This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bài viết coi như kể chuyện, chân thật, chỉ có bớt mà không thêm. Có thể thời gian đã quên đi nhiều. Nói về huyền thoại của Lôi Hổ trong hiểu biết của một người Lính “trơn”. Sẽ mất lòng “ai đó”. Nhưng sự thật phải công nhận thôi. Có tức, có ứa Gan, thì ráng chịu. Làm gì được nhau. Đáng lý ra thì không viết. Nhưng mấy thằng bạn học, chưa đi Lính bao giờ. Chúng nó học giỏi, nhiều chữ. Đứa thì muốn làm Thuyền Trưởng, đứa thì làm Bác Sĩ, đứa thì là Kỹ Sư, đứa thì làm Tổng Giám Đốc công ty này, công ty nọ. Nay thấy tôi “cọp đã rụng hết răng” nên xem thường. Gọi tôi là bị Cọp nó Lôi. Buồn lắm… Nhưng thực tế là vậy. Già rồi, có muốn chửi, nhưng cũng không có sức.
Lôi Hổ có cái tên lâu năm từ những năm tháng ở Huế, ở Đà Nẵng. Dân ngoài đó gọi những người lính không số quân. Họ không phải là Lính của VNCH. Họ là những người Lính do Mỹ tuyển mộ, thuê mướn. Người Mỹ chỉ huy, huấn luyện, trả lương. Từ Biệt Kích canh gác doanh trại, cho đến những Biệt kích nhẩy vào rừng. Nhưng vì, đất là đất của VNCH. Cho nên, các căn cứ này đều có những Sĩ Quan, binh sĩ của VNCH hợp tác. Cái chính là giấy phép. Vì Mỹ cấp giấy phép đâu có được. Ra đường vẫn có thể bị bắt và đưa đi Quân Dịch. Toán Trưởng Mỹ đưa danh sách người cần đi phép. Phía VNCH ký cho hợp thức hóa. Còn nhiều nguyên nhân khác. Nhưng chỉ nói một khía cạnh của vấn đề.
Những Biệt Kích này lương được Mỹ trả lương cao, thậm chí còn cao hơn Sĩ Quan VNCH. Lại không có “quân phong, quân kỷ”. Nên không mấy được phía mấy vi VNCH có cảm tình. Thí dụ : Biệt kích không được quyền đội Nón Đỏ, chỉ được đội nón Bo Vành. Các Sĩ Quan khi có gì không bằng lòng, không thể phạt hay lấy uy. Giận quá, gọi đó là những “thằng Biệt Kích” cho xong chuyện. Mãi cho đến năm 1972. Mỹ về nước. Biệt Kích giải tán. Những Biệt Kích không số quân được đưa đi làm thủ tục giấy tờ là Lính VNCH, có số quân. Cấp bậc hầu hết là Binh Nhì. Cũng chẳng cần phải 3 tháng quân trường. Nên chào kính cũng “trớt qướt”. Nên ngay cả sau này, chuyện “chào kính”. Các vị Sĩ Quan, không thèm “chấp” với những người Lính có gốc từ Biệt Kích chuyển qua.
Có một lần, tôi về BCH/ Sở Liên Lạc. Tôi đi ngược chiều với Thiếu Tá Riềng/ Trưởng Phòng 1. Ông gốc Dù, tính kỷ luật cao độ. Tôi tỉnh bơ đi ngang không chào. Ông quay người lại.
– Anh kia, sao gặp tôi không chào, cấp bậc gì, tên gì?
– Dạ, Biệt Kích Thiếu Tá.
Ông quay lưng bỏ đi mà không nói thêm câu nào. Nói chung, Nha Kỹ Thuật không tuyển Lính mà 100% đều lấy từ quân trường Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan. Lính thì chỉ con sót nhờ thời Biệt Kích chuyển qua. Tôi cố giải thích như thế là chữ Biệt Kích từ đầu đến cuối, ở trong đơn vị để ám chỉ NKTnhững người Lính có cấp bậc thấp nhất, ít chữ nhất, vô kỷ luật nhiều nhất. Cũng có một số Lính chuyển về NKT từ Lực Lượng Đặc Biệt, con số này không nhiều.
Đến thời của tôi. Học hỏi từ những đàn anh Biệt kích như Nguyễn Văn Châu (Châu Lác) Nguyễn Văn Nhỏ, Võ Văn Thành Long, Ngô Quý Hồng, Nguyễn Mạnh Cường. v.v…Chúng tôi thương mến nhau, giúp đỡ nhau. Vì Biệt Kích mỗi ngày một hiếm đi. Ai đào ngũ thì không biết. Chứ đám Biệt Kích chúng tôi không đào ngũ. Có nhiều nguyên nhân. Không phải là vì Biệt Kích là anh hùng. Biệt Kích được các quân binh chủng khác nể trọng. Mà là vì:
1/ Tháng nào, chúng tôi có ít nhất 2 lần về phép Sài Gòn. Cứ sau 1 lần xâm nhập 6 ngày 5 đêm là có 3 ngày phép. Một tháng chúng tôi có 2 lần đi hành quân. Giống như vừa nói chuyện với Toán Trưởng Phong Tay Sáng hôm tuần trước. Riết rồi đi phép về Sài Gòn mà không có tiền xe. Trong khi các Quân, Binh Chủng khác. Cả năm không thể có phép về thăm nhà, vì nhu cầu chiến trường.
2/ Đi hành quân xong. Về căn cứ xuất phát. Lúc nào cũng sạch sẽ. Ngủ giường nệm, quần áo ủi hồ, chẳng phải canh gác làm gì cả. Cứ như đang ở nhà.
3/ Rất khó chết. Dù rằng mục tiêu lúc nào cũng nguy hiểm. Chỉ vài người chui rúc trong mật khu địch, có hàng trăm, hàng ngàn bộ đội. Nhưng vì nhiệm vụ là lấy tin tức, chụp hình, nặng quá thì bắt tù binh. Chứ không phải là dân đánh nhau. Xui lắm, tao ngộ chiến. Chạy nhanh, chạy giỏi thì vẫn giữ được mạng. Có người đàn anh tên là Mỹ Mù nói chuyện với các quân binh khác rằng “Nếu nói đến đánh nhau, chúng tôi đánh còn thua mấy anh Địa Phương Quân”. Đúng thật như thế . Lôi Hổ “Tam thập lục kế. Vi Tẩu là thượng sách.”
Đó là nguyên nhân tôi mê Lôi Hổ.
Qua Mỹ, Mấy ông Nha Kỹ Thuật “nổ không cần hà tiện”. Nổ không cần biết các Quân Binh Chủng có buồn hay không. Nổ nước miếng bị gió thổi ngược bắn ngược trở lại miệng mình. Tưởng giảm tốc độ. Nhưng không… Nổ còn bạo hơn nữa. Mới tuần Đại Hội NKT, có anh khác binh chủng hỏi anh Chung Tử Ngọc “Ngày xưa, mấy anh trước khi đi hành quân đều lãnh tiền tử hết hả”. Chung Tử Ngọc phải đính chính là “làm gì có chuyện đó.” Không nổ thì sao có câu hỏi vậy. Hay “tụi tôi là bay ra Hạm Đội 7 thế này, thế nọ.”. Mấy Ba ơi, ra Hạm Đội 7 làm gì. Bộ ngắm Cá heo hả. Mắc cỡ quá chừng chừng. Tui độn thổ cũng không kịp khi mấy Ba nổ còn hơn pháo 130 ly.
Còn cái đám Biệt Kích ngày xưa bị khó dễ, bị xem thường. Không biết tại sao. Bây giờ mấy quan lại lấy, lại tự xưng là Biệt Kích Trung Úy Nguyễn văn D….Sao kỳ dzậy. Cái từ Biệt Kích là của những thằng Lính thiếu quân phong, quân kỷ, của những thằng không số quân mới được xài. Sao bây giờ lại… mượn vậy. Hãy trả lại cho chúng tôi 2 chữ này. Biệt Kích là chữ những thằng không số quân, không cấp bậc. Mong lắm thay.
Trần Thị Nguyệt Mai sinh năm 1954 tại Sài Gòn. Trung học Huỳnh Khương Ninh & Lê Văn Duyệt. Sinh viên Đại Học Luật Khoa Sài Gòn.
Thuyền nhân tháng 3-1987. Định cư tại Hoa Kỳ. Tốt nghiệp BA magna cum laude 1995 University of Toledo. Hiện cư ngụ và làm việc tại tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ. Cộng tác với tạp chí Thư Quán Bản Thảo của nhà văn Trần Hoài Thư từ 2011. Chủ trương trang blog Trần Thị Nguyệt Mai.
Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn và Thông Điệp Mùa Xuân
Tối hôm qua tôi mới đọc xong những bài viết của Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn, cùng những chia sẻ tâm tình từ những bạn đồng môn của ông. Như một độc giả thuộc thế hệ sau hoàn toàn không biết gì về ông, tôi xin ghi lại ít dòng cảm tưởng về người đã khuất qua những trang viết của chính ông và của bằng hữu. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi: Bác sĩ NST là một nhà Nho của thế kỷ 20 với áo dài thâm đen vào dịp Tết Quý Mão (1963) trong khi thanh niên Sài Gòn thời ấy chỉ mặc sơ-mi và quần tây, trịnh trọng hơn thì khoác thêm chiếc “vét”. Qua những bài viết thật quý mến của những người bạn chung trường, tôi được biết ông sinh ngày 7-2-1937 (tuổi Bính Tý) tại Nam Định, Bắc Việt. Lúc nhỏ do chiến tranh không thể đến trường, ông được thân phụ dạy học ở nhà. Mãi đến năm 14 tuổi ông mới chính thức đi học. Ông đã học ở trung học Nguyễn Trãi rồi chuyển sang Chu Văn An và sau đó thi đậu vào Đại Học Y khoa. Ông rất thông minh, siêng học, và học giỏi, chỉ trong vòng 14 năm ông đã học xong toàn bộ chương trình để trở thành Bác sĩ Y khoa. Trong những năm ấy, cứ hai năm ông tự học một ngoại ngữ, ngoài tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, ông đã biết thêm 5 thứ tiếng: Hán, Anh, Pháp, Đức và La-tinh.
Là người có vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt lãnh đạm, đôi mắt thông minh, vầng trán gồ cao bướng bỉnh, dáng đi rất thẳng, mái tóc xõa xuống trông thật cô liêu. Sống sơ sài giản dị. Giọng nói trầm tĩnh, nhưng rất ít nói. Đó là một người sống có lý tưởng, kỷ luật, nhiều tài năng, sống hết mình và làm việc hết mình. Ngoài giờ học, ông ham mê văn chương, đọc sách và âm nhạc. Trong gia đình, Bác sĩ là người con chí hiếu qua việc chọn lựa ngành học ông đã làm theo ý nguyện của mẹ. Ngoài xã hội, nếu không thân cận thì dễ nghĩ đây là một người lãnh đạm, khó gần. Nhưng khi đã hiểu ông thì sẽ thấy mến phục một mẫu người quân tử Đông Phương. Đặc biệt, ông cư xử một cách thẳng thắn, không thiên vị và không phê bình một người vắng mặt nào cho tôi hình ảnh của một vị Thánh. Bác sĩ luôn bao dung, rộng rãi với những quân nhân thuộc cấp. Dù gia cảnh không khá giả nhưng Bác sĩ đã dùng phần lớn tiền lương của mình để giúp đỡ cho những anh em này. Ngay đến vật dụng “thân thiết” như chiếc máy ảnh, ông cũng tặng lại cho người đàn em đã ra đi. Bởi thế, khi Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn hy sinh mọi người cảm thấy hụt hẫng và rất thương tiếc, điển hình như câu chuyện một binh sĩ Dù, chỉ mới biết Bác sĩ trong hơn mười tháng trời, đã đến mộ ông khóc lóc thảm thiết như mất một người thân ruột thịt, được Dược sĩ Vũ Văn Tùng ghi lại.
Là bác sĩ nhưng chữ viết của ông rất đẹp. Ông giỏi văn chương, hội họa lẫn âm nhạc. Ông được học vĩ cầm từ nhỏ và có lần được trình diễn cùng các bạn tại trường Quốc gia Âm nhạc, Sài Gòn. Thích nghe nhạc giao hưởng của Beethoven, Von Karajan conductor. Bác sĩ đọc rất nhiều sách: sách tiếng Việt, sách Hán, sách tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, và đã được các bạn ông nhắc đến khi nói về tủ sách ở nhà ông.
Cùng với Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức, Tổng thư ký: Trần Xuân Dũng, Quản lý: Phạm Như Bách, Nghiêm Sỹ Tuấn giữ chức vụ Thư ký của Nguyệt San Tình Thương (TT), cơ quan tranh đấu văn hóa xã hội của sinh viên Y khoa, ngay từ số đầu tiên và đã đóng góp công sức để đưa tên tuổi của tờ báo này ra ngoài phạm vi của một trường Đại Học để được phát hành rộng rãi ở miền Nam thời ấy. Ngoài ra, ông còn đóng góp cho TT những biên khảo về y tế, giáo dục và xã hội, sáng tác thơ, truyện ngắn, truyện dịch … Truyện ngắn “Những Người Đi Tìm Mùa Xuân” là tác phẩm tâm đắc nhất của ông. Là dân y bị trưng tập, Bác sĩ có quyền lựa chọn nơi bổ nhiệm ít nguy hiểm nhưng ông đã tình nguyện vào binh chủng Nhảy Dù mà theo Bác sĩ Đặng Vũ Vương “là một thử thách ý chí cá nhân để chứng tỏ với bản thân khả năng phục vụ trong vai trò của một Quân Y sĩ bình thường trong những tình cảnh và hoàn cảnh khác thường hoặc phi thường.”
Trong bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến, Bác sĩ Nhà văn Trang Châu kể lại: “Tuấn là y sĩ Dù duy nhất bị thương hai lần, một lần ở Dakto, một lần ở Cao Lãnh … Khi Tuấn bình phục anh sẽ được theo học khóa giải phẫu một năm. Sau đó nghe nói Tuấn từ chối không theo khóa học giải phẫu vì yêu cầu của Tuấn là sau khi học xong phải cho Tuấn về lại bệnh viện Nhảy Dù Đỗ Vinh, điều mà Cục Quân Y không hứa. Thế là tập xong vật lý trị liệu, Tuấn lại “súng, xắc” trở về làm y sĩ trưởng Tiểu đoàn 6 Dù ở cấp tiểu đoàn.”
Theo Bác sĩ Trần Đức Tường, Y sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, “Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận tại 5 km phía tây Khe Sanh khoảng tháng 4 năm 1968. Anh hy sinh khi đứng dưới hố cá nhân săn sóc vết thương cho một thương binh nằm cáng trên miệng hố. Anh chết khi cuộn băng còn cầm trên tay!” Bác sĩ Trần Đức Tường kể: Lúc ở Cà Lu tôi có gặp Nghiêm Sỹ Tuấn, lúc anh sắp sửa lên trực thăng vào trận địa. Tôi có hỏi anh: “Nhiếp nó sẵn sàng thay toa rồi. Sao không về?” Tuấn nhỏ nhẹ trả lời: “… Mình sống chết với tiểu đoàn, bỏ về trong trận lớn này không đành …” Qua lời kể của Bác sĩ Trần Đức Tường, chúng ta đã thấy con người rất thật, rất tình nghĩa của ông, sống chết với anh em, không bỏ đồng đội.
Ông đã yên nghỉ đời đời khi Mùa Xuân thật sự của dân tộc vẫn còn xa tắp. Nhưng qua những bài viết và phong cách sống của Nghiêm Sỹ Tuấn, thì thông điệp dấn thân – hy sinh – quên mình của Ông vẫn còn đó. Và đó cũng chính là tấm gương sáng: Con Đường Sáng, cho các thế hệ sau tiếp bước Nghiêm Sỹ Tuấn Đi Tìm Mùa Xuân cho Dân Tộc.
Sau ba năm ở Mỹ. Người Lính Viết Văn di chuyển khoảng hai chục ngàn dặm, qua gần hai mươi tiểu bang thuộc lục địa Bắc Mỹ. Canada, xuống đến Australia; viết được vài trăm trang, in hai cuốn sách mới, sửa chữa hai cuốn cũ … Giữa giòng sống dài chuyển dịch và rối rắm kia chợt hiểu nên điều đơn giản – Tâm cảnh khởi nguồn thời ấu, thiểu, đêm trăng nơi bờ biển Thanh Bình Đà Nẵng, khi nhìn trời, hướng đường đỉnh Hải Vân hiện rõ hình sao Hiệp Sĩ uy nghi đơn độc … Đêm mùa Đông, từ phòng giam trại Thanh Cẩm trông lên rặng núi đầu nguồn sông Mã, 1987 … Và cuối năm 1995, trong chìm đắm cơn Bắc phong hun hút thổi xuống từ miền địa cực cền những cành khô, bắt gặp tại một lúc bất ngờ. chốn Rest Area nào đó trên đường đi. Hiểu ra, đi nữa cũng thế thôi, có vạn dặm đường xa cũng không ra khỏi chấm nhỏ vô hình tâm thức phiền muộn – Cái điểm nặng nặng ở ngực mà từ thưở bé đã từng canh cánh tội nghiệp chịu phải. Cho có là Tôn Ngộ Không với 72 phép thần thông cũng không nhảy ra khỏi bàn tay của Phật, huống chi chẳng có chút nhân lực tối thiểu nào. Nên thật rõ hôm nay, tại đây, nơi chốn cả vạn triệu người trên thế giới vượt chết. chấp nhận giá chết, để đến cùng- Đến Mỹ. Thì đây hẳn là nước Mỹ, sờ bằng tay, thấy bằng mắt, nếm trong miệng, nuốt xuống nhạt nhạt lạnh tanh. Nước Mỹ với một dãi xe dài hằng mười mấy dặm đổ từ phía Bắc xuống theo đường 75. 95 North, từ phía Tây qua theo 110 West, tất cả dồn đống tại Lake City, để dẫu mở máy lạnh tối đa, hẹ hạ thấp cửa kính hết cỡ, người người vẫn ngầy ngầy, ngật ngật trong cơn nóng của vùng biển ủ giông hạ chí. Cuồng phong đang chực sẫn kéo về. Trong chốc lát tất cả sẽ tan hoang … Không còn hòn đá nào trên hòn đá nào … Kinh Thánh chỉ làlời thông báo về một điều rất có thật. Lòng người giông bão thì bình yên nơi đâu ? Nước Mỹ, nơi trung tâm thần tiên địa đàng dó với Cô bé Choàng Khăn Đỏ, chú Chuột Mickey, Tướng cướp Jess James, Cậu bé Peter Pan, thuyền Nautilus, phi đạn Titan … Tất cả sẽ hợp đồng cho con người mười phút (đúng chỉ ” mười phút” không thể dài hơn, không được ngắn hơn) lên trời, xuống biển, lặn vực sâu hai thước, bay lên cung trăng với một cái ghế có buộc giây đai … Người sẽ thấy “ma, quỷ đường nhà xác, gặp mặt “công chúa ngủ trong rừng”. Thấy đủ giấc mơ niên thiếu, ước vọng thanh xuân trên chuyến xe lửa qua vùng Viễn Tây, nơi có người da đỏ cởi ngựa bên kia đồi không hề động móng. Để rồi đúng mười phút sau trở lại thực tế một đoàn người xếp hàng dài, nặng nhọc hơi thở dưới mặt trời nung nấu trên mái lôn lạnh dù đã hừng hực quạt máy độ lớn tối đa quay lông lốc. Anh không thấy một người thật sự hân hoan. lẽ tất nhiên trử trẻ con. Con nít Mỹ.
Không thể có nguồn vui khi năm giờ sáng với mười thùng rác, bốn chục két bia, cũng xấp xỉ số lượng như thế với nước ngọt; chỉ sản phẩm Coke thôi đã có ra Classic, Diet, Mountain Dew, Sprite, Seven Up … Chưa nói đến Pepsi, Dr Pepper … với những két, thùng đồng sức nặng … Tất cả công việc nầy phải làm cho kịp để đến lúc sáu giờ nhận một đống hàng mới gồm thịt, sữa, checsc … Và đổ đi một số lượng tương tự vừa nhận sáng hôm qua, trước ánh mắt lạc thần vì đói của lão Mỹ già chỉ còn dăm ba chiếc răng cáu bẩn luôn tuông lời chưởi tục. Nhưng anh phải giật lại gói bánh vì nếu ăn được, lão sẽ nằm lăn kêu cầu cứu do ” đã bị ngộ độc …“để đòi tiền tiền bồi thường!! Lòng Nhân ở Mỹ rất nhiều lần, với nhiều người là tai hoạ. Anh đứng trong ngày chưa tới để tự giải quyết những “vấn đề lớn của triết học, thần học, thi ca, chính trị, chiến tranh, những vấn nạn trì siết vận mệnh dân tộc, nhân sinh. Tất cả sẽ được thanh toán nếu anh có được giấc ngủ. Anh đã thức từ 11 giờ đêm hôm trước. Trời hôm nay đông nước đá. Đài 20 báo tin cuối cùng. Chắc như thế, sở khí tượng Mỹ không bao giờ sai, do thời tiết được đò từ vệ tinh, con người chỉ việc nhận chịu không hy vọng tránh khỏi.
Dáng người, y phục, động tác … Đúng là chỉ của lính và là người lính. Người lính thuộc bất kỳ quân đội nào. Loại người có thói quen hứng chịu sức nặng chiếc ba-lô và đôi mắt luôn nháo nhác về điều nguy biến đang chực sẵn rình chờ. Người nói lớn tiếng và ít âm sắc thanh tao dịu đàng. Nhưng là người thẳng thắng. Từ bản thân anh suy ra và luôn có cảm tình với những con người cùng anh chia lần chết chóc khổ nạn. Và đã đến đất Mỹ, anh cũng được hiểu nên điều đáng kính phục: Đưa một anh thanh niên tóc hoe vàng, mặt tàn nhang từ một campus đâu trên Boston, Mincsolta đến một vùng núi căm căm ác độc gọi là Pleiku, Kontum, đặt vào tay anh ta khẩu XM 16, đẩy lên trực thăng, nhảy xuống một nơi ở thung lũng thượng nguồn sông le Drang, bắn vào một bụi rậm với mục tiêu” ngăn chặn xâm nhập, bành trướng của vi-xi ở Nam Việt Nam” … What’s fucking VC? Thế con người thấp, nhỏ mặt áo quần nguy trang, mang vũ khi giổng anh, người lính với tiếng nói như than như khóc, anh vừa gặp ở phi trường kia là ai? Thế nào là vietnamese? Thế nào là vi-xi? Anh ta chưa trả lời xong câu hỏi thì đã hết một lần Viet Tour, đôi khi chưa xong hẳn đã phải trở về … Sứ mệnh “cao thượng một cách phi lý” nầy hằng được thực hiện ở Việt Nam một cách nghiêm chỉnh với tinh thần trách nhiệm cao độ bởi triệu người Lính Mỹ. Lẽ tất nhiên loại trừ hạng manh tâm, bẩn chật, vặt vãnh dụng những mục tiêu, lý do gọi là để thực hiện … “New Deal; Contract with Society … “, như hôm nay dang rêu rao, mà thực chất là che tội hèn của lần trốn quân dịch. Ngày cuối năm, anh gặp một trong những người này. Lần gặp gỡ có suy tính trước. Anh ngừng xe bởi trong lòng xốn thắt mối đau:
Chiều hôm qua, khi trên đường lên ca làm việc, anh đã thấy người nầy đi ở khoảng đường Dairy Ashford-Dường 90. Bây giờ, từ chỗ làm việc, trên đường về, anh lại thấy người kia ra đến High Way 6 … Không thể trật vào dâu được, Vẫn cái áo field jacket vải dủ, nón lưỡi trai lính và nhất là con chó. Con chó màu hung hung chay trước chủ từng chập … Đúng là cha nội hôm qua chứ còn ai nữa. Anh bảo đảm với chính mình trước khi ép vào bờ lề …Người lính lên xe với mùi người lâu không tắm và tiếng thở dài trút phần nặng nhọc … I’appreciate … thank …
– Anh là veteran chứ gì? Anh hỏi chuyện, kiểm chứng nhận xét mình.
– Ya, Vietvet … You know …
– Phẻi, tôi biết … Tôi thấy anh hôm qua trên đường 90 …
– … right, me. Người lính nhắm mắt: con chó thẻ lười thở hơi khói nhìn anh lạ lùng.
– Anh đi đâu?
-To … California,
– Đi bộ …
-Of coursc. I start’ from Atlanta since last, month … Anh ta đựa đôi giảy lên; vốn màu trắng đổi thành nâu đen, phần gót bị bung ra.
– Tổi hôm qua anh ngủ đâu?
– At Historical Marker area in wagon. It’s too cold to slecp.
– Đêm qua lạnh lắm, đông nước đá …
– I know, my sleeping bag’ re one real freezer,
Anh qua California làm gì?
-I’m looking for my vietnamese girlfriend. She’s very nice.
… she love me. Giọng bùi ngùi có phần hãnh diện.
-Cô ấy yêu anh, sao lại bỏ đi California …
-I lost my job … After Olympic, in Atlanta, most people lost job … she loves’ me
– Anh và cô gái ấy quen nhau lúc nào?
. In 1980, she’s boat people, she came to North Carolina alone She have many troubles. I don’t know, she didn’t say anything. but she loves me, you know. I’s once time in Vietnam. in Kontum MacV when I was young … No combat, but very hard by these times.
-Tôi biết, chiều hôm qua thấy anh đi trên đường 90, tôi biết anh là, Viet Vet … Tôi là lính nhẩy dủ, viết văn ..
– What?
– Writer … Airbom soldier.
-I appreciate you.
Dến ngã ba Briar Forest- High Way 6, lối vào nhà NguYên, anh đưa ra gói bánh và mấy đồng bạc .. ” Tôi có đồ ăn nầy để luchtime, nhưng tôi không đói, anh muốn lấy cho chó của anh không.Tôi còn ít tiền, phải giữ lại để đổ xăng, nên chỉ có thể đưa anh chừng này … Good luck.
-You too … I’ll share your food with my dog. I appreciate you,
Khi lái xe vào nhà Ngu Yên, anh có tính toán … Từ ngã ba này đến đường 10 còn khoảng hai miles, tại exit đó qua Los dài hơn 1500 miles, tính chính xảc 1541 miles tức là hơn hai nghìn sáu trăm cây số, dài hơn bờ biển Việt Nam, kể từ Cà Mâu ra Móng Cái. Biết thể mình đưa anh ta tới Đường10, bớt đi vài ba miles cho ngườita … Thân ai cũng thể, trên đường xa ... Anh vào nhà bạn nói về chuyện sách vở mà lòng không vui như những lần gặp trước. Trũng ở ngực hình như nặng hơn. Đè hẳn xuống đau đau. Chiều hôm nay cuối năm 1996.
Chiều cuối năm nặng xuống như đá tảng, vừa rồi đi qua parking trước cửa hàng sách, bình thường không hề có chỗ trống, nay nắng vàng úa lay động dật dờ những cây con trồng vội, thế chỗ loạt cây bị chết rét tuần qua. Cây trồng hầm nhân tạo chịu sao nổi với tiết trời lạnh dưới độ không … Không gì đẹp bằng bông,nhưng khi bông héo thì còn thấy tội gấp mấy lần không có bông … Anh cố nói đùa với chính mình nhưng ý nghĩ lãng đãng phiền phiến. Anh thở mạnh như thể bị rét cóng. Thật sự chỉ do chiều nắng quái căm căm hiu hắt nầy thôi … Chiều ơi nắng vàng phai mầu rồi … Chạnh nhớ quê hương bên trời xa .. Bài hát nầy của ai nhỉ? Anh đã hỏi bao nhiêu người, những kẻ sống với đàn hát, sân khẩu … Đến cả ông Dy Tr .. cũng không biết thì còn có ai hay?! Chỉ nhớ bài hát đến với anh nơi Trường Đà Lạt, hơn ba mươi năm, gần bốn mươi năm, ngày anh chưa tới hai mươi tuổi … Kinh quá ông ơi!! Anh vội mở cửa bước vào. Hai tầng lầu của Half Price Books Store góc đường Kirby- University không bóng người, sách vở hình như sát vào nhau lặng lẽ che chở, màu sắc linh động uy nghi. Luôn luôn anh có cảm giác bình an với sách, hân hoan cùng ly rượu; cho dẫu cuốn sách rẻ tiền, ly rượu thuốc bình dân cạn cặn. Nhưng chiều nay, sách không vực cứu nổi. Anh đi qua phòng nhà dưới, lên tầng trên, chỗ tạp chí, sách cũ, ba cuốn một đồng … Sách nào có chữ thì thôi. Đừng bày đặt. Anh tự răn đe mình khi có ý dừng chân nơi chỗ giá sách mới phát hành, loại bìa cứng, hai, ba mươi đồng hơn.
Chỗ sách cũ còn đìu hiu gấp bội cảnh tầng dưới, bởi dưới kia còn có loáng phản chiếu từ cửa kính, những bìa sách mới, đắt tiền, bề thế. Ở đây cũ kỷ, đôi khoảng trống tối tăm, ẩm lạnh … Cách cũ, áo vá, dù sao cũng dễ xài hơn … Anh cố gợi cho mình những ý nghĩ, phản ứng nguôi ngoai nhưng quả thật vô phương giải cứu. Chiều cuối năm chịu sao nổi ông ơi. Không có được một chỗ, một người để ngồi uống lon bia, ly rượu. Cuối cùng anh phải tự nói ra điều nầy với chính mình. Anh phải ở cùng những cuốn sách nầy cho tới 10 giờ … Giờ party ở nhà xong. Anh nhìn sách như người tình mệt mỏi, cùng đường.
Khi người thiếu nữ tính tiền trên Phiếu Mua Sách (quả sinh nhật hôm Tháng Chín), anh nhìn cô gái thoáng vui vui” … Minh không còn chỗ phải đi đến đây, chứ như chị nhỏ nầy, sắp giao thừa Tây mà còn ngồi với mấy cái đồ trời ơi nầy thì tội thật … Nhỏ cũng chẳng đẹp đẽ, sang trọng gì; chỉ được phần tuổi trẻ và vẻ trong sángcủa người sống giữa sách vở, chữ nghĩa … There’re they go … Cô gái nói nhỏ như hụt hơi, miễn cưỡng, đẩy gói sách ra trước mặt anh,
– Cô có lộn không? Anh đưa lại cái phiếu,
– What’s matter? Cô gái hơi sinh động trở lại
– Tôi mua bẩy cuốnsách, sao cô chỉ tính bốn, có ba cuốn paper back của Solzhenitsyn … Cô quên tính rồi …
– I don’t forget, I knew you, the last time you bought The Durand’s books, these three-paper back are too old, I give you … Free. Happy New Year!! Bir. Mắt cô long lanh thích thú sau lớp kính trắng. Cách vui vẻ sống dộng của người làm việc tốt. Cho là chuyện nhỏ nhoi.
Ra khỏi tiệm sách, anh nhớ lại … Sáng nay mình đưa cho người kia mấy đồng, chắc cũng khoảng ba đồng mà thôi. Chỉ bấy nhiêu.
Tất cả những binh sĩ Hoa Kỳ, những cố vấn Mỹ trong các đơn vị QLVNCH, những chuyên viên, những tổ chức bán quân sự Hoa Kỳ, tất cả đều rời khòi Việt Nam từ tháng ba năm 1973. Hoa Kỳ tôn trọng điều 5 của Hiệp Định Paris: điều nầy qui định là tất cả các lực lượng của họ phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 60 ngày. Dư luận chánh trị , Quốc Hội và những người Mỹ nhắm mắt giữ đúng luật đều chống lại mọi vi phạm quá rõ rệt Hiệp Định. Trước khi ký Hiệp Định, người Mỹ cũng đã có gian lận phần nào khi họ tăng cường thêm đạn dược và một số vũ khí tối tân cho Miền Nam Việt Nam : Ngũ Giác Đài dĩ nhiên không muốn mang tiếng xấu là đã để lại cho Miền Nam quân dụng không tốt. Bây giờ thì chỉ còn khoản 8000 công dân Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Riêng Tòa Đại sứ đã có danh sách 2300 người rồi. Bây giờ họ chỉ là người đỡ đầu thôi, với ít quyền lợi và bổn phận hơn. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, một trung tâm đầu não của người Mỹ, nằm cách Dinh Dộc Lập của Tổng Thống Thiệu chừng vài trăm thước, trông giống như một cái đồn. Trong cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân 1968 có một toán đặc công cộng sản đã đột nhập vào được một góc trong vài tiếng đồng hồ.
Từ văn phòng của ông ở lầu 2, nằm giữa ban kinh tế và ban chánh trị , Đại sứ Graham Martin cai quản rất nhiều cơ quan trực thuộc ở khắp SàiGòn và 4 tòa Lãnh sự. Ở các tỉnh thì ông cũng có nhiều tai mắt, phần lớn các ông “phó lãnh sự” đều là nhân viên của cơ quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA). Những người nầy báo cáo thẳng về văn phòng của ông Thomas Polgar, trưởng lưới CIA, nằm ở lầu 4 của Tòa Đại sứ, bên cạnh một trung tâm truyền tin tân tiến. Trực thuộc Tòa Đại sứ còn có Phòng Thông Tin Hoa Kỳ nằm ở lầu 1, ngay trên thư viện Lincoln và cơ quan Nghiên Cứu & Phát Triển nằm ở những dãy nhà gần Câu lạc bộ thể thao SàiGòn.
Tòa Đại sứ có hai cơ quan thiết yếu vừa có đông nhân viên vừa có nhiệm vụ quan trọng. Đó là Phòng Trung Ương Tình Báo CIA và Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ. Ngay tại SàiGòn không thôi, cơ quan CIA đã xử dụng 300 nhân viên tính luôn cả thơ ký và nhân viên mật mã. Nhiều người phải ra ở khách sạn DUC, ở đây thường có đông người ở quầy rượu, hồ bơi và bãi tắm nắng.
Phòng Tùy Viên đặc trách về phòng thủ (DAO: Defense Attache Office) một tổ chức duy nhất trên thế giới nầy, là một cơ quan lớn nhất, gồm có 50 quân nhân và 1200 nhân viên dân chính, dưới quyền của tướng Homer Smith, chuyên viên về tiếp vận. Có khoản 100 người là binh sĩ ở trong tình trạng giải ngũ tạm thời làm việc như nhân công khế ước. Tướng Smith là một tùy viên quân sự đặc biệt trực thuộc thẳng với Đại sứ. Nhưng là một cấp tướng, ông còn trực thuộc với Bộ Tham Mưu Liên Quân ở Ngũ Giác Đài, Hoa thạnh Đốn, một hệ thống chỉ huy nặng nề trong không gian và thời gian đã có từ khi có chiến tranh. Tướng Smith rất hợp với ông Martin, còn Alan Carter, trưởng Phòng Thông Tin, thì lại lạnh nhạt với Đại sứ của mình, vì bị chỉ trích là nói quá nhiều với các nhà báo. Nhà cầm quyền ở SàiGòn cũng như ở Hà Nội đều biết về cái tổ hợp ngoại giao nho nhỏ đầy thương yêu lẫn tỵ hiềm kín đáo nầy.
Phòng Tùy Viên của tướng Smith và các ban ngành trực thuộc đã chiếm đóng lại hết các cơ sở của Bộ Tư Lệnh Quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam, từ Tổng hành dinh đến các rạp chiếu bóng, hồ bơi, phạn điếm, câu lạc bộ… ở ngay sân bay Tân sơn Nhứt. Tướng Smith coi về việc cấp phát quân dụng và gởi người đến thanh tra các đơn vị thuộc quân đội Miền Nam Việt Nam. Một công việc rất phức tạp. Bắc Việt thì báo cáo láo với Liên Xô và Trung Quốc về tình trạng tồn kho của mình, còn Miền Nam thì cũng không khác gì đối với người Mỹ. Dựa theo các báo cáo từ hơn 10 cơ quan ở các tỉnh gởi về, Phòng Tùy Viên Quân Lực soạn thảo phúc trình về tình hình vi phạm Lệnh ngừng bắn của Hiệp Định Paris, một việc mà Ủy Ban Quốc Tế ít khi chịu làm.
Cơ quan CIA cũng có mặt ở phi trường Tân sơn Nhất, rất dễ nhận với các chiếc phi cơ và trực thăng sơn màu sậm và trắng của hàng không Air America. Vào những năm cuối thập niên 60, thời kỳ tốt nhất, Air America có tới 5600 nhân viên. Các phi công, thường là cựu quân nhân rất hiểu biết về Việt Nam. Lương của những người nầy thường lên đến 45.000 kỹ kim một năm (khoản 200.000 quan Pháp) mà một nửa khỏi bị trừ thuế.
Từ ngày ký Hiệp Định, Air America thường được dùng để chuyên chở nhân viên của Ủy Ban Quốc Tế, kể cả các thành viên Ba Lan và Hung gia Lợi. Kể từ khi Ủy Ban đến SàiGòn, Polgar giải thích là nếu các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế gồm có Gia nã Đại (sau nầy được Iran thay thế), Nam Dương, Ba Lan và Hung gia Lơị, mang theo phi cơ của họ nữa thì chắc chắn sẽ có nhiều tai nạn xảy ra lắm. Do đó ông đề nghị dùng phi cơ của hàng không Air America. Mọi người ai cũng biết phi cơ nầy là của CIA. Đại sứ Ba Lan đầu tiên của Ủy Ban trước kia là giám đốc hàng không LOT của Ba Lan nên rất am tường vấn đề và thúc đẩy các đồng chí Hung gia Lơi của ông nên chấp nhận đề nghị của Polgar. Đề nghị nầy giúp hai phái đoàn nầy tiết kiệm được ngoại tệ mà các nước Đông Âu nầy vốn thiếu. Và như vậy cũng tránh được tai nạn. Nhưng có một lần người của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã bắn hạ hai trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế. Một trong hai chiếc đó có chở một sĩ quan Bắc Việt.
Ủy Ban Quốc Tế có một Tổng hành dinh ở trong thành phố và các cơ sở khác thì đóng ở sân bay Tân sơn Nhứt. Nhiệm vụ của Ủy Ban là Kiểm soát và Giám sát việc ngừng bắn, nhưng họ không kiểm soát gì hết và cũng không giám sát được bao nhiêu. Do đó phía Gia nã Đại nhanh chóng mĩa mai chuyển danh từ tiếng Pháp CICS (Comité internationale de Controle et de Surveillance) ra tiếng Anh ICCS (International Committee of Control and Survey) để họ đọc trại ra là “I Can’t Control Shit” (Tôi không kiểm soát được gì hết, tôi chỉ kiểm soát mấy cục gạch chơi thôi!) Người Miền Nam Việt Nam hằn học hơn dịch ra là “Im Cho Coi Sao” (ngồi yên lặng chơi để coi cái gì sẽ xảy ra!)
Hiệp Định Paris dành trọn 18 điều khoản cho cơ cấu pháp lý nầy, trên nguyên tắc CICS ( Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát Ngừng Bắn) thay thế cho CIC (Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến), một ủy ban “hữu danh vô thực ” có mặt ở cả SàiGòn và Hà Nội từ 1954 cho đến 1973 mà không có làm gì hết. Phái đoàn Gia nã Đại thấy rõ là Ủy Ban không hữu hiệu nên họ nhanh chân rút lui khỏi Ủy Ban, và họ được phái đoàn hoàng gia Ba Tư (IRAN) thay thế. Như vậy Hoàng đế Ba Tư coi như bước vào sân khấu quốc tế.
Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế nầy có nhiệm vụ phải đi điều tra mỗi lần một trong Hai Bên có báo cáo hay phản kháng về vi phạm Hiệp Định của phía Bên kia. Và trên nguyên tắc tất cả các quyết định của Ủy Ban đều phải đạt được sự “đồng thuận”. Hai phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi luôn luôn khước từ mọi sự điều tra vi phạm do Chánh Phủ SàiGòn yêu cầu, Từ đó hai phái đoàn Nam Dương và Ba Tư chán nản vì họ thường đơn phương đi điều tra. Dù công việc có trịnh trọng thì trên phương diện pháp lý những bản phúc trình của họ cũng không có giá trị (vì thiếu chữ ký của Ba Lanvà Hung gia Lợi).
Ngày 10 tháng giêng 1975, một người Ba Lan và một người Hung gia Lợi cùng hai cộng sự viên Ba Tư và Nam Dương đồng ký tên trong một bản phúc trình xét thấy bất lợi cho Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam, trong quận Long Khánh nằm về hướng Đông Bắc SàiGòn 80 cây số. Khi về đến SàiGòn, được cấp trên của họ khiển trách và nhắc nhở, hai người Ba Lan và Hung gia Lợi nầy khai là họ bị bắt buộc phải ký vào văn kiện nầy mà không hiểu gì hết.
Hiệp Định Paris dự trù triển khai 7 toán Quốc Tế ở địa phương để giám sát quân dụng khi có sự thay thế. Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế đều biết rằng phần lớn những toán địa phương nầy không bao giờ được thành lập và không bao giờ có mặt đầy đủ ở những địa điểm hay địa phương được quy định. Khởi đầu quân số của Ủy Ban Quốc Tế tính chung là 3.300 người . Tổ chức nầy lần lần trở thành một cơ cấu hành chánh nặng nề, tự nuôi sống lấy. Họ không có quan sát viên ở tỉnh Phước Long. Trường hợp rất điển hình: Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu họ có thái độ, Phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi thì đổ thừa là họ “thiếu tin tức”, Phái đoàn Nam Dương và Ba Tư đề nghị gởi các toán quan sát lên xem, Phía Ba Lan và Hung gia Lợi từ chối hẳn, viện lẽ “không có an ninh”. Cho nên ở SàiGòn không có ai ngạc nhiên hết.
Sỹ quan của Ủy Ban thường tổ chức tiệc tùng ăn uống, chơi tennis hoặc bơi lội ở Câu lạc bộ Thể Thao SàiGòn nhưng lúc nào cũng làm ra vẻ tài phán. Các báo cáo phản kháng vi phạm thì luôn luôn bị xếp xó bằng phủ quyết để không đi đến đâu cả. Trong những phiên đại hội, người ta không bàn cải về Phước Long, trừ khi để lấy một quyết định quan trọng và nhanh chóng là người ta không thể làm gì hết. Người ta dùng thì giờ để bàn cãi những chuyện thiết thực hơn như : tại sao hồ bơi ở Tân sơn Nhứt không chịu thay nước mỗi ngày? Tuần nầy chúng ta được cấp bao nhiêu xăng? Giá mỗi phần ăn ở Câu lạc bộ có cao lắm không? Làm sao cho sửa chữa các máy điều hòa ? Chiều nay phái đoàn nào sẽ đại diện cho Ủy Ban chúng ta ở Tòa Đại sứ Pháp? và ngày mai ở Tòa Đại sứ Úc Châu? Các phái đoàn sẽ cho trình chiếu phim gì ở phòng chiếu bóng?….. v.v…
Đối với người Ba Lan và Hung gia Lợi thì đây là chuyến du hành đầu tiên ra nước ngoài của họ. Họ chóa mắt về đồng lương được trả bằng mỹ kim cho họ. Họ di chuyển trong thành phố bằng những xe buýt có lưới che ngừa lựu đạn, thăm viếng các đình chùa, mua sắm nữ trang và vàng, chơi gái và học cách chơi bóng bầu dục của Hoa Kỳ. Trong những buổi dạ hội ở SàiGòn tướng Czeslaw nặng nề và đại sứ Fijalkowski mảnh dẻ hơn, đều tỏ ra bình dân. Họ hôn tay kiểu Ba Lan rất là vui vẻ và lịch thiệp. Tướng Dega còn làm ngạc nhiên nhiều người khi ông cất tiếng ca tụng “cuộc cách mạng trắng của hoàng đế Ba Tư ” và những “dự án cải cách đầy cao vọng” của Ngài. Tướng Dega chơi thân với Tùy viên Quân lực của Pháp, Đại tá Yves Gras, một sử gia chu đáo về trận chiến tranh của người Pháp ở Đông Dương nhưng hiểu rất ít về cuộc chiến hiện tại. Hai sĩ quan nầy thảo luận về Nã phá Luân, về bà Walewska, về ông tướng Foch. Đại tá nầy khá đấy chứ. Ông ta tâm sự với tướng Ba Lan:
_ “Bài toán Việt Nam quá rắc rối để người ta có thể giải quyết bằng “chánh trị đô la”
Người Ba Lan biết rành Việt Nam hơn người Hung gia Lợi. Họ có đại diện ở Miền Bắc và ở Miền Nam từ hơn 20 năm nay rồi. Nhiều người Ba Lan đã dùng phi cơ của Ủy Ban Quốc Tế trên các chuyến bay con thoi nối liền SàiGòn và Hà Nội mỗi thứ sáu hàng tuần. Còn người Hung gia Lợi thì chuyên lo tìm tin tức có lẽ vì họ cần phải theo kịp các đồng chí Ba Lan của họ về mọi sự hiểu biết. Họ cứ mang máy ảnh đi quanh quẩn các cầu, các trại lính, các căn cứ không quân, các kho đạn v.v.. Người dân Miền Nam giận lắm, họ khiếu nại. Làm gì được họ? Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế đều có quyền đặc miễn ngoại giao. Người Ba Tư thì rất là mềm mỏng và hiếu khách. Họ cung cấp cho mọi người món trứng “caviar” để nhậu với rượu vodka của Ba Lan hay với rượu vang của Hung gia Lợi. Riêng người Nam Dương thì làm việc hoàn toàn trong tinh thần của Hiệp Định Paris. Họ luôn luôn có mặt bất cứ chỗ nào có nhận tiếp tế từ viên đạn thường đến viên đạn pháo, họ đánh giá và so sánh lực lượng và tính sổ hết các vi phạm.
_ “Tại sao các ông hoạt động tích cực như vậy? Polgar hỏi thử một sĩ quan cao cấp Nam Dương.
_ “Chúng tôi có lẽ phải chiến đấu với người Việt Nam, không phải trong hiện tại đâu, mà có lẽ một ngày nào đó ….
Trong hai năm, người Ba Lan, Hung gia Lợi và người Mỹ, dân chính hay quân nhân, họ đều gắn bó với nhau. Dù sao họ cũng đều là người da trắng, đối diện với người Việt Nam dù họ là người quốc gia hay cộng sản thì cũng khó mà nắm được họ lắm khi người ta từ Budapest (Hung) hay từ Varsovie (Ba Lan) hay từ Hoa thạnh Đốn xa xôi tới. Hơn nữa, giữa những người công chức cao cấp hay những quân nhân nhà nghề vẫn có sự tương quan với nhau. Mặc kệ ý thức hệ hay sự rủ rê của người nầy người kia. Các phái đoàn của Ủy Ban Quốc Tế đầy sĩ quan tình báo. Họ lùng bắt những người đào ngũ nhưng không bao giờ thành công. Ở trong Ủy Ban Quốc Tế người ta không giám sát chiến sự ở Việt Nam mà người ta giám sát kỹ người nầy người kia trong nội bộ. Các sĩ quan Ba Lan và Hung Gia Lợi canh chừng các đồng chí đảng viên cộng sản của họ, điều nầy làm cho CIA nhẹ lo. Polgar nói: “Có việc làm cho tất cả mọi người . Ngay như anh có tiểu tiện vào đại dương thì anh cũng có thể làm tăng mực nước biển lên được vậy.”
Ông Đại sứ Graham Martin cũng tỏ ra một thái độ lịch sự với người Ba Lan. Khi Đại sứ Ba Lan tới SàiGòn ông ta có đến chào người bạn đồng sự Hoa Kỳ. Trái lại Đại sứ thô kệch Hung gia Lợi kia đã coi thường thủ tục nầy, cho nên ông Martin không gặp ông ta bao giờ.
Trái lại ông Polgar thì liên lạc chặt chẻ và rất tốt với người Hung gia lợi, nhất là với đại tá Janos Toth và cố vấn chánh trị Antyon Tolgyes. Polgar gốc người Hung gia Lợi. Đại tá Toth chỉ huy cơ quan tình báo Hung. Là đồng nghiệp với nhau hai người thích nhau lắm, mà cũng rất dè dặt nhau. Để thấy rõ trong lãnh vực mênh mông của ngành tình báo nầy, và để giúp đỡ lẫn nhau, Polgar và Toth đặt ra một phương thức tài tình mới lạ lắm: vào một giờ nào đó, ở hai địa điểm tại SàiGòn , một nhân viên CIA và một sĩ quan tình báo Hung mỗi người thuyết trình cho nhau nghe về tình hình của phe bên kia. Một phương pháp rất kín đáo: người Hoa Kỳ và người Hung không thể gạt nhau hay báo cáo sai với nhau được hay dùng lại những gì họ tin cậy trao đổi cho nhau. Nhưng trong tiến trình cuộc chơi nầy hình như phía Ba Lan muốn lợi dụng. Sỹ quan của họ mặc thường phục, đi vào Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và được Frank Snepp, một cộng sự viên của Polgar tiếp.
Theo chỗ riêng tư mà nói thì trước mặt người Mỹ người Ba Lan chê người Hung, và ngược lại người Hung cũng chê người Ba Lan. Rất có lễ độ, người Mỹ than phiền giùm cho Miền Nam
. Các sĩ quan thuộc hai phái đoàn Hung và Ba Lan thật thà thú thật rằng họ cũng khó xử với những đồng chí cộng sản Việt Nam.
_ “Những đồng chí Việt Nam của chúng tôi can đảm thiệt, bướng bỉnh và cương quyết lắm, nhưng rất khó mà hiểu được họ lắm.
Mặc dầu họ cố nài nỉ nhưng các sĩ quan Hung và Ba Lan không thể biết được một tin tức nào từ các đồng chí cộng sản Việt Nam về sự kiện họ chiếm tỉnh Phước Long. Niềm nở hơn, người Mỹ đã cho các thành viên của Ủy Ban biết diễn tiến của sự việc.
Các đồng chí cộng sản Việt Nam của họ cũng có mặt ở SàiGòn, với một số không ít hành trang, và một vài vũ khí, đóng ngay sân bay Tân sơn Nhứt từ năm 1973: 250 binh sĩ và sĩ quan việt cộng – có nghĩa là thuộc CPLTCHMN- và lối 50 bộ đội và sĩ quan Bắc Việt, khó tiếp cận lắm vì nụ cười của họ không khác biểu ngữ bao nhiêu. Họ đóng trong những dảy nhà thẳng hàng nhau, có kẽm gai và bao cát bao quanh, dĩ nhiên dưới sự dòm ngó canh chừng từ các chòi gác của binh sĩ Miền Nam. Họ là thành phần thuộc Hai trong Bốn Bên có liên quan đến cả 19 điều trong Hiệp Định Paris. Binh sĩ thuộc CPLTCHMN thì mặc quân phục màu xanh lá cây, còn bộ đội Bắc Việt thì mặc quân phục màu be, gọn ghẽ hơn chút. Các đại diện CPLTCHMN thì nói toàn giọng Bắc.
“Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên” gồm có Hoa Kỳ, quân đội Miền Nam, Miền Bắc, và bộ đội của CPLTCHMN. Họ có nhiệm vụ tìm người chết và mất tích.
“Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên” chỉ gồm có đại diện của SàiGòn và của CPLTCHMN
Cả hai Ban Liên Hợp nầy phải đi theo các Tổ Quốc Tế khi được họ chánh thức báo cho biết lộ trình và khi được yêu cầu. Trong hai năm nay, hai Ban Liên Hợp nầy coi như không còn hoạt động gì hết. Khi các sĩ quan Ba Lan và Hung Gia Lợi hỏi các sĩ quan việt cộng tin tức của trận chiến ở Phước Long thì họ chỉ cười trừ: “chúng tôi không hay biết gì hết”
Cộng sản ít khi ra khỏi trại của họ, được gọi là “trại Davis”. Tên của một binh sĩ Mỹ tử trận đầu tiên ở Việt Nam. Trong tài liệu, báo chí sách vở của họ, cộng sản cũng gọi là “trại Davis”. Có hai dãy trại, một cho bộ đội Bắc Việt, một cho CPLTCHMN. Khi mới tới đây, cộng sản và nhất là tướng Trần văn Trà, đại diện cho CPLTCHMN, (về sau nầy là người có trách nhiệm các cuộc hành quân ở Phước Long) thấy nhiều bộ phận thâu âm được gắn cùng khắp, từ ngoài sa lông đến phòng ngũ phòng tắm. Toàn là của người Mỹ.
Hiền hậu quá, nên tướng Trà được tướng Hoàng anh Tuấn thay thế, cương quyết hơn. Nhưng trên thực tế, nhân vật quan trọng ở trại Davis năm 1975 là đại tá Võ đông Giang. Đó là nguyên tắc ngoại giao bôn sơ vích: người số 2 chánh thức có trách nhiệm hơn người số 1. Binh sĩ cộng sản tổ chức trồng rau, trồng bông và trồng cây trong trại, và cũng làm công tác gián điệp nữa. Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Bắc Việt , tướng Văn tiến Dũng đã thường nói: “Các đồng chí của chúng ta ở Tân sơn Nhứt giữ một vị trí đặc biệt, ngay giữa lòng địch. Điểm quan sát triền tiêu đó là biểu tượng của cuộc cách mạng của chúng ta, và từ vị trí tốt đó họ sẽ giúp chúng ta biết được dư luận hằng ngày và những phản ứng của địch trước giờ hấp hối của họ”.
Phái đoàn cộng sản ở trại Davis không ngừng trao đổi điện tín với Hà Nội. Tướng Văn tiến Dũng giải thích một cách chân thật: “Ban Quân Sự Hỗn Hợp của tướng Hoàng anh Tuấn cho Hà Nội tin tức trong ngày thật nhanh về những cuộc điều động binh sĩ mà phái đoàn nhận được từ nhiều nguồn tin kể cả từ công tác quan sát trực tiếp.” Thật vậy, không chỗ nào có thể quan sát được hết các chuyến bay bằng vị trí nầy.
Nỗi ưu tư chính của phái đoàn cộng sản ở trại Davis là được bảo đảm từ phía người Mỹ không quấy nhiễu bằng cách chen vào phá mật mã của họ. Hoạt động chánh yếu của họ là cuộc họp báo vào mỗi sáng thứ bảy hàng tuần, ngay dưới chân dung Hồ chí Minh hay dưới các ảnh bán thân của các cấp lãnh đạo của họ. Báo chí chẳng biết được gì cả. Sau tuần trà, nuớc cam hay thuốc lá, (thuốc lá Điện Biên Phủ loại đen trong các bao xanh, hay thuốc vàng trong bao đỏ), các sĩ quan cộng sản đem chuyện phản kháng ra trình bày với cái lưỡi cây truyền thống của họ: SàiGòn và Hoa Thạnh Đốn vi phạm Hiệp Định. Họ phải chịu trách nhiệm về các vi phạm lệnh ngừng bắn. Họ không tôn trọng tinh thần Hiệp Định, Họ không cho những binh sĩ cộng sản của chúng tôi vô ra dễ dàng trại Davis v.v….
_ “Ở Phước Long, lực lượng của chúng tôi đang trả lời cho những khiêu khích của chế độ SàiGòn”, họ xác nhận như vậy.
Tuy nhiên, trong tỉnh Phước Long bộ đội Bắc Việt đã vi phạm rõ ràng các điều khoản chính của Hiệp Định Paris. Từ năm 1973, bộ đội Bắc Việt không bao giờ tôn trọng lệnh ngừng bắn. Hà Nội đã cho quân đội “xâm nhập” và đưa quân dụng vào Miền Nam tự do không bao giờ kiểm soát được.. Quân đội Bắc Việt dùng các căn cứ Lào và Cam bốt. Chỉ có một điều khoản duy nhất mà Hà Nội không vi phạm : đó là vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17 không bị họ tràn qua như trong năm 1972.
Chuyện hết sức lạ lùng là Trại Davis đã có ghi trong Hiệp Định. Những người cộng sản ở trại Davis nầy đã đến từ Hà Nội và từ chiến khu của họ ở Miền Nam, trì chí, dạn dày, đã xác nhận về trận tấn công của họ vào Phước Long, như một “đêm giữa ban ngày”. Họ sống ở đây từ gần 2 năm rồi, chỉ cách Văn Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ và các dinh thự của các tướng lãnh Miền Nam có vài trăm thước. Một sự hỗn độn lạ kỳ, kiểu SàiGòn. Chúng ta hãy tưởng tượng xem trường hợp của một toán truyền tin quân sự Hoa Kỳ hay Nga Sô ở ngay tại thủ đô Bá Linh của Đức trước ngày chấm dứt Thế Chiến Hai. Hay vài đại đội của Đức Quốc Xã ở ngay tại thủ đô Luân Đôn năm 1944!
Ở Hà Nội người ta gặp các sĩ quan Ba Lan và cũng có vài sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ , chỉ trong vài tiếng đồng hồ thôi không hơn không kém.
Sự có mặt của cộng sản ở trại Davis chọc tức ông Thiệu, người ta biết như vậy. Hồi năm 1973 khi những binh sĩ cộng sản nầy tới Tân sơn Nhất (SàiGòn), chánh quyền muốn họ phải điền vào các phiếu nhập cảnh. Nhưng họ từ chối vì họ không muốn đương nhiên công nhận chủ quyền của Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa . Và vì thế mà họ không được cho nhập cảnh. Sau nhiều giờ ngồi trên phi cơ chờ đợi, và sau nhiều áp lực của phía Hoa Kỳ, hai phái đoàn Hà Nội và CPLTCHMN mới được ra khỏi phi cơ (Mỹ) và được chở thẳng vào trại Davis.
Sau khi tỉnh Phước Long bị hoàn toàn thất thủ, ông Thiệu nghĩ tới chuyện trả thù những người cộng sản ở trại Davis. Chỉ có một phương thức bắt bí bọn nầy thôi: cúp nước. Nhưng ông không làm như vậy được, vì lý do nhân đạo.
Tổng Thống Thiệu còn nhiều việc khác phải lo, cấp bách hơn, về hành chánh cũng như quân sự. Chánh Trị Bộ Hà Nội còn những toan tính gì nữa đây? Họ còn có hành động gì nữa để khích động được một bước “nhảy vọt” ở Miền Nam?
Với một gương mặt tròn, trán hơi vồ nhưng không có vết nhăn, tóc chải keo sát, ông Thiệu không tỏ vẻ mệt mỏi chút nào và giữ vững lòng tin. Ông Thiệu tự xem mình là người được “Ơn Trên” giao cho sứ mạng giữ nước và cứu nước, có sự bảo đảm và ủy thác của người Mỹ. Ông đã chứng tỏ là ông cũng chống cộng như họ. Ông cảm thấy không được thoải mái lắm với giới lãnh đạo Hoa Kỳ, nhưng ông thấy gần gũi hơn với hai người đã từng đương đầu với quân đội cộng sản Bạch sùng Hy của Đại Hàn và Tưởng giới Thạch của Đài Loan. Ông đã bổ nhiệm người anh ruột là ông Nguyễn văn Kiểu sang làm đại sứ với ông thống tướng nói trên.
Ông Thiệu có một sự tin tưởng tuyệt đối: trong bất cứ trường hợp nào Hoa Thạnh Đốn cũng sẽ không bỏ rơi mình. Tuy nhiên ông vẫn biết rằng những người có trách nhiệm Hoa Kỳ có thể phản bội đồng minh của họ. Họ chẳng đã một lần buông bỏ Tổng Thống Diệm năm 1963 đó hay sao? Ông Thiệu đã thấy thi hài của ông Diệm. Năm 1968 ông Thiệu đã lo sợ đến lượt mình sẽ bị ám sát với thỏa ước Hoa Thạnh Đốn.
Ông sanh năm 1924, tuổi tý, tháng tý, ngày tý và giờ tý,. đó là một điềm không tốt. Nhưng ông đã 52 tuổi đầu rồi, một thành công có một không hai ở cái quốc gia đầy biến cố nầy. Ông lên nắm quyền từ hơn 8 năm rồi. Sự ổn định vững vàng của ông chứng tỏ một sự khôn khéo mà người Mỹ đánh giá cao. Và nhất là Đại sứ Martin.
Là con út trong 7 anh chị em trong một gia đình bình thường ở Miền Nam, ông Thiệu có đi vào kháng chiến với Việt Minh mấy tháng trong năm 1944. Sau đó ông chọn phía quốc gia. Ông suýt trở thành một sĩ quan hải quân. Theo học trường Vỏ bị Coetquidan (Pháp), ông Thiệu theo con đường quân sự và tiến lần đến đỉnh cao quân sự và sau cái chết của Tổng Thống Diệm ông lại leo lên tuyệt đỉnh chánh trị. Người tiền nhiệm của Đại sứ Martin là ông Đại sứ Ellsworth Bunker, đã thích chọn ông Thiệu là ứng viên Tổng Thống hơn là người phi công nhanh nhẹn Nguyễn cao Kỳ. Ông Thiệu có vẻ già dặn hơn, và bề ngoài có vẻ mềm mỏng hơn. Can đảm trong chiến trận, sĩ quan tham mưu không kém lắm, người có tham vọng, ông biết tránh tai tiếng để chờ thời. Ông là một Phật tử nhưng đã trở về Ki tô giáo thời ông Diệm, một người công giáo cực đoan. Trong thư viện ở Dinh Độc Lập ông Thiệu còn giữ một bộ sưu tầm về “niên Giám của Vatican” có gáy da màu đỏ, một di sản của ông Diệm. Sự theo đạo của ông Thiệu hình như vì hoàn cảnh. Và cũng nhờ đó mà ông cưới được cô Nguyễn thị Mai Anh làm vợ, cô nầy là con của một người công giáo dòng. Tính vui vẻ và tự chủ, ông dấu kín tư tưởng của mình bằng những tràng cười như pháo nổ, theo đúng theo lời dạy của Khổng Tử: “Giận là hạ sách, Cười là một phương pháp tốt nhất để không ai đoán được ý mình”. Từ SàiGòn đến Hà Nội những người lãnh đạo Việt Nam ai cũng có nụ cười khỏa lấp, thường không ai đoán nổi.
Cộng sản Bắc Việt thường dùng danh từ “tay sai”, “phản động” và “phát xít” hay “đầy tớ của Mỹ” để chửi ông Thiệu trên báo chí hay trên hệ thống truyền thanh. Khác hơn nhiều chánh trị gia ở SàiGòn Tổng Thống Thiệu không bao giờ đi gặp một người Mỹ nào. Ông không chịu làm thân với người nào, khác với người em họ của ông là Hoàng đức Nhã, lịch thiệp hơn. Ông Thiệu thường tiếp Đại sứ Mỹ, hay vị cố vấn ngoại giao ông Lehmann, và một vài phái đoàn. Ông cương quyết không có thái độ quy lụy của một người nô lệ.
Đường lối hành động trong hiện tại: nếu Ông Thiệu nói nhiều quá về sự kiện Phước Long, thì ông ngại sẽ gây sợ hãi cho những nhà đầu tư ngoại quốc., nhất là người Mỹ và người Nhật. Còn nếu ông không nói gì hết thì dư luận quần chúng và Quốc Hội ở Hoa Thạnh Đốn không thấy được mối nguy đang đe dọa đất nước Việt Nam . Là một quân nhân, đi theo con đường chánh trị, lại không phải là một nhà ngoại giao giỏi, ông Thiệu không bao giờ tạo dựng cho mình được một đường lối chiến lược quốc tế, mặc dầu có sự cố vấn của người em là ông Nhã và của đại sứ lưu động Bùi Diễm thúc đẩy. Trong hai năm ngoài những người khách Hoa Kỳ người ta còn thấy có một người ngoại quốc có danh tiếng, một tổng trưởng phi châu. Ở thủ đô SàiGòn chỉ có hai Tòa Đại sứ là đáng kể: Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và ngay sau lưng là Tòa Đại sứ Pháp. Hoa Thạnh Đốn nhấn mạnh để các Tòa Đại sứ khác, của Anh Quốc, của Đức, của Ý và của Bỉ phải có mặt ở SàiGòn. Các Tòa Đại sứ nầy gần như bất động.
Đối với báo chí, ông Thiệu có một yêu cầu, thường trực: khi nói tới Hiệp Định Paris thì họ cần phải nói lớn lên: đó là một sự phản bội, một trò gian lận. Đó là một sự đầu hàng, một án tử hình! Thay vì không nhìn nhận Hiệp Định, ông Thiệu không chịu tìm cách luồn lách để khai thác Hiệp Định. Đối với các nhà ngoại giao người ta gọi như vậy là không thấy xa. Dù là thù hay là bạn của ông, ai cũng cho là nếu không thích ông Thiệu thì họ cũng phải kinh nể ông ta. Dù có tinh ranh và đa nghi nhưng ông rất có uy quyền mà không phải là độc tài. Các nhóm đối lập phát biểu tự do ở Hạ Viện, ở Thượng Viện, qua hệ thống tư pháp hay trong gần 30 tờ nhật báo hay tuần báo. Cái mà một chiến binh chống cộng nhân từ như ông Thiệu đang thiếu đó là không chịu nhìn thẳng vào sự việc, nhất là đối với những truyền thuyết của lãnh đạo Bắc Việt. Đối với tướng Võ nguyên Giáp, Tổng trưởng quốc phòng Bắc Việt ông Thiệu nói là ” ông ấy muốn chơi trò Nã phá Luân Việt Nam” rằng “ông ấy là một giáo sư lỗi thời”
Ở Miền Bắc đồng chí Lê Duẫn, Tổng bí thư đảng là nhân vật số 1, đầy huyền thoại. Ông Thiệu thì hay gặp gỡ các nhà báo, còn Lê Duẫn thì tuyệt đối không. Ở Hà Nội họ áp dụng nguyên tắc chỉ huy tập thể, nên không thấy có tư tưởng khác biệt giữa những người có trách nhiệm. Còn ở SàiGòn thì các đối thủ đều ra mặt, công khai, mạnh được yếu thua. Ông Thiệu không tin tưởng cộng sự viên và thường hay coi rẻ họ. Ông chỉ định một ông tướng khác bốn sao làm Thủ Tướng. Ngày bầu cử Tổng Thống sấp đến, tháng 10 năm 75, ông Thiệu tự hỏi không biết ông tướng Khiêm nầy có ra ứng cử như ông hay không? Ở SàiGòn giới trí thức lớn tiếng tuyên bố là Miền Nam Việt Nam là một quốc gia mà cái gì cũng chỉ có một nửa, nửa dân chủ nửa độc tài, với một chánh phủ chỉ có biện pháp nửa vời. Ông Thiệu không đánh bóng công dân của mình. Những người dân tị nạn từ Phước Long đã chứng tỏ rằng họ không nổi dậy để chạy theo Bắc Việt. Trong khi Hà Nội cũng nói rằng dân chúng không nổi lên chống họ, mà cũng không phải họ theo chế độ của Thiệu.
Mặc dầu đứng trong hàng tướng lãnh, ông Thiệu không nắm quân đội như đảng cộng sản nắm quân đội của họ ở Miền Bắc. Ông Thiệu đã phong cho tướng Cao văn Viên là Tổng tham mưu trưởng liên quân bởi vì ông Viên không có một chút tham vọng chánh trị nào. Ngoài ra ông ta còn để cho ông Thiệu trực tiếp chỉ huy ông nữa. Ông Thiệu biết chỉ huy mà không biết điều khiển. Đối với quân đội của mình, ông Thiệu cũng vẫn sợ sẽ là nạn nhân của một cuộc đảo chánh. Bản thân ông ta là người đã có tham gia vào cuộc đảo chánh ông Diệm. Sau vụ Phước Long, các tướng lãnh tham khảo với nhau, và mỗi lần mà cố vấn an ninh báo cáo cho ông rằng các ông tướng hai hay ba sao đã có gặp nhau, thì Tổng Thống đâm lo. Ông thích để yên không muốn có hành động nào, đó là bản tánh của ông Thiệu. Khi các cộng sự viên có đề nghị đưa lên thì ông trả lời “có thể” hay “để xem đã” để ông khỏi bận trí. Cũng giống như nhiều chế độ quân phiệt trong thế giới thứ ba, ông ước tính là Tự Do Dân Chủ chỉ phải được tiến tới từ từ, một cách tiệm tiến.
Ông Thiệu thiếu môn chánh trị học. Mặc dầu ông Nhã có chỉ cho ông luật lệ về hiến pháp, ông Thiệu không hiểu Chánh Phủ Hoa Thạnh Đốn điều hành ra làm sao. Mặc dầu đã có cả hai viện ở Quốc Hội, Tổng Thống Thiệu vẫn tùy tiện tháo khoán được hàng triệu đồng . Ông không tưởng tượng được rằng Tổng Thống Hoa Kỳ không thể làm như vậy được vì không thể qua mặt Hạ viện và Thượng Viện ở Hoa Thạnh Đốn được . Gặp trường hợp nguy kịch như trường hợp Phước Long bị chiếm, ông Thiệu chỉ trông cậy có mỗi một ông Gerald Ford.
Tướng Quang là người tín cẩn của ông Thiệu, là một cố vấn, là người tâm phúc, là người quan sát tình hình chánh trị tổng quát, là một thủ hạ thông minh và trung thành với ông chủ của mình. Ông Kỳ đã từng là Thủ Tướng rồi. Người ta cách chức Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật của ông Quang, vì cho ông là tham nhũng. Ông Thiệu bổ nhiệm ông Quang vào chức vụ Bộ Trưởng Kế Hoạch, và sau đó Phụ tá hay là cố vấn đặc biệt về an ninh quốc gia. To con với cặp mắt sắc sảo, ông Quang có bộ vó như một kẻ gian trong loại phim hạng xoàng. Thiếu bằng chứng, nhưng ở Saigon ai cũng biết ông là một người không tốt. Điều hơi lạ: ông muốn gởi con gái ông sang học ở đại học Mỹ, nhưng không đủ sức trả học phí. Ông nhờ các cơ quan giáo dục Hoa Kỳ để xin học bổng, nhưng không được, con gái ông đành phải đi qua Úc Châu ở với một người bà con của ông đang làm việc ở Tòa Đại sứ Việt Nam ở đó. Bà Quang không khi nào đeo nữ trang khi đi ra ngoài, không làm áp phe. Và cũng lạ lùng nữa, ông Quang vô ra Dinh Độc Lập lúc nào cũng được, vẫn được toán gác dinh mang găng trắng chào kính. Văn phòng ông rất sang trọng với bàn tủ ghế sơn vẹt ni đen bóng loáng, với những tấm bình phong cẩn xa cừ, bàn làm việc loại tối tân với ghế bành bọc da, lẫn lộn nửa xưa nửa nay không tương hợp nhau lắm.
Ông Quang cho ông Thiệu hay là một chiến dịch đang bắt đầu nhen nhúm nhắm vào Tổng Thống đấy. Người ta muốn nhắm vào gia đình Tổng Thống, bổn củ soạn lại thôi: tham nhũng! Bà Thiệu làm áp phe, đó là quyền của bà. Nhưng luân lý ở đây muốn đệ nhất phu nhân, hay bất cứ người nào có chồng làm lớn, là phải đứng trên cái giới áp phe thường núp dưới các hoạt động từ thiện hay công tác xã hội. Tổng Thống thường làm việc với giới dân sự, nhất là với ông Lý long Thân, một thương gia người Tàu Chợ Lớn, chủ xưởng Vinatexco, một công ty dệt lớn. Người ta nói bà Thiệu và bà Thân có nhiều quyền lợi trong việc thu hồi “sắt vụn” như đồng, thép và nhôm. Chiến tranh đã để lại biết bao sự điêu tàn, những phế liệu, sắt vụn được thu lượm để xuất cảng trên những thương thuyền của Đại Hàn hay của Panama. Người ta tố cáo bà Thiệu đầu cơ đồng bạc. Bắc Việt đã không nghe lời khuyên của Liên Xô để in bạc giả và nếu cái Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam của họ cần tiền thì Hong Kong là nơi tốt nhất để Hà Nội tìm đủ tiền Miền Nam cho đám tay sai mà họ đã tạo dựng lên.
Hồi xưa, bà Thiệu thường hay lui tới với ông Nguyễn cao Thăng, chủ nhà bào chế thuốc Tây, mà cũng là người nắm độc quyền nhập cảng nhiều loại hàng đặc biệt. Ông Thăng người cộng sự ưu ái của ông Thiệu, là người ảnh hưởng và điều động được các dân biểu ở Hạ Viện và cả Nghị sĩ ở Thượng Viện. Ông vừa là môt lý luận gia vừa là một túi tiền của ông Thiệu. Một chuyến bầu cử cho các ông nầy tốn cũng phải từ 1000 đến 2000 mỹ kim. Ông Thiệu ước tính là bài toán tham nhũng chỉ sẽ được giải quyết sau chiến tranh mà thôi. Người ta nói nhiều về tham nhũng ở Miền Nam và rất ít khi nói tới những chuyện nầy ở Miền Bắc.
Vấn đề nầy được báo chí quốc tế nói tới nhiều nhưng ông Thiệu biết là quan điểm của ông Martin không có gì khác lạ,: những gì mà người phương Đông gọi là tham nhũng, theo ông Martin chỉ là một chứng bệnh về kinh tế, một hiện tượng khó tránh khỏi trong thời kỳ chiến tranh. Tình trạng chợ đen ở Việt Nam ngày nay đâu có nặng hơn hồi thế chiến II ở Âu Châu. Ông Thiệu có thể an tâm về điều nầy. Tướng Quang báo cáo là ông Martin đã không cho các cơ quan của Tòa Đại sứ gởi về Hoa thạnh Đốn những phúc trình sơ suất về vấn đề nầy. Ông Martin thì đòi hỏi phải có những bằng cớ xác thực, mà những tay buôn lậu, những người ăn hối lộ có bao giiờ ký biên nhận đâu và cũng không để cho ai chụp được hình trong những cuộc dàn xếp giao dịch . Họ dùng tên giả, và những thủ tục vô hình. Và tướng Quang nghĩ là chiến dịch chống ông Thiệu sẽ không trầm trọng lắm.
Ông Thiệu đã lưu giữ 25 bức thư của Tổng Thống Richard Nixon trong phòng ngủ của ông ở Dinh Độc Lập như một hồ sơ mật, một loại vũ khí riêng của mình. Những bức thơ nầy là những bản chánh hay bản sao của các công điện được một viên chức ngoại giao Mỹ chuyển giao cho ông. Đối với ông Thiệu, nội dung của những bức thư nầy và một vài lời tuyên bố của ông Nixon còn quan trọng vững vàng hơn là những điều khỏan của Hiệp Định Paris. Đối với các tổng trưởng, ông Thiệu không nói rõ nội dung của những bức thơ nầy nhưng đã có cho thấy những cam kết của ông Nixon. Ông vừa nói vừa mân mê bao súng của ông coi như ông hiện đang có những bức thư trong đó vậy: “Tôi có lời hứa của ông Nixon ở đây nè!”.
Khi ông Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa từ chối không chịu ký vào văn bản đầu tiên của Hiệp Định Paris một cách giận dữ, thì ông Nixon nói với ông Kissinger: “Lời nói đó không có gì hung dữ đâu, ông sẽ thấy là ông không phải là “con chó đẽ” đâu.”(nguyên văn của tác giả Todd Olivier). Dù ông Nixon có bị gì thì ông Thiệu vẫn tin tưởng ông ta, nhưng ông vẫn nghi ngờ ông Kissinger, vì ông nầy vẫn còn tại chức. Ông Nixon đã từng hứa là sẽ có phản ứng ngay nếu có những cuộc tấn công nghiêm trọng của Bắc Việt.
Ngày 16 tháng 10 năm 1972, ông Nixon viết cho ông Thiệu: “Ông có thể hoàn toàn tin chắc rằng chúng tôi tiếp tục cung cấp cho Chánh Phủ ông một sự yểm trợ đầy đủ, gồm có viện trợ kinh tế dài hạn và tất cả viện trợ quân sự đúng như Hiệp Định Paris đã quy định.”
Cũng trong thơ nầy, đối với Bắc Việt, ông Nixon viết: “Tôi có thể bảo đảm với ông rằng chúng tôi sẽ coi việc họ không thực hiện đúng theo lời hứa quan trọng của họ sẽ dẫn tới những hậu quả tối nguy hiểm cho họ.”
Ông Thiệu thấy bị ông Kissenger chơi xỏ, vì ông ta âm thầm và đương nhiên chấp nhận sự có mặt của quân đội Bắc Việt ở Miền Nam sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Ông Thiệu tin chắc rằng Kissinger đã dối gạt ông Nixon về nội dung những cuộc nói chuyện ở Paris giữa ông ta và Bắc Việt. Ông Kissinger đã nhượng bộ cho Bắc Việt nhiều hơn là ông Nixon đã chấp nhận. Tuy vậy, ông Thiệu chỉ tính tới những gì ông Nixon đã viết và nói với ông, với tư cách là một tổng tư lệnh của quân lực Hoa Kỳ.
Ngày 14 tháng 11 năm 1972, đặc phái viên của ông Nixon và Kissinger, tướng Alexandere Haig yêu cầu ông Thiệu nên nhượng một vài điều trong Hiệp Định. Trong bức thư kèm theo ông Nixon đã cam kết với ông Thiệu như sau: “Điều quan trọng hơn những điều mà chúng tôi nói trong Hiệp Định, là chúng tôi sẽ hành động thế nào trong trường hợp Bắc Việt tiến hành các cuộc xăm lăng mới của họ.” Hai ông Nixon và Thiệu cùng gặp nhau trên một tần số: “Hình thức không bằng nội dung”. mặc kệ các điều khoản của Hiệp Định muốn nói gì thì nói ! ông Thiệu nhìn thấy trước nhất là sự cam kết từ cá nhân một vị Tổng Thống Hoa Kỳ về phần pháp lý của một bản văn. Không thể có một sự hiểu lầm được . Ông Nixon còn viết thêm: “Ông có một sự bảo đảm tuyệt đối của tôi (nguyên văn của tác giả Olivier Todd: you have my absolute assurance) là nếu Hà Nội không tôn trọng lời văn trong Hiệp Định thì tôi có ý định sẽ dùng trở lại những sự trả đủa nhanh chóng và khốc liệt.”
Ngày 14 tháng giêng năm 1973 cũng trong luận điệu đó, ông Nixon đã cho oanh tạc Bắc Việt và thả mìn ở các hải cảng Miền Bắc Ông không ngần ngại phải hành động cứng rắn như vậy. Sau đó ông đưa bàn tay sắt cho ông Thiệu khi ông nói rằng:“‘Việt Nam Cộng Hòa có ký hay không ký, thì Hoa Kỳ cũng sẽ ký Hiệp Định Paris.” nhưng ông viết tiếp cho ông Thiệu : “Chúng tôi không nhìn nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ Miền Nam Việt Nam …. Chúng tôi sẽ có phản ứng mạnh nếu Hiệp Định bị vi phạm.”
Năm ngày sau đó ông Nixon lại viết tiếp cho ông Thiệu. Ông nhắc lại hai đề tài đã nói và viết: “Hoa Kỳ chúng tôi nhìn nhận Chánh Phủ của ông như một Chánh Phủ hợp pháp duy nhất ở Miền Nam Việt Nam.” điều nầy làm vui lòng ông Thiệu.
Rất tự tin, khẩn thiết và cương quyết, ông Nixon vuốt ve để rồi sau đó cũng hăm doạ ông Thiệu. Để cho ông Thiệu phải ký vào Hiệp Định, ông Nixon không ngần ngại cho thấy Quốc Hội Hoa Kỳ có thể sẽ cắt hết mọi viện trợ cho Miền Nam. Nhưng ông Nixon lúc nào cũng hứa những hành động trả đủa đối với Bắc Việt.
Thêm một bằng chứng mới, ông Thiệu mân mê những kỷ niệm của ông sau khi ký Hiệp Định Paris: tháng 4/1972, ông được ông Nixon mời sang Tiểu Nhà Trắng San Clemente ở California – không mời đến Hoa Thạnh Đốn vì sợ các cuộc phản đối và ông Nixon đã nói với ông Thiệu trong cuộc gặp gở nầy: “Ông có thể tin ở chúng tôi.” ông Kissinger tinh ranh kia lại nói thêm rằng “sẽ có những “phản ứng dữ dội và nặng nề” nếu Hà Nội vi phạm Hiệp Định. Đại sứ lưu động Bùi Diễm cũng có mặt ở San Clemente. Ông Martin từ lâu cũng đã thường tiết lộ với Tổng Thống Thiệu là người Mỹ tiếp tục giúp ông. Trong trường hợp bị tấn công mạnh thì sự trả đủa sẽ như sấm sét.
Trong bức thư đề ngày 13 tháng 6 năm 1973, ông Nixon viết: “Chuyện nầy không còn là một đề tài liên quan đến những nhà thương thuyết, hay những luật gia, hay những chuyên viên nữa. Bây giờ là một đề tài trực tiếp giữa hai chúng ta.” (This is now a matter directly between the two of us.” (nguyên văn của tác giả Todd Olivier)
“…. hay những luật gia…” ông Thiệu diễn dịch là: những điều khoản của Hiệp Định, là những tờ giấy lộn, là dẻ rách. Ông biết cách nhìn các Hiệp Ước của những người cộng sản chính thống lê nin nít và sít ta lin nít. Nếu họ vi phạm thì chúng ta cũng phải làm như vậy mới được . Ông Nixon hiểu như vậy và ông Thiệu hiểu ông Nixon. Những cam kết dù bằng lời nói hay trên giấy trắng mực đen, lập đi lập lại nhiều lần công khai hay được hiểu ngầm, thì lời nói của ông Richard Nixon với ông Nguyễn văn Thiệu đều nhắm vào Hiệp Định: những chữ “trả đủa”,“phản ứng“, trong những bức thư (bản chính) của ông Nixon được ông Thiệu gạch đít, dưới mắt của ông Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa ít nhất cũng ám chỉ một sự can thiệp của các oanh tạc cơ Hoa Kỳ.
Bằng chứng phụ thêm: NKP (NaKhom Phanom) là một mật hiệu cho tất cả các vị Tư Lệnh Quân Đoàn Miền Nam, là một tổng hành dinh của Đệ Nhất Không Đoàn Hoa Kỳ ở Thái Lan. NKP là một công thức mầu nhiệm. Mặc cho những lời phê bình hơi chua chát hay những dè dặt hơi độc ác của ông Nhã, ông Thiệu vẫn tin rằng vào giờ chót Hoa Kỳ vẫn cứu ông ta. Ở NaKhon Phanom, các oanh tạc cơ B.52 vẫn còn nằm chờ tại đó….
Đối với ông Thiệu, Tổng Thống Ford là người kế thừa cả nhiệm vụ và những cam kết của ông Nixon. Tất cả những thơ từ của Richard Nixon bắt buộc ông Ford phải hành động như thế. Ông Thiệu nghĩ rằng Tổng Thống Ford vì thiếu tin tức nên ước tính rằng việc mất tỉnh Phước Long chưa phải là mức độ nguy ngập.
Bạn ơi,
Làm anh thêm đau khổ
Nhưng kẻ thù sẽ phải sợ
Vì nó trường cửu
Vì nó dài vô tận
Vì nó rất cảm động
Đó là lịch sử
Của khúc sắn củ mài
Trong tất cả các trại tù của Miền Bắc mà Phong Quang là một, cái đói theo đuổi người tù mãi mãi như một ác mộng!
Chanh, chuối, cam, đường
Lạc, đậu, cơm, khoai
Là ân huệ của đảng
Ân huệ vĩ đại
Thật sự vĩ đại!
Tại Saigon các nhà ngoại giao ước tính là các nhà tù có thể chứa từ 5000 đến 30.000 tù binh và tù chánh trị. Nhưng ở Hà Nội những nhà ngoại giao dù là Đông Phương hay Tây Phương cũng không có một ý niệm nào về con số tù nhân chánh trị.
Ở Miền Nam, Hội Hồng Thập Tự và những phái đoàn điều tra quốc tế được phép viếng thăm các trại tù. Còn ở Bắc Việt thì không bao giờ!
Mỗi sáng Chủ Nhật hắn thường ra cửa tiệm sửa xe để phụ người anh làm những chuyện lặt vặt. Hôm nay cũng không ngoaị lê, hắn thức dậy ra quán cà phê mua ly cà phê đen, và năm điếu thuốc lẽ, thuốc Capstan đàng hoàng; Hắn mê mùi thơm của điếu thuốc Capstan. Về đến tiệm hắn lôi chiếc ghế đặt trước cửa ngồi ngâm nga ly cà phê. Hắn châm điếu thuốc thổi thành những vòng tròn bay lơ lững trong không gian, nhìn ngươì ta đi đi laị laị trên đường. – Long, mầy ngồi đó xem có ai đem xe vào kêu tao nghe hông. Coi chừng ba đồ nghề đó . Anh của hắn – Hạnh, nói thế. – Anh đừng lo, có tui đây, ông nội nào dám rờ tớí tui cho nó cái mõ lết liền! Hắn đang ngồi mơ mơ màng màng vơí khói thuốc. – Anh sửa dùm cái xe cho em đi. Hắn giật mình nhìn lên thấy người con gái mặc áo dài trắng, trên ba ga đèo vài cuốn sách. Hắn nói thầm trong bụng: “Lại học trò nữa rôì”. – Sửa dùm thì anh không sửa đâu, nhưng có cái gì thì anh sửa cho. – Ừa, thì sửa đi rồi muốn cái gì em trả cho, làm gì dữ vậy, thấy ghét. – À, mà xe em hư gì? – Cái nầy nè, cái thắng của em nè. – Ðể anh xem thử coi. Hắn nắm lấy chiếc xe đạp của người con gái, dựng cái chân lên rôì đạp một cái thật mạnh. Hắn thắng lại một cái, cụp! Bánh xe sau đứng yên. Hắn để xe xuống, nhìn đi nhìn laị chiếc xe: “Chắc là cái thắng trước”. Một tay hắn nắm lấy cái bi đông nhắc bánh trước lên khỏi mặt đất, tay kia hắn quay một cái thật mạnh, bánh xe chạy ro ro, hắn bóp cái phanh lại, cụp! Bánh xe trước đứng yên. “Lạ nhỉ, thắng xe cạp còn ngon hơn cái răng hô của nhỏ mà sao bảo sửa cái gì kìa!” Hắn lẩm bẩm trong miệng. – Em đợi đây một tí nhé. – Ừa. Hắn đạp chiếc xe một vòng xong quay về. Hắn dựng chiếc xe lên và quay lại nhìn người con gái. Nàng ngồi khúm núm trên cái đòn nhỏ, tay ôm mấy cuốn sách nhìn hắn với nụ cười tủm tỉm và đôi mắt long lanh, tinh nghịch. Nàng đến bên cạnh hắn, nói thật nhỏ: – Xe em đâu có hư gì đâu, anh rãnh hông đưa em đi chơi đi. Thoáng liếc nhìn người con gái, hắn bổng nhiên thấy lung túng. Bất ngờ quá. Khuôn mặt quỉ quái, nghịch ngợm ngày nào của hắn sao hôm nay biến mất. Hắn cảm thấy có một luồn gió chạy trong ngươì với một cảm giác hắn chưa từng có. Tự nhiên hắn cảm thấy mặt mình thật nóng và gương mặt hắn lúc đó chắc đỏ lắm. Ngươì con gái quay mặt đi chỗ khác, nàng mân mê tà áo có vẻ vội vã muốn bước đi. – Mười hai giờ trưa mai anh đơị em ở đây nhé. – Em chờ anh trên kia kìa. Nàng chỉ tay về phía trước. – Em tên gì. – Nga. – Anh tên là… – Em biết rồi. Nhớ chiều mai nha. Nàng bước đến chiếc xe đưa mắt nhìn hắn. Nàng đạp xe chạy về cầu Tân Thuận Ðông. Ði trong vội vã, nàng quên buộc tà áo sau vào ba ga, để vạt áo bay phất phơ trong gió, xa xa nàng quay đầu nhìn lại. – Uí cha, vui quá, vui quá. Hắn la lên với niềm sung sướng. – Mầy làm gì mà la om sòm vậy mầy, nỗi chứng gì nữa đây? Hạnh hỏi thế. – Không, không nỗi chứng gì hết. Hôm nay phụ sửa xe, anh phaỉ trả tiền công cho tui đó. – Trả cho mầy cái cù loi nề, bày đặt. – Cũng được, không cho tiền thì tui bán mấy caí mõ lết nầy kiếm tiền đi chơi! Hạnh chỉ nhìn hắn vơí nụ cươì. Hôm đó hắn thật vui. Hắn sửa xe mà mắt cứ ngó bên kia đường như tìm một cái gì. Hắn lẩm bẩm trong miệng: “Nga? Nga? mà sao nhỏ biết tên mình kìa? Thôi kệ, ngày mai thế nào cũng biết. Nhưng ngày mai, ngày mai đi đâu đây, nói gì đây.” Lần đầu tiên người con gái hẹn đi chơi vơí hắn. Hắn thấy ở mọi người con gái đều có một cái gì đó mong manh, nguy hiểm mà những gì trên thân thể của họ đều là những điểm bất khả xâm phạm. Hắn nhớ cách đây không lâu, trong một buổi song đấu giao hữu với một nữ võ sinh ở võ đường Odohwan. Ngươì võ sinh ấy tấn công hắn tới tấp, không phải hắn dở đâu, nhưng tấn công lại chỗ nào đây? Hắn không tìm thấy một nơi nào trên người con gái kia có thể tấn công được. Vậy là hắn cứ chạy lòng vòng đỡ đòn cho hết giờ. Nhưng đối thủ dữ quá, cứ bám sát vào hắn tấn công tới tấp. Hắn liền đưa tay đẩy nàng ra, không ngờ bàn tay hắn chạm vào một chỗ, thấy mềm nhủn, hắn vội rút tay về. Hắn ngượng quá và mặt đỏ gay như gã say rượu. Ðối thủ hắn cũng thế, mắc cở và giận lắm. Hắn đứng xui tay và định nói xin lỗi, nhưng không kịp nữa, nàng liền tung chân đưa một vòng vào vai hắn, đau nhói, hắn lảo đảo thì có tiếng vỗ tay chấm dứt trận đấu. Hắn thoát nạn. Hôm sau hắn phụ mở cửa tiệm với Hạnh xong hắn đèo mấy cuốn sách lên ba ga, phóng xe chạy lên bùng binh Tân Thuận. Hắn đứng nhìn láo liên một hồi thì chiếc xe đó, tà áo trắng đó, và người con gái ngày hôm qua bổng hiện ra. – Anh đến đây sớm quá hén. – À, mà bây giờ đi đâu đây? – Thì cứ đi đi, em đứng đây lâu quá ba em mà thấy thì chết em đó. Thế là hắn đạp xe đi bên cạnh, vừa đi vừa nhìn qua nàng. Đi qua khỏi đường Trịnh Minh Thế hắn quẹo mặt ra bến Bạch Ðằng xong hắn bắt vào Hai Bà Trưng rồi đổ vào đại lộ Thống Nhất. Ðến cuối đường Thông Nhất hắn thấy những tà áo xanh lơ ôm cặp đi trên đường. Hắn dừng xe lại: – Nga biết mấy nhỏ nầy đi đâu hông, vào trường Trưng Vương đó. – Nga biết rồi. Hôm nay anh và Nga vào trường nầy học lớp động vật nha. – Ðược, vào đây mình học nghề đám con cháu của Tề Thiên chơi. Hôm đó hắn cúp cua đi chơi với người đẹp suốt ngày trong sở thú. – Em mỏi chân rồi, anh kiếm chỗ nào ngồi đi nha. – Mình đến gốc cây kia ngồi cho mát nhe. – Ừa, đi. – Mà sao Nga biết tên anh? – Hỏi làm gì, miễn sao em biết là được rồi. Mà em biết năm nay anh học lớp mấy nữa kià. – Lớp mấy? Hắn hỏi. – Ðệ Nhị, phải hông? Nhưng mà anh học ban gì vậy? – Nhị B. – À! thì ra anh sắp là Ðệ Nhất toán đó hả. – Em biết đùa quá hả, còn em, lớp mấy? – Ðệ Tam. – Ðệ Tam mà biết yêu rồi! em giỏi quá hén. – Bộ anh chưa nghe bài thơ Ði Chùa Hương hả? Mấy ông học toán của anh dở ẹt. Thôi để em ngủ một chút nha. Nàng ghé đầu tựa lên đùi hắn, mắt lim dim mơ màng. Lần đầu tiên một người con gái tựa người hắn ngủ, hắn thấy hạnh phúc vô cùng. Hắn nhìn nàng say đắm. Nàng có đôi môi đỏ mộng và khuôn mặt sáng ngời. Bây giờ hắn mới biết tình yêu là như thế, nó đến bao giờ không hay. Nó đến quá vội vàng và thật ngây thơ. Hắn lấy chiếc áo choàng đắp lên nàng, và rồi hắn cũng muốn thám hiểm một lần cho biết, hắn cuối xuống hôn nhẹ lên vần trán của nàng. – Úi chà, anh bắt chước mấy con khỉ kia hồi nào mà giỏi vậy. Thế rồi nàng bá lấy cổ hắn. Hắn lấy điếu thuốc ra đốt. – Anh hút thuốc hạ. – Ừ, anh hút thuốc. – Thuốc gì vậy, cho em xem đi. – Thuốc Capstan, mà em xem làm gì? con gái đâu có hút thuốc. – Anh biết Capstan là gì hông? – Là gì? Nàng ghé tai hắn nói những lời thì thầm nho nhỏ. – Nhột quá. Ai bầy em vậy, thiệt hết biết em luôn. – Em nghe anh em nói, kể anh nghe chơi cho vui mà. – Thôi, chiều rồi mình về nhé. Rồi từ đó thỉnh thoảng hắn cúp cua đi chơi với Nga. Tình cảm càng ngày càng sâu đậm. Những buổi chiều Nga thường mang sách vở ghé nhà nhờ hắn chỉ bài. Nhưng nàng có học được gì đâu! Năm ấy mùa hè đỏ lửa, chiến trường sôi động khắp nơi. Ngày nào ra- đi- dô cũng loan tin quân ta chiến đấu anh dũng, đã đẩy lui quân địch ra khỏi nơi nầy nơi nọ. Ðịch quân đã bỏ lại bao nhiêu xác chết ở chiến trường và quân ta tịch thu được nhiều súng ống, cùng quân trang quân dụng, vân vân và vân vân… Người anh lớn của hắn gia nhập Dân Vệ nay đã giãi ngủ, hắn còn một người anh đang là sĩ quan tác chiến ở vùng I. Ở nhà bây giờ chỉ còn có hắn và Hạnh là lớn. Mấy đứa em của hắn còn nhỏ lắm, cũng đang cắp sách đến trường. Quê của hắn ở miền Trung. Từ mùa xuân năm đó, khói lửa chiến tranh đã đốt rụi quê hương của hắn, và cũng từ mùa xuân năm đó hắn rời khỏi quê hương. Có những đêm ngồi học bài bên song cửa, nghe tiếng hát từ cái ra- đi- dô nhà bên cạnh: “Quê nó ngoài kia, từ lâu lắm chưa được về…” tự nhiên hắn thấy buồn và nhớ quê hương, những thằng bạn cũ. Thời đó có mãnh bằng Tú Tài toàn phần là ngon lắm, nếu vào quân đội hắn sẽ được vào trường sĩ quan như Thủ Ðức hoặc võ bị Ðà Lạt. Những ngày nghĩ phép hay những ngày cuối tuần hắn sẽ mặc bộ đồ sĩ quan về thăm nhà, và đưa người yêu đi dạo phố. Nhìn màu sắc của bộ đồ sĩ quan hắn thích lắm, nhất là những khi đến đón người yêu trước cổng trường, nắm tay nàng đi dạo dưới những hàng cây me. Chỉ có vậy thôi mà hắn quyết chí học. Cái xã hội ngày đó chỉ cho hắn cơ hội một lần thôi, nếu kỳ thi đến mà hắn rớt thì coi như đời hắn tàn rồi, bao nhiêu ước mơ của hắn chỉ trông vào kỳ thi Tú Tài đó. Nếu rớt Tú Tài thì hắn chỉ có cái cánh gà đeo tòn ten trên vai, buồn lắm. Những buổi chiều sau khi ăn cơm tối, hắn lại trở vô căn nhà nhỏ Me hắn dành cho hắn ở học. Bây giờ căn nhà nhỏ đó lại thường xuất hiện bóng dáng Nga bên cạnh hắn. Nga rất xinh và vui tính lắm, những lúc bên cạnh Nga hắn cũng thấy đời mình thêm hương vị, cái thứ hương vị của tình yêu tuổi học trò. Nga thưong yêu hắn nhiều lắm, nhưng không vì thế mà hắn vượt cái giới hạn của ngàn xưa để lại. Nga rất nhũng nhẽo, hắn đã thương yêu Nga từ ngày đó và thường chiều chuộng Nga. Hôm nay Nga đến học và Nga hỏi hắn: – Quỹ Tích những điểm cách đều một đường thẳng một đoạn R là gì hở anh? – Là hai đường thẳng song song cách nhau Rờ đó. – Không, em không chịu đâu. Hai đường thẳng song song làm sao gặp nhau được. – Gặp nhau ở vô cực. – Gặp nhau ở vô cực thì chết em rồi. Vậy em hỏi anh: Quỹ Tích những điểm cách đều một điểm sát rạt nhau, như một centimet, là gì? – Là một vòng tròn có bán kính một centimet. – À! hay quá, em làm Quỹ Tích đó của anh nha. – Vậy thì thôi, anh làm cái túi đi đâu mang em theo đó cho xong hả! – Hổng được đâu, hổng biết, bắt đền anh đó. – Lại bắt đền nữa. – Ừa, anh dẫn em đi ăn kem đi. Không thì em khóc cho mà coi. – Thôi thôi, được rồi, anh sợ nước mắt con gái lắm. Sau nầy hắn không còn ra phụ Hạnh sửa xe nữa. Hắn được một người bạn giới thiệu một chỗ dạy kèm dưới Nhà Bè. Mỗi tuần ba buổi hắn đạp xe đạp xuống Phú Xuân, Nhà Bè để dạy kèm cho mươi đứa học trò. Chiếc xe đạp cọc cạch của hắn rất độc đáo: không vè, không thắng, cái sườn đồng dông. Những ngày mưa đổ thì thôi, quần áo hắn trước sau đều có hai lằn sình không là sình. Mỗi lần muốn thắng nó lại là hắn đưa cái chân ép vào cái phuộc trước, rè rè, vậy là chiếc xe đứng lại. Nhưng không phải lúc nào nó cũng đứng lại như ý hắn muốn đâu. Hôm đó hắn gặp xúi quảy, hay gặp đàn bà gì đây! Hắn thả dốc chạy từ trên cầu Tân Thuận xuống, khi đến chân cầu thì mấy ông cảnh sát ra đường thổi tô húyt chận hắn lại xét giấy. Hắn rà bàn chân vô cặp phuộc trước, rè rè, nhưng trể rồi, hắn đâm vào viên cảnh sát! – Cháu xin lỗi chú, cái thắng xe cháu bị hư. Viên cảnh sát nhìn hắn: – Xe cậu có thắng đâu mà hư. Cậu vô đây. Hắn dắt xe dựng bên lề và theo viên cảnh sát. – Giấy khai sinh cậu đâu, đưa đây coi. Hắn lính qúynh lục lọi trong cái bóp tìm giấy khai sinh, không ngờ một tấm hình rớt xuống đất. Hắn chưa kịp lượm lên thì viên cảnh sát đã nhặt tấm hình. – Từ đâu cậu có tấm hình nầy? – Dạ, người bạn cháu tặng. Viên cảnh sát xem khai sinh của hắn một hồi xong nói: – Cậu lớn thế nầy mà chỉ có mười bảy tuổi sao? – Dạ, cháu mười bảy tuổi. – Cậu lên xe kia đi. Viên cảnh sát giữ khai sinh của hắn và tấm hình. Hắn trèo lên chiếc xe Jeep mà lòng ngỗn ngang trăm mối, không biết tại sao mình bị bắt về bót. Thế rồi người ta ép cho hắn cái tội dùng khai sinh giả và đưa hắn lên trung tâm huấn luyện Quang Trung. Ba tháng sau, trong ngày làm lể mãn khoá, người ta gắn trên vai hắn hai cái cánh gà. Hết rồi, giấc mơ được mặc bộ đồ sĩ quan về đón em trước cổng trường và đi dưới hàng cây me, bây giờ hết rồi! Ngày mãn khoá hắn về thăm gia đình trước khi lên đường ra tiền đồn, tình cờ hắn gặp lại Nga trước cửa tiệm sửa xe của anh hắn. Nga chụp ôm hắn và khóc nức nỡ: – Em xin lỗi anh, Ba em đã bắt lầm anh rồi! – Sao em biết? – Một hôm tình cờ em thấy tấm hình em tặng cho anh nằm trong bóp Ba em, em hỏi thì Ba em nói lấy lại từ một người con trai. Em biết đó là anh. Những đêm ngồi gác ở tiền đồn, hắn đốt điếu thuốc Capstan mà nhớ lại có lần Nga nói: “Capstan: Chiếc Áo Phong Sương Tặng Ấm Nàng.” Không biết giờ nầy Nga đang làm gì? Khói thuốc tan dần trong màn đêm.
8. Tiếng Kinh Cầu Câu chuyện thật được viết qua lời kể của một người.
Một buổi chiều mưa gió, người đàn bà đi thoăn thoắt bên lề đường để trở về với hai đứa con đang đợi chờ trong mái ấm gia đình. Dưới cơn mưa đầu mùa, người đàn bà băng qua đường để vào con hẻm nhỏ, nhưng đã trễ, chiếc xe hàng khổng lồ đang lao mình đến. Tiếng la thất thanh cất lên rồi chìm hẳn trong tiếng mưa. Người ta thấy một thân hình nằm co bên lề đường. Tai nạn! tai nạn đã cướp đi mạng sống của người đàn bà xấu số trên đường đi làm kiếm tiền về nuôi con. Thế là hết, người ta thương tiếc cho một linh hồn vừa rời khỏi xác. Trong tai nạn, hảng xe lo chôn cất người đàn bà và bồi thường 25 triệu đồng tiền án mạng. Người đàn ba ra đi để lại hai đứa con, đứa gái sáu tuổi và đứa trai hai tuổi cho người chồng nghiện rượu. Một tháng sau. – Sáu, con nghe đây, ngôi nhà này má cho vợ con, nay vợ con qua đời má muốn lấy lại, con nghĩ sao? – Má lấy lại rồi ba cha con con ở đâu? – Con để 25 triệu lại má sẽ lo nuôi dưỡng hai đứa cháu, còn căn nhà này má sẽ bán đi. – Rồi con ở đâu? – Con là đàn ông, một mình sống đâu không được, con đâu phải lo nuôi hai đứa nhỏ mà sợ. – Má muốn đuổi con sao! – Má không nói như vậy, chính con nói đó. Người đàn ông đăm chiêu, nhìn cảnh đời rồi nói: – Tiền án mạng của vợ tui đây, bà giữ 20 triệu để lo cho hai đứa nhỏ dùm, còn lại 5 triệu tui mang theo hộ thân. Thế rồi người đàn ông nghiện rượu âm thầm ra đi, bỏ lại hai đứa con thơ. Gia đình cha mẹ đã qua đời trong thời loạn lạc, người đàn ông chỉ còn lại hai anh em nhưng người em nghèo rớt mồng tơi. Ngoài ra chỉ còn mấy người cô và bà con thân thuộc. Cuộc đời của gã là những ngày say vùi. Trong cảnh đời trơ trụi, hai đứa bé lớn lên bên nhà ngoại được bốn tháng, khi số tiền đền án mạng đã đến ngày khô cạn thì bà ngoại lại kêu người đàn ông nghiện rượu về: – Tao thấy trách nhiệm nuôi hai đứa nhỏ là của mầy đó. – Nhưng mà tui đã để lại 20 triệu cho má nuôi hai đứa nhỏ kia mà? – 20 triệu làm sao đủ, đã tiêu xài hết rồi. – Bốn tháng hai đứa nhỏ làm sao tiêu xài hết 20 triệu? – Nhưng mà tao nói hết là hết. – Vậy bây giờ má tính sao? – Thì mầy phải đóng tiền nuôi con chớ tính sao bây giờ. – Tui có tiền đâu mà đóng cho má. Một gã say rượu làm gì ra tiền mà nuôi con! Nhưng rồi người đàn ông nghiện rượu cũng tìm đến những người cô và anh em bà con để nhờ vã. Lá lành đùm lá rách, anh em bà con hùn tiền nhau nuôi hai đứa nhỏ. Đứa lớn theo cha sống nay đây mai đó và đứa nhỏ hai tuổi về ở với bà cô. Nhưng rồi cuộc đời cũng không trôi chảy êm xuôi, bà cô già nua không còn sức lực để lo cho đứa bé. Rồi một hôm những bà cô ngồi bàn với nhau, họ đồng ý đem đứa bé hai tuổi trao cho chùa. Nhìn đứa bé trai khôi ngô tuấn tú, khuôn mặt hiền như bụt nhưng đượm một nét buồn sâu kín. Cuộc đời của em chắc là không sinh ra dưới vì sao sáng. Ngày nọ bà cô dẫn đứa bé lên xe về Thủ Đức tìm ngôi chùa do người giới thiệu. Trời đã về chiều, hai bà cháu trên đường cát bụi tìm người hỏi hang. Bà cô gặp một vị sư bên đường, bèn hỏi: – Thầy chỉ dùm tôi ngôi chùa lớn ở vùng này. – Bà tìm đến chùa lớn làm gì giờ này? – Tui muốn tìm đến chùa để cho đứa bé này. – Ồ! Tốt quá, tui đang cần một đứa bé đây, bà cho tui đi. Bà cô nhìn người sư bên đường rồi phân vân. – Không được đâu, để tui đi tìm ngôi chùa kia. Rồi bà dẫn đứa bé tiếp tục đi. Trời đã về chiều, bà cô lủi thủi dẫn đứa bé mà không biết mình đi về đâu. Thỉnh thoảng quay đầu lại thì thấy vị sư kia vẫn còn đứng ngó theo. Bà tiếp tục đi một quảng đường, nhìn lại vẫn thấy nhà sư quay đầu nhìn bà và đứa bé. Ánh sáng bang chiều càng lúc càng dịu dần mà đường đến chùa thì dài hun hút, lòng bà cũng băn khoăn. Nhìn tương lai mù mịt của đứa bé bà đành ngoắt tay gọi nhà sư bên đường và đồng ý trao đứa bé cho nhà sư. Như mừng được của quý, vị sư ân cần mời bà theo về nhà. Ngôi nhà nằm bên trong hẻm. Người sư già nói rằng ngày xưa sư tu ở chùa lớn, sau này ông về lại nhà và biến ngôi nhà thành ngôi chùa nhỏ. Hằng ngày người sư có năm sáu tín đồ theo tu trong nhà. Câu chuyện ngừng lại khi chén trà vừa cạn. Bà cô nhìn đứa bé ái ngại với lòng thương xót. Bà chào vi sư rồi quay qua đứa bé: – Thôi con về với bà. – Không, con không về đâu, con ở lại với chùa này. Đứa bé lể phép đáp. Bà cố ý nói như thế để xem phản ứng đứa bé ra sao. Nhưng sao lạ, bà không cho đứa bé biết ý định bà đem nó cho chùa mà sao giờ nó lại không chịu ra về! Bà cô nhìn đứa bé và hỏi lần nữa, nó vẫn nhất định ở lại chùa! Trời đã xẩm tối, bà cô chào vị sư, gởi gắm đứa bé, bà ẳm nó lên đặt một nụ hôn lên má rồi bà ra về. Kẻ tu hành không ăn thịt và ngôi chùa này cũng vậy, họ ăn chay trường. Nhà sư nhìn đứa bé ốm yếu, ăn chay trường làm sao nó lớn được. Trong lòng vị sư thấy thương xót nên dặn nhỏ một chú tiểu: – Con hãy ra chợ mua ít thịt cá về cho thầy. – Nhưng chùa ăn chay trường mà thầy. – Hãy cho đứa bé ăn thịt cá một thời gian cho nó đủ sức lớn rồi hãy cho nó ăn chay con. Một hôm vị sư trù trì chùa gọi đứa bé và hỏi: – Mẹ con đâu? – Mẹ con bị xe đụng chết rồi, thưa thầy. – Còn ba con? – Ba con uống rượu say cũng chết luôn rồi. Có lẽ sự bất hạnh cuộc đời đã hằn sâu trong tâm tư đứa bé, nên nó giận đời mà khai tử ba nó luôn cho đở tuổi thân, chớ ba nó vẫn còn sống đó chứ! Mấy năm sau này người đàn ông nghiện rượu vẫn sống cuộc đời rày đây mai đó. Và đứa con gái lớn lên, gã cho đi ở đợ lấy tiền uống rượu. Thời gian trôi qua, thỉnh thoảng bà cô già nua đến chùa cúng Phật và thăm đứa bé. Những ngày đầu thấy bà cô đến thăm nó sợ đến mang về nên nó thường trốn trong phòng. Hôm nay, đứa bé đã được sáu tuổi. Người bác họ từ phương xa về Sài Gòn thăm chơi, tìm đến ngôi chùa thăm đứa bé. Bà cô đưa người bác đến chùa. Đứa bé nay được đi học, về đến nhà bà cô bảo: – Con thay quần áo đi rồi ra đây chào bác Hạnh. Đứa bé ngoan ngoãn làm theo lời, rồi bà cô bảo: – Con đọc kinh cho bác Hạnh nghe đi. Đứa bé chấp tay trước ngực và đọc làu làu kinh Phật bằng tiếng Phạn trước sự bở ngỡ của người bác. Người bác họ tự nhủ: “Cầm sách kinh tiếng Phạn để trước mặt đọc đã khó rồi, mà sao đứa bé sáu tuổi này có thể đọc thuộc lòng cả cuốn kinh bằng tiếng Phạn!” Người bác họ nhìn khuôn mặt hiền hòa và sáng sủa của đứa bé mà lòng chùn lại với cảm giác lành lạnh như đang đứng trước một vị cao tăng đắc đạo. Bà cô thử lòng đứa bé bằng cách bảo nó đi theo người bác họ qua Mỹ để đi học và sẽ được ăn no mặc đẹp, nhưng nó đã từ chối và nói rằng: “Con không đi đâu, nay con có cha và mẹ rồi.” Nó chỉ nhà sư và nói: “Đây là thầy con mà cũng là cha và mẹ của con.” Bây giờ nó không còn giận cha nó nữa. Mỗi lần người đàn ông nghiện rượu đến thăm nó vẫn ra mừng rỡ. Khi người đàn ông nghiện rượu ra về, đứa bé trở vào phòng, và trong tiếng gió người đàn ông nghe thoáng bên tai: Tiếng kinh cầu.
Tôi không phải là người Phú Yên, cũng chẳng có mối tình nào gởi lại Tuy Hòa, nhưng dường như cái xứ có núi Nhạn sông Đà thơ mộng ấy đã mãi vương vấn tâm hồn tôi, in đậm trong ký ức tôi những mối tình đẹp, thật dễ thương của đám bạn bè, đồng đội, cùng bao kỷ niệm vui buồn một thời trận mạc. Khi ấy bọn tôi còn rất trẻ, đa số vừa mới rời khỏi học đường vài ba năm để bước chân vào nơi gió cát.
Ngày mang “sự vụ lệnh” về trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi và bốn thằng bạn cùng khóa cứ ngỡ cuộc đời mình sẽ dính liền với rừng núi của xứ “bụi mù trời” và “buồn muôn thuở”, chỉ còn biết nằm nghe tiếng chim kêu vượn hú. Ai ngờ sau hai tuần lang thang quanh quẩn trong con phố buồn hiu, ngắm mấy cô gái Thượng mang gùi đi xuống đi lên trên con đường A Ma Trang Long bám đầy đất đỏ, bọn tôi được ông Trưởng phòng 1 lái xe đi tìm chở về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, vội vàng lấy balô quân trang, rồi đưa thẳng ra phi trường Phụng Dực, tháp tùng phi cơ của ông tư lệnh, đại tá Lữ Lan, bay xuống đơn vị đang hành quân tại Khánh Hòa, ngay vùng biển quê hương tôi.
Đơn vị tôi lúc ấy, chắc cũng thuộc loại đánh đấm có hạng nên được chọn làm lực lượng lưu động trừ bị cho Quân Đoàn. Nay đây mai đó. Trước khi di chuyển đến đây, đã có mặt khắp nơi: từ Bình Tuy, Bình Thuận, Ninh Thuận, đến Lâm Đồng, Quảng Đức…
Khi đến đơn vị, tôi rất vui. Vì ngoại trừ ông tiểu đoàn trưởng, hầu hết tất cả sĩ quan trong đơn vị đều trẻ măng, độc thân vui tính, anh nào “đàn anh” nhất cũng chỉ vừa rời ghế nhà trường năm ba năm. Ba anh trung úy đại đội trưởng đều dạn dày lửa đạn. Một anh tốt nghiệp khóa 16 VB Đà Lạt, hai anh khóa 13 Thủ Đức, một gốc Huế một gốc Bắc Kỳ di cư. Nhưng anh nào cũng đánh đấm rất gan lì và vui vẻ chịu chơi. Tôi được bổ nhậm về đại đội của anh trung úy gốc Huế nhưng lại thân thiết với anh trung úy gốc Bắc Kỳ, vì ngoài các đức tính khác anh còn có nụ cười và ánh mắt dễ làm “chết người ta”. Không biết có bao nhiêu “hồn (đã) lỡ sa vào đôi mắt…anh” rồi, nhưng tôi là thằng lính ngang tàng mà cũng phải lụy anh trong cái tình huynh đệ. Sau này và cho mãi đến bây giờ, chúng tôi vẫn còn giữ cái tình “anh em tri kỷ” ấy. Đám trung đội trưởng tò te, ngoài tôi ra còn có bốn thằng cùng khóa 18 Thủ Đức với tôi, vài ba anh khóa 15, 17 và hai chàng khóa 19 VB Đà Lạt đầy phong độ, cũng vừa mới ra trường năm ba tháng trước. Tôi nhận trung đội với chỉ 25 thằng lính, nửa Kinh nửa Thượng. Ngay sau khi nhận trách nhiệm, công việc đầu tiên của tôi là dắt đám lính tráng vào QYV Nguyễn Huệ để dự đám tang, chào tiễn đưa ông Thượng sĩ già, trung đội trưởng tiền nhiệm ra nghĩa trang Đồng Đế. Ông vừa tử trận vài ngày trước đó trong một trận phản phục kích tại Tu Bông (Vạn Giã) và tôi đến trung đội để thay thế ông. Nhìn bà vợ và mấy đứa con của ông kêu gào, khóc la thảm thiết, tôi hình dung ra con đường thê lương trước mặt, và tự trấn an mình: mai này mình chết, may ra cũng không có tiếng quả phụ và trẻ thơ khóc lóc!
Thời ấy, nhờ ảnh hưởng kết quả của kế hoạch Ấp Chiến Lược còn sót lại, nên tình hình địch ở mọi nơi còn rất yếu, hầu hết là các lực lượng du kích và địa phương, nên bị tiểu đoàn chủ lực lưu động thiện chiến của tôi đánh cho tan tác. Do vậy chúng tôi đến đâu, cũng được các ông tỉnh trưởng đón tiếp nồng hậu. Sau hơn ba tháng theo đơn vị tiếp tục hành quân qua nhiều làng mạc, rừng núi và dẫm nát những mật khu Đồng Bò, Đá Bàn, Hòn Hèo của địch, đơn vị kéo về trú đóng trong một vườn dương bên bờ biển Nha Trang. Đám sĩ quan bọn tôi được ông tỉnh trưởng ưu ái dành cho bốn phòng trong khách sạn Phụng Hoàng, nằm trước ga xe lửa. Mệt và mất ngủ vì vừa trải qua cuộc phục kích đêm hôm trước, nên sau khi tắm rửa xong, tôi ngủ vùi một giấc. Thức dậy, nhìn ra ngoài, ánh đèn đường đã bắt đầu sáng. Mở ba lô tìm bộ quân phục mới để thay bộ quần áo trận còn dính đầy bùn lầy, cho hợp với khung cảnh phố phường. Dự định đi một vòng tìm lại những hang động tuổi thơ cùng dấu tích mấy mối tình học trò của vài năm trước, tôi bỗng nghe tiếng ông tiểu đoàn trưởng gọi tất cả bọn tôi lên xe trở về đơn vị, điểm danh sắp xếp lính tráng lên tàu Hải quân, đã ủi bãi ngay phía trước TTHL Hải Quân.
Ra khơi lúc 11 giờ đêm. Qua hơn một đêm lênh đênh trên biển, tàu cặp vào bến của Duyện Đoàn 24 HQ bên bờ biển Tuy Hòa. Trong số những người ra đón đơn vị chúng tôi, ngoài ông tỉnh trưởng- trung tá Trần Văn Hai, anh trung úy Duyên Đoàn Trưởng HQ, tôi còn bất ngờ nhận ra ông anh con bà cô, trung úy thuộc Tiểu Đoàn 23 BĐQ đang hành quân trú đóng ở đây. Từ khi anh vào quân đội, bao nhiêu năm anh em không gặp, bất ngờ lại nhận ra nhau ở một nơi xa lạ, vui mừng quá đỗi. Anh em vừa mới ôm nhau, hỏi han vài câu, thì đơn vị nhận lệnh lên xe di chuyển. Ông anh kéo tôi và mấy sĩ quan cùng đại đôi lên xe Jeep của anh chạy theo đơn vị. Về khu Nhà Bằng, vị trí đóng quân tạm, sắp xếp đơn vị xong, bọn tôi theo anh ra phố. “Moa đãi các toa một chầu để biết mặt Tuy Hòa – xứ nẫu”. Anh bảo thế trước khi lái xe đi.
Tôi bỗng giật mình khi nghe “xứ nẫu”. Cái tên “Nam Ngãi Bình Phú” và “Liên Khu Năm” vẫn còn hằn trong tâm trí tôi từ lúc mới lên năm, bởi cha tôi bị Việt Minh bắt đưa ra đây hơn ba năm khi ông là thầy giáo đang dạy trường Pháp Việt, và mẹ tôi qua đời trước đó hai năm. Kể từ ấy tôi sống với ông bà nội, thiếu vắng cả cái tình phụ mẫu.
Có lẽ đã phải trải qua những năm dài chiến tranh, nên phố xá Tuy Hòa ngày ấy còn “hoang sơ” lắm. Ngoài văn phòng Air Vietnam hai tầng và khu chợ mới xây dang dở, hầu hết là nhà cũ. Ông anh chở bọn tôi đến một cái quán nằm bên cây cầu, trên đường hướng ra Quốc Lộ 1. Tôi không còn nhớ tên, nhưng quán này nổi tiếng về món cá lóc nướng, và đặc biệt có mấy o Huế rất xinh. Để tránh tình trạng “tấn công nhầm mục tiêu”, ông anh tôi cho biết:
– Tuy Hòa có hai quán ăn nổi tiếng, đều có hai cô chủ “hoa khôi” gốc Huế, nhưng một quán đã có ông quan năm trung đoàn trưởng đóng đô, còn quán này là sào huyệt của ông chi đoàn trưởng Thiết Giáp có tiếng hào hoa.
Nhìn mặt thằng nào cũng buồn xo, ông anh tôi cười, an ủi:
-Yên chí đi! Tuy Hòa còn thiếu gì cô bé dễ thương. Trường trung học Nguyễn Huệ có biết bao cánh hoa biết nói, và mai mốt khi các toa ra vùng hành quân, sẽ có khối cậu chết mê chết mệt vì mấy cô gái quê! Bọn lính trong đơn vị moa thường kháo nhau: “Phú Yên đến dễ khó về” đấy!
Thấy trong đám bọn tôi có hai chàng khóa 19VB, ông anh cho tài xế chạy về đơn vị đón một anh cùng khóa 19 ra gặp bạn đồng môn. Hơn 20 phút sau, một thiếu úy BĐQ cao ráo đẹp trai đến nơi chạy vào tay bắt mặt mừng. Cái tình Võ Bị quả là thắm thiết. Anh được giới thiệu là ” Chương Classic” .Và để giải thích cái nick name của mình, anh mượn cây ghita của cô chủ quán, độc tấu mấy bản nhạc Tây cỗ điển. Ngón đàn của anh quả thật tuyệt vời!
Chỉ sau ba hôm ở thành phố, đơn vị tôi có lệnh di chuyển đi Hiếu Xương, đến đầu cầu Bàn Thạch để hành quân tái chiếm lại một vài nơi đã bị Cộng quân làm chủ tình hình. Ông tỉnh trưởng cũng đã cảnh báo đám sĩ quan trẻ chúng tôi:
-Ở vùng ấy nhiều gia đình có thân nhân theo VC, nên mấy chú phải cẩn thận, nhất là thấy mấy cô con gái đẹp đừng có vội nhào vô. Trước đây đã có một anh chàng sĩ quan đề lô Pháo Binh mết lòng con bé thợ may, hành quân xong cứ ra ngồi ngoài quán, cuối cùng không thấy trở về đơn vị nữa, mất tích luôn!
Đám lính trẻ bọn tôi “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên chỉ còn nhớ tới “mấy cô con gái đẹp” trong câu nói ấy của ông thôi.
Trung đội tôi được lệnh đóng quân giữ an ninh cầu Bàn Thạch và khu vực chung quanh. Cây cầu xi măng đúc đã bị VC giật mìn sập, nên vừa được Công Binh bắc cây cầu gỗ tạm. Cầu nằm gần chợ, và phía bên kia là vùng mất an ninh. Một tiểu đội của tôi nằm tiền đồn bên ấy. Ban chỉ huy trung đội và một tiểu đội bố trí ngay dưới gầm cầu.
Sắp xếp vị trí đóng quân và canh gác xong, đã gần 5 giờ chiều, tôi bảo mấy chú lính dọn cơm ăn, để tôi còn đi một vòng chợ tìm xem các cô gái có “đôi mắt người …Phú Yên” ra sao. Vừa mang mấy lon guigoz cơm ra, bốn thằng chúng tôi chưa kịp cầm đũa, thì một trái lựu đạn từ trên cầu rơi xuống. Một anh lính phát giác la lên, cả bọn kịp lăn mình qua bên kia tấm cầu đúc (bị sập xuống), nhưng trái lựu đạn không nổ! Chỉ năm phút sau, người ném lựu đạn bị toán lính của tôi bên kia cầu đuổi bắt. Đến nơi, tôi ngạc nhiên khi nhận ra, không phải một, mà là hai cô con gái quê, tuổi cỡ 14-15, một cô khá xinh, có đôi mắt đẹp. Cô bé này chính là người ngồi phía sau xe đạp, ném trái lựu đạn định giết tôi – chàng “lính trẻ hào hoa”, chỉ mới vài phút trước đây có ý định đi tìm… đôi mắt ấy. Đưa hai nữ “địch quân” đến trình diện ông tiểu đoàn trưởng. Thấy hai cô bé vừa run vừa khóc, mặt mày tái xanh, ông “tâm lý chiến”rất hay, vỗ vai hai cô bé, vừa cười vừa ôn tồn nói chuyện. Hai cô khai hết sự tình, nên được dẫn về giao cho gia đình, vừa “chiêu hồi” và cũng vừa cánh cáo, theo dõi họ. Một tuần sau, toán quân báo tiểu đoàn bắt được người đàn bà trong mũi công tác đã dụ dỗ hai cô bé làm giao liên và ném trái lựu đạn xuống cầu.
Chiều hôm sau, đơn vị có lệnh xuất phát cuộc hành quân bao vây và đánh chiếm kho vũ khí của địch tại Đa Ngư-Phú Lạc, nằm trên một khu núi đá sát biển, địa thế khó khăn hiểm trở và được phòng thủ rất kiên cố bằng nhiều ổ súng đại liên.Tin tức cho biết địch quân đã chiếm làng Thạch Tuân và khu vực Hảo Sơn hơn hai tuần nay. Bộ đội địa phương vừa tiếp nhận một số lượng lớn vũ khí từ miến Bắc chuyển vào khu núi Đa Ngư Phú Lạc bằng thuyền. Đơn vị tôi có trách nhiệm phải đánh chiếm kho vũ khí này và sau đó tảo thanh các khu vực địch trong vòng hai tuần để đưa một đơn vị Bảo An của Tiểu khu vào trấn giữ.
Đơn vị tôi được tăng cường Đại Đội 23 Thám Kích. Tất cả đều được trang bị mặt nạ chống hơi độc.Khởi hành từ tuyến xuất phát lúc 11 giờ trưa, mãi đến gần 3 giờ chiều chúng tôi mới đến khu vực mục tiêu, vì phải di chuyển qua những địa thế khó khăn hiểm trở để tránh bị phát hiện, gây yếu tố bất ngờ cho địch. Đại đội 3 của tôi đi dọc theo bờ biển đến phục dưới chân núi làm lực lượng án ngữ. Nỗ lực chính đánh chiếm mục tiêu là đại đội 23 Thám Kích và đại đội 2 của ông anh trung úy gốc Bắc kỳ. Không ngờ trận chiến lại khó khăn khốc liệt đến như thế, phải chia nhau từng nhóm nhỏ bò lên chiếm các hốc đá nằm bên ngoài căn cứ, bị địch phát hiện, cầm chân bằng đạn súng cối đủ loại và nhiều ổ súng đại liên. Vì đây là kho vũ khí, nên địch có đầy đủ các loại vũ khí và đạn dược. Cuối cùng phải nhờ đến phi yểm, mặc dù rất bất lợi vì trời chiều, sắp tối. Theo các trái sáng (cầm tay) được đồng loạt phóng lên đánh dấu vị trí bạn, cùng với sự hướng dẫn, chỉ điểm tài tình của anh phi công L19, hai phi tuần khu trục liên tiếp đánh bom rất chính xác xuống căn cứ địch, diệt các ổ súng đại liên, để lực lượng ta bám sát mục tiêu. Đại đội 23 TK và đại đội 2 của anh trung úy gốc Bắc Kỳ đánh đẹp một cuộc cận chiến, chiếm được căn cứ, một số tù binh bị bắt. Đại đôi 1 của anh trung úy Khóa 16VB kịp thời tăng cường bao vây và truy kích. Trận chiến kết thúc trước khi trời tối. Số chiến lợi phẩm thu được khá lớn, địch quân dự trù trang bị các loại vũ khí mới này cho các đơn vị thuộc Liên khu 5 của chúng. Tiểu đoàn kéo về Đông Tác dưỡng quân, được ông tướng tư lệnh Vùng và ông trung tá tỉnh trưởng đến thăm, mừng chiến thắng. Anh trung úy (nhiệm chức) gốc Bắc kỳ khóa 13 Thủ Đức được vinh thăng (điều chỉnh) trung úy thực thụ và tưởng thưởng anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Anh trung úy khóa 16VB được ngôi sao vàng. Nhiều sĩ quan và binh sĩ có công cũng được trao gắn huy chương.
Ba ngày sau, được tiếp tế lương thực và đạn dược, tiểu đoàn trở lại Thạch Tuân. Chiếm lại ngôi làng nghèo này rất dễ dàng, cả đơn vị tiếp tục tiến quân vào Hảo Sơn, Đá Bia. Một khu vực núi non hiểm trở. Địch quân đã chiếm ngự các cao điểm trọng yếu. Trung đội tôi có lệnh mở đường dọc theo thiết lộ, nằm sâu giữa hai vách núi, để chiếm một ngọn đồi, đặt đại liên yểm trợ cho đơn vị còn lại bung ra hai triền núi phía trước. Con đường độc đạo hoàn toàn bất lợi, nhưng không còn lối nào khác. Nhờ pháo binh bắn dọn mục tiêu, nên trung đội tôi dễ dàng chiếm lĩnh ngọn đồi, ngay sau khi một toán địch quân vừa bỏ chạy, không kịp mang theo nồi cơm đang nấu và mấy cái võng nilon còn cột chặt trên cây. Cả tiểu đoàn tiếp tục tiến quân hai bên triền núi. Trận chiến khá quyết liệt, vì địch quân đã có sẵn nhiều cái chốt trên các hốc đá nằm cao trên núi, bắn trung liên và ném lựu đạn xuống quân ta phía dưới. Trời đổ mưa như trút nước. Đại đội 1 của ông anh Khóa 16 VB là mũi tiến công chính. Dù ở thế hoàn toàn bất lợi, nhưng nhờ tài chỉ huy và điều quân gan dạ của chàng trai Đa Hiệu, cuối cùng cũng đã chiếm được mục tiêu. Địch quân tháo chạy, bỏ lại vài chục xác chết và trên mười khẩu súng. Bên ta, hai binh sĩ tử thương và vài người khác bị thương nhẹ. Trời tiếp tục mưa không dứt. Bóng tối đã bắt đầu phủ kín khu vực hành quân. Có lẽ lo ngại địa thế bất lợi cho một cuộc đóng quân đêm và địch quân có thể được tăng cường phản kích, nên cả đơn vị có lệnh khẩn cấp rút quân ra. Riêng trung đội của tôi phải nằm lại để yểm trợ và đề phòng địch quân tập hậu. Khi được lệnh rút ra sau cùng, tôi xin pháo binh bắn chặn, để trung đội chia làm hai cánh yểm trợ nhau rút nhanh ra. Tôi đi theo cánh quân có lộ trình nguy hiểm hơn: theo con đường sắt. Nép sát vào vách núi, di chuyển rất nhanh, nhưng chỉ năm phút sau thì nhiều loạt đạn từ trên triền núi bắn xuống. Đạn địch xối xả xuống đường xe lửa, chát chúa ngay sát dưới chân tôi, tóe lên nhiều đóm lửa. Có cả đạn súng cối. Tôi nghe vài tiếng la đau đớn. Anh trung sĩ và một người lính đi sau lưng tôi trúng đạn. Anh trung sĩ bị bắn vào chân, còn anh lính kia bị thương nặng ở vùng bụng, ruột đổ ra ngoài. Cho người băng vội vết thương bằng các băng cá nhân, tôi vừa gọi xin tiếp ứng vừa xin pháo binh bắn cản hậu, rồi cõng anh lính bị thương rất nặng chạy nhanh ra khỏi vùng nguy hiểm. Người tôi ướt đẫm cả máu, nước mưa, và có thể có cả nước mắt (cho người thương binh -không có chút hy vọng sống- của mình).
Trên đường trở lại làng Thạch Tuân đóng quân đêm, cả tiểu đoàn dàn hàng ngang lội bì bõm dưới những đám ruộng ngập đầy nước. Du kích trong làng lại bắn ra. Chúng tôi bám theo các bờ ruộng xâm nhập vào làng, nhanh chóng bao vây tứ phía, cả toán du kích không chạy kịp bị chúng tôi bắt. Xe tải thương không thể nào đến được vì không có an ninh lộ trình. Tối hôm ấy, anh lính bị trọng thương của tôi, vốn là một tân binh quân dịch, quê tận Gò Công, đã trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi, sau khi giao cho tôi cái bóp có hai tháng tiền lương và thì thào lời trối trăn đứt đoạn, nhờ tôi chuyển lại cho vợ và đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuồi mà anh chỉ mới về phép thăm cháu một lần. Đó là người lính đầu tiên dưới quyền đã chết, trên tay tôi. Anh có cái tên rất dân dã mà tôi không bao giờ quên được: Nguyễn văn Tý. Trùng tên với một nhạc sĩ tài hoa và khí khái mà sau này tôi mới biết.
Mục tiêu các cuộc hành quân đã hoàn tất, tiểu đoàn chúng tôi được lệnh về đóng quân dọc theo Quốc lộ 1, từ ngã ba Phú Lâm đến hết Bàn Nham, Bàn Thạch. Trung đội tôi lại nhận lãnh cái cầu (gãy) Bàn Thạch, nơi mà tôi được cô gái Phú Yên đón chào bằng một trái lựu đạn nội hóa. Cứ vài ba hôm chúng tôi lại tổ chức các cuộc hành quân (có khi luân phiên từng đại đội có khi cả tiểu đoàn) ở Hòa Xuân, Hòa Thịnh, Sơn Thành, hay ra tận Ngân Sơn (Tuy An), Hiệp Mỹ, Tuyết Diêm, Hòa Phú, phía dưới đèo Cù Mông (Sông Cầu), giáp ranh Bình Định. Chấm dứt hành quân lại trở về “cứ điểm” Bàn Thạch. Lúc này con đường từ Bàn Thạch ra phố Tuy Hòa đã tương đối an ninh, nên những ngày không bận hành quân, bọn tôi được phép thay phiên nhau xuống phố Tuy Hòa. Cũng có những đón đưa trước cỗng trường Nguyễn Huệ, Bồ Đề. Cũng có những hẹn hò ngoài bãi dương, quán nước.Trong đám bọn tôi cũng vài thằng có những cuộc tình chợt đến chợt đi. Thì ra các cô gái Tuy Hòa trông dễ thương mà thương thì không dễ lắm. Lúc ấy, tuổi trẻ bọn tôi còn cao ngạo: “mấy thằng lính ngang tàng này thì dễ gì mà chết trong mắt em”!, nhưng khi cô đơn lại tự an ủi mình: “đời lính tráng như vậy mà vui, không nợ nần, không làm khổ một ai, vợ con làm gì cho vướng chân vướng cẳng!”, tránh cái cảnh như một ông nhà thơ sau này đã thốt lên lời bi thảm “anh trở về dang dở đời em”! Hồi còn trong lính, tôi ghét cay ghét đắng bài thơ được phổ nhạc này. Đám lính tráng về phép mà nghe được đôi lần, chắc nhiều thằng không muốn trở về đơn vị nữa. Nhưng bây giờ ngồi nghiệm lại, tôi thấy đúng, cho dù có chút đắng cay. Lính bị thương tàn phế, hay là lính bị đày ải trong tù “cải tạo” ngày trở về ít nhiều gì cũng đã làm dang dở đời em.
Dù vậy, trong đám bọn tôi cũng có ba chàng phá luật chơi. Một thằng, cùng khóa với tôi, yêu một cô bé học mới lớp đệ lục, nhà ở cạnh chợ Tuy Hòa, một tiệm bán đồ gỗ nhỏ. Bọn tôi cứ nhạo nó là “dụ dỗ gái vị thành niên” và “tiền lương của mày không đủ để mua gạo thúc cho nó lớn”! Vậy mà cuộc tình cũng gắn bó hơn một năm. Ngày đơn vị tôi từ giã Tuy Hòa, cô con gái ấy đã tốn khá nhiều nước mắt. Sau này dường như cô bé trở thành cô giáo, lấy chồng là một đồng nghiệp tốt nghiệp Sư Phạm Qui Nhơn. Thằng bạn của tôi được giải ngũ sớm vì cận thị nặng. Nó trở về tiếp tục sách đèn. Tốt nghiệp sư phạm Đại học Đà Lạt về dạy Triết tại vài trường trung học. Năm 1973, khi nghe bạn bè bảo tôi đang nằm dưỡng thương ở QYV Nguyễn Huệ Nha Trang, nó từ đâu tìm đến thăm. Khi nhắc tới thời lính tráng ở Phú Yên, đôi mắt nó sáng lên, bảo là nó vừa bất ngờ gặp lại cô bé Tuy Hòa ngày xưa, khi cả hai cùng làm giám khảo và giám thị một cuộc thi Tú Tài ở trường Nguyễn Huệ hay Cường Đễ gì đó. Nó cười, nhưng đôi mắt nó lại mơ màng nhìn về một nơi nào đó … xa xăm!
Một ông đàn anh khóa 14 Thủ Đức của tôi, SQ/CTCT Tiểu Đoàn, vốn tu xuất và bị động viên khi đang dạy ở một trường La San Taberd nào đó, lại vướng vào lưới tình của một cô giáo Bàn Thạch. Là con một của bà già góa bụa. Cô giáo có nhan sắc và hiền lành, cười nhiều hơn nói. Có lẽ lớn hơn tôi một vài tuổi. Chị tỏ ra rất thân tình với đám lính trẻ bọn tôi. Chỉ một thời gian, chúng tôi xem nhau như người nhà. Khi nào chán cơm lính, bọn tôi rủ nhau ra chợ mua thịt cá rồi kéo đến nhà chị để nhờ chị nấu cơm, rồi cùng nhau ăn uống và đàn địch ca hát cả ngày. Ông đàn anh “tu xuất” của tôi vốn làm thơ tình rất hay, đàn ca có “trường lớp” lắm. Nghe nói trước kia anh làm trưởng ca đoàn trong mấy nhà thờ. Anh thường đệm đàn cho cô giáo hát bài “Chuyện tình Lan và Điệp”. Giọng hát Phú Yên cũng não nùng ai oán lắm. Đặc biệt phía sau nhà có cái giếng nước rất trong, nên chúng tôi thường ghé vào tắm rửa sau các lần hành quân trở về. Sau này, ông đàn anh thuyên chuyển về Vùng 4 trong Nam.
Mãi đến năm 1980, tôi bất ngờ gặp lại anh trong một trại tù ngoài Bắc. Ngạc nhiên và thú vị khi nghe anh kể là anh vẫn còn độc thân, và cô giáo Bàn Thạch ngày xưa giờ cũng chưa chồng. Điều làm tôi sững sờ hơn là ông bố của cô không chết mà tập kết ra Bắc năm 1954. Sau 75 về lại Phú Yên và giữ một chức hàm khá lớn. Cô giáo bây giờ không làm nghề giáo nữa mà đang là một cán bộ, chủ nhiệm hay trưởng phòng gì đó của chính quyền CS. Anh còn khoe là cô giáo thường gởi quà cho anh, và còn cho tôi đọc ké mấy lá thư cô ấy viết, bảo là sẽ ra thăm anh, cũng như hứa hẹn bảo lãnh cho anh về Phú Yên, nếu anh thấy lo lắng không muốn trở về quê quán Mỹ Tho, và nơi ấy anh cũng chẳng còn ai, sau khi bà mẹ già đã mất. Nhưng không thấy cô đề cập đến chuyện “nối lại tình xưa”. Tôi ngại, nên cũng không dám hỏi anh. Cuộc tình “giữa hai chiến tuyến” này liệu có làm cho con tim thắng được tất cả mọi giáo điều chủ nghĩa, để vượt qua bao hận thù, tang tóc? Rất tiếc, tôi không tìm được câu trả lời này. Vì mãi đến bây giờ tôi vẫn chưa gặp lại anh ấy, mặc dù tôi đã nhắn tin và tìm hỏi rất nhiều bạn bè sang Mỹ theo diện HO. Đôi lúc, nghĩ về họ, tôi hình dung đến một đôi vợ chồng già sống hạnh phúc trong ngồi nhà ngói xưa ở Bàn Thạch, có khu vườn và cái giếng nước trong, anh đàn em hát; hay đang cùng quì xuống cầu kinh trong một ngôi nhà thờ nào đó. Cô giáo hiền thục ngày xưa không thể nào trở thành một “nữ đồng chí CS” thứ thiệt được, chắc cũng đã sớm nhìn ra cái lý tưởng hoang đường mà ông cha của cô đã mê muội theo đuổi, để đành lòng bỏ lại mẹ con cô một thời góa bụa cút côi, giờ chỉ còn lại bao hệ lụy đau lòng. Có thể cô đã từ bỏ mọi chức tước (nhờ vào thành tích”phấn đấu”của cha), để cùng người tình xưa – người lính khác chiến tuyến với cha cô – sống trong hạnh phúc bình thường. Cầu mong những người con gái Phú Yên, dù hoàn cảnh nào cũng luôn giữ trọn mối tình xưa.
Đặc biệt nhất, và cũng gắn bó nhất, chính là chuyện tình của ông đàn anh Khóa 13 gốc Bắc Kỳ, có nụ cười và đôi mắt dễ làm ” khuấy động trái tim người… ta” mà chúng tôi đã kết nghĩa anh em. Đại đội của anh là đại đội đánh đấm khá nhất, nên được ông tiểu đoàn trưởng tin tưởng, giao cho đóng quân và phụ trách vùng đất bất an nhất: từ phía nam Bàn Thạch đến tận làng Thạch Tuân, tiếp giáp Đèo Cả, ranh giới cuối cùng phía nam của tỉnh Phú Yên.
Ban chỉ huy đại đội đóng quân sau khu vườn của một ngôi nhà ngói lớn hai tầng duy nhất ở vùng này. Đối diện phía bên kia, sau con hương lộ, là ngôi trường tiểu học. Ông bà chủ nhà thuộc hàng khá giả, vừa làm chủ một cửa hàng tạp hóa ở tầng dưới, vừa làm nước mắm ở khu nhà sau. Một ngày cuối tuần, anh rủ chú lính cận vệ ra giếng tắm. Thầy trò chỉ mặc quần xà lỏn huýt sáo nhởn nhơ, bất ngờ gặp hai cô gái đang ngồi giặt áo quần bên thềm giếng. Sau khi bớt ngượng ngùng, hỏi ra mới biết là con ông bà chủ nhà, học ở Tuy Hòa, cuối tuần về thăm cha mẹ. Có lần tôi ghé lại thăm anh, được ông bà chủ nhà và hai cô con gái mời hai anh em tôi dùng bữa cơm thịnh soạn. Ông anh Bắc kỳ hào hoa nhưng rất kín miệng. Nhìn ánh mắt tôi biết là anh đang mết cô chị. Cô em còn bé lắm. Ông bà già mua hẵn một ngôi nhà khá khang trang ở phố Tuy Hòa, gần trường Nguyễn Huệ cho hai cô và một ông anh trú ngụ học hành. Là anh em kết nghĩa, vậy mà cuộc tình của anh, tôi không biết mặn nồng đến đâu. Chỉ biết lâu lâu anh lái xe bỏ bọn tôi xuống phố Tuy Hòa, lì xì vài chục uống bia, rồi phóng xe đi một mình. Đúng hẹn ghé đón bọn tôi với nụ cười lúc nào cũng nở trên môi.
Hơn một năm từ ngày đổ quân xuống Tuy Hòa, cũng vào một ngày hè nắng cháy, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi Phú Yên, bàn giao trách nhiệm lại cho Trung Đoàn 47 biệt lập từ Bình Tuy ra để sáp nhập vào Sư Đoàn 22BB, mà bản doanh Bộ Tư Lệnh đóng ngoài Bình Định. Đơn vị tôi cùng chi đoàn Thiết Quân Vận của ông đại úy tài hoa Bùi Thế Dung, lại lên tàu há mổm xuôi nam, đổ quân xuống Phan Thiết.
Ông đàn anh Bắc Kỳ của tôi sau này lên làm tiểu đoàn trưởng, đánh thắng một trận lẫy lừng tại Căn Cứ 6 Pleiku đầu năm 1971, đươc ông Tướng Vùng gắn lon thiếu tá đặc cách tại mặt trận. Sau đó được ông tỉnh trưởng Ninh Thuận (vốn là cựu trung đoàn phó của chúng tôi khi còn đóng ở Phú Yên) xin đích danh anh về Phan Rang làm quận trưởng. Một hôm, bất ngờ tôi nhận được thiệp hồng của anh mời đám cưới. Tôi ngẩn người khi đọc thấy tên cô dâu chính là cô hoc trò, con bà chủ quán ở Bàn Thạch ngày xưa, nơi anh đóng quân sau vườn nhà 6 năm về trước. Đến bây giờ tai tôi vẫn còn văng vẳng dư âm Bài Không Tên Số 2, với giọng hát Phú Yên thật nồng nàn cảm xúc, chị đã hát tặng bọn tôi ngay sau ngày đám cưới. Phải chăng ” đời một người con gái (Tuy Hòa) ước mơ rất nhiều, nhưng trời cho không được mấy, đến khi lấy chồng chỉ còn một mối tình mang theo”?
Điều trùng hợp lý thú là năm 1976, khi bị chuyển tù ra Bắc, anh và tôi lại gặp nhau, ở chung một trại. Anh em thường gặp nhau tâm sự. Trong cảnh tù đày khốn khó, tình anh em gắn bó như xưa. Mỗi lần chị ra thăm nuôi anh đều mang theo thêm phần quà cho tôi. Có khi chị giả vờ đi lại trên con đê trước nhà thăm nuôi, biết chúng tôi sau một ngày lao động sẽ được về tắm giặt ở bên con đê ấy, để dúi vào tay tôi mấy tờ giấy bạc. Lòng tôi cảm động. Không ngờ cô con gái hiền lành ở vùng quê Bàn Thạch ngày xưa ấy, sau ngày chồng vào tù, đã dắt ba thằng con trai, mà đứa nhỏ nhất chỉ mới tròn 2 tuổi, vào Sàigòn bươn chãi nuôi con, tạo dựng được cơ ngơi nơi vùng đất lạ xô bồ phức tạp này. Và với chúng tôi, còn là một người bạn, người chị chí tình.
Anh chị sang Mỹ theo diện HO. Mang theo kinh nghiệm từ Việt Nam, chị sớm vào nghiệp bán buôn. Chỉ một thời gian ngắn gia đình khá giả. Ba đứa con trai đều thành đạt. Cháu trai út ra bác sĩ, cháu giữa làm luật sư, còn cháu lớn là kỹ sư, nhưng sau này đã trở thành một mục sư đi rao giảng đức tin Thiên Chúa.
Ngày đám cưới cháu trai thứ nhì, vợ chồng tôi sang tham dự. Bạn bè cùng đơn vị xưa từ khắp nơi cũng qui tụ về đây. Bất ngờ gặp một nhóm đồng môn Nguyễn Huệ của chị. Một cuộc hạnh ngộ thật kỳ thú. “Phe anh phe chị”. Chúng tôi biết thêm một số người đẹp Tuy Hòa xưa.
Đám đàn bà ngồi nhắc tên những thầy bạn cũ. Đám đàn ông bọn tôi ngồi điểm danh lại những thằng bạn lính, từng in dấu giày saut trên vùng đất Tuy Hòa thuở trước. Giờ cũng chỉ còn có hai thằng: ông anh gốc Bắc kỳ và tôi. Một số đã chết trong chiến trận: Trương Ngọc Điệp, anh trung úy gốc Huế, đại đội trưởng đầu tiên của tôi ngày ấy, đã chết tại chiến trường Thiện Giáo (Phan Thiết) sau hơn một năm rời khỏi Tuy Hòa, và sau đúng hai tuần cưới vợ, một cô giáo Ninh Hòa gốc Huế. Vài tháng sau, ông anh Thái Hữu Dư, khóa 16VB, bị thương nặng trong một trận phản phục kích rất hào hùng tại Lâm Đồng, được thuyên chuyển về Vùng 4 sau khi xuất viện. Đặng Trung Đức, khóa 19 Đà Lạt, người bạn rất thân với tôi, tử trận tại Kontum trong “mùa hè đỏ lửa” khi đang làm tiểu đoàn trưởng. Trần Công Lâm, thằng bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi, trước khi nắm tiểu đoàn từng là một đại đội trưởng trinh sát lừng danh của Quân Đoàn II, cũng đã bỏ mình tại vùng Tây Bắc Kontum, trên dãy núi Ngok Wang đèo heo gió hú. Vài thằng giải ngũ vì thương tích. Số còn lại thì bị tù đày rồi tản mát khắp bốn phương trời! Nhưng dù còn sống hay đã chết, có lẽ thằng nào cũng mang theo ít nhiều bóng dáng và giọng nói của các cô gái Tuy Hòa, cùng bao kỷ niệm hào hùng, dễ thương của một thời trai trẻ.
Ngày rời khỏi Tuy Hòa năm ấy, đơn vị tôi cũng đã mang theo một số cô dâu Phú Yên xinh đẹp. Tôi còn nhớ mãi những khuôn mặt thật xinh xắn, làn da trắng nõn nà của các cô bé ở Ngân Sơn (Tuy An), bẽn lẽn “hóa trang”làm lính, xúng xính trong bộ quân phục của chồng, đầu đội cả nón sắt, lội nước leo lên tàu Hải Quân, sợ những người chỉ huy chặn lại không cho phép. Nhưng ông tiểu đoàn trưởng đã biết trước, bảo nhỏ đám chúng tôi cứ làm ngơ cho họ được “tùng phu”, khi biết chắc đây không phải là “mỹ nhân kế” của địch, và biết đâu đơn vị lại được thêm vài tay súng, những “người lính không có số quân“!
Ông trung tá trung đoàn trưởng cao lớn bô trai của tôi cũng đã mang theo cô chủ quán hoa khôi gốc Huế nổi tiếng một dạo ở Tuy Hòa. Ông đại úy Thiết Giáp hào hoa thì xuống tàu một mình. Sau này lên đại tá, trở thành thiết đoàn trưởng chiến xa lừng danh Vùng I, và đã rước cô ca sĩ Hà Thanh của xứ Huế về dinh.
Riêng tôi, rời Tuy Hòa, không vương vấn mối tình nào, nhưng lại mang theo một cậu con trai 15 tuổi. Thời gian đơn vị hành quân ở Phú Lâm, tôi đóng quân sau nhà chú bé. Từ đó chú bé cứ theo mấy chú lính của tôi và năn nỉ xin tôi nhận cho vào lính. Học tới lớp nhì thì cha chết, bà mẹ theo người chồng mới vào Cam Ranh hơn một năm sau. Chú bé ở với vợ chồng ông chú, vừa nghèo vừa đông con, lại bị bà thím hất hủi. Tôi động lòng thương nên thường cho lính gọi đến ăn cơm chung, và lâu lâu lì xì chút tiền lẻ. Chú có khuôn mặt khôi ngô, tình tình lễ phép, gọi tôi là anh ba, và khóc lóc năn nỉ nhất định xin đi theo tôi, dù góc bể chân trời nào. Vào Phan Thiết, tôi kể cho ông tiểu đoàn trưởng nghe hoàn cảnh đáng thương của nó, ông chở tôi và nó đến một văn phòng xã làm giấy khai sanh, tăng thêm đủ tuổi để nhận nó vào lính. Ông giao nó cho tôi. Tôi chỉ cho nó đi theo, mang cho tôi một balô sách và vài thứ thức ăn. Cuộc hành quân nào ác liệt, tôi gởi nó cho anh HSQ Tiếp Tế ở lại hậu trạm. Hơn bốn tháng sau, được gởi vào Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn. Nó trở lại đơn vị khi tôi đã làm đại đội trưởng, nhất định xin tôi tình nguyện vào tiểu đội thám báo. Không ngờ nó lại là thằng lính đánh giặc gan dạ, lẫy lừng, đã mấy lần cùng toán thám báo cứu tôi thoát chết. Hai năm sau, nó tử trận tại mât khu Lê Hồng Phong (Phan Thiết) vào một ngày gió mưa tầm tã, khi xông vào một căn hầm của địch. Khi ấy nó vừa tròn 18 tuổi đời. Lúc hấp hối, nó thoi thóp cố mở mắt nhìn tôi, đôi môi mấp máy như muốn nói với tôi một điều gì đó. Tôi vuốt mắt nó mà nước mắt tôi ràn rụa, trong lòng tựa hổ như đang có trăm ngàn vết chém. (Lê Xuân Tiên ơi! Bây giờ em đang ở một thế giới khác, bình an, không còn có hận thù chết chóc. Xin em hãy tha thứ cho anh. Đã mấy lần em xả thân cứu anh thoát chết, còn “anh ba”thì lại bất tài, không bảo vệ được cho em!).
Và đó cũng chính là món nợ ân tình duy nhất mà tôi không bao giờ trả được cho vùng đất Tuy Hòa – Phú Yên – của một thời chiến tranh, khốn khó.
Riêng ông trung tá tỉnh trưởng gốc Biệt Động Quân chịu chơi ngày ấy, sau này trở thành vị tướng lãnh tài ba và đã tuẫn tiết theo cùng vận nước vào cuối tháng 4/75. Còn ông anh Nguyễn Văn Tri, con bà cô, và anh “Chương Classic” của Tiểu Đoàn 23 BĐQ đã thoát chết trong một lần Tiểu Đoàn nghỉ quân trong căn cứ của một đơn vị ĐPQ, bị nội tuyến từ trong đơn vị ĐPQ này. Sau này anh Tri bị thương, được chuyển về TTHL/BĐQ Dục Mỹ. Tôi ghé thăm anh một đôi lần khi đơn vị chuyển quân ngang qua Huấn Khu này. Anh sang Mỹ theo diện HO, định cư ở Boston, có cô con gái là ca sĩ Hạ Vy. và anh đã qua đời hơn 5 năm trước. Anh “Chương Classic” khóa 19VB, sau này lên Thiếu tá, làm Tiểu Đoàn Trưởng một Tiểu Đoàn BĐQ lừng danh. Năm 1979, sau một lần chuyển trại tôi bất ngờ gặp lại anh trong một trại tù tận vùng Hoàng Liên Sơn. Hai anh em nằm gần nhau. Anh tự chế một cây đàn rất đẹp. Vẫn luôn giữ phong cách của một cấp chỉ huy, tư cách, nhẫn nhục, ít nói. Đêm đêm hai anh em uống trà tươi (giấu được khi hái trà cho trại), tôi ngồi nghe anh đàn. Trong hoàn cảnh ấy và với không gian yên ắng nặng nề, tiếng đàn Hạ Uy Cầm của anh càng thêm não nề réo rắt, chiêu dụ cả đám bộ đội canh gác, kéo nhau đến bên ngoài mê mẫn ngồi nghe. Nghe nói anh cũng đã sang Mỹ theo diện HO, nhưng nỗi buồn gãy súng vẫn chưa vơi, sống rất âm thầm với vết thương không lành được trong lòng.
Xin cám ơn Phú Yên, cám ơn Tuy Hòa, cám ơn cả ngôi trường Nguyễn Huệ đã cho tôi những kỷ niệm vui buồn của một thời làm lính, với những đồng đội, bạn bè cùng những chuyện tình lãng mạn, dễ thương. Tất cả cứ như khói như sương lãng đãng quanh tôi trong những phút giây hồi tưởng.
HQ Trung úy Daniel T Duong, Sĩ quan tàu ngầm chiến lược nguyên tử USS West Virginia (SSBN 736) (hình của facebook.com/JohnDawsonFOX26).
Theo thông báo từ trang nhà Navy Personnel Command danh sách Hải quân (HQ) Trung úy* được chọn thăng cấp HQ Đại úy* cho tài khóa YF-26 ngày 15 tháng 1 năm 2026. Trong 2 bản danh sách HQ Trung úy được đề cử thăng cấp HQ Đại úy năm nay, có 52 HQ Trung úy gốc Việt, trong số đó có 27 Sĩ quan tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers); 7 Sĩ quan yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers); Và 18 Sĩ quan chuyên nghiệp phục vụ Hải quân (Staff Corps officers) **. Năm 2024, có 43 HQ Trung úy gốc Việt được thăng cấp HQ Đại úy.
Trong số 52 HQ Trung uý gốc Việt được chọn thăng cấp HQ Đại uý năm nay, có môt số vị phục vụ các ngành tác chiến, đặc biệt, có 9 nữ Sĩ quan tác chiến Hải quân được ghi nhận : HQ Trung uý Daniel T Duong, Sĩ quan tàu ngầm chiến lược nguyên tử USS West Virginia (SSBN 736); HQ Trung uý Keith Tran, Sĩ quan tàu ngầm nguyên tử; HQ Trung uý Huynh Anthony, Phi công; HQ Trung uý Brandon Quach Brandon, Sĩ quan tác chiến hạm đội; Nũ HQ Trung uý Loan Mai La, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nũ HQ Trung uý Catherine Bui, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nũ HQ Trung uý Tina Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Trung uý Nicole Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Trung uý, Kimberly Nicole Pham, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nũ HQ Trung uý Victoria Tran, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Trung uý Maryrose Vu; Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nũ HQ Trung uý Le Nhu Quynh, Sĩ quan hàng không và 9 nữ HQ Trung uý các ngành yểm trợ (Restricted line officers) và chuyên môn (Staff Corps officers).
HQ Trung úy Victoria Tran (hình khi còn là Sinh viên Sĩ quan Học viện Hải quân Hoa Kỳ (USNA) của navysports.com).
Danh sách*** 27 HQ Trung úy gốc Việt ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và 7 HQ Trung úy gốc Việt ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers) hiện dịch được chọn đề cử thăng cấp HQ Đại uý:
Ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers): Bui Thienhuong Catheri; Diep Brandon Gastelum; Duong Daniel T; Huynh Anthony Tan; Huynh Phong Thanh; La Loan Mai; Le Samuel H; Le Ryan Minh; Nguyen David Thanhluan; Nguyen Nicole Phuongqu; Nguyen Ryan M; Nguyen Andrew Q; Nguyen Derek Theanh; Nguyen Quan T Jr; Nguyen Tina; Pham Kimberly Nicole; Pham Thinh Hong; Quach Brandonqui Gia; Quan Y Thien; To Colin; Tran Daniel Tung; Tran Victoria Bichngat; Tran Keith Quockhiem; Tu David; Van Khoa Nguyenphu; Vu Maryrose Bichtienth; Le Nhu Quynh.
Ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers): Nguyen Sonny Hung; Tran Daniel Dinh; Le Vincent Nhat; Le Spencer A; Nguyen Camillia Y; Amick Adam Tran; Le Billiana Thao Tran (trừ bị).
Danh sách 18 HQ Trung úy gốc Việt ngành chuyên môn (Staff Corps Officers) hiện dịch và Trừ bị được đề cử thăng cấp HQ Đại uý: Cao Janne; Dang Tram Bao; Duong Huy Dinh; Duong Melina Chanphavi; Ho Hoa Thicuc; Le Nhan Thanh; Nguyen Bao Quoc; Nguyen Dang Minh; Nguyen Vinh Ngoc Quang; Pham Andre Sang; Son Quang Pham; Tran Tamara Shynice; Tran Toan Thanh; Trinh Matthew Hau; Jasper Daniel Chau (trừ bị); Nguyen Nhu (trừ bị); Nguyen Thao Phuong (trừ bị); Tran Giabao Duong (trừ bị);
HQ Trung uý Tina Nguyen (hình khi còn là Sinh viên Sĩ quan thụ huấn tại trường Sĩ quan Hải quan OCS của audacy.com).
Tóm lược các ngành của Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ:
Ngành Sĩ quan tác chiến (chủ lực) của Hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn (Unrestricted Line Officers) và Sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers).
-Sĩ quan ngành tác chiến Hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, sĩ quan không quân của Hải quân, Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân). Những Sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các phi đoàn Không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như Sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.
-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan tài nguyên nhân lực; Sĩ quan kỹ thuật cơ khí; Sĩ quan kỹ thuật hàng không; Sĩ quan bảo trì phi cơ; Sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị); Sĩ quan hải vận chiến lược (Strategic Sealift Officer); Sĩ quan giao tế ngoại giao; Sĩ quan hải dương học; Sĩ quan chiến tranh mật mã; Sĩ quan truyền tin Hải quân; Sĩ quan tình báo Hải quân; Sĩ quan chiến tranh an ninh mạng và Sĩ quan không gian hàng hải (Maritime Space Office).
HQ Trung úy Melina Duong (hình của linkedin.com).
-Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, Nha sĩ, Điều dưỡng (y tá) và Chuyên viên y tế thuộc Bộ chỉ huy Quân y Hải quân; Sĩ quan kỹ sư công chánh (Công binh Hải quân) và Sĩ quan tiếp liệu Hải quân thuộc Bộ chỉ huy tiếp vận Hải quân; Sĩ quan luật sư Quân pháp và Sĩ quan Tuyên úy Tôn giáo trực thuộc Bộ Hải quân.
Theo hệ thống thăng cấp Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ (Navy Officer Promotion System) thì tất cả Sĩ quan sau 2 năm mang cấp Trung úy, gần như 100% sẽ được thăng cấp Đại úy. Cũng theo Defense Primer: Military Officers-Updated June 4, 2024, thì Hải quân Hoa Kỳ có 7341 Trung úy và 18245 Đại úy phục vụ toàn thời hiện dịch (Active-Duty Military Officers). Hiện nay có hơn 250 HQ Đại úy gốc Việt phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ.
Minh họa của military.com/navy/officer-ranks: Cấp hiệu Đại úy tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và yểm trợ tác chiến (Restricted line officers) Hải quân Hoa Kỳ****
Chú thích: *ghi theo cấp bậc HQ Đại uý Hoa Kỳ (Navy Lieutenant), HQ Trung uý (Navy Lieutenant Junior Grade); **Có một số HQ Trung úy mang họ và tên giống người Việt được đề cử thăng cấp Đại uý, nhưng không thể xác định được các vị này là gốc Nam Hàn, Hoa hay Việt gốc Hoa? ***Ghi theo họ và tên 52 HQ Trung úy gốc Việt trên các bản danh sách; ****Cấp hiệu Đại úy chuyên nghiệp phục vụ Hải quân (Staff Corps officers) không có ngôi sao như Đại úy tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và yểm trợ tác chiến (Restricted line officers), thay vào đó là huy hiệu của ngành chuyên môn.
Chúc 52 tân HQ Đại uý Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến hải nghiệp.
Phải biết sống mới thấy rằng đời sống ở đầu thế kỷ này sung sướng biết bao. Ngày nay, hồi tưởng lại nhiều năm về trước, tôi cho đấy là hoàng kim thời đại của lớp người trung lưu. Nhịp sống chậm rãi, khoan thai, bình thản, nhờ ở sự ổn định kinh tế và chính trị. Giá sinh hoạt thật rẻ, thuế khóa thật nhẹ, nên một người có khả năng và chăm chỉ lúc nào cũng có thể dành dụm đủ để dùng trong lúc ốm đau tai nạn và khi già yếu. Trong mọi từng lớp dân chúng, lóe sáng một niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai với những tiến triển vượt bậc của khoa học. Đấy, chính cái thế giới trung lưu an lành đó là nơi sinh trưởng, và chính trong cái không khí cần cù tôi đã sống hơn hai chục năm đầu của đời tôi. Từ năm năm rồi, cha tôi giảng dạy tại Y khoa đại học Freiburg-im-Breisgau: Người khởi nghiệp ở Mannheim và chuyên về tai, mũi, họng. Những bài của cha tôi trong các tạp chí y học đã khiến giới đại học chú ý, rồi mời người làm giáo sư. Người bèn nhượng lại phòng mạch, dọn vào ở trong khu đại học cũ kỹ để giảng khoa mũi-họng. (Khoa tai được dành cho một giảng sư khác). Việc giảng dạy rất có kết quả, nên chỉ một vài năm sau, hai chữ Gustav Killian đã trở thành một tên tuổi quốc tế. Vinh quang nhanh chóng như vậy, cha tôi chỉ nhờ ở sức làm việc, trí thông minh và óc sáng tạo, chứ chẳng hề có thế lực bè phái nào, mà có chăng nữa, người cũng chẳng thèm nhờ cậy. Cha tôi sinh ra trong một gia đình tuyệt hảo. Thật thế, ông nội tôi, Johann Baptist Killian, vốn là giáo sư trường Trung học Mainz. Nhưng vì sinh năm con chỉ nuôi được hai, hơn nữa bà nội tôi lại mất sớm, nên ông tôi đâm ra rượu chè, tâm tính trở nên bất thường, nhiều lúc thật dữ tợn mà cũng nhiều lúc ủ rũ, con ruồi chẳng muốn xua. Nói đến tính nghiêm khắc quá quắt của ông tôi, cha tôi thường kể lại một kỷ niệm thời thơ ấu: một lần, dành dụm mãi được hai mươi Pfennig, cha tôi chạy ra mua ngay chiếc thuyền buồm thèm muốn ngắm nghía đã lâu trong tủ hàng. Nhưng đến lúc đem về nhà thì ông tôi nổi cơn lôi đình, mắng nhiếc là “chưa ráo máu đầu đã quen thói bốc trời”, rồi bắt cha tôi đem đổi lấy hai quyển vở viết.
Tuy phụ quyền nghiêm khắc như vậy, cha tôi không hề tỏ vẻ chua chát, trái lại, người hết sức tìm cách tạo cho thời thơ ấu một vẻ tươi sáng, vui nhộn, yêu đời ngay chính trong gia đình. Nhờ đó, mà ngay từ khi nhỏ tí, tôi đã được hưởng ngay một tự do tuyệt diệu. Cho đến bây giờ, những năm xa xôi ấy vẫn là những năm đẹp nhất đời tôi. Tôi có thể làm hầu hết những thứ tôi thích. Thấy tôi hơi có khiếu về âm nhạc, cha tôi cho tôi học vĩ cầm ngay từ năm tôi bảy tuổi.
Rồi ít lâu sau, tôi lại ham vẽ; cha tôi cũng chẳng hề tiếc mua cho tôi đủ thứ dụng cụ hội họa. Lớn nữa, tôi bỗng ham mê ngành hàng hải và những tàu to thuyền lớn; cha tôi cho tôi lập ngay dưới hầm cả một xưởng đóng tàu thật sự. Rồi người cũng chẳng hề cấm đoán, khi tôi một lần nữa nổi hứng biến xưởng đóng tàu ra một cái tiểu sinh vật viện, nuôi đủ các thứ bươm bướm, ve sầu, xén tóc …
Tôi học rất kém, nhưng cha tôi vẫn tươi cười, khoan dung. Trường Freiburg vốn là một trường cổ truyền, dạy các môn cổ điển nhiều hơn khoa học nên tôi rất khổ tâm về các từ ngữ La, Hy. Ông giáo sư La ngữ của tôi, biệt hiệu “Sếu vườn” vì đôi cẳng lỏng khỏng, luôn luôn tìm đủ cơ hội để phẩm bình học lực của tôi:
– A, Killian, nếu cái óc anh cũng lớn nhanh như thân hình anh (lúc đó tôi học đệ ngũ và trong một năm tôi cao thêm 17 phân) thì anh đã thành bác cổ thông kim từ lâu. Nhưng than ôi, anh thì chỉ có lớn mà chẳng có khôn.
Rồi một hôm ông bảo tôi dịch sic longus sic sultus. Tôi đứng ngây ra đến khi nghe tiếng cười chế giễu phá lên tứ phía và hiểu được nghĩa là càng cao càng đần, thì nước mắt đã tràn xuống má. Tối hôm đó tôi nói với cha tôi là tôi không thèm trở lại học nữa. Cha tôi bằng lòng ngay cho tôi đi học Anh văn trong mấy tháng, rồi đưa tôi vào học trường cao tiểu. Tôi đều đặn ở đó cho đến khi đậu tú tài. Tuy học đường đã giáo huấn tôi rất tốt, nhưng chính gia đình đã giúp tôi rất nhiều trong việc chọn hướng đi của đời tôi. Nhà cha mẹ tôi đã trở thành nơi hội họp của giới văn nghệ trí thức ở Freiburg: Mẹ tôi vốn ham chuộng văn chương, âm nhạc, nên tôi được quen biết nhiều văn sĩ và kịch tác gia, tôi lại có nhiều cơ hội dự thính những buổi hòa nhạc thính phòng ngay tại phòng khách nhà tôi. Cha tôi thì hay mời những bạn đồng nghiệp, những giáo sư hay giảng nghiệm viên, cũng như những sinh viên đặc biệt được người chú ý. Tính rất bình dân, cha tôi được đặt ngoại hiệu là “Thường tiếu ông” và rất được học trò kính nể. Cho đến bây giờ, tôi còn gặp nhiều người gợi lại một cách thán phục khuôn mặt khôi vĩ, cái trán cao, cặp mày bạc rậm, giọng nói sang sảng, lời văn súc tích và sáng sủa của cha tôi. Nhiều khi, ở ngay bữa cơm, cha tôi cũng nói chuyện với mẹ tôi và chúng tôi về những vấn đề bệnh nghiệm hay thực nghiệm. Sở thích tôi đã bạc tạp, lại được ở trong một môi trường nhiều khuynh hướng như vậy, khiến gia đình tôi lắm lúc phân vân không biết rồi đây tôi sẽ học ngành gì, vì lúc nào cũng “ham nhiều công việc”. Giáo sư hội họa của tôi bảo: “Anh vẽ được đấy”, trong khi ấy giáo sư vật lý quả quyết: “Anh sẽ là kỹ sư giỏi”. – Còn mẹ tôi thì nhắc đi nhắc lại: “Hans nó chỉ thích sinh vật học”, và khuyến khích tôi sưu tập cây cỏ, côn trùng. Chỉ có cha tôi là không tỏ ý kiến gì; nhưng chính người mới là người định đoạt, tuy gián tiếp, sự lựa chọn của tôi.
Năm 1898, cha tôi công bố trên báo y học những kết quả về phép soi cuống phổi, nghiên cứu âm thầm từ mấy năm nay. Người đã hoàn tất một dụng cụ đơn giản làm bằng một ống kim khí nhỏ, dài, luồn vào khí đạo để soi và do đó, có thể xác định vị trí của bất cứ vật gì lạ lọt vào cuống phổi, và gắp ra nhờ một cái kẹp đặc biệt cũng do cha tôi vẽ kiểu. Từ trước đến giờ, người ta cứ tưởng cuống phổi phải cứng nhắc; nhưng lúc ấy biết rằng các cuống phổi thật ra rất mềm dẻo, như thế cái ống kim khí mới có thể xoay khắp hướng để xem xét được: Sự thành công của cha tôi thật quan trọng, vì thời ấy khoa điện tuyến mới bắt đầu được thử dùng; còn việc giải phẫu lồng ngực hãy còn khó như đi lên cung trăng vậy. Nội trong vài tháng, danh tiếng cha tôi đã vượt biên thùy Đức quốc. Từ nhiều nơi trên thế giới, các đồng nghiệp gửi đến cho cha tôi những trường hợp nay họ đã đành thúc thủ. Một hôm, trong bữa cơm trưa, cha tôi kể cho chúng tôi nghe về một cô bé do cha mẹ cô, một gia đình trồng tỉa giàu có ở Montevideo, dẫn đến nhờ cha tôi cứu chữa. Cô bé Corinna đã nuốt một chiếc còi. Chiếc còi lọt vào khí quản, tuột xuống phổi, rồi ngừng lại khoảng xương sườn thứ bảy, làm cô bé khó thở một cách trầm trọng. Các y sĩ Uruguay và Argentina không biết làm gì hơn là khuyên đôi cha mẹ hốt hoảng kia đem con đến một thủ thuật gia danh tiếng ở Paris; ông này biết rõ tài cha tôi trong việc soi cuống phổi, lại gửi bệnh nhân đến cho người. Sáng hôm ấy, trong phòng làm việc của cha tôi, người cha vẻ mặt đầy lo lắng, người mẹ lúc nào cũng rơm rớm nước mắt, nói năng líu lo, vừa tiếng Anh, tiếng Pháp, vừa tiếng Tây Ban Nha.
Cô bé Corinna, mảnh mai nhút nhát, tóc huyền, đôi mắt đen mở lớn trên khuôn mặt gầy gò ốm võ vàng. Trên tấm ảnh điện tuyến của thủ thuật gia người Pháp gửi đến, lờ mờ thấp thoáng bóng một vật nhỏ, nằm ngay chỗ xương sườn thứ bảy, bên trên lá phổi dưới bên phải. Đặt tai vào ống nghe, mỗi khi bệnh nhân hít vào, người ta nghe rõ tiếng không khí rít qua chiếc còi. Sáng hôm ấy, ngồi trong lớp mà đầu óc tôi cứ tưởng đến cha tôi trong phòng mổ đang chăm chú lấy chiếc còi ra khỏi họng Corinna, đến nỗi bị phạt hai lần, vì lơ đãng. Chuông tan học vừa réo, tôi vội vã thu xếp sách vở, chạy ào về nhà. Cha tôi cũng vừa về. Dù không nói, vẻ mặt vui tươi đủ cho thấy là người đã thành công. Dĩ nhiên với ít nhiều trở ngại. Dụng cụ mới chế thật hoàn hảo, nhưng đến khi định kéo chiếc còi vào trong cái ống soi cuống phổi, mới thấy cái ống quá nhỏ. Tiếng lích kích của chiếc còi chạm vào thành ống soi làm cha tôi lo sợ đến ngừng thở. Người cố gắng dùng cặp móc của cái ống nhỏ kéo chiếc còi ra từng tí một. Thật là toát mồ hôi lạnh. Và mọi người thở phào nhẹ nhõm khi thấy chiếc còi quái ác ló ra. Năm ngày sau, khoảng giờ ăn trưa, cô bé Corinna cùng với cha mẹ cô đến từ biệt chúng tôi. Cha mẹ tôi tiếp đón ba người trong phòng khách lớn. Chúng tôi, ngồi trong phòng ăn, im lặng quan sát qua cánh cửa mở. Bà mẹ Corinna, mảnh mai duyên dáng, một vẻ đẹp của người xứ lạ, tay ôm một bó hoa lớn, chạy lại mẹ tôi, đưa bó hoa, nức nở ôm chầm lấy người. Rồi quay sang phía cha tôi, bà cầm lấy tay cha tôi mà hôn. Bà nói bằng tiếng Pháp, giọng đầy nước mắt vui mừng:
– Cầu Trời phù hộ hai bàn tay thần diệu này.
Cha tôi hơi bỡ ngỡ trước cử chỉ này, vì đối với người Đức, nó có vẻ quá nồng nhiệt. Người chồng, một nhà quý phái chính cống Tây Ban Nha, mặt dài, râu cằm cắt nhọn, ít bộc lộ hơn vợ, tiến lại bắt tay cha tôi thật lâu. Corinna, mặt đỏ bừng, e lệ cúi đầu chào cha tôi thật thấp, miệng lí nhí: Muchas gracias, senor (2). Mặc áo lụa, đội mũ rộng vành, trông cô bé thật xinh, khiến mẹ tôi không dừng được ôm cô mà hôn.
Mấy phút đồng hồ đó đã giúp tôi quyết định trở nên y sĩ. Còn nghề nào cho tôi nhiều cơ hội và khả năng giúp đồng loại để họ sống vui và hạnh phúc hơn? Vài hôm sau, trong lúc đi dạo với cha tôi, tôi ngỏ ý muốn theo y học. Cặp mắt xanh của cha tôi bừng lên một ánh mãn nguyện. Tôi hiểu rằng tôi đã đáp ứng đúng lòng ao ước thầm kín của người.
– Cha mừng lắm. Cha tôi nói, giọng nhiệt thành. Rồi con xem, y học sẽ làm nẩy nở tất cả mọi năng khiếu của con; một lương y phải biết tận dụng mọi khả năng của mình. Sự đồng ý này xóa hết mọi nghi ngờ còn lởn vởn trong đầu óc tôi. Tương lai bây giờ hiện ra trước mắt tôi như một con đường vạch sẵn, không quanh co, không trở ngại. Tôi dấn thân vào con đường đó, vui vẻ, bước vững chắc, – cho tới ngày chiến tranh bùng nổ, nhận chìm tất cả vũ trụ tươi trẻ của tuổi thanh niên của tôi trong một buổi đầy máu và nước mắt. Trong bốn năm liền, tôi là một sĩ quan trên nhiều chiến tuyến. Khi trở về, em trai tôi đã chết, cha mẹ tôi thì mất hết của cải. Cha tôi, rất yêu nước, nhưng cũng rất ghét cái ái quốc quá khích, đã bí mật đem tiền cho chính phủ vay. Và năm 1918, tiền Đức chỉ còn giá trị là những tờ giấy, đủ đẹp để dán lên tường thay giấy hoa.
Tôi lại trở về đời sống sinh viên, quá muộn màng, vì mất một năm binh nhất quân dịch và bốn năm sĩ quan. Tôi hăm hở học hành, và nhận định lại Freiburg, dù cha tôi lúc ấy được bổ làm giáo sư tại Berlin. Freiburg là nơi sinh trưởng, lại là chỗ tôi quen biết nhiều, nên tôi có hy vọng sống dễ thở một chút với nạn lạm phát trầm trọng lúc bấy giờ. Hơn nữa, Đại học Freiburg cũng nổi tiếng chẳng kém Đại học Berlin. Nhờ có những tên tuổi quốc tế như giáo sư ngoại khoa Lexer, giáo sư bệnh lý Aschoff và giáo sư dược học Straub.
Một điều khá ngộ là chỉ vài tuần sau kỳ thi ngoại trú bệnh viện, tôi mới tự hỏi: tôi sẽ chọn ngành nào trong y học? Bối rối quá tôi quyết định đến hỏi ý kiến Walter Straub, người tôi quen biết từ lâu. Khi còn nhỏ, tôi đã từng bắt lại cho ông những chú mèo hoang để ông làm thí nghiệm. Qua cặp kính cận dầy cộm, Straub ngắm tôi kỹ lưỡng, đằng hắng, rồi nói luôn một hơi:
– Có điều cậu nên nhớ: nội khoa chỉ để trị các bệnh nan y, sản phụ khoa để dành cho mấy cậu đẹp trai cả ngày ngắm vuốt, còn ngoại khoa thì dao kéo đỡ chân tay chứ sức mấy …Cứ thế Straub tiếp tục duyệt qua hết mọi ngành y học, trừ môn Dược học. Nghe điệu Straub nói, thì trên cõi đời này chẳng có thứ nào đáng học hơn là Dược học. Tôi ra về, lại càng lưỡng lự hơn. Tuy vậy, tôi cũng định chọn một trong hai môn, Dược học và khoa giải phẫu. Một phần có lẽ vì những giáo sư giảng dạy hai môn này đều là những nhân vật lỗi lạc của Đại học Freiburg. Thật thế, Walter Straub được coi như cha đẻ của nền Dược học cận đại; còn Erich Lexer, môn đệ xuất sắc của Ernst von Bergmann, nối chí phát huy học thuyết của thầy đến tận cùng. Bài giảng của ông thật chính xác và không kém phần hào hứng. Còn xem ông giải phẫu thật thích thú chẳng khác xem một nghệ sĩ thượng thặng trổ tài. Lexer cầm dao mổ như cầm cần kéo vĩ cầm, trong khi các thủ gia khác cầm như cầm cây bút. Cầm dao như thế, Lexer có những đường mổ đẹp như vĩ lướt trên dây của một diệu tài. Sự lựa chọn của tôi thật ra không dựa trên những cân nhắc lý thuyết, mà lại nhờ một việc xảy ra, đến nay tôi còn nhớ. Hôm ấy, trong giờ giảng dạy của Lexer, lần đầu tiên tôi cảm thấy nguồn hứng thú sôi nổi của khoa giải phẫu. Tôi nín thở, tim đập mạnh, sống những phút không phai khi nhìn một bực thầy thi triển nghệ thuật. Sinh viên ngồi sát cánh nhau mắt dán lên giảng đàn: Lexer, trong tấm áo choàng trắng toát, đi đi lại lại, trình bày đề tài ưa thích của ông: bướu xương. Thỉnh thoảng ông ngừng lại, tay gỡ cặp kính cận, chậm rãi đưa mắt nhìn cử tọa. Lexer có vẻ hài lòng: chúng tôi không ai động đậy, như uống từng lời nói của thầy. Ai nấy đều biết, sau khi giảng xong, Lexer sẽ cắt một khúc háng, một loại giải phẫu lâu lắc khó khăn. Con bệnh đã ngủ yên, nằm đợi trên chiếc xe để ở ngoài cửa. Ông y sĩ trưởng, các phụ tá giải phẫu, cô y tá, mặc áo đi găng sẵn sàng, bước vào giảng đường. Giờ giải phẫu đã tới. Nhưng Lexer vẫn hăng hái thao thao bất tuyệt.
Sau cùng, ông y sĩ trưởng đành nói với giáo sư rằng chỉ còn có năm phút nữa thôi. Lexer ngước mắt nhìn đồng hồ: – Còn năm phút nữa thôi à? Được, đủ chán.
Chúng tôi bắt đầu nhúc nhích, anh này lắc đầu chị kia thì thào lộ vẻ không tin. Không hay biết phản ứng của chúng tôi, Lexer rửa tay, mặc áo, đi găng, miệng vẫn không ngừng nói cho chúng tôi biết việc sắp làm. Cắt đầu xương đùi đã bị vi trùng lao đục khoét, gọt lại đầu xương, đặt cho đúng vị trí rồi đóng chặt vào xương chậu. Bệnh nhân được đẩy vào nằm nghiêng một bên. Con bệnh ngủ êm dưới một lớp vải khử trùng. Háng bên trái, nơi giải phẫu, cũng được che kín. Theo đúng luật, chỉ khi mổ mới được mở ra. Lexer đứng trước bàn mổ, bình thản nhìn chỗ sắp mồ. Tôi nhoài mình ra phía trước, theo sát từng cử chỉ. Vẫn im lặng, Lexer đưa tay đón con dao mồ ở tay cô y tá. Cánh tay thật lực lưỡng, bàn tay nhanh nhẹn dị thường. Chúng tôi rất tán thưởng lối cầm dao cân nhắc như đùa của Lexer. Chợt Lexer nghiêng mình về phía trước. Trong nháy mắt, một đường dao vòng cung, dài chừng hai mươi phân, sâu vừa đúng tới lớp thịt, vạch trên háng trái bệnh nhân. Gần một nắm kẹp chỉ huyệt Lexer kẹp những động mạch chính. Các phụ tá đặt đồ phanh hai bên vết mổ.
Đấy chỉ là đoạn mở đầu. Bây giờ mới đến màn ảo thuật thật sự, ít ra là đối với anh sinh viên là tôi lúc bấy giờ. Lexer, tay trái cầm một cái đục lớn tay phải một cây búa nặng và chỉ một phát múa thôi, làm bật tung toàn khối vuông lớn của xương đùi, kèm theo cái bướu của cánh xương chậu. Kéo khối xương vừa đục cùng các bắp thịt lên trên, Lexer rạch mạnh bao khớp xương ở mé dưới, rồi hai tay nắm đùi bệnh nhân, quay một phần vòng tròn. Thế là khớp xương háng bật ra.
Trong phòng im lặng như tờ. Lexer chìa tay, cô y tá trao cho ông một cái kẹp lớn. Ông lôi ra cho chúng tôi xem khúc đầu xương vụn nát. Tất cả lâu có ba phút, một kỷ lục thần sầu. Rời giảng đường, chúng tôi còn như ngơ ngẩn. Mấy phút đó làm chúng tôi say sưa thích thú như vừa xem tuồng Thạch sĩ bia.
Riêng tôi, tôi đã có một quyết định sắt đá: tôi là y sĩ giải phẫu, chỉ là y sĩ giải phẫu chứ không thèm là gì khác.
NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC
[Tình Thương Số 21-22, tháng 9-10,1965]
1) Cha tôi là thần hộ thủ liêm khiết nhất của tôi. Tôi phải khen ngợi và mang ơn Người nhiều.
Ba mươi năm trước, khi cầm bút viết dòng chữ đầu đời, cũng là cuốn sách đầu tay, anh đã có ý thật: “Bản thân không hề là người tài hoa; viết không thuộc về công việc đặc thù giành riêng cho loại “tài tử văn nhân” nói quanh những điều say đắm, đẹp đẽ, bình an … “. Chẳng cần cậy đến ý của Albert Camus mới được biết” Tự tử là vấn đề triết học lớn”. Hoàn cảnh bản thân với môi trường chiến tranh độc địa vây chặt trong suốt một thời – Cũng chẳng phải “một thời để yêu, một thời để chết”, mà chìm ngập, trùng điệp nỗi chết không cơ may khoan thứ, giảm khinh. Hoàn cảnh ấy đặt người vào vị thế mất còn, để không có cách tự giải quyết nào khác ngoài vận động chữ, nghĩa. Bởi viết trong điều kiện, cảnh sống khắc nghiệt như kia nên còn đâu hơi sức nghĩ quẫn quanh những cái gọi là … “bờ môi, mầu mắt, mùi hương, sợi tóc…”. Sống sót được cũng đã có tội, nói chi đến cơ tâm dụng văn chương (lại là những thứ văn chương qua lại giữa những anh anh, em em…) như phương tiện kiếm lợi, danh. Ba mươi năm sau đọc lại những điều đã viết, chỉ thấy dằng dặt ngọn nguồn oan nghiệp thương tâm. Thương người mà cũng thương thân. Tình cảnh khốn đốn buổi thanh xuân kia đã là sự có thật. Nhưng sau những cơn binh lửa cùng cực cuả Mậu Thân, 1968; Hè 72, cuốicùng, cuộc di tản uất hận bắt đầu từ ngày 10 tháng Ba, 1975, khi những binh đoàn Miền Bắc cường tập tấn công thị xã Ban Mê Thuộc, mở ra kỳ hấp hối kinh hoàng toàn Miền Nam … Đến hôm nay-Tháng Ba hai mươi ba năm sau- Âm vọng thống khổ vẫn chưa hề tàn lụi. Tính đúng ra 53 năm, kể từ 1945. Hơn nửa thế kỷ. Quả thật, cơn Đau Người Việt vĩnh cữu, hằng có như ánh sáng, bền bĩ với thời gian. Vào tuổi già, người viết nhìn quanh, nơi đất lạ, phiền muộn,quạnh hiu, đồng thời thấy rõ cách thế tự cứu ngày trước lộ ra phần vô dụng.
Thế nhưng, những người cầm bút vẫn tiếp tục.
Trên dặm dài miên viễn với Nỗi Đau, người viết văn luôn sắc son có mặt cùng hoạn nạn quê nhà. Đọc Trần Trung Đạo. Bởi-Người cùng anh chia Lần Đau,
Một
Anh xa quê, xứ Huế, mùa Hè năm 1952 chưa đủ mười tuổi. Đứa bé đứng suốt chặng đường trăm cây số khởi đi từ nhà ga đầu tiên. Chuyến tàu chợ chạy chậm qua những xóm làng, cầu sắt, mương lạch, suối sông, bờ bãi gây nên cảm giác nôn nao cảm động. Quê hương trãi qua mắt trẻ nhỏ hiện thực bài học thuộc lòng
Làng ta có tre rào
Có sông ngòi chuôm ao
Có đình chùa hội hè sum họp
Có trường học trẻ con ra vào …
Tàu lên đèo Hải Vân, vào chiếc hầm đầu tiên, qua màn khói than đá, ánh sáng lờ mờ từ đầu miệng hầm chạy loáng thoáng lên vách đá rĩ nước cùng nhịp âm động siết rên từ những đỉa thắng sắt chạm vào khung bánh dười lườn toa đẩy đưa trẻ nhỏ cồn cào sợ hãi …Tàu ra khỏi hầm, một biển trời toàn khối cùng ánh sáng oà vỡ lung linh-Vịnh Đà Nẵng đang đầm đầm nắng tươi sóng nhỏ … Ô Biển!! Tiếng ngây thơ reo lên bất ngờ, thoắt lặng im để đắm chìm theo cơn sóng dưới xa hun hút dựng trường thành tung bọt trắng vào bờ đá.
Anh lớn lên trong Biển.
Anh với Biển từng ngày.
Biển Đà Nẵng, thuở ấy là Biển Thanh Bình (Mỹ Khê, Nam Ô chưa cần phải đi tới), vì chỉ cần qua khỏi Cầu Vồng, bắt đầu đường Khải Định (ta đã nhận ra giọng rì rào rừng dương chuyển động, hương nhựa cây lá nồng rực lan tận Nguyễn Hoàng, Đống Đa (còn mang tên những người Pháp). Hôm gió lớn, cả thành phố nồng nồng mùi biển. Ban đêm, nghe ra tiếng sóng đập vỗ liên hồi. Nhà anh, căn lều tranh đầu đường Hoàng Hoa Thám đêm mùa đông rúng chuyển theo cơn gió thốc và âm sóng dồn vọng nơi xa, nhưng có cảm giác bên cạnh, ngoài hiên. Phía sau nhà ga, giãi cồn cát, bàu nước mà ngày Hè đã qua đi để lại những bông súng trắng xám mỏng manh hiu hắt, loang loáng đèn pha từ đồn binh dọi lên những mộ cát hoang phế sụp lỡ …
Cảnh sống mà nghe rõ sắc chết lạnh tanh. Đà Nẵng ngày ấy chìm chìm trầm mặc gây nên cảm xúc vắng vẻ, đơn độc như cơn gió vi vu qua tàng dương nơi nghiã trang cũ cuả người Pháp, khu đồi cát trông xuống bệnh viện, sau nầy đổi nên Trường Nam Tiểu Học. Đà Nẵng ngày xưa cũng đủ độ rét để mẹ trồng những luống cải nở hoa vàng dịp Tết, đứa nhỏ chạy quanh quất giữa những luống rau, hít thở mùi nồng nồng ngầy ngậy từ những bắp su xanh dầy lá cứng, chân dẫm lên lớp lá kiền kiền vàng khô vỡ vụn.
Quê hương thân thiết thế kia, nhưng hình như không một lần nhắc đến, mong trở về. Chẳng phải lòng vô tình lạnh nhạt, muốn bỏ đi. Nhưng bởi năm tháng Đà Nẵng sau 1965 với gần trăm ngàn lính Mỹ có mặt, đã thay đổi tính chất đến độ tàn nhẫn, miệt thị. Nơi chốn ấu thơ đã không còn, cũng như những phần đất cơ khổ quê hương tan tác, vấy bẩn trong chiến tranh. Sự cùng đành quên đi như điều bi thương không muốn nói ra.
Và quả thật không muốn nhớ đến. Sợ phải nghĩ lại … Đà Nẵng … Những ngày cuối Tháng Ba 1975. Anh đứng trên đỉnh Hải Vân với những người lính Lữ đoàn I Nhảy Dù, Tiểu đoàn 8 TQLC, nhìn đoàn người chạy loạn từ Quảng Trị, Huế để nên hiểu cơn hấp hối đang đến, giờ cuối cùng của một Dân Tộc thật hiện thực. Sự chết không chỉ trên thây người sâm sấp vào ra theo con sóng, loang lỗ dấu đạn, vết thương mở toát. Chết bừng bùng như nắng ối sáng lên mặt biển, đầm đìa khí trời, hơi gió … Khối đất trời một lần anh thương mến, cảm xúc, lớn lên. Đà Nẵng thật muốn quên như Cơn Đau. Chiều ngày 23 tháng 6, 1976 khi qua phà Âu Lâu trên Sông Hồng để vào thung lũng trại tù Hoàng Liên Sơn, chen trong lời chim “ … khó khăn khắc phục … “, có âm than của chim “hít cô” … Tít … tit .. tit … tịt …. tit … Chim kêu tắt chậm, chìm chìm, tội nghiệp … Như chim đã nhiều lần kêu cùng trong tuổi nhỏ, khi anh quanh quẫn nhặt nhạnh những hạt vàng nhầy mũ trắng giữa đám lá kiền kiền, dưới tàng lá sum sê, bên dòng nước chảy qua chiếc cống đầu ngã Ba Cây Quăn. Tình cảnh đứa bé nhà nghèo hai mươi lăm năm trước với phận người tù thấm nhục được nối kết như mối đau không đứt đoạn. Anh chợt nhớ cảnh người điên đứng la hét nơi bến phà Câu Lâu, Vĩnh Điện, buổi chiều chập choạng một tối năm 1957, lần theo đoàn công-voa nhà binh đi Quảng Ngãi … Bóng người mặt trắng nhờ nhờ, đầu trọc, mắt lạc thần, tiếng lời vô nghĩa, uất ức, hỗn độn, khàn đục. Cảnh tượng quái dị gờn gợn. Trăng hôm ấy vàng khô, lên cao hóa to, đỏ nhừ soi xuống sông chỗ bến phà như sôi máu bầm.
Thơ Trần Trung Đạo nhắc anh lần nhớ về một chốn đầu đời, cùng một chốn cuối trời … Đà Nẵng … Thanh Hoá … Miền Bắc … Miền Nam … Vùng đất anh thật qua lần sống-chết.
Hai
Hóa ra cảm giác nhạt nhạt trong miệng, buồn buồn trong lòng từ một thuở rất lâu … Trong giấc ngủ chợt thức giữa bóng tối với cảm giác lo sợ khi tuổi lên ba. Đêm qua hai mươi, thanh niên xao động bồn chồn nơi trường Đà Lạt, nhìn ra vườn Bích Câu ngoài xa thắt thỏm chập chờn giàn đèn màu tím đẫm lẫn mù sương. Đêm bị giam có tầng khối chụp xuống nặng đá tảng, mồm há ra như đang nghẹt thở, mắt ráo hoãnh nhìn đình mùng bay lên cao … Cao cao nơi xa … Lần bị phạt quân kỹ đầu tiên, tháng 8, 1964, để biết rằng có một mất mát rất lớn ắt phải xẩy ra – Mà đã thật như vậy-Lần mất không thể chịu đựng nổi. Và hình như mới đây, luôn gần kề cụ thể, sắc nét rờn rợn … Những lúc BẤT NGỜ nghe tiếng kêu từ Nghĩa Trang … Để một thân từ căn cứ, lái xe ra xa lộ, dừng ở Tượng TiếcThương, nhìn lên Người Lính … Động tâm cào xé tự trong sâu … Cơn gầm ghìm kinh hoàng củalần thật chết lúc đang sống.
TẤT CẢ HIỆN ĐỦ TRONG BUỔI SÁNG HÔM NAY.
Anh lục túi lấy hết giấy tờ … Chứng Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lãnh Lương, Thẻ Báo Chí, Chứng Minh Thư mang Danh số 41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương … Có cảm giác buồn cười … “Hoá ra đến giờ nầy vẫn chưa có thẻ sĩ quan mới … Lần lên trung uý, trận Đồng Xoài … Cái thẻ đầu tiên và cuối cùng bị mất, năm 1965”. Anh đặt tất cả vào trong chiếc ví, đồ vật tương đối có giá trị vật chất của bản thân, lại là chiếc ví kỷ niệm nhận được hôm sinh nhật vừa qua. Anh ném tất cả xuống miệng cống trước trước nhà sách Khai Trí, đường Lê Lợi. Coi như mình đã chết … Hình như anh nói ra lời. Có cảm giác thanh thản của người vừa cất xong gánh nặng quá lớn. Vất bỏ cùng lần với đời sống chính mình. Tay giữ chặt hai chiếc máy ảnh trước ngực … Ít ra mình còn có vật dụng để thực hiện một công việc, làm một nhiệm vụ … Đây là những hình ảnh không thể thiếu cho mai sau. Để tương lai còn có người biết và thấy ra. Anh nhắc nhở, nâng đở. Cũng chỉ là tự an ủi mà thôi.
Với cách ứng phó, giải thích tội nghiệp, vô dụng nầy anh đi về phiá Hạ Viện. Chung quanh Sàigòn vắng hoe. Chiếc xe Molotova Trung Cộng (Sau nầy mới biết đấy là xe Zin) tới trước thềm Hạ Viện. Đám thiếu nữ nhẩy xuống. Một anh đội mũ tai bèo, người chỉ huy trung đội lính phụ nữ từ ca-bin xe bước ra, chỉ chỏ, ban lệnh, kéo từng người vào vị trí “phòng thủ”. Anh cùng hai phóng viên người Nhật đi đến tổ súng thượng liên đang ngồi nơi những bậc thềm; ba người đưa máy hình lên, nhắm góc độ, điều chĩnh ánh sáng. Những thiếu nữ bất động nghiêm trọng. Tất cả đều mặc áo quần mới, áo mầu xanh dương, quần đen, vải nội hóa còn nguyên dấu hồ; giây đạn đeo chéo qua thân, miết xuống những thớ thịt ở ngực, phần bụng. Đạn cũng mới tinh. Đỏ au. Cơ thể cô gái phụ xạ thủ như muốn nứt toang do chiếc áo quá chật bó thắt vào khối thịt căng phồng. Đôi mắt nhỏ, một lần chỉ khép kín để khỏi nhìn thấy ống kính.
Cô ta ngồi im, hai cánh mũi phập phồng, mồi hôi ứa đẫm trên lớp da mặt đỏ nâu những dấu mụn. Từ góc nhà hàng Givral, Công trường Lam Sơn, đầu đường Nguyễn Huệ, đám đông bắt đầu tập trung để xem mặt “bộ đội Việt cộng”. Thêm hai chiếc xe đổ quân trước rạp Rex. Lính nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm, trườn, bò, nháo nhác … Từ trụ sở Hạ Viện anh đi qua hành lang Eden. Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt bị lay động, phá bung, những tấm kiếng bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn vội vàng trên mặt đường … Người người dồn dần ùn ùn … Mỗi lúc mỗi đông … Người la ó, chưởi thề, giành giựt chạy về phiá Building Brink, khu dồn Đất Đất, nhà thương Grall … Bất chợt, tất cả hình như lắng lại để nghe rõ … Có người tự tử
… Có người mới bắn chết … Ai … Lính … Lính mình … ở đâu … Ở ngoãi … Chỗ tượng thuy quân lục chiến …. Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng … Đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng quí giá, thức ăn đắt tiền. Anh cũng nhập vào đám đông xô đẩy đó trong giờ phút vỡ toang mối nối thời-không với những động tác bất ngờ, vô nghĩa, vô ích nhất … Kiểm soát lại số phim đang còn trong máy, trong túi, anh băng qua lối ngang trong thương xá, ra ngõ quán Thanh Vị, quẹo phải, men theo hàng hiên tiệm kem Đô Chính … Súng nổ … Súng Aka và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng Toà Đô Chính. Anh tiếp tục làm “nhiệm vụ”, đưa máy hình lên, chạy theo đám lính cộng sản với hai thanh niên cầm cờ đỏ. Thật ra chỉ là một mẫu vải màu đỏ. Loại hàng may áo dài. Thoáng rất ngắn anh ngừng lại. Nôn khan.
Sách Trần Trung Đạo có bài Thơ về Trung Tá Long-Người Chết nơi Tượng Thủy Quân Lục Chiến- Buổi Sáng vừa kể trên. Lời Thơ đơn giản – Mối Đau Thật.Trung Tá Long – Chúng tôi biết đến Danh Hiệu nầy tháng sau, nơi trại Long Giao, trước lần biết tin về các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn … Và nhiều Người Lính, rất nhiều người kể cả người thân của họ-Những Người Miền Nam-Không ai biết tên, đơn vị, ở đâu, trong buổi sáng ngày ấy. Có những gia đình đồng từ vận, như một tập thể lớn gồm ba thế hệ của thân nhân bên bà vợ huynh trưởng Hà Thượng Nhân. Những người một lần sống cùng mệnh nước. Cũng một lần chết theo cơn bức tử tận diệt quê hương.
Ba
– Chiều Đêm Lễ Giáng Sinh 1989. Người lặng thấm xuống theo ánh nắng thoi thóp tàn dần gây gây lạnh của Miền Nam dịp cuối năm. Xóm Đạo, xứ Phước Hải, vắng hoe không ánh nến, không lồng đèn, Cờ Giáo Hội đơn lẽ dưới tàng cây, cất dấu, chịu đựng. Những khoảng đường đất cát vòng vèo không bóng người. Khu Xóm Đạo nặng chìm u uất của Đêm Thánh Nạn chứ không phải lần Giáng Lâm hân hoan. Đoàn người chuẩn bị vượt biên ngồi kín trong căn nhà tranh cuối xóm. Người nhìn nhau nín thở, nói thầm. Không ai biết số phận mình giờ sau. Trời sập tối nhanh, ánh sáng leo lét ngoài sân không soi rõ mặt, ngọn đèn dầu chùm chụp đặt dưới đất, dọi lên mâm cơm. Chiếc rá tre lỗng chổng mấy chén đất, đũa tre, nồi cơm đen, chén nước mắm dầm quả trứng và rỗ rau lang. Quả trứng trơ trọi rờn rợn như trứng gối đầu người chết. Bữa cơm có dáng vẻ, không khí của lần ăn chạy giặc những ngày trước 1954 ở vùng Nam Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên … Chính xác hơn, cơm ăn cầu no trước lần xuống đồng, vào rừng theo lệnh của tổ, đội. An ở sân thóc Hợp Tác Xã, vừa ăn vừa nghe phân công “trực ban” …. Sau mười lăm năm giải phóng, Miền Nam nên được “sinh hoạt văn minh tiên tiến xã hội chủ nghĩa” –Sản phẩm ròng Miền Bắc. Phước Hải, Bà Riạ, Xứ Đạo trù phú nhất của tỉnh giàu nhất Miền Nam, nơi những triệu phú làm muối, nghề rừng, đi biển. Năm 1966, đơn vị anh, Tiểu đoàn 9 Dù thực tập hành quân ở đây, đêm ấy Xóm Đạo bừng bừng Đức Tin và ánh đèn néon từ máy điện chạy xăng của mỗi nhà. Cũng ở đây, 1965, dân đã đi báo Tiểu Khu cho biết điều động của trung đoàn Việt cộng bôn tập từ mật khu hắc Dịch Hắc xuống. Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân đã lập nên kỳ tích – Một tiểu đoàn đánh bại một trung đoàn ở vị trí phục kích. Hai mươi bốn năm sau đòn giáng trả hận thù còn nguyên độ sắc. Đêm Giáng Sinh, Xóm Đạo tắt lửa mù căm. Chuông gọi lễ khắc khoải buồn hiu.
Bữa cơm được dẹp đi mau chóng, không ai cạn lưng chén kể cả bé gái khoảng bảy tám tuổi ngồi cạnh người cậu, anh thanh niên chưa đầy hai mươi. Bé nhìn mọi người mắt ráo hoảnh, hai lúm đồng tiền nổi cao trên gò má giật giật. Bé dấu cơn kích động dưới nét mặt cứng săn tỉnh lạnh. Giờ Chúa giáng sinh cũng là lúc xuất phát. Anh mở chiếc xắc tay, rút bao thuốc mua buổi trưa nay, lúc lên xe; hút lại điếu thuốc lá đã bỏ đi từ rất lâu. Tay anh chạm cuốn Kinh Thánh, sức lực cứu nạn đã đưa anh qua được mười bốn năm tù, phần lớn nơi hầm tối … Chẳng lẽ lại bị thêm một lần nữa sao, Chúa tôi ơi?!
Đoàn người chia làm hai toán. Anh đi theo hai cậu cháu người trẻ tuổi, hai đơn vị vô hại, đơn giản nhất trong đám vượt biên. Năm “bảy-lăm” chắc anh ta khoảng ba, bốn tuổi, bằng thằng út của mình … Đứa nhỏcỡ ty, my … Đã có đâu trong năm đó …?!! Anh nghĩ lãng đãng khi đi theo hại chiếc bóng loáng thoáng. Thương thân thì ít, tội nghiệp nhiều hơn cho con trẻ … Con mình cũng có những đêm tối như thế nầy … Những đứa nhỏ miền Nam. Anh không nghĩ nhiều hơn; không có lòng cứng cỏi bình yên để tính thêm về những điều nguy khốn. Anh thật sự yếu ớt, đau đau, bất lực. Những đêm ngày xưa tuổi trẻ, anh có cây súng và những người lính. Bóng tối gây bất lợi hoặc che chở cho cả hai bên lâm chiến. Đêm nay chỉ một mình anh. Đưá bé kia còn khốn đốn hơn. Không mẹ cha và vây bũa vũng đen. Anh đã sống cùng những đứa bé như thế nầy đêm di tản Pleiku, 15 tháng Ba, 1975. Anh đã thấy những đứa bé thất thần, nháo nhác, không hơi sức khóc giữa đường đèo Củng Sơn Tuy Hoà; dưới chân Hải Vân, trên cầu sắt Nam Ô, bên nầy địa giới Quảng Nam, Đà Nẵng. Người lớn nhận khổ đau dù sao cũng có phần chọn lựa và quyết định. Con trẻ … Tại sao … Từ đâu hở trời …?!! Trước ngày về Hà Nội cướp chính quyền, Ông Hồ họp Quốc Dân Đại Hội ở làng Tân Trào, tháng Tám, 1945. Trụ sở họp dưới cây đa. Giữa giờ nghỉ, ông bế một em nhỏ và nói với các đại biểu …
“… Đời tôi chỉ có một ham muốn. Ham muốn tột bậc … Là mong cho các cháu thiếu nhi như cháu bé nầy được ăn no, mặc ấm, học hành”. Tất cả đại biểu đều cảm động. Có người phát khóc. Anh coi như ông ta đã nói thật. Nhưng cũng có một sự thật khác: Sáu thế hệ trẻ nhỏ Việt Nam, không thể tính số lượng tổng quát, đã chịu những hoàn cảnh vô cùng khốc liệt, đau đớn cực độ, tai biến gớm ghê, những cái chết năm lần bảy lượt không toàn thây … Kể từ khi ông ta cùng những người thừa kế nhất định thực hiện lời nói “chí nhân” kia bằng lối bạo lực – Bạo lực cách mạng!! Nửa thế kỷ sau, hôm nay, lời nói ấy cũng chỉ là một giả thiết càng ngày càng tồi tệ, không hề có khả năng thực hiện- Sự nghiệp kia vẫn đang tiếp tục do những người cầm quyền tại Hà Nội- Có tiếp sức tích cực, bền bĩ, hiệu quả của một giai cấp mới – Trí thức xã hội chủ nghĩa … Lẽ tất nhiên trong đó, những người làm “công tác giáo dục, văn hoá văn nghệ” đóng vai trò giềng mối … Những thi sĩ, nhà văn. Người xử dụng chữ nghĩa, nhân cớ tương lai, sự thật, tính thiện. Bởi một điều dễ nhận ra nhưng không ai nói lên, viết đến: Chính người cộng sản đã phá vỡ đời sống giản dị bình an cuả trẻ thơ, vất bỏ khả năng nhân đạo kia ngay tại trái tim ung thối bởi tham lam quyền lực chính trị của họ. Anh cũng là một trong sáu thế hệ trẻ nhỏ cùng khốn nầy. Anh và con trẻ cùng chịu một lần. Chỉ khác, kẻ sinh trước chịu lần đau trước. Thế thôi.
Đêm tối khuya, sao sáng bằng bặt, đất căm lạnh và lòng người trắng nhợt. Sau đoạn đường dài nguy khốn, nay anh được tự do chọn lựa tình cảnh nầy. Quà tặng Thượng Đế giành riêng Đêm Giáng Sinh. Lạy Chúa xincho rõ ý, giúp sức mạnh và bền vững Đức Tin … Đứa bé trước mặt bước thoăn thoắt, anh vô tình có so sánh:” … Năm xưa mình chạy bộ từ Ninh Hoà về Dục Mỹ, mười bốn cây số với súng cầm tay không quá một giờ; đitù những năm đầu tiên, bè hơn hai trăm cây nứa hộ cho hai ông bạn già Võ Long Tê, Lê Văn Dương lội sôngHồng mùa nước lũ bền như con cá kình. Thể mà bây giờ theo đứa cháu nhỏ không kịp … Mình già đến thểsao … Tuổi nầy bị tù nữa là khốn nạn.”
Anh chuyển bước đi gần như chạy khi qua Quốc Lộ 15, bất chợt liếc qua phía trái, hướng Bà Rịa … Bà Rịa, Suối Nghệ, Bình Giả … Sao đời anh cứ dính líu một cách khắc nghiệt với nơi chốn nầy. Từ đây anh đã ra đi, buổi sáng Thứ Hai, hai mươi hai tháng Sáu, mười lăm năm trước. Đường đi dần khó khăn, đoạn bằng phẳng đất cát đã thay thế bởi vùng đất phèn vừa được khai hoa, những ổ ruộng sụp lút chân trâu, bóng đứa bé ẩn hiện sùi sụp … Đám người đến một bờ kinh. Đêm qua sáng, Sao Hiệp Sĩ chống gươm đứng giữa trời canh giữ. Trời nguyên vẹn hằng có, dáng sao uy nghi, chỉ con người mong manh mải tìm chỗ ngủ đỗ. Nay đã buổi cuối đời. Ngày xưa, những đêm sao mùa Đông, kỳ trại Hướng Đạo trên dãy đồi hoa dũ dẽ vùng Phong Lệ, Miếu Bông, Quảng Nam – Đà Nẵng, đoàn thiếu niên nhìn dáng sao liên tưởng niềm cao cả tự tầng trời và mong được lần hiện thực điều ước mơ kia nơi trần thế. Và dẫu giữa chiến trận rạn rày, đêm cuối năm 1964, nơi đồn điền Ông Thịnh, bên sông Thị Tính, Bình Dương, giữa hai đợt đạn pháo kích, anh vẫn nhìn sao như mối thân thuộc riêng tư cùng anh lần qua đêm. Cũng dài cơn ngục tù không đứt đoạn với từng đêm trên đồi trại Thanh Cẩm, mặt dán vào khung song sắt, lắng nghe Sông Mã trầm trầm âm sóng nơi xa … Nhìn lên cao, khoảng rộng hai gang tay mở ra cho anh chốn nghìn trùng ngờm ngợp để luôn có cảm xúc … Tự nơi thăm thẳm kia có lời kêu gọi, an ủi, giữ gìn … Bền lòng chung thủy như trăng. Đêm nay, sao có canh giữ bình an cho người ..? Đám vượt biên dần tập trung chờ ghe đến “tắc xi” ra cá lớn. Đứa bé đã bám chắc vào lưng người cậu, buộc chặt bởi đoạn vải lớn rộng. Ghe đuôi tôm đi đến. Những tiếng thở dồn nén gầm ghìm. Bóng người lúp xúp, chen chúc bước xuống dòng tối sẫm loáng chấm sao. Anh nói nhỏ với người thanh niên … Em đưa chiếc túi anh đeo hộ, rảnh tay giữ cháu … Đồng thời bước sát gần lại, che đứa bé từ sau lưng. Cả ba đồng lần ngâm mình vào nước. Gió lạnh se sắt rờn rợn. Đường đạn vạch đỏ chói từ đầu sông, đồng hướng chiếc ghe đang tiến tới. Tiếng nổ vương vải vũng tối. Anh khua tay trước mặt … Khối lưng ngừơi thanh niên cõng đứa bé không còn. Những vệt đèn pin ngang dọc loang loáng săn đuổi. Âm động thân người rơi rớt, lụp chụp … Mị .. mi .. con đâu … Người thanh niên cuống quýt, vùng vẫy, giọng tắt nghẹn bởi ngộp nước … Hình như anh ta cố ngoi lên … Mi .. mi ..con đâu. Đưá bé đáp tỉnh … Con trên nầy … Anh ta kêu lên đâu đó … Không … được, nhảy xuống … Tiếng cứng cỏi, tự tin … Không. Tất cả lặng thinh. Súng vang sắc nhọn và lời hô …. Xung phong … xung phong …!!
Ghe nổ máy lớn, xô đẩy sóng, vút đi xuyên vào bóng tối. Thân người rời rụng xôn xao. Anh cho tay xuống chân rút đôi giày ba-ta, theo chiều nước chảy lội xuôi về phiá Nam. Khi ra đến xóm Đạo Chu Hải, nhìn lên trời, sao Hiệp Sĩ đã xuống sâu về phiá Tây … Anh chỉ nghĩ được loáng thoáng … Gần sáng rồi … may quá không bị bắt … Có cảm giác, phản ứng của người kiệt sức. Hai ngày sau, Báo Sài Gòn Giải Phóng có bản tin ngắn: “Bọn phản động xã Phứớc Hải, huyện Bà Rịa, tỉnh Đồng Nai ngụy trang dịp lễ tôn giáo để tổ chức đưa người ra nước ngoài. Bọn phản bội Tổ Quốc đã bị trừng trị đích đáng … “
Những đứa bé cuả câu chuyện vừa kể bị vất ra khỏi mục tiêu “một trăm năm trồng người cuả đảng cộngsản”; nhưng chúng hiện đủ trong Thơ cuả những người viết thấm Đau. Thơ Trần Trung Đạo dẫn chúng ta đi xa hơn, quá Bà Rịa, Việt Nam để đến trại cấm Hồng Kông, Thái Lan, với những đưá bé chỉ thấy được mặt trăng lần đầu trong đêm “cưỡng bức hồi hương về một chốn gọi là Việt Nam”. Nơi em chưa hề biết.
Và cuối cùng,
Anh luôn có cảm giác “Mẹ vừa mới mất” cho dẫu đã ba mươi, bốn mươi năm … Hoặc lâu hơn. Nhưng quả thật, …. Tường như Mẹ vẫn còn đây. Mẹ luôn ở với cơn. Thơ Trần Trung Đạo mở đầu và kết thúc từ, với Mẹ.
Người Viết Thơ chưa quen (chắc trẻ tuổi hơn) thúc giục anh có ý nguyện đã tàn lụi hơn ba mươi năm … Phải trở về … Phải trở về … Về Đà Nẵng.
Ngày cuối Tháng Ba,
1997
Lần mất Dà Nẵng. Nha Trang.
Người Cu-Ba
Người Khzakhstan
Người Trung Hoa
Người Việt…..
Đồng là nạn nhân chung một hoàn cảnh
Không thể sống với một chế độ chính trị khốn cùng biển lận nhất của các chế dộ độc tài
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.