vietmessenger.com
Morris L. West
Bản dịch của Chu Việt
Post by Sơn râu 15 Dec 2025

Chương 6
SAU ĐÁM TÁNG, ĐẠI-TƯỚNG OLLIVER đưa tôi về bản doanh để dùng cơm trưa với bộ tham mưu của ông. Tòi lấy làm thú vị về sự tiêu khiển này và cũng biết ơn ông đã cho tôi viếng thăm qua cái thế giới đơn giản hơn của người lính nhà nghề.
Khi còn trẻ, tôi đã nuôi dưỡng trong một thời gian khá lâu một mối khinh bỉ kín đáo đối với những kẻ mãn nguyện sống suốt đời dưới cái chế-độ phụ hệ đầy thiện ý của nhà binh. Đối với tôi dường như họ đã tránh khỏi một cách quá dễ dàng việc đi tìm một triết lý và sự cần thiết phái có một sự phê phán đạo đức rộng rãi. Họ là những người lính đánh thuê xả thân vì một nghệ thuật bạo tàn và rồi nghệ thuật ấy sau rốt chắc cũng phải bị triệt bỏ nếu giống người còn muốn sống sót. Cũng giống như những người cảnh sát, họ luôn luôn nhắc nhở ta về sự yếu đuối, bất lực và ác ôn của con người. Họ là khí cụ tiêu cực của những chính sách, hay hoặc dở, mà họ không được tham dự vào việc hoạch định. Họ đã tạo ra một giai cấp đặc biệt cho chính họ, một giai cấp có thuyết tạo
lập riêng và những ảo tưởng riêng về sự cần ích, sự thiêng liêng hay anh hùng chủ nghĩa. Họ tận tụy với những gì thuộc về quốc gìa chứ không
phải vũ trụ. Họ giống như những nhà phù thúy bí mật hoài công với một linh đơn nguy hiểm để chống lại cái ngày mà họ có thể bị chỉ định đem chết chóc và tàn phá ném lên một thế giới không hay biết gì …
Thương thay cho sự xấc xược trẻ người non dạ của tôi! Ngày nay, trong sự ô danh bí ẩn của tôi, tôi thèm được như họ. Tôi thèm thuồng cái ngây thơ trong mục đích nguy hiểm của họ. Tôi thèm thuồng cái luân lý trong sự phục tùng của họ và sự vô trách mặc nhiên ngay cả khi dưới sự chỉ huy sai lạc của thượng cấp. Phẩm giá của họ có nền tảng sâu hơn là phẩm giá của tôi bởi vì nó bắt nguồn từ một ý niệm phục vụ và đời sống của họ luôn luôn bị cầm đỡ đề khẳng định phẩm giá ấy.
Đại-tướng Tolliver tiếp khách rất giỏi và tôi thấy rõ là bộ tham mưu của ông rất kính trọng ông. Chung quanh bàn ông họ nói chuyện rất thú vị, kiểu nói chuyện tự do chỉ trích, xen lẫn với những ký ức ở quê nhà và điểm thêm những câu chuyện chiến dịch và đồn trú. Họ nói lên một thứ âm điệu của những người bà con thân thuộc, một sự hãnh diện của gia đình mà ngay đến vị tướng lãnh người Việt cũng dường như chia xẻ với họ. Họ cũng chia xẻ cả với tôi nữa bởi vì tôi là đại diện vị Tổng Tư-lệnh tối cao của họ và họ cũng không tha diễu cợt một cách lễ độ cái nghề cằn cỗi và rắc rối mà tôi đã dấn thân vào.
Trong một khoảnh khắc, tôi cảm thấy mình được gột rửa sạch sẽ mặc dầu trong khi đó tôi biết tôi vẫn chưa được tha thứ. Nhưng khi xong bữa cơm tôi lại quay về với những rối ren của công việc tôi làm. Đại-tướng Tolliver mời tôi lại bên với Trần-hưng-Đạo và đưa chúng tôi vào một căn phòng riêng. Ông cho đem đến cho chúng tôi cà phê, xì-gà, một chai rượu mạnh ngon rồi bỏ đi. Ông là một quân nhân chứ không phải một nhà ngoại giao. Ông không muốn dây phần vào các công chuyện ngoắt ngoéo của chứng tôi.
Trần-hưng-Đạo là một ngạc nhiên về nhiều điểm. Đối với một người Việt nam, ông gần như người khổng lồ. Ông cao gần một thước tám, thân hình lực lưỡng, vai rộng; đôi mắt ông sáng, nụ cười cởi mở, tiếng Anh ông nói gần hoàn hảo. Trông ông giống một người Thượng-hải hơn là người Việt và nước cờ đầu tiên ông đi cũng bất ngờ như vậy.
« Thưa ông Đại-sứ, chắc ông đã biết rõ là đối với Tổng-thống Cung tôi là một kẻ mưu phản. Điều đó có nghĩa tôi là một người tướng lãnh tin tưởng rằng chúng ta đang thua trận và là một người dân bất mẫn đối với chính phủ. Tôi đang tìm kiếm một đường lối để thay đổi cả hai hoàn cảnh ấy. Ông Harry Yaffa cho tôi biết rằng chính ông cũng có một vài ý kiến về vấn đề này. »
« Vâng, thưa Trung-tướng. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẵn sàng tiết lộ những ý kiến ấy ra. » Những người Á-châu mà lại đi chấp dụng những lối làm quen mau mắn và mạnh bạo của Tây phương bao giờ cũng làm tôi khó chịu. Với tôi thì dường như họ đã bỏ rơi mất một sự lọc lựa quý báu để chạy theo một cái gì tầm thường và thiếu thành thật. Do đó tôi đã cộc cằn với ông tướng có thân hình lực lưỡng này. Ông biết rõ điều này và ông biết rõ tại sao, cho nên những lời lẽ ông nói sau ôn hòa hơn nhiều.
« Ông Đại-sứ tha lỗi cho tôi, nhưng tôi biết ông đã tiết lộ nhiều điều nghiêm trọng. Nhưng có lẽ nói cho thận trọng hơn thì ông có ý muốn thấy một sự thay đổi không khí chính trị.»
«Vâng, đổi không khí. Nhưng không nhất thiết là đổi thay chính quyền.»
«Ông có nghĩ rằng được cái nọ mà không cần phải có cái kia không?»
«Trong lúc này tôi không chắc. »
«Nhưng nếu các biến cố chứng tỏ rằng cần phải thay đổi chính quyền-nếu, thí dụ như các lời phản kháng của ông không được chú ý đến, nếu các vụ.
trừng phạt ông tính đưa ra áp dụng không có tác dụng nào, thì sao? »
«Khi ấy chúng ta phải trông cậy vào chính nhân dân Việt Nam để họ tự đem lại sự thay đổi.»
Ông nâng ly rượu mạnh lên, ngửi một cách thích thú, nhấm nháp chút đỉnh rồi đặt ly xuống. Giọng ông nói nhẹ nhàng và châm biếm.
«Thưa ông Đại-sứ, tôi thấy ông là một người rất chính xác, do đó tôi cũng phải chính xác đối với ông. Nhân dân Việt-nam .. họ là ai? Có phải là những người Thượng sinh sống như dân sơ khai trên rừng núi? Những dân chài lưới miền châu thổ không biết đọc, biết viết? Người Thái? Người Chàm? Người nông dân ở dưới ruộng không được quyền đầu phiếu và nếu có cũng không thể xử dụng lá phiếu vì chúng tôi không có được những cuộc bầu cử như Hoa-kỳ? Nếu có sự đổi thay, chính phải là do những người có giáo dục có tổ chức và phương tiện vật chất để thực hiện. Khi đã đổi thay xong, đất nước còn phải được cai trị, chiến tranh còn phải được tiếp tục, nếu chúng ta không muốn rơi vào sự rối loạn hoàn toàn và chịu số phận trung lập thảm bại của các nước láng giềng chúng ta. Chắc ông thấy rõ điều đó? »
«Vâng, tôi thấy rõ. Nhưng cho đến đày Trung tướng mới chỉ cho tôi biết phải làm cái gì mà thôi. Tôi quan tâm muốn biết có thể làm được cái gì và làm thế nào. »
Vì quá quen thuộc với các cuộc đối thoại với người Đông-phương, tôi tưởng rằng ông sẽ khựng lại và không đả động gì đến vấn đề nữa hay ít nhất thì cũng né tránh câu trả lời. Nhưng không. Ông nở một nụ cười rộng rãi với tôi, ngả người về phía sau ghế một cách thoải mái và nói:
«Trước hết, ta có thể làm được gì? Có thể làm một cuộc đảo chánh. Nếu tôi định nghĩa đúng thì đảo chánh là một cuộc đổi thay chinh quyền rụp một cái. Đảo chánh không phải là cách mạng, vì đối với chúng tôi, cách mạng là một chuyện phải đổ máu và bi thảm. Đảo chánh có nghĩa là áp dụng áp lực ở một điểm duy nhất, vào một thời khắc chọn lựa làm cho chính quyền mất thăng bằng sụp đổ và một chính quyền khác lên thay thế … Vậy bây giờ, ai có thể áp dụng được áp lực ấy? Chỉ có Quân đội, vì Quân đội có tổ chức, có nhân lực và sự đe dọa của vũ khí. »
« Vậy nghĩa là dù muốn dù không chúng ta cũng phải, chịu cam kết với một hội đồng quân lực»?
. «Thưa ông Đại-sứ, nó có khác gì nhiều với nền độc tài quân sự hiện nay không? »
« Có thể sẽ kém ổn định hơn. »
« Nó cũng sẽ ôn hòa hơn bởi vì cái hệ thống kiểm soát để quân bình nội bộ của nó sẽ hoạt động chống lại những kẻ cực đoan.»
« Vẫn còn có một chữ nếu to lớn. »
« Thưa ông Đại-sứ, bao giờ cũng có chữ nếu cả. Ông nhớ câu kinh Ki-tô giáo, « Nếu ta chết trước khi ta tỉnh, dậy … ». Chỉ có cái chết là điều chắc chắn duy nhất ta có mà thôi.»
« Thế là Quân đội sẽ làm một cuộc đảo chánh. Làm thế nào mà tổ chức được? »
« Thưa ông Đại-sứ, đó là một vấn đề hết sức thực tiễn … »
Trên mặt tường đối diện với ông là một bản đồ chiến sự lớn của miền Nam Việt-Nam. Ông tự đẩy mình ra khỏi ghế ngồi, bước ngang căn phòng
và đến đứng cạnh bản đồ, trông thật giống ông giáo giảng bài cho một tên học trò ngốc nghếch. Ông vẫn còn làm cho tôi bực mình về sự tin tưởng
mạnh mẽ của ông. « Quân đôi Cộng-hòa gồm có bốn quân đoàn. Quân đoàn I kiểm soát miền Đông Bắc, từ biên giới của Bắc Việt qua Đà-nẵng và đến biên giới phía Tây. Quân đoàn II, căn cứ tại Pleiku, kiểm soát những tỉnh của cao nguyên miền Trung. Quân đoàn III kiểm soát vùng châu thổ và Quân đoàn IV kiểm soát biệt khu Saigon. Ngoài những đại đơn vị đó ra, chúng tôi có một lực lượng hải quân nhỏ, không quan trọng lắm đối với nhận định của chúng tôi và một lực lượng không quân nhỏ – vô cùng quan trọng. Rồi … !»
Òng lấy ngón tay chỉ vào bản đồ để nhấn mạnh «Biệt khu Saigon gồm một vòng đai bảo vệ quanh thủ đô và trụ sở của chính phủ. Hiện nay biệt khu
đang trong tình trạng thiết quân luật và vị tư lệnh quân đoàn là một người Ki-tô giáo rất mực trung thành với chế độ. Quân lính thì – ngoại trừ Lữ-
đoàn Phòng vệ Phủ Tổng-thống – có thể ngả về bên này hay bên kia. Do đó chiến lược cướp chính quyền phải gồm có bốn giai đoạn. Thứ nhất, chúng
tôi sẽ đưa về hai tiểu đoàn đã tự tay lựa chọn từ miền Bắc và miền Trung. Chúng tôi đưa từ miền Nam lên một tiểu đoàn nữa. Như vậy là chúng ta có ba mũi dùi chĩa vào trung tâm thành phố. Giai đoạn hai, chúng tôi chiếm Bộ Tham-mưu Quân đoàn III làm cho đơn vị này không có ai chỉ huy nữa. Khi đã chiếm xong, có thể khắc phục dễ dàng các đơn vị trưởng đem quân theo ba tiểu đoàn của chúng tôi.
Giai đoạn ba, các đơn vị Không quân đe dọa thả bom Phủ Tổng-thống và thành phố. Giai đoạn bốn, chúng tôi kiểm soát được thủ đô và quân lực.
Chúng tôi thành lập một chính phủ do một ủy ban gồm ba hay bốn tướng lãnh kiểm soát. Chúng tôi điều hành chính phủ với nhân viên dân sự hiện đang nắm chính quyền điều khiển tại các Bộ và những người này có thể tiếp tục công việc của họ một cách bình thường »
Ông ngưng nói ở điểm đó và đối diện với tôi, nét mặt tin tưởng và tươi cười, như thể ông vừa phê xong « cần phải được chứng nghiệm » ở cuối định lý Pythagore. Nhưng tôi vẫn chưa chịu chấp nhận sự chứng minh của ông một
cách tin tưởng như ông đã làm.
« Thưa Trung-tướng, theo tôi thấy thì Trung-tướng bất cứ lúc nào cũng có thể tự ý làm hành động ấy được. Tại sao Trung-tướng còn chờ đợi?
Tại sao Trung-tướng lại đến gặp tôi làm chi? »
« Bởi vì chúng tôi cần có – không biết gọi là cái gì nhỉ? – một hóa vật để khởi sự một phản ứng hóa học. Đây, tôi sẽ nói ông rõ tại sao. Vị tư lệnh Quân đoàn I là một người hùng, cứng rắn, một quân nhân giỏi. Ông vốn không ưa sự ngoan cố của Tổng-thống chúng tôi, do đó ông theo chúng tôi hết mình. Nhưng để có thể di chuyển quân lính về thủ đô, ông phải đưa quân qua vùng Quân đoàn II mà vị tư lệnh rất lừng chừng. Ông này cũng ghét chính quyền như tôi nhưng căn cứ của ông ở một tỉnh mà Tỉnh-trưởng là thù nghịch với ông, cho nên ông muốn có sự bảo đảm. Vị tư lệnh ở dưới vùng châu thổ cũng ở trong một vị trí tương tự … Đây 1à điểm mà Tổng-thống chúng tôi đã tỏ ra rất khôn ngoan. Ông bao gìờ cũng ghép cho ba người chống nhau đi đôi với nhau. Không bao giờ để cho hai người thân nhau ở một chỗ cả. »
« Thế còn Trung-tướng giữ vai trò gì trong kế-hoạch? »
« Tôi ở Saigon. Tôi có trách nhiệm thi hành những kế hoạch chiếm Bộ tư-lệnh Quân đoàn III và bắt các sĩ quan của đơn vị này theo phe chúng tôi. »
« Còn Không-quân? »
« Toàn thể Không-quân theo chúng tôi cả. Nhưng Không-quân tuy thuộc vào Hoa-kỳ và xăng nhớt và bảo trì, do đó cần được bạn đồng minh bảo đảm rằng họ sẽ không bị bắt dưới đất. »
« Thật ra thì Trung-tướng muốn chúng tôi trở thành cộng sự viên trong vụ nổi loạn này.»
« Không phải thế, thưa ông Đại-sứ. Chúng tòi chỉ yêu cầu ông đứng ra bảo hiểm cho chúng tôi mà thôi. »
« Và các điều khoản chính xác của khế ước bảo hiểm mà òng muốn chúng tôi đứng ký tên ra sao? »
« Có ba điều, thưa ông Đại sứ: không phản bội, không can thiệp và Hoa-kỳ tiếp tục yễm trợ bằng tiền và võ khí khi chúng tôi lập được một chính phủ khả trợ … À còn một điều nữa, rất quan hệ. Chúng tôi cần có một dấu hiệu rõ rệt chứng tỏ ông thuận thi hành khế ước với những điều khoản mà chúng tôi đã đặt ra. »
« Đó là một tài liệu thật rõ ràng, mặc dầu nó vẫn chỉ là một tài liệu giả thiết. Tuy nhiên theo quan điểm chúng tôi thì nó hãy còn thiếu xót. Chúng tôi muốn thấy một điều khoản nữa thêm vào đó. »
« Điều khoản gì vậy, thưa ông Đại-sứ? »
« Là trong trường hợp có thay đổi chính phủ, không được có sự hung bạo nào trong việc đối xử với cá nhân Tổng-thống Cung hay bất cứ Bộ-trưởng nào trong nội-các của ông; họ sẽ phải được giam lại rồi sau đó dẫn độ
ra ngoại quốc một cách an toàn. »
Ông suy nghĩ về điều này trong một lúc lâu. Má ông bóp lại và sau đó lại phồng ra. Ông trở lại bàn và uống cạn ly rượu mạnh một hơi. Sau đó ông ngồi xuống và hút xì-gà trong dáng suy tưởng. Giọng ông nói đều đều,
« Nếu chúng tôi có thể đảm bảo với ông điều đó, thưa ông Đại-sứ, liệu ông có ủng hộ chúng tôi theo những điều kiện hạn chế mà tôi đã trình bầy sơ qua? »
« Với điều kiện vẫn được giả thiết từ trước đến sau là chính phủ hiện tại không còn có thể điều hành một cách hữu hiệu nữa. »
« Chắc là theo quan điểm của ông Đại-sứ? »
« Theo quan điểm của tôi và chính phủ tôi ở Hoa-thịnh-đốn … Dĩ nhiên bao giờ ông cũng có tự do hành động đơn phương và chịu lấy hậu quả.»
« Ông mặc cả sát ván quá »
« Tôi đâu có mặc cả, Trung tướng. Tôi chỉ thảo luận về một hoàn cảnh giả thiết mà chúng tôi mong là sẽ không xây đến.»
Gương mặt dịu dàng của òng sa sầm lại; đôi mắt ông lanh lợi và mệt mỏi. Tuy vậy ông vẫn còn tự chủ được và tiếp tục câu chuyện một cách đều đều như cũ.
« Thưa ông Đại-sứ, ông là một tay chơi xi-phé rất giỏi. Nhưng ông không thể suốt đời chờ cho bốn cây xì lên một lúc. Ông vẫn có thể thắng được với
các hoa xấu hơn. »
« Để tôi cắt nghĩa cho Trung-tướng nghe điều này. Chúng ta không thể thắng gì được vì chúng ta chơi tay đôi với chủ sòng với một cỗ bài đã được trang xếp. Hôm qua chẳng hạn, ván bài đã kết thúc ra sao? Chúng ta mất đi mười người và chúng ta chi tiêu mất nửa triệu đô-la tiền thuế do dân chúng tôi đóng góp. Hôm nay đây, chỉ đoán bậy cũng đã tiêu mất tám trăm ngàn đô-la! Cho tới giờ này, chúng ta đã được cái gì? Một lời yêu cầu bảo hiểm toàn hạng cho một cuộc đảo chánh quân sự do ba kẻ lưng chừng đứng ra tổ chức với một ông tướng quá nhiều thiện chí mà lại không đảm bảo được các đường liên lạc của mình … Ông thấy rõ tình hình ra sao chứ?»
« Vậy ông muốn gì, thưa òng Đại-sứ – một cuộc trả giá giữa con quỷ sứ ông quen biết với con quỷ sứ ông không quen biết? »
« Không. Chúng tôi muốn có một chính phủ thân hữu có thể duy trì được trật tự với công bằng và đem cuộc chiến tranh này đến một sự kết thúc
khả dĩ đảm bảo được an ninh và hòa bình cho miền Nam Việt-nam. »
« Nếu tôi hứa với ông điều ấy, ông sẽ biết tôi là kẻ nói dối. »
« Vậy Trung-tướng có thể hứa chắc được điều gì? »
« Sự thân hữu, được. Một quân-đội thống-nhất, được. Hòa giải với Phât-giáo, được. Chấm dứt xáo trộn trong dân chúng, được. Phần còn lai là một dấu hỏi nhưng tôi tin chắc rằng chúng tôi có thể làm được khá hơn chế độ hiện nay.»
« Nhưng các ông vẫn chưa sẵn sàng. »
« Chưa ».
« Bao giờ các ông sẫn sàng được? »
« Trong sáu tuần nữa – miễn là chúng tôi có thể hy vọng được vào khế ước bảo hiểm một cách phải chăng ».
« Nếu các ông có thể tự tổ chức được cuộc nổi loạn võ trang, tại sao các ông lại không tự tổ chức được lực lượng để điều đình thỏa đáng với chính phủ hiện nay? Với ba quân đoàn và không quân chắc chắn là các ông có thể mặc cả được với Tông-thống Cung »
«Nhưng ông ấy sẽ không mặc cả đâu. Ông ấy sẽ chia rẽ trên dưới và mua chuộc, dọa nạt cho đến khi chúng tôi tiêu tan hết quyền lực mặc cả. Đó là
phương pháp của ông mà ông lại là bậc thầy của phương pháp ấy nữa, Chắc ông cũng biết là chẳng ai lý luận được với Cung cả. Ông đã thử làm rồi.
Ông ta chẳng đối thoại với ai trừ Thượng-đế-mà dù có thế đi nữa tôi nghĩ rằng Thượng-đế cũng phải thua ôngấy! ». Ông đập mạnh nắm tay trên bàn và ông nói cộc cẳn, cao giọng vì giận dữ.
«Ông Đại-sứ, ông hãy cho chúng tôi một điều gì rõ rệt! Chúng tôi không phải là con nít! Tụi Việt-cộng lại mới tăng cường thêm ba tiểu đoàn so với
tuần trước. Chúng ta mỗi ngày mỗi yếu dần bởi vì không ai còn tin tưởng ở cấp lãnh đạo nữa. Vậy ông trả lời thế nào? Có, không, hay có lẽ? »
« Có lẽ ».
« Được lắm! Một câu hỏi nữa: Làm sao chúng tôi biết được khi có lẽ trở thành có!»
« Ông sẽ biết. Đó là tất cả những điều mà tôi có thể nói với ông ».
« Chúng tôi sẽ tiếp xúc với ông bằng cách nào? »
« Trung-tướng đừng làm vậy. Từ phút này trở đi tôi không thể tiếp xúc thêm được với ông hay với bạn hữu ông về vấn đề này nữa. Với tư cách Đại-sứ, tôi đã được ủy nhiệm cạnh chính phủ hợp pháp của nước này – mặc dù chính phủ ấy như thế nào. »
« Và ông định nghĩa một chính phủ hợp pháp như thế nào, ông Đại-sứ? »
« Trong một thể chế không thể có được bầu cử tự do thì chúng ta phải định nghĩa nó đơn giản là một chính phủ đang và có khả năng cai trị. »
« Vậy trong khi chúng tôi chưa phải là một chính phủ nhưng chỉ là một phe đối lập thì chúng tôi nói chuyện với ai, nếu không nói với ông? »
« Với ông Harry Yaffa. »
« Phương vị của ông ấy thế nào »
« Ông Yaffa là một nhân viên tình báo mà các hoạt động có thể bị tước bỏ và phủ nhận bất cứ lúc nào. Đó là cách chơi của ván bài ấy. Chắc ông cũng biết. »
Ông nhìn tôi trừng trừng một lúc với vẻ lỳ lợm và đăm chiêu. Rồi gương mặt ông nở lên một nụ cười chấp nhận miễn cưỡng.
« Nói về chơi xì, ông Đại-sứ … tôi tự hỏi ai là người đã thực sự xếp sẵn cỗ bài? »
Sau khi Đạo ra về, tôi ngồi lại với Đại-tướng Tolliver hơn một tiếng đồng hồ để thảo kế hoạch cho tôi thăm viếng các vùng chiến trường. Do nhiều lý do, dự án thăm viếng có một sự quan trọng đặc biệt đối với tôi. Trước hết điều tối quan trọng là tôi phải có sự hiểu biết đầu tay về đất nước uày, những điều kiện sinh hoạt và những vấn đề rất đặc biệt của một cuộc chiến tranh khuynh đảo trong một nước bị phân hóa và có nhiều sắc dân. Tôi vẫn còn hy-vọng rằng nếu được thêm nhiều am hiểu và kinh nghiệm hơn, tôi có thể thiết lập được một mối liên hệ tương đắc với Cung, là người mà mặc dầu có cái tiểu xảo làm tôi giận dữ – vẫn là một người đáng kính trọng hơn là Đạo. Điểm thứ hai là tôi muốn vắng mặt ở Saigon khi các sự trừng phạt được thi hành. Tòi không muốn báo chí tiếp xúc với tôi, mà sự bình luận hàng ngày của họ có thể làm cho tình hình trầm trọng hơn. Và ngay chính Cung nữa cũng có thể tỏ ra biết điều trong khi tôi vắng mặt hơn là với sự hiện diện có tính cách buộc tội của tòi. Sau hết chính tôi cũng cần có sự tiếp xúc sống sượng và làm lành bệnh của thực tế nữa. Sau mấy ngày đối thoại ngoại-giao vừa qua, tôi cảm thấy tôi như một người lang thang trong đêm tối, nói năng lảm nhảm. Đại-tưởng Tolliver nhắc lại lời cảnh cáo về những sự nguy hiểm của cuộc thăm viếng nhưng tôi thấy rõ là ông rất vui mừng thấy tôi đi được. Cả ông nữa cũng chịu không nổi những cuộc đàm thoại, những âm mưu và quan tâm sâu xa đến tinh thần của quân lính mình. Khi tôi thuật lại cho ông nghe cuộc đàm thoại giữa tôi và Trung-tướng Đạo, ông xì hơi mũi một cách nóng nẩy và kết tội Đạo là tên nói dối.
« Tất cả chuyện nói di chuyển một tiểu đoàn từ mỗi vùng chiến thuật về là tào lao … ». Ông chỉ vào một bản đồ hành quân riêng của ông.
« Hãy lấy thí dụ Quân đoàn I, ở gần giới tuyến phía Bắc. Vị tư lệnh quân đoàn này là Trung-tướng Thọ. Ông là một quân nhân giỏi và ông thừa biết rằng nếu ông rút cả một tiểu đoàn ra thì Việt-cộng sẽ đổ xô vào như nước chảy qua cổ chai. Vả lại đó là một miền rừng núi. Tất cả lực lượng của Thọ đều được phân tán thành những đơn vị nhỏ bởi vì ông không thể di chuyển những lực lượng. tập trung lớn lao … Lại còn cái chuyện vô lý về không-quân e sợ chúng ta nữa. Họ vẫn có tiếp tế riêng của họ về xăng, đạn dược và cơ phận dự trữ. Nếu họ muốn bay thẳng từ đây ra Hà-nội, chúng ta đâu cản họ được.»
« Vậy tại sao Đạo lại nói dối tôi một cách ngu ngốc như vậy? Hắn chắc thừa biết là tôi sẽ kiểm chứng tin tức của hắn với Đại-tướng ».
Đại tướng Tolliver mỉm cười và nhún vai với vẻ tuyệt vọng khôi hài. « Đó là cung cách làm việc ở đây. Đạo chỉ muốn nói với ông rằng hắn biết là
ông không tin hắn và hắn cũng sẽ không tin ông. Dĩ nhiên hắn, cũng có kế hoạch đàng hoàng, mà có lẽ cũng rất thành công được nữa. Nhưng chừng
nào ông vẫn chân trong chân ngoài, hắn sẽ không cho ông biết những kế hoạch ấy đâu. »
« Đời nào tôi lại đưa cho hắn hay bất cứ ai một tấm ngân phiếu chưa ghi số tiền được. »
« Tôi cũng không muốn cho hắn lấy một đồng xu bằng gỗ ». Tolliver nói một cách nhấn mạnh.
«Nếu có một cuộc đảo chánh thì người lãnh đạo sẽ phải là Khiết, ở dưới vùng châu thổ. Hắn là một chiến lược gia giỏi nhất trong bọn và đánh cũng dữ nữa. Dĩ nhiên Đạo sẽ là thành phần trong Hội-đồng quân nhân; nhưng theo quan điểm của chúng tôi, hắn là thành phần mà chúng ta ít cần đến nhất. Hắn đang chơi với cả hai phe đối nghịch và phe trung dung nữa. Ông đừng quên hắn vẫn còn là Tham-mưu phó của Cung. »
« Thế ra chúng ta ở một đầu và Cung ở đoạn giữa. Ai mua chuộc Đạo ở đầu
kia? »
« Thưa ông Đại-sử, nếu ông muốn tôi đoán, thì đó là bọn Pháp. Cả đất nước này lúc nhúc những tên gián điệp gô-lít và bọn này thì tiền nhiều ứ đến mang tai. Bọn chúng trợ cấp cho các chủ đồn điền cao-su và các chủ xí nghiệp đóng thuế cho Việt-cộng để tiếp tục làm ăn. Bọn chúng đang mua chuộc dư luận trung lập ở bất cứ đâu có thể mua đươc bởi vì đó là điều tối hậu mà chúng mong muốn – một quốc gia trung lập như Lào và Cam-bốt để cho Pháp tự do đi lại với Hà-nội và cả phía Bắc nữa. »
« Và tướng Đạo là một người trung lập? »
« Một kẻ hoạt đầu. » Tolliver nói. « Giống như bao kẻ khác trong bọn họ. Tôi cũng chẳng ưa thích gì Cung hơn ông, thưa ông Đại-sứ; nhưng Cung còn to tát gấp đôi bất cứ người nào mà tôi đã gặp ở đây từ trước đến nay. Người ta có thể bán đứng ông nhưng không bao giờ có thể mua đứt ông được!»
« Đại-tướng có nghĩ rằng chúng ta nên ủng hộ ông vô điều kiện không? »
« Không thể được », Tolliver nói không lấy gì làm vui vẻ. « Và đó là điều khó khăn của hoàn cảnh chúng ta từ Đài-loan đến Bangkok. Chúng ta cũng giống như anh chàng có cô nhân tình đang bắt chẹt mình. Hắn không chịu cưới cô ả, không bỏ cô được và chắc chắn là không thể yêu cô được! »
Từ đó đến hết buổi chiều tôi trở lại tòa Đại-sứ dự thảo một bản phúc trình dài và chi tiết cho Raoul Festhammer ở Họa – thịnh – đốn. Bản văn tổng kết sau chót của tôi hãy còn rõ ràng trong tâm trí tôi bởi vì nó tiêu biểu cho đường lối theo đuổi thật sát sự lương thiện hoàn toàn của tôi. Khi tôi hoàn toàn hứng chịu tất cả tội lỗi về chuyện đã xẩy ra về sau này và đã nhiều lần sẵn sàng như vậy, thì tôi lại nhớ đến bản phúc trình và có một cái gì ngăn tôi lại để khỏi hết sức tự khinh ghét mình.
« … Do đó, mặc dầu ông có nhiều khuyết điểm nguy hại, tôi vẫn tự thấy ngả về Tổng-thống Cung là người duy nhất đủ sức mạnh và không tham nhũng để giữ vững cán cân quyền lực trong nước này. Tuy nhiên, tôi không thể và tôi không dám tuyệt đối tin cậy ở ông. Bởi vậy qua các phương tiện của CIA và ông Harry Yaffa, tôi bắt buộc phải duy trì sự liên lạc với các phần tử chống đối hiện nay đang âm mưu lật đổ chế độ và một ngày kia có thể thực hiện việc ấy được. Làm như vậy rõ rệt là tôi đang làm cho Tổng-thống Cung phải khó khăn hơn mới duy trì được sự ôn định trật tự và lòng trung tín. Tuy nhiên tôi không thể để chúng ta thiếu chuẩn bị trong việc đối phó với sự đổi thay chính phủ hay không có bạn hữu trong một chế độ mới. Tất cả điều tôi có thể làm được là cho anh biết rõ cái hiểm họa đó và những lý do khiến tôi phải chấp nhận nó … Cũng còn có một hiểm họa nữa mà tôi phải trình bầy với anh một cách rõ rệt và thẳng thắn. Hiểm họa đó là chính tôi, hoặc vì thiếu sót trong sự hiểu biết, kinh nghiệm hay tư thế, có thể bị bó buộc phải quyết định sai lầm và như vày có thể làm thiệt hại lớn cho tất cả chúng ta. Chẳng hạn tôi nghĩ rằng tôi đã không thành công lắm với Cung mà đáng lý ra tôi phải thành công bởi vì ông thấy tôi quá chính xác và không đủ tế nhị để thông cảm với hoàn cảnh rất phức tạp của riêng ông. Ngược lại tôi tin
rẳng ông là người biết lợi dụng mau lẹ bất cứ sơ hở nào để lộ ra … Thật là dễ cho tôi nếu tôi khước từ sự liều lĩnh cá nhân này bằng cách đưa tin cho anh và yêu cầu anh ra chỉ thị từ Hoa-thịnh-đốn; nhưng đó không phải là điều mà anh đã đòi hỏi tôi làm, và sau khi nói cho anh biết rõ hiểm họa ấy, tôi chỉ còn biết làm hết sức mình … Ước chi bao giờ mình cũng có thể hoặc tin chắc được ở đạo đức của chính mình hoặc hoàn toàn không có chút đạo đức nào … »
Tôi kết thúc bản phúc trình và đưa cho Mel Adams xem để hắn cho biết ý kiến. Khi đọc xong, hắn trả lại và nhìn tôi một cách soi mói kỳ lạ. «Đó là một tài liệu rất thành thật làm tôi hết sức kính phục ông.»
« Nhưng anh không đồng ý với nó? »
« Thưa ông, tòi nghĩ rằng nó thiếu một kết luận.»
«Đúng như vậy, anh Mel. Mà phải như vậy. Tôi chưa sẵn sàng đi tới một kết luận!»
« Thưa ông, theo một ý nghĩa nào đó, thì thật đúng. Theo một ý nghĩa khác, thì lại hơi sai. Ông phải đi tới một kết luận mới được. Ông đã quyết định tiếp tục chia rẽ với hy vọng rằng phe bên này hoặc phe bên kia sẽ tự có
sáng kiến đưa ra một giải đáp khả dĩ chấp nhận được. Điều đó rất hay nếu ông muốn chủ trương trung lập hết mình. Nhưng nếu ông muốn duy trì trò chơi quyền lực, ông phải lựa chọn dứt khoát. Trong tài liệu này, ông không
lựa chọn gì cả. »
« Tôi chưa sẵn sàng hoặc chưa đủ tin tức để lựa chọn. Anh Mel, anh đừng thúc đẩy tôi. »
« Tôi không có thúc đẩy ông. Tôi chỉ muốn ý kiến của tôi được ghi lại. »
« Nó được ghi lại rồi, anh Mel. »
Hắn cám ơn tôi một cách cứng nhắc và rút lui. Tôi dự thảo một văn thư chính thức gửi Bộ Ngoại giao, tuyên bố sự cưỡng đặt những sự trừng phạt. Ngày mai tôi sẽ đích thân chuyển giao văn thư và cuộc đấu tranh công khai sẽ có nhiều người tham dự. Sau đó lại có cuộc đấu trí với báo chí và một cuộc giao tiếp ngắn bằng điện thoại có tính cách nói chuyện chơi với Đại-sứ Anh-quốc. Hắn đoán chừng một cách hơi sắc mắc đối với tôi – là tôi quá bận công việc nên không viếng thăm xã giao các bạn đồng song như thường lệ được. Tuy vậy, tất cả đều nóng lòng muốn gặp tôi và có lẽ tôi sẽ vui lòug đến dự một buổi tiệc rượu, mặc dầu chỉ được thông báo ít ngày giờ trước? Một vài bạn đồng sông người Á-châu hơi dễ xúc động và họ có thể cho tôi là chểnh mảng nhiệm vụ nếu tôi không cố gắng để gặp họ. Người Anh và người Mỹ cần phải sát cánh mới phải chứ? Nhất là đối với các bạn người Pháp đang cầm một cái gậy lớn khuấy chọc lung tung. Vậy thì tối mai nhé? Hắn rất vui sướng …
Tất cả câu chuyện hắn nói có nghĩa là bọn Pháp đang dẫm lên chân hắn và hắn muốn phe phẩy bản Minh-ước Đại-Tây-Dương vào mặt chúng. Tuy nhiên hắn nói rất đúng về các bạn đồng sông Á-châu và tôi thì không mất thì giờ nhẩy từ sứ quán này sang sứ quán khác khắp Saigon được.
Bởi vậy đó là một sự trả giá phải chăng. Tôi nghĩ với mặc cảm phạm lỗi rằng biết bao nhiêu người phải gặp như vậy mà tôi lại gửi đi có vài tấm thiệp mời của riêng tôi; nhưng trước hết tôi cần phải có một dự trữ thì giờ để cập nhật hóa sự nghiên cứu của riêng tôi. Tôi cũng cần ít nhất phải có một chút tiêu khiển nhưng đào đâu ra được trong một thành phố khép chặt trong lệnh giới nghiêm và ở đó tôi lại là một người, trong bao người chỉ có một, bị ghi tên sẵn để ám sát?… Tôi nhặt nhạnh các giấy tờ còn lại để đem về nhà làm việc sau khi ăn cơm tối.
Tiệc rượu, hội họp và từng chồng, từng chồng giấy tờ! Một trong những sự mỉa mai của Ngoại-giao là sự hưng thịnh hay suy vong của các quốc gia và sự sống, chết của hàng ngàn kẻ vô danh lại tùy thuộc vào những điều nhỏ nhặt như vậy.
Tôi dạo bước trong khu vườn trước bữa ăn, bởi vì nếu tôi đi lại trong vườn sau đó thì tôi sẽ chặn mất chùm tia sáng của một con mắt quang điện, chuông báo động sẽ réo lên và lính gác sẽ chạy tới để bảo vệ cho tấm thân thiêng liêng của tôi. Tôi hít cái không khí thơm tho nặng nề và lấy tay sờ những cánh hoa nhung dầy của miền nhiệt đới. Tôi thử gợi chuyện với chú làm vườn người Việt nhưng hắn nói tiếng Pháp cũng it như tôi nói tiếng Việt nên chúng tôi rốt cuộc chỉ trao đổi những cái gật đầu và cử chỉ bằng tay. Tôi tán dóc một hồi với những người lính gác nhưng họ đều rụt rè và trịnh trọng vì chưa thể biết được rằng ông Đại sứ bao giờ cũng chỉ là một người luôn luôn đơn độc và đôi khi kinh ngạc bởi những hình chắp rắc rối của chính trị mà những miếng chính bao giờ cũng thiếu. Bill Slavich đi ngang qua khu vườn trong phiên tuần đêm của hắn để kiểm soát các đồn canh, các hệ thống báo động và những gia đình ở trong vòng tòa Đại-sứ. Chúng tôi cùng sánh bước một lúc trên thảm rêu ẩm ướt của bãi cỏ. Cả hắn cũng gặp khó khăn như tôi. Hắn là người của Harry Yaffa, một nhân viên của cái tiểu thế giới kỳ lạ những công chức mà nghề nghiệp có tính cách bí mật, bạo động và bạc bẽo. Câu chuyện của chúng tôi tẻ ngắt và tôi chấm dứt bằng cách nhờ hắn kiếm cho tôi một người tẩm quất đến xoa bóp cho tôi mỗi ngày một giờ để làm cho tôi hết những sự căng thẳng. Hắn hứa sẽ làm theo rồi quay đi. Tôi tự thấy mình phân vân với sự chú ý đến sắc dục là không biết một người trẻ tuổi như hắn tiêu khiển như thế nào, một người mà những nơi thường năng lui tới đều là những ngõ ngách của một thế giới chìm ẩn.
Nghĩ vậy lại đem tôi quay trở về với Harry Yaffa, con người âm mưu chuyên nghiệp mà tôi đã chỉ định làm người tin cẩn và đưa tin trong tất
cả những sự thương lượng với các ông tướng làm loạn. Tôi đã đọc tất cả những báo cáo của hắn và ghi chép tất cả các cuộc đàm thoại giữa chúng tôi
và khi duyệt lại tôi thấy thiếu sót một cách khôn khéo. Về những điệp viên của Pháp? Những hoạt động của bọn chúng đã được ghi nhận và ảnh hưởng của chúng đã được đánh giá. Về những người âm mưu của Quân-đội? Mỗi người đều có phiếu tiểu sử và ngay cả đến số tiền họ hiện có tại các chương mục ngân hàng và sản nghiệp của họ cũng được tổng kết. Về các gián điệp trong hang ngũ Phật-giáo, những tên phản động trong hàng giáo phẩm Ki-tô giáo? Mỗi người đều có một hồ sơ và hoạt động của họ đều được cập nhật hóa. Về các điệp viên của chúng ta ở Vạn-tượng và Nam-vang, về các liên-lạc-viên của chúng ta trong đám phi-công bay trên các đường bay nha phiến từ Miến-điện và các thuyền trưởng có tàu bè đi lại buôn bán dọc theo bờ biển từ Bangkok đến vịnh Bắc Việt? Tất cả đều có tên trong danh sách. Vậy tôi còn muốn gì hơn nữa? Và nếu tôi muốn thêm, tôi chỉ việc đòi hỏi là có ngay. Vậy thì tại sao lại không tin cậy được con người ấy? Hắn đã không chịu nói dối với tôi. Hắn đã thú nhận rằng có những bí mật mà tôi không nên dự vào, những kinh nghiệm cho tôi biết đó là tập quán thông thường và thận trọng của nghề nghiệp. Có điều gì về con người ấy làm tôi ghê tởm đến độ bao giờ tỏi cũng phải trịnh trọng đối với hắn và không bao giờ gọi hắn bằng tên thân mật? Tôi sợ hắn hay hắn sợ tôi? Liệu một con người như hắn có thể trở thành một kẻ chuyên vơ vét các bí mật để hưởng thụ riêng hay là để chấp hành một sự chuyên chế bỉ ổi nào? Liệu có một tệ đoan đặc biệt nào mà nạn nhân là những người làm việc trong cái thế giới bí mật đó-một tham vọng nắm quyền cai trị từ hậu cung của ông vua, hay là một động lực bất chính hàng ngày đều bước trong hiểm họa bị phả hủy?
Đó là một ý nghĩ đen tối và ý nghĩ đó làm lôi xáo động trong lúc đi bách bộ giữa hương thơm quyện lấy người của hoa nhài và hoa đại. Nhưng tuy vậy cũng con một ý nghĩ đen tối hơn làm tôi xáo động hơn thế nữa. Trong số những người mà tôi đã tiếp xúc trong mấy ngày qua, người nào cũng đã bộc lộ sự bất tin cần đối với tôi môt cách không úp mở. Đối với Cung, tôi là con người bất định, đi nước cờ nào cũng lưỡng lự nước đôi: đối với Yaffa, tôi là kẻ có thể thất bại mà hắn phải chuẩn bị để chống đỡ cho lỗi lầm của mình; đối với tướng Đạo tòi là một bạn đồng minh hoài ngh ; đối với Mel Adams, tôi là một phóng viên báo chí lương thiện nhưng sự lương thiện không đủ, tôi đủ kinh nghiệm để biết rằng một người có quyền hạn lớn luôn luôn bị hoài nghi, ngay cả đối với nhân viên của mình. Trong quá khứ Gabrielle đã luôn luôn là lương tri và thành trì của tôi. Không có nàng tôi là mồi ngon cho những khắc khoải và tội lỗi. Tôi như một nhà sư bị ám ảnh bởi những sự mơ màng bí ẩn về ham mê sắc dục, một công bộc phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân mà lại có khuynh hướng cường hào ác bá. Mặc dầu là tôi không đầu hang những sự cám dỗ đó, tôi biết là vẫn có chúng và sự hấp dẫn của chúng đã làm tòi mất tin tưởng ở những mục đích cao đẹp nhất … Tôi không biết những mối ngờ vực của tôi có in hằn lên nét mặt tôi như những cái nháy, cái giựt của gân mặt một kẻ cuồng đạo không?…
Một cơn gió đêm nhẹ nổi lên và đưa những đám mây thấp của vùng châu thổ cuồn cuộn đến. Rồi trời bắt đầu mưa – một cơn mưa bụi nhẹ nhàng và ướt át, làm tôi phải vào trong nhà để ngồi uống rượu và ăn cơm một mình. Anne Beldon đang dùng cơm với một người bạn làm việc ở một sứ quán khác và George Groton thì có lẽ đang ngồi xếp chân trong một ngôi chùa nào đó để đàm đạo về đạo pháp với một người mặc áo cà-sa vàng.
Trong khi tôi đang làm việc với một tài liệu dầy cộm về tình trạng kinh tế của miền Nam Việt-nam thì Groton bước vào. Lúc đó mới quá mười giờ. Hắn thở không ra hơi và quần áo ướt dẫm. Hắn đã ở một ngôi chùa ở đâu phía Bắc thành phổ và từ đó đi bộ về. Hắn đã quên khuấy mất giờ giới nghiêm và đã phải trải qua một tiếng đồng hồ nguy hiểm tránh né lính gác
và các đội tuần tiểu lưu động. Hắn cũng đói bụng nữa vì cũng như một nhà sư đắc đạo, hắn chưa ăn hột nào kể từ chính ngọ. Tôi bảo hắn lên lầu thay quần áo rồi bảo quản gia sửa soạn bữa ăn cho hắn. Hai mươi phút sau, vừa ngồi ăn với thịt gà nguội và một chai vang, hắn thuật cho tôi nghe bản báo cáo đầu tiên của hắn một cách thành khẩn.
« … Trước hết, nhà sư trong Sứ-quán đưa cho tôi một bức thư giới thiệu luàn lưu. Thư đó viết bằng tiếng Pháp và trông có vẻ thân thiện lắm.
Thư nói, «người thanh niên này là một môn đệ nhà Phật – nên rất có thiện cảm với chúng ta. Anh được sự tin cẩn của ông Đại-sứ Hoa-kỳ là người cũng thông hiểu Thiền-đạo. Vậy xin thỉnh cầu tiếp đãi anh tử tế và gắng giải thích cho anh lập trường của chúng ta» … Đến đó thì được lắm, nhưng ở cuối thư nhà sư có viết vài dòng tiếng Việt. Tôi yêu cầu ông dịch lại cho tôi nghe thì hóa ra nó là một trong những tiền-đề của Long Thọ nói về sự nghiên cứu cõi Niết-bàn, Dịch qua nghe như thế này, «Vì mọi vật đều tương đối nên chúng ta không biết cái gì là hữu lượng cái gì là vô lượng. Chúng ta không biết cái gì vừa là cả hữu lượng lẫn vô lượng ở cái nhất thời. Chúng ta không biết cái gì là sự chối bỏ cả hữu lượng lẫn vô lượng» … Tôi hỏi như vậy nghĩa là gì thì ông nói rằng theo thông lệ trong thư từ nào cũng có một câu nhắc nhở đến chân lý tinh thần của Đạo pháp.
Tôi chấp nhận điều đó, nhưng tôi đâm ra lo ngại. Tôi bèn đi tới kết luận – mặc dầu chưa chứng minh được – là nhà sư dùng câu trích dẫn đó để ngụ ý rằng ông không tin chắc ở tôi … Dầu vậy ông cũng đã cho tôi địa chỉ của ba ngôi chùa nhỏ ở quanh thành phố mà cho tới nay vẫn chưa bị xáo trộn hay bị cảnh sát canh gác gì hết. Ông cũng cho tôi danh tính của các vị sư trụ trì và các nhà sư khác nói và nghe hiểu được tiếng Pháp … »
Hắn ngưng nói và nhấm nháp rượu vang tựa hồ như đang cố gắng tìm danh từ để diễn đạt cảm giác của mình. Rồi hắn tiếp tục một cách hơi bối rối.
«Tôi tưởng tôi đã chuẩn bị khá đầy đủ cho công tác này nhưng chưa đâu vào đâu cả. Khi đến ngôi chùa thứ nhất, tôi tựa như tín-đồ Tin-lành đi vào
một thánh đường Ki-tô giáo ở đảo Sicile. Mỗi vật đều xa lạ, lòe loẹt, với quá nhiều hình ảnh, lụa là và hương hoa lễ vật. Sau khi sống ở Nhật-bản mà mọi vật đều ít oi và có kỷ luật, tôi thấy tất cả không khí đó thương không nổi và tầm thường là khác nữa. Nhà sư đầu tiên phụ trách việc giao dịch với tôi khá trẻ tuổi. Nhưng hắn đã học ở trường Pháp và hắn chỉ cho tôi biết những điều mà hắn muốn cho tôi biết. Chính phủ đàn áp và kỳ thị, giáo dân Ki-tô muốn hội họp lúc nào cũng được. Phật tử thì phải xin phép chính quyền. Phật tử không được nắm giữ những chức vị cao trong chính phủ. Vụ người chết ở Huế là sự mưu sát có toan tính chứ không phải chỉ là kết quả của nổi dậy và xáo trộn. Phật giáo, vì không muốn gì hơn là được sống để làm công việc thiện và tín ngưỡng đã bó buộc phải tổ chức để tự bảo vệ … Hàng trăm sư và vãi vẫn còn bị giam Rất nhiều vị đã bị đánh đập và tra tấn để thú nhận là có cấu kết với Cộng-sản.
Tôi cần phải nói rằng hắn đã trình bầy có lý nhưng nghe giống một bản cáo trạng nhiều hơn. Không thấy có sự khoan dung, sự hiể biết như người ta
thường mong đợi ở những người có tin ngưỡng. Tuy nhiên khi hắn thấy tôi đồng ý với câu chuyện hắn kể, hắn dẫn tôi vào một căn phòng trong đó các nhà sư đang in truyền đơn và thư từ với một rừng máy đánh chữ và một máy quay ronéo kiểu của Pháp. Họ làm công việc đó cũng hữu hiệu lắm Tôi yêu cầu được gặp nhà sư trụ trì nhưng hắn bảo tôi là ông đã già lắm và chỉ ngồi tụng niệm suốt ngày. Tuy nhiên tôi cứ thúc hắn và sau cùng tôi đã gặp được nhà sư trụ trì. Ông đã già lắm và rất yếu đuối, nói chuyện như người nói thầm. Nhà sư trẻ ngồi với chúng tôi suốt thời gian đó và qua cuộc đàm thoại tôi chỉ được biết rằng nhà sư trụ trì đã khá đến gần Niết – bàn và chỉ muốn bỏ ngoài tai tất cả thế sự …
« Cuộc hội kiến chỉ kéo dài năm phút và sau đó tôi phải hứng chịu cuộc tấn công tuyên truyền. Tôi hỏi có thật như người ta đã buộc tội rằng Tăng-giới đã bị Cộng-sản xâm nhập không. Thật như đã lỡ đá phải tổ ong. Thôi thì họ giận dữ, làm như bị thóa mạ ghê gớm – và họ nhất quyết rằng tôi không nên rời khỏi chùa cho đến khi nào họ đã thuyết phục được tôi tin rằng họ đều là những người Việt trung tín, bị áp chế bởi một ông quan đi đạo Thiên-chúa và cai trị với một thiên mệnh của Đấng Ki-tô. Khi sau rốt họ buông thả cho tòi về, họ cho một nhà sư khác dẫn tôi ra, hiển nhiên là với nhiệm vụ làm cho tôi gội sạch những tư tưởng nhiềm độc! »
«Tôi muốn hỏi anh vài câu, George. Họ có thù nghịch đối với người Mỹ
không? »
«Thưa ông không, họ đã quan trọng hóa việc họ tán thành cái mà họ gọi là hành động mạnh mẽ của chúng ta chống sự chuyên chế. Họ nhắc đến mối giao hảo của họ với báo chí Mỹ và ai cũng biết rõ là họ có liên lạc trực tiếp với hầu hết những ký giả thâm niên ở Saigon. Cũng biết rõ là họ đã tổ chức được liên lạc giữa bọn họ với các nhà chùa khác và họ liên lạc rất mau lẹ, rất cỏ hiệu
quả. »
« Có nói gì đến trung lập hay người Pháp không? »
« Ở trong ngôi chùa thứ nhất thì không. Nhưng tại ngôi chùa thứ hai tôi có nói chuyện với nhà sư trụ trì và tôi nhấn mạnh xin được đàm đạo riêng với ông. Nhà sư này trẻ hơn -vào khoảng năm mươi lăm tuổi. Ông rất trầm tĩnh và lịch lãm. Chúng tôi cùng uống trà và ông hỏi tôi rất lâu về quá khứ học đạo giác ngộ của tôi. Ông cũng khá chuẩn bị để thảo luận về ảnh hưởng của sự bành trướng Cộng – sản đối với tương lai Phật-giáo. Ông tin rằng những người đã chấp nhận Tứ Diệu-Đế thì phải coi chủ nghĩa Mác-xít như một hiện tượng chuyển tiếp, trước hết nó sẽ được thấm nhuần và sau đó bị biến cải bởi giáo lý của Đức Phật. Òng cũng sẵn sàng công nhận có « những nhà sư trẻ và náo động » trong hệ thống sư sãi. Nhưng ông tin rằng những người đó cũng sẽ thay đổi với kinh nghiệm và sự tham thiền. Khi tôi nói về những vụ tự sát ông liền chỉnh tôi. Tự sát là một ý niệm ghê tởm đối với Phật-giáo. Tuy nhiên ông nhắc lại lời Kinh Liên-hoa kêu gọi tất cả Phật-tử hy sinh nếu đạo pháp bị lâm nguy, Tôi hỏi ông xem trong chùa có ai có thể là tử đạo không thì ông cho biết có một ni-cô rất già đã sẵn lòng tự thiêu nhưng ông đã khuyên ngăn. Sau đó tôi hỏi ông có nghĩ rằng nên trung lập hay không thì ông cho rằng điều đó là mặc nhiên trong giáo lý của Đức Phật Thích-ca bởi vì tất cả những giải pháp có tính cách vật thể đối với những đau khổ của con người đều là phù du như chính con người vậy.
« Có bộ máy tuyên truyền nào trong chùa ấy không? »
« Thưa ông, họ không cho tôi xem. Tôi có ấn tượng là nhà sư trụ trì là một người có cá-tính mạnh đang cố gắng bảo toàn sự tự lực cánh sinh của mình. Một lần nữa chắc ông cũng thấy tôi rất khó mà đi đến một kết luận cứng nhắc. Sau hết tôi xin nhà sư giới thiệu chó tôi một ngôi chùa nào đó để tôi có thể cùng với các vị sư sãi tụng niệm, lễ bái trong một ngày và cố gắng để cho cuộc viếng thăm của tôi ít ra cũng đem lại chút lợi lộc về tinh thần. Ông liền nói tên một ngôi chùa và đưa tôi một lá thư gửi vị sư trụ trì. Đó là nơi tôi ở lại cho đến bây giờ và đó cũng là nơi mà tôi nghĩ rằng tôi đã đào được mỏ vàng lần đầu … Ở đấy có một người Pháp, hắn nói rằng hắn đã chiến đấu ở Điện-Biên-Phủ rồi sau đó hắn võ mộng đối với Tây-phương và tất cả những gì mà Tây-phương tượng trưng. Theo câu chuyện của hắn thì hắn đã theo đạo Phật vì thành tâm tin tưởng và đã ở ngôi chùa đó chín năm.»
« Anh có nghĩ rằng hắn là một tên gián điệp không? »
« Có thể lắm. Tôi ở cùng trai phòng với hắn. Tôi cùng ngồi đọc kinh với hắn và hắn dịch lại cho tôi nghe. Chúng tôi cùng nhau tụng niệm và nói chuyện rất lâu trong lúc đi bách bộ trong vườn nhà chùa. Hắn ta rất giầu kinh nghiệm và thông minh. Hắn kể cho tôi một câu chuyện nghe như lời tường thuật của một kẻ đã mục kích những ngày cuối cùng của Điện-Biên-Phủ và làm thế nào hắn đã trốn thoát sau ba tháng làm tù binh. Hắn không phải là người trí thức nhưng chắc chắn hắn đã thấu triệt và thông cảm những thái độ căn bản của Phật-giáo. Hắn nói về một sự phục hưng Phật-giáo ở Á – châu nhưng khi tôi ngỏ ý là việc ấy có một nền tảng chính trị thì hắn vội gạt phăng ý kiến ấy đi. Hắn cho rằng sự phục hưng ấy là một hiện tượng tâm linh căn cứ trên nhu cầu muốn hòa bình của mọi người và căn cứ theo tuyên ngôn của Kinh Phạn ngữ « Đức Phật Thích ca đã chính ngài đạt tới hòa bình và răn dậy hòa bình cho chúng sinh. » Khi tôi nói về những cuộc biểu tình và nổi loạn thì hắn gạt đi và cho là « những cuộc biểu dương ngay thật của một dân tộc hãy còn bất thiện toàn nhưng đang đi tìm con đường thiện toàn! » Hành động của chinh phủ thật là hiếu chiến, tàn bạo và điên rồ hết chỗ nói! Tôi nói đến sự khuynh đảo trong các chùa chiền và tôi ngạc nhiên thấy hắn đồng ý với tôi. Nhưng hắn gạt vấn đề đi cho rằng không quan trọng bởi vì sự thiện toàn của con đường đi sau rốt sẽ xóa bỏ hết sự bất thiện toàn của những kẻ đi trên con đường ấy. Về Tổng-thống Cung, hắn gọi là con cháu của những tín đồ Ki-tô giáo quá khích thuở xưa, một tay cầm cây thánh giá còn tay kia xách bị tiền. »
«Đó là một quan điểm hết sức tiện lợi. »
«Quả tiện lợi đối với người đã đưa nó ra, thưa ông. »
Hắn ngả người về phía trước một cách hăng say và phác họa những cử chỉ nhấn mạnh lời nói nên rượu vang bị sánh ra trên bàn và hắn phải vừa nói vừa thấm chỗ rượu đánh đổ. « … Đó là chỗ mà người ta bắt đầu nghe thấy nốt nhạc đánh sai. Con người đó – tên hắn là Armand Leroux-quá mãnh liệt, quá Pháp đi nên không thể đóng vai tông đồ của chủ nghĩa trầm lặng mà nói cho ai tin được cả. Sau hết tôi cố gắng bắt hắn trả lời những vấn đề cá biệt. Phật-giáo có những nỗi thống khổ chính đáng không ?… Có. Những thống khổ đó có thể được xoa dịu bằng cách nào?
… Chỉ có cách là lập một chính phủ Phật-giáo có đại diện của thiểu số Ki-tô giáo tham gia theo tỉ lệ. Thành lập một chính phủ như thế bằng cách nào?… Chấm dứt chiến tranh. Trung-lập-hóa miền Nam Việt Nam và hiệp thương sống chung hòa- bình với miền Bắc. Sự hiệp thương đó thực hiện ra sao? … Trên căn bản quyền lợi kinh tế hỗ tương và, dĩ nhiên trên căn bản ảnh hưởng bành trướng của Phật-giáo. Rồi có lẽ vì hắn đang đà nói nên không gìn giữ – hay có lẽ bởi vì sự tiết lộ đã được toan tính cẩn thận – hắn bèn rút cây xì ách ra khỏi tay áo. Hắn nói « … Không, thưa ông, xin chờ tôi một chút! Tôi có ghi lại đây vì dường như rất quan trọng.» Hắn lục lọi tìm trong túi áo và sau cùng lấy ra một phong bì nhầu nát cầm lên đọc nguyên văn.
«… Điều mà Hoa-kỳ không hiểu được là miền Bắc và miền Nạm Việt Nam đều có chung một mối quan tâm; đó là sự sợ hãi và căm thù truyền thống đối với Trung-hoa là kẻ đã có lần thống trị họ. Mặc dầu Hồ Chí Minh được Trung Hoa cho vũ khí và huấn luyện giúp, ông cũng không ưa thích gì bọn họ hơn là Phùng-văn-Cung. Đó là lý do tại sao ông không leo thang chiến tranh bởi vì nếu làm vậy, quân Trung-hoa sẽ tràn ngập miền Bắc và dùng miền Bắc làm một thứ hành lang quân sự. Do đó, dẫu rằng toàn thể nước Việt- nam đều là Cộng-sản, họ cũng vẫn đoàn kết chốnglại Trung-hoa. Đó là điều mà người Mỹ nhầm lẫn. Họ chi đô-la và máu để thiết lập một vùng đệm chống Trung-hoa khi mà họ có thể có được mà không mất gì-nếu họ chịu sống chung với chủ nghĩa Mác-xít và kết thân với Phật-giáo ở Á-châu.
Đó là điều làm Cung trở nên phản động. Ông ta là cách có hại cho quốc gia. Nhưng nếu bị người một người Ki-tô giáo muốn bảo tồn đạo giáo một Mỹ thúc đẩy mạnh, ông rất có thế sẽ hiệp thương với Hồ chí-Minh. Và khi đó thì kết quả cũng sẽ tương tự, chỉ phải cái là đường lối ấy lâu hơn một chút »
«Và chỉ có vậy thôi, George? »
«Thưa ông chỉ có vậy thôi. Dường như hắn nhận ra hắn đã nói quá và cố ý trở lại vấn đề tham thiền như con đường dẫn tới Niết-bàn … Về phần tôi, tôi cũng ngồi tham thiền rất lâu và sau đó quyết định là đã đến lúc quay về để kể lại ông nghe. »
«Từng đó cũng đủ để suy nghĩ nhiều, George. Anh có thể đánh cho tôi một bản báo cáo được không? »
«Thưa ông, vâng, nhưng bắt buộc nó phải thiếu sót. Khi thảo xong báo cáo, tôi muốn trở lại những chùa đó để bổ túc những thiếu sót ».
«Tôi cũng muốn anh làm như vậy – giờ anh hãy cố tóm lược cho tôi. Trước hết, có sự khuynh đảo trong Tăng giới? »
« Vâng. Lớn lao như thế nào chưa biết. »
« Thế là Tổng-thống Cung được một điểm. Thứ hai là có triệu chứng một phong trào Liên-Phật-giáo? ».
« Triệu chứng nhưng khòng có gì đảm bảo. »
« Cố chứng có về dư luận khuynh trung – lậpmạnh mẽ ? »
« Chứng cớ rất hùng hồn. »
« Lại một điểm nữa cho Cung! Theo anh thì có sự tin tưởng là Phật giáo có thể hòa-đồng được với chủ nghĩa Mác – xít và tối hậu thì cải biến được
nó? »
« Sự tin tưởng ấy, theo ý tôi, rất mãnh liệt và phổ biến. Tôi nghĩ nó lại càng mãnh liệt và phổ biến hơn là vì bọn Việt-cộng không bao giờ tấn công chùa chiền và cá nhân các tăng ni cả. Trái lại, bọn chúng thường vẫn tụng niệm và cúng lễ vật trong các xóm làng. »
« Một câu hỏi chót: Phản ứng cá nhân của anh đối với sự tiếp xúc đầu tiên với phái Đại-thừa ấy ra sao?
Câu trả lời của hắn đến một cách chậm chạp nhưng rất rõ rệt. « Tôi cảm thấy rối trí, không thích thú và ngờ vực. Nhưng chắc vì tôi đã quen thuộc với một phái lọc lựa và trí thức hơn. Do đó tôi phải nghi ngờ chính tôi nữa, thưa ông. »
« Tất cả chúng ta đều phải nghi ngờ như vậy, George. Vấn đề là mọi người khác đều muốn chúng ta chắc chắn ở chúng ta – làm như chúng ta mang chân lý ở trong túi không bằng! »
Nghe vậy, hắn ngước mắt nhìn một cách sắc bén và đôi mắt trẻ, thông minh của hắn thăm dò nét mặt tôi. Trong đôi mắt đó có sự lo âu và có lẽ cả một thoáng sợ hãi nữa. « Thưa ông, ông nói như thể ông đã trải qua một thời gian khó khăn lắm. »
« Rất khó khăn, George. Và sẽ còn khó khăn hơn nhiều nữa. »
Tôi kể lại cho hắn nghe những biến cố xẩy ra trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ qua và những nỗi ngần ngại buồn bực của tôi. Hắn im lặng nghe và khi tôi nói xong hắn ngồi một lúc lâu lấy cái nĩa vẽ những hình thù rắc rối trên khăn bàn hoen ố. Sau hết hắn nói:
« Thưa ông, có hai điều dường như rõ rệt lắm. Ông sẽ bị thiệt thòi nhiều nếu ông vững mạnh trong sự kiên nhẫn hơn là quả quyết trong hành động. Có biết bao nhiêu là quan điểm và bao biết nhiêu là tin tức trái nghịch nhau nên không thể tự mình để mình bị xô đẩy mặc dầu cuộc khủng hoảng xảy ra như thế nào …
Vấn đề thứ hai là chính sách của chúng ta. Bởi vì chúng ta dấn thân vào một hành động quân sự nên do chính sự kiện đó chúng ta cũng phải dấn thân vào những giải pháp ngắn hạn mà xét theo lịch sử không thể là những giải pháp đúng. Yễm trợ Cung hay là làm một cuộc đảo chính để có một chế độ khác! Thỏa mãn Phật – giáo và cũng làm cho Ki-tô giáo vui lòng nữa. Đẩy lui Việt-cộng lên phía Bắc biên giới và đóng chặt biên giới Lào và Cam-bốt lại! Nhưng dù rằng chúng ta có làm được tất cả những việc đó, chúng ta cũng không giải quyết được gì. Ông không thể đóng kín những ý kiến lại như đóng kín một con tiểu quỷ trong cái chai. Ông không thể chiến đấu với bọn Việt-cộng mà bỏ quên Trung-hoa, một nước khổng lồ hàng ngàn năm nay có một dân số sinh sản mau như ruồi muỗi và lần đầu tiên trong lịch sử có một mục tiêu thống nhất. Chúng ta sẽ sống với Trung-hoa như thế nào trong một trăm năm tới đây?
Các nước ở Á-châu sẽ sống với Trung Hoa như thế nào? Còn Phật-giáo thì ra sao? Khuynh đảo hay chẳng khuynh đảo thì họ cũng vẫn hiện hữu như Hồi-giáo, Ki-tố giáo và Ấn-độ giáo. Với tôn giáo cũng vậy, cũng không thể có giải pháp ngắn hạn được …
Òng có thể ngăn cản hay phá vỡ được một cuộc cách mạng nhưng ông không thể làm ngừng cái quá trình tiến hóa đã gây ra cách mạng được … Theo một quan điểm thì ông có thể cười chế riễu tất cả các kẻ đầu trọc trong chùa ríu rít chung quanh chiếc máy ronéo rẻ tiền. Theo một quan điểm khác, ông có thể cho bọn họ là nguy hiểm đến độ đập lên đầu họ và bắt họ bỏ tù. Nhưng họ cũng hiện hữu! Họ hiện hữu như những con người, như một xã hội và như một triệu chứng của cuộc biến đồi không thể tránh khỏi. Nếu chúng ta nói rằng chúng ta muốn sửa lại cuộc biến đổi đó thì tôi chắc chúng ta cũng có một chính nghĩa … Một chính nghĩa cũng vững mạnh bằng Trung – hoa, Nga-sô hay Hồ-chí-Minh vậy. Nhưng nếu chúng ta nói, như đôi khi chúng ta dường như nói rằng, chúng ta muốn qui định cái tính chất của cuộc biến đổi và bảo đảm cho sự tất hữu của nó thì thôi chúng ta đã đứng ngoài cuộc và chắc chắn phải thất bại sâu cay … Xin lỗi ông. Tôi mỏi mệt và mất thăng bằng. Nhưng tôi quan tâm đến việc này. Và lo lắng cho ông nữa ».
Tôi biết ơn hắn và xúc động với mối thương hại sâu xa cho tuổi trẻ và lý tưởng của hắn. Nhưng làm cách nào tôi có thể cho hắn biết sự thật cay đắng là biến đổi không phải chỉ là kết quả của sự tăng trưởng tự nhiên mà cũng còn là kết quả của sự đấu tranh nữa. Mặc dầu Thiên-chúa giáo định nghĩa nó là một trận chiến giữa cái tốt và cái xấu hay Cộng-sản gọi nó là biện chứng Mác-xít hay Phật g’áo phô bầy nó ra như Phật Thích-ca chế ngự được Tề-thiên Đại-thánh dưới lòng bàn tay của Ngài. Làm sao tôi có thể cho hắn biết tôi đã dấn thân vào hành động và những giải pháp ngắn hạn đến mức nào?…
Tôi bảo hắn đi nghỉ, rồi tôi ngồi lại làm việc rất khuya với mớ giấy tờ. Tôi vẫn còn làm việc khi Anne Beldon dự dạ hội khuya về và bước vào; bởi vậy nên hai chúng tôi xuống bếp tự pha lấy cà phê uống và nói chuyện lăng nhăng cho đến nửa đêm.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.