Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 15 Dec 2025

14. Y Sĩ Thiếu Tá Đặng Vũ Vương

Đặng Vũ Vương sinh năm 1941 tại Phú Thọ, Bắc phần. Di cư vào Nam 1954, trung học J.J Rousseau, tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1965, cựu Nội Trú các Bệnh viện Sài Gòn. Viết báo Tình Thương mục Quan điểm của Sinh Viên Y Khoa Sài Gòn 1963-1965. Quân Y sĩ hiện dịch Quân Lực VNCH 1966-1975, đơn vị phục vụ cuối cùng là Quân Y Viện Nguyễn Huệ, Nha Trang. Cấp bậc Thiếu Tá. Ty nạn Hoa Kỳ từ 1975 và hành nghề Y khoa, nghỉ hưu 2012. Hiện sống tại tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ.

Y Sĩ Thiếu tá Đặng Vũ Vương

Nghiêm Sỹ Tuấn Và Tôi

Bạn Ngô Thế Vinh có gọi điện thoại cho tôi và cho biết đang liên lạc với những bạn bè cũ và các cộng sự viên của Nghiêm Sỹ Tuấn ở báo Tình Thương của Sinh Viên Y Khoa Sài Gòn năm xưa hãy gửi bài về cho Vinh để làm một thứ monograph về Nghiêm Sỹ Tuấn – của một thời hoạt động trí thức thật sôi nổi, hào hứng của SVYK Sài Gòn thập niên 60.

Nghiêm Sỹ Tuấn đã ra đi đúng nửa thế kỷ. Đối với những bạn bè, thân hữu và cộng sự viên đã quen biết và mến Tuấn trong thời gian ngắn ngủi trên thế gian của Tuấn, nhân cách, kiến thức cũng như tư tưởng của Nghiêm Sỹ Tuấn đã để lại sự nuối tiếc khôn nguôi về một hành trình trí tuệ và học hỏi đầy hứa hẹn và đầy những nguyện vọng đâm chồi bị cắt ngắn bởi thời cuộc. Sự hy sinh của bao nhiêu Y sĩ trẻ trong cuộc chiến vừa qua là những mất mát to lớn cho đất nước và xã hội và để lại bao nhiêu đau xót cho gia đình và thân thuộc của họ.

Nghiêm Sỹ Tuấn với tài năng và nhân cách trong cuộc đời ngắn ngủi của một Sinh Viên Y Khoa và một Y Sĩ trong thời chiến là điển hình của một thầy thuốc kiêm một “quân tử” (gentleman), một mẫu người tượng trưng cho cái hỗn hợp (amalgame) tốt và đẹp nhất của truyền thống văn hóa cổ truyền VN và kiến thức, tư tưởng tân tiến của Tây phương.

Những đặc điểm của Nghiêm Sỹ Tuấn đã được bộc phát và thể hiện trong thời gian sinh hoạt với báo Tình Thương từ 1963 đến 1965. Lượng sản xuất (output) bài viết của NST không nhiều nhưng những kiến thức, những ý tưởng cộng với tinh thần làm việc và sự cố công tìm tòi và học hỏi của Tuấn trong thời gian đó đã mang nhiều đóng góp để đưa báo Tình Thương trở thành một sản phẩm ngôn luận trí thức với những sáng tác văn hóa và văn nghệ đặc thù của một thời gian và không gian thật sôi động và nhiệt huyết của Đại Học Y Khoa Sài Gòn những năm 60. Nghiêm Sỹ Tuấn và tôi vào Y Khoa cùng một năm và cùng ra trường năm 1965, tôi bên Quân Y và Tuấn là dân Y. Chúng tôi có quen biết nhau và giao thiệp với nhau vì học chung lớp và chung bạn nhưng sự thân thiết thật sự có từ ngày cùng làm chung tờ báo Tình Thương.

Nhìn bề ngoài về vóc dáng và hình thể thì Tuấn thân hình thấp nhỏ và nét mặt không gì đặc biệt trừ đôi mắt thông minh và cách ăn nói trầm tĩnh rành mạch. Nhìn Tuấn mặc quốc phục áo dài đen quần ống dài trắng và chít khăn thì không khác gì hình ảnh một ông tú, ông cử ngày xưa.

Cái dáng dấp thư sinh và nho nhã bề ngoài của Tuấn che lấp một ý chí, tâm hồn vững mạnh và những hoạt động nội tâm và trí tuệ mãnh liệt ở bên trong. Vì phải bàn luận về những đề tài “Quan điểm” của báo nên tôi thường hay sang nhà Tuấn ngồi nói chuyện hết giờ này qua giờ kia. Vừa bước qua cửa căn nhà tường gỗ 3 căn phòng của gia đình Tuấn, ngay tại phòng ngoài rộng độ 12 hay 14 thước vuông thì thấy cái bàn khá lớn phủ đầy sách, đằng sau bàn là tủ sách, buồng thì nhỏ chỉ còn chỗ cho vài cái ghế và chừa lối đi vào buồng trong và cũng là chỗ để gác chiếc xe đạp hay xe gắn máy qua đêm. Tò mò nhìn vào đống sách trên bàn thì thấy đủ loại sách: sách tiếng Việt, sách Hán Nho, sách tiếng Pháp và cả tiếng Đức, có cả đàn guitare espagnole và sách dạy chơi guitare của Carulli. Đặc biệt trên kệ tủ sách còn thấy toàn bộ đầy đủ 9 symphonies của Beethoven, Von Karajan conductor, thu trên đĩa nhựa được đựng trong một hộp lớn, theo tôi nghĩ anh sinh viên nghèo Nghiêm Sỹ Tuấn này chắc phải bóp bụng để dành tiền mới mua được bộ đĩa nhạc này khá bộn tiền, hồi đó chưa có cassette hay CD.

Nếu là mùa Giáng sinh thì vừa bước qua cửa nhà thì thấy ngay có 2 cái biểu ngữ viết chữ Latin lớn dán cao trên tường, một biểu ngữ với câu GLORIA IN EXCELSIS DEO và cái kia với câu IN TERRA PAX HOMINIBUS. [Vinh danh Thiên Chúa Trên Trời, Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm.]

Nhờ đó tuy không hỏi nhưng tôi nghĩ rằng gia đình Tuấn theo đạo Công giáo. Trong những buổi bàn luận về các đề tài triết lý Tây phương, Tuấn rất chú ý tới phần Éthique. Tuy tiếng Việt đều gọi morale và éthique là đạo đức / nguyên tắc xử thế vì hai thứ đó đều liên quan tới những giá trị và nguyên tắc xã hội, morale thì vạch rõ những cái tốt cái xấu, cái đúng cái sai, cái gì được chấp nhận hay không, để mọi người tuân theo trong khi đó éthique không đặc biệt liệt kê những giá trị và nguyên tắc xã hội mà điểm chính là tăng cường sự suy nghĩ và suy xét về những giá trị và nguyên tắc đạo đức để tìm đạt được những quy tắc hướng dẫn cách ứng xử đối với bản thân, thích hợp với mọi tình cảnh và hoàn cảnh khác nhau.

Nghiêm Sỹ Tuấn đặc biệt chú ý tới triết lý của Schopenhauer. Đại ý, Schopenhauer coi thế giới hiện tượng (monde phénoménal) mà các con người sống trong đó như là một thế giới hão huyền (illusoire) luôn luôn bị điều khiển bởi “volonté” (ý lực). Chính volonté (“ý lực”) cấu tạo ra và chỉ đạo mọi sinh vật – kể cả những con người phải sống trong trạng thái đấu tranh thường xuyên đưa đến khổ đau. Con người vẫn thích tin rằng đời sống của bản thân mang một ý nghĩa cao cả nhưng theo Schopenhauer không còn có gì nữa trong đời sống của họ hơn là sự thúc giục để thỏa mãn những ham muốn (désirs).

Theo Schopenhauer phương cách để cố thoát khỏi cái guồng máy đó là cố chấm dứt mọi ham muốn, hoặc là bằng sự theo đuổi các hoạt động nghệ thuật như âm nhạc hay bằng sự trầm tư (contemplation) hoặc nữa là sống một cuộc đời hy sinh khổ hạnh. Nghiêm Sỹ Tuấn sống không thể nói là khổ hạnh nhưng Tuấn sống sơ sài giản dị, ngoài việc học hành thì ham mê văn chương, đọc sách và âm nhạc; về đời sống tình cảm không thấy Tuấn có người yêu dù lúc vào học y khoa đã trên 22 tuổi và ra trường cũng đã 28 tuổi, nếu năm sinh đúng là 1937. Chỉ sau khi Tuấn mất có loan truyền là Tuấn có một mối tình lớn với một nữ y tá tại Bệnh viện Nhi Đồng?

Khi làm báo Tình Thương, phụ trách mục Quan Điểm đòi hỏi có kiến thức triết lý khá vững ngoài những kiến thức xã hội, chính trị v.v … nên chúng tôi cần phải đọc và tham khảo nhiều sách. May mắn hồi đó nhà sách Khai Trí có nhập cảng nhiều sách văn chương và triết lý tiếng Pháp loại édition bìa mềm, giá tương đối rẻ nên tôi dốc tiền mua rất nhiều sách loại đó. Tôi còn nhớ khi một bài viết có đề cập tới quan niệm về tiến hóa của Teilhard de Chardin thì Nghiêm Sỹ Tuấn đã có ngay cuốn Le Phénomène Humain cho tôi mượn tham khảo để nắm rõ những ý niệm như “Omega Point” và “noosphere” … trong tư tưởng triết lý về tiến hóa của De Chardin. Nhờ thế tôi mới rõ thêm là Tuấn cũng ham mê đọc sách về triết lý như tôi và nhờ đó tôi có cơ hội bàn luận với Tuấn về những tư tưởng của Kant, Spinoza và những triết gia hiện sinh như Camus và Sartre v.v … Tôi cũng biết ngoài mục Quan điểm, Nghiêm Sỹ Tuấn còn đóng góp trong các mục khác bằng việc dịch sách (như là Lịch sử Y học, tuyển tập Dưới Mắt Thượng Đế … ), viết truyện v.v …

Ra trường, vì là Quân Y Hiện Dịch nên tôi ra đơn vị đầu năm 66, vài tháng sau đó Nghiêm Sỹ Tuấn bị trưng tập và tình nguyện đi Nhảy Dù.

Đã là Quân Y hiện dịch và đã ăn lương của quân đội trong bao nhiêu năm thì có lựa chọn hay phải bị bổ nhiệm đi các đơn vị tác chiến nguy hiểm thì cũng dễ chấp nhận còn như Tuấn là dân y bị trưng tập thì nếu có lựa chọn được nơi bổ nhiệm ít nguy hiểm như Không quân, Hải quân hoặc nha sở v.v … thì không ai thắc mắc. Tôi tin rằng việc lựa chọn đi Nhảy Dù của Tuấn là một thử thách đặc tính (character) và ý chí cá nhân để chứng tỏ với bản thân khả năng phục vụ trong vai trò của một Quân Y sĩ bình thường trong những tình cảnh và hoàn cảnh khác thường hoặc phi thường.

Như tôi đã viết phía trên sự theo đuổi Éthique của Nghiêm Sỹ Tuấn luôn luôn thúc đẩy Tuấn vào những lựa chọn thích hợp với ý tưởng và ý chí của mình trong đó có sự can đảm, sự tự kìm chế, sự hy sinh và có cả lòng trắc ẩn. Những tính nết trên của Tuấn được các bạn đồng ngũ và thuộc cấp tại đơn vị cho biết sau khi Tuấn đã mất kể lại những giờ phút cuối cùng của Tuấn khi Tuấn vẫn hăng say cố băng bó chữa trị cho đồng đội bị thương đến khi lìa đời. Một chuyện được kể lại như huyền thoại là có một thuộc cấp của Tuấn nói rất mong có được cái máy ảnh như của Tuấn đang đeo trên vai, chẳng bao lâu sau đó người quân nhân này tử trận, Tuấn đến đưa đám tang anh đó rồi sau đó lẳng lặng để lại cái máy ảnh trên bàn thờ của anh ấy.

Lần cuối cùng tôi gặp Tuấn là buổi chiều hôm đó, tháng Ba hay tháng Tư năm 68, sau Tết Mậu Thân, đang cùng với bà xã đi trên con đường Hai Bà Trưng thì Nghiêm Sỹ Tuấn ngồi trong xe Jeep mặc quân phục Nhảy Dù, cho ngừng xe nhảy xuống lôi kéo chúng tôi ghé vào tiệm cà phê gần đó (cách nhà thờ Tân Định không xa). Tuấn cho biết sắp phải rời Sài Gòn đi hành quân có thể là ra miền Trung và vội phải từ giã, dù gặp nhau chưa đầy mươi phút và đó cũng là lần cuối tôi gặp Nghiêm Sỹ Tuấn vì vài tuần sau đó có tin Tuấn tử trận tại Khe Sanh.

Cái đêm buồn nhất là đêm ngồi trông quan tài Tuấn trong cái phòng khá rộng chỉ có tôi và 1, 2 quân nhân thay phiên nhau ngồi canh quan tài. Những năm sau đó tôi thỉnh thoảng có ghé thăm nhà Tuấn để hỏi thăm cụ thân sinh và nói chuyện với em trai (Nghiêm Sỹ Anh?) của Tuấn, lúc này đã dọn nhà về Gia Định. Nhà mới này ở trong ngõ hẻm nhưng có tường gạch và sàn đá hoa, nhà cũng nhỏ nhưng thoáng hơn nhà cũ trong cư xá, đặc biệt vẫn có cái bàn giấy cũ và kệ sách ở phòng ngoài và đập vào mắt vẫn còn thấy cái hộp đĩa nhạc Beethoven năm xưa mà tôi nghĩ gia đình vẫn giữ lại để anh linh của Tuấn được toại nguyện khi trở về thăm chốn cũ giữa những đồ vật đã quen thuộc.

Mỗi người trong chung ta trong đời đều có cơ may hay duyên số được gặp, quen biết hay thân thiết với một số người và rồi họ ra đi. Trong thời gian tuy ngắn ngủi được giao tiếp với những người này, nhân cách, tính tình, kiến thức và tư tưởng đặc biệt của họ đã để lại những ấn tượng khó phai mờ mà chúng ta trân trọng giữ như bảo vật làm hành trang cho cuộc đời mình. Tôi có vài người bạn như vậy. Tôi coi hình ảnh của Nghiêm Sỹ Tuấn trong thời kỳ tuổi trẻ sinh viên của tôi như là một sao chổi xẹt qua bầu trời của một thời Đại học, của một thời Tình Thương, chợt bay qua rồi chợt biến nhưng dấu vết nhân cách và trí tuệ của Nghiêm Sỹ Tuấn sẽ mãi mãi được ghi trong kho tàng ký ức và luyến thương của tôi.

Bài này được viết với trí nhớ nay đã thấp kém về những sự việc đã xảy ra trên 50 năm nhưng có những điểm nét về Nghiêm Sỹ Tuấn vẫn còn nổi bật và sáng loáng dù thời gian dài đã trôi qua và tôi cố ghi lại ở trong bài viết này trước khi trí nhớ hoàn toàn buông bỏ tôi.

Tôi xin chấm dứt bài này bằng vài nhận xét triết lý. Trên 50 năm đã trôi qua từ ngày chết của Nghiêm Sỹ Tuấn, tuổi đời của anh em mình nay đã cao, ai cũng trên 75 tuổi. Nay đến lượt chúng ta phải đối phó với cái mortalité (tính cách tử vong) của chính bản thân. Cicéron đã nói “philosopher ce n’est autre chose que s’apprêter à mourir”. Sửa soạn và sẵn sàng với sự ra đi của chính mình cũng là cơ hội để đặt câu hỏi về nghĩa lý của đời sống mình và nhìn lại đời sống và cái chết của các người thân và bạn bè và hỏi: tại sao? Nghĩa lý gì của cuộc đời họ với chúng ta?

Riêng đối với tôi được làm bạn và được làm việc với Nghiêm Sỹ Tuấn cùng chia sẻ kiến thức và tư tưởng cũng như được quý trọng nhân cách và lý tưởng của Tuấn trong cái thời gian tuổi trẻ đẹp đẽ và thăng hoa nhất của đời mình là một đặc ân (privilège) mà tôi trân trọng gìn giữ kỷ niệm báu vật của tình bạn đó suốt nửa thế kỷ vừa qua.

ĐẶNG VŨ VƯƠNG

Michigan, 28/08/2018


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment