mặc có cái quần đùi. Buổi trưa nằm trong trại giam, người nào cũng chỉ có cái quần đùi, nằm sát nhau như cá hộp, hầu hết đều da bọc xương, trời thì nóng bức. Có lần giữa trưa nóng quá ngủ không được, tôi nhổm dậy nhìn quang cảnh đó và thầm nghĩ quá đúng là địa ngục rồi đây. Và tôi nghĩ giá có cái máy ảnh chụp được cảnh chúng tôi gầy gò, bụng lép, ngực đầy xương sườn, nằm thiêm thiếp sát bên nhau, mồ hôi nhễ nhại, trong trại giam đóng chặt giữa buổi trưa hè nóng bức như thế này mà gởi qua Pháp cho báo Paris-Match đăng lên, thì chắc chắn không còn ai có thể nghi ngờ gì về cái địa ngục Cộng sản được nữa. Thanh Hóa nóng hơn Quảng Ninh vì chúng tôi ở xa biển và chịu ảnh hưởng gió Lào.

Trời nóng như thế, tắm giặt dơ bẩn khổ sở như thế, và ăn đói thì bệnh tật xảy đến là chuyện dĩ nhiên. Hầu hết chúng tôi đều mang bệnh trong mình. Kẻ bệnh phổi, người teo chân, kẻ đau dạ dày, người bệnh trĩ , kẻ thần kinh suy nhược, người đau răng… chẳng mấy ai thoát được. Mùa hè ’79, tất cả chúng tôi bị sảy ngứa cùng mình. Buổi trưa, buổi tối, ai cũng gãi sồn sột. Ai không lở lói, thì bị sảy ngứa là lấy làm may mắn rồi.

Mùa đông năm ’78 và đầu mùa hè năm ’79, một số chúng tôi lâm vào tình trạng kiệt sức. Chỉ có 10% là tuy sức khỏe xuống nhưng không quá tồi tệ, còn có 90% là rất gầy yếu trong đó chừng 30% chỉ còn da bọc lấy xương.

Thuốc men của trại thì gần như không có gì. Hồi ở Quảng Ninh, đa số chúng tôi bi sán lãi, vì rau toàn bón bằng phân người. Cầu tiêu thì trong phòng giam. Mỗi ngày chúng tôi phải dọn cầu, gánh thùng phân ra, phân và nước tiểu nhỏ giọt vương vãi trên sàn. Cứ thế mà sán lải lan tràn. Ngày nào dọn phân cũng thấy mấy con lải đũa trong thùng phân. Thế mà báo cáo với trạm y tế thì cán bộ y tế trả lời là không có thuốc lải, và “giun thì ai chả bị, các anh nên khắc phúc, chết chóc gì mà sợ giun”.

Thuốc men đã không có, thuốc của gia đình người ta gởi ra lại kiểm soát, hạn chế. Cán bộ y tế khi kiểm soát thuốc trong Nam gởi ra, cứ phàn nàn là sao thuốc men trong Nam nhiều loại nhiều thứ rắc rối qua, chẳng biết thứ gì dùng vào bệnh gì. Ngoài Bắc thì chỉ có mấy loại thôi, giản dị lắm. Đã không biết thuốc nhưng lại cứ kiểm soát. Có lần tôi bị giữ thuốc lại, xin mãi mới được phát. Khi phát ra, cán bộ y tế giảng đi giảng lại mãi rằng phải dùng thuốc cho đúng, rằng thuốc Dénoral là thuốc sốt rét… (thực ra thì Donéral là thuốc trị sổ mũi!)

Năm đầu ở Quảng Ninh thỉnh thoảng còn có phát Rinifon, Kavet.. Từ mùa hè năm 77 thì tịt luôn. Đau bụng, chỉ phát lá ổi để nấu mà uống. Thỉnh thoảng cho mấy thứ lá, ai có cảm thì nấu nồi nước lá mà xông. Xông không khỏi, hoặc có bệnh trầm trọng khác thì cho sang Bác sĩ Của châm cứu. Châm cứu không hết thì anh Của đưa lên trạm xá của trại, có cán bộ y tế khám. Cán bộ y tế chỉ là một y tá và trạm xá cũng chẳng có thuốc men gì. Có lần bác sĩ Của cõng một bệnh nhân lên trạm xá, anh em chúng tôi cười và chỉ trỏ ”hãy trông bác sĩ cõng bệnh nhân đến cho y tá khám”. Thỉnh thoảng có chích cho mũi thuốc thì không có thuốc sát trùng, chỉ lấy cục bông nhúng vào luộc luộc ống tiêm, chà chà trên da rồi chích.

Cũng có trường hợp cho đi bệnh viện. Nhưng đến nhà tù Cộng sản mà cho đi bệnh viện thì ít hi vọng trở về….

Ông bà ta nói “khéo co thì ấm”. Nhưng lạnh cỡ 3o C mà không có lò sưởi , không có cửa kính, không có mền, không có áo ấm, chỉ mặc mấy lớp quần áo mỏng và đắp một cái chăn mỏng thì co cách nào cho ấm nổi, thì không ai ngủ nổi.

Ông Lê văn Đồng, Thẩm phán bị bệnh phổi và đã cao tuổi, suốt đêm nằm ho. Anh Đỗ Kế Cầu bị bệnh suyễn suốt đêm nằm bơm thuốc (thuốc và bơm là của nhà mang đi) và nhiều phen không thở được . Co vào cũng rét, duỗi ra càng rét, nằm nghiêng cũng rét, nằm ngữa càng rét, tay để trong mền nhưng mền mỏng quá mà tay không mang găng nên bàn tay cóng lại, vành tai lạnh quá mất cả cảm giác. Mùa đông năm ’76 quả thật là mùa đông rét kinh hoàng của chúng tôi.

Khoẻ như bác sĩ Văn văn Của mà rét còn không ngủ được. Không ngủ được thì lại đói, đói quá. Nửa đêm, ông Của dậy bàn với ông Canh (Thiếu tá) kiếm cách gì cho đỡ đói, đỡ rét. Thuốc lào hết rồi. Thuốc điếu không có. Thực phẩm dự trữ không còn gì. Loay hoay một hồi rồi ông Của tìm được gói muối nhỏ trong xắc. Bèn lấy ra cùng với ông Canh quẹt muối vào lưỡi cho mặn miệng rồi uống nước. Nhưng uống nước với muối vào thì bụng càng cồn cào thêm. Tôi nằm bên cạnh, rét quá không ngủ được nghe hai anh thì thầm bàn với nhau mà xót xa. Tôi tuởng tượng giá mình còn cục đường nhỏ thôi. Môt cục đường vào bụng được bao nhiêu calories. Người ta hay nói đùa “hột muối cắn đôi, hột đường đớp hết”. Không biết lúc đó tôi còn cục đường thì có thức dậy lấy chia cho anh Của và anh Canh nổi không. Giá có cục đường chắc phải nghĩ ngợi găng lắm. Nhưng không có gì, thôi đành nằm yên chịu rét. Lúc ấy chúng tôi đang ở phòng số 3 trại Quảng Ninh, và đang là tháng chạp năm Thìn. .

Mùa hè thì nóng. Trại Quảng Ninh tương đối khá vì gần vịnh Hạ Long, khí hậu không đến nổi quá nóng, và nhà giam lợp ngói, nước tắm đầy đủ. Trại nầy vốn khi xưa là một trại nhà binh Pháp nên có hệ thống nước lấy nước suối trên núi xuống, các bồn nước lúc nào cũng đầy.. Chỉ phiền là khi trời mưa thì nước suối đục, nước trong bồn cũng đỏ ngầu. Nhưng được thế cũng quý lắm rồi, cũng có chút tiện nghi của “thực-dân đế-quốc” để lại.

Khi vào trại số 5 Thanh Hóa, mà phân trại B và phân trại C là hoàn toàn của “Xã hội chủ nghĩa” xây cất, thì buồng giam quá nóng, và không đủ nước dùng. Khi đến phân trại B, chúng tôi có đào thêm giếng và lúc đó còn trong mùa mưa, mạch nước lúc nào cũng đầy. Còn phân trại A là nơi có bộ chỉ huy của trại giam số 5 thì nguyên là một khu cơ sở gì không rõ, của Pháp xây cất từ trước năm 1945, nên cũng còn được.

Mùa hè nóng nực và khổ sở nhất cho chúng tôi là mùa hè hạn hán năm 1979. Lúc đó chúng tôi ở phân trại C. Nước không có chúng tôi chỉ tắm rửa bằng nước ruộng, nước ao. Theo quy định, một tuần lễ chỉ được tắm hai lần, sau buổi làm lao động khổ sai ngoài đồng. Nước ao, kế liền đó là ruộng, trâu dẫm ở đó, phân bón ruộng, phân tưới rau cũng chạy ra đó, nước đục ngầu và đầy những đỉa, thế mà đến ngày tắm giặt là chúng tôi mừng lắm. Chúng tôi cũng nhìn thấy nước đục, nước dơ bẩn đấy, nhưng vẫn cứ tranh nhau nhảy xuống.

Từ Quảng Ninh vào Thanh Hóa, nhóm chúng tôi khoảng 500 người (hồi mới ra thì 800 người, nhưng đã được đưa trước vào trại 90A một số rồi), bị chết khỏang 30 người vì bệnh trong thời gian ’78, ’79.

Anh Lưu Trương Không (?) (trước là Giám đốc tại Bộ Chiêu-Hồi) bị chết vì biến chứng của bệnh phù thủng. Anh Chung (Thiếu tá Cảnh Sát) đang ngồi sinh hoạt học tập, bỗng gục xuống chết vì bệnh tim và kiệt sức. Khi di chuyển từ Quảng Ninh về Thanh Hóa, anh Bé (Trung tá) bị bệnh chở ra bệnh viện Hòn Gay rồi không thấy vào Thanh Hóa, về sau nghe nói đã chết. Anh Minh (Đảng Dân Chủ), anh Ngô Chuẩn (Cảnh Sát) đi bệnh viện Thanh Hóa, không thấy trở về. Còn nhiều nữa, nhưng tôi không nhớ tên.

Kinh hoàng nhất là Trạm xá phân trại B trại số 5 Thanh Hóa, nơi các bệnh nhân nằm mà chỉ chờ chết. Tháng 8 năm 1978, khi chúng tôi mới từ Quảng Ninh vào Thanh Hóa, chúng tôi đã đếm được 18 tù hình sự chết nội trong tháng đầu. Mà số tù hình sự chết ở phân trại nầy chỉ độ 300 thôi. 300 tù mà một tháng đã chết 18 người! Và nhìn vào trạm xá thì thấy các bệnh nhân trông đúng là các bộ xương. Anh em để ý kỹ thì thấy dường như chỉ có một cái hòm dùng đi dùng lại. Mỗi lần có người chết, bỏ vào hòm khiêng ra, nhưng chắc là chỉ chôn xác mà không có hòm. Hòm có lẽ được khiêng trở vào lúc ban đêm, để lần khác dùng nữa.

Anh Bùi văn Bảy, (trước là Thiếu Tá, chuyên viên điện toán tại Bộ Cựu Chiến Binh), bị kiệt sức và lao phổi ho ra máu, người chỉ còn da bọc xương và xanh mét. Thế mà vẫn để nằm ở trạm xá phân trại C, sống lây lất nhờ anh em trong tù giúp đỡ thuốc men và thức ăn.Trường hợp anh Bảy là một trường hợp rất đáng thương tâm. Anh đi ở tù, chị Bảy bệnh tim nặng chết vào năm 1977, một đứa con nhỏ chết vì té lầu, những đứa còn lại phân tán nhờ vã bà con sống cho qua ngày. Bà con cùng xóm với gia đình anh Bảy thấy hoàn cảnh qua thương tâm và thấy anh Bảy trước kia chỉ là chuyên viên điện toán lo về hồ sơ cô nhi quả phụ tại Bộ Cựu Chiến Binh, nên họp nhau làm đơn xin cho anh Bảy về, theo tinh thần “nhân dân làm chủ”. Nhưng đơn của nhân dân lối xóm gởi đi, Công an chẳng thèm trả lời, trong khi đó anh Bảy không được gia đình tiếp tế vì các con còn nhỏ và quá nghèo, nên đã kiệt sức chỉ còn nằm đợi chết trong tù.

Còn nhiều trường hợp lắm nhưng tôi không nhớ tên. Trong trại giam, buồng nầy buồng kia ngăn cách nhau, cấm không cho liên lạc với nhau nên thường chỉ thấy mặt quen mà không biết tên.

Những bệnh không có tính cách cấp tính như trĩ, đau răng, đau dạ dày…thì trại coi như không, bắt đi làm lao động như thường và không có thuốc men gì cả. Đau dạ dày vẫn phải ăn mạch cả vỏ, và ăn sắn như thường, nếu không muốn nhịn đói hoàn toàn. Trên nguyên tắc, mỗi ngày ai bệnh có thể ghi tên xin ăn cháo. Nhưng thực tế, trong thời gian ăn mạch và sắn thì việc ghi tên xin ăn cháo rất là hạn chế vì lẽ không có gạo nấu cháo. Mỗi ngày một đội chỉ được ghi cho một người ăn cháo thôi. Nếu có nhiều người bệnh, cũng chỉ chọn lấy một người. Trong nhà tù Cộng sản , một tô cháo ăn với muối cũng là ân huệ đặc biệt lắm đấy.

Nhức răng xin muối ngậm cũng khó khăn lắm. Cán bộ bảo là theo nội quy, cấm phạm nhân giữ muối. Chúng tôi hiểu là muối có tác dụng làm mau hư hại các song sắt của trại giam. Nhưng điều buồn cười là trại giam lợp tranh, vách đất, thì nếu muốn trốn, việc gì người ta phải tính chuyện phá song sắt. Đối với trại giam ở Miền Bắc, việc trốn ra khỏi trại không khó, cái khó là làm sao thoát được về đến nhà hay đến chỗ an toàn mà không bị bắt lại.

Bệnh đau răng rất là phổ thông trong trại giam. Nhiều người bị sưng hàm, sưng mặt. Chính tôi cũng bị sưng mặt lên rồi. Đầu năm 1980, tôi vừa về đến nhà, vợ tôi là Nha sĩ, phải mổ ngay vì thấy cả mấy chân răng đều làm mủ , và mủ đã bắt đầu lan ra về phía trên mũi rồi.

Mùa đông thiếu áo, mùa hè nóng và dơ bẩn, quanh năm đói, bệnh tật thì “khắc phục”. Đảng và Nhà nước Cộng sản chỉ biết nhốt chúng tôi và bắt chúng tôi làm khổ sai, chết thì chôn..

Trước kia, trong chế độ Cải Huấn của ta, mỗi khi có tù chết trong trại giam là Biện lý đến điều tra, quy trách cho Quản đốc Trung Tâm về vấn đề chữa bệnh cho tù nhân, hạch hỏi tại sao không đem đi bệnh viện kịp thời. Trung Tâm phải báo ngay cho thân nhân người chết theo thời hạn luật định, để thân nhân đến còn nhìn thấy được thi hài và có quyền khiếu nại nếu thấy có điểm nghi ngờ.

Còn trong chế độ cải tạo của Cộng sản, chết là đem chôn ngay, chẳng thông báo cho thân nhân gì cả. Hồi ở trại Long Thành, tôi thấy ông chồng bà bác sĩ Vũ thị Thoa bị chết trong trại, bà Thoa ở Sàigòn chỉ cách Long Thành có mấy chục cây số, mà không có thông báo gì cả, đem chôn luôn. Một anh khác, là nhân viên Phủ Đặc ủy Tình Báo, sau khi anh chết trong trại bốn tháng rồi, mẹ anh vẫn còn gửi thư và quà đến trại cho anh vì tưởng con mình còn sống! Còn nói gì đến trại “cải tạo” Miền Bắc xa cách Miền Nam, ai hơi đâu mà thông báo. Chết thì chôn ngay. Không cần hòm.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 14 Dec 2025

13. Dược Sĩ Đại Úy Nguyễn Văn Tùng

Vũ Văn Tùng tốt nghiệp Dược khoa Đại Học Y Nha Dược Sài Gòn. Chủ nhiệm Nguyệt san Đất Sống 1964 của Sinh viên Dược khoa, Tổng Thư ký Tập san Quân Y Quân Lực VNCH, Nguyệt San Truyền Sinh 1970 của Bộ Y Tế; Nguyệt San Y Tế tại Hoa Kỳ. Di tản sau 1975, hành nghề dược sĩ tại Canada và Mỹ. Hiện cư ngụ tại Little Saigon, Nam California. Tác phẩm: Hoa Đồng Nội, tập truyện (2001); Thung Lũng Hoàng Hôn, tập truyện (2003); Vườn Địa Đàng, tập truyện (2007).

Dược sĩ Đại úy Vũ Văn Tùng

Viết Về Nghiêm Sỹ Tuấn

Tôi từ nhà in trở về trường Quân Y thì nhận được điện thoại của K. (Bùi Khiết). Giọng nói vướng mắc và nghẹn ngào khiến tôi nghi ngờ những điều nhận được qua chiếc máy nhỏ: “Tùng … Tùng … Nghiêm Sỹ Tuấn chết rồi, chết ở Khe Sanh sau khi lên Đại Úy”.

Những cảm giác châm đốt, tê dại chạy trên khắp thân thể. Tôi ngơ ngác. Những hạt mồ hôi thoát vội, thấm ướt bàn tay vẫn còn vướng mực. Tôi chỉ còn nghe thoang thoảng những lời K. nói rất nhiều. Những ý nghĩ về Tuấn chiếm cứ trọn vẹn và dầy đặc trong đầu óc. Có lẽ nào, có lẽ nào Tuấn lại chết nhỉ. Tôi muốn người đối thoại phải xác nhận thật nhiều về điều vừa nói. Tôi hoàn toàn bất động lúc này. Tôi thẫn thờ đặt chiếc ống nghe về chỗ cũ. Một hồi chuông điện thoại thứ hai đến với tôi. Điện thoại của Q. (Lê Sỹ Quang) từ Hóc Môn gọi về. Khung cảnh xung quanh nhòe dần. Tôi chớp mắt thật nhiều. Thật buồn! Thật buồn! Hình ảnh hớn hở như sẵn sàng chờ đón một sự bất ngờ trong đêm mãn khóa sẽ chẳng bao giờ đến với Tuấn. Thế rồi chúng tôi chia tay.

Tôi không gặp lại Tuấn. Tôi chỉ nhận được một bức thư của anh. Chúng tôi hẹn nhau sẽ nói chuyện nhiều trong dịp Tết Mậu Thân. Những biến cố dồn dập đưa đến là nguyên nhân chính đã chiếm đoạt mất cơ hội hẹn hò. Tôi gởi thư đi và chưa nhận được thư trả lời thì tin Tuấn mất đưa tới. Tôi giở bức thư cũ và đọc đi đọc

lại nhiều lần:

Dakto, 28-12-67

Tùng

(1) … Sau đây xin tóm tắt hành trang của tôi từ ngày chia tay ở Trường Quân Y sau buổi dạ vũ đầy hơi người và phấn sáp nước hoa.

(2) Tôi bắt đầu lội từ 11-8-1966. Tới nay đã tham dự 11 cuộc hành quân hay chiến dịch. Dài nhất 78 ngày, ngắn nhất 2 ngày, có mặt tại đủ 4 vùng chiến thuật. Ba lần ở địa đầu nước Annam Cộng Hòa. Một Saut trận ở mật khu Thới Lai Cờ Đỏ thuộc Vùng 4. Một lần bị thương cũng ở Vùng 4 trong cuộc đi ngắn nhất. Ngắn nhất vì trúng đạn được về, chứ không phải chính nó ngắn có hai ngày thôi đâu. Hai tháng khập khễnh dưỡng  thương ở nhà. Tái xuất giang hồ từ đầu tháng 7-67 và bây giờ mừng lễ Giáng sinh ở Kaktom sau khi leo núi xuống đèo 15 ngày ròng rã. Đã lên ăn ngủ trên mấy đỉnh 1416, 1556. Đại khái thì nhiều mệt nhọc mà cũng nhiều thích thú. Giá có nhiều hứng thì ít ra đã có 3-4 ký sự chiến trường rồi đấy. Nhưng thấy rằng kể thì nhiều, nhưng kết quả chẳng bao nhiêu, nên cứ mặc cảm anh hùng rơm, bèn thôi hết.

(3) Tôi vẫn nhận được Tập San Quân Y đều. Cũng được Tập san BV 2DCK, trong đó các bạn thở than quá xá. Đọc chỉ thêm rầu và bực mình.

(4) Sau cuộc đi này – khoảng Tết Mậu Thân, tôi sẽ về Sài Gòn. Lúc đó sẽ gặp lại các bạn và làm lại cuộc đời. Đói rách quá rồi.

Thân ái,

Nghiêm Sỹ Tuấn

Bức thư tóm tắt gần đủ cuộc sống quân ngũ của anh. Rất tiếc không được phổ biến tập nhật ký của anh đã được viết tại nơi lửa đạn trong những ngày hành quân. Tình nguyện vào đơn vị Dù, tham dự những cuộc hành quân khắp nơi. Đứng trước sự sống chết trong gang tấc thế mà anh vẫn thản nhiên và vẫn cho rằng: “kể thì nhiều mà kết quả chẳng bao nhiêu”.

Tham vọng của anh quá lớn, anh muốn nhiệm vụ hiện tại phải thật hoàn toàn. Anh không muốn ta thán trước hiện tại dù hiện tại đó là gì đi nữa. Ta thán buồn phiền chỉ khiến ta “bực mình”. Anh không tìm kiếm những sơ hở những lỗi lầm để quy trách nhiệm hay phê bình bừa bãi. Anh thận trọng từ hành động nhỏ. Tất cả tao thành một Nghiêm Sỹ Tuấn trầm lặng, không phung phí lời nói. Anh im lặng để hành động. Phải sống hay làm việc bên anh mới thấy rằng Nghiêm Sỹ Tuấn là con người hành động đúng nghĩa. Anh chấp nhận hiện tại với tất cả hăng say cuồng nhiệt đến độ quên cả bản thân mình nữa. Khi tất cả đã qua đi, anh lại giơ tay chào đón nhiệm vụ mới với tất cả những khó khăn và gai góc.

Nói thật ít, làm việc thật nhiều. Với một dáng điệu nhỏ nhắn nhưng chứa đựng một sức mạnh vô biên, một tinh thần vững mạnh, tuyệt đối không tìm thấy ở những người khác. Tất cả đặc biệt. Đặc biệt về con người Tuấn, về nếp sống, về suy tư, về hành động, về cách cư xử, khi gần anh tôi ngạc nhiên không ngờ Nghiêm Sỹ Tuấn cởi mở đến thế. Anh cười thật dễ dãi, và thẳng thắn trái hẳn với một vài lời lẽ khắc nghiệt, phê bình anh có “thái độ khinh người”. Một người bạn nói với tôi đây chỉ là một “hành động sợ hãi Nghiêm Sỹ Tuấn”. Quả thật những lời phê bình chỉ trích không ngoài mục đích hẹp hòi để cố tình tạo ảnh hưởng lấn át ngôi sao quá sáng Nghiêm Sỹ Tuấn. Anh đã có một đất đứng quá vững chắc trong lòng những người đồng lứa. Nghiêm Sỹ Tuấn xứng đáng là mẫu mực lý tưởng.

Khi tôi viết những hàng chữ này không biết bức thư gửi đi đang lưu lạc đến phương trời nào? Chắc không bao giờ đến tay Tuấn nữa. Tôi biết viết như thế này là lạm dụng người đã khuất. Nghiêm Sỹ Tuấn sinh ngày 7-2-1937 tại Hà Đông*, Bắc phần. Kể theo âm lịch thì Tuấn được 33 tuổi ta. Cũng như đa số các trẻ em miền Bắc, anh không được tới trường học từ hồi nhỏ để theo học lớp đồng ấu hay mẫu giáo. Tuy nhiên nhờ ông thân sinh, anh đã học vỡ lòng tại gia đình vào hồi 7 tuổi. Tuổi này đáng lẽ phải theo học những lớp cao hơn. Mãi đến năm 14 tuổi anh mới thực sự cắp sách đến trường. Có lẽ vì lý do muộn màng này đã khiến anh phải làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn để bù đắp vào những ngày đã mất.

Những cố gắng của anh không thừa và đến năm 1965 thì anh tốt nghiệp Y khoa Bác sĩ. Chỉ cần một con tính nhỏ đủ thấy anh đã mất 14 năm học để trở thành y sĩ. Khi bước chân tới ngưỡng cửa trường anh đã 14 tuổi và anh học ngay lớp Nhất. Như vậy Tuấn đã không học bậc tiểu học. Điểm đặc biệt là từ lúc đi học đến khi ra trường anh không hề bị rớt một khóa nào. Bảy năm Trung học và bảy năm Đại học. Hầu hết học sinh niên khóa 53-54 trường Nguyễn Trãi đều biết Tuấn. Tới niên khóa 55-56 anh đổi sang trường Chu Văn An với một phần thưởng ưu hạng về các môn: Việt văn, Hán văn, Pháp và Anh ngữ. Tôi phải mất khá lâu mới đọc hết những phần thưởng ban khen học sinh Nghiêm Sỹ Tuấn. Sinh trưởng trong một gia đình không giàu và thật đông anh em, tới trường muộn màng thế mà anh vẫn cố gắng tiếp tục nghiệp bút nghiên cho đến thành công. Quả thực là có nghị lực và ý chí. Tôi còn nhớ đến thăm Tuấn vào một ngày mưa, căn nhà đặc biệt của những gia đình Việt Nam với tất cả những thiếu thốn cố hữu của nó. Một hàng tủ gỗ thấp tựa lưng vào tường mang đầy ắp những cuốn sách ngoại ngữ, được chăm sóc và xếp đặt thứ tự. Khi chúng tôi bước vào nhà, trời đổ mưa dữ dội. Tuấn kéo ghế. Anh cười tự nhiên và nói với người em đi lấy chậu hứng mưa dột để khỏi ướt sách. Anh không mặc cảm mảy may gì hết và chúng tôi tiếp tục im lặng ngồi ngắm mưa. Những kết quả tốt đẹp trong lãnh vực học vấn của anh là do sự cố gắng không ngừng nhưng ít ai, ngay đến cả người trong gia đình, thấy anh phải vất vả chúi mũi vào sách vở. Con người trầm lặng, nghĩ nhiều hơn nói đã ảnh hưởng rõ rệt đến tất cả mọi hành động của anh. Ngoại ngữ đã lôi cuốn anh nhưng anh vẫn khiêm nhường từ việc học tới việc trình bày kiến thức ngoại ngữ. Tôi còn nhớ trong những lần đèo Tuấn trên chiếc Scooter chạy vội trong thành phố ngập lụt, nghẹt người và đã tò mò hỏi anh học ngoại ngữ với ai, như thế nào? Anh không do dự đáp tự học lấy: hai năm học một sinh ngữ và cứ như vậy suốt mười năm trời. Một lý do đã giúp đỡ anh đã có đủ điều kiện theo học tại Trung và Đại học là nhờ những học bổng của Bộ Giáo Dục và Bộ Y Tế.

Nếu không có học bổng của Bộ Y Tế tôi chắc Tuấn khó theo học Y Khoa được. Khi thi đậu xong tú tài phần hai, anh hỏi ý kiến bà thân sinh anh, muốn anh học gì. Anh đã chiều bà học Y Khoa. Có lẽ ý kiến này đã khiến bà thân sinh đã nuối tiếc nhiều sau khi nghe Tuấn tử trận ở Khe Sanh.

Những ngày còn là học sinh, trong gia đình không dư dật, anh đã hiểu thế nào là giá trị thiếu thốn cho nên anh tỏ ra luôn luôn bao dung, rộng rãi với những quân nhân thuộc cấp. Vấn đề phí phạm đồng tiền chắc không thể tìm thấy được ở anh. Thường thường anh lãnh lương để cho đi hơn là tiêu cho cá nhân anh hay đưa về nhà. Những quan niệm vị kỷ chắc sẽ cười những hành động này và không ngại ngùng tặng những lời mỉa mai. Nhưng hãy nhìn xa một chút, hãy gần gũi với những người quân nhân chất phác có lẽ vì thế nên Nghiêm Sỹ Tuấn thường lặng lẽ lấy tiền của mình giúp người. Tuy vậy chẳng bao giờ tỏ ra một dấu hiệu là làm tốt hay chứng tỏ hành động giúp đỡ vô tư cho đến khi anh mất hành động này mới được phát giác. Trong đơn vị anh có một người binh sĩ tử nạn, anh không ngần ngại đến viếng người đã khuất, tự tay treo lên chiếc máy hình của chính anh vào bàn thờ để tặng người đã khuất. Không biết lúc đó anh có cảm nghĩ như thế nào? Nhưng tôi biết chắc chiếc máy chụp hình đối với anh chỉ là một nhu cầu cần thiết để ghi lại những nơi mà anh đã đặt chân đến, trong lúc vội vã không thể ghi lại hết được tất cả những chi tiết vào trong những trang giấy nhỏ hẹp. Anh đã từ bỏ chiếc máy chụp hình. Một hy sinh hiếm có. Tôi đã tỉ mỉ ngắm nhìn những bức hình anh chụp trong cuốn album nhỏ. Tất cả những chi tiết của tấm hình được ghi chép rõ ràng, ngày giờ nơi chốn năm tháng …

Có lẽ Tuấn không dành cảm tình riêng cho một người nào. Anh cư xử một cách thẳng thắn, không thiên vị. Anh nói thẳng. Tôi chưa thấy anh phê bình một người nào trong vắng mặt. Có thể nói những ai biết Tuấn đều mến anh. Dù anh rất ít nói. Với quân đội anh đã có một ma lực lôi cuốn sự kính mến. Quả thực tình đồng đội

của anh đã vượt mức thông thường, nó bao dung rộng lớn quá cho đến khi anh hy sinh đã khiến cho mọi người mất hẳn chỗ nương tựa. Không còn gì có thể diễn tả đủ khi người binh sĩ Dù, chỉ biết anh trong hơn mười tháng trời, đã đến mộ anh hàng ngày để khóc thảm thiết như mất một người ruột thịt.

Cũng ngay trong cuộc hành quân tại Khe Sanh, khi nghe Nghiêm Sỹ Tuấn tử nạn vì đạn của địch, một người thiếu úy trong tiểu đoàn anh như điên dại, khi bắt được một Việt cộng tại trận đã căm hờn coi hắn như thủ phạm giết Tuấn, người sĩ quan nổi giận vừa khóc vừa đấm tới tấp vào mặt tên địch cho tới khi tên VC bị lòi mắt ra ngoài mà anh không hay biết gì cả. Nguyên nhân nào, sự kiện nào đã khiến người sĩ quan hành động như vậy. Nếu không phải Nghiêm Sỹ Tuấn là thần tượng của anh, của tiểu đoàn 6 Dù. Khi tình nguyện vào đơn vị Dù, anh đã tìm cớ làm yên lòng cha mẹ, “Con vào Nhảy Dù như thế này thì được gần nhà luôn luôn, nếu không, đi đơn vị khác tại nơi đèo heo hút gió thì khó về nhà lắm.” Nhưng trong bức thư anh gửi cho tôi anh đã kiêu hãnh nhắc tới vùng hỏa tuyến, vùng địa đầu của đất nước nhỏ bé. Tôi còn nhớ những ngày cuối của lớp Trưng tập 7, anh rủ tôi tình nguyện vào Dù. Tôi chở anh trên chiếc Vespa nhỏ dưới trận mưa ngập lụt cuối mùa để tới trại Hoàng Hoa Thám. Tôi đã không được nhận vì nhiều lý do. Tuấn hơi buồn vì Tuấn đã thúc giục tôi hơi nhiều. Khi mới vào đơn vị Dù, đã có nhiều huyền thoại về con người nhỏ bé này.

Trong những buổi thực tập, anh thích nhảy cao hơn cả những người quân nhân Dù chuyên nghiệp. Một thân hình nhỏ bé đu đưa như chiếc lá rụng trong cơn gió lộng đã tạo nên niềm mến phục, kính nể nơi những người quân nhân mũ đỏ. Một kỷ luật chỉ được thực hiện thi hành nghiêm chỉnh nếu người chỉ huy ý thức và thi hành một cách tuyệt đối, từ đó đem lại những ấn tượng cao đẹp cho quân nhân trực thuộc.

Với Nghiêm Sỹ Tuấn người ta thấy ngay một kỷ luật thép và đã được thi hành bằng tình thương. Chính anh đã tự mình khép vào khuôn thước, vào nghiêm minh, không cần phát biểu và đã đem những thành quả tốt đẹp trong trung đội. Nếu tất cả mọi người đều nhận rõ cương vị của mình như Tuấn chắc đất nước này đã không đến nỗi quằn quại, chìm đắm đến bây giờ. Những điều đã trình bày trên đây về Tuấn, chỉ nhằm mục đích gợi lại vài hình ảnh của người đã khuất. Chắc không hoàn toàn và còn nhiều khiếm khuyết. Quả thật con người thực, tư tưởng của anh ít ai có thể đoán chắc là hiểu biết được. Tôi còn nhớ những ngày ở Quân trường Thủ Đức đã có một lần Tuấn hãnh diện nói: “Viết thì được, nhưng có ai hiểu gì đâu” và anh cười qua khói thuốc.

Một điểm đặc biệt ở Tuấn là anh chỉ có bạn trai, tôi đã nói chuyện với anh nhiều lần nhưng chưa hề được nghe Tuấn nói về tình yêu. Con người ngoài 30 tuổi vẫn thản nhiên đơn độc. Có những dư luận cho rằng anh đã từng yêu và không được yêu. Nhưng tôi chắc đó chỉ là một suy diễn thông thường, gán ghép để cho có chuyện mà thôi. Nếu muốn hiểu anh, không gì bằng tìm lại những tác phẩm đã để lại qua những tập Tình Thương, Truyền Sinh và Gió Khơi. Những ngày sửa soạn để cho ra mắt tập Truyền Sinh khiến anh đã đóng góp và làm việc thật nhiều. Nếu có thể trong Tập san số tới chúng tôi sẽ giới thiệu những tác phẩm của anh.

Với muôn vàn trở ngại trên con đường dài, chúng tôi tưởng cùng sát cánh bên nhau nhưng anh đã ngã xuống và đất nước mất một thiên tài độc đáo. Tôi ngoảnh lại và không thấy anh.

VŨ VĂN TÙNG

[trích Tập San Quân Y Quân lực VNCH,

Tháng 8 Năm 1968]

(*) Theo Thẻ thực tập bệnh viện Nhóm B, năm thứ Ba Y khoa niên khóa 1961-1962 thì Nghiêm Sỹ Tuấn sinh tại Nam Định.

Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 13 Dec 2025

Chương 2

Chuyện Họa Sĩ Hòa Lan Van Meegeren bị kết tội phản nghịch vì bán tranh Cổ cho Thống Chế Đức Quốc Xã Goebels.

Dẫn.

Không có gì khó cho bằng sự giảo nghiệm tranh vẽ: đó là tranh cổ, đúng của các bậc đại tài đời xưa để lại, hay đó là tranh giả? Các triệu phú, tỷ phú không tiếc tiền với các chuyèn gia giảo nghiệm. Họ ăn rất mắc, mỗi lần giảo nghiệm một chữ ký, một tấm tranh. Vả lại một bức tranh cổ, giá cao hơn mấy lần gia tài lớn bên ta nhập lại. Nghề bán tranh bên Âu rất thịnh hành. Nhưng rốt lại, số tranh giả bên Mỹ, nhiều hơn số tranh sản xuất và có tổng kê đàng hoàng. Các vụ kiện đòi tiền giữa người mua lầm và người giảo nghiệm trật, nằm chất đống nơi các tòa án Âu châu, không làm sao kết thành án cho hết. Sau đây là một vụ án điển hình.

Ngày 29-10-1947, cách nay 21 năm,  tại kinh đô Hòa Lan, nơi thành Amsterdam, có đem ra xử một tội phản nghịch, vì bị cáo đã thông đồng với nghịch, khi bán một bức tranh cổ ký tên Van Vermeer cho thống chế Đức quốc xã Gobels. Nguyên năm 1947, cuộc chiến tranh đệ nhị thế chiến Âu châu đã chấm dứt và tòa đang kết tội Gœbels cũng như bao nhiêu tưởng Đức quốc xã khác vào tội đại ác gây chiến tranh, đầu dây mối nhợ của cuộc đại sát sanh những năm ấy. Còn Vermeer là tên gọi tắt của một đại danh họa Hòa Lan, tên thật là Vermeer de Delft (Jean), cũng ký Van der Meer, sanh tại Delft (1632-1675), khi còn sanh tiền sống vô danh lu mờ, ngày nay giới hội họa công nhận là một thiên tài, để lại những tranh vô giá, như các bức «Vue de Delft » (phong cảnh bến sông Delft, nay chưng bày tại viện bảo tàng La Haye), «La Liseuse » (mỹ nhơn đọc sách), «La Dentellière » (người đẹp đan đăng ten),

« Le Peintre dans son atelier » (Hoa sĩ trong phòng làm việc). Bán một tranh cổ ra khỏi nước đã là một tội. Nay bán một bức đại danh họa cho kẻ địch thù cỡ Gœbels, thì tội nặng vô số kể, đầu rớt dưới chân đao phủ thủ kề như chơi. Vậy ta hãy nghe kể lại vụ án nầy, như sau:

Buổi sáng hôm 29-10-1947, trong một xóm nhỏ có vẻ rất xưa của thành Amsterdam người ta thấy một ông già dậy rất sớm, vừa bửng tưng, đã ra khỏi nhà, khóa cửa cái cần thận và ung dung tự tại, bước từ bước đều,  hướng về tòa án; ông không vội vàng hối hả, vẫn thản nhiên bình tĩnh, tựa như chẳng có sự gì xảy đến cho mình. Nhưng nếu ai nhìn kỹ sẽ thấy lưng ông đã còm, mặt ông đã nhăn, tuy vậy mớ tóc trắng phau chạy viền trên trán cao, xem ông rất nghệ sĩ va rất phong lưu. Ông tên Van Meegeren, nay xin gọi tắt là V.M. cho dễ nhớ. V.M. vừa tới phòng số 4 là phòng xử đại hình. Một tốp phó nhòm xách máy ảnh bu lại như bầy kiến bu cục đường và các phóng viên những tờ báo lớn, cũng chạy lại không chịu thua về sốt sắng. Nhưng hai người lính gác lành nghề, đã giải thoát vòng vây và đưa khéo ông ta theo một cửa kín vào phòng xử, chỉ chỗ cho ông ngồi tề chỉnh nơi hàng bị cáo. Nơi các băng dành cho công chúng hiếu kỳ, đã có khá đông người, phần lớn là phú ông ngoại kiều vô tích sự, đang giụm năm giụm ba, nói chuyện xì-xào vì phiên tòa chưa bắt đầu.

Có nhiều mặt rat quen trong giới mỹ-thuật và chơi đồ cổ: nhà phê bình X. chuyên về tranh xưa, viên quản thủ viện bảo tàng, ông giám định có tuyên thệ, vài người buôn cổ ngoạn và không sót viên gõ búa ngà của phòng đấu giá phát mãi của đô thành.

Băng dành riêng cho nhà báo hôm nay cũng đầy chật các tay đại bút phóng viên. Xem qua cử chỉ khiêm tốn đạo mạo và nét mặt phúc hậu của ông già ngồi ghế bị cáo, tôi đâm ra ngại ngại, hay là bọn mình, luôn cả các tay lấy phòng xử đại hình làm rạp hát không tốn tiền mua vé, có phải chăng đã ngồi lộn phòng? Ông này xem hiền từ như vầy, làm gì mà tội đại hình? Đang nghĩ ngợi, bỗng có tiếng chuông reo. Cả phòng đều đứng dậy. Tiếng dõng dạc như thường lệ của thừa phát lại, tiếng bắt súng chào trong bầu không khí không có một con ruồi con muỗi dám bay, tòa bắt đầu xử.

– Ông tên là Han Van Meegeren? Ông là họa-sĩ? Ông 58 tuổi? Phải vậy không?

– Bằm, phải. Tiếng thốt nhỏ ri, nhỏ như hình vóc người đứng trước mặt tòa. Kế đó, viên lục sự bắt đầu đọc to cáo trạng. Trong phòng có tiếng xạo xự … Quan tòa phải yêu cầu công chúng giữ im lặng để tiếp tục xử.

– Ông, quan tòa hỏi, bị tố cáo là phạm tội mạo chữ ký. Theo cáo trạng, ông đã phạm tội tám lần cả thảy, sáu lần giả chữ ký của Vermeer, hai lần mạo chữ của Hooch, trên tám bức tranh nầy, phải khóng? Nói cho công chúng biết, Vermeer và Hooch là hai đại danh họa Hòa Lan của thế kỷ thứ 17.

Les disciples sur le chemin d’Emmaüs, illustration pour La Vie du Christ

La résurrection de Lazare

Rồi ông tòa dùng tay áo rộng có viền lông trắng, chỉ qua tám tấm tranh treo lung lẳng nơi vách, trước mặt quan tòa, mà sau lưng công chúng. Khi ấy mấy trăm con mắt đều chăm chú ngó theo tay chỉ, và bây giờ ai nấy mới để ý đến tám bức tranh treo nơi phòng đại hình, nay trở nên đồ tang vật, tranh tả cảnh mà treo trong phòng xử, quả không phải là đúng chỗ, vừa chướng chướng mất vẻ nghiêm trang, vừa như trơ trẽn.

Kế đó, nghe tiếng ôn tồn hiền hậu của quan tòa hỏi:

– Ông nhìn nhận các tội trạng này chứ?

– Dạ, bẩm tòa, tôi nhìn nhận.

Và lần lượt đến phiên những giám nghiệm viên và các nhân chứng khác đưa nhau ra trước vành móng ngựa khai lại đầu đuôi tự sự những gì nghe thấy trong mấy kỳ mua bán những tranh kia. Trong khi ấy, bị cáo vẫn giữ một mực điềm tĩnh lạ lùng, xác tuy ngồi đó mà hồn như ở đâu đâu.

Theo hình luật Hòa Lan, các tội ông đã phạm có thể đưa đến án mười năm tù. Nhưng ông vẫn bình chân như vại. Thỉnh thoảng nếu có ông giám định viên nào buộc tội ông quá nặng, khi ấy nếu nhìn kỹ sẽ thấy ông nhếch mép với dáng khinh bỉ ra mặt. Về phần thính giả, dường như họ lấy làm khoái trá, lát lát nghe tiếng cười khúc khích đó đây, vì không mấy thuở được nghe mấy ông đạo mạo giám nghiệm gia nầy khai ra giữa mặt tòa và giữa mặt công chúng, cái phần dốt nát bệ vệ của họ. Tưởng đâu là thánh là thần, dè đâu ngoài giấy, trong bùn với tre.

Bị cáo có vẻ buồn chán, quên mình là cây đinh của phòng xử, ý như muốn thầm trách ai đã làm mất công mất linh cho mình hôm nay như vầy! Khi các nhân chứng đã khai và bên nguyên bên bị, đã có trạng sư thay mặt, luân phiên đọc lập luận của mình, bên buộc bên cố gỡ, cãi nhau vài chập, đâu chẳng ra đâu, bỗng tòa dõng dạc tuyên bố: «Đình lại 15 ngày, sẽ đọc án». V.M. uể oải đứng dậy, bước ra khỏi tòa, vội kéo bâu áo lên, vì ngoài trời tuyết xuống trắng đường, gió thổi lạnh thấu xương. V.M. rời Pháp đình, ung dung đi đếm bước, theo đường mé kinh trở về nhà, trong trí như lúc sáng, không nao không núng.

– Nửa tháng nữa, V.M. lầm bẩm nói, mười lăm ngày nữa, tòa sẽ đọc án. Công chúng Amsterdam sẽ biết việc gì ta đã làm.

Và sau đây là việc khá ly kỳ mà V.M. đã làm và công chúng đang muốn biết.

Vào khoảng năm 1932, V.M. là một họa sĩ chưa ai từng biết danh. Ông ta sống vô tư lự, «gia tư nghỉ1 cũng thường thuờng bực trung »

1. Không ai biết mình, thì mình cũng không cần ai biết. Nhưng gẫm lại cũng tức. Bao nhiêu thằng tai to mặt lớn, có bằng cấp cao, có địa vị to, chúng có chi hơn mình? Phải làm cho chúng biết mặt. Ở đây, «trần ai vô tri kỷ», hà tất nắm nuối cho thêm nhục. Bọn bây giảo nghiệm viên, phê bình gia mỹ thuật, giám định viên, cả lũ, rồi sẽ biết ta. Nghĩ như vậy rồi V.M. nhứt đinh tạm lìa quê hương là thành phố Amsterdam, đề huề tay nắm tay, cùng người vợ trẻ, tìm nơi lập nghiệp mới. Vi V.M. nuôi một chi lớn, hy vọng đem hết tâm lực tài năng, vẽ cho được một tác phẩm xứng đáng như các tuyệt phẩm của đại danh họa Vermeer, để cho chúng nó sáng con mắt, ta không phải là phường giá áo túi cơm như chúng. Phải nhìn nhận cai dự ước của V.M. là quá vượt bực. Nhưng anh ta nuôi nấng suốt nhiều năm, dẫu nằm gai nếm mật, mà cũng quyết làm sao cho cái mộng, tuy hảo cầu phải thành sự thật cho được mới nghe. Và khi lê gót lưu vong ra nước ngoài, trên đường lang bạt kỳ hồ, V.M. không một ngày nào dám quên đại chí. V.M. tam định cư ở Roquebrune Cap Martin, gần Nice (miền Nam nước Pháp), nơi đây khí trời đầm ấm tư mùa, hoa tươi cỏ lạ không thiếu, phong cảnh xinh đẹp, lại có tòa lâu đài cổ của dòng qui tộc des Lascaris, thêm duyên.

Trước khi rời quê hương, rấn thân vào cõi lạ, V.M. gia tâm nghiên cứu đêm ngày những tuyệt phẩm của Vermeer trình bày tại viện bảo tàng ở Amsterdam và đọc ngấu nghiến những sách tham khảo về bút pháp của nhà đại danh họa nầy, vì khi đến xứ lạ làm sao tìm được các tài liệu hiếm có ấy, để khảo cứu nữa. Một ngày nọ, cũng như nhiều ngày đã trải qua trong các hiệu bán đồ lạc son chung quanh vùng Nice, V.M. xách về nhà một bức tranh cũ kỹ gói trong bọc giấy ăm-ba-la. Tranh nầy không có chút giá trị nào về mỹ thuật, nhưng

đối với V.M., đó là vật quý vô giá, vì quả là một bức tranh vẽ vào thế kỷ 17, đồng thời với các tranh tuyệt tác của Vermeer vẽ hồi xưa. Nay V.M. mua được đem về, lại phải bị bà xã làm trận, khóc lóc bỏ cơm bỏ cháo, vì cây diêm quẹt chẻ hai, xứ lạ quê người, anh không biết tiết kiệm đồng tiền, lại sanh sứa sắm thứ tranh không đáng một khúc bánh mì đỡ đói hay một bó củi hơ đỡ lạnh. V.M. dể cho trận cuồng phong qua khỏi rồi, bà xã

nguôi giận, V.M. mới òn ĩ cắt nghĩa tiết kiệm là từ đây đừng mướn tôi tớ, tự mình làm lấy, chồng xách nước quét nhà, vợ nấu ăn giặt giệm, nhờ vậy mà vợ chồng một cõi giang san, dẫu có lập kế xui mưu làm loạn cũng không một ai hay biết. Yên được bề đó rồi, V.M. sẽ lén không cho vợ thấy, o bế tẩy sạch lớp sơn dầu cũ và nhờ khéo tay, bền chí V.M. có được một tấm bố xưa, cùng một tuổi, một màu với những tấm tranh ký tên Vermeer đời trước. Cái khó đầu tiên đã vượt, thần tài đã hé cửa cho V.M. rồi đó. Trong khi ấy, V.M. mỗi ngày mỗi luyện tập theo bút pháp Vermeer và nhờ trì tâm khổ chí, chẳng bao lâu, V.M. vẽ được một bức đầu tiên giả mạo. Đó là bức Pháp gọi «les Disciples d’Emmaus» (Chúa Giê-su, sau khi Phục Sinh, hiện hình lần đầu cho các tông đồ thấy tại Emmaüs, gần Jérusalem). (Bức tranh giả nầy, sau đó được viện bảo tang Roymans Rotterdam (Hòa-lan) mua lên với một giá khổng lồ và treo suốt mấy năm trước thập mục sở thị, chỉ nghe tiếng trầm trồ khen ngợi và suốt thời gian ấy, không một ai biết đó là tranh giả).

Nay nói về phương pháp V.M. giả tranh cồ. Có thể nói là xuất thần quỉ một, ít ai nghĩ đến và không ai bắt chước kịp. Chẳng phải V.M. nhái được điệu vẽ của Vermeer và học được nét bút và các bí quyết xưa của nhà đại danh họa này, chẳng những V.M. kỹ càng đến lựa cho được một thứ bố xưa đồng một thời, một cách thức dệt với loại tranh mình muốn giả tạo, đàng này V.M. nghiên cứu cao siêu đến biết được Vermeer ba trăm năm trước quen dùng cọ vẽ kết bằng lòng con blaireau (một giống chồn phương Tây), nên va cũng sắm cho được một bộ cọ vẽ đủ cỡ lớn nhỏ kết bằng lông blaireau cho được mởi nghe. Các dụng cụ bí mật ấy, V.M. dùng rồi thì giấu rất kỹ, trong hộc tủ kín có khóa cẩn thận và V.M. không rời xâu chìa khóa phút nào. Cái tánh kỹ lưỡng và kín miệng ấy, V.M. đưa đến mức tuyệt xảo, vì muốn cho bà xã đừng nghi nan sự gì, nhiều phen

1. Nghỉ, đây viết dấu hỏi, nghĩa như hắn, y, nó (tiếng Nghệ Tĩnh).

V.M. giả vờ mời vợ vào phòng làm việc, giả đò đàm đạo thân mật để cho bà xã thấy rõ ràng mình vẽ tranh xoàng xĩnh đề giết thì giờ, như vậy dẫu có ngồi lê đôi mách cũng khỏi sợ lậu sự: mình có vẽ các bức tranh cỡ lớn.

Và nơi đây, chúng ta cũng nên biết nỗi khổ tâm của V.M., trước khi trở nên tên đại gian hùng, bán trời không chứng. chuyên giả tranh cổ đánh lừa thiên hạ, mà toàn là bọn triệu phú chuyên môn, hay bọn lắm tiền mua tranh có người bảo lãnh. V.M. nghiên cứu mỗi việc hết sức tỷ mỷ, dẫu một chi tiết nhỏ nhặt cũng không bỏ qua, ban đầu tưởng đó là những việc không quan trọng mấy, không dè sau rõ lại nhờ chú ý đề tâm từ chút nên V.M. thành công, trở nên nhà giả mạo chuyên môn, nếu không kể đó là phạm tội gian, thì rõ là một thiên tài, một bậc kỳ tài, một génie chớ còn gì nữa? Nói ra các nhà giả đạo đức sẽ cho là mình nguy biện chớ anh trộm mở được các ổ khóa bí hiểm, anh làm giấy bạc giả, anh khéo mạo chữ ký và tuồng chữ của người khác, mấy anh ấy theo tôi, đều là bực sư, bực kỳ tài trong thiên ha, hiếm vì không biết dùng tài nghề của mình cho đúng chỗ. Và nhiều khi những người lương thiện như thợ làm khóa và nhà chuyên môn vẽ giấy bạc nhà băng, cũng phải mời các sư tổ ra khỏi khám, để chỉ mách nghề hay cho mình học đạo. V.M. thắc mắc phải dùng dầu gì để vẽ y như thật màu dầu của Vermeer đã dùng cách ba trăm năm về trước. Khi tìm ra, thì V.M. là một nhà đại thông thái rồi chớ gì?

V.M. dư biết nếu dùng những thứ màu trước Vermeer đã dùng, nếu pha màu cũng dùng một thứ dầu y như Vermeer đã xài, nhứt là nếu cân đong cho thật đúng đồng cân đồng lượng như trước và khi nhại được y những lỗi tật nhỏ của Vermeer đã phạm và sau rốt làm sao cho bức tranh trở nên cổ, đồng một màu với các tranh cũ trưng bày ở các viện bảo tàng, thì chắc ăn như chơi. Nhưng V.M. vẫn muốn cho sau nầy không ai bắt tẩy mình được, nên khi tranh khô rồi, V.M. còn phải luyện nó trong một chất hóa học chỉ có một mình anh biết, đề tranh được đúng cổ. V.M. dư biết là tranh giả mà làm theo những cách ấy, coi vậy mà chỉ qua mặt vài nhà mới học chơi tranh hay các tay mơ, chở làm sao qua mặt được bọn cáo già và trong các tay lão luyện chuyên về giảo nghiệm trên trường buôn tranh quôc tế trước sau gì mình cũng phải gặp tổ sư bồ đề.

Cho nên về sau, V.M. phát minh được một thứ dầu tự minh chế luyện và khi lấy dầu ấy vẽ tranh, đến lúc hơ tranh ấy trong lò điện mà cũng tự anh chế ra, thì tranh sẽ có vẻ cổ đến ba trăm năm, giống như các tranh cồ tự nhiên của thời đại «tam bách niên tiền» mà V.M. cố bắt chước. Như vày chưa phải thiên tài à? Nhưng đến đây V.M. vấp phải một vấn đề gần như nan giải. Số là dầu cây gai (huile de lin) và dầu trái thầu (huile de pavot) mà thường các họa sĩ năng dùng, khi cho vào lò điện, với sức nóng vừa vừa thì còn chịu nổi, bằng gặp lửa nóng quá độ một chút thì mấy lớp sơn vẽ bằng hai thứ dầu này sẽ sủi bọt và phai màu, biến ra màu khác. Cho nên V.M. phải cần thận và chính anh ta tìm lại được đủ các màu và dầu sơn của ‘Vermeer dùng đời trước. Nói tỷ dụ nghe choi và không phải để bắc cầu cho các cha ngày nay: muốn có màu xanh da trời, danh từ  chuyên môn gọi «bleu Vermeer» thì V.M. chế bằng loại ngọc bích lapis lazuli, màn hoàng anh chế bằng một thứ mủ cây pha với thổ hoàng (le jaune s’obtient avec une résine durcie et de l’ocre) và nhiều màu khác, xin dùng tiếng Pháp cho đừng lầm lạc (.. une terre additionnée d’oxyde de fer, du rouge de cinabre, du blanc de plomb, etc). V.M. xây lén trong phòng làm việc, chính bà xã cũng không ngờ, một lò kín giữa một tủ sách lớn, lò nầy chạy bằng điện lực, làm bằng nhiều phiến đá không sợ lửa ráp lại, có máy gia giảm nhiệt độ, cũng do tay khéo léo của anh ta tự chế.

Nhưng kể về sự phát minh thần diệu của V.M. thì có lẽ là tìm ra một chất dầu dùng pha màu để vẽ mà không kỵ lửa, nóng đến độ nào màu cũng không đổi sắc và đó là huile de lilas (theo tự điển Đào Duy Anh là dầu Tử Dinh Hương, cây xoan). Nhưng sự phát minh dùng dầu huile de lilas đem lại V.M. một rắc rối ngộ nghĩnh bất ngờ. Đó là dầu xoan vẫn có mùi thơm tử-đinh-hương (lilas). Bỗng nhiên trong phòng làm việc của V.M., ngày như đêm phảng phất mùi lilas đặc-biệt ấy và đề đánh lạc dấu bà xã cũng như vài bạn thân, V.M. giả chước thinh không đâm ra say mê mùi lilas và từ ấy luôn luôn trên bàn làm việc đều có bình hoa xoan tươi thay mới không bao giờ dứt. Bước đầu xuân năm 1936, V.M. kết thúc cuộc thí nghiệm hơ tranh vẽ bằng dầu lilas chế với phénol và formaldéhyde. Nhắc lại, V.M. chọn bố đúng thời đại (thế kỷ 17) là để đồng thời với Vermeer. Nên nhớ, đó là một điều kiện rất quan trọng, vì người chơi tranh có kinh nghiệm năng giảo nghiệm giả chơn bằng cách đếm từ tao từ sợi bố của các bức họa cổ.

Tỷ dụ như bức chánh thức gọi «Résurrection de Lazare» (Sự hồi sinh của Lazare do chúa Giê-su hóa phép). Ai ai cũng biết bức tranh kiệt tác này, Vermeer vẽ vào lúc tuổi đôi mươi, tức lối năm 1650. Bức chánh (thiệt) khá rộng, cỡ 1, 10 X 0, 90. Khi giả tạo, V.M. tìm mua được một tấm tranh cùng một cỡ và một thời đại. Mua được rồi, mang về phòng, nội cách tháo, cũng trần ai. Không dám làm gãy hay trầy đầu một cây đinh cũ. Sau nầy đóng lại, sai một chút xíu cũng không được. Thậm chí mấy tấm da cắt vuông vuông để chêm lót cây dinh cung giữ y chỗ nào theo chỗ nấy, không sơ sót. Khi gỡ tấm bố ra khỏi khuôn tranh rồi, thì V.M. lấy bố ấy căng trên một tấm ván ép thật bằng phẳng, đoạn khởi sự cạo chùi lớp sơn vẽ cũ cho thật sạch và không động chạm gì đến mặt tấm bố. Ban sơ, V.M. làm y như mấy tên học trò bị sơn dính tay, nay lấy đá bọt thấm nước cọ mài cho sạch vết. Nhưng nhớ phải cọ hết sức nhẹ, không khéo lỡ tay, trầy da mặt bố một chút xíu, cũng lộ tay. Phải làm làm sao cho sau này đừng thấy dấu sơn cũ hoặc dấu trầy trên mặt bố, vì các giảo nghiệm gia thường dùng quang tuyến (rayon X) rọi vào từng mỗi phân vuông, nên không phải giả ngộ dối trá với họ được. Lúc chùi tấm tranh cũ này, chỗ sơn nào V.M. cũng tẩy êm thắm, duy đến những chổ trưoc vẽ bằng phấn chì, thì V.M. gặp một trở ngại bất ngờ. Nguyên hồi thế kỷ 17, các họa sĩ đời đó quen dùng phấn chì (blanc de plomb) vẽ thay màu trắng, nay thứ blanc de plomb nay, sau ba trăm năm, dính khắn vào bố, cọ mài cách mấy cũng không sạch. V.M. thấy vậy, đành chừa chỗ trắng trên tấm bố cũ. Nhưng như đã nói, V.M. là người đa mưu túc trí, nên sau đó khi vẽ thiệt thọ, V.M. đã có một sáng kiến tài tình là cũng vẽ trắng lại y như cũ mấy chỗ bôi không ra, thành thử mấy chỗ đó vẫn tiệp màu, con mắt thường không sao biết được. Tuy vậy vẫn còn một chỗ có vết trắng trộng cỡ đầu ngón tay út. V.M. không làm sao lấp khuất được, túng thế, V.M. dùng màu tiệp nhau phết nhẹ lên trên và đây là chỗ yếu nhứt trên bức tranh giả tạo phen nầy, may thời các giảo nghiệm gia sơ ý không rọi quang tuyến X, khiến nên khi bắt V.M. ra xử, chỗ đó vẫn không đá động đến, vì có ai ngờ chỗ vẽ màu trắng mà lại có ẩn tàng một vệt màu trắng cũ, cạo không ra.

Khi V.M. đánh lại lớp sơn nền xong rồi, V.M. mới khởi sự bắt tay qua phần khó nhứt của bức tranh là vẽ cho đủ mặt các tông đồ của Chúa, gọi «les Disciples d’Emmaiis ». Nhắc lại Emmaus là một ấp nhỏ bé tại xứ Judée-co, ở gần thành cổ tich Jerusalem và theo Kinh Thánh dạy, đây là nơi Chúa Giêsu xuất hiện lần đầu cho các môn đệ ngài thấy, sau buổi Phục sinh. Phần quan trong nhất, làm cho V.M. bối rối vô ngần là làm sao diễn tả cho thật thần tình gương mặt của Chúa. Các phần kia, V.M. lần lượt đã vẽ một cách thoát thần, nào nét mặt kinh tởm, nào nét kinh sợ, nào nét lấm lét của đám đệ tử, nhưng đến khi muốn hiện rõ gương mặt đặc biệt của Chúa lúc ấy, làm sao cho đúng với hai chữ «xuất thần», thì V.M. ngã lòng, gần như thúc thủ, không biết giải quyết thế nào cho ổn thỏa, khổ tâm nhứt là nay cách biệt Amsterdam đã lâu, bức tranh chánh, bức tranh mẫu ấy, hiện không có trước mặt, thì làm sao vẽ nổi nét mặt siêu phàm thoát tục của Chúa do ngòi bút thiên tài của Vermeer đã phác họa rồi. V.M. có nhớ mạy mạy trong trí, nhưng khi vẽ lên tờ bố khác thì không bằng bụng chút nào. Đã vẽ phác họa mấy lần mà không xong, vẽ esquisse hay essai rồi cũng thất bại, khi thất vọng đã thấy trước mắt, bỗng một buổi sáng sớm, vừa mở cửa dòm ra đường cái, V.M. giựt mình như quả có thần linh xuất hiện. Từ xa lù lù đi lại một tên khất tử Ý-đại-lợi hình như muốn tiến đến xin một khúc bánh mì cũ để gặm đỡ đói. Áo quần tuy tơi tả, nhưng nhìn nét mặt thì quả là gương mặt thanh thản bình dị, tha thứ, vừa xót thương vừa quảng đại, một gương mặt siêu phàm mà V.M. đang moi óc suốt mấy tuần nay mà  không sao vẽ lên tranh được.

V.M. lật đật mời anh khất sĩ vào phòng vẽ, đóng cửa lại, cho ăn cho uống tử tế và chỉ trả tự do cho chú chàng sau ba ngày bắt ngồi làm mẫu để V.M. vẽ đủ kieu chơn dung, nói rằng: «để nghiên cứu và vẽ chơi chớ không có ý gì khác». Khi đưa anh miễn tử lưu linh ra cửa, V.M. tặng anh một bộ y phục ấm lành lẽ và bất ngờ nhứt cho anh khất sĩ, là rờ trong túi có thêm một ngàn quan tiền nặng nặng, làm anh chàng giựt mình không biết là chièm bao hay tỉnh.

– Phiền bác đừng bảo tin cho phường vạn bác hay, vì nếu họ kéo đến thì tôi chỉ còn cách dọn nhà đi nơi khác.

Một tuần lễ sau, đem kỹ từ bắt tay vào việc đen đỏ là đã sáu con trăng tròn trặn, V.M. đã hoàn thành một kiệt tác nữa. V.M. lấy làm bằng lòng khi thấy bức tranh mạo tể này, từ biết cầm cọ vẽ đến nay, anh chưa họa bức nào được hoàn mỹ như vậy. V.M. vừa lấy bút, vừa huýt sáo, nhái chữ ký của nhà đại danh bọa đã từ trần từ ba trăm năm trước: I. MEER, tức Vermeer đó. Bảy giờ đến lượt làm một công việc rất khó khác nữa, là hơ bức tranh trong lò điện, để giả cổ, tức là làm cho tranh mới có màu cũ như tranh ba thế kỷ trước. V.M. lấy dầu lilas đánh một lớp mỏng trên mặt tấm tranh và có pha thêm chút đỉnh nhựa cây thay thế cho màu sơn. Anh vừa thoa dầu, mà lòng kôon xiết hồi hộp, ngực đánh nghe thình thịch. Công trình đến đây kể như thành tựu, nhưng lo một nổi đặt nó vào lò điện không khác thằng Poucet đi đôi hia bảy dặm, tấm tranh sẽ có màu cũ «Tam bách niên tiền» như mong muốn, hay chảy thành một tấm bố không hồn chẳng đáng một đồng xu?

Không biết dầu lilas và các loại thuốc màu dùng vẽ tranh nầy, có chịu nổi sức nóng 110 độ nầy chăng? Hay sẽ biến ra màu khác sắc khác, thì chết một của Tứ! Không tiếc cho công trình gam go trong sáu tháng sẽ bay trôi theo hơi, khói; chỉ ngại việc bất thành thì mình rõ là một tên vô dụng chi nhơn. Trước đây, mỗi lần pha một thứ màu để vẽ, V.M. đều thận trọng từ chút, nay nếu lúc đó có sơ sót chỗ nào, thì lát nữa hơi nóng của lò điện sẽ làm cho lộ ra: «xin Trên Cao phù hộ cho tôi!»

V.M. trong bụng sợ nhất là cái đốm trắng hôm trước không dám tẩy thật sạch, nay gặp sức nóng sẽ đậm màu hơn hay trở ra vàng vàng thì người ta cũng biết ngay, khổ quá! Lại nữa, như mấy chổ chấm thanh lục, tuy biết dư là dúng phương pháp của Vermeer hồi trước, nhưng cũng chưa chắc gì nó không biến thể, khi gặp sức nóng 110 độ trong lò. Nghĩ tới nghĩ lui, khổ ơi là khổ! Suốt hai giờ, V.M. cho điện chạy, rồi đi qua đi lại trong phòng, tay vẫn cầm một đồng hồ quả quit và canh chừng từ phút từ giây. Khi tắt điện, lấy tranh ra, V.M. thở nhẹ nhỏm, vì toàn tấm tranh xuống màu và ăn đều, toàn diện cổ như ý muốn. Khéo quả, hay quá, may phước quá! Cám ơn Trên Cao còn độ! Và chính V.M. khi nhìn tấm tranh cũng phải tấm tắc mình khen lấy mình: bức tranh này quả không thua thần bút Vermeer chút nào. Quả không chỗ nào chê! Như vầy, không ai dám nghi ngờ tranh giả đâu mà ngại! Nhưng vậy, cái khó chưa phải là hết. Cứ bình tỉnh mà xét, tấm tranh như vầy có vẻ còn sắc sảo quá. Nếu để như thế mà vội đem trình bọn giảo nghiệm cú vọ kia, thì chúng nó ăn thịt mình ngay. Bây giờ còn phải làm sao cho da trỗ rạn và cũ mèm thêm chút nữa, bổ túc những cái tinh vi mà lò điện kia không tạo ra được. Nghĩ rồi V.M. mới chế ra một ống tròn bằng thiếc Cao Bằng, bề kinh tầm độ sáu tấc Tây, hình giống cái hũ lô cán đường, đặt cái ống trên bàn viết, rồi cột sát tấm tranh kia ôm tròn cái ống rồi lấy tay vuốt nhẹ nhẹ và đều đều, vuốt hết sức kỹ, khiến cho lớp sơn dầu nứt rạn ra theo chiều ống thiếc, giống hệt tranh cổ lâu năm phải nứt và V.M. cũng không dám làm nứt quá nhiều, e mất tự nhiên thì bọn giảo nghiệm ma quái kia sẽ bắt được mối gian xảo của mình. Phương pháp của V.M. dùng tỏ ra rất hiệu nghiệm. Tấm tranh lấy từ ống ra, trên mặt trỗ lăn tăn lấm tấm lằn nứt mịn và đều giống y lằn nứt thường thấy trên tranh cổ.

Muốn để sau này có bằng chứng rằng tranh này của mình sảng tác cho không phải của ai vào đây, V.M. bèn lấy kéo cắt rọc một chút bìa và cất kỹ làm dấu tích. Xong rồi V.M. mới gắn bức tranh trở lại khuôn cũ của nó, nhưng phải dùng lưỡi cưa thợ mộc rà lại bốn góc khuôn, cho thật khít khao, vì tấm bố đã teo đôi chút khi bị hơ nóng trong lò điện; đoạn V.M. lấy đinh cũ và da cắt vuông cũ đóng lại đâu vào đó, xem giống hệt bức tranh lâu đời không hầy hấn chút nào, vì V.M. là tay kỹ lưỡng, trả đinh và da chỗ nào về chỗ nấy, không cho thấy dấu cạy dấu tháo nào  cả. Tranh gắn y vào khuôn của nó rồi, V.M. lại lấy mực Tàu bôi khắp mấy chỗ da rạn và khi mực khô thì mấy lằn rạn càng giống những kẽ rạn lâu đời bị bụi bặm bám vào kẽ sâu và đến đây là đã đến phần chót của các công việc giả một bức tranh cổ mà V.M. đã thực hành. Cách vài bữa sau, V.M. lên đường đi bán tranh. V.M. đáp tàu hỏa lên Paris, là nơi đô hội, đủ mặt các nhà sưu tầm cổ ngoạn, chơi tranh mắc tiền và đều là hạng triệu phú, tỷ phú thập phương. V.M. đem theo chỉ một mớ y phục đổi thay, không quên cái bàn chải răng và cây dao cạo, còn bức tranh căng nhứt thì gói kỹ trong lớp giấy ămbala thật dày. Vừa đến Paris, V.M. đi ngay lại ngân hàng lớn, ký thác bức tranh cho yên nơi yên chỗ rồi mới tìm phòng tá túc.

Qua bữa sau, V.M. tìm được văn phòng viên chưởng khế từng quen năm trước. Chào hỏi xong, V.M. thong thả thuật lại cho viên chưởng khế nghe câu chuyện đã đưa anh đến tìm, mà anh đã sắp đặt trước như vầy:

– Thưa chưởng khế, ông dư biết chúng tôi là hàng họa sĩ vô danh, nếu chỉ sanh nhai bằng cây cọ, thẻ màu,

thì không bao giờ đủ sống. Bụng đói chân phải chạy cho nên chúng tôi phải sống thêm nghề phụ, hoàn toàn lương thiện, là chúng tôi chuyên lùng kiếm tranh xưa mai một; nếu may thời gặp, mua lên bán lại thì cũng có đồng ra đồng vào, đỡ khổ. Hiện nay tòi được may mắn lạ lùng, có lẽ là ân huệ của ông bà để lại, hoặc trời nhỏ phước, hoàng thiên bất phụ thiện tâm nhơn. Tôi đến nhờ ông sẳn lòng giúp tôi bán một bức tranh thế kỷ 17, thuộc loại quí phẩm hạng quốc tế cũng nên. Ngừng một lát để chờ phản ứng của vị chưởng khế, nhưng không thấy nói gì, V.M. lại kể tiếp:

– Thưa ông, tôi quả quyết tranh tôi nói đây là một bức quí vô giá, đó là tranh cổ ký Vermeer, bấy lâu lưu lạc không ai thấy. Một gia đình vọng tộc, tôi xin giấu tên, có nhờ tôi xem giúp và cho ý kiến một bộ tranh do tổ tiên đề lại. Gia đình ấy bằng lòng bán đứt cho tôi một bức mà hiện tôi đã gởi cất tại ngân hàng Mỗ. Tôi dám cam đoan với ông, đó là tác phẩm mai một của Jan Vermeer một nhà đại danh họa Hòa Lan của thế kỷ 17, giá đáng ngàn vàng.

Có lẽ chưởng khế sẽ hỏi tại sao tôi không bán ên, tức nhiên có lợi nhiều, thay vì phải đến đây nhờ ông cho thêm phí tổn? Thưa chưởng khế, thú thật vì tôi mua nó mà hết vốn, nên nay cần bán gấp là một lẽ. Một lẽ khác nữa, chắc ông dư rõ, là giữa các chuyên môn giảo nghiệm và nhóm họa sĩ, ít có thuận thảo nhau lâu và không giấu gì ông, tánh tôi thì nóng, vì ăn ngay nói thật nên ít có cảm tình với họ. Nếu nay tôi đến ngay thương thuyết thì hỏng ngay. Nên tôi tưởng phải nhờ ông giúp cho một tay đắc lực, mà chắc ăn hơn. Tốn kém bao nhiêu có hệ gì. Bọn giảo nghiệm ở đây, ở Paris nầy, tôi đều quen biết hết. Hiềm gì tôi đả kích họ đã nhiều, cho nên ác cảm khó quên; ngày nay nếu tôi bổn thân xách bức tranh đến cầu họ giúp cho giấy chứng chỉ thì cũng bằng trong Tam Quốc, Lỗ Túc sách Kinh chân. Họ đâu có khứng, không chừng họ lại đặt điều kiếm chuyện, nghi kỵ nọ kia, gây rắc rối cho tôi thì có. Cho nên trong vụ nầy, chưởng khế giúp giùm tôi và cần thận hơn hết là không nên hài danh tánh tôi trong tờ mua bán. Như vậy chưởng khế sẵn lòng với tôi chứ»?

Ông chưởng khế ưng thuận, V.M. ra về đã yên tâm một phần. Cách vài bữa sau, nhơn đọc báo, V.M. thấy tin ông Bredius là nhà giảo nghiệm danh tiếng ở Hòa Lan hiện có mặt ở Paris. V.M. lật đật xách tờ báo trở lại tìm chưởng khế và yêu cầu đem tranh nhờ Bredius giảo nghiệm vì dịp may ít có. Chưởng khế nghe theo lời, tức tốc lãnh tranh nơi ngân hàng, bổn thân đem đến tìm ông Bredius và hai mươi bốn giờ sau là có giấy chứng của Bredius nhìn nhận tranh nọ là tranh cồ, chính do Vermeer, thế kỷ 17, sáng tác. Đã có chứng chỉ hợp thức, thêm chưởng khế nay là người đầy đủ uy tin, nên tranh bán cấp kỳ. Người mua không ai xa lạ, vốn là viện bảo tàng Boymans, ở Amsterdam (Hòa Lan), giá mua là 58.000 livres. Trừ ra tiền xe pháo, tiêu nghệ, tiền hoa hồng Bredius và hoa hồng chưởng khế, V.M. còn 40.000 livres: giàu rồi! Tranh được giao phó cho chuyên gia sửa chữa vào bế lại những chỗ trầy do V.M. tạo ra cho thật đúng cổ, rồi đem về Hòa Lan trưng bày tại viện bảo tàng quốc-gia, suốt mấy năm trường, trân trọng như một «quốc-gia chi bảo». Viện bảo tàng cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa và lấy làm mừng mua được vật báu. Trong khi ấy, V.M. tưởng mạo tể thành công như vậy là đủ, lòng dặn lòng không tái phạm làm chi. Bây giờ không ở Roquebrune nữa, có tiền rồi, dọn lên Nice ở cho sướng thân. Nhưng cổ nhân đã nói: «Ăn quen, nhịn không quen», ít lâu V.M. bắt bén, tự hỏi: «Sao không giả tạo tranh cổ khác»? Phen nầy đã thành thạo lắm rồi, nên bắt qua nhái nghệ thuật của Frans Hals và của de Hooch, đều là đại danh họa thế kỷ 17 của nước Hòa Lan. V.M. hăng hái làm việc không nghỉ tay và suốt mười hai tháng nỗ lực, tạo được sáu tranh mạo tễ khác:

Hai bức kể như kiều tập (échantillons), V.M. nhái điệu de Hooch và bản cho hai sưu tập gia ở Rotterdam, gọi đề làm quen. Sau hai nhà nầy thích quả, nên mua thêm của V.M. hai bức ký Vermeer, mà không biết là giả. Hai bức tranh nầy bán, không ký công tra, nên số thu định lối 68.000 livres. Cứ tính theo tỷ lệ số tiền bán tranh kỳ nhứt thì phen này, phần cua V.M. cũng không dưới 40.000 livres. Tháng tám năm 1939, bên Âu châu xảy ra cuộc đệ nhị thế chiến. Mây đùn sát khi, máu chảy tràn đồng. Lại một phen người giết người, đồ hại sanh linh. Khi giặc chưa khởi, V.M. cùng vợ đáp tàu hỏa, về thăm cố hương là Rotterdam. Nghe tin khai chiến, cũng chưa sợ. Định bụng rằng phen nay bạo phát bạo tàn, chuyến nầy sẽ mau điều đình và không dây dưa đâu. Vợ chồng sẽ trở về nhà, ở Cote d’Azur, việc gì mà lo? Sáu tháng sau, giặc đã không dứt, càng bành trướng thêm. Hòa Lan bị chiếm, dân chúng phải sống kham khổ thiếu thốn dưới gót sắt bách thắng của quân Đức. Sự sản của V.M. đang vững vàng đồ sộ, bổng bị tê liệt bất ngờ. Được bao nhiêu thì tiêu pha hoang phí, tính cho vô tận: mua một tòa lâu đài cổ ở Nice, tu bổ cho vừa con mắt, đến gần cạn túi, nay thinh khổng thinh không kẹt ở đây làm vầy, khổ chưa? Dẫu muốn bán hết sự nghiệp ở Pháp, qui nhứt thống về Hòa Lan, nay cũng không kịp. Chỉ còn một phương duy nhứt, giải thoát được cơn nguy, ấy là mạo chế tranh cổ thêm nữa. Nhưng hãy nói nho nhỏ, đừng cho ai biết!

V.M. bây giờ đã trở nên một tay xảo thủ, việc giả tạo tranh cổ đã trở thành một nghề chuyên môn. Chớ chi vẽ thực và ký thực tên mình, thì đâu có chuyện. Nhưng ngựa quen đường cũ, phải giả tranh cổ mới bán tiền nhiều hơn. V.M. vẽ thêm năm bức ký Vermeer giả nữa và lấy đề tài trong Thánh kinh, để dễ bề nói dối, vì V.M. biết không ai hiểu biết đời sống của Vermeer cho bằng mình, đã từng thích giúi vào vẽ, treo tóc lên rường khi tham khảo và nghiên cứu năm xưa về nhà danh họa trứ danh nầy, nhứt là khoảng đời của Vermeer, từ thanh xuân đến lão mai, sách vỡ nói rất lờ mờ, lại càng dễ cho V.M. lựa chọn đề tài và dễ bề nói khoác cho trôi việc dối trá của mình làm. Vẽ rồi năm bức, V.M. lại vẽ thêm một bức, gọi Cène. Nguyên Cene la tên cảa mot bức họa thật lớn của Leonard de Vinci vẽ năm xưa trong vách phòng ăn của tu viện Santa Maria delle Grazie, tại thành Milan ở Ý đại Lợi. V.M. dám nghĩ đến việc họa bức nầy thì cái kiêu ngạo của anh ta đã lên tới tuyệt đỉnh, vì dám sánh tài mình với bực hậu tổ nghề hội họa Tây phương. Nhưng khi V.M. có ý định rồi thì đem ra thực hành ngay. V.M. đem hết tài nghề và sở trường để vào đó, dường như muốn cho ngày sau đời biết tài mình cũng do bức tranh đại họa này. Khi bắt tay vẽ Cène được vài tháng, thì V.M., nguyên là người kỹ lưỡng, bèn nghĩ lại rằng: «Nếu mình vẽ phóng ứng như vầy, e có chỗ sơ hở. » Nghĩ như vậy, nen V.M. ngưng vẽ bức tranh lớn ấy để vẽ trong bố cắt rời, từng nét mặt và từng chi tiết nhỏ của mỗi nhơn vật, tức làm esquisses và quyết vẽ sao cho tuyệt diệu hơn bức «các tông đồ tại Emmaüs » cho được mới nghe. Khi muốn vẽ lại “đầu cổ chúa Gie-su”, V.M.phóng họa ra nhiều kiểu đề tìm lựa kiểu nào ưng ý nhất. Có một kiểu «gương mặt Chúa », khi vẽ rồi, đem làm cho cũ trong lò điện, lúc lấy ra, V.M. ưng ý quá nên khoe với một nhà buôn đồ cổ, dối rằng đó là phác họa cổ của chính họa sĩ Vermeer đời xưa đã vẽ cho một bức tranh nào mà nay ông đã quên tên.

Ông nầy nghe nói, mê quá nên cố nài cho được. Không dè vài tháng sau, V.M. trở lại nài nỉ hết lời rằng nay ông vừa tìm được một bức tranh lớn gọi Cène và ông nhớ ra rồi, vậy cái mẫu gương mặt kia, xin cho ông chuộc lại, giá nào cũng được, miễn sao ông được trọn bộ là toại nguyện. V.M. làm hộp như vậy, để sự việc ấy đồn ra, nên năm 1940, có một triệu phú sai giảo nghiệm viên đến mua vừa tranh lớn Cène, vừa tranh nhỏ esquisse, với một giá mắt kinh khủng: 215.000 livres. Một lần nữa, và mặc dầu chiến tranh, V.M. trở nên giàu sang như cũ. V.M. lấy tiền bán tranh, tậu nhà mua phố, lập lại một sự nghiệp kể dến trên năm chục bất động sản có lợi tức. Và trong nhiều tháng dài va sống phong lưu nhàn hạ, không làm gì động đến móng tay, gọi đề xả hơi, bù lại những năm lận đận, anh ta thường nhắc và cho rằng trần ai vô tri kỷ. Vào cuối năm 1940, V.M. bắt đầu cầm cọ và vẽ lại. Trong mười tám tháng, ông vẽ xong được ba bức tranh mạo tễ nửa và đây là ba tác phẩm sau chót của V.M. Nhưng lạ thay, nay đã giàu sang, có tiền nặng túi, thì tài nghề lại nhụt đi. Ba bức tranh sau rốt này, kém phần độc đáo và thua xa những bức khi xưa vẽ trong cảnh cơ hàn, ăn bánh mì mốc. với bánh sữa rẻ tiền. Chớ chi V.M. bán mấy bức tranh này trước cuộc đệ nhị thế chiến, thì ắt đã qua trót lọt và chưa bị lộ tầy. Nghĩ ra trời cũng hết sức chìu tên đại bợm này, nên khiến cho bấy lâu, không ai đề ý mà hỏi va vậy chớ trong một thời gian cũng không lâu gì mấy, từ năm 1932 đến năm 1940, mà làm gì va đào ở đâu ra và có hoài hoài những tranh cổ quí giá đến thế? Cuối năm 1943, V.M. bắt tay tạo bức tranh giả thứ tám của ông, bức tranh nầy cũng là một tuyệt tác của ông mà cũng là bức tranh xui xẻo sẽ đưa ông đến cửa tụng đình và vì sao ông lựa đề tài quái gở «Christ et la femme adultère » (Chúa Cứu thế và con dâm phụ). Người mua bức tranh nầy là vai tả phụ hữu bật hét ra lửa của Hitler, tức Thống chế của Đức quốc xã, tức ông Gobels. Nói cách khác, bức tranh đã đem lại cho V.M. ba chữ «Chấn Gia Thinh». V.M. danh nổi như cồn. Tranh này là tranh thứ sáu, giả tạo, mang chữ ký của Vermeer.

Christ et la femme adultère

Nói tuyệt tác, thật tình chưa đúng, vì tranh vẽ hối hả trong hai tháng thôi, nên nhiều chỗ còn để cho thấy sự hấp tấp của va và đã mất hết những nét tỷ mỷ kỹ càng, những chú ý cẩn thận của buổi đầu tiên, khi vẽ bức «les Disciples d’Emmaus » hay bức Cene.

V.M. vẽ tranh này đúng trên một tấm bố thế kỷ 17, nhưng đã làm biếng, không cạo lớp sơn cũ sạch sẽ như mấy lần trước, cho nên sau này khi rọi quang tuyến X, thì thấy rõ lớp sơn cũ và lớp sơn mới chập chồng nhau, và khi hơ nóng giả cổ trong lò điện, hai thứ sơn cũ mới ấy khắn nhau lại, cạo không ra. Sở dĩ tranh như vậy mà vẫn bán được, là chứng tỏ sự thiếu sót chuyên môn đáng trách, sự thiếu lương tâm nghề nghiệp của bọn trung gian môi giới giữa ông Thống chế Gobels, đã giàu quyền lực lại không thiếu gì tiền, với một họa sĩ phong lưu có địa vị lớn. Bọn môi giới ấy, bởi ham tiền, đã mất lương tâm. Nguyên do cuộc mua bức tranh ấy, là Thống chế Miedl được bộ hạ báo tin ở nhà V.M. có một bức tranh cổ quí giá. Miedl thật tình muốn tấn ơn nên nhắn với người giới thiệu thường đi mua cổ ngoạn cho Gœbels hay. Miedl không có ăn nhậu gì trong cuộc mua chác nầy, nên nếu buộc tội ông thì oan lắm. Ai ai ngày nay cũng biết khi Gœbels bị hạ bệ và tịch thu tài sản thì sự nghiệp của va không biết đến mấy tỷ mà nói, người đồn còn nhiều thùng chứa đồ cô-léc-xông vô giá nằm dưới đáy biền, tìm chưa ra, vì ý Gœbels tích tụ của báu là đề sau nầy dùng nó mà dựng cơ đồ đại sự, phục quốc hưng bang chớ không vừa. Trong vụ này, khi người trung gian thân tín về phúc trình thì Gœbels xuất tiền trả ngay, số tiền xộn xện lên đến 165.000 livres chớ không vừa. Kên kên quạ quạ thì ăn trên rừng, lòng tong cá chốt thì rỉa rứt dưới nước, tiền còm-mi-xông cúng đủ mọi mặt cô hồn các đảng rồi, chỉ tồn V.M. cũng còn lại 120.000 livres trong áp-pbe này. Trong hồ sơ lý lịch nơi tòa ản, thì vào đầu năm 1944, thân thế và sự nghiệp của V.M. có thể tóm tắt như sau:

– V.M. sống độc thân, vì đã ly dị vợ; người vợ tào khang, «tấm mẳn có nhau buổi hàn vi»;

– Tranh của V.M. giả mạo, trưng bày trong viện bảo tàng quốc gia Hòa Lan: những người giàu kinh nghiệm của các nước tới chơi, đều trầm trồ khen là tuyệt diệu;

– Tài sản, của chìm của nồi, nếu tính ra tiền, thì to tác không chỗ nói.

– V.M. không có con.

V.M. đang vẽ bức thứ 9, giả tạo tranh Vemeer nữa. Phen nầy va tính kiếm độ 1.000 livres để nhập vào két sắt.

Nhưng lúc ấy, V.M. đã năm mươi lăm tuổi đầu mà tóc đã muối tiêu, da nhăn, má cóp: già nhiều hơn số tuổi, cũng vì nay lắm tiền nên sanh sứa: đêm thì thức khuya trác táng, ban ngày thấm mệt, phải dùng bạch phiến, trước để tìm thêm khoái lạc, sau tìm yên-sĩ-phi-lý-thuần (inspiration) để có tơ-lơ-mơ, làm việc thêm hăng hái. Dẫu cho máy bằng sắt cũng phải mòn: vì vậy V.M. vướng bịnh đau tim mà chưa hay. Bây giờ chỉ còn có hai món giúp V.M. gượng sống: một là bạch phiến, hai là làm việc. Hai lẽ bổ túc nhau trong vòng lần quẩn: làm việc, tức giả tranh cổ bán cho thật mắc để có tiền mua ma túy va chích, nuốt, thầu ma túy, để có sức, có sáng kiến tìm ra tiền. Nhưng lúc ấy vừa hết giặc. Quân đội Đồng minh Anh Mỹ đổ bộ, giải thoát Hòa Lan khỏi ách chiếm đóng của bọn Đức quốc xã. Hitler đã binh bại, mạng cùng và tự tử. Mùa thu năm 1947, quân đội Đồng minh, khám xét đại bản doanh Berchtesgaden là chỗ an sau cùng của Hitler, gặp được bức tranh «Chúa Cứu-thế và con dâm phụ» lại cũng tìm được luôn tờ mua bán năm trước giấu trong vài thùng lớn chứa đồ báu vàt của Gœbels bỏ lại trong khi thoát thân, đào tỵ. Nhắc lại, trong tuần tháng năm năm 1945, có hai hiến binh đến tận nhà V.M. ở khu Keizergracht, tại Amsterdam, để hỏi chủ nhân vài tài liệu không quan trọng lắm. Hai công sai rất rụt rè lễ phép, phần khớp vì nhà cửa sang trọng, phần thấy một ông già đạo mạo, có vẻ tiên phong đạo cốt, phú quí như vầy há đâu phạm pháp cho đành. Nhưng cũng phải lấy khẩu cung cho có lệ và chi muốn ông nói cho biết, mách giùm cho mình tìm ra manh mối ai đã bán một bức tranh cổ và quí cho một tên thù nghịch hạng nặng, nặng cỡ một Nazi bự như Gœbels, tàn sát không biết mấy triệu sanh linh.

– Thưa ông, một hiến binh hỏi, ban sơ ông gặp và mua bức tranh cổ ký Vermeer bán cho Gœbels ấy, ở tại đâu?

Nhưng V.M. đã hết thời, khiến cho thần khẩu giục trả lời liền:

– Tại Ý Đại Lợi, trước khi xảy ra trận giặc vừa rồi. Nhưng tôi không nói gì nhiều hơn nữa được, vì tôi đã  trót hứa với chủ cũ giữ giùm thể thống của ông, vốn là một vọng tộc nay đã suy vi.

Hai hiến binh cười thầm mà không nói lời gì và xin cáo lui. Họ vừa bước ra khỏi cửa, V.M suy nghĩ và hối lại

không kịp, vì lời khai của mình ban nãy, làm sao lấy lại được, khi không mình tự trói mình nạp cho mật thám.

«Hai tên lính ban nãy, V.M. nói thầm đủ mình nghe, thuộc đội thám quân chánh trị. Chúng nó đã biết tranh ấy bán cho một tên A-lơ-măng. Thế mà mình nay lại khai tranh ấy trước mua tại Ý-đại-lợi, tức một nước thù nghịch khác của Đồng minh. Như vậy, minh sẽ bị buộc vào tội tư thông ngoại quốc, thông đồng với bọn phát-xich Ý và bọn Đức-quoc-xa Nazi. Cha ơi! Tội này nặng biết chừng nào! »

Và cái độ tội trọng ấy, chẳng bao lâu cơ quan cảnh sát đã tìm ra manh mối. Vừa qua ngày sau, V.M. bị mời ra trình diện Sở Cẩm với tội phản quốc. Thầy thẩm sát viên xuýt ngã người trên ghế ngồi, khi nghe V.M. mắng xối xả cho một hơi:

– Tôi thật tình tội nghiệp cho ông! Ông quả là đồ ngu, không biết gì hết! Tôi có dại gì bán tranh qui chánh Vermeer cho bọn A-lơ-măng? Chánh phủ đáng lẽ dựng hình đồng cho tôi mởi phải! Kỳ công lấy tiền Đức-quốc xã tôi xài! Ừ! Chinh tôi đây, Van Meegeren đã vẽ tranh đó và ký tên I.Meer đó chứ ai? Gœbels nó mua với giá bạc triệu một tấm tranh xoàng xĩnh do tên này vẽ ra. Và suốt tám năm nay, suốt tám năm trường, Van Meegeren nay đã phỉnh gạt mấy thằng thầm định viên bất tài của Chánh phủ đó! Tôi nói cho ông biết, chúng nó toàn là đồ ngu dốt, không biết gì về nghề nghiệp, mà làm mặt song tàn, chỉ giỏi vơ vét tiền còm.

Lính nghe đầy tai và chép không muốn kịp, nhưng lính vẫn không tin. Định cho ông già này, mất trí nói xàm.

Rồi họ lại nghi cho ông gia đặt chuyện như vậy đề dễ bề chạy tội «thông đồng quân địch, phản nghịch quốc gia ». Sau một đêm bị cầm lại bót, mà V.M. ngủ vùi như chết, rạng ngày, tới giờ làm việc, V.M. buộc Sở Cẩm viết tờ biên bản, đề ông khai hết tự sự, đầu đuôi gốc ngọn, ông nói đó là lời sảm hối của ông, mặc cho Tòa giảo nghiệm lại lời khai nầy.

Tờ biên bản viết xong, ông kỷ tên rành rẽ. Điều tra lại, thì tội phản quốc không đứng vững. Tòa lấy làm bối rối không biết dựa vào điều khoản nào mà buộc tội ông già nầy. Sau đó có một ông tòa tìm ra một sáng kiến khá ly kỳ. Ông đòi V.M. ra hầu, và hỏi:

– Nếu ông khai rằng chính ông vẽ được bức tranh « les Disciples d’Emmaüs » đó, vậy chớ ông có thể vẽ một tấm copie thứ hai tranh ấy lại được chứ?

– Sao lại vẽ copie? V.M. thưa. Tôi có thể thi thố tại đây tài nghệ của tôi cho quí tòa biết sức. Miễn ban cho tôi đủ phương tiện: một tấm bố cũ y như ý tôi chọn, đồ nghề thì lấy tại nhà tôi, và tôi sẽ vẽ lại trước mặt ai cũng được, một bức tranh theo nét bút Vermeer, cho ai đó là chuyên môn chứng kiến và giỏi phân biệt giả chơn! Như vậy, quí tòa bằng lòng chứ?

Tự nhiên tòa sẳn lòng chấp nhận lời yêu cầu của bị cáo. Tháng tám năm 1945, V.M. biểu diễn tài nghệ trước mắt sáu chuyên viên nhân chứng thay mặt đủ các nguyên cáo trong vụ án ly kỳ nầy. Đó là bức giả tạo thứ 9 tranh Vermeer. Phải nói, V.M. vẽ liên tiếp không nghỉ tay phút nào, ngoài giờ nghỉ ngơi cơm nước. Lính thay phiên canh gác, các nhân chứng cũng không nới phòng làm việc một giây phút nào. Một lần nữa, V.M. chọn một đề tài rút trong Thánh Kinh, và cũng dùng bố cũ của thế kỷ 17 kiếm được. Màu và dầu sơn thì từ nhà đem lại, đủ cả lò điện để hơ giả cổ, bút cọ bằng lông blaireau và ống thiếc tròn đề làm da rạn nhái rạn tranh xưa.

Đề tài bức tranh là «le Seigneur enseignant dans le Temple» (Chúa dạy học trong Thánh-đường).

Đến tháng mười, thì bức tranh hoàn thành. Các giám định viên và nhân chứng thảy đều công nhận đúng là tuyệt tác, giá trị không thua mấy tranh giả tạo trước. Người họa sĩ có thiên tài mà không ai biết thưởng thức. Túng nước phải liều nay chúng bay sáng con mắt ra thì đã muộn. Thiên tài phải chịu tù, nhưng cao vọng cũng thỏa mãn.

Luật lệ xứ Hòa Lan rất chậm. Phải đợi hai năm nữa mới kết thành án. Tòa buộc V.M. về tội gì? Chỉ có một lần, V.M. có nói duy nhứt một câu: «A mon avis, ce ta-bleau est un-Vermeer ». (Theo ý kiến tôi, tranh này là đúng của Vermeer.) Nhưng bao nhiêu ấy kbông đủ yếu tố buộc tội. V.M. còn có nói những câu na ná như vầy: «Đày là một bức tranh. Các ông nghĩ sao? Định trả bao nhiêu giá tiền bức tranh ấy? » Cũng không đủ để kết án V.M. Sau rốt, tòa phải dựa theo mặt luật sẵn có, tuyên án hư vầy: «Vì mỗi tám bức tranh đều ký tên khi là Vermeer, khi là de Hooch, vậy Van Meegeren phạm tội giả mạo tám chữ ký: Một năm tù ở. »

Không nghe nhắc chuyện tranh giả tranh thiệt, chỉ nghe nói «giả mạo chữ

ký ». Đúng mười lăm ngày sau, V.M. lê chân đến hầu tòa cũng với vẽ thản nhiên của một người bị khuẩy rầy trong tuổi già bóng xế. Án tòa «một năm tù» là nể bị cáo, kém sức khỏe rõ rệt. Tuyên án rồi, tòa chưa cho lịnh bắt giam và cho phép V.M. về nhà đợi lịnh.

Chiều hôm nghe đọc án, về nhà, V.M. lên cơn đau tim dữ dội. Một tháng sau bịnh tái phát. Kỳ nầy ông tắt hơi luôn, chưa kịp thì hành án tòa. Sống làm chi nữa? Mà gượng sống để làm chi? Sống giữ tam tùng thì trọn đời làm con gánh nước, con đòi, con ở. Thây kệ, làm như người ta, mà một thuở lên xe, ở nhà lầu, rồi tới đâu hay tới đó. V.M. muốn lương thiện, mà cất đầu không nổi. Thà làm như đã làm, một thằng gian, mạo chữ ký, mà tiếng tăm chấn động hoàn cầu. Vermeer, de Hooch, hai ông với tôi, khác nhau chỗ nào?

Kết luận.

– Thế gian lắm sự bất công. Cũng thì một bức tranh, khi ký tên thật của mình là họa sĩ vô danh, thì thiên hạ chê nhiều khen ít. Bức tranh ấy, dưới góc nếu có chữ ký họa sĩ đại danh, thì thiên hạ đua nhau giành giựt.

Giữa kẻ mua người bán, nước văn minh, thường có người đứng trung gian đề thẩm định giá. Cố nhiên phải trả tiền công. Trong khi ấy, người chơi tranh cổ giả và người giả tranh cổ, mãi còn. Tranh mua rất mắc tiền. Đợi cho tác giả nổi danh, có lẽ người mua đã chết trước. Tranh rất bề bộn. Kén chổ treo và tranh cỡ Picasso mà treo dộng đầu, chỉ để cho người đời đàm tiếu. Lấy làm giẻ chùi thì tiếc, cất trên gác sợ chuột nó khoét. Không bằng đồ sành, đồ sứ. Gặp giả, tao lấy mày làm mẻ kho, tao nướng trên lửa nóng, cho cháy da xám mặt. Mầy rên sèo sèo, tiền mất mà tao có bài học khôn.

(23-10-71)