Khoảng lặng giữa đêm Xuân

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 7 Jun 2026

    Cuối tháng Tư, đêm Hòa Lan chuyển mình sang xuân với một vẻ yên tĩnh đến lạ thường. Tôi ngồi trong căn phòng nhỏ tại thị xã Dronten. Khi những màu sáng cuối ngày tắt lịm phía chân trời, tôi ngồi bên khung cửa kiếng, nghe tiếng gió mùa xuân nhẹ thoáng qua như hơi thở của thời gian. Trong không gian yên bình ấy, lòng tôi lại dâng lên một nỗi nhớ quê hương. Tuy khoảng cách địa lý một nửa bán cầu dường như bị xóa nhòa khi tôi mở chiếc laptop, tìm về những âm thanh của tiếng Việt, những dòng chữ mang hơi thở của đất nước quê hương tôi.  Nhưng cũng chính trong những ngày cuối tháng Tư này, không gian mạng lại trở nên chông chênh hơn bao giờ hết. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng vết thương cũ dường như vẫn còn âm ỉ, dễ dàng bị chạm vào bởi những lời qua tiếng lại, những tranh luận chưa hồi kết. Tôi thấy những định kiến cũ kỹ vẫn còn đó: người trách người, miền này nhìn miền kia bằng ánh mắt nghi ngờ. Những người cùng dòng máu, đôi khi chỉ thấy nhau qua màn hình máy tính với những lăng kính đầy màu sắc sắc tộc, chính trị hay quan điểm sống trái chiều. Lịch sử của nước Việt tôi dường như chưa bao giờ thực sự ngủ yên, dù lớp bụi thời gian đã phủ dày hơn năm mươi năm cuộc đời. Nhiều khi tôi tự hỏi, đến bao giờ chúng ta mới có thể thực sự ngồi lại bên nhau mà không cần nhìn vào những nhãn dán của quá khứ?  Giữa những ồn ào ấy, tôi lặng lẽ quan sát và nhận ra vẫn có những con người chọn lối sống ôn tồn, hòa nhã. Họ là những người mang trong mình một trái tim bao dung, bởi họ thấu hiểu một sự thật giản đơn: thù hận không bao giờ nuôi lớn được điều gì ngoài những nỗi buồn truyền đời. Họ chọn cách không lặp lại những chia rẽ mà cha ông đã phải đánh đổi bằng quá nhiều xương máu và nước mắt. Ước nguyện của họ, cũng là ước nguyện của tôi, chỉ là được nhìn nhau như những người Việt Nam thuần túy, những con người cùng chung một gốc rễ, cùng một huyền thoại Rồng Tiên, dù sóng gió cuộc đời có đẩy đưa mỗi người về một phương trời khác nhau.  Tôi thường mơ về một ngày quê hương mình sẽ thực sự trở thành nơi của sự nhân bản và văn minh. Mong ước ấy không bắt nguồn từ một tham vọng lớn lao nào, cũng không phải để đối kháng hay lật đổ bất kỳ ai. Đó đơn thuần là mong mỏi của một người con xa xứ về một bầu trời rộng mở cho thế hệ mai sau. Tôi mong mỗi đứa trẻ sinh ra trên mảnh đất hình chữ S, dù ở thành thị hay vùng sâu vùng xa, đều được lớn lên trong sự thân ái, nơi các em được dạy cách yêu thương thay vì cách phân biệt đối xử.  Tôi mong người nông dân chân lấm tay bùn, những người cả đời gắn bó với thửa ruộng, mảnh vườn sẽ có đầy đủ cơm no, áo ấm. Tôi mong mỗi người dân đều có thể nói lên sự thật từ lòng mình mà không phải lo sợ, để lòng tốt không còn bị nghi ngờ và sự khác biệt không bao giờ trở thành lý do để chúng ta coi nhau là kẻ đối nghịch. Một xã hội văn minh không phải là nơi tất cả mọi người đều nghĩ giống nhau, mà là nơi người ta tôn trọng sự khác biệt của nhau trong hòa bình.  Chúng ta cần hiểu rằng hai chữ “tự do” hay “nhân bản” không nên chỉ là những khẩu hiệu khô khan trên mặt giấy và trên những khẩu hiệu băng rôn. Tự do đích thực bắt đầu từ khả năng nhìn người đối diện bằng sự tôn trọng và thấu cảm. Nhân bản chính là cách mà một xã hội đối xử với những người yếu thế nhứt, người nghèo khổ nhứt và người lạc lõng nhứt của mình. Hòa giải, xét cho cùng, không phải là cố gắng quên đi những gì đã xảy ra trong quá khứ. Lịch sử là sự thật cần được tôn trọng, nhưng chúng ta không nên biến quá khứ thành xiềng xích trói buộc đôi chân của tương lai.  Có lẽ, điều đẹp nhứt mà một con người có thể làm cho quê hương mình trong những ngày này là giữ cho trái tim không bị biến thành một chiến trường.
Chúng ta cần những khoảng lặng. Khoảng lặng để lắng nghe tiếng lòng của chính mình và khoảng lặng để lắng nghe nỗi đau của người khác. Mỗi người chúng ta đều mang theo một câu chuyện riêng, một nỗi đau riêng và cả một niềm hy vọng riêng. Nếu ai cũng chỉ muốn nói mà không ai chịu lắng nghe, thì vết thương sẽ mãi mãi không lành.  Là người con Việt Nam xa xứ, tôi vẫn hằng đêm thầm cầu nguyện.
Tôi hy vọng rằng chính từ những khoảng lặng đầy thấu cảm ấy, một ngày nào đó, người Việt sẽ thực sự tìm lại được nhau. Khi ấy, chúng ta sẽ không còn đứng trên tư thế của kẻ thắng hay người thua, không còn bị chia cắt bởi những lằn ranh Nam hay Bắc, trong nước hay ngoài nước. Chúng ta sẽ gặp lại nhau như những người anh em chung một nguồn cội, cùng nắm tay nhau xây dựng một đất nước thanh bình, nơi mà tình yêu thương là sợi dây duy nhất thắt chặt mọi trái tim. Đêm đã về khuya, gió xuân ở Dronten vẫn nhẹ nhàng thổi. Tôi khép lại chiếc laptop, lòng cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Quá khứ là một phần của chúng ta, nhưng tương lai mới là thứ chúng ta đang bước tới. Và tôi chọn bước đi về tương lai bằng một tấm lòng không mang thù hận.   Dronten, đêm 30/4/2026
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by6 Sơn râu 7 Jun 2026

“Úc Khùng” không phải là danh từ do chúng tôi, một người mới thăm viếng nước Úc đặt ra và do chính những cư dân tại nước Úc vẫn đùa cợt với quốc gia đã cho họ định cư từ nhiều năm nay. Quả thật, nước Úc thuộc Anh có nhiều chuyện nho nhỏ khác Mỹ như lái xe bên lề trái, đi ăn nhà hàng không cần bỏ “tip”, “to go” thì gọi là “take away” hay phòng mạch bác sĩ thì để bảng “surgery”, nhưng những điều đó không quan trọng.

Người ta cho biết khoảng năm 1979-80, vì thiếu sức lao động, Úc có chính sách cho nhập cư nhiều thanh niên Việt Nam tại các trại tỵ nạn vào Úc để bù đắp khoảng trống này. Những thanh niên này đến Úc,

không có gia đình, không có cộng đồng người Việt, không có phái nữ để lập gia đình nên cô đơn, đâm ra rượu chè, hút xách, quậy phá. Rút kinh nghiệm này, những năm kế tiếp, phái đoàn Úc tại các trại tỵ nạn lại chỉ nhận những ông bà già mà không nhận thanh niên độc thân vào Úc, điều này trong một thời gian lại gây khó khăn cho những ông bà cụ “già cậy con”. Nước Úc quả là thiên đàng của người tỵ nạn, không thiên đàng sao không làm mà vẫn có ăn; đàn bà không chồng đẻ năm một vẫn có trợ cấp nuôi con; vợ chồng đóng kịch để single mom lãnh tiền hằng tháng; có người không đi lính một ngày vẫn lãnh trợ cấp như quân nhân Úc; ngày Tết Nguyên Đán, những khu phố Việt Nam vắng hẳn vì dân “tỵ nạn” bận “về quê” ăn Tết. Ai cho Mỹ là thiên đàng? Thiên đàng đang thật sự hiện hữu ở “miệt dưới” là nước Úc.

“Úc Khùng” vì không chịu thẳng tay với bọn buôn ma tuý, không có án tử hình cho bọn người đã đầu độc tuổi trẻ nước Úc. Vào tháng 12/2002, một thanh niên Việt, 25 tuổi là Nguyễn Tường Vân bị bắt và ba năm sau chịu án tử hình tại Singapore vì mang 396g bạch phiến từ Việt Nam trên đường về Úc, mà thời gian gần đây vẫn còn nhiều dân Việt về Úc mang theo bạch phiến bằng cách bỏ vào bịch cao su nuốt vào bao tử và bị bắt ngay khi xuống phi cơ tại các phi trường nước Úc. Điều này chứng tỏ mang chất độc hại này qua phi trường Tân sơn Nhất là “chuyện thường ngày ở huyện”, và thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đã trả ơn nước Úc bằng những món quà đáng giá. Vì không có án tử hình, nên ai thèm sợ chết, lọt một chuyến sống thoải mái “nửa đời sau”. Nếu trong chuyến bay về Úc ghé qua Singapore tại phi trường Changi, nếu Nguyễn Tường Vân đã không ngủ quên đến nỗi phải lật đật làm cho nhân viên an ninh sinh nghi khám lại xách tay thì gần 400g bạch phiến (có thể cung cấp hơn 26,000 lần chích cho dân ghiền) đã được đưa vào Úc. Khốn nỗi, trước toà Vân lại cho biết động lực buôn ma tuý này là để trả món nợ luật sư cho người anh em sông sinh của y là Khoa, cũng can tội liên quan đến ma túy trước đó. Đẹp thay tình huynh đệ! Hai tử tội khác, cũng người Việt tại Úc đã cố gắng đem ma tuý về mảnh đất đã giang tay đón mình trong cơn hoạn nạn, đang chờ bị xử tử tại Việt Nam. Chúng chơi bạo, cho đáng “đồng tiền bát gạo”, Nguyễn Văn Chinh mang 1kg và Mai Công Thanh 1.7kg.

Nước Úc cũng đã bãi bỏ án tử hình từ 1973, Samoa và Tân Tây Lan từ năm 2004. Tại Việt Nam, mang 100g bạch phiến hoặc 5kg thuốc phiện đã bị tội tử hình; tại Lào trên 500gam bị xử tử; Nam Dương và Thái Lan bị tử hình nếu sở hữu chủ bạch phiến; Singapore và Mã Lai mang 15gam đã bị lên giá treo cổ; Phi luật tân chỉ cần mang 10gam, Trung Cộng 50gam cũng đủ tội chết. Nếu 369g bạch phiến này của Nguyễn Tường Vân bị bắt tại Úc thì can phạm sẽ thoát chết, với tội danh nêu trên, theo luật pháp hiện hành các tội phạm này chỉ phải chịu 25 năm tù hay/và $550,000 tiền phạt. “Úc Khùng” vì một người có tội buôn ma túy như Nguyễn Tường Vân được coi hơn cả một anh hùng, được một chiến dịch mang tên “Reach Out” do Bronwyn Lew và Kelly Ng., hai người bạn cùng đi trong chuyến hành trình này chủ xướng nhằm cứu can phạm. Chưa bao giờ trong lịch sử thế giới lại có một cuộc vận động nhân đạo lớn lao đến thế chỉ nhằm cứu một người phạm tội “tày trời”. Các lãnh tụ chính quyền Úc như cựu Tổng Toàn quyền Úc Sir Dean William, các cựu và đương kim Thủ Tướng Úc như Gough Whitlam, Bob Hawke, John Howard, cho đến các Bộ Trưởng Ngoại giao, Bộ Trưởng Tư pháp liên bang và tiểu bang, đến Giáo hội Công giáo mà Đức giáo hoàng là đại diện cùng các Giám mục Úc, cho đến các vị Dân biểu và Nghị sĩ thuộc các đảng ở quốc hội, kể cả cộng đồng người Việt ở Úc, Hội Ân Xá Quốc Tế lên tiếng. Chỉ thiếu có tiếng nói của Nữ Hoàng Anh Elizabeth II là đủ bộ, bà này đã từ chối khéo vì lý do phải thông qua nội các.

“Úc Khùng” vì chưa hết! Phát ngôn viên ngoại giao của phe đối lập Kevin Rudd đã kêu gọi thủ tướng Úc đưa vấn đề này ra ở Hội nghị Lãnh tụ các nước trong khối Thịnh Vượng Chung ở Malta. Chính phủ liên bang cũng có ý định đưa vụ này ra kiện ở Tòa án Công lý Quốc tế, nhưng không thành công vì chính quyền Singapore không thừa nhận phán quyết của tòa này. Cũng có một đề nghị, nên có “một phút im lặng” trên toàn quốc để tưởng niệm Nguyễn Tường Vân Vân vào giờ hành quyết. Một số cảm tình viên với Nguyễn Tường Vân đã tụ tập đốt nến trước sân cỏ của tòa nhà Quốc hội ở thủ đô Canberra để cầu nguyện và tiễn đưa linh hồn Vân về bên kia thế giới. Cũng chưa hết, Thủ tướng Tân Tây Lan, bà Helen Clark cũng đã đưa ra lời kêu gọi không chính thức đối với thủ tướng Singapore. Ông Douglas Wood, một con tin được cứu sống nổi tiếng tại Iraq cũng đã lên tiếng kêu gọi dân Úc nên tiếp tục vận động tha tội chết cho Nguyễn Tường Vân. Ông nói: “Dân Úc đã cùng nhau hiệp lực để cứu tôi khỏi chết thì giờ này hãy một lần nữa bằng mọi cách phải ngăn cản thảm cảnh này xảy ra”.

Lấy gì để so sánh giữa một anh hùng làm lợi cho nước Úc như ông Wood và một kẻ làm hại cho nước Úc như Nguyễn Tường Vân? Nguyễn Tường Vân đã bị treo cổ tại nhà tù Changi, ở Singapore vào lúc 6 giờ sáng sớm thứ sáu ngày 2/12/05. Tại giáo xứ nhà thờ St Ignatius ở Richmond, nơi Nguyễn Tường Vân ở, đã có vài trăm người đã tụ tập cùng với sự hiện diện của con tin người Úc tại Iraq là ông Douglas Wood để tổ chức buổi lễ cầu hồn và thắp nến. Chưa đủ, tại Martin Place ở Sydney, một đám đông tụ tập và cầu nguyện, người ta đã trổi lên 25 tiếng phèng la tượng trưng cho số tuổi 25 của Nguyễn Tường Vân. Nhiều người đã đặt nhiều tràng hoa vàng ở phía dưới tấm chân dung của tử tội. Tại Canberra, một lễ cầu nguyện và cũng gần như một cuộc biểu tình để phản đối án tử hình của Singapore đã diễn ra ngay trước tòa nhà Cao Ủy đại diện quốc gia này. Cũng nơi đây, vào đúng lúc Nguyễn Tường Vân lên giá treo cổ, tháp chuông tại Thánh đường St Christopher cũng đã rung lên 25 tiếng “chuông gọi hồn ai” để tưởng niệm 25 năm tuổi đời của Nguyễn Tường Vân.

“Úc Khùng” vì cái chết của một tội phạm ma tuý đã được Bộ trưởng Tư pháp Philip Ruddock lên án đây là hành động mọi rợ của Singapore. John Howard, thủ tướng Úc cho rằng việc thi hành án tử hình này sẽ ảnh hưởng quan hệ song phương giữa Singapore và Úc. Ghê chưa! Có gì khác giữa một anh hùng của dân tộc được cả nước tưởng niệm, truy điệu với một tội phạm độc hại, không phải chỉ giết một vài người mà giết cả một thế hệ. “Úc Khùng” hơn nữa vì Ngoại trưởng Úc Kevin Rudd vừa qua, đã hổ trợ kế hoạch lính Úc sẽ diễn hành chung với bộ đội Cộng Sản trên vong linh 512 chiến sĩ Úc đã hy sinh tại miền Nam, theo sáng kiến “khùng” của Chủ tịch Liên bang của RSL (Royal Services League), ông Ken Doolan.

***

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 Jun 2026

Cổ nhân vẫn cho rằng “phi thương bất phú.” Kỹ sư, giáo viên, công chúc đồng lương cố định là lẽ đương nhiên; bác sĩ, luật sư ngay thẳng, không lảm diều mờ ám thì lợi tức cũng giới hạn. Duy chỉ có giới thương mại tùy thời cơ, đối tượng, nhu cầu mà xoạy chuyển, thu lợi tức cho mình, cho nên người ta có nói: Người mua lầm chứ người bán không lầm.” Có món mua một bán hai, nhưng cũng có món mua một bán mười.

Thời VNCH có bao nhiệu người kể cả giới có chức có quyền. trong khi quân đội đổ máu ngoài chiến trường, thì hậu phương người ta “luồn” thuốc tây, xăng, gạo, vãi vóc và cả … vũ khí cho địch quân dể làm giàu, chỉ vì đồng tiền, dù là đồng tiền vấy máu. Thị trấn nhỏ bé Gò Dầu Hạ sát biên giới Kampuchea, dân số không đến vài chục nghìn mà đã có hơn 10 nhà thuốc tây, thuốc thời đó không cần toa bác sĩ, bán cho ai, nếu không mua đem về tiếp tế cho Việt Cộng bên kia biên giới. Bảy giờ trong khi Trung Cộng thôn tính Hoàng Sa, Trường Sa, ngang ngược trên biển Đông, bắt bớ giam cầm ngư phủ Việt Nam ngay trong hải phận quốc tế, cắt giây cáp của tàu dò dầu khí của Việt Nam, lập làng, thuê đất, thuê rừng, khai thác bauxit trên đất Việt Nam, toàn dân phải chịu nhục vì tập đoàn cai trị muốn bán nước, Trong khi đó thì bọn con buôn, sẳn sàng vì lợi nhuận. nhập hàng độc hại giết người và để giết dân mình, con buôn du lịch thì tổ chức cho đồng bào mình. viếng thăm đất nhà của bọn bành trướng, nơi mà gần đây đã có cửa hiệu trương bảng cấm người Việt Nam và chó mà không biết nhục. Ngay cả các dịch vụ du lịch người Việt tị nạn ở Mỹ, ở Úc. ở Canada, ở Âu Châu, .. mỗi năm đã tổ chức bao nhiêu chuyến du hành đi thăm Bắc Kinh, Thượng Hải … đem thêm ngoại tệ cho mấy nước nầy, qua các trạm hải quan của Trung Cộng mà không thấy xấu hổ, đứng chụp ảnh tại quãng trường Thiên An Môn mà không nghe mùi máu tanh của 5,000 người đã chết chỉ vì đòi hỏi dân chủ trong đêm 4 tháng 6-1989.

Nhưng những nhà buôn kiếm lời trên những chuyến du lịch đi Trung Cộng không quan tâm đến điều này, dù họ là những người Việt Nam, vô cảm vì nỗi đau chung của người Việt.

Công ty du lịch của ông Trần Nguyên Thắng ở ngay đất Bolsa này đã làm được một điều mà tôi nghĩ chưa một công ty du lịch nào làm được, đó là ông từ chối không làm tour cho đồng bảo của ông đi Trung Quốc.

(đây là đất tự do, ông không là giảm dốc một cộng ty du lịch của nhà nước CSVN, làm dịch vụ theo chỉ thị, nên ông có quyền làm ăn theo ý ông. Ai thấy tiền mà không tham, vì tour du lịch Trung Cộng là tour rẽ nhắt, dễ ăn nhất, vì rẽ nên có nhiều người tham dự. Trước hết, ông giám đốc công ty du lịch này không ưa Cộng sản, ông cho rằng: -Văn hóa cộng sản là một thứ văn hóa tồi tệ nhất trọng lịch sử Á Châu. Đấu tố giai cấp, tình yêu giai cấp đã đạp đổ đi tất cả mọi truyền thống củ. Để sống sót trong hệ thống cộng sản, con người buộc phải sống thay đổi nhiều bộ mặt để có miếng ăn, để có chỗ ngủ. Đởi sống dạy cho cán bộ, cho người dân phải biết cách luồn lách, biết cách nịnh bợ, biết cách sống giả nhân giả nghĩa. biết cách bè phái tham nhũng hối lộ để sống còn trong xã hội đó. Có người nào trong tổ chức chính phủ và đảng của Trung Cộng ngày nay đã không từng là những Hồng Vệ Bình năm xưa dưới thời của Mao Trạch Đông. Những hung thần con nít đó đã làm lại lịch sử và nền văn hóa cộng sản cho đất nước Trung Hòa. Chỉ nói riêng về danh xưng của đất nuớc cộng sản đông dân nhất thể giới này, vì sao phải goi họ là Trung Quốc như CSVN đã gọi, mà không gọi họ là Trung Cộng cho … chính danh? Tôi đã đồng ý với Trần Nguyên Thắng khi ông viết rắng: ” … danh từ Trung Quốc hình thành từ tên Trung Hoa Dân Quốc từ thời Tôn Dật Tiên, tên mà Thông Chế Tưởng Giới Thạch vẫn dùng khi chiếm Đài Loan. Còn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa với Cộng Sản chủ nghĩa do đảng Cộng Sản chỉ huy không gọi là Trung Cộng thì gọi là gì bây giờ. Có chữ “Quốc” nào trong cái tên đó đâu! Đến danh từ tên mà cũng có ý lừa đảo lập lờ, nếu họ thật tốt thì có sợ gì mà không tự nhận là Trung Cộng, Vì thế tôi không gọi họ là Trung Quốc mà gọi họ là Trung Cộng cho đúng tên và chính danh.” Là một người hướng dẫn du lịch nhiều năm, đi nhiều nơi trên thế giới, ông Thắng cho rằng danh lam thắng cảnh của nước Tàu không thể so sảnh được với Ai Cập, Peru, Ấn Độ. Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Slovenia, Kampuchea. Miến Điện và ngay cả Việt Nam. Ông chê văn hóa Trung Cộng còn thấp kém vì chỉ biết dối trá, lọc lừa, chụp giựt, ăn cắp, chen lấn, vô lễ … Không dấu diếm, sợ hãi vì còn mong muốn đi về Việt Nam, ông Trần Nguyên Thắng, một người kiếm tiền lương thiện bằng những tour du lịch, cũng cho rằng “chế độ cộng sản hiện nay tại Việt Nam còn tệ nạn tham nhũng, thối nát, quan liêu … ” Trong một bài báo gần đây sau khi có tin một nhà hàng ở Bắc Kinh treo bảng “miễn tiếp khách Nhật, Phi, Việt và chó,” ông dã mong có một ngày nào đó khi về Việt Nam ông sẽ mở một cửa hàng, với những thực phẩm “đặc biệt” để dành cho cán bộ cộng sản và … lợn: -For Communist members and pig only!”

Tôi không quen ông Trần Nguyên Thắng của công ty du lịch mang tên ông, cũng như chưa hề giáp mặt ông một lẩn, nhưng tôi nghĩ ông là người can đảm, biết hổ thẹn và có tấm lòng yêu nước. Trong giới làm thương mãi, không ai chê tiền, ông cũng cần tiền, nhưng không phải ở chỗ đó, vì ông còn biết nhục.

Khi trí tuệ nhân tạo bước vào văn chương

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by6 Sơn râu 6 Jun 2026

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra một giai đoạn mới cho nhiều lĩnh vực sáng tạo, trong đó có văn chương. Đối với nhà văn và nhà thơ, AI không chỉ là một công cụ kỹ thuật đơn thuần mà dần trở thành một dạng “đối tác tư duy”, hỗ trợ hình thành ý tưởng, sắp xếp cấu trúc và hoàn thiện văn bản.

Tuy nhiên, cùng với những lợi ích rõ rệt, việc sử dụng AI cũng đặt ra nhiều câu hỏi về chiều sâu cảm xúc, bản sắc sáng tạo và cách người đọc tiếp nhận tác phẩm khi công nghệ tham gia ngày càng sâu vào quá trình viết.

AI như một công cụ hỗ trợ sáng tác

Thực tế cho thấy AI đang thay đổi cách các tác giả tiếp cận công việc viết lách trên nhiều phương diện.

Trước hết là tăng năng suất sáng tạo. Các mô hình ngôn ngữ có thể gợi ý dàn ý, đề xuất cách miêu tả cảnh, thậm chí hỗ trợ tìm nhịp điệu cho thơ. Với nhiều người viết, AI giúp vượt qua cảm giác “trang giấy trắng” – khoảnh khắc khó khăn khi ý tưởng chưa kịp hình thành.

Bên cạnh đó, AI còn có thể khơi mở những hướng suy nghĩ mới. Nhờ khả năng xử lý lượng lớn dữ liệu ngôn ngữ, các công cụ này đôi khi gợi ra những cách diễn đạt

hoặc góc nhìn bất ngờ, góp phần kích thích trí tưởng tượng của người viết.

Một vai trò khác là hỗ trợ biên tập. Các công cụ chỉnh sửa tự động có thể giúp rà soát ngữ pháp, điều chỉnh giọng điệu và tăng độ mạch lạc của văn bản, từ đó nâng cao chất lượng bản thảo trước khi hoàn thiện.

Ngoài ra, AI còn giúp mở rộng khả năng tiếp cận việc viết. Với những người mới bắt đầu hoặc những tác giả sử dụng phương ngữ, công nghệ có thể giảm bớt rào cản kỹ thuật để họ tập trung nhiều hơn vào nội dung và cảm xúc.

Những yếu tố này cho thấy AI có thể mở rộng không gian sáng tạo, miễn là người viết vẫn giữ quyền kiểm soát và định hướng nghệ thuật của mình.

Những giới hạn cần nhận diện

Bên cạnh các lợi ích, AI cũng mang theo những giới hạn mà người sáng tác cần ý thức rõ.

Trước hết là sự thiếu vắng trải nghiệm sống. AI không có ký ức, cảm xúc hay những va đập của đời sống, vì vậy khó có thể tái hiện trọn vẹn chiều sâu tâm lý – yếu tố vốn được xem là linh hồn của văn chương.

Một nguy cơ khác là sự phụ thuộc. Nếu quá dựa vào gợi ý của AI, người viết có thể dần suy giảm khả năng tư duy độc lập và làm mờ đi phong cách cá nhân.

Vấn đề tính nguyên bản cũng thường được nhắc tới. Do hoạt động dựa trên dữ liệu đã tồn tại, AI đôi khi khó tạo ra những ý tưởng thật sự đột phá hoặc mang dấu ấn riêng biệt.

Ngoài ra, chất lượng của văn bản do AI hỗ trợ còn phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đầu vào. Một ý tưởng nghèo nàn sẽ dẫn đến kết quả nhạt nhòa; ngược lại, vốn sống và vốn đọc phong phú của người viết sẽ giúp AI trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả.

Trong bối cảnh xuất bản hiện nay, câu chuyện minh bạch về việc sử dụng AI cũng được quan tâm nhiều hơn. Việc công khai hay không mức độ hỗ trợ của công nghệ là lựa chọn của mỗi tác giả, nhưng sự minh bạch có thể góp phần xây dựng niềm tin với người đọc.

Những giới hạn ấy nhắc nhở rằng AI chỉ là phương tiện; giá trị nghệ thuật của tác phẩm vẫn phụ thuộc vào tư duy, cảm xúc và trải nghiệm của con người.

Một vài nguyên tắc khi sử dụng AI

Trong quá trình làm việc với AI, tôi dần hình thành một số nguyên tắc cá nhân để giữ cho sáng tác không bị hòa lẫn hay lệ thuộc.

Trước hết, AI chỉ nên được sử dụng như một công cụ khơi gợi ý tưởng hoặc hỗ trợ kỹ thuật. Phần cốt lõi của tác phẩm – cảm xúc, trải nghiệm và giọng điệu – cần xuất phát từ chính người viết.

Thứ hai, mọi gợi ý từ AI nên được xem như chất liệu tham khảo, chứ không phải khuôn mẫu. Tác giả phải là người quyết định giữ lại điều gì và loại bỏ điều gì.

Thứ ba, mức độ AI tham gia vào bản thảo cần được cân nhắc một cách minh bạch, không phải để chứng minh điều gì, mà để tôn trọng mối quan hệ giữa tác giả và người đọc.

Và cuối cùng, người viết vẫn cần duy trì thói quen rèn luyện ngôn ngữ, quan sát đời sống và tích lũy trải nghiệm – những điều mà không công nghệ nào có thể thay thế.

Người đọc trong thời đại AI

Khi AI ngày càng hiện diện trong sáng tác, cách người đọc tiếp nhận tác phẩm cũng cần được nhìn nhận lại.

Một bài thơ hay truyện ngắn có sự hỗ trợ của AI không nhất thiết làm giảm giá trị cảm xúc mà người đọc cảm nhận. Điều quan trọng vẫn là chất lượng của tác phẩm và khả năng nó chạm tới tâm hồn người đọc.

Trong thực tế, sự xuất hiện của nhiều nội dung giải trí được tạo ra nhanh chóng bằng AI có thể khiến một số người hình thành định kiến rằng tác phẩm có AI hỗ trợ thì kém giá trị. Tuy nhiên, việc đánh đồng mọi sáng tác như vậy có thể khiến người đọc bỏ lỡ những trải nghiệm văn chương đáng quý.

Văn học, suy cho cùng, vẫn là cuộc đối thoại giữa tác phẩm và người đọc. Nếu một tác phẩm mang lại rung động thật sự, nguồn gốc kỹ thuật của nó không nên trở thành rào cản.

Một trải nghiệm cá nhân.

Tôi bắt đầu tập tành viết văn, làm thơ từ thời còn viết tay. Sau đó chuyển sang máy đánh chữ, rồi đến máy tính cá nhân và laptop. Khi internet xuất hiện, tôi tra từ điển, tìm tư liệu và đọc tin tức trên Google, khi ấy cũng có không ít người khuyên rằng không nên quá tin vào công cụ này.

Những năm gần đây, khi sử dụng AI, tôi lại nghe những lời cảnh báo tương tự. Nhưng qua thời gian tìm hiểu và trải nghiệm, tôi nhận ra rằng mỗi bước tiến công nghệ đều mang đến những công cụ mới cho sáng tạo. Điều quan trọng không phải là từ chối hay lệ thuộc, mà là biết sử dụng chúng một cách tỉnh táo.

AI đang dần trở thành một phần của đời sống sáng tạo đương đại. Với nhà văn và nhà thơ, nó nên được nhìn nhận như một công cụ hỗ trợ mạnh mẽ, chứ không phải sự thay thế. Sau tất cả, quyền lựa chọn nghệ thuật, chiều sâu cảm xúc và bản sắc sáng tạo vẫn thuộc về con người.

Và đối với người đọc, một tâm thế cởi mở, không định kiến sẽ giúp họ tiếp nhận trọn vẹn giá trị của văn chương trong thời đại công nghệ.

Dronten, 12/3/2026

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 6 Jun 2026

Trong thành ngữ Việt Hán có câu “dĩ hoà vi quý”, khuyên người ta lấy sự làm hoà với nhau là quý, cũng đồng nghiã với các thành ngữ Việt Nam “chín bỏ làm mười”, hay “một sự nhịn chín sự lành”. Một thế giới thật sự đẹp đẽ khi người ta không còn tranh chấp, thù hận, kèn cựa, ghét bỏ nhau. Đối với kẻ yếu, dĩ hoà là chấp nhận sự lấn áp của kẻ mạnh, không chống cự, không phản kháng, chống cự, phản kháng chỉ thêm u đầu chảy máu, thôi thì một sự nhịn có đến chín sự lành. Đối với người dân bị cường quyền áp bức, đương đầu chỉ nhận sự thiệt hại, nên đành “chín bỏ làm mười”, miễn cho qua chuyện. Với tranh chấp giữa hai người, giải hoà là điều khôn ngoan, vì người xưa đã nói “vô phúc đáo tụng đình”, kẻ bị thiệt cũng đành im lặng, kẻ thủ lợi cũng yên tâm vì không ai dám kiện ra toà án thêm dây dưa, tốn kém nên lần sau lại càng lấn lướt. Đó là bản chất “hiền hoà” của người Việt thích cầu hoà, an phận, khôn ngoan hay dại dột,”tuỳ người đối diện.”

Ngày xưa thời thơ ấu, đi học, bị lũ trẻ du côn hàng xóm chận đường, doạ nạt, chống lại, đánh lộn với chúng nó, về nhà cha hay, thì bị lãnh thêm một trận đòn với lời la rầy:“Mày có làm gì mới bị chúng hiếp đáp, sao không chịu nhịn chúng nó đi!” Vì vậy, lần sau, bị gây hấn chỉ còn cách bỏ chạy, cúi đầu nhịn nhục mà đi, hay dùng đường tắt mà lánh nạn, vì “tránh voi không xấu mặt nài” hay “thương cha chớ chọc người phàm.”

Tránh voi thì có gì mà phải xấu, không chọc người phàm còn được khen là con có hiếu. Vì vậy đi học thì bị bạn bè chơi gác, thầy bất công, đi làm thì bị đồng nghiệp lên mặt, sếp chèn ép là không dám nói một lời, vẫn được khen là người hiền lành, thuận thảo. Lớn lên, làm người, nhớ lời cha dặn, quen thói an phận, “một sự nhịn chín sự lành”, mọi việc đều qua! Xưa hay nay thì cũng vậy, những cơ quan như thanh tra, giám sát không thực hiện được chức năng “cầm cân nẫy mực” công chính của mình, bảo hoà xấu tốt, trắng đen, mọi hồ sơ đều tốt, mọi chuyện đều vô sự, bỏ qua tội lỗi của người thì phần mình lại càng có lợi.

Trong cộng đồng người Việt xa xứ, có lẽ vì lời kêu gọi “bầu ơi thương lấy bí cùng”, tôi xin sửa lại câu sau: “dẫu rằng xấu tốt cũng chung một giàn” nên cứ nhịn nhục. Bị ông bác sĩ bills tiền vô tội vạ, định phản đối, kiện tụng thì bạn bè khuyên răn “tiền Mỹ, tiền gì của mày!” hay “làm gì cho thêm mất thời giờ, rắc rối, làm thinh cho qua chuyện”. Bạn bè có người bị mổ lầm con mắt trái thay vì mắt phải, được năn nỉ mổ lại, mắt vẫn thấy đường mà đi, “có chuyện gì đâu mà làm ầm ĩ”. Nhận tiền cọc sửa nhà đồng hương rồi bỏ chạy, lường gạt, cũng cho qua, không kiện tụng, thêm rắc rối, chịu thiệt cho xong. Mua thức ăn siu thối cũng làm thinh cho qua chuyện, gia đình khuyên, “lần sau đừng mua là xong”. Một người làm nghề mua bán nhà, lấy hồ sơ của một người đã mua nhà với mình, dùng để mua nhà cho một khách hàng khác không đủ điều kiện, sự việc vở lỡ, thay vì vạch mặt chỉ tên để cộng đồng biết mà tránh, theo luật pháp là ở tù, thân bại danh liệt, nhưng là đồng hương với nhau, nhịn nhục cho qua, làm ơn làm phước, để đức về sau cho con. Chuyện cộng đồng có gì thì “đóng cửa bảo nhau”, đừng dở trò “vạch áo cho người xem lưng”. Lối cư xử “dĩ hòa vi quý” càng phổ biến thì, kẻ xấu vẫn nhan nhãn, lộng hành, nên người tốt vẫn chịu thiệt dài dài. Không ai đứng lên chống với cái xấu, vạch mặt chỉ tên để làm tốt cộng đồng, một phần vì sợ hãi, sợ phiền hà, một phần quan niệm “chín bỏ làm mười” … Cũng không ai đoàn kết với ai để chống gian trá, với quan niệm “đèn nhà ai sáng nhà đó”, “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”.

Thời phong kiến, bị nạn cường hào ác bá, bị vua quan bách hại, bị nạn cậy quyền, dựa thế, người dân Việt Nam vẫn có truyền thống chịu đựng, “dĩ hoà vi quý” cho xong chuyện, má sưng rồi thì cũng chẳng còn cần kêu mạ! Thời ông Khổng Tử cũng khuyên người ta thấy nước đạo thì ra làm quan, nước vô đạo thì lui về ở ẩn, quân tử như Bá Di, Thúc Tề chứ không khuyên người ta phải tranh đấu với cái ác, tranh đấu với nhà cầm quyền là làm loạn, bất nghĩa, bất trung, dĩ hoà để cầu an cho yên nước yên nhà. Trung Cộng thời nay phục hồi Khổng Giáo cho trên dưới có tôn ty trật tự, nước có Vua, làng có Thành Hoàng để dễ bề cai trị.

Thời Cộng Sản thì hoà hoãn, che dấu để chuyện khỏi xé ra to, dân khỏi làm loạn. Chuyện lớn thì “xử lý nội bộ”, chuyện nhỏ thì “đả thông tư tưởng” để đi đến việc đồng tâm nhất trí. Có mâu thuẫn nội bộ hay chống đối thì đã có chi bộ đả thông, thu xếp trước khi ra tập thể.

Nhà nghiên cứu Cao Cự Thanh cho rằng báo “Ong Đất” của Bungary đã có cái nhìn chính xác về thời kỳ “bao cấp” của chế độ Cộng Sản, một thời kỳ làm thui chột khả năng của con người, xuề xoà, xếnh xái, nhịn nhục, cái gì cũng “nhất trí” “tất tần tật”. Trong xã hội này:

– Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc.

– Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương.

– Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống.

– Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống.

– Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng (trong riêng tư).

– Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay “đồng ý”, “nhất trí”(ở chỗ tập thể).

Cuối cùng “úm ba la”, ba ta đều có lợi. Canh bạc cuối cùng: “hoà cả làng”.

Hoan hô lối sống “dĩ hoà vi quý”! Toàn dân nhất trí! Thế giới hòa bình!

***

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 6 Jun 2026

Tục ngữ Việt Nam có câu “Trời sinh voi, sinh cỏ,” hay “Trời sinh, Trời dưỡng.” Nếu quả thật là Trời hay có người cho đó là Thượng Đế  xếp đặt vũ trụ, thì khi sinh ra những sinh vật trền trái đất này thì Trời cũng phải cung cấp những gì cần thiết cho sự sống, dó là khi trời, nước và các loại trái cây, rau dại và thú hoang trên rừng. Đó là thời kỳ sơ khai của hái lượm và săn bắt, có sự góp sức của lữa để luộc, nướng. Sau thời kỳ này là giai đoạn gieo trồng và thu hoạch so với hái lượm trong tự nhiên tại Tây Á, Ai Cập và Ấn Độ …Nông nghiệp xuất hiện ở phía Bắc và Nam Trung Quốc, Sahel của châu Phi, New Guinca và một số khu vực của châu Mỹ. Cây lưong thực là các loai cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột trong khẩu phần thức ăn cho toàn dân số trên thế giới.

Hiện nay, trên thể giới có năm loại cây lương thực được trồng chủ yếu, bao gồm: ngô, lúa nước, lúa mì hay lúa mạch, sắn và khoai lang. Trong đó, ngô, lúa gạo và lúa mì chiếm khoảng 87% sản lượng lương thực toàn cầu và khoảng 43% calori từ tất cả mọi lương thực, thực phẩm. Trong khi đó lương thực chính của Việt Nam dã chiếm bốn thứ là lúa, ngô, sắn và khoai lang. Nghề nông, dù có sự tiến bộ cùa cơ khí, cũng là một nghề vất và, như lời Giê Su đã cảnh báo: “các ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn … ,” nhất là trong giai đoạn

chiến tranh, bom đạn, ly tán … nông dân không dược ra đồng, con người lâm vào cảnh đói, thì lúc bấy giờ những món lương thực căn bản, thô sơ như sắn khoai là “món quả” cứu tinh ma trời đã ban cho nhân loại. Dân miền Nam đã nếm mùi tân khổ sau tháng 4-1975 với khoai sắn và hạt bo bo (câv lương) mà trước kia chỉ dành cho gia cầm, gia súc, thậm chí có người chết dói vì không kiếm ra các thức ăn này. Hiện nay lục địa Châu Phi là nơi thiếu ặn nhất. Trong trường hợp này Thượng Để cũng đành bất lực! Thể mà bây giờ lại có người tìm ra chân lý: “Rượu vang là món qua của Thượng Đế!” Rượu vang (vin, winc) hay rượu chát, rượu nho cùng là một thứ. Vào thế kỷ VI, trước Thiên Chúa giáng sinh, người Hy Lap đã biết làm rượu đem qua bán ở Pháp vả từ Pháp xuất cảng rượu sang xứ Anh, nhưng sau đó, khắp Âu Châu bắt đầu sản xuất rượu vang. Dân La Mã (Ý cổ) cũng khoái uống rượu vang Pháp hơn là rượu vang La Mã. Đến thế kỷ thứ III hoàng đế La Mã Probus cho phép dân Gaulois trồng nho làm rượu tự do trong vùng đất do chính họ lựa chọn. Các nhà thờ Thiên Chúa Giáo cũng bắt đầu sản xuất và có những hầm lưu trữ rượu. Linh mục cũng đóng góp vào trong phần sản xuất và nhà thờ nào cũng có ruộng trồng nho, và cả xưởng làm rượu nho riêng, Thời ấy, các viên chức công quyền và tôn giáo, ai nấy cũng có khu trồng nho và làm rượu, ngay cả vua chúa cũng vậy. Trong khi các tôn giáo khác cấm dùng chất nước uống lên men, thì nhà thờ có món rượu lễ (Sacramental Wine.)

Uống rượu vang là một nghệ thuật, phải biết uống rượu loại gì tủy theo mỗi thức ăn và phải biết ăn món nào trước món nào sau cho đúng diệu và đúng khẩu vị. Từ đó ở Âu Châu có nhiều khóa dạy tổng quát các loại cây nho, vùng  trồng nho, cách làm rượu, hương vị riêng biệt của mỗi loại rượu, cách lưu trữ rượu, cách phục vụ rượu (khui rượu. ly dùng rượu, rót rượu … ), cách thưởng thức và phân biệt các loài rượu từng vùng cùng số năm tuổi của rượu. v.v …Trong khi người nghèo kiếm ăn, “ăn để sống.” thì người giàu dư dật, không phải sống chi để ăn, cho có ăn. mà người ta sống, để thưởng thức một bữa ăn ngon, dầu cho đó là một bữa ăn thanh đạm, hòa hợp với rượu vang cho đúng cách, sành điệu. Mặt khác, người ta còn khuyến khích dùng rượu vang như là một liều thuốc chống bệnh, rượu vang chứa rất nhiều chất thuốc, chống lại bệnh tim, bệnh ung thư phổi và ung thư nhiếp hộ tuyến. Những người dân ở vùng Tây Nam nước Pháp, uống rưou vang với món gan ngỗng, số tử vong rất ít về các bệnh tim mạch, hơn những nơi khác không dùng rượu chảt!

Rượu vang còn chứa đựng những chất polyphenols với những tính chất chống lão hóa (đặc biệt là chất catéchine).

Một bài báo khác, tờ New York Times’, đã nhấn mạnh trên để tài này rằng sự hiện diện của chất resveratrol trong vỏ nho ngăn chặn tác dụng của những mầm có khuynh hướng tạo ra bệnh ung thư. Đản bà mỗi ngày dùng tối thiểu hai ly rượu vang, tránh được bệnh ung thư buồng trứng, qua sự nghiên cứu của đại học Queensland ở vùng Brishane, Úc châu. Và các tạp chí y học cổ động rằng rượu chát đỏ góp phần giúp là bảo vệ hệ thần kinh, nhờ nang tinh toc hiện diện trong vỏ nho!

Nhưng liệu những dân tộc nghèo đói nhất trên quả đất này (cũng là sản phẩm của Thượng Để,) trong khi không có hạt gạo, hằng ngày bỏ vào miệng, phải ăn cả vỏ cây, liệu có thể nào chữa bệnh bằng cách mỗi tối dùng hai ly rượu vang không? Thượng Đế cho anh quả nho, quả táo, quả dừa, quả lê, quả sim … , có thể nói hàng nghìn loại cây trái, nhưng không hề dạy cách cho anh làm rượu vang, nên không thể nói rượu vang là món quà từ Thượng Đế. Nếu có, Thượng Đế phải đứng về phần đám đông nhân loại, phải cho lúa ngỏ được mùa, con bò, con dệ nhiều sữa, Nho được mùa chỉ làm cho các nhà sản xuất rượu giàu thêm và người uống rượu có thể trả ít tiền hơn cho một chai rượu. Theo thống kê của nghề rượu vang, trên quả đất này có 7 tỉ 180 triệu người nhưng chỉ có 100 triệu người hân hạnh được thấm môi “món quà của Thượng Đế” còn hơn 7 tỉ người chưa hề biết đến hơi hám của mùi rượu này, như vậy không lẽ Thượng Đế chỉ ưu đãi cho một thiểu số quá ít ỏi trong toàn bộ con cái của Người?

Chai rượu đắt nhất của thế giới là chai rượu xưa gần một thế kỷ. Rượu sản xuất năm 1907, được cho từ Pháp cho một gia dình hoàng gia Nga năm 1916, tàu bị chìm ngoài khơi Phần Lan, mãi đến năm 1997 thợ lặn vớt được 200 chại, giá cho một chai là $275,000. Chai rượu vang rẻ nhất ở Mỹ khoảng S3.00. Nó quả thật không cần thiết như rau, hạt, quả cho người lớn và sữa cho trẻ thơ. Một thiểu số người Việt từ lúc “nhờ” Tây đô hộ, được bước vào giai cấp mới, “ăn trắng mặc trơn,” mới biết nhấm nháp chút rượu vang và biết cám ơn Thượng Đế, mà quên Thượng Đế đã cho con người những món quà căn bản, như cỏ cho voi, nhưng bây giờ voi cũng không đủ có mà ăn, phải xuống bản làng quậy phá. Thượng Đế cho loài người quặng sắt để làm cuốc, xẻng.

dao, rựa, máy cày … nhưng chúng dùng món quà của Thượng Đế để làm bom, đạn, giáo, mác. Thượng đế cho con người trí khôn để sống no đù, nhưng chúng dùng trí khôn để tranh giành, lấn áp và giết hại nhau.

Cộng đồng kinh tế các quốc gia Tây Phi (ECOWAS) vừa thông báo khẩn cấp đến loại người: hơn 6 triệu người ở khu vực Sahel Châu Phi đang có nguy cơ chết đói, trong đó có một triệu trẻ cm. Thượng Đế bị trói tay hay vô cảm?

Xin cầu nguyện Thượng Đế mầu nhiệm cho thế giới qua cơn hạn hán, binh đao, cho mưa thuận gió hòa, lúa ngô được mùa, con người có thực phẩm, “hàng ngày dùng đủ,” và xin đừng rêu rao cho rằng “rượu vang là món quà của Thượng Đế” cho loài người, một sự áp đặt bất công, thiên vị, làm xấu đi hình ảnh Thượng Đế.

Hollandse Nieuwe Đặc Sản Hòa Lan

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post 13/6/2018

Post by Sơn râu 5 Jun 2026

      Hollandse Nieuwe là tên gọi của cá Haring đã cạo sạch vảy, lóc xương, chỉ còn hai miếng thịt nạc (filet). Hollandse Nieuwe có tên khác là Maatjesharing. Maatjesharing được gọi trại ra từ tên Maagdenharing, nghĩa là Haring còn trong trắng, tức con trống chưa có tinh trùng, con mái trong bụng chưa mang trứng. Nhưng trên thị trường và về mặt qui định về thực phẩm thì có sự khác biệt nhỏ giữa Hollandse Nieuwe và Maatjesharing. Chữ Hollandse Nieuwe chỉ được phép dùng để gọi cá Haring vừa được đánh bắt ngay trong mùa được phép đánh loại cá này, bắt đầu từ tháng Sáu cho tới tháng Mười. Một phần cá đánh được sẽ được ngâm dấm hoặc để nguyên con ngâm nước muối vừa phải hay lốc xương lấy filet muối thiệt mặng, để dành bán quanh năm, những cá này gọi là Maatjesharing.  
Haring thuộc giòng giống cá trích có tên gốc La-tinh là Clupea harengus, dưới ức màu bạc, lưng màu xanh dương. Cá Haring thường sống trong vùng nước lạnh từ Bắc Băng Dương xuống tới phía nam vùng vịnh Biskys và dọc theo bờ biển của vùng Groenland lên bắc Đại Tây Dương. Phía Đông bắc Đại Tây Dương là nơi sinh sống của loại cá Haring nhỏ con hơn các vùng khác. Chiều dài cá Haring tối đa 56 cm. Chất dinh dưỡng mỗi 100 gram là: 932 kJ (222 kcal), 16g dầu/mỡ, 18g protein v.v… Và có nhiều chất vitaminen: A1, B1, B2, B6, B12, C, D và E.  
Theo tài liệu nói về lá cờ Hòa Lan treo những nơi bán cá Haring và về những lá cờ nhỏ dán vô cây tăm cắm lên những miếng cá thì ngày đầu mùa, ngư phủ Hòa Lan đánh trúng cá Haring, đem về bến vào ngày thứ Bảy. Ngư dân làm lễ ăn mừng, họ treo cờ của vương quốc Hòa Lan khắp bến cá. Từ đó cho tới ngày nay những xe caravan bán Hollandse Nieuwe lưu động cũng treo cờ Hòa Lan mới toanh trên bốn góc mui đã trở thành tập tục. Trên kệ tủ kiếng để phía trước trên xe của người bán cá thường để một dĩa Haring cắt từng miếng nhỏ và mỗi miếng có ghim cây tăm, đầu tăm có dán một lá cờ Hòa Lan nhỏ xíu, đó là dĩa cá dành quảng cáo cho khách hàng ăn thử trước khi mua. Món Haring tươi sống chấm củ hành tây băm nhuyễn gọi là Hollandse Nieuwe đã trở thành món đặc sản của vương quốc Hòa Lan. Ai tới Hòa Lan vào bất cứ tiệm bán cá nào cũng thấy hình cá Haring đã được làm sạch, cắt bỏ đầu, lóc bỏ xương, chừa lại hai miếng thịt nạc để dính liền vô đuôi cá xếp ngay ngắn trong những chiếc khay, cạnh bên dĩa củ hành băm nhuyễn, trông vào phát thèm, chỉ muốn mua ngay một hai con ăn liền tại chỗ. Người nào không ăn được cá sống cũng có thể mua panaring, loại haring đã già và lớn con, đem về nhà chiên hoặc hấp. Ngoài ra có nhiều hãng chế biến Haring trộn xốt cà tô mát và dầu, đóng trong hộp thiếc và Haring ngâm dấm đựng trong những chiếc keo bày bán trong các siêu thị.   Trong làng đánh cá ở Urk, Hòa Lan, hơn mười năm về trước, vào ngày thứ Bảy tuần lễ đầu tiên của tháng Sáu, ngư dân nơi đây có tục lệ dọn ra chợ những con Haring từ biển mới đem về còn tươi rói và một thau củ hành được xắt mịn. Họ làm sạch cá ngay chợ và bán cho người đứng ăn liền tại chỗ. Có gian hàng chủ bày trò thách với khách mua, ai ăn được 23 (hoặc nhiều hơn, tùy nơi quy định) con cá Haring thì người đó khỏi phải trả tiền, còn nếu ăn ít hơn thì phải trả số tiền cá đã ăn. Cũng có nơi vài ba người đấu với nhau, ai ăn cá Haring nhiều nhứt thì thắng người ăn ít hơn, người nào ăn ít thì coi như bị thua và phải trả luôn tiền cá cho người thắng cuộc. Mùa nầy Haring mập, thịt cá rất nhiều mỡ, vậy mà có ông to con bụng bự ăn từ 28 tới 30 con Haring. Mấy năm sau nầy tập tục thi đấu ăn Haring nơi đây không còn nữa, cho nên chợ cá đầu mùa cá tuy vẫn đông, vui nhưng bớt đi vẻ rộn ràng.   Dân quý phái ở Amsterdam phần đông mua Hollandse Nieuwe đem về cắt ra từng miếng nhỏ, rắc củ hành băm lên rồi dùng nĩa ăn và những người bày tiệc cũng làm theo cách đó, nhưng ăn như vậy thì không đúng điệu ăn Hollandse Nieuwe. Muốn ăn Hollandse Nieuwe cho đúng điệu thì phải để nguyên con, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái cầm chót đuôi cá, nhúng cá vô củ hành tây băm nhuyễn trở qua trở lại cho hành dính đều vô cá, sau đó mới đưa cao miếng cá lên không và ngước mặt lên trời, hả họng ra táp từng miếng, vừa ăn những miếng Haring béo ngậy vừa nhìn được trời xanh, mây trắng và hớp được cả không gian trong mát của ngày xuân….    
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 Jun 2026

Xin bạn đọc chớ hiểu lầm là người viết bài này nói chuyện cũ, mời các bạn ăn bánh trung thu ế, bán sale vì thực sự trăng đã bắt đầu khuyết, và Trung Thu đã qua rồi. Nếu bài này đến tay bạn đọc trước lễ Trung Thu thì chúng tôi sẽ bị lên án là xoá bỏ niềm vui của trẻ thơ, phá hoại văn hoá cổ truyền, nói chuyện tào lao khiến người ta ăn bánh hết ngon và không chừng bị các nhà sản xuất bánh Trung thu kiện ra toà nữa cũng chưa biết chừng.

Người ta thường gọi Tết Trung Thu là Tết của Nhi Đồng, nhưng theo nguồn gốc Tết Trung Thu bên Tàu thì không thấy chuyện nhi đồng ở đâu cả. Số là ông Vua Đường Minh Hoàng bên Tàu vào một đêm trăng rằm tháng tám thanh bình, tiết trời thật đẹp, trăng tròn sáng tỏ, gió mát hây hây, ngự chơi ngoài thành gặp một vị Tiên giáng thế, đầu tóc trắng như tuyết. Ông Tiên hỏi Vua Đường Minh Hoàng là có muốn lên thăm cung Quảng không. Ông Tiên hoá phép ra một chiếc cầu vồng từ mặt đất lên đến cung Trăng và mời nhà Vua bước lên cầu vồng, đi đến cung Trăng. Ở đây có phong cảnh tráng lệ hữu tình, có những nàng tiên nữ nhan sắc với những bộ xiêm y cực kỳ lộng lẫy, nhảy múa theo những nhịp điệu Nghê Thường vô cùng uyển chuyển. Nhà Vua ngơ ngẩn trước cảnh đẹp tuyệt vời của thiên giới nên khi trở về lại hạ giới rồi nhà Vua Đường Minh Hoàng đem lòng lưu luyến cảnh Cung Hằng, và để kỷ niệm ngày du Nguyệt điện đó, nhà Vua đặt ra Tết Trung thu. Trong ngày Tết này người ta uống rượu thưởng ngắm trăng và vì vậy Tết này còn gọi là Tết trông Trăng. Nhưng con buôn bên Tàu biết làm văn hoá, biết sáng chế một loại bánh gọi là bánh Trung Thu và tạo ra cho người ta một loại văn hoá biết mua bánh và đi biếu bánh Trung Thu, trở thành một tục lệ lâu đời khó dứt ra được. Từ “một nghìn năm nô lệ giặc Tàu” đương nhiên chúng ta phải mang nét văn hoá của Trung Hoa, nên hồi nhỏ tôi cũng đã thuộc làu bài hát” “Tết Trung Thu thắp đèn đi chơi .. ” và còn nhớ cái kỷ niệm Tết Trung Thu năm 1948 khi còn học lớp nhì (lớp 4), tôi được xếp hàng rồng rắn trước Phú Văn Lâu suốt một buổi sáng để chờ lãnh một cái bánh nhỏ bằng ba ngón tay, nói là của “Đức Nam Phương Hoàng Hậu ban cho” mà lấy làm sung sướng hãnh diện lắm! Mấy năm về sau khi lớn lên, tôi không nhớ rõ là có lần nào được “thắp đèn đi chơi” không và hình như chưa bao giờ sở hữu được một cái bánh nướng Trung Thu, thường thấy bán ở các cửa hiệu trong phố Tàu của tỉnh lẻ dành cho các quan chức hay lớp nhà giàu. Lớn lên, tôi thấy đêm Trung Thu có trẻ con ra đường chơi thật, cũng có lễ phát bánh kẹo ở các cơ quan công quyền, nhưng chỉ dành cho những học sinh giỏi và áo quần bảnh bao, còn bọn trẻ ở xóm nhà nghèo chỉ biết thắp đèn trong ống tre và lon sữa bò bị vứt bỏ, móp méo. Không nghe nói gì đến chuyện bánh kẹo Trung Thu. Lớn lên nữa, lúc trưởng thành, tôi nghiệm ra phần lớn trẻ con chẳng biết Trung Thu là gì và đây chỉ là một dịp cho lớp công chức, quan lại trao đổi ơn nghĩa, mua bán, biếu xén, đền ơn đáp nghĩa. Ở nhiều trường học, trẻ em được phát kẹo hay một cái bánh bột như tôi thời tuổi nhỏ, nhưng nhà các cấp chỉ huy từ tỉnh trưởng, xuống đến quận trưởng, trưởng phòng thì những chồng hộp bánh nướng, bánh dẻo Trung Thu không có chỗ để. Loại bánh này là loại quà quy ước giao dịch, nó không phải là món ăn ngon, bổ dưỡng, mọi người đều thích và để lâu được. Sau Trung Thu bánh lại được ban phát xuống cho nhân viên, thân cận, lính tráng trong tư dinh, còn trong các trại gia binh, thì đèn đóm hắt hiu, ông Trăng không buồn chiếu sáng đến trên những mái nhà tôn ám khói. Mỗi mùa Trung Thu đến, các hiệu bánh treo đèn kết băng đỏ, treo tranh vẽ các nàng tiên nga múa hát khúc Nghê Thường, những hộp bánh để trong những tủ kính đèn đuốc sáng choang, trông rất hấp dẫn, nhiều khi khách hàng phải nối đuôi nhau để chờ mua. Những người này mua bánh đem biếu người khác, người này lại đem biếu người kia, xoay quanh như loại đèn cù kéo quân. Có lần một vị tỉnh trưởng biếu lại tôi một hộp bánh khá đắt tiền, ông nói nửa đùa nửa thật: “Về nhà cắt ra thấy vàng thì trả lại cho “moi” nghe!” Bánh mang đi biếu phải là loại đắt tiền, mua loại rẻ tiền đi biếu là thiếu tôn trọng, khinh người, không chừng bị xem là coi thường cấp trên. Một hộp bánh Trung Thu, tính vật liệu, công cán, giá không đáng một, bán ra thành mười. Rút cuộc, mỗi mùa Trung Thu, dân chúng người Việt làm giàu cho một số con buôn người Tàu, làm một mùa ăn suốt một năm. Người Việt không có nghề gia truyền làm bánh Trung Thu ngon, mà nếu có làm được, thương hiệu mang tên Việt Nam cũng chẳng ai thèm mua. Hộp bánh phải mang chữ Tàu và có màu sắc Trung Hoa. Bánh này là loại bánh nguồn gốc từ Tàu, do người Tàu sản xuất, nhập cảng sang xứ mình cùng với văn hoá Tàu, không nhiễm văn hoá Tàu thì ai mua bánh Trung Thu làm gì. Tôi chưa đi Tàu nên không biết Trung Thu bên Tàu người ta có ăn Tết Trung Thu lớn như dân Việt Nam ở Saigon và cả ở Mỹ không? Tôi chắc chắn là không. Văn hoá đẳng ngọn bao giờ cũng nở rộ, phát triển hơn văn hoá đằng gốc, bằng chứng là lễ Valentine và cả Giáng Sinh ở Saigon coi bộ còn nhộn nhịp ồn ào, tiêu pha nhiều hơn cả ở Mỹ và Âu Châu nữa.

Trước năm 1975 tại miền Nam, cứ sắp đến Trung Thu là dân chúng không có đường ăn, vì bao nhiêu đường các nhà sản xuất bánh Trung Thu Chợ Lớn đã đầu cơ tích trữ hết, Bộ Kinh Tế cũng bị gian thương thao túng. Tháng 6-1974, Saigon khan hiếm đường trầm trọng, bản thân tôi, một người lính có đơn vị ở Saigon cũng không mua được một gói đường nhỏ để uống cà phê, nói gì dân chúng ở thôn quê. Chạy ra tiệm “chạp pô” người Tàu mua 100gr đường trắng về, quậy vào ly cà phê đen thì ly cà phê thành cà phê sữa, vì gói đường đã bị pha bột mì, trong lúc đó Saigon có cả một công ty đường đồ sộ và đường vẫn được nhập cảng từ ngoại quốc về. Bánh Trung Thu bán đầy trong các khu phố lớn, hình như chỉ đành cho lớp người giàu có trong xã hội, con nhà nghèo không thấy bánh Trung Thu, ngoài loại bánh “hậu Trung Thu” phơi bụi đầy ở các bến xe, là loại bánh kém phẩm chất, rẻ tiền. Mỗi mùa Trung Thu đến, trong gia đình không thấy ai lo gì cho con trẻ, mà người lớn chỉ tính toán cần mua mấy cân bánh đi biếu ai trong dịp Trung Thu này và chính gia đình cũng nhận đuợc bánh Trung Thu bà con mang đến biếu. Không có bánh mang đi biếu cấp trên và cả lo cho nhân viên cấp dưới thì lòng không yên, vì đã lỡ ảnh hưởng loại văn hoá Tàu rồi. Số tiền bỏ ra để mua một hộp bánh Trung Thu quá cao so với chất và lượng của một hộp bánh, từ món “thập cẩm” có lạp xưởng, hạt dưa, hạt điều, vi cá, jambon, xá xíu, gà quay, hải sâm, tôm càng … rất “tạp pỉ lù”, đến hạng xoàng là đậu xanh một hoặc hai hột vịt. Nhất là từ khi chúng tôi lớn lên, chưa nghe ai phát minh ra được cái máy bóc hột dưa, mà chỉ nghe “các chú” có tài “phun hột dưa”, nghe cũng đã thấy kinh hoàng. Loại bánh Trung Thu này chắc hiện nay tại hải ngoại chúng ta cũng không để cho các con của chúng ta ăn, vì ngẫm lại có bổ béo, quý giá gì đâu! Vậy thì văn hoá Trung Thu còn lại dành cho ai, người lớn hay trẻ em. Đồng ý các cơ sở thương mãi thường làm ăn phát đạt theo những mùa lễ lược, nhưng liệu người Việt chúng ta chi phí cho ngày Lễ Mẹ, Lễ Cha hay Lễ Tạ Ơn có bằng số tiền bỏ ra để theo cơn sốt mua bánh Trung thu mỗi năm để phục vụ chuyện biếu xén cho người khác hay không?

Đó là lễ Nhi Đồng hay cho các ông các bà? Ở Việt Nam cũng như từ ngày sang Mỹ, chưa bao giờ tôi chịu xếp hàng mua bánh nướng cho ai, không phải vì thói vô ơn, mà cảm thấy đó là chuyện vô bổ, làm giàu cho con buôn … văn hóa Trung Quốc.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 Jun 2026

“Xin gọi trăng soi Khe Đá Mài

Thời gian rêu phú mảnh đầu ai

Bãi Dâu đau xót hồn Gia Hội

Phú Thứ tóc vương trãng cát dài

Huy Phương (Huế Oan Khiên)

Dù thời gian 45 năm đã trội qua, mỗi lần nhắc dến Huế, tỏi nghe như tiếng “Tết” và tiếng “Mậu Thân” đi liền theo sau đó. Tôi có mặt ở Huế từ ngày 28 tháng Chạp và rời Huế vào chiều ngày 23 tháng Giêng, năm Mậu Thân trên một chuyến tuần giang của Hải Quân Mỹ, từ bến tàu Toà Khâm trước trưởng Trung Học Kiểu Mẫu Huế dể vào Đà Nẵng. Khi từ vùng Chợ Cống chạy về lánh nạn trong khuôn viên trường học, nhìn về phía Thành Nội, tôi đã thấy cảnh lữa cháy bốn góc thành trong đêm, cũng như nhận chịu hơi bom cay, theo gió thổi bạt về phia bên này tả ngạn song Tương và chứng kiến những xác người được chôn vùi sơ sài trong khu vườn của ngôi trường học. Nói tôi là nạn nhân là sống sót cũng có phần đúng. Khi chưa chạy về được nơi tạm cư lánh nạn thì Việt Cộng đã có lần dứng trước của nhà, nơi đền thờ của An Thường Công Chúa. chúng không vảo nhà lục soát nhưng đứng ngoài sân quát nạt: “Tất cà ai trong nhà ra hết!” Gia đinh ông chú già, đản bà, trẻ con dều ra tập họp trước sân, trừ hai đứa chúng tôi, cậu em, một sĩ quan thuộc Trung Đoàn 1 Bộ Binh và tôi. sau nhữg ngày đói khát, lo sợ rã rời, đang nằm ngủ mê mệt dưới gầm giường, lọt giữa những bao cát chống pháo kích, không nghe, không biết gì cả. Nếu vào lúc ấy, chúng tôi thức giấc hay tỉnh táo, sẽ có phản ứng ra sao? Nếu vào lúc ấy, chỉ một tiếng gọi: “Ba ơi” của một trong những đứa con tôi, thì tôi đã không còn hạnh phúc, may mắn hôm nay, 45 năm sau, ngồi viết những dòng chữ này. Tôi xin nói thêm, tuyệt vọng và sợ hãi nằm trong hầm trú ẩn, tôi cầm cái máy thu thanh nhỏ áp thẳng vào tai, vào khoảng ngày mồng năm Tết, nghe qua đài phát thanh quân đội Saigon, hai phóng viên Phạm Huấn và Dương Phục đang tường trình về mặt trận Chợ Lớn, để thấy mình chưa hoàn toàn tuyệt vong và may ra có thể sống sót. Phải một thời gian dài sau khi Việt Cộng rút ra khỏi thành phố người ta mới tìm ra hầm chôn tập thể đầu tiên. rồi từ đó những hố chôn tập thể khác ở ngay trong thành phố, ra ngoại ô, rồi ở xa hơn như Khe Đá Mài. Tất cả các nạn nhân đều bị trói khuỷu bằng tre lạt, dây diện thoại, nhiều người xương sọ bị vỡ, phần lón nguyên ven, hay trong tư thế tuyệt vọng vì bị chôn sống. Nhân chứng Phan Văn Tuấn, năm Mậu Thân mới 16 tuổi là một học sinh trường Bồ tề Iuế, về sau là sĩ quan Pháo Binh VNCH, hiện sống tại Sydney- Úc, người đã bị Việt Cộng bắt đưa đi lảm công tác lấp đất chôn người, trong lần được ký giả Nam Dao lại Adclaide phỏng vấn, đã lên cơn hoàng loạn khóc nửc nở vì những ấn tượng không phai mờ, ám ảnh anh trong nhiều năm.

Sau khi về Saigon và tên Việt Cộng cuối cùng ra khỏi Huế, tôi đã có dịp trở lại dây một đôi lần theo Ủy Ban Truy Tầm và Cải Táng Nạn Nhân Tết Mậu Thân để chứng kiến những chuyện có thật như trên. Bản thân tôi cũng được Tổng Cục CTCT giao công tác trở lại Huế để sưu tập tài liệu thàm sát Mậu Thân, để có thể hoàn thảnh một tập sách tương tự như Bạch Thư. Cách sắp xếp của tôi là tiếp xúc với những gia đình của nạn nhân điển hinh, lấy hình ảnh lúc còn sống, tiểu sử nạn nhân, sau đó lấy đúng hình ảnh của nạn nhân đã bị thảm sát, thi thề đã đánh số sau khi được đào lên với giây trói hay sọ bị vỡ, ghi nhận chi tiết do Ủy Bạn Truy Tầm cung cấp, ghi số thứ tự từ 1 dến 100. Tiếc thay, tập sách (hay tờ trình) với đầy đù hình ành minh chứng. được đệ trình lên Tổng Cục Trường, đã bị bỏ quên trong một xó xỉnh nào đó, mà với một sĩ quan thuộc cấp như tôi không có quyền thắc mắc. 45 năm sau, Việt Cộng còn ca tụng cái gọi là chiến thắng Mậu Thân, và đổ tội cho hơn 6,000 cái chết của dân Huế là do bom đạn, phi pháo của phía Việt Nam và Mỹ tản sát. Chúng trả lời làm sao về những cái chết của các giáo sư y khoa Tây Đức, những linh mục, sinh viên, học sinh, người buộn bán và ngay cả những viên chức chính phủ VNCH bị “bom đạn” Mỹ giết lại được người cách mạng” chôn cất từ tế trong mấy mươi hầm tập thể trước khi rút lui.

Truy Tầm và cải táng có sự chứng kiến của các phái đoản ký giả quốc tế thường trực chẳng bao giờ tìm thấy trong các hầm tập thể này một đôi dép râu hay một cái nón cối, hoặc tai bèo! Vậy mà 45 năm sau vụ thảm sát này, những tên đồ tể tắm máu đồng bào Huế còn can đảm dựng lên một cuốn phim 12 tập, phỏng vấn những nhân vật gian trá, để lừa dối lớp trẻ mới lên và cả lớp người nhẹ dạ, u mê dưới bóng tối của chế dộ cộng sản rằng hoàn toàn khỏng có vụ gọi là “thảm sát Mậu Thân”. Một trong những “nhân chứng” được đạo diễn cuốn phim đối gạt này phóng vấn là NS Trịnh Công Sơn dã nói rằng “quân đội Bắc Việt Nam vô cùng nghiêm túc kỷ luật, khóng hề có chuyện thàm sát! “(1) Dù quen biết với Trịnh Công Sơn và gia đình ông, tôi phải đau  lòng tiết lộ rằng, Trịnh Công Sơn và gia đình đã chạy lánh nạn Cộng Sản từ vùng Phú Cam về tá túc ở trường Trung Học Kiểu Mẫu và đã được an toàn, sống sót như tôi. Được may mắn an toàn tại trường Kiểu Mẫu, ông biết gì về “quân đội Bắc Việt Nam” khi vào Huế mà phát biểu. Theo tôi, nếu Trịnh Công Sơn ở lại ngội nhà trên đường Nguyễn Trường Tộ hay chạy vào nhà thờ Phú Cam thì chắc chắn ông sẽ chịu số phận như 6,000 nạn nhân đồng bào bị chôn ở Huế. Cộng sản gian dối và luôn luôn lặp lại gian dối, ngay cả những điều mà chúng biết là gian dối vì nhu cầu tuyên truyền chính trị và ngay cả vì nhu cầu miếng ăn. Cuốn phim “Mậu Than 1968″ do bà Lê Phong Lan bỏ tiền túi ra thực hiện, nhưng khi làm xong thì đài Truyền Hình CSVN đã mua ngay để chiếu trong dịp Tết Quý Ty 2013. Tết Mậu Thân, gia đình nào ở Huế lại không có tang chế, Bảy năm sau, xương mục người nhân chưa tan rã hết, Việt Cộng vào, nhưng đau buồn và nước mắt, đồng bào Huế đành phải nuốt ngược vào lòng. Ằn ngang, nói ngược, “một lời nói là một đọi (bát) máu” như một thành ngữ của Huế, liệu cái chế độ vừa tàn ác vừa gian trá ấy còn sống bao lâu nữa giữa những lời nguyền rủa của người sống và nỗi oan khuất của người chết.

Hây nghe bốn cau thơ này của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

“Những chiều bến Ngự giăng mưa

Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi

Tôi ra mở cửa đón người

Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang!

(Địa Chỉ Buồn)

Còn ai đó nữa, nếu không là những linh hồn oan khuất của 1luế Mậu Thân đang kêu gào đòi nợ máu!

Một bữa cơm trên lưng

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 5 Jun 2026

(*) Một bữa cơm trên lưng: Tiêu lệnh cho người lính

thuộc đơn vị tác chiến nhảy dù trong Lệnh Hoạt Động Ngày Mai.

Nay bão lửa vây quanh

Người lính già gục mặt

Tưởng lại thời khó nhọc

Quê nhà xa chiến tranh

Tuổi trẻ nguyện ở lính

Gian khổ nên thường tình 

Tháng, năm không lễ, tết

Ngày ngày không bữa ăn

Cơm không dọn lên mâm

Chẳng dùng chén, bát, đũa

Bóp nắm mang lên lưng

Dừng quân dần ăn vội

Ồ hạnh phúc biết bao

Nấu được nồi canh nóng

Rau rừng quơ mấy nhúm

Nón sắt sủi hơi bùn

Thôi cũng là mãn nguyện

Điếu thuốc lá thần tiên

Hôm nay không đụng trận

Qua được giờ bình yên

Sau một đêm ngủ đỗ

Đợi ngày mai xung phong

Lên mục tiêu tuyến lửa

Chuẩn bị cơm trên lưng   

…

Quân ào tới sóng nổi

Quên hẵn mối hiễm nghèo

Nghiệp lính đời nguy biến

Đâu nề lửa đạn reo

Trận chiến dần kết thúc

Xác kẻ chết rách bung

Cục cơm nắm cắn dỡ

Còn nóng ấm hơi người

Ôi tuổi trẻ khốn khổ

Nửa thế kỷ trôi qua

Chết cùng đành quá tội

Chưa nuốt xong miếng cơm.

Nhân ngày 26/3//2026

Nhớ lần kết thúc cuộc di tản Cao Nguyên (16/3-26/3/1975)

Phan Phi Danh