vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 20 Dec 2025

Chương 4-6
Đồ sứ Đại Tống và tranh Đại Tống
(bài của ông Nguyễn-Văn-Thư-Tạp chí BÁCH KHOA, số 92 ngày 1-11-60)
Dẫn.
Bài của tôi (VHS), được tạp chí Bách-Khoa đăng vào số 89 đề ngày 15-9-1960. Qua số 92 ngày 1-11-1960, báo Bách Khoa cho đăng bài nhan là “Đồ sứ và tranh Đại Tống”. Dưới bài, ký tên Nguyễn Văn Thư, trước ngồi Thẩm phán ở Quảng Trị, sau về Saigòn và năm 1967, tôi có hân hạnh được gặp tại Huế-đô. Nguyễn đại nhân là bạn viết văn, tôi tưởng không hẹp gì mà không cho tôi trích đăng lại đây, bài của òng viết năm trước có nhắc đến bài của tôi và tiện đây tôi cũng xin anh bạn thân Lê Ngộ Châu cho phép, với tư cách chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Bách Khoa, vĩnh viễn gần như lớp xưa, ông Rene Doumic, bỉnh bút tờ Revue des Deux Mondes (Tập san Lưỡng Thế Giới Paris.) Đa tạ. V.H.S.
Đồ sứ Đại Tống và tranh Đại Tống.
“Nhân đọc bài “Từ chén trà Đại Tống đến tích trảm Trịnh Ân”, của ông Vương Hồng Sển, tôi có dịp nhìn nhận tại trang phụ trương mấy hình chén Tống và một cái hũ. Ai đã nhập môn nghề sưu tầm cổ vật, tất phải được nghe giảng về giá trị của các cổ vật:
Đồ đồng như kiếm, lư đỉnh thì tìm nhà Chu, nhà Hán. Đồ sứ men màu thì hỏi nhà Tống, nhà Minh và men chàm thì phải tìm niên hiệu Khang Hy nhà Thanh. Đây là chuyện đồ sứ thuộc về thời đại nhà Tống, tức là thứ đồ sứ quí giá nhất trong các loại đồ sứ. Tác giả đã vui vẻ giảng cho ta một cách rất rõ ràng, ý vị và rất thú vị, nếu có thể nói thế được quả trình của cai chén Tống, từ lúc nó là chén uống rượu cho đến ngày ngự bút giáng xuống làm chén uống nước trà, nghĩa là tất cả mánh khóe của vua Thái Tổ nhà Tống, trong tấn tuồng “Xích Long túy tửu, Hắc Hổ qui thần”. Tuy nhiên về chỗ chiếc hũ Tống, thì chúng tôi còn vài điểm muốn thỉnh thị Vương quân. Vương quân có trinh bày tấm ảnh một chiếc hũ nhỏ có chạy cánh hoa sen và viết rằng: “Tương truyền đời nhà Tống, người Tàu qua chiến tranh cùng nước Việt Nam ta, khi chết thường liệm hài cốt tướng sĩ tử trận trong hũ sành loại nầy.”
Về loại hũ sứ nầy, chúng tôi cũng có được một chiếc và thấy nó cũng có những đặc điểm như chiếc hũ trong ảnh; nghĩa là:
– Cao độ 20 phân Tây.
– Màu da trắng ngà ngà, có rạn mạng nhện (khác với màu da xanh rêu thẩm hay xanh đen của men Tống Trung Hoa).
– Chất đất nhẹ (khác với chất sứ của đồ Tống Trung Hoa).
Loại hũ nầy, cũng như vài món vật dụng khác thuộc loại bát chén, đều chung một sắc men và một chất nguyên liệu, đều tìm thấy được ở vùng Thanh Hóa, cho nên loại đồ sứ được mệnh danh là đồ Tống Thanh Hóa. Vấn đề đồ Tống Thanh Hóa và đồ Tống Trung Hoa cần được nhận định về nhiều phương diện:
a) Phương diện nghệ thuật.
Tuy rằng hai thứ đồ sứ đều do người Trung Hoa thời Tống chế tạo ra, nhưng hai nghệ thuật khác hẳn nhau.
Đời Tống Thanh Hóa rất mỏng manh, nhẹ, làm bằng đất nung, men ngà ngà và bóng. Không bao giờ có ánh kim sa, chỉ có đường nứt mạng nhện màu gạch.
Đồ Tống Trung Hoa nặng chình chịch; hơn nữa các chén đến đĩa, bình hoa đều dày dặn và mát lạnh (do đó những bát, bình hoa Tống dùng để thực vật trong mùa nực có năng lực giữ cho vật lâu hư, cắm hoa lâu héo).
Có người cho rằng sở dĩ đồ Tống mát và nặng vì nguyên liệu chế tạo là một thứ sa thạch. Đem đá tán nhỏ cho thật nát, lọc qua mấy từng bể nước rồi rây qua lụa được một chất bột sứ, chất rất mịn. Vì lẽ phải dùng công phu như thế nên đồ sứ đời Tống rất hiếm và quý giá. Nghệ thuật hồi ấy chỉ đủ để phụng sự quý tộc. Đồ sứ là một trong những sản phầm ít khi lọt ra ngoài nhân gian. Làm được chiếc nào thì đem tiến nội. Vua dùng và thỉnh thoảng ban cho các đại thần để thưởng công, các quan đem cho lại thân thích của mình để truyền tử lưu tôn làm kỷ vật.
b) Muc đích khác nhau.
Đồ Tống Trung Hoa được chế tạo với cứu cánh dĩ nhiên của nó: chén đề uống rượu, uống trà, bình đề cắm hoa và bát đĩa để đựng quả vật. Đồ Tống Thanh Hóa, như Vương quân đã nói đúng, hướng về một mục đích khác. Các hũ sành được chế tạo ra cốt để lưu trữ di hài của người Tống chết ở tha phương trong khi chờ đợi dịp đem về Bắc địa. Thảng hoặc người ta có thể tạo các chén bát khác thì cũng chỉ là những thứ làm thêm chớ không phải là mục đích chính. Sau khi hoàn toàn đồng ý với Vương quân về nhiều điểm tôi nhận thấy, về đoạn giải thích, tôi cần trình bày một vài ý kiến riêng mong Vương quân chỉ chính.
Các đồ sứ Tổng gọi là Tống Việt-Nam đều đào được ở Thanh Hóa. Ngòai ra không đâu có nửa, vì vậy nên được hỗn danh là Tống Thanh Hóa. Nguoi Trung Hoa ở Thanh Hóa, tác-giả các loại đồ sứ nầy, có một lịch sử:
Khi ông Lý Thường Kiệt và Tôn Đản, vào khoảng năm Ất Mão (1075) , đem quân sang vây châu Khâm, châu Liêm, để phản đối chính sách của Tể tướng Vương An Thạch có bắt về một số tù binh. Số người này được phát lưu vào Thanh Hóa để dung vào công cuộc khẩn hoang. Đất Hóa châu hồi đó là biên cương phía Nam của nước Đại Việt. Những người Tống này mang nghệ thuật nung đồ sứ của Trung Hoa sang để cung ứng cho nhu cầu cần thiết của họ là đem tro xương của kẻ mệnh một chốn đất khách về chôn nơi quê nhà (khi có người chết họ đem lên giàn hỏa thiêu lấy tro để vào hũ, y như kiểu các nhà sư làm lễ Trà Ty).
Vì không có nguyên liệu và sẵn phương tiện tại chỗ, nên bọn Tống binh đã dùng đất nung chớ không dùng sa thạch. Do đó bên ta mới có một thứ Tống Thanh là sản phẩm của dân Bắc quốc trên con đường di cư cưỡng bách: cố nhiên những đồ Tống nầy không có giá trị bằng những đồ sứ của chính quốc Đại Tống, làm bên Trung Hoa. Từ đồ sứ nhà Đại Tống, ta đi sang các họa phẩm.
Các loại tranh vẽ đi Tống, đời Minh, đều quý giá không kém gì các loại đồ sứ; có khi còn hơn cả đồ sứ nữa, vì lẽ dồ sứ dễ giữ và các bức họa thường chịu ảnh hưởng của thời gian.
Xét các bức họa nhà Tống thì có lẽ quý nhất vẫn là mấy bức tranh hoa điểu của Tống Huy Tôn (1253-1278) 1.
Một nhà phê bình nghệ thuật có nói rằng “nghệ thuật Trung Quốc có thể tượng trưng bằng một lọ Túy Hồng và một bức tranh chim Ưng Dương. Lọ Túy Hồng là lọ tráng men ửng đỏ mà hiện giờ thứ men ấy đã thất truyền. Tranh Ưng Dương thuộc về loại tranh cầm điểu mà chính vua Tống Huy Tôn ngự bút vẽ ra.
Đề quý vị có ý niệm về các bức họa của Tống triều, tôi xin hiến quý vị một mẫu ảnh chụp bức tranh Ưng Dương mà chúng tôi có may mắn giữ được. Sau đây là các đặc điểm của bức tranh ấy:
1) Hình vẽ ngay ngắn ở giữa bức bức tranh, biểu lộ sản phẩm của ngòi bút đế vương, lúc nào cũng ngay ngắn, nghiêm trang và chánh vị.
2) Vẽ trên lụa, vì lâu ngày lụa đã nhuộm mùi thời gian và mòn gần hết tơ.
3) Vẽ bằng thủy mạc, điểm trân châu phấn, khiến cho trải qua bao nhiêu năm mà màu trắng không bị phai nhạt.
4) Chính giữa bức tranh và về phía trên có đóng một dấu son, nét son đã xuống màu.
5) Dấu son quốc bảo đóng lên một giòng chữ đại tự chân phương ghi câu:
“TUYÊN HÓA NGỰ BÚT”
1./Lý Thường Kiệt hưng binh đánh với Tống (1075-1077).
1. Huy Tôn (Hoei-tsong) lên ngôi năm 1101 và thoái vị năm 1125; bị Kim Phiến đày lên Bắc năm 1127, mất năm 1135, thọ 54 tuổi, mất tại Ngũ quốc thành, nay Ninh cổ tháp tại Kiết lâm (Ou-kouo-tch’eng. -Ningkout’a.- Ki-lin) theo Mathias Tchang, Synchronismes chinois. Về hiệu Tuyên Hóa là 2 năm 1119 và 1120, chưa biết năm nào vua Huy Ton ngự bút vẽ tranh này, tính theo dưonglịch.
Sển
6) Bên phía tả là bài bạt của Đoàn Minh Điện Đại Học Sĩ Hạ Chấp Trung. Đai ý nói rằng: “Bệ hạ đã dùng diệu bút, lấy màu sắc mà diễn tả một thế vỗ cánh vượt qua ngàn dặm, trông rõ như muốn bay muốn kêu. Thật là thần trí của Đức Vua ngang với Tạo Hóa vậy.
7) Bên hữu là thủ bút của hai nhà danh họa Trường Châu và Động Sơn. Hai người này đã từng được mắt coi bức họa (Tả quan), nên ghi chữ làm bằng và có dấu son làm tín hiệu.
Nguyễn Văn Thư
5. Bắc Cầu
1) Bài thứ nhất. – Trả lời muộn cho ông Nguyễn Văn Thư:
Nguyễn tiên sinh nhã giám,
Mấy lời vàng ngọc tiên sinh chỉ giáo trong Bách Khoa số 92, tòi giữ kỹ từ năm 1960. Sở dĩ không trả lời ngay lúc ấy, vì trong khi ông nhẹ bước đường mây, tòi vẫn lận đận thân làm công nhựt nơi Viện bảo tàng, cuối năm 1960, giao kèo tái tuyển chậm ký, chén cơm gần muốn văng, bụng dạ nào ngồi viết chuyện hũ Tống và tranh “cầm điểu”Tuyên Hóa? Từ ấy, cánh bèo trôi giạt, nhớ có một lần gặp ông tại Huế đô, nhưng làm sao đủ thời giờ nhắc chuyện phù phiếm? Rồi cho đến nay, tôi đã về vườn, viết được 4 cuốn trong bộ Hiếu cổ đặc san tập 4 khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa, có đoạn tả rõ hũ đựng cốt Tống đại. Tập sẽ tới số 5 là Cảnh Đức trấn đào lục sẽ nói nữa về đồ Tống và các đời khác. Ngày nào mắt xanh bắt gặp, đó là ngày kẻ này chờ lời châu ngọc chỉ giáo thêm của cố nhân.
Mấy trang trước tôi chép y bài soạn của ông, mà không viết bài trả lời năm trước. Ông muốn phúc đáp cũng không làm sao được, nên tôi đành ngơ. Quan hà diệu vợi, tình nghĩa còn nhiều, Ngặt năm nay đã 70, không biết còn diện kiến tôn nhan và còn được bắt tay nhau?
Trân trọng kính bái,
V.H.S.
Gia định ngày 27 tháng 10 năm 1971
2) Bài thứ nhì .- Kính tặng ông Huỳnh Đắc Ứng ở Nha Trang.
Bài tôi viết về chuyện “Từ chén trà Đại Tống đến tích Trảm Trịnh-Ân “đăng trong Bách-Khoa số 89 ngày 15-9-1960. Tiền nhuận bút, tôi đã ăn trót lọt, lâu hoắc. Ngoài bài của ông Nguyễn Văn Thư trên đây, cách ba năm sau, tờ bảo hằng ngày TỰ DO có cho in liên tiếp hai bữa, trong mục “NÓI HAY ĐỪNG », hai bài dài, số 1780 ngày 21-2-1963 và số 1781 ngày 22-2-1963, tựa nhan đề là:
BÀN PHIẾM VỀ SỰ TÍCH CHÉN ĐẠI TỐNG».
Tác giả là ông Huỳnh Đắc Ứng ở Nha Trang. Về tác giả, tôi chỉ biết được bao nhiêu đó và đến nay tôi còn hối hận vì cho đến giờ nầy, tin tức âm hao, diện mạo, sức khỏe của Huỳnh tri kỷ (xin cho phép gọi làm vầy), tôi cũng không rõ biết, như buổi ban đầu.
Hôm nay dỡ tập hồ sơ cũ, soạn về “Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn», trước hết, tôi xin sao y nguyên văn hai bài của Huỳnh tiên sanh, đề rồi tiếp theo đó, tôi sẽ ghi lại những gì tôi hiều biết hiện thời về cái chén trà đời Tống và sự tiến triển cua nghệ thuật đời Tống về đồ gốm, đồ sành. Biết làm sao tỏ sự tri ân? Nếu Huỳnh ngọc hữu đọc mấy hàng nay và cho tôi biết địa chỉ, – đàng nay tôi sẽ hỏi thêm nơi tòa soạn Bách Khoa, tôi sẽ dâng sách đến nhà, chuộc những lỗi năm xưa chểnh mãng.
Xin nhận lỗi và tri ân:
V.H.S (27-X-1971)
6. Bàn Phiếm Về Sự Tích Chén Đại Tống
Bài của ông Huỳnh-Đắc-Ứng (Nha-trang).
(Trích báo TỰ-DO số 1780 ngày 21-2-1963, mục “Nói hay đừng”).
Đọc lại tạp chí BÁCH KHOA 36 89 ra ngày 15-9 năm 1960, thấy ông Vương Hồng Sển có viết một bài với đề:
“Từ chén trà Đại Tống đến tích trảm Trịnh-Ân”. Tác giả kể lại giá trị của chén ấy và trình bày cho ông bạn ngoại quốc, sự tích chén Đại Tống mà ông cho là ở sự tích Triệu Khuông Dẫn nghe lời Hàn Tố Mai chém Trinh Ân. Ông kể cho vị nầy nghe, rồi xác nhận chén Đại Tống, trước đó dùng để uống rượu, sau mới dùng uống trà, tác giả viết:
“Lúc ấy, người em thứ ba, trích huyết thề nguyền, bộ “ba “Sài Vinh, Triệu Khuông Dẫn, Trịnh Ân” (Trịnh Ân, “ sau Tống Thái-tổ phong đến Nhữ Nam Vương), đã cùng “nhau uống máu ăn thề, nguyện lấy gương Đào Viên tam “thệ Lưu-Quan-Trường đời Tam-Quốc, nay anh lớn Sài Vinh vừa mất, anh thứ là Khuông Dẫn lại truất ngôi của “con Sài Vinh, từng gọi mình bằng chú, giành làm vua lấy, Trịnh-Ân là người bộc trực, ăn ngay nói thẳng, hễ mỗi lần có chén, “rượu vào lời ra”, thường không dè dặt lời nói và một đôi khi xúc phạm đến Tống Thái Tổ. Chổ “anh em thì tha thứ được, mà nay là niềm tôi chúa sao nên?” Bởi vậy, trong truyện Tam hạ Nam Đường, tác giả bịa ra chuyện “ Xích tu long túy tửu, Hắc hổ qui thần”, để nhắc việc Tống Thái Tổ không biết say giả hay say thiệt, nhè nghe lời sủng phi là Hàn Tố Mai, hạ bút trong “cơn say, phê chữ “trảm” “trên tờ sớ, đề cho Hàn-Phụng chém đầu Trịnh-An, cơn say qua, thì đầu Trinh-Ân đã rụng”!
“Nhữ-Nam-Vuơng vương-phi la Đào-Tam-Xuân, dấy binh quyết báo thù chồng. Non nước này, ta lại thấy ngón “giang-hồ mã-thượng” của ông vua từng ăn cơm dạo khắp xứ, quen gần đủ mặt gái sông-hồ, tôi muốn nói “Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn. Vì đề thủ tiêu một nhân chứng bép xép lỗ miệng không thua Tam đế Trịnh Ần, Thái tổ bèn giả sợ oai Trịnh vương phi, nên nạp mạng ái phi la cục cưng Hàn Tố Mai cho Đào Võ Trạng Tam Xuân, để cho bà này lăn đèn đốt sống Tố Mai tế chồng là Trịnh Ản. Kế rất độc, một mũi tên giết hai con điểu, vừa thủ tiêu một bà phi quá hiểu biết việc trong “cung cấm (Tố-Mai), vừa làm hết giận một nữ tướng giỏi, còn nhiều hữu dụng mai sau (Tam-Xuân).
“Sau khi làm hai việc có một không hai ấy, chém bạn giết vợ, có lẽ là vừa ăn năn vừa để chứng tỏ bản lĩnh cao cường của mình, Tống Thái tổ hạ chỉ giới tửu”, từ đó cấm dùng rượu mỗi khi có lễ sự và khuyên nên dùng trà thay cho rượu, vì trà vừa tinh khiết, vừa hiền hơn rượu, trà uống mãi không say, trà không làm hư đại sự.”
“Vì thế, thưa tiên sinh Elisseeff, tôi, một tiểu sinh nước Việt, dám nói: chén Đại Tổng, trước kia dùng để uống rượu, sau đó đổi lại làm chén dùng đề uống trà.”
“B.K. số 89 tr. 12 và 13).
Chúng tôi thành thật mừng ông Vương Hồng Sển có của quý là chén Đại Tống; lại nữa chúng tôi thành thật nhận lối kể chuyện của ông Vương Hồng Sển rất hấp dẫn, khi ông kể sự tích chén Đại Tống của ông cho ông bạn Serge Elisseeff nghe.
Sau đây tôi cũng xin có vài nhận xét riêng về chiếc chén Đại Tống để xem nó dùng vào việc uống rượu hay uống trà. Một vấn đề trên ngàn năm mà lại của nước người không có một tài liệu nào chính xác, mà cứ như Vương tien sinh kể trên, thời ông bạn gốc Nga, Pháp tịch thế nào cũng tin mạnh rằng cái chén ấy trước dùng rượu sau là dùng trà. Theo chỗ hiểu của chúng tôi thời thuyết đó không đúng và Vương tiên-sinh đã nêu ở trên là trưyện “Tam hổ Nam Đường”, tác giả bịa chuyện Triệu Thái tổ nghe lời Hàn Tổ Mai trảm Trinh Ân, rồi giết luon Tố Mai, để rồi lại phải hạ chỉ giới-tửu … , nội chừng đó đã mâu thuẫn rồi. Vả lại chính tiên-sinh cũng cho chuyện nầy là bịa, cho nên ông cũng không tin chắc là trước chén Đại Tống dùng uống rượu, cho nên Vương tiên-sinh đã phải nói: “Thưa tiên sinh, theo kẻ hậu sinh này biết, có lẽ chén này, trước dùng uống rượu, sau đó đổi qua dùng làm chén uống trà.
(tr. 11, B.K. số 89).
Thật ra, chén Đại Tống có phải trước dùng uống rượu sau mới dùng trà không? Về điểm nầy ta cần biết về cái chết của tướng Trịnh Ân thì đặng rõ. Như trên đã nói, tác giả “Tam hạ Nam Đường” bịa ra câu chuyện Triệu Khuông Dẫn giả say phê chiếu trảm Trịnh Ân, chứ thật ra theo Nam Tống diễn nghĩa, thời lúc Triệu Khuông-Dẫn đã được quân Trần kieu phủ áo bào tôn lên làm hoàng đế, lập ra nhà Đại Tống thì ở Lộ châu có tiết đại sứ là Lý Quân không phục, liền kéo quân về đánh lại Triệu Thái tổ tại Kinh đô. Khuông Dẫn lien ngôi giá thân chinh đi dẹp Lý Quân; lúc bấy giờ có Trịnh Ân, Cao Hoài Đức, Thạch Như Tín, Mã Toàn Nghĩa, và vạn muôn binh theo hộ giá.
Đoạn này trong truyện có nói rõ về cái chết của Trịnh Ân như sau:
«Khi ấy đại binh Tong Thai-to gan toi thành Thạch-chân, thì gặp binh Lộ-châu của Lý-Quân vừa kéo tới. Thái-tổ liền hạ lịnh dừng binh lập trận thế rồi lên ngựa ra đứng dưới cờ mà hỏi Lý-Quân rằng: « Nhà ngươi với trẫm đều là cựu thần nhà Châu, nay phước trời đã lập trẫm lên ngôi thiên-tử, lẽ ra nhà ngươi phải kbuôn phò cho đẹp lòng bá tánh mới phải, chớ sao nhà ngươi lại phản trẫm là nghĩa gì? »
Lý-Quân giận lắm, nói rằng: « Nhị-công ỷ thế chúa mà đoạt ngôi vua, trời đất nào dung? Nay ta đem binh tới hỏi tội, nói cho nhà ngươi biết. »
Triệu Thái-tổ giận lắm, liền ngó chư tướng mà hỏi:
«Ai ra chém thẳng nghịch tặc ấy cho trẫm.
Sau đó có Trịnh-Ân múa đao giục ngựa ra đánh Lý-Quân. Hai bên đánh nhau hơn 80 hiệp. Lúc ấy bên quân Bắc-Hon có tướng Lư-Tang thấy Lý-Quan đánh không lại Trịnh-Ân, bèn lấy một mũi tên lắp vào cung rồi bắn một mũi trung ngay mặt Trinh-Ân nhào xuống ngựa, nhờ có Cao-Hoài-Đức cứu kịp đem về trại.
(Mai tiếp)
Huỳnh Đắc Ứng (Nha Trang).
*
Qua ngày sau, 22-2-1963, báo Tự-Do, mục «Nói hay đừng » cho in tiếp bài nầy:
BÀN PHIẾM VỀ SỰ TÍCH CHÉN ĐẠI TỐNG (1I)
Trịnh-Ấn bị tên nằm mê man. Thái-tổ lo sợ, khiến người mổ lấy tên ra, huyết chảy không ngớt. Lúc tỉnh lại,
Trịnh-Ân biết mình sống không nổi, liền than với Triệu Thái-tổ rằng: « Từ khi tôi gặp bệ-hạ đến nay, thì việc gì cũng chung có nhau trong sớm tối. Tôi cũng ước ao lo giữ mối giềng cho bệ-hạ mau an bốn bề, không dè nay gặp nước như vậy, chắc là tôi phải vĩnh biệt bệ-hạ. »
Thái-tổ khóc rằng: « Khanh với trẫm, tuy khác họ mà niềm ruột thịt cũng không hơn. Nay khanh bị nguy hiềm như thế nầy, nhờ thuốc men ắt cũng khỏi đặng, hà tất khanh than điều ấy làm như dao cắt ruột trẫm. » Nhưng rồi Trịnh-Ân thác.
Sách còn chép rằng, lúc Trịnh-Ân thác, Thái tổ Triệu-Khuông-Dẫn vì quá thương cảm nên tẻ xiu bất tỉnh nhơn sự, khiến chư tưởng hết sức lo lắng. Sách truyện không thấy đoạn nào nói Triệu-Khuông-Dẫn tỏ ý ghét Trịnh-Ân, cho đừng nói tới việc trảm như tác-giả Tam-hạ Nam-Đường bịa ra cả. Theo ngu ý, thời tác-giả bộ Tam-hạ Nam-Đường là người nhà Thanh đã bịa ra để xuyên tạc trào Tống để làm cho nó có vẻ « não nùng ai oán », chớ một minh-quân sáng nghiệp như Trieu-Khuông-Dẫn, người đã làm lừng danh đời Đại-Tống, có lý nào lại nghe lời một mụ sủng-phi mà giết một danh tướng lại một nghĩa đệ bao giờ?
Hơn nữa lúc dịch bộ Nam-Tống diễn nghĩa, ông Trương-Minh-Chánh, cũng đã phải nói như sau:
« Thuở nạy ai ai cũng đều nói rằng « Trịnh-Ân thác là vì bởi Hàn-Tố-Mai muốn trả thù cho chú mình, mà phục rượu cho Thái-tổ say, rồi cầm tay phê chiếu chém Trịnh-Ân. Đã vậy, thường thường hát bội cũng hát theo như thế. Nay tôi dịch bộ truyện nầy từ đầu chi cuối không thấy chỗ nào nói sự tích ấy, kiếm cũng hết hơi, hoài công thì có chớ chả thấy đâu. Có nhiều ông bác làm quần thơ nói rằng:
«Tích này không có trong sử Tàu; ấy là do người Thanh đặt ra như vậy; mà nay bản chánh mất rồi, nên xin chư vị miễn chấp. »
Sử liệu Trung Hoa lưu truyền tại Việt Nam, mà kẻ thiển học như chúng tôi, chỉ biết có thế, nên về sự tich chén Đại-Tống, tạm kết luận như thế nầy:
– Nếu Trịnh-Ân bị Triệu Thái tổ đời Đại-Tống trảm, thời chén Đại-Tống trước dùng uống rượu, sau lại đề uống trà là đúng.
– Nếu Trịnh-Ân chết vì bị Lư Táng bắn, thì sự tích đó sai.
Mà đúng hay sai, việc đó không cần thiết lắm, tuy có điều chắc chắn nhất là chén Đại-Tống hiện nay có trên ngàn năm và ở tại tư-trang của Vương tiên-sinh thì đó là một bảo-vật vô cùng qui giá.
Riêng kẻ viết bài nầy, cũng chỉ vì tánh tò mò hay lục lạo sách vỡ, vậy xin Vương tiên-sinh hay xem đây chỉ là một việc: « đọc sách cũ, nói chuyện xưa » mà thôi.
Ký tên: Huỳnh Đắc Ứng (Nha Trang).
(Trích nhựt báo TỰ-DO số 1780 và 1781 ngày 21 và 22 tháng 2 năm 1963).
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.