Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 13 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Vào tháng Ba năm 1945, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhứt trong lịch sử của hải quân Nhựt, hai phi công được tuyên dương công trạng đặc biệt. Bộ Tổng Tham Mưu Hoàng Gia đưa ra hành động này có lẽ là do ảnh hưởng từ tình hình quân sự bi đát. Tuyên dương công trạng cho tôi và Trung sĩ Shoichi Sugita, cả hai đều thuộc Không đoàn Matsuyama, với ý định thúc đẩy tinh thần đang suy nhược của đa số phi công lúc bấy giờ.

Sugita, hai mươi bốn tuổi, phi công sáng chói. Hầu hết các hoạt động chiến đấu của hắn đều ở Truk và Phi Luật Tân, Sugita đã hạ tất cả 120 phi cơ địch.

Tuy nhiên, con số đó có tánh cách phỏng định. Riêng tôi, tôi tin rằng tổng số phi cơ mà Sugita đã bắn hạ khoảng 80 chiếc. Sugita công nhận có nhiều chiến thắng đáng ngờ vực và không được xác định, bởi lẽ có những hoàn cảnh khó thể đưa ra kiểm chứng đúng mức. Hầu hết các cuộc không chiến xảy ra gần đây, Sugita đều không có thời giờ để nhìn một chiếc phi cơ bốc cháy, tan vỡ hoặc phi công có nhảy dù ra ngoài hay không. Thật sự, chiến đấu cơ của chúng tôi không được trang bị máy chụp hình nên khó thể lấy đó làm căn cứ để xác nhận mục tiêu bị hủy diệt.

Khi một quốc gia đang thắng thế, mọi chiến công đều được rà soát lại một cách cẩn thận, như chúng tôi đã từng làm trong các cuộc không chiến dễ dàng của chúng tôi ở Moresby. Khi ấy máy bay Mỹ chưa đông như kiến giúp chúng tôi đủ thời giờ quan sát kỹ lưỡng nhưng khi tình hình trở nên tồi tệ, qua một loạt chiến trận trong thế thủ chống lại một đối phương vượt trội, sự chính xác không còn kịp lưu ý nữa. Tuy nhiên, không ai hồ nghi tài ba trên không của Sugita. Sau khi quan sát lúc Sugita chiến đấu, tôi cảm thấy hắn không thua gì Nishizawa. Sugita đã chứng tỏ tài ba siêu việt của hắn vào ngày 19 tháng Ba khi Không đoàn Matsuyama nghênh chiến những phi cơ Mỹ xuất phát từ các hàng không mẫu hạm tấn công vào căn cứ hải quân Kure. Trước đó đất Nhựt đã nhiều lần bị oanh tạc mà không có một phản ứng nào từ không đoàn chúng tôi, do thiếu máy bay. Ngày hôm đó diễn ra khác hẳn. Các hiệu thính viên Nhựt bắt được điện đàm của các phi công Mỹ tiến đến từ hướng Nam.

Các hoa tiêu đối phương sắp xếp kế hoạch không ngụy thoại như thể họ đang cách xa chúng tôi nhiều ngàn cây số.

Tất cả các chiến đấu cơ khả dụng – trên bốn chục chiếc – cất cánh lập tức. Mặc dù rất muốn tham gia, tôi được chỉ định hướng dẫn 4 phi đội đến mục tiêu từ đài kiểm soát của căn cứ, theo đội hình đánh chặn ở bốn cao độ khác nhau. Ðối với các chiếc Shiden Tử Ðiện, là lần so gươm thật thụ đầu tiên. Ðiểm khác biệt với chiếc Zéro, là các chiếc Shiden có trang bị vô tuyến cho các phi đội trưởng điều hợp và liên lạc với căn cứ. Bấy giờ các chiếc Shiden đã tập hợp xong và dàn thành hình bốn chiếc dĩa rộng bay trên cao độ cao hơn đối phương. Ðội hình vòng cung khép này giảm thiểu khả năng bị tấn công bất ngờ. Hai phi đội hàng dọc và hai phi đội hàng ngang như một chữ thập làm bằng bốn vòng tròn cùng bao che cho nhau. Sáu mươi phi công khác, trong đó có tôi, đành ở dưới mặt đất vì thiếu máy bay. Tôi nhìn thấy toàn cảnh qua ống nhòm.

Trận chiến diễn ra ngay khi các toán Hellcat lao vào tầm bắn. Từ lợi thế cao hơn 500 thước, hai phi đội Shiden bổ nhào xuống lũ “mèo hỏa ngục”. Sugita thả rơi hắn như một viên gạch, rớt thẳng xuống rồi dựng ngược lên dưới bụng một chiếc Grumman. Bốn họng đại bác của hắn nhả một tràng ngắn. Ðối thủ của hắn rớt tức thì, đầu máy túa lửa. Sugita vung sang bên và nện từ phía sau chiếc Hellcat thứ hai, bốn họng súng của hắn đỏ rực, chiếc Grumman F6F lăn lộn bốc khói dữ dội trước khi đâm nhào xuống biển. Chiếc Hellcat thứ ba lao lến Sugita, hắn dựng đứng mũi chiếc Shiden 90 độ, lật ngược một bên cánh đảo vòng thật nhanh và trong nháy mắt đã ở sau lưng kẻ địch. Lần này hắn nện trúng phòng lái và chỗ chứa xăng bằng bốn quả đạn, chiếc Grumman vỡ tung.

Mọi người trên mặt đất đã la hét vang dội khi nhìn Sugita hạ hết chiếc Hellcat này đến chiếc Hellcat khác. Lúc ấy tôi đứng trên đài kiểm soát không lưu để theo dõi trận không chiến ngoạn mục này. Ðó là lần đầu tiên chiến đấu cơ mới toanh Shiden xuất trận. Hiển nhiên loại phi cơ này trên chân Hellcat về tốc độ vượt lên, cũng như về hoả lực. Với 4 đại bác 20 ly tự động, nạp 200 viên mỗi khẩu, chiếc Shiden thực sự là thần chết.

Một giờ sau Sugita đáp xuống. Hắn không ngớt lời ca ngợi chiếc phi cơ của hắn. Hắn ghi thêm bốn điểm được chứng nhận bởi các phi công khác và có lẽ thêm ba điểm nữa, nhưng không được xác nhận. Sugita cho biết chỉ vì hết đạn nên phải quay về.

Cả ngày hôm đó chỉ có Không đoàn Matsuyama nhóm lên được một tia lửa hy vọng. Khắp nơi trên lãnh thổ Nhựt Bản, các phi công của chúng tôi không đạt được một chiến thắng nào. Thật vậy, các chiếc Hellcat đã dập tắt tất cả những nơi chống đối khác, và chiến thắng của chúng tôi có vẻ như là sự thiệt hại duy nhứt của đối phương. Sau này chúng tôi đọc được các báo cáo không chiến của người Mỹ, trong đó cho thấy họ đã tỏ ra kinh ngạc về khả năng cao độ của chiến đấu cơ Shiden. Phi công Hoa Kỳ đã xao xuyến trước khả năng chịu đựng đạn đại liên của loại chiến đấu cơ mới này.

Tuy nhiên, trong vòng một tháng, thảm hoạ giáng xuống không đoàn của chúng tôi. Phi công vĩ đại nhứt vẫn còn sống sót ở Nhựt Bản, Soichi Sugita, bị thiệt mạng. Không đoàn Matsuyama được chuyển đến Kanoya, ở miền Nam Kyushu là đảo Cửu Châu, để chống lại phi công Hoa Kỳ đang không yểm cho cuộc đổ bộ lên Okinawa.

Vào ngày 7 tháng Tư, không có dấu hiệu nào báo trước, một khối lượng máy bay đông đảo của địch ào xuống phi trường của chúng tôi. Tôi chỉ kịp liếc thấy phi cơ địch ở cao độ 12,000 bộ là khoảng 3,700 thước khi chúng gầm thét bổ nhào xuống. Chúng tôi bị chôn chân trên mặt đất. Nhóm phi cơ địch chắc chắn xuất phát từ các hàng không mẫu hạm hoạt động ở trong hải phận Okinawa. Chúng tôi không có radar ở Kanoya, và khi còi báo động hụ thì chiến đấu cơ địch đã xuống tới nơi rồi. Sự yếu kém chết tiệt trong việc sản xuất radar hiệu quả đã làm chúng tôi bị bất ngờ.

Trên phi trường, lá cờ chỉ huy mặt trời mọc phất lên với tiêu lệnh chiến đấu: “Ði và Ðánh!”. Cùng với nhiều phi công, chúng tôi chạy ra phi cơ của mình. Nhưng Ðại tá Genda thét chúng tôi dừng lại và bắt chạy vô các hầm trú ẩn. Hiển nhiên là đã quá muộn, không thể nào cất cánh được nữa.

Nhưng Sugita, Shoji Matsumara và một phi công khác nữa không nghe tiếng Genda. Cả ba người này đã nhìn thấy phi cơ Mỹ trước khi có còi hụ báo động nên đã chạy ra phi cơ của họ rồi. Ngay lúc các chiếc Corsair F4U và Hellcat F6F sà thấp trên phi trường, Sugita và phi công bên cánh của hắn, với Matsumara phía sau, đang chạy đến vị trí cất cánh. Hai chiến đấu cơ địch chúi xuống từ bên phải và từ phía sau.

Viên phi công bên cánh của Sugita cất cánh đầu tiên. Khi các bánh xe của chiếc Shiden vừa rời khỏi mặt đất, một chiếc Corsair thổi ngay một loạt đạn. Dưới hoả lực của sáu khẩu đại liên, chiếc Shiden lảo đảo dữ dội, lộn nhào liên hồi, và đâm đầu xuống đất với một tiếng nổ khủng khiếp.

Mấy phút sau, một phi công địch khác lướt xuống với các họng súng tóe lửa. Tôi khủng khiếp nhìn những viên đạn tung bụi dọc phi đạo và rót vô chiếc chiến đấu cơ còn đang di chuyển của Sugita. Sugita không thể nào tránh né nổi vì phi cơ của hắn vẫn còn lăn trên mặt đất.

Ðạn trúng vào các bình chứa xăng của chiếc Shiden khiến nó phát nổ và biến thành một trái cầu lửa. Lửa và khói cuồn cuộn tuôn về phía sau chiếc phi cơ vẫn còn đang chạy trên phi đạo. Lửa kéo dài như một vệt thảm. Không có chuyển động nào bên trong phòng lái. Lửa cháy bùng phủ kín chiếc Shiden. Tôi không thể tin vào mắt của mình. Viên phi công vĩ đại nhứt của Nhựt Bản đã chết trước mắt tôi.

Sự hủy diệt chiếc phi cơ của Sugita đã cứu mạng sống của Matsumara. Những cuộn khói dày đặc của chiếc phi cơ bốc cháy đã che khuất phi cơ của Matsumara, khiến chiến đấu cơ địch không nhìn thấy.

(Sau chiến tranh Shoji Matsumara sẽ là phi công phản lực cơ Lưỡi Gươm F86 Sabre trong Tân Không lực Nhựt Bản. Hắn chấm dứt các phi vụ thời chiến với việc bắn hạ 6 chiếc Hellcat và Corsair trong những ngày tham chiến cuối cùng.)

Ðây là những ngày khủng khiếp. Các phi công đại tài nhứt của Nhựt Bản lần lượt ra đi dưới hoả lực của đối phương. Hai tháng sau cái chết của Sugita, đến phiên Kaneyoshi Muto, người đã chiến đấu cùng với tôi ở Iwo Jima khi cả hai chúng tôi cùng bay chung phi trình quyết tử đầu tiên của Hải quân Hoàng gia. Chúng tôi đã trở về lần ấy, nhưng lần này, Muto đã thiệt mạng sau khi ghi 35 điểm chiến thắng. Tiếng tăm của Muto vang lừng từ sau khi hắn hạ 4 Siêu pháo đài bay B29. Muto trở nên sáng chói vào đầu mùa Xuân 1945, khi hắn trực thuộc Không đoàn Yokosuka. Ngày 26 tháng Hai, trong phòng lái một chiếc Zéro đã lỗi thời, hắn tấn công 12 chiếc F4U Corsair đang không kích Ðông Kinh. Tấn công liên tiếp, lao vào sát gần đến gần chạm cánh, Muto vượt thoát tất cả những chiếc bẫy và bắn hạ 4 chiếc Corsair. Bốn tháng sau hắn tử trận. Là vào tháng Sáu 1945, thuyên chuyển đến Okinawa đang là thùng thuốc súng, và vẫn trên chiếc Zéro đã lạc hậu. Các đồng ngũ nhìn thấy hắn lần cuối cùng khi hắn tấn công một oanh tạc cơ B24 Liberator. Theo báo cáo của họ, Muto bắn nát chiếc B24 ở cự ly gần nhưng hắn không nhìn thấy một chiếc P51 Mustang là khu trục cơ tối tân nhất của Hoa Kỳ trong thế chiến đang lao đến nhanh như chớp từ phía bên trên hắn, và tưới sáu tràng đạn dài của sáu họng đại liên 12 ly 7. Cánh máy bay của Muto đứt rời khỏi thân. Chúng tôi chưa kịp vực dậy từ sự xúc động dữ dội trước cái chết của Sugita và Muto, thì xảy ra liên tiếp những cái chết của những “Sát tinh” vĩ đại khác của chúng tôi, những cái chết khiến tất cả các phi công Nhựt sững sờ. Ðại úy Naoshi Kanno, thuộc Không đoàn Kanoya, đối diện định mạng gần Yakushima trong một chiếc Shiden cuộn tròn lửa. Kanno nổi danh nhờ vào các thành quả chưa từng thấy trong việc chống lại loại oanh tạc cơ B17 ở Nam Thái Bình Dương, với ít nhất 12 chiếc loại này bị bắn hạ trong tổng số 52 chiến thắng được xác nhận của ông.

Kanno là phi công đầu tiên tấn công trực diện bằng cách vừa lăn tròn vừa chúi xuống các pháo đài bay và khai hỏa khi gần sát. Sau đó không lực Ðức mới khám phá lối tấn công này của Kanno và mang ra áp dụng.

Do đó, hiện thời bảng danh sách bao gồm các tên: Sasai, Ota, Honda, Nishizawa và những người khác được ghi thêm những tên tuổi lớn, Kanno, Muto và Sugita.

Bấy giờ tôi không được phép thực hiện các phi vụ chiến đấu trong thời gian ở Matsuyama, vì là một “Ace” còn sống sót dẫn đầu bảng tất cả các phi công khác. Những lời thỉnh cầu được lâm chiến với chiến đấu cơ Shiden của tôi luôn luôn bị Ðại tá Minoru Genda từ chối để rồi, cuối cùng ông ra lịnh cho tôi và Hatsuyo trở về Yokosuka. Vào cuối tháng Tư, với sự chán nản vì mạng lịnh đặt tôi ra ngoài không trung, tôi trở về căn cứ mà tôi đã từng phục vụ trước đây.

Hatsuyo rạng rỡ khi tôi báo tin. Ánh mắt nàng hoan hỉ niềm vui khi nàng nhẩm tính: “Ðường về mất hai ngày, thêm một ngày anh đáo nhậm nhiệm sở và cấp trên sắp xếp công tác, là em có được thêm đôi ngày bên cạnh anh, Saburo. Ở đây em thấp thỏm mỗi sáng, trông tin chiến trận và mong anh về. Em không ngăn anh bảo vệ quê hương ngay cả khi em biết anh sẽ phải hy sinh tuy em đã chuẩn bị và biết phải làm gì… Nhưng về Yokosuka là về gần thủ đô và em có thêm đôi ngày cạnh anh không âu lo, Saburo. Em mừng lắm.”

Tôi nhìn Hatsuyo chan chứa, nàng chưa biết thủ đô cũng đã là tuyến đầu và không có gì ngăn chặn các pháo đài bay B29 tiếp tục lướt đến. Toàn nước Nhựt sắp bốc cháy. Chỉ còn là thời gian của vài ngày. Chúng tôi bất lực phòng thủ các đô thị của mình, một cuộc đổ bộ lên Ðông Kinh sẽ xảy ra như đang diễn ra ở Okinawa ngay lúc này. Nhưng Hatsuyo có lý, một đôi ngày cũng đủ cho một may mắn.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 13 Sep 2026

Tôi không nhớ rõ năm thứ mấy, chúng tôi đi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam, được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La, thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa; chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ; người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị; rồi một thời gian sau, Việt Nam giam những người tù Thái Lan; trong chiến tranh, đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng”, chế tạo lựu đạn. Vì thế, thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó, quanh khu vực này.

Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh, vách đất; ngoại trừ có một khu, người ta gọi là “khu biệt kích” gồm vài căn nhà xây dựng kiên cố, bằng gạch, lợp tôn xi-măng. Chúng tôi được học tập cải tạo trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói: “khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích, đã từng nhảy dù ra ngoài Bắc, rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó”. Muốn vào khu này phải qua 2 lần cổng, có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được” giam ở đây có vẻ cởi mở hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày, cho khỏi phải ra mở cửa.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù đói rét, thiếu thốn và, trong cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật, quy định riêng. Những ngày đầu, người ta cấm luôn cả trà, cà-phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm, cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi, cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng dao, kéo, muỗng nĩa. Tuy vậy, có anh tù nào lại ngây thơ, ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn các quy định ấy. Mua bán, đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày — những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ nhắn, cho dễ cất giấu. Đó là các vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu, chứ không đến nỗi bị cùm 1 hoặc 2 chân (tùy theo tội, đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù).

Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng. Dĩ nhiên không thể nào nói đó là thứ

“an tâm”, hồ hởi, phấn khởi mà bất cứ anh trại viên nào cũng phải viết, khi làm những “bản kiểm điểm” — dù cả người viết lẫn người đọc, chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy, đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù xộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ xộc thẳng vào phòng giam trống hốc, cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo lắng bâng quơ. Chuyển trại hay có ai trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi của mỗi người tù được gói trong hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua.”

Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu “đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm những thứ đồ “quốc cấm” mà trại đã quy định”. Thật ra đó là cung cách trại cải tạo thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh những “tiêu cực”. Bởi trong sự yên bình của một trại giam, tù có thể liên kết với nhau, làm một chuyện gì đó, như tổ chức trốn trại, hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối…

Nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế; thỉnh thoảng họ phải làm cho không khí đó mất hẳn vẻ trầm lặng, để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.

Các anh tù đừng “tưởng bở”, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ cũng vớ được một anh nào đó giấu các thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có các cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó, hi vọng lòi ra vài cái “tội”. Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” cứ mặc, vì còn cãi thì còn phải “ngồi đồng”. Đi làm suốt ngày mệt mỏi thở không ra hơi; tối về, còn ngồi đồng, còn bị “phê bình”, còn “kiểm thảo” chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi.

Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm. Thời điểm “căng” thì vào nhà kỷ luật đặc biệt, nằm “treo một chân.” Thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Họ cũng có những biện pháp an toàn như đổi 5,7 anh từ đội này sang đội khác, để tránh các chuyện thông đồng, tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh trại tù. Chung quy đó chỉ là cách xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn cứng đầu, còn mưu toan kéo người này, người kia vào phe mình, để từ đó, có các yêu sách, hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Mỗi lần như thế, trại tù cũng rối tung lên, và làm cho các anh yếu bóng vía, thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn, thêm rụt rè; chẳng biết tin vào ai được nữa… Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen. Với một số người “chẳng có gì để mất” thì họ trở nên như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được, chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi đã được học tập cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con, nhà cửa đều mất tất cả rồi; chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh ở Sài Gòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và, một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “caritas” như một số anh em trong trại tù rồi — tức là những người chẳng có ai thèm nuôi.

Những bà vợ đau khổ, những gia đình đói khát lầm than lo cho chính họ không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù, nhất là lại ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí, có người còn vui mừng khi thấy vợ bước đi bước nữa, với một anh nào đó, đưa các con ra được nước ngoài.

Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi, những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù, mới được hưởng trọn vẹn cái “thú đau thương”.

Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy xộc vào trại, là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên chí chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông, cái thứ quan trọng nhất, là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày. Rau muống, bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải mà trồng cải thì lâu được ăn, năng suất không cao, nên được tí rau, là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống xu hào là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn của toàn đội. Những củ xu hào bắt đầu to hơn nắm tay, nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt. Tôi coi chúng — vì cái công sức tôi bỏ ra một tháng trời — tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó đã từng viết ra. Ở đây, không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy để có cái mà thú vị, quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế, tôi tha hồ đặt tên từng luống xu hào. Có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tôi đã gặp ở phòng trà khiêu vũ. Có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngợm” giữa vùng rừng núi âm u hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong 1, 2 ngày nữa. Bởi Tết ta đã đến, dù luống xu hào còn non, chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong 3 ngày Tết, họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn; chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia, thì tôi vẫn nhởn nhơ, vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm. Gọi là phần cơm nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo-bo tương đối đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, còn những bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “vừa ăn xong, vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi, ngày này qua ngày khác, thế mới khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo kiểu câu dầm, lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn làm lu mờ cảm giác đói — dù chỉ là cách tự đánh lừa mình. Tôi cũng “ăn dè, hà tiện” nhưng ăn bằng muỗng.

Cái muỗng rất đặc biệt bằng “inox” hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi, luôn luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia 2 củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon “Guigoz” — một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng, nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù. Nó có thể dùng “trăm công ngàn việc”, từ đựng các loại thức ăn, thức uống, đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa, đánh răng, rửa mặt.

Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất. Tất nhiên là nó bị tịch thu trong buổi khám xét trại hồi sáng.

Đây là thứ “gia bảo”, tôi đã cất giấu suốt mấy năm, chưa hề lơi lỏng. Nó luôn luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động, cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như một cái nạng của anh què, cái gậy của ông lão 90, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó, tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là “trại viên”; nhưng trước đấy, anh ta là cán bộ “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ quân nhân trong trại tù, thường được gọi “phạm binh phạm cán” tức tội phạm thuộc binh sĩ, cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng, thường được dùng vào các việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán, nhận là người cùng quê. Một lần, Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính. Qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng: “Cậu huyện Nhụ 1

Tôi hỏi anh có họ thế nào với cụ huyện Nhụ. Anh ta nói là cháu gọi cụ Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam, còn gia đình anh vốn nông dân, ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 1975 là chánh án tòa Sài Gòn. Tôi nghe nói “cụ cũng có họ hàng với gia đình tôi, tuy là họ xa”. Cụ làm tri huyện khi còn rất trẻ, sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này, đi “cải tạo”, cụ mất ở trại này. Dực nói, “trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh giò”. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình, khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua “lén” vài cái.

Nhưng “bánh giò mang tới nơi, thì cụ đã mất rồi”.

Từ đó đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn, dù cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy”, một bên là “cán”; vẫn khó san lấp…

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa, tôi không gặp được Dực. Đến 2 hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết ta, tôi mới gặp được hắn. Trong khi đó, tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không? Họ nói “còn để trong kho, lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác”.

Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh gửi vào. Rất may cho tôi, hắn cũng bị đau dạ dày. Và thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó, chỉ là “tí mật ong trộn với củ nghệ, không mấy công hiệu”. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là “Ma-lốc”; uống vào cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ sản xuất đàng hoàng, người ta ghét Mỹ; nhưng thuốc của nó tốt, có sao đâu?”

Tôi gạ chuyện, để xin lại cái muỗng, Dực trợn mắt:

– Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy, trực trại nó biết; thì tôi vào nhà đá.

Tôi năn nỉ:

– … Là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe 3 dấu, một cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi.

Dực nhìn tôi nghi ngại:

– Hay mày giấu tiền trong đó?

Dực hơn tôi 2 tuổi. Hắn gọi tôi bằng “mày”, tôi cũng không bị chạm tự ái. Giả dụ hắn kém tôi vài ba tuổi; mà lúc đó gọi tôi bằng “mày”, tôi cũng cho qua luôn.

– Cái muỗng đặc nhỏ như thế sao giấu tiền được? Dực nửa đùa nửa thật:

– Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày cũng làm được. Chưa biết chừng, mày giấu cả cái máy quay phim trong đó, cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim, phải không?

– Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim, chứ tôi biết cái “cóc khô” gì.

– Vậy, sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng? Mày mua chuộc tao bằng 2 vỉ thuốc đau dạ dày, không bõ. Khéo không, chết cả đám. Tao không chơi.

Tôi thất bại nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc.

Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết ta. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường; kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong 3 ngày Tết, cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn Tết ở phòng, phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay, dù biết sẽ mất cái thú cùng dự những ngày Tết với anh em trong phòng, nhất là mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi làm lấy.

Thế là, tôi có dịp lân la nói với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ tôi “có cái gì giấu trong đó…” Tôi đành phải kể cho Dực nghe.

Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày, đưa vào túi xách. Đứa con gái tôi khi đó mới hơn 3 tuổi, thấy mẹ bỏ vào túi xách; quần áo, khăn mặt, thuốc men…, nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng đang ăn, dặn dò, “con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại con đấy”.

Tôi ôm con gái, gật đầu hứa “khi bố về sẽ trả”.

Nhưng quả thật, tôi vẫn nghĩ, chẳng bao giờ trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về, vì có biết ngày nào về đâu; mà hẹn!”

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt những bữa ăn, suốt trong giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên, qua cái muỗng đó. Tôi vẫn tự đánh lừa rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy, niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực. Vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ. Hắn vỗ vai tôi, “Thôi được, nếu như thế tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách; tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua, để cậu ngồi ăn ở đó. Trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên cái chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó vớ được, thì “kỷ luật” suốt cái Tết này đấy; chưa chừng suốt mùa xuân”.

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa, mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống “hầm-bà-lằng”, đủ thứ đồ dùng lặt vặt, vừa bị tịch thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó.

Quả là những bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

Thôi thì đủ thứ: cái điếu cày được làm bằng ống hỏa châu, hoặc những cái lược cho con gái, cho người yêu, làm bằng nhôm, được khắc những tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường”… nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn, cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

Sách vở tiếng Pháp, tiếng Anh và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái tôi kiếm được trước tiên là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp, vừa phải thật nhanh tay, đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ, cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng, nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. “May quá, cái muỗng kia rồi”. Nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó, tôi có cảm tưởng như “con có ở xa hàng cây số, thì bố cũng nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng đã quá thân thuộc, như chính cái nét mặt con gái tôi, khi nó nhí nhảnh, đưa cái muỗng vào túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi, rồi mai bố về. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và, trong nụ cười hồn nhiên của nó. “Ừ, thì vui”. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế; hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh, như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng, khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối, trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn!

Cái Tết ta ấy, tôi lại được vui chơi với muỗng của tôi, dù phải hi sinh suốt 3 ngày, khi mọi người được nghỉ ngơi, còn tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách”, chẳng có ma nào thèm ngó đến.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi; như chuyện được ăn một bữa cơm, chứ không phải khoai sắn, hoặc, bo-bo. Quả là tôi thấy hạnh phúc, cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải bạn đồng minh từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua — bạn đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh, và chạy xa quá rồi.

Thôi thì, tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sâu, sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi đi làm phải qua một con suối, đó là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt, dịu dàng; trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn, nước từ những triền đồi vây quanh 4 hướng, ào ạt đổ xuống. Chỉ cần nửa giờ sau, con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn, mang theo những cành cây; những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi nó trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng choạng làm đổ cái túi đồ, những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây, tôi thuộc từng khe đá, tôi không ngần ngại nhoài người xuống để mò. Anh bạn nhảy dù, la lên:

– Bộ ông điên sao?

Tôi điên thật, hi vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá, tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi. Anh ta lội xa hơn một khúc, rồi khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá, là tìm được cái muỗng. Đôi mắt rất tinh, anh mỉm cười “tôi biết ông mất cái gì rồi”.

Chuyện trớ trêu: Hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được. Vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài rồi. Hơn 20 năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay, đã 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29-9-2002 vừa qua, cháu lập gia đình ở Miami, Florida.

Anh Hai và em gái bé có cái muỗng – Phú Nhuận 1973.

Nhận được thiếp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như, không phải vui hay buồn, một thứ cảm giác kỳ lạ, cứ lơ lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì, và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sài Gòn. Chính tay tôi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái, như lời hứa 27 năm trước.

Vật đó, có thể thay cho sự có mặt của tôi không?

Tôi không biết. Nhưng tôi nghĩ “gửi cho con để con hiểu lúc nào tôi cũng coi như con còn nhỏ lắm, như mới hôm qua, 2 bố con còn ở bên nhau”. Tôi đi chơi đâu đó và, hôm nay trở về. Nhưng, con đã đi xa; còn tôi vẫn ở Sài Gòn nơi nó đã sinh ra. Con sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Vài hôm sau, có một điều tôi biết rất rõ: “Từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cứ thấy trống trải như mất một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng cũng như cảm giác của những ông bố, bà mẹ cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Đó chính là sợi dây vô hình, nối liền mãi mãi tình thương yêu, dù ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng, người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ, sâu sắc hơn. Chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất thứ không gì so sánh nổi đó trên đời.

Lẽ ra chuyện này, tôi đã viết ngay từ tháng 9 năm 2002, dịp cháu lập gia đình. Nhưng ngồi mãi trước “computer”; tôi không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung.

Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được, ngoài việc cứ để nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình, thì nghẹn.

Mãi đến hôm nay, tôi mới ghi lại được những dòng chữ này; nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn, vì nó là thứ chuyện của cả một đời, hay là của muôn đời.

(Sài Gòn, tháng 1-2012)

——————————–

1Nguyễn Mạnh Nhụ là con trai cụ bảng Mộng, tháng 5 năm 1954 là giám đốc Báo Chí bộ Thông Tin dưới thời tổng trưởng Phạm Xuân Thái — giáo phái Cao Đài hợp tác lập nội các với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông là thân phụ của biện lý kiêm thi sĩ Huy Trâm định cư ở California, Hoa Kỳ.

Đột nhập “Mật khu”

dongsongcu.wordpress.com

Vũ Thất

Posted on September 8, 2026 by dongsongcu

Trích đăng từ trang: https://vuthat.wordpress.com/

Post by Sơn râu 13 Sep 2026

Sau khi cập cầu, việc làm đầu tiên là tổng vệ sinh chiến hạm. Khi sĩ quan trực báo cáo hoàn tất, Hạm trưởng đi một vòng kiểm soát trước khi cho phép rời tàu.
Tôi và Tâm thay thường phục. Trung úy Quá vừa chào tiễn Hạm trưởng, thấy hai đứa xăm xăm đi tới, anh hất mặt, cười cười:
– Đi thám sát bãi ủi chăng?
Tôi chúm chím, gật đầu.
Từ cầu R, chúng tôi nhịp bước kiểu nhà binh qua khỏi cổng Sở Hàng hà. Đứng chờ taxi, Tâm gạ gẫm:
– Ghé nhà Tuyết một chút đi. Nó sẽ hỏi sao mày không tới đấy.
Tôi dõi mắt theo dòng xe, không quay lại:
– Mày đi đi. Tao có hẹn.
Tâm im, chỉ nhún vai, móc thuốc ra hút.
Taxi trờ tới. Tâm nhường tôi đi trước. Mãi đến khi người tài xế ngoái ra sau chờ, tôi mới hạ giọng đọc số nhà và tên con đường tận ngã tư Bình Hòa. Đó là “mật khu” của Hạm phó Đắc.
Càng ở gần ông, tôi càng thấy ngưỡng mộ ông hơn. Có lần ông rủ tôi dự dạ tiệc ở một tư gia. Giữa lúc câu chuyện đang rời rạc, ông ngồi xuống cây dương cầm kê ở góc phòng, dạo mấy nốt rồi hát một bài tình ca Pháp. Tiếng xì xào tắt hẳn. Hát xong, ông đứng lên cúi đầu chào rất Tây, và người vỗ tay lâu nhất trong đám khách là cô xướng ngôn viên mà cả nước nhìn thấy mỗi tối trên màn ảnh truyền hình. Khi ông mời khiêu vũ, nàng vui vẻ cùng ông thành một cặp bài trùng.
Về nghề, ông cũng không nhường ai. Có lần vào cửa Tiểu nước ròng, ông không báo hạm trưởng, tự mình đưa con tàu lách qua khúc quanh eo hẹp ngọt như xỏ kim. Bởi vậy, khi nghe tin ông cưới được ái nữ của một giới chức uy quyền tòa đại sứ Phú Lãng Sa, không sĩ quan nào buông một tiếng ngạc nhiên.

Bên cạnh mấy biệt nghệ ấy, ông còn thụ hưởng cả một “mật khu”. Suốt hai năm làm hạm phó, ông giữ kín địa chỉ ấy như giữ tài liệu tối mật. Mãi bữa cơm trưa hôm qua ông mới bàn giao cho tân hạm phó Quá, coi như món quà chia tay trước khi về đơn vị mới.
Sáng nay, nghe tôi dọ hỏi Tâm về một chốn tiêu dao, Quá cho ngay. Anh khoát tay:
– Tôi không lo ba cái chuyện lăng nhăng làm hư tư cách chỉ huy như ông Đắc. Lớn lên phải có vợ thì cũng phải có mấy chuyện đó. Nhưng với điều kiện: khi về phải tường trình chi tiết vụ… thăm dò bãi ủi và thủy đạo.
Anh gõ ngón tay lên mặt bàn, ba tiếng chậm:
– Ông Đắc bảo đảm an toàn trên xa lộ. Nhưng tôi vẫn cứ lo… bể ống khói. Nửa tháng nữa mà anh còn nguyên vẹn, tôi thực hành.
Dĩ nhiên tôi hứa. Anh có đòi hối lộ thêm bia và hột vịt lộn như Tâm, tôi cũng hoan hỉ thỏa mãn. Tôi đang rất cần một sự giải tỏa toàn phần. Mà được vào “mật khu” thì hẳn an toàn hơn nơi phổ biến tổng quát.

Xuống taxi, tôi ngước tìm biển số gắn trên cổng. Sau khung sắt là một căn biệt thự kín cổng cao tường, giàn hoa giấy đổ tràn xuống lớp vôi còn mới, một góc mái ngói lên nước đỏ au dưới nắng trưa. Tôi huýt khẽ một tiếng. Cựu hạm phó quả là chịu chơi!
Tôi đặt ngón tay lên núm chuông: hai tiếng, ngưng, rồi hai tiếng nữa. Nghe hồi chuông ngắt quãng vọng từ bên trong, tôi tủm tỉm cười. Còi nhịp đôi — nhiệm sở tác chiến. Ông Đắc cắc cớ thật.
Một giọng đàn bà phát ra từ chiếc loa nhỏ giấu sau núm chuông:
– Ai đó?
– Lê Vĩnh Tường.
Tôi suýt bật cười. Ông phủ Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương. Hết lấy còi tác chiến làm mật hiệu, ông lại chọn cái tên giả làm mật khẩu cũng cắc cớ không kém.
– Tường nào?
Giọng trong loa chậm lại một nhịp. Trung úy Quá bảo đó là mật khẩu ông Đắc cho, lẽ nào… Tôi liếc dọc con đường trưa vắng, ghé sát vào loa, hạ giọng vừa đủ cho một mình cái loa nghe:
– Tường Hải quân.
Nói xong, tôi thấy nóng ran hai vành tai. Nỡ nào tôi nêu danh binh chủng ở chốn tào lao này!

– Vào đi anh Tường. Anh tới đúng lúc. Em có quà đặc biệt cho anh.
Ổ khóa kêu một tiếng khô. Tôi vừa lách người vào, cánh cổng đã khép chặt sau lưng. Con đường tráng xi măng dẫn vào ngôi biệt thự vắng đến mức nghe rõ từng bước chân mình. Tôi rút điếu thuốc gắn lên môi, châm lửa. Khi thổi tắt que diêm, tôi mới nhận ra mình đã thổi mạnh hơn thường lệ.
Cửa chính đóng kín. Tôi nhấn chuông lần nữa. Nắm khóa tròn xoay chậm. Cửa mở, và tôi khựng lại một giây trước khi kịp nhớ ra là mình nên chào. Người đàn bà đứng trong khung cửa trạc ngoài ba mươi, tóc búi cao để lộ cần cổ trắng, chiếc áo pullover lụa mỡ gà ôm lấy một thân hình nở nang, đầy đặn, hấp dẫn. Nụ cười đang sẵn trên môi chị tắt ngấm. Chị nhìn tôi một lượt, từ đầu tóc xuống đôi giày, chậm rãi như người kiểm hàng.
Chị trách nhẹ:
– Sao lại mạo danh anh Tường? Lần sau đừng làm thế.
Tôi ngạc nhiên:
– Chớ không phải đó là mật hiệu với mật khẩu sao?
– Đúng, nhưng chưa được tiến cử.
Tôi nhăn mặt:
– Khó khăn quá. Thôi, cám ơn chị.
Tôi dợm quay lui. Chân chưa xoay thì chị hỏi:
– Anh là gì của anh Tường?
– Em. Được không?
– Tên?
– Sao phải xưng tên?
– Đó là mật khẩu cho anh, từ nay.
Thấy có lý, tôi đáp nhanh:
– Lê Vĩnh Bằng.
– Em ruột anh Tường?
– Còn phải hỏi!
– Vào đi.

Tôi theo chị, ngồi lên bộ salon êm ái.
– Anh uống gì? Rượu, nước ngọt, cà phê?
– Chị cho một ly cà phê đen, nóng.
Chị bước về phía chiếc bàn bày đủ loại ly tách, gót guốc gõ đều trên nền gạch bông. Tôi nhìn theo cái dáng ấy đến khi nó khuất sau tấm bình phong, rồi lẩm bẩm đúng dáng người mình ưa thích. Đến lúc chị đặt ly cà phê xuống, tôi gợi ý:
– Chị khoe có quà đặc biệt cho anh Tường. Tôi là em ảnh. Vậy chị cứ tự nhiên đưa cái đặc biệt của chị cho tôi xem.
Chị nguýt tôi một cái dài:
– Ấm ớ vừa thôi nghe. Giỡn mặt là đến sao về vậy đó.
Tôi không ngán giọng hăm he nhưng lời gợi ý của tôi rõ ràng đã trượt. Tuy nhiên biển động còn chưa ngán, chưa chi đã vội lùi thì coi sao được. Tôi nói chậm rãi:
– Tôi được cái đặc biệt của chị, chị cũng được đặc biệt tưởng thưởng.
Chị háy tôi, cười nửa miệng:
– Anh em có khác. Lỳ lợm như nhau. Xin chờ một chút.

Chị bước lên thang lầu. Tôi rút thêm một điếu thuốc, châm lửa, hít vài hơi thoải mái. Đặt gói thuốc xuống bàn, tôi cầm tờ nhật báo lướt nhanh các tựa. Bố ráp chùa chiền. Bắt bớ chư tăng. Biểu tình rầm rộ. Đàn áp thẳng tay. Tôi không thích những hình ảnh này. Tôi gấp tờ báo lại, úp các hình xuống mặt bàn kính, rồi kéo cái gạt tàn đặt lên trên.
Ly cà phê còn bốc khói. Không biết chị chủ còn bắt chờ bao lâu. Chắc chị đi tắm rửa chăng?
Nghe tiếng dép lẹp xẹp trên thang, tôi ngẩng lên. Không phải chị chủ. Trước mặt tôi là một cô gái trẻ, tươi tắn đến không ngờ, mặc nguyên bộ áo dài trắng, tà áo còn hằn nếp gấp, tóc kẹp gọn sau lưng. Cô nói, hai tay đan vào nhau:
– Chào anh. Hân hạnh được biết anh.
Tôi đáp, chậm hơn cần thiết:
– Chào cô. Vui được gặp cô.
Nói vậy mà không phải vậy. Mấy chỗ bình dân cũng hay bày trò “nữ sinh” này. Đằng nào cũng may mặc, sao không may theo kiểu nữ sinh cho thêm phần tâm lý?
Đang ngỡ ngàng, tôi lại bị bồi thêm một câu, giọng phẳng lì:
– Mời anh lên lầu.

Nàng quay lưng, lặng lẽ bước về phía cầu thang. Tôi vẫn ngồi yên. Ly cà phê chưa nhấp một ngụm. Điếu thuốc mới cháy được một phần ba. Ngay cả ở những chỗ chuyên nghiệp, người ta cũng không hối thúc kiểu đó. Mật khu gì lại vội vã như chốn lầu xanh.
Chị chủ xuống tới chân thang, thấy tôi còn ngồi, liền lên tiếng:
– Nhiều khách tới đây sợ gặp người quen nên thường rút ngay vào buồng riêng. Như anh Tường chẳng hạn. Lỗi tại tôi dặn cô ấy chứ không phải ý cô ấy. Anh cứ mang theo cà phê, thuốc lá. Vào buồng cứ nhởn nhơ. Giờ giấc thoải mái, nhưng phải lương thiện. Một nói một, hai nói hai. Không hài lòng cô này, tôi đổi cô khác.
Tôi nhún vai, cầm ly cà phê, nhặt gói thuốc, bước theo cô gái.
Tiếng chị chủ cất cao phía sau:
– Khoan đã. Anh tới lần đầu, cần nói rõ giá cả.

Tôi dừng ở bậc thang, quay lại. Chị chủ đứng thẳng người, hai tay khoanh trước ngực:
– Mỗi lần là một ngàn. Cứ thế tùy sức. Cả sức người lẫn sức của. Em anh Tường, giá đặc biệt dành cho anh Tường: giảm hai trăm.
Tôi định thả một câu nham nhở, nhưng nuốt xuống, chỉ ỡm ờ:
– Hai trăm của bốn trăm?
Chị nhăn mặt:
– Ở đây không có giá bình dân đó. Tối thiểu một ngàn.
– Tôi cũng xin hỏi cho đâu vào đó: chị bớt như vậy là cho một lần, hay lần nào cũng được bớt?
Chị cười, thách thức:
– Càng đi nhiều, càng bớt nhiều.
Tôi bắt trớn bồi thêm:
– Nói thì nhớ nghe. Lần tới sẽ đi với chị.
Chị xụ mặt xuống:
– Tôi kêu chồng tôi là anh hết đi đó.
Tôi bật cười, vọt theo cô gái lên lầu.

Căn phòng rộng, nền gạch bông lau bóng, giường đôi trải drap trắng, bao gối trắng. Phòng tắm riêng, cửa mở rộng, phô bày bồn rửa mặt và búp sen kiểu hiện đại. Tiền nào của nấy.
Nhưng cái đáng giá nhất trong căn phòng này thì vẫn chưa biết có đáng đồng tiền hay không.
Dấu hiệu đầu tiên xem ra có phần khích lệ. Không như những cô gái nhà nghề vừa cởi áo quần vừa buông lời kích thích cho chóng thêm khách, cô gái này chỉ ngồi xuống mép giường, hai đầu gối khép lại, mắt nhìn xuống đôi bàn chân ngà ngọc.
Tôi bước đến, đỡ nàng đứng lên, nhìn vào mắt nàng. Nàng khép mi lại, hàng mi rung. Hai bàn tay nàng buông thõng, rồi lại tìm nhau, nắm lấy nhau đặt trước bụng, y như học trò đứng chờ trả bài.
Bàn tay tôi còn đặt trên vai nàng mà không biết nên siết lại hay buông ra.
Tôi hỏi khẽ:
– Em mới đến đây?
Nàng không đáp. Chỉ cúi mặt. Dưới nhà vọng lên tiếng chị chủ dặn dò ai đó, rồi tiếng cửa đóng.

Điếu thuốc trên tay tôi vẫn cháy. Tôi dụi nó vào chiếc gạt tàn trên bàn đầu giường, dụi lâu hơn cần thiết.
Nàng đưa tay lên hàng nút bấm bên hông áo. Cởi xong chiếc áo dài, nàng gấp làm đôi, đặt lên lưng ghế, rồi vuốt cho phẳng nếp – cái cử chỉ thận trọng gìn giữ áo học trò. Nàng nhỏ nhẹ:
– Tắt đèn nghe anh.
Tôi với tay tắt ngọn đèn.
Trong bóng tối, nàng không nói một câu nào. Không một câu nào trong những câu người ta vẫn nói ở những nơi như thế này. Nàng dịu dàng mà lóng ngóng, để mặc mà vẫn cố làm cho tròn một vai trò hình như chưa học thuộc. Chính cái lóng ngóng ấy làm tôi chùng xuống. Rồi cái chùng xuống ấy, lạ thay, lại khiến lòng tôi xao động hơn.
Có một lúc, nàng bỗng thì thầm, giọng hốt hoảng:
– Chắc em có mang với anh quá.
Tôi giật mình. Câu nói ấy xuyên qua tôi như một mũi kim – không phải vì ý nghĩa của nó, mà vì cái âm vang quá cũ.
Tôi đã nghe qua một lần rồi.
Từ Bạch Tuyết.
Một đêm xa lắc, hồi còn học trò, tôi rủ Tuyết lang thang xuống bãi biển. Bãi vắng, chỉ có tiếng sóng và mùi rong. Chúng tôi ôm nhau, hôn nhau bằng tất cả sự vụng dại đầu đời. Chợt Tuyết xô tôi ra, hai tay ôm lấy bụng:
– Anh, em sợ có mang.
Tôi đã cười ngất:
– Đừng nói khùng. Ôm ấp sơ sơ thì có mang có miết gì được.
Tuyết ngày ấy ngây thơ đến vậy. Còn Tuyết bây giờ hẳn đã rành đời hơn. Giờ này nàng có đang ngồi với Tâm không? Có đang trao cho Tâm những gì tôi vừa nhận từ một cô gái chưa biết tên?

Cô gái ngồi dậy, bước vào phòng tắm. Tiếng nước xối vang lên đều đặn. Tôi nằm ngửa, châm điếu thuốc mới, nhìn khói uốn éo rồi tan ra dưới trần nhà. Máy lạnh chạy êm, hơi mát phả khắp thân. Vậy mà người tôi vẫn hừng hực nóng.
Tôi buông một tiếng thở dài.
Cô gái này, biết đâu cũng đã gặp một tai biến nào đó như Tuyết. Một tai nạn ập xuống, một đời trâm anh lao đao. Còn cô gái này thì vì đâu? Cái dáng ngồi khép gối, cái cách gấp áo, cái tiếng “dạ” dịu dàng lễ phép – nàng cũng từ một nếp nhà tử tế mà ra. Vậy vì đâu nàng trôi đến đây, đến một chỗ còn tệ hơn chỗ Mai Liên đến?
Nàng bước khỏi phòng tắm, đã mặc lại bộ áo dài trắng, tóc vấn cao còn ướt. Nàng bật đèn. Căn phòng sáng bừng, và nàng lại trở thành cô nữ sinh e ấp lúc đầu. Nàng đưa tay vẫy chào.
Tôi hối hả nói:
– Khoan đã. Anh muốn gần em thêm vài phút.
Nàng cười, khóe miệng nhếch lên, mắt long lanh:
– Để làm gì? Anh muốn mất thêm tám trăm?
Tôi bật cười:
– Anh sẵn sàng mất sạch túi.

Nàng bước đến, ngồi xuống mép giường, cúi hôn tôi thật lâu. Nụ hôn này không giống nụ hôn của một người đang làm cho xong phần việc. Rồi nàng đứng lên, giọng dứt khoát:
– Rất tiếc là không thể. Nếu anh có thực lòng, xin trở lại ngày mai, cũng giờ này.
Tôi thở dài:
– Ngày mai anh bị trực.
– Thì ngày mốt.
– Ngày mốt anh bị cấm trại.
Nàng liếc đồng hồ trên tay:
– Anh có mười lăm phút.
Tôi nắm lấy tay nàng:
– Chị chủ nói đến bao giờ cũng được.
– Nhưng em bận việc riêng.
– Anh muốn suốt đêm.
Nàng nhìn sững tôi:
– Ở đây không chứa khách qua đêm.
– Thì đi nơi khác.
– Bố ráp khắp nơi. Đi đâu?
– Chỉ bố ráp ở chùa. Phòng ngủ thì… tự do.
Nàng lại cúi xuống hôn tôi, lần này thắm thiết hơn. Rồi nàng ghé sát tai tôi, thì thào:
– Bảy giờ, gặp em ở rạp Rex. Anh đừng nói gì với chị chủ.
Tôi ôm chặt lấy nàng:
– Còn lâu quá.
– Tội nghiệp em mà. Đúng bảy giờ.
– Em tên gì?
– Gặp lại, em sẽ nói tên thật.

Chúng tôi hôn thêm một nụ hôn tạm biệt. Trong lúc nàng sửa lại tà áo, tôi với chiếc bóp trong túi quần máng trên lưng ghế, rút ba tờ một trăm:
– Tiền được giảm giá anh tặng lại em và típ.
Nàng cúi nhìn ba tờ bạc trong tay tôi, rồi lắc đầu:
– Tối gặp hãy hay.
Nàng đi thẳng ra cửa, không ngoái lại.
Đợi cửa đóng hẳn, tôi bước vào phòng tắm. Nước mát chảy khắp người mà không gột đi được cái ý nghĩ lông bông. Tôi lau khô, quấn chiếc khăn trắng quanh mình, rồi ra ngồi xuống chiếc ghế nệm nhỏ cạnh tủ đầu giường.
Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ căn phòng.
Tường và trần đều quét trắng. Trên vách đối diện giường treo một khung tranh khá lớn. Trông quen quá. Không phải tranh thật, chỉ là ảnh chụp lại bức Starry Night của Vincent van Gogh: một bầu trời xoáy tròn những vệt vàng, và bên dưới, cái xóm nhỏ nằm ngủ, chẳng hay biết gì.
Tôi nhìn nó một lúc mới nhận ra: bức tranh treo ngay chỗ mà bất cứ ai nằm ngửa trên chiếc giường kia cũng buộc phải nhìn thấy.
À há. Chị chủ này còn là một tay văn nghệ văn gừng đây. Phải trổ tài thả lời ong bướm lần tới.

Tôi uống cạn ly cà phê đã nguội ngắt. Đêm nay, tôi biết mình cần nó.
Mặc lại áo quần, tôi nhặt cái bóp lăn lóc trên giường, cầm luôn trong tay rồi xuống thang lầu. Tôi đếm đủ tám trăm đặt vào tay chị chủ. Chị cầm xấp bạc, không đếm:
– Sao về nhanh vậy? Cứ nhởn nhơ. Dạo này lộn xộn, ế ẩm lắm. Cần cô khác không?
– Cần chị.
– Nham nhở. Về đi. Bữa khác tới.
– Sẽ tới, nếu chị hứa dắt tôi vào buồng giải thích cái đẹp của bức tranh…
Chị xua tay như đuổi tà ma:
– Cút đi cha nội non! Dai như đỉa đói.
Tôi cười, bước nhanh ra cổng. Ngoài đường, tôi dừng lại đốt điếu thuốc, quay nhìn tấm biển số một lần nữa. Rồi tôi nhẩm trong đầu con số ấy, cùng với mật khẩu Lê Vĩnh Bằng.

Cỏ vườn hàng xóm chưa chắc đã xanh hơn!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Sep 2026

Melbourne, ngày…tháng…năm.

Tèo con,

Tối nay ba đi làm về đã mười hai giờ rưỡi đêm. Ba mỏi, mệt vì phải làm việc suốt tám tiếng đồng hồ, cộng thêm bốn tiếng nữa để đáp xe lửa, leo xe tram, ngồi xe bus mới về được tới nhà. Nhà mình dẫu mướn nhưng luôn luôn là nơi ba muốn về nhất để gặp má con, anh Tí và con. Đó là nơi ba thấy đáng yêu nhất. Gia đình chính là nguyên nhân của tất cả mọi nguyên nhân mà ba, má con phải làm việc vất vả. Tất cả chỉ vì con.

Vậy mà khi về tới nơi, dẫu khuya, đèn vẫn còn chong, hắt ra khung cửa kiếng là một bóng cô đơn. Má con lặng lẽ ngồi, cặm cụi may từng chiếc áo một, kiếm từng mươi xu lẻ để sống sót nơi đất lạ quê người. Ba hỏi con đâu? Má con buồn bã trả lời: Thằng Tèo vẫn chưa về. Con đã đi chơi suốt từ chiều thứ sáu cho đến nay là tối thứ hai rồi. Hơn ba ngày đêm con không có mặt ở nhà. Vắng ngắt nhà. Mênh mông nhà. Không tiếng chân bước vào ra. Ngoài cửa, gió mùa đông Melbourne rét căm căm. Bao nhiêu buồn bã nhất là má con đang chịu, con có biết không?

Ba nghĩ là con biết. Nhưng ba không hiểu tại sao con lại nỡ dửng dưng trước nỗi đau khổ của ba và má. Ba tin rằng trong lòng con, con vẫn còn thương ba má lắm phải không?

Thuong em mua nuoc lu 02Có lần đi chơi khuya về, tình cờ con gặp ba trên chiếc xe tram đầy mỏi mệt. Rồi cha con mình may mắn chung một đoạn đường về. Ba nói may mắn vì hiếm hoi lắm cha con mình mới có dịp đi bộ cùng nhau. Đột nhiên mình bắt gặp một cánh chim cô đơn, đậu trên nhánh bạch đàn, đong đưa theo mưa gió. Có phải là chim Việt nhớ cành Nam? Nhà mình đâu? Quê mình đâu? Sao biết được ngày bay về tổ cũ!

Ba còn nhớ mùa nước lụt năm 1978, ba năm sau ngày miền Nam sụp đổ. Nước tràn mênh mông vườn của ngoại. Rắn bò cả vào nhà. Gạo không có mà ăn, phải độn khoai lang, khoai mì. Nước cơm pha chút đường dành cho con thay sữa. Ba phải đi hái lá tàu bay, đem luộc làm canh. Nước pha muối để thay nước mắm. Có con gà nuôi dành giỗ nội thì hàng xóm bắt trộm, ăn mất rồi. Ba buồn nhưng không giận. Vì không phải riêng nhà mình chịu đói. Cả dân tộc lầm than! Mình có nước mà mình không biết giữ để đến nông nỗi này!

Cuối cùng bị dồn đến chân tường, không lẽ ở lại chịu chết, má con đành phải bán tư trang ngày cưới để có tiền, làm lộ phí cho ba bế con đi. Nhà mình xẻ hai. Xẻ đàn tan nghé. Ba với con ra đi; má và anh Tí ở lại để lỡ có bị bắt còn có kẻ thăm nuôi. Vã lại mình cũng không có đủ tiền, vàng chung cho bốn chổ. Ngày cha con mình đi, Cần Thơ chìm trong tối. Lúc bế con xuống ghe nhỏ chờ ra tàu lớn, con khóc. Ai bị buộc rời xa quê cha đất tổ, chổ chôn nhau cắt rún trong một hoàn cảnh bi thương như thế, làm sao mà không khóc. Ba phải cho con uống sirop Phenergan để con ngủ. Rồi lênh đênh trên biển, trong mịt mùng dông bão, đói, khát, cướp biển Thái Lan. Cuối cùng tàu cũng đến được Pulau Bidong. Con lả người trên tay ba.

Ba bế con, bước đi xiêu vẹo vì vẫn còn say sóng. “Xin hãy cứu con tôi!” Đó là lần đầu tiên trong đời ba đã phải van xin.

chiec-ao-ba-ba-hinh-chu-hy-8Vậy mà mấy năm sau khi má và anh Tí con được lãnh qua, ngày gặp lại má con ở phi trường Melbourne, con chỉ nói được ‘Hi! mum’ rồi thôi. Má con nói với ba rằng mới xa thằng Tèo có mấy năm mà nó đổi thay nhiều quá. Vỏ nó vàng nhưng ruột đã trắng rồi. Hồi ở bên nhà, sợ con mình lớn lên, họ bắt đi nghĩa vụ, chết ở bên Miên. Còn qua bên này, xa hoa, phù phiếm đã bắt mất nó rồi. Ở đâu mình cũng không giữ được con mình. Hồi nhỏ cho nó một cục kẹo, nó cũng mừng; bây giờ mình cho nó cả cuộc đời nó cũng không nhận.

Mười năm, hai chục năm nữa khi ba má đã già, cát bụi sẽ trở về cát bụi. Cha còn gót đỏ như son. Đến khi cha mất gót con lấm bùn. Ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Mười hai tiếng làm việc và di chuyển. Tám tiếng ngủ để hồi sức lao động. Chỉ còn bốn tiếng vào, ra để gặp mặt hai con. Ba đã bán năm phần sáu đời mình cho vòng đời tư bản khốc liệt cạnh tranh để đổi lại vỏn vẹn một phần sáu vô cùng cho cõi thương yêu. Vậy mà cũng không được!

Ba cũng có má giống hệt như con có. Đó là bà nội của con. Chẳng may má ba mất sớm, rất sớm. Vì sức tàn lực kiệt, đèn khô dầu lụi bấc, qua những ngày, tháng, năm mưa dầm nắng dãi, sớm tần hôm tảo. nuôi đàn con nheo nhóc ăn học.

“Mẹ già như chuối chín cây. Gió đưa mẹ rụng con rày mồ côi.”

Câu hát ru đó đã theo ba suốt thời quần xanh áo trắng, qua dấu lửa binh, xuống tàu vượt Thái Bình Dương; rồi đất lạ quê người. Ba chắc rằng câu hát ru đó sẽ còn theo ba mãi, cho đến khi ba về với nội.

Bây giờ nghĩ lại ngày ba còn thơ dại như con, đôi khi dửng dưng, vô tình làm má buồn, ba khổ giống như những gì con đã và đang làm đối với ba má bây giờ. Ba đã hối hận biết bao khi má mình không còn nữa. Có nụ cười nào rạng rỡ hơn khi má mình thấy mình lẫm đẫm tập đi, bập bẹ tập nói. Có tiếng khóc nào chua xót hơn , đèn đêm đối bóng khi má mình biết mình trốn học, rong chơi.

Làm được gì bây giờ nữa hở con? Có chăng chỉ là một đóa hoa màu trăng trắng, cài lên ngực áo, trong mùa lể Vu Lan, như thầm nói với đời rằng: mất má rồi đời chỉ là một dải khăn tang.

Ai cũng thích đi chơi hết. Đi chơi vui lắm. Người ta thường bảo sân nhà hàng xóm cỏ chắc xanh hơn.  Nhưng Tèo con ơi! luống hoa hồng vườn Botany sao đẹp bằng luống rau má con trồng bên hè nhà mình ở. Con Bulldog nhà hàng xóm sao bằng con Mực nhà ta. Mac Donald sao ngon bằng dĩa cơm tấm tình quê. Lẩu nhà hàng Tàu sao ngon bằng nồi canh chua má nấu. Con trách sao con tên Tèo. Cái tên gợi nhớ quê nghèo đã xa. Cái tên Tony sao bằng cái tên Tèo yêu dấu của đồng chua nước mặn; của những dải bần xanh.

Có thể con cho ba là lạc hậu, là bảo thủ, là xưa rồi. Nhưng ba tin rằng có những điều chưa sáng tỏ bây giờ sẽ hoàn toàn đúng trong mươi năm nữa khi con ngồi nghĩ lại.

Ngày mình đi Cần Thơ chìm trong tối. Ngày con về chốn cũ chắc bình minh. Má là quê hương. Quê hương là má. Quê hương con còn có thể tìm lại được; chớ mất ba má rồi thì thôi đã hết trông mong.

“Má ơi chim vịt chết chìm. Thò tay vớt nó con cá lìm kìm cắn tay.”

Mười năm, hai mươi năm nữa biết con còn có má để mà kêu mà réo nữa hay không?

Thư bất tận ngôn.

Ba Tèo.

Có răng hay không răng (mô)?

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 30/05/2019 

Post by Sơn râu 13 Sep 2026

Hắn đè vợ tôi ra đòi xeo-phì. Áp má xong lại đòi hun miếng. Hắn có hai lý do chính đáng: Một, mới bóc tem cái iPhone X. Hai, mai đã là ngày Mẹ. Lý do không chính đáng khác là: Để con đăng lên phây, tỏ bày chút tâm trạng.

Tôi nghĩ bụng: Có thương thì để trong ruột chơ việc chi phải rình rang “bày hàng” giữa thế giới ảo rứa bây? Vợ tôi nói: Ngày xưa khi chưa đẻ mi, muốn hôn hít bậy bạ với ba mi, bốn mắt phải nhìn trước ngó sau coi thử có ai dòm lén không, tốt nhứt là tìm nơi vắng vẻ; dại khờ mà, mô có khôn lanh tìm tới chốn lao xao.
Hắn săm soi cái điện thoại giá mắc phỏng tay: Mạ quê mùa lắm. Con hun mạ là việc rất mực bình thường, cho dù trong thang máy có cài đặt caméra thì chuyện cũng đâu có gì ầm ĩ để mang ra dư luận đòi phạt tiền kiếm chút cháo.

Vợ ngó tôi khi nói: Đã cáo chung thời thơ mộng rồi, chừ tra có hột, da hết năng rồi, làm rứa thấy dị òm. Người ta săn ảnh thường họ chỉ chụp hoa tươi, có ai đi thu hình cái bông héo mô nà?

Tôi nghe rõ tiếng hắn thở dài: Lôi thôi ghê nơi, rắc rối hung. Ba Mạ chỉ được tài chẻ sợi tóc làm tư, có ít xít cho nhiều. Được rồi, trước khi úp ảnh hai mạ con lên, con sẽ nương nhờ vô kỹ thuật photoshop. Mạ không chon giòn ngó ngon lành quyết không lấy tiền. Ba có ngứa mắt dòm thấy ắt cũng động lòng đòi hun chục miếng.

Thằng con tôi có ba tên gọi cả thảy. Một là do tôi mượn chữ trong cuốn từ điển Hán Nôm mang nhiều ý nghĩa để làm khai sinh. Hai là khi đến trường, để dễ gọi tên, người ta kêu hắn bằng tiếng Tây tiếng u kiểu không Rắc thì Răng. Ba là khi chơi facebook, hắn tự đẻ ra một ám danh, kêu bằng không đụng hàng. Đơn giản không ưa, cứ thích búi xờm xờm. Ngoài đời bạn bè chẳng có mấy hột, từ khi gia nhập vô chốn “tứ hải giai huynh đệ” mông muội kia, hắn giao du tới cả 500 bằng hữu. Một con số khủng. Đông chi đông vô hậu! Chừng đó điểm danh cho đủ số để sắp hàng xuống đường đi biểu tình thì e lung lay cả một huyện đường, lệch nghiêng một góc phố.

Vợ tôi cũng rứa, xêm xêm, cá mè một lứa, con nào mạ nấy. Mạ với con như face với book, thôi như cơm với cá. Nghiện. Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, chăm bù đầu vô màn hình tối mắt tắt đèn. Vợ phán: Thời buổi ni có ai lạc hậu như eng, cứ ru rú bầu bạn với giấy trắng mực đen, cứ thầm thà thậm thụt với một nỗi lòng câm nín. Tôi muốn làm thinh cũng không đặng, một sự nhịn chưa chắc đã đủ chín sự lành, đành phân bua: Dùng chữ lạc hậu là sai hoàn toàn. Trong nhà đã có em và thằng Cu siêng xông xáo vào chốn lao xao xét cũng đủ khôn rồi thì xin dành một chữ dại anh mang khi ngồi với vắng tẻ. Hạnh phúc thay cho đứa dại khờ! Ông trời sẽ độ nó, một mai. Nghĩ “dở hơi” tôi chêm thêm cục gạch, thọc gậy bánh xe: Tui mới xem được hình biếm hoạ trong tờ nhật báo, vẽ căn phòng ở nhà quàn: Một cái hòm, hai hàng ghế trống, một bà ngồi lau nước mắt, hai kẻ đứng ở cửa quan sát, một kẻ nói: Khi sống, người nằm chết đó kết giao gần năm trăm bạn bè, ba hôm rồi, sắp mang vào lò hoả thiêu chỉ có một người đến thăm!

Vợ làm thinh, tuồng nghĩ ngợi chuyện gì. Bắt chước thằng con, tôi cũng thè thẹ tìm nơi vắng vẻ đặng an thân. Mới đây, nhân đọc bài thơ “Lăng-xê vào” của tác giả Hoàng Xuân Sơn tôi mới biết chữ Pha-xê-bốc nghĩa là gì. Khúc côi là:

tôi vào pha-xê-bốc
bốc ra một dúm chữ thối
từ triều cường những con lũ dịch vật.

Tới đoạn trữa:

vào pha-xê-bốc nghía đủ thứ
em phê một hàm răng
cắn ảnh từ triều đại cải mả
hít hà chiếc mũi chun
có những luống đất không chịu bừa tích sản
lệt bệt hàng rào.
…

Tận cùng bài thơ, đạp đổ hết hàng rào, phía đưới, nhà thơ có mần cái hoa thị đả thông từ pha-xê-bốc: “Facebook, Anh ngữ tồi thời Việt chớn”.

A, lạ hè! Lạ hung. Cà chớn thiệt! Răng lởm chởm hai hàm lại nói không răng mô (mà sợ). Trước, tôi biết có địa danh mang tên Ban Mê Thuột, bây chừ ngờ ngợ dòm thấy chữ Buôn Ma Thuột. Trước, tôi yêu đội banh “cơn lốc màu da cam” của Hoà Lan, giờ đọc báo trong nước loan tin: Hà Lan có khu đèn đỏ cực nổi tiếng. Họ cũng tưng bừng phô trương hàng loạt ảnh chụp cổ động viên “đi bão” với cờ xí, khẩu hiệu “Việt Nam Vô Địch” (Vô địch hồi mô rứa?). Tôi kêu đá banh, họ gọi bóng đá. Và họ cắt nghĩa bóng đá là bộ môn thể thao vua, hay nhất hành tinh. Họ sẵn sàng “phá lưới” ở tất cả các bộ môn khác. Ở Huế, vì coi Đồng Khánh là thằng vua phản động, lãnh đạo bèn đục xi-măng bảng tên trường để đắp lên chữ khác: Hai Bà Trưng. Mấy mệ từng học ở ngôi trường cũ chẳng một ai buồn thắt ruột để trào máu họng. Kệ cha mệ nội. Không răng mô! Sài Gòn còn bị đổi tên sá chi chốn hiu hắt đèn mờ tỉnh lẻ. Chẳng một ai cải đổi lời thơ Bùi Giáng: Thưa em phố Huế bây giờ, Gục đầu núi Ngự khóc ròng sông Hương.

Ngoài nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, tôi cũng “mặn” nhà thơ Trần Vấn Lệ, học hỏi thêm đôi điều ở cái chú thích nằm dưới một bài thơ của thi nhân: “Năm 1802, lên ngôi, vua Gia Long đặt quốc hiệu là Nam Việt (chữ Việt bộ Mễ/ no đủ). Nhà Thanh suy nghĩ tới 3 năm, 1804 bắt phải đổi ngược thành Việt Nam (chữ Việt bộ Tẩu/ chạy trốn, vượt đi). Năm 1920, vua Minh Mạng đổi lại thành Đại Nam. Từ 1945, chấm dứt triều Nguyễn, Hồ Chí Minh cướp chính quyền dựng ra nước mới với tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Năm 1976, Lê Duẩn đổi thành Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Có răng nhà thơ Trần Vấn Lệ mới tức cảnh sinh tình ra cách nớ. Tên một nước mà cũng truân chuyên đổi dời, số phận người dân nước nọ suốt đời e cũng chịu cảnh nổi trôi. Quan trọng hơn, tên nước là do người Tàu đặt cho, giống nòi con rồng cháu tiên cứ thế mà an phận thủ thường, nghe luống những ngậm ngùi! Thôi thì cứ “thống nhất” một từ ấn tượng nghe hiện đại kiểu pha-xê-bốc: Ma-dzê-in-Vietnam. Đừng cười. Cười hở mười cái răng!

Răng hô, răng cải mả mà chẳng biết ngượng. Cự ly. Khẩn trương. Khuyến mãi. Tiếp thị. Sự cố. Cực chuẩn. Ùn tắc. Công đoạn… Cả nạm chữ lạ ấy không do Trung quốc bày vẽ là gì? Có tâm tư không?

Thời buổi thông tin đại chúng như này quả có lợi hại, vợ tôi từ khi chơi facebook tâm tình có biến chuyển, đổi thay. O cựu nữ sinh Đồng Khánh một mực ngậm miệng hến, khung chịu môi hở răng lạnh mà giờ ni mang chứng bệnh lèm bèm, ưa bắt bẻ, ưa nói thánh nói tướng, ưa lý sự, ưa triết lý vụn vặt và rất vui lòng khi thấy thằng con đưa bóng hình lên khoe cho bạn bè xa, hoả tiễn bắn ba ngày cũng không tới. “Nàng” cóp nhặt chuyện chó cán xe trong phây mang ra kể cho tôi nghe, đầy hăm doạ: “Đàn ông càng lớn tuổi càng giàu và sở hữu nhiều của quý: Bạc trên đầu, vàng trong răng, đá hiếm trong thận, bất động sản ở trong quần”.

Để đáp trả tấm thạnh tình của người đồng sàng dị mộng, tôi kể cho “nàng” nghe chuyện tiếu lâm: “Trước khi ra về, bác sĩ giật áo người đàn bà nhắc lại: Chị phải theo dõi anh ấy, nên uống một viên, nửa giờ trước khi hành động, xem kết quả thế nào. Về nhà, bà vợ trao cho chồng viên thuốc thần diệu. Ông già dùng dao cắt làm đôi và chỉ uống có nửa viên. – Ông làm cái gì thế? Bác sĩ dặn muốn đánh đấm cho ra trò thì phải xơi đúng một viên cơ mà. -Bà nghĩ tới đâu rồi? Tôi lại xin toa mua thuốc chỉ nhằm tránh ướt bàn chân khi đi đái thôi mà”.

Thằng con đi cày về, bộ phong tróc ảnh, ba chớp ba nháy, cà rịch cà tàng, xớn xa xớn xác: Cỡ như mạ mô đã tra, còn dư sức đẻ đái mà, đúng hôn? Bị dưới bức ảnh con đăng lên có mấy chục cái like cái love, bà con tha hồ bức xúc: Má của bồ đó hở? Hỏng tin đâu nha. Nếu đó là cả một sự thật thì cho tớ hỏi thăm “chị” ấy nhé. Bồ có em gái nào không? Up ảnh lên cho tớ tương tư với, he he he…

Pha-xê-bốc. Nghĩ mà ứa gan với mạ con bây! Sai quy trình, chả tâm tư một ly ông cụ!

Hồ Đình Nghiêm

Mme Nhu – Trần Lệ Xuân – Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 13 Sep 2026

Gia đình ông bà Nhu đã dọn vào Dinh Độc Lập vào tháng Tư năm 1955, nhưng không có bà Nhu vì bà hiện vẫn đang ở Hồng Kông. Bà Nhu sống khá thoải mái. Bà được trao một căn phòng trong nữ tu viện Công giáo, có khá nhiều thời gian để trầm tư mặc tưởng và học tiếng Anh. Môi trường lai đã quen thuộc với bà. Hồng Kông là sự kết hợp giữa Trung Quốc và Anh Quốc, và mặc dù bà đã quen với một sự trộn lẫn văn hóa khác, Việt và Pháp, sự pha trộn Đông – Tây vẫn tạo cảm giác thân quen và dễ chịu. Các sơ ân cần, cũng như các em học sinh dễ thương ngoan ngoãn mỗi khi xếp hàng vào lớp và ra khỏi lớp đều dành một nụ cười bẽn lẽn cho vị khách thanh lịch đứng giữa chúng. Bà Nhu dành buổi sáng học tiếng Anh và đi bộ loanh quanh những khoảnh hoa hình ô van trong khu vườn của tu viện. Những buổi chiều của bà trôi qua một cách chậm chạp hơn với những giấc ngủ ngắn và việc đọc sách. Bà Nhu sử dụng những giờ tĩnh lặng xa gia đình để suy ngẫm về những việc làm của bà trong sáu tháng đã qua. Những gì mà bà đã xoay xở để đạt được quả thật là một kỳ công! Cuộc mít tinh đã bùng nổ thành một làn sóng ủng hộ thật sự dành cho ông Diệm. Sự thể hiện táo bạo là điều mà bà Nhu biết mình có thể làm, nhưng với người khác, đó là một điều đáng ngạc nhiên. Mặc dù có lẽ với ý định quở phạt, theo cách nghĩ của bà Nhu, sự trục xuất qua Hồng Kông này chứng minh rằng sức ảnh hưởng của bà đã được nhận ra.

Có lẽ ông Nhu và ba người con dọn vào Dinh trong thời gian vợ ông vắng mặt là vì ông muốn gần gũi với anh trai hơn, hoặc có lẽ ông hy vọng điều đó sẽ giữ cho gia đình ông an toàn. Nếu vậy ông đã lầm. Trong những đêm đầu tiên của họ ở ngôi nhà mới, một cuộc tấn công giữa đêm của băng Bình Xuyên vào dinh phủ đã đánh bật đôi bức rèm đổ sộ từ những cửa sổ mái trên tầng hai. Một mớ bùng nhùng những vải, lụa, gỗ, và vữa tường đã từ độ cao ba mét rơi xuống bé Quỳnh, con trai ba tuổi của ông Nhu. Nó gần như chết ngạt trước khi được cứu thoát và hồi tỉnh.

Bà Nhu kinh hãi khi nhận được tin tức. Nhưng chẳng những không coi tai nạn xém chết người như một điềm họa sắp xảy đến, bà xem việc gia đình dọn vào Dinh ở là một bước tiến. Họ đã dọn từ những ô cửa sổ có chấn song và mái tôn của Bệnh viện Saint Pierre vốn kêu lộp độp mỗi khi trời mưa vào một dãy phòng nằm ở cuối đại sảnh dẫn đến phòng của vị Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.

Trước khi ông Diệm dọn vào và đổi tên thành Dinh Độc Lập, tòa nhà trát vữa vàng đã được gọi là Palais Norodom, đặt theo tên quốc vương Campuchia láng giềng và xây trên một đại lộ cùng tên. Dinh được dùng làm văn phòng và nơi ở của vị toàn quyền Pháp ở Đông Dương – một dạng Nhà Trắng thực dân Pháp. Được thiết kế bởi kiến trúc sư người Pháp Achille Antoine Hermitte, người đã xây dựng tòa thị chính vương giả của Hồng Kông, vẻ hùng vĩ của nó có ý chứng tỏ với người bản xứ quyền lực và sự giàu có vô cùng của Pháp quốc. Đá granite lát nền Dinh đã được nhập khẩu từ Pháp, cũng như những khối đá trắng mượt để chạm trổ những hoa văn trang trí mặt tiền. Chỉ những mặt nền ở gian trung tâm là bằng đá cẩm thạch; phần còn lại được lát gạch vuông, một sự nhượng bộ với khí hậu nhiệt đới của Sài Gòn. Dinh có hình chữ T, với hai dãy cửa sổ vòm cong thanh nhã dọc theo mặt trước, nhìn ra thành phố. Ở tầng một là những văn phòng và phòng tiếp tân chính thức; tầng hai là nơi ở của ngài Tổng thống và những căn phòng của gia đình ông Nhu. Phòng tiếp tân lớn và những phòng khiêu vũ liển kề nhau làm thành chân hình chữ T và nhô ra mảnh vườn cây lá sum suê.

Khi bà Nhu trở lại, bà thấy một căn phòng mà bà rất đỗi ưa thích: những bức rèm nặng trĩu đã được lắp lại và chăn gối trên giường làm từ lông vũ, ga trải giường bằng lụa với một tấm màn trướng lớn, thảm trải sàn đẹp. Đồ đạc cực kỳ bóng loáng. Một đội quân giúp việc nhà sẵn sàng túc trực để đánh bóng lại ngay khi nó bị ố bẩn. Bà Nhu có thể mở toang những cánh cửa kiểu Pháp nhìn ra ban công rộng vào buổi sáng sớm để hít thở làn gió nhẹ. Mùi đồ ăn cay không còn suốt ngày vương vất qua cửa sổ như trước đây trong căn hộ ở ngang mặt đường của họ. Mùi dầu rán và gừng, thịt và tỏi ở lại trong nhà bếp, chỉ bay ra từ những chiếc đĩa đầy ắp được phục vụ trong phòng ăn vào giờ ăn. Bà Nhu hiểu rằng tất cả những điều này là do một cái gật đầu của ông Diệm, anh chồng bà, thừa nhận những đóng góp của vợ chồng bà.

Nhưng bà Nhu không thấy hạnh phúc trong Dinh. Chí ít là ban đầu. Bà đang tìm kiếm ý nghĩa chân chính trong đời mình, và bà phải mất một thời gian trước khi nhìn thấy một bước tiến rõ ràng.

Trong vài năm đầu ở Dinh, Ngô Đình Diệm và chế độ gia đình trị của ông đã làm được rất nhiều việc. Một triệu dân lánh nạn đã được an cư ở miền Nam. Sản lượng gạo đã tăng từ 2,8 lên tới 4,6 triệu tấn. Sản lượng cao su tăng từ 66.000 lên 79.000 tấn. Những chương trình tín dụng nông nghiệp và cải cách điền địa đã phá bỏ những đồn điền thời thực dân, giúp người dân đầu tư công sức vào đồng ruộng của mình và nỗ lực đa dạng hóa cầy trồng. Ba quốc lộ quan trọng đã được hoàn thành, hai trường đại học mới được thành lập, và sản lượng điện năng tảng gấp đôi đã đẩy nhanh tốc độ tái thiết cần kíp sau chín năm chiến tranh giành độc lập. Năm mươi mốt xí nghiệp sản xuất mới đã được xây dựng, nhiều nhất là trong ngành dệt, ngành mà người Pháp đã luôn luôn kiểm soát. Chi phí nhập khẩu của miền Nam Việt Nam đã giảm hơn 40 triệu Mỹ kim một năm, số tiền đáng kể với một quốc gia hãy còn rất nghèo. Nhưng tất cả những thành tựu này đã đạt được dưới sự che chở của viện trợ Hoa Kỳ – lên tới 150 triệu Mỹ kim mỗi năm trong năm năm, từ 1955 đến 1960. Con số này nghe có vẻ nhỏ nếu tính theo thời giá đô la hiện nay, nhưng đó là gấn 15 phần trăm ngân sách viện trợ của Hoa Kỳ cho việc phát triển kinh tế và kỹ thuật của tất cả các quốc gia. 1

Tin tức từ Sài Gòn đặc biệt đáng khích lệ khi so sánh với những thông tin ảm đạm có thể thu thập được về điều kiện sống dưới chế độ Cộng sản ở miền Bắc, vốn chịu đựng lũ lụt và đói kém triền miên. Lối khoa trương đậm nét dân tộc chủ nghĩa của Việt Minh đã quay ngoắt về phía tả sau Hiệp định Genève, phần nào vì Hà Nội đang nhận sự giúp đỡ từ Trung Hoa của Mao. Nhưng sự chuyển biến này bao nhiêu phần do áp lực từ Trung Hoa và bao nhiêu phần do khả năng lãnh đạo của Việt Minh để cuối cùng nó đã rũ bỏ mọi sự vờ vịt rằng nó là cái gì khác hơn một Đảng Cộng sản trong thực chất? Để củng cố quyền hành, những người Cộng sản phải đập tan quyền lực truyền thống của tầng lớp cai trị. Những chiến dịch “đấu tố’ để thanh trừng khỏi hàng ngũ Việt Minh mọi thành phần “xấu” (tức giai cấp thượng lưu). Dân chúng được yêu cầu tố giác những hàng xóm, thậm chí các thành viên gia đình, và tình hình này đã dễ dàng bị lợi dụng cho những trò trả thù. Có những vụ xét xử, hành quyết và một chương trình tái phân phối ruộng đất gây đổ vỡ tan hoang. Không giống với những khoảnh đất rộng lớn ở miền Nam, ruộng đồng ở miền Bắc tương đối nhỏ hẹp. Ruộng đất được đo theo đơn vị gọi là mẫu – Ở miền Nam một người phải có năm mươi mẫu để được coi là địa chủ trong khi ở miền Bắc thì chỉ cần năm. Mức độ chênh lệch giữa người thuộc giai cấp này với giai cấp khác rất nhỏ bé, điều đó làm cho sự phân phối lại đất đai trở thành chuyện đau đầu ngay cả với những điển chủ quy mô nhỏ. Nó cũng khiến cho những người hàng xóm quay ra chống đối nhau; người ta tìm cách hãm hại lẫn nhau vì những mối lợi nhỏ nhất.

Nhưng với tất cả những diễn văn say sưa của mình, ông Diệm cũng không lãnh đạo một quốc gia tự do. Bất kỳ cái gì giống với một nền dân chủ đích thực đơn giản chỉ là vẻ ngoài lòe loẹt giả dối. Theo những điều khoản của Hiệp định Genève năm 1954, sự phân chia Việt Nam thành hai quốc gia Nam – Bắc với các thủ đô lần lượt là Sài Gòn và Hà Nội chỉ là tạm thời. Một cuộc Tổng Tuyển cử được dự định sẽ diễn ra vào năm 1956 ở cả hai miền đất nước để tái thống nhất chúng dưới sự lãnh đạo của một Tổng thống được chọn. Nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm đã từ chối tổ chức Tổng tuyển cử với lý do rằng chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm đã không thật sự ký vào Hiệp định Genève; họ đã chỉ được ban cho một địa vị quan sát viên, chế độ ông Diệm cũng cáo buộc rằng những người Cộng sản không có khả năng tham gia một cuộc bầu cử trung thực. Không chỉ có những người miền Bắc sống dưới chế độ Cộng sản đối mặt với vấn đề này; miền Nam vẫn là nơi ở của những du kích quân có vũ trang, cựu Việt Minh, những người Cộng sản trung thành và rút vào bí mật, chờ thời cơ để lại trỗi dậy. Chế độ miền Nam có một lý do tốt hơn nữa để không tổ chức bầu cử: Ông Diệm sẽ thua. Ông không cách gì có thể thắng được người đã dẫn dắt quân đội Việt Nam đánh bại người Pháp và đi đến nền độc lập. Hồ Chí Minh sẽ chiến thắng mọi cuộc tranh chấp về lòng mến mộ.

Vào tháng Mười năm 1955, ông Nhu đã giúp tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý ở miền Nam Việt Nam cho ông Diệm để truất phế cựu vương Bảo Đại mãi mãi. Trong một chiến thắng long trời lở đất, ông Diệm đã trút bỏ lớp vỏ bọc của mình như là Thủ tướng được Bảo Đại bổ nhiệm và trở thành quốc trưởng chính thức và Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa. Sự chênh lệch hoàn toàn áp đảo – gần 6 triệu so với 63.000. Các báo cáo rò rỉ từ những điểm bỏ phiếu tiết lộ những thủ đoạn đe dọa và áp bức. Những phong bì đỏ, biểu thị một lá phiếu cho ông Diệm, đã được lèn vào những thùng phiếu dưới cặp mắt những người giám sát của ông Nhu, và những kẻ bất tuân có nguy cơ bị ăn đòn. Ồng Diệm được 98 phần trăm số phiếu, nhưng chiến thắng ở Sài Gòn của ông thậm chí còn gây sốc hơn: con số 605.025 phiếu của ông vượt qua số cử tri được đăng ký của thành phố đến hơn một phần ba. 2

Bà Nhu đã được bầu vào Quốc hội vào ngày 4 tháng Ba năm 1956. Bà cùng với 122 thành viên khác, hầu hết là nam giới, nằm trong cơ quan lập pháp của chính quyền mới. Bà Nhu phủ nhận việc chạy đua vào chức vụ này là ý của bà, khăng khăng rằng một người nặc danh đã đề cử tên bà để đại diện cho những nạn dân miền Bắc mà bà đã bênh vực một cách “anh hùng”, và bà chế giễu cái ý tưởng rằng bất kỳ cái gì khác ngoài niềm cảm phục thật sự đã thúc đẩy việc bầu cho bà. 3 Tuy vậy, có một kiểu mẫu dễ nhận thấy đến mức khó chối cãi. Những người nắm quyền kiểm soát Việt Nam Cộng hòa hoặc là thành viên gia đình họ Ngô hoặc có quan hệ với họ qua hôn nhân.

Cha của bà Nhu, Trần Văn Chương, được giao phụ trách lĩnh vực kinh tế và tài chính; sau đó ông và vợ được bổ nhiệm làm nhà ngoại giao và được phái đến Hoa Kỳ. Ông Chương là đại sứ Việt Nam Cộng hòa của chế độ ông Diệm, trong khi bà Chương là quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc của Việt Nam Cộng hòa. Chú của bà Nhu phụ trách đối ngoại, em họ của cha bà làm Phó Tổng thống của ông Diệm, và chồng của chị gái bà, Nguyễn Văn Châu, là một trong những cố vấn được tín cẩn nhất của ông Diệm trong một thời gian. Thanh thế mới của bà Nhu thậm chí đã đảm bảo một chiếc ghế cho em trai của bà, ông Khiêm. Em trai bà đã được nuông chiều, bao bọc và hư hỏng trong thời niên thiếu, và có lẽ vì vậy, ông đã là một sinh viên hải ngoại rất tệ. Ông theo học một trường ở Paris trong một thời gian nhưng bỏ học trước khi lấy bằng, sau đó cũng không hoàn tất nổi các lớp hàm thụ về ngành luật. Khi người Pháp rời khỏi Việt Nam năm 1954, ông Khiêm đang có một cuộc sống phóng túng du thủ du thực ở một vùng duyên hải Algerie cùng một người vợ Đức. Sự đời thật tréo ngoe lắm nỗi: Đứa con trai mà ông bà Chương luôn nâng niu ấp ủ trở thành một nỗi thất vọng đến vậy, và người chị giữa của ông có lẽ là người đã làm xoay chuyển tình thế bằng cách gọi ông trở về Việt Nam và bổ nhiệm làm phát ngôn viên của Dinh Tổng thống. Khi vị tân Đệ nhất Phu nhân Việt Nam Cộng hòa vẫy tay, ông Khiêm chạy đến mau chóng, bỏ lại người vợ của mình phía sau. Việc xoay xở được một điều mà ngay cả mẹ cũng không thể làm ắt hẳn đã khiến bà Nhu rất lấy làm thỏa mãn.

Bên cạnh bản chất gia đình trị, chế độ họ Ngô còn phân biệt đối xử với những người không Công giáo. Thành kiến này có thể được giải thích hợp lý từ bối cảnh của những năm tháng tuổi trẻ – cộng đồng Thiên Chúa giáo đã cung cấp cho ông Diệm và Nhu một khối cử tri chống Cộng nhiệt thành – nhưng anh em họ Ngô đã đẩy nó đi tới chỗ cực đoan. Có những câu chuyện về những người cải sang đạo Công giáo chỉ để tranh thủ sự ủng hộ chính trị và được thăng tiến. Rào giậu xung quanh với các thành viên gia đình và những tín đồ Công giáo cùng khuynh hướng đồng nghĩa với chế độ này đang tự cách ly nó khỏi những người có quan điểm thật sự khác biệt. Nhưng đời sống chính trị ở Việt Nam luôn là như vậy ở một chừng mực nào đó. Nhiều thế kỷ trải qua nền quân chủ Việt và sự cai trị của thực dân Pháp đã để lại một di sản chính trị coi trọng sự tuân phục, và dưới thời Diệm, sự trung thành triệt để với một tư duy độc nhất càng được củng cố. Có một ý thức đã hằn sâu giữa những chính trị gia rằng sự bất đồng hoặc xa rời nguyên trạng, thậm chí là việc áp dụng sáng kiến, đưa đến rủi ro cho sự nghiệp. Những cố vấn Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã gây áp lực với Diệm để mở cửa chính quyền của ông và tạo ra một môi trường đa nguyên chính trị, nhưng Diệm đã cự tuyệt. Có quá nhiều thứ để đánh mất. Cuộc hành trình đến với nền dân chủ sẽ là một hành trình bắt buộc và câm lặng. Chế độ nói nó cần sự ổn định trước khi nó có thể xây dựng một nhà nước mạnh mẽ. Bà Nhu đã biện luận những khuynh hướng hẹp hòi của nhà họ Ngô với ký giả người Úc Denis Warner, khi giải thích, “Nếu chúng tôi mở toang cửa sổ, không chỉ có ánh mặt trời, mà nhiều thứ tồi tệ cũng sẽ bay vào”.

Một sự bất dung hòa đích thực sớm đã nổi bật lên giữa hình ảnh ông Diệm như một con người đạo đức chính trực và bầu không khí sợ hãi đã bắt đầu tràn ngập khắp Sài Gòn. Những người không hợp tác với chế độ đã bị bịt miệng bằng cách này hay cách khác. Họ có thể bị gởi đi xa, tới những vùng thân Cộng sản xa xôi hẻo lánh, nơi họ có thể bị giết hại. Họ có thể bị cảnh sát chìm bắt bớ và đánh đập hoặc bị giam cầm đến khi đã học được bài học của mình. Những tin đồn về sự tra tấn và bỏ tù lan truyền khắp nơi. Người ta không ngớt thầm thì bàn tán về cái tên của em trai ông Diệm: Ngô Đình Nhu.

John Phạm, vệ sĩ của ông Diệm, xác nhận nhiều nét thánh thiện đã được mô tả trong tiểu sử của ông Diệm. Ngài Tổng thống có một cuộc sống khổ hạnh như thầy tu. Những căn phòng riêng của ông trên tầng hai tòa cổ Dinh của Pháp có sàn gỗ trơ trụi, và giường ngủ của ông là một chiếc đệm rơm. Chỗ ngủ của ông liền kề văn phòng, nơi ông trải qua hầu hết thời gian khi thức. Đồ đạc bao gồm một chiếc bàn cà phê tròn bằng gỗ và một chiếc ghế da mòn vẹt. Ông Diệm ăn tại bàn giấy trong khi làm việc qua những bữa sáng, trưa, và tối. Vào buổi sáng ông uống cà phê với đường và thường ăn cháo với cá kho (cá nhỏ). 4 Những bữa trưa và tối của ông cũng rất đơn giản, gồm cơm và rau cải, thịt heo ba chỉ rán, hoặc một loại cá nào đó. Để tráng miệng, ông dùng hai trái bắp với đường. Ồng Diệm có những sở thích giản dị; ông ăn gần như cùng một thực đơn trong mọi ngày với chỉ món cá thay đổi. Ông không uống rượu vang hay whisky, chỉ có trà nóng, nhưng ông hút thuốc liên tục, vừa tắt điếu này đã lại đốt điếu khác. Ông Diệm bập bập từng hơi ngắn và chờ cho tàn thuốc dài ra trước khi rảy vào gạt. Ông hút nhiều đến độ những ngón tay ám khói vàng ệch.

Ông Diệm ăn một mình trong hầu hết thời gian; những bữa ăn và giấc ngủ của ông rất thất thường vì giờ giấc làm việc của ông. Đôi khi ông nhịn ăn cho đến 4 giờ sáng. Từ chỗ của mình, ông có thể kéo một cái chuông để gọi nhà bếp. Hai hoặc ba người hầu được phân công túc trực suốt ngày đêm, nhưng ông luôn luôn rất rộng lượng với những người làm việc cho mình. John kể với tôi rằng ông Diệm thậm chí đã dùng tiền lương của mình cho các nạn dân để giúp họ ổn định cuộc sống.

Là người tận hiến cuộc đời cho quốc gia, ông Diệm không có thì giờ cho những mối quan hệ cá nhân bên ngoài gia đình mình. Ông là người đàn ông độc thân, nhưng từ này ngụ ý một lối sống thảnh thơi vô tư lự vốn hoàn toàn không có trong tính cách của ngài Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Sự quyến luyến cá nhân duy nhất của ông là với khu vườn. Sau khi làm việc, ông Diệm sẽ tản bộ qua những mảnh vườn tược của Dinh. Khi những chức sắc ngoại quốc thăm viếng, mang theo trái cây và những thứ cao lương mỹ vị như một món quà từ xứ sở họ, ông Diệm để dành phần ngon cho những vệ sĩ của mình; ông chỉ kêu họ đưa lại hạt để ông trồng chúng trong khu vườn của mình.

Người phụ nữ duy nhất ngài Tổng thống gặp gỡ thường xuyên sống cách ông có một vài cánh cửa: vợ em trai ông, bà Nhu. Có một tin đồn rằng khi còn trẻ, ông Diệm đã đính hôn với một cô gái ở quê nhà ngoài Huế nhưng mọi chuyện đã chấm dứt khi ông quyết định theo đuổi hoạt động chính trị thay vì cuộc sống gia đình. Chính trị là một trò chơi nguy hiểm dưới thời Pháp thuộc, nhưng đó dường như vẫn là một lý do kém thuyết phục để không lấy vợ. Chánh văn phòng của ông Diệm nghĩ rằng ngài Tổng thống chưa bao giờ có các mối quan hệ giới tính, và một bức tiểu sử sơ lược năm 1955 của ông Diệm trên tạp chí Time cho hay rằng ông đã “có lời thề sống trinh bạch từ lâu”. Sự mô tả tính cách ông Diệm là “nhút nhát” và “không thoải mái” khi ở với phụ nữ có thể đã xui khiến vị chánh văn phòng của ông tiết lộ rằng ngài Tổng thống thích giữ “những người đàn ông ưa nhìn xung quanh ông” thay vì phụ nữ. 5

Sự thật vẫn là ông Diệm cần một nữ gia chủ để giúp ông trong các nghĩa vụ xã giao, một người với sự duyên dáng trong giao tế và một nụ cười xinh xắn. Ông Diệm có thể đã lựa chọn một trong những em gái hoặc vợ của các anh hay em trai ông. Nhưng ông đã chọn bà Nhu.

Bà là người quan hệ rộng rãi, xinh đẹp, và thông minh, nhưng quan trọng hơn hết, bà đã có sẵn ở đó. Có lẽ bà Nhu đã luôn luôn dự định kết quả này. Vì gia đình ông bà Nhu đã sống trong Dinh, có vẻ như là điều khôn ngoan khi giữ cho vợ của em trai ông luôn bận rộn. Vị chánh văn phòng – người đã nhận xét rằng ông Diệm thích có những người đàn ông điển trai làm việc cho mình, đã mô tả mối quan hệ của ông Diệm với bà Nhu là khá thoải mái: “Bà duyên dáng, nói chuyện với ông, làm ông vơi bớt căng thẳng, tranh luận với ông, châm chọc ông và như một người vợ Việt Nam, bà quán xuyến mọi việc trong gia đình”. Ông ví mối quan hệ của Tổng thống Diệm với bà Nhu giống như giữa Hitler và Eva Braun vậy. 6

Vệ sĩ John Phạm không đồng ý. Ông kể với tôi rằng ông Diệm không hoàn toàn thích bà Nhu. Ông nghĩ cô em dâu của mình “trông như một quý cô nóng bỏng, quá huênh hoang”. Mọi điều về tính cách phô trương của bà đều trái ngược với bản tính trầm lặng của ông Diệm, nhưng ông vẫn kiên nhẫn chịu đựng bà. Ông nhận ra rằng ông mắc nợ cậu em Nhu về tính cách thực tế chính trị của ông – về việc làm những điều cần phải làm nhưng có thể phương hại tới những chuẩn mực đạo đức khắt khe của ông. Theo quan điểm của John Phạm, ông Diệm không nói toạc những gì không hay về bà Nhu vì ông không muốn gây phiền hà cho em trai mình.

John nhớ lại với một nụ cười về cái lần ông nhìn thấy ông Diệm không thể dằn lòng. Đó là vào tháng Mười năm 1956. Một tấm hình sắp sửa được chụp trước Dinh với tất cả những thành viên của chính phủ. Người thợ chụp ảnh đã mất nhiều thời gian để căn chỉnh mọi thứ đâu vào đó, vì bản thân sự sắp xếp những người đứng xung quanh Tổng thống là cả một sự thương lượng chính trị. Mọi thứ trong hoàn cảnh ngày hôm đó rất đỗi căng thẳng. Bà Nhu thấy mọi người bị xao lãng tâm trí và đã lợi dụng khoảnh khắc này. Bà rón rén đi lên tầng hai của Dinh và đứng vào một trong những ô cửa sổ, xoay xở làm sao để lọt được vào khung hình. Khi tấm hình được rửa và đưa cho vị Tổng thống xem, ông Diệm điên tiết.

Khi tôi hỏi liệu có phải bà ấy không xứng để được xuất hiện trong khung hình, John trông có vẻ bối rối. “Bà ấy luôn muốn quá nhiều, quá nhanh”, ông nói với một cái lắc đầu.

Mặc dù vẫn bị bủa vây bởi sự đấu đá chính trị và những thách thức từ băng Bình Xuyên và những giáo phái tôn giáo, ông Diệm và chế độ mới của ông là những cục cưng của thế giới chống cộng tự do. Hiểu theo nghĩa như vậy, họ có một thể diện ngoại giao rất cao để gìn giữ. Ở Dinh đã diễn ra những bữa tiệc tối và lễ tiếp tần bất tận, bao gồm những bữa tiệc chiêu đãi cấp nhà nước phức tạp dành cho các nhà ngoại giao đến viếng thăm. Những khoảnh vườn trong công viên đằng sau Dinh treo đèn kết hoa, và những lối đi lung linh bởi những lồng đèn giấy. Sau khi những vị khách mời đi hết con dốc đôi dẫn vào sảnh đường, bà Nhu chào đón họ với một nụ cười duyên dáng và chìa bàn tay đeo găng thon thả. Tiếng nhạc Việt truyền thống và những chiếc ly lanh canh họa theo khi bà sánh bước với ông Diệm quanh phòng, hòa lẫn vào giữa các thành viên của ngoại giao đoàn và dừng lại tán gẫu với các vị khách danh dự trước khi ngồi vào chiếc ghế bà chủ tiệc đầy thanh thế và cực kỳ nổi bật tại bàn ăn bài trí trang nhã.

Bà đã thực hiện ngay lập tức những bổn phận của một Đệ nhất Phu nhân, như mở những trường tiểu học mới, tổ chức những cuộc triển lãm hoa, và viếng thăm các trại mồ côi ở khắp miền Nam. Bà Nhu đã sắp xếp một bữa tiệc chiêu đãi khổng lồ tại Dinh cho hơn 1.000 học sinh và đi chu du khắp thế giới trong sứ mệnh ngoại giao. Tại một bữa tiệc tối dành cho gia đình Nhu ở Rangoon được chiêu đãi bởi Thủ tướng Miến Điện, bà đã tán gẫu với vợ của nhà lãnh đạo, bà U Nu, về niềm say mê các loài hoa. Khi bà Nhu đã sẵn sàng rời khỏi Rangoon trên một chuyên cơ không lực Việt Nam bay về lại Sài Gòn, họ nhìn thấy trên máy bay một món quà đặc biệt từ vị nữ chủ nhân: một cây hoa giấy Burma đang trổ nhiều hoa trắng dành cho bà Nhu để bà trồng trong vườn. 7 Ở Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, và Áo, bà được đại diện của những hội phụ nữ chào đón. Bà Nhu thậm chí đã bằng cách nào đó gợi cuộc trò chuyện với vị đại biểu Nga tại Liên minh Nghị viện Thế giới khi họ phát hiện từng ngồi gần nhau ở Brazil. Vì đại biểu người Nga, bà Lebedeva, là một phụ nữ chắc nịch được biết đến với cách xử sự lỗ mãng, nhưng bà Nhu đã cuốn hút bà ta vào một cuộc tranh luận ở Pháp về nhu cầu kinh tế của sự đầu tư nước ngoài. Và ở Washington, D.C, nhân một chuyến viếng thăm bán chính thức cùng chồng vào tháng Ba năm 1957, bà Nhu đã được mời ăn trưa ở Thượng viện. Bà quan sát những thượng nghị sĩ tranh giành nhau một chỗ ngồi tốt tại bàn và nhận xét với người ngồi sát bên về cái vẻ cực kỳ trẻ con của nghi thức bữa trưa này. Vị chính khách nghe được lời bình luận của bà và cười xòa là một thượng nghị sĩ trẻ từ Massachusetts, John F. Kennedy.

Nhân viên CIA hộ tống ông bà Nhu, người bạn cũ của họ, Paul Harwood, nhớ lại rằng bà Nhu đã gây một tì vết duy nhất trong một chuyến đi đáng ra đã rất thành công. Bà đã “chè chén say sưa” giữa bao cặp mắt chú ý của Allen Dulles và những nhân sĩ từ Bộ Ngoại giao và Quốc phòng trong một bữa tiệc tối chiêu đãi tại Cầu lạc bộ Alibi, một ngôi nhà gạch ba tầng cách Nhà Trắng vài khối nhà. Tư cách thành viên ở đây vẫn giới hạn trong thành phần tinh túy nhất – năm mươi người quyền lực nhất Washington – và những thành viên mới chỉ được nhận vào sau khi một thành viên cũ chết. Có lẽ bà Nhu đã say sưa quá trớn với thanh thế của mình, vì lẽ đó chồng bà đã không hài lòng với bà. Ông không vui với sự phô bày vẻ yêu kiều, duyên dáng, và sự thông thạo tiếng Anh của vợ. Bà đã là ngôi sao của buổi tối – và ông Nhu ắt hẳn đã coi đó là chuyện nhắm vào cá nhân ông. Theo quan điểm của Harwood, bà “không phải là vấn đề, mà là một chuyện giật gân”. 8

Ông Nhu có vẻ như đã nghiêng theo quan điểm của những người chỉ trích vợ mình. Những người không thích bà Nhu nói rằng bà đang lợi dụng sự xa lạ với phụ nữ của ông Diệm. Vậy thì còn căn cớ nào nữa để ông phải nghe bà? Bà có thể làm cho bộ ngực phập phồng vì xúc động. Bà có thể đá lông nheo. Ngôn ngữ thân thể của bà hiệu quả đối với ngài Tổng thống, họ nói, hơn cả một kho vũ khí. Bà có những phương chước khác tùy nghi sử dụng mà ông không biết phải đối phó cách nào, như những cơn hờn dỗi và vui giận thất thường. Đồng thời họ buộc tội bà lợi dụng sự nữ tính của mình như một thanh gươm bén, họ nói bà cũng có thể dùng nó như một chiếc khiên để đỡ gạt những luận điệu cho rằng bà mới là người đàn ông đích thực trong gia đình.

Bà Nhu đã học cách nhún vai coi khinh sự soi mói. Bà có những chuyện hay hơn để làm, thay vì lo lắng người khác nghĩ gì về bà. Bà đang dốc lòng tạo dựng cho mình một vai trò trong chính quyền, một vai trò hơn cả việc được phục vụ như một nữ chủ nhân xinh đẹp.

Những người Cộng sản ở Việt Nam đã tìm mọi cách khơi dậy ý thức chính trị nơi nữ giới, hứa hẹn với họ rằng họ có một mục đích và nhắc nhở họ về việc xã hội phong kiến cổ xưa, chưa nói đến xã hội thực dân, đã ngược đãi họ như thế nào. Họ cũng đã cho phụ nữ những công việc thật sự để làm. Sự nghiệp Cộng sản coi trọng sự đóng góp của họ và mở rộng lời hứa về sự bình đẳng – một lỗ hổng toang hoác trong những diễn văn khoa trương cách mạng của anh em họ Ngô. Những nữ cán bộ tin theo sự nghiệp Cộng sản đã vào ra các ngôi làng một cách dễ dàng, tuyên truyền giữa nơi họp chợ như thể họ chỉ đơn giản đang tán chuyện tấm phào với bạn bè hay đang mua đổ về cho bữa ăn gia đình. Trên thực tế họ đang kích hoạt một mạng lưới bộ binh. Những người phụ nữ này là chuỗi cung ứng của cái mà về sau sẽ trở thành Mặt trận Giải phóng Dân tộc. Học giả nghiên cứu về Việt Nam Douglas Pike đã hoàn toàn thể hiện sự kính trọng khi ông gọi những người phụ nữ này là “những con trâu của cuộc cách mạng”. 9

Bà Nhu đã quyết nhận trách nhiệm đua tranh với những sự tiến bộ mau lẹ mà những người Cộng sản đang thực hiện cho người phụ nữ. Nếu họ giải phóng phụ nữ, bà cũng sẽ làm vậy. Bà Nhu chỉ có một lý do duy nhất để tự coi mình là một chuyên gia về chủ đề này: bà cũng là một phụ nữ. Bà sẽ kêu gọi những người giống như mình chung tay hành động. Nhưng vấn đề của bà lại chính ở điểm này. Bà Nhu không bao giờ là một phụ nữ Việt Nam điển hình. Bà nói tiếng Pháp tại bàn ăn và dạo quanh thành phố trong một chiếc xe hơi có tài xế riêng. Chuyến đi bị cưỡng ép bởi người Cộng sản qua vùng nông thôn đã là một sự gian khổ ghê gớm đối với bà, nên bà đơn giản không thể sẻ chia những kinh nghiệm của những người phụ nữ đã gánh chịu quá nhiều nỗi bất công dưới chế độ thực dân và quá nhiều đau khổ trong những thập niên đói kém và chiến tranh trước đó.

Bà Nhu tuy vậy vẫn nỗ lực. Bà đã dùng cương vị đại biểu Quốc hội để hứa với “các chị em” rằng bà sẽ chăm sóc cho họ. Bà sẽ làm cho tiếng nói của họ được nghe thấy và bảo vệ họ. Vào tháng Mười năm 1957, bà Nhu đã đưa ra bộ luật Gia Đình. Khi có hiệu lực vào tháng Sáu năm 1958, nó đặt ra ngoài vòng pháp luật tục lệ đa thê và việc lấy vợ lẽ. Nó cũng cho phụ nữ quyền kiểm soát tài chính của họ sau hôn nhân; họ có thể mở tài khoản ngân hàng, sở hữu của cải, và thừa kế tài sản. Những tiếng càu nhàu từ một vài thượng nghị sĩ nam đồng nghiệp của bà Nhu là điều được chờ đợi. Họ nói những quyền mới này dành cho phụ nữ là quá nhiều và quá sớm. Sẽ có “sự chọn lọc lâu dài” tại nhiều điều khoản khác nhau của dự luật. Bà Nhu đã nêu giả thuyết là những vị nam đồng nghiệp của bà sở dĩ chống lại bộ luật này là vì họ muốn giữ lại những thê thiếp của mình, và có tin đồn rằng bà đã gọi vị Chủ tịch Quốc hội là “con lợn”. Có một lúc người ta đã đưa ra đề nghị trì hoãn bộ luật đã được đề xuất, nhưng không ai có khả năng chống đối bà Nhu đủ lâu. Khi bà khẩn khoản yêu cầu ông Diệm, ông dùng tư cách Tổng thống gây áp lực lên cơ quan lập pháp, và Luật Gia Đình đã được phê chuẩn với chỉ một đại biểu duy nhất chống lại. 10 Có vẻ như đại đa số dân chúng Việt Nam hoan nghênh một pháp chế cải thiện thân phận người phụ nữ trong Bộ luật – ngoại trừ một điều. Bộ luật của bà Nhu cũng cấm ly dị. Mục nhỏ này đã khiến cho toàn thể bộ luật bị nhiều người phê phán vì lẽ, như một người hóng chuyện ngồi lê đôi mách bất chợt nhất ở Sài Gòn biết rõ, bà Nhu có một câu chuyện riêng tư quan trọng trong vấn đề này.

Chị của bà Nhu, Lệ Chi, đã sống trong một cuộc hôn nhân không tình yêu.

Cha mẹ của bà đã lựa chọn Nguyễn Hữu Châu, một luật sư trẻ đang lên làm việc cho ông Chương ở Hà Nội, làm chồng bà. Đôi vợ chồng trẻ đã kết hôn năm mười bảy tuổi. Nhưng sự cộng tác với người Nhật của ông Chương đã đẩy sự nghiệp người con rể mới của ông vào nguy hiểm; để tồn tại về mặt nghề nghiệp, anh ta đã phải lẩn lút trong cảnh tăm tối. Phải chăng Lệ Chi đã bực bội với việc em gái bà đã có cuộc hôn nhân tốt hơn? Ông Nhu, nguyên là quản thủ thư viện, giờ đây là người điều hành quốc gia trên thực tế. Bà Nhu đã đảm bảo sao cho mọi họ hàng của bà đều có vị trí trong chính quyền mới. Ông Châu giờ đây đang cặm cụi soạn thảo luật pháp cho chế độ mới, tiếp nhận mệnh lệnh từ cô em gái của Lệ Chi. Thay cho lòng biết ơn vì chồng đã được chiếu cố, Lệ Chi cảm thấy phẫn nộ vì bà đã bị làm lu mờ. Có lẽ đó là lý do vì sao bà ít nỗ lực đến vậy trong việc giữ bí mật chuyện ngoại tình của mình.

Tình nhân của Lệ Chi là một người đàn ông Pháp, một thợ săn thú rừng tên Etienne Oggeri, người đã giết nhiều voi ở vùng cao nguyên Việt Nam để lấy ngà, cũng như là nhiều hổ và min, một loài bò rừng nặng nề ở Đông Nam Á. Ngay khi bắt đầu gặp người phương Tây, Lệ Chi đã thay đổi vẻ ngoài của mình. Bà dùng son môi sáng màu và đánh phấn mí mắt màu trắng để làm cho đôi mắt trông to hơn. Và thay vì vấn tóc theo mốt của những quý bà trong xã hội Sài Gòn, bà đã để xõa thành một mái tóc thẳng, dài, và mượt mà. Theo ý bà Nhu, đó là một hành xử đáng xấu hổ và không thể chấp nhận từ một người thân cận với Dinh Tổng thống đến như vậy.

Đài Catinat đã ngay lập tức khai thác câu chuyện. Đó không phải một đài phát thanh thật sự mà chỉ là cách nói giễu cợt về những trận huyên thuyên không ngớt lan truyền khắp Sài Gòn. Những lời đồn đãi rộ lên trong những nhà hàng và quán bar trên đường Catinat cũ; trong một chớp mắt chúng truyền sang nhiều đôi tai, đôi môi, khi những kẻ ngồi lê đôi mách di chuyển từ ghế này sang ghế khác trong quầy bar. Bà Nhu và gia đình bà là một đề tài được ưa thích. Có vẻ như mọi người đều đưa ý kiến về việc liệu bà Nhu có ngủ với ông Diệm không. Một số nêu giả thuyết rằng bà giống mẹ của mình hơn, chuyên mồi chài những người Mỹ mà hình như đã bất thình lình hiện diện khắp nơi. Họ chĩa vào số tiền viện trợ đang đổ vào những két bạc của Việt Nam Cộng hòa như là bằng chứng rằng những ân huệ xác thịt của bà được đền bù. Thậm chí còn có một câu chuyện rằng một vị tướng lãnh trẻ tuổi đã từng là một trong những nhân tình của bà Nhu đến khi vợ anh ta phát giác ra và bắn bà Nhu trúng cả hai cánh tay. Dường như không có ai bận tâm tới chuyện bà Nhu không hề có vết băng bó nào.

Thoạt đầu, Dinh Tổng thống đã cố gắng chặn đứng những chuyện ngồi lê đôi mách. Họ đăng những thông cáo trên báo chí và công khai phủ nhận mọi cáo buộc từ tham nhũng cho tới những mối tình tay ba. 11 Nhưng bà Nhu không thể làm ngừng lại những lời đồn đại. Bà than thở về điều đó với Charlie Mohr của tạp chí Time: “Nếu một người đàn ông được thăng chức và anh ta không quá xấu trai, người ta liền nói, ‘Một gã được bà Nhu che chở.'” Nhưng việc thanh minh cho từng lời đồn đoán dường như chỉ làm thổi bùng thêm ngọn lửa, vì vậy vợ chồng bà Nhu dừng lại. Bà Nhu tự dặn mình không quan tâm.

Nhưng mớ bòng bong với Lệ Chi là một vấn đề thực sự đối với bà Nhu. Bà có thể đã bớt lo lắng đi chút ít nếu chị bà không tuyên bố Etienne Oggeri không chỉ là một cuộc vui thoáng qua. Lệ Chi khẳng định ông ta là tình yêu của đời bà. Chồng bà, từng là một thành viên được trọng vọng trong nhóm giật dây của chính quyền, đã mất tất cả uy tín và lòng tự trọng; bị tước bỏ mọi ảnh hưởng, ông đã bị giáng cấp làm một công chức bình thường. 12 Giờ đây ông muốn một vụ ly dị, và điều đó đặt ra một mối đe dọa – ông Châu biết quá nhiều về những hoạt động trong đảng chính trị của ông Nhu, cách thức nó vận hành, và nó được tài trợ ra sao. Người ta kháo nhau lời đồn đoán rằng bà Nhu muốn cấm việc ly dị để ngăn ông Châu nói những điều có hại cho gia đình.

Tuy nhiên, công chúng không biết rằng cuộc hôn nhân của bà Nhu đang đến hồi rạn nứt. Với người bàng quan, vợ chồng bà Nhu là một cặp đôi quyền lực ghê gớm, nhưng nỗi thất vọng cá nhân của bà Nhu đã thấm đẫm những trang nhật ký mà bà bắt đầu viết từ năm 1959.

Tôi để ý tới quyển nhật ký vào tháng Tám năm 2012, khi James Văn Thạch, một đại úy về hưu của quân lực Hoa Kỳ, đã bắt liên lạc với tôi. Ông trạc tuổi tôi, sống ở Bronx, và đã tìm thấy tôi qua Google search. Giống như tôi, James quan tâm đến lịch sử chiến tranh Việt Nam, nhất là câu chuyện về bà Nhu.

Tôi đã hoài nghi khi James nói với tôi rằng anh có quyển nhật ký của bà Nhu. Việc một quyển nhật ký năm mươi tuổi giờ đây xuất hiện trong tay một cựu đại úy quân lực Hoa Kỳ ba mươi sáu tuổi ở New York có vẻ, chà, hơi lạ thường. Hơn nữa, bà chưa bao giờ đề cập về nó.

Tuy vậy tôi vẫn đến nhà song thân của James ở Queens. Đó là một ngôi nhà phố có mặt tiền phẳng với lớp vữa ngoài màu nâu khác lạ. Cơn bão Sandy đã quét qua vùng lân cận hai tuần trước nhưng chỉ làm thiệt hại có ba cây xanh ở đây. Những đám người vẫn đang ở ngoài trời dọn dẹp đống ngổn ngang. Cha của James ở đâu không thấy khi tôi bước vào cửa. Là một cựu quân nhân Mỹ, giờ đây ở tuổi bát tuần, ông đã có hai chuyến đi đến Việt Nam, nơi ông đã gặp mẹ của James. Bà trẻ hơn ông, chỉ mới qua tuổi sáu mươi. Bà thật sự đã bước cách quãng xuống những bậc tam cấp để gặp tôi nhưng rùng mình ớn lạnh khi gió luồn qua những khe hở chiếc áo len mỏng manh của bà. Bà cao hơn hầu hết phụ nữ Việt Nam một cái đầu, với mái tóc đen dài xõa xuống vai. Những móng tay của bà được sơn phết, và đôi môi cong, mềm mại như vẽ lại những đường nét bên dưới chiếc áo len dài tay. Hồi còn thiếu nữ, bà đã từng là một vận động viên nhảy cao trong đội Olympic Việt Nam Cộng hòa trước khi bà rời Việt Nam nám 1974. Bà đi vừa đúng lúc. Miền Nam đã thất thủ trước miền Bắc không đầy một năm sau khi bà ra đi, và phải mất một thập niên làm giấy tờ trước khi bà có thể bảo lãnh những thành viên khác trong gia đình và đưa họ rời đi.

James đã không, hoặc không thể, giải thích nhiều về việc làm thế nào anh có quyển nhật ký, nhưng nó có gì đó liên quan đến những thành viên trong gia đình đã phục vụ trong lực lượng cảnh sát Việt Nam Cộng hòa năm 1963. James lắc đầu, từ chối kể bất kỳ chi tiết chính xác nào hơn với tôi ngoài cầu “Tôi đã đến tuổi trưởng thành, và tôi có quyển nhật ký”. Tôi không chắc liệu là anh ta sợ đâm đầu vào rắc rối khi cho tôi biết nơi anh tìm được quyển nhật ký hay đó chỉ do căng thẳng mà thôi. James đã kể với tôi rằng việc có nó trong tay khiến anh bồn chồn bất an: “Cứ như thể tôi mang tấm bia mục tiêu trên lưng mình”. Anh không đọc được nó – nó viết bằng tiếng Pháp – nhưng anh hy vọng tôi sẽ cho anh biết những trang viết nói gì.

Tôi thật khó mà tưởng tượng được James có thể sợ sệt bất kỳ cái gì. Anh có một dáng dấp nhà binh mạnh mẽ, với chiều cao l,88m và cuồn cuộn cơ bắp, nhưng những lần bị thương ở Iraq và Afghanistan đã khiến anh bị tàn tật suốt đời. Anh bị hành hạ bởi những cơn đau nửa đầu và mất trí nhớ ngắn hạn do chấn thương sọ não, bị tổn thương dây thần kinh, và rối loạn căng thẳng sau sang chấn. Bất chấp những điều đó, James có vẻ tràn trề hy vọng vào tương lai. Những khoản tiền từ lương hưu và trợ cấp tàn tật sẽ được gởi đến hàng tháng và anh có thể xoay sở ổn thỏa. James lái chiếc xe tải Mercedes màu trắng và mang một chiếc cặp da Louis Vuitton bên tay không cầm gậy. Anh đưa mẹ đến một tiệm xoa bóp gần bên và đỏ mặt nói về một chuyến đi sắp tới về Việt Nam cùng dì anh để gặp gỡ một cô em họ xa: cô ấy chỉ mới mười bảy, nhưng những việc như thế này thế tất phải làm vì đó là cách thức truyền thống Việt Nam, anh giải thích.

James cho phép tôi xem lướt qua quyển nhật ký tại một quán cà phê Starbucks trên đại lộ Jamaica. Nó có cỡ chừng 13 X 18cm, kích cỡ hoàn hảo để đút nhanh vào ngăn kéo bàn sau khi ghi đôi dòng trong ngày và đủ nhỏ để nhét vào dải thắt lưng bộ đồng phục để đưa lén ra ngoài Dinh. Giấy cạc tông ố vàng do thời gian tạo thành bìa trước và bìa sau, được buộc lại bởi một băng vải mà mỗi lần lật sang trang mới liền như muốn rứt khỏi gáy sách. Nét chữ thảo nghiêng sang phải choán đầy ba trăm trang giấy bằng thứ mực viết máy màu nâu, mực bút bi xanh, và đôi chỗ là bút chì. Một vài mục trông như đã được viết bằng bút chì sáp đỏ, loại mà mẹ tôi dùng để đánh dấu đồ khâu vá của bà. Nhưng tất cả đều hoàn toàn khớp với nét chữ viết tay của bà Nhu. Để cho chắc, tôi đã kiểm tra chéo những thời điểm, nơi chốn nhất định mà tôi biết bà đã ở đó, những sự việc và những người mà tôi biết bà đã gặp. Ông Nhu, ông Diệm, và các con là những nhân vật chính trong câu chuyện của bà Nhu kể từ tháng Giêng năm 1959 cho đến mục cuối cùng vào tháng Sáu năm 1963. Quyển nhật ký này của bà, tôi chắc chắn.

Quyển nhật ký này ắt hẳn là nơi bà Nhu trút nỗi lòng mà không phải đối mặt với sự chỉ trích hoặc áp lực sống theo những kỳ vọng. Bà ắt hẳn đã ở vào thời kỳ đẹp nhất đời mình khi bà khởi sự quyển nhật ký như một Đệ nhất Phu nhân. Là người mẹ trẻ quyến rũ và xinh đẹp của ba đứa con, bà tìm thấy sự thoải mái trong hầu hết những sự việc thường nhật. Bà Nhu yêu những bộ phim Hollywood và tiểu thuyết Nga. Bà thích đi nghỉ lễ với các con ở miền biển và miền núi. Bà sợ bị già nua; bà sợ cuộc đời trôi qua lạnh lùng. Và trong những trang viết nguệch ngoạc, bà để lộ nỗi bất hạnh của cuộc sống làm vợ ông Nhu.

Bà Nhu đã hy vọng những vấn đề hôn nhân giữa họ sẽ tốt lên một khi họ đã sống với nhau trong Dinh. Lần đầu tiên trong cuộc hôn nhân của mình, bà đã có thể chờ đợi chồng về nhà. Ông đã làm việc cật lực để đưa anh trai vào Dinh Tổng thống, và bà Nhu cảm thấy bà đã chứng tỏ giá trị bản thân với chiếc ghế trong Quốc hội và với tư cách bà chủ nhà của ông Diệm. Bà đã chờ đợi mọi thứ khác bắt nguồn từ đó: sự hỗ trợ về tình cảm, tình yêu xác thịt, rằng ông Nhu sẽ bỏ thuốc lá và tử tế với bà. Nhưng điều đó không đến, đã có những cuộc cãi vã hung bạo và những cánh cửa đóng sầm. Bà Nhu đã chán ngán việc phải ngoan ngoãn chờ đợi chồng, bà nói – vì lẽ ông không bao giờ gọi. Thoạt đầu bà không thể hiểu tại sao. Bà hãy còn trẻ trung và xinh đẹp. Ông Nhu ắt hẳn đã quá già để thích thú với điều đó, bà viết. Ban đầu, bà hình như thấy thương xót ông; sự thiếu quan tâm đến tình dục của ông là một mất mát của sự già nua. Nhưng trong những mục khác, bà Nhu bày tỏ nỗi buồn tủi cho bản thân mình; bà bị gắn vào đời một lão già bất lực và phải nghĩ ra những phương cách để làm dịu bớt “ngọn lửa ham muốn” hừng hực thiêu đốt. Có một bằng chứng sinh học cho thấy ông Nhu đã gần gũi bà ít ra một lần, vì bà Nhu lại mang thai năm 1959, nhưng điều đó dường như là một ngoại lệ trong cuộc sống cô đơn đầy thất vọng của bà. Khi bà Nhu mang thai đứa con út tháng thứ bảy, bà phát hiện ra ông Nhu rốt cuộc vẫn có thể thức dậy ham muốn tình dục, nhưng là bởi ai đó khác.

Bà Nhu miêu tả chi tiết cuộc tranh cãi giữa họ khi bà đối chất với ông Nhu về tội ngoại tình của ông. Bà nổi xung thiên với ông, không vì tội ngoại tình cho bằng việc đã làm điều đó với một kẻ “thô tục” và “hèn hạ” đến như vậy. Bà Nhu không bao giờ viết tên cô gái trong quyển nhật ký, chỉ để cập đến cô bằng từ “kẻ đó”.

Ông Nhu đã biện hộ cho ông và người yêu: Cô gái ấy dịu dàng và tốt bụng, và “không hèn hạ – chỉ phải tội nghèo”, và hơn thế nữa, cô không có gì giống với vợ ông, vì “bà làm tôi sợ”, ông nói. Cuộc chiến tiếp theo thật khốc liệt, nhưng nó kết thúc, vài ngày sau, với một ghi chép lạnh lẽo. Bà Nhu và chồng bà đã đồng ý rằng cuộc hôn nhân của họ sẽ tốt hơn nhiều khi họ cách mặt nhau nhiều hơn.

Bà Nhu thấy mình nằm thao thức trên giường, cố nén những giọt nước mắt. Người đàn ông lạ lùng này sẽ ngủ với ai sau cô ta đây? Tình yêu như trên phim ảnh, tình yêu như những gì bà đọc thấy trong những quyển sách, sẽ chẳng bao giờ đến với bà. Để cứu vãn cuộc hôn nhân này, bà sẽ phải dừng giả vờ như nó từng khá hơn thế. Bà Nhu đã nghĩ bà có thể trói buộc ông Nhu với tuổi trẻ, sắc đẹp, sự duyên dáng xã giao của bà, hay thậm chí với việc bà là mẹ của các con họ, nhưng bà gần như là kẻ vô hình đối với ông trong Dinh Tổng thống. Thật sự thì không hề có cái nguy cơ rằng ông sẽ rời bỏ bà – ông quá sùng đạo – và bà thì sẽ không rời khỏi ông. Vị trí của ông đằng sau ngai vàng đảm bảo sự an toàn cho bà, cho các con và gia đình mở rộng của họ. Không có ông, bà còn là cái gì?

Trong bối cảnh đó, lệnh cấm ly dị của bà Nhu có vẻ đáng trách. Bà không muốn người chị của mình thoát ra khỏi một cuộc hôn nhân bất hạnh nếu bản thân bà bị mắc kẹt trong đó. Một câu chuyện được tiết lộ rằng sau khi Lệ Chi nghe nói về luật này bà đã lái xe đến Dinh với cổ tay bị cắt. Bà Nhu từ chối gặp bà; chuyện cần làm đã làm rồi, bà nói. Lệ Chi chạy xồng xộc vào Dinh, nhỏ máu xuống khắp nền sàn đá lát. Bà Nhu đã sai lính bảo vệ Dinh đưa chị đến bệnh viện và giam giữ bà ở đó.

Bà Nhu đã không viết về nỗ lực tự sát của chị bà trong quyển nhật ký, nhưng bà quả quyết rằng bà đã làm những gì phải làm để bảo vệ chị mình. Vị Tổng thống của quốc gia không thể bị dính líu đến một vụ tai tiếng như thế. Về sau, chị của bà Nhu đã kể lại với các ký giả các sự kiện theo cách nhìn của mình. Năm cảnh sát chìm ăn mặc như bảo vệ bệnh viện đã canh gác bên ngoài cửa phòng bà suốt ngày đêm. Bà đã viết một bức điện tín cho mẹ và thuyết phục một y tá thông cảm lén đưa nó ra ngoài bệnh viện. Mẹ bà từ Hoa Kỳ đã trở về để giải cứu Lệ Chi và lợi dụng việc bà là mẹ của bà Nhu để bác bỏ ý muốn của Đệ nhất Phu nhân giam cầm Lệ Chi trong phòng. Có vẻ như những người lính canh đã đủ cảm động, hoặc có lẽ họ thật sự lúng túng, để mặc cho người bệnh được đưa ra khỏi cửa bệnh viện.

Bất luận những sự kiện gì đằng sau câu chuyện này, chiếc máy phao tin đồn Sài Gòn không ngừng làm việc ngày đêm nhưng vẫn bỏ sót những dấu hiệu về một cuộc hôn nhân bất hạnh trong Dinh Tổng thống. Thay vì vậy người ta suy xét việc liệu bà Lệ Chi đã bị tống giam hay ở trong bệnh viện? Có phải bà Chương đã bay về từ Washington để lén đưa cô con gái lớn của bà ra khỏi đất nước? Phải chăng bà Nhu đã thật sự nói với chị mình, với hai cổ tay vẫn đang bị băng bó, “Tôi chỉ có một hối tiếc duy nhất – là chị đã không tự sát thành công”?

Dinh Tổng thống đã cố gắng làm cho tất cả chuyện đó trôi vào quên lãng. Mặc dù là một cố vấn giỏi trong nhóm giật dây của ông Diệm, chồng bà Lệ Chi vẫn bị đuổi đi, đến Paris. Etienne Oggeri nhiều năm sau đã xuất bản một hồi ký khẳng định rằng bà Nhu đã sai ai đó tiêm vi-rút dịch tả vào người ông. Có lẽ đó là điều bà Nhu muốn nói khi bà viết rằng bà đã làm những gì phải làm.

Oggeri đã trải qua một thời gian trong nhà tù Việt Nam Cộng hòa trước khi được dẫn độ về Pháp, và từ đó ông đã theo chân chị bà Nhu đến Mỹ. Năm 1963, Tổng thống Diệm vẫn còn than phiền về Lệ Chi; ông sợ bà ta “đang hành xử như một con điếm ở Washington”, “gây tai tiếng ở Georgetown”, và “thậm chí vồ vập những thầy tu”. Nhưng ông không biết gì về tình yêu đích thực của bà. Lệ Chi đã lấy người đàn ông Pháp, và mặc cho cái kết cục khủng khiếp đã xảy ra với những thành viên gia đình còn lại của bà, vợ chồng bà vẫn sống hạnh phúc bên nhau ở Bắc Carolina vào thời điểm những dòng này được viết. 13

Với việc ông Châu đã bị trục xuất đến Paris và Lệ Chi dưỡng thương ở Mỹ, xì-căng-đan về vụ ly dị rốt cuộc đã chìm xuống yên ắng, và Luật Gia Đình vẫn không bị suy suyển. Đứng về mặt luật pháp, phụ nữ ở Nam Việt Nam có cùng những quyền như đàn ông. Phụ nữ có sự bình đẳng với chồng, cha, và anh. Nhưng trong Dinh thì không. Bà Nhu vẫn cảm thấy bất hạnh một cách sâu sắc. Những căn phòng ầm ĩ – người người không ngớt chạy ra chạy vào, và những tấm trần cao và kích thước đổ sộ càng khuếch đại những tiếng ồn. Chẳng có mấy sự thanh bình bên trong, nhưng với bà Nhu, việc bước ra ngoài ở Sài Gòn đang trở nên ngày một khó khăn. Bà không thể chỉ cần khoác bộ đổ tắm và đi bơi tại Cercle Sportif với những phu nhân khác trong chính giới; bà cũng không thể chơi bài hoặc nói chuyện phiếm với bạn bè.

Edward Lansdale, sĩ quan tình báo Mỹ đã phát triển một mối quan hệ rất tốt đẹp với ông Diệm và Nhu, đã nhìn thấy tình cảnh của bà Nhu trong bi kịch của Dinh Tổng thống:

Bà biết tất cả những thái độ xã giao cần có của một nữ chủ nhân trong một ngôi nhà giàu có và văn hóa. Vì vậy bà đã được đào tạo để trở thành một phu nhân thanh nhã biết cách mời mọc khách khứa và gợi những cuộc trò chuyện bên bàn ăn, có thể tiêu khiển bên cây đàn piano và sống cuộc sống đầy nét quyết rũ thanh bình. Bà đã lấy một người đàn ông trông như thể đây sẽ là cuộc đời dành cho ông… Bà bước vào một căn phòng trong dinh nơi mọi người tụ tập và hỏi liệu có ai thích nghe bà chơi dương cầm giữa cuộc hội họp không. Chồng bà thì bận bịu với anh trai, có một chuyện khủng khiếp nào đó đang diễn ra, có thể có những loại lính tráng nào đó chạy xồng xộc vào với những vấn đề hệ trọng và có thể là một tiếng chuông báo động rằng Dinh Tổng thống sắp bị đánh bom hay một cái gì đó rất khốc liệt đang xảy ra, một điều gì đó rất không hợp với các quý cô. Và những người đàn ông sẽ nói không, giờ chỉ cần để chúng tôi một mình. Vậy là bà không thể sắm vai trò đích thực mà bà đã được đào tạo cho cuộc sống sau này. 14

Sẽ dễ dàng hơn đối với bà Nhu khi bà hoàn toàn xa cách Dinh Tổng thống. Mỗi khi có thể, bà trốn tránh về miền sơn cước ở Đà Lạt và mơ mộng về một ngôi nhà trân quý bà sẽ xây ở đó, nơi bà có thể bơi trong bể bơi của mình, tản bộ trong khu rừng của mình, tìm được sự ẩn náu và tĩnh mịch mỗi khi cần. Đang khi giấc mơ đó vẫn được xây dựng và còn mất nhiều năm nữa, bà Nhu đã tận dụng một ngôi biệt thự Pháp nhìn ra bờ biển ở Nha Trang. Các con bà có thể chạy chân trấn trên bờ biển, nô giỡn với sóng, và học câu cá.

Sau những trò vui, chúng chạy lại ôm mẹ, bà hít ngửi mùi hương của chúng. Chúng mang mùi của nước biển và mồ hôi và một cái gì ngọt ngào, có thể là những quả dứa trên bờ bãi, hoặc có lẽ đó chỉ là mùi của trẻ thơ. Nó là một cái gì cuộc sống ở Sài Gòn không cho họ nếm trải quá thường xuyên.

Điều duy nhất bà Nhu và chồng có thể đồng tình là mối quan tâm chung của họ dành cho các con. Lớn lên trong Dinh, “với quá nhiều kẻ hầu người hạ và không có bạn chơi cùng”, là một tuổi thơ kỳ quặc, tuổi thơ mà họ lo lắng sẽ để lại những tác động lâu dài cho các con của họ. 15

Lệ Thủy sáng dạ nhưng nghiêm nghị. Điều đó khiến cô có vẻ chững chạc hơn, buồn bã hơn là dáng vẻ của một cô bé mười ba nên có. Các em trai cô là cả một vấn đề nan giải. Trác nhút nhát và ủ dột ở trường; ở nhà nó cấu véo em trai Quỳnh và chọc thằng nhỏ khóc. Nhưng Quỳnh, bà Nhu nhận xét, vẫn dễ thương, chạy đuổi theo anh trai và nài xin được chú ý, kể cả điều đó đến dưới hình thức của một sự ngược đãi. Bà đã cố nói chuyện với hai đứa con trai, cố thi hành kỷ luật với Trác, và cố khuyên Quỳnh biết tự bảo vệ mình, nhưng những gì hai đứa con trai cần là được ở bên cha nhiều hơn.

Chúng thậm chí không biết chúng đang nhớ ông. Ông Nhu đã vắng mặt hầu hết thời gian sau khi các con trai chào đời ở Đà Lạt. Ông đã lại ra đi khi gia đình lần đầu tiên đến sống ở Sài Gòn. Và giờ đây thì ông luôn luôn vắng bóng, đi về miền nông thôn, thăm viếng các anh em, hoặc làm việc trong văn phòng của minh. Để thư giãn, ông lại ra đi – để săn bắn hay đi thăm tình nhân của ông, “ả đó”. Chẳng bao lâu sau họ đã có một em bé nữa, đứa con thứ tư, để chăm sóc và lo lắng. Một chút hy vọng trong bà Nhu mách bảo rằng đứa con út này, chào đời vào một thời điểm trọng yếu như vậy trong lịch sử quốc gia – và trong lịch sử gia đình họ – có thể thay đổi mọi chuyện. Và có lẽ một khi việc sinh nở này xong xuôi, bà Nhu sẽ thử một cách khác để thu hút sự chú ý của chồng, một cách dựa vào đầu óc hơn là sắc đẹp của bà.

Vào tháng Bảy năm 1959, bà Nhu đã hạ sinh đứa con út. Đó là một bé gái, và bé gái này, Lệ Quyên, trông rất giống cha. Họ có cùng một đôi mắt nghiêng xuống và cùng một nụ cười chênh chếch. Bà Nhu cho cô con gái út mặc đồ ngắn và tạo kiểu tóc như một cậu thị đồng. Những bộ quần áo tomboy nhỏ nhắn này tất nhiên là dễ xoay xở hơn những đầm váy và nơ con bướm đầy kiểu cách, và chúng làm nổi bật sự giống nhau của đứa bé với cha. Ông Nhu dường như vẫn không chú ý. Gần như hằng đêm, ông đơn giản nói, “Tôi phải làm việc”, và đẩy chiếc ghế xa khỏi bàn ăn, buông đôi đũa tựa vào vành chén cơm trên những miếng thức ăn dang dở.

Ông Nhu đi cầu thang xoắn ốc xuống một tầng và trải qua nhiều giờ trong văn phòng với cánh cửa đóng im ỉm. Từ sàn lên tới trần tràn ngập sách vở và giấy tờ. Đôi khi ông bàn bạc với anh trai, nhưng ông Nhu không chỉ xuống đó để làm việc – ông kiếm chỗ hút thuốc. Bà Nhu đã hối thúc ông bỏ thuốc trong nhiều năm. Bà căm ghét mùi khói thuốc lâu ngày. Nó làm hôi hám hơi thở, tóc, và không khí xung quanh ông. Ngay cả những ngón tay ông cũng ố vàng. Bà đã thử mềm mỏng khích lệ, sau đó là nhẹ nhàng trêu chọc. Khi họ chuyển vào Dinh, sự phản đối của bà trở nên kiên quyết. Dinh đủ rộng để ông có thể tìm được chỗ nuông chiều thói quen của mình. Bà không cho phép ông hút thuốc trên lầu trong chỗ sinh hoạt riêng tư của họ. Ông Nhu tuân theo nhưng không từ bỏ. Ông dấm dúi hút sao cho bà Nhu không thể nổi giận gay gắt với ông vì đã phá vỡ quy tắc của bà, nhưng ông vẫn thể hiện rõ rằng những phép tắc của bà sẽ không làm thay đổi thói quen của ông. Cuối những buổi chiều trong văn phòng, ông Nhu sẽ trút cả gạt tàn đầy vào một phong bì và đưa nó cho bảo vệ đi đổ bỏ. Bà Nhu không thể làm gì nhiều về chuyện đó.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 12 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Vào ngày 27 tháng 10, mười ngày sau các binh sĩ đầu tiên của Hoa Kỳ tràn lên bãi biển Phi Luật Tân, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đưa ra thông cáo lịch sử này:

“Ðơn vị Shikishima, thuộc Phi đoàn Tấn Công Ðặc Biệt, vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 25 tháng 10 năm 1944 đã thành công trong một cuộc tập kích bất ngờ chống lại hải lực đối phương, bao gồm 4 hàng không mẫu hạm, cách Ðông Bắc đảo Suluan thuộc quần đảo Phi Luật Tân, ba mươi hải lý. Hai phi cơ tấn công đặc biệt đã đâm nhào xuống một hàng không mẫu hạm địch, gây nhiều đám cháy và tiếng nổ lớn, và có lẽ chiếc tàu đã chìm. Một phi cơ thứ ba đã chúi xuống một hàng không mẫu hạm khác, gây một đám cháy khổng lồ. Một phi cơ thứ tư khác cũng chúi xuống một hàng không mẫu hạm, gây ra một tiếng nổ dữ dội và chiếc tàu đã chìm ngay sau đó.”

Tiếng sấm của những ngọn Thần Phong đã bắt đầu! Nhiệm vụ tự sát đầu tiên do Trung úy Yukio Seki thực hiện. Yukio cầm đầu 5 chiến đấu cơ Zéro, mỗi chiếc mang một trái bom 550 cân. Seki là một phi công oanh tạc cơ có chưa đến 300 giờ bay, bốn phi công khác cũng không hơn hắn mấy. Tuy nhiên, chỉ có một trong năm chiếc không chúi trúng mục tiêu.

Bốn chiếc Zéro bay theo hộ tống năm chiếc Zéro tự sát. Sau đó tôi được biết chỉ huy nhóm hộ tống chính là người bạn thiết Hiroyoshi Nishizawa của mình, hiện thời là một chuẩn úy. Nishizawa đã khéo léo né tránh sự ngăn chặn của hơn hai mươi chiếc Hellcat, đưa năm phi cơ Thần Phong xuyên qua những trận cuồng phong để áp sát hạm đội địch quân.

Sau khi năm phi cơ Thần Phong đã chúi xuống, Nishizawa trở về sân bay Mabalacat ở Cebu, và báo cáo kết quả phi thường của nhiệm vụ. Khắp nơi các phi công Nhựt đều bàn về cuộc tấn công chưa từng có trước đây. Và cuộc tấn công đã đạt một kết quả ngoạn mục, trái ngược hẳn những mất mát đầy bi thảm như cuộc tấn công của chúng tôi ở Iwo Jima.

Ở vị trí phi công chiến đấu, tôi không tán thành nhiệm vụ tự sát, nhưng hiện tại không thể phủ nhận hiệu quả của cú đấm kinh khiếp đã giáng xuống hạm đội Mỹ ở Phi Luật Tân. Tôi ý thức là vào lúc này, việc bổ nhào xuống tự sát có vẻ là phương pháp duy nhứt của chúng tôi để đánh trả lại tàu chiến Hoa Kỳ.

Từ ngày đó trở về sau, danh từ Kamikaze nằm trên đầu môi của chúng tôi. Chúng tôi biết mỗi lần Kamikaze cất cánh là mỗi lần đi vào cõi chết. Nhiều Kamikaze không thể nào tiến đến các mục tiêu, vì bị phi cơ nghinh chiến của đối phương bắn hạ hoặc bị những bức tường hoả lực phòng không kiên cố do các chiến hạm địch tạo ra ngăn chận.

Nhưng luôn có những Kamikaze vượt thoát để rồi nhào xuống chiến hạm địch giống như những hồn ma phục thù, có nhiều chiếc tiến đến mục tiêu với đôi cánh rách nát hoặc bao trùm trong lửa đỏ. Thỉnh thoảng từng chiếc một, hai chiếc, hoặc cả nhóm từ sáu đến mười sáu chiếc Kamikaze lướt lên không trung cho lần đi cuối cùng.

Thần Phong đã cho chúng tôi một sức mạnh mới đầy kinh khiếp. Hiệu quả được nhìn thấy qua một số chiến hạm và quân vận hạm địch, từng là những mục tiêu khó xâm nhập vì được hoả lực bao che mạnh mẽ, rơi vào cảnh hỗn loạn xăng cháy, bom nổ và tiếng người la hét.

Những Kamikaze đã cào các hàng không mẫu hạm Mỹ từ mũi đến lái, đánh chìm nhiều hơn bất kỳ loại vũ khí nào mà chúng tôi đã từng sử dụng để tấn công loại tàu này. Còn loại tuần dương hạm và khu trục hạm, mỗi lần một Kamikaze chúi trúng thì đó là hồi chuông báo tử đã gióng lên.

Ðối với địch quân, họ coi sự tự sát của phi công Nhựt là bị ép buộc. Dĩ nhiên dân Mỹ hoặc bất kỳ sắc dân Tây phương nào cũng không thể hiểu biết đầy đủ vấn đề này.

Họ cho rằng mạng sống của binh sĩ Nhựt bị quăng ra một cách rẻ rúng. Trái ngược hẳn, các phi công đã tình nguyện hàng loạt để thực hiện các nhiệm vụ một chiều của họ.

Nhiệm vụ này không thể gọi là tự sát! Những phi công, trẻ có già có, họ đã không chết một cách vô ích. Mỗi phi cơ chúi trúng mỗi chiến hạm địch là một cú đấm mà phi công dâng tặng cho quê hương của họ. Mỗi trái bom Kamikaze rơi trúng các bồn chứa xăng của một hàng không mẫu hạm khổng lồ, sẽ có nhiều kẻ thù bị giết, triệt hạ nhiều phi cơ bay đến thả bom và bắn phá trên mảnh đất quê hương của họ.

Những phi công này mang niềm tin. Họ tin vào nước Nhựt, họ đánh kẻ thù bằng chính mạng sống của họ, cho nước Nhựt. Ðó là một giá rẻ, một người đánh đổi lấy mạng sống của hàng mấy trăm người đôi khi cả hàng mấy ngàn người. Xứ sở của chúng tôi không thể nào dựa vào sức mạnh của những chiến thuật thông thường hiện tại. Tuy nhiên, một lần nữa, Thần Phong là một trường hợp quá ít ỏi, quá muộn màng. Ngay cả những thành quả vĩ đại được gặt hái bởi các phi vụ Kamikaze cũng không thể nào chận đứng cú đấm tập trung khủng khiếp của Hoa Kỳ. Họ quá mạnh, quá nhiều, quá tiến bộ. Họ có quá nhiều chiến hạm, quá nhiều phi cơ, súng ống và nhân lực.

Dĩ nhiên, những phi công Nhựt thực hiện phi vụ của họ đều ý thức được việc này. Chắc chắn có nhiều phi công Thần Phong ra đi với thừa nhận tình thế tuyệt vọng của Nhựt Bản trong cuộc chiến. Nhưng họ không co đầu rụt cổ, không do dự. Họ bay và chết cho xứ sở của họ.

Có những điềm xấu báo trước cho dân tộc chúng tôi. Một chiếc B29 vĩ đại bay ù ù trên không phận Ðông Kinh lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 11 năm 1944, xuất phát từ các căn cứ mới trên đảo Saipan. Giờ phút hãi hùng của dân chúng ở kinh đô hầu như đã nằm trong tầm tay, vì điều hiển nhiên là chiếc oanh tạc cơ đáng sợ đó chỉ là một phi cơ do thám lót đường cho những chiếc khác nối bước trong tương lai gần. Chiếc Siêu pháo đài bay đã lướt một cách nhởn nhơ, xa tít cao trên không phận Ðông Kinh, và các chiến đấu cơ của Lục Quân và của Hải Quân cuống cuồng nhảy lên để chận bắt kẻ xâm nhập. Nhưng tất cả đều không thể nào tiến sát để bắn ra một phát đạn.

Vào ngày 5 tháng 11, và một lần nữa vào ngày 7, một chiếc B29 đơn thân độc mã từ Saipan đến viếng thăm thủ đô Ðông Kinh. Lần thứ hai và thứ ba này, các chiến đấu cơ Nhựt đều ùa lên không, và cố đạt đến độ cao cho bằng phi cơ địch một cách vô ích. Bộ Tư Lịnh Tối Cao nổi nóng, chửi bọn phi công vụng về và ngu xuẩn. “Chỉ có một chiếc phi cơ địch mà không làm nên trò trống gì cả.” Họ thét.

Họ không hiểu sự khó khăn trong việc ngăn chặn các Siêu pháo đài bay ở độ cao đó. Một việc nữa, chỉ trong vòng một vài phút giữa thời gian nhận báo động và cất cánh không kịp cho chiến đấu cơ lên đến nơi thì oanh tạc cơ địch đã bay mất. Cho dù có bay lên kịp đi nữa, phi công Nhựt cũng không chắc có thể đuổi kịp tốc lực kinh hồn của chiếc B29.

Vào tháng 12, những cú đấm chờ đợi từ lâu đã đến. Ðông Kinh, Osaka, Nagoya, Yokohama và nhiều thành phố lớn khác của xứ sở chúng tôi nằm khoanh dưới những đợt tấn công khủng khiếp của các oanh tạc cơ Hoa Kỳ. Chúng san bằng các cơ xưởng chế tạo máy bay, và hủy diệt lần lượt mọi phân xưởng khác.

Những cuộc không tập khủng khiếp trên các thành phố lớn của Nhựt Bản đã được lịch sử dành cho những chương kinh hoàng nhứt. Ðó là một câu chuyện mà cả thế giới đều biết rõ.

Các siêu pháo đài bay B29 đều xuất hiện ban đêm, và hầu hết phi công Nhựt chỉ biết ngồi bó gối trên mặt đất, miệng không ngớt nguyền rủa sự yếu kém khả năng hoạt động đêm của chiến đấu cơ Nhựt và sự khiếm khuyết huấn luyện dạ chiến của họ. Phi cơ địch chỉ bị hoả lực phòng không phá rầy mà thôi.

Khắp nơi, chúng tôi đang thua. Mọi nơi, chúng tôi bị đối phương bắt buộc phải thối lui, phải triệt thoái. Các đơn vị không quân của chúng tôi bị cắt ra từng mảnh, phi cơ của chúng tôi rơi như lá rụng, phi công của chúng tôi không chết một người, hai người hoặc ba người lẻ tẻ, họ chết chùm hàng chục trở lên.

Vào giữa tháng 2, năng lực phòng thủ Phi Luật Tân của chúng tôi hấp hối. Mọi phi cơ Nhựt trên quần đảo đều biến mất, nếu không bị chiến đấu cơ Mỹ đẩy rớt xuống đất, thì cũng bị các phi vụ Kamikaze một chiều thiêu rụi hết. Các cuộc tấn công Thần Phong tiếp diễn đến khi không còn chiếc phi cơ nào để tiếp tục.

Vào ngày 20 tháng Giêng năm 1945, Hải quân Hoàng gia thành lập một không đoàn khu trục mới, không đoàn chót cùng trong cuộc chiến, ở Matsuyama, trên đảo Shikoku. Khi thuyên chuyển đến căn cứ mới, tôi gặp lại Trung tá Nakajima, ông được chỉ định vào chức vụ chỉ huy phó không đoàn. Ông rút khỏi Phi Luật Tân với mười lăm phi công khác để lập nền tảng cho không đoàn mới này. Ðây là không đoàn bao gộp những tay chiến đấu tài ba. Chỉ huy trưởng không đoàn là Ðại tá Minoru Genda, được xem là một trong những chiến lược gia hải quân sáng chói nhứt của Nhựt Bản, là người đã thiết kế trận tấn công Trân Châu Cảng.

Trung tá Nakajima là người duy nhứt mà tôi quen biết nhiều. Một hôm có dịp vô văn phòng của ông với ý định nhắc nhở lại những người đã từng sát cánh chiến đấu với chúng tôi trong quá khứ, tôi đã lặng người khi ông cho tôi biết tin tức về cái chết của Nishizawa.

“Hắn đã mất”, Nakajima nói, “trong một trường hợp đáng tiếc xảy ra vào ngày 26 tháng 10, ngay sau cuộc tấn công Thần Phong đầu tiên.”

“Nishizawa đã tình nguyện tham dự phi vụ Thần Phong vào ngày kế đó, sau khi hộ tống năm chiến đấu cơ Zéro chúi xuống chiến hạm địch trở về. Hắn nói với tôi rằng hắn sẽ chết sớm. Việc này thật lạ lùng,” Nakajima nghĩ ngợi, “nhưng Nishizawa nhấn mạnh rằng hắn có một linh cảm. Hắn cảm thấy đời sống của mình chỉ còn một đôi ngày nữa mà thôi.”

“Tôi không cho hắn đi. Một phi công tài ba như vậy, để hắn chiến đấu sẽ có ích cho xứ sở hơn là để hắn chúi xuống một hàng không mẫu hạm. Nhưng hắn cứ nằng nặc xin đi cho được.

“Nhưng, vào ngày chiếc chiến đấu cơ của Nishizawa chuẩn bị sẵn sàng thì hắn được lịnh lái một chiếc vận tải cơ Showa cũ kỹ và không võ trang, trên đó có một số phi công khác, đến phi trường Clark để nhận một số chiến đấu cơ Zéro. Chiếc vận tải cơ cất cánh vào sáng sớm ngày 26 tháng 10 từ Mabalacat và mất tích luôn.

“Phi cơ của hắn có lẽ bị chiến đấu cơ Hellcat hoạt động trong khu vực đó bắn hạ. Hình như hắn rớt ở một nơi nào đó ở Cebu. Tôi vẫn không thể nào tin nổi, Saburo, một phi công vĩ đại như vậy lại chết như vậy, bất lực, không thể bắn một phát súng tự vệ…”

Không còn gì để nói. Như vậy là Nishizawa cũng ra đi. Vị thần sát tinh của các phi cơ địch ở Lae và Rabaul đã đi chung đường với Sasai, Ota và những người khác.

“Ngay cả trong tình trạng chiến đấu ở Phi Luật Tân gian nan hơn trước đây cũng không thể làm giảm những chiến thắng trên không của hắn.” Nakajima nói, và ông tin rằng Nishizawa đã hạ hơn 100 phi cơ địch trong các trận không chiến. Ðiều này không thể nghi ngờ, cả tôi lẫn Nakajima hay bất kỳ người nào đã từng biết và chiến đấu với Nishizawa đều phải công nhận hắn là một “Ace” vĩ đại nhứt của Nhựt Bản, một phi công có khả năng và tài ba vô tiền khoáng hậu. Vậy mà hắn đã thiệt mạng trong một vận tải cơ không võ trang!

“Ít nhất Nishizawa cũng thỏa dạ là máy bay của hắn, chiếc Zéro gắn bom 250 kg giao cho phi công Tomisaku Katsumata đã đâm thủng sàn phi đạo của một hàng không mẫu hạm Mỹ ở Surigao làm nổ tung nhiều bình xăng máy bay và gây một đám cháy lớn.” Trung tá Nakajima kết thúc với giọng buồn bã, “Dù sao hắn cũng được toại nguyện là chiếc phi cơ của hắn đã hoàn thành nhiệm vụ.” Nakajima không còn gì để nói nữa. Một im lặng phủ trùm.

Tin tức về cái chết của Nishizawa đã gây cho tôi một dao động kỳ dị. Tôi cảm thấy toàn thân mình run bần bật và những giòng nước mắt không ngừng dâng trào lên từ đáy lòng nhưng chúng khô cạn ngay ở khóe mắt bởi cơn thịnh nộ lớn lao khác. Chấn động khắp châu thân vì phẫn uất làm tôi muốn gào la cho cái chết tức tưởi của Nishizawa trong buồng lái của một vận tải cơ cổ lỗ sĩ bay chậm chạp không quá 350 cây số giờ trước họng súng của những chiếc Hellcat nhanh như cắt. Tôi đã chiến đấu với những chiếc Hellcat có thể lên đến 610 cây số ở Iwo Jima để biết chúng lợi hại vô cùng, làm sao Nishizawa với 21 phi công khác trong một khoang tàu bay nặng nề có cơ may thoát hiểm? Tôi nhớ đến chuyến hải hành đưa chúng tôi, tám mươi phi công từ Bali đến căn cứ Lae trên một thương thuyền cũ nát ọp ẹp không hộ tống có thể bị đối phương đánh chìm bất cứ lúc nào. Tôi nhớ đến chiếc vận tải cơ cũ rích hỏng máy hai bận và lảo đảo cất cánh đưa tôi rời Iwo Jima trong mưa bão về Ðông Kinh. Chúng tôi, những phi công ưu tú của Hải quân đã có thể mất mạng như chơi trong những cỗ quan tài bay này mà không thể tự vệ. Ðến bao giờ các cấp chỉ huy của chúng tôi mới ý thức rằng họ đang tiêu phí sinh mạng của những phi công tài ba nhứt? Ai đã ra lệnh cho Nishizawa lái chiếc Showa đó? Trung tá Nakajima? Trung tá là thượng cấp trực tiếp của Nishizawa nhưng vì sao ông không dám nhận mà nói “Ai đó đã ra lệnh…”. Vì sao? Vì Nishizawa và các đồng ngũ của hắn phải bay đến căn cứ Clark để nhận các khu trục cơ mới nên họ không thể tự lái lấy máy bay của chính họ? Nhưng vì sao không để Nishizawa cầm đầu một toán chiến đấu cơ Zéro hộ tống những phi công khác trong vận tải cơ Showa? Với tài nghệ lanh lợi phi thường của hắn, Nishizawa dư sức bảo vệ chiếc Showa đến đích. Tôi muốn gào la vì giận dữ nhưng ích gì nữa, hắn đã chết.

Tôi chập gót giày chào Trung tá Nakajima và hấp tấp rời văn phòng của ông để tránh sự thái quá vỡ òa. Cơn xúc động theo tôi về chỗ trú khu tiếp tục sôi sục cho đến khi hóa thành một bó đuốc. Như thế, Sasai, Ota, Honda, Nishizawa… các đồng đội chí thiết nhứt của tôi đều đã ra đi. Tôi cũng sẽ ra đi nay mai vì tất cả các phi công phải tự thiêu rụi bản thân mình để cứu quốc. Không còn nhiều thời giờ nữa và mỗi một khắc trôi qua làm cơn tuyệt vọng thêm cùng cực.

Tôi lấy giấy và viết ra. Tôi không thể tự ngăn các động tác của mình tuy tôi rất tỉnh táo. Lý trí ngăn tôi viết nhưng nỗi ưu quốc làm tôi muốn viết, muốn cất tiếng, muốn bộc bạch. Ít nhứt, tôi nghĩ, trước khi chết tôi phải bày tỏ với Hatsuyo những gì mà tôi muốn nói, những gì mà tôi cảm thấy nàng muốn biết. Tôi nhìn trang giấy, bấy lâu nay tôi đã bắt trang giấy trắng tinh không cho Hatsuyo biết đến, lúc này không còn cần thiết nữa. Tôi viết những gì thống thiết nhứt trong lòng mình.

“Hatsuyo,

“Anh đã được chỉ định vào nhiệm vụ chiến đấu trở lại,” tôi viết. “Từ đây trở về sau, Nhựt Bản sẽ phải chống chọi lại với một kẻ thù vượt trội mọi mặt. Hôm nay, anh vừa nghe tin người bạn thân nhứt của anh, Hiroyoshi Nishizawa, đã thiệt mạng ở Phi Luật Tân. Nishizawa là phi công vĩ đại nhứt của xứ sở chúng ta. Anh cảm thấy nếu một người như vầy mà không thể sống sót được thì đối với anh, bất lợi vì mất một mắt, chắc chắn anh sẽ nối bước theo hắn không lâu.

“Có lẽ đây là bức thơ cuối cùng anh viết cho em. Thật là ngại ngùng, Hatsuyo, nhưng mà anh không thể nào chờ đợi lâu hơn nữa để bày tỏ những gì mà anh muốn nói từ lâu.

“Lần nói chuyện cuối cùng vừa rồi, em đã nói rằng anh không hiểu trái tim của một người đàn bà. Em đã sai lầm, Hatsuyo. Sai lầm quá đỗi.

“Em có nhớ lại những ngày thơ ấu của chúng ta không? Những ngày huyền diệu, tràn ngập tiếng cười đùa ấy? Anh và em đã sống như tình ruột thịt, và ngay cả thời gian sau này chúng ta vẫn còn cảm thấy như vậy.

“Những gì mà anh muốn nói với em từ lâu, Hatsuyo, là trong tim anh, em chính là người anh yêu mến nhứt trên quả đất này. Bây giờ, anh biết, anh đã coi em như một người mà anh đặt tình yêu duy nhứt vào đó. Có lẽ nói như vậy thật bậy, có lẽ điều này anh nói ra không phải lối nhưng anh tin rằng hình ảnh của em không lúc nào vắng bóng trong tim anh. Trước đây anh chưa ý thức, nhưng anh đã biết rõ điều đó trong những tháng cuối cùng này.

“Anh đã yêu em từ rất lâu, Hatsuyo, và yêu em sâu đậm. Lúc ấy anh đã chôn giấu tình cảm thật sự của anh. Anh yêu em! Anh đã chờ đợi để thốt ra những lời này từ lâu lắm rồi. Chiến tranh đã dựng lên một hàng rào vĩ đại ngăn cách chúng ta. Anh ý thức rằng tình cảm của anh không bao giờ bày tỏ được, rằng tình yêu này sẽ chôn kín mãi mãi trong lòng.

“Hơn tất cả, chúng ta là anh em họ gần. Có lẽ đó là điều tốt nhứt để đặt cuộc hôn nhân nằm phía bên kia tầm tay của chúng ta. Nhưng bây giờ, anh đã nói ra những gì cần nói. Và bây giờ, tình yêu của anh, Hatsuyo, em là tình yêu duy nhứt mà anh dành cho sự cầu nguyện. Mong em sống dài lâu, mong hạnh phúc thuộc về em mãi mãi.”

Saburo Sakai.”

Sáng hôm sau công việc huấn luyện chiến đấu của chúng tôi vụt sôi động. Các phi công la hét ồn ào, khi họ nhìn thấy hàng mấy chục chiến đấu cơ tân kỳ, loại mới toanh bóng mượt đáp xuống phi trường. Kawanishi N1K-J “Shiden” (Tử Ðiện) là loại chiến đấu cơ mà tôi đã từng bay thử không lâu trước đây. Bọn phi công mừng quýnh khi đưa các chiến đấu cơ mới này rời khỏi mặt đất. Tốc lực cao! Bốn đại bác! Bọc thép! Lướt lên dữ dội! Chúi xuống như chớp!

Chiếc Shiden là phiên bản thứ nhì của khu trục cơ thử nghiệm Kawanishi “Kyofu” (Cường Phong) nhưng trang bị động cơ mạnh hơn, nó như con chiến mã chờ đợi kỵ sĩ. Các kỵ sĩ la ó vì kích động, đã chấm dứt thời kỳ của những chiếc Zéro thua sút những chiếc Hellcat mọi mặt! Ai ai cũng nóng lòng cất cánh tức khắc để kiểm tra những tính năng tinh diệu của chiếc Tử Ðiện này. “Bọn Hellcat cứ đến đây! Chúng sẽ biết chúng ta bay như thế nào!” Các phi công la oang oang, tinh thần của mọi người lên cao trở lại. Không đoàn Matsuyama khí thế bừng bừng. Ða số các phi công trong tân không đoàn này đã từng tham dự nhiều trận đánh và nhiều người đã hạ trên mười phi cơ địch. Chúng tôi là thành phần kiệt xuất của toàn thể các đơn vị không quân thuộc Hải quân Hoàng gia, điều này giải thích tại sao chúng tôi được cung cấp những phi cơ mới. Cùng với chúng tôi là các tân khóa sinh xuất sắc nhứt tuyển lọc từ các khóa thi tuyển, nên mặc dù rất cần những người tình nguyện sang các đơn vị Thần Phong, các phi công của không đoàn mới này, tập hợp lại, được xem là vũ khí trên không mạnh mẽ nhứt của Nhựt Bản từ trước đến nay, và Trung tá Nakajima đã bác bỏ tất cả những lời thỉnh cầu thuyên chuyển qua các đơn vị Kamikaze.

Hơn mười ngày trôi qua, thời gian thăm thẳm nhưng bức thơ tôi gởi cho Hatsuyo không thấy hồi âm. Tôi không hiểu tại sao nàng không trả lời tôi.

Lo lắng vì nghĩ đã vô tình xúc phạm gia đình chú thím mình do lời lẽ trong thơ quá đường đột, nhưng tôi không thể để cho tình cảm chi phối nhiệm vụ, nhứt là ở hiện tại. Tôi lao vào công tác khái quát đội hình chiến thuật cơ bản nhằm đánh chặn oanh tạc cơ B29.

Ngày hôm sau nữa, Hatsuyo vẫn lặng im. Tim tôi bồn chồn như lửa đốt. Không một người anh họ nào viết thơ cho em họ như thế. Tôi đã phạm lỗi quá lớn!

Vào ngày thứ mười hai sau khi tôi gởi lá thơ, lúc tôi rời khỏi lớp giảng huấn mà tôi vừa dạy về kỹ thuật không chiến, một liên lạc viên hấp tấp chạy đến báo cho tôi biết có hai người khách đang đợi tôi ở phòng khách. Tôi ra khu Tiếp tân ngay lập tức.

Tôi nhìn thấy Hatsuyo và thím tôi đang chờ. Ngay khi tôi bước vô phòng, Hatsuyo đứng bật dậy.

“Saburo, em đến đây để làm vợ anh.”

Tôi kêu lên:

“Hatsuyo!”

Nàng dịu dàng lặp lại, chậm rãi:

“Em đến đây, Saburo, để bàn về cuộc hôn nhân của chúng ta.”

Tôi đứng bất động, không thốt nên lời.

“Nếu anh chuẩn bị để chết, Saburo, em cũng sẽ chuẩn bị như anh. Nếu chúng ta chỉ được một đôi ngày hoặc một đôi tuần bên nhau, ít ra chúng ta cũng sẽ có khoảng thời gian ấy trong tay khi chết. Ðó là ý muốn của Thượng đế dành cho chúng ta…”

Nàng nhìn tôi đăm đăm rồi nói với tất cả quả quyết, điềm tĩnh:

“Chúng ta thuộc dòng dõi Samurai, nếu anh phải chết, Saburo, em được giáo dục để chết theo một samurai. Thì không vì cớ gì mà em không được làm vợ anh. Em đến đây để làm vợ anh, Saburo.”

“Hatsuyo!” Tôi kêu lên lần nữa. Chuyện này khó thể tin là sự thật. Tất cả hoàn toàn kỳ diệu đối với tôi.

Thím tôi góp lời để tác hợp chúng tôi.

“Saburo, không có gì ngăn trở hôn nhân của các con. Chung huyết thống không là vấn đề. Cả hai con đều có thể chất lành mạnh. Tác hợp giữa con với Hatsuyo cũng là ước muốn của chú thím.”

Tôi sung sướng đến phát điên lên. Tất cả như một giấc mộng vụt hiện thực nhưng trước khi bàn xa hơn về hôn lễ, tôi cần phải viết thơ cho má tôi để yêu cầu người ưng thuận. Trong thơ hồi đáp, má tôi cho biết bà rất tán thành nhưng không thể tham dự hôn lễ. Ðường hoả xa hoàn toàn gián đoạn. Trận bom sau cùng đã phá hủy nhà ga Kyushu. Ngay cả thuyền bè cũng tạm ngưng vì không một tàu nào của Nhựt không bị máy bay Ðồng Minh oanh tạc. Má tôi yêu cầu chú thím tôi lo liệu mọi chi tiết cần thiết.

Hatsuyo và tôi kết hôn vào buổi chiều ngày 11 tháng Hai năm 1945, là ngày Quốc Khánh của Nhựt Bản. Hôn lễ cử hành đơn giản. Không một phi công nào tham dự, vì xế trưa hôm đó có báo động không tập. Thay cho ban nhạc là tiếng kèn báo động của hàng trăm loa phóng thanh. Sau lễ lạy tạ chú thím, tôi với Hatsuyo đi bộ trong một phố tối đen vì cúp điện đến một đền Shinto là quốc giáo của Nhựt, để xin ơn trên chứng giám tâm nguyện thành thân của tôi với Hatsuyo.

Tuần trăng mật dĩ nhiên bị gạt ra ngoài vì hoàn cảnh hiện tại. Chủ Nhựt kế đó, chúng tôi mời 50 phi công của Không đoàn Matsuyama tham dự một bữa tiệc để đền bù sự vắng mặt của họ vào đêm hôn lễ của chúng tôi. Các phi công cười rũ vì chi tiết “dàn nhạc giao hưởng” còi hụ ngân vang và siêu pháo đài bay B29 đến chung vui cùng chúng tôi. (Là không tập “thử nghiệm” đầu tiên của B29 dội bom xuống thủ đô, mười ba ngày sau đó 174 siêu pháo đài bay này sẽ thiêu hủy chu vi 2.5 km vuông phố xá Ðông Kinh). Các đồng đội tôi đem đến nhiều rượu saké và thức ăn để bù thêm vào các món ăn mà Hatsuyo cùng với em Michio đã cố gắng hết sức. Họ đem theo cả đàn Bầu, đàn Tây ban cầm và Phong cầm cùng hát bè nhạc vu quy. Họ đồng ca hết bản này đến bản khác để chúc tụng chúng tôi. Các phi công không ngớt ca ngợi nhan sắc của Hatsuyo làm tôi phỉnh mũi vì kiêu hãnh. Rồi Hatsuyo cùng đệm dương cầm chung làm thành ban nhạc sống của đêm thâu. Thím tôi dành cho chúng tôi một bất ngờ, thím lặn lội xuống các miền quê xa tìm mua cho bằng được thịt bê và tôm tươi mà ở Ðông Kinh không còn trông thấy nữa, tôi không biết thím làm cách nào nhưng các đồng đội của tôi đã hưởng ứng nhiệt tình đến bóng láng các mâm đồng trong niềm vui tột cùng của chú thím và ánh mắt long lanh của Hatsuyo. Buổi tiệc kéo dài quá nửa đêm. Thỉnh thoảng Hatsuyo ngó tôi đẵm trìu mến. Ðó là những giờ phút sung sướng nhứt mà tôi chưa từng biết trước đây. Tất cả những hạnh phúc của quá khứ như bị hạnh phúc của hiện tại che mờ hết.

Mắt tôi không lúc nào rời khỏi Hatsuyo. Nàng thật huyền diệu. Nàng là một giấc mơ có thật, một công chúa trong những câu chuyện thần tiên, xinh đẹp tuyệt trần và rực rỡ. Nàng là vợ tôi.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 12 Sep 2026

Trong bài này, xin phép bạn đọc cho tôi được nói một chuyện rất riêng tư. Một thứ chuyện riêng của một người, nhưng có lẽ cũng là chuyện của nhiều người.

Đó là chuyện tình cảm, không thể không nói, không thể không viết, bởi nó luôn ám ảnh trong đáy sâu tâm tư, trong cả tiềm thức, khó mà có thể làm được điều gì khi còn vướng víu trong lòng. Bạn đọc đã từng gặp trường hợp một người thân vừa ra đi chắc chắn sẽ thông cảm với tôi. Nhất là đã ở ngoài cái tuổi “thất thập cổ lai hy” sắp bước sang “bát tuần”, điều ấy còn sâu sắc hơn nhiều.

Người Bạn Là Thầy Mình

Vâng, đấy là điều tôi muốn được trang trải lòng mình về sự “ra đi” của anh Phạm Xuân Ninh, bút hiệu Hà Thượng Nhân, cũng là “sếp” của tôi trong một khoảng thời gian ngắn, là bạn đồng ngũ, bạn trong “tù cải tạo”, bạn trong cuộc đời suốt những năm làm báo và viết lách kể cả trong những cuộc chơi “xì còm”, mạt chược nhỏ… Ở đây tôi không gọi là “thi sĩ” Hà Thượng Nhân, tôi chỉ gọi là “anh”, như tôi và các bạn tôi thường gọi. Tôi cũng không kể lể về con người cùng những đức tính tuyệt vời của anh, không chỉ dành cho bè bạn mà hầu như cho tất cả những người đã từng giao thiệp với anh. Tôi cũng chưa phải là “tri kỷ” của anh và tình thân chưa bằng những vị khác đồng trang lứa hoặc có nhiều thời gian gần gụi với anh. Anh hơn tôi 11 tuổi — anh sinh năm 1922, tôi sinh năm 1933 — có thể đó là thầy mình. Tự trong đáy sâu trong lòng tôi vẫn mang tình cảm ấy, cho dù bất cứ ở ngoài đời hay sau chấn song sắt.

Tôi học được ở anh những điều không có trong sách vở, không có trong ngay cả nền giáo dục của gia đình, chỉ có ở trong cuộc sống với bạn bè. Nhìn cách anh sống, anh nói, anh đối nhân xử thế… đó là những điều anh đã dạy tôi cho đến hôm nay.

Không phải chỉ mình anh mà rất nhiều bạn bè cũng đã dạy tôi nhiều điều tương tự. Nhưng anh là một trường hợp đặc biệt.

Không Phải “Sếp” Nào Cũng Được Kính Trọng

Một điều cần nói rõ, không phải ai là “sếp” cũng được cấp dưới kính trọng, đôi khi còn ngược lại. Làm “sếp” mà thiếu cái tâm, thiếu cái tình, chỉ có cái “uy”, không có cái “ân” thì khó có cấp dưới nào kính trọng.

Một anh cấp dưới kính trọng một cấp trên chỉ lấy “uy”, lấy “quyền” ra chỉ huy, hò hét, thì anh cấp dưới đó xứng đáng được gọi là kẻ “nịnh thần”. Kẻ dám nói thẳng nói thật mới đúng là cấp dưới đáng kính trọng. Con người nào cũng bình đẳng như nhau, khác nhau chỉ ở chỗ có được kính trọng hay không mà thôi. Ngay cả một chính thể dù mạnh đến đâu, nếu những người được gọi là lãnh đạo, sống và làm có “tình”, có “lý”, có “tâm” là thuận lòng dân sẽ tồn tại, đi ngược lại với nguyện vọng của người dân, trước hay sau sẽ bị tiêu diệt. Tàn ác như Tần Thủy Hoàng, tưởng sức mạnh là vô địch, rồi cũng tiêu tan. Đó là lịch sử, là chân lý không thể thay đổi. Nhưng ở đây tôi không dám dài dòng về chuyện này.

Tôi chỉ muốn chứng minh tại sao anh Phạm Xuân Ninh được hầu hết các cấp dưới kính trọng. Chính vì nhân cách lớn của anh. Nhân cách ấy thể hiện ngay trong lối sống hàng ngày, lối giao thiệp, tiếp xúc với mọi người quanh mình và ngay với thuộc cấp. Anh không là quân nhân chuyên nghiệp, không là sĩ quan học trường Võ Bị ra, nhưng anh lại là một người lãnh đạo rất giỏi, anh nói gì ai cũng nghe, sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ.

Làm việc với anh Ninh cứ như trong một gia đình, chẳng phải lo gì đến những “âm mưu, thủ đoạn” với cái lưới kỷ luật lúc nào cũng sẵn sàng úp chụp lên đầu. Còn gì sướng hơn. Đó chính là lý do tại sao khi anh ra đi, chỉ có lòng thương tiếc.

Một “Cơn Mưa Buồn”


Hà Thượng Nhân (1919-2011)

Khi anh ra đi dường như có một cái gì thay đổi lớn lắm. Ngay ngày đầu tiên biết tin anh từ giã vĩnh viễn cuộc đời, anh em khắp nơi xôn xao, điện thoại, thư từ cho nhau. Mỹ gọi cho Úc, Úc thư cho Pháp, Pháp gọi cho Canada, Canada thư cho Việt Nam. Một nỗi tiếc thương âm thầm như khói sương lan tỏa trong tất cả những lá thư, dù là thư điện tử, dù là tiếng nói trong điện thoại đường dài. Không có tiếng khóc, đôi khi lại là tiếng cười cùng nhau, nhưng… lại có cái gì đó bàng bạc nuối tiếc thầm kín. Tôi không thể định nghĩa được chính xác là cái gì và cũng không diễn tả được trọn vẹn tình cảm ấy. Chỉ biết “nó” là thật, là một cơn mưa buồn, như câu thơ anh làm trong “trại cải tạo” ở Long Giao năm 1975:

… Bây giờ giữa Long Giao

Ngồi nghe mưa sùi sụt

Cuộc đời như chiêm bao

Có hay không nẻo cụt?

Anh châm điếu thuốc lào

Mình say, mình say sao?

Tưởng như mới hôm nào, anh ngồi cùng tôi ở cái gọi là “trại cải tạo”, cùng hút chung “cái điếu cày tự chế”, nay anh đã ra người thiên cổ!

Tôi chỉ là anh làm thơ vớ vẩn, tục gọi là “thơ ba trợn”, nên làm xong bài nào là chỉ một thời gian ngắn đi vào lãng quên luôn. Đọc thơ anh xong, tôi cũng làm một bài dài thoòng, đáp lại “ông thi sĩ bậc thầy”, cùng “ủ tờ”, thiếu bạn thơ, nếu ở ngoài đời chắc tôi không đối đáp như thế. Bài thơ “ba trợn” của tôi được đặt tên là: “Khói thuốc trong tù”, đến nay cố moi óc nhớ lại, cũng lõm bõm được vài câu lẩm cẩm như thế này:

Khói thuốc lào say xanh mầu nhớ

Hương xưa sầu đọng tím thời gian

Nghe sôi máu đỏ trong lòng điếu

Năm tháng vàng theo cuộc chiến tàn…

Khoe với anh Hà, anh gật gù: “Cậu này chơi chữ gớm nhỉ, xanh, tím, đỏ, vàng, nghe được đấy chứ”. Được đàn anh khen tôi phổng mũi, cứ định làm vài bài nữa trong tù nhưng bí quá, chẳng ra được bài “thổ tả” nào. Sau này có vài bài, cố nhớ mãi không được. Cái “bộ nhớ” đáng tin cậy của tôi bị vào “nhà tang vật” hơn hai năm nay mất rồi!

Một sự thật khác cần nói là anh mất ở tuổi 90, là thọ lắm rồi, chúng tôi đều biết anh đã suy nhược nhiều và ngày ra đi của anh không còn xa. Không “chết trẻ” để làm tăng nỗi đau xót tiếc thương. Nhưng riêng sự vĩnh biệt của anh làm nên nỗi tiếc nuối ngậm ngùi trải rộng như cơn mưa mùa đông. Anh không là “lãnh tụ” bất cứ cái gì, nên không có cảnh ôm nhau khóc rú lên, dù chưa chắc đã là thật. Người ta khóc lóc, lăn lộn vì những cái khác cho chính mình. Với anh Hà Thượng Nhân, tôi nghĩ, mọi người dành cho anh cả tấm lòng chân thật nhất.

Những “Anh Già” Khó Tính Và Dễ Tính

Tôi lại xin nói đến một sự thật khác là vào thời buổi này, “cánh già chúng tôi”, hỏi 10 người thì đến 9 ông bày tỏ ước nguyện là nếu có phải “rửa chân lên bàn thờ, ngồi nhìn con gà khỏa thân” thì chỉ xin đi cho nhanh, không đau ốm vật vờ, thế là đủ. Không còn ai sợ ngày ra đi nữa. Nhiều ông đã làm sẵn di chúc và dặn dò con cháu rất tưng tửng cứ như nói “bố đi chơi, mai về”. Cũng chẳng phải muốn đi ngay cho được việc. Cứ thản nhiên sống hết quãng đời còn lại. Có ông vẫn miệt mài làm việc sợ “quỹ thời gian” còn rất ít. Có ông thảnh thơi chọn cái thú an nhàn bên con cháu. Nhiều ông nói sống đến được tuổi 90 là đủ rồi, nếu không muốn nói là thừa. Được ra đi như anh Ninh là một “hạnh phúc” lớn.

Tôi cũng nghĩ như vậy. Thật ra là bạn bè, dù đã trên dưới 50 năm hay mới hơn chỉ có 5-10 năm, chúng tôi cũng đã có đôi ba “anh già” giận hờn nhau, tức bực nhau vì những chuyện thật, chuyện giả, hiểu đúng hay hiểu lầm nhau vì người khác mang lại, thường có trong cuộc sống như một lẽ tự nhiên. Có những chuyện tưởng như không thể dung hòa, không thể “nhìn mặt nhau”. Tôi không nói đến “lập trường chính kiến” có màu sắc chính trị, đó là quyền của mỗi người. Tôi chỉ nói một tình bạn thông thường như bạn từ lúc còn để chỏm, từ lúc vào đời, lên đời hay xuống đời. Có những “anh già khó tính” hơi tí là giận, lại có những “anh già dễ tính” cái gì cũng cười hà hà cho xong. Thưa thật với bạn đọc, tôi lại nằm trong cả hai trường hợp trên. Nhưng sự “giận hờn” của tôi, nếu có, bao giờ tôi cũng để trong một giới hạn nhất định. Tôi thường tự hỏi “không biết mình giận nó đúng hay sai”.

Tự nhiên trong lòng nổi lên một điều gì như nỗi băn khoăn, có vẻ là một chút hối hận.

Tôi đã nhận được hàng trăm những clips, video ca tụng về Tình Bạn. Gần đây nhất, là một clip rất ngắn gọn: “CÓ MỘT NGƯỜI BẠN LÀ MỘT ÂN HUỆ, MỘT MÓN QUÀ, MỘT ĐẠO ĐỨC, MỘT VINH DỰ”.

Đọc câu “châm ngôn” rất bình dị đó bên những cánh hoa, tôi thấm thía và có mặc cảm như một thứ “tội đồ” vì có thể đã đánh mất một người bạn nào đó. Thật sự tôi rất buồn cho mình. Rồi đến lúc nào “bạn ta ra đi”, tôi sẽ phải nghĩ gì đây?

Anh Hà Thượng Nhân vừa vĩnh biệt anh em, tôi nghĩ là không bao giờ dám làm mất bất cứ người bạn nào, dù người bạn đó, tôi tưởng là ghét tôi hay thương tôi. Tôi biết là học bài học này quá dễ, song làm được thì… hơi khó. Khi “cái tôi” chỉ là sự tầm thường, như câu phương ngôn Pháp: “Le moi est haissable” chắc tôi sẽ làm được. Không có cái gì là khó, không bao giờ là muộn cả.

Mấy Anh Già Nói Chuyện Lẩm Cẩm

Trở lại về sự ra đi của anh Hà Thượng Nhân, đến hôm nay, đã có rất nhiều báo loan tin buồn này và đã có nhiều bài viết về anh cùng với hàng loạt lời “Chia buồn”, “Phân Ưu” với cả trang tên tuổi đính kèm, nếu muốn ghi hết. Bạn có thể đọc trên hầu hết các tờ báo, các trang web phổ biến những bài này.

Ngoài những người từng là bạn của anh, là cấp dưới của anh có tên trong những bản “chia buồn”, tôi tin là còn nhiều những người khác, vì một lẽ nào đó, chưa có tên trong danh sách này. Có lẽ các vị soạn thảo cũng vội vàng nên làm sao tránh được thiếu sót. Có cả những vị không quen biết nhưng mến mộ anh qua những thi phẩm.

Tôi không dám đại diện cho ai cả, nhưng tôi hy vọng nói được một phần tiếng nói chung của khá nhiều bạn bè anh, cũng là bạn tôi, mà trong lời “Phân Ưu” không thể nói hết. Biết đâu, cũng là nỗi lòng của nhiều độc giả đã từng mang chung tâm trạng này trong nhiều trường hợp khác nhau.

Vài hàng gửi đến hương hồn người quá cố Hà Thượng Nhân và giãi tỏ tấc lòng chân thật cùng với “cánh già” chúng tôi.

Nếu các bạn trẻ có đọc thì xin hiểu cho “mấy anh già nói chuyện lẩm cẩm với nhau ấy mà”. Thế là người co đầu gối, còm cõi trước computer, bên trời lận đận cũng mãn nguyện lắm rồi.

(Sài Gòn, 15-10-2011)

Cô Thiên Hương

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

January 19th, 2024

Post by Sơn râu 12 Sep 2026

Ở Melbourne, giai cấp thượng lưu, con nhà giàu học trường tư. Geelong Grammar School lớp 12 học phí lên tới 46,344 đô một niên khóa. Melbourne con nhà nghèo phải gian nan ráng thi đậu vô trường công lập The Mac. Robertson Girls’ High School gọi tắt Mac.Rob và Melbourne High School dành cho nam sinh thành lập năm 1905. Hai trường nầy thầy, cô giáo đều dạy giỏi.

Sài Gòn quê mình: Trường Nữ Trung học Gia Long thành lập năm 1913. Mac. Rob trẻ hơn vì thành lập năm 1934. Còn Trường Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký, (Petrus viết theo Tây nên có dấu sắc) thành lập ngày 11 tháng 8 năm 1928 trẻ hơn vì Melbourne High School thành lập năm 1905. Học trò của các trường thi tuyển nầy con nhà nghèo nhưng học giỏi.

Niên khóa 1963-1964, đậu kỳ thi tuyển vào trường Petrus Trương Vĩnh Ký mà bà con mình thường gọi tắt là: ‘Petrus Ký’, tui được xếp vào lớp Ðệ thất 5.

Thời dụng biểu thời đó tùy theo môn chính hoặc môn phụ mà xếp số giờ. Quốc văn hay Anh văn mỗi tuần tới 6 giờ. Môn phụ như Nhạc, Vẽ, Thể dục tuần chỉ một giờ. (Giờ chớ không phải gọi là tiết như CS)

Riêng môn Sử, Địa, sau nầy già rồi tui thấy nó cực kỳ quan trọng, mà chỉ được xếp như môn phụ. Sử một giờ. Địa một giờ.

Cô Phạm Thị Thiên Hương  

Tại sao tui nói môn Sử, Địa là quan trọng? Vì Sử, nó nói chuyện của ông bà mình. Địa, nó nói về vùng đất mình sinh ra và lớn lên. Có kính trọng ông bà; có thương yêu vùng đất quê hương, nơi cuống nhau chôn vùi trong quê đất thì mình mới biết thương nước, thương người mà không đi theo CS để tàn hại quê hương, đất nước của mình.

Năm Ðệ Lục và Đệ Ngũ dạy Sử Địa cho lớp tui học là Cô Phạm Thị Thiên Hương. Đám thứ ba học trò thường gọi cô là bà trong khi gọi quý nữ giáo sư dạy các môn khác là cô! Không phải vì các cô khác còn trẻ hơn Bà Phạm Thị Thiên Hương mà vì Giáo sư Phạm Thị Thiên Hương khá là nghiêm khắc nên đứa nào cũng ngán. Ngán thì tụi nó gọi là bà hè! Còn tui nghĩ như tiếng thầy là phái nam; cô là phái nữ, thầy cô là với người dạy dỗ tui, tui không phân biệt theo tuổi tác.

Mở đầu giờ dạy của cô, hổng đứa nào dám hó hé, giỡn hớt gì ráo trọi. Tim đập thình thịch khi thấy cô giở sổ điểm danh ra. Nhứt là những đứa có tên (xếp theo bảng chữ cái ABC) đứng chần vần trên đầu sổ. Giở ra, rồi cô xếp lại (chắc bữa đó bài học khá dài). Đứa nào cũng thở phào ra cái khì nhẹ nhõm! Vì nếu xui rủi bị cô kêu lên trả bài mà không thuộc đành đứng cạnh bàn giáo sư mà đực mặt, cúi gằm xuống như tử tội sắp lên đoạn đầu đài hay lên giàn hỏa! Cô đâu có nhéo lỗ tai hay kí đầu nghe ‘cốc cốc’ gì. Cô chỉ rầy rà, chì chiết, cằn nhằn, cửi nhửi chút đỉnh mà thôi! Chút đỉnh nhiêu đó nghe đã nhức hai cái lỗ tai rồi, nên đứa nào cũng ngán, cũng xin thời gian hãy qua mau cho con nhờ!

Về môn Sử Địa, tui chỉ khoái những bài đọc thêm trong sách Địa Lý của ông bà Tăng Xuân An để thỏa mãn cái óc tò mò của con nít. Tui muốn coi trên thế giới thiên hạ sống ra sao và làm cái giống gì?

Khi đi gần hết cuộc đời, nhìn lại thì té ra có những chuyện tui tưởng vậy mà không phải vậy. Môn Sử Địa nó rất quan trọng, nếu không hơn thì cũng không thua gì so với các môn chính khác.

Ôi cái thuở 12, 13 tuổi, học Ðệ Lục, Đệ Ngũ thầy cô rót vào đầu cái gì thì mình nhận cái đó. Học từ chương trình ra rả, nhét vào đầu cho nó đầy. Đôi khi chỉ hiểu sơ sơ nhưng không dám hỏi nên hiểu hổng được bao nhiêu. Sau nầy mất nước, thầy trò phiêu bạt 4 phương trời. Tui vẫn ao ước phải chi mình gặp lại được các thầy cô ngày cũ. Dạy môn gì cũng được để tui có dịp hỏi vài ba câu, mà hồi xưa thuở đi học vì sợ quá, mà mình không dám hỏi?

Nếu gặp lại Cô Phạm Thị Thiên Hương thì câu hỏi của tui sẽ là: “Em là dân Sài Gòn mà trong sách Sử Địa em học lại không được các thầy cô soạn sách giáo khoa chỉ cho em Sài Gòn, dân nó ra làm sao, sống như thế nào hết trơn hết trọi vậy cô?” “Vì trước khi yêu con đầm hay á xẩm nào đó thì em phải biết rồi yêu con nhỏ hàng xóm, dân Sài Gòn mới phải chớ?” Xa trường Petrus Ký, vào đời lưu lạc rồi phiêu dạt tận quê người, tui mang câu hỏi đó đi cùng Trời cuối đất!

Tang lễ Cô Phạm Thị Thiên Hương

Và tiếc thay khi Miền Nam thân yêu của chúng ta sụp đổ vì lọt vào tay CS, thầy trò sẻ đàn tan nghé, thất lạc, tứ tán khắp 4 phương trời nên khó tìm nhau! Thì làm sao trò xưa gặp lại thầy cũ để hỏi vài câu cho đặng chớ?

Gần 60 năm trời đằng đẵng đã trôi qua trong cơn mộng dữ! Rồi năm kia, tui nhận được ‘emails’ của mấy thằng bạn học đồng song, đồng môn trường Petrus Ký năm cũ bên Hoa Kỳ khấp báo là: Cô Phạm Thị Thiên Hương, giáo sư Sử Địa Petrus Trương Vĩnh Ký, vừa đã qua đời rất đơn chiếc tại thành phố Montpellier miền Nam nước Pháp!” Người thầy từng dạy tôi những bài Sử Địa gần 60 năm về trước xác thân đã trở về cát bụi! Chợt bùng lên trong tiềm thức, kỷ niệm xưa trở về rõ mồn một! Nhớ cô dạy rằng vẽ bản đồ đất liền và biển phải lấy viết chì màu tô cái rìa màu xanh dương để người ta biết đây là biển.

Hạng Võ Sở Bá Vương có tới 9000 đệ tử qua Ô Giang mong làm nghiệp lớn. Khi thất bại trở về dòng sông cũ còn có được Ngu Cơ. Còn người thầy cũ của tôi, suốt một đời đi dạy (chắc số đệ tử còn nhiều hơn Hạng Võ Sở Bá Vương) đã lặng lẽ ra đi một mình, bỏ lại một đời giông bão. Cô đi, mang theo cả một mảnh đời thơ ấu của tui, của bè bạn cùng lớp, cùng trường năm cũ.

Đêm quê người, Melbourne, Victoria, Australia nghe tin dữ, tui buồn biết bao trong tấc dạ. “Xin Vĩnh biệt người thầy cũ của tui, Cô Phạm Thị Thiên Hương Giáo Sư Sử Địa trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký!”

ĐXT

Có một ngày gọi là St Valentine

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 12 Sep 2026

Anh thường ra ngồi ngoài quán, hầu như mỗi ngày, chẳng thay đổi địa điểm. Cà phê ở đó ngon, sự tĩnh lặng, ánh sáng vừa phải, trang trí đẹp, thoáng; và sau hết, ít có những cặp mắt tọc mạch ngầm dọ hỏi mấy đứa lỡ nấn ná câu giờ như anh. Cái mà anh không thích là lắm khi anh chợt nhìn ra, sợ hãi về nỗi cô đơn luôn vây khổn anh. Anh tính bỏ thói quen chẳng lành mạnh ấy đi thì một hôm bất chợt anh phát hiện có người con gái. Cô ngồi góc khuất, cũng lẻ loi một mình. Cô là khách quen, anh đoán thế, qua điệu bộ có vẻ thân thiện của đứa pha cà phê.
Chẳng hiểu do đâu anh tự đánh cuộc, cô ấy là người Việt. Nào có gì đặc thù để võ đoán đó là một người đồng hương? Có thể hồ đồ để nương nhờ vô hai chữ: Linh tính. Anh là người nhạy cảm. Và thông thường, nhạy cảm nó làm mình liêu xiêu ít nhiều nếu giác quan bù trất, trông chim hóa bướm. Để kiểm chứng anh làm mặt dày mày dạn tới gần làm quen. Có người bày: Đẹp trai không bằng chai mặt. Ừ, thì đôi khi cũng nên ca cải lương cho vấn đề được tới. Hiệu nghiệm, cô vui vẻ cho anh ngồi ghế đối diện. Chẳng sai, cô người Việt, in tuồng sinh ở Đà-nẵng, giọng khó nghe ra lúc ban sơ nhưng thánh thót rót vào tai khi đã có trớn, nhăng cuội toàn chuyện nắng mưa, nhưng vui thú. Cô có đôi mắt to, chút phiền muộn đọng chiếu. Trên vách treo bức tranh in lại chân dung thiếu nữ của Modigliani. Đôi mắt đó, nhãn quang này e thập phần chẳng sai biệt mảy may. Anh kiếm ra cớ để gợi chuyện và cô xì một tiếng. Chữ “xì” chẳng nói rõ điều gì. Chê bai? Phủ nhận? Hay ngụ ý: Xưa rồi Diễm, trăm người đều nói với ta có ngần ấy điều, chả mới lạ. Ngoài cửa sổ linh hồn ấy ra ta chẳng còn gì nổi bật ư?

Anh đi mua thêm một tách cà phê sau khi hỏi thứ mà cô đang uống. Mời. Anh nói. Cô bảo: Eo ôi, nhiều quá, dung nạp gắt, sợ táo bón. Một nửa thôi. OK? Cô sớt chia, đổ vào cái tách men có in vệt son môi còn ướt. Màu đỏ lấm lem nọ làm cho men sứ trắng trở nên nhạt nhòa. Anh thích sự vấy bẩn kia, tưởng tượng ra cái rít rát của nó dán chặt vào mồm miệng luôn khô khát của mình…

Chưa bao giờ anh thấy thời gian trôi mau như vậy mỗi khi được chuyện trò cùng cô. Binh pháp có câu: Dục tốc bất đạt. Mà ngay cả cẩm nang dành cho đầu bếp cũng thế. Lửa riu riu, vớt bọt cho tới hồi nước trong, đậy nắp lại. Đi đâu mà vội? Anh biết, nên anh dằn lòng chẳng nói ra cảm xúc đang réo sôi, chực trào. Khi xét thấy thời cơ đã đến, hoàn cảnh thuận lợi, có nghĩa là sau khi đã “cúng” cho quán nước đó trên dưới 500 đô, mòn nhẵn chỗ ngồi, anh bắt đầu nhập đề. Thằng cha đầu bếp đang chuẩn bị mở nắp, xem xương thịt đã nhừ chưa, cần gia giảm bột ngọt mì chính? Anh bóng gió một câu, cô như không nghe rõ. Cô ngó ra đường: Hình như ông chẳng có một người bạn nào cả? Có chứ, có chứ. Nó bận bịu vợ con, lại thêm Tết đến nó lu bu chuyện cúng kiếng. Hồi hôm tao tắm táp sạch sẽ, cả mụ vợ cũng thế, đợi giao thừa tao liền đốt cho mụ cái pháo tống, la bai bải. Cái gì? Ồ, nó trêu ngươi, nó dem thèm tôi vậy mà. Có biết đốt pháo tống là gì không? Cô có vẻ nản, mặt cúi xuống, như thể đang ngó cái đầu gối. Cô không thích ỡm ờ, cô chẳng ưa đoán già đoán non, cô ghét nói xiên nói xẹo. Ưa gì thì nói rõ cho bà con nhờ, cha nội!

Cô gọi anh bằng ông, xưng tui. Cô trên ba mươi, đã từng làm vợ thằng đàn ông may mắn nào đó. Cô ra ngồi ngoài quán vì đang độc thân tại chỗ, có thể cô mượn khung cảnh ấy để làm vơi chút sật sừ hư hao sau đổ vỡ. Đường tình cô đi hơi ngắn, chẳng êm ả từng cây số, như thể leo lên tới đỉnh đèo Hải-vân thì chết máy, vì nguyên cớ gì thì anh không tiện hỏi. Anh rất mong là cô vất bỏ mọi thứ trên đèo heo hút lạnh để đón xe lui lại nơi xuất phát và anh là đứa lái xe ôm định mệnh kia. Cô hỏi tuổi anh. Năm mươi, anh man khai, cố giảm thiểu đôi ba năm cho đỡ già nua. Anh tin là cô chẳng phát hiện điều gian dối, và nếu biết sự thật thì có gì để phiền hà ở sự chênh lệch tuổi tác kia? Phải mà vợ chồng thì họa may “gôm”, cho nói lại, bởi như vậy trông chẳng xứng đôi vừa lứa, ngó lệch lạc, mất sướng. Già chết trước, dĩ nhiên, già xanh cỏ vất trẻ hồng nhan làm góa phụ mình ên, kể cũng nản. Ngay tình, hơn hai mươi năm là hố sâu cách biệt ấy, không chắc đứa tra có hột như anh lại khôn nẻ vỏ bằng cô. Cô thông minh, nhiều giác quan, nhiều linh tính, cô có thể đọc ra những âm mưu vừa chớm nẩy mầm trong trí anh, điều đó khiến anh đâm ngu ngơ vụng dại như thằng con trai mặt đang nổi mụn giọng đang bể tiếng. Lúng túng là trạng thái quen thuộc luôn đứng án giữa anh và cô. Như xăng pha nước làm máy nổ thậm thụt chạy cà rịch cà tang qua bao đèo cao núi lớn mãi bày biện.

Đầu năm, cô nói: Ông chưa lì xì cho tui! Chết chửa, anh than thầm. Hơn ba mươi năm lưu lạc, chưa ai lì xì cho anh cái gì cả, chính điều này làm anh quên thứ tục lệ oái ăm kia. Anh cố nhớ lại những ngày tết xưa rich và anh đồ rằng e lớn tuổi thì phải luôn lì xì cho đám hậu bối. Sao cô không làm một cuộc cách mạng nhỉ? Cô hào phóng đảo ngược lề thói hủ lậu kia để đường bệ lì xì anh bất kể một thứ bé tẻo teo làm bằng cớ mấy tháng quen nhau. Anh khổ sở tìm kế hoãn binh, cực lòng đánh trống lãng; và anh hứa có ngay có ngay, tới liền tới liền. Ngay và liền, có liền ngay được quy ra bằng đơn vị tuần. Mất bảy ngày đêm kiên cường bám trụ chiến đấu cùng laptop anh hoàn thành một truyện ngắn gửi đăng báo mạng nóng sốt làm quà mừng tuổi cô.

Hồi âm, trong email cô viết: “Tui hổng ưa món lì xì đó. Chữ nghĩa ông hoang dàn trời thiệt không hợp tạng tui. Sẵn, tui cũng bộc lộ, tui ngán X, PG-13 thì OK.” Tắt máy, buồn câm, giận lẫy cuộc đời anh chui vào giường nằm trùm chăn phủ đầu ngộp thở. Cảm giác như bị chìm xuống đáy, đắm đuối và trên mặt sông rộng mọi thứ vẫn tuần tự diễn trôi, lãnh cảm. Anh là đứa lái xe ôm và thắng xe đang hỏng, xe đổ đèo rợn cảm, muốn cảnh vật ngừng trôi chỉ có nước đâm đầu vào núi hoặc lòn lách nhắm hướng suối khe. Anh ngủ với ác mộng trong ba bữa tết căm lạnh. Anh câm lặng, tự đánh cuộc: Cô sẽ viết một cái email khác?

Khi buổi chiều giũ áo, bóng tối được đẩy lui bằng hai dãy đèn vàng đồng loạt mở bừng những con mắt. Con đường rộng ra, nhợt nhạt một chắn lối chẳng rõ mặt. Vẫn là nỗi bất an quen thuộc, rình rập khi anh dẫm bước trên lối đi nhiều giá băng. Gió táp vào mặt, rát bỏng và sau đó là cái tái tê chai lì, cộm cứng, mất phản ứng. Từng căn chung cư vuông vắn nhạt nhòe màu gạch không phủ sơn, trồi ra thụt vào để giữ lấy sự ghẻ lạnh cố hữu. Đồng dạng ở bề mặt, nhưng hoạt cảnh sẽ thay đổi trong từng căn hộ. Có thể nó nhốt sinh khí đầm ấm của một gia đình đang quây quần bên mâm cơm, có thể kẻ độc thân đang trụng mì ăn liền ở căn đối diện đầy quạnh quẽ, có thể hai đứa trẻ đang ngồi chơi game trước TV ở tầng dưới. Và có thể, trên tầng ba, người đàn bà ngồi trước computer gửi đi những tin nhắn: Làm sao tui có thể nói hết? Ông tới tui khoảng 7 giờ, dị đi hén.

Bảy giờ, cửa mở, anh ngó thấy một bán diện. Chỉ nửa khuôn mặt, chẳng biểu lộ toàn phần sự cảm xúc. Có thể nửa kia đang vui, cũng có thể phần khuất che đang mang chút phiền muộn. Cửa không rộng mở như rụt rè luôn chiến thắng một hân hoan, như hàng xóm rình rập và gặp gỡ này là hành động của kẻ phạm pháp. Anh từng có khi hành nghề đi giao Pizza, thường thì người đặt hàng vui vẻ mở rộng cánh cửa, mở toang hoác, thậm chí họ cả tin để quay lưng vào lấy tiền mặc tình anh có thể đứng quan sát những đồ vật bày biện tùy thích. Anh có thể cầm dao đâm ai đó, nếu muốn. Anh có thể lấy đi bất cứ thứ gì, nếu ưng. Bất cẩn hoặc đề phòng cảnh tỉnh đều vô nghĩa đối với phường bạc ác bởi cánh cửa đã mở ra. Anh lách người vào và anh phát hiện cái phong phanh có trên y phục của gia chủ. Áo xống ấy tựa một cánh cửa chỉ khép hờ hững, quên khóa. Anh đóng cửa bằng lưng, lẳng lặng khom mình cởi giày. Trên tấm thảm nhỏ kề cận có đôi dép để sẵn, dép đàn ông, anh mang nó với câu nói từ cuốn phim nào chợt hiện: Tôi không ngại mang giày cũ đâu! Là sao? Là cũ người nhưng mới ta? Sao tình yêu lại mang giày dép vào trong? Dẫm lui dẫm tới. Có chà đạp không? Thật bậy bạ!

Gia chủ đi vào bếp pha cho anh cốc cà phê chẳng màng hỏi han. Giam giữa bốn bức tường là nỗi lặng yên đang dấy lên một bồi hồi. Bồi hồi ngay cả tiếng ly tách va chạm, tiếng muỗng khuấy động và tiếng dép lê. Cà phê này tui mua ở quán ấy, thứ mà ông vẫn uống. Khói tỏa trên dung dịch đen, sóng sánh khi tách cà phê đặt xuống bàn. Cô kéo ghế, ngồi đi. Mặt bàn nhỏ, hai ghế đứng chầu hai bên, trên bàn cái laptop vẫn hoạt động. Như thể khi anh tới cô vẫn đang cắm cúi vào màn hình. Có gì lạ không? Anh hỏi rồi ngồi vào chỗ cô vừa định sẵn. Chị tui tên Đoan Trang, năm mươi hai tuổi, đang sống ở Quảng-ngãi, có cửa hàng thời trang. Bây giờ bên đó là bảy giờ sáng, tui có nói trước rồi, thích nói chuyện trực tiếp không, tui mở skype. Ông muốn tui đổi cách xưng hô? Tui sẽ gọi ông là anh, ông anh rể, ô-kê? Xem như năm mới tui lì xì ông một tin vui.

Cà phê đắng, muôn đời là thế. Anh uống không hết bởi nghẹn cứng một vật cản, thêm đường thêm mật thêm sữa cũng hoài công. Anh nuốt nước bọt, anh không ngờ cô là nhà soạn kịch và cô viết ra một kịch bản đậm chất khôi hài đen. Chị tui thích đọc truyện ông, nhất là những đoạn ông ưa dặm muối thêm mắm cho giường chiếu chăn gối lệch lạc nát nhàu. Cũng tội, bả vắng đàn ông đã lâu. Ông biết không? Tui hẹn ông tới hôm nay vì đây là ngày lễ tình yêu. Rất ấn tượng cho hai người.

Vậy sao? Anh ngạc nhiên. Chúng ta có nên đi tìm một quán ăn không? Ừ, ngày cho tình yêu, ấn tượng thật. Năm hai tuổi, ông chê già? Phải dòm mặt trước rồi hẳn quyết định. Chị tui để dành được mười ngàn đô, sẽ trao vào tay người mang chị ấy sang đây.

Anh bước lại cửa, mang giày. Tròng vào thân mũ mão khăn quàng áo ngự hàn. Cô vẫn ngồi yên trên ghế, mặt chẳng biểu lộ điều gì. Có khi cô từng là ngọn lửa giúp anh ấm người, có khi cô hiện thân là tảng băng sừng sững làm ngay cả chim chóc cũng biết vội bay lánh xa sự khắc nghiệt của lạnh lẽo, dễ đổ bệnh. Hơn ba mươi năm anh chưa được ai lì xì, hơn ba mươi năm anh khuấy quên một tờ lịch in đỏ ngày St- Valentine.

Anh tự mở cửa, tự đóng lại. Bước ra đường, gió tạt vào mặt anh buốt đau vết cắt lạnh thường hằng. Đường không ai, trống vắng. Đèn vẫn thắp đỏ và đèn chiếu dưới chân anh một bóng đen kẻ đồng hành, thoạt gầy thoạt béo thoạt ngắn thoạt dài, và cả hai đi trong câm nín, co ro.

Hồ Đình Nghiêm