Ông Đại Sứ

vietmessenger.com

Morris L. West

Chu Việt dịch

Trình Bày xuất bản 1964

Post by Sơn râu 21 Dec 2025

Chương 8.

Tôi trở về saigon với một cặp đầy tài liệu ghi chú và một số vốn tin tưởng mới. Giờ đây ít ra thì tôi cũng có thể cân nhắc được những tin tức được đem lại cho tôi và đánh giá được luôn cả nhữug người đem tin nữa. Trong thời gian tôi vắng mặt, không có một biến chuyển nào lớn nhưng lệnh thiết quân luật đã được bãi bỏ và đã có một số lớn sinh viên và sư sãi được thả về. Đài phát thanh Saigon và báo chí do chính quyền kiểm soát đã mở một loạt những cuộc chỉ trích các

sự trừng phạt của chúng ta, nhưng đó cũng chỉ là những tiếng vang của bài diễn văn Cung đã đọc tại Quốc-hội. Tôi thấy không cần phải trả lời gì cả.

Cuộc không-vận những nhân viên hành chánh đã bắt đầu và dự trù hoàn tất trong vòng hai tuần lễ. Tổng-thống Cung đã giữ lời hứa và gửi đến cho tôi một tài liệu dài về sự khuynh đảo của Cộng-sản trong các chùa chiền. Tôi đọc tài liệu ấy rất kỹ lưỡng và thấy đó là một công trình sưu tầm đáng tin cậy nếu không phải là hoàn toàn thích đáng. Trong đó có đủ những sự kiện để bắt

ta phải đề phòng và chứng minh cho sự theo rõi nhưng lại có quá nhiều ức đoán để biện minh cho sự khống chế đại quy mô toàn thể tăng giới. Người ta đã quá nhấn mạnh về những vụ nổi loạn và những cuộc tụ họp công khai, là hậu quả của sự tàn bạo của cảnh sát cũng như là của hoạt động khuynh đảo. Những lời buộc tội chống Harry Yaffa và CIA đều được trình bầy dài dòng, nhưng chứng cớ để buộc thì sơ sài, có thể nói là quá ít; trong khi đó thì có một vài chứng cớ hiển nhiên là đã căn cứ vào những lời khai dưới cực hình. Tôi đưa bản phúc trình cho Mel Adams và hắn cũng đi tới một kết luận như tôi. Harry Yaffa cũng có đọc nữa nhưng hắn có ý kiến khác hẳn. «Thưa ông Đại-sử, tài liệu này đã được biến chế! Cung và nhân viên của ông biết nhiều hơn là họ đã khai ra. Họ cố tình nói rất mơ hồ về hoạt động của chúng ta và những điệp viên mà họ nói tới đều là những tay ít quan trọng nhất. »

« Vậy thì tại sao họ lại mất công gửi cho tôi phúc trình hày làm gì? »

« Tôi cho rằng cũng khá dễ hiểu. Cung đã hứa gửi cho ông thì Cung phải giữ lời hứa, nếu không sẽ mất mặt. Tôi đoán rằng nhân viên an-ninh của ông ta đã mó phải cẳng ngựa bởi vì một bản phúc trình nói lên sự thật nắm trong tay ổng và tay tôi có thể gây rắc rối cho một vài người trong bọn họ. Hệ thống an ninh của họ cũng gồm có nhiều đẳng cấp, cho nên họ sẽ mất mát nhiều hơn là lợi lộc nếu họ liệt kê ra tất cả những tin tức mà họ có. »

«Anh đã biết là tôi có hứa gửi một bản sao tài-liệu này về Hoa-thịnh-đốn. Anh có thấy trở ngại không? »

«Không có, thưa ông Đại-sứ. Nhưng tôi xin thêm vào đó một vài lời bình

luận. »

Tôi cũng không thấy trở ngại chi về việc đó cả. Tôi quan tâm đến việc tìm hiểu Yaffa có tin tức gì mới cho tôi không thì đúng hơn. Thật là nhiều hơn là tôi đã mong ước trong khoảng thời gian quá ngắn ấy.

« … Trước hết là George Groton đã bay ra Huế ngày hôm sau ông đi khỏi. Tôi đã xin được cho hắn giấy giới thiệu với vị sư trụ trì chính ngoài đó-mà lạ thay, lại qua trung gian của ông Viện trưởng Đại-học, một vị Linh-mục đã từ chức sau khi xẩy ra vụ bắn giết và hiện nay gần như bị giam lỏng tại tư dinh của Đức Tổng Giám-mục Saigon. Groton đã ở lại chùa trong hai ngày và ở đó hắn nghe thấy xì xầm nói về một tổ chức gọi là Mặt trận Giải-phóng Quốc-gia miền Nam. Điều này ăn khớp với một vài tin tức mới từ Cam-bốt qua. Ít lâu nay chúng tôi đã biết rằng Sihanouk vẫn liên lạc với những người Việt-nam lưu vong ở Ba-lê và đã cố gắng thành lập một đảng trung-lập với sự trợ giúp của người Pháp. Bây giờ chúng ta đã có tên của tổ chức đó. »

«Lại người Pháp nữa! »

«Đúng vậy. Nhưng chừng nào mà bọn chúng vẫn ẩn diện và để cho tụi Miên đứng ra thương lượng thì một tổ chức trung lập vẫn có thể thu hút được một dân số địa phương nào đó. »

«Còn ảnh hưởng của Cộng-sản tại Huế thì sao? »

«Không có chứng cớ gì nhiều. Groton báo cáo là có một khuynh hướng quốc gia mạnh, điều tự nhiên vì Huế vốn là thủ đô văn hóa cũ. Tuy nhiên có một tổ chức chặt chẽ chống chế độ Cung và tuyên truyền rất mạnh cho một cuộc đảo chính. »

« Do ai lãnh đạo? »

« Trung tướng Khiết, vị tư lệnh Quân đoàn dưới vùng châu thổ. Ông tạ sinh trưởng ở Huế trong một gia đình Phật-tử cổ xưa và được kính nể. »

« Vậy ra Groton làm việc giỏi đấy chứ. »

« Thưa rất giỏi. »

« Bây giờ hắn ở đâu? »

« Thưa ông, ở bên Cam-bốt. Chúng tôi cho hắn một giấy thông hành dân sự với một chiếu khán du lịch và đề nghị hắn đi du ngoạn Angkor Wat rồi nói chuyện với Phật-tử ở Nam-vang, Hắn có thể tìm ra được một đầu mối tin tức dẫn ngược trở lại bèn này. »

Việc ấy thật đã vượt qua những điều kiện mà tôi đã đưa ra trước đây, nhưng tôi đâu có thể phản đối gì được vì làm vậy sợ tỏ ra sủng ái đặc biệt đối với Groton. Thế nên tôi bỏ qua. Yaffa tiếp tục. « Tôi cũng đã kiểm soát lại bản báo cáo về tin tức ở Ba-lê. Claude Gemelle là một ký giả tự do đã đến Saigon chừng một tháng trước

đây và ở lại một tuần lễ để phỏng vấn nhiều người. Hắn không phải là một điệp viên. Một vài người hắn đã phỏng vấn là những bạn hữu của chúng ta và những bản tường thuật hắn viết về bọn họ đều thật là đúng. Do đó có thể là bản tường thuật về Cung cũng đúng nữa »

« Đúng, nhưng vẫn còn mơ hồ. »

« Dạ đúng. thưa ông. »

« Theo anh nhận xét thì bài đó có bao hàm một ý nghĩa là Cung đã sẵn sàng để thương thuyết với miền Bắc nếu chúng ta thúc đẩy ông quá mạnh không? »

« Có thể lắm. »

« Có cách nào làm cho ông ta lập lại lời tuyên bố mà không cần phải tấn cống chính – diện ông? »

«Tôi cũng suy nghĩ về việc đó. Nhưng chắc chắn là ông ta sẽ không lập lại cho bất cứ báo chí địa phương nào … Và ông có thể tin chắc rằng ông ta sẽ không lập lại cho một nhà ngoại giao đâu. »

« Tôi không tin chắc là như vậy. »

« Làm sao biết được, thưa ông? »

Tôi kể cho hắn nghe tôi trò chuyện với người Pháp trong buổi tiệc rượu và hắn chau mày một cách không vui sướng.

« Chuyện ấy không ăn nhằm gì hết, thưa ông Đại-sứ. Không ăn nhằm gì tới tụi Miên, bọn lưu vong và Mặt trận giải phóng Quốc gia gì hết. »

« Có thể lắm chứ. Anh hãy thử xem vị trí của Cung. Ông bị đe dọa bởi một cuộc nổi loạn của các tướng lãnh. Quân đội bị chia rẽ bởi một lực lượng thứ ba, có thật chứ không phải chuyện chơi. Rồi lại có một cuộc vận-động trung lập khởi sự ở Cam-bốt và Ba-lê. Đó là một sự đe dọa gồm ba mũi dùi, do đó trong sự tuyệt-vọng, Cung rất có thể quyết định xáp gần lại với miền Bắc khi ông vẫn còn sức mạnh để mặc cả. »

«Nhưng nếu bọn Pháp biết như vậy và chấp thuận thì tại sao chúng lại đi ủng hộ bọn lưu-vong và tụi Miên? »

«Đó là một cuộc «ma-nớp»-hay một nghi kế, tùy anh nghĩ! Thêm áp lực đè lên Cung để đẩy ông đi tới một bước quyết định. Bất cứ sự liên-minh nào giữa miền Bắc và miền Nam đều có lợi cho bọn Pháp về kình-tế và ngoại-giao … Tôi nghĩ rằng mình không nên bỏ qua hẳn sự việc đó. »

«Nếu quả thật như vậy, » Yaffa hỏi một cách ý tứ, «nếu Cung đang nghiền ngẫm một cuộc thương lượng, thì lập trường chúng ta ra sao?

Chúng ta cứ để ông ta làm vậy hay chúng ta đưa ra ám hiệu và làm gấp cuộc đảo chính? »

«Đó là một vấn đề chính sách ở cấp bậc cao. Tôi sẽ phải trình lại Hoa-thịnh-đốn. Nhưng tôi đoán là họ sẽ lựa chọn cuộc đảo chính. Họ đã chi ra quá nhiều và cam kết quá sâu xa nên không thể đồng ý với một cuộc thương lượng bắt tay với Bác Hồ. »

«Vậy thì tôi phải đưa vụ này trở thành dự án số một cho tất cả nhân viên của chúng tôi».

«Anh cứ làm đi, anh Yaffa. Nhưng cho họ biết rõ là tôi cần phải có những sự kiện. Tôi không thể làm gì hay đề nghị gì được với sự phỏng đoán nữa đâu. »

«Tôi biết vậy lắm, thưa ông. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng. »

Và vấn đề bắt buộc phải dừng lại ở đó. Trên bàn tôi đầy ngàp giấy tờ trong năm ngày qua và tôi lại còn phải viết một bản báo cáo về việc viếng thăm của tôi nữa. Anne Belldon và tôi làm việc suốt buổi chiều qua đến buổi tối và cái núi giấy tờ vẫn chỉ giảm đi được có một nửa. Sau tất cả những chuyện đã xẩy ra, đối với tôi thật khó mà mô tả ra được mối liên hệ đã nẩy nở giữa chúng tôi trong những giờ phút làm việc riêng tư dài dặc. Nàng vẫn còn ở trong Ngành và tôi không muốn nàng bị tai tiếng hay mất phẩm giá. Tuy vậy, nàng vẫn là một phần của lịch sử những biến cố đó. Có một vài người đàn bà mà ngay cả trong sự đam mê ta cũng không dám tự cởi mở bởi vì họ liền đòi hỏi ngay một sự chiếm đoạt quyền sở hữu về cả tâm hồn lẫn thể xác.

Khi ta khước từ, thì họ trở nèn cay chua và độc địa bởi vì chính con người họ không có sự hiền dịu. Cũng có những người đàn bà khác mà đối với họ sự cho đi là bản chất đích thực của tình yêu và những người ấy là những người duy nhất mà ta có thể cùng họ hưởng thụ được sự gần gũi trong khi vẫn duy trì được mối liên hệ về nghề nghiệp. Những kẻ đa nghi có thể mỉm cười nếu họ muốn và những kẻ tán dóc có thể che miệng thầm thì, nhưng khi ta đã biết được một tình yêu sâu đậm và đẹp đẽ – và cả Anne Beldon lẫn tôi đã được biết tình yêu đó – thì ta không muốn dấn mình vào những hậu quả của một sự đam mê đột ngột. Trước mặt mọi người chúng tôi đối với nhau rất có nghi thức. Trong sự riêng tư, chúng tôi thấy thoải mái và biết ơn sự ấm cúng khi có nhau. Chúng tôi khòng đụng chạm nhau với lời nói và không đùa bỡn nhau với những cử chỉ tế nhị của sự giả tạo. Đối với cả hai chúng tòi thì hành động như thế có quá nhiều nguy hiểm mặc dầu không ai đả động đến sự nguy hiểm ấy bao giờ.

Từ ngày Gabrielle mất đi, tôi đã trở nên u uất với sự tin tưởng của tôi nhưng tòi đã cởi mở đối với nàng và nàng đáp lại một cách thành thật. Tôi cho nàng biết về những việc khó xử của tòi, về chuyện tôi sợ hãi chính tôi và nàng cũng đủ trí khôn để thú nhận rằng cũng thấy sợ hãi cho tôi. Tôi cũng nói về lòng mến chuộng của tòi đối với George Groton và nàng đã hiểu được sự thèm khát có người nối dõi của những kẻ không con cái.

Nàng cũng thèm khát như vày, mặc dầu nàng đã biết cách chế ngự vì nàng biết rằng nàng dễ sa ngã hơn tôi nhiều. Chính là sự chín chắn đáng mến ấy của tấm lòng và tâm hồn nàng đã hấp dẫn tôi đến với nàng một cách mãnh liệt nhất.

Nàng có cái mà tôi tin rằng những nhà đạo đức học gọi là một lương tri đã lập thành-một sự chấp nhận bao dung, dễ dãi đối với những sự điên rồ của thế giới, nhưng nhìn thấy rất rõ những sự điên rồ mà chính mình đã phạm phải và quyết tâm không tái phạm nữa. Nàng thay đổi tính tình mau lẹ, cũng mau giận dỗi nữa, nhưng gần như lúc nào nàng cũng tìm cách kìm hãm lại được. Nàng không bao giờ làm điệu e thẹn, dẫu rằng nàng chưa bao giờ rơi vào cái thứ ngôn ngữ sống sượng mà rất nhiều bà lịch lãm đã giả bộ dùng. Liệu nàng đã có người yêu nào sau khi chồng chết chưa? Tôi chưa hề hỏi nàng bao giờ. Nàng có yêu tôi không? Có – mặc dầu khi tôi khám phá ra thì đã quá muộn. Tôi có yêu nàng không? Giờ đây thì tôi biết là tôi đã yêu nàng và tôi tự trách tôi đã để biết bao giờ phút mất đi, biết bao lời không nói ra và để rồi tất cả giờ đây chỉ còn lại là kỷ niệm huy hoàng, rực rõ. Tuy vậy một ông góa vợ đã năm mươi tám tuổi, một vị Đại-sứ và Sử thần bận rộn với chính trị cao siêu và nguy hiểm đâu lại có thể chơi trò ú tim và đùa cợt với ái tình trong phòng tiếp tân của Sứ quán được! Còn phương diện Quốc gia chứ, thưa ngài! Nhưng có những kẻ quyền quí hơn tôi, những Sứ thần giỏi hơn nhiều, những vị Tổng-thống tài ba đã chọn con đường khác hẳn tôi; và tòi không biết là vườn nhà có tươi tốt hơn hay những thắng lợi của tôi có bớt trống rỗng hơn không vì tôi đã không chịu bẻ hoa hồng bên đường? Một người ở tuổi tôi chẳng bao giờ nên đùa cợt với ái tình. Yêu thì yêu, không thì thôi ! Bởi vì ngày mai bao giờ cũng là quá muộn mất một ngày!…

Ngay sau khi tôi trở về Saigon đã xẩy ra một loạt biến cố không ăn nhập gì với nhau, một biến cố gây nên một chuỗi hậu quả mang theo sự chết chóc. Sáng ngày Chủ nhật, một ngày trước khi Ủy-ban Liên-hiệp-qnốc sang, một nhà sư già đã từ xe hơi đậu trước nhà thờ bước ra và tự thiêu ngay trước mặt mọi người đi dự lễ mười giờ trở ra. Kết quả là lại thêm xáo trộn, thêm bắt bớ và chấm dứt cuộc hòa hoãn mỏng manh của Cung với Phật-giáo. Đêm thứ Hai, trong Chợ-lớn, một quả lựu đạn đã được ném vào một bar mà quân nhân Việt-nam và Mỹ thường hay lui tới. Ba cô chiêu đãi, một binh sĩ nhẩy dù Việt-nam và hai Thủy-quân Lục-chiến Mỹ bị thương. Ngoài ra có hơn mười người bị thương. Một anh Thủy-quân Lục-chiến bị thương ở bụng lảo đảo bước ra ngoài đường được người ta đưa ngay vào một căn nhà người Trung-hoa, được các bà ở trong đó băng bó mau lẹ và khéo  léo nên đã thoát chết. Kết quả là phòng Dân vận của Đại-tướng Tolliver đã kêu điện thoại cho tôi và đề nghị Sứ-quán nên có cử chỉ cám ơn. Căn nhà đó là của người Trung-hoa số Một, một nhân vật vô dạnh và ít người gặp được mà Mel Adams đã nói với tôi khi tôi mới tới Saigon.

Do sự quan trọng của gia đình đó và với hy vọng có thể ít ra cũng xâm nhập được phần nào vào cái cộng đồng kín như bưng của người Trung-hoa nên tôi quyết định đích thân làm cái cử chỉ cám ơn đó. Tôi thảo một bức thư đưa tay bầy tỏ sự cảm ơn của tôi và của chính phủ tôi về hành động cứu người ấy. Tôi xin được phép gặp ông gia trưởng để tặng một kỷ vật tượng trưng cho sự tri ân của chúng tôi. Người đưa thư quay về đem cho tôi một bức thư Hán-tự nét chữ tươi đẹp, dùng một ngôn ngữ Quan-thoại kiểu mẫu mời tôi đến dùng trà lúc bốn giờ chiều ngày hôm sau.

Tôi lựa chọn quà tặng một cách kỹ lưỡng. Tặng vật đó phải đơn giản, quý giá nhưng không quá đắt tiền vì sợ gây sự bất ưng ý, sự bối rối và một sự đáp lễ quá lớn lao. Sau rốt tôi lựa một món trong bọn sưu tập của tôi: một bát đựng nước thật đẹp bẳng sứ cần ngọc quý do Nomura Ninsei ở Awata làm ra vào thế kỷ thứ mười bẩy. Với tặng vật trong tay và sau hai giờ nghiên cứu tài liệu của Sứ quán về các sắc dân thiểu số Trung-hoa ở Việt-nam, tôi ra đi với người tài xế mới và Bill Slavich cầm khẩu súng săn ngồi ghế trước. Bill Slavich không muốn phiêu lưu với một vụ ám sát cá nhân tôi lần thứ hai trong những phố phường đông đúc ở Chợ-lớn. Người Trung-hoa số Một tiếp đón tôi với nghi lễ cổ xưa. Ông là một người cao niên, trong bộ y

phục hiền nho. Ông nghiêm nghị, bình thản và được trời phú cho một thứ phẩm cách tự nhiên của người trưởng tộc. Như thường lệ, ông nói với tôi về cái vinh dự tôi mang đến cho căn nhà tồi tệ của ông và ông nhận tặng vật của tôi với sự ưng thuận bình thản. Ông đem các con cháu ông ra giới thiệu rồi đuổi chúng đi. Sau đó, với những lời khen tặng và dò dẫm lòng vòng, chúng tôi bắt đầu câu chuyện.

Vị chủ nhân của tôi than phiền về bạo lực và sự rối loạn của thời cuộc. Ông ngỏ ý tiếc về vụ mưu sát tôi và sự thương vong do các cuộc tấn công khủng bố gây ra cho thường dân vô tội. Từ đó, câu chuyện bước qua những vấn đề đặc biệt của người Trung-hoa và ông trình bầy những vấn đề đó với tôi trong bối cảnh lịch sử của chúng. « … Thưa ngài, trong suốt một ngàn năm, đất nước này đã là một tỉnh của Trung-hoa. Mặc dầu nền văn hóa của Việt-nam là do Trung-hoa tạo thành, chúng tôi vẫn bị coi là kẻ thù truyền kiếp. Lịch sử Việt-nam đầu tiên do người Trung-hoa viết. Chúng tôi đã đưa vào đây cái cầy và con trâu. Chúng tôi đã cùng nhau chia sẻ ngôn ngữ và kiến thức: các tướng sĩ của chúng tôi đã cưởi đàn bà Việt làm vợ. Ngay cả khi Lê-Lợi lập nên một triều đại Việt-nam đứng vững được ba thế kỷ rưởi, nhà vua đã lập nên một quan chế căn cứ theo mẫu mực Trung-hoa: và chế độ này đã đứng vững cho đến khi người Pháp đến chiếm mất nước …

«Trong trận chiến tranh với Nhật-bản, gần một nửa triệu người Trung-hoa chúng tôi đã ty nạn hay di cư sang đây và cho đến nay vẫn luôn luôn có hôn nhân hợp chủng giữa phụ nữ chúng tôi và đàn ông địa phương. Thường thường chúng tòi trở thành các thương gia và chủ ngân hàng và dưới thời Pháp, chúng tôi vẫn giữ được quốc tịch Trung-hoa và được quyền kêu gọi Trung-hoa báo vệ các quyền lợi đặc biệt của chúng tôi.

«Năm 1956, Chính phủ ban cho tất cả chúng tôi quốc-tịch Việt-nam. Nhưng đó không phải là một sự ra ơn mà là một sự cưỡng bách. Nếu không nhập quốc-tịch, chúng tôi không được tham gia vào thương mại, kỹ nghệ hay canh nông. Chúng tòi vẫn còn được tự trị với các Bang của chúng tòi … Nhưng Bang đã được hủy bỏ năm 1960. Các trường học của chúng tôi được đặt dưới quyền kiểm-soát của Chính phủ và bị cưỡng bách dày tiếng Việt-nam …

«Chúng tôi quan niệm những sự việc ấy như là một sự tăng trưởng tự nhiên của chủ nghĩa quốc-gia ở Á-châu, Những sự việc tương tự đã xây ra ở Thái-lan, Nam-dương và Miến-điện. Tôi không thấy có lợi lộc gì trong việc chống lại những sự việc ấy nhưng tôi đã gặp phải khó khăn trong việc dậy người Trung-hoa chúng tôi biết nghệ thuật thích nghi. Đã có nhiều sự chỉ trích và bất mãn. Cũng có sự trốn tránh pháp luật nữa … Và bởi vì Trung-hoa hiện nay là một quốc gia cộng-sản, sự trung tín của người Trung-hoa chúng tôi luôn luôn được đặt thành vấn đề … »

Đó là một sự trình bầy thẳng thắn mặc dù là thiếu sót về một vấn đề dân thiểu số đã làm điêu đứng tất cả vùng Đông-nam-Á. Nó không đả động gì đến thài độ chính-trị của các sinh viên trẻ và bất mãn người Trung-hoa và sự kêu gọi thống nhất và phục-hưng Trung-quốc. Nó không nói gì đến sự di-cư bất hợp pháp và sự xâm nhập của các tên xách động Cộng-sản. Cũng không nói đến sự sách nhiều, vi thiềng và hối lộ chính trị ở khắp mọi nới. Nhưng tôi đã biết rõ những điều ấy và người Trung-hoa số Một cũng biết là tôi đã biết: do đó thể diện vẫn được bảo tồn và tôi có thể đặt được một câu hỏi ít có chủ đích hơn nhưng không kém quan trọng.

«Cụ là người lãnh đạo của cái cộng đồng này. Do chỗ tôi được biết thì cụ đã rất có công giữ cho cộng đồng này được thống nhất, có kiểm soát  và không dính dáng gì đến một sự dấn thân quá nguy hiểm về chính trị. Tôi xin cụ cho biết ý kiến riêng về Tổng-thống Cung và các sách lược chính trị của ông ta».

Ông ngẫm nghĩ về câu hỏi này trong một lúc rồi hỏi tôi:

«Chúng ta đang ngồi uống nước trà trong nhà tôi. Bởi vậy chắc đây là một cuộc thảo luận riêng. tư và kín?»

«Lẽ dĩ nhiên. »

«Vậy thưa ngài, tôi xin nói rằng nếu Tổng-thống của chúng ta có nhỡn quan ít vẻ Pháp và thêm vẻ Trung-hoa hơn thì ông sẽ thành công hơn nhiều. Cũng như người Pháp, ông rất thành thạo với guồng máy quyền bính, chúng tôi cũng vậy. Nhưng chúng tôi hiểu rằng guồng máy chỉ chạy tốt nếu có người giỏi điều khiển. Và trước sau gì thì chính là dân chúng phải được xoa dịu. Tôi cũng có guồng máy của tôi nữa – các nhóm gia tộc; các hội bí mật, các hiệp hội có tính cách xã hội; nhưng nếu già như tôi mà tôi còn điều khiển được là bởi vì tôi luôn sẵn sàng tiếp xúc với dân chúng … Ngài thấy không, đó là nhược điểm của Tổng thống. Dân chúng không biết ông là ai cả. Bất cứ kẻ vô lại nào trong chính quyền cũng khoe là nói với giọng của ông, và dân chúng làm sao mà biết thật, hư được?»

« Ông ta có lương thiện không? »

«Tôi biết chắc là ông lương thiện. Tôi đã nhiều lần thương lượng với ông và ông đều giữ đúng lời cam kết. Có lần ông đã ngồi ngay chỗ ngài ngồi hiện giờ và chúng tôi đã dự liệu nhiều điều hay cho người Trung-hoa chúng tôi — nào nhà thương, nào chấn chỉnh học đường. nào chống tham nhũng của cảnh sát, nào cho người Trung-Hoa cơ hội được phục vụ trong chính quyền. Tôi đã giúp ông thành lập Hội Văn-hóa Việt-Hoa và điều đình sự hợp tác kinh tế với Đài-Loan. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi ông quá sức hứa hẹn của ông. Tôi cũng không bao giờ hứa hẹn quá sức tôi thực hiện nỗi. Thế nên chúng tôi kính trọng lẫn nhau. Chúng tôi không hẳn là bạn hữu, nhưng bất cứ lúc nào muốn đến ông cũng được nghênh tiếp tại nhà tôi.»

« Cụ nghĩ sao hành động của ông ta chống lại Phật-giáo? »

Ông nhún vai và co hai bàn tay dài của ông. vào trong ống tay bộ áo hiền nho của ông.

«Tôi là một nhà nho cổ hủ. Tôi ngờ vực tất cả các tôn giáo bởi vì tôi thấy rằng không một tôn giáo mà là  không tự nó đem theo những mầm mống mâu thuẫn và bạo động. Đôi khi tôn giáo cũng tạo ra được những vị thánh nhân-nhưng các vị này bao giờ cũng là những người xả thân cho nghĩa vụ và cho việc thiện chứ không phải là cho sự đấu lý. Tôi nghĩ rằng Tổng-thống đã làm nhiều lỗi lầm, nhưng những lỗi lầm này đều được sự tán thành của những kẻ nhìn thấy có lợi lộc trong đó. Tôi nghĩ rằng ông có thể phạm thêm nhiều lỗi lầm nữa, bởi vì sự cô lập thường gây nên ngờ vực và ngờ vực thường đưa tới hành động tàn bạo. »

«Và cụ nghĩ thế nào về chính sách của chúng tôi ở Á-châu? »

Lần đầu tiên tôi thấy ông mỉm cười và ông trả lời câu hỏi của tôi bằng một câu hỏi khác.

« Thưa ngài, ngài muốn tôi giữ lễ hay muốn tôi nói lên sự thật? »

« Sự thật. »

« Vậy theo quan điểm của tôi thì sự thật như thế này. Ta không thể quên lờ đi bẩy trăm triệu người được. Và họ cũng không thể bị nhốt trong một cái lồng và bị khước từ sự thông thương bình thường với các nước trên thế-giới được. Họ đã sống quá lâu-quá kinh nghiệm và quá tự ải nên không thể ngăn cản họ được. Tổ tiên tôi đã đến xứ này vào thời nhà Minh. Họ đã làm quan cho Lê-Lợi và tôi vẫn còn ở đây – người Trung-hoa số Một vào hạ bán thế kỷ thứ hai mươi. Đây là một sự kế tục vĩ đại và sự kế tục đó không có gì bẻ gẫy được, cả cách mạng bên trong lẫn áp lực từ bên ngoài … Đây không phải là một vấn đề chính trị-một cuộc cãi lý tạm bợ giữa nhà nho hay người Mác-xít hay người dân chủ Hoa-kỳ. Đây là lịch sử của Á-châu hàng ngày vẫn tự viết đi viết lại như biển cả viết lên cát …

Chúng tôi chuyện trò thêm chốc lát nhưng câu chuyện đã cạn. Khi tôi đứng dậy ra về, ông trao cho tôi món tặng vật của riêng ông-một đĩa nhỏ bằng ngọc thạch trong, nằm gọn trên lụa trong một hộp bẳng gỗ trầm. Trên mặt đĩa có khắc những hàng chữ công phu và tuyệt đẹp. Người Trung-hoa số Một dịch ra thành một câu nói của Không-Tử.

«Kẻ có trách vụ tinh thần không được nhường bước ai, dù rằng sư phụ của mình. »

Cách đấy hai ngày sau, tôi dự cơm tối với bạn đồng nghiệp Úc của tôi. Hắn vui mừng gọi đó là «một dịp thân mật trong nhà». Tôi đinh ninh rằng buổi tối sẽ buồn tẻ nhưng vì thiếu hắn món nợ xã giao nên tôi sẵn sàng chịu đựng. Nhưng tôi ngạc nhiên thấy mình đứng giữa một đám người thông minh và bất chấp nghi thức. Với sự vui vẻ thành thật, họ đã làm tôi hết vẻ trịnh trọng và cảm thấy mình là người trở lại. Có ông bạn người Đan-mạch của tôi – người của lông vịt và những vấn đề vận chuyển; vị chỉ huy Phái-bộ Quân-sự Úc-châu,

người đã hơn mười năm sống với chiến tranh du kích ở Miến-điện và Mã-lai nhưng rặt nói chuyện về ngọc quý, về các bản thủ tự Phạn ngữ và bọn thực dân các nước khác vẫn còn tụ tập ở những nơi xa lạ. Có một nàng tóc nâu đậm xinh đẹp vào khoảng mới ngoài ba mươi sinh sống khá đế vương bằng nghề vẽ chân dung các vị có tiếng tăm ở Thái-lan; và bà vợ người Thụy-sĩ của ông bạn đồng nghiệp của tôi, cứ theo bữa ăn mà xét, phải là một tay đầu bếp tốt nghiệp Cordon Bleu (1). Họ đặt tôi ngồi giữa bà vợ ông người Đan-mạch và bà vợ người Anh của nhà chuyên viên du kích; trong khi trước mặt tôi là một tiểu thuyết gia sống nay đây mai đó và có tiếng tăm khá lẫy lừng nhưng sách của hắn tôi chưa hề đọc.

Chẳng mấy khi lại có rất ít chuyện ngoại giao như lần này và tôi thấy tôi bị thách đố vượt ra ngoài sự cô đơn của tôi để tham gia vào câu chuyện, từ cảch nấu ăn của Pháp đến đồ sứ, bến Karl Barth (2), đến giá cắt cổ của nghệ thuật hạng bét và những sự điên rồ của một cặp minh tinh màn bạc nổi tiếng. Vị chủ nhân của tôi vui mừng để cho buổi tối cứ trôi đi theo đà của nó và ông nhà văn đã tỏ ra là một người biết nghe chuyện có kinh nghiệm. Chính hắn gợi ra các đề tài và để cho câu chuyện theo đuổi các đề tài đó trong nhiều chiều hướng một lúc. Tôi hỏi hắn đến cái nơi khổ ải này làm gì thì hắn cho tôi hay hắn đang bắt tay vào việc nghiên cứu phong trào Cộng đồng và các sự liên hệ giữa Ki-tô giáo và các tôn giáo khác. Hắn là một tín đồ Ki-tô giáo và những biến cố mới xảy ra gần đây ở miền Nam Việt-nam đã làm hắn ưu tư một cách sâu xa. Hắn đã đến đây để tự làm lấy cuộc điều tra. Hắn là một công dân Úc từ lúc khai sinh và được Sứ quán giới thiệu. Tác phẩm của hắn cũng đã có nhiều độc giả ở Pháp và Tổng thống Cung đã chấp thuận cho hắn được phỏng vấn và giới thiệu hắn với các nguồn tin chính thức khác. Hắn có vẻ biết ơn sự đãi ngộ đó nhưng cũng khôn Ngoan để nhận ra rằng Cung rất có thể muốn lợi dụng hắn để phản công lại phúc trình của Ủy-ban Liên hiệp-quốc. Tôi hỏi hắn có ý muốn cho xuất bản các tin tức của hắn khõng thì hắn trả lời rằng hắn là một tiểu thuyết gia chứ không phải là một ký giả và một cuốn tiểu thuyết có thể phải mất hai năm mới hoàn thành được. Vả lại hắn cũng ngại viết phóng sự và không muốn đem tên mình vào những sự nhận định vội vã về một hoàn cảnh phức tạp. Sau khi đã gặp khá nhiều ký giả quốc tế và sau những lời tuyên bố hàng tuần của các danh nhân, tôi

(1) Một trường dậy nấu ăn nổi tiếng ở Ba-lê.

(2) Giáo sư thần học người Thụy-sĩ, bị Hitler trục xuất khỏi nước Đức nam 1935 chủ trương quay về thuyết tiền định.

thấy quan điểm của hắn có vẻ bổ ích. Khi uống cà-phê tôi dẫn hắn ra một chỗ riêng và hỏi thẳng hắn có vui lòng giúp tôi một việc không.

« Xin vui lòng, nếu tòi có thể làm được. »

«Bao giờ ông sẽ phỏng vấn Tổng-thống Cung? »

«Mười giờ rưỡi sáng mai. Ông hỏi làm chi? »

«Xin ông vui lòng hỏi Tổng thống Cung một câu mà tôi sẽ đưa cho ông.»

« Vâng. »

«Ông có vui lòng cho tôi biết câu trả lời của Cung ra sao không? »

«Không được, tôi e rằng không được. » Câu trả lời hắn rất mực lễ độ và hắn vừa nói vừa mỉm cười. Đoạn hắn tiếp lời,

« Tôi ghen với con người của tôi, xin ông biết cho như vậy. Tôi không phải là một gìán điệp. Tôi là bạn của Hoa-kỳ. Tôi đã từng sống ở bên đó và rất thích nước Mỹ và dân tộc Mỹ. Nhưng điều ông yêu cầu đưa tôi vào một vị trí giả tạo … Có điều là nếu tôi có thể đưa được Sứ quán của tôi để thảo luận về việc

này ».

« Tại sao không? Tôi có thể đoán đươc là ông Manson cũng quan tâm đến việc này như tôi vậy ».

Tôi ra hiệu cho Manson và hắn bước tới nhập bọn với chúng tôi. Tôi kể lại với hắn lời yêu cầu của tôi và sự phản đối của ông bạn nhà văn. Manson nói một cách vơ vào. « Vấn đề có lợi chung. Câu trả lời rất quan trọng với tất cả chúng ta. »

« Được rồi ». Ông nhà văn nói.

«Vậy câu hỏi ra sao? »

«Hiện này hay bất cứ lúc nào hay trong bất cứ hoàn cảnh nào, liệu Cung có ý định bắt liên lạc với miền Bắc Việt-nam không? »

Có sự im lặng trong một lát. Rồi Manson gật đầu tán thành nhưng lại thêm vào một lời bàn.

«Ông Amberley, có lẽ ông nên giải thích về ý nghĩa câu hỏi đó. »

«Và luôn cả cái gì dính liền với câu trả lời nữa,» ông bạn văn của chúng tôi thản nhiên nói.

«Tôi sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm báo cáo chính xác. Nhưng hậu quả lại là một chuyện khác. Vậy xin ông thành thật với tôi».

Hắn quá khôn ngoan và biết quá nhiều nên không thể lừa dối hắn bằng sự thật nửa vời được cho nên, dựa vào sự nhận xét riêng của Manson về ông khách của mình, tôi kể cho hắn nghe đầu đuôi sự việc cho đến quãng câu chuyện ở buổi tiệc rượu tại Sứ quán Anh. Manson đã tỏ ra là một bạn đồng minh tốt. Hắn nói rằng chính hắn cũng nghe thấy câu chuyện như vậy và rất mong muốn được sự xác nhận. Nhà tiểu thuyết gia nghe trong im lặng rồi ngẫm nghĩ về đề nghị của tôi trong ít lâu. Sau hết hắn trả lời chúng tôi một cách dè dặt:

«Tôi hiểu các ông cần gì và tại sao lại cần như thế. Tôi có một bổn phận đối với chính phủ tôi và một thái độ thân hữu đối với chính phủ Hoa-kỳ. Nhưng đối với tôi thì dường như là nếu tôi đem lại được một câu trả lời nào đó thì nó sẽ có thể gây nên một hành động nào đó. Tôi nói có đúng không? »

« Đúng. »

« Nếu tôi cố ý báo cáo sai lạc về cuộc đàm luận thì sao?»

«Tôi không tin là ông sẽ làm như vậy. »

«Hay là giải đoán sai lạc đi thì sao?»

«Tôi nghĩ rằng ông thừa thông minh để không hiểu sai lạc. Nhưng dẫu sao đi nữa thì sẽ không có hay sẽ không thể có hành động nào nếu chỉ căn cứ trên một nguồn tin duy nhất không phải là của Mỹ. Cơ quan CIA sẽ kiểm chứng những điều ông thuật lại với những nhân viên tình báo của họ. »

«Vậy thì tôi sẽ đặt câu hỏi của ông ra với Cung và cố gắng minh bạch về câu trả lời của ông ta. Tôi sẽ đưa ông một bản sao đánh máy của cuộc phỏng vấn trước năm giờ chiều mai. »

«Xin cám ơn ông. »

Hắn nhún vai, uống một hơi cò-nhắc và mỉm cười mẻo sẹo với chúng tôi.

«Khi còn trẻ tôi vẫn thường tin tưởng ở sự vô tư hoàn toàn của người nghệ sĩ. Giờ đây khi đã có đôi chút tiếng tăm và khá giầu để có thể sống xa cách, tôi lại tự thấy mình mỗi ngày dấn thân vào một quyết định đạo đức. Đây là một quyết định khó khăn. Nếu nhầm lẫn, tôi khó lòng mà tự tha thứ cho mình được. »

«Vậy mà ông quyết định mau lẹ đấy chứ. »

«Tôi có một vài ưu điểm, thưa ông Đại-sứ. Tôi biết các lời nói có ý nghĩa gì và tôi rất kính trọng lời nói. Tôi làm một nghề đơn độc. Tôi nhìn thế giới với chính con mắt của tôi. Tôi tự gánh lấy nguy hiểm và tôi trả giá những sự thất bại của chính tôi. Tôi hiểu số phận có ý nghĩa gì – và đã từ lâu tôi biết rằng mình không bao giờ có thể mượn được sự khoan hồng của kẻ khác.»

Sáng hôm sau bọn Miên đến gõ cửa tôi với một lời phản kháng giận dữ và một lời yêu cầu bồi thường thiệt hại. Có một đơn vị Việt-cộng đã bị bộ binh và trực thăng truy kích sang phía bên kia biên giới phía Nam. Một làng người Miên đã bị hỏa lực của rốc-kết phá hủy, một số dân làng bị chết và bị thương. Tôi hứa sẽ cho điều tra nội vụ và sau bốn mươi phút đối đáp nhau kịch liệt, bọn họ ra về. Đây lại là thêm một trong những sự phi lý cay đắng của cuộc chiến tranh ung thối này. Thực ra thì sự trung lập của Cam-bốt đã bị vi phạm; nhưng thực ra thì bọn Miên cũng đã tự vi phạm sự trung lập của mình bằng cách để cho vũ khí và người xâm nhập xuôi dòng Cửu-long và cung cấp nơi ẩn nấp cho bọn du kích tha hồ lẻn đi lẻn về qua biên giới.

Những nạn nhân đích thực là đám dân làng, bà già, con trẻ và nông dân, giờ đây đã được chôn chặt dưới đất mà bia mộ của họ sẽ chỉ là một đống tin tức cắt ở báo ra và những hồ sơ văn-thư ngoại giao. Vậy mà trong một xã nhỏ, hận thù lại được reo rắc và tránh cũng không khỏi những trái của nó mọc lên thành những người võ trang …

Buổi trưa Yaffa đem lại hai bản báo cáo trong số có một của C.I.A. ở Hương-cảng gửi về. Ở đó người ta đã theo rõi từ ít lâu nay một người Việt-nam trước kia là công chức của phủ Tổng-thống và được mọi người biết là đã có chủ trương. «Lực lượng thứ ba». Gần đây hắn đã tiếp xúc với nhân viên của Ngân-hàng Trung-hoa và liền ngay sau đó đã thiết lập một tín-khoản nửa triệu bảng Anh với Ngân-hàng Thương-mại của Pháp. Hai ngày sau hắn đi thuật lại một cách rất tình tiết với một phóng viên người Mỹ tất cả những sự mắc mớ trong Dinh Tổng-thống và những mâu thuẫn trong Bộ Tổng Tư-lệnh. Hắn đề nghị biếu người phóng viên này mười lăm ngàn Mỹ-kim nếu đem được vợ và gia đình hắn ra khỏi Saigon trong vòng sáu tuần lễ.

Bản báo cáo thứ hai từ Vạn-tượng tới. Ở đó một viên chức hạng thứ yếu của bộ Ngoại-giao chính phủ miền Nam Việt-nam đã gặp gỡ và đàm luận với một sứ giả của Bắc-việt. Về đề tài cuộc đàm luận thì không có tin tức gì; nhưng hai giờ sau đó, người sứ giả đã rời khỏi thủ-đô Lào trên một chiếc phi-cơ mướn của một tên buôn thuốc phiện lậu người Pháp.

Trong cái mở hỗn độn những âm mưu và phản âm mưu, hai sự việc xẩy ra trên kia có thể được giải đoán theo nhiều cách, nhưng Yaffu tin chắc rằng những sự việc đó ăn khớp với những kết luận của riêng chúng tôi: là hiện có một sự toan tính chia rẽ Quân-đội bằng cách thành lập và tài trợ cho một lực lượng thứ ba sau này sẽ bị cưỡng bách đi với phe Việt-cộng; và ít nhất thì Cung cũng đang dính líu vào những cuộc thảo luận thăm dò với chính quyền Hà-nội. Khi tôi kể lại cho hắn nghe câu chuyện ở bữa tiệc thì hắn tỏ vẻ khá kích động và yêu cầu tôi kêu điện thoại cho hắn khi bản báo cáo được đưa tới. Ông nhà văn giang hồ của chúng tôi đã chứng tỏ khá đúng hẹn như tội đã hy vọng. Đúng năm giờ hắn đến trình diện tại văn phòng tôi với một bản sao đánh máy của cuộc phỏng vấn Tổng-thống Cung. Còn bản chính thì hắn mỉm cười nói với tôi rằng đã được trình cho ông Đại-sử Úc, để bảo toàn những sự lịch thiệp quốc tế. Khi tôi yêu cầu hắn đợi tôi đọc xong để cho tôi ý kiến thì hắn từ chối một cách lễ độ. Hắn đã nhận làm công việc ghi chép cuộc đối thoại. Trong bản báo cáo của hắn đã có một lời bình luận và đoạn tổng kết. Thấy quan điểm của hắn rất là hợp lý nên tôi cảm ơn hắn và để hắn đi. Tôi thèm muốn có được sự độc lập như hắn và cái quyền tự hạn chế trách nhiệm riêng của mình một cách chính xác như vậy. Trách nhiệm của tôi thì gần như là vô hạn, nhưng tôi lại không có quyền trốn tránh nó. Tôi thấy biên bản ghi âm ấy thật là một tài liệu tuyệt diệu, gọn ghẽ và triệt để giới hạn ở những ý tưởng đã quy định. Tôi chép lại trong cuốn ký sự này dù chỉ để mọi người thấy vấn đề chót đã được trình bầy một cách minh bạch, theo ý tôi.

V. Vấn đề Phật-giáo rõ ràng là vẫn chưa được giải quyết xong. Ngài có cho rằng sẽ còn nhiều cuộc biểu tình và hành vi tử đạo của Phật-giáo nữa không?

Đ. Nếu có xẩy ra chúng tôi sẽ biết cách đối phó. Nhưng thái độ của Hoa-kỳ đã dẫn tới một sự cuồng tín như vậy … Người Mỹ đang phá hủy tâm lý của nước chúng tôi. Họ không hiểu được chúng tôi, chỉ chúng tôi mới hiểu được dân tộc chúng tôi, họ nghĩ ra sao và phản ứng ra sao. Người Mỹ nói đến dân chủ nhưng nền dân chủ mà họ nói đến đối với nước này là vô dụng.

V. Ngài cho rằng thể chế chính quyền nào là tốt nhất cho miền Nam Việt-nam?

Đ. Thể chế chúng tôi có hiện nay. Một chính quyền trung-ương mạnh, có thể đương đầu với cuộc chiến tranh và phát triển đất nước … Nếu đó là sự độc tài thì chính là chúng tôi cần phải độc tài, nhưng chúng tôi đang đặt nền móng dân chủ ở miền thôn quê … Đô thị (Saigon) không có nghĩa gì đối với chúng tôi cả. Nếu cần chúng tôi sẽ bỏ rơi tất cả thành phố và tổ chức thành phố thành những ấp chiến lược như chúng tôi đã làm ở thôn quê. Dân chúng ở thành phố bị bất mãn, hư hỏng, đầu độc bởi chú nghĩa cá nhân Tây-phương. Dân tộc chúng tôi cần phải phát-triển nền kinh tế và trật tự xã-hội trong khuôn khổ của gia đình và cộng đồng, trong những giới hạn lịch sử của họ. Đó là ý nghĩa chủ-nghĩa nhân-vị của chúng tôi.

V. Mặc dầu ta chấp nhận những giới hạn tự nhiên do lịch sử và trật tự xã hội đặt ra, phải chăng là ngài đang đặt ra những giới hạn trái với tự nhiên và giả tạo? Như những biện pháp khống chế chống Phật tử và sinh viên chẳng hạn?

Đ. Dĩ nhiên là chúng tôi đặt ra những giới hạn. Các nhà sư không muốn chiến đấu, vậy thì tại sao họ lại có quyền can thiệp vào chiến cuộc? Tăng giới chỉ là một thành phần nhỏ của quốc gia. Tại sao họ lại được quyền quyết định tất cả dòng lịch sử của chúng tôi? Các sinh viên, thanh niên nam và nữ đều phải có bổn phận sẵn sàng chia xẻ cuộc chiến đấu chống Cộng của chúng tôi. Tại sao họ lại được đòi hỏi quyền chểnh mảng bổn phận bằng những cuộc biểu tình bất chính? Thái độ của Hoa-kỳ đã gây mầm cho những sự việc đó. Nếu chúng ta muốn chiến thắng thì dân chúng phải được tẩy độc cái đã.

V. Mọi người đều biết rồ rằng mặc dầu quân lính Mỹ đang chết trong cuộc chiến tranh của ngài, mặc dầu ngài đang chiến đấu với tiền và vũ khí của Mỹ, hiện nay đang có sự thù nghịch công khai giữa chế độ và Hoa-kỳ. Có thể có hay nên có những biện pháp nào để hàn gắn sự rạn nứt đó?

Đ. Các biện pháp thật là rõ ràng. Người Mỹ hãy cho chúng tôi vũ khí, tiền bạc, trực thăng và phương tiện quân vận, chúng tôi sẽ tự lực chiến đấu. Đây là cuộc chiến tranh của chúng tôi, không phải của họ. Chính tôi là người hoạch định chiến lược. Chính tôi là người có trách nhiệm xây dựng nên tám ngàn ấp chiến lược. Vậy mà mỗi lần tôi muốn xử dụng một chiếc trực thăng, tôi phải xin phép người Mỹ.

V. Ngài muốn người Mỹ rút khỏi xứ này?

Đ. Đúng vậy.

V. Nếu ngài có mọi thứ ngài mong muốn – vũ khí, tiền bạc, phương tiện chuyển vận và nếu người Mỹ đi khỏi xứ này, liệu trong bao lâu ngài sẽ chiến thắng?

Đ. Hai hoặc ba năm, về bề ngoài.

V. Và nếu người Mỹ ở lại thì sẽ mất bao lâu mới chiến thắng được?

Đ. Có trời biết được.

V. Khi đã thắng trận, ngài quan niệm sự liên hệ với miền Bắc Việt-nam như thế nào?

Đ. (Giọng giận dữ) Cũng chính trong phòng này các viên chức người Mỹ đã kết tội tôi là duy trì liên lạc với Hồ-chí-Minh. Tôi đã nói cho họ biết rằng người Mỹ đã làm đủ mọi thứ có thể làm được để đẩy tôi vào vòng tay ông Hồ, nhưng tôi vẫn giữ được sự trung tín đối với các mục đích và đất nước của tôi.

(Sau đó lại là một tràng dài những lời công kích phương pháp và chính sách của Hoa-kỳ)

V. Chúng ta hãy nhìn vấn đề một cách khác. Là chiến lược gia chủ chốt của chiến cuộc này, ngài phải quan tâm đến những sự việc gì xảy ra ở miền Bắc, dù chỉ là trên phươug diện tình báo.

Đ. Dĩ nhiên.

V. Ngài quan niệm thế nào về hoàn cảnh của Hồ-chí-Minh và miền Bắc Việt-nam?

Đ. Có ba nhóm chính trong đảng Cộng-sản của ông Hồ. Trước hết có Quân đội, tùy thuộc vào Trung-cộng về võ khí, tiếp liệu và huấn luyện. Sau là có những kẻ theo đường lối ôn hòa của Mạc-tư-khoa nhưng họ không quan trọng mấy. Còn có một nhóm nữa gồm những kẻ đã trở thành Cộng-sản vì những lý do quốc-gia chủ nghĩa trước và sau Điện-biên-phủ.

V. Hiển nhiên đó là nhóm mà ngài quan tâm đến nhiều nhất.

Đ. Tự nhiên.

V. Ngài có thành công trong việc xâm nhập hàng ngũ họ chưa ? Ngài có liên lạc gì với họ trên phương diện tình báo hay trên phương diện nào khác không?

Đ. Có. Nhưng không phải là tôi đã bắt liên lạc với họ trước.

V. Chúng ta hãy giả thiết rằng người Mỹ không cho ngài những gì ngài muốn, rằng họ vẫn tiếp tục những trừng phạt của họ và công khai chống đối các chính sách của ngài. Vậy thì sạo?

Đ. Khi ấy thì tôi phải có bất cứ biện pháp nào cần thiết để chấm dứt cơn hấp hối lâu dài của nước tôi.

V. Những biện pháp ấy có gồm việc, thương lượng với Hồ-chí-Minh không?

Đ. Chính trị là nghệ thuật của điều khả dĩ. Tôi phải cứu xét tất cả các điều khả dĩ làm được – và đó là điều mà hiện nay tôi đang làm.

BÌNH LUẬN.

 Nói đến đây Tổng-thống Cung đột nhiên bỏ rơi đề tài và làm một bài thuyết minh dài dòng nữa về nhân-vị chủ-nghĩa, về những lỗi lầm và âm mưu của người Mỹ. Tôi đã tìm cách hỏi thêm một câu nữa trước khi cáo từ.

V. Ngài nghĩ thế nào về ông Maxwell Amberley?

Đ. Trong việc ông ấy đang làm không có một mảy may đạo đức nào cả. Với người đi trước ông ấy thì ít ra cũng có được một quan điểm đạo đức. Trong cái con người này, không có một chút đạo đức nào và không có một mảy may nào là tư tưởng tôn giáo cả.

TỔNG KẾT.

Cảm tưởng sau chót của tôi về cuộc phỏng vấn là Cung đã muốn dùng tôi để truyền bá đi cái cảm nghĩ chống Mỹ mãnh liệt của ông. Ta cũng thấy rõ rằng vấn đề có thể có những liên lạc với miền Bắc không phải là sự hăm dọa quá bưng bít về điều gì có thể xẩy ra nếu chế độ không được thỏa mãn theo ý nghĩa là sự trung lập hóa miền Nam Việt-nam bằng một sự thựơng lượng đổi chác với miền Bắc: « Chúng tôi sẽ làm người Mỹ rút khỏi nếu quý ông chấm dứt chiến tranh». Tôi không biết làm cách nào để suy đoán được rằng không hiểu thật sự Cung có tin rằng có thể thương thuyết như vày được không hay là ông có thể sống thoát được cuộc thương thuyết ấy, nếu có …

Tôi kêu Harry Yaffa đến văn phòng tôi và trao cho hắn bản văn đánh máy. Hắn đọc trong im lặng rồi đặt bản văn xuống bàn giấy của tôi trong một cử chỉ có tính cách dứt khoát.

«Thưa ông, tôi nghĩ là chuyện đúng như vậy. Thật rõ như ban ngày và phù hợp với các tin tức khác của chúng tôi. Thế là tướng lãnh thì làm loạn. Quân đội thì rất có thể sẽ nổi loạn và Cung thì ra mặt đe dọa chơi ván bài riêng của ông với phe tả … Tôi thấy chúng ta cần phải hành động – và hành động mau lẹ

nữa. »

« Tôi đồng ý là chúng ta có thể phải hành động, nhưng Hoa-thịnh-đốn mới quyết định được việc này.»

« Ông có gửi báo cáo về không? »

« Trong vòng hai ngày nữa. Nhưng trước hết có hai việc tôi phải làm. »

« Việc gì vậy, thưa ông? »

« Trước hết tôi muốn bản văn này được thông đạt cho tất cả các ban trong tòa Đại-sứ và cho Đại tướng Tolliver với Bộ Tham-mưu của ông. Sau đó tôi muốn triệu tập một buổi hội thảo đúng nghi thức ở đây vào chiều tối mai. Trong khi đó, tôi sẽ đến yết kiến Cung và đối diện với bản tin tức này. »

«Làm như vậy có khôn khéo không? »

«Cần phải làm vậy. »

Hắn nhún vai tỏ vẻ hoài nghi và nhắc nhở tôi một cách chua cay:

«Thưa ông, trong trường hợp đó, chúng ta tốt hơn nên bảo vệ cho kẻ đã đưa tin. Chúng ta nên đem hắn thoát lẹ ra ngoài nước. »

«Anh Yaffa, anb sẽ lo việc đó. »

«Tôi cũng sẽ báo động cho các tướng lãnh biết nữa, trong trường hợp Cung quyết định làm một cuộc thanh trừng đột ngột. Đó là vấn đề sinh tử của họ ».

«Tôi biết. Anh thấy gì cần thiết thì cứ làm. »

Khi hắn đã đi khỏi, tôi đứng suy ngẫm về những lời khắc trên đĩa ngọc và thấy ánh sáng mờ dần mau lẹ thành tối đen.

Đêm hôm đó tôi làm việc khuya và sau đó ngủ không được. Tôi nắm mơ thấy tôi trần truồng và cô độc ngồi trên một khcảng đất trông bằng phẳng như mặt bàn bi-da. Có ánh sáng chiếu nhưng tôi không thể thấy ánh sáng ở đâu lại. Sau vùng ánh sáng, ở phía xa đen tối là những hình chữ nhật lớn, trông như những tấm phông sâu khấu. Tôi đang ngắm nhìn thì nghe thấy tiếng nhạc gẩy nhẹ như tiếng đàn sa-mi-sen. Trong khi nhạc đang chơi thì các hình chữ nhật bắt đầu nhẩy múa ngả nghiêng, quay lông lốc, khi ở góc bên này, khi ở góc bên kia. Tiếng nhạc nghe lớn dần. Các hình nhẩy múa lại gần hơn cho đến một lúc tột độ không chịu nỗi thì bao vây lấy tôi và đóng chặt lấy nhau thành một cái buồng nhốt tôi trong đó, một cái buồng không có mái che nên tôi vẫn còn trông thấy ánh sáng ở trên đầu. Giờ đây thì im  lặng – im lặng và có ánh sáng chiếu và tôi thì ngồi xếp chân bằng tròn nơi sàn nhà ngước nhìn lên ánh sáng. Rồi từng li từng li một, các bức tường bắt đầu di chuyển về phía tôi. Thoạt đầu tôi tưởng đó là một ảo giác của sự bất động và căng thẳng khi ngắm lâu một vật gì. Tôi nhìn bức tường ở phía trước mặt tôi thì thấy nó có vẻ bất động. Tôi quay lại nhìn phía sau thì bức sau lưng tòi tiến lại gần hơn. Trong khi tôi còn đang ngắm nhìn thì các bức tường ở bên phải và bên trái tiến lại phía tôi. Tôi nhìn lên phía trên. Ánh sáng đã nhỏ lại. Tôi bỗng kinh sợ và ngồi yên cứng nhắc, mắt dán về vùng ánh sáng thu hẹp lại dần. Các bức tường tiến lại gần hơn, ảnh sáng giảm dần đi từng phần một cho đến khi tôi cảm thấy sức đè ép đầu tiên ở sau lưng, khuỷu tay và đầu gối. Áp lực tăng lên mạnh hơn và tôi có thể cảm thấy thịt và bắp thịt bị trầy sát. Ánh sáng mỗi lúc một nhỏ dần, rồi đột nhiên tôi la lên vì khủng khiếp và tỉnh dậy, người nóng bỏng như rang và ướt đẫm mồ hôi trong căn phòng tràn ngập ánh trăng. Tôi nhìn đồng hồ tay, lúc đó là bốn giờ sáng. Sự khủng khiếp của cơn ác mộng vẫn đeo dính lấy tôi và tôi lấy quần áo sạch thay rồi ngồi làm việc trong thư phòng riêng cho đến giờ ăn điểm tâm.

Tôi chẳng cần ông thầy nào để giải đoán giấc mơ cả. Tôi biết rõ giấc mơ đó có ý nghĩa gì. Chính tôi đây sắp sửa bị xử án, tôi, vừa là quan tòa, vừa là bồi thẩm, vừa là trạng sư bào chữa. Chẳng còn bao lâu nữa, chứng cớ sẽ được trưng ra, rồi bàn cãi và tòa sẽ tuyên án Maxwell Amberley, sứ thần ngoại hạng. Trút bỏ bộ y phục của chức vị, hắn sẽ đứng trước tòa để nghe sự phán quyết vô tư và sau sự phán quyết sẽ là án quyết – chung thân bị giam cầm trong nỗi cô đơn của bản ngã bí ẩn … Dĩ nhiên đó là chuyện vô lý; sự vô lý sẽ bị đánh tan bởi ánh nắng đầu tiên và tách cà-phê đầu tiên. Maxwell Gordon Amberley đâu có bị xét xử. Hắn là con người ngồi ở địa vị quyền thế, với quyền sinh sát và trị vì. Dĩ nhiên hắn sẽ công minh và bao dung nữa; nhưng hắn là người được ủy thác để quyết định, hắn không thể lui bước trước sự sợ hãi hay ngã theo một đặc ân nào. Hắn sẽ rộng lượng nhưng thận trọng. Hắn sẽ cảnh cáo, nhưng không phải là không có ác ý. Nhiều công việc đại sự đã được giao phó cho hắn và hắn sẽ xử sự một cách kẻ cả, một trọng tài của tất cả những ngày đã qua và một kiến trúc sư của những ngày mai vinh quang. Amen! .,. Và xin cô thêm một tách cà-phê nữa, cô Anne. Ngày hôm nay nhiều công việc lắm đấy!

Cuộc gặp gỡ với Cung được ấn định vào mười một giờ sáng. Lúc chín giờ rưỡi, người đấm bóp tới và tôi nằm một tiếng đồng hồ dưới đôi bàn tày êm dịu và khỏe mạnh của hắn trong khi  gân cốt tôi rãn hết sự căng thẳng và tôi sắp xếp lại các ý tưởng cho có trật tự cho cuộc hội đàm lần chót này. Đây là cuộc hội đàm lần chót; tôi biết như vậy, cả hai chúng tôi đều không còn thì giờ nữa. Bánh xe đã quay, người hồ lỳ nói như vẹt lần chót: «Cất tay mở này! ». Hòn bi nhỏ nẩy từ đỏ sang đen và từ đen sang đỏ và cả hai chúng tôi đều ăn thua với chủ sòng và ăn thua với nhau.

Có một điều tôi đã định tâm. Tội sẽ tuyệt đối thành thật. Tôi sẽ không dùng cái thứ ngôn ngữ dè dặt của ngoại giao nữa. Tôi sẽ nói ra hết sự thật mà tôi được biết. Tôi sẽ cộng nhận những lỗi lầm. Khi nào cần phải thú nhận, tôi sẽ thú nhận là tôi ngu dốt và bất lực. Và đến lúc phải hành động tôi cũng sẽ không trốn tránh trách nhiệm … Thương thay cho sự lương thiện thanh khiết của tôi. Chỉ có mỗi một điều là tôi không thể thú nhận được. Tiền của tôi đặt trên chiếu bạc, nhưng tôi cũng là chủ sòng nữa và sòng bạc thì phải thắng, nếu không vơ sạch cả làng thì cũug phần nào. Nhưng thưa tất cả quý ông chơi bạc, các ông còn chơi được sòng nào nữa? Các người đã đá đít người Pháp đi. Người Nhật thì lỗ sở hụi, mà các ông lại không thích chơi phán-thán của người Tầu. Vậy tôi là sòng bạc duy nhất còn lại!… Da tôi bóng nhẫy, bắp thịt tôi cử động dễ dàng. Tâm trí tôi tỉnh táo và tôi đã quên mất cơn ác mộng. Và trong sự trống rỗng tinh thần can đảm ấy, tôi lên đường tới Dinh Tồng-thống.

Cung tiếp tôi với nước trà tầu và sự lịch thiệp lạnh nhạt. Lần này ông không nói giáo đầu nữa, nhưng thách thức tôi một cách không úp mở:

«Ông có chuyện gì nói với tôi, ông Đại-sứ? Tôi sẵn sàng nghe ông ».

Lời nhập đề của tôi được chuẩn bị kỹ lưỡng và tôi cứ thế đọc ra một cách hết sức tự nhiên.

«Thưa Tổng-thống, cuộc hội đàm lần trước đã chấm dứt ở một ngõ bí. Giờ đây, ngài cũng như tôi, đều gặp phải sự khủng hoảng. Tôi muốn chấm dứt sự khủng hoảng nếu có thể làm được; phải đi bao xa để đạt tới, tôi sẽ đi. Tuần trước đây tôi có đi viếng thăm các vùng chiến trận. Tôi thấy tận mắt biết bao nhiêu thứ ngài đã thực hiện cho đất nước này. Tôi công nhận thành quả của ngài một cách tự ý. Tôi rất kính phục cái thành quả ấy và tôi cũng kính phục ngài nữa, mặc dầu giữa chúng ta không có sự hòa hợp. Tôi kính trọng sự quyết tâm và sự thanh liêm của cá nhân ngài. Tôi sẽ thú nhận những lỗi lầm trong chính sách của chúng tôi; tôi thú nhận sự thiển cận của tôi trong nhiều điểm. Mặt khác, tôi cũng mong ngài chấp nhận những sự khó hhăn và những vấn đề rắc rối của cái vị trí khó hiểu của chúng tôi trong xứ này là chúng tôi có thể làm cố vấn, nhưng không được phép chiến đấu, chúng tôi phải chi tiền bạc nhưng không được kiểm soát, chúng tôi không có quyền hành trong Chính phủ của ngài vậy mà vẫn phải cùng hứng chịu sự chê bai về những lỗi lầm của Chính phủ ngài. Thưa Tổng-thống, tôi hy vọng là tôi đã trình bầy rõ? »

«Rất là rõ ràng, ông Đại-sứ, xin ông cứ tiếp tục. »

«Nhưng thú nhận tất cả những điều đó cũng không thay đi gì được hoàn cảnh hiện nay của tôi hay của ngài. Thưa Tổng-thống, tôi xin phép trình bầy sự thật của sự việc. Các tướng lãnh cao cấp của ngài đang nổi loạn và âm mưu lật đồ ngài. Quân đội của ngài – ít nhất thì một phần của quân đội-đã đến độ làm loạn. Các viên chức hành chánh của ngài đã sẵn sàng bỏ trốn. Phật-giáo thì thù nghịch đối với ngài, còn người Ki-tô giáo thì bị chia xẻ giữa lòng trung thành của họ đối với Tòa-thánh và những kỳ vọng họ đặt nơi ngài như một anh hùng giải phóng dân tộc. Ngài đã thất bại, không lôi kéo được đám thường dân về với mục đích của ngài hay cá nhân ngài. Ngài đã chửi rủa và làm chúng tôi đang là bạn của ngài trở thành thù nghịch – vậy mà ngài không chịu nhượng bộ, hay không có được cử chỉ nào để đi tới sự hòa giải. Hơn thế nữa, ngài biết rằng mình bị cô lập nên ngài đe dọa – một lời đe dọa được lập đi lập lại, thưa Tổng-thống – rằng ngài sẽ dấn thân vào một cuộc phiêu lưu nguy hiểm khác: ký một hiệp ước với Hồ-chi-Minh, mà ngài hy vọng rằng sẽ đem lại cho ngài được sự an ninh ngài vẫn chưa thể đạt tới bằng vũ khí, ngoại giao hay lòng trung thành đơn thuần! Tôi đến đây hôm nay để trình ngài hay rằng chúng ta đã gần đến đoạn cuối của con đường vẫn đi chung với nhau. Nhưng vẫn còn đủ thì giờ để quay trở lại và đi vào con đường khác. Nhưng nếu ngài không chịu quay bước, thì ngài sẽ đi một mình – và sự đảm bảo cho sự sống còn của ngài rất mỏng manh. »

Phải nhìn nhận rằng ông rất thản nhiên khi nghe tôi nói vậy. Ông ngồi một lúc lâu, im lặng, mắt hùm hụp nhìn xuống đôi mu bàn tay được giữ gìn sửa sang của ông. Khi ông cất tiếng nói thì đó là giọng khô khan của một giảng viên tin tưởng ở sự dẫn dụ của luận lỷ thuần túy.

«Thưa ông Đại – sứ, tôi xin cám ơn sự thẳng thắn của những lời nói nhập đề của ông, và tôi tin tưởng rằng những lời khen tặng và ý định của ông là thành khẩn. Bởi vậy tôi sẽ ráng thẳng thắn đối với ông. Ông nói với tôi là có nổi loạn, âm mưu và bất mãn. Tôi biệt là có. Tôi biết những người nhúng tay vào những việc đó rõ hơn là ông. Nhưng xin ông hãy nhìn lại, ai nắm quyền ở đây? Chính là tôi, không phải là dễ dàng, tôi công nhận, không phải là không có lo âu. Nhưng tôi đang nắm quyền và ở trong các vùng chiến trận, lệnh của ai điều khiển đường lối của chiến cuộc? Lệnh của tôi, chắc ông sẽ phải công nhận điều đó. »

«Tôi xin công nhận, nhưng có những … »

Ông dơ một bàn tay lên để chặn tôi lại.

«Khoan, xin để tôi nói hết! Ông bảo tôi rằng ông tin chắc ở sự lương thiện và sự quyết tâm của tôi. Liệu ông có thể nói được như vậy về tướng Đạo hay tướng Khiết hay ông bạn Thọ của tôi ở vùng ngoài kia không? Ông biết gì về những người ấy ngoại trừ những điều chính họ đã nói ra với ông hay những điều ông đã nghe thấy người khác nói về họ? Họ là những quân nhân tốt. Vâng! Nhưng còn là kinh tế gia? Điều khiển hành-chánh công? Chuyên viên tài chính? Nhà giáo dục? Tôi đã sống với những người đó, đã cùng với bọn họ âm mưu chống Pháp và Nhật. Tôi biết rõ họ thế nào! Tôi xin nói để ông hay là tướng Giáp ở ngoài Bắc bằng gấp nắm chục người như họ – và liệu ông có thể xây dựng được một chính quyền với những người như họ không? Liệu ông có để cho Đại-tướng Tollive làm công việc của ông không, hay bầu ông ta làm Tổng-thống Hoa-kỳ? Ông hãy xem chương mục ngân hàng của họ và của tôi! Tôi nghèo hơn họ nhiều, xin ông tin tôi! Ông sẽ không thấy có đồng đô-la nào của ông dính vào tay tôi cả. Nhưng còn họ thì quá nhiều. Vậy ông muốn gì, ông Đại-sứ? Ông muốn gì? »

« Một sự hòa giải các mâu thuẫn, giữa ngài và Phật-giáo, giữa ngài và các tướng lãnh. Tôi xin vui lòng đứng ra làm trung gian hòa giải nếu ngài muốn ».

« Ông Đại-sứ, xin ông biết cho rằng đó là đường lối Tây-phương, không phải đường lối của chúng tôi. Họ sẽ khoái được ông đứng ra hòa giải. Họ sẽ ôn hòa và biết điều, nhưng trong khi đó họ sẽ nói. Cung thua rồi. Hắn đã phải kêu gọi tới người Mỹ. Vậy thì hôm nay bọn mình xin ngón tay cái của hắn và ngày mai sẽ lấy luôn cánh tay hắn. »

«Dù rằng như vậy vẫn còn hơn là làm loạn và phiến loạn ».

« Không. »

« Tại sao không? »

« Bởi vì mỗi sự nhượng bộ lại làm nảy ra một mối đe dọa khác và sau đó lại một mối đe dọa khác. Thà cứ thử sức một lần còn hợn là làm phí sức lần lần. »

« Có thể ngài sẽ không tồn tại được ».

« Thưa ông Đại-sứ, nếu tôi đi xuống thì Hoa-kỳ sẽ ra đi khỏi miền Nam Việt-nam. Có lẽ không đi ngay nhưng sớm muộn gì cũng sẽ đi khỏi. Vâng, quý ông là những người kỳ cục, ông ăn thịt bạn bè như ăn nho và nhỗ vỏ ra vì nó quá rát lưỡi! »

« Thưa Tổng-thống, vậy thì xin ngài cho tôi biết ngài muốn làm gì? »

« Thật là giản dị. tôi muốn chiến đấu. Tôimuốn chấm dứt chiến tranh và xây dựng hòa bình cho dân tộc tôi ».

« Chúng tôi đến đây là để giúp ngài thực hiện điều đó. »

« Đó là điều quý ông tưởng. Thật ra thì quý ông đưa cho chúng tôi khẩu súng rồi sau đó hủy diệt ý chí chiến đấu của chúng tôi đi. Quý ông đầu độc dân chúng bằng những ý tưởng Tây-phương về cá nhân chủ nghĩa và tự do mà chúng tôi chưa sẵn sàng để đón nhận. »

«Vậy tôi xin lập lại câu hỏi. Ngài muốn gì? »

«Cho tôi súng ống, tiền bạc, phương tiện chuyên chở, máy bay và tôi sẽ chấm dứt chiến tranh rất mau lẹ. Nhưng ông và các người Mỹ phải ra đi!»

«Chúng tôi không thể ra đi được. Ngài biết rõ điều đó, chúng tôi đã dấn thân vào quá sâu. »

«Vậy ra trong thâm tâm, các ông cũng giống như bọn Pháp, muốn chứng tỏ mình là bạn thì cần phải duy trì một chỗ đứng trong phòng khách. Như vậy có khác chi chủ nghĩa thực dân lỗi thời? »

«Thưa Tổng-thống, còn một việc khác nữa. Tôi đã thấy súng ống mà chúng tôi viện trợ cho ngài quay lại bắn chính dân của ngài. Liệu chúng tôi có thể nhắm mắt làm ngơ điều đó được không? »

«Nhưng các ông sẽ nhắm mắt làm ngơ khi bọn tướng lãnh đến hạ sát tôi cũng bằng những súng Mỹ ấy, có đúng không ? Hay là ông Harry Yaffa sẽ đến để bóp cò? »

«Thưa Tổng-thống, đây chỉ là một cuộc cải lý vô ích vì không đếm xỉa đến các sự kiện có thật. Không nhượng bộ thì ngài không thể đứng vững được. Thế mà ngài lại không chịu nhường nhịn, không chịu thương lượng, không chịu chấp nhận có người đứng ra hòa giải. Ngài muốn có súng ống và tiền bạc của chúng tôi và Ngài lại không muốn có chúng tôi … Thế là ngài đã đóng tất cả các cửa ngõ lại-trừ ra một. »

«Cửa nào vậy? »

«Ngài có thể thoái vị hoặc chấp nhận một Ủy ban Chính phủ mà ngài làm Chủ tịch »

«Thoái vị! »

 Ông có vẻ ngạc nhiên thực sự.

«Liệu ông có yêu cầu Tổng-thống của quý ông thoái vị bởi vì đảng Cộng hòa bất đồng ý kiến với chính sách của Tổng thống không? »

«Nói thật ra thì chúng tôi có làm việc đó – bốn năm một lần. »

«Tôi sẽ không làm điều đó! Khòng bao giờ! Tôi sẽ không thoái vị như Bảo Đại và để cho xứ này bị tiêu diệt!»

«Vậy thì tất cả các cửa đều bị đóng, trừ ra cái cửa mà ngài đang định mở ra một cách bí mật – cái cửa ăn thông với miền Bắc. »

«Việc đó có làm ông kinh ngạc không, ông Đại-sứ? »

«Tôi lấy làm vô cùng kinh ngạc. Tôi thấy đó là một sự điên rồ quái gở! »

«Sao lại là điên rồ? » Nụ cười của ông khá đễ dàng và có vẻ thương hại cho tôi.

«Tôi đã đứng vững được với người Mỹ. Tôi sẽ đứng vững được với các tên tướng lãnh thối nát của tôi.

Tại sao tôi lại không thể đứng vững được với một sự liên-minh với Hồ-chí-minh? Ít nhất thì chúng tõi cũng cùng một ngôn ngữ với nhau. »

« Trời ơi, đó là điều ngài mong muốn sao? »

« Không phải thế. Đó là điều mà ông có thể cưỡng bách tôi chấp nhận. »

Tôi đấu khẩu với ông trong suốt một tiếng đồng hồ nữa nhưng tôi không thể lay chuyển ông được. Ông không chịu cho đi một cái gì, thay đổi điều gì, thương lượng việc gì cả. Sau hết ông hỏi tôi:

« Giờ đây ông tính sẽ làm gì, ông Đại-sứ? »

«Tôi sẽ phúc trình về Hoa-thịnh-đốn và đợi chỉ thị. »

Ông nhún vai bước đến gần tủ sách và lấy ngón tay lượt tìm khắp các tên sách cho đến khi tìm thấy cuốn ông tìm. Ông lật rở qua cuốn sách đoạn mỉm cười quay lại với tôi.

« Ông Đại-sứ, ông là người yêu những gì về Nhật-bản. Tôi có câu chuyện này có thể làm ông thích: Có ba người Nhật danh tiếng phải đương đầu với một con chim cu bướng bỉnh.

Nobunaga nói. « Tôi sẽ giết con chim cu nếu nó không chịu gáy».

Hideyoshi. «Tôi sẽ mời nó gáy. »

Iyeyasu nói: «Tôi sẽ đợi cho nó gáy. »

… Và đây là câu đố, thưa ông Đại-sứ. Trong ba người, ai có lý?…

Và ông là người nào? »


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment