Phan Lạc Phúc
Văn Nghệ xuất bản California USA 2000
Bìa Khánh Trường
Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)
Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)
Post by Sơn râu 8 Nov 2026



Người ta bảo làm vườn cũng như đi câu phải “có tay”. Có người trồng cây, tháp cây … cây nào cũng sống. Có người không trồng được, trồng cây nào chết cây đó. Hai người cùng đi câu, cùng ngồi một chỗ, cũng cần, cũng lưỡi, cũng mồi như nhau mà người giựt cá mỏi tay, người ngồi “trơ thổ địa” chẳng câu được con nào. Mới đây đọc thư của ông bạn già, nhà báo lão thành Như Phong kể rằng trước khi được phép xuất cảnh (1994) sang Mỹ anh có mày mò thử trồng hoa trên một khoảng vườn đất phèn miệt Thạnh Lộc, đường lên Lái Thiêu. Dưới ao trồng hoa sen, trên vườn trồng hoa hồng, đầu ao là một dàn phong lan. Ông bạn già Như Phong là một “bàn tay vàng” trong nghề báo cũng như nghề trồng trọt. Vườn đất phèn mà ông trồng được sen lấy giống từ Quảng Nam nhà thờ cụ Phan Châu Trinh và ở hồ Tĩnh Tâm (Huế). Anh còn “chơi khó” hãm hoa sen trong khạp để hoa giống như Ngọc Liên của các cụ ngày xưa, lá chỉ cao chừng 50 cm, rộng bằng cái dĩa nhỏ đường kính 20 cm, nụ sắp nở hồng hồng tím tím chỉ lớn hơn đầu ngón tay cái, như cái trứng gà ri. Vườn trồng hồng ghép, phong lan theo tiêu chuẩn quốc tế. Mấy người bạn văn còn lại ở Việt Nam thường lên vườn anh Như Phong chơi. Anh chị Doãn Quốc Sĩ có khi cuối tuần ở lại vườn vài ba ngày. Nhà văn Phan Nhật Nam thỉnh thoảng cũng lên vườn trồng giúp. Anh Như Phong viết: Phan Nhật Nam làm vườn tưới cây. Thần khí cậu ấy ra sao không biết mà cậu ấy tưới hồng giúp tôi làm chết queo 200 gốc hồng giống rất đẹp. Phan Nhật Nam (tác giả “Mùa Hè Đỏ Lửa”) nói: “Bây giờ mới cho anh biết, tay em có lửa mà, đụng đâu chết đó..
Về phương diện trồng trọt, bản thân tôi tự xét thuộc loại “bàn tay chì”. Trồng cây không đến nỗi chết nhưng èo uột lắm. Dạo còn ở Việt Nam trong khu vườn nhỏ ở Hóc Môn, tôi có sang hàng xóm xin giống cây sa-bô-chê về trồng. Ở chung quanh vườn là một rặng tre cao. Cây sa-bô-chê nằm trong vùng rụng lá của rặng tre. Mới đầu cây sa-bô-chê lớn đều, phởn phơ, lá xanh dày bóng mượt. Nhưng đến một độ nào đó là nó ngừng phát triển, ra hoa vài cái ngẩn ngơ mà không đậu trái. Sau hỏi ra mới biết không cây ăn trái nào nằm trong vùng “ảnh hưởng” của cây tre mà khá được. Tre là một giống cây rất mạnh và rất “thực dân”. Nó rụng lá xuống rất nhiều để bảo vệ sự sinh tồn của nó. Cây nào nằm trong vùng rụng lá của cây tre là “từ chết tới bị thương”. Mấy cây sa-bô-chê của tôi không đậu trái được là vì thế. Từ khi sang đến Úc con gái tôi bảo: “Có cái vườn đằng sau có cây cỏ Việt Nam để bố mẹ trông nom, đỡ nhớ khu vườn Hóc Môn của bố mẹ”. Tới Úc, cũng như mọi người, chúng tôi có Medicare, có bác sĩ gia đình. Ông thầy thuốc của gia đình chúng tôi dặn rằng: “Phải vận động chân tay, phải làm việc mỗi ngày chừng vài tiếng, đừng có nằm một chỗ mà cũng không nên làm việc gì quá sức, cứ nhẩn nha, từ từ”. Theo lời ông thầy thuốc, vợ chồng già chúng tôi chăm bón cho khoảng vườn sau có 2 cây ổi, một cây ổi lòng đào, một cây ổi xá lị trái to cùi dày, một cây mận hồng hồng đỏ đỏ nghe nói lấy giống từ Mỹ Tho, một cây mãng cầu, một cây bưởi, một cây cam, một cây quýt, một cây chanh … Mẹ cháu thường lo cơm nước cho cả nhà nên vài năm trước đây lại lo sửa soạn một vạt đất trồng rau thơm gia dụng: cây ớt, cây tía tô, cây rau răm, rau húng, cây kinh giới … Biết phận mình trồng cây không khá nên tôi làm “thợ vịn”, mẹ cháu sai đâu làm đó. Ngày đi cải tạo, bao nhiêu năm làm vườn rau, mỗi buổi xách hàng mấy trăm đôi “ô doa” nước từ suối lên vườn còn làm nổi thì bây giờ ở đây tưới cây rất “phẻ”. Cứ tà tà cầm cái vòi nước nhẩn nha từ vườn trước ra vườn sau. Ông hàng xóm người Ăng Lê thấy tôi chăm chỉ tưới cây nên mỗi sáng thường vẫy tay: “Hello !… very good job!”.
Năm ngoái mùa nực nó nóng quá thể, nóng như chưa bao giờ nóng thế nên cây đào trước cửa và cây mận đằng sau “mất mùa” không ra trái. Cây đào mọi năm ra hoa để rực một góc trời mà năm nay hoa ngất ngư mãi mới nở được ít nụ còi cọc, rồi cũng như cây sa-bô-chê năm nào ở Hóc Môn, không đậu trái. Cây mận cứ dạo này quả từng chùm la liệt, những trái mận đỏ hồng như những cái chuông thời gian nho nhỏ báo tin mùa Xuân sắp về. Mọi năm cứ dạo gần Tết như thế này là tôi lại làm một cữ chỉ đẹp: đi hái những chùm mận đỏ, hái luôn cả cành, tặng một vài người bạn để “trưng” ngày Tết. Màu xanh biếc của cây lá cùng với màu hồng của quả mang một hơi thở của thiên nhiên tươi tốt, gợi nhớ về một quê hương Việt Nam đã khuất, đã xa. Cây mận nhà tôi thấp, trái mọc la đà. Tôi phải cúi khom người mà hái trái. Cành cây oằn xuống như một bà mẹ đang mang nặng đẻ đau. Đầu tôi, mặt tôi, vai tôi chạm vào cây, vào cành, vào trái. Tôi chợt nhớ một câu thơ cũ của Thâm Tâm (?): “Trở ra lại đụng mùa Xuân trên cành”. Năm nay, cây mận nhà tôi mất mùa rồi. Một vùng cây lá xanh um mà tối thẫm. Mùa Xuân hình như không về hay là về trễ. Nhìn thật kỹ trên cây chỉ thấy một vài trái mận còi, hiu hắt …
Chúng ta định cư tại khu vực Nam bán cầu này khí hậu nó tréo cẳng ngỗng với khí hậu quê nhà. Ở quê hương ta bây giờ đang mùa Đông, sắp sửa sang Xuân thì ở đây đã vào mùa Hạ. Cái mùa Hạ năm ngoái ở đây nó kéo dài kinh khủng, nóng trên 40 độ hoài hoài, cây cỏ lụi tàn, người người đi tránh nắng ra bãi biển nằm duỗi ra như một lũ cá ươn. Một mùa Hạ còn in dấu cho đến tận hôm nay. Khu vườn sau nhà chúng tôi mùa Hạ năm qua nó tiêu điều quá thể. Mấy cây ăn trái như cây đào, cây ổi, cây chanh, cây mận … không chết nhưng úa vàng ủ rũ. Những lá cây ăn trái bị nắng táp khô queo, gió thổi bay xuống mặt hè lạt xạt. Lá rụng xưa nay là một cảnh dịu mềm, uyển chuyển, bây giờ nó lại là một tiếng kêu khô của rạn vỡ tang thương. Người Anh, người Úc gọi chung greenery là sự xanh tươi muôn thuở của cây lá, nhưng mùa Hạ năm qua cây cỏ không còn xanh tươi nữa mà chỉ còn lại màu vàng của lửa.
Cây ăn trái đã như vậy còn nói gì đến mấy luống rau gia dụng. Mấy cây ớt, cây tía tô, cây rau húng, rau răm của tụi tôi không chịu nổi cái nắng thiêu đốt của mùa hè đều chết tiệt. Mấy đọt rau thật chẳng đáng gì … nhưng dù sao chúng tôi hàng ngày cũng chăm nom, tưới bón cho nó. Có một chút hy vọng của người già gửi gấm vào mấy lá rau, bây giờ thấy nó úa vàng bẹp dí, tưới bón bao nhiêu cũng không thấy nó ngóc đầu lên nổi, tôi và nhà tôi nhìn nhau khe khẽ thở dài.
Giống như “Mùa Hạn” trong thơ Tô Thùy Yên: “Lịch sử sau cơn dữ lạ thường”, lại có một cơn mưa tái tạo. Mùa Hạ năm qua nắng như chưa từng nắng thế bao giờ, rồi sau đó lại có một đợt mưa dài giải hạn.
Mưa hàn gắn lại những cánh đồng nứt nẻ, mưa làm sống lại những mầm khô, mưa trả lại màu xanh cho cây lá.
Mưa ôm choàng đất khóc thương mong,
Mưa báo tin vui chạy khắp đồng.
Mưa đuổi bắt gào reo hớn hở,
Mưa làm trẩy hội nước trăm sông …
(Tô Thùy Yên)
Tôi hy vọng đó là sự biến thiên ắt có của sự vật: cùng tắc biến, biến tắc thông. Sau một kỳ đại hạn rồi lại đến một mùa mưa. Sau cơn mưa trời lại sáng. Người già chúng tôi làm vườn, phần nào giống như người thợ cấy trong ca dao:
“Người ta đi cấy lấy công.
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời trông đất trông mây,
trông mưa trông gió trông ngày trông đêm,
trông cho chân cứng đá mềm”.
Làm vườn mà không trông mong bao nhiêu vào sự trả công của cây cỏ. Gọi là cây ăn trái nhưng ở đây có mấy khi chúng ta ăn hoa trái trong vườn. Trồng cây, mong cho cây ra hoa, ra trái nhưng không phải để ăn mà trồng lấy đẹp. Về cái đẹp này, tôi chợt nhớ một câu thơ in sai trong Kiều – mà từ đó đến nay, tôi thấy cái sai đôi khi có ý nghĩa không thua gì cái đúng. Đó là câu thơ bậc tiền bối Nguyễn Du tả mùa Xuân trong ngày hội Đạp Thanh:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trang điểm một vài bông hoa …
Câu thơ này như đã thưa ở trên, in sai. Cụ Nguyễn Du viết là “trắng điểm”, không phải là “trang điểm”. Nhưng “cành lê trang điểm” nó lại có cái đẹp riêng của nó. Cành lê không còn là một vật vô tri, nó đã được nhân cách hóa. Mùa xuân về làm say sưa mọi người, làm say sưa cảnh vật. Cành lê như một cô gái xuân thì, trang điểm cho mình một vài bông họa cài trên mái tóc, đi trẩy hội xuân trên vùng cỏ non xanh. Mùa xuân như vậy không chỉ xôn xao trong lòng người mà xôn xao cả tấm lòng cây cỏ. Cảnh xuân càng đẹp, ý xuân càng nồng chứ sao. “Trang điểm” đâu có thua gì “trắng điểm”. Nhưng dù sao cũng phải xin bậc tiền bối Tiên Điền tha cho sự nghịch ngợm của kẻ hậu sinh này.
Chúng ta trồng cây làm vườn ở đây chủ yếu là lấy đẹp. Ở quê nhà Hóc Môn trước khi chúng tôi sang đây, đến mùa chôm chôm, mùa mít chúng tôi đều lấy một ít đưa sang bà con hàng xóm “ăn lấy thảo”. Bà con láng giềng cũng cho chúng tôi ăn ổi hoặc sa-bô-chê khi trái vừa chin tới. Cái tình lân lý ở quê nhà là vậy. Nhưng ở đây, nhìn sang vườn bên cạnh thấy hoa trái rơi đầy cũng như vườn nhà mình, có ai thèm ăn đâu. Sự thừa mứa đã làm cho thành ngữ “bán anh em xa, mua láng giềng gần” bị thu hẹp lại. Từ sự việc này tôi lại nhớ đến thời kỳ bị đi cải tạo. Người tù chúng tôi tên nào như tên nấy, sao mà thèm mỡ, thèm đường đến vậy. Thèm chảy nước miếng, thèm đến nỗi khi ngủ chỉ mơ thấy cục đường. Ở khu vực nhà tù, thường là nơi “chó ăn đá, gà ăn muối”, nhân dân cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, đói khát thường xuyên nên tù cũng chẳng kiếm chác được gì. Ở những nơi này hoa tươi thì nhiều nhưng không có trái ngọt. Vì cây trái vừa mới ương ương đã bị cọn người đói quá, thèm quá ăn ngay, nên trái không kịp chín. Nhưng hoa tươi thì khi người ta đói người ta không thèm nhìn, mặc kệ hoa mặc kệ lá. Một dạo chúng tôi ở Sơn La, đi lấy nứa trên đồi nhìn xuống một thôn bản hoa đào mọc đỏ cả khoảng rừng như một chốn Thiên Thai. Nhưng tiếc rằng không có tiên nữ nào ở đó. Không có ai “Xin dâng chàng hai trái đào thơm”. Chỉ có những con người đói khát. Người đói khát không cần Thiên Thai mà cần ăn no. Khi người ta thừa mứa quá, người ta không cần nhau. Nhưng khi người ta thiếu thốn quá, người ta cũng dễ dàng xa nhau. Ở đội chúng tôi ngày ấy có hai người bạn tù trước đây cùng khóa nên khá thân. Thường thấy hai người chia sẻ với nhau nắm rau, hạt muối. Một bữa có thân nhân một người tù từ Sài Gòn ra thăm. Qua bên đường thân nhân mới hỏi thăm hai người bạn ấy về chồng mình, hai người bạn tù đều trả lời chu đáo. Trước khi đi tiếp, thân nhân người tù có kín đáo ném vào một cái bánh chưng nho nhỏ. Hai người bạn thân cùng khóa tranh nhau chiếc bánh, đánh nhau sưng mồm. Người nào cũng nói: “Bà ấy cho tao, đâu phải cho mày!”.
Bây giờ ở đây mỗi khi tôi phải cào những trái cây rơi xuống đầy vườn vun vào gốc để làm một sự tái sinh, tôi lại thầm nghĩ: “Giả thử ngày đi cải tạo, mình vớ được trái ổi này … “
Năm nay ở Sydney này mưa nhiều hơn mọi năm. Vườn cây mình tưới bón bao nhiêu chăng nữa cũng không bao giờ bằng nước tưới của Trời. Cái vạt rau trong vườn nhà tôi mùa này sao nó tốt tươi quá sức. Năm ngoái nó úa vàng bẹp dí, năm nay lại xum xuê phồn thịnh vô cùng. Năm thì bất cập, năm thì thái quá. Rau đến lứa thì phải hái. Mẹ cháu thu hoạch mấy rổ rau đầy – nào rau răm, rau húng, ngò gai, tía tô, kinh giới … ăn không xuể. Mẹ cháu liền phone ngay cho hai cậu con trai: “Lên ngay mẹ bảo!”. Gia đình chúng nó lên chơi, trước khi về được mẹ cháu dúi vào tay một bịch rau dầy. Hai cô con dâu cười chúm chím:
“Xin cảm ơn bố mẹ”. Tuần sau lên lại một bịch rau tổ chảng nữa. Hai cô con dâu vẫn cảm ơn nhưng không mấy mặn mà. Tuần này trước khi lên chơi, con trai tôi giao hẹn:
“Tụi con lên thăm bố mẹ nhưng không lấy rau nữa đâu. Đầy một frigidaire rồi, không cách gì ăn cho hết”.
Tôi chợt nhớ tới vài ông bà già vẫn thường ngồi bán rau trên mấy cái ghế công cộng bên đường John ở Cabramatta. Ở xứ sở này, muốn làm cái gì cũng phải có licence nhưng có khi đùa đùa chúng tôi cũng muốn làm như thế. Đâu phải vấn đề tiền bạc, 50 xu một bó rau to, có được bao nhiêu tiền. Những người già ở Việt Nam sang đây, gian khổ đã nhiều, thèm từng lá rau hạt muối nên bây giờ trồng được cây rau không muốn bỏ đi. Xin thông cảm cho những người già ấy. Thừa mứa ở đây nhưng không nên quên những ngày khốn khổ.
Năm 1992, chúng tôi có sang Mỹ thăm thân nhân, anh em, bè bạn. Vợ chồng chúng tôi từ San Diego có lên Los Angeles thăm anh chị Võ Phiến. Vườn đằng sau nhà anh chị Võ Phiến có mấy cây hồng sai trái, giống hồng Hạc, vỏ vàng và cứng, ăn vừa giòn, vừa ngọt, vừa thơm. Ớ Mỹ cũng như ở Úc, có ai ăn hoa quả trong vườn đâu. Trồng lấy đẹp. Nhưng sợ phí của Trời, anh chị Võ Phiến liền sản xuất ra một đặc sản vườn nhà: hồng khô. Những trái hồng được rửa sạch, cắt ra từng lát, sấy cho khô đi. Cái giòn của trái cây tươi không còn nhưng bù lại bao nhiêu chất ngọt, chất thơm dồn tụ lại trong miếng hồng dẻo quánh. Những miếng hồng gợi nhớ. Nhớ bao nhiêu công khó bỏ ra để tạo nên một món quà dân dã. Nhớ đến quê hương Việt Nam ta đất
chật người đông, hoa tươi trái ngọt thật là khan hiếm, ăn một trái cây như là thừa hưởng được chút ân huệ của đất trời.
***
… Vào chùa thắp một tuần hương
Miệng khấn tay vái bốn phương chùa này
Chùa này có một ông thầy
Có hòn đá tảng, có cây ngô đồng
Cây ngô đồng không trồng mà mọc …
Tôi thuộc câu ca dao này từ ngày còn nhỏ, thuộc nằm lòng, thuộc truyền khẩu, thuộc mà nhiều khi không hiểu
nghĩa lý nó như thế nào. Lớn lên tôi mới đặt thầm câu hỏi:
Tại sao lại có cây ngô đồng không trồng mà mọc? Suy nghĩ mãi rồi dần dần khi đi vào thực tế, tôi mới hiểu được ra. Tôi hái rau, thấy một giống cây chúng tôi không hề trồng mà nó hiện diện âm thầm trong vườn nhà tôi, lại còn ra trái. Một bữa, vén khóm rau răm, tôi thấy ở dưới một chùm trái dâu sắp chín màu ưng ửng đỏ. Những trái dâu “bắt được của Trời”. Cây dâu này chúng tôi không hề trồng, nó ở đâu mà ra vậy? Ở trên đời này thực ra không có cái gì tự nhiên có, mà cũng không có cái gì tự nhiên mất (“Rien ne se crée, rien ne se perd”, một câu phương ngôn Pháp đã nói như thế). Truy nguyên ra thì người trồng cây dâu này chính là mấy con chim. Những con sáo sậu đầu đen, mỏ vàng, chân vàng hay là mấy con chim cu cườm màu nâu đất, mỏ đỏ, chân đỏ, cổ khoác một tấm khăn choàng lấm tấm nhiều màu óng ánh đã là “tác nhân” gieo giống dâu này. Chim tha về vườn nhà tôi bao nhiêu là rơm là rác để làm tổ trên cây bưởi, chim cũng ngậm mang về dây bao nhiêu hoa trái từ những phương trời xa. Phải chăng đó là hệ quả tất nhiên của “đất lành chim đậu”.
Nhưng có một sự việc mà cho đến bây giờ chúng tôi không biết nó ở đâu ra? Ở cuối vườn nhà chúng tôi có một hồ nước nhỏ, có trồng mấy cây hoa sen, hoa súng. Trên bờ chung quanh có cẩn đá, có mấy cây gồi nho nhỏ tạo dáng kiểu landscaping do ông bà chủ nhà cũ để lại. Năm ngoái đây, nắng quá xá là nắng nên nước trong hồ cạn kiệt. Một ông bạn già tới chơi, ra vườn thấy vậy nói rằng: “Không được đâu ông ơi! cái nhà có điểm tụ thủy mà ông để khô cạn thế này là nó hao tài, phải sửa”. Bơm nước vô thì chẳng bao lâu nó lại cạn đi. Xem lại thì cái đáy nylon ở dưới nó thủng phải thay. Vừa thay xong là vào mùa mưa năm nay. Cái hồ nhỏ cuối vườn nước đầy ăm ắp. Mấy cây hoa sen, hoa súng bắt đầu sống lại, mới đây lại nhô lên khỏi mặt nước một nụ hoa súng nho nhỏ, bằng cái trứng chim. Mấy đứa nhỏ nhà tôi lại đi mua về mấy con cá vàng thả xuống. Chiều chiều chúng tôi pha một ấm trà ra ngồi bên hồ nước, vừa nhâm nhi chén trà “móc câu” vừa cho cá ăn, vừa nhìn xem hoa súng nó lớn thêm được bao nhiêu rồi, ước lượng xem bao giờ nó nở. Chúng tôi cứ cả ngày loanh quanh, lẩn quẩn trong vườn như thế. Tuần trước đây lượng mưa rơi xuống Sydney quá nhiều.
Mưa suốt đêm rào rào, cửa đã đóng mà còn nghe gió rít ngoài kia. Mấy tàu lá chuối nhà ông hàng xóm người Cần Thơ ở đằng sau rung lên phần phật. Như thế này là mấy cây quýt, cây chanh, cây ổi đang vật vã trong mưa. Ngày mai lại tha hồ đi dọn những trái non vừa rụng xuống. Cảnh mưa dầm ban đêm cho ta cảm giác vừa êm ái vừa buồn rầu. Mưa rơi đều đều trên mái nhà như một thứ background music ru ta vào giấc ngủ, tâm hồn bâng khuâng chìm đắm vào một cơn mê. Kỷ niệm xưa thấp thoáng hiện về, tôi như sống lại những ngày trẻ dại ở quê nhà Sơn Tây ngoài Bắc. Trời mưa rỉ rả, tôi nằm co trong lòng ông già tôi, nghe hơi ấm từ người ông truyền sang, nghe tiếng “ếch ộp” của ếch nhái quanh nhà văng vẳng. Ở thôn quê Việt Nam khi màn đêm buông xuống, đặc biệt là khi trời mưa ếch nhái kêu vang, tạo thành một khúc đồng ca thôn dã. Ở thành phố không hề nghe khúc nhạc này, chỉ ở thôn quê mới có. Tôi là một gã con trai nhà quê. Tôi đã sống, đã lớn lên với khúc đồng ca ấy. Đột nhiên tôi nghe một tiếng “ếch ộp” bên tai. Đang giở thức giở ngủ, tôi tưởng đây là một tiếng kêu trong tiềm thức. Nhưng lại một tiếng “ếch ộp” nữa. Tôi đã tỉnh hẳn, rõ ràng có tiếng ếch trong vườn, không phải là mơ ngủ. Tôi khẽ đánh thức nhà tôi dậy, mở hé cửa ra sân. Tiếng “ếch ộp” rõ ràng phát ra trong hồ nước. Tôi và nhà tôi cùng nghe, không sai được nữa. Hai vợ chồng già chúng tôi cùng nắm lấy tay nhau. Ở một đất nước xa xôi cách quê hương ngàn vạn dặm, một đêm mưa hai chúng tôi cùng nghe thấy tiếng vọng quê nhà.
Con ếch này từ đâu mà đến? chúng tôi không biết mà cũng không cần biết nữa. Chỉ xin cảm ơn sự mầu nhiệm của thiên nhiên …
(1999)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.