Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 8 May 2026

Triều Hoa Đại thực hiện

Thưa anh Lâm Chương, trước khi vào vấn đề, tôi cứ phân vân mãi, không biết giới thiệu về anh như thế nào với độc giả, Một nhà thơ, một nhà văn, hoặc cả hai?

Thưa anh Triểu Hoa Đại, có những người cầm bút, coi chuyện làm thơ viết văn như nghiệp dĩ và lẽ sống. Nếu không sáng tác, đời họ không còn ý nghĩa. Với tôi thì khác. Làm việc tùy hứng, sáng tác không đều. Có khi cả năm không được bài nào. Vì thế, chưa hao giờ, tôi dám tự nhận mình là nhà văn nhà thơ. Không phải làm bộ màu mè khiêm tốn đâu. Thật tình, tôi chưa xứng với danh xưng ấy.

Vậy xin anh vấn tắt ít dòng tiều sử, để độc giả có được một khải niệm về tác giả?

Bìa sau tập truyện Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, đã có ghi tớm tắt tiểu sử rồi. Nếu nói chi tiết hơn, tôi được sinh ra từ nơi chốn ruộng đồng và lớn lên từ làng mạc. Mắt quen nhìn màu xanh cây lá. Tai nghe quen tiếng con dế gáy, con cu gù, con nhái kêu … ngoài đồng nội. Những thứ ấy, đầy ắp trong hồn tôi. Có lẽ, vì thế mà tôi yêu thơ chăng? Vào những năm đầu thập niên 60, tôi bỏ nhà đi bụi đời ra miền Trung, sống lất phất lang bang ở Nha Trang. Tôi yêu những người dân hiền hòa và thành phố êm đếm thơ mộng của miền biển này hết sức. Nha Trang, lại có những người học trò làm thơ, được in thành sách, như Thanh Nhung và Cao Hoàng Nhân với Tiếng Thơ Miền Trung, như Suơng Biên Thùy (là Lê Mai Lĩnh bây giờ) với Nỗi Buồn Nhược Tiểu, như Sao Trên Rừng (là Nguyễn Đức Sơn bây giờ) có bài đăng trên Sáng Tạo. Tôi phục những thi sĩ học trò này lắm. Và tôi dã bắt chước làm thơ. Những bài thơ đầu tiên, đọc nghe rất “thê thảm” chẳng báo nào chịu đăng, kể cả bích báo nhà trường cũng chê. Những năm về Sài Gòn, tôi tập viết văn xuôi, ông Mai Thảo đăng trên Nghệ Thuật, trong mục “Những Người Viết Mới”. Tôi mắc cở, không gửi cho Nghệ Thuật nữa. Tôi gửi bài cho báo khác, chẳng thấy đăng. Nghe thuật lại rằng, có một nhà văn lớn (đã mất rồi) đọc bài bản thảo của tôi, lần nào cùng kêu lên: “Thằng Phá Hoại. Thằng Phá Hoại.” và ném vào sọt rác. Từ ấy, tôi không viết văn xuôi. Sau này, nghĩ thương ông Mai Thảo. Ông cho Thằng Phá Hoại vào mục “Những Người Viết Mới” là nâng đỡ lắm rồi.

Trong một cuộc phỏng vấn, nhà văn Thảo Trường có nói: “Tôi bị CS bỏ tù lâu vào tận đáy vực của họ, để thấy một điều rõ ràng là họ giả dối một cách thiệt tình, họ tàn nhẫn rất nhiệt tâm, độc ác nhân danh lòng nhân đạo”. Anh cũng đã từng trải qua những trại tù. Vậy anh có ý kiến hoặc có thêm lời bổ túc gì không?

Nhà văn Thảo Trường đã có quá nhiều kinh nghiệm về người CS. Cách nói của ông có vẽ khôi hài, nhưng rất chính xác. Tôi cũng muốn nói thêm rằng, dưới chế độ CS, không biết họ giáo dục thế nào, mà lòng người mang đầy nọc độc, hận thù, rồi từ đó trở nên nham hiểm, và tráo trở một cách lạ thường, ngoài sức tưởng tượng của tôi.

Tôi nghĩ đâu phải chỉ có người CS là giả đối, độc ác. Bất luận ở đâu cũng có ánh sáng và hóng tốt, có ngày và đêm, có thiện và ác. Anh có chia xẻ ý nghĩ đó không?

Vâng, đời sống ở đâu cũng có hai mặt. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh là người CS (đa số thuộc ngành Công An), họ độc ác thái quá. Họ làm việc ác bằng cái tâm bình thường. Họ không biết họ đang làm ác. Thế mới nguy cho người khác chứ. Cũng có người tốt, nhưng ít lắm.

Đức Khổng Khâu có dạy: “Nhân chi sơ, tính bốn thiện.” Anh nghĩ sao về lời day này?

Anh Triều Hoa Đại ơi! Hình như anh đang du tôi và o cái thế phải cãi lại lời thánh nhân. Ngay từ khi còn bé, đứa trẻ đã biết giành vú mẹ, giành đổ chơi. Ai dạy cho nó cái tính ích kỷ ấy? Bản nãng chiếm đoạt tư hữu, dã có sẳn trong tâm thức bẩm sinh rồi. Lớn lên, vì nhu cầu đời sống, va chạm với xã hội, bản năng ấy càng phát triển thêm, chứ không hề giảm bớt. Nhưng do ý thức và quy luật xã hội ràng buộc, nên người ta đè nén, hoặc che đậy bản năng bằng bộ mặt lương thiện đấy thôi.

Đọc xong Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, độc giả có nhận định rừng anh hằn học, chua chát với đời quá, Đó cũng là  điều unh đã nói với một người bạn. Thế thì có cách nào Lâm Chương viết khác đi được không ?

Tôi không phải người viết văn làm thơ chuyên nghiệp và cũng không thích chìu theo thị hiếu người đọc. Nói thế nghe dễ mất cảm tình quá. Nhưng đấy là sự thật. Xưa nay, tôi chưa từng nhận được đồng xu cắc bạc nào từ bài viết của mình. Nhưng tôi vẫn viết, vì tôi thích. Và chỉ viết những gì tôi muốn viết. Tôi không hề đắn đo xem phải viết thế nào, hành văn ra sao. Cứ nghĩ thế nào là viết thế ấy. Đi lính, có những kỷ niệm vui buồn khó quên. Đi tù, là vết thương không bao giờ lành được. Tôi cứ săm soi hoài nỗi dau nhức ấy. Thú thật với anh, trước kia tôi chẳng biết CS là gì, lòng không một hận thù nào về phía đối nghịch. Ngoài trận mạc, bắt được tù binh, tôi thấy họ đáng thương hơn là thù địch. Chỉ khi đi tù, tôi mới nhìn rõ chế độ CS và bản chất con người của chế độ ấy. Tôi ngạc nhiên vì họ quá căm thù và lúc nào cũng muốn trút tai hoa lên đầu tôi. Làm sao tôi có thể viết khác được? Tôi thường viết tự truyện, phần hư cấu rất ít. Chỉ viết những gì đã trài qua và đã có kinh nghiệm. Không có kinh nghiệm, mà viết theo tưởng tượng hoặc nghe người khác kể, thường là sai bét cả. Chưa từng cẩm cây súng đối diện địch quân, mà dám viết về trận mạc. Chưa từng bị CS hành xác, mà viết chuyện trong tù và chửi bới loạn cả lên. Tôi phục những vị ấy. Quả là thiên tài!

Đời sống vốn đã quả nhiều khổ đau và thủ hận. Anh có nghĩ rằng đã đến lúc mình nên chuyển đổi cách viết để vượt lên trên thói thường của thế tục, tạo ra những cái đẹp hơn, tốt hơn?

Tôi khó mà viết khác với lòng mình. Đang sống nơi thế tục, muốn vượt lên trên những điều thế tục, không dễ. Chỉ có thánh nhân mới làm được. Tôi không tin có ai ở coi dời này chịu lấy ân báo oán và bị tát má bên này, lại đưa má bên kia cho người tà tát thêm. Phật và Chúa khuyên thế, vì các Ngài là giáo chủ. Tôi là hạng phàm phu. Tôi nghĩ, làm người đã khó lắm rồi. Và muốn làm người, trước hết phải thành thật với chính mình. Tội nói lên những ẩn ức trong lòng tôi. Tôi không thêu đệt đặt điều nói xấu kẻ tôi ghét. Đời tôi khắng khít với nỗi đau khổ, nhiều hơn niềm vui sướng. Tôi nhớ kẻ hành xác tôi, nhiều hơn nhớ người yêu. Nếu tôi viết khác đi, nghĩa là viết như người cao thượng, là tôi viết láp, Ai mà cảm thông với kẻ giả dối bao giờ.

Khi người ta nói đến những trại tà CS, thì mỗi người mô tả một cách khác nhau, cũng giống như những người mù sờ vơi vậy. Ở đây, xin anh mô tả lại cảnh đời khốn khổ ấy và những kinh nghiệm phấn đấu để sống còn?

Tuổi tù của tôi cộn thua nhiều người lắm. Và ở tù là một bất hạnh, chứ không phải là chiến công để tự hào. Ông Vũ Thư Hiên, ở tù kiểu khác. Ông Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế ở tù kiểu khác. Những người được xếp vào loại Ngụy Quân Nguy Quyền, ở tù kiểu khác nữa. Đã có quá nhiều người kể chuyện tủ rồi và cũng không thiếu những lời chửi bới. Chửi không thuyết phục được ai. Tôi chỉ đưa ra một thực trạng, để người khác nhận định và có thái độ. Ra Bắc, có một thời gian, thi sĩ Tô Thùy Yên và tôi ở cùng một trại, chứa khoảng 250 tù nhân. Suốt thời gian chung trại, tôi không hề hiết có Tô Thùy Yên ở đây. Trong tù, ai cũng muốn thu nhỏ thân phận của mình, lần vào đám đông. Nghĩa là biến mình thành một bóng mờ, chứ không phải hạ mình làm tên hèn mạt. Ở từ dưới chế độ CS, đừng làm gì cho họ chú ý, nhất là phải “ngoan”. Hạng cắc ké như tôi mà chống đối, họ triệt tiêu ngay. Không thể so sánh với mấy ông Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, Mấy ông ấy dã được quốc tế chú ý rồi, họ không dám giết. Thêm một kinh nghiệm nữa, khi đi lao động bên ngoài, gặp rắn rít, cóc nhái, ểnh ương, cào cào, châu chấu, dế nhũi … đều phải coi đó là món ăn, là nguồn protéin dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Đừng hy vọng vào thịt cá của trại. Những kỳ lễ lớn, làm một con heo, chia mỗi người đuợc vài miếng thịt bằng đầu ngón tay là cùng. Ngày thường, sắn khô nước muối là tiêu chuẩn trường kỳ. Thôi, mình qua câu hỏi khác đi anh.’

Anh không muốn nói thêm về chuyện tù thì thôi. Sang vấn đề khác, Anh nghĩ sao về câu nói cùa F. R. Leavis, khi ông ta cho rằng; “Văn chương có đời sống riêng của nó.”?

Xin lỗi. Tôi không hiểu ý của Leavis muốn nói gì. Đối với tôi, những gì đã viết ra là những gì đã từng trải. Chuyện kể của tôi có một phần máu thịt, mồ hội và nước mắt của tôi trong đó.

Anh có thể chọ biết vài nguyên nhân hình thành những truyên trong Đoạn Đường Hốt Tất Liệt?

Sống ở đây, chẳng có gì vui và tôi cũng khó thích nghi với xã hội này. Cuối tuần, cùng vài ba ông bạn bày cuộc nhậu lai rai đỡ buồn. Khi nhậu, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Nghe chuyện nào thấm thía, bạn khuyến khích nên viết lại. Tôi chỉ viết chuyện của tôi thôi. Chuyện của người khác, tôi không viết được. Có lần, tôi thử viết chuyện tình của bạn, bị chê là gượng gạo, không thực. Do đó, tôi biết rằng tôi thiếu khả năng viết truyên tình cảm. Không thể viết hư cấu như thực, thì không thể làm một nhà văn đúng nghĩa. Đại loại là thế, nguyên nhân hình thành các truyện, phần lớn đều ở trên bàn nhậu.

Sau khi đọc xong “Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, có người đưa ra nhận định: “Cái ông nhà văn này đánh phá “cách mạng” chẳng nương tay. Chuyện ấy không lấy gì làm khó hiểu, nhưng cái khó hiểu là ở chỗ ông ấy đánh phú cả “phe ta”. Ông ấy mô tả một thanh niên sợ khổ, trốn lính, nhưng khi bị bắt đi lính thì hèn nhát (truyện Định Số) chẵng hạn. Anh có đồng ý với nhận định ấy không? Anh có cần “biện bạch” gì không?

Chả có gì phải biện bạch. Người thanh niên trong truyện Định Số là tôi đấy. Và nhân vật trung đội trưởng trong các truyện khác, cũng là tôi đấy. Trong các tự truyện, người ta thường kể về niềm tự hào. Tự truyện của tôi, nói lên nỗi đốn nhục. Tôi vốn hèn nhát, nhưng trong vài trường hợp nào đó, ở vào cái thế “chẳng đặng đừng”, đành phải xung phong thôi. Nếu chẳng may, tôi tử trận, người ta sẽ ca tụng tôi là “anh hùng vị quốc vong thân”. Ngoài trận mạc, phải liều mạng bắn giết nhau, chữ thật tâm, tôi ngán lắm. Tôi không giấu giếm điều đó. Tôi rất ghết những tên núp dưới những chiêu bài và luôn mồm cổ võ cho người đi trận. Họ có gan thì cầm súng ra chiến trường, đừng xúi dại người khác, Còn nữa, có những cấp chỉ huy ở một nơi xa, rất an toàn, cầm máy vô tuyến, điều quân vào trận. Nếu thắng, ông ta là người hưởng công đầu, báo chí truyền thông ca lụng ông ta là tài ba anh dũng. Thật nhầm! Tự mình dấn thân vào nơi gió cát mới quan trọng, chứ ra lệnh cho người khác vào chốn hiểm nguy, ai mà chả làm được. Qua cái câu “nhất tướng công thành, vạn cốt khô” cho ta thấy rằng, kẻ có lòng nhân ái, tiếc mạng sinh linh, không thể nào trở thành tướng tài được. Lý luận kiểu của tôi, nhiều người không chịu. Nhưng tôi không thể nói khác những gì tôi nghĩ.

Lại nữa, vẫn theo đọc giả, thì trong truyện” Giải quyết cấp thời” anh dã cho một cán bộ làm tình với bò. Người ta bảo rằng, có lẽ vì bị tù lâu năm, nên anh đem lòng oản ghét, mà nói xấu “cách mạng” đấy thôi, chứ làm gí có chuyện ấy. Nhận xét ấy có đúng không?

Trên cõi đời ô trọc này, có những điều người ta không nói, không có nghĩa rằng điểu ấy không xảy ra. Mặt trái cuộc đời, có nhiều điều ghê gớm, trí tường tượng của người bình thường, không dám nghĩ tới. Những năm đi tù trên đất Bắc, tôi biết nhiều chuyện động trời. Có người tù hình sự trạc 45 tuổi. Hồ hơ bản án ghi: nhiều lần “hủ hóa” với con gái ruột của mình. Văn chượng trong sáng của cách mạng, người ta tránh tiếng làm tình, thay vào đó bằng chữ hủ hóa. Vào tù, ông ta được chỉ định chăn bò. Những người tù hình sự khác, bắt gặp ông ta đang “hủ hóa” với bò. Thêm chuyện khác, Một ông già nhà quê, bán được con heo, mang tiền đi thăm con gái, có chồng ở xa. Con gái của ông bàn với chồng, cắt cổ cha ruột của mình để lấy trọn số tiền bán heo, chôn xác dưới sàn nước rửa chân. Người con trai của ông già, đi hộ đôi, về phép ngang đấy, ghé lại thăm vợ chồng người chị, lúc hai vợ chồng này dang vắng nhà. Trong khi ngồi chờ, đứa cháu nhỏ ngây thơ, kể lại cho cậu nó nghe chuyện cha mẹ nó giết ông ngoại và chỉ chỗ chôn xác. Anh đào sàn nước lên, quả thấy xác ông già. Thế là anh giết vợ chồng người chị và đi tù, Tôi gặp anh ta trong tù. Anh chẳng có vẻ gì hung bạo của một tên sát nhân. Lòng người ác độc, đã xô anh ta vào hoàn cảnh khốn nạn. Những chuyện ấy, dù một người viết văn giầu tưởng tượng, cũng không hư cấu nổi. “Giải Quyết Cấp Thời” là chuyện thật. Nếu người đọc không tin. là tại tôi bất tài, không đủ khả năng thuyết phục. Tôi không thích CS, nhưng không vì lẽ đó mà tôi bịa chuyện nói xấu họ, Những truyện tôi viết, thường vẫn dành cho họ một kết thúc có “hậu”, một chút tình người.

Trong ba cảnh đời: Chiến tranh, tù đầy và vui lạc, cả ba cảnh ấy chẵng lấy gì làm vui, nhưng nếu được chọn lựa một trong ba cảnh ấy, thì anh sẽ chọn cảnh nào, vì sao?

Dĩ nhiên tôi chọn lưu lạc. Tôi sợ chiến tranh và tù đày lắm rồi. Đó cũng là lý do tôi chưa dám về thăm quê hương. Mỗi lần nghĩ đến xứ sở dang bị cai trị bởi một thứ luật giống như luật rừng xanh, tỏi ớn xương sống. Nếu tôi mò về xứ, rủi ro ở tù lần nữa, với sức khoẻ hiện thời, chắc tôi bỏ thây trong tù.

Nhà văn Haruki Murakamai tác giả được ưa chuộng nhất ở Nhật (hiện đang sống xa tổ quốc) thì thực sự tin tường rằng chỉ có thể “tìm thấy quê hương” khi ở xa nó. Anh cũng là một nhà văn và đồng thởi cũng đang xa lìa tổ quốc, anh có cùng quan điểm với Murakamai không?

Khổ quá. Anh cứ gọi tôi là nhà văn. Tôi chỉ là chứng nhân thời đại và đang viết bản tường trình về những gì đã nghe thấy mà thôi. Ý nhà văn Haruki Murakamai muốn nói tìm thấy quê hương trong lòng mình. Tôi cũng nghĩ thế. Người xa quê hương, viết về quê hương thắm thiết hơn người ở tại quê nhà.

Anh làm thơ (đã lâu) và viết văn (mới đây), vậy thì mỗi khi muốn diễn đạt một điều gì anh thường tìm đến thơ, hay văn trước?

Tùy trường hợp. Thơ nói lên những rung động cảm xúc của lòng mình. Văn mới diễn tả hết những chi li đời sống.

Anh nghì gì về Thơ và những người làm thơ ở tran, và ngoài Tổ Quốc?

Nghĩ gì về Thơ? Trả lời câu hỏi nay, chắc phải làm một bài luận giải dài dòng lắm. Xin dể dành cho những nhà chuyên khảo về thơ, Phần kế, những người làm thơ ở trong và ngoài tổ quốc? Rất tiếc, sau năm 75, tôi không có dịp đọc nhiều thơ trong nước, nên không dám có nhận định tổng quảt. Riêng về ông Bùi Minh Quốc, gần đây thơ ông đã lan tràn trên các mặt báo hải ngoại. Hiện tại, thơ ông là một khí cụ đấu tranh rất tốt, nhưng tôi e rằng qua một giai đoạn lịch sử, sẽ bị đào thải. Đó không phải là thơ, theo quan niệm thiển cận của tôi. Còn ở hải ngoại? Rõ rằng thơ đang trên đà lạm phát. Tiền bạc lạm phát là điều đáng buồn, nhưng thơ lạm phát là hiện tượng đáng mừng. Trong cả trăm bài thơ, ta cũng chọn được một bài hay. Nhưng mấy ông toà soạn gặp bài nào cũng đăng, làm độc giả cứ hoa cả mắt lên. Vì thế mà thơ bị rẻ rúng. Lỗi này, tại tòa soan. Trong mục thư tín, những người được vài bài văn, bài thơ đăng báo, các ông toà soạn đều gọi họ là văn thi sĩ cả. Nếu theo cách gọi ấy, thì ở hai ngoại, văn thi sĩ nhiều như lá trên rừng, không kể xiết. Còn vài loại thơ nữa cũng đang thịnh hành: thơ thời sự, thơ tố cộng. Suy cho cùng, loại này không phải là thơ, nhưng nó vẫn hiện diện, vì nhu cầu nhất thời. Thời thế qua di, nó sẽ bị lãng quên. Những người làm thơ đã có một thế đứng vững chắc trên thì dàn Miền Nam trước 75, hiện nay họ vẫn còn đang vun bồi thêm cho sự nghiệp của họ, như Du Từ Lê, Tô Thùy Yên, Viên Linh … Ngoài ra, những người trẻ tuổi hơn, làm thơ khởi sắc trước 75, bây giờ ra hải ngoại, vẫn tiếp tục sáng tác đểu đặn, đã khẳng định tài năng của mình, như Hoàng Lộc, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Triểu Hoa Đại, Hoàng Xuân Sơn, Thành Tôn, Cao Xuân Tứ … Còn những tên tuổi mới gia nhập làng thơ hải ngoại và được nổi bật, rất nhiều, khó mà ghi đầy đủ, như Quan Dương, Trần Mộng Tú, Thường Quán, Trân Sa, Cao Dông Khánh … Sở dĩ tôi nói khó ghi đầy đủ, vì hoa thợm cỏ lạ cứ chen nhau. Mà cỏ lạ thì nhiều lắm, đếm không hết.

 Chắc anh cũng có đọc ít nhiều về các nhà văn ở trong nước, anh thấy văn phong của họ thể nào? Họ vì cái “nghiệp” mà viết, hay viết như một đòi hỏi “thế thời phải thế”?

Càng lúc anh càng dụ tôi vào những câu hỏi khó. Vâng, tôi cũng có đọc văn ở trong nước. Đặc biệt, tôi thích lối hành văn của người miền Bắc. Câu vân gãy gọn, dứt khoát. Cách điễn đạt tư tưởng, cách dùng từ của họ cũng mới lạ. Nhất là những câu đối thoại, làm tôi bất ngờ lý thú. Tôi có cảm tưởng như tôi là người VN cổ xưa, bổng sống dậy nghe họ nói chuyện, vẫn hiểu nội dung nhưng lối suy nghĩ và cách sử dụng ngôn ngữ đã khác biệt với tôi lắm rồi. Chúng ta ở xa tổ quốc, chữ nghĩa mỗi ngày một hao mòn dần. Người viết ở trong nước, có lợi thể hơn chúng ta, họ luôn luôn bắt gặp những ngôn từ nóng hổi, mới được sản sinh ra từ xã hội. Khi nói tới chuyện văn học, ta nên gạt bỏ những thành kiến chính trị, thì mới nói hết được. Tôi thích lối dựng truyện của người miền Bắc. Họ không trải rộng theo diện tích mặt bằng. Chỉ một vấn đề nhỏ thôi, nhưng họ phân tích và xoáy sâu vào trọng điểm. Tại sao họ viết hay thế? Tôi nghĩ, có lẽ do đời sống quá khổ ải và thiếu thốn, nên tấm lòng người miền Bắc có khuynh hướng thu hẹp lại, tần mần tỉ mì từng chi tiết. Cũng đồng thời một món ăn, người thừa thãi vật chất, thấy không có gì đáng quan tâm, nhưng người đang thiếu thốn, thấy quan trọng và có nhiều suy nghĩ . Truyện của họ, đã thể hiện điều đó. Dĩ nhiên, tôi không nói tới những rác rưới trong văn học, sáng tác do nhu cầu thời thế phải mạt sát những người không cùng chính kiến với họ. Còn người nào viết như cái nghiệp hay không, chỉ người ấy biết. Hoàn cảnh của họ, khó mà đòi hỏi phải viết thật những gì họ nghĩ. Nhưng đã không viết thật được, thì cũng đừng viết bậy. Tôi muốn nói nhà văn Bảo Ninh. Anh này chẳng hiểu gì về người lính VNCH. Trong “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, khoảng cách giữa sự thực và hư cấu của anh còn xa nhau lắm. Với cái đầu đầy những thiên kiến xấu về phía đối nghịch, viết để phục vụ cho chế độ của anth thì tốt, nhưng giá trị văn học còn phải xét lại. Một tác phẩm thiếu tính trung thực như thế, mà ở hải ngoại có nhiều người lăng xê. Cũng lạ!

Anh có ước mơ tác phẩm của anh được bày bán trong mước không?

Ai chẳng ước mơ điều đó. Nhưng ngày nàn CS còn thống trị đất nước, tác phẩm của tôi không hy vọng có mặt trong nước. Kể cả bản thân tôi nữa, cũng đành làm ngựa Hồ hí gió Bắc mà thôi.

Có lẽ vì “thương yêu” người cẩm bút, mà người ta trao cho họ quá nhiều trách nhiệm. Theo anh, khi viết văn làm thơ, anh có nghĩ rằng mình có ít nhiều trách nhiệm với độc giả không?

Những khi làm thơ viết văn, may mắn có một tác phẩm hay, được mọi người tán tụng. Họ tưởng họ vượt lên khỏi con người tầm thường, để trở thành thần. Và tự kê vai gánh vác sử mạng hướng dẫn người khác, bằng cách dạy đời. Lỗi cũng tại chúng ta thổi phồng họ quá đáng. Một nhà văn Mỹ, khi nhận giải Nobel, dõng dạc tuyên bố rằng: “Nếu một kẻ cầm bút không nói lên được thực trạng xã hội đương thời và làm ngo trước trách nhiệm đấu lranh cho người bị áp bức, họ không xứng đáng là nhà văn.” Câu tuyên bố nghe ghê quá.

Viết văn làm thơ, chứ đâu phải viết truyền đơn như làm chính trị, mà bảo phải vùng lên tranh đấu? Chẳng qua vì xã hội bất công và bản thân bị đè nén, gây tác động trong lòng, nên họ viết để giải tỏa ẩn ức. Và điều ấy, vô tình trùng hợp với nguyện vọng xã hội đương thời. Khi ngồi viết, nếu cứ nghĩ viết để phục vụ cho một ý đổ nào đó, mất cả hứng. Sống trong một xứ chiến tranh nghèo đói, bị áp bức đủ điều, nhưng nếu thích, ta cũng có quyền làm thơ ca tụng tình yêu chứ? Với tôi, tất cả đều tùy hứng. Tôi không đặt nặng vấn để, mình phải viết thế này, thế kia để phục vụ cho ai cả.

Thời của quá khử đã qua đi, bây giờ là của hiện tại và trước mặt là thời của tương tlai, anh có nghĩ rằng đã đến lúc cần phải đồi cách viết, tìm những để tài mới, nghĩa là quên đi những “chua chát” và “hằn học” để hướng về một ngày mai tươi sáng với chan chứa tình người?

Đổi cách viết để tìm một hướng đi mới cho lương lại, là diều quá tốt. Nhưng khổ nỗi, tôi chỉ có thể viết được những kinh nghiệm đã có trong quá khứ mà thôi. Ngay đến hiện tại, tôi cũng chẳng viết được gì về cái xã hội xa lạ này. Trong một đời sống bình yên đến nhàm chán, tôi không tìm thấy những dông bão trong tâm hồn, để lấy đó làm chất liệu sáng tác. Nếu cố gắng viết về đời sống này, chắc không tránh khỏi những ê a lê lết kéo dài, làm độc giả buồn ngủ. Tôi lại cũng không có tài dựng lên một truyện hoàn toàn do trí tưởng tượng, nên chẳng bao giờ lự nhận mình là nhà văn.

Số lượng sách xuất bàn và người tiêu thụ ở hải ngoại mỗi ngày một sút giảm một cách đáng lo ngại, nhà văn Nguyễn Mộng Giác trong một bài viết ở Văn Học (số Xuân Kỷ Mão) đũ phải làm một bài tính trừ buồn thảm. Thưa anh, liệu có cách nào chúng ta cứu vãn được “tình thế” buồn thảm ấy chăng?

Ông Nguyễn Mộng Giác bì quan là phải, thế hệ sau chúng ta, ở hải ngoại người đọc thơ văn VN sẽ tuột đốc một cách thảm hại. Nhưng tôi có lối nhìn khác, lúc ấy chế độ CS cũng đã biến thể hoặc tiêu tùng rồi. Nến văn học hải ngoại sẽ “quy hồi cố hương”. Và qua sự gạn lọ c của thời gian,những tác phẩm thiếu tính trung thực, xu thời theo chế độ này hay chế độ kia, để mạt sát phía đối nghịch, sẽ bị đào thải dầu tiên.

Người ta kỳ vọng vào số 70 triệu độc giã ở trong nước. Vậy thì theo anh đã dến lúc chưa, cho sự hợp tác văn hóa giữa trong và ngoài Tổ Quốc?

Có phải ý anh muốn nói giao lưu văn hóa? Hải ngoại đã đưa bàn tay ra từ lâu rổi. Những người làm văn nghệ trong nước cũng thập thò đưa tay ra bắt. Nhưng chính quyền làm cái hàng rào chắn kỹ quá, nên những gì trong nước phổ biến ra ngoài thì được, ở ngoài muốn xâm nhập vô trong rất khó. Sự bất công ấy, chỉ có thể giải quyết bằng cách dẹp bỏ chế độ mà thôi.

Bạn bè bảo với nhau: Lâm Chương ở đâu thì cũng vẫn chỉ là Lâm Chương, có nghĩa là: Dù lưu lạc nơi đâu, bất cứ trong hoàn cảnh nào, Lâm Chương cũng chẳng khác gì ngựa Hồ, mỗi khi gió bắc lổng lộng thổi về thì chẳng bao giờ quên cất lên tiếng hí đau thương. Điều ấy anh thấy thế nào?

Cám ơn anh và bạn bè đã nghĩ như thế về tôi. Những gì tôi viết đã thể hiện lòng tôi. Không hề làm dáng văn chương. Với câu hai này, xin anh cho tôi tỏ vài lời tâm sự. Cảnh sắc thiên nhiên của đất Mỹ rất đẹp, nhưng tôi thấy trong cái đẹp ấy không có hồn. Tôi nhớ thương cái xóm nhỏ nghèo nàn của tôi. Đường đất. Bờ ruộng. Hàng cây, Con rạch. Những thứ đó, cũng còn đang nhớ thương tôi. Khi đi lính, qua những làng mạc tiêu điều của miền Trung. Tôi yêu mến mảnh đất khô cằn này và muốn được hòa mình sống với những người dân áo rách, nhưng tấm lòng đầy đôn hậu. Khi đi tù, tôi sửng sốt trước vẻ đẹp hùng vĩ của núi non miền thượng du. Rời khỏi nơi đó, lòng tôi mang theo núi rừng và hình ảnh chất phác của người dân sơn cước. Hình như những nơi nghèo nàn cơ cực của quê hương, có sức gần gắn bó mãnh liệt với tôi, hơn là chốn phồn hoa đô hội. Với tâm linh ấy, nên đời tôi mạt rệp là phải.

Anh còn điều gì cần bổ túc thêm cho buổi nói chuyện của chúng ta hôm nay không? Xin cám ơn đọc giả đã theo dõi buổi nói chuyện của chúng ta hôm nay. Cám ơn anh Triều Hoa Đại, đã giới thiệu tôi đến với người đọc.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment