Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn

vietmessenger.com    

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 14 Dec 2025

Chương 3

Bàn Phiếm Về Chén Trà Đại-Tống (960-1280).

Đời Tống (960-1280) bên Trung-quốc, có để lại ngày nay cho người sưu tập nào muốn tìm của lạ, một loại chén đất nung da màu lông thỏ đỏ, chữ gọi “Thố hào trản», gọi cách khác là “hoàng thố ban trích châu”(giọt lốm đốm như trong men, màu lông thỏ (gouttes et perles (dans l’émail) de la couleur du poil de lièvre) (xin xem tập “ Cảnh Đức trấn đào lục ».)

Chén nầy, vật khinh hình trọng, rất quí, vì xưa trên bảy trăm năm; nhưng nay giả nhiều thiệt ít, những thứ gặp tại Đông kinh và Hưong cảng, muốn mua phải dè dặt. Năm 1960, khi ấy tôi còn làm quản thủ công nhựt nơi bảo tàng trong vườn bách thảo (Sai-gòn) tôi có soạn và đăng trong báo Bách khoa số 89 đề ngày 15-9-1960, một bài luận về chén trà Đại Tống ấy, hiện nhà tôi có một cái, lấy tựa là “Từ chén trà Đại Tổng đến tích trảm Trịnh Ân ».

Đến nay là năm 1971, câu chuyện đã được mười một tuổi. Vậy xin dở ra viết lại, cho thấy tôi đã tiến hay lùi.

Bài của tôi trong Bách-khoa số 89 ngày 15-9-1960, như vầy (có sửa đôi chỗ):

“Bữa thứ hai 2-10-1939, nhằm 20 tháng 8 năm Kỷ Mão, lúc ấy thái bình lắm, quân đội lùn chưa có mặt tại Sai gòn, tôi (tác giả), có đến nhà tầm tầm Pháp ở đường Lagrandiere cũ, nay là đường Gia Long, lối văn phòng ba luật sư Tuyên-Huyền-Huệ, đấu giá mua được một cái bát bằng đất nung, thấy lạ vì có cái đế ngộ nghĩnh bằng ngà cũ. Đế lên nước đỏ au, có lẽ vì lâu đời, màu đỏ bầm như củ nghệ thúi, toàn diện trong và ngoài đã lạc tinh, lộ “vân”ngà ngà trắng trắng, bóng nổi đều đều tuyệt khéo, “y như mặt võng đan», quả là một thành công có thiên tạo giúp sức, đành rằng đó là ngà tiện do tay phàm chế tạo, nhưng vân ngà mặt võng nầy vốn thật thiên nhiên. Trời sanh ngà có vân, để phân biệt với ngà giả (nhơn tạo) không khi nào có “mặt võng». Tôi có tánh nói dài dòng, nhưng ai biết nghe lời thì khỏi mua lầm ngà giả tạo, làm bằng keo hóa học.

Nhưng tôi nói có chẽn dừng, không phải ngà giả tạo là vật bỏ đi, vì tỷ như bài con chim, khi xưa làm bằng ngà thiệt, thì lâu ngày lên nước, có vân khác nhau, bọn điếm  đàng nhìn đó mà biết hết, nên sau chế lại cây bài làm bằng “xục-cáo”(thục cao), một loại keo tốt, trắng nõn không đổi màu, nên ít bị ăn gian, đồ giả mà hay và nên khen ở chỗ đó.

Mua vì mê cải đế bằng ngà, tính ra cả chén và đế, cộng luôn 10% tiền công lão hộ-giá-vièn Tây gõ búa ngà phát mãi, vị chi là 45$ + 4$50 = 49$50. Nay nghĩ lại giựt mình, một đồng năm 1939 ăn một ngàn đồng năm 1971, thì cái chén Tống có đế ngà ấy, nay đáng 49.500$, hay gọn hơn đáng 50.000$, một là vì thứ thiệt, hiếm có, hai là vì đồng bạc ngày nay có chơn biết chạy, không còn giá trị như trước. Đem chén về nhà, không dám cho vợ thấy, lén lấy ra xem và tự hỏi: “ Đế ngà vân đẹp, tiện khéo; cớ sao dùng kê một cái chén xoàng xĩnh thế nầy»? Mà thật vậy. Chén hình thù thô-kệch, thêm trên miệng có mẻ hai chỗ nhỏ. Lão Révertégat, thanh tra tiều học, biết chơi đồ cổ, khi mua rồi, nó nói nó nhượng cho mình cũng vì hai chỗ thẹo nầy. Nhưng đã tập tành mon men sưu tập và học khảo cứu, thì phải cắn răng chi ra nửa tháng lương, đề có một mẫu đo đất nung hay đo gom chánh hiệu đời Tống đề so sánh và học tập thêm. Nghĩ như vậy rồi tự khen mình dám ăn xài, mua một vật hữu ích. Nhưng rồi hối tiếc, vì đã có vật ấy trên tay, nay thử đem đặt cái chén giữa đường qua lại, dám chắc trong nửa ngày không một ai chịu khó cúi xuống lượm chén lên, bằng có lượm cũng không xem vật ấy là một cổ ngoạn hy hữu. Nếu người lượm thuộc hạng mót sọt rác, khi gặp ai hỏi mua, trả năm xu một cắc, thì đã lật đật bán cấp kỳ, người nào trả đến ba hào bốn giác thì bợm mót sọt rác sẽ cười thầm, tự cho mình trúng mối to, hoặc giả kẻ kia không ba trợn cũng là người điên của.

Hình minh họa

Cái bát quả thật xấu xí, không đáng gọi là mỹ thuật phẩm chút nào. Chén làm vầy, gọi nó là cái mẻ, cái nắp tĩn nước mắm, cũng không ai phản đối. Thế mà được đặt trên đế ngà, kính cẩn sang trọng và nếu không gàn sao dám mua nửa trăm bạc, sướng đời chưa? Thú thật hôm ấy, tôi cố mua cho kỳ được vật nầy vì đinh ninh trong trí rằng nếu vật ấy không quí, thì chủ nó không dại gì tiện cho nó một chưn đài bằng ngà khéo lộng lẫy như vậy. Về sau nhờ nghiên cứu kỹ càng thêm thì rõ ràng trong các sách khảo cứu Pháp Anh đã từng nói đến chén này1, đã có in hình chụp ảnh và mô tả kỹ lưỡng đồ đất nung Tống loại này và danh từ chuyên môn gọi đó là đồ “fourrure de lièvre “(màu da lông thỏ), một danh phẩm gốm của tỉnh Phước Kiến, sản xuất tại Ki-ngan (Kiết-an). Gọi theo Nhựt Bản thì đó là chén “Temmoku”và mãi đến nay, tôi mới thấy trong bộ Cảnh-Đức Trấn Đào Luc (đã in), gọi “Thố Hào Trân”và men chén ấy gọi “hoàng thố ban trích châu». (Temmoku, có sách dịch Thiên mẫu san, sách khác viết ra chữ Hán là Thiên Mục Thủ, vậy theo mặt chữ nên đọc Thiên Mục Thủ.)

Vả chăng ngày nay ai cũng biết:

– Nhà Đại Tống, do vua Triệu Khuông Dẫn dựng nghiệp, cai trị Trung quốc từ năm 960 đến năm 1276 hay

1279 mới dứt; tính chung được trên ba trăm năm, chia ra Bắc Nam lưỡng triều:

– Bắc Tống, đóng đô tại Biện-lương (Khai phong phủ), chín đời vua, trị vì từ 960 đến 1127, là 167 năm;

– Nam Tông, thuyền đò về Hàng Châu, chín đời vua, từ 1127 đến 1279 là 152 năm.

Cộng: 319 năm.

Như vậy thì:

– Nếu lấy năm chót (1279) mà đoán, thì chén nầy tính đến năm nay 1971, ít nữa cũng đã 1971-1279 =692 tuổi.

– Bằng như dựa theo trích dẫn sau đây và lấy năm Đại Tống nguyên niên (960) mà đếm, thì độ chừng, chén nầy cao niên nhứt, cũng được 1971-960=1011 tuổi chẵn.

Đồ đất nung, thứ men mốc-mốc, đỏ đỏ thâm thâm, chỗthì sót men lòi da cháy sạm, chỗ thì men dày nhều đùn cục dưới chân món đồ, danh từ chuyên môn gọi “giọt lụy”(traces de larme), những món đồ ấy, coi vậy mà không dễ gì bắt chước, đồng tiền bọn chơi đồ cổ cũng khó ăn và người đời nay, với dụng cụ và cơ khí tối tân, tuy nhái được mà không giống hệt đồ xưa, vì vậy muốn biết rõ từ món cổ vật, phải chịu xuất tiền ra mua sách, chớ mua bừa có ngày tổ trác, thì mất tiền mua chớ trách ai. Có một nước láng giềng của Trung Hoa, trình độ văn minh đang trong thời kỳ vọt cao, nền tài chánh ngày nay dồi dào, nước ấy đã chầy năm nghiên cứu và tìm đủ phương thế để nhái tạo thứ đồ đất nung có tráng men như loại chén này, nhưng đến bây giờ vẫn chưa được thành công mấy. Đồ của xứ nầy sản xuất, chỉ gạt được các tay mơ, còn chập chững, vọc vạch chơi đồ xưa chưa nóng tay, chớ đối với hạng khá thông thạo, từng đạp gai, từng rờ rẫm quen mặt với món đồ, thì người bán cũng như bọn giả tạo, cũng khó đánh lận tròng đen họ được.

1. Lẽ đúng phải in hình ra cho mỗi người thấy một chút. Nhưng vì kỹ thuật trong nước chưa in hình được khéo, nên chúng tôi tạm chừa hình lại sau sẽ in làm một quyển album duy nhứt, khi viết xong bộ sách này và sẽ bán riêng cho những người muốn khảo cứu. Tạm thời, xin qui vị tìm xem trong sách sẵn có, như sách Les poleries et porcelaines chinoises của bà Daisy Lion Gold Schmidt, pl.IX.D. Kien, dit Temmoku (musée Guimet), hoặc trong bộ “Céramique ancienne de l’Asie “par Fujio Koyama, No 34 page 82, hình rất rõ và khéo, trong mới thấm hiểu. Nước người ta in một cuốn sách mỹ thuật, không kể phí tổn. Bên nước ta, sách in để tặng biếu, nên có khác. Không phải lỗi tại soạn-giả. V.H.S.

Mà nghĩ cũng trớ trêu ngộ thật: cái ông nghệ sĩ nào thuở đó, nặn được cái chén lưu truyền đời đời làm vậy, mà có dè đâu hỏng ký tên để danh hiệu của mình vào! Hay không là ở chổ đó! Không bì đời nay chế tạo đồ xấu, đồ giả mạo, lại ký hiệu xưa ngờ ngờ, một cách công khai! Cho nên nhà chơi đồ cổ, không tiếc tiền mua cái chén, cũng vì muốn mua lại cái thành thật quân tử của cổ nhân. Xin nhắc lại, cái chén Đại Tống, sau buổi lộn xộn thất điên bát đảo của thời kỳ trước và sau năm đảo chánh 1945, được tôi (tác giả) giấu kín và đem lên Sai Gòn. Tôi xin vô làm tại viện bảo tàng từ năm 1947 và ngày 13 tháng 9 năm 1954, có ông Serge Elisseeff, nguyên là người Nga nhập Pháp tịch, lão thông chữ Hán, chức làm quản thủ viện bảo tàng Cernuschi tại Paris, nơi đây tàng trữ những cổ vật di tích thuộc văn hóa phương Đông. Năm ấy nhơn đi công cán bên Nhựt Bản, sẵn dịp thuận đường, ông ghé viếng viện bảo tàng Sài Gòn. Sau buổi viếng ở đây, chúng tôi mời ông hạ cố đến viếng tệ thất trong Bà Chiểu, cho ông thấy một nhà cổ Việt Nam như thế nào. Đến nơi, ông trầm trồ khen kiểu kiến trúc nhà Việt, có khác đôi chút kiểu nhà Tàu và rất khác xa nhà Nhựt Bản.

Xem cuộc thế nhà ở xong, ông day qua xem bộ môn đồ gốm và sứ của chúng tôi sưu tập bấy lâu. Bỗng ông vói cầm cái chén Đại Tống, ngắm nghia hồi lâu kế day qua hỏi chủ nhà:

– Ông biết chén nầy thuộc loại đời nào chứ? (Giọng ông hỏi như giảm khảo hạch sinh viên).

– Thưa tiên sinh, chủ nhà đáp, ắt đời Đại Tống. Nhưng sẳn đây, dám hỏi tiên sinh, chẳng hay Tiền Tống hay Hậu Tống, xin tiên sinh dạy cho biết? Lại nữa, tiên sinh dạy giùm chẳng hay đó là chén uống trà hay chén uống rượu, tiên sinh cao kiến, dạy cho với nào!

– Chén trà phải hơn, ông khách lạ đáp.

– Thưa tiên sinh, theo kẻ hậu sinh nầy biết, có lẽ chén nầy trước dùng uống rượu, sau đó đổi qua dùng làm chén uống trà.

– Á hay! Hãy cắt nghĩa cho tôi nghe với!

– Dạ thưa, tiên sinh đọc nhiều sách Hán, ắt dư rõ tích Tống Thái Tổ, Triệu Khuôn Dẫn, khai cơ dựng nghiệp như thế nào? Để thêm sáng câu chuyện, kẻ hậu sinh xin nhắc lại sự tích có thủ có vĩ cho dễ hiểu:

Tiền nhựt, vào đời Ngũ Đại Tàn Đường, bước đầu thế kỷ thứ X, giặc dậy tứ tung bên Trung Hoa, nhơn dân lấy làm khổ sở. Các vị tưởng trấn thủ những quan ải trong địa, sẵn binh quyền trong tay, đều nổi lên, mạnh ai nấy chiếm cứ một địa phương, kẻ xưng hùng, người xưng bá. Lúc ấy có ông Quách Oai (Quách Ngan Oai) làm tổng trấn thành Phàn Châu, cũng như ai, bèn soán vị, xưng đế hiệu, dựng nhà Hậu Châu, mở một kỷ nguyên mới. Châu Thái Tổ Quách Ngạn Oai trị vì từ năm 951 đến năm 954, thọ năm mươi mốt tuổi. Ông không con nối dòng, nên lập Sài Vinh, cháu vợ, gọi Sài phu nhơn bằng cô, làm Đông cung thái tử, cho ăn họ Quách. Sài thái tử ở với cha nuôi rất có hiếu và Châu Thái Tổ Quách Oai, lúc gần băng, gọi thái tử đến trối rằng:

– Vương nhi có biết vì sao vua chúa đời trước thường bị khai quật lăng tẩm hầu hết chăng? Chẳng qua cũng vì lúc thăng hà, ham chôn vàng bạc châu báu theo quá nhiều, mà trên đời có chi làm hư lòng người, giục lòng người, nhứt là của bọn vô tín ngưỡng, chúng thèm ước của quí vật lạ chôn theo xác chết mà quên hết đạo đức lễ nghĩa. Cho nên trẫm dặn vương nhi khi trẫm xa băng án giá rồi, thì vương nhi nhớ kỹ dầu một vật báu cũng đừng chôn theo. Cũng đừng tẩn liệm bằng tơ lụa và trang sức đắt tiền. Vương nhi nhớ bỏ lệ dùng cung nhân coi sóc lăng phần và bỏ lập cung viện quanh lăng vì xa xí vô ích. Việc phụng tự hãy giao cho người có nhà cửa gần lăng, lựa lối ba mươi nóc gia giao phó cho họ là đủ giữ gìn rồi. Tùy nơi nhơn tâm để lại chớ không phải để binh sĩ đông mà lăng mộ khỏi bị thú vật đạp phá hay quân gian lén đào mạch trộm của quí. Cũng bãi bỏ lệ tạo người đá, voi đá, ngựa đá, mà trẫm cho rằng xa xỉ. Hãy liệm trẫm trong một cái hòm bằng gốm nung. Cấm tuyệt dùng đá xây huyệt mả. Kim tỉnh xay bằng gạch được rồi. Hãy lựa thứ gạch xấu, không dùng được lần thứ hai. Đồ dịch1 lựa hai tên là đủ.

Nhưng vương nhi nhớ cho kỹ, là phải lập cho trẫm một bia đá có khắc thật rõ nét, hai câu như vầy:

“Châu thiên tử bình sanh háo kiệm,

Di mạng dụng bố y ngõa quan».

1. Đồ dịch phải chăng là người tù mắc tội đồ nay dùng phục dịch tại lăng để quét lá rụng, nhổ cỏ dại và không cho trâu bò lại gần lăng? Hoặc đó là “mọi”chôn sống theo người chết cho hồn sai khiến? Trong sách không nói rành.

Dịch: Vua nhà Châu sanh tiền chuộng tiết-kiệm;

Di mạng dặn liệm bằng bố vải và dùng hòm bằng gốm để chôn 1.

Mấy hàng tài liệu trên đây, đối với người ngoại cuộc, khi đọc lên, chỉ đem lại sự ngáp dài buồn ngủ, nhưng đối với chúng tôi, học đòi khảo cồ, thì quả vô cùng hệ trọng, vì đây là một bằng chứng xác nhận rằng loại hũ đựng cốt (urne funéraire) đã có, chẳng những đời Đại Tống, theo như sách Pháp đã nói, mà có trước từ đời Hậu-Châu (951-959) rồi. Vả lại hai đời không cách xa nhau bao nhiêu, (cuối Châu 959, kbai Tống 960), cho nên dầu gặp hai loại ấy cũng khó mà định tuổi một cách chẳng sai lầm.

Vua Quách Oai mất rồi, con nuỏi là Sài Vinh lên kế vị, chọn đế hiệu là Châu Thế Tôn, trị vì từ năm 954 đến năm 959, tuy ngắn ngủi, chỉ có sáu năm, (thọ ba mươi chín tuồi), nhưng để được hai phát minh nay còn nhắc đời:

1) Thứ nhứt, tương truyền vào đời ông, tìm ra men màu xanh da trời. Một hôm, có sớ tâu lên đãi lịnh vua, muốn biết vua chọn màu gì cho thợ chuyên làm đồ gốm đồ sành, vẽ lèn các món ngự dụng. Vua phê vỏn vẹn bốn chữ: “Vũ quá thiên thanh». Nhờ đó mà thợ chế ra được màu xanh lơ, trong sách Pháp dịch là: couleur bleue du Ciel après la pluie. Nghiệm ra, khi mưa tạnh, bao nhiêu bụi trần đều quét sạch, trên trời da xanh ngắt trong khe, tuyệt không có một chút bợn nhơ còn gì đẹp hơn? Đồ sành đời Châu Thế Tôn, thuộc vào buổi sơ khai, vừa hết gốm chớ chưa qua hẳn sành, hiếm lắm và quí lắm. Danh từ chuyên môn gọi Sài dao hay Sài diêu (Tch’ai-yao), ngày nay kiểm không ra. Truyền tụng có câu: “Ngàn vàng dễ kiếm, Sài diêu khôn tìm ». Hiếm cho đến đỗi thành huyền thoại, các nhà khảo cổ Tây phương lấy làm ngộ không biết Sài diêu thật có hay  không và không viện bảo tàng Âu Mỹ tích trữ được môt mảnh nào, cho biết mặt.

Người Trung Hoa nâng lên hàng quí như ngọc và gọi Sài ngọc. Trước năm đảo chánh 1945, có một chủ tiệm hoa kiều trong Chợ Lớn có khoe với tôi một miếng sành nhỏ màu xanh đậm da trời, cẩn trong một miếng vàng vuông, ông ta làm mặt sợi dây nịt da đeo thường bữa. Tôi muốn quá, theo nài nỉ hoài, xin đổi một chiếc vòng ngọc thạch quí giá, hoặc bù một số tiền lớn, nhưng nói cách mấy, ông chủ tiệm không khứng rời miếng sành nhỏ kia. Ngày nay mảnh Sài diêu ấy còn hay đã mất, tôi không biết, vì chính sau cuộc phong ba năm 1945, hai tôi chạy một người một ngã và cho đến ngày nay tôi không gặp cố nhân Hoa kiều.

Nay tôi cũng ngờ không biết miếng sành ấy có phải thật là Sài diêu chăng, cũng chưa ắt. (Xem thêm qua bộ Cảnh Đức trấn đào lục về sự tích Sài dao).

2) Thứ nhì.

– Đời Châu Thế Tôn SàiVinh có chế ra một đồng tiền bằng đồng, ngày nay cũng là một báu vật, người sưu tầm tiền cổ, cho là một vật quí còn hơn vàng. Nguyên mấy năm ấy (954-959), vì chiến tranh dây dưa mãi nên đồng kém hụt, có bao nhiêu đều đúc binh khí và mũi tên, nên trong nước có nạn khan tiền, trong dân gian, việc đổi chác lấy làm khó khăn. Chau Thế Tôn là người thực hành vì thuở nhỏ từng lưu lạc đó đây với bộ ba Triệu Khuông Dẫn và Trịnh Ân, nay thấy dân hụt tiền xài cốt Phật bằng đồng có thể thay cốt bằng gỗ hay bằng đá hay chất khác được, ben truyền linh lấy tượng Phật lấy đồng đúc tiền gọi tiền “ Châu ngươn thông bửu ». Ngờ đâu dân chúng đời ấy rất sợ Trời Phật, khi hay được tiền Châu nguơn là bằng đồng của tượng Phật đúc ra, họ đều lấy đeo cổ đeo tay làm bùa hộ mạng, khiến nèn tiền đã hút khan nay lại còn khan hút hơn nữa. Sau vua Sài Vinh mất, thọ có ba mươi chín tuổi, thiên hạ cũng đồ thừa trách ông sao dám nấu Phật lấy đồng. Vềsau, mỗi lần có người từ trần, đều lấy tiền Châu ngươn mang theo để hộ mạng dễ nói chuyện với Diêm vương và bọn quỉ sứ cũng kiêng nể, khiến cho tiền Châu nguơn mất hết, và câu đồng diêu trên cũng lặp lại nữa, đồi hai chữ: “Ngàn vàng dễ kiếm, Sài diêu khó tìm », đổi lại: “Ngàn vàng dễ kiếm, Châu nguơn khó tìm».

Tuy thọ không lâu (39 tuổi), tuy làm vua rất ngắn (sáu năm), nhưng danh tiếng Châu Thế Tôn thật là trường tồn. Một tiếng thơm thứ ba của Sài Vinh xin kể ra luôn, là tánh ông rất hiền, ở với hai em là Khuông Dẫn, Trịnh Ân đều nhịn nhuc, sau lên làm vua thì hết lòng với dân, chia ngọt xẻ bùi, đồng cam cộng khổ, sánh với các vua chúa đời Ngũ Đại, thì ông được tiếng là minh quân hiền nhứt, nên khi mất, dân chúng tiếc thương ông lắm. Hỏi mấy ai được vậy?

1. Tài liệu viết theo truyện Phi long diễn nghĩa, bản dịch Huynh Công Giác, in lần nhứt năm 1908, nhà Phát Toàn, Sai Gòn, trang 342.

Nhưng Sài Thế Tôn là người bẩm thọ yểu, không kham việc chinh nam phục bắc, năm 959, đi đánh giặc về, đau rồi mất. Con là Lương Vương lên noi ngôi, (sau bị truất, thụy phong Cung Đế, trị vì hai năm 959-960, mất năm 973, thọ hai mươi hai tuổi). Cung đế lúc lên ngôi, chưa đầy tám, chín tuổi, các tướng sĩ phe đảng của Triệu Khuông Dẫn đều không bằng lòng thần phục một ông vua nhỏ oắt và cũng lạ hoắc, làm sao biết xét công hãn mã của minh. Vì vậy nửa đêm, ngoài mặt trận, binh kéo đến cầu Trần kiều đóng lại đó, đêm khuya tướng sĩ tụ họp, lấy huỳnh bào đắp lên mình Khuông Dẫn, xóc ra ngồi ghế giữa rồi tung hô vạn tuế. Sử gọi đoạn nay là “binh biến Trần kiều ». Lúc ấy, người em thứ ba trích huyết thề nguyền, bộ ba “Sài Vinh, Triệu Khuông Dẫn, TrịnhÂn “(Trịnh Ân sau Tống Thái Tổ phong đến Nhữ Nam Vương), đã cùng nhau uống máu ăn thề, nguyện lấy gương Đào Viên tam thệ Lưu-Quan-Trương đời Tam Quốc, nay anh lớn Sài Vinh vừa mất, anh thứ là Khuông Dẫn lại truất ngôi của con Sài Vinh, từng gọi mình bằng chú, giành làm vua lấy, Trịnh Ân là người bộc trực ăn ngay nói thẳng, hễ mỗi lần có chén, “rượu vào lời ra », thường kbông dè dặt lời nói và một đòi khi xúc phạm đến Tống Thái Tô. Chỗ anh em thì tha thứ được, mà nay là niềm tôi chúa sao nên? Bởi vậy, trong truyện “Tam hạ Nam Đường », tác giả bịa ra chuyện “ Xích tu long túy tửu hắc hổ qui thần”để nhắc việc Tống Thái Tổ, không biết say giả hay say thiệt, nhè nghe lời sủng phi là Hàn Tố Mai, hạ bút trong cơn say, phê chữ trảm “trên tờ sớ, đề cho Hàn Phụng chém đầu Trịnh Ân, cơn say qua, thì đầu Trịnh Ân đã rụng! Nhữ Nam Vương vương phi là Đào Tam Xuân, dấy binh quyết báo thù chồng.

Non nước này, ta lại thấy ngón “giang hồ mã thượng”của ông vua từng ăn cơm dạo khắp xứ, quen gần đủ mặt gái sông hồ, tôi muốn nói Tống Thái Tổ Triệu Khương Dẫn. Vì để thủ tiêu luôn một nhân chứng bép xép lỗ miệng không thua Tam đế Trịnh Ân, Thái Tổ bèn giả sợ oai Trịnh vương phi, nên nạp mạng ái phi là cục cưng Hàn Tố Mai cho Đào võ trạng Tam Xuân, để cho bà này lăn đèn đốt sống Tố Mai tế chồng là Trịnh Ân. Kế rất độc, một mũi tên giết hai con điểu, vừa thủ tiêu một bà phi quá hiểu biết việc trong cung cấm (Tố Mai), vừa làm hết giận một nữ tướng giỏi, còn nhiều hữu dụng mai sau (Tam-Xuân)! Sau khi làm hai việc, có một không hai ấy, chém bạn giết vợ, có lẽ vừa ăn năn, vừa để chứng tỏ bản lĩnh cao cường của minh, Tống Thái tổ hạ chỉ giới tửu, từ đó cấm dùng rượu mỗi khi có lễ sự và khuyên nên dùng trà thay cho rượu, vì trà vừa tinh khiết vừa hiền hơn rượu, trà uống mãi không say, trà không làm hư đại sự. Vì thế, thưa tiên sinh Elisst eff, tôi, một tiểu sinh nước Việt, dám nói: chén Đại Tống, trước kia dùng để uống rượu, sau đó đổi lại làm chén dùng để uống trà.

Nghe đến đây, nhà học gia Pháp trầm ngâm không kết luận rằng thuyết của tôi đúng hay sai, chỉ gật đầu ra chiều suy nghĩ lung lắm. Trước khi từ giã, tôi mời nhà học giả ký vào sồ vàng, ông S. Elisseeff niềm nở ký tên, hạ bút phê một câu nay tòi còn giữ làm kỷ niệm quí:

“ Avec toule notre reconnaissance à Monsieur SEN, pour avoir fait de notre escale a Saigon, une pierre blan-che sur notre route ».

13-IX-54

Serge Elisseeff

Dịch. – “Đa tạ ông Sển, ông đã, trên bước đường tôi ghé Sai Gòn, giúp tôi ghi dấu cuộc viễn du bằng một viên bạch thạch”.

Dường như chưa bằng bụng, khách nói vói thêm:

– Vậy mà thuở nay chánh phủ qui quốc không khứng: gởi những người thiện chí qua học thêm bên xứ tôi, để ngày nay trở lại trách chúng tôi không sớm đào tạo cho quý quốc những chuyên gia lành nghề.

Nghe mấy lời có hơi chua chát, chủ nhà đánh liều, chát chua trả lại:

– Dạ dám thưa tiên sinh, nói thì dễ, đến khi thực hành mới thấy khó vô cùng. Nghĩ cho cùng, trước đây, muốn học khoa như tiên sinh nói, ít nhứt phải có văn bằng tú tài Pháp. Học xong mấy năm, nếu không có Pháp-tịch thì cũng không trông mong gì gia nhập sở chuyên môn là trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extreme-Orient) và cũng vô phương xuất đầu lộ diện các sở tương đương đời đó. Mà Việt tịch, dầu hèn cũng thề, cũng là quốc tịch của chúng tôi, bỏ sao nên, bỏ sao đành? Cho nên không trách đồng bào chúng tôi, cho đến ngày nay, qua được Pháp quốc, chọn nghề Luật, hoặc nghề thuốc, tương lai thấy sẵn sàng, thêm chắc ăn hơn!”

Hễ đại nhơn thì đại độ. Vốn một học giả chơn thành, khách nhã nhặn siết mạnh tay chủ nhà, từ giã mặt không sắc giận, mặc dầu câu trả lời, gẫm lại, vì quá thành thật, đã gần như trắng trợn.

Phụ trương.

Hình chén Đại Tống (960-1279) (ảnh 1 pl.1).

Kinh-tâm: 185 ly Tày (0m185m/m)

Bề cao:

50 ly Tây (0m05 hay 50m/m)

Giá mua: 49$50 (bạc 1939).

Chỗ và ngày mua: Phòng đấu giá Lagrandiere cũ, ngày 2-10-1939.

Chú thích.

– Chén uống trà đời Tống: miệng rộng, túm lần xuống đến chưn, xem giống hình u con tây (tê giác) tiện tròn, túm đit và để lật ngửa (en forme de corne de rhinocéros renversée).

Danh từ chuyên môn: Trung hoa gọi: Thố hào trản t’ou hao tsien (tasse fourrure de lièvre); cũng gọi “hoàng thố ban trích châu” (boang-t’ou-pan-ti-tchou) (gouttes et perles (dans l’émail) de la couleur du poil de lièvre).

Có khi lại tùy màu khác đi và gọi “tasse plumes de perdrix “(chén màu lông chim đa-đa, chim giá-cô) (thiếu danh từ gọi theo Tàu). Chén nầy rằn-ri, sắc đen sắc trắng xen lộn nhau (PI. VII, C sách Poteries et porcelaines chinoises của bà Daisy Lion-Goldschmidt). Khi khác gọi tắt là “kien”, vì làm ở Kiến An, tỉnh Phước Kiến (Fou-kien). Nhật-bản gọi: Temmoku. Chất bên trong, (gọi cốt của món đồ): đất đen, nặng, da nhám xàm (trước, trong Bách-khoa, tôi gọi đất sa-thạch (grès), nay tôi rõ lại không phải sa thạch, nên xin đính chính), đây là đất đặc biệt tỉnh Kiến An và Phước Kiến có mà thôi.

Men ngoài: khi hồng hồng (màu lông thỏ); khi đen bóng rằn ri (lông đa đa), thường đóng giọt nơi chưn, nơi đít, gọi “giọt lụy” (gouttes de larme); trong chén màu đen, thường ẩn lộ ánh sáng sáng chói chói do chất kim khí lẫn lộn; và vì da có lằn có sọc, do đó người Trung Hoa đặt tên rồi các nước khác họa theo mà gọi: danh từ “fourrure de lievre” và “plumes de perdrix”, người Anh, người Mỹ, cũng để ý mà gọi theo. Những ánh sáng chớp chớp trên món đồ, nguyên là phản ứng của chất sắt, chất kim, do sức nóng của lửa lò biến ra, có chỗ tựu lại thành “vết dầu” (taches d’huile), hoặc “giọt lụy” (gouttes de larme), thảy đều giống y như danh từ đã gọi. Vì không khi nào trong lò lấy ra, cái nào giống cái nào, nên ngày xưa người thợ tin chắc đó là biến hóa phi thường do thần linh ám trợ (người đời Tống rất nhiễm sâu đạo Lão Trang, khác với người đời Đường nghiêng về Phật giáo). Người nay tiến hóa đến cung trăng cũng thám hiềm được, nhưng chưa tìm ra bí quyết chế tạo đồ gốm Tống, có lẽ vì xưa dùng củi chụm lò bằng thứ gỗ gì đó và vật liệu đất trộn, màu pha, gì gì đó, đến nay đã thất truyền, thậm chí ngày nay sử dụng cơ khí tinh xảo thay cho bàn tay người thợ Tống và lò chạy điện hay đốt dầu cặn (mazout) có thề giữ hỏa độ không sai chạy chút nào, thêm vật liệu chọn lọc kỹ lưỡng tinh vi, không sai phân hào nào, vậy mà không làm sao trở lại y như đời Tống được. Trong sach Les poteries et porcelaines chinoises của bà Daisy Lion-Goldscbmidt có kể lại rằng năm 1935, nhà khảo-cồ J.M. Plumer có gặp tại Kien ning (Kiến Ninh, thuộc miền bắc tỉnh Phước Kiến), một đống cao như núi, gồm hằng hà sa số đồ Temmoku hư bề vô dụng của lò xưa bỏ lại, thêm có rất nhiều hộp đất để đựng các món Temmoku lúc đặt vào lò hầm cho chín,

– Các hộp đất nầy (Pháp gọi casettes) chứng rằng đời Tống, nghệ thuật hầm gốm đã tiến hóa tinh vi lắm chớ chẳng chơi. Trong sách kể tiếp, tại tỉnh Giang-Tây, nơi gọi Yunglo gần Kinganfou (Kiết An Phủ), năm 1938, nhà khảo cổ A.D. Brankstón cũng gặp rất nhiều Temmoku tại phủ Ki Ngan nầy, màu gốm da lu (grès) vàng lợt (grès chamois). Thứ Temmoku nay, men mịn, màu tối sẩm, có đốm da qui (écaille de tortue), bên phía trong Temmoku nầy lại có màu lông thỏ (fourrure de lièvre). Có nhiều miểng chén còn cho thấy hình chim chóc, hoặc lá cây giống hệt lá thiệt, có thứ khác thì vẽ màu đen, hình nầy hình nọ trong bộ ô (đóng khung). Thứ chén tro hình lá cây, có gan có chỉ y như thật, nay nghiệm ra khi đó người thợ lấy lá cây tươi đặt vào lòng chén rồi để luôn vào lò hầm, gặp lửa nóng, lá cây cháy ra tro, biến mất, để lại gân, chỉ và cộng cuống của lá mà thôi, rõ ràng đời Tống bên Tàu đã phát minh cách in rập trên đồ sành (décalcomanie) rồi đó. Đủ hiểu đời Tống, họ tiến hóa trong nghề chế tạo đồ gốm đến bực nào. Sách kể tiếp rằng lò ở Ki-ngan-fou, qua thế kỷ XV, vẫn còn thịnh hành.

Hình số 2. – (Xem Pl. 22, fig. 22, 22b trong tập số 4 H.C.Đ.S. “Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa”).

Đây là một cái hũ sành để đựng bài cốt đốt thành tro (Pháp gọi urne funéraire và cho rằng làm vào đời Tống).

Cốt thai là đất nung, lòng để trần, ngoài có tráng men sành trắng ngà trồ rạn, lớp như “ồ nhện” (craquelé en

toile d’araignée), lớp giống da Kỳ Đà (craquelé en peau de lézard) lại có chạm sâu trong cốt thai, hình nhánh và lá cây, dưới lớp men trắng ngà, không có vẽ màu. Nơi nắp và nơi miệng hủ có đắp nổi dún kiểng hoa sen. Trong hũ nầy có đến hai kiểu, biết từ đời Tống, là:

 a) chạm sâu vào cốt thai và

b) đắp nồi hình len cốt thai.

Xong rồi mới áo thêm lớp men cho thêm khéo, vừa che nét chạm, vừa bít kẹt những nơi đắp nổi. Hủ này đào gặp tại làng Đà Hào, Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, lúc làm đường xe lửa xuyên Đông Dương (Trans-Indochinois). Không kể những tài liệu trong các sách Pháp Anh, nói nhiều về hũ đựng tro cốt này, mà cho đến nay vẫn còn tồn tại phong tục người Tàu đem tro cốt người chết của họ về Trung quốc. Nguyên người Tàu rất sợ cảnh chết tha phương, hài cốt lạnh lẽo chôn chỗ đất lạ quê người, nên họ có phong tục trước đây, sống tụ tập làm bảy bang (Phườc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ (Akas), Hải Nam, vân vân và khi chết cũng chôn cất trong nghĩa địa phân biệt của bảy bang ấy. Mỗi năm họ đều có đóng góp tiền chung đậu lo việc cúng quải hồn người chết. Và trừ phi những người có thế lực, nhưng thân quyến bên Tàu đã không còn hay còn rất ít, như Chú Hỏa, Quách Đàm, thì làm mả mồ thật đồ sộ chôn cất tại đây, còn lại bao nhiêu người chết, có lệ chôn quá ba năm thì phải đào mả, lấy cốt, rửa sạch, sắp vào cái tiểu sành hay cái hộp nhỏ bằng cây gỗ sao, niêm phong tử tế rồi gởi hết sang Trung quốc, tỉnh nào theo tỉnh nấy. Thân nhơn được báo tin, đến lãnh hài cốt về, được thêm tiền để chôn cất (nhớ độ sáu đồng bạc, bạc trước 1945). Cũng có lưu manh nhận diện lãnh cốt về bỏ không chôn, miễn được sáu đồng bạc (6$00) đỡ ngặt nghèo, nhưng luôn luôn họ vẫn đùm bọc lấy nhau, như người bạc số không ký quĩ đủ tiền đem xương khô về xứ, thì đã có sẵn bang trưởng hay người đồng tánh xuất tiền làm cho mát dạ người quá vãng, tôn trọng chủ nghĩa có từ đời Hạng Võ: “Phú qui bất hườn hương, như y cảm dạ hành”. Nghĩ cho lính Nhựt trước đây cũng đóng hộp cây cho cốt ve xu và nay lính Mỹ khi chết cũng đem xác liệm về quê. Và cũng vì phong tục đáng khen ấy, cho nên tương truyền đời Tống, khi người Tàu qua đây gây chiến tranh cùng người nước Nam, vùng Thanh Hóa, khi tử trận, có khi họ lựa phong thủy, chôn kín tại chỗ; có khi họ liệm hài cốt tướng tá hay binh sĩ vào những hũ sành loại này.

Hũ có cái da trơn, vẽ chạm chim, lá, có khoét ba chân dính nhau bằng một vành tròn bằng đất nung, hình như để đặt đèn chong dưới hũ cho ấm nắm tro tàn, chớ vẫn không cho lạnh hồn lạnh cốt. Có thứ thật lớn, vẽ chim lạc và hoa lá màu đỏ, tôi từng thấy ở viện bảo tàng ở Bruxelles, ắt dành cho hạng tưởng hay quan chức to, ở viện Guimet tại Paris cũng có một cái; có cỡ trung trung lối hai tấc Tây bề cao, da rạn, vẽ hoa vị đỏ sáu kiếng, có thứ da trơn, có thứ vẽ hồi văn rất khéo, có thứ in hình nổi kiểng sen như hũ tại nhà. Lại có hũ nhỏ có một tấc Tây bề cao, theo sách dùng để đựng mễ cốc cho người đã chết, bao nhiêu đồ đất nung da gốm da lu có từ đời Tống ấy, ngày nay các nhà sưu tập vẫn quí nó hơn đồ sử men lam và mua rất cao giá. Nét vẽ tuy mộc  mạc, nhưng khi xem kỹ mới thấy điêu luyện vô cùng, vì mỗi nét đều có một ý nghĩa kín, dường như người họa sĩ Tống nuôi một ẩn ý giấu trong nét bút, nói cách khác, nét bút của họ như “nhốt” trong hình bông lá, chim cò, một ảnh hưởng không nói ra của đạo Lão, Trang, cũng như họ đã nhốt tinh thần và nét bí ẩn đạo Phật trong kiểng sen, cuống sen bay lá sen thi vị hóa mà ngày nay nhờ lạc tinh sau bảy tám trăm năm bị chôn dưới đất, lại trỗ màu ngọc thạch, da céladon, có nét rạn hồng hồng kiều “ổ nhện” càng tăng nét độc đáo. (Xin xem kỹ chương 3 tập “Khảo về đồ sứ cổ Trung-hoa”, H.C.Đ.S. tập số 4). Có nhiều lăng mộ vùng Thanh Hóa xưa đến đời Hán

(xem B.E.F.E.O.).


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment