Mme Nhu – Trần Lệ Xuân Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 12 Sep 2026

Cánh cửa mở ra trước khi tôi gõ, và John Phạm hiện ra trên ngưỡng cửa. Ông là cha của chị dâu của bạn tôi. Tôi đã gặp con gái ông đúng một lần, nhưng John đã chào đón tôi như một người thân lưu lạc đã lâu. Ông mặc bộ quần áo thông thường của một lão ông miền trung tây, chiếc áo sơ mi kẻ ca rô bỏ trong quần chinos thắt dây lưng. Nụ cười toe toét hết cỡ khiến đôi má của ông nhô lên thành hai quả táo hồng hào. “Chào mừng đến nhà tôi”, ông rạng rỡ, đoạn nắm tay tôi lắc lên lắc xuống như thể ông đang bơm nước lên từ một cái giếng vậy. Cú bắt tay của ông lão bảy mươi mốt tuổi hãy còn mạnh mẽ lắm. Khi còn là một chàng trai trẻ, John từng là lính bảo vệ tư gia Tổng thống ở Sài Gòn từ năm 1954 đến năm 1963. Giờ đây ông sống trong một ngôi nhà nông trại có tầng lửng ở mặt Kansas của Kansas City.

Ngôi nhà đã là nhà của John kể từ cuối những năm 1970. Ông đã trốn thoát khỏi Việt Nam trên một chiếc thuyền câu cá từ Đà Nẳng, nơi mà các binh sĩ Mỹ gọi là Biển Trung Hoa, chỉ ba giờ trước khi thành phố rơi vào tay Cộng sản năm 1975. John đến Hoa Kỳ cùng vợ và mười đứa con với hai bàn tay trắng. Một trung úy thân thiết đã khuyên ông hãy đưa gia đình rời khỏi California – quá đông đúc, ông này nói. Vì vậy John đã nhìn vào bản đồ và chọn Kansas vì nó nằm ngay giữa đất nước.

Những tiếng kèn cor và tiếng tiêu của một sô trình diễn trên ti vi văng vẳng xuống từ căn phòng nhỏ. Tôi nhận được lời chào đầy bẽn lẽn của một đứa cháu đang đi ngang qua, và John mỉm cười với thằng bé đang rụt rè đi vào nhà bếp. “Xin mời”, John vừa nói vừa chỉ tôi chiếc tràng kỷ màu quả đào héo, “ngồi xuống, chúng ta hãy nói chuyện”.

John hơi thấp hơn tôi, vì vậy ngay cả khi đang ngồi, tôi vẫn có thể nhìn thấy đỉnh đầu của ông. Màu trắng của nước da đầu lộ ra qua những lằn lược trên mái tóc bạc như cước của ông. Điều đó khiến ông trông có vẻ dễ tổn thương. Tôi đã cố hình dung ông khi còn là một cậu trai hai mươi tuổi, dẻo dai và nhanh nhẹn. Ông hẳn đã là một tay xạ thủ cừ khôi để được chọn làm một vệ binh trong dinh phủ. Nhưng thật khó để dung hợp một lão ông tươi cười và ân cần trước mặt tôi với chàng thanh niên cứng cỏi lạnh lùng mà ông đã từng. John đã làm việc cho cùng một bộ máy an ninh quốc gia khét tiếng không kém những đội mật vụ ném người vào những chuồng cọp – những xà lim chật ních trên đảo Côn Sơn nơi hàng ngàn người đã bị tra tấn, bỏ đói, và giết chết trong suốt cuộc chiến.

Những ông chủ của John, Tổng thống và em trai ông, sống ngay trong dinh phủ gần chốt gác của John. Ông đã dành gần chín năm để làm việc bên cạnh Ngô Đình Nhu và vợ ông, bà Nhu.

Tôi ngồi vào vị trí của mình trên tràng kỷ khi tôi nhìn thấy vật trang trí trên bức tường trước mặt tôi. Chúa Jesus bị treo trên thập giá vàng, và ngay sát bên ngài, một bức chân dung Tổng thống Ngô Đình Diệm. Một lá cờ sọc đỏ vàng treo trong góc. Ngài Tổng thống đã chết hơn bốn mươi năm, Việt Nam Cộng hòa đã mất ba mươi năm, nhưng trong ngôi nhà này, quá khứ hãy còn rất sống động.

Tôi trò chuyện với John đến tận chiều. Mùi cỏ chanh, giấm, và thịt rán xông lên từ nhà bếp. Vợ John bước vào, hay tay đặt trên tạp đề, hỏi chúng tôi có muốn dùng một bát súp không. Bà đã làm món bún bò Huế, một món thịt bò có vị rất cay từ miền Trung Việt Nam. Đang khi tôi húp sì sụp những sợi bún dài lượt thượt, John tiếp tục nói về cuộc sống trong những dinh thự của ông Diệm, nỗi hoài nhớ về quốc gia thời trai trẻ chất chứa trong giọng ông.

Trong ngôi nhà này, Jesus và Diệm đều là những đấng cứu tinh và trường tồn.

Sinh ra ở miền Trung Việt Nam vào năm 1901, Ngô Đình Diệm là một học sinh giỏi khi còn là một cậu bé, nhưng thay vì theo chân các anh đến Pháp hoặc vào học trường dòng, ông đã dấn thân vào những hoạt động chính trị địa phương. Ông Diệm bước chân vào chính quyền tỉnh dưới thời Pháp thuộc với chức quận trưởng khi ông hai mươi tuổi. Những cán bộ công chức ở Việt Nam là những sĩ phu trí thức được gọi là quan lại; họ là những sản phẩm của sự đào tạo khắt khe và phải vượt qua những kỳ thi của triều đình về các môn viết, văn chương, lịch sử, và toán học. Chỉ trong một vài năm, ông Diệm đã leo lên chức giám sát hành chính; ông là người thu thuế, quận trưởng, và thẩm phán của cả vùng. Chức vụ của ông cho phép ông ngồi xe kéo, nhưng ông Diệm thích cưỡi con ngựa của chính mình do một anh phu dắt đi hơn. Ông đã đề xuất những cuộc cải cách táo bạo cho những cấp quan chức Việt, bao gồm nhiều sự tự quyết hơn trước người Pháp và được giáo dục tốt hơn, nhưng đã bị làm ngơ. Được bổ nhiệm làm Tuần vũ Phan Thiết ở vùng đông nam bộ Việt Nam vào năm 1929, ông Diệm đã nổi tiếng là người công bằng và chính trực một cách không thể lay chuyển. Ông ngay thẳng đến độ khi người Pháp tiếp tục cự tuyệt những cải cách mà ông đã đề nghị, ông trả lại tất cả các tước hiệu, huy chương và lui về ở ẩn. Với ông thì hoặc là tất cả hoặc không gì cả. 1

Ông Diệm đã đột ngột rút lui khỏi sân khấu chính trường vào năm 1933 nhưng không phải là hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Ông vẫn tiếp tục làm việc sau hậu trường đến năm 1954, khi ông xuất hiện trở lại như một nhân vật của công chúng.

Ông bà Nhu và ba người con của họ đến sân bay Tân Sơn Nhất tại Sài Gòn vào chiều ngày 25 tháng Sáu năm 1954, chỉ để biết rằng chuyến bay đến từ Âu châu đã bị hoãn lại. Cùng với ông bà Nhu, một đám đông vài trăm người đã chờ đợi chuyến bay hạ cánh, bao gồm một tướng lãnh cấp cao trong quân đội thuộc địa Pháp, các thành viên của hoàng gia, những nhà ngoại giao nước ngoài, và những quan chức trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. 2 Chồng bà Nhu đã nhất quyết yêu cầu vợ và các con cùng gia nhập phái đoàn gồm một vài trong số những nhân vật quan trọng nhất toàn cõi Đông Dương đang chờ đợi sự trở lại của anh trai ông Nhu. Cuối cùng, Ngô Đình Diệm đã được bổ nhiệm làm tân Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa tại một hội nghị hòa bình ở Genève, Thụy Sĩ. Trong cái mà sau này sẽ được gọi là Hiệp định Genève, các bên tham dự – Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô, và Trung Quốc – đã đặt dấu chấm hết cho cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bằng việc thống nhất chia Việt Nam thành hai quốc gia ngăn cách bởi vĩ tuyến mười bảy. Hồ Chí Minh sẽ làm chủ tịch của quốc gia Cộng sản miền Bắc, từ tổng hành dinh của ông ở Hà Nội. Bảo Đại, cựu hoàng đế, sẽ là quốc trưởng danh nghĩa của nhà nước mới không Cộng sản phía nam, nhưng ông vẫn đang ở Pháp. Quyền lực thật sự của chính phủ sẽ vào tay vị Thủ tướng hãy còn khá vô danh mà người Mỹ ủng hộ, người đàn ông trên bức tường của John Phạm và là anh chồng bà Nhu: Ngô Đình Diệm.

Dưới thời ông Diệm, miền Nam Việt Nam sẽ được “giải phóng” – giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân, giải phóng khỏi chủ nghĩa Cộng sản, nhưng còn giải phóng khỏi cái gì khác nữa thì chưa rõ. Trên lý thuyết, trong vòng hai năm, vào năm 1956, cả nước sẽ tổ chức tổng tuyển cử. Người Việt Nam sẽ tự quyết định những gì họ muốn, nhưng cho tới lúc đó, Bắc Việt Cộng sản ở trên vĩ tuyến mười bảy, và một cái gì đó hoàn toàn mới đã được tạo ra ở phía dưới vĩ tuyến ấy. 3

Chờ ông Diệm tại sân bay, bà Nhu ôm bé trai út, Quỳnh, vào lòng để trấn an nó. Trong bóng mát nhà chờ máy bay, bà kẹp đứa bé bên hông và liên tục đi qua đi lại trên đôi xăng đan của mình. Chẳng còn tay nào để giữ hai đứa nhỏ còn lại; sau khi quan sát chúng ngọ nguậy không yên và bứt rứt những chiếc cổ áo xinh đẹp của mình, bà gật đầu với bé gái tám tuổi và em trai năm tuổi của nó, và chúng chạy đi, lao qua bên kia con đường nhựa sạch bong chơi trò cút bắt. Bọn trẻ đã không cần được gọi lại khi máy bay đến.

Nó chỉ là một cái chấm đen trên nền trời sáng rỡ, nhưng nó tượng trưng cho một cái gì đó lớn lao và hơi đáng sợ vì nó xa lạ: tự do. Lệ Thủy và Trác đã chạy đến đứng bên cha mẹ chúng, và cùng nhau cả gia đình năm người đương đầu với tiếng gầm rống của cỗ máy đang lao đến với đôi tay bịt chặt tai.

Một người đàn ông năm mươi ba tuổi bước ra khỏi phi cơ và vẫy tay về phía những cái đầu lố nhố. Ông Diệm nheo nheo mắt – lẽ nào ông không quen với ánh mặt trời nhiệt đới chói chang trong suốt thời gian xa xứ? Lẽ nào ông thậm chí có thể nhìn thấy họ đang đứng đó đợi ông? Rốt cuộc vào ngay lúc này, ông Diệm trông vẫn không giống như người đàn ông trong trí tưởng tượng của nhiều người. Ông có một gương mặt tròn vành vạnh và một cái đầu hầu như dính liền với vai. Mái tóc đen của ông Diệm, bóng bẩy vuốt ngược ra sau như những chiếc lông của con thú ướt lướt thướt, làm nổi bật ấn tượng tổng thể của một chú chim cánh cụt đến từ cái bụng bự của ông, bộ com lê màu da cá mập trắng tiêu biểu, và dáng đi vòng kiểng. Ông thậm chí có lẽ đã trở nên tròn trĩnh hơn sau những chuyến đi của mình.

Bà Nhu đã không nhìn thấy ông Diệm trong bốn năm, kể từ khi ông ra đi khỏi Việt Nam. Ngoại trừ lần ở lại ngắn ngủi với vợ chồng bà Nhu ở Đà Lạt vào cuối những năm 1940, anh trai ông Nhu đã luôn luôn có vẻ là một nhân vật xa cách với bà. Ông hầu như suýt soát tuổi cha bà, và trước Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, ông Diệm đã quá bận bịu xây dựng một đảng chính trị bí mật dưới cái tên Đại Việt Phục Hưng Hội hơn là quan tâm nhiều đến cô vợ trẻ của em trai mình. Khi người Pháp săn lùng ông vào năm 1944, ông Diệm đã phải trốn chui trốn nhủi. Ông trốn thoát với sự giúp đỡ của viên lãnh sự Nhật, người đã lén đưa ông ra khỏi thành phố bằng cách cải trang ông thành một sĩ quan Nhật. Ông Diệm đã vào lại Sài Gòn trong khi ông bà Nhu vẫn ở lại Huế. Ông được an toàn ở đó cho đến sau khi người Nhật đầu hàng vào cuối Thế chiến thứ hai. Giống như bà Nhu, ông Diệm đã bị những người Cộng sản cầm tù vào năm 1946. Ông bị chặn lại trên một chuyến tàu lửa trở lại Huế, bị đưa đến một túp lều trên vùng núi xa xôi, và bị giam ở đó ba tháng trước khi được đưa tới Hà Nội. Lãnh tụ của Việt Minh, ông Hồ Chí Minh, đã yêu cầu một cuộc gặp mặt tay đôi. 4

Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm có một vài điểm chung. Cả hai đều đến từ miền Trung Việt Nam, và cả hai đều được cha họ thấm nhuần những phẩm cách của một nhà dân tộc chủ nghĩa chống Pháp và chống thực dân. Ông Hồ thậm chí đã học tại ngôi trường ở Huế do cha ông Diệm sáng lập. Giống như ông Diệm, Hồ Chí Minh hy vọng rằng người Mỹ sẽ giúp người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông có lý do để nghĩ như vậy. Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS), tiền thân của CIA, đã can thiệp vì ông Hồ khi ông bị giam cẩm ở Trung Hoa Dân Quốc. Ông đã trích dẫn một phần của Tuyên ngôn Độc lập Mỹ khi ông tuyên bố nền độc lập của Việt Nam vào tháng Tám năm 1945, và những người lính Việt Minh của ông đã tham gia vào các sứ mệnh chống Nhật của Mỹ. Cùng lúc, Hồ Chí Minh là một người Cộng sản sắt đá, một môn đồ của Karl Marx và là người tin vào cuộc cách mạng vô sản. Ông những muốn xây dựng một Việt Nam độc lập, xã hội chủ nghĩa, nhưng ông cũng biết rằng cơ hội tốt nhất để đưa Việt Nam đến sự độc lập đó là bằng việc tạo ra một sự nghiệp chung cho những người tư bản chủ nghĩa, địa chủ, và tư sản, chí ít trong một thời gian.

Xét đến sự việc họ sẽ đối đầu với nhau chỉ vừa vặn một thập niên sau, không có gì đáng ngạc nhiên khi ông Diệm không bao giờ công khai thừa nhận đã từng tiếp xúc với những lãnh tụ Việt Minh. Nhưng những nghiên cứu gần đây về những hoạt động của ông Diệm trong quãng thời gian đó chứng tỏ rằng trên thực tế ông đã có liên hệ. Ông Diệm đã quan tâm đến việc để ngỏ những lựa chọn của mình càng lâu càng tốt. Ông đang chờ xem liệu một phương án thứ ba, không phải người Pháp cũng không phải người Cộng sản, có khả thi hay không. Trước năm 1949 ông Diệm rốt cuộc đã đi đến một quyết định dứt khoát, ông cự tuyệt Việt Minh và đồng thời tuyên bố sự hợp tác của cựu hoàng Bảo Đại với người Pháp là không thể chấp nhận được. Đứng một mình thì nguy hiểm thật, nhưng ông Diệm đã chán ngấy những giải pháp nửa vời. “Tôi tán thành những cải cách xã hội triệt để và táo bạo, với điều kiện là phẩm giá con người sẽ luôn được tôn trọng và được tự do phát triển”. 5 Với ý nghĩa này ông Diệm đã công bố một hiệp ước dưới tên ông vào ngày 16 tháng Sáu năm 1949, hy vọng rằng, theo học giả Edward Miller, tập hợp được mọi người dưới ngọn cờ đại nghĩa của ông. “Lời tuyên bố này đã được rất nhiều người Việt Nam đọc và ghi nhớ, nhưng nó đã không tạo ra một làn sóng mến mộ mới mẻ dành cho ông Diệm… Tác động ngay tức thì của nó là làm cạn kiệt lòng kiên nhẫn của cả người Pháp và Việt Minh”. Ông Diệm đang tuyệt giao với mọi người nhằm bắt đầu lại một cái gì đó mới mẻ.

Sau chuyến lưu trú ngắn ngủi với gia đình ông Nhu ở Đà Lạt, ông Diệm xuất dương để tìm kiếm những đồng minh mới, mà đầu tiên, không có kết quả, đến Nhật Bản và sau đó đến Mỹ. Ông Diệm đã nhận ra ông có thể lợi dụng mối ác cảm lịch sử của người Mỹ đối với chủ nghĩa thực dân. Ông đã đến vào một thời điểm không thể thích hợp hơn. Đó là vào thời kỳ đỉnh điểm của Nỗi Sợ Đỏ; những người Mỹ đang xây hầm tránh bom và dạy trẻ em trốn tránh những bức xạ của bom hạt nhân Nga dưới bàn học ở trường. Kỷ nguyên McCarthy là thời điểm hoàn hảo để ông Diệm xuất trình tấm căn cước chống cộng của mình. Ông đã thành công một cách khó tin trong việc tìm kiếm những người có ảnh hưởng đồng cảm với chính nghĩa của ông. Hồng y giáo chủ đẩy quyền lực Francis Spellman, cùng với các học giả, hàng tá thành viên Quốc hội, bao gồm thượng nghị sĩ trẻ đến từ Massachusetts, John F. Kennedy, và ngay cả Wild Bill Donovan, người sáng lập ra OSS, thảy đều bày tỏ sự khâm phục đối với ông Diệm.

Sự ủng hộ và khích lệ tinh thần thực là tốt đẹp và gây phấn chấn, nhưng công việc quyết định thì đang diễn ra ở Việt Nam, như bà Nhu biết rất rõ. Chồng bà, em trai ông Diệm, là người đang đặt nền móng cho sự trở lại của ông Diệm. Chỉ có chống cộng không thôi thì không đủ; ở đây còn cần đến một triết lý chính trị thật sự. Ông Nhu đã mô phỏng triết lý nhân vị chủ nghĩa của đạo Công giáo sao cho phù hợp với tình hình đặc thù của Việt Nam, một công cuộc đồ sộ gây ấn tượng bởi tính táo bạo hơn là những kết quả của nó. Đảng Cần Lao đã sẵn sàng để trở thành nền tảng thiết thực cho một phong trào chính trị. Ông Nhu liên kết với các nhà hoạt động công đoàn, ủng hộ sự xây dựng các liên minh công nông, và xuất bản một tập san chính trị gọi là Xã Hội, bênh vực các nghiệp đoàn.

Bà Nhu đã rời Đà Lạt năm 1953 khi ông Nhu kêu gọi bà và các con chuyển về Sài Gòn để hỗ trợ ông Diệm lên nắm quyền. Họ thuê năm phòng kề nhau sát bệnh viện St. Pierre. Hai phòng làm nhà in cho tờ tuần san của ông Nhu, và ba phòng còn lại được dùng làm khu vực sinh hoạt cho gia đình năm người. Bà Nhu đã trang hoàng phòng ngủ bằng những đồ đạc cũ bà tìm thấy ở chợ trời. Những hoa văn chạm trổ trên đồ gỗ làm bà vui thích; chúng đủ tao nhã để khiến người ta hình dung rằng một gia đình thực dân khá giả nào đó đã bỏ lại chúng khi họ trốn chạy về Pháp. Đó là sự an ủi đôi chút cho cái đại bản doanh “đầy cứt ruồi” mà họ sống trong đó.

Bà Nhu mô tả những ngày đầu ở Sài Gòn là vô vị đến mức bà muốn khóc. Nhà văn Pháp Lucien Bodard đã từng nhìn thấy khung cảnh lòe loẹt rẻ tiền lúc bà còn ở Đà Lạt. Ông tả lại hoàn cảnh ở Sài Gòn của bà thậm chí tồi tệ hơn. “Lần đầu tiên tôi đến đó, tôi băng qua một cái sân bụi bặm phơi đầy quần áo. Từ một hành lang lợp tôn hiện ra một phụ nữ trẻ mặc áo dài trắng và quần xanh. Trông cô ta thật lôi thôi lếch thếch. Bọn trẻ con bám lấy cô ta. Cô ta tiều tụy bởi nỗi thất vọng đến độ tôi đã không nhận ra cô ta”. Đây không phải là cuộc hôn nhân hay cuộc sống mà cô đã được sửa soạn cho. “Tất cả những gì cô ta phải làm là giặt giũ, nấu ăn và tắm rửa cho con”. 6

Một buổi chiều, bà Nhu đang thiu thiu chợp mắt thì giật mình dậy bởi những tiếng thụi ầm ĩ đến từ phòng in tờ tập san của chồng ở sát bên. Bọn trẻ vẫn đang ngủ nên bà lẻn vào bên trong không một tiếng động. Bà nhìn thấy những tấm lưng của tám người đàn ông, mặc quần áo trắng và đội nón rơm giống hệt nhau, châu đầu xung quanh một cái gì đó dưới đất. Tầm nhìn bị khuất, và bà không thể nhận rõ cái gì đang ở trước mặt họ. Thay vì cảm thấy sợ, bà Nhu điên tiết với ý nghĩ rằng những người lạ đã xâm phạm vào chỗ ở của gia đình bà. Bà sắp sửa hiểu được cái gì đang diễn ra. Bà tháo một chiếc guốc ra, một loại guốc đế mềm bà mang đi trong nhà. Nhưng bây giờ bà sử dụng nó với mục đích khác. Bà đập chiếc guốc vào lưng người đàn ông gần bà nhất.

“Chuyện gì đang xảy ra ở đây?” Bà hỏi.

Bảy người kia dừng cái việc họ đang làm và bước lùi lại đủ để lộ ra một người đàn ông đang cúi thu lù dưới sàn. Anh ta ngồi thẳng dậy và hạ hai tay xuống khỏi đầu, và đó là lúc bà Nhu thấy rằng họ đang đánh đập người đàn ông mà chồng bà đã thuê để chạy nhà in. Anh ta bò lết trên hai chân, máu chảy xuống mặt. Thay vì nói lời cảm ơn, anh nhô người lên thành một cái nhún vai và cười với bà Nhu một nụ cười gượng gạo.

“Ồ, không có gì đâu”, anh ta nói với tất cả vẻ hờ hững. Anh ta có thể huy động và tự làm mình bận rộn bằng việc rút một điếu thuốc ra khỏi bao thuốc rúm ró.

Bà Nhu nhìn xung quanh, nhưng không ai khác trong phòng cử động. Người đàn ông này rõ ràng không muốn sự giúp đỡ của bà, nên bà bước lùi lại. Bà có thể làm gì đây? Niềm kiêu hãnh bị tổn thương và nỗi thất vọng trào dâng, bà Nhu mang lại chiếc guốc và sải bước ra khỏi phòng.

Bà giam mình trong nhà cho đến lúc chồng về. Bà lao vào vòng tay ông, gặng hỏi chuyện gì đã xảy ra. Những người đàn ông đó là ai? Nhưng ông Nhu không đáp. Bà tự thấy mình đang lấy làm kinh ngạc về người đàn ông bà đã kết hôn. Chẳng phải bà đã cứu người làm của ông khỏi bị thương hay sao? Chuyện gì xảy ra nếu ông Nhu ở trong văn phòng, hay đang bày mưu tính kế như thường lệ trong một tiệm cà phê vô danh nào đó? Liệu họ có làm hại ông ấy không?

Nỗi âu lo của bà Nhu rốt cuộc đã khơi ra một câu trả lời, nhưng không phải câu trả lời mà bà mong đợi. Ông Nhu giữ một thái độ lạnh nhạt và nở nụ cười toe toét như thường lệ. “Hãy lo việc của em và đừng dính vào”, ông nói, và mặc cho nụ cười trên gương mặt ông, bà biết đó là một lời cảnh cáo. Về phần người đàn ông làm việc trong nhà in, người mà bà Nhu biết chắc chắn mình đã cứu mạng anh ta vào ngày đó, anh ta tiếp tục làm việc ở phòng sát bên. Và mỗi lần nhìn thấy anh ta, bà Nhu lại một lần nữa được nhắc nhở về việc giữa bà và người chồng lúc bấy giờ là một khoảng cách xa xôi vời vợi đến thế nào.

Ông Diệm, tân Thủ tướng, đã đối mặt với tất cả mọi loại vấn đề trong lần trở về Việt Nam năm 1954, bắt đầu với sự kiện rằng ông đã kế thừa một hệ thống đổ vỡ. Ngân khố quốc gia trống rỗng. Người Pháp đã không đào tạo những nhà quản lý người Việt thạo việc. Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn bị tê liệt về quân sự và chính trị. Những băng đảng thống trị các thành phố. Chợ đen mọc lên như nấm. Những thành phần chi phối kinh tế là ma túy, cờ bạc, và mãi dâm. Dòng người tị nạn từ miền Bắc chỉ làm cho mọi chuyện tồi tệ thêm. Không có đủ chỗ cho tất cả nhũng người tị nạn sống và làm việc. Họ dồn nhung nhúc xung quanh Sài Gòn; những gia đình ngủ chen chúc trong những ống xảy dựng bằng xi măng.

Sau khi chia đôi đất nước, Hiệp định Genève có một điều khoản cho phép người dân vượt qua cả hai phía của đường biên giới, nhưng mọi sự di cư sẽ phải diễn ra nội trong giới hạn nghiêm ngặt một năm. Quân đội Pháp và hải quân Mỹ đã cung cấp phương tiện vận tải hậu cần cho những người miền Bắc đang chạy vào Nam, trong đó Hoa Kỳ tài trợ hầu như tất cả ngân sách. CIA cũng gởi một đội quân để thuyết phục càng nhiều người miền Bắc di cư vào miền Nam càng tốt, tạo ra bằng chứng rằng nhân dân đang “bỏ phiếu bằng chân” cho người của Mỹ, ông Diệm, và lời hứa về một Việt Nam tự do. 7 Nhưng không ai tưởng tượng được lại có nhiều người đã ra đi như vậy. Một cuộc di cư khoảng một triệu người từ miền Bắc Cộng sản đổ vào miền Nam. Với tất cả những gì Việt Minh đã làm, lôi cuốn bản năng dân tộc chủ nghĩa nơi nhiều người Việt Nam và thành công trong công cuộc đánh đuổi người Pháp ra khỏi bờ cõi, một bộ phận dân chúng vẫn quá khiếp sợ chủ nghĩa Cộng sản để nán lại và chứng kiến nó hành động. Có những lời thì thầm về những cái sắp xảy đến: sự thanh trừng giai cấp, cải cách ruộng đất, và sự xâm phạm của nhà nước vào những sự vụ địa phương – đó là chưa nói đến tôn giáo. Đặc biệt những người Công giáo đã lũ lượt tháo chạy.

Dòng người đi ngược lại hầu như chỉ là nhỏ giọt. Những cán bộ Cộng sản cao cấp nhất ở miền Nam tập kết ra Bắc, và chính phủ ông Hồ Chí Minh đã triệu hồi những đơn vị quân đội nhân dân nổi bật nhất nhưng kêu gọi những người còn lại vốn đã biểu thị sự tán thành Chủ nghĩa Cộng sản ở lại: “ra Bắc nghĩa là chiến thắng, ở lại miền Nam là gặt hái thành công”. 8 Những người ủng hộ Việt Minh ở miền Nam lui vào vòng bí mật. Họ sẽ có ích vào một lúc nào đó khi cuộc đấu tranh tái thống nhất được khởi sự.

Áp lực dân số tức thời trên Việt Nam Cộng hòa đã đe dọa làm sụp đổ chế độ mới. Ngay cả sự đánh giá của quân đội Mỹ về hoàn cảnh mà ông Diệm lâm vào cũng đáng lo ngại. Những vấn đề mà vị tân Thủ tướng đối mặt thật quá nhiều và quá khó khăn, bản báo cáo kết luận, đến độ có lẽ là “không khắc phục được”. 9

Không lâu sau khi ông Diệm trở lại, bà Nhu nhận ra với nỗi khiếp sợ rằng việc ông lên nắm quyền cai trị Việt Nam Cộng hòa đã là một mưu đồ tinh vi. Bất kỳ ai đối mặt với tình trạng hỗn loạn này đều chắc chắn phải thất bại – và người Pháp căm ghét ông Diệm đủ để muốn hủy hoại ông. Ông anh chồng của bà hiển nhiên đã thể hiện một cá tính độc lập và vô ơn đối với sứ mệnh khai hóa của người Pháp. Nếu ông Diệm thất bại, người Pháp có thể biện luận một cách hợp lý việc thay thế ông bằng một ai đó dễ phục tùng ảnh hưởng của họ hơn.

Bà Nhu không phải đang tưởng tượng ra mọi chuyện. Người Pháp thật sự đang tìm cách tống khứ ông Diệm, như Edward Lansdale đã xác nhận. Lansdale đã gia nhập quân đội Mỹ sau vụ Trân Châu Cảng và được tuyển mộ vào ngành tình báo quân sự, sau đó là OSS, bởi Wild Bill Donovan. Ông đã trở nên nổi bật với sự thành công trong những chiến dịch chống nổi loạn và được gởi đến Việt Nam năm 1954 để điều hành sứ mệnh quân sự ở Sài Gòn. Khi các quan chức người Mỹ khác cố truyền đạt những nỗi ngờ vực về vị lãnh tụ Việt Nam Cộng hòa với Tổng thống Dwight D. Eisenhower và Bộ Ngoại giao ở Washington, Lansdale đã khéo léo lẩn tránh và phản bác lại, xác định một lập trường tái xác nhận sự ủng hộ của Mỹ vào vị lãnh tụ ở Sài Gòn. Một số người nói rằng Graham Greene đã xây dựng nhân vật hảo hán giang hồ và ngây thơ một cách nguy hiểm Alden Pyle trong Người Mỹ Trầm Lặng dựa trên Lansdale, nhưng nhiều người Mỹ nghĩ rằng ông là một người hùng của sự nghiệp chống cộng. John F. Kennedy là một trong số những người coi Lansdale là một James Bond có ria mép ở bên này Đại Tây Dương. Nếu có một điều gì nữa về ông, thì Lansdale là một nhân chứng về sự can thiệp của người Pháp vào chính quyền ông Diệm. Theo quan điểm của Lansdale, người Pháp cảm thấy ông Diệm “là một thứ muối xát vào vết thương nhức nhối của họ”. Việc Pháp mất Đông Dương vào tay của một đạo quân Cộng sản đã đủ tồi tệ, và giờ thì ông Diệm lên nắm quyền, một thế kỷ của niềm kiêu hãnh thực dân Pháp đang lâm nguy. Ông lại đang thay tên những con đường theo tên những nhà ái quốc Việt Nam, quốc hữu hóa các ngành công nghiệp của Pháp, và ra sức làm cho những người Pháp còn lại ở Việt Nam cảm thấy không được hoan nghênh. Người Pháp nhận thấy rằng để tự bảo vệ bản thân và lợi ích chiến lược lâu dài của mình ở Đông Dương, họ cần rũ bỏ ông Diệm.

Có những người đã hiểu chuyện nhanh hơn. Ngay từ ban đầu, chồng của bà Nhu đã tỏ ra “vô cùng lo lắng” việc anh trai ông “không ý thức đầy đủ về mức độ nghiêm trọng cực kỳ của tình hình ở Việt Nam” khi ông tiếp nhận chức Thủ tướng từ hoàng đế Bảo Đại năm 1954. Ông Diệm đã hình thành một “nỗi căm ghét mù quáng với người Pháp” và với người đã ban cái vinh dự hiểm độc của chức Thủ tướng cho ông. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã khuyến cáo rằng “Bảo Đại đừng bao giờ nên trở lại Việt Nam vì ông sẽ gặp nguy hiểm tính mạng”. 10 Một khi những hàm ý sâu xa đã được hiểu rõ, bà Nhu coi âm mưu đó là chuyện rất riêng tư. Sau tất cả những giờ ở bên ông anh họ ở Đà Lạt, vuốt ve niềm kiêu hãnh và đánh bóng cái tôi của ông, bà cảm thấy mình bị phản bội. Bà đã còn dám nghĩ rằng vì bà, Bảo Đại đã trao cho ông Diệm một cơ hội làm người vĩ đại. Bà có thể đã tự hào về chuyện đó khi nhiều điều khác chưa lộ ra. Giờ đây bà thấy rằng anh họ bà đã lợi dụng bà và gia đình bà. Bà sẽ không tha thứ cho ông ta lẫn người Pháp.

Năm 1954 và 1955, ông bà Nhu đã kết thân với những người Mỹ, và bà Nhu đã trở nên gắn bó với một phụ nữ trạc tuổi bà tên là Virginia Spence. Spence là một nhân viên hợp đồng của CIA mà nhờ nói trôi chảy tiếng Pháp đã được gởi đến Sài Gòn không kinh qua sự huấn luyện tác nghiệp. CIA mô tả tình bạn của cô với bà Nhu là “chân thành”, và ông Nhu tất nhiên đã khuyến khích vợ theo đuổi nó. Vì tình bạn của họ, bản thân ông Nhu nổi lên trong mắt Spence như “kẻ hứa hẹn nhất với một phần số không mấy ấn tượng”. Mô tả của cô về ông đầy sự hoài nghi: ông là một “kẻ lập mưu bẩm sinh”, và bản chất vụng trộm của vai trò ông trong chính quyền ông Diệm dường như đã củng cố phân tích đầu tiên của cô. Cô cũng mô tả ông như một gã thôn quê mùa ngờ nghệch có thể mau chóng rước lấy những rắc rối quá sức vào mình. “Ông ta hoàn toàn cả tin trước bất kỳ điều gì một người bạn nói ra. Ông có một tư thế chính trị nhất định và một thiên bẩm tuyệt vời trong việc biến không thành ra như có”. Vì vậy ông Nhu là một nhà chiến thuật có đôi chút dáng dấp, và theo như Spence nhận thấy, không ai sánh được với Nhu trong tư cách một nhà hoạt động chính trị hiệu quả.

Những người bạn Mỹ khác của ông bà Nhu ở Sài Gòn, ông bà Paul Harwood, cũng là những nhân viên CIA. Ồng bà Harwoods đã làm cha mẹ đỡ đầu trong lễ thêm sức của con gái lớn nhà ông bà Nhu: Lệ Thủy. Các nhân viên CIA và ông bà Nhu đã có mối quan hệ thân thiết đến độ họ có thể đùa cợt với nhau về hấu hết mọi chuyện. Ông Nhu trêu chọc vợ trước mặt những người bạn Mỹ bằng cách gọi bà là một kẻ ngoại giáo vì việc bà cải sang đạo Công giáo khá mới đây, và bà Nhu trêu trả về việc các anh trai của ông Nhu trông mới vụng về thô kệch thế nào. Bà Nhu hài lòng bầu bạn với những người Mỹ đến ở Sài Gòn: họ là “những người thật thà”, “với họ ta [có thể] dễ dàng hòa thuận”, mà không có cái gánh nặng thực dân và sự tự phụ kênh kiệu của người Pháp. Giống như người bạn Nhật từ thời thơ ấu của mình, những người bạn mới của bà Nhu cũng là những người ngoại cuộc, vốn làm cho bà cảm thấy dễ chịu khi ở với họ. Bà Nhu thích chia sẻ một chuyện buồn cười về con trai bà, Quỳnh, người mà bà gọi là “Quang Quang”.

Câu chuyện đã bằng cách nào đó vào được những bức điện tín gởi về đại bản doanh CIA. “Đứa trẻ có lần đi lang thang vào cuộc họp nội các để tìm bác Diệm của nó. Ai đó chỉ vào cánh cửa phòng vệ sinh ở cuối phòng hội nghị và Quang Quang mở cửa ra, thấy ông Thủ tướng đang ngồi. Bắt chước điệu chào theo lễ nghi, Quang Quang giơ tay và bắt đầu hát quốc ca”. 11

Tướng Nguyễn Văn Hinh

Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm

1953, Nguyễn Văn Tâm Thủ Tướng (từ 23/6/1952 đến 7/12/1953) Quốc gia Việt Nam họp báo ở Paris. Ảnh Thomas Mcavoy

Thay cho ông Diệm ở Sài Gòn, người Pháp thật sự mong muốn tướng Nguyễn Văn Hinh nắm quyền. Ông ba mươi tám tuổi và không có kinh nghiệm chính trị nào ngoại trừ việc đã chứng kiến sự nghiệp sụp đổ tan tành của cha ông, Nguyễn Văn Tâm, vị Thủ tướng bất lực đã làm việc cho người Pháp trong hai năm 1952 và 1953. Hinh là một quân nhân, được đào tạo ở Pháp và đã chiến đấu cùng người Pháp chống lại người Ý và Đức trong Thế chiến thứ hai. Trong suốt Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, ông Hinh lãnh đạo Quân đội Quốc gia Việt Nam, lực lượng người Việt chiến đấu bên phe Pháp chống lại Việt Minh – và chống lại cách diễn giải về độc lập của Việt Minh. Người Pháp tin rằng nếu người của họ là ông Hinh cầm quyền, ông sẽ giữ cho mọi thứ vận hành trôi chảy, trong khi họ chắc chắn là ông Diệm sẽ cố cắt đứt các mối quan hệ với họ. Ông Hinh sẽ tiếp tục sử dụng các kênh giao dịch đã sẵn có – các công ty của Pháp – và cung cấp tiền trà nước đâu ra đó. Ông Hinh và người Pháp đã tìm thấy một trợ thủ đắc lực chống Diệm ở Bình Xuyên, một băng thủy tặc điều hành ngành cờ bạc, mãi đầm, và bảo kê ở Sài Gòn. Cùng với nhau, họ bắt đầu lập mưu hạ bệ ông Diệm. Tất cả họ đều biết rõ là nên đứng về bên nào.

Sài Gòn hãy còn là một thành phố nhỏ về nhiều phương diện. Chỉ một vài quán cà phê và nhà hàng mua vui cho những thị hiếu đã Âu hóa. Hầu hết những hoạt động kinh doanh cao cấp đều nằm dọc theo con đường mà lúc bấy giờ vẫn được gọi là Catinat, mặc dù ông Diệm đã đổi tên nó thành đường Tự Do sau khi Pháp bị bại trận và bắt đầu rời bỏ đất nước. Cercle Sportif, một câu lạc bộ bơi lội và quần vợt, vẫn ở lại hoạt động bằng cách thay đổi lực lượng thành viên là cộng đồng doanh nhân và chính trị người Việt. Bà Nhu biết về những việc làm của tướng Hinh xung quanh thành phố đủ để khiến bà tức giận. Bà biết rằng ông ta đang được chống lưng bởi người Pháp và rằng anh họ bà, Bảo Đại, sẽ ban cho Hinh sự hỗ trợ thiết thực hơn là ông ta đã từng cho Diệm. Tay tướng quân đội đã công khai khoe khoang với các bạn bè rằng ông ta sẽ hạ gục ông Diệm và còn dám nói thêm rằng ông đã có kế hoạch giữ bà Nhu lại làm vợ lẽ của mình. Như chuyện vẫn thường thấy trong cái thế giới nhỏ bé của Sài Gòn, bà Nhu và tướng Hinh đã giáp mặt nhau tại một bữa tiệc. Bà rướn thẳng hết chiều cao chưa tới mét sáu trên giày cao gót của mình và ném sự khinh miệt vào mặt vị tướng đang giật mình hoảng hốt. “Ông sẽ không bao giờ lật đổ được chính quyền này vì ông không có gan”. Gần như không thể kiềm chế sự run rẩy trong giọng nói, bà Nhu tiếp, “Và nếu ông lật đổ được nó, ông sẽ không bao giờ có được tôi vì tôi sẽ cắt cổ ông trước”. Bà đã công khai tham chiến. 12

Công chúng nhìn nhận ông Diệm là một người ngay thẳng với những chuẩn mực đạo đức vời vợi không dễ dàng bị hủ bại và sẽ không tha thứ tội hối lộ. Nếu ông có lỗi gì, đó là việc ông thiếu sự tinh ranh đường phố – ông không biết thật đầy đủ về hoàn cảnh ông đưa chân vào. Để làm trầm trọng thêm vấn đề, bên cạnh những nỗi gian nan từ bên ngoài mà ông Diệm mới chân ướt chân ráo trở về phải gánh vác – một vị tướng được người Pháp bảo trợ, đang tính chuyện táo bạo, một triệu người tị nạn vô gia cư, hai giáo phái tôn giáo hùng mạnh, một lực lượng cảnh sát bị băng đảng giật giây, và những khốn khổ không nói thành lời của một nền kinh tế ảm đạm – ông là một chính khách tồi. Ông đơn giản là không thể kết nối với những người mà ông đã tận tâm ra sức đại diện cho họ. Lansdale đã nhận xét từ ngày đầu về việc một quan chức cấp cao Việt Nam có thể hoang phí vốn liếng chính trị của mình một cách bất cẩn đến thế nào.

Lansdale đã đến Sài Gòn ngay trước ông Diệm, và ông đang háo hức chờ đón vị tân Thủ tướng. Nhưng vào ngày ông Diệm trở lại Sài Gòn theo lịch trình, Lansdale tự nhiên quyết định theo dõi sự trở lại thành phố của ngài Thủ tướng cùng với dân chúng Việt Nam thay vì gia nhập phái đoàn ngoại giao tại sân bay. Những đường phố đông đúc. Những cảm xúc dâng trào; người ta địu con lên vai để chúng một lần được thoáng nhìn thấy tương lai mới mẻ của Việt Nam. “Và chúng tôi chờ đợi, chờ đợi và chờ đợi một cái gì đó xảy ra… và bất thình lình vượt qua chúng tôi với tốc độ sáu mươi dặm một giờ là một đoàn mô tô hộ tống một chiếc xe hơi đóng kín cửa. Bạn không thể thấy bất kỳ ai trong đó”. Có một nỗi thất vọng thật sự giữa những người Việt Nam, những người thậm chí đã không thể thoáng nhìn thấy ông Diệm. “Ở đây là nhiệt tình sôi sục của một đám đông dân chúng thân thiện đã không được nhìn thấy sô diễn mà họ mong muốn hay tung hô người đàn ông của họ”. Lansdale nghĩ điều đó cứ như thể ông Diệm đã hoàn toàn không muốn gần gũi với dân chúng. 13

Trên thực tế, Lansdale đã bỏ lỡ cái điều dự kiến là thật sự đáng xem. Ông Nhu đã cố gắng hết sức để đánh dấu lần trở về Sài Gòn của anh trai ông như một dịp trọng đại. Để vinh danh ông Diệm, các công chức đã được cho về sớm để gia nhập vào, cùng với hàng trăm người khác, một cuộc tụ họp trước Dinh Độc Lập. Kế hoạch của ông Nhu đã không sơ sẩy một ly; khi ông Diệm về tới Dinh, ngay cả những chiếc loa cũng được lắp đặt hoàn hảo. Những lời bình luận của ông Diệm gây một tác động tốt đẹp. Ông nhận được sự tung hô vang dội từ đám đông, nhưng điều đó không được các nhà ngoại giao và quan chức chứng kiến bởi họ không có mặt ở đó. Thay vì vậy, họ rời khỏi phi trường với ấn tượng rằng ông Diệm chẳng có gì nổi bật, đó là may lắm; một vài người, như Lansdale, nghĩ vị tân Thủ tướng là kẻ kiêu kỳ lạnh lùng. 14 Những toan tính sai và hiểu lầm giữa anh em nhà họ Ngô với người nước ngoài sẽ còn dai dẳng trong suốt thời gian cầm quyền còn lại của ông Diệm.

Thay vì bận tâm về nghi thức ngoại giao hay tưởng tượng ra những phương thế khác để tranh thủ sự ủng hộ của cử tri, ông Diệm dành thời gian tự tay ký tất cả những thị thực xuất nhập cảnh. Sự không sẵn lòng giao phó ngay cả những nhiệm vụ nhỏ nhặt nhất có nghĩa là ông làm việc mười sáu hay mười bảy giờ một ngày. Khi không còn có thể mở mắt bên bàn làm việc, ông sẽ đem một chồng giấy tờ lên giường. Ông Diệm là một nhà quản lý tệ hại phần nào vì ông không tin tưởng bộ máy quan liêu mà ông được thừa kế. Người Pháp đã huấn luyện nên những thuộc cấp người Việt thụ động và lo chuyện bảo toàn tấm thân hơn là gìn giữ nước nhà. Ngân khố trống rỗng của ông Diệm và sự thiếu khả năng trả lương cho nhân viên chính phủ càng làm trầm trọng thêm cái hệ thống đã suy sụp. Tuy nhiên, các anh em ông là những người ông biết có thể nhờ cậy.

Vị tân Thủ tướng đã không gợi lên nhiều hy vọng nơi tướng J. Lawton Collins, đặc phái viên chính phủ Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Collins thấy ông Diệm “hoàn toàn cứng đầu cứng cổ, không sẵn lòng tiếp nhận những gợi ý và vận dụng óc suy xét tồi tàn đến độ chính phủ của ông rốt cuộc sẽ thất bại”. Thay vì làm cho mọi chuyện tốt hơn, theo quan điểm của Collins, các anh em của ông “lượn lờ xung quanh vị lãnh tụ, lôi kéo rầy rà suốt cả ngày”, và ông cảnh báo rằng việc gia đình kẹp ngày càng cứng vào chiếc cổ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa sẽ làm trầm trọng thêm tình hình vốn dĩ đã tàn tệ. 15

Bà Nhu đã dấn thân vào một khoảng trống chính trị tạo ra bởi vị Thủ tướng lạnh nhạt suốt ngày cạo giấy và người em trai thậm thụt của ông. Cả hai anh em đều không có khả năng thiên bẩm, không có óc kịch nghệ, và có lẽ không có bụng dạ nào để chiến đấu nữa. Bà Nhu có cả ba – có chỗ thừa thãi là đằng khác.

Nỗ lực của óc sáng tạo chính trị đầu tiên của bà đã diễn ra tại một nhà hàng ở Chợ Lớn, một khu phố người Hoa. Buổi ăn tối được thết đãi bởi vị tân Phó thủ tướng của ông Diệm, người đồng thời là Bộ trưởng quốc phòng của ông và anh họ của bà Nhu về đằng cha của bà – một người đàn ông tên Nguyễn Văn Xuân. Với bà Nhu và chồng cùng những người Việt khác trong chế độ ông Diệm, khách dự bữa tiệc tối bao gồm hai cố vấn cấp cao ở Tòa Đại sứ Pháp. Bà Nhu đã lợi dụng dịp xã giao này để thúc ép những người Pháp. Bà biết rất rõ họ không thể thú nhận rằng người Pháp muốn hất cẳng ông Diệm – nhất là tại một bữa tiệc tối được chiêu đãi bởi vị Phó thủ tướng và trước mặt cô em dâu của ông Diệm. Nhưng nụ cười xã giao của bà Nhu che đậy một trí tuệ chính trị sắc sảo. “Vì lẽ gì”, bà hỏi một cách duyên dáng, “họ không đẩy tướng Hinh qua Pháp cho rồi?” Một trong hai vị cố vấn Pháp đưa ra thử thách nhẹ nhàng như thể cho một cô bé nữ sinh: nếu bà có thể đưa ra năm dấu hiệu cho thấy ông Hinh là người thừa, họ sẽ đích thân tiễn ông Hinh ra đi. Bà Nhu bỏ qua những tình tiết giao đãi cầu kỳ và ném cái nhìn chằm chằm vào hai người đàn ông. “Các ông sẽ có hàng triệu”, bà bảo với họ. Những người Pháp có thể vẫn đã cho rằng cuộc trao đổi này chẳng gì hơn là sự tán tỉnh vờ vịt giữa buổi tiệc tối thì bỗng họ kêu lên qua món ăn dang dở đầu tiên, “Nhưng bà thật nguy hiểm, Madame!”

Thử thách này ắt hẳn sẽ làm khuất phục bất kỳ ai, nhưng bà Nhu đã có một sứ mệnh. Trong vòng vài giờ của buổi tiệc tối, bà cũng gặp một sự trùng hợp ngẫu nhiên hữu ích. Chồng bà đã giữ im lặng suốt buổi tối. Nếu ông có bất kỳ suy nghĩ nào về cuộc trao đổi giữa vợ với những người Pháp, ông giữ nó cho riêng mình. Sau khi rời khỏi nhà hàng, ông và vợ mỗi người mỗi ngả. Ông Nhu về Dinh gặp anh trai, và bà Nhu về nhà một mình như thường lệ. Tại cửa bà gặp hai người đàn ông trông lôi thôi lếch thếch. Họ thất thểu và xây xước, tự giới thiệu mình là Quang và Hồ. Họ đang đợi chồng bà, họ giải thích. “Chúng tôi đại diện cho hàng triệu nạn dân đã đến khi chúng tôi nghe ông Diệm nhận được quyền bính từ vua Bảo Đại. Nhưng tình hình thực tế không thể chịu được vì cảnh sát Bình Xuyên đã quấy nhiễu chúng tôi. Ngay cả nếu chúng tôi muốn quay lại cũng không được! Chúng tôi sẽ làm gì đây?”

Đây là thời cơ cho một triệu dấu hiệu mà bà đã hứa tại buổi tiệc tối. “Đừng làm gì trong lúc này”, bà Nhu lạnh lùng trả lời, “nhưng khi đến lúc, các anh hãy nghe và làm chính xác điều tôi nói”.

Trong tháng tiếp theo, bà Nhu làm việc trong âm thầm. Bà đã cho in những băng rôn và làm việc để sắp xếp những đám đông dân lánh nạn miền Bắc vào mạng lưới những người tham gia. Bà đang lên kế hoạch cho một cuộc biểu tình đại quy mô ủng hộ ông Diệm; những người tham gia sẽ tuần hành trên đại lộ Hứa Bổn Hòa, rẽ qua đường Chasseloup-Laubat cũ, và đột ngột đến trước Dinh Độc Lập. Ngay cả người Pháp cũng không thể phủ nhận một sự thể hiện ý muốn rõ ràng như vậy của người dân.

Nhưng đến thời điểm bà Nhu đến địa điểm mít tinh đã định vào sáng ngày 21 tháng Chín năm 1954, cảnh sát đã có ở đó. Họ là người của tướng Hinh, với những khẩu súng thuê của băng đảng Bình Xuyên. Họ đang cố gắng giải tán một đám đông 4.000 người bằng cách chĩa lưỡi lê và gào thét vào đám dân lánh nạn đang run lẩy bẩy. Bản tường trình của quân đội Pháp mô tả những phát súng nổ, một số người bị thương, và ít nhất một người chết. 16

Bà Nhu trên chiếc xe hơi Panhard nho nhỏ màu lục nhạt len lỏi qua một biển xe xích lô và những vành nón lá bập bềnh của những phụ nữ đang trên đường đến chợ. Bà đã rẽ ngoặt để tránh những chiếc xe đẩy hàng rong, nhưng đó là một cảnh tượng nhốn nháo vô cùng.

Bà Nhu nhảy ra khỏi chiếc xe hơi nhưng còn để nổ máy. Sải những bước dài hết mức xẻ đôi của tà áo dài, bà tiến thẳng lại chỗ những gã đàn ông mang vũ trang. Bà không thể để cho những tên du côn này làm trật đường rầy cuộc biểu tình của mình và phải động não thật gấp gáp. Bà đã làm cái điều mà bà giỏi nhất: bà gây một màn cãi vã kịch tính. Bà Nhu bắt đầu nhiếc móc đám người, vận dụng hết hơi sức trong buổng phổi hét to, “Các anh là loại cảnh sát gì? Các anh tính làm gì những người nghèo khổ, vô phương tự vệ này? Các anh có sợ tôi không?”

Bất thình lình, một đám đông thù địch Bình Xuyên vây lấy bà. Khi họ tiến tới gần bà với những khẩu súng vẩy lên, bà nhảy vào xe hơi, gào to, “Bắt tôi nếu các anh có gan!” và lái xuyên qua hàng rào những tên ác ôn vai mang súng tiểu liên Thompson.

Những hành động rất sân khấu của bà Nhu đã làm xao lãng đám lính đủ lâu để cho phép cuộc mít tinh tiếp tục. Dân chúng diễu hành từ nhà thờ lớn đến Dinh giăng những biểu ngữ “thống nhất và Độc lập cho Việt Nam”, và “Đả đảo những kẻ phá hoại nền độc lập Quốc Gia”. Đám đông hô khẩu hiệu ủng hộ ông Diệm. Ông Diệm có vẻ giống như là một người anh hùng đã cứu giúp dân lánh nạn, và tướng Hinh bị đẩy vào tình thế bất lợi. Từ nước Pháp xa xôi, vua Bảo Đại không thể công khai ủng hộ ông Hinh mà không tự biến mình thành một quân vương nhẫn tâm và đánh mất chút ít sự tôn kính cuối cùng dành cho ông. Không lâu sau đó, ông Hinh bị trục xuất qua Pháp và không bao giờ quay trở lại. Bà Nhu hưởng nhận tất cả công trạng của việc đạo diễn cuộc mít tinh, và sau đó là một phần công trạng của việc đến giải cứu một cách táo bạo bất chấp đám tay sai của bọn giặc cướp. 17

Những người cùng dự tiệc tối với bà Nhu từ Tòa Đại sứ Pháp đã phản đối. Người phụ nữ này, họ nói, đang gây phiền hà! Bày ra một cuộc mít tinh trong một bầu không khí chính trị đã quá nóng bỏng là hoàn toàn vô trách nhiệm. Những người Pháp đã than phiền với người Mỹ, những người này mách lại với ông Diệm, người rốt cuộc đã đồng ý gởi bà Nhu đi xa trong vòng vài tháng. Bà đã nổi giận về việc bị xua đuổi, nhưng đó chỉ là để giữ gìn trật tự an ninh, và chỉ đủ lâu để ông Nhu trấn an ông Diệm; chí ít, đó là cách giải thích hợp lý mà họ đã đưa ra với bà.

Bà Nhu được gởi đến Hồng Kông để “hồi phục sức khỏe” trong ba tháng tại một nữ tu viện Ý, nữ tu viện de Chanoinesses de Canossa. Các con và chồng bà ở lại phía sau. Thay vì coi điều đó như là sự trừng phạt, bà Nhu bắt đầu cho việc họ gởi bà đi như là sự thừa nhận quyền lực tiềm tàng của bà. Nếu bà không đáng gờm, ắt họ sẽ để bà ở nhà. Rõ ràng là bà quá nguy hiểm để làm ngơ.

Cuộc mít tinh của bà Nhu đã đánh dấu sự khởi đầu một chương mới cho anh chồng bà.

Trong vài tháng tiếp theo, chính quyền của ông Diệm sẽ tiếp tục làm việc để thiết lập sự kiểm soát Sài Gòn và miền Nam. Không ai chờ đợi vị Thủ tướng người Công giáo đầy nguyên tắc của Việt Nam Cộng hòa làm điều đó. Kẻ thù không đội trời chung của ông Diệm là sự trụy lạc. Sòng bạc Đại Thế Giới (Grand Monde) mỗi ngày kiếm 10.000 đô la. Trong những buồng kính sáng lóa nhà thổ hạng sang Paradise (Đại La Thiên) là ba trăm cô gái ăn bận vải lụa hở hang uốn éo – và mua vui cho một danh sách khách chơi dài dằng dặc. Những nhà ngoại giao và tướng lãnh chia sẻ với nhau một ống điếu tại những phòng hút á phiện trước khi đi đến các hộp đêm.

Vì vậy mọi người đã rất ngạc nhiên khi Ngô Đình Diệm xuất hiện trong dáng dấp kẻ chiến thắng. Ông tỏ ra không nương tay. Cảnh sát của ông đã đóng cửa năm trăm ổ hút á phiện và tịch thu hàng ngàn ống điếu tre, chất thành một đống củi cao bị thiêu rụi trong một ngọn lửa khổng lồ nhen lên từ những trang tạp chí khiêu dâm xé ra. Ông Diệm đã ra lệnh cho các hộp đêm ở Sài Gòn phải đóng cửa vào 2 giờ sáng, và tung ra nhiều quy định cho ngành kinh doanh thoát y vũ của thành phố đến mức đã làm sụp đổ nó. Khoảng chừng 2.000 gái điếm có giấy phép nhẹ nhàng biến mất, làm sụp đổ rường cột của làng chơi Sài Gòn. Ông Diệm đã biến nhà thổ Paradise bóng loáng thành một trung tâm phục hồi cho những cô gái điếm, nơi họ được dạy khâu vá và điều dưỡng.

Ông đã quyết định không đóng cửa những nhà thổ ở nông thôn nơi quân đội đồn trú: Ông Diệm biết ông cần cảnh sát và quân đội đứng về phía mình.

Đáng ngạc nhiên nhất trong tất cả mọi điều là sự từ chối thương lượng của ông Diệm. Ông sẽ không nhượng bộ với bất kỳ thỏa thuận chia sẻ quyền lực nào. Lập trường này đi ngược lại những chỉ thị của nhà vua, chủ nhân trên lý thuyết của ông; nó cũng đi ngược lại lời khuyên của người Pháp. Mâu thuẫn kịch liệt giữa ông Diệm, người Pháp và Bảo Đại nằm ở lợi ích chính trị của ông, nhưng trong trường hợp này, ông cũng tỏ ra rằng ông có thể chịu đựng áp lực từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Tướng Bảy Viễn

Nhóm Bình Xuyên

Nhóm Bình Xuyên xuất thân từ một băng cướp đường sông từ những làng nhỏ ở phía nam Chợ Lớn, phố người Hoa ở Sài Gòn. Thủ lãnh của họ, một người đàn ông tên Bảy Viễn, đã cộng tác với người Nhật trong suốt giai đoạn chiếm đóng của họ. Lập trường chống Pháp của băng Bình Xuyên biến họ thành những đồng minh tình thế của Việt Minh, nhưng mối liên kết này đã không tồn tại lâu. Sự rạn nứt chính trị giữa họ quá lớn. Bảy Viễn đã quay trở lại với người Pháp vào năm 1945, ngay khi điều đó có vẻ có ích lợi. Ông ta đã mua sự nhượng bộ của cảnh sát ở Sài Gòn với giá 40 triệu đồng Đông Dương và sau đó là nhà máy chế biến thuốc phiện vốn cung cấp hàng cho chính những ổ hút mà các cảnh sát này có nhiệm vụ đóng cửa. Ngoài những sòng bạc và nhà thổ, băng Bình Xuyên của Bảy Viễn cũng sở hữu cửa hàng bách hóa sầm uất nhất trong thành phố trên đường Catinat sang trọng. Băng cướp này có một đội tàu thuyền, hai mươi ngôi nhà, và một trăm cửa hiệu khắp thành phố. Một con hào đầy cá sấu vây quanh ngôi nhà của Bảy Viễn và đại bản doanh của băng Bình Xuyên. Ông ta xích một con báo to lớn vào một chốt gác bên ngoài phòng ngủ của mình, và bên trong phòng ngủ là chiếc lồng nhốt một con cọp cái. Người ta đồn rằng Bảy Viễn sẽ cho con cọp cái này ăn thịt bất kỳ kẻ nào trong số 15.000 thuộc hạ dám làm trái ý ông ta.

Địa bàn của Bảy Viễn rộng lớn và tầm ảnh hưởng của ông ta sâu xa đến độ chỉ một người cứng cỏi và cực kỳ cẩn trọng như ông Diệm mới nghĩ tới chuyện hạ ông ta. Đối với vấn đề Bình Xuyên ông Diệm tỏ ra không khoan nhượng. Người Mỹ đã thử đề nghị tài trợ 12.000 đồng Đông Dương cho bộ binh và 28.000 đồng Đông Dương cho cảnh sát của Bình Xuyên, để hiệp lực với ông Diệm, và họ đã cố làm cho ông Diệm hiểu ra sự thật là: Bình Xuyên là một thực tế bất hạnh của cuộc sống ở Sài Gòn. Nhưng ông Diệm đã không thỏa hiệp. 18 Trận chiến cuối cùng nổ ra vào ngày 27 tháng Tư năm 1955, một ngày sau khi ông Diệm bổ nhiệm một cảnh sát trưởng không chịu sự khống chế của Bảy Viễn. Lực lượng Bình Xuyên bắt đầu nã pháo vào Dinh. Bên trong, ông Diệm chứng tỏ một quyết tâm cứng rắn. “Bắn lại”, ông ra lệnh. Tính cả thảy, 4.000 phát đạn cối đã nã về phía nhà của thủ lãnh Bình Xuyên, Bảy Viễn và sở chỉ huy của chúng. Đó là một hàng rào hỏa lực cuồng nộ ngay cả trước khi có sự tham gia của không quân. Tám trăm thường dân thiệt mạng, và 20.000 ngôi nhà bị phá hủy. Lực lượng của ông Diệm với lực lượng những tên côn đồ, găngstơ, cảnh sát do băng Bình Xuyên chống lưng và, ít công khai hơn, người Pháp, đã tiến hành một trận đánh giáp lá cà trên những đường phố Sài Gòn.

Trận chiến với băng Bình Xuyên đã chứng tỏ khí phách của ông Diệm. Vị lãnh tụ đã đặt cược vào sự chính trực và giành chiến thắng. Nó cũng chứng tỏ một lần cho mãi mãi rằng ông Diệm đã không cần thậm chí là sự ủng hộ hời hợt nhất của vị hoàng đế. Một vài tháng sau khi triệt hạ băng Bình Xuyên, vào mùa hè năm 1955, ông Diệm đã trục xuất vua Bảo Đại và đứng lên làm lãnh tụ duy nhất của Việt Nam Cộng hòa. Không còn giới hạn bởi chức danh Thủ tướng, ông Diệm đã tự xưng là người đứng đầu nhà nước, Tổng thống của Việt Nam Cộng hòa.

Tất cả những diễn biến này đã xảy ra để chứng tỏ với người Mỹ, hay chí ít là Lansdale, việc người Pháp đã “sai lầm chết người” đến thế nào khi đánh giá thấp vị tân Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa. 19 Một bức điện tín của Bộ Ngoại giao Mỹ cho John Foster Dulles đã cung cấp bản tóm lược có lẽ là hay nhất về hoàn cảnh mà ông Diệm nhận thấy mình trong đó. “Diệm thiếu kinh nghiệm và là người khó thỏa hiệp”. Hơn nữa ông “nhất quyết xây dựng một chính quyền không tham nhũng và hiến mình cho sự nghiệp giành lấy nền độc lập quốc gia đích thực”. Các nhà làm chính sách Mỹ có thể nhìn thấy những thiếu sót về cá nhân của người đàn ông này, như tính ương ngạnh, ưa gây bực dọc của ông, nhưng trớ trêu thay, “chỉ một chính quyền thuộc loại như ông Diệm mường tượng, và nó xứng đáng với sự hỗ trợ của chúng ta – mới có nhiều cơ hội đứng vững”. Viện trợ của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa trong năm tài khóa 1955 lên tới 77.500.000 Mỹ kim. Một ít trong số tiền đó dùng để giúp đỡ dần tị nạn; một ít dùng để hỗ trợ chuyên môn về giáo dục, y tế, và quản trị công. Nhưng phần lớn là để giúp ông Diệm tranh thủ sự ủng hộ của đông đảo công chúng vào một hệ thống chính quyền không Cộng sản. Số tiền viện trợ sau đó chỉ có tăng lên mà thôi. Vị nguyên thủ mặt tròn nhỏ con đã sắp sửa trở thành người đàn ông mà tạp chí Life tung hô là “Người Đàn Ông Cứng Rắn Kỳ Diệu của Đông Nam Á”. 20

——————————–

1Những nét tiểu sử tổng quan của Diệm trích từ The Last of the Mandarỉns: Diem of Vietnam – Vị Quan Cuối Cùng: Diệm Của Việt Nam của Antoine Bouscaren, (Pittsburgh, PA: Duquesne University Press, 1965); Anne Miller, And One for the People – Và Một Người Của Nhân Dân (bản thảo chưa xuất bản dựa trên những cuộc phỏng vấn với Diệm và gia đình, 1955), Douglas Pike Collection, Texas Tech University, Virtual Vietnam Archive, Box 5, Folder 2; Miller, “Vision, Power and Agency”; Denis Warner, The Last Confucian: Vietnam, Southeast Asia and the West – Nhà Nho Cuối Cùng: Việt Nam, Đông Nam Á Và Phương Tây (Baltimore: Penguin Books, 1964).
2Miêu tả về vụ đáp xuống phi trường, xem Miller, Misalliance, 1-4.
3Với quyển sách này tôi đã chọn theo cách nói chuyện của người Mỹ đương thời gọi quốc gia nằm dưới vĩ tuyến mười bảy là Nam Việt Nam, bất chấp sự kiện chính quyền Nam Việt Nam đã chính thức dùng tên Việt Nam Cộng hòa (RVN) để chỉ vùng đất họ đang kiểm soát và cai quản.
4Mưu đồ chính trị của Diệm với Việt Minh trích từ Miller, Ascent, 437- 441. Cuộc nói chuyện giữa Diệm và Hồ Chí Minh được kể lại trong Higgins, Our Vietnam Nightmare, 157-158, và trong Bernard Fall, The Two Vietnams: A Pollticaỉ and Military Analysis (New York: Frederick A. Praeger, 1963) 240. Tình tiết bước ra khỏi những cánh cửa mở toang là từ Caillou Blanc, 74 của Madame Nhu.
5Tuyên bố năm 1949 của ông Diệm trong Ascent, 441 của Miller.
6Du Berrier, Background to Betrayaỉ.
7Ellen J. Hammer, A Death in November: America in Vietnam – Một Cái Chết Vào Tháng Mười Một: Người Mỹ ở Việt Nam, 1963 (Oxford: Oxford University Press, 1988), 60-61.
8Hammer, A Death in November, 23.
9US Army Saigon to Department of Army, Washington, D.C, 23/10/1954.
10Nỗi căm ghét mù quáng của Nhu và sự đe dọa của Diệm đối với Bảo Đại trích từ hồ sơ mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 4 tháng 7 năm 1954, từ Sài Gòn, văn kiện số 44207.
11Về tình bạn của Virginia Spence và Harwood, xem Thomas Ahern, CIA and the House of Ngo: Covert Action ln South Vietnam, 1953-63, 2000, được phép công bố vào năm 2009, http://www.scribd.com/doc/57818376/Vietnam-Declassified-Doc-1-CIA-and-the-House-of-NGO.
12Bà Nhu kể điều này cho Charlie Mohr trong suốt tám tiếng phỏng vấn về tiểu sử sơ lược của bà “Queen Bee”, trên Time, 9 tháng 8, 1963, 23.
13Về chiếc limo do Lansdale cầm lái, xem Robert Shaplen, The Lost Revolution: The Story of Twenty Years of Neglected Opportunities ln Vietnam and of Americas Failure to Foster Democracy There – Cuộc Cách Mạng Thất Bại: Câu Chuyện Về Hai Mươi Năm Của Những Cơ Hội Bị Bỏ Lỡ Ở Việt Nam Và Sự Thất Bại Của Mỹ Để Thúc Đẩy Nền Dân Chủ Ở Đó (New York: Harper and Row, 1965), 103; để có câu chuyện theo lời kể của chính Lansdale, xem “Phỏng vấn Edwarđ Geary Lansdale, 1979 [phần 1 chương 5]”, 31 tháng Giêng, 1979, WGBH Media Library and Archives.
14Miller, Misalliance, 5.
15Memo for the record, Gen. Joe Collins comments 4/22/55 ĐE Library White House Office OSANSA NSC series, Brieíìng Notes Indochina 1954.
16SHAT Archives 10H 4195, Bulletin de Reseignements № 8312,21 tháng 9, 1954.
17Madame Nhu, Caillou Blanc; “Queen Bee”, Time, 9 tháng 8, 1963; SHAT Archives Bulletin № 8312.
18SHAT Archives 10H 4198, Vincennes Bulletin de Reseignements, № 96,10 tháng 5, 1955.
19Ed Lansdale viết thư cho James Nach, thư kỷ thứ hai của đại sứ quán Hoa Kỳ, Sài Gòn, tháng 6, 1972, Box 9, Edward Geary Lansdale Papers, Hoover, Institution Archives, Stanford University.
20John Osborne, “Diem, the Tough Miracle Man of Vietnam: Americas Newly Arrived Visitor Has Roused His Country and Routed the Reds – Diệm, Người Đàn Ông Cứng Rắn Lạ Thường Của Việt Nam: Vị Tân Khách Của Mỹ Đã Lay Tinh Quê Hương Và Đánh Tan Tác Người Cộng sản” Life, 13 tháng 5, 1957, 156.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 11 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Nhiệm vụ thí nghiệm phi cơ đã cho tôi cơ hội thăm viếng gia đình người chú ruột một lần nữa. Tôi rời Yokosuka vào một sáng sớm Chủ Nhựt để đến nhà chú tôi, lộ trình đi ngang qua Ðông Kinh.

Trong thời gian tôi vắng mặt, thủ đô sa sút hơn. Mặc dù từ năm 1942 không có trận oanh tạc nào xảy ra, nhưng phố xá có vẻ buồn tẻ và mất sinh khí. Hầu hết các tiệm buôn đều đóng cửa. Việc này có ý nghĩa rõ rệt. Không có hàng để bán và các chủ nhân vắng mặt, họ vô làm việc trong các cơ xưởng chiến tranh. Một vài tiệm buôn gượng gạo mở cửa, nhưng không còn sắc thái rộn rịp như tôi đã từng thấy trước đây, chỉ lèo tèo vài món hàng meo mốc. Sự phong toả của Ðồng Minh đã làm cho bao tử của Nhựt Bản thắt lại.

Tôi không ngớt đi qua những đám đông công nhân đang phá hủy nhà cửa dọc theo hai bên đường. Hàng mấy trăm người làm công việc này, nhằm dọn những khoảng trống để lửa không bắt qua, phòng ngừa trước các cuộc oanh tạc. Nhiều gia đình bắt buộc ra khỏi nhà, đứng thành từng nhóm nhỏ trên đường, đưa mắt buồn bã nhìn người ta xé nát căn nhà của mình ra mảnh vụn.

Tôi đã từng chứng kiến các trận oanh tạc. Ðối với tôi công tác phá hủy này là một cố gắng đáng thương hại, một nỗ lực hoang phí, ít có hiệu quả trong việc chống lại loại bom cháy.

Hầu hết dân chúng đi trên đường đều mặc đồng phục làm việc, hoặc loại quần áo căn bản của thời chiến, na ná như quân phục. Ðàn ông đã bị động viên hết chỉ còn toàn phụ nữ nhưng tôi không nhìn thấy một người đàn bà nào mặc y phục “Ngày Chủ Nhựt”, những chiếc Kimono màu sặc sỡ thời tiền chiến. Thay vào đó, họ mặc áo thô màu nâu sậm, và quần vải trơn rộng thùng thình.

Mỗi góc phố đều có đàn bà và trẻ con nối đuôi dài ngoằng, kiên nhẫn chờ đợi mua thức ăn. Mặt mày họ gầy tóp và lạnh lùng, chứng minh hùng hồn tình trạng thiếu thực phẩm đang đè nặng lên đời sống dân chúng.

Không phải mọi thứ đều đổi thay. Mấy chiếc loa phóng thanh đặt ở mỗi góc phố vẫn còn xỉa xói vô tai những lời hò hét, ca ngợi các chiến thắng tưởng tượng. Bích chương tràn ngập thành phố, kêu gọi dân chúng sản xuất mạnh mẽ hơn, chịu đựng thiếu thốn nhiều hơn, cho đến khi Nhựt Bản hạ gục đối phương.

Tôi cảm thấy bịnh hoạn. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng mình sẽ được nhìn thấy nỗi khổ tận cùng hằn sâu trên gương mặt của dân chúng Nhựt đến mức ấy.

Tôi chờ nhiều phút trước cửa nhà chú tôi. Có người đang dạo dương cầm… người đó là Hatsuyo chớ không ai khác. Tôi lắng nghe trong giây lát, khúc nhạc đầu tiên của nhiều tháng trước đây. Tiếng nhạc ngưng lại khi tôi gõ cửa. Tôi nghe tiếng chân của Hatsuyo chạy hấp tấp. Và nụ cười của nàng rạng rỡ như tia nắng ban mai. “Saburo! Trời ơi, gặp lại anh thật tuyệt diệu!” Nàng kêu lên. Nàng nhìn tôi chăm chú hồi lâu. “Tất cả gia đình đều cầu nguyện cho anh trở về, Saburo,” giọng nàng êm ái. “Em đã khấn nguyện hàng đêm cho anh lành lặn…”, nàng nhìn tôi mãn nguyện. “Anh trở về rồi đây, và đã trở thành một sĩ quan.” Hai má Hatsuyo hồng thắm sung sướng, sực nhớ đã quên chào, nàng vội khom lưng rồi mở rộng cửa.

Ngôi nhà quen thuộc không có gì đổi khác. Ðối với tôi, vẫn là ngôi nhà đẹp hơn bất kỳ ngôi nhà nào khác, bởi ngôi nhà này là của Hatsuyo. “Em càng ngày càng đẹp,” tôi nói. Tôi không thể ngăn mình ngợi khen Hatsuyo vì nàng thật đẹp. Tôi nói thêm “Em là vật mỹ lệ nhứt mà anh được thấy trong nhiều tháng nay. Nhưng tại sao em ăn mặc như vầy? Em làm anh choá cả mắt,” tôi tỏ vẻ lạ lùng. Nàng mặc một chiếc áo Kimono trang nhã, thẳng nếp và gọn ghẽ trên thân hình mảnh khảnh của nàng. Vải áo sẫm tôn thêm vẻ thùy mị ở Hatsuyo.

Nàng cười ròn tan. “Saburo, thỉnh thoảng em thấy anh giống như một gã ngù ngờ! Anh không biết đây là một trường hợp đặc biệt lắm hay sao? Em mặc áo này là mặc cho anh. Em kiên nhẫn chờ đợi để được mặc nó khi tiếp đón một tân sĩ quan!” Nàng tươi như hoa. “Ðây, anh hãy nhìn hai cái tay áo này!”, “hai tay áo bị cắt cụt phân nửa!”

“Chính phủ ra lịnh cho chúng em cắt ngắn tay áo,” nàng cười thích thú, xoay vòng quanh, hai cánh tay đưa về phía trước. “Anh không biết hả,” nàng thì thầm với dáng vẻ nghiêm trọng, “tay áo dài không thích hợp với tình trạng nguy cấp hiện thời.”, “ống tay ngắn mới làm lụng nhanh chóng!”

Tôi mỉm cười. “Hatsuyo, mọi người đi đâu hết rồi?” tôi hỏi. “Chú thím không có ở nhà hả?”

Nàng lắc đầu. “Chỉ một mình em ở nhà để đón anh, Saburo. Ba em không có ngày nghỉ. Ông tình nguyện tham gia vào công việc bảo vệ quê hương. Ông gia nhập vào Quân đoàn Trừ bị Lục quân và hiện đang thao dược ở một ngôi trường trung học gần đây. Ðêm nay Michio phải làm việc phụ trội trong cơ xưởng.”

Mặt nàng trở nên u ám. “Má em cũng đi khỏi, Saburo. Bà định mua một cái gì đặc biệt để tiếp đãi anh ở… …ở chợ đen.”

Tôi nhìn Hatsuyo. Nếu thím tôi làm như vậy, bà sẽ gặp rắc rối với cảnh sát. “Tại sao thím lại làm như vậy? Tôi lo lắng. “Thím không biết việc gì có thể xảy ra cho thím hay sao?”

“Em biết, em biết, Saburo”. “Nhưng má em cứ muốn được tiếp đón anh một cách chu đáo.”

Tôi lắc đầu. “Hy vọng mọi việc đều êm xuôi. Khi gọi dây nói cho thím, anh có cho thím biết hiện thời không một quân nhân nào đến thăm một gia đình dân sự lại không mang theo phần ăn của mình bao giờ”. Tôi chỉ cho Hatsuyo thấy cái hộp thức ăn tôi mang theo, cũng như nhiều nhu yếu phẩm khác mà tôi đã mua ở Quân Tiếp Vụ.

Hatsuyo bối rối. “Cám ơn anh, Saburo… Em … cám ơn anh.”

Hatsuyo lúng túng, chưa khi nào tôi thấy nàng lúng túng như vậy, điều này có nghĩa là gia cảnh chú thím tôi cũng đã khó khăn nhưng nàng lảng nhanh sang vấn đề khác. “Anh về rồi, em mừng lắm. Hãy đến ngồi đây, Saburo. Ngồi với em đi. Rồi, bây giờ kể cho em nghe mọi chuyện từ ngày anh ra đi. Những gì đã xảy ra ở Iwo Jima? Gia đình không nghe đài phát thanh đề cập đến, chỉ toàn là tin tức về cuộc chiến đấu khủng khiếp ở Saipan.”

Tôi bối rối. Chúng tôi có nhận nghiêm lịnh không được tiết lộ những gì đã xảy ra ở Iwo Jima. Thảm họa mà lực lượng chúng tôi hứng chịu ở đó được xếp vào hàng tối mật, không cho ai bên ngoài quân đội biết đến sự thật xảy ra.

Tôi xoay vấn đề, kể về chuyện những chiến đấu cơ mới mà tôi đã bay thử. “Nếu chúng ta có đủ những chiến đấu cơ mới này, chúng ta có thể lật ngược tình thế,” tôi nói “Với tốc độ phi thường, võ trang hùng hậu, loại phi cơ mới đủ sức tiêu diệt bất kỳ loại phi cơ nào của địch quân.” Tôi nói dối, tôi ý thức được điều đó. Nếu cuộc huấn luyện cứ giữ một mức, với các khoá sinh đâm đầu xuống đất hàng ngày, chúng tôi chỉ có một vài phi cơ may mắn lên được trên không cho tới lúc ra trận.

Sau nửa giờ nói chuyện quanh quẩn mọi thứ, có một vấn đề tối thiết nhứt mà tôi chưa nói. Tôi liếc nhìn dáng ngồi nghiêng của nàng, nhìn điệu bộ khi nàng nói, đôi mắt ngời sáng khi nàng thích thú, đôi má lúm đồng tiền khi nàng cười. Gương mặt ấy, vóc dáng ấy sống trong đầu tôi. Tôi muốn nói với Hatsuyo, nói một mạch không cần suy nghĩ. Tôi yêu nàng. Tôi muốn nàng biết tất cả mọi suy nghĩ của tôi. Hai tháng qua, nhưng đối với tôi hình như chỉ mới một đôi phút đây thôi, khi tôi quay đầu lại và nhìn thấy Iwo Jima tan biến dần ở chân trời thì hình ảnh của nàng hiện đến. Lúc ấy tôi nguyện với lòng rằng, nếu có một phép lạ nào đó mà tôi còn sống sót, tôi sẽ kể cho nàng nghe hết những cảm nghĩ của mình. Tôi yêu nàng. Tôi nghĩ đến nàng hàng ngày dưới chân núi lửa Suribachi, lúc uống nước mưa đầy tro nham thạch, lúc sắp xếp vật dụng tùy thân cho người ta gửi về cho má tôi, lúc bay giữa mưa bão trong mù mịt sa mù… nàng luôn hiện ra, với ánh mắt lúc này, với đôi môi này, sóng mũi này. Tôi đã bất tuân trong phi vụ chót, đã quay trở về vì nàng. Bây giờ… tôi không thể nói!

Không có gì thay đổi cả! Tôi vẫn là một phi công khu trục, cho dù tôi đã bước lên hàng ngũ sĩ quan. Tôi biết, tôi sẽ bay chiến đấu trở lại, và những chiếc Zéro bùng cháy mà tôi đã nhìn thấy rơi xuống trước họng súng của những chiếc Hellcat vẫn còn in đậm trong tâm trí của tôi. Tôi biết, chúng tôi phải đương đầu với những đối thủ vượt trội. Nếu chiến đấu trở lại, tôi sẽ đâm đầu xuống đất và chết cháy. Không biết giây phút nào. Không có gì thay đổi cả! Tôi vẫn là một phi công thương phế binh và phải biết tránh cho Hatsuyo hai chữ góa bụa.

Chỉ mới hai tháng đây thôi, mạng lịnh của của Ðại tá Miura còn vang vang bên tai tôi: “Các anh phải chúi xuống các hàng không mẫu hạm của địch cùng một lúc. Chúi xuống! Cùng với thủy lôi, đời sống và linh hồn của các anh!”, “Các anh không trở về. Các anh đã nhận lịnh xong!” Làm sao tôi có thể kể cho nàng nghe về tử lịnh này, chỉ làm cho nàng thêm hốt hoảng vô ích. Làm sao tôi có thể cãi lịnh thêm lần nữa mà không bị kỷ luật, đưa ra tòa án binh hay tệ nữa, bị đuổi ra khỏi Hải quân với tủi hổ và nhục nhã? Tôi biết tôi sẽ còn nhận tử lịnh khác nay mai khi hoàn cảnh bắt buộc Nhựt dốc hết sinh mạng vào cuộc chiến. Phải tránh cho nàng thành góa bụa, ít nhất là điều tôi còn có thể làm được.

Bỗng nhiên Hatsuyo làm tôi bừng tỉnh. “Saburo,” nàng dịu dàng nói, “Anh có biết Fujiko đã lấy chồng rồi không?”

Tôi không biết. “Sau khi mọi chuyện êm lắng,” nàng nói tiếp, “Fujiko kết hôn với một phi công. Một phi công. Giống như anh.” Nàng thêm, giọng châm chọc.

Tôi muốn nói, nhưng nàng tiếp. “Saburo, tại sao anh chưa chịu lập gia đình? Anh không còn trẻ nữa, anh biết rồi. Anh đã hai mươi bảy tuổi đầu. Anh đã nên người. Anh đã là một sĩ quan. Anh nên lo việc hôn nhân.”

“Nhưng anh đã nói với em, Hatsuyo, anh không quen biết một cô gái nào hợp với anh cả.”

“Anh không yêu Fujiko?”

Tôi không biết nói sao. Một nỗi im lặng nặng nề vây lấy chúng tôi. Hatsuyo bước đến vặn nút chiếc máy phát thanh, bắt giờ nhạc êm dịu buổi trưa. Âm nhạc phá tan không khí nặng nề.

Nàng quay lại và ngồi xuống bên tôi. “Ðược rồi, Saburo” nàng nói, “dĩ nhiên, Saburo, anh cần phải tìm một người vợ thích hợp với anh mọi mặt. Anh cần một người vợ biết chăm sóc cho anh, có đạo đức, lễ phép.”

Hatsuyo đang làm tôi bối rối. Nàng không chịu nhìn đi nơi khác, mắt của nàng cứ nhìn tôi đăm đăm. Nàng nhìn thẳng tôi chờ đợi một lời đáp. Tôi trở nên luống cuống, định nói nhưng miệng cứ ấp úng mãi.

Tôi đứng ngay dậy và bước đến cửa sổ, đưa mắt nhìn ra ngoài. Vườn hoa xinh xắn đã biến mất, thay vào đó là những luống rau.

“Còn nhiều người đẹp hơn Fujiko nữa, Saburo,” Hatsuyo nói. Nàng đã bước đến phía sau tôi, và hiện tại hầu như thân thể nàng chạm vào tôi. “và đoan trang nhu mì như anh muốn.”

“Hatsuyo!” Tôi la lớn. “Anh không muốn nói đến chuyện này nữa!” Cơn thịnh nộ của tôi khiến nàng bất ngờ. “Chúng ta đã nói đi nói lại bao nhiêu lần rồi. Nhưng thực tế không hề thay đổi. Không có gì thay đổi hết. Anh vẫn là một phi công, em biết chớ? Mỗi lần anh cất cánh là có thể anh không bao giờ trở về. Mỗi lần! Mỗi lần! Ðiều đó chắc chắn xảy ra, không chóng thì chầy. Không chóng thì chầy!”

Tôi bực bội và phiền não. Tại sao nàng cứ nói đi nói lại về chuyện hôn nhân? Tôi thấy tôi đáng ghét, do những lời lẽ mà tôi đã thốt ra. Tôi thấy tôi đáng ghét, vì không dám nói ra cảm nghĩ của mình cho nàng nghe.

“Hiện tại không có một phi công nào mà không chuẩn bị để chết, Hatsuyo,” tôi giải thích. “May mắn của chúng anh đặt ra ngoài. Vì không còn may mắn nào nữa. Tài ba vô dụng. Việc này…”

“Anh nói giống như trẻ con. Saburo!” Ðôi mắt nàng bừng lên nỗi giận dỗi. Tiếng nàng trầm xuống đến nỗi tôi phải cố lắng nghe. “Anh cứ nói vòng quanh, và anh không biết những gì anh đang nói. Anh không biết trái tim của một cô gái.”

Nàng giơ tay lên trong một dáng điệu giận dữ. “Anh nói về chuyện bay bổng, anh nói về chuyện chết chóc, Saburo. Anh không biết nói gì khác hơn. Anh không biết nói về sự sống còn. Anh không bao giờ nghĩ đến đời sống.”

Nàng bước đến tắt chiếc máy thâu thanh với một cử động giận dữ. Không thèm để ý đến tôi, nàng ngồi xuống trước chiếc dương cầm, mấy ngón tay uể oải trên phím đàn. Tiếng nhạc thiểu não.

Tôi câm miệng. Nhiều phút trôi qua, tôi đứng chôn chân một chỗ, không nói một lời. Cuối cùng, tôi lên tiếng. “Hatsuyo, anh… anh không biết. Có lẽ, nếu… Ðó là lỗi của anh. Anh có thể làm gì được một khi chúng ta đang ở vào thời chiến?” Tôi nói lớn. “Tại sao em cứ nói mãi vấn đề này?”.

“Gặp em trong ngôi nhà này, như vầy đã là quá đủ đối với anh rồi.” Tôi tiếp. “Anh muốn… anh không biết,” tôi ấp úng. “Tất cả những gì anh muốn biết, tất cả những gì mà anh ao ước là được thấy em vẫn còn sống sót và hạnh phúc.”

Nàng đập mạnh đôi tay lên phím đàn và quay lại. “Em không muốn sống nữa! Sống để làm gì và… và…” Nàng đặt tay lên ngực: “Trống rỗng ở đây? Không một ai trong chúng ta, ngay cả một phi công, ngay cả những người trong ngôi nhà này có thể nhìn thấy trước sự sống còn. Anh không hiểu như vậy sao, Saburo? Anh không hiểu sao?”

Cơn giận của nàng khiến tôi giật mình. “Một người đàn bà chỉ hạnh phúc,” nàng nói thẳng, “một khi được sống với người đàn ông mà mình yêu thương. Cho dù, cho dù chỉ một đôi ngày cũng được.”, “Một đôi ngày cũng đủ, Saburo.”

Nàng quay khuôn mặt bi thiết đi, dồn hết giận dữ lên chiếc dương cầm. Tiếng nhạc oán trách, dữ dội, mạnh mẽ. Tôi đứng như trời trồng, không biết nói hoặc làm gì.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 11 Sep 2026

Khoảng 7 giờ sáng 12-4-2011, tôi được điện thoại của chú em ở Santa Ana báo tin Thái Thủy đang hấp hối trong bệnh viện. Nhà Thái Thủy ở ngay bên nhà chú em tôi và thường xuyên qua lại nên người biết tin đầu tiên là gia đình chú em tôi. Lập tức tôi gọi qua điện thoại di động của chú em đang đứng bên giường bệnh để chuyển lời thăm hỏi đến Thái Thủy. Bên giường anh lúc đó có Vũ Quang Ninh tổng giám đốc hệ thống Little Saigon Radio, Phạm Bá Cát nguyên giám đốc đài PT Sài Gòn. Lúc đó Thái Thủy còn gật nhẹ ra vẻ hiểu những gì tôi nói.

Tôi gọi ngay cho Nguyễn Đình Toàn cũng ở Santa Ana. Chỉ nói hai câu, Nguyễn Đình Toàn hấp tấp chạy ngay vào bệnh viện. Sau đó là báo tin cho Phan Lạc Phúc tức ký giả Lô Răng ở Úc. Không gặp được anh Phúc, tôi phải nhờ anh Vi Túy của tuần báo Văn Nghệ chuyển tin giùm. Cùng lúc tôi báo tin cho nhiều bạn ở Virginia, Seattle. Té ra việc ở Mỹ mà người ở Việt Nam được báo tin cho người ở Mỹ sớm nhất để hy vọng bạn bè có thể nói với nhau vài lời cuối chăng. Nhưng một giờ sau, khi nữ ca sĩ Bạch Quyên gọi đến thì Thái Thủy đã hôn mê.

Trước khi anh mất 3 hôm, từ Sài Gòn tôi điện thoại sang thăm. Anh nói đang làm thuốc nên tôi ngưng. Vài tiếng sau, anh gọi lại, vẫn nói chuyện tỉnh táo dù hơi thở có phần mệt nhọc. Anh hỏi thăm tôi về tình hình kinh tế, có phải tiết kiệm không, cổ họng còn sưng không, mắt thế nào. Nét đặc biệt nhất của Thái Thủy là tuy nằm một chỗ nhưng biết nhiều chuyện. Mới hôm trước, anh kể chuyện vanh vách, tinh tường và thẳng thắn. Nay thì anh đã về với mẹ như trong bài thơ anh mơ ước nhưng chưa trọn vẹn.

Dòng Chảy Ngầm

Trong số các ca khúc về Mẹ ở Việt Nam trước 1975, có lẽ bài thơ Lá Thư Gửi Mẹ của Thái Thủy do Nguyễn Hiền phổ nhạc khoảng năm 1955 sau khi đăng trên nhật báo Tự Do được biết đến đầu tiên và nổi trội hơn cả. Các đài phát thanh, các sân khấu ca nhạc thường có bài hát này. Sau đó là ca khúc Lòng Mẹ của Y Vân cũng được rất nhiều khán giả yêu thích. Do đó có nhiều người lẫn lộn giữa hai tác giả hai bài ca này. Nhưng sau năm 1975, ở Việt Nam, bài của Y Vân họa hoằn được “nhắc đến” trên các đài phát thanh và truyền hình, nhưng bài của Nguyễn Hiền và Thái Thủy thì không. Lý do dễ hiểu là bài thơ của Thái Thủy có vài câu “phạm húy” như: “Mẹ ơi! thôi đừng khóc nữa. Cho lòng già nặng sầu thương. Con đi say tình viễn xứ. Đâu có quên tình cố hương. Thương ngóng về quê cũ. Gót thù xéo thảm thê. Bầy trai thầm rơi lệ. Súng gươm hẹn mai về…”

Từ trái: Đỗ Tiến Đức chủ báo thời luận, họa sĩ Tạ Tỵ, Thái Thủy và Đặng Trần Huân.

Ở nước ngoài, các chương trình nhạc, đâu đó vẫn vẳng lên bài Lá Thư Gửi Mẹ. Cụ thể như trong chương trình đặc biệt với chủ đề Mẹ của Trung Tâm Thúy Nga cũng chọn bài này và không chỉ phổ biến ở Mỹ, mà ngay ở Việt Nam. Tất nhiên ở Việt Nam thì hầu hết là băng đĩa “ngoài luồng”, nói rõ hơn là băng đĩa sang lậu, bán rất rẻ, giá chừng 7 ngàn đồng VN, chợ nào cũng có. Hiện tượng này, mấy chục năm qua vẫn tồn tại cho đến nay, hầu như rất nhiều gia đình đều có nếu không vài chục cuốn băng video thì cũng vài ba cuốn. Điều đó chứng tỏ người Việt vẫn thích nghe “nhạc vàng” và vì thế những video ca nhạc, trong đó có những bài như Lá Thư Gửi Mẹ vẫn sống trong “dòng chảy ngầm” của xã hội.

Trên mặt sáng tác, độc giả dường như chỉ chú ý nhiều đến Thái Thủy qua bài thơ phổ nhạc nổi tiếng này nhưng trên “làn sóng điện” của Đài Sài Gòn, thính giả lại biết đến Thái Thủy nhiều hơn qua chương trình thơ văn Tao

Đàn do thi sĩ Đinh Hùng làm trưởng ban, cùng phụ trách có Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Huy Quang. Hầu như mọi gia đình trung lưu ở Miền Nam thời đó, mỗi buổi tối đều nghe chương trình Tao Đàn và những tên tuổi này. Đó là hai lãnh vực mà Thái Thủy được nhiều người biết đến.

Người Đứng Phía Sau Các Hoạt Động Văn Học Nghệ Thuật

Thật ra số phận đã đưa Thái Thủy bước vào “làng phát thanh” rất sớm. Từ khi 17 tuổi anh đã tham gia chương trình phát thanh của thành phố Hải Phòng. Sau đó vào Nam năm 1954, Thái Thủy cộng tác với chương trình “Tiếng nói của Hội Ðồng Nhân Dân Cách Mạng,” ủng hộ thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống VNCH. Sau đó là các chương trình phát thanh khác của Đài Phát Thanh Quốc Gia. Thời nào anh cũng là nhân viên then chốt của Phòng Văn Nghệ, là xướng ngôn viên trực tiếp với giọng nói trầm ấm, khoan thai, rõ ràng, không bao giờ nhầm lẫn.

Anh làm thơ rất sớm, thường thấy trên vài tạp chí, ít xuất hiện trên các tuần báo được gọi là “ăn khách”. Có thời gian anh làm tổng thư ký cho tạp chí Hiện Đại do Nguyên Sa làm chủ nhiệm, nhưng chẳng bao lâu báo bị đóng cửa vì thời cuộc. Thái Thủy không xuất bản thơ, không đứng ở phía trước những hoạt động Văn Học Nghệ Thuật sôi nổi của Miền Nam thời ấy. Anh đứng bên cạnh hay phía sau toàn bộ khung cảnh đó. Có lẽ vì thế nên Du Tử Lê nhận định Thái Thủy là nhân vật “behind the scene”. Theo tôi, đó là một nhận định chính xác.

Cuộc Sống Đầy Gian Truân

Tôi quen Thái Thủy ngay từ năm 1957 khi anh thuê nhà ở chung với Thanh Nam và Hoàng Thư. Từ căn nhà ở đường Phan Văn Trị đến căn nhà sau rạp Quốc Thanh, cuối cùng thời gian lâu dài nhất là căn phòng trên lầu 3 building Cửu Long trên đường Hai Bà Trưng. Nói cho đúng, hồi đầu Thái Thủy là bạn của chú em tôi từ thời còn là hai cậu học trò ở Hải Phòng năm 1953. Cả hai cùng lứa tuổi, anh sinh ngày 25-12-1937 tại Hà Nam, tên thật là Phạm Thái Thủy. Chú em tôi sinh năm 1936.

Vào Nam, tôi mới là bạn Thái Thủy. Khi tôi làm ở Phòng Báo Chí Nha Chiến Tranh Tâm Lý thì Thái Thủy làm ở Đài Phát Thanh Sài Gòn. Anh “nhỏ thó”, thư sinh, nhiều lắm nặng 38kg. Chắc chắn không một quân đội nào dám nhận anh vào lính. Anh tâm sự, cha mất đã lâu, chỉ còn bà mẹ già ở lại Hà Nội. Anh sống ở Sài Gòn gần như đơn côi. Hầu hết cuộc đời độc thân của anh sống với 2 người bạn như đã nói ở trên. Ba chàng “ngự lâm văn nghệ” ở tại căn phòng nhỏ xíu trên building Cửu Long, chỉ có độc 1 chiếc giường nhỏ, chiều ngang không quá 1 mét, chiều dài không quá 2 mét. Cứ luân phiên, một anh nằm trên giường thì hai anh nằm dưới sàn gạch bông cũng không quá 2 mét vuông. Nhà văn Thanh Nam, nhà thơ Thái Thủy, “ngâm sĩ” Hoàng Thư cơm hàng cháo chợ thường xuyên, liên tục. Họ sống với nhau rất tương đắc cho đến khi lần lượt tuyên bố “tao lấy vợ”, dọn ra ở riêng.

Thái Thủy kết hôn với con gái anh Mặc Thu. Ông bố vợ có mấy người con gái đều đặt tên là Lan: Mặc Lan, Thu Lan, Nhược Lan. Thái Thủy chọn cô ở giữa rất xinh, có lẽ khi ấy mới 17 tuổi. Thái Thủy và Thu Lan sinh được 4 cháu. 2 cô con gái đã được anh bảo lãnh qua Mỹ, nhưng một cháu lại xin về Sài Gòn và hiện ở đây với 2 người anh em khác.

Nỗi Đau Không Nói Được

Như nhiều văn nghệ sĩ Miền Nam, sau ngày 30-4-75, Thái Thủy đi “học tập cải tạo” ở trại tù Gia Trung, một trại tù khét tiếng gian khổ. Ít năm sau, anh chuyển về trại tù Hàm Tân cùng các văn nghệ sĩ khác như Mặc Thu, Nguyễn Sĩ Tế, Trần Dạ Từ, Trịnh Viết Thành… Tôi gặp lại Thái Thủy ở trại này. Trông anh thê thảm, quần áo tù vá chằng vá đụp, cặp kính cận mất gọng, buộc bằng hai sợi dây đen ngòm. Anh tâm sự lẻ với tôi “đói lắm”. Ngày ngày căng sức đi “lao động”, tối về nằm ép rệp thương nhớ vợ con.

Ở tù 10 năm, đến khi anh được lệnh “ra trại” tức là tha tù, anh vẫn chưa hề biết vợ của anh đã ôm cầm thuyền khác. Qua những “nguồn tin thăm nuôi”, nhiều bạn anh đã biết từ lâu, nhưng chẳng ai dám nói ra. Tôi cũng vậy, lúc đó tôi vẫn còn nằm kỹ trong trại, khi từ giã anh, tôi băn khoăn mãi chẳng biết có nên cho anh biết tin hay không. Cuối cùng tôi cũng không đủ can đảm nói lên điều này. Thôi, để anh vui được lúc nào hay lúc ấy. Tuy nhiên tôi cũng an ủi anh một câu lửng lơ con cá vàng: “Mày nên thông cảm với vợ mày”. Thấy vẻ mặt thẫn thờ của anh, tôi phải bồi thêm: “Không đi thăm mày được vì đời sống khó khăn”. Thái Thủy cúi đầu bước ra khỏi cửa trại giam. Tôi chỉ biết nhìn theo.

Tôi nói điều này không có ý trách móc ai, đó là chuyện “thường tình” trong trại tù. Nhất là với các anh tù “mút mùa Lệ Thủy”, không bao giờ biết ngày ra. Tôi cũng vậy thôi, có khác gì đâu. Cũng không biết gì cho đến trước một ngày tôi được phỏng vấn đi theo diện H.O. Tôi cho rằng đợi chờ vô vọng trong vài ba năm đã là khó. Thế nên phải thông cảm cho các bà khi còn rất trẻ, còn những ngày tháng vật lộn với cơn bão trước mặt, phải bảo vệ cho cuộc sống của những đứa con, đôi khi vì nhà cửa bị tịch thu, tay trắng, buộc phải bước sang thuyền khác. Tôi hoàn toàn thông cảm sâu sắc, không trách cứ ai. Tôi cúi đầu kính phục những “hòn vọng phu” vẫn chung thủy sau cơn địa chấn này.

Sau khi về được vài tháng, Thái Thủy ngồi sau xe gắn máy của bạn Phan Đắc Tài từ Sài Gòn bò lên “trại cải tạo” thăm tôi. Anh vui vẻ chấp nhận số phận. Nhưng trớ trêu thay, khi tôi ra tù năm 1987, Thái Thủy vẫn phải sống chung ở nhà vợ. Trong cảnh “người nằm trong, kẻ nằm ngoài” đó thật đau lòng, song chẳng làm thế nào khác được vì hộ khẩu không có, tiền cũng không, chẳng có chỗ nào làm đất dung thân. Tâm sự ấy có lẽ chẳng bao giờ anh nói với ai. Chúng tôi thường đạp cái xe đạp cũ, đi cùng nhau trên những con đường Sài Gòn thân quen nay đã đổi chủ. Nỗi buồn, niềm đau không có chỗ thoát ngoài ánh mắt nhìn nhau khi cùng ăn một bữa cơm đầu hè. Rất may, chỉ một năm sau, anh dạy học và quen với một phụ nữ hiền lành, chân thật. Hai người gắn bó được một thời gian, đúng bữa cơm trưa ngày anh cưới vợ, năm 1990, trên đường Cống Quỳnh, anh lại bị bắt cùng Vương Đức Lệ vì dính vào vụ bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Thế là lại vào tù thêm 5 năm nữa.

Lần này anh được “thăm nuôi” đầy đủ hơn bởi bàn tay người đàn bà đã mang lại hạnh phúc cho cuộc đời anh.

Sự may mắn tưởng như không bao giờ có. Hết hạn tù lần thứ hai, anh may mắn được theo diện H.O. năm 1998 đi định cư tại Hoa Kỳ. Đây là một ngoại lệ của phái đoàn Mỹ. Nhưng cuộc sống ở Cali của anh không xuông xẻ. Anh chị gặp tai nạn xe hơi, anh bị thương lòi ruột, may mà còn sống. Vài năm sau anh yếu dần. Chúng tôi đều hiểu anh chẳng còn sống với chúng tôi được bao lâu. Bây giờ anh đã thật sự ra đi. Một mất mát lớn lao cho bạn bè, cho “những người muôn năm cũ” còn lại với thời gian.

Chẳng ai tránh được sinh lão bệnh tử.

(Sài Gòn, 14-4-2011)

Có gì đâu mà nhục

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 11 Sep 2026

1. Quê người.
Hôm rồi, buổi tối nhóm họ, tại nhà ông bạn già làm sui so, người viết may mắn được ngồi gần một anh bạn trẻ chừng 5 bó, bay qua Melbourne từ Perth, Tây Úc. Rượu vô lời ra. Anh bạn trẻ biểu tui.
“Anh rờ tay em đi!”
Cha cái này ngặt dữ à nhen! Tui đâu có hai hệ đâu.
Anh hỏi: “cứng hay mềm?
“Cứng!”
“Làm gì biết không?
‘Làm rẫy !”
“Đúng! bên nây gọi là làm farm.”
Chờ một chút, anh bạn vô phòng, lôi ra chai ông già đi bộ: Johnny Walker, nhản xanh, blue label.
“Uống cái này mới đã, chứ uống cái Jack Daniel’s này bịnh chết?!”.
Tôi tự hỏi: chú em này chắc đẻ gần kho đạn Long Bình nên nổ dữ!
Đoán được ý tôi, anh bạn phân trần:
“Em trúng số!”
“Bao nhiêu?”
“Triệu rưởi” .
“Đã quá!”
“Nhưng không phải trúng vé số tattslotto. Mà vầy. Em người Cần Thơ. Cần Thơ gạo trắng nước trong. Ai đi đến đó lòng không muốn về. Cái đó là cho mấy thằng VC kìa. Còn em dân chánh gốc Cần Thơ à nhen. Nó vô thì em đi. Đi luôn ra biển.”
“Qua Perth làm gì?”
“Ba má em làm ruộng. Em qua đây làm rẫy. Tiếng Anh tiếng U một chữ hỏng biết thì làm sao?
Cực trần thân chớ! Mùa hè, em chui vô nhà kiếng, nửa tiếng chui ra. Lâu hơn là chết. Mà có người chết rồi. Cực, nhưng có tiền kha khá, mua lại cái farm của thằng Ý, chừng trăm ngàn.
Tàu, thôi cách mạng văn hóa, đánh đấm nhau. Mèo trắng, mèo đen, mèo gì cũng được; biết bắt chuột thì OK. Tàu mở cửa, sản xuất dỏm, thiệt đủ thứ. Anh hỏng nghe trời đất tạo ra mình, còn phần còn lại là ‘Made in China’ sao?”
Vậy là kỹ nghệ khoáng sản Úc bùng nổ. Công nhân khắp nơi tụ về, cần nơi ở. Giá nhà , giá đất ở Perth lên vùn vụt như tàu vũ trụ Discovery. Mấy thằng công ty xây dựng Úc mua đất, cất nhà bán, kiếm lời. Nó trả farm em 1 triệu. Em đòi triệu rưởi. Nó Ok. Em khỏe re như con bò hết kéo xe.” Hay hỏng bằng Hên!
“Giờ làm gì?”
“Ở không đi nhậu và nói dóc.
Anh qua Perth. Xuống phi trường, hú em một tiếng. Mercedes rước anh. Cơm nước, nhậu nhẹt là chuyện nhỏ. Dân Cần Thơ, em nói thiệt, chứ hỏng nói dóc như tụi nó trong nước bây giờ.”

2. Quê nhà.
Cũng là mua đất cất nhà, bán, lấy lời như bên Úc, chủ đất thì trúng số, còn ở Phường Hưng Phú, Quận Cái Răng, Thành Phố Cần Thơ của chú em nói trên thì lại khác. Chủ đất không trúng số mà trúng gió. Vì phải trần truồng chống lại bọn đi cưỡng chế. Cưỡng chế là nói văn hoa còn huỵch tẹt ra là đi ăn cướp.
Nhớ Tắt Đèn của Ngô Tất Tố.
“Chị Dậu, như người ta vẫn nói ‘con giun xéo lắm cũng quằn’, đã nói với bọn lính lệ như thế này: “Mày động vào chồng bà đi, rồi bà sẽ cho mày xem”.
Ở đây không phải là: “Mày động vào chồng bà mà là động vào đất của bà” và bà cho chúng nó xem thật!

Trưa 22/5, tại lô 49, dự án Khu dân cư Hưng Phú (Q. Cái Răng, Cần Thơ) do Cty CP Xây dựng số 8 – CIC 8 (Bộ Xây dựng) làm chủ đầu tư, gia đình ông Hồ Văn Tư, 58 tuổi, ngụ khu vực 1, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, bà Phạm Thị Lài, 52 tuổi, với con gái Hồ Nguyên Thủy, 33 tuổi, đã lột hết quần áo để “nghênh chiến” với những người đàn ông đang có mặt trên công trường.
Hai người này đã bị đám vệ sĩ lôi trên cát, bãi cỏ và các đống vật liệu trong tình trạng khỏa thân dưới cái nắng gay gắt.
Một người dân chứng kiến nói rằng nhiều thanh niên “trấn áp” hai phụ nữ không mảnh vải che thân là “chướng mắt”.
Bà Lài nghẹn lời: “Đất này gia đình tôi bỏ tiền mua để cất nhà sinh sống mấy chục năm. Tụi nó tự đưa giá rồi ép chúng tôi nhận tiền mà không cho chúng tôi quyền được thỏa thuận mua bán. UBNDQ Cái Răng dùng lực lượng CA cưỡng chế giao đất.
Hiện giá đất mà đang chào bán ngay tại vị trí đất của hộ bà Lài là hơn 5 triệu đồng/m2. Trong khi theo bà Lài, Cty này chỉ bồi thường cho gia đình bà chỉ 500.000 đồng/m2 và cũng không được bố trí tái định cư.
Được biết, giá bồi hoàn đưa ra bị nhiều người dân trong khu vực nầy phản đối.
Tuy cách xa về địa lý, tuy khác xa về quy mô, xong Cái Răng và Văn Giang đều có những người dân bị hất văng khỏi đất đai, điền sản của mình với số tiền đền bù quá nhỏ mà nỗi uất ức lại quá lớn.
Khi không thể bấu víu vào đâu để giữ đất, khi không còn biết “kêu” ai về quyết định một chiều từ chính quyền, khi mà trụ cột trong gia đình, ông Hồ Văn Tư, đã tìm đến cái chết bằng thuốc trừ sâu (may mà cứu được) để phản đối chính sách đền bù, thì những người phụ nữ tội nghiệp kia còn biết làm gì hơn là trần truồng để phản đối việc cướp đất bất nhân. Nè còn cái này, tụi mầy lột luôn đi!

Người mẹ bị lôi đi không còn mảnh vải che thân.

3. Quê xưa.
Ôn cố tri tân, đọc lại “Hình bóng cũ” của Sơn Nam, lại thấy những kẻ lợi dụng uy quyền để bóc lột, chà đạp lên nỗi oan khổ của người dân quê ngàn năm còn đó.
Nhân vật Henri Nhan và vợ, trong “Hình bóng cũ” đại diện cho lớp “côn đồ ác ôn”, thời nào cũng có. Chúng không ngại nhúng tay vào những việc nhơ bẩn, bất nhơn, bất nghĩa miễn sao được lợi riêng mình. Chúng cấu kết với bạo quyền để tạo thế mạnh. Chúng xảo trá, lưu manh. Chúng là quân giết người, quân khốn nạn. Chúng là vết nhơ của xã hội. Chúng ích kỷ, đê hèn. Chúng ngụy tạo danh nghĩa để che đậy sự thối tha, nhơ nhớp do chúng tạo nên.
Chỉ biết có tiền mà không cần đạo lý. Một lũ cướp ngày trắng trợn. Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
Nhưng xưa chúng ta còn có lão Tư Hiếm ở vùng Mốp-Giăng, chúng ta có cô Thừa dám cởi hết áo quần trước mặt quan kinh lý che ngang ống kính đạc điền và cãi lý vì quyền lợi chung:
“Làm cái gì vậy? Trần truồng như nhộng giữa đám đông chẳng biết mắc cỡ à?”
Cô gái đáp:
“Mắc cỡ gì? Hễ cái miệng đói thì cái… mông cũng chết! Xưa nay, chưa có người nào chết đói mà cái mông còn sống được. Tôi làm vậy đó. Không mắc cỡ gì hết!”
Đó là hồi xưa, còn bây giờ chúng ta cũng có bà Phạm Thị Lài và người con gái Hồ Nguyên Thủy cũng liệt nữ, anh thư như vậy:
“Mẹ con tôi biết lột hết quần áo để phản đối trước mặt nhiều người là quá nhục nhưng phải cắn răng chịu vì quá bức xúc!”

4. Kết.
Người viết xin ngã nón, chào kính hai người phụ nữ đất Cần Thơ còn chìm trong vòng áp bức, đã kiên cường, bất khuất, đấu tranh nhưng cũng xin lổi có điều không đồng ý là:
Có gì đâu mà nhục?! Mình là nạn nhân bị ăn cướp mà nhục cái gì? Nhục chăng là bọn đi ăn cướp đất của dân và bè lũ núp sau lưng chúng nó mà thôi!

ĐXT

Cỏ may

sangtao.org

Posted: 24/07/2014

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Sep 2026

Buổi ban sơ, tôi có lời bàn ra tán vào. Nghĩ không thuyết phục tôi mang cả mấy câu thơ cũ của Nguyễn Đức Sơn ngâm nga ca kệ cho May nghe: “…làm chi ở thế gian ni, triệu năm đừng có lo đi lấy chồng, rủi ro tay bế tay bồng, sao bằng ôm cả trời hồng đi chơi”.

Nước đổ đầu vịt, ngày đi tháng lại, sông trôi chân cầu, bèo giạt mây xa, tôi về phố cũ, dụi mắt ngó May, bụng không dưng lớn. Lúng ta lúng túng, con vịt bầu xác xơ giao hẹn, chú tuyệt đối chớ hoài nghi đặt dấu hỏi tra vấn, đợi lòng bớt giao động May sẽ nói rõ sự tình. May gọi tôi bằng chú bởi bố May là bạn tù chung nơi cải tạo. Bạn vắn số ra đi trước ngày tại ngoại, tôi dài số xuất dương ôm cả trời rách nát cù bơ cù bất chẳng biết đi đâu. Lời cuối bạn thì thào như gió nhẹ thổi lạnh lưng: Quan tâm giùm đứa con gái tao trơ trọi dại khờ.

Một đời làm lụng đầu tắt mặt tối của cha mẹ để gia tài lại cho tôi chiếc xe gắn máy chính chủ. Tôi căn dặn May rán sức ôm chặt lấy chú, trước để dằn cơn đau sau để khỏi té. Tôi rú ga chạy u tới nhà thương xớn xác chỉ thiếu còi ụ dẫn đường. Hai giờ trưa nhập viện, tới năm giờ May chuyển bụng vỡ nước ối. Khu hộ sản lắm bà mẹ non tuổi nhấp nha thấp thỏm nhăn nhó chờ vượt cạn. Tôi ngồi ở phòng cách ly đợi nghe một vuông tròn. Tiếng khóc của con người mang đầy những hệ luỵ, nhưng một vài trường hợp đôi tai kẻ liên hệ lại nuôi dưỡng một mong cầu lắng nghe. Khóc thì hẳn phải thảm sầu bàng hoàng cho cái chết, nhưng khi hài nhi mở mắt chào đời, tiếng khóc nọ hẳn sẽ khiến ai kia dấu vụng một nụ cười, một thở phào chẳng phấn khởi chút nao.

May vừa đủ tuổi trưởng thành, có quyền trưởng thành đúng theo luật pháp quy định nên không bị hoạnh hoẹ khi cán bộ y tế ngó tới cô gái nhỏ thó ngỡ chừng mười sáu nằm lã người chẳng hay biết trời cao đất dày. Ông là bố của hài nhi đấy nhỉ? Không, nó chỉ là cháu tôi. Ai là cháu? Ồ, người vừa đẻ đái xong. Vậy chồng cô ta đâu? Tôi nào biết, tôi không có quyền được biết. Hay nhỉ! Vậy ông là kẻ đứng ra lo mọi thủ tục? Sao cơ ạ? Tiền viện phí là hai triệu tám, ông chi trả cho cô ấy hay một người khác sẽ đến thanh toán? Thời hạn là bao lâu ạ? Hai mươi bốn giờ, càng sớm càng tốt để người ta liệu sắp xếp cho cô ấy một chỗ nằm dưỡng nghỉ. Hai ngày thì xuất viện, đấy là theo lẽ thường tình của quy định, cơ bản là thế.

Trán tôi tươm mồ hôi. Tôi không có thời gian để vào tóm tém đầu tóc rối bung cũng như cầm tay May vỗ về lời an ủi chia vui. Tôi phải chạy nước rút toan tính xoay trở đâu ra số tiền to đùng cỡ đấy? Vừa dợm quay bước thì có cô y tá mở cửa phòng gọi giật giọng. Đi đâu thế, bà nhà vừa đề đạt yêu cầu mong gặp ông đấy. Cô y tá mang ngộ nhận với hảo tâm dẫn tôi vào đứng sát bên giường May nằm. Chiếc giường sắt hoen rỉ chất sơn đôi ba chỗ in vệt máu khô và chiếc chiếu lát vừa kích trải cong queo với tất cả sự tàn phai úa nhàu. Một khuôn mặt tuyệt không còn hồng huyết cầu nhô lên đôi môi khô nức nẻ. Giọng nói nhỏ hụt hơi, muốn lắng nghe tôi phải cúi mặt xuống áp tai kề cận. Dưới giường tre của May, chú lật ngửa nó ra, thu dấu trong chân giường phía đầu nằm là gói ny-lông cuộn tròn. Mang tiền đó mà trang trải, đổ xăng hoặc chú bồi dưỡng chút thức ăn. Nếu mệt quá, ngủ một giấc hẳn vào với cháu sau, nhé. Tôi tính hỏi là con trai hay con gái, ai tha nó đi đâu mà không thấy nhưng May khoát tay kiểu xua đuổi. Sau tấm màn xanh bẩn có người đàn bà mãi rên la, lôi tên một vài nhân vật nam ra chửi. Lời lẽ thô tục, khó nghe và tôi chợt phát hiện chỉ mình tôi là giống đực duy nhất lạc vào cái thế giới lầy lội này.

Tôi về căn hộ tồi tàn May ngụ, đun xe vào và đóng cửa nẻo. Bóng tối chứa đọng khiến bần thần, buộc tôi phải mở sáng bóng điện nhỏ treo lơ lửng như đoạn dây thòng lọng được chế biến. Tôi ngó những đồ vật được bày biện, nhìn tấm ảnh người bạn lùi vào chỗ đứng trên cái bàn thờ chỏng chơ một đoá sen nở bung trong bình cắm khô nước. Tôi đi quanh, tẳn mẳn rờ soạn vật vạ mà không nhìn ra một đầu mối hoài nghi thủ phạm, kẻ khiến May chịu nuôi trong thân một hòn máu xa lạ. Hòn máu đã tượng hình, mai này lớn khôn nó sẽ bù trất về căn nguyên cớ sự. Van mẹ chớ đánh con mà, để con dọ hỏi ai là bố con!

Tôi lật úp chiếc giường èo uột nhẹ hẫng, moi ra được toàn bộ tài sản mà May dấu thu. Tôi run tay đếm số bạc hơn năm triệu. Hôm trước cả khu phố bên quận hai xôn xao hiếu kỳ người dân bu nhộn nhạo tin choáng, thằng con đầu tuổi mười chín với sự trợ giúp của đứa em mười bảy tuổi đã đầu độc người cha làm thợ hồ để chiếm đoạt một triệu mốt. Đồng tiền như có tẩm bùa chú vào, làm mê muội kẻ nhìn trông, xúi dục hiện tới, không cưỡng được, biến đổi thành thú tánh, giết người chẳng gớm tay. Nghĩ sao, tôi lại tìm nhang đốt thắp một cây cho bạn đỡ lạnh lẽo. Tôi nói với tấm ảnh trầy trụa đen trắng được lộng kiếng. Đừng nghi ngờ tôi điều gì. May nó đáng thương. Chẳng quen biết sâu đậm mà nó an tâm, tin vào một kẻ cùng bần như tôi. Tấm lòng nhân hậu như thế, tôi tin mai này May sẽ đón nhận những tốt lành. Tôi lận gói ny-lông đựng tiền vào trong thắt lưng, nhắm hướng bệnh viện chạy vụt dưới trời chiều nhá nhem.

Hai chú cháu đã đi tới nhà từ thiện chăm sóc trẻ mồ côi và tật nguyền. Theo lời chỉ bày đã chạy tới hướng núi, băng qua một cánh đồng lúa bỏ hoang, thôi khai khẩn và độc đạo quanh co dẫn vào một ngôi chùa quạnh quẽ vây bọc bằng những loài cây thâm niên sum suê bóng mát. Sau chùa có cất một căn nhà hình chữ nhật còn mới màu vôi, đó là nơi đón nhận, nuôi dưỡng những sơ sinh xấu số bị cha mẹ dứt tình lén lút mang đặt trước cổng chùa nhờ nương thân cửa Phật. Một sư nữ vận áo lam dắt May đi khuất sau cây đa to một cách khó hiểu. Tôi ngồi trông xe sát bên cái giếng nước bé một cách chẳng thể bé hơn. Một chú tiểu đang lấy nước để rửa rau và cái gàu nhôm luôn va vào thành giếng khi chú ấy kéo dây lên. Nếu lòng giếng rộng hơn hẳn nó không than van khi bị cọ quẹt kiểu đó. Không gian trầm lắng, buồn lặng. Có thể nhạt mồm, chú tiểu nhìn tôi, khơi chuyện. Chú ấy muốn biết, có phải là thăm con cháu đang nương náu trong chùa. Tôi nói không, một bà mẹ sinh con trong bệnh viện, ngày một ngày hai mở mắt ra thì con mình chẳng còn hiện diện nữa, một bà mẹ mìn nào đó đã bắt cóc đứa bé hai ngày tuổi thoát khỏi cổng nhà thương một cách êm thắm. Đã dọ tìm hai ba địa chỉ, chùa là niềm trông mong cuối cùng của cô gái xấu số ấy. Chú tiểu mặt không đổi sắc, chú chẳng lầm bầm A di đà Phật, chú thọc cả hai bàn tay vào thau nước khi rửa rau và chú loan tin động trời. Nếu tìm không thấy thì có nghĩa là đứa nhỏ kia đã rơi vào tay tổ chức chuyên môi giới mua bán trẻ nít. Địa bàn bọn đó rất rộng, có giao dịch làm ăn với phía Trung quốc nữa cơ. Tôi ngắm cái giếng kỳ lạ, vòng kính của nó nhỏ tới độ muốn quẳng xuống một hài nhi chưa chắc đã trót lọt êm xuôi. Hình như khi xây dựng người ta cố công làm ra vậy để ngăn ngừa nhũng vụ gieo mình tự tử hoặc muốn phi tang một chứng cớ, huỷ diệt nó chôn lấp nó. Khó khai quật đào bới.

Tôi chở May về. Cả hai không nói năng. Tôi biết kết quả kiếm tìm đã cuối đường tuyệt vọng. Xe ngang cánh đồng hoang phế, May biểu tôi dừng lại, ngồi nghỉ chân. Thấy làm phiền người ta cũng chướng nên May có mua ít thức ăn chay do chùa nấu, tiền cúng dường bỏ vào thùng phước sương tuỳ hỉ thiện tâm. Ngồi bệt xuống bờ cỏ, May bày thức ăn chứa trong hộp nhựa ra. Chú có hiểu tên May là gì không? Cái đám cỏ rậm hoang dại ngứa ngáy này có tên gọi cỏ may. Mẹ của May là một con buôn bị bọn thuế vụ truy đuổi, khi tàu Thống Nhất dừng, nhảy xuống từ một toa tàu, băng qua quốc lộ, thất thểu đi trên cánh đồng cỏ thì May từ bụng mẹ đổ nhào ra, đẻ rớt. Người con khi đó có nhiều vết xước do bị cỏ cứa đường ngang nét dọc. Mẹ đặt tên cho con để nhớ về thương tật đầu đời của mẹ lẫn con. Chú không nghĩ vậy, tôi nói. Chú vẫn tin là nghĩa ngữ kia sẽ mang lại cho May chút an lành của sự may mắn. May trao cho tôi phần ăn đã được sẻ chia. Chú thấy đời May có đáng để hưởng cái hồng phước ấy không? Cục cơm chận ngang trong cần cổ, khó nuốt xuống. Bụi xoắn theo sau một hai chiếc ô tô chạy bên kia con đê xẻ rách nỗi bình yên đọng vũng giữa cánh đồng. Và rồi tất cả sự chộn rộn kia bị dồn cục lại sát chỗ chúng tôi ngồi.

Họ bắt giữ May lôi lên một chiếc xe. Họ kéo tôi vào một chiếc xe bít bùng khác. Tôi bảo hãy để cho tôi đi trên xe máy của tôi, tới bất cứ chốn nào tôi cũng sẽ có mặt. Một người mặc sắc phục có đeo súng ngắn nói. Hãy an tâm, chúng tôi cho người xử lý bảo quản chiếc xe ấy. Hãy sáng suốt thành khẩn hợp tác cùng chúng tôi để chóng phá án.

Tôi ngồi, nằm vật vờ hoang mang trong đồn công an hai hôm, viết đúng ba bản tự khai và khoảng triệu con muỗi tha hồ dự tiệc đình đám trên da thịt tôi bất kể đêm ngày. Họ thả tôi ra, bảo ba hôm sau hãy tới mang chiếc xe về. Tại sao? Tại địa phương kia chưa có ai rỗi việc để chuyển lên đây, đừng nghi ngại, bổn phận của chúng tôi là bảo vệ tài sản của nhân dân. Tôi bước ra ngoài bức tường luôn kín cổng mà không biết được số phận của May. Tôi vào một quán nước gần đó gọi ly cà phê đá tay bưng lấy đầu trì nặng. Người thiếu nữ làm tiếp viên mang thức uống ra, cô đặt xuống bàn và tựa một bạn tâm giao, cô kéo ghế ngồi đối diện tôi, ngó tôi thương hại. Anh vừa trở ra từ chốn đó, phải không? Thấy tôi chẳng cục cựa tựa phỗng đá vô tri cô không nản lòng. Cô quen rồi, làm như khách khứa tới đây thảy đều có bộ dạng dở điên dở tỉnh kiểu ấy. Ba hồn bảy vía chưa kịp lộn lui.

Sau cùng, mức chịu đựng có giới hạn, cô xuống giọng. Đây là một thương vụ mà tôi sẽ là kẻ đối tác uy tín. Anh nghe tôi nói không? Tôi tu một hơi gần cạn dung dịch cà phê chứa trong ly. Có lẽ tôi sẽ phải gọi thêm ly nước mía, thứ ly cối. Cô nói nữa đi, tôi cần nghe thêm những lời đề nghị của cô. Người tiếp viên đứng dậy, cô lại quầy vớ lấy bao thuốc lá và đưa tay mở chiếc quạt máy. Gió làm tóc cô rối lên. Tôi nhìn dáng vẻ cô và tám phần đoan quyết cô hành nghề cà phê ôm hoặc một thứ gì tựa thế, nhận tiền rồi ỏng ẹo cởi áo xống che thân. Cô mời tôi một điếu thuốc ba số năm. Những ngón cắt cụt móng và chẳng bôi sơn màu mè. Cô sở hữu hai bàn tay của một người thư ký văn phòng giỏi việc đánh máy chữ. Bàn tay ấy có thể thích hợp với nhân viên làm ở ngân hàng đếm tiền cực nhanh, cực chính xác mà không cần lè lưỡi ra thấm ướt nước bọt trên đầu ngón tay.

Năm trăm ngàn anh phải trả sau khi mua một thông tin. Anh bằng lòng không? Tôi nhai cục nước đá rồi hít sâu hơi khói. Thuốc này có thể sản xuất ở Thái lan hoặc Singapore, từ lâu tôi chẳng rớ tới hàng xịn nên khói thuốc thơm làm chóng mệt. Thêm thay, hai ngày qua bụng tôi chưa có một hột cơm. Năm trăm? Số tiền đó đâu phải nhỏ. Tin gì mà cắt cổ thế? Cô làm nghề phục vụ viên thổi khói vào mặt tôi. Vì sao cô con gái đó bị bắt? Cô mang tội gì vào thân?

Tôi dụi điếu thuốc trong cái gạt tàn móp méo. Tôi trả tiền cho cô sau, đồng ý nhé. Được thôi. Anh uống gì thêm? Khỏi, người tôi chỉ khát khô lượng thông tin. Cần nghe mà không cần uống. Trước khi sinh, cô ta đi khám bác sĩ và làm siêu âm. Lúc đó thai đã lớn và đó là đứa bé trai. Cô sao lại kết quả siêu âm rồi ký vào bảng hợp đồng thoả thuận mua bán với đôi vợ chồng nhiều tiền của nào đấy. Giá năm triệu với điều kiện đứa bé chẳng bị dị tật ngoại hình. Cô hết nhiệm vụ sau đó, đôi vợ chồng kia sẽ có cách vào ẳm đứa bé đi. Nếu xem là nhiệm vụ thì việc cô cần làm là tri hô lên rồi khóc than vật vã các thứ. Sao nữa? Hết. Những thứ cắc cớ khác là phần việc của công an, ban chuyên án phụ trách chống tội phạm. Cha đứa bé? Cô biết chuyện đó không? Đồn công an quận một còn giữ đơn khai một cô gái tên May, 18 tuổi bị cướp đoạt tài sản và cưỡng hiếp vào năm ngoái. Cô có mô tả nhân dạng ngoại hình khuôn mặt tên cướp, công an nhập cuộc nhưng chẳng có kết quả.

Năm trăm ngàn, tôi sẽ mang lại cho cô vào chiều mai, ngay chỗ ngồi này. Người bán tin tức nhoẻn miệng cười. Không gấp, thực ra thì số tiền anh cần phải đóng lên tới một triệu. Và để anh có thời gian, tôi hẹn gặp anh vào ba hôm sau. Cái gì? Anh không tính lấy lại chiếc xe gắn máy ấy sao? Nhà cửa bé tẻo teo mà hy sinh chăm giữ hộ anh khối tài sản ấy bộ chẳng đáng công sao?

Tôi trôi tuột chân đi chẳng cưỡng chống về lại chỗ May ngụ. Tôi lật chiếc giường tre chỏng chơ lên lần nữa, tôi thử kiểm kê tài sản của May tới đổ mồ hôi sôi nước mắt mà chả thu hoạch được gì. Tôi đốt lò nấu nước trụng gói mì tôm, trước khi ăn tôi thắp cho người bạn cây nhang chẳng có mùi thơm. Và tâm sự. May hoàn toàn không là may mắn. May chỉ là giống cỏ hèn mọn mọc hoang thôi ông ạ. May đã chống đối cuộc sống này bằng những phương cách tôi thực sự không hiểu. Dẫu sao thì tôi cũng cố sức xoay xở để dọ hỏi chỗ người ta nhốt May, nhìn mặt May cầm tay May hỏi han May cốt để chứng minh, vào hoàn cảnh nào thì tôi cũng sẽ là người đứng ngay sau lưng May. Thầm lặng, kín tiếng. Giúp được gì không? Tôi chẳng rõ, bởi tôi cũng tựa một loài cỏ không tên lỡ mọc trên cánh đồng hoang dại bát ngát này.

Hồ Đình Nghiêm

Thiếu tá Simon Duong (gốc Viêt), Sĩ quan Quản lý Chương trình, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on September 10, 2026 by dongsongcu

09/09/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 11 Sep 2026

Huy hiệu Lực lượng Không gian Hoa Kỳ của wikimedia.org.

Thiếu tá Simon Duong được bổ nhiệm giữ chức Quản lý Chương trình Sĩ quan đại diện hợp đồng (COR), phụ trách duy trì năng lực mua sắm của Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (United States Space Force), từ tháng 8 năm 2025. Ông giám sát vòng đời, bảo trì và hiệu suất của nhà thầu với các hệ thống không gian quan trọng, phóng hoả tiễn và hỗ trợ mặt đất. Trách nhiệm chính của Sĩ quan Quản lý Chương trình (PM) là chỉ huy công tác quản lý ngân sách chiến lược, và khai triển kỹ thuật cho các hệ thống không gian, từ giai đoạn sản xuất đến duy trì hoạt động dài hạn, quản lý toàn bộ vòng đời của hệ thống, từ phần yêu cầu xây dựng và lựa chọn nhà thầu cho đến việc giám sát thiết kế, kỹ thuật, sản xuất và duy trì vận hành. Sĩ quan đại diện phụ trách hợp đồng đóng vai trò là “tai mắt” về mặt kỹ thuật tại hiện trường cho cấp chỉ huy phụ trách hợp đồng, thực hiện giám sát hiệu suất của nhà cung cấp, đánh giá các sản phẩm bàn giao và bảo đảm việc tuân thủ hợp đồng.

Thiếu tá Simon Duong thụ huấn Học viện Không quân Hoa Kỳ (United States Air Force Academy) tại United States Air Force Academy, ông tốt nghiệp năm 2014 với Văn bằng Cử nhân Khoa học, Quản trị Kinh doanh. Sau khi ra trường, Thiếu tá Simon Duong đuỡc chỉ định phục vụ tai các đơn vị Không quân từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 8 năm 2017. Nhiệm vụ đầu tiên của một Sĩ quan Không quân trẻ, ông làm Trưởng một bộ phận tại căn cứ Không quân Cape Cape Canaveral AFS; Các nhiệm vụ tiếp theo, ông được chỉ định làm Sĩ quan kiểm soát khu vực phóng hoả tiễn tại căn cứ Không quân Cape Canaveral AFS; và sau đó là Sĩ quan huấn luyện sẵn sàng thi hành nhiệm vụ cho các hoạt động phóng thiết bị vào không gian phục vụ an ninh Quốc gia tại Cape Canaveral. Ông chịu trách nhiệm đào tạo và cấp chứng chỉ cho nhân viên về quy trình phóng hoả tiễn, thực hiện nhiệm vụ và khả năng sẵn sàng tác chiến, xây dựng và triển khai các quy trình phóng mới nhằm hỗ trợ việc đưa vào sử dụng các dòng hoả tiễn đẩy thế hệ mới (bao gồm các loại SpaceX Falcon).

Cấp hiệu Thiếu tá Lực lượng Không gian Hoa Kỳ của wikimedia.org.

Sau hơn 3 năm phục vụ không quân, Thiếu tá Simon Duong được chuyển sang phục vụ Lực lượng Không gian. Từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 10 năm 2021, ông là Sĩ quan Quản lý dự án, chủ trì công tác lập kế hoạch kiến ​​trúc và tích hợp nhằm hỗ trợ hệ thống phóng (launch enterprise) của Lực lượng Không gian Hoa Kỳ. Xây dựng các chiến lược nhằm tối ưu hóa việc lập kế hoạch nhiệm vụ, cải thiện sự phối hợp liên tổ chức và đảm bảo triển khai thành công các năng lực phóng vệ tinh phục vụ an ninh quốc gia, thúc đẩy việc tích hợp Kỹ thuật Số (Digital Engineering) vào hệ thống triển khai phóng của Bộ tư lệnh Hệ thống Không gian (Space Systems Command), qua đó đẩy mạnh áp dụng các phương pháp kỹ thuật hiện đại để cải thiện khả năng cộng tác, ra quyết định và quản lý vòng đời hệ thống. Hợp tác chặt chẽ với các bên liên quan từ chính phủ, ngành công nghiệp và khối kỹ thuật để thống nhất các yêu cầu, tinh gọn quy trình và thúc đẩy các sáng kiến ​​chuyển đổi số.

Từ tháng 10/2021 đến tháng 3 năm 2025, ông là Sĩ quan Chỉ huy phó bộ phận an ninh mạng GPS tại Aurora, Colorado.

Từ tháng 3 năm 2025 đến tháng 8 năm 2025, ông được bổ nhiệm làm Sĩ quan Chỉ huy trưởng bộ phận an ninh mạng GPS. Chủ trì các hoạt động thử nghiệm và đánh giá an ninh mạng cho hệ thống không gian GPS trọng yếu, bảo đảm khả năng chống chịu trên không gian mạng và tính toàn vẹn trong vận hành xuyên suốt vòng đời hệ thống. Chỉ đạo công tác lập kế hoạch an ninh mạng, đánh giá rủi ro, phân tích lỗ hổng bảo mật và các hoạt động kiểm chứng nhằm xác nhận sự tuân thủ các yêu cầu về an ninh mạng của Bộ Quốc phòng (DoD).

Từ tháng 8 năm 2025 đến nay, Thiếu tá Simon Duong là Sĩ quan Quản lý Chương trình mua sắm và duy trì tiếp vận, vận hành phóng Phi thuyền Vũ trụ, Chuyên gia mua sắm Quốc phòng thuộc Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (United States Space Force).

Thiếu tá Simon Duong hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng Cao học Quản lý – mua sắm và ký kết hợp đồng, Viện công nghệ Florida (Florida Institute of Technology), năm 2017; Văn bằng Cử nhân khoa học, quản trị Kinh doanh, Học viện Không quân Hoa Kỳ (United States Air Force Academy) năm 2014. Ông được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không gian chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá 2023-2024 và đã dược Uỷ ban Quân vụ Thượng viện (Committee on Armed Services) bầu chọn ngày 30 tháng 3 năm 2023.

Sĩ quan gốc Việt mang cấp Thiếu tá phục vụ trong Lực lượng không gian Hoa Kỳ ngoài Thiếu tá Simon Duong, Sĩ quan quản lý chương trình, Lực lượng Không gian còn có khoảng 30 vị khác đang phục vụ các ngành trong Lực lượng không gian, một số vị được ghi nhận bao gồm: Thiếu tá Christopher Huynh, Trưởng phòng chiến lược dữ liệu không gian, Lực lượng Không gian, Thiếu tá Jesse Nguyen, Sĩ quan tác chiến Lực lượng không gian; Thiếu tá Ronald Nguyen, Sĩ quan tác chiến, Lực lượng không gian; Thiếu tá Tan Van, Chỉ huy phó Hệ thống Delta 88, Lực lượng Không gian và các Thiếu tá Hai Hoang Duong, Tung T H Ngo, Tuan U Tran, Thomas V Truong, Brandon D Nguyen, Thomas V Truong, Minh Cao Pham, Duc M Bui, Dan T Nguyen, Quang N Tran và Maichi M Tran. Sĩ quan gốc Việt phục vụ Lực lượng không gian đa số từ Không quân chuyển sang.

Nguồn: linkedin.com; congress.gov; wikimedia.org; bienxua-Thiếu tá Christopher Huynh (gốc Việt), Trưởng phòng chiến lược dữ liệu không gian, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ.

Mme Nhu – Trần Lệ Xuân Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 11 Sep 2026

“Bé Tommy của cô trông rất hạnh phúc và khỏe mạnh”, bà Nhu thầm thì trong điện thoại. Bà đã gọi điện chúc mừng tôi sau khi nhận một bức thư thông báo “Đó là con trai”. Chúng tôi đã báo tin cho các bạn bè thân thiết và gia đình – và vào phút cuối cùng tôi đã gởi một lá thư đến Paris. Trong đó có tấm hình bé Tommy đính trên tấm bưu thiếp dày. Bà đã bình luận ngay lập tức về màu đỏ của tấm thiếp và tuyên bố tương lai của đứa trẻ “rất triển vọng”. Giọng nói của bà với tôi đã thay đổi. Nó nhẹ nhàng hơn, vút cao hơn. Những sự ngắt quãng đột ngột và lúng túng trong những cuộc gọi đầu tiên giữa chúng tôi đã dịu xuống thành một cung cách thường đàm hơn.

Chúng tôi nói về sự chào đời, giờ giấc đi ngủ và cho ăn và, trong sự kinh ngạc của tôi, chuyện nuôi con bằng sữa mẹ. Bà Nhu không chắc là cừ về điểm này. Từ những gì tôi hiểu, hầu hết phụ nữ Việt Nam thuộc một tầng lớp nhất định trong thời đại bà đã sử dụng những bảo mẫu – và tôi có thể hiểu vì sao. Trong một vài tuần đầu tiên chăm chút đứa bé, tôi luôn ăn bận xuềnh xoàng và lôi thôi lếch thếch, một nguyên nhân và hậu quả của việc cho con bú. Tôi có những chiếc yếm cho bé bú, đai địu bé và đủ loại áo choàng. Những chiếc áo dài trong tủ quần áo của bà Nhu may từ lụa và có một hàng nút móc gài, khiến việc cho con bú trở nên vô cùng bất tiện. Chỉ cần một ít nước tiểu hay phần rớt rãi của đứa bé là sẽ hủy hoại nó mãi mãi. Ấy vậy mà, bà khoe, “Tôi cho mỗi đứa bú ít nhất sáu tháng”. Thật khó mà hình dung cảnh Rồng Cái với một bé sơ sinh bên bầu ngực của bà, nói chi đến bốn lần như vậy. Giọng tôi nghe hẳn có vẻ ngạc nhiên vì lẽ bà hơi mỉm cười khi thú nhận rằng đó thật ra không phải là ý của bà mà là của chồng và gia đình ông ấy. Nhưng trong tất cả những lần đó, bà Nhu nói, tôi đều cảm thấy hạnh phúc. Giữa tất cả những hồi tưởng ấy là tiếng thở dài của bà trong ống nghe, “Tôi rất yêu những đứa trẻ”.

Lệ Thủy chào đời vào đầu năm 1946 giữa cuộc náo loạn thời kỳ hậu chiến. Cảnh hỗn độn ấy đã bùng nổ thành cuộc chiến tranh khốc liệt vào thời điểm bà Nhu sinh hai con trai tiếp theo, Ngô Đình Trác năm 1949 và Ngô Đình Quỳnh năm 1952. Bà Nhu đã trở thành mẹ ngay khi thế giới bà biết đã bị lật nhào và xáo trộn dữ dội.

Nhưng ít ra thì bà Nhu và chồng đã được tái hợp. Trong khi vợ, con gái, mẹ, và em gái đang bị lùa ra khỏi Huế bằng những chiếc lưỡi lê, ông Nhu đang hoạt động trong bóng tối, thiết lập một mạng lưới những nhân vật chính trị phi Cộng sản khác. Mặc dù thận trọng, ông cuối cùng đã khơi dậy sự nghi ngờ của Việt Minh ở Hà Nội, và ông Nhu đã ẩn thân ở Phát Diệm, một thị trấn Thiên Chúa giáo thuộc tỉnh Ninh Bình.

Ông Nhu đã tình cờ gặp lại cha mẹ vợ ở Phát Diệm. Ông bà Chương đã tìm kiếm nơi trú thân ở đó – một cuộc trốn chạy kịch tính điển hình khi họ vừa kịp ném mình lên những bậc tam cấp nhà thờ Công giáo với những binh lính Việt Minh chỉ ở sau lưng cách mấy bước chân. Vị linh mục nhà thờ Phát Diệm đã chấp nhận cho cha mẹ bà Nhu nương náu trong nhà thờ của ông, bất chấp việc họ là những Phật tử.

Từ Phát Diệm, một mạng lưới những tín đồ Công giáo đã tạo cho ông Nhu, và cuối cùng là ông Chương, một hành lang an toàn đến Sài Gòn – khi ông Chương ngụy trang thành một nhà sư và vợ ông ăn mặc như một phụ nữ nhà quê. 1

Bà Nhu đã ở nhà chị gái mình tại Sài Gòn khi nhận được một bức điện khẩn từ linh mục Dòng Chúa Cứu thế kêu mau chóng đến nhà ngài linh mục. Thay vì nhận được tin dữ – bà vẫn sợ rằng ông Nhu có thể đã chết – bà được đưa đến một căn phòng nơi có một vị khách đang đợi bà: chồng bà. Sự sum họp với cha mẹ sẽ đến sau đó; bây giờ, ông bà Nhu phải tìm đường ra khỏi Sài Gòn. Người Pháp đã ngờ vực những hành động của ông Nhu, và sự cộng tác với người Nhật vào thời chiến của ông Chương đã phủ một màn mây đen lên cả gia đình. 2

Ông bà Nhu đã dọn lên Đà Lạt, một biệt thự đẹp như tranh náu mình giữa ngàn thông và những ngọn núi vùng cao nguyên trung phần Việt Nam. Và mặc kệ chiến tranh, bà Nhu đã gọi những năm tháng đó là “quãng thời gian hạnh phúc nhất” đời bà.

Đà Lạt đã được dựng lên từ hư không đặc biệt cho mục đích hưởng lạc. Người Pháp đã quyết định từ đầu thế kỷ hai mươi là xây một thành phố nghỉ mát trên vùng núi như một nơi trốn tránh cái nóng và sự dơ bẩn của những thành phố. Nó được xây dựng một cách rất cô lập, điều mà các nhà sáng lập tin là sẽ làm cho trải nghiệm ở Đà Lạt càng thêm thích thú. Người Pháp đã tạo ra một địa điểm để giúp họ quên hoàn toàn họ đang ở Đông Dương – một “hòn đảo da trắng” ở vùng nhiệt đới. 3 Họ xây dựng những ngôi nhà như những biệt thự nghỉ trượt tuyết, và ga tàu lửa trông như một sân ga ở Deauville, một thành phố ven biển Normandie. Họ trồng những cây cho các loại thực phẩm mà họ thiếu. Đến hôm nay những ngôi chợ Đà Lạt có đầy đủ các thành phần để nấu món xúp đúng kiểu Pháp: tỏi tây, cần tây, cà rốt, hành, rau xanh, và khoai tây.

Gia đình bà Nhu đã đến với Đà Lạt “mãi mãi”. Họ yêu nó vì cùng những lý do mà người Pháp yêu. Nó nâng họ lên trên sự hỗn tạp bẩn tưởi của loài người trong những thành phố quá đông đúc và nóng bức. Ở đó có những khách sạn đẹp kỳ lạ, những sân gôn, và những nhà hàng Pháp và Trung Hoa. Ở đó cũng có những hộp đêm, nhà hát và nhạc jazz. Anh họ của bà Nhu, hoàng đế Bảo Đại, có một cung điện ở Đà Lạt, giống như của quan toàn quyền Pháp.

Đà Lạt vẫn nổi danh về sự thư nhàn và xa hoa; giờ đây nó là điểm đến trăng mật cho những cặp vợ chồng Việt mới cưới. Đà Lạt gợi tôi nhớ đến Thác Niagara với hơi ít ánh đèn nê-ông và thật nhiều quán karaoke. Những trái tim hồng và hoa hồng đỏ in trên giấy nến được dán khắp nơi – cả trong những câu khẩu hiệu đảng phái in trên băng rôn vàng chóe treo khắp các ngả đường chính. Những ngọn đèn Noël thắp sáng quanh năm lung linh trên những cành cây. Những chiếc thuyền đạp nước hình thiên nga cho thuê dọc bờ hồ. Chúng khuấy tung mặt hồ nhân tạo phẳng lặng giữa trung tâm thành phố, làm cho nước ngầu đục và sóng sánh. Nổi danh với ngàn hoa, cảm giác thành phố này giống như một gian hàng Valentine tại cửa hàng CVS vào giữa tháng Hai. Sự vội vã quy hoạch và quản lý ngành công nghiệp du lịch lãng mạn đầy lợi nhuận này của nhà nước đã giáng đòn nặng nề vào vẻ đẹp tự nhiên của Đà Lạt.

Khi ông bà Nhu đến vào mùa xuân năm 1947, Đà Lạt đã không còn giống như trong kỷ ức thời trẻ của bà Nhu. Những lùm rừng nhiệt đới đã chiếm chỗ những trảng cỏ lớn của thành phố. Cuộc suy thoái toàn thế giới lan đến Việt Nam vào đầu những năm 1930 đã cắt xén đáng kể ngân sách du lịch. Đến thời điểm chiến cuộc nổ ra ở Âu châu năm 1939, Đà Lạt đã bị bỏ mặc không ai ngó ngàng tới. Những sân tennis xác xơ và phủ đầy cỏ dại. Những sòng bạc ngừng hoạt động. Những hộp đêm và rạp xi nê bị đóng cửa, và những lối đi dọc bờ hồ vắng lặng đìu hiu. Trong suốt chiến tranh, người Nhật đã bố ráp và giam cầm bất kỳ ai cố ở lại. Khách sạn Palace không một bóng du khách – cầu thang gác hoành tráng ngày nào đã đổ sập, và không có ai ở đó để sửa sang. Lợn lòi và mèo rừng xâm lấn vào ranh giới thành phố.

Ồng bà Nhu ở trong một ngôi nhà mượn tại số 10 đường Hoa Hồng (rue des Roses). Nó thuộc về một bác sĩ bạn của cha bà Nhu, và mặc dù không phải một biệt thự lớn, cha mẹ bà Nhu đã đến ở, và cả anh trai ông Nhu, Ngô Đình Diệm. 4 Nhà văn Pháp viết về vùng Viễn Đông Lucien Bodard nói đây là một nơi “phô trương lòe loẹt”; bà Nhu chỉ nói rằng “Bạn sẽ không muốn băng qua vườn để vào bếp sau khi trời tối vì bạn sẽ không muốn đâm sầm vào một con cọp”. 5 Nhưng những sự hy sinh là điều duy nhất để mà chờ đợi – một cuộc chiến đang tới gần.

Một cuộc chiến mới sẽ được mệnh danh là Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhưng hồi trước khi người ta biết sẽ có cuộc chiến thứ hai, nó mang những cái tên khác. Với người Việt Nam, đó là Kháng chiến chống Pháp; với người Pháp đó là Guerre d’ Indochine – Chiến tranh Đông Dương; dù là gì đi nữa, nó bắt đầu ngay khi Thế chiến thứ hai chính thức trôi qua. Cuộc chiến ở Âu châu đã để lại một nước Pháp tan hoang – nền kinh tế sụp đổ, cũng như cơ sở hạ tầng – và những nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam trở nên lấp lánh như ánh vàng. Chúng đã từng bị người Pháp chiếm; một lần nữa cớ sao không được? Việc tái thuộc địa hóa Việt Nam sẽ xác nhận lại những ý niệm thực dân xưa cũ về sự ưu việt của Pháp quốc. Đó là một sự nghiệp mà cả quốc gia có thể tập hợp lại – không bao giờ đếm xỉa đến những gì bản thần người Việt mong muốn.

Người Pháp đã lao bổ trực diện vào Việt Minh. Pháp có một quân đội hiện đại và những vũ khí tối tân, cũng như sự tài trợ lớn hơn bao giờ hết của Mỹ. Việt Minh – dựa vào tài khéo léo của các tân binh, những chiến thuật du kích bất ngờ, và quyết tâm hoàn toàn của những người đến từ các làng mạc, ruộng nương, và thành phố – đã cảm thấy quá đủ với sự cai trị ngoại bang. Chiến cuộc diễn ra ác liệt trong tám năm. Các ước tính có khác nhau, nhưng những sử gia ước lượng số thương vong bên phía Việt Minh vào khoảng từ 250.000 đến 500.000 người. Phía Pháp thiệt hại hơn 75.000 người – hơn số thương vong của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tiếp theo trên đất Việt Nam.

Trận đánh quyết định của cuộc chiến tranh diễn ra vào ngày 7 tháng Năm, 1954, trong một thung lũng xa về phía tây bắc của Việt Nam, gọi là Điện Biên Phủ. Quân Pháp đã bị áp đảo. Việt Minh đã bao vây được họ bằng trọng pháo và quân số. Người Pháp đã mất hết ý chí chiến đấu. Sau một trăm năm, họ cuối cùng đã khăn gói về nhà. Đó là bài học đầu tiên cho thấy một nỗ lực áp đặt sự cai trị ngoại bang lâu dài lên Việt Nam là vô ích thế nào. Giá mà người Mỹ đã biết chú ý hơn.

Tuyến đầu khốc liệt của cuộc chiến ở rất xa nơi ẩn cư trên núi của gia đình bà Nhu. Bà Nhu đã gọi nó là une guerre bizardouille, một cuộc chiến nhỏ kỳ lạ. Bà miêu tả cuộc sống của bà ở Đà Lạt là an toàn và đơn giản và hoàn toàn vắng bóng chính trị. Bà Nhu chăm nom một gia đình ngày càng mở rộng, sinh những em bé, quán xuyến những việc vặt vãnh trong nhà, và nấu ăn. Cũng người phụ nữ lớn lên với hai mươi người hầu đã đạp xe đạp đi chợ hàng ngày và đưa con gái đến trường. Ông Nhu chồng bà đang say sưa với thú nuôi phong lan. 6

Nhưng không có gì ở Đà Lạt là hoàn toàn giống với cái dường như là nó. Ngay chính tiền đề về nơi này như một hòn đảo cho sự nghỉ ngơi và yên tĩnh lành mạnh của người da trắng là một điều đại dối trá. Vì một điều, số phận của nó không bao giờ cách ly khỏi người Việt được. Nơi này được xây trên mồ hôi và xương máu của lao động khổ sai. Bất chấp nguồn vốn nhân lực vô tận và đặt nặng vào sự xa hoa, các nhà sáng lập thực dân đã cạn kiệt tiền bạc. Trớ trêu thay, khu nghỉ mát được xây dựng như một nơi trốn lánh có lợi cho sức khỏe của mọi người lại là một cái ổ phát sinh muỗi sốt rét do những cái hồ nhân tạo. Đà Lạt cũng không phải là nơi ẩn náu êm đềm khỏi chiến tranh. Nó đã trở thành đại bản doanh trên thực tế của những tham vọng chính trị và quân sự của Pháp ở Đông Dương. Hơn nữa, ông Nhu không hoàn toàn say sưa với hoa lan như ông tỏ ra. Ồng đang ấp ủ một cái gì đó nguy hiểm hơn nhiều.

Trong suốt những năm ở Đà Lạt, từ 1947 đến 1954, Ngô Đình Nhu đã gieo trồng những hạt mầm của một đảng phái chính trị, đảng mà ông gọi là Cần lao (Đảng Cần lao Nhân vị – Personalist Labor Party). Nó tuyển mộ những thành viên vào một mạng lưới những chi bộ trong đó mỗi người không biết nhiều hơn một vài đồng chí trong hội. Tất cả những vận động ngấm ngầm đó đã sinh hoa kết quả, tạo ra một bộ máy chính trị với mười ngàn thành viên. Nó sẽ ủng hộ và củng cố chiếc ghế Tổng thống của Ngô Đình Diệm trong chín năm, nhưng tổ chức này sẽ không bao giờ rũ sạch những bí mật của những năm tháng sáng lập nó. Nó đã chuốc lấy cho chính nó và người sáng lập, ông Nhu, một tiếng tăm bất chính.

Nguyên tắc cơ bản nhất của “Chủ nghĩa Nhân vị” nói rằng nhân cách là thuốc giải bách độc cho một cá thể. Đó là một khái niệm hoàn toàn gây bối rối. Ồng Nhu đã làm quen với triết thuyết Thiên Chúa giáo mơ hồ tăm tối hồi còn là một sinh viên năm 1930 ở Pháp. Những nỗ lực của ông để lý giải làm thế nào một triết thuyết Công giáo Pháp có thể áp dụng để xây dựng một Việt Nam độc lập luôn luôn dài dòng và khó hiểu. Niềm tin của ông, tuy nhiên, rất nhiệt thành. Ông Nhu đang xây dựng một phương án thay thế thật sự cho Pháp lẫn Việt Minh. Ông đang gây dựng một mạng lưới những người ủng hộ cho anh trai mình là ông Diệm.

“Tôi cô đơn trong hầu hết thời gian”, bà Nhu viết về cuộc hôn nhân của bà trong suốt giai đoạn đó. Trong khi ông Nhu đang xây dựng nền tảng chính trị của mình, vợ ông không hề biết ông ở đâu. “Chồng tôi đơn giản là biến mất mà không nói một lời”. Bà Nhu có thể không biết chính xác chồng bà đang ở đâu, nhưng bà có một ý niệm đại thể về những gì ông đang làm. Địa điểm trăng mật không thể che đậy thực tế rằng cuộc hôn nhân của họ đã trở thành một cái gì đầy toan tính thực dụng và không có mấy thời gian còn lại dành cho tình yêu.

Bà Nhu không hoàn toàn cô độc khi chồng bà vắng bóng vì những sứ mạng bí mật của mình. Bà có người anh họ ở Đà Lạt, Hoàng đế Bảo Đại, một người bầu bạn dễ chịu. Về mặt ngữ nghĩa ông là em họ của mẹ bà và không còn là hoàng đế nữa. Dù sao đi nữa Bảo Đại chưa bao giờ thật sự cai trị. Dưới chế độ thực dân Pháp, quyền vị của ông hầu như luôn luôn chỉ là một biểu tượng. Bảo Đại đã lên ngôi năm 1925, khi ông mười hai tuổi. Từ trường học ở Pháp ông đã vội vã trở về nhà để dự đám tang cha, vua Khải Định, để rồi sau đó quay về Pháp. Chiếc ngai vàng đã để trống trong bảy năm tiếp theo, trong suốt thời gian đó quan khâm sứ Pháp nắm quyền hành hoàn toàn. Đến thời điểm Bảo Đại trở lại Việt Nam năm 1932, ông đã được sửa soạn thành một thanh niên Pháp hoàn hảo, hoàn toàn vui lòng làm những gì mà chính quyền thực dân sai bảo.

Bảo Đại đã sống cuộc đời của một kẻ vô tư lự được nuông chiều. Ông đã kết hôn, nhưng điều đó không ngăn cản ông theo đuổi cuộc sống ăn chơi. Săn bắn và đeo đuổi những phụ nữ trẻ là hai niềm đam mê của ông. Những hành động của ông trong Thế chiến thứ hai và hậu quả của chúng đã hủy hoại mọi danh tiếng mà Bảo Đại có thể đã bám víu vào như một lãnh tụ xuyên suốt những năm dưới chế độ thực dân. Trước tiên ông đã đầu hàng người Nhật; sau đó ông trao vương miện cho những người Cộng sản trước khi lập tức quay lại cộng tác với người Pháp trong sứ mạng thiết lập lại quyền kiểm soát Đông Dương của họ vào cuối những năm 1940. Bảo Đại lẽ ra đã trị vì ở Sài Gòn, nhưng ông đã không che giấu sự ưa thích cuộc sống ở Đà Lạt hơn. Ông đủ thực tế để biết rằng dù sao đi nữa ông chẳng thể làm nên trò trống gì. Bảo Đại đã hoàn toàn ý thức và cam chịu định mệnh thảm bại của ông. Khi nghe một phụ nữ từng là bạn ông bị miệt thị vì đi làm điếm, nhà vua đã lên tiếng bênh vực. “Cô ấy chỉ làm công việc của mình”, Bảo Đại nói: “Ta mới là kẻ điếm nhục thật sự”. 7

Bảo Đại có lẽ cũng bối rối như bà Nhu bởi cái “guerre bizardouille”, cuộc xung đột kỳ lạ mà họ không dự phần vào. Hai anh em họ, xa lạ với cả phần còn lại của đất nước trong thời chiến, đã chỉ vừa vặn hình dung được mức độ đảo điên của cuộc thế. Ở Đà Lạt, hai anh em hoàng gia được ở trong một môi trường Âu hóa quen thuộc. Bà Nhu đã tháp tùng người anh họ trong những chuyến đi câu cá và đánh cặp với ông trong các ván bài bridge. Khi chồng không có ở nhà, họ đi dã ngoại và bơi thác. Từ đằng sau những bức tường màu hoàng thổ của cung điện được trang trí nghệ thuật theo phong cách chiết trung (Art Deco), bà Nhu và anh họ bà có thể nhìn xuống thung lũng đang khi vẫn ngồi thu lu trong thế giới của mình.

Bà nói chồng bà biết tất cả về “những buổi dạ hội ban đêm và du ngoạn ban ngày” đó. Ông có lẽ còn khuyến khích chúng nữa. Mặc dù tai tiếng, ngôi vị quốc vương của Bảo Đại vẫn có một ý nghĩa chính trị nào đó. Nếu ông Nhu muốn xây dựng một phong trào chống Pháp và chống Cộng, ông cần mọi sự giúp đỡ ông có thể có được. Một cái gật đầu của nhà vua sẽ mang lại một tính cách hợp pháp chí ít ở vẻ ngoài.

Nếu tình bạn giữa vợ ông và anh họ hoàng đế của bà là điều thuận tiện, nó cũng tỏ ra chỉ là nhất thời mà thôi. Bảo Đại là một trong những nạn nhân chính trị đầu tiên của chế độ họ Ngô. Ông đã trải qua phần đời còn lại trong một lâu đài xiêu vẹo ở miền Nam nước Pháp gần Cannes. Trong hồi ký của mình, bà Nhu đã nhắc đến ông anh họ của mình một cách cay đắng. Không còn lại chút hơi ấm nào của tình thân gia đình: Bảo Đại, “con bù nhìn của nước Pháp đó”.

Cung điện của cựu hoàng đế giờ đây là một địa danh du lịch quan trọng thu hút nhiều khách đến Đà Lạt. Nhà nước đã bảo tồn nó, không vì bất kỳ nỗi hoài nhớ về Bảo Đại mà đúng ra như một chiếc tủ kính trưng bày những sự xa hoa phóng túng của một kẻ ăn chơi. Nó đã được xây cho vị hoàng đế Việt Nam vào năm 1933 theo cùng một phong cách như ngôi nhà của quan toàn quyền Pháp – thậm chí sử dụng cùng loại đá granite. Cả hai tòa nhà đều có những góc cạnh hình học, những sân thượng trên mái, và những ô cửa sổ tròn lồi ra ngoài. Có lẽ hai ngôi nhà được xây dựng hệt như nhau với dụng ý thể hiện một sự bình đẳng nào đó, nhưng điều mà chúng thật sự chứng tỏ là sự xa lạ của vị hoàng đế như một người Pháp chính cống. 8

Ngay cả khi bà Nhu đã trở thành Đệ nhất Phu nhân, bà và gia đình vẫn tiếp tục sử dụng nơi ẩn dật trên Đà Lạt như một chỗ sum họp đặc biệt. Đó là nơi bọn trẻ đến trường nội trú, và cả nhà quây quần trong những ngày nghỉ lễ và xa cách cuộc sống ở cung điện. Lúc bấy giờ, vợ chồng ông Nhu sử dụng nhà của toàn quyền Pháp làm nơi nghỉ cuối tuần.

Năm 1962, bà Nhu mời nhiếp ảnh gia Larry Burrows của tạp chí Time-Life du ngoạn một chuyến cuối tuần ở Đà Lạt. Bà muốn anh xem và chụp ảnh về một nơi rất quan trọng với gia đình bà là như thế nào. Bà đã một mực muốn gia đình thể hiện trước mặt vị khách họ là những người bình dân rất mực. Bà đã trút bỏ bộ y phục thường mặc trong cung điện vào dịp cuối tuần, áo dài lụa may rất vừa vặn và tóc vấn cao đài các. Bà diện một chiếc áo len dài tay và quần lửng thoải mái với mái tóc nửa đuôi ngựa đung đưa. Phong cách khiến một Đệ nhất Phu nhân ba mươi tám tuổi trông rất giống thời trẻ trung, khi lần đầu bà đến sống ở Đà Lạt năm hai mươi ba tuổi. Bà Nhu đan tay vào khuỷu tay chồng và dựa sát người ông. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa trên bãi cỏ, người ta có thể ngỡ họ đang ở trong một vùng ngoại ô New Jersey nào đó – cho đến khi bà Nhu quỳ xuống và chỉ dạy cô con gái hai tuổi của mình cách nhắm khẩu súng lục và bắn vào mục tiêu.

Ông bà Nhu thường nói rằng khi nghỉ hưu, họ sẽ dọn đến Đà Lạt ở trọn thời gian. 9 Nhưng bà Nhu không có ý định ở mãi trong nhà của quan toàn quyền Pháp. Bà đã cho xây dựng một cụm nhà tại số 2 đường Yết Kiêu, nhìn xuống một thung lũng tuyệt đẹp. Bà xây một ngôi nhà cho mình, một cho cha bà, và một cho khách khứa. Những ngôi nhà sẽ quây xung quanh một khoảnh sân trong với một bể bơi nước nóng, một khu vườn kiểu Nhật, và một hồ sen. Khi hồ đầy, hình ảnh tấm bản đổ đất nước sẽ hiện ra. Biệt thự của bà được đặt tên là Lâm Ngọc, Porest Jewel, và được canh gác đàng hoàng. Một tháp canh khổng lổ màu xám dành cho lực lượng bảo vệ tư gia đứng sừng sững ở cổng vào.

Ngay cả trong lúc ngôi nhà đang xây dựng, người ta nói rằng nếu một con chim bay lạc vào vườn, nó sẽ bị bắn hạ ngay lập tức. Ngôi nhà có năm lò sưởi và được trang trí với những bộ da và đầu thú hoang mà chồng bà săn được. Nó có một phòng bếp bằng thép sáng loáng với những tiện nghi hiện đại và thậm chí là một lò nướng hồng ngoại. Tất cả các phòng chính đều được trang bị cửa sập bí mật, nó sẽ dẫn đến những đường hầm thoát thân chạy ngầm dưới bể bơi và dẫn vào một ngôi nhà an toàn kế bên. Một chiếc thang bí mật dưới giường sẽ đưa bà Nhu xuống một phòng ngầm dưới đất và một vòm khổng lổ được gia cố thép đủ chắc chắn để chống chịu hỏa lực. 10

Bà Nhu không nghĩ về “ngôi biệt thự nhỏ” mà bà đang xây ở Đà Lạt như là sự tiêu hoang, nhưng những ngôi nhà Việt Nam truyền thống ở vùng nông thôn vẫn còn dùng một nhà xí dựng trên những chiếc cọc, lỗ xí đặt bên trên một cái hồ lúc nhúc những con cá chép háu đói. Số tiền bà Nhu bỏ ra để xây cho mình một phòng tắm tráng sứ và sạch bong nhiều hơn con số mà phần lớn người ta kiếm được cả đời.

Ngôi nhà mất năm năm để hoàn thành. Bà bắt dựng đi dựng lại cửa trước tám lần. Cửa sổ góc được làm đến lần thứ mười trước khi bà thấy hài lòng. Một trong năm mươi người làm vườn của bà, Phạm Văn Mỹ, kể rằng bà Nhu là “một phu nhân rất khó phục vụ”. Ông nói rằng bà hay quát tháo khi ra lệnh và đe dọa người làm nhưng rất sợ sâu bọ. Người phụ nữ ông mô tả có những sở thích rất xa hoa và thất thường. Ngôi nhà thật là xứng đáng với tiếng tăm của người phụ nữ đã cho xây nó, nhưng bà Nhu nói với tôi rằng bà không bao giờ đặt chân vào nơi đó khi nó được xây xong. Đến thời điểm mà ngôi nhà mơ ước của bà Nhu cuối cùng đã hoàn tất, sự thích thú bà dành cho nó cũng không còn.

“Chúng ta nên gặp nhau”, bà Nhu nói trên điện thoại không lâu sau khi bé Tommy chào đời. Đó là lần đầu tiên bà bày tỏ ý muốn gặp tôi trực tiếp. Ắt hẳn bà đã lập luận rằng tôi không thể âm mưu làm hại bà nếu tôi mang đứa bé bên mình, vì lẽ bà một mực đòi tôi phải mang Tommy theo.

“Paris có được không?”

“Tất nhiên, thưa bà. Tôi rất lấy làm vinh dự”.

Tôi thật sự như vậy. Tôi đang lên kế hoạch một chuyến đi vào tháng Chín để giới thiệu đứa bé với những họ hàng ở Pháp của tôi. Một cuộc dừng chân ở Paris là điều thuận tiện. Tôi không kể với bà Nhu rằng tôi cũng đang định viếng thăm văn khố thuộc địa Pháp ở miền Nam nước Pháp để coi tôi có thể tìm thấy những cứ liệu lịch sử nào khác chăng. Đến thời điểm này, tôi biết bà Nhu tin chắc rằng lời kể của bà là thỏa đáng và không gây nghi ngờ – ngay cả khi nó có những sơ hở rõ ràng đi nữa.

Bà lên kế hoạch về thời gian và địa điểm. Cuộc gặp gỡ của chúng tôi diễn ra ở Église Saint-Leon, một nhà thờ Công giáo không xa căn hộ của bà ở phố mười lăm. Chúng tôi sẽ gặp nhau ở gian giữa của giáo đường, trước bức tượng thánh Joseph vào 10 giờ sáng. “Sau đó chúng ta có thể đi đến công viên bên kia đường”, bà nói: “Để nói chuyện. Nơi đó sẽ rất kín đáo”.

Khi tôi bước vào giáo đường, những cánh cửa giống như mái vòm đóng lại sau lưng tôi, chặn lại những tia nắng mùa thu rực rỡ. Tôi nghĩ, một cách muộn màng, rằng tôi nên lo lắng mới phải. Tôi tự nhắc mình rằng tôi vừa giới thiệu Tommy cho một lão phu nhân bé nhỏ. Chuyện gì có thể xảy ra? Hẳn rồi, bà từng là Rồng Cái. Bà từng chỉ huy một lực lượng dân quân với những phụ nữ được vũ trang và có một đội quân hầu cận của chồng sẵn sàng chờ lệnh, nhưng bà cũng từng bốn lần làm mẹ. Tôi buộc mình tập trung vào khía cạnh đó, nhưng tôi rất bối rối. Tôi tự nhủ mình chỉ nên lo nghĩ đến việc tạo một ấn tượng tốt đẹp.

Tôi mặc chiếc áo cánh sẫm màu cùng chiếc váy đỏ với thắt lưng – một tông màu may mắn. Tôi buộc tóc thành búi nhỏ và mang hoa tai là những viên ngọc trai nhỏ nhắn. Tôi muốn thể hiện cho bà Nhu thấy tôi chuyên nghiệp mà không quá trịnh trọng. Tôi tự nhắc mình rằng tôi đã thấy vui khi bà nhất quyết muốn tôi mang Tommy theo. Nó đang ngủ một cách dễ thương, rúc vào trong chiếc ghế đẩy có những chấm tròn cùng với chú gấu nhồi bông và chiếc mền. Nó đóng vai trò của mình một cách đáng hài lòng. Phần việc của tôi là gây một ấn tượng thích hợp: lễ độ, thông minh, và có năng lực. Tôi khỏi phải kiểm soát bất kỳ điều gì khác.

Tôi tự hỏi, Rồng Cái trông ra sao ở tuổi tám mươi? Tôi đã dành rất nhiều thời gian săm soi những bức hình của bà khi còn trẻ, nhưng cái giọng mà tôi đã làm quen qua điện thoại đã gợi lên một hình ảnh khác. Trong đầu tôi, tôi hình dung bà với cùng một kiểu tóc, vén cao quá đầu như xưa, ngoại trừ vẻ héo hắt do tuổi tác. Gò má của bà, tôi nghĩ, hẳn là bầu bĩnh nhưng thoa đầy phấn như một tấm giấy gạo. Bà vẫn còn dùng son môi đỏ chứ? Tôi bỗng nhiên hình dung bà không thể nào khác ngoài hình ảnh một lão bà lòm khòm và u buồn vẫn không chịu thôi dùng son môi đỏ choét – vệt son hơi bị lem ra ngoài những đường nét nhăn nheo của đôi môi bà.

Tôi đang buông thả trí tưởng tượng của mình. Tôi đã đến sớm, và bây giờ thì bà đã trễ. Tôi đã ở quá lâu trong giáo đường tối lờ mờ, và những viễn tượng ùa vào tâm trí tôi. Phải chăng bà đang quan sát tôi từ nãy đến giờ? Từ một chỗ ngồi trong bóng tối, chờ cho đến thời khắc thích hợp để tiếp cận? Tôi rảo một vòng quanh nhà thờ, bánh xe đẩy kêu lách cách trên sàn đá lát, nhưng tất cả hàng ghế đều trống trơn.

Sau một giờ, tôi nghe cánh cửa cọt kẹt mở ra. Bụng tôi nhộn nhạo, nhưng đó không phải là bà Nhu. Tôi quá căng thẳng đến độ nỗi thất vọng dâng lên trong tôi lại giống như một làn sóng của sự nhẹ nhõm. Tommy đã thức dậy, những tiếng rinh rích vui vẻ của nó cuối cùng đã vỡ thành những tiếng gào khóc vang trên nền đá và giữa những thanh rầm. Tôi nhấc chiếc xe đẩy lên gian bên, qua khỏi những cánh cửa đôi nặng nề, và băng qua công viên kín đáo để cho đứa bé bú. Khi tôi trở lại căn hộ của dì tôi ở Paris, tôi thấy một tin nhắn trên máy trả lời từ bà Nhu. Bà đã phá lệ bằng cách để lại lời nhắn nói rằng bà lỡ hẹn vì cảm thấy không khỏe. Chân bà đau, bà thở dài như để tỏ ý rằng chúng tôi nên trì hoãn cuộc gặp mặt.

Trong lần nói chuyện tiếp theo, bà đã thật sự không nói lời xin lỗi, không dông dài nhiều lời. Nhưng giọng bà nghe khá hối lỗi, và tất nhiên tôi tha thứ cho bà. Lần tới chúng tôi sẽ gặp nhau trong căn hộ của bà, bà nói. Tôi tin bà. Tôi đã chờ đợi một tiếng đồng hồ, lần này trong hành lang, nhưng bà đã không cho tôi vào thang máy. Tôi lại tha thứ cho bà một lần nữa. Bà đã kể cho tôi một câu chuyện đáng buồn: bà không chắc bà có thể tin tưởng bất kỳ ai một lần nào nữa. Tôi sẽ phải kiên nhẫn chứng tỏ bản thân. Rồng Cái vẫn ở ngoài tầm tay với của tôi như một sự trêu ngươi.

——————————–

1Để có những chi tiết về cuộc đào thoát của nhà Chương khỏi Việt Minh và ẩn náu tại Phát Diệm với ông Nhu, xem CAOM, Hồ sơ Trần Văn Chương, HRT Non-Cotes, Bulletin de Renseignements, 29 tháng 5, 1947; bản tin ngày 10 tháng 7, 1947, mô tả nơi ăn chốn ở của gia đình Chương kể từ năm 1945. Về những sự quyên tặng vô ích cho Việt Minh, xem Bulletin de Renseignements, 3 tháng 3, 1946.
2Madame Nhu, Caillou Blanc, 90.
3Eric T. Jennings khảo sát những ý niệm Pháp quốc về một “hòn đảo da trắng” và về Đà Lạt như một “thành phố kiểu mẫu” trong “From Indochine to Indochic: The Lang Bian/Dalat Palace Hotel and French Colonial Leisure, Power and Culture”, Modern Asian Studies 37, № 1 (2003): 159-194, và Gwendolyn Wright, The Politics of Design ln French Colonial Urbanỉsm (Chicago: University of Chicago Press, 1991), 230.
4Về địa chỉ, 10 rue des Roses, và việc Diệm lưu trú ở đó, xem CAOM, Haut Commissariat, carton 731, Ngo Dinh Diem.
5Những mô tả về ngôi biệt thự trích từ hồi ký chưa xuất bản của bà Nhu, Caillou Blatic, và Background to Betrayal: The Tragedy of Vietnam – Bối cảnh của sự phản bội: Bi kịch của Việt Nam của Hilaire du Berrier (Boston: Western Islands, 1965).
6Gene Gregory, chủ báo Times of Vietnam, tờ báo thân Diệm ở Sài Gòn và là chiếc loa của Nhu, kể điều này với Ed Miller trong cuộc trò chuyện; xem Edward Miller”, Vision, Power, and Agency: The Ascent of Ngo Dinh Diem – Viễn Kiến, Quyền Lực, và Tác Dụng: Sự Đi Lên của Ngô Đình Diệm”, Journal of Southeast Asian Studies 35, № 3 (Tháng 10, 2004): 433-458.
7A. J. Langguth, Our Vỉetnam: The War – Việt Nam Của Chúng Ta: Cuộc Chiến, 1954-1975 (New York: Simon and Schuster, 2000).
8Arnauld Le Brusq và Leonard de Selva, Vietnam: A travers Varchitecture coloniale (Paris: Patrimoines et Medias/Éditions de 1’Amateur, 1999).
9Higgins, Our Vietnam Nightmare – Cơn Ác Mộng Việt Nam Của Chúng Ta, 70.
10Howard Sochurek, Slow Train Through Viet Nams War – Chuyến Tàu Chậm Đi Qua Cuộc Chiến Việt Nam, National Geographic 126, № 3 (1964): 443.

Lính nghĩ gì

Post by Sơn râu 10 Sep 2026

Dưới đây là clip nhạc tôi đã post lên Youtube trước đây, gồm nhiều ca khúc về đời lính trong quân đội trước 1975. Trong đó có bản nhạc Lính nghĩ gì của Hoài Linh do ca sỹ Thanh Phong hát. Bạn sẽ tìm thấy trong clip này từ phút 8’16” cho đến 12’34”. Nghe để tưởng nhớ ca sỹ Thanh Phong vừa qua đời ngày 7/9/2026. Một giọng hát vừa qua đi, một sao băng vụt tắt, cầu chúc cho hương linh ông về cõi vĩnh hằng.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

‘vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 10 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Lực lượng đặc nhiệm của Hoa Kỳ không cho chúng tôi nghiền ngẫm vận xấu của mình. Từ nhiệm vụ không may trở về vào ngày hôm trước, ngay hôm sau chúng tôi được 16 chiến hạm địch tiến sát vô hòn đảo và nổi đại pháo chào mừng.

Tách khỏi thành phần chánh của hạm đội, tám tuần dương hạm và tám khu trục hạm nhàn nhã hướng đến Iwo jima. Sau một vài quả đạn thăm dò, mười sáu chiến hạm di chuyển vào tầm trực xạ.

Suốt hai ngày, chúng tôi sống chui rúc như chuột, cố vùi mình xuống bụi cát của núi lửa càng sâu càng tốt. Suốt 48 tiếng đồng hồ, mười sáu chiến hạm chậm rãi chạy lui chạy tới, hai bên hông ánh lửa loà sáng, tuôn ra những khối thép kêu gào, làm rung chuyển từ đầu đến cuối hòn đảo.

Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình bất lực và nhỏ nhoi như tôi đã sống trong hai ngày này. Chúng tôi bó tay, không biết cách nào để chống trả. Mọi thứ trên đảo đều bị xé nát thành những mảnh nhỏ. Không một ngôi nhà nào còn đứng vững. Không một căn lều nào thoát khỏi. Cả bốn chiến đấu cơ vừa trở về từ phi xuất cuối cùng cũng bị đại bác địch nghiền nát.

Nhiều trăm binh sĩ bộ binh và hải quân thiệt mạng. Con số bị thương gấp đôi. Iwo nằm bất tỉnh. Mọi người đều ù tai nhức óc dưới hàng nhiều ngàn quả đạn pháo rớt không ngưng nghỉ lên hải đảo nhỏ bé. Binh sĩ phòng thủ trở nên đần độn, ngù ngờ bởi cuộc pháo kích khủng khiếp phải chịu đựng. Ðầu óc họ rối loạn, ăn nói không đâu vô đâu.

Riêng nhóm phi công nhỏ nhoi còn tồn tại đã gây sửng sốt không kém gì trận mưa pháo. Một nhúm, nhưng nhóm phi công không có phi cơ chúng tôi quyết tâm bảo vệ hòn đảo, chống lại cuộc đổ bộ mà mọi người đều tin sắp xảy ra không chóng thì chầy. Chúng tôi tổ chức thành “Ðại đội Thủy quân Iwo Jima” thề nguyền đâu lưng với những binh sĩ bộ binh chiến đấu cho đến người cuối cùng. Chúng tôi nhận võ khí và đạn dược. Chắc chắn chúng tôi sẽ bị tiêu diệt cấp kỳ. Nếu Mỹ chiếm Saipan (việc này hình như đã xảy ra rồi), nếu họ nắm ưu thế tuyệt đối trên không, nếu các tàu chiến của họ khinh thường hạm đội của chúng tôi, chạy qua chạy lại sát Iwo Jima một cách ngạo mạn, thì thử hỏi làm sao họ không nuốt trôi hệ thống phòng thủ le ngoe của chúng tôi?

Truyền tin Iwo Jima kêu gọi Yokosuka gởi viện binh liên hồi. Chúng tôi xin thêm chiến đấu cơ. Chúng tôi xin bất cứ thứ gì giúp chúng tôi bay được! Không đoàn Yokosuka không còn gì hết. Ba mươi chiếc Zéro theo chúng tôi đến Iwo là những chiếc khả dụng cuối cùng. Không hơn nữa! Rối loạn ngự trị ngay tại Bộ Tư Lịnh Tối Cao ở Ðông Kinh.

Tiếng la hân hoan, tiếng thét vui mừng đánh thức chúng tôi vào một buổi sáng, không lâu sau cuộc pháo kích tàn khốc. Hải quân không quên chúng tôi. Nhiều quân vận hạm xuất hiện ở chân trời, hướng về hòn đảo. Chúng tôi chạy xuống bờ biển vừa la hét vừa cười đùa vừa nhìn các dương vận hạm phụt lên những tia lửa và nước, chìm ngay trước mắt chúng tôi! Tàu ngầm Mỹ đã tiên đoán một cuộc tiếp vận như vậy và chờ đợi để ra tay!

Thảm hoạ cuối cùng này đem đến tuyệt vọng. Nói lên điều hiển nhiên là chúng tôi đang hấp hối, hoi hóp, rằng trong vòng một hoặc hai giờ sau đổ bộ, Hoa Kỳ sẽ kiểm soát Iwo dễ dàng. Chúng tôi tin chỉ còn sống sót một đôi ngày.

Không có tấn công! Hết giờ này sang giờ khác, các quan sát viên trên những vọng canh từ đầu đảo đến cuối đảo chăm chăm nhìn ra biển, tìm kiếm hạm đội đổ bộ. Hết lần này đến lần khác, một quan sát viên vì quá căng thẳng tưởng như nhìn thấy một vật gì đó trên mặt biển nên vội vã báo động. Chuông, tù và, trống, phèng la hay bất cứ thứ gì có thể gây ra tiếng động phá tan sự yên tĩnh với một âm thanh khiếp hãi. Chúng tôi lăn ra khỏi giường, mặt mày đanh lại, ghìm võ khí, tra đạn, xếp sẵn lựu đạn chung quanh vị trí, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng không có gì xảy ra.

Dĩ nhiên, chúng tôi không biết Mc Arthur đã quay hướng sang Phi Luật Tân, và cho mãi đến tám tháng sau  mới quày lại Iwo Jima. Trong suốt tám tháng này, Trung tướng Tadamichi Kuribayashi đã đặt chân lên hòn đảo, mang theo 17,500 binh sĩ bộ binh và gần 6,000 thủy binh. Ông biến Iwo Jima thành một pháo đài kiên cố, với những công sự nổi và hệ thống hầm ngầm mạnh mẽ. Ông đổ vũ khí cho đến khi hòn đảo không còn chỗ để chứa.

(Sau này, nhiều tư lịnh Nhựt cho rằng cuộc chiến sẽ kết thúc sớm hơn nếu Mc Arthur tấn công Iwo Jima vào tháng 7-1944, thay vì chần chờ cho đến tám tháng sau. Theo những tướng lĩnh này, cuộc đổ bộ lên Phi là một cuộc đổ bộ đắt giá, rất thành công đối với Mc Arthur, nhưng lại là một mặt trận vô nghĩa, gây trì trệ sự chiến bại đã nhìn thấy trước mắt của Nhựt.

Cuối cùng, cuộc đổ bộ được phỏng đoán từ lâu đã đến vào ngày 19 tháng 2 năm 1945, quy tụ một sức mạnh quân sự vĩ đại. Theo hải quân Hoa Kỳ, lực lượng đổ bộ gồm 495 chiến hạm, trong đó có 17 hàng không mẫu hạm. Tin tức chánh thức của chính phủ Hoa Kỳ cho biết thêm về con số phi cơ không thể tưởng tượng đã yểm trợ cho cuộc đổ quân: 1,170 máy bay.

Tổng số 75,144 binh sĩ Hoa Kỳ đã tham dự vào mặt trận gay go nhứt của toàn thể cuộc chiến này. Khi các trận đánh trên hòn đảo chấm dứt: 5,324 Thủy quân Lục chiến Mỹ thiệt mạng và 16,000 bị thương. Cho mãi đến ngày 16 tháng 3, Hoa Kỳ mới công bố đã kiểm soát được hòn đảo hoàn toàn, khi lính Nhựt cuối cùng bị giết.

Sau nhiều lần báo động đổ bộ hụt, một công điện từ Yokosuka đã gây kinh ngạc cho chúng tôi. Bộ Tư Lịnh Không đoàn Thủ đô thông báo cho chúng tôi biết tất cả sĩ quan tham mưu và phi công được rút về Nhựt bằng phi cơ. Những vận tải cơ này đang trên đường đến Iwo Jima.

Việc bất ngờ này gây hưng phấn cho bọn phi công chúng tôi. Chúng tôi đã chuẩn bị chiến đấu đến hơi thở cuối cùng trên mặt đất… và bây giờ … mạng sống của chúng tôi được phục hồi! Chúng tôi buông súng và chạy ùa ra phi đạo chánh tiếp tay với các cơ khí viên và bộ binh để lấp hàng nhiều trăm lỗ hủng do đại pháo địch gây ra.

Chúng tôi không hy vọng một phép lạ nào xảy ra do đó không ai nghĩ đến việc sửa chữa phi đạo sau cuộc pháo kích ngày 4 tháng 7. Tôi nằm trong số những phi công biến thành cu li, làm việc sốt sắng và hăng say. Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi người đều vui vẻ. Còn những người phải ở lại. Chẳng hạn như các nhân viên bảo trì cũng như đơn vị bộ binh phòng ngự. Những người này, không ai thốt một lời phản kháng quyết định bỏ họ lại, nhưng có thể nhìn thấy sự đố kỵ và phẫn uất trên nét mặt của họ.

Quá trưa ngày hôm đó, những phi cơ đầu tiên đáp xuống. Ðó là những oanh tạc cơ phế thải, lần lượt sà sát mặt nước để tránh radar trên các chiến hạm địch quanh quẩn trong khu vực, phát giác. Thật may cho chúng tôi, trong suốt thời gian phi cơ đáp xuống và cất cánh, không có một chiến đấu cơ nào của Hoa Kỳ xuất hiện. Có tất cả 7 oanh tạc cơ hai máy đến chở những người được chọn trở về Nhựt. Ngay cả hệ thống quân giai chặt chẽ đã từng áp dụng cũng trở thành vô hiệu trong tình cảnh tuyệt vọng của chúng tôi ở đây.

Mỗi người được di tản lần lượt lên phi cơ theo thứ tự xếp hàng mà không theo cấp bực…

Nhóm của tôi gồm 11 hạ sĩ quan và binh sĩ phải ở lại vì không đủ chỗ. Chúng tôi nhìn đăm đăm theo chiếc phi cơ cuối cùng lướt trên không trung trực chỉ về Nhựt. Máy bay đã biến mất nhưng chúng tôi vẫn cứ nhìn theo.

Ngày hôm sau, một máy bay duy nhứt quày lại Iwo để đón chúng tôi. Tôi mất tin tưởng khi nhìn thấy chiếc phi cơ lảo đảo trên phi đạo. Không chỉ là một chiếc phi cơ phế thải, nhưng còn tồi tệ hơn đến nỗi khó thể tưởng nó có thể bay được. Với 11 người chúng tôi chất lên, chiếc phi cơ xiên xẹo ì ạch ra phi đạo. Nó không thể nào đạt đủ tốc lực để cất cánh, và vì rú hết ga, một động cơ bốc khói cuồn cuộn. Viên phi công buộc phải quay lại, và các cơ khí viên bắt tay sửa chữa ròng rã hai tiếng đồng hồ. Hai giờ bằng hai tuần đối với chúng tôi. Chúng tôi cứ dõi mắt lên trời, lo ngại chiến đấu cơ Hellcat xuất hiện rót đạn vô chiếc oanh tạc cơ già nua này. Chỉ cần một chiếc Hellcat cũng đủ chôn chân chúng tôi trên đảo.

Cuối cùng công việc sửa chữa hoàn tất. Khi chúng tôi bước lên phi cơ, nhân viên dưới mặt đất nhìn theo với đầy tuyệt vọng thảm thiết,  đến nỗi tôi phải quay lại nói với họ: “Chúng tôi sẽ sớm trở lại. Và sẽ trở lại với những chiến đấu cơ mới!”

Không ai trong số những người ở lại dám mơ tưởng rằng Iwo Jima sẽ được địch quân bỏ quên gần tám tháng ròng rã.

Khi chúng tôi bay được mười phút, chiếc phi cơ lắc lư mạnh mẽ. Tôi nhìn ra cửa sổ. Ðộng cơ bên phải của máy bay càng lúc càng lung lay dữ dội. Thân máy bay chòng chành run bần bật. Ðống sắt vụn này làm sao nuốt trôi 650 dặm để đưa chúng tôi về Nhựt?

Phi công phụ, một thanh niên khoảng hai mươi tuổi, bước vô phòng lái, lắp bắp: “Chuẩn úy Sakai? Thưa chuẩn úy, chuẩn úy có thể bước vô phòng lái để giúp chúng tôi không?” Mặt hắn tái xanh và run còn hơn chiếc phi cơ.

Ðoán biết hắn muốn gì, tôi đáp trước khi hắn dứt lời. “Quày lại! Với động cơ như vầy chúng ta không thể về tới Nhựt đâu. Các anh phải quày phi cơ lại để sửa chữa nữa.”

Phi hành đoàn vâng lời lập tức. Trở lại Iwo, lui cui sửa chữa, và phi cơ lại cất cánh. Một giờ sau, chúng tôi chui vô một trận mưa bão cuồng nộ. Mưa đập liên hồi và quật phừn phựt lên hai cánh máy bay. Từ nóc máy bay dột nát, nước chảy xuống giống như một cái rây. Viên phi công phụ lại quày ra, van xin tôi vô phòng lái.

Viên phi công trưởng khoảng hai mươi hai tuổi, hỏi tôi:

“Thưa chuẩn úy, chúng ta nên bay phía trên hay phía dưới lớp mây?”

“Phía dưới!” Tôi ra lịnh.

Mưa bão vẫn tiếp tục, mù mịt đến nỗi nhiều lần mắt chúng tôi như bị bịt kín. Cơn bão này dữ dội hơn cơn bão mà tôi đã gặp mấy ngày trước, lúc tôi còn cố tìm kiếm lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ ở gần Saipan. Chiếc oanh tạc cơ trồi lên hụp xuống, và rơi thấp dần cho đến khi bay hớt trên đầu ngọn sóng. Trong cơn tuyệt vọng, phi công trưởng quay khuôn mặt tái mét sang tôi và hỏi một câu thật bi ai. “Bây giờ, chúng ta đương ở đâu? Phải bay theo hướng nào, thưa chuẩn úy?”

Ðó là một câu hỏi đần độn nhứt trong đời mà tôi được nghe từ miệng một viên phi công. Tôi sửng sốt mất vài giây, không thốt nên lời. Làm sao một phi công có thể đặt một câu hỏi xuẩn ngốc đến như thế?

“Xuống đi! Tôi lái cho!”. Tôi hét.

Hắn không phí thời giờ, rời khỏi ghế ngồi trao ngay tay lái cho tôi.

Gần chín mươi phút tôi bay như kẻ đui mù, cố đưa chiếc phi cơ què quặt ra khỏi cơn mưa bão. Cuối cùng, bán đảo quen thuộc phía Nam vịnh Ðông Kinh hiện ra trong tầm mắt.

Tiếng kêu mừng rỡ của phi hành đoàn và hành khách làm rung chuyển chiếc oanh tạc cơ. Chúng tôi đáp xuống căn cứ Kisarazu, nằm phía bên kia vịnh, đối diện Yokosuka. Tôi đảo mắt quanh phi trường rộng lớn. Nhựt Bổn! Tôi lại đặt chân lên quê hương! Ðã bao lần tôi tưởng không bao giờ nhìn thấy lại xứ sở. Chỉ một đôi giờ bay mà giữa nơi đây và Iwo Jima khác biệt xiết bao! Ðối với tôi, và mười người khác vừa rời bỏ đỉnh núi diêm sinh Suribachi, nước trong lành ngọt ngào ở Nhựt là vật quý nhứt trên thế gian này. Nước ở đây không có mùi tro than dễ sợ như mưa hứng ở Iwo Jima. Tất cả chúng tôi chạy băng qua sân để đến một tháp chứa nước. Chúng tôi mở vòi cho nước mát lạnh bắn phun ra. Tôi uống lấy uống để, thưởng thức cảm giác và mùi vị cùng tận của nước chảy ngọt lịm xuống cổ họng mình.

Nhưng Iwo Jima quá gần phía sau tôi. Muto và tôi đã cùng chung ý nghĩ, nên bỗng nhiên chúng tôi không thể nào uống thêm được nữa. Cả hai cùng nghĩ đến những đồng đội, những người đã chết chỉ một đôi ngày trước đây do thương tích của đạn pháo gây ra, kêu gào trong cơn hấp hối: “Nước! Nước!” Họ xin nước, nhưng không ai còn một giọt nào cả. Chỉ còn cặn nước đục ngầu nồng nặc mùi lưu huỳnh vàng quánh dưới đáy phuy sắt rỉ sét.

Một tháng sau khi tôi trở về Yokosuka, tôi được thăng cấp Thiếu úy. Sau mười một năm, tôi tiến lên địa vị của một sĩ quan thực thụ. Ðó là một thành tích vượt bực trong binh chủng hải quân.

Có nhiều quân nhân tham dự trận tấn công bằng tiềm thủy đĩnh vô Trân Châu Cảng đã được thăng đến hai cấp, và trong số đó có người bước ngay lên hàng ngũ sĩ quan, mười năm sau khi họ nhập ngũ. Tuy nhiên, việc thăng thưởng của họ giữ đúng truyền thống là thăng cấp sau khi qua đời. Tôi là binh sĩ đầu tiên, từ bậc thấp nhứt là Binh Tứ  lên cấp bậc sĩ quan chánh thức trong vòng 11 năm mà vẫn còn sống sót.

Muto và tôi được tái bổ nhiệm phục vụ ở Không đoàn Yokosuka. Chúng tôi không bị gởi trở lại Iwo Jima. Bộ Tư Lịnh Tối Cao bắt buộc phải bỏ trống không phận hòn đảo trong nhiều tháng vì lý do thiếu phi công và phi cơ.

Hiện thời cuộc đổ bộ của địch quân ở Phi Luật Tân đã nhìn thấy rõ rệt, do đó bao nhiêu phi công và phi cơ đều đổ sang để bao che cho lực lượng Nhựt trên quần đảo này. Chúng tôi gặp lại Trung tá Nakajima trước khi ông lên đường sang Cebu bên Phi.

So với những cú đấm bi thảm mà chúng tôi chịu đựng ở Iwo Jima, nhiệm vụ mới của tôi là một sự thay đổi lớn. Công tác mới bao gồm việc huấn luyện tân phi công và thí nghiệm phi cơ. Bộ Tư Lịnh Tối Cao ra lịnh sản xuất hàng loạt khu trục cơ mới để thay thế loại Zéro. Ngay cả những sĩ quan cố chấp nhứt cũng không thể nào phủ nhận loại Zéro, có lần được xem là mạnh nhứt, hiện thời đã mất khả năng không chiến. Họ cũng phải công nhận các loại máy bay mới của đối phương trên chân các loại phi cơ cũ của chúng tôi nhiều. Ở quần đảo Mariana và ở các cuộc đụng độ khác, chiến đấu cơ Hellcat đã chứng tỏ ưu thế đáng nể về mọi mặt.

Nhiều báo cáo từ Nam Thái Bình Dương cho biết loại Lockheed P38 Lightning có những cải tiến lớn, vượt hẳn loại P38 cùng loại đã lâm trận hồi cuối năm 1942. Loại P38 mới nầy có tốc lực nhanh, bay cao hơn chiếc Zéro rất xa, nhứt là khả năng chúi xuống và vượt lên cũng mau lẹ hơn. Phi công P38 bay ở cao độ cao có thể chọn lựa thời gian và không gian để đánh… với kết quả đầy bi thảm cho phi công của chúng tôi.

Cũng không thể hồ nghi khả năng của loại chiến đấu cơ F4U Corsair của Hải quân Hoa Kỳ, hầu hết đều hoạt động từ các căn cứ trên đất liền. Nhanh nhẹn không bằng loại Hellcat, tuy nhiên loại Corsair có tốc lực nhanh hơn chiếc Zéro nhiều, và có tốc độ bổ nhào khủng khiếp.

Các phi công Lục quân của chúng tôi ở Miến Ðiện đã báo cáo đụng độ với loại North American P51 Mustang, vượt trội chiếc Zéro về tầm hoạt động xa. P51 Mustang ra mắt lần đầu tiên khi hộ tống các oanh tạc cơ B24 Liberator bốn máy dội bom lãnh thổ Nhựt hồi tháng 11 -1943. Và điều hiển nhiên là Nhựt hoàn toàn không chuẩn bị để ứng phó với siêu pháo đài bay B29 xuất phát từ các phi trường ở Trung Hoa tấn công Cửu Châu. Những chiến đấu cơ Ki-43 Hayabusa của Lục quân Nhựt đã bó tay trước loại oanh tạc cơ bay mau, trang bị hùng hậu và bọc giáp này. Nếu pháo đài bay B17 đã từng là một đối thủ phi thường thì siêu pháo đài bay B29 này là một đối thủ không thể nào thắng nổi.

Các ý niệm phòng thủ thích nghi của Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt được đưa ra quá muộn, và cũng quá khiếm khuyết. Ða số chiến đấu cơ của chúng tôi là loại Zéro, tỏ ra hữu hiệu trong thế công vào những ngày đầu của cuộc chiến, nhưng tỏ ra vô dụng khi chống lại B29. Hầu hết phi công oanh tạc cơ Nhựt vẫn còn bay loại Mitsubishi Betty, hiện thời quá cũ kỹ, quá chậm chạp, và chỉ còn lại đặc điểm duy nhứt là biến thành ngọn đuốc trước hoả lực của đối phương.

Sự thất thủ của Saipan đã thúc đẩy việc phá vỡ bất ngờ những mạng nhện nằm trong kế hoạch của Nhựt, Bộ Tư Lịnh Tối Cao kêu gào chiến đấu cơ mới, vượt trội hơn loại Zéro.

Vào tháng 11, tôi bắt đầu bay thử hai loại máy bay mới. Ðầu tiên là loại Shiden (Cường Phong), phía Mỹ gọi là George, nặng nề và tầm hoạt động kém hơn loại Zéro, nhưng tốc lực mau hơn và được trang bị đến bốn khẩu đại bác 20 ly. Shiden kiến trúc vững chắc, võ bọc sắt an toàn cho phi công. Tôi đã phải kinh ngạc về sự nhanh nhẹn trong thân thể nặng nề của loại phi cơ này.

Không may, đặc tính của chiếc Shiden là hay giở chứng đòi hỏi phải có một phi công dầy kinh nghiệm. Nhiều người đã có dịp bay thử với Shiden, nhưng không có dịp sống sót để lâm trận với nó. Loại tiêm kích mới thứ hai là Raiden (Lôi Ðiện), phía Mỹ gọi là Jack, trù tính chống lại oanh tạc cơ hạng nặng như B29 chẳng hạn. Vì mục đích này, Raiden được chế tạo rất hoàn hảo, và nhiều phi công Nhựt so sánh nó với loại chiến đấu cơ to khỏe Focke Wulf 190 của Ðức. Bốn đại bác 20 ly đem tới cho Raiden một quả đấm hiệu quả trong việc chống lại các pháo đài bay, và với tốc lực hơn 640 cây số giờ được coi là phi thường lúc đó, nó vượt xa loại Zéro. Ngay với trang bị và thân bọc thép dày của Raiden, chiếc Zéro đã không bì kịp rồi.

Raiden rất thích hợp để tấn công B29, nhưng giống như loại Shiden, nó đòi hỏi tài ba của người lái. Bởi lẽ chỉ chú trọng đến tốc lực và trang bị, nên sự xoay trở lanh lẹ của Raiden rất yếu; trên phương diện này so với chiếc Zéro, Raiden giống như một chiếc xe hơi.

Chúng tôi chịu đựng sự mất mát đáng sợ trong khi huấn luyện vì tai nạn xảy ra hàng ngày. Sau này, khi những chiếc Hellcat và Mustang gầm thét trên không phận Nhựt, những phi công lái Raiden đụng độ với đối phương mới nhận thấy sự xoay trở yếu kém của nó, nhưng tất cả đều quá muộn.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 10 Sep 2026

Ở tuổi 84, nhiếp ảnh lão thành Mạnh Đan đã “lui về ở ẩn”. Nhưng khi văn hóa nhiếp ảnh khuấy động thời sự làng nhiếp ảnh, ông cũng không thể đứng ngoài, bởi lẽ “... quyển sách viết không đúng sự thật liên quan đến cá nhân tôi, và nhiều điều theo tôi biết là không trung thực”. Là nhiếp ảnh gia nổi tiếng, cùng thế hệ với các tên tuổi như Cao Đàm, Cao Lĩnh…, cụ Mạnh Đan có lý do để phản ứng: “Quyển sách viết về nhiếp ảnh miền Nam trước năm 1975 sai sự thật rất nhiều. Có thể tác giả không nhìn ở tầm rộng mà chỉ nhìn ở tầm hẹp và suy diễn, bóp méo sự thật”.

Đó là những hàng chữ tôi đọc được khi cụ Mạnh Đan bước vào căn phòng nhỏ của tôi trên chung cư, đưa tờ Thanh Niên tuần này cho tôi xem. Cụ ngồi ngay ngắn, móc bao thuốc lá Cotab ra hút, im lặng chờ tôi góp ý. Trong số nghệ sĩ lão làng trước 1975 còn ở lại Sài Gòn, có lẽ cụ Mạnh Đan là vị cao niên nhất. Cụ sống gần như biệt lập trên căn lầu tiệm ảnh Mạnh Đan, giữa đường Điện Biên Phủ. Nhà dưới là tiệm ảnh do các con cụ trông coi. Khi Phan Nghị còn sống và tôi chưa có căn nhà vườn trên Lộc Ninh, thỉnh thoảng cụ ghé chung cư thăm tôi. Cụ vẫn đi chiếc xe đạp điện, không phải loại mới sau khi xăng tăng giá mà là loại xe đạp điện cũ. Sau này có dịp về Sài Gòn, tôi vẫn mời cụ đi ăn, đi chơi cho đỡ cô quạnh, khi có anh em ở xa về muốn gặp cụ. Hạn chế giao thiệp là thứ “bệnh” của người lớn tuổi. Vì thế mời được cụ không dễ dàng.

Tấm Lòng Của Người Nghệ Sĩ Với Sự Thật

So với tuổi 84, cụ còn khoẻ lắm. Tay cụ run rồi, cầm máy ảnh lên, bấm máy không còn chính xác nữa. Tuy vậy đôi khi cụ vẫn “nhớ nghề”, leo lên xe hơi của người học trò cũ đi “chu du sơn thủy”, hết Chapa đến Hạ Long và tất cả xóm làng từ Nam chí Bắc, tìm những “cây đa cũ bến đò xưa”. Tôi có cảm tưởng đó là các tác phẩm cụ dành cho cuối đời mình hoặc các hình ảnh mà từ bao năm qua cụ đã chụp nhiều nhưng vẫn thấy “cay cú”, thiếu sót một điều gì đó mà thời trẻ cụ chưa hoàn toàn mãn nguyện với những tác phẩm của mình. Đó chính là sự toàn tâm toàn ý của một nghệ sĩ với tác phẩm.

Tôi muốn nói điều này để thấy tấm lòng một nghệ sĩ lão thành luôn tôn trọng giá trị nghệ thuật đích thực cũng như tôn trọng mọi sự thật trong phạm vi nghệ thuật.

Chính vì lẽ đó, cụ đã mang bài báo đến cho tôi đọc. Sự nổi giận của cụ điềm đạm, từ tốn, song tôi thấy rõ nó sâu sắc, mạnh mẽ hơn là một người bị hàm oan. Cụ nổi giận với những gì cuốn sách viết về cụ không bằng những gì cuốn sách mô tả về “một thời kỳ trước 1975”, các nghệ sĩ nhiếp ảnh đã làm và đã suy nghĩ. Ngay trên đầu cuốn “Văn hóa nhiếp ảnh” tôi đọc được hàng chữ của cụ với nét chữ run run, nhưng dứt khoát: “Cuốn sách này tác giả Đức Chính viết về nhiếp ảnh miền Nam không thật khách quan, thậm chí suy diễn bóp méo sự thật, gây nghi ngờ đến người đọc”.

Sự Phẩn Nộ Của Lão Nghệ Sỹ

Sau đây là nguyên văn một đoạn bài báo Thanh Niên ngày 9-9-2008:

“Có những chi tiết rất vô lý, như chuyện nghệ sĩ Hoàng Thịnh sinh năm 1942, sách viết ông là người Việt đầu tiên nhận tước hiệu FIAP (do Liên đoàn Nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế cấp) năm 1956. Hóa ra Hoàng Thịnh là nghệ sĩ FIAP lúc mới… 14 tuổi (!).

Hoặc tác giả viết nghệ sĩ Mạnh Đan đoạt huy chương vàng ở Áo và Đức, trong khi chính nghệ sĩ Mạnh Đan cho biết: “Tôi xin khẳng định tôi không hề nhận huy chương vàng từ hai quốc gia đó. Viết như thế là không tôn trọng sự thật, khiến tôi rơi vào tình trạng khai man giải thưởng”.

Cụ Mạnh Đan đã nhiều lần mời tác giả Nguyễn Đức Chính đến trao đổi về những sai sót trên. Sau cùng ông Chính chịu gặp. Cụ Mạnh Đan yêu cầu phải có người thứ ba làm chứng, do ông Chính chọn nhưng phải trung thực. Buổi gặp diễn ra ngày 22-8, gồm cụ Mạnh Đan, ông Chính và nghệ sĩ Mai Anh làm chứng. Cụ Mạnh Đan yêu cầu ông Chính cải chính những thông tin không đúng sự thật, nhưng tác giả khăng khăng từ chối. Điều đó khiến cụ bất bình: “Quyển sách đã đưa tôi vào tình trạng khai man giải thưởng quốc tế. Đã là người nghệ sĩ, nếu khai man thành tích thì tự đào thải chính mình. Vì thế, nếu tôi im lặng thì hậu quả sẽ tai hại đến mức nào cho uy tín và sự nghiệp của cá nhân tôi”.

Ông Chính cũng đặt lại vấn đề với cụ Mạnh Đan: “Mười bốn năm qua ông Đan vẫn im lặng, nay không rõ nguyên cớ gì mà phản ứng với sách của tôi?”.

Đưa chuyện này ra hỏi, cụ Mạnh Đan cho biết cụ không hề im lặng. Bằng chứng khi quyển Lịch Sử Nhiếp Ảnh Việt Nam — Hội NSNAVN, sơ thảo lần thứ 7 — ra mắt năm 2007, cụ đã góp ý thẳng rằng phần quyển sách viết về nhiếp ảnh miền Nam “chưa trung thực”. Cụ Đan đưa cuốn tạp chí Nhiếp Ảnh Của Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam số 242 tháng 4-2008 chứng minh: “Ngày 3-4-2008 và ngày 19-3-2008 tại TP. Sài Gòn và Hà Nội có buổi hội thảo “đóng góp ý kiến cho cuốn Lịch Sử Nhiếp Ảnh Việt Nam”, cụ đã góp ý thẳng rồi chứ không đợi đến bây giờ.

Phải nói đây là công trình rất “truân chuyên”, đã qua 7 lần sơ thảo nhưng vẫn vấp phản ứng quyết liệt từ nhiều phía nên chưa ra sách được. Theo cụ Mạnh Đan, ông Chính là một nhà lý luận nhiếp ảnh nhưng trích một nguồn tài liệu còn tranh cãi, hơn nữa là bản sơ thảo từ năm 1993 cho thấy ông Chính “không am hiểu sự việc”.

Trong cuốn Văn Hóa Nhiếp Ảnh, tác giả còn dẫn chuyện nghệ sĩ Nguyễn Văn Thông tại đại hội Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam lần VI, tháng 3-2005, đã phát biểu: “Ngày xưa chúng tôi chụp người dân tộc gầy ốm giơ xương là để các nước Âu Mỹ thương mà bố thí cho dân mình”. Ý kiến này đã gây cơn bão dư luận xoáy vào nghệ sĩ Nguyễn Văn Thông. Khi ông Thông một mực kêu oan là không hề phát biểu câu đó thì tác giả Nguyễn Đức Chính chưa trưng được bằng cớ nào chứng tỏ ông Thông có nói. Theo nghệ sĩ Trịnh Đình Thu, vấn đề trên đã được đưa ra trong cuộc họp Câu Lạc Bộ Nhiếp Ảnh Người Cao Tuổi Sài Gòn, nơi các ông Thông, Chính đều là thành viên. Tại buổi họp, ông Chính có xin lỗi đã “làm phiền” nghệ sĩ Nguyễn Văn Thông, nhưng lại không có câu nào thừa nhận là viết sai sự thật. Một phát biểu như vậy khiến nhiều người Việt thấy bị tổn thương lòng tự trọng dân tộc.

Thế nên nhiếp ảnh gia Trịnh Đình Thu đã gay gắt bày tỏ cái gọi là “phát biểu” đó, dù có hay không có, đều không nên và không thể đưa vào quyển sách về văn hóa nhiếp ảnh.

Ông Chính Là Ai?

Theo nhiếp ảnh gia Trịnh Đình Thu: “Ông Chính được xem là nhà lý luận phê bình nhiếp ảnh, là một trong số người biên soạn cuốn Lịch Sử Nhiếp Ảnh Việt Nam, phụ trách về mảng nhiếp ảnh miền Nam. Tuy nhiên, tập sách Văn Hóa Nhiếp Ảnh của ông viết về nhiếp ảnh miền Nam bộc lộ nhiều sai sót. Những nhân chứng của nhiếp ảnh miền Nam như các nghệ sĩ Mạnh Đan, Hoàng Thịnh, Nguyễn Văn Thông… đều còn sống mà tác giả Nguyễn Đức Chính không hề tham khảo ý kiến của họ, lại tự viết theo chủ ý cá nhân, dẫn đến những thông tin sai sự thật, gây tổn hại không chỉ cho một số cá nhân nghệ sĩ mà còn cho cả một thế hệ người cầm máy”.

Những Sai Sót Sơ Đẳng Chứng Tỏ Điều Gì?

Trong cuốn sách, tôi còn nhận ra vài sai lầm ngớ ngẩn như nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh bỗng dưng trở thành sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, trong khi ông là sĩ quan Binh Chủng Nhảy Dù. Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm được gán cái chức trưởng phòng nhiếp ảnh Phủ Tổng Thống, trong khi ông chỉ làm việc ở Bộ Thông Tin. Những điều này tuy nhỏ đã chứng tỏ người viết không hiểu gì về người mình viết. Vậy thì làm sao viết trung thực được.

Có một sự thật mà lâu nay người ta khó nhận ra, đó là một số người viết lách nửa mùa, cố tình xuyên tạc, bôi nhọ các văn nghệ sĩ trước đây từng được biết đến nhiều nhất tại miền Nam Việt Nam. Tôi không chụp cho họ cái mũ cố tình “theo voi hít bã mía”, nhằm diệt uy tín các văn nghệ sĩ miền Nam trước 1975. Có thể họ chỉ là kẻ bị lợi dụng mà không hề hay biết hoặc có biết cũng làm lơ. Cái chính là trình độ nhận thức và ý thức của họ quá kém cỏi, lòng ghen ghép đố kỵ cao hơn sự hiểu biết nên nghe đâu viết đó, mong có tí tên tuổi, phồng mang trợn má tự cho là “ngự sử của thời đại”, muốn phê phán sao cũng được. Thích ai thì khen, dù đó là một “vì sao lạc” ở cõi nào tới chẳng ai biết. Ghét ai thì chê, xuyên tạc, bôi bác, không phê bình tác phẩm, có khi cũng chẳng đọc tác phẩm mà nhằm vào đời tư tác giả nào đó để “quây hôi bôi nhọ”, thậm chí cả chuyện mà người ta không ngần ngại gọi là “chuyện gầm giường”.

Con số đó không nhiều, nhưng cũng đủ khiến người ta phải nghi ngờ, phải đặt vấn đề có hay không. Thế là họ coi như đã thành công. Nhưng tất nhiên, rồi độc giả cũng nhận ra “chân tướng” của những “chuyện gầm giường” đó và đánh giá được đâu là giá trị đích thực qua các tác phẩm, các hoạt động trong đời sống văn học nghệ thuật của từng người.

Trở lại với “lời tố cáo” của tác giả cuốn “Văn Hóa Nhiếp Ảnh”, ông Chính còn dẫn chuyện nghệ sĩ Nguyễn Văn Thông tại Đại hội Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam lần VI đã phát biểu: “Ngày xưa chúng tôi chụp người dân tộc gầy ốm giơ xương là để các nước Âu Mỹ thương mà bố thí cho dân mình”.

Dù thế nào, ai cũng thấy đây là một dẫn chứng có ác ý. Không người Việt Nam nào không phẫn nộ khi nghe một nghệ sĩ có tên tuổi phát biểu như vậy, có khi người ta còn tưởng mình nghe nhầm. Và theo tôi nghĩ, một nghệ sĩ như Nguyễn Văn Thông không thể phát biểu thiếu suy nghĩ và tồi tệ đến như vậy. Nhưng sự bịa đặt thì thật dễ dàng. Ông Thông đã hoàn toàn phủ nhận lời tố cáo này. Trong khi tác giả Nguyễn Đức Chính tiếp tục khẳng định Nguyễn Văn Thông có phát biểu trong Đại hội VI Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam. Đại hội có thư ký ghi chép, có băng ghi âm, và ông Chính cũng đã đề nghị Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh cung cấp bằng chứng. Tuy nhiên, gặp phóng viên báo Thanh Niên, ông Nguyễn Văn Thông nói rằng ông Chính chỉ nhiều lần nói sẽ cung cấp bằng chứng trong lúc ông Nguyễn Văn Thông vẫn đang hứng chịu nhiều phản ứng dư luận vì đã “phát biểu” ý trên thì đến nay, sau nhiều lần hứa hẹn, bằng chứng của ông Chính vẫn… chưa thấy đâu (!).

Mục Đích Chính Của Những Kẻ Bất Luơng

Có lẽ mục đích chính của tác giả cuốn sách khi tố cáo điều này chỉ là làm cho độc giả hiều ngầm rằng: “Bọn nghệ sĩ miền Nam trước đây là như thế đấy”. Một trong những cách bôi nhọ tốt nhất, hiểm độc nhất. Cái thứ mà bọn bất lương vẫn dùng để triệt hạ uy tín của người khác. Về nội dung nghệ sĩ Hoàng Thịnh sinh năm 1942 nhưng nhận tước hiệu FIAP năm 1956, nghĩa là khi mới 14 tuổi (!) như sách đã nêu, Nguyễn Đức Chính trình bày sai sót này do “lỗi morasse”, đúng ra nghệ sĩ Hoàng Thịnh nhận tước hiệu vào năm 1975. Theo ông Chính sai sót này hoàn toàn có thể khắc phục được.

Cụ Mạnh Đan cười khẩy, nhận định rằng ngay cả sự đính chính này cũng sai nốt, bởi ông Hoàng Thịnh nhận tước hiệu năm 1996, chứ không phải 1975.

Theo cụ Mạnh Đan, việc ông Chính là một nhà lý luận nhiếp ảnh nhưng trích một nguồn tài liệu còn tranh cãi, hơn nữa là bản sơ thảo từ năm 1993 cho thấy ông Chính “không am hiểu sự việc”.

Cả nghệ sĩ Nguyễn Mạnh Đan, Nguyễn Văn Thông và nhiều nghệ sĩ khác cũng nói rằng ngoài nội dung trên, tập sách của Nguyễn Đức Chính “còn rất nhiều điều gây tranh cãi”. Cho nên, thời gian tới họ sẽ tiếp tục tranh luận gắt gao với tác giả.

Ít nhất thì cũng cần phải làm rõ trắng đen, những dòng chữ tố cáo kia là có thật hay là xuyên tạc, không chỉ cho một nghệ sĩ danh tiếng mà còn là uy tín và danh dự của tất cả người cầm máy ảnh tại miền Nam trước năm 1975 như nghệ sĩ Trịnh Đình Thu đã nói: “Những thông tin sai sự thật, gây tổn hại không chỉ cho một số cá nhân nghệ sĩ mà còn cho cả một thế hệ người cầm máy”.

Đó là đòi hỏi chính đáng của dư luận. Nguyễn Đức Chính phải chịu trách nhiệm về những gì đã viết ra, đã được in và phát hành, buộc ông phải chứng minh được lời ông Thông đã nói khi ông ta đoan chắc còn biên bản cuộc họp, còn băng ghi âm… Nếu không chứng minh được, Nguyễn Đức Chính phải đính chính trước dư luận và ngay nhà xuất bản, Hội Nhiếp Ảnh, cũng phải có thái độ với những hội viên như thế. Điều này còn tùy thuộc vào người bị vu oan, có đặt vấn đề gì khác nữa không.

Trước khi ra về, cụ Mạnh Đan bùi ngùi nắm tay tôi: “Mình già rồi nhưng tấm lòng đối với nghệ thật vẫn nặng lắm. Nghệ thuật đầu tiên phải là sự trung thực, không thể vì lẽ này hay lẽ khác, vì muốn lấy lòng người này hoặc người kia, phe này hay phe khác mà chà đạp lên sự thật”.

(Sài Gòn, 10-2008)