Hải Quân Thiếu tá TJ Nguyen, Sĩ quan thụ huấn Trường Cao học Hải quân, Sĩ quan ngành nhân lực, cựu Phi công trực MH-60S Seahawk, Hải quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on June 4, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 5 Jun 2026

HQ Thiếu tá TJ Nguyen (hình của linkedin.com).

Hải quân Thiếu tá TJ Nguyen* đang theo học chương trình Cao học khoa học quản lý (MSM) tại Trường Cao học Hải quân (Naval Postgraduate School – NPS), chuyên ngành về phân tích hệ thống nhân lực. Ông mong muốn được học tại NPS từ khi còn là một sĩ quan Hải quân trẻ, và giờ đây ông đã có cơ hội được học lên cao hơn. Ông thấy may mắn và biết ơn khi theo học ở đây, vì ông nhận thấy có những thiếu sót trong các đơn vị cần được hỗ trợ hết mức. Là một sĩ quan ngành nhân sự, vấn đề này rất quan trọng đối với ông và ông hy vọng rằng những nghiên cứu của ông có thể giúp tìm ra giải pháp cho vấn đề này trong tương lai

Trường Cao học Hải quân (NPS) là một đơn vị thuộc Hải quân với nhiệm vụ đào tạo hậu đại học, do Hải quân Hoa Kỳ điều hành, toạ lạt tại Monterey, California, Hoa Kỳ. Trường tập trung hoàn toàn vào quốc phòng, đào tạo các nhà lãnh đạo quốc phòng với năng lực trí tuệ để đáp ứng các thách thức chiến lược và tác chiến trong môi trường an ninh năng động và phức tạp. Để cạnh tranh và chiến thắng trước các đối thủ ngang tầm trong thế kỷ 21, chương trình giảng dạy, nghiên cứu và đổi mới của Hải quân phát triển những Sĩ quan giỏi nhất của Quốc gia và cung cấp các giải pháp tác chiến. Đội ngũ giảng viên chuyên gia, giàu kinh nghiệm trong các vấn đề liên quan đến quốc phòng và an ninh, phát triển và nâng cao khả năng nhận thức của các Sinh viên Sĩ quan và Học giả giàu kinh nghiệm tác chiến thông qua giáo dục hậu đại học liên ngành và nghiên cứu nhằm hỗ trợ kiến ​​thức, kỹ năng và giải pháp tiên tiến.

HQ Thiếu tá TL Nguyen, gia nhập Hải quân vào tháng 10 năm 2007, ông mang cấp bậc Hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn 4, Công binh lưu động Hải quân (NMCB-4), còn được gọi là Seabees, là một Tiểu đoàn kỹ thuật có khả năng khai triển nhanh chóng, đồn trú tại căn cứ Hải quân Ventura County, Port Hueneme, California. Ông phục vụ đơn vị đến tháng 8 năm 2009.

Từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 12 năm 2014, Trung sĩ TL Nguyen phục vụ Lực lượng Hải quân trừ bị (USNR) tại Chicago, Illinois.

Sau thời gian phục vụ Lực lượng Hải quân trừ bị, TL Nguyễn được theo học chương trình Sĩ quan Hải quân trứ bị (NROTC) tại Đại học University of Illinois Chicago. Sau khi tốt nghiệp, HQ Thiếu uý TJ Nguyen được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công và xuyên huấn loại trực thăng MH-60S Seahawk. Ông trở thành phi công trực thăng và phục vụ tại các Phi đoàn Trực thăng hơn 6 năm, từ 1 tháng năm 2015 đến tháng 12 năm 2014.

Nhiệm kỳ tiếp theo, HQ Đại uý TJ Nguyễn chuyển sang ngành nhân lực (Human Resources) Hải quân, ông phục vụ tại Naples, Campania, Ý Đại Lợi. Và hiên nay HQ Thiếu tá TJ Nguyen đang theo học chương trình Cao học khoa học quản lý (MSM) tại Trường Cao học Hải quân Hoa Kỳ.

HQ Thiếu tá TJ Nguyen được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá vào ngày 1 tháng 5 năm 2024 và đã được Uỷ ban quân vụ Thượng viện xác nhận thông qua ngày 24 tháng 9 năm 2024. Sau đó, ông được chính thức thăng cấp Thiếu tá ngày 1 tháng 12 năm 2024

Huy hiệu trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ của en.wikipedia.org

HQ Thiếu tá TJ Nguyen tốt nghiệp các Văn Bằng: Văn bằng Cao học khoa học quản lý – MSM, phân tích hệ thống nhân lực, Trường Cao học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), Sẽ tốt nghiệp năm 2027; Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh – MBA, Đại học Western Governors, năm 2022; Văn bằng Cử nhân khoa học – BS, Kỹ thuật cơ khí, Đại học Illinois Chicago, năm 2014.

HQ Thiếu tá TJ Nguyen là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá Dat Duong, Phụ tá Giám đốc cung cấp và tiếp vận, Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải; HQ Thiếu tá Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); HQ Thiếu tá Loi Huynh, Sĩ quan chương trình hiện đại hóa C5ISR, Lực lượng Hải quân mặt nước Đại Tây Dương; HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến mặt nước; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.

Chú thích: *Họ và tên từ tài liệu, TJ Nguyen/Nguyen Thong John Tri, họ và tên Việt, Nguyễn Thông Trí.

Sĩ Quan Hoa Kỳ gốc Việt thứ 6 thăng cấp tướng: Hải Quân Đại Tá Tuấn Nguyễn được đề cử thăng cấp Phó Đề Đốc.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on January 15, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 5 Jun 2026

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn (ảnh của US Navy).

Hải quân (HQ)* Đại tá Tuấn Nguyễn là 1 trong 26 Đại tá ngành tác chiến và yểm trợ Hải quân (Line Officer) đã được Tổng thống đề cử thăng cấp Phó Đề đốc (Rear Admiral (lower half) ) sau khi được Hội đồng thăng cấp Hải quân ( Flag Officer Selection Board) chọn đề cử thăng cấp Phó Đề đốc cho tài khoá FY-25. Hồ sơ đã được chuyển đến Uỷ ban Quân vụ Thượng viện ngày 8 tháng 1 năm 2024, theo thông báo từ congress.gov/nomination, defense.gov/New và mynavyhr.navy.mil. HQ Đại tá Tuấn Nguyễn hiện là Sĩ quan kế hoạch, Chỉ huy trưởng phối hơp an ninh hàng hải phục vụ tại Bộ tư lênh Đệ Thất Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ, Yokosuka Nhật Bản.

Sau khi được chính thức thăng cấp, ông sẽ là Phó Đề đốc Hải quân gốc Việt thứ hai và là vị tướng gốc Việt thứ sáu trong Quân đội Hoa Kỳ. Năm vị tướng Hoa Kỳ gốc Việt trước ông gồm có: Thiếu tướng Lapthe C. Flora, Phụ tá Tư lệnh Vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia; Thiếu tướng William H. Seely III, Chỉ huy trưởng Trường An ninh Quốc gia và Chiến lược Tài nguyên Dwight D. Eisenhower; Thiếu tướng John R Adwards, Giám đốc Chiến lược Quốc phòng, Hội đồng an ninh Quốc gia Tòa Bạch Ốc, Washington, D.C; Phó Đề đốc Nguyễn Từ Huấn, nguyên Chỉ huy phó an ninh mạng kỹ thuật điện tử, Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), hồi hưu ngày 7 tháng 10 năm 2022. Và Thiếu tướng Lương Xuân Việt, nguyên Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, hồi hưu vào tháng 6 năm 2021.

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn là một trong năm Trung tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp Đại tá năm 2018, cùng năm với HQ Đại tá Cao Hùng, ngành chiến tranh đặc biệt Hải quân; Bùi H Quan, Y sĩ  Hải quân; Trịnh Hiền, Bác sĩ nha khoa Hải quân; Tuanh C. Halquist, Bác sĩ nha khoa Hải quân.

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn sinh tại Vũng Tàu, Việt Nam, ông định cư tại tiểu bang Chicago và tốt nghiệp Đại học tại Tiểu bang California. Trước khi gia nhập Hải quân Hoa Kỳ, ông làm việc cho hảng Rockwell International aerospace program và hảng Unocal Oil refineries tại Southern California. Ông gia nhập Hải quân Hoa Kỳ mang cấp bậc HQ thiếu úy ngành công binh Hải quân ( Navy Seabee Combat Warfare ) năm 1996. Năm 2006, ông chuyển sang ngành giao tế ngoại giao và Cộng đồng của Hải quân trong vai trò Sĩ quan giao tế ( Foreign Area Officer (FAO) ). Thời gian này, ông là Sĩ quan giao tế Cộng đồng phục vụ tại phòng nhân viên Hải quân tại Millington, Tennessee. Tháng 10 năm 2016, ông được biệt phái sang phục vụ tại trung tâm an ninh Á Châu – Thái Bình Dương Daniel K. Inouye ( Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies), tại đây ông là Sĩ quan trong chương trình hợp tác an ninh quân sự với các Quốc gia Đông Nam Á và Ấn Độ**.

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn, Chỉ huy trưởng phối hợp an ninh hàng hải, Đệ thất Hạm đội thảo luận với các Sĩ quan cao cấp Hải quân Ý Đại Lợi (CINCNAV) tại Rome (Ảnh của c7f.navy.mil).

Ông có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực giao tế ngoại giao trong vực khu vực Á Châu-Thái Bình Dương. Ông từng là Sĩ quan phục vụ cộng đồng/Sĩ quan xử lý thường vụ phụ trách xây dựng căn cứ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Singapore. đây là nơi đồn trú của Lực lượng đặc nhiệm 73 tiếp vận Hải quân của Đệ Thất Hạm đội, và Hải đội 7 Khu trục hạm; Sĩ quan giao tế Hải quân Hoa Kỳ tại các Quốc gia Cam Bốt, Phi Luật Tân và Việt Nam kiêm Gíam đốc kế hoạch và chính sách Quốc tế cho Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương; Sĩ quan phụ tá cho Tùy viên cao cáp Quốc phòng Tòa đại xứ Hoa Kỳ tại New Delhi, Ấn Độ. Ông  từng phục vụ tại đơn sị II yểm trợ xây cất Hải quân tại Port Hueneme, California, LA; Chỉ huy trưởng Hải quân khu vực tây Bắc Bangor, Washington; Và phục vụ trong lãnh vực kỹ thuật cơ khí Hải quân tại Northwest, Bremerton**

Đại tá Tuấn Nguyễn hoàn tất Văn bằng Cử nhân khoa học cơ khí tại Đại học California tại Santa Barbara; Văn bằng Cao học khoa học cơ khí tại Đại học Loyola Marymount; Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh tại Đại học Southern California. Ngoài ra ông đã thụ huấn và tốt nghiệp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Lục quân tại Fort Leavenworth, Kansas và trường Tham mưu và chiến tranh hỗn hợp tại Norfolk, Virginia. Ông còn là Hội viên hiệp hội quản trị chuyên nghiệp**.

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn và Đề đốc Giancarlo Ciappina, Hải quân Ý Đại Lợi (Ảnh của Trung sĩ Caitlin Flynn, Hải quân Hoa Kỳ, ngày 16 tháng 4 năm 2024),

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: Huy chương the Defense Meritorious Service Medal, 2 huy chương the Meritorious Service Medal, 3 huy chương the Navy Commendation Medal, 2 huy chương the Joint Service Achievement Medal và 2 huy chương the Navy and Marine Corps Achievement Medal**.

Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ tính đến tháng 1 năm 2024, có 2 Phó Đề đốc ( Đại tá Tuấn sẽ được chính thức thăng cấp sau khi được Uỷ ban Quân vụ Thượng viện bầu chọn), 18 Đại tá đương nhiệm

(13 vị hồi hưu và 1 vị qua đởi ), khoảng 60 Trung tá và trên 120 Thiếu tá (không tính sĩ quan cấp Úy). Riêng Sĩ quan cao cấp Hải quân tên Tuấn cũng có 6 vị, đó là HQ Đại tá Phạm Ngọc Tuấn, ngành tình báo Hải quân

(hồi hưu); HQ Đại tá Hoàng Ngọc Tuấn, ngành Quân y hải quân (hồi hưu); HQ Trung tá Đặng Quốc Tuấn

(hồi hưu), HQ Trung tá Nguyễn Anh Tuấn (hồi hưu) và HQ Thiếu tá Trần M Tuấn (hồi hưu) và HQ Đại tá Tuấn Nguyễn, ngành giao tế Hải quân***.

Dự đoán trong 87 Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm (53 hồi hưu, 2 qua đời) có thể sẽ có vị được thăng cấp Chuẩn tướng/Phó đề đốc vào năm 2025. Có một số vị Đại tá đang giữ những cương vị Chỉ huy quan trọng trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân và Thủy quân lục chiến Quân đội Hoa Kỳ. Họ là những ứng viên sáng giá để trở thành những vị tướng trong tương lai!

Người Việt Quốc Gia hải ngoại tại Hoa Kỳ và trên toàn Thế giới vô cùng hãnh diện về sự cống hiến của tất cả những Quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân lực Hoa Kỳ, những Hậu duệ ưu tú của Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa mang giòng máu Việt làm rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam.

Chúc mừng Tân Phó đề đốc Tuấn Nguyễn.

Chú thích: *ghi theo cấp bậc HQ Đại tá Hoa Kỳ (Navy Captain); **chi tiết cá nhân viết theo tài liệu năm 2019; Sĩ quan ngành giao tế Hải quân là một trong các ngành Sĩ quan yểm trợ tác chiến Hải quân ( Restricted Line Officers).

Nguồn tài liệu: congress.gov/nomination; defense.gov/New; mynavyhr.navy.mil; c7f.navy.mil/Media/News; Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies; bienxua-HQ đại tá Hoa Kỳ gốc Việt Tuấn Nguyễn.

Hải Quân Đại Tá Hoa Kỳ Gốc Việt Tuấn Nguyễn

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân.

Posted on March 13, 2018 by dongsongcu
Post by Sơn râu 5 Jun 2026

HQ đại tá Tuấn Nguyễn (ảnh của apcss.org)

Hải quân đại tá Tuấn Nguyễn là một trong năm trung tá hải quân Hoa Kỳ gốc Việt được Tổng thống Trump đề cử thăng cấp đại tá vào tháng 5 năm 2017, và đã được Thượng viện chấp thuận. Các HQ trung tá được đề cử gồm có: Cao Hùng, ngành chiến tranh đặc biệt hải quân; Bùi H Quan, y sĩ  hải quân; Trịnh Hiền, bác sĩ nha khoa hải quân; Tuanh C. Halquist, bác sĩ nha khoa hải quân và Tuấn Nguyễn, ngành công binh hải quân chuyển qua ngành giao tế hải quân.

HQ đại tá Tuấn Nguyễn sinh tại Vũng Tàu, Việt Nam, ông định cư tại tiểu bang Chicago và học hành tại tiểu bang California. Trước khi gia nhập hải quân Hoa Kỳ, ông làm việc cho hảng Rockwell International aerospace program và hảng Unocal Oil refineries tại Southern California.

Binh nghiệp:

Đại tá Tuấn Nguyễn gia nhập hải quân Hoa Kỳ mang cấp bậc thiếu úy ngành công binh hải quân năm 1996. Năm 2006, ông chuyển sang ngành giao tế ngoại giao (FAO) và cộng đồng của hải quân trong vai trò sĩ quan giao tế. Thời gian này, ông là sĩ quan giao tế cộng đồng phục vụ tại phòng nhân viên hải quân tại Millington, Tennessee.                          

 Tháng 10 năm 2016, ông được biệt phái sang phục vụ tại trung tâm an ninh Á Châu – Thái Bình Dương Daniel K. Inouye (Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies), tại đây ông là sĩ quan trong chương trình hợp tác an ninh quân sự với các quốc gia Đông Nam Á và Ấn Độ.

Ông có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực giao tế ngoại giao trong vực khu vực Á Châu-Thái Bình Dương. Ông từng là sĩ quan phục vụ cộng đồng/sĩ quan xử lý thường vụ phụ trách xây dựng căn cứ tiếp vận hải quân Hoa Kỳ tại Singapore. đây là nơi đồn trú của lực lượng đặc nhiệm 73 tiếp vận hải quân của Đệ Thất hạm đội, và hải đội 7 khu trục hạm; Sĩ quan giao tế hải quân Hoa Kỳ tại các quốc gia Cam Bốt, Phi Luật Tân và Việt Nam kiêm gíam đốc kế hoạch và chính sách quốc tế cho tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương; Sĩ quan phụ tá cho tùy viên cao cáp quốc phòng Tòa đại xứ Hoa Kỳ tại New Delhi, Ấn Độ. Ông  từng phục vụ tại đơn sị II yểm trợ xây cất hải quân tại Port Hueneme, California, LA; Chỉ huy trưởng hải quân khu vực tây Bắc Bangor, Washington; Và phục vụ trong lãnh vực kỹ thuật cơ khí hải quân tại Northwest, Bremerton. Các khóa sinh đang thụ huấn tại trường sĩ quan công binh hải quân (ành của Civil Engineer Corps Officers School on Facebook).

Học vấn:

Đại tá Nguyễn hoàn tất văn bằng cử nhân khoa học cơ khí tại Đại học California tại Santa Barbara; Văn bằng cao học khoa học cơ khí tại Đại học Loyola Marymount; Văn bằng cao học quản trị kinh doanh tại Đại học Southern California. Ngoài ra ông đã thụ huấn và tốt nghiệp tại trường chỉ huy và tham mưu lục quân tại Fort Leavenworth, Kansas và trường tham mưu và chiến tranh hỗn hợp tại Norfolk, Virginia. Ông còn là hội viên hiệp hội quản trị chuyên nghiệp.

Thăng thưởng:

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: the Defense Meritorious Service Medal, the Meritorious Service Medal (two), the Navy Commendation Medal (3), the Joint Service Achievement Medal (2), and the Navy and Marine Corps Achievement Medal (2).

Sĩ quan hải quân gốc Việt:

Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong hải quân Hoa Kỳ tính đến tháng 3 năm 2018, có 17 đại tá, khoảng 50 trung tá và trên 100 thiếu tá ( không tính sĩ quan cấp úy ). Riêng sĩ quan cao cấp hải quân tên Tuấn cũng có 6 vị, đó là HQ đại tá Phạm Ngọc Tuấn, ngành tình báo hải quân; HQ đại tá Hoàng Ngọc Tuấn, ngành quân y hải quân; HQ đại tá Tuấn Nguyễn, ngành giao tế hải quân; HQ trung tá Đặng Quốc Tuấn ( hồi hưu ), HQ trung tá Nguyễn Anh Tuấn ( hồi hưu ) và HQ thiếu tá Trần M Tuấn ( hồi hưu ).

Nguồn tài liệu: Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies; Congress.gov; Navy Personnel Command; Civil Engineer Corps; Đại tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt Hoàng Ngọc Tuấn; A South China Sea Game Changer? By Captain Tuan Pham, U.S. Navy.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 4 Jun 2026

Giấy tờ đây. Đợi tôi một chút.

Người công chức đeo kính vào nhìn Elisabeth. Rồi y thong thả đứng lên ra phía sau bức vách ván ngăn trong các ghi sê trong phòng giấy.

Graber nhìn theo ông ta và quay lại. Lối ra có vẻ bị nghẽn.

– Em ra ngoài cửa kia đứng đợi. Nếu thấy anh cất mũ ra thì lập tức đến nhà thầy Pohlmann. Còn thì mặc kệ anh, anh sẽ đến đấy sau.

Nàng ngập ngừng.

– Mau lên. Cha già này có vẻ như đi tìm ai. Ra ngoài đợi sẽ không có gì đáng ngại.

– Có lẽ lão chỉ đi kiếm sổ sách.

– Rồi sẽ biết. Anh sẽ nói em nhức đầu phải ra ngoài cho thoáng. Ra ngay đi!

Y đứng lại ghi sê, dõi mắt theo Elisabeth. Nàng mỉm cười rồi biến mình vào đám đông.

– Cô Kruse đâu!

Graber giật mình.

– Cô ta sẽ trở lại. Thưa ông, giấy tờ hợp lệ?

Ông ta gật đầu.

– Bao giờ thì làm lễ cưới?

– Càng sớm càng hay. Tôi còn ít thì giờ lắm, gần hết phép rồi.

– Có thể làm hôn thú ngay. Giấy má xong cả rồi. Đối với quân nhân thì mau lẹ.

Graber trông thấy ông ta cầm giấy tờ. Ông ta mỉm cười. Bất thần, y thấy mình mệt nhoài. Mồ hôi toát ra.

– Xong cả rồi, ông?

Y lột mũ ra để lau mồ hôi trán.

– Xong hết. Cô Kruse đâu?

Graber để mũ trên bàn quay lại tìm Elisabeth trong đám đông. Chợt nhìn thấy chiếc mũ y mới chợt nhớ ra mình quên đứt điều đã dặn Elisabeth.

– Ông cho tôi một phút. Tôi chạy đi tìm.

Y len vào giữa đám người chạy ra. May ra còn kịp thấy nàng ngoài phố. Nhưng Elisabeth còn đứng sau cái cột, bình thản đợi chàng lại.

– May quá, em còn đây. Xong cả rồi.

Hai người trở lại. Người công chức đưa giấy tờ cho Elisabeth.

– Cô là con bác sĩ Kruse phải không?

Graber nín thở.

– Vâng.

– Tôi có quen ông nhà.

Elisabeth nhìn ông ta, lát sau nàng hỏi :

– Ông có tin tức về ba tôi?

– Cũng không biết gì hơn cô. Cô có tin gì không?

– Không.

Ông ta bỏ kính ra. Mắt ông ta xanh lợt và cận thị. Ông ta giơ tay bắt tay nàng mà rằng :

– Mong rằng mọi việc rồi sẽ xong xuôi tốt đẹp cả. Để tôi lo cho. Có thể làm giá thú ngay hôm nay hay ngay bây giờ cũng được.

– Xin ông làm ngay cho.

Graber xen vào:

– Chiều nay. Hai giờ có được không ạ?

– Để tôi thu xếp. Bây gìờ phải sang phòng thể thao. Chỗ ấy bây giờ là phòng hộ tịch.

– Cám ơn ông.

Họ dừng lại trước cửa.

– Tại sao không làm ngay. Anh chỉ yên dạ khi nào làm xong.

Elisabeth mỉm cười.

– Phải có thời giờ để em sắm sửa chứ. Anh không hiểu à?

– Hiểu một nửa thôi.

– Một nửa cũng đủ. Hai giờ thiếu mười lăm anh đợi em. – Graber ngập ngừng.

– Giản dị quá há! Thế mà mình tưởng tai nạn lớn! Bây giờ anh tự hỏi không biết tại sao mình lại nghĩ quẩn thế! Chắc em thấy anh lố bịch đấy nhỉ!

– Không.

– Có chứ. Hơi lố bịch thật.

Elisabeth lắc đầu.

– Ba em cho những người bắt giữ ông là lố bịch. Chúng mình gặp may. Chỉ có thế thôi, anh à.

***

Cách đấy vài phố; họ tìm được một tiệm may.

Một người nom như con căng-gu-ru ngồi trong tiệm, một bộ quân phục để trên gối.

– Tôi có cái quẩn bị một vết ố, ông có nhận tẩy giúp không?

Người thợ may đưa mắt lên:

– Tôi không phải thợ nhuộm. Tôi là thợ may.

– Tôi biết, nhưng tôi muốn ủi lại quần áo.

– Quần áo đang mặc ấy à?

– Vâng.

Lão đứng dậy, miệng lẩm ba lẩm bẩm, cúi nhìn vết dầu. Graber nóí:

– Không phải vết máu, dầu ô liu đây, tẩy băng dính có thể đi hết.

– Vậy thì ông làm lấy đi coi! Băng dính không ăn thua gì cả.

– Có lẽ. Hẳn là ông biết hơn tôi. Ông có cái gì cho mượn mặc tạm trong khi chờ đợi?

Người thợ may vào lấy ra một cái quần ca rô và một cái áo trắng.

– Phải mất bao lâu hở? Tôi đợi lấy để cưới vợ.

– Một giờ.

Graber thay quần áo.

– Một giờ nữa tôi lại lấy!

Con căng-gu-ru nhìn y, ra vẻ ngờ vực. Hẳn là lão muốn y đứng đợi trong tiệm.

– Đồ quân phục của tôi cũng đủ để làm tin. Ông không lo tôi trốn mất đâu.

Không ngờ lão ta mỉm cười.

– Quân phục là của Nhà nước. Nhưng cậu cứ đi đi. Và nên cắt tóc đi. Nếu cậu cưới vợ thì cắt tóc cũng không đến nỗi là xa xỉ.

– Ông nói phải!

Graber bước vào phòng hớt tóc. Thợ hớt tóc là một người đàn bà.

– Chồng tôi ở ngoài mặt trận. Tôi phải làm thay. Ông cạo râu à?

– Cắt tóc. Bà cắt tóc được chứ?

– Trời! Mở tiệm mà không biết cắt tóc sao? Ông có gội đầu không? Đây có thuốc gội săm bông.

– Được rồi, bà cho săm bông.

Bà trần lực ra làm việc. Chỉ trong nháy mắt là xong, rồi bà ta đổ thuốc vò đầu cho sùi lên một đống bọt lớn.

– Ông dùng dầu chải tóc không, tôi có thứ dầu từ Ba Lê gởi sang.

Graber rùng mình khi thấy bóng mình trong gương. Hai tai nom như cách rời hẳn đầu vì tóc cắt sát da.

– Ông chải dầu không?

Y nhớ đến những viên dầu thơm của Binding bèn hỏi:

– Mùi nó thế nào?

– Thì mùi dầu chải đầu chứ còn mùi gì nữa?

Graber đưa hộp dầu lên mũi. Chỉ có mùi mỡ đã hôi. Thời kỳ chiến thắng khuân của về nhà đã xa rồi. Y sờ tay lên đầu. Một túm tóc dựng đứng.

– Vâng, nhưng bà cho ít dầụ thôi.

Y trả tiền và ra đi.

Con căng-gu-ru thấy y trở lại thì càu nhàu. “Ông trở lại sớm quá”.

Graber không nói gì. Y ngồi xuống đấy xem ủi chiếc quan. Khí trời nóng làm y buồn ngủ. Thình lình chiến tranh như đã xa rồi. Ruồi bay vo ve, bàn ủi xèo xèo trên vải phun nước, căn phòng tỏ ra cái không khí yên ổn làm ăn.

– Đây chỉ có thể được như thế thôi!

Lão đưa cho một chiếc quần cứng ngắc và nóng, vết loang chỉ còn mờ mờ và nồng nặc mùi thuốc hắc. Graber mặc vào không nói gì cả.

– Ai cắt tóc cho cậu đấy!

– Một người đàn bà chồng đi lính.

– Coi như cậu cầm kéo mà tự cắt lấy. Để yên coi.

Lão cầm cái kéo bự cắt một mớ tóc rối bù.

– Nom thế này hơn chứ.

– Ông tính bao nhiêu, ông?

– Không gì hết. Quà cưới tặng cậu đấy.

– Cám ơn ông. Gần đây có tiệm bán hoa không?

– Đến phố Spichern sẽ thấy một tiệm.

Tiệm bán hoa còn mở cửa. Hai người đàn bà đang mặc cả một vòng hoa đám tang. Người bán giải thích :

– Khi nào có nụ thông thật thì vẫn đắt hơn.

Một người đàn bà nhìn nhà hàng bực tức, hai má phình rung động.

– Giá cắt cổ, bắt chẹt thế ai chịu được; thôi đi hàng khác.

Nhà hàng tức giận trả lời:

– Thì để đây tôi, bây giờ thiếu gì người mua.

– Với giá ấy à?

– Chớ giá nào! Tối nào đóng cửa cũng hết sạch trơn.

– Đầu cơ chiến tranh!.

Hai bà vênh mặt ra đi. Chị hàng định dồn cho một vố nữa, nhưng chợt thấy Graber bèn quay lại.

– Ông dùng hoa hay vòng tang. Tiệm tôi nhỏ nhưng có những vòng hoa kết cành thông rất khéo.

– Không phải để đi đám.

– À ra vậy! – Chị hàng chưng hửng.

– Tôi muốn một bó hoa.

– Hoa huệ?

– Không phải hoa huệ. Mua hoa đám cưới.

– Hoa huệ dùng cho đám cưới hợp lắm. Huệ tượng trưng cho ngây thơ và trinh bạch.

– Hẳn rồi, nhưng bà có hoa hồng không?

– Hồng mùa này à? Ông nói lạ? Bây giờ nhà kiếng để trồng rau cả rồi!

Graber đi quanh tiệm và kiếm được một bó thủy tiên khuất sau một vòng hoa hình chữ vạn.

– Đây, bà cho tôi bó này.

Chị hàng lắc bó hoa cho hết nước.

– Nhưng rất tiếc rằng phải gói bằng giấy nhật trình, trong nhà chỉ có giấy ấy thôi.

– Được, không sao.

Graber trả tiền rồi đi ra. Chẳng bao lâu bó hoa trong tay làm cho y khó chịu vì người qua lại nhìn y với con mắt chê bai. Có gì đâu, y cầm bó để cho hoa chúc xuống đất. Mấy bông hoa rung rinh theo bước đi trên hình một người đang phùng má trợn mắt gào thét. Đó là viên chủ tịch Tối cao Pháp viện. Bài báo trên tờ nhật trình gói hoa ghi là vụ hành hình bốn công dân Đức về tội đã không tin ở sự chiến thắng của nước Đức. Người ta không dùng đến máy chém vì còn nhân đạo quá, chỉ dùng búa chặt đầu cho tiện. Graber vò nát tờ nhật trình ném xuống đất.

***

Nhân viên tòa thị chính đã không lầm; phòng hộ tịch bây giờ ở chỗ tập thể thao của một trường học. Viên chánh sở ngồi dưới những hàng dây chão trơn và có nút. Phía dưới cột vào tường. Sự trang hoàng duy nhất trong phòng là một bức hình Hitler và phù hiệu chữ vạn với con chim đại bàng của dân tộc Đức.

Phải ngồi đợi. Một người lính già vào trước, đi theo là một bà lớn mập, ngực đeo một cái khánh vàng hình chiếc thuyền buồm. Người lính ra vẻ cảm động lắm, người đàn bà mỉm cười vô tư vô lự.

– Nhân chứng việc giá thú. Nhân chứng của ông đâu?

Người lính nói lắp bắp một câu; y quên không dẫn theo người làm chứng.

– Tôi cứ tưởng đám cưới quân nhân không cần nhân chứng.

– Thì cũng phải có thủ tục tối thiểu chứ!

Người lính quay lại hỏi Graber:

– Anh có thể làm chứng cho chúng tôi không? Anh và cô đầy. Chỉ việc ký tên thôi.

– Được lắm chứ, xong rồi lại đến lượt chúng tôi nhờ anh làm chứng. Chúng tôi cũng không có người làm chứng.

– Ai mà nghĩ đến chuyện chứng tá được!

Viên chánh văn phòng ra vẻ phật ý vì phải làm việc này, vội nói:

– Người công dân phải nhớ bổn phận công dân chứ! Ông có ra mặt trận mà không mang súng không?

Anh lính già ngơ ngác :

– Dẫu sao thì người làm chứng cũng không phải khẩu súng.

– Tôi không hề nói người làm chứng là khẩu súng, đấy chỉ là so sánh. Người làm chứng của ông đâu?

– Anh này và cô này.

Ông ta nhìn Graber hằn học. Rõ ràng là giản dị hóa đến mức ấy làm ông ta bối rối.

– Căn cước đâu?

Graber nói:

– Đây. Chúng tôi cũng đến để lập giá thú.

Ông lấy sổ ra, miệng còn nói lí nhí. Họ tên…

Graber và Elisabeth được ghi vào sổ.

– Ký tên vào đây.

Cả bốn người cùng ký.

– Tôi nhân danh Quốc trưởng chúc mừng cô dâu chú rể. Chứng đâu?

– Ổng và bà đây. – Y chỉ cặp vợ chồng người lính già.

Ông ta chỉ lắc đầu.

– Tôi chỉ có thể chấp nhận một người thôi.

– Sao vậy, chúng tôi cả hai người làm chứng cho họ.

– Nhưng bấy giờ hai người còn độc thân. Bây giờ thì hai người đã là vợ chồng rồi. Luật đã xác định rằng hai người làm chứng phải độc lập đối với nhau.

Graber không thể cho rằng người công chức chế giễu y hay ông ta chỉ làm đúng luật.

– Ở đây có ai, tôi nhờ làm chứng thứ hai. Một nhân viên trong sở chẳng hạn.

– Không phải việc của tôi. Nếu không có người làm chứng thì không làm hôn thú được.

Graber nhìn quanh, thấy một người tóc đã hoa râm có vẻ như đã nghe rõ chuyện: “Nếu ông muốn tìm một người chứng thì tôi giúp cho ông”.

Người ấy đến đứng bên Elisabeth. Ông công chức nhìn mặt không nói gì cả. Rồi ông bảo đưa giấy căn cước.

Người ấy lẳng lặng lôi ra một tờ giấy thông hành đặt xuống bàn. Ông ta cầm lấy với vẻ ghê tởm rồi mở ra coi. Bỗng dưng ông ta giật mình, đứng nghiêm và chào:

– Hitler muôn năm! Chào ngài cố vấn!

Ông kia trả lời:

– Hitler muôn năm! Thôi bây giờ bỏ cái trò hạch sách ấy đi. Ông làm khó dễ một người lính mà không biết thẹn?

– Vâng! Mời ông ký vào đây.

Garber bây giờ mới biết người làm chứng là một nhân vật quan trọng trong quân đội. Người chứng thứ nhứt là một binh nhì. Người ấy bắt tay Graber và Elisabeth, rồi bắt tay cặp vợ chồng kia. Người công chức bước vào phía trong, lúc trở ra mang theo cuốn Mein Kamp đưa cho mỗi cặp vợ chồng một cuốn.

– Của Quốc trưởng tặng!

Ông ta nhìn theo hút người kia mà gầm lên:

– Bây giờ họ lại mặc đồ dân sự nữa!

Hai cặp vợ chồng men theo mấy món dụng cụ thể thao trong trường để kiếm lối ra.

Graber hỏi người lính già:

– Bao giờ đi?

– Mai.

Anh ta nháy mắt:

– Chúng tôi muốn làm phép cưới từ lâu. Tội gì tặng cho Nhà nước món tiền phụ cấp. Vạn nhất tôi có mệnh hệ nào vợ tôi cũng không đến nỗi hai bàn tay trắng.

– Phải rồi.

Anh ta mở bị ra:

– Anh đã giúp chúng tôi. Tôi tặng một hộp óc heo này, ăn rồi cho biết có ngon không. Đừng cho ai biết nhé. Tôi định đem cho thằng cha ấy, nhưng sao mà nó khả ố thế!

– Đừng thí cho nó một tí gì cả.

Graber cầm lấy hộp xúc xích.

– Tặng anh cuốn sách này. Tôi không có gì khác mừng anh.

– Nhưng họ cũng cho tôi một quyển rồi.

– Không sao. Hai cuốn càng hay, một cuốn để anh dùng còn một cuốn để chị dùng.

Anh lính già cầm quyển sách:

– Giấy tốt đấy chứ. Anh không muốn giữ à?

– Tôi không cần. Ở nhà có một cuốn bìa da thếp vàng.

– Vâng, thế anh cho tôi! Thôi, từ biệt!

– Chào anh!

Graber trở lại với Elisabeth.

– Anh không nói gì với Binding vì không muốn ảnh làm chứng. Anh không muốn có tên người mật vụ vào giấy má trong nhà. Ấy thế mà bây giờ lại có tên ông chúa trùm mật vụ. Ấy đó, thành tâm thiện ý của người ta có hậu quả là như vậy!

Nàng cười.

– Nhưng anh đã đánh đổi cuốn thần thư của chế độ này lấy hộp óc heo. Thôi cũng có bù trừ rồi!

Họ đi qua chợ. Người ta đã đặt lại tượng Bismarck lên tru nhưng chỉ còn có hai chân. Một đàn chim liệng quanh nhà thờ thánh Marie. Graber nhìn Elisabeth. “Bình thường thì mình phải là người sướng nhất trên đời”, y nghĩ vậy. Nhưng sự thật y chỉ thấy ngạc nhiên hơn là sung sướng.

Họ nằm dài trên một khu vườn gần tỉnh. Khí trời thoang thoảng hương xuân. Hoa anh thảo và hoa tím đã điểm màu tươi trên lớp rêu xanh. Gió xuân nhẹ thổi. Thình lình Elisabeth nghểnh mặt lên mà rằng :

– Ngoài kia có cái gì thế nhỉ! Một động tiên, lá cây lấp loáng như vàng bạc! Hay là mình ngủ mê?

– Thật đó chứ không mê đâu.

– Cái gì thế?

– Thiếc và nhôm cắt thành từng băng nhỏ như giấy thiếc gói sô-cô-la.

– Che kín cả cây. Ở đâu ra đây vậy?

– Phi cơ thả xuống nhiều lắm. Để phá sóng vô tuyến điện thì phải. Làm thế không cho địch tìm được căn cứ. Băng thiếc gây rối loạn sóng điện khi nó rớt lần lần từ trên không trung xuống. Anh không biết gì về chuyện ấy cả.

– Tiếc quá nhỉ. Trông như là cây Nô-en. Ấy thế mà ở đây vẫn còn dấu vết chiến tranh! Mình đã tưởng xa chiến tranh rồi.

Hai người không thể rời mắt khỏi cảnh thần tiên. Cây cối chung quanh rung rinh trước gió, nhẹ đưa những sợi tóc bạc chói sáng dưới ánh nắng. Một đêm kinh hoàng, la khóc, chết chóc và điêu tàn đã phủ lên cây cối cảnh tượng lặng lẽ và mong manh kia, gợi cho người ta nhớ lại những kỷ niệm xa xưa, những tối sum họp yên vui, những chuyện cổ tích làm say mê hồi tấm bé.

Nàng ôm chặt lấy chàng:

– Thôi chúng ta quên chiến tranh đi, chúng ta cứ tưởng tượng họ trang hoàng cây cối để mừng chúng ta.

Graber lấy trong túi ra cuốn sách của Pohlmann cho :

– Chúng ta không thể đi chơi trong tuần trăng mật, nhưng thầy Pohlmann đã cho anh cuốn sách này, những bức ảnh nước Thụy Sĩ. Một ngày kia chúng ta sẽ sang Thụy Sĩ để xem phong cảnh mà ngày nay không được biết tới.

– Thụy Sĩ, một nước sáng trưng ánh đèn như anh nói đó phải không?

Graber mở cuốn sách ra.

– Hình như bây giờ không còn thế nữa. Ở trại họ nói rằng người ta đã yêu cầu Thụy Sĩ phải che kín hết đèn đóm. Thụy Sĩ đành phải nghe theo.

– Sao lại có tối hậu thư ấy?

– Chúng ta không phản đối gì Thụy Sĩ khi nào chỉ có chúng ta bay trên trời Thụy Sĩ thôi. Nhưng bây giờ phi cơ oanh tạc của địch cũng bay qua Thụy Sĩ. Như vậy là những thành phố sáng trưng đèn điện sẽ là những dấu hiệu rất tốt cho họ.

– Thế là hòn đảo ánh sáng cũng tắt nốt?

– Phải. Nhưng ít ra chúng ta cũng chắc chắn rằng hết chiến tranh có sang Thụy Sĩ thì nước này cũng không bị tàn phá. Nước Thụy Sĩ sẽ còn nguyền vẹn như trong những bức hình này. Nếu là hình chụp nước Ý, nước Pháp hay nước Anh thì khác.

– Nước Đức cũng vậy.

Họ lật từng trang cuốn sách.

– Núi. Bên Thụy Sĩ chỉ có núi thôi à, không có gì khác nữa?

– Có chứ, đây, em coi Thụy Sĩ về phía nước Ý.

– Locarno… Ở nơi đây đã họp một hội nghị về hòa bình, người ta quyết định không bao giờ gây ra chiến tranh nữa phải không anh?

– Hình như thế.

– Họp có lâu không?

– Không. Đây này, trông vùng Locarno, cây dừa nhà thờ, hồ Majeur, đảo mọc đầy hoa, chan hòa ánh sáng yên vui…

– Tên phành phố nhỏ này là gì?

– Porto Ronco.

– Được rồi.

Nàng vừa nói vừa nằm ngả ra.

– Chúng ta nhớ lấy tên thành phố ấy để sau đi chơi. Lúc này em chán ngán không muốn đi đâu cả.

Graber gập sách lại. Y ngắm khu rừng bạc một lát rồi vòng tay qua vai Elisabeth. Y cảm thấy sự có mặt của nàng như một luồng sinh khí nồng ấm, nhưng cái làm y thấy rõ hơn cả là gai thông lẫn dưới đám cỏ mềm ở dưới đất. Một đóa hoa hồng bên má chàng lớn dần, lớn mãi, che khắp chân trời, y nhắm mắt lại…

***

Gió đã yên, cái tối hấp tấp tràn đến. Một tiếng nổ lớn ở xa xa. Trong lúc thiu thiu ngủ Graber nghĩ thầm: “Sửa soan trọng pháo! Ta ở đâu đây? Ngoài mặt trận?” Sự hiện diện của Elisabeth bên mình làm y tỉnh cơn mê “Ở đây cũng có trọng pháo à? Có lẽ họ tập bắn?”.

Elisabeth trỗi dậy:

– Ở đâu thế? Họ ném hay họ bay đi?

– Không phải phi cơ.

Tiếng gầm lại nổi lên. Graber lắng tai nghe.

– Chẳng làm gì có bom với súng. Cơn mưa đấy.

– Mưa bây giờ thì hơi sớm.

– Mưa gió không theo luật lệ nào cả.

Những cái chớp thứ nhất bắt đầu xuất hiện. Chớp có vẻ rụt rè yếu ớt so với lửa sáng bom đạn của người tạo ra. Cả tiếng sấm cũng có vẻ hiền lành so với cuộc dội bom của phi cơ nhào xuống tấn công.

Những giọt mưa thứ nhất rơi xuống. Họ chạy qua khoảng rừng thưa đến nấp dưới cây to. Rồi tiếng mưa ào ào xối xuống lá như tiếng ồn ào của một đám đông vô hình. Dưới bóng răm cây cối, Graber trông thấy mấy sợi dây thiếc và nhôm trên cây rơi xuống vướng trên tóc người yêu, như một màng lưới trên đầu, chớp làm sáng lên coi rất kỳ dị.

Họ ra khỏi rừng đến núp trong một cái trạm, ở đây đã có nhiều người đứng trú mưa. Có một vài người lính mật vụ trẻ tuổi chú ý nhìn Elisabeth.

Phải đợi nửa giờ sau mới hết mưa.

– Bây giờ không biết mình ở phương nào, đi lối nào ra?

– Bên tay phải.

Họ đi qua đường, bước vào một lối đi có bóng mát. Một toán người đang làm việc, họ mặc đồng phục có rạch, đang đặt một ống dẫn nước.

Elisabeth bỗng chạy lại gần họ, nhìn từng người như để tìm ai. Graber nhìn thấy áo họ có số, chắc là người bị giam trong trại tập trung. Họ lặng lẽ làm lụng không hề trông lên. Đầu họ trông như đầu người chết, quần áo rộng thùng thình vì người họ chỉ còn da bọc xương.

– Làm gì thế? Cấm lại gần!

Elisabeth làm như không nghe tiếng. Nàng chỉ rảo bước đi nhưng vẫn cúi xuống nhìn những khuôn mặt hốc hác.

– Bà kia! Đến gần đấy làm gì? Điếc hả?

Người lính mật vụ vừa la vừa chạy lại, Graber hỏi:

– Cái gì thế?

– Cái gì à? Anh có điên không?

Graber thấy một người nữa hấp tấp chạy lại. Y không dám gọi Elisabeth vì biết rằng nàng không chịu đi. Y bảo người lính mật vụ:

– Chúng tôi kiếm vật đánh rớt.

– Cái gì? Kiếm cái gì?

– Đánh mất cái trâm, hình cái thuyền có nạm ngọc. Tối hôm qua đi qua đây. Chắc là rơi ở lối đi này. Ông có thấy chăng?

– Cái gì?

Graber lặp lại, y trông thấy Elisabeth đã xem mặt hết nửa toán người bị giam.

– Chúng tôi không thấy gì cả.

Người ấy trả lời. Người kia nói:

– Chỉ đặt chuyện, giấy má đâu?

Graber lẳng lặng nhìn anh ta, những muốn cho một cú đia-réc nằm đo ván. Có lẽ anh ta chưa đến hai mươi tuổi. Y nghĩ: “Cũng kiểu người như Steinbrenner, Heini”.

– Không những tôi có đủ giấy tờ mà tôi còn là bạn thân của cố vấn Hildebrandt. Anh có biết Hildebrandt là ai không?

Anh ta bật cười:

– Ai nữa? Cả Quốc trưởng nữa chắc?

– Không, tôi không nói Quốc trưởng.

Elisabeth đã đi hết khắp lượt. Graber thong thả ấy trong túi ra cuốn sổ gia đình.

– Đem đèn đến đây coi. Ông ấy vừa làm chứng việc hôn nhân của tôi ngày hôm nay. Như thế đủ chưa?

Anh ta cắm cúi xem tờ giấy. Người kia cũng ghé nhìn qua vai.

– Đúng chữ ký của ông Hildebrandt, tôi biết. Nhưng không được ở đây. Tôi rất tiếc ông mất cái trâm.

Elisabeth đi thong thả trở lại. Graber nới:

– Nếu đã cấm thì chúng tôi cũng không kiếm nữa, lệnh là lệnh.

Y muốn từ giã hai người, chạy đến với Elisabeth, nhưng một anh chạy theo và nói:

– May ra chúng tôi có thể tìm được, có thể làm cách nào để gửi cho ông?

– Ông cứ gửi cho ông Hildebrandt, giản dị lắm.

Anh ta kính cẩn vâng vâng dạ dạ và hỏi Elisabeth:

– Bà có tìm thấy không?

Nàng như mới tỉnh giấc mơ. Graber đỡ lời:

– Anh vừa nói với mấy ông đây về chuyện mất cái trâm tối hôm qua. Nếu họ tìm thấy họ sẽ gửi ông Hildebrandt.

Nàng ngơ ngác nói:

– Cám ơn!

Anh ta chăm chú nhìn mà rằng:

– Bà có thể tin chúng tôi, chúng tôi biết rõ thói phép trong hàng ngũ mật vụ.

Elisabeth liếc mắt nhìn toán tù nhân. Anh ta trông thấy vội thưa:

– Nếu thằng khốn nào đó mà bỏ túi thì liệu hồn, chúng tôi có cách làm cho họ phải nhả ra ngay!

Elisabeth rùng mình.

– Tôi không chắc là đánh rơi ở đây, có thể đánh rơi trong rừng. Có lẽ trong rừng thì đúng hơn.

Anh ta cười gằn.

– Không biết đâu mà nói được.

Graber đứng cạnh một cái đầu cạo nhẵn thín của một người đang gò lưng cúi sát đất. Y thọc tay vào túi áo lấy một gói thuốc lá để rớt xuống chân người tù, đoạn nói với anh ta:

– Cám ơn lắm. Ngày mai chúng tôi trở lại rừng, chắc là rớt ở trong rừng.

– Dạ không có chi. Hít Le muôn năm! Xin có lời mừng ông và bà dịp lễ cưới.

– Cám ơn.

***

Họ đi thong thả cho đến lúc không thấy những người bị giam giữ. Trời đã sáng sủa, từng đám mây dài lấp lánh màu xà cừ, nom như chim hồng hạc tung cánh bay.

– Bây giờ em mới biết em làm liều thật!

– Không sao, bây giờ ai cũng thảng thốt như thế cả. Sống trong cảnh liên miên hết nạn nọ đến nạn kia ai mà bình tĩnh được.

Nàng gật đầu.

– Câu chuyện cái trâm và ông Hildebrandt của anh khá đấy chứ. Anh nói láo một cách thần tình.

– Thế đây! Mấy năm gần đây dân ta chỉ học được có một ngón lòe bịp thế thôi. Thôi đi về đi. Bây giờ có giấy tờ hợp lệ để ở với em rồi. Anh đã bỏ trại lính, từ giã Binding để về nhà mình! Ngày mai sẽ xài một món xa xỉ là sáng dậy thật trễ để em lo liệu kiếm cơm cho cả nhà.

– Ngày mai em không đến xưởng, được phép nghỉ hai ngày để lấy chồng.

– Thế mà bây giờ mới nói!

– Em định đến mai mới nói để anh ngạc nhiên sung sướng.

Graber lắc đầu.

– Thôi em ạ, chúng ta không có thì giờ để hưởng cái ngạc nhiên sung sướng. Chúng ta cần hưởng ngay từng phút. Phải bắt đầu ngay từ bây giờ. Còn gì trong chạn để ăn không? Hay phải qua nhà Binding trước khi về nhà?

– Còn kha khá để ăn tối nay và sáng mai.

– Được rồi. Vậy sáng mai chúng ta được phép làm ồn ào trong bữa cơm sáng. Ta có thể hát hết các bài quân hành. Nếu mụ Lieser đưa bộ mặt khả ố ra chúng ta đưa cho mụ coi cuốn sổ gia đình mới tinh có chữ ký của ông Hildebrandt.

Nàng mỉm cười.

– Có lẽ mụ sẽ không nói gì cả. Hôm kia, mang gói đường sang cho em, bỗng dưng mụ nói rằng anh là người đứng đắn. Không biết sao mụ lại đổi thái độ như thế!

– Thật không ngờ. Có lẽ mình lại hối lộ mụ. Đó là điều thứ hai mà người ta dạy chúng ta trong khoảng mười năm gần đây.

Hội quán thủy thủ

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 4 Jun 2026

Google image

          Hồi chiều Edy và Rischar rủ tôi đi nhậu, hai đứa muốn giới thiệu tôi với vị linh mục bên In-đô mới qua thực tập trên hội quán. Khi xe bus của hội quán xuống cảng đón, trên xe thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea đã ngồi chật ém. Chúng tôi lên sau phải chen mông mới ngồi lọt. Mùa hè hơn bảy giờ chiều trời vẫn còn nắng chói chang, nóng nực mồ hôi tươm như mỡ. Thấy không thoải mái, tôi nhảy xuống và kêu hai đứa đi trước, tôi thả tà tà lên sau. Đi bộ là thói quen của tôi, hơn nữa đi chơi phải thảnh thơi chớ có đâu ngồi ém như ém mắm.

      Lúc nhỏ ở quê nhà tôi thường đi chùa, dạo đó tôi đọc được kinh Phật và vài ba cuốn sách thiền nhưng lãnh hội chẳng được bao nhiêu. Hồi mới nhập cảnh Hòa Lan, khai lý lịch lại, trong phần tôn giáo tôi điền đạo Phật. Từ đó trở đi ai hỏi tôi theo đạo nào, tôi không ngần ngại trả lời tôi theo đạo Phật. Sau khi làm thủy thủ tôi đi đó đi đây, thường lênh đênh trên biển khong chùa chiền,  không kinh Phật. Bù lại ghé nhiều hải cảng, tôi gặp những người truyền giáo, các vị nầy có mặt khắp nơi, vừa giảng kinh vừa hướng dẫn và giúp đỡ thủy thủ những lúc gặp khó khăn. Nhờ họ mà tôi có kinh thánh, sách, báo tiếng Việt, mặc dầu sách  rao giảng về nước thiên đàng, nhưng  đã giúp tôi đỡ buồn trong những tháng ngày lênh đênh trên biển. Đọc riết rồi thắm,  đoạn nào hay tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần. Có lẽ vì thấy tôi nghiền ngẫm kinh thánh nên hôm nay Edy và Rischar muốn rủ tôi lên hội quán ‘đàm đạo’ với vị linh mục của tụi nó chăng.

     Tại tụi nó không để ý đó thôi, vì những người tôi thường gặp là những nhà truyền giáo do tổ chức của đạo Tinh Lành hoặc Thiên Chúa đưa ra. Những phòng truyền giáo (Seamen’s Mission) sinh hoạt rất lành mạnh; có thư viện chứa sách, báo và thánh kinh được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngoài ra còn có phòng điện thoại, phòng thể thao. Trong ba có bán bia nhưng không nặng độ. Những hải cảng lớn, có phòng ngủ dành cho thủy thủ lở chuyến tàu, hoặc trên đường về mà chưa tới chuyến bay.   

Còn cái Hội Quán ở Hamburg, phải chi trên bảng hiệu đừng đề thêm chữ Mission và trước sân đừng treo cờ truyền đạo thì trông đỡ chướng mắt hơn. Ở những phòng truyền giáo người ta trang hoàng căn phòng nhỏ vừa đủ để cầu nguyện, trên tường treo thánh giá, hoặc tượng chúa Jêsus vừa sạch sẽ vừa tôn nghiêm. Còn ở đây họ dành ra hết một từng lầu. Trong căn phòng rộng được chia ra nhiều ngăn, mỗi ngăn dành cho một tôn giáo; bàn thờ Phật có lư hương, chuông và treo ảnh phật Thích Ca cạnh bên tượng phật bà Quan Âm. Ngăn dành cho đạo Hồi có bục quì và chiếc bàn vừa đủ để cuốn kinh Koran khổ lớn, dầy cộm. Bên góc trong treo tượng chúa Jêsus với quyển thánh kinh lật ngữa nằm trên kệ. Ngoài ba mối đạo lớn ra, còn có hình ảnh thần thánh khắp nơi được sưu tầm treo ngăn nắp trên một bức tường. Vì ít người lai vãng nên không khí trong phòng lạnh lẽo, ẩm uớt và phảng phất mùi mốc meo, thoạt nhìn thấy giống phòng triển lãm hơn là nơi thờ phượng.

     Đi đây đi đó tiếp xúc với nhiều hạng người,  chứng kiến những trò đời bịp bộm. Vì  vậy đối với tôi ba cái chuyện mượn đạo tạo đời, buôn thần bán thánh không khác nào chuyện các cô gái bán dâm.  Mấy năm nay đi đi lại lại cảng nầy, cũng thường ghé hội quán, nhưng tôi chẳng thấy vị linh mục hay ông cha nhà thờ nào léo hánh tới truyền đạo. Toàn một nhóm người bày biện bán buôn. Treo cờ truyền giáo, bán rượu, bia, bán tạp hoá…và có cả phụ nữ bán dâm. Tôi không hiểu mục sư từ In-đô bay qua đây học hỏi cái ‘đạo’ gì trên đó?

     Tuy nhiên phải công nhận hội quán ở cảng Hamburg sinh hoạt rộng ràng, vui vẻ hơn những phòng truyền giáo. Khi tôi bước vào, thủy thủ đông nghẹt, mùi thuốc lá, bia rượu pha lẩn mùi dầu thơm con gái ngây ngấy.  Lúc nào mấy anh Phi-luật-tân cũng rậm đám; tiệc tùng, ăn uống, nói năng ồn ào. Trên bàn của thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea đầy bia, rượu và thức ăn, cạnh mỗi anh một em gái Phi-luật-tân trẻ trung môi son, má phấn ngồi ăn uống rất tận tình, có em phì phèo thuốc lá. Các em nầy đến từ hộp đêm bên kia bờ sông Elbe, sinh hoạt thường ngày của các em trong những căn phòng đèn màu hồng của khu St. Pauli. Khi nào mấy anh thủy thủ không đủ thời gian qua chơi với các em, chỉ cần một cú điện thoại, thì các em sẵn sàng tới vui với các anh vài giờ. Nhìn các anh bày tiệc tại đây, tôi cũng đoán được chiếc Blue Sea sẽ khởi hành nội trong đêm nay.

        Trong lúc tôi đứng ngó dáo dác tìm chổ nhập bọn, Edy tới đập lên vai tôi, tôi day lại, nó liền chỉ tay vô phía trong góc phòng:

         – Anh vô trong kia kìa.

     Tôi đi theo Edy tới chiếc bàn thấp trong góc, ghế ngồi là bộ sa-long bọc nhung, bia rượu đã sẵn và có mấy cô gái ngồi tiếp chuyện. Người đàn ông có gương mặt hiền hậu ngồi vắt chéo chưn, day người ra ngoài làm như không dính dáng gì trong bàn tiệc. Thấy tôi tới anh ta bỏ chưn xuống, đứng dậy bắt tay. Edy giới thiệu anh là mục sư và gả thanh niên bận đồ đen tay trái đeo đồng hồ dây mạ vàng, tay phải đeo chiếc lắc vàng và trên cổ dây chuyền cũng vàng tên Frank, trong tương lai Frank sẽ thành linh mục. Sau màn giới thiệu mục sư kéo ghế mời tôi ngồi cạnh ông. Edy ngồi ngồi xuống băng nệm cạnh Bilia, lani ngồi kế Rischar, Frank ngồi bên Erika và Erika ngồi kế tôi. Bilia và Lani người Phi Luật Tân hai người nhỏ thó, ốm tong ốm teo, Erika người Đức mập thù lù, mấy cô đóng đô trong hội quán nên tôi đã lờn mặt.

       Erika day ngang nói với tôi:

-Từ ngày biết xếp tới nay, chưa bao giờ xếp mời tôi một ly bia.

      Nếu tôi đoán không lầm, tuổi Erika khoảng trên bốn mươi, vì cô tô lên mặt lớp phấn dầy cộm nhưng không dấu được những nét nhăn hai bên khoé mắt, môi thoa son nhưng không còn bóng mộng, răng vàng khói thuốc và nụ cười luôn héo hắt. Khi nào cần những món cần thiết tôi nhờ cô mua dùm, hoặc nhờ láy xe đưa ra phố, được cái lúc nào cô cũng sẵn lòng. Kể ra tôi cũng không công bằng với Erika lắm. Trước kia cô có rủ tôi về nhà ngủ miễn phí, nhưng nghĩ tới cảnh tối nằm ôm cái đống thịt bủng xì bủng xịt, nặng gần cả tạ của cô ta, tức thì cái thằng đàn ông của tôi nó thụt mất tiêu như rùa rút cổ. Thật ra không phải tôi keo kiệt đến đổi không dám mời cô một ly rượu, ăn vài cây xúc xít. Ngặt một điều, cách mời của thủy thủ khác hơn những người thường. Mỗi khi nhập bọn mạnh thằng nào nấy mua bia, rượu để đống lên bàn, mỗi người tự lấy bia khui rồi giơ chai lên hô một tiếng, đồng lượt ngước cổ chổng chai tu. Tôi bưng chai lên:

 – Vậy thì bây giờ tôi mời cô.

        Thấy tôi cầm chai lên cụng với Erika, mấy người ngồi chung bàn cũng đưa chai lên ngang mài rồi hô lên một tiếng, ngữa cổ, chổng chai nốc bia ừng ực. Khi để ly xuống, Frank day qua hỏi tôi:

-Anh có đạo không?

      Ngồi chỗ nầy khơi chuyện đạo tôi cảm thấy kỳ khôi, tôi nghĩ ra câu trả lời cho Frank đừng phăng vô chuyện đạo nữa:

– Có, tôi đạo Phật nhưng sống theo kinh thánh.

      Nghe tôi trả phân hai, Frank không nói được thêm gì. Tôi day qua ông mục sư, hỏi:

– Qua đây ông thấy thế nào?

    Ông đưa ngón tay cái ra gặt gặt:

– Tốt thôi.

-Như vầy ông thấy tốt sao?

        -Sao lại không?

    Tôi nghĩ ông chưa hiểu hết ý tôi, nên tôi khoa tay một vòng, lập lại câu hỏi:

       -Truyền đạo như vầy ông thấy tốt sao?

     Mục sư chưa kịp trả lời, thì Rischar chen vô:

       -Nếu đi tới đâu cũng Chúa không thôi, chắc thủy thủ mỗi khi thèm đàn bà phải tự giải quyết lấy.

     Nhìn cái điệu bộ của nó, ngã người vựa ra sau băng nệm, nắm nắm tay để ngang dạ bụng cong người lại làm dấu sụt vô sụt ra… Mấy cô ngồi cạnh bên cười ha hả. Tôi đương hớp bia cũng không nín được cười, làm bia tràn lên mũi sặc văng tùm lum, cái sặc của tôi làm mọi người im bặt. Bây giờ Frank mới nói:

-Nếu mầy thủ dâm thượng đế sẽ giết mầy.

     Cái ông con chưa thành mục sư, mở miệng ra là muốn truyền đạo. Tự dưng Erika day qua tôi, cô đưa tay ra dấu cứa ngang cần cổ, nói:

– Vậy thì thượng đế sẽ giết xếp trước.

– Tại sao? Tôi hỏi:

– Hồi biết xếp tới giờ tôi chưa thấy xếp đi với ai hết. Nếu xếp không thủ dâm thì xếp sẽ làm gì mỗi khi thèm đàn bà?

     Không đợi tôi trả lời, cô ta chộp tay vô giữa háng tôi bóp mạnh một cái, may nhờ cái quần Jean dầy ngăn cản bàn tay thô bạo cô ta, bằng không tôi bị dập dái như chơi. Ông mục sư ngồi ngó cái bầy chiên con của chúa cử chỉ lố lăng, thô bạo, nói năng tục tằng. Nhìn qua tôi, ông lắc đầu mĩm cười… hết ý!

    Năm nay Âu châu tranh giải bóng đá. Bên phòng thể thao ghế xắp hàng ngang giống như rạp hát. Đặt biệt có gắn máy thu hình,  màn ảnh được phóng đại chiếu lên chiếm gần hết bức tường. Những người ham mộ đá banh không thể bỏ qua, tới giờ họ ùa sang phòng bên theo giỏi trận đấu. Những người không khoái đá banh thì rút vô phòng coi phim con heo. Trong ba bây giờ lèo tèo vài mống ngồi trên hàng ghế cao cẳng trước quày rượu, vừa uống vừa trò chuyện với cô gái ốm nhôm ốm nhách đứng trong quày.

     Bàn chúng tôi cũng kéo nhau coi đá banh,  còn tôi với ông linh mục ngồi lại. Chúng tôi vừa uống rượu vừa trò chuyện. Mục sư cho tôi biết, ông sẽ qua hội quán bên Anh thực tập vào tuần tới, sau đó ông về In đô mở một hội quán ở Jakarta và một ở Batam đúng theo tiêu chuẩn Âu châu.

    Nghe những dự tính của ông, tôi không thắc mắc  nữa, mục sư cũng phải làm kinh tế mới có tiền nuôi vợ, nuôi con chớ. Tôi hỏi sang câu chuyện:

– Ông mở hội quán như vầy không bị chánh quyền In-Đô cấm sao?

        -Không,  không ai cấm hết, mình làm, mình đóng thuế đàng hoàng thôi. 

     Câu chuyện được chuyển sang tình hình xã hội ở In Đô. Chuyện Hồi giáo chơi xỏ đạo Tinh Lành; chuyện chánh quyền phần đông là Hồi Giáo, chuyện dân chúng In-Đô sống trong cảnh nghèo đói và chuyện tham nhũng, hối lộ khắp nơi….

      Không khí trở nên náo động khi hai đội banh đá hết hiệp đầu. Bà con ùa ra, người mua bia, người đi toilet… Trong khi chờ trận đấu tiếp tục, họ xôn xao bàn tán chuyện đá banh. Có nhóm đánh cuộc, phe nào thua phải trả tiền bia, rượu. Còn thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea sắp sửa khởi hành, các anh tụ ra bãi đậu xe. Sau khi anh tài xế hối thúc liên hồi mỗi anh ôm mỗi em  hôn vội hôn vàng hôn tới tấp rồi mới chịu buôn ra. Cuộc chia tay vui như đốt pháo, khi  xe lăng bánh tiếng hô rân giả từ và cả chục cánh tay đưa ra vẫy vẫy.

     Trận banh kết thúc đã gần mười một giờ, đúng ra mười một giờ hội quán đóng cửa. Nhưng những hôm có đá banh họ mở cửa trể hơn thường ngày. Những đám đông lúc nào cũng vậy, khi sắp kết cuộc người ta bắt đầu rời rạc, kẽ lo mua sắm, người lo điện thoại…

     Tôi trong toilet đi ra định tới từ giả bạn bè về tàu. Chợt thấy Frank đứng trước máy bán condom tự động treo trên tường cạnh chậu rửa tay, anh rút một hơi ba bao. Thấy tôi ra anh lắc lắc cái đầu cười gượng, nói:    

-Mấy đứa trong nầy dơ lắm, phải cẩn thận mới yên tâm.

-Dĩ nhiên rồi.

      Frank đem condom phát cho Edy và Rischar mỗi thằng một gói, còn một gói anh nhét túi quần. Nhìn Frank tôi nghĩ tới một điều này này, trong tương lai, thủy thủ tàu buôn ghé cảng Jakarta và Batam, lên hội quán sẽ thấy những mục sư được đào tạo bên Âu châu về  nước vừa giảng đạo vừa bán bia, bán  rượu và bán… condom.

      Đêm vui chơi trên hội quán coi như tàn. Bilia và lani đêm nay chộp được Edy và Rischar, nên hai cô lẹ làng đứng dậy điện thoại gọi tắc xi. Erika biết phận ế ẩm của mình, cô đứng dậy dọn dẹp ly tách trên bàn. Tôi bắt tay từ giả ông mục sư và Frank rồi quay gót. Khi tôi bước ra cửa, xuyên qua ánh đèn trước sân, nước trên trời trúc xuống rào rào làm ướt đẩm cỏ cây hoa lá. Bổng nhiên trời mưa dầm dề như vầy thì làm sao tôi thả bộ xuống tàu được. Đành quay trở vô nhờ xe bus của hội quán, nhưng phải chờ vì chưa có chuyến xe. 

Trong khi chờ đợi tôi kêu một ly bia và leo lên ngồi trên chiếc ghế cao cẳng trước quầy rượu.  Nhân viên hội quán tắt hết đèn các phòng bên ngoài, chỉ trong ba còn đèn sáng. Ông mục sư theo những người hết phận sự ra xe về trước. Mấy cô gái Phi-luật-tân của các anh bên chiếc Blue Sea để lại vẫn còn ngồi tụm nhau bên chiếc bàn tròn, các cô nói cười dòn tan.  Ngót hơn hai chục năm qua tôi thường tiếp xúc với dân Phi-luật-tân.  Nhưng tôi không hiểu bằng cách nào mà các cô gái nầy có mặt khắp nơi trên thế giới. Đi tới đâu tôi cũng thấy hộp đêm của Phi-luật-tân. Lúc ra ngoài làm ăn các cô đi từng nhóm. Trai thủy thủ, gái giang hồ quấn quít với nhau mỗi khi găp mặt, cùng chia sẻ vui buồn và thụ hưởng những gì hiện có.

    Trên bước lãng du, đôi khi tôi cũng có gặp vài cô gái Việt Nam làm trong những hộp đêm của người ngoại quốc. Nhưng khi tiếp chuyện, biết tôi là người đồng hương, các cô liền lánh đi đâu mất. Tôi không nghĩ các cô khi dể tôi  không đủ tiền bao. Có lẽ vì tự ái dân tộc, nên gặp đồng hương các cô mặc cảm không dám hết mình với nghề nghiệp. Giữa thời buổi các thầy tu còn phải tìm đủ mọi cách moi tiền bá tánh. Trong khi đó các cô bán thân  mình cho thiên hạ mua vui, thì lại sợ mang tai mang tiếng, làm ô danh nòi giống. Chụp giựt như mấy cô gái Phi luật tân kia có khi còn phải đói meo. Huống hồ các cô, mần ăn cái kiểu đó thì làm sao mà khá nổi.

           – Chào ông!

       Tôi day qua thấy người con gái Phi-luật-tân, tôi chào lại. Sẵn trớn cô ta bắt chuyện hỏi tôi là người nước nào. Tôi nói tôi người Viêt Nam. Cô chìa tay ra bắt và chỉ tay lên bắp tay nói Việt Nam và Phi-luật-tân giống nhau, ý cô ta nói màu da của tôi và cô giống nhau. Bây giờ tôi mới nhìn thẳng cô gái, mặt tròn trịa, hai má bầu bĩnh, đánh phớt lớp phấn mỏng màu hồng, môi son màu tim tím. Cô bận chiếc áo thung màu trắng cổ rộng, áo choàng cũng màu trắng và chiếc váy màu đen. Khi cô cười khoe hàm răng đều như hột bắp, trông duyên dáng quá chừng. Tôi chưa kịp mở lời tán tỉnh, cô ta đã cất tiếng hỏi tôi:

-Đêm nay ông đi với em. Ok.?

      Cô vừa hỏi vừa giơ hai tay câu cổ tôi ghì mạnh, ưỡn lên cho phần trên cặp ngực phồng ra cổ áo, mùi dầu thơm ngào ngạt làm lòng tôi rạo rực. Tôi giơ tay bợ chiếc vú tròn, mềm mại và nắm vừa bàn tay. Hai tay cô gái vẫn bấu cổ, hai mắt tự tin nhìn thẳng mặt tôi, chờ câu trả lời.

      Chậc! Mới hồi chiều trời trong vắt, chín mười giờ nắng vẫn còn vàng và đường đi khô ráo, không có dấu hiệu chuyển mưa. Đợi tôi sắp sửa ra về thì mưa như trúc nước, làm tôi phải trở vô hội quán. Rồi chợt nhiên xuất hiện một cô gái đẹp như thiên thần tới câu tôi cứng ngắc như vầy.  Quả thật, nếu mọi chuyện trên cõi đời nầy đều do bàn tay của thượng đế sắp đặt, thì tôi cũng sẵn sàng chịu theo sự sắp xếp Ngài.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Tách trà và tô phở

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Jun 2026

Tôi xin khoe với quý bạn là tôi vừa đi ăn phở về. Hàng ngày đã ăn cơm nhà, lâu lâu đổi món ăn bát phở, tôi chắc các bạn cũng thông cảm. Ở Little Saigon này muốn ăn phở ngon thì phải xếp hàng, nhất là đối với những tiệm phở có tiếng. Ở Việt Nam người ta nói XHCN là “xếp hàng cả ngày”, nhưng sang đây mới thấy Mỹ là “sư” xếp hàng. Ở các tiệm ăn, người ta  không xếp hàng rồng rắn như ở chỗ trả tiền trong tiệm buôn hay ở các chỗ “fast food”, nhưng đứng ngồi lố nhố trông rất thiếu thẩm mỹ không khác gì mấy quầy vé số, có để cái radio trực tiếp các cuộc xổ số ở Saigon, khoảng sau năm 1980. Mấy hôm nay trời quá lạnh, khách ngại đứng ngoài trời, tràn cả vào trong tiệm, cạnh cả bàn của người đang ăn. Đang húp bát phở, nhìn lên thấy cái giây nịt bụng bằng da của một người, nhìn cao hơn nữa thì thấy có đôi mắt đang nhìn thẳng vào mặt mình, tự dưng đâm ra ngượng về cái mồm của mình đang nhai.

Hôm nay là một ngày thứ bảy, ngủ nướng, dậy trưa, đến tiệm phở đã một giờ chiều, nhưng còn thấy khách đứng chờ lố nhố bên ngoài rất đông. Đi một mình, vào ghi danh thì nhận ra mình được xếp hạng 16. Đang thất vọng muốn về, thì gặp một ông bạn già cũng đi ăn một mình, cho biết đứng đợi đã 45 phút, nhưng cũng sắp được “xướng danh” rồi. Từ khi đỗ xe cho đến khi được vào ngồi bàn, đã mất 45 phút. Từ khi được ngồi cho đến lúc bát phở được bưng ra, lâu hơn nửa giờ nữa. Tôi thấy một bà cụ ở bàn cạnh bên vào sau, cụ đang móc một cái nón len dang dở trên tay. Tôi mỉm cười với cụ và khen cụ có nhiều kinh nghiệm, cụ bà cười hiền nói với tôi:”Tuổi già vừa có kinh nghiệm, vừa thừa kiên nhẫn, ông ạ!” Tôi nghĩ ngày xưa, tôi phải đợi bao nhiêu năm mới được cái sướng đi Mỹ, bây giờ bốn mươi lăm phút hay một giờ để được cái khoái ăn một bát phở nóng cũng chẳng sao. Hai chúng tôi ăn bát phở xong, uống tách cà phê, nhưng không thấy nhà hàng đem nước trà ra, bèn gọi trà, nhưng biết ý nên hỏi: “Nước trà có tính tiền không?”

Nhà hàng cho biết: “Trà nóng $0.75.” Tôi nói với bạn là tôi vốn ghét cái lối tính tiền nước trà để móc túi thêm khách, thà tô phở tính thêm $0.50, khách không hề phàn nàn, nhưng tính tiền trà thì chỉ phát sinh ra ở một vài tiệm mới đây thôi. Người bạn tôi nói: “Không sao! Tôi có tiền đây! Thay vì mình bỏ tiền “tip” $2.00, bây giờ uống hai tách trà $1.50, còn lãi $0.50, sao mình không uống trà cho ấm bụng!”Anh ban tôi có lý. Không trả tiền nước trà, nhà hàng níu áo, nhưng không ai bắt buộc khách phải trả tiền “tip” khi ăn xong, xem như mình là người bên Sydney mới sang Cali lần đầu, chưa quen với phong thổ. (Úc không có thói quen cho tiền “tip”)

Miền Nam trước năm 1975, trong tiệm ăn không ai tính tiền nước trà. Khách vào tiệm, việc trước tiên là rót trà mời khách, sau đó mới hỏi khách đặt món ăn. Chúng ta đi, mang theo lối sống ấy. Ở Nam Cali, cách đây khoảng 10 năm, nhóm kịch trẻ “Cup O’ Noodle” đã “đùa” ông Tony Lâm lúc đó là chủ nhà hàng Viễn Đông, với cử chỉ và lời mời: “Mời trà! Nước trà đây!”Ai cũng biết là ông Lâm rất hiếu khách, khách vào tiệm, ông mời trà liên tục từ lúc vào cho đến lúc đứng dậy đi ra. Đó là văn hoá của những người tử tế. Chúng ta cũng biết trà ở các nhà hàng cho khách uống không phải là trà Thiết Quan Âm, Ô Long hay Kim Ngân Trà … mà là loại trà xổi bán kí lô, không đáng giá bao nhiêu đến phải tính tiền. Nhưng đến thời mà “không xin, không cho, chỉ bán,” phát sinh từ cái thời quái thai “bao cấp”thì người ta chủ trương kiếm được càng nhiều càng tốt, với suy nghĩ, ai vào ăn bát phở, tô bún mà để miệng … mỡ đi ra.

Từ ngày các tay tài phiệt trong nước bung ra làm ăn ở Mỹ, thì theo phong tục “ở ngoài ta”, nước trà bắt buộc phải tính tiền, không như người Việt, lâu nay không nói chuyện trà đã hoàn toàn miễn phí, mà khách ăn còn được mời chén chè hay ly nước mát để mời khách trở lại. Tô phở đắt thêm năm bảy chục xu, khách hàng ít khi lưu tâm miễn là phở ngon, nhưng du nhập lối tính tiền từ chút giá trụng, chén hành trần … có vẻ thiếu chút lòng hiếu khách. Ly trà là sự tử tế đón khách, sự giao tiếp đầu tiên. Chắc bạn còn nhớ ở các quán “cóc” Saigon”, năm ba ông khách ngồi uống cà phê buổi sáng, tán chuyện gẫu, ly cà phê đã cạn, nhưng bình trà vẫn được chủ châm đều, vui vẻ xem nhưng chuyện đương nhiên. Lửa trên bếp đang đỏ, ấm nước vẫn sôi đều, chốc chốc chủ quán lại châm nước vào bình trà, không tính toán đó là bình trà thứ mấy. Tôi đến Mỹ đã hai mươi năm, mà mãi đến gần đây mới thấy quán xá có nơi bắt đầu tính tiền trà, vậy là họ bắt đầu đuổi theo chúng ta đến nơi rồi.

Trong khi thiên hạ bàn chuyện quốc gia đại sự, tôi lại nói chuyện đi ăn phở, bàn chuyện ly trà, không đầu không đuôi, không biết có lẩm cẩm không? Vả lại, sáng nay đi ăn phở, tưởng vui, hoá ra mang thêm mấy chuyện bực mình. Từ nhà; lái xe đi về ăn tô phở, chờ đợi, xếp hàng tính ra mất hơn hai tiếng đồng hồ, quả là không bỏ công cho một tô phở, cũng gọi là ngon, nhưng không phải quá đỗi cần thiết đến phải bỏ công lao và thời gian như thế. Ăn phở phiền thật, sợ xương hầm nhiều cholesterol, sợ bột ngọt, thì thôi cứ “cơm nhà” cho xong. Thế mới biết tuổi già, răng yếu, cơm nhà thì  thích nhão, mà giờ ra đường thấy phở sáng mắt cũng ngại ăn.

(Viết nhân buổi đi ăn tại một tiệm phở mới khai trương).

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Jun 2026

Tại một số địa phương trên thế giới hiện nay vẫn còn áp dụng một thứ luật lệ truyền thống khắc nghiệt theo kiểu “mắt đền mắt – răng đền răng” (cil pour cil, dent pour dent), hay theo kiểu thường nghe là “mạng đền mạng” nữa. Bất cứ ai làm cho người khác chết vì lý do gì thi cũng phải đền mạng y như vậy.

Ông Chánh Án Saoud bin Sulciman al-Youssel của Saudi Arabia vừa tuyên án một tội phạm của nước này là phải chịu để cho hệnh viện, giải phầu cất đứt giây thần kinh cột sống dể thành bại liệt, vì y mang tội, trong một cuộc tấn công bằng vũ khí, đã làm cho một nạn nhân tên là Ahdul Aziz al-Mutairi, 22 tuổi bị tổn thương thần kinh và trở thành bại liệt.

Trong thế giới Hồi Giảo, trộm cắp bị gia hình phải chặt bàn tay, phải chăng người ta quan niệm bàn tay đó phải chịu trách nhiệm vì nó đã cầm lấy vật ăn cắp. Trên Internet, chúng ta dã xem những hình ảnh man rợ tại Iran. nhân danh đấng Mohammad, người ta dã thi hành bàn án dành cho một đứa trẻ mới 8 luổi, vì tội ăn cấp vặt trong một khu chợ, phải chịu để bàn tay dưới một bánh xe vận tải để nó cán qua, vì đó là bàn tay ăn cắp.

Họ nhân danh gì nơi tôn giáo để biện minh cho những tội ác ghê tởm như vậy. Trong khi một viên Tỉnh Trưởng có thể ăn cắp của công, nhũng lạm, sống xa hoa, được bảo vệ bởi cường quyền, thì một người dân đói rách ăn cắp một ố bánh mì có thể bị nhục hình. Cũng trong xã hội Hồi Giảo đàn ông có quyền lấy nhiều vợ nhưng đản bà chỉ được lấy một chồng, do đó đàn ông không có tội ngoại tình. Trái lại, đàn bà ngoại tình sẽ bị đem ra nơi công cộng dể mọi người ném đá đến chết. Mới đầu chúng ta tưởng những vụ án này chi xảy ra trong thế giới Hồi Giáo, nhưng thực sự lối xử án này cũng xảy ra nhiều nơi trên thế giới, nhất là Á Châu.

Không cần đến toà ản, cũng không nhân danh tôn giáo nào, cũng với lối trừng phạt độc ác kiểu thời Trung Cổ. một người Việt, Nguyễn Thọ Đắc, ở tỉnh Vĩnh Long sau khi đi ăn đám cưới về, nghe chuyện cháu gọi minh bằng cậu là Nguyễn Thị Mỹ Huyền, học sinh lớp 5 tiểu học, ắn cắp tiền của bà ngoại, đã xử ản bằng cách đặt tay cháu lên tấm thớt và chặt đứt ba ngón tay!

Ở Ấn Độ, sau vụ một thiếu nữ bị hiếp dâm tập thể trên xc bus, đảng Quốc Đại cầm quyền đang soạn luật mới cho tội phạm hiểp dâm, gồm án phạt tối da là 30 năm và dùng hóa chất gây liệt dương cho thủ phạm. Nghĩa là vật để dùng gây tội phải được trừ khử như bàn tay em bé ăn cắp bị “phán xét” dưới bánh xe vận tải ở trên, Nếu luật pháp xử theo lối này thì kẻ hiếp dâm đáng phải bị cắt “tang vật” (vật khí gây tội) hơn là chỉ làm cho nó hết ngo ngoe thôi.

Một tòa án Hàn Quốc ngày 3.1 vừa qua đã ra lệnh áp dụng biện pháp thiến bằng hóa chất đối với một kẻ bị kết tội ấu dâm tái phạm, trong một phán quyết đầu tiên thuộc loại này tại quốc gia Đông Á, theo hảng Tân Hoa Xã. Với phán quyết của Toa án Quận Nam Scoul, một người đàn ông 31 tuổi họ Pyo sẽ bị kết án 15 năm tù và phải qua quá trình diều trị bắt buộc nhằm ức chế ham muốn sinh lý. Pyo, người mà tòa cho là “mất khả năng tự chủ”, đã bị kết tội hiếp dâm năm trẻ vị thành niên trong khoảng thời gian từ tháng 11.2011 đến tháng 5.2012. Y đã đe đọa phát tán những đoạn phim quay cảnh hiếp dâm lên mạng internet. Phán quyết của tỏa cho biết: “Việc điều trị bằng thuốc men sẽ làm giảm những tưởng tượng và ham muốn tình dục thái quá của bị cáo.”

Những người chi trich bản án lại cho rằng việc sử dụng biện pháp “thiến” bằng hóa chất là vi phạm nhân quyền của tội phạm tình dục. Quan niệm đến tội ác có phần đơn giản, chiếu thco điều anh đã làm gì cho người khác, thì anh phải chịu bản án như nạn nhân phải chịu. Nếu một kẻ sát nhân chặt đầu tình địch, đương nhiên ra tòa án, phải chịu bản án lên “đoạn đầu đài” (nghĩa là bị chặt đầu), đâm người khác mù một mắt thì thủ phạm cũng phải chịu móc mù một con mắt trở lại, đánh một người khác gẫy chân phải thì cũng bị tòa ra án lệnh cho đám thi hành bản ản đánh què chân phải của thủ phạm gây án, Phải chăng xử án theo kiểu này là để cho thù phạm biết nỗi đau đớn mà mình áã đem lại cho người khác, “cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (kỷ sơ bất dục vật thị ư nhân). Theo kiểu trừng phạt “mắt đền mắt, răng đến răng” này. có độc giả đề nghị nên lấy màng nhĩ của một ông đại tá bộ đội VC ở Ninh Thuận dể thay thể cho một em bé lối xóm, vừa bị ông đánh thủng màng nhĩ, sau khi đọc bản tin này trên báo chí trong nước.

Nhưng theo Phúc Âm: Mt 5, 38-42 Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con đã nghe bảo: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Còn Thầy, Thầy bảo các con: đừng chống cự lại với kẻ hung ác; trái lại, nếu ai vã má bên phải của con, thì hãy đưa má bên kia cho nó nữa. Và ai muốn kiện con để đoạt áo trong của con, thì hãy trao cho nó cái áo choàng nữa. Và ai bắt con đi một dặm. thì con hãy đi với nó hai dặm. Ai xin, thì con hãy cho. Ai muốn vay mượn, thì con đừng khước từ”.

Để chống lại những vụ án “mạng đền mạng” kiểu trên sách vỡ kế lại một vụ án thời cổ như sau: “Một hôm. có một người thợ xây đang ở trên giàn giáo cao bị xảy chân rơi xuống, chẳng may lại trúng ngay một người đang đi bộ ngang qua phia dưới, Anh thợ chỉ bị thương nhẹ, trong khi người khách bộ hành thì chấn thương đầu, hôn mê rồi chết. Chiếu theo một loại luật của miền này, gia đình nạn nhân đưa nội vụ ra tòa dòi anh thợ hồ phải đền mạng. Vị quan tòa vốn từ lâu đã thấy những cải vô lý trong bộ luật của địa phương, nhưng truyền thống và hủ tục xưa nay rắt khó thay đổi. Cuối cùng, để cứu người thợ xây oan ức, ông tuyên án:

“Gia đình nạn nhân đòi “mạng đổi mạng” theo truyềnôthống là chinh đáng, nhưng tói thấy phải nói rõ rằng: Nếu anh ta đã giết người nhà của các ông bằng cách nào, thì các ông cũng phải giết anh ta đúng bằng cách ấy, nghĩa là một người tong gia đình các ông phải trèo lên giàn giáo. nhấy xuống đúng vào đầu anh thợ xây đang đi phía dưới … “

Còn theo ý bạn, bạn nghĩ sao? Liệu chúng ta có thể lùa tất cả chúng xuống biển như chúng đã lùa con cái, họ hàng, đồng bào của chúng ta xuống biển ngày trước không?

Tại sao lại có những Cơ Phi lè phè như vậy?

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Viết Tân

Post by Sơn râu 3 Jun 2026

Tổng hợp, đọc để biết tâm sự cay đắng và cuộc đời của một Cơ Phi ở Biên Hoà.

Có lần cover cho Nhảy Dù, lướt qua thấy mười mấy tên ngồi, một đứa nằm mà không thấy một Dust-Off nào vô tải thương, Gunship tụi tôi đành phải vừa bắn phủ đầu Việt Cộng vừa tải thương binh Dù. Nghe tiếng trực thăng là súng cối chúng nổ lốc-bốc liền. Chiếc Guns của tôi đáp xuống trong khi Guns 2 cover, xịt Rocket sát đến độ bụi, sình bay mù mịt. Thằng Dũng-chim rải Minigun không phải trên đầu tụi Vẹm mà rải trên đầu ngọn lúa như vãi phân Urê.Vẹm pháo kích thật dữ, như có đề-lô nên một trái nổ là một trái sát đến gần, tụi này vẫn anh dũng nằm đó nghiến răng chờ đợi.
Cánh quạt quay phành phạch ù cả tai.
Thêm ba trái pháo rớt càng lúc càng gần. Ớn quá.
Tôi nhìn vô cánh rừng thấy không một tên nào dám dìu thương binh ra tàu, để tội nghiệp người hùng lính Dù của chúng ta vừa khè-khè cuống họng, một tay cầm bình nước biển một tay quơ quào trong không như bơi lội dưới sình lầy ruộng nước chậm chạp đi ra.
T/u Ngọc la trong nón bay kêu “Tống mày nhảy xuống, chạy bồng nó lên đi”.
Ông ơi còn cách cả chục thước, bộ ông không thấy sao. Nhưng tôi cũng nóng ruột không thể chần chờ được nữa. Bứt dây liên lạc, bật seatbelt, bay xuống ruộng, mà người nặng chịch vì đeo áo giáp phía trước ngực. Cũng may là miếng giáp phía sau dùng để kê ngồi (vì sợ nó bắn bể bi) chứ không thôi làm sao không bị chìm xuống sình?
…Anh ta bị thương nơi cần cổ không thở được. Tôi để hắn ngồi trên bình điện, đầu dựa vào vách thùng đạn. Ô, đôi mắt lạc thần, mũi khò khè trong từng hơi thở nặng. Tôi với Xạ thủ Phi hành líu quíu không biết làm sao đây.
Khi hai chiếc Guns chúng tôi về đến bãi đáp Tây Ninh thì hắn đã ngất xỉu.
Tay tôi cầm chai nước biển đã truyền cho anh tải thương Dù rồi, mà vẩn còn run. Run vì lạnh hay chứng kiến tử thần trước mặt.
Đó là Gunship chúng tôi. Biết bao nhiêu là chiến công oanh liệt, sống chết như vậy mà có ai biết cho, toàn là cha căng chú kiết ở mãi đâu đâu, được tưởng thưởng.


Trận Mùa Hè Đỏ Lửa cũng thế.
Cover cho hai Dust-off vô Bình-Long.
Mới đến Đồi Gió là Dust-off 2 bị phòng không bắn cháy rồi. Tôi thấy xạ thủ (hay YTPH) phóng ra ngoài vì lửa quá nóng. C&C trên sáu bảy ngàn bộ kêu Gunship xuống bốc phi hành đoàn. Guns1 Dũng-chim xuống bốc, Guns 2 tui quạt Minigun như xịt thuốc rầy…
Và mẹ ơi, cái gì làm một cái ùm, tôi văng vô giữa lòng tàu. Máu nhuộm đỏ cả mắt kiếng nón bay. Bàn tay phải của tôi tê rần. Trong đống máu tôi còn thấy mất mẹ ngón tay giữa của mẹ rồi Má ơi. Mặt tôi cũng sưng chù vù lên. Một vết miểng cắt xén gò má đẹp trai của anh-hùng Gunship.
Trận tải thương này bay Dust-off là Danh-con (5/69) cùng 2 hoa tiêu bị phỏng nặng cùng tôi về nằm chơi TSN, còn xạ thủ chiếc đó thì lên bàn thờ ngồi ngắm gà khoả thân và nhang khói.
Sau đó Danh-con và 2 hoa tiêu giải ngũ, còn tôi tiếp tục về phi đoàn đóng vai “người hùng bất đắc dĩ” cho trận Củ Chi 6 tháng sau đó.
Cú này nặng ghê lắm à nghen. Việt Cộng lần trước không lấy được cánh tay Minigun của tôi, lần này chúng nhất định lấy.
Đại uý Tấn mới hover trên địa đạo là chúng đòi lấy cánh tay phải để bóp cò Minigun của tôi liền. Một tràng súng nổ khiến tôi lại văng vô giữa lòng tàu. Tôi không còn thấy cánh tay của mình đâu nữa hết. Rồi thì tui phê đi, nghe đâu có tiếng kêu của ai đó vọng về bên tai.
Khi tỉnh dậy đã thấy mình nằm trong Tổng Y Viện Cộng Hòa vào sáng hôm sau, bên mình ngửi thấy mùi thơm phưng phức của Bà Tá nào đó, đang vừa mò chim tôi vừa hỏi có đái được không. Tôi lắc đầu. Bà Tá tay vẫn không rời nấng chim trong tay, miệng thì kêu y tá lại thông nòng cho tôi đái. Mũi ngửi thấy mùi thơm phức và dưới sự mân mê của bàn tay đàn bà làm tôi tỉnh hoàn toàn, lòng ngây ngất dù bị thông nòng đau thấu trời xanh.
Tôi đưa mắt tìm cánh tay xem còn hay mất.
Ôh, ôh…Tạ Ơn Trời Đất, Nam-Mô A-Di Đà Phật, cánh tay tôi vẫn còn đây dưới lớp băng nhuộm đầy máu khô. Mấy ngón tay vẫn còn nhúc nhích được. Tôi cảm thấy hình như nước mắt nóng bỏng đang chảy dài dưới gò má….
(Để mai viết tiếp nghe. Tôi nhất định viết bài này đăng báo để khiếu nại tới BTL/SĐ3KQ đã đì tôi sát ván, cho đến ngày đứt phim vẫn còn mang cánh gà, trong hồ sơ Quân bạ cũng không hề có một cái Huy chương làm thuốc, trong khi bạn bè khoá 5/69 thì đã lên Th/s này, Th/s Nhứt kia.)
Thiệt chưa từng thấy ai đi lính chiến đấu trong gần 6 năm trời mà không lên được một cấp như tôi, hỏi sao tôi không thành một người lính bất mãn!
Cánh tay phải của tôi từ bàn tay lên đến vai ghi đầy vết chiến tích của người hùng mà nhất định không tàn phế.
Từ AK đến trung liên nồi hằn hộc cày lên thân xác đứa con của Mẹ. Việt Cộng muốn mang về làm chiến lợi phẩm rằng đã chặt được một thằng xạ thủ Minigun là bớt một thằng rải thuốc rầy trên đầu chúng nó, nhưng đã hoàn toàn thất bại!
Nằm TYV Cộng Hòa một tháng thì xuất viện, tôi mang cánh tay băng bột về lại Biên Hòa. Lúc này thấy nhiều khuôn mặt mới của khóa đàn em về bổ sung quân số như Ninh-con, Thanh-dễ-thương, Trường…vì Khoá 5/69 đã khuyết danh đi rất nhiều.
Danh-con đã giải ngũ; Lộc-râu tử trận; Điệu và Tiên chuẩn bị đi Mỹ học hoa tiêu A37 (cũng mừng cho tụi nó thoát kiếp dằn thùng), và tui sẽ ký xiệc-kuy rời phi đoàn về TSN.
Trong thời gian này vết thương tay hành hạ tôi làm cả người nhức buốt không thèm khát gì, kể cả gái. Hơn tháng trời nằm nhà rên rỉ, đến quá ngày tái khám mà cũng không nhớ để bị báo cáo đào ngũ!
Chiến trường VN đến cuối năm 1973 đã trở nên khốc liệt. Tôi bị túm, mang cánh tay băng bột vô QC Tân Sơn Nhứt chờ đưa đi Quân lao. Ở đây gặp thằng Thời 5/69 mình.
Thằng Thời hồi ở quân trường Biên Hoà thường bị nhốt hầm cá sấu; nó bay vận tải, tội sì-ke lại thêm tội gì đó nên mới bị bắt vô đây. Từ lúc vô quân trường thì nó đã vang danh du đãng rồi.
Lúc tôi vô nó đang là trưởng phòng, chuyên ăn hiếp đánh đập mấy đứa mới vào. Đứa nào có bao nhiêu tiền nó lấy hết, lột cả vòng vàng hay đồng hồ đeo trên tay trên cổ; Tôi là bạn cùng khoá bây giờ cùng hoàn cảnh tù đày, mà nó cũng nỡ lòng chôm mất một sợi dây chuyền.
Thật là mắc cở và tức giận có một kẻ như nó trong khoá mình.
Nó cướp tiền anh em rồi chuyền ra ngoài mua sì-ke vô phê, vừa phê vừa kêu em út đá thằng này hỏi tội thằng kia. Cũng may chỉ có tui là ngoại lệ. Tôi ngồi cú xụ ở một góc mà ngó đám chúng nó đang bị ma quỷ hành hạ. Sau đó nó bị giải đi quân lao trước tôi.
Bị nhốt ở QC/ TSN cả tháng chờ Quân lao trống chỗ tôi mới bị đưa đi. Vô đến Quân lao tôi có để ý kiếm thằng Thời mà không thấy, chắc nó bị nhốt riêng.
Quân lao nhốt hằng ngàn đào binh, sì-ke ma túy, hiếp dâm, cướp của giết người không phân biệt, co rút nằm bên nhau.
Sĩ quan cùng HSQ thì nằm tầng trên, Binh sĩ nằm tầng dưới và dưới đất. Sáng 8 giờ điểm danh xong thì không thằng nào được vô phòng ngoại trừ SQ; Binh Sĩ thì cắt đi tạp dịch; HSQ thì kiếm gốc cây nào ngồi đó mà ngủ gà ngủ gật, đến trưa lãnh cơm ăn xong mới cho phép HSQ vô phòng nghỉ ngơi. 5 giờ chiều ăn cơm, 6 giờ tập họp điểm danh phân phòng để nhét thêm đám cô hồn mới vô.
Có một thằng QC không biết tội chi mà bị tống vào đây. Cả quân lao như lũ khát máu làm dàn chào thằng này, đấm đá từ ngoài cổng sắt vô tới phòng. Cho đến tối mà cũng không tha, thằng nằm trên nó thì đá, nằm dưới nó thì đạp, bên cạnh thì đấm…Nó bị hành hạ đến nỗi thằng Trưởng phòng phải kêu tụi bây tha thứ nó để chút đức cho con cháu. Thằng trưởng phòng cuối cùng lôi nó lên tầng trên HSQ giữ dùm.
Thằng QC bị nhét nằm bên tôi, cả đêm chỉ nghe thấy nó thút thít khóc cho đến sáng.
Hai tuần sau chúng tôi bị đưa ra Tòa án Quân sự.
Tôi được xử tha bổng, vì lý do chiến thương, chứ dại gì đang lãnh lương, được ở nhà thì lại ngu gì mà đào ngũ.
Xử án xong tất cả bị đưa về lại Quân lao. Thằng nào tội đào ngũ bị xử án thì bị nhốt riêng chờ đi Lao công Đào binh.
Còn tôi thì nghe nói sẽ được chở về nằm phè cánh nhạn ở Trại Sống Mới TSN. Mới nghe tên trại tưởng đâu ngon, sau này mới biết là mình lầm.
(Mai tiếp nghe anh em, bà xã đang wé. he. he….tôi chạy đây !!!)
Buổi trưa hôm sau tôi đang ngủ bị rệp cắn ngứa bả vai, ngứa cả cánh tay còn băng bột mới giật mình thức giấc. Ngồi buồn loay hoay bắt rệp, lấy cái cây nhỏ khều trong lớp băng bột vì nó trốn tuốt ở trong, bắt được con nào nghiến răng bóp bẹp con nấy mà không quên chửi cha chúng, cái thằng nào đày tao vô đây để tận cùng khổ nhục. Bỗng bên ngoài nghe tụi nó la ầm lên: “Về đời! Về đời! KQ về đời, TQLC về đời, SĐ5…về đời !”
Chữ về đời nghe lạ hoắc. Thằng trưởng phòng đang ngủ cũng bật dậy la hùa theo: “Há.há…KQ về đời, về đời. Thằng nào về đời thu xếp đồ đạc lên văn phòng nghe.”
Nó nhào đến bên tôi, xà xuống thật lẹ: “Ê, bạn KQ tôi ơi, về đời kìa. Còn cái gì ăn để lại cho em út đi!” Tôi một tay xếp đồ đạc sẵn bên chân, hất cái giỏ đồ ăn cho nó. Nghĩ tới thằng QC bên cạnh nó đang tạp dịch không có ở đó, tôi giật cái giỏ đồ ăn lại lấy cái lon sữa Guigoz đựng mắm ruốc xào sả nói để cho thằng QC, tội nghiệp nó không có ai thăm nuôi.
Thôi, chúc may mắn nghe. Thằng trưởng phòng bắt tay tôi từ giã. Tôi thảy cái túi vải đựng đồ cá nhân xuống sạp dưới, một tay lần bậc thang gỗ nhảy xuống đất, rời khỏi chambre chạy lên văn phòng.
Mỗi chiều thứ bảy các Quân chủng lên lãnh tù tha bổng trả về, nên không khí Quân lao có phần xôn xao nhộn nhịp. Những đứa đang tạp dịch nghe tin báo chạy rần rần về phòng thu xếp quần áo. Tôi đi đến văn phòng thì đã có một số được thả đang tập họp đứng đó, đứa nào đứa nấy mặt mày hớn hở, vừa hút thuốc vừa ba hoa chích choè đủ thứ chuyện. Tôi thấy xe GMC của TQLC, Nhảy Dù, ĐPQ, KQ, HQ đủ Binh chủng đậu hàng dài bên hàng rào cổng sắt. Xong mọi thủ tục, tụi tôi tất cả 5 thằng KQ theo một Hạ sĩ già cầm danh sách ra xe. Chiếc Dodge 4 màu xanh lam như màu trời xanh đang chờ tôi trở về. Xe về đến TSN, trong lúc xuống xe chúng tôi hỏi có bị nhốt trong Trại Sống Mới không. Viên Hạ sĩ già lắc đầu nói cho mấy ông về nhà thứ hai lên trình diện, mỗi ngày điểm danh chờ đi đơn vị.
Chúng tôi vô văn phòng quản trị chờ lấy giấy phép, rồi mạnh thằng nào thằng nấy chạy ra cổng Phi-long.
Sàigòn đẹp lắm Sàigòn ơi Sàigòn ơi…

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 3 Jun 2026

Bottcher thu xếp đồ đạc quần áo. Bạn hữu đứng vây quanh. Graber hỏi:

– Sao. Anh tìm thấy chị ấy rồi hả?

– Thấy, nhưng…

– Ở đâu?

– Ngoài phố ấy. Nó ở ngay phố Keller gần một tiệm làm dù cũ. Lúc gặp tôi không nhận ra.

– Trước chị ở đâu?

– Ở một trại gần ngoại ô. Trời ơi! Nó ở gần ngay cửa hàng bán dù mà tôi không thấy. Tôi đi gần nó gọi: “Otto ơi! Anh không nhận ra em à?”

Bottcher yên lặng một lúc, liếc quanh nhìn mọi người:

– Các bồ ơi! Làm sao mình nhận ra một người đàn bà đã sút mất gần bốn mươi ký lô?

– Cái trại chị ấy ở trước gọi là trại gì?

– Tôi cũng không biết, trại rừng trại rú gì đó. Nhưng các anh hãy nghe nốt câu chuyện. Tôi nhìn nó và tôi hỏi: “Anna em đấy à”. Anna trả lời: “Em đây! Em nghĩ rằng có lẽ mình được nghỉ phép, vì thế em trở về đây”. Tôi vẫn nhìn vợ không chớp mắt. Người gầy dộc hết như con ngựa kéo xe thổ mộ, năm mươi lăm, có lẽ năm mươi lăm ký lô, chỉ còn bộ xương, áo rộng thùng thình như tấm khăn bọc lấy cái cọc.

Bottcher thở dài đau đớn.

– Vợ anh cao bao nhiêu?

– Độ một thước sáu. Chi vậy?

– Thế thì trở lại người trung bình chứ có gì lạ?

– Trung bình à? Chuyện ấy chỉ là chuyện tầm phào.

Bottcher trố mắt nhìn Graber:

– Tôi không bận tâm đến người cân nặng trung bình! Vợ tôi hóa ra cái kim đan, đó là sự thật như thế! Tôi muốn nó như ngày trước, một người mũm mĩm dễ coi chứ không phải khô đét như hột cà phê. Tôi ra đánh giặc để chi? Để rước lấy hột cà phê ấy à?

Reuter vội nói:

– Anh chiến đấu cho Quốc trưởng thân yêu của chúng ta, cho tổ quốc chúng ta, chứ không phải cho cái đít vợ anh. Ba năm chiến đấu chắc anh phải biết rõ điều ấy.

Bottcher nhăn mặt. Y quay lại nhìn mọi người để phân bua:

– Tôi chiến đấu để bảo vệ cái gì tôi thích, để bảo vệ đời sống của tôi, còn cái khác thì tôi…

– Im mồm!

Reuter giơ tay ra hiệu:
– Anh muốn chiến đấu cho cái gì thì chiến đấu, nhưng đừng nói với ai! Tìm thấy vợ yên lành như thế là đáng mừng rồi.
– Thì tôi mừng, nhưng tại sao nó không còn đẹp đẽ tươi tắn mập mạp như xưa? – Thôi anh ạ, cái vặt ấy có thể sửa chữa được có làm gì! Để chị ấy ăn một dạo cho lại người thì lại mập.
– Ăn cho lại người! Nói nghe dễ dàng quá. Nhưng lấy ở đâu mà ăn. Thẻ thực phẩm ấy à?
– Tìm cách khác chứ! Bottcher chua chát mà rằng:
– Cám ơn lời vàng ngọc của anh. Chỉ còn có ba ngày nghỉ thôi. Làm thế nào nuôi cho béo trong ba ngày! Thí dụ như suốt ngày ngâm trong dầu gan cá thu và ăn một ngày sáu bữa cũng chỉ được một hai ký là cùng! Thật là nan giải cho tôi!
– Dầu sao anh cũng có cô chiêu đãi.
– À, rắc rối quá! Tôi đã tự nhủ là không đến nữa. Tôi đã có gia đình, không chơi bời nữa; nhưng khốn nỗi, bây giờ tôi lại thích cô gái chiêu đãi mới chết chứ. Reuter nói:
– Sự thật thì anh chỉ là một người bản chất hời hợt.
– Tôi không hời hợt. Trái lại, một chuyện nhỏ nhặt cũng làm tôi xúc động sâu xa. Nếu không tôi đã thấy mình sung sướng. Nhưng anh không hiểu được những điều ấy, cứ như anh thì không bao giờ anh hiểu cả! Bottcher quay lưng lại thu dọn đồ đạc vào bị. Graber hỏi:
– Anh đã kiếm được chỗ cho vợ ở chưa hay anh tìm thấy nhà cũ?
– Không, chúng tôi bị nạn bom. Nhưng chẳng thà ngủ hầm còn hơn ở đây dù thêm một ngày nữa. Cái khổ là vợ tôi nó không chịu nói gì với tôi nữa. Tôi vẫn yêu vợ, nếu không thì lấy nhau làm gì? Nhưng vợ như thế thật tôi không thích nữa. Mà cơ sự đã ra như thế thì tôi làm gì được. Dĩ nhiên, nhà tôi cũng thấy rõ tình trạng này.
– Dù sao thì cũng chỉ có ba ngày, anh có thể đóng kịch một chút cho chị ấy vui lòng.
– Nằm vào giường thì một người đàn bà có thể làm thế được thật, nhưng người đàn ông mình thì chịu thôi. Biết thế này thì chẳng thà đừng gặp vợ, cứ trở lại mặt trận lại hóa hơn. Gặp nhau chỉ thêm đau khổ cho cả hai người. Bottcher quẳng bị lên vai rồi đi ra. Reuter đưa mắt nhìn theo rồi quay lại nói với Graber:
– Còn anh? Bây giờ anh thế nào?
– Tôi đến văn phòng đây. Có lẽ phải có giấy phép đặc biệt để lấy vợ. Reuter cười tai quái:
– Kinh nghiệm Bottcher không làm anh núng trí à?
– Không, nhưng tôi lại có những mối lo khác. Viên thư ký văn phòng của đơn vị nói:
– Ngoài mặt trận đang sôi động đây. Anh có biết khi sôi động thì người ta làm gì không?
– Mình sẽ lánh mặt đi, đến đứa trẻ cũng biết thế. Nhưng tôi đã lánh mặt rồi vì tôi nghỉ phép! Viên thư ký vội cải chính:
– Anh tưởng anh đã có giấy nghỉ phép rồi là chắc ăn hẳn. Tôi sẽ cho anh coi lệnh mới đây này. Graber kéo một gói thuốc lá trong túi ra đặt lên bàn. Bao tử y dần dần thắt lại.
– Đánh nhau kịch liệt. Thiệt hại không sao kể xiết. Người ta đòi tiếp viện ngay. Nghỉ phép không có lý do tối cần phải trở lại tiền tuyến ngay. Thế là đủ chưa?
– Đủ rồi? Thế nào là lý do tối cần?
– Cha mẹ chết, thu xếp việc nhà, bệnh nặng. Gói thuốc lá chui vào ngăn kéo anh thư ký.
– Anh cứ trốn biệt vào nơi nào đó, làm bộ chết rồi. Nếu không ai tìm ra anh thì anh không phải đi. Đừng có trở về trại. Chúi vào một xó nào đó cho đến ngày hết phép hãy trở lại. Người ta sẽ làm gì anh? Phạt vì không để lại địa chỉ? Thì đằng nào cũng đến trở lại mặt trận thôi chứ gì?
– Tôi lấy vợ. Đó có phải là lý do tối cần không?
– Anh lấy vợ à?
– Vâng, vì thế tôi mới trở lại đây. Tôi muốn biết sổ quân bạ có đủ hay không hay còn phải cái gì nữa?
– Lấy vợ có thể là lý do tối cần, tôi nói có thể thôi. Anh ta đốt điếu thuốc lá. – Có thể là một lý do nhưng tội gì mà lạy ông tôi ở bụi này? Anh là lính thì sổ quân bạ là đủ. Nếu cần gì khác cứ trở lại đây tôi giúp kín đáo. Anh không có gì mặc à? Không lẽ cưới vợ với bộ áo ở dưới hầm.
– Có thể thay đổi quần áo ở đây không?
– Đến phòng quân phục. Anh nói có tôi giới thiệu. Mà còn thuốc lá ngon không?
– Đây không có nhưng tôi kiếm được.
– Không phải tôi hỏi cho tôi, mà hỏi cho người coi y phục đó.
– Vâng để tôi lo. À, đàn bà lấy chồng lính có phải giấy má đặc biệt gì không? – Không biết, nhưng nếu phải giấy má thì cũng lạ thật đây. Bây giờ giản dị hóa thủ tục mà. Y xem đồng hồ :
– Anh đến ngay phòng quân phục đi, chắc còn mở cửa. Graber đi sang một chái dành cho kho quân phục. Phải leo lên gần áp mái. Anh thượng sĩ coi kho là một người mập mạp, hai mắt kỳ dị vì một mắt xanh tím, còn mắt phải nâu hạt dẻ.
– Làm gì mà nhìn nổ lỗ đáo ra thế. Anh chưa trông thấy con mắt giả bao giờ à? – Có, nhưng chưa thấy mẩu nào như thế.
– Ngốc thật, đây không phải mắt tôi, có người cho tôi mượn. Bị hôm trước tôi đánh rơi mắt xuống hè. Đồ này dòn lạ! Đáng ra phải làm bằng nhựa thì chắc hơn.
– Đồ này rất dễ cháy. Viên thượng sĩ mỉm cười khi thấy những huy chương của Graber.
– Tiếc rằng không có đồng phục cho anh bây giờ. Đồ trong kho còn tồi tệ hơn. Hắn nhìn Graber với con mắt bóng lộn. Mắt thật nâu hạt dẻ so với con mắt ấy thì lờ đờ quá. Graber đặt xuống bàn gói thuốc lá của Binding cho. Con mắt nâu hạt dẻ tỉnh táo ngay Hắn quay vào, lúc ra mang theo một cái áo varơ.
– Bây giờ chỉ có thế thôi à. Graber không cầm áo vội. Y lấy ra một chai cô-nhắc mang theo để gần hộp thuốc. Hắn trở vào rồi mang ra cái quần mới. Graber coi cái quần trước. Lật lại thì thấy hắn đã xếp quần khéo để lấp một vết loang bằng bàn tay vào phía trong. Graber lẳng lặng nhìn vết loang rồi lại nhìn chai cô-nhắc.
– Không phải máu, dầu ô liu thượng hảo hạng đó. Người này ở nước Ý về. Tẩy một chút băng-din thì sạch ngay.
– Nếu dễ thì sao lại phải đổi cái khác chứ không đem tẩy?
– Có lý. Nhưng anh này muốn một bộ có vẻ đồ ra trận. Như bộ của anh. Y làm việc ở một văn phòng tại Milan đã hai năm, ấy thế mà viết thư về cho vợ cứ nói khoác là mình dự hết trận nọ đến trận kia. Y không thể về nhà với cái quần mới chỉ có một vết dầu. Tôi chỉ có thế thôi. Thề độc với anh! Graber không tin được một chữ, nhưng y không có gì khác để tặng anh thượng sĩ. Tuy nhiên y vẫn lắc đầu.
– Được rồi. Tôi đề nghị với anh thế này: cho không anh bộ này, anh giữ lấy cả bộ cũ, là hai bộ. Đồng ý!
– Anh không cần bộ cũ để cho đúng sổ sách à? Hắn khoa tay: – Ôi dào! Đã từ lâu sổ sách đâu có đúng với vật liệu trong kho. Bây giờ anh có thấy cái gì đúng trên văn tự với ngoài thực tế không?
– Không.
– Thế thì…    

***  

Khi đi qua bệnh viện, y dừng lại. Y đã hứa rằng sẽ đến thăm Mutzig, anh chàng sưu tập tên của những người bạn chết. Y ngập ngừng một lát rồi bước vào, với sự mê tín rằng làm một điều tốt lành có thể gây hậu quả tốt cho mình. Những người bị cưa chân tay đều ở tầng lầu thứ nhất. Dưới nhà là những người bị thương nặng và những người mới giải phẫu xong; trong trường hợp báo động sẽ dễ mang xuống hầm. Người bị cưa chân có thể nhờ người dắt xuống được. Một người cụt hai tay có thể nhờ hai anh cụt một tay dìu xuống cầu thang. Mutzig sung sướng quá chừng quá đỗi khi thấy Graber.
Tôi tưởng rằng anh không đến.
– Tôi cũng vậy, nhưng tôi đến đây.
– Thật là quý hóa! Stockmann cũng có đây. Hai người cùng ở Phi châu với nhau hả? – Phải rồi. Stockmann cụt một cánh tay phải. Y đang đánh bài với những phế binh khác. Thấy Graber y la lên :
– Graber! Anh cũng bị thương hả? Nói rồi anh ta theo bản năng tìm kiếm một thương tích trên người Graber để giải thích lý do Graber được về đây.
– Không, tôi không sao cả. Mọi người đều quay lại với cái nhìn giống Stockmann. Graber nói, nhỏ như mình đắc tội:
– Nghỉ phép.
– Tôi tưởng anh đã đủ nhiệm vụ bên Phi châu người ta có thể cho anh giải ngũ được.
– Không, họ sơn phết lại tôi rồi gởi sang Nga.
– Vậy là anh may mắn đó. Còn thì bị bắt hết. Không kịp đưa về bằng phi cơ. Một người chơi bài đặt bài xuống gắt gỏng:
– Nào chơi nữa hay tán dóc đây? Graber thấy anh ta cụt cả hai chân. Bàn tay phải cũng mất hai ngón. Lông mày không còn. Hẳn là bị cháy vì mi mắt đỏ và sáng bóng.
– Cứ chơi đi, tôi không ở đây lâu đâu.
– Một tua nữa thôi là xong. Graber đến ngồi gần cửa sổ với Mutzig. Mutzig nói nhỏ:
– Đừng nên giận Arnold, hôm nay anh ấy làm sao đấy.
– Arnold là ai vậy, anh cưa chân ấy à?
– Phải đó. Hôm qua vợ đến. Vợ về rồi anh ấy lại phát bịnh. Arnold đằng kia la lớn :
– Nói gì đấy?
– Kể lại chuyện cũ, có gì đâu. Arnold lại vùi đầu vào đám bài sau một tiếng càu nhàu.
– Mặc dầu vậy ở đây cũng vui lắm. Anh em tốt cả. Arnold làm thợ nề, khó mà thích ứng được. Mấy lại vợ y đã phản bội y. Mẹ y cho biết vậy. Stockmann ném nắm bài xuống bàn.
– Xui thật! Mình đã chắc lá “ách”! Arnold cười ngạo mạn và xóc bài.
– Lắm lúc người ta phải tự hỏi khi lấy vợ, vạn dĩ gặp nạn thì đằng nào hơn: cụt tay hay cụt chân? Stockmann thì cho rằng cụt hai tay còn hơn. Nhưng thử hỏi có một tay thì làm sao ôm vợ? Dù sao thì cũng phải ôm chắc lấy vợ chứ!
– Cái đó không quan trọng, điều quan trọng là sống cái đã. –
– Đành là thế nhưng anh thấy không, sự an ủi chỉ có giới hạn. Hết chiến tranh thì cái gì cũng thay đổi. Mình là anh hùng chiến sĩ đấy nhưng thời bình mình chỉ là thằng tàn phế.
– Tôi không tin rằng thế. Vả chăng có những sáng kiến tinh thần dành cho người phế binh.
– Tôi không nói đến việc làm vội.
– Sự thật thì phải thắng trận cái đã. Arnold nghe chuyện hai người bỗng nói xen vào.
– Nếu không có người trốn lính thì chúng ta không đến nỗi phải thua. Graber không trả lời, không thể bàn cãi với người phế binh được; khi người ta đã mất một cánh tay hay một cái chân thì bao giờ người ta cũng có lý. Người ta có thể bàn luận với một người bị thương ở phổi hay ở tim, với một người mà đời sống luôn luôn bị đe dọa bởi bệnh đau đớn lâu ngày, nhưng kỳ dị thay, người ta không thể bàn luận với một người bị cưa chân hay tay. Arnold trở lại đám bài, Mutzig hỏi:
– Anh nghĩ sao, tôi có cô bạn ở Munster, tôi vẫn nhận được thư. Nàng vẫn tưởng tôi bị thương xoàng ở đùi thôi; tôi không dám nói thực.
– Cứ bình tĩnh mà đợi, hãy biết sung sướng vì không phải đi nữa.
– Thì tôi vẫn làm thế, nhưng đâu có thể kéo dài mãi được. Một người ngồi chầu rìa bỗng la lên:
– Buồn nôn với các anh! Thà cứ ăn uống và sống làm người đi cho xong. Stockmann bật cười. Arnold hỏi:
– Sao vậy bồ?
– Tôi nghĩ rằng không biết sẽ xảy ra những gì nếu đêm nay có trái bom hạng nặng rớt trúng phòng này làm tan xác tất cả. Thử xem bàn tán mãi có ích gì không! Graber đứng dậy. Y nhận ra người muốn ăn uống và muốn sống làm người đã mất cả hai bàn chân. Y nghĩ thầm: Mìn hay tuyết làm thối thịt. Arnold gầm lên:
– Phi cơ của chúng ta làm gì? Ra mặt trận hết cả rồi hay sao? Ở đây không thấy một chiếc nào.
– Ngoài mặt trận cũng gần như không thấy.
– Cái gì? Graber thấy rằng mình lỡ lời vội thêm :
– Ngoài mặt trận chúng ta đang đợi khí giới bí mật. Người ta nói rằng rất thần diệu. Arnold biết, quắc hai mắt dữ tợn :
– Nói tầm bậy! Cứ như anh nói thì nước ta thua đến nơi rồi! Không bao giờ ta thua được, không bao giờ, anh hiểu chưa! Anh tưởng ra tôi sẽ đẩy cái xe đi bán diêm như phế binh hồi chiến tranh trước phải không? Chúng tôi có quyền. Quốc trưởng đã hứa rồi. Y quăng bài xuống bàn. Người không chân nói :
– Mở radio đi, nghe chút âm nhạc chơi! Mutzig mở radio. Máy thu thanh oang oang tung ra một bài diễn văn. Mutzig giơ tay định vặn đi, Arnold ra lệnh:
– Để nguyên đó!
– Để làm gì. Lại cũng diễn văn!
– Để nguyên đó. Đây là một bài diễn văn chính trị. Nếu ai ai cũng để tâm nghe đều đều thì tình thế sẽ khá hơn chút ít. Mutzig nén lòng chịu đựng. Tiếng máy thâu thanh oang oang. Arnold ngồi nghiến răng lại mà nghe. Stockmann ra hiệu cho Graber và nhún vai. Graber lại gần:
– Tôi xin lỗi anh nhé, tôi phải đi.
– Anh có gì thú hơn?
– Không, nhưng tôi phải đi. Khi ra đi, y cảm thấy mắt mọi người đè nặng xuống người mình: y ráng đi chậm lại để tỏ ra mình không chạy trốn. Mutzig nhảy theo.
– Anh trở lại nhé. Ngày hôm nay xui xẻo làm sao ấy. Thường thường ở đây không khí dễ chịu lắm. Graber ra ngoài phố. Trời đã hoàng hôn. Bất thần y lại thấy sợ. Suốt ngày hôm nay y đã tránh được sợ hãi, nhưng trong lúc ngày tận, ánh sáng bất định, cái sợ hầu như hiện ra ở khắp mọi nơi.    

***  

Y trở lại nhà giáo sư Pohlmann. Ông già mở cửa ngay đón y vào, hình như ông còn đợi ai nữa.
– Graber đấy à?
– Vâng, tôi không muốn làm phiền thầy lâu, tôi chỉ muốn hỏi thầy một câu thôi.
– Vào trong này, không nên đứng ở ngoài. Họ bước vào căn phòng sáng đèn dầu. Graber ngửi thấy mùi thuốc lá như có người mới hút tức thời mà trên tay Pohlmann không có điếu thuốc.
– Anh muốn hỏi gì tôi? Graber liếc mắt nhìn quanh.
– Thầy chỉ có một phòng này thôi à?
– Sao lại hỏi thế?
– Nếu cần tôi nhờ thầy cho một người vào ẩn đây trong vài ngày. Thầy có nhận cho không? Pohlmann nín lặng.
– Không phải người bị Sở Cảnh sát lùng bắt. Ngẫu nhiên tôi hỏi thế thôi. Có lẽ không đến nỗi thế. Tôi đang lo sợ cho một người nên nghĩ quẩn.
– Tại sao anh lại hỏi đến tôi?
– Vì tôi không quen ai khác nữa. Graber không thể nói rõ lý do thúc đẩy mình hành động. Y chỉ nghĩ đến việc cần một nơi kín đáo khi gặp sự nguy hiểm thế thôi.
– Ai thế?
– Một người con gái tôi sắp lấy làm vợ. Cha cô bé đã bị bắt rồi. Tôi sợ đến lượt con, nhưng cô bé chẳng làm gì cả. Có lẽ tôi lo sợ hão huyền.
– Lo sợ như thế không hão huyền đâu. Tốt hơn hết là mình đề phòng đủ mọi mặt. Anh có thể đến đây lúc nào cần. Graber cảm thấy lòng biết ơn thầy tràn đến như một đợt sóng.
– Cám ơn thầy, cám ơn thầy lắm. Pohlmann cười. Bất thần y cảm thấy mình lớn hơn, mạnh hơn.
– Cám ơn thầy. Nhưng tôi mong rằng sẽ không cần đến. Thầy trò đứng gần những kệ đầy ắp sách.
– Anh mang theo một hai quyển mà đọc, nó sẽ giúp mình qua những tối băn khoăn. Graber lắc đầu.
– Không giúp ích gì cho tôi cả. Nhưng tôi muốn biết một chủt: làm sao dung hòa được hai thế giới mâu thuẫn nhau này, một thế giới của sách vở, lịch sử và triết lý, một thế giới mật vụ và trại tập trung, tội ác tày trời?
– Hai thế giới ấy không thể dung hòa được với nhau. Chúng nó đọng hiện diện và đứng độc lập với nhau, thế thôi. Nếu tác giả những sách này mà còn sống thì hẳn là họ sẽ đi trại tập trung hết.
– Có lẽ. Pohlmann nhìn Graber.
– Anh muốn lấy vợ à?
– Vâng. Ông già lấy một quyển sách trên kệ xuống :
– Tôi không có gì tặng anh, chỉ có quyển sách này thôi. Chẳng có gì để đọc cả. Toàn là tranh ảnh. Có đêm không thể đọc sách được nữa, tôi ngồi coi tranh ảnh suốt đêm. Hình ảnh và thơ phú, đọc cho đến lúc hết dầu, bây giờ chỉ còn cách cầu nguyện trong tối.
– Vâng. – Graber vâng dạ nhưng không tin tưởng lắm. – Tôi vẫn nghĩ đến anh và những lời anh nói lần trước. – Pohlmann ngừng nói rồi khẽ thêm
– Chỉ còn một cách trả lời: lòng tin, chỉ còn có thế thôi.
– Tin cái gì?
– Tin Thượng đế. Tin rằng còn có cái gì tốt trong lòng người.
– Chưa bao giờ thầy ngờ vực.
– Có chứ. Ngờ vực luôn. Nếu không làm sao tôi có tin tưởng?  

 
***    


Graber trở lại xưởng may. Gió đã nổi lên, mây từng mảng rách nát lướt trên mái nhà. Một toán lính đi bước đều qua công trường. Họ mặc đồ ra trận và tiến đến ga xe lửa, để ra tiền tuyến. “Đúng ra mình phải ở trong toán ấy”. Y ngửa mặt trông cây bồ đề đen thui đứng sững trước căn nhà bị phá hủy. Cũng như lần thứ nhất trông thấy cây bồ đề, bất thần y thấy một niềm vui tràn vào ngực. “Lạ thật, mình thương hại thầy Pohlmann và mình chẳng đợi thầy chỉ bảo gì cả; nhưng mỗi lần đến thăm thầy mình lại thấy một luồng sinh khí mới mẻ sâu xa đưa bổng mình lên…”

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 3 Jun 2026

Tôi tỉnh dậy trong căn phòng trắng lạnh. Ngoài hành lang bệnh viện vắng hoe. Đèn vàng mệt mỏi đêm khuya. Tôi nằm trên chiếc giường gần cửa sổ. Vết thương được băng lại với nhiều lớp băng quấn quanh đầu. Trở mình, nghe ê ẩm cả người. Phông nhận bệnh có sáu giường, nhưng chỉ có hai người. Sát vách, một ông già kê cái gối sau lưng dựa vào tường, tư thế nửa nằm nửa ngồi. Mặt gầy hốc hác. Ông nhìn tôi bằng đôi mắt thờ ơ lạnh nhạt. Chẳng biết ông vào đây hồi nào.

Tôi hỏi: “Bây giờ là mấy giờ, hả bác?”

Ông trả lời cộc lốc: “Không biết.”

Tôi thầm tiếc một câu hỏi.

Chiếc giuờng trong kế bên ông già, phía trên máng cái bình semm dây nhợ còn vướng lòng thòng. Có thể     có một người vừa được chuyển đi. Nơi nào? Tôi nghĩ đến nhà xác, tự nhiên thấy rợn. Sống chết, dễ như trở bàn tay. Lúc lâu sau, ông già nói: “Chắc gần bốn năm giờ sáng gì đó.”

Tôi nằm nín thinh.

“Nửa đêm, người ta đưa vào một con nhỏ mặt còn non choẹt. Nghe nói mới mười sau tuổi, phá thai bị làm băng.”

Đã định không thèm nói chuyện với ông già, nhưng không ngăn được tò mò.

“Nó đâu rồi?”

“Chuyển lên phòng cấp cứu.”

Tôi hình dung con nhỏ mười sáu tuổi phá thai. Mặt còn non choẹt. Con nhà ai mà thả đi chơi sớm?

“Câu làm sao phải vào đây? Ông già hỏi.

Tôi nói: “Bị người ta đánh.”

“Hừ! Kết bè lập đảng đánh nhau chứ gì?”

Cái kiểu nói chuyện của ông già thật khó có thiện cảm.

“Sao bác vào đây?”

“Thổ huyết.”

“Cũng bị người ta đánh hả?” Tôi hỏi mắc.

Ông nói: “Không. Thình thoảng bị tức ngực họ ra máu.”

“Ho lao xuất huyết. Bệnh này dễ chết.” Giong tôi ác cåm.

Ông cười mỉa: “Dễ gì? Sống để nhìn đời.”

“Bác thấy đời ra sao?”

“Chụp giựt, tranh ăn, giành gái giết nhau,”

Ông gia muốn ám chỉ tôi. Phòng chì có hai người, lại không ưa nhau, nói chuyện nghe chán.

Sau ngày cô Hường roi Nha Trang, tôi thấy trời dất u buồn lạ. Nhớ nhà như lúc mới ra di. Nhớ những thằng bạn mục đồng thuở trước. Nhớ những tấm lưng sạm nắng vất vã theo sau đuôi con trâu, trên những đường cày mới vỡ. Nhớ những mua hè chói chang và ruộng đồng khô gốc rạ. Tôi hay lang thang, hoặc ngổi một mình dưới rặng cây dương ngoài bãi biển. Trong hồi tưởng, tôi thấy lại một quê nhà xa lắc. Tối hôm trước, gần chổ toi ngồi có hai thằng quần ống túm, áo chim cò. Đàn hà con gái nào di qua, chúng cũng buông lời chọc ghẹo. Rõ là quân đầu trâu mặt ngựa, tôi nghĩ. Có một cặp thanh niên nam nữ đeo nhau trên chiếc xe đạp, dừng xe kéo nhau xuống bãi cát. Khi họ ngang qua hai thằng dầu trâu mặt ngựa, chúng trêu chọc bằng những lời hết sức trây trúa. Gã thanh niên đứng lại sừng sộ. lớn tiếng mắng, đồ mất dạy! Thằng đầu trâu phóng tới thoi vào mặt gã thanh niên. Thàằng mặt ngựa cũng nhào vô thộp cổ áo, thoi lia lịa vào lưng vào vai. Ga thanh nien chống đỡ yếu ớt. Đứa con gải hoảng hốt, kêu trời ơi, và chạy ngược lại chiếc xc đạp. Thấy chuyện bất bình, tôi chen vào can thiệp. Tôi vừa nói, cho tôi xin các anh … , thì thằng đầu trâu cho tôi ngay một quả đấm gần sặc máu mủi. Đau đớn, tôi thúc cùi chỏ vào ngực hắn. Thế là chúng buông gã thanh niên, nắm lấy tôi. Gã thanh niên chạy vội về phía đứa con gái, xách xe đèo nhau tẩu thoát. Tôi còn lại một mình. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa bề hội đồng tôi như võ sĩ dợt bao cát luyện tay nghề. Tôi tối tăm mày mặt. Sức chúng là sức voi. Sức tôi trói gà. Một thằng, tôi cự không nổi, nói chi dến hai thằng, Vừa đánh, chúng vừa gằn giọng.

“Đù má! Muốn làm người hùng ra tay nghĩa hiệp hả?”

“Muốn chơi trội trước mặt người đẹp hả? Đù má mày!”

Sau mỗi tiếng đù, tôi lãnh đủ thứ đòn đấm đá thoi đạp. Tôi ngả sấp. Một thằng nện gót giày trên lưng tôi, tức thở. Thằng kia quơ viên đá xáng vô dầu tôi. Tôi chỉ nghe một tiếng bụp. Máu chảy tràn xuống trán. Viên đá đã để lại giữa đình đầu tôi một vết sẹo dài bằng lóng tay, suốt đời. Những người đi hóng gió biển, bu lại. Có  người nói, gọi cảnh sát. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa nghe nói cảnh sát, chạy vụt đi. Nhưng giờ này, bọn ăn hại ấy làm gi có mặt ở đây?

Người ta đỡ tôi lên một chiếc xích lô, chở về bệnh viện. Trên đường di, người phu xích lô nói mấy thằng đó là con ông cháu cha có nanh có vuốt. Đôi co với chúng chỉ thiệt thân. Tôi đau quá, ngã đầu sang một bên, không muốn bắt chuyện. Tôi xuống xe, người phu xích lô nói khỏi lấy tiền, và đìu tôi vào phòng cấp cứu. Tại đây, tôi dược lau máu, bang đầu, tiêm một mũi thuốc. Tôi ngủ từ đó, cho đến khi thức dậy thấy nằm trong phòng này. Tôi hận gã thanh niên bỏ chạy dể tôi thế mạng chịu đòn. Quân hèn mạt như thế, cũng có người yêu. Đứa con gái nào yêu nó, chắc cũng là đứa chẳng ra chi. Tôi rủa thầm chúng nó, mong sau này chúng gặp tai nạn tương tự như tối hôm qua. Và tôi sẽ đứng nhìn một cách dững dưng. Sống chết mặc  bây!

Sáng ra, có anh y tá vào phòng đo nhiệt độ cho ông già và tôi. Anh lặng lẽ làm việc như một cái máy. Mặt không biểu lộ sắc thái gì cả. Trước khi ra khỏi phòng, anh nói: “Chuẩn bị, lát nữa bác sĩ khám.”

Tôi nói: “Anh ơi, làm ơn cho xin ly nước uống.”

Anh nín thinh đi luôn.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau. bác sĩ cùng với cô y tá bước vào. Bác sĩ đặt ống nghe trên ngực, trên lưng ông già. Quyết định rất nhanh, nhập viện.

Tổi phiên tôi, bác sĩ bảo: “Hít sâu, thở ra. Hít sâu, thở та … “

Tôi nói: “Tôi nghe đau thốn trong ngực.”

“Đau dầu không?”

“Chỉ đau chỗ vết thương.”

“Lẩn sau có đi đánh lộn, phải đội nón sắt bảo vệ cho cái đầu.”

Ông ghi toa thuốc, và bước khỏi phòng.

Tôi hỏi y tá: “Như vầy là sao?”

Y tá nói: “Lãnh thuốc, về nhà nằm.”

Chữ viết trong toa, ngoằn ngoèo lăn quăn như những con giun. Tôi lãnh sáu viên Aspirine. Lời dặn uống trong ba ngày. Tôi ôm ngực co ro cúm rúm đi ra đường, gọi xích lô về nhà bác Huế.