Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 13 Aug 2023

  Tháng tám, mùa Thu năm Dậu, binh lửa khắp bốn phương, Hà Đô rực cháy ta lánh mình về ở Thạch Quận, nơi ấy núi đồi trùng điệp, khí lạnh căm căm. Nhân khi thong thả, có kẻ cho mượn một cuốn văn vần rách nát đọc giải khuây. Câu chuyện đời nàng họ Vương đã muôn phần éo le oan trái thời nhiễu nhương tao loạn, thật đau lòng rơi lụy; lại thêm lời thơ như ngọc chuốt, ta tuổi còn thơ cầm nước mắt không đang. Đến như Từ Hải đường đường một đấng mà cũng sa cơ làm ta xót xa tấc dạ.

Ta hỏi: Áng văn của ai mà trác tuyệt. Đồ trẻ ranh miệng còn hôi sữa biết gì mà nói, tuổi mày còn chưa được phép đọc nửa kể gì đàm luận, khúc Đoạn Trường Tân Thanh này là của Tố Như Tiên Sinh viết ra đã hơn một trăm năm. Từ buổi ấy ta lấy sách đó nằm lòng đọc đi đọc lại đến nỗi nhập tâm. Bao nhiêu dâu bể sống lên trong buổi nhiễu nhương bức rứt, đứng ngồi không yên, cảnh tang thương diễn ra như giấc mộng, tuồng đời lắm cảnh nhố nhăng khiến ta mỗi ngày một thêm yêu tay giang hồ Từ Hải, lòng những không yên tự hỏi: đời người anh hùng quả vậy chăng? Một đêm kia, ta đang đọc sách bên đèn trên lầu vọng nguyệt bỗng thấy một người oai phong lững lững vén màn đẩy cửa, đi vào ngồi xuống tràng kỷ đối diện với ta, xưng tên là Từ Hải. Vừa mừng  vừa lo, không biết mình tỉnh hay mê? Ta hỏi: Ông còn sống sao? Từ đáp: Ta vẫn còn sống, cảm vì thanh khí nên mạo muội đến hầu chuyện, uống với nhau chén rượu nhạt, hát với nhau một vài câu, chắc tiên sinh cũng chả chấp gì mà không cùng nhau vui ít phút nhất nửa ta cũng muốn kể lại cùng tiên sinh một vài sự thực của đời kẻ giang hồ này… Ôi câu chuyện ngày nào còn thảng thốt như một giấc chiêm bao, thực giả, giả thực nhiều lúc củng làm ta choáng váng chẳng biết ra sao. Khi tỉnh dậy ta vẫn còn nghe như tiếng ai trầm buồn bóng ai thấp thoáng, tiếng cười giọng nói như còn phảng phất. Từ đó đến nay câu chuyện vẫn còn in trong dạ đã nhiều phen cầm bút viết ra, nhưng giấy bút vẫn chừng như nguội lạnh, bao đêm trường thao thức nhiều khi muốn đoạn tuyệt với bút nghiên. Giấy mực còn có nghĩa gì nửa? chữ nghĩa thánh hiền mà làm chi?

Đêm qua ta lại thấy Từ Hải về đứng bên thư án hỏi: Tiên sinh còn nhớ kẻ hèn này không? Ta nói: Còn nhớ, quên sao được… Từ Hải trừng mắt nhìn ta: Sao tiên sinh không vứt bỏ bút, đốt bỏ sách mà cầm lấy một con chủy thủ? Ta buồn rầu: Con chủy thủ từ chàng Kinh Kha đến nay đã thất truyền, còn chăng là những con chủy thủ giả trong giới lục lâm. Từ Hải quát lên: Tiên sinh không còn một mũi nhọn nào khác sao? Ta lặng đi, đến khi nhìn lên thì không còn thấy Từ đâu nửa.

Đêm nay nằm nghe tiếng súng vẳng đưa vào kinh thành, trời đất u ám, ta nghe như tiếng quát của Từ Hải còn vang dậy. Ta thấy cần phải trả cho xong một món nợ nên ngồi vào thư án, thắp ngọn bạch lạp mà viết lại câu chuyện đời của Từ Hải này, một là để gởi cho vong linh của Từ Hải. Sau là để tạ ơn với Nguyễn Du tiên sinh đã cho một kẻ sống 200 năm sau được gặp một tay giang hồ cự phách.

Từ Hải dời bến lên tìm tửu điếm. Trời nhá nhem tối qua mấy con đường trong phủ vẫn không thấy một tửu điếm nào, mải cho tới cửa đông thành mới thấy mợt quán rượu lớn ngoài cửa có treo đèn lồng liền bước vào gọi rượu, chủ quán ngó vào mặt Từ Hải rồi từ chối:

_Ở đây không bán rượu anh sang cửa Bắc mà uống.

_Sao cửa tiệm bán rượu mà không bán rượu là thế nào. Nhà ngươi sợ ta không có tiền sao?

Vừa khi đó có hai người khách bước vào quán kêu rượu, chủ quán bỏ Từ Hải chạy vào kêu kẻ hầu mang rượu ra. Trông hai người kia có vẽ sang trọng hơn. Từ Hải đập bàn hét lớn:

_Tụi bay khinh ta không đáng uống rượu sao?

_Có lẽ anh ở xa mới tới nên không biết rằng nơi đây chỉ bán rượu cho các quan mà thôi. Anh sang cửa Bắc uống với tụi phu phen và lái buôn ở bên đó thì hơn.

Từ Hải nghe nói máu giận trào hông nhào tới thoi tên chủ quán một cái nhào vô tường té xỉu. Hai người khách ở bàn trong đứng dậy. Người cao lớn tiến ra chưa kịp nói nửa lời đã bị Từ hải đá chúi ngả vào gầm bàn. Người khách còn lại ra vẽ văn nhân đứng ở phía bên kia bàn nói ra:

_Nhà ngươi sao dám phạm vào quan Thái Úy, muốn chết hay sao?

_Thái gì, có thái thịt, mi muốn ta thái nó ra từng miếng mà nhậu nhẹt chơi không. Mi muốn sống hãy ngồi xuống, ngồi xuống, ta ra lệnh.

Người khách run sợ ngồi im. Từ Hải tới vực tên kia dậy rồi đặt ngồi trên ghế cùng tên chủ quán.

_Quán này dành cho các quan mà, toàn quan lớn cả, thằng thuyền chài này xin làm một tên lính hầu rượu cho phải phép. Tửu bảo đâu mang rượu ra đây.

Lũ hầu run sợ mang rượu ra, Từ Hải cầm cả vò đổ lên đầu tên Thái Úy và chủ quán.

_Uống đi mời các quan…ngàn năm một thưở kẻ hèn mọn du côn này mới có cơ hội để hầu rượu quý quan. À, quan lớn, mời quan lớn.

Người khách ngồi im như đã chết. Từ Hải đẩy một vò rượu qua nhưng khách vẫn ngồi im.

_Sao quan lớn, hay ngài không muốn dùng thứ rượu này. Tửu bảo hãy cho ta thứ rượu tăm Sơn đông ra đây, hãy hâm thật nóng. Tửu bảo mang rượu ra. Từ Hải mở vò ngửi ngửi rồi nhấc lên tu một hơi. Một hơi rượu làm Từ Hải tỉnh táo, Từ đưa tay quệt áo ngang miệng nhìn người khách vẫn ngồi im.

_Quan lớn, nhậu đi quan lớn, mấy khi tên cu ly này mới được hầu rượu quan lớn! Tửu bảo cho ta nửa con heo béo ra đây.

_Dạ thưa không có heo.

_Có thịt người không?

_Dạ… dạ…

Từ Hải hít mũi đánh hơi rồi xô ghế đứng lên đi thẳng xuống nhà bếp. Từ thấy có mấy đảnh thịt treo liền vớ lấy.

_Cái gì đây tụi bây?

_Dạ thịt cầy

_Thịt cầy thì tao không ăn được sao? Hay thịt cầy chỉ dành cho các quan lớn quan nhỏ nhà mày?

Từ Hải mang mấy đảnh thịt lên vừa ngoạm vừa uống rượu. Tên Thái Úy và chủ quán đã ngúc ngoắc cái đầu. Người khách vẫn ngồi im.

_A ha, quan lớn chê rượu Sơn đông à. Vậy thì có một thứ rượu chính hiệu Việt đông đây, kẻ hèn xin cam đoan là rượu tốt để dâng lên ngài dùng thử. Vừa nói Từ Hải vừa đứng lên hai chiếc ghế giang chân tụt quần ra và lấy chiếc bát cầm ở tay mà đái vào. Xong xuôi Từ Hải bước vào giữ đầu người khách mà đổ vào miệng. Hắn kêu ằng ặc như một con heo bị chọc tiết. Kẻ trong quán ngó ra xanh mặt.

Ăn uống no say Từ Hải đứng dậy kêu tửu bảo:

_Lúc các quan lớn trở dậy chúng bây nói lại rằng: Từ Hải, một tên chèo thuyền du côn ở bến Việt đông rất mong được hội ngộ quý quan…

Từ Hải chếnh choáng hơn men trở về bến miệng lảm nhãm văng tục. Lủ tửu bảo kinh hồn đứng ngó nhau, bởi cái tên Từ Hải làm họ rụng rời. Ở cái đất Việt đông này cái tên Từ Hải ai là chẳng nghe đến một hai lần bởi những hành tung của Từ Hải. Từ là một con người thuyền chài dưới bến, có võ nghệ, người đen đủi xấu xí, nhưng xử sự là một tay anh chị hào phóng. Hồi chưa có Từ Hải ở phủ Việt đông bọn du thủ du thực lưu manh phá phách thật khổ sở, chúng làm đủ mọi việc nhơ bẩn. Một tay Từ Hải đã làm cho bọn này khiếp sợ, kẻ thì bỏ đi tìm đất khác kiếm ăn, kẻ cải tà quy chánh làm đàn em Từ Hải, cho nên người ta gọi Từ Hải là “trùm du côn”. Từ Hải thấy chuyện gì chương tai gai mắt là chẳng bỏ qua giúp kẻ yếu trừ kẻ mạnh, lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo chẳng bao giờ thu cho mình một chút lợi nhỏ quanh năm đóng một chiếc khố rách. Bởi thế ai cũng kính nể, mến chuộng. Từ chỉ vui với đàn em và nghề chài lưới nể ai mời mọc trả ơn chàng thì nhận uống một bữa rượu suông cho say mà lấy làm thích. Uống rượu ngà ngà Từ Hải huyên thuyên hát và gảy đàn như một tài tử  nhàn du hạnh phúc. Viên quan ở đó có ý mến cho gọi đến sung vào lính. Từ Hải làm ngơ và từ chối: “Thưa quan lớn con chỉ là con nhà thuyền chài” Nhưng cũng vì những hành tung của Từ Hải mà bọn quyền thế thù ghét đã nhiều phen định hãm hại.

Chẳng bao lâu viên quan cai trị cũ bị đổi. Viên quan mới hống hách thêm vào bọn sai nha quấy phá. Những chuyện đo nhiều phen làm Từ Hải tím mặt bầm gan. Rồi bổng đâu có một tin sét đánh tới tai dân chài: Viên quan ra lịnh trưng dụng tất cả thuyền bè để chở đá về Bắc kinh xây dựng hoàng cung. Đó cũng là vì viên quan muốn lập công với triều đình. Lệnh vừa ban ra dân chài lo sợ cho đời sống. Họ chỉ còn biết nhìn nhau khóc. Lời ta thán kêu ca tưởng thấu tới trời. Từ Hải liền tụ tập mọi người kéo tới cửa phủ để kêu xin. Nhưng cửa phủ đóng kín, lính canh nghiêm ngặt không cho vào. Chẳng những thế lính canh còn được lệnh đánh đuổi lũ dân đen. Những ngọn roi đã quất xuống. Từ Hải cáu giận quát lên:

_Sao lại thế được không có dân chúng bây làm quan với ai? Chúng bây muốn chết không có đất chôn phỏng?

Từ Hải liền trở về. Đêm hôm đó liền tụ họp mọi người lại tìm cách đối phó. Từ Hải bàn cùng mọi người xem phải làm thế nào. Nhưng rồi chẳng biết phải làm sao.

_Tại sao chúng ta lại phải chịu mãi sự bất công? Chúng ta đâu phải súc vật để chúng nó làm sao nên vậy. Bà con cô bác nghĩ xem. Tôi chỉ muốn bằm cho chúng nó mấy nhát rồi ra sao thì ra.

_Nhưng sức chúng ta yếu.

_Không, chúng ta không yếu nếu chúng ta hợp sức với nhau. Tại sao chúng ta lại không chống cự?

_Anh định rủ bà con làm loạn hay sao?

_Làm loạn là thế nào? Ai lại không muốn yên ổn làm ăn? Nhưng bây giờ người ta có cho mình sống như thế không? Sưu cao thuế nặng, nay mai việc khác ăn không ngon, ngủ không yên. Kẻ trên không đoái đến dân chỉ lo thụ hưởng, chất chứa bạc vàng, xây dinh thự, đàn ca hát xướng. Kẻ dưới cậy quyền hà hiếp dân chúng. Miếng ngon của lạ bị cướp, vải lụa bị thu không còn mảnh khố che thân. Gái đẹp bị mang đi rồi thải ra cho làm đĩ… Bao nhiêu việc đó ai không thấy, có mắt tai để đâu mà không biết. Vậy thì ai làm loạn? Thời như thế này đã chẳng phải là loạn hay sao? Chúng ta không muốn loạn, không làm loạn mà chỉ muốn hành động để được sống yên…Nay chúng ta chỉ còn mấy mảnh thuyền nát, gạo không còn một hột, tiền không còn một trinh, sống chỉ nhờ vào cái thuyền, nay lại trưng dụng để đi chở gạch xây nhà cho quan ở, như vậy thì khác nào chúng giết dân chài. Chúng ta bị chăt cụt tay chân… Lẽ thiệt hơn như thế tôi nói để bà con cô bác hay. Chẳng lẽ lại ngồi nhìn nhau mà chờ chết hay sao?

_Nhưng nếu chúng ta không chống nổi triều đình?

_Sao lại không? Chưa hành động mà đã sợ thất bại là làm sao? Chẳng qua ở đời này ai cũng một lần chết. Như vậy chọn cách chết nào tốt đẹp cho cuộc sống thì thôi chớ. Được thì sống, thua thì chết là lẽ thường tình…Ai theo tôi?

Câu hỏi cuối cùng đầy vẻ quyết liệt làm cho mọi người im lặng. Cả một vùng bến nước đắm vào nỗi hoang mang lo lắng. Những chiếc thuyền đứng im, người ta chỉ nghe thấy những tàn đuốc rơi xuống mặt nước sèo sèo. Từ Hải đưa mắt nhìn vào hơn hai trăm chiếc ghe chài châu đầu vào nhau thành một vòng tròn. Trong nền đêm ánh đuốc soi chập chờn vào những khuôn mặt đen bóng khắc khổ. Những mái tóc bạc chen vào những mái tóc xanh. Những con mắt tư lự, đôi môi ním lại uất ức. Họ đã đồng thanh theo Từ Hải. Sau khi các thuyền bè đã tản ra Từ Hải tụ anh em lại bàn tính mọi việc. Sáng hôm sau Từ Hải loan báo cho dân chài biết hết, trưa mọi người sẽ rời bỏ bến kéo đi, đám thanh niên lựa lấy những chiêc thuyền tốt giữ lại còn bao nhiêu dồn lại một chổ rồi phóng hỏa đốt hết, lửa cháy rực trời cả bến Việt Đông, dân phủ náo loạn kéo xem. Quan Phủ nghe tin mang lính ra thì chỉ nhìn thấy những mảnh ván trôi lều bều trên mặt nước, dưới bến không còn một chiếc thuyền liền bắt người tra khảo nhưng chẳng ai cung khai điều gì. Tức giận viên phủ quan sai chém đầu mười kẻ bêu xác trên cửa thành và tuyên cáo lùng bắt đám dân chài nhưng họ đều đã đi mất tăm. Từ Hải dẫn đàn thuyền ẩn vào khu rừng lau ở giáp phủ Việt Đông với Uyển thành. Sau biến cố ở Việt đông viên quan vội vàng viết biểu về triều. Minh Thế Tổ lúc đó đang tin dùng lũ hoạn quan. Bao nhiêu quyền bính ở cả trong tay bọn dua nịnh nên kỷ cương nát bét. Giặc giả nổi lên tứ tung không làm sao đánh dẹp được. Dù vậy việc ở Việt đông lại được chú ý vì công việc xây dựng một hành cung trở thành quan trọng. Nhưng khi quân đội tới nơi củng chẳng có ai mà đánh ngoài việc cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà.. dân chúng thêm phần cực khổ, thanh niên phẫn uất bỏ đi theo Từ Hải thêm đông. Ngày thao luyện võ nghệ. Đêm đêm giong thuyền đón chặn những thuyền buôn lấy lương thực, đón bắt những lính tuần, cướp phá những kẻ quyền thế giàu có, cùng những tên quan hà hiếp dân lành. Tiếng tăm Từ Hải mỗi ngày một vang động khắp cả vùng Sơn đông. Nghe đến tên Từ Hải bọn quan lại đều run sợ. Chẳng bao lâu Từ Hải đã chiếm được một vùng ven biển làm bản doanh, thanh thế mỗi lúc một lừng lẫy. Những kẻ bất mãn với triều đình, những kẻ bị hàm oan, những kẻ có máu thảo khấu cùng tìm về tụ tập dưới trướng Từ Hải trong số có bọn thảo khấu Vương Trực ở Giang Nam, bọn Tứ Quái ở Thiểm Tây, bọn Từ Văn Trường ở Sơn Âm và nhiều thanh niên có máu giang hồ hảo hớn ưa chuyện phiêu lưu cứu khốn phò nguy khác.

Với lòng ngay thẳng thái độ khảng khái kiên cường Từ Hải đã nêu cao ngọn cờ đại nghĩa trước đám dân đã chán ghét một triều đình bất lực thối nát nên mỗi lúc ngã theo một thêm đông. Lòng người như thác lũ cuộn lên tưởng như có thể cuốn đi tất cả những gì đang ngăn chặn, ngăn cản, đè nén trên cuộc sống, Nhưng vì giòng nước không chảy về một phía mà đổ về nhiều đám giặc nhỏ, chia thiên hạ ra từng khu vực  mỗi kẻ hùng cứ một phương, xưng hùng xưng bá, tình cảnh nhiễu nhương thật không thể nào tả xiết. Nổi lên ở Việt đông, dần dần Từ Hải xua quân xuống miền Nam tung hoành như giữa chốn không người; chẳng bao lâu chiếm cả vùng duyên hải. Đại quân kéo xuống chiếm Lâm Thanh, Châu Thường và đóng tại đó, thế quân như thế chẻ tre. Các thành Vô Tích, Hàng Châu, Châu Thai bị đe dọa, chỉ mới nghe tiếng Từ Hải nhiều tên quan đã bỏ thành trốn hoặc sửa soạn đầu hàng. Dự định đánh một trận lớn để gây thanh thế Từ hải quyết định hạ trại, đóng quân thao dượt binh mã, chiêu nạp thêm quân lính rồi một mình cùng mấy kẻ hầu cận cải dạng xuống phương nam xem tình hình, trong đám có Từ Nguyệt Minh người ở Sơn Âm hiệu là Văn Trường trước vốn là thượng khách của Hồ Tôn Hiến. Từ Văn Trường là kẻ có học, văn hay chữ tốt, không sách gì là không đọc, tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ, nhưng thiếu bè cánh, không được trọng dụng nên sinh ra bất mãn, du sơn du thủy. Cái học không được đặt đúng chổ khiến cho Văn Trường thành kẻ trụy lạc, chỉ lấy thú vui rượu chè đĩ điếm làm hứng cho văn chương.

Khi trước Văn Trường đã từng đến mua vui ở Hàng Châu, thủ phủ có hàng mấy ngàn nhà điếm, chính ở đó Văn Trường đã chứng kiến chuyện viên Thái Thú Hàng Châu là Liễu Tuyên Giáo vì không ưa những kẻ xuất gia thờ Phật nên rắp tâm dùng bọn gái điếm cám dỗ khiến nhiều nhà tu phá giới. Đến lúc sau Thái Thú Liễu Tôn Giáo bị đổi đi. Trương Nguyên Biện đến thay thế, chính người này đã tiến cử Văn Trường với Hồ Tôn Hiến. Thái thú Trương Nguyên Biện ghét bọn gái điếm nên tìm cách đuổi đi hoặc giết những gái điếm trước kia trong viện Hồng Liên theo Liễu Tôn Giáo hại nhà chùa đều bị Trương Nguyên Biện giết hết con số lên đến hàng mấy ngàn người. Vì có chút cảm tình với nàng Vương Thúy Kiều nên Văn Trường đã xin cho nàng thoát nạn ấy. Do chuyện cũ Văn Trường đã đề nghị với Từ Hải ghé vào Hàng châu để nhân cơ hội gặp lại người xưa và để ăn chơi thỏa thích ít ngày, sau những gian nan khổ sở thiếu rượu, đàn bà, ca hát. Trên chiếc thuyền xuôi gió Văn Trường nói với Từ Hải:

_Tôi nghĩ rằng đã đến lúc tướng quân phải xưng đế hiệu để lấy danh nghĩa cho dân chúng theo. Chứ chẳng lẽ mãi mãi chúng ta chỉ là một phường cướp biển.

_Ông muốn được làm quan lắm sao? Ngó bộ mình làm như thế này không có chính nghĩa sao? Ta thấy ta chẳng xứng để mà xưng đế, làm một tên thuyền chài mà sánh với những Lưu Bị, Lưu Bang e không chính danh? Và có lẻ ta chỉ hợp được là một tên du côn rong chơi? Thực tình ta đâu có muốn làm chuyện này, làm một đế vương có gì là sướng nhỉ, không may lúc sống có thể bị chặt đầu, khi chết bị quật mồ. Làm một người dân thường ở vào buổi thái bình yên trị ta cho là hạnh phúc hơn hết. Không đành được sinh vào thời rối loạn thân chẳng yên mà ta phải hành động. Ta ước sao bây giờ có kẻ tài đức, thu thiên hạ về một mối mang lại đời sống yên ấm thái bình, ta chẳng tiếc gì mà không mang thân làm kẻ xách dép, cầm roi theo hầu. Ông có thấy lúc này dời bỏ được chốn ba quân, ta thảnh thơi vui sướng biết là bao nhiêu. Bây giờ ông hãy ngâm vịnh đi quên những việc chúng ta đang làm. Suốt đời, khi ăn, khi ngủ, lúc chơi bời mà cứ phải đóng vai tướng quân quả thật ta chẳng ham. Được làm ông trời mà phải bỏ rượu, bỏ hát, đàn địch, xa bạn bè, bỏ đàn bà thì ta cũng chẳng làm. “Bán khiên cung kiếm, nhất trạo giang sơn” ta hiểu vì sao Hoàng Sào chỉ là giặc Hoàng Sào mà không là hoàng đế Hoàng Sào. Lưu Bang chỉ là một tên xã trưởng tầm thường. Lưu Bị chỉ là một tên dệt chiếu, tôi nghĩ làm nên nghiệp đế đâu có khó gì, trong lúc tướng quân có binh hùng tướng mạnh lại ở lúc xã hội rối ren, triều đình mất cả chính nghĩa…

_Thôi, ông đừng khuyên ta chuyện đó. Bây giờ chúng ta ở đây, chung đụng với nhau, còn thương yêu dân chúng, còn quý mến bạn bè. Ta sợ khi làm vua rồi ta chẳng còn được cùng ông suôi thuyền mà đi tìm gái như thế này. Địa vị, quyền bính, vinh hoa sẽ làm cho chúng ta quên hết. Ta sẽ thành một hôn quân, ông sẽ thành nịnh thần tham nhũng và thật mệt cho dân chúng lại phải nổi lên mà lật đổ chúng ta…Ông đọc sách thánh hiền nhiều hơn ta sao chẳng biết chuyện đó, những chuyện liên tiếp xảy ra trong lịch sử. Văn Trường nghe Từ Hải nói trong bụng không vui. Vì ý Văn Trường trong lúc theo về với Từ đâu chỉ muốn làm một tên giặc biển, mộng của ông đặt vào lúc lập được triều đình làm một quan đại phu.

Từ Hải uống hết vò rượu này sang vò rượu khác, chàng lấy ra cây đàn vừa gảy vừa cất tiếng hát, trong giây lát chàng đã biến từ một tên tướng vũ dũng thành một nghệ sĩ say sưa trong cõi mộng. Lúc sau Từ hỏi Văn Trường:

_Ông ăn chơi lọc lõi đã nhiều vậy ở đất Hàng châu này có chổ nào đáng là đệ nhất lầu xanh?

_Xưa kia, viện Hồng Liên là đáng kể, nơi đó có một nàng ca kỹ tên Vương Thúy Kiều đáng được tôn là nữ hoàng. Tôi đã biết hàng vạn gái chơi ở Hàng châu này nhưng chưa thấy ai có thể sánh được với nàng. Khách giang hồ, tài tử sành điệu đã nhiều kẻ chết. Nay không hiểu nàng có còn ở đó chăng?

_Trong đám làng chơi lại có kẻ như thế được sao?

_Tôi nghe kể lại nàng vốn là con một nhà gia giáo, khốn nổi lúc gặp gia biến cha bị hàm oan, khiến nàng phải bán mình chuộc tội và số mệnh đưa nàng vào chốn thanh lâu. Nàng có hương sắc mặn mà, nghề chơi lão luyện, cầm kỳ thi họa đều trác tuyệt, quả tôi chưa gặp ai như thế.

_Ông dám chắc như vậy?

_Hẳn ý tướng quân vẫn ngờ về những gái làng chơi tầm thường vì hư thân mất nết đàng điếm mà dấn thân vào thường tìm lý do bào chữa, tự vẽ ra một quá khứ để lừa mình, lừa người. Quả nàng họ Vương không thuộc hạng đó, chẳng phải ai nàng cũng tiếp, mà được tiếp ít ai đã được ân cần. Chính tôi đây vẫn chưa được gần nàng. Tôi chỉ mong sao trong đời được một lần uống rượu trên người nàng.

_Nghe ông nói ta thấy ham quá. Tới nơi mong cho chúng ta có thể gặp được.

Sau quãng đường dài Từ Hải cho mấy tên bộ hạ phân tán đi thám thính còn chàng và Văn Trường thì đi kiếm nàng họ Vương. Là một dân thuyền chài rồi lại bôn ba mấy năm liền chưa biết những thú ăn chơi của bọn giàu sang quyền thế nên Từ Hải không khỏi ngạc nhiên bàng hoàng giữa thủ phủ Hàng châu, liên tiếp nhau những cao lâu tửu điếm, trà đình, những nhà chứa xây cất nguy nga như cung điện kể cả hàng mấy ngàn giai nhân tài tử, quần áo nhung lụa, lên xe xuống ngựa nhộn nhịp không thể đếm xiết. hàng châu trong những năm cuối đời Minh là một kinh đô văn hóa và truỵ lạc. Bọn văn nhân tài tử bốn bề tụ về ngâm vịnh, trên vách tường, bàn ăn ghế ngồi hiên nhà chốn lầu xanh chi chít những bài ngâm vịnh mang đủ mọi tên tuổi ca ngợi những đóa hoa biết nói hoặc suy tụng lạc thú. Những kẻ nhiều tiền, những viên chức cao cấp lâu lâu lại giả dạng tới chẳng thiếu mặt một ai. Họ bòn mót của dân bằng hà hiếp, hối lộ, thụt két, đến kẻ gian thương cho vay cắt cổ…cuối cùng lại mang tiền đó đến Hàng châu mà thiêu trong cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Vì thế con gái nhà lành trong thiên hạ hoa mắt vì ăn chơi kéo nhau đến Hàng châu làm đĩ mỗi lúc một đông, nghề nghiệp nhàn hạ, lại được ăn ngon mặc đẹp, có kẻ phúc mai bỗng một sáng một chiều trở thành mệnh phụ. Làm đĩ quả là nghề đi buôn không mất vốn mà dễ được giàu to bởi hoàn cảnh nhiễu nhương suy đồi tạo thành.

Tìm kiếm hỏi thăm mãi sau Văn Trường và Từ Hải mới thấy được nơi ở của Kiều. Nàng ở một căn lầu nhỏ nhưng tráng lệ nguy nga trong một khu rộng lớn với nhiều nhà khác nhưng thuộc hạng rẽ tiền. Nhận được mặt ân nhân Kiều vô cùng mừng rỡ rước lên lầu. Từ Hải lại trút ra một số bạc lớn nên mụ chủ chứa chỉ biết cuống cuồng ra lệnh sửa soạn tiệc rượu để cung phụng vì gặp một món khách sộp. Vừa gặp mặt Kiều, Từ Hải đã say đắm. Thấy Từ đã hợp ý Văn Trường rút lui xuống nhà đi kiếm gái khác để cho Từ Hải và Kiều mặc tình mây mưa. Lâu ngày không gần đàn bà nên Từ háo hức như trâu bò được ngày phá dỗ, còn nàng Kiều cũng thấy sung sướng vì gặp một người con trai không phải nhà nghề giở những trò kinh tởm hành hạ nàng. Sau những phút say mê Từ bắt đầu tâm sự với Kiều, trong thâm tâm chàng nảy ra niềm trắc ẩn, thương yêu. Sao một người con gái như nàng mà phải đày đọa như vậy cùng với mấy ngàn con gái khác ở đất Hàng châu này. Trong số đó chắc cũng có kẻ hư hỏng còn thì ai không muốn có tấm chồng, một bầy con và một đời sống lương thiện. Cũng như chàng, cả những kẻ theo chàng ai không muốn được sống yên ấm trong một mái nhà. Hoàn cảnh khắc nghiệt và một nền cai trị hư hỏng như bầu khí độc đã làm tiêu ma bao nhiêu con người.

Từ Hải nói cho Kiều nghe đời sống của mình, chàng kết luận:

_Thiên hạ bảo anh là du côn, du kề và bây giờ là một tên giặc biển. Trong phòng này, trên giường này, trước mặt em chắc đã có những tên đại phu, những thằng đại tướng, những phường khoa bảng, những kẻ đầy chức tước quân công, bằng cấp, quỳ gối khom lưng năn nỉ em . Như vậy em có buồn vì anh chỉ là một tên du côn, giặc biển không?

_Em cũng muốn làm du côn làm giặc như anh vậy. Em khoái du côn lắm, du côn là chơi gậy, chơi gậy thì tốt không nham hiểm, lươn lẹo độc ác. Chẳng qua em giờ là một con đĩ, đĩ với du côn như nhau. Phải không anh?

_A, hay lắm không ngờ anh lại gặp được tri âm. Ừ nhỉ, tại sao du côn, đĩ không phải là những kẻ đáng giá hơn hết ở vào thời buổi này. Tại sao mình không thể lập một “triều đình du côn”. Anh là hoàng đế, em là hoàng hậu du côn?

_Anh có say không đó?

_Không, anh mà say thì anh đã mất đầu lâu rồi. Đi làm loạn thì không được say, vì anh say thì bộ hạ biết còn trông vào ai?

_Anh là tướng lớn vậy sao?

_Có đứa nó còn xui anh xưng đế hiệu nửa.

_Trời ơi, như vậy thì em có muốn làm vợ anh cũng chẳng được, một hoàng đế, một vị tướng quân mà lấy vợ là một gái điếm thì còn thể thống gì nửa?

_Trời ơi, em tưởng chứ, bọn nó điếm đến mấy lần, điếm mà không nhận là điếm. Tiên nhân chúng nó, điếm từ trong triều đình điếm ra. Vua đĩ, quan đĩ, tướng đĩ, cho nên thời mói loạn, dân mới khổ. Em mới thế này, anh mới thế này chứ. Như vậy làm điếm như em biết phân biệt người, biết kẻ tri âm, cũng như anh làm du côn, làm giặc mà còn bằng vạn bọn nó.

_Chết chết, anh say thật rồi đó.

_Anh không say, nhưng lòng anh như lửa đốt. Đâu anh muốn thế này, đâu em muốn thế này. Anh chỉ muốn có một chiếc thuyền, một cây đàn… Những kẻ bỏ nhà theo anh đâu muốn làm giặc. Quả anh bây giờ chỉ muốn đốt bỏ căn nhà này, hỏa thiêu cả thành Hàng châu giải thoát cho bao kẻ phải chịu kiếp khốn khổ, đem thân hầu hạ bọn người giàu có quền thế bất nhân trong thiên hạ. Chắc em cũng muốn như thế?

Giọng Từ hải như thét lên có lúc như tiếng thép chạm nhau, có lúc quằn quại  như cơn lốc, có lúc ồ ạt như sóng dữ, rồi trầm xuống xúc cảm thân yêu. Bao nhiêu năm lăn lóc trong đời nay Kiều mới gặp được một kẻ như thế. Nàng xúc động ứa nước mắt. Nàng như con chim bị nhốt chỉ muốn tháo cũi sổ lồng mà bay lên trời xanh. Chung sống với nhau Từ Hải và Kiều mỗi lúc thêm quyến luyến như chẳng muốn rời. Từ Hải bỏ tiền chuộc Kiều khỏi chốn lầu xanh và cùng nàng trở về chốn ba quân phong làm phu nhân, mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm.

Vui chơi ít ngày thỏa thích rồi Từ chỉnh đốn quân mã xuống hạ thành Châu thương, Lâm thanh dễ như trở bàn tay. Quân sĩ triều đình phần bỏ chạy như vịt, phần quy hàng. Từ liền kéo quân xuống vây Hàng châu. Văn Trường vốn nhơ ơn cũ của Thái thú Trương Nguyên Biện nên xin vời Từ vào thành thuyết phục Nguyên Biện ra hàng. Từ Hải còn ngần ngừ, Văn Trường liền nói:

_Tôi theo tướng quân đã lâu, ân huệ được hưỡng đã nhiều vậy nay xin cho tôi trước là được lập một chút công mọn, sau là tôi trả ơn cho một người bạn cũ đã giúp đỡ thưở hàn vi. Vả tướng quân cũng không muốn việc đâm chém, trong lúc lửa đạn biết bao kẻ vô tội phải vong thân.

Từ nghe phải liền cho Văn Trường vào thành thuyết Trương Nguyên Biện. Được tin báo có Văn Trường xin vào thành Nguyên Biện ra lệnh cho lính mở cửa mời vào rồi bước xuống thềm. Thấy Văn Trường, Nguyên Biện vội vái chào rồi nói:

_Không ngờ lại được hội ngộ cố nhân ở hoàn cảnh này, tôi nghe nói tiên sinh ở hàng ngũ của loạn quân nhưng không tin, chắc tiên sinh đến đây để giúp tôi cùng giữ thành và dẹp giặc, như vậy thì làm gì chúng ta chẳng thắng.

Văn Trường bị chăn họng trước không  biết nói sao, rốt rồi phải làm nước bài bây:

_Quả đúng như người ta đã nói với tiên sinh, hiện tôi ở dưới trướng Từ Hải. nay thấy  thành bị vây khốn nên xin vào đây gặp tiên sinh mang điều lợi hại mà bàn luận.

_Chết nổi sao tiên sinh lại có thể làm thế được. Như vậy chắc là tiên sinh vào đây thuyết phục tôi hàng giặc mưu phản lại triều đình mà tôi đã gội ơn mưa móc?

_Tôi vẫn biết tiên sinh có mắt thấy được người nên xưa kia đã tiến cử tôi với Hồ Tôn Hiến. Tôi tưởng đã có chổ dung thân mang chút tài mọn phò vua giúp nước. Nhưng triều đình nay không còn xứng chổ triều đình nửa. Sự hưng vong lẽ biến dịch là điều phải đến, phải có không ai cưỡng được. Từ Hải dấy binh cứu dân dựa vào lòng người nên đi đến đâu thâu được nhân tâm đến đó. Xưa kia Hán Cao Tổ chém rắn dấy nghiệp chỉ là tên xã trưởng, diệt được nhà Tần cũng chẳng phải là giặc sao! Tôi thiết nghĩ giặc hay không giặc chẳng thể đứng ở một phía triều đình mà định được. Tôi vào đây trước là tình bạn cũ sau là lẽ thiệt hơn, rốt là sinh mạng của binh sĩ và lê dân mong tiên sinh nghĩ lại để chúng ta cùng giúp Từ Hải mà lập nên nghiệp lớn, mang thái bình lại cho thiên hạ.

_Ý tôi đã quyết sinh ra tôi chỉ thờ một chúa. Kẻ sĩ học chữ thánh hiền trước phải lấy đạo trung làm trọng, sao lại có thể nay theo kẻ này mai theo kẻ khác mong vinh thân phì gia, như vậy chẳng phải là phường cầm thú hay sao?

_Tôi đọc sách thấy Hoài Âm Hầu bỏ Sở Bá Vương mà theo Hán. Công tử Củ chết, Thiệu Hốt chết theo mà Quản Di Ngô chịu ở tù về phò công tử Tiểu Bạch… Như vậy có phải là bất trung đâu. Người quân tử không vì tiết nhỏ mà bỏ việc lớn. Nay triều đình thối nát, quan lại hư hèn, kỷ cương không còn nửa, như vậy mà tiên sinh vẫn khư khư cố chấp với chữ trung hạn hẹp ngồi yên mà nhìn được sao?

_Trước tiên sinh ở dưới trướng Hồ Tôn Hiến có viết biểu Bạch Lộc dâng vua, tôi còn nhớ những lời xưng tụng của tiên sinh. Mới từ đó đến nay mà tiên sinh đã thay đổi được sao. Tôi e vậy mà thiên hạ không khỏi chê cười mà sử sách cũng còn lời quở trách. Tôi hỏi thật tiên sinh có phải cái mộng ước của tiên sinh chỉ là muốn được ngôi cao bổng hậu, chẳng phân biệt trắng đen phải quấy? Tiên sinh không coi hạnh của kẻ sĩ là trọng sao? Tôi mong tiên sinh có thể chết cho Từ Hải được, cũng như tôi, giữ được thành thắng được giặc thì nhất, không thà chết chịu tội bất tài. Xin tiên sinh đùng bắt tôi nghe những lời bất trung vô sĩ nửa.

Văn Trường ngượng mặt biết không thể thuyết được Trương Nguyên Biện nên cáo lui ra khỏi thành.

Nguyên Biện không chịu hàng, Từ Hải kéo quân lên vây sát thành rồi vác đao ra trước trận kêu Trương Nguyên Biện ra quyết đấu. Trương Nguyên Biện cũng dàn quân rồi ra trước trận chỉ gươm vào mặt Từ Hải mà mắng:

_Thằng giặc lùn kia muốn sống mà xuống ngựa đầu hàng ta sẽ tha chết cho. Trước ta đã định mang quân đi hỏi tội bọn bây về việc cướp bóc dấy loạn, bây giờ bọn bây lại dẫn xác đến đây quả là đến số.

Từ Hải chẳng nói chẳng rằng thúc ngựa vọt tới chổ Nguyên Biện nhưng thoắt cái đã có một viên tướng trẻ xông ra. Từ giật ngựa đứng lại nhìn tên tướng  mặt còn non choẹt… Từ Hải  bật cười hỏi:

_Mày là ai vậy thằng nhỏ? Múa may với ta làm gì cho phí sức, hãy dẹp ra cho ta bắt thằng già kia.

_Mày đừng hỗn láo với chủ tướng của ta mày thử xem có đủ sức để thắng nổi một tên bộ tướng này chăng?

_Thôi mà nhỏ, mày cũng là tướng nửa, nhưng ta có coi ngay cả cái thằng phong tướng cho mày ra cái gì đâu.

_Không nói gì hết, ta với mày kẻ sống người chết.

Hắn xông vào khiến Từ Hải phải kháng cự, qua mấy hiệp Từ Hải dừng lại, lui ra:

_Này nhỏ, quả mày muốn chết sao? Nhưng dù sao tao cũng muốn hỏi mày xem mày cũng là thằng khá mà sao mày lại đi làm tướng cho cái bọn triều đình khốn nạn kia. Mày làm tướng để bảo vệ cái gì?  Bảo vệ bọn vua quan? Bảo vệ cái tổ điếm Hàng châu này? Chẳng lẽ mày là một thằng đốn mạt vậy sao? Mày nên theo tao đi.

_Phường giặc cỏ đừng nhiều lời, thà chết, chứ tao không theo mày.

_Sống không biết sống sao cho đáng sống, chết không biết chọn cái chết cho đáng chết. Thế mà cũng đòi làm tướng.

Viên tướng trẻ như con gà sống tơ, mặt đỏ rần xông vào làm Từ Hải tức giận khoa đao nhẹ một đường nhanh như chớp chiếc đầu viên tường đã lìa khỏi cổ. Từ Hải vẫy quân tiến lên, chàng thì xông vào chém Trương Nguyên Biện một nhát chẻ người làm hai mãnh chết thê thảm. Quân triều đình tan vỡ trước sức ồ ạt của quân Từ Hải. Dân chúng mở cửa thành cho quân Từ kéo vào.

Vào được Hàng châu nghiễm nhiên Từ đã chiếm được cả một vùng rộng lớn. Từ ra lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc, ăn trộm. Chàng bắt hết các chủ chứa điếm giết đi bao nhiêu gái chơi được tự do chọn nghề sinh sống, kẻ nào muốn lấy chồng thì Từ mang gả cho lính mình rồi chia đất hoang cho khai thác lập nghiệp, các nơi ăn chơi được biến thành nhà ở, trường học. Chính sách của Từ đưa dân chúng đến cảnh an cư lạc nghiệp, sau bao nhiêu năm họ phải sống cảnh khôn khổ, đen tối. Nhưng cũng từ đó dưới trướng Từ Hải trong đám bộ hạ, những hoang phí, ăn chơi cờ bạc đã diễn ra cũng chẳng khác gì cuộc sống ở nơi triều đình. Mới đầu Từ còn ngăn cấm nhưng sau cũng nhạt dần vì tự nghĩ xưa kia họ đã khổ sở thôi để cho họ hưởng  một chút. Rồi những xung đột, ghen tỵ, tranh dành đưa đến cho Từ Hải phải giải quyết khiến cho Từ nhiều lúc mất vui. Bọn võ tướng đã lười biếng thao luyện, bọn văn quan đã chẳng còn dùng ngòi bút kích động lòng quân, viết thư hộ cho binh sĩ gửi về thăm vợ mà dùng ngòi bút vào ngâm vịnh tâng bốc Từ Hải nào là anh tài cái thế, anh hùng bậc nhất thiên hạ, cứu dân, cứu nước sáng như mặt trăng, mặt trời, nghe qua đọc lướt Từ Hải cũng phải ngượng thẹn. Đến độ họ còn lớn tiếng ngâm vịnh, chúc tụng cả sự lành bệnh của nàng Kiều sau một lần đẻ non.

Nàng Kiều dựa vào thế chồng đền ân báo oán những chuyện nhỏ nhặt. Xin xỏ cho kẻ hầu hạ dưới tay những ân huệ chức tước không đáng được hưởng. Từ vì nể vợ mà phải ưng cho. Nhiều đêm Từ thoát ra được cuộc sống nhàm chán chung quanh giả dạng làm người dân thường mà rong chơi ngoài phố la cà vào những chốn giải trí bình dân mua vui, hoặc chàng trốn lên một góc thành cao mang theo cây đàn bầu rượu hưởng thú tịch mịch trong đêm vắng của trời sao và cái bát ngát mênh mông của vũ trụ. Những lúc đó Từ nhớ tiếc thưở ấu thời nơi bến Việt đông, vài ba người bạn bồng bền trên chiếc thuyền nhỏ thả mình đám chìm trong cái bát ngát vô bờ của biển khơi trong xanh. Chàng nhớ tiếc cuộc sống bình thường nhưng hào sảng trong sáng ấy. cái cuộc sống không biết đến những nhung lụa, rượu ngon, gái đẹp, quyền bính, đầy những tranh dành dục vọng. Cái cuộc sống hòa điệu với người và với vũ trụ không phải quây cuồng chém giết… Nhưng bây giờ chàng chẳng thể làm vậy được nửa. Từ Hải nổi lên từ phía bắc trên bán đảo Liêu đông rồi kéo mãi xuống tận Triết giang thế quân mỗi lúc mỗi một thêm mạnh, liên tiếp những thành trì bị hạ, những toán quân được phái đến đánh dẹp đều thua; một là vì quân của triều đình ô hợp không có nhuệ khí lại ở dưới những tên tướng vô mưu, bất tài; hai là thế giặc dựa vào dân chúng mà kháng cự cho nên năm sáu năm liền quân Từ Hải làm chủ dọc cả vùng bờ biển, trong tay giữ hơn mười thành. Thế giặc quá lớn, sự khuynh đảo đe dọa cả nền cai trị của nhà Minh khiến cho triều đình lo âu. Nhưng khốn nổi không ai dám lãnh việc đánh dẹp cùng tinh thần hư hèn cầu an. Sau chót vua phải sai triệu Hồ Tôn Hiến ở Giang nam về cho thống xuất đại quân xuống đánh. Hồ Tôn Hiến chỉnh đốn quân mã ngày đêm kéo xuống đóng quân ở phía bắc sông Tiền đường đối diện với Nam thành là bản doanh của Từ Hải. Biết thế quân của Từ Hải mạnh nếu đường hoàng dùng sức mà đánh thì phần thắng không thấy nên Hồ Tôn Hiến cho đóng trại kiên cố và án binh bất động. Hà Tôn Tiến cho quân sĩ trà trộn vào dân chúng loan truyền rằng Hồ Tôn Hiến không muốn gây cảnh chiến tranh, chỉ muốn có hòa bình cho dân chúng nên muốn Từ Hải về cộng tác với ông mà giúp triều đình, tất cả mọi người sẽ được hưởng quyền lợi xứng đáng chẳng ai có tội mà cũng chẳng ai có công.

Một mặt Hồ cho kẻ lén lút mang dâng cho Vương Thúy Kiều những vàng lụa kim cương và vô số những bảo vật, đồng thời cũng viết mật thư cho Từ Văn Trường hứa hẹn những chức tước. địa vị kèm theo với nhiều phẩm vật nhờ Văn Trường thuyết Từ Hải giải giới. Nhiều kẻ dưới trướng họ Hồ hoài nghi về chiến thuật, Hồ cười mà quả quyết:

_Từ Hải không phải là một kẻ nuôi chí lớn làm bá chủ thiên hạ, xuất thân từ đám dân chài thất học không có được con mắt nhìn xa thấy rộng, chẳng qua nắm được ưu thế là vì nền cai trị hạ tầng của triều đình hư nát, lăm tệ đoan, quan lại chỉ lo vơ vét tiền của, không chăm lo dân, đó là cái thời thuận tiện cho Từ Hải. Bắt nguồn từ những bất mãn ấy dấy loạn thu phục nhân tâm gom góp những kẻ có chí vũng vẫy mà lại cứu khốn cho dân chúng là có được cái thế. Có thời có thế nhưng Từ hành động vì tình cảm mà không có ý thức. Nay ta phao truyền sự hòa bình là làm cho dân chúng giảm đi sự hiếu chiến, họ không muốn loạn để cho cơ nghiệp tan tành. Bọn bộ hạ của Từ Hải này kẻ nào cũng có của cải yên vui tất không muốn chiến đấu phiêu lưu, rồi tất Từ Hải nghe vợ, nghe bộ hạ nói ra nói vào mà nản chí, tình cảm bị lung lạc lúc đó thật lấy đầu hắn có khác chi lấy chút vật mọn trong túi áo, mất chủ tướng rồi bọn kia sẽ tan rã. Ta chẳng mất công gì mà dẹp được chúng.

_Nhưng nó lú thì có chú nó khôn, còn bọn quân sư của Từ?

_Ta biết rõ cái bọn đó, các ông cứ tin ta đi. Những tên như Từ Văn Trường trước kia ở dưới tay nên ta đã rõ. Những kẻ đó cũng nhiều kẻ có tài nhưng không có đức, không có chí, theo Từ là vì bất mãn muốn có địa vị. Theo Từ mà vẫn khinh Từ không có học nên không thể cùng Từ giúp Từ lập nên nghiệp lớn. Bọn chúng lại hay suy luận loanh quanh. Nay ta mang mồi mà nhử, chúng tất sẽ ăn. Cái bọn đó cứ mang địa vị, vàng bạc ra mà nhử thì mua được hết. Kẻ sĩ ở vào buổi suy vong thời nào cũng vậy. Cho nên ta tin chắc Từ Hải sẽ ra hàng.

Sau khi đã bủa lưới Hồ Tôn Hiến mới gửi thư dụ hàng sai quân vào thành dâng cho Từ Hải. Từ Hải liền cho triệu tập bộ hạ bàn luận. Họ bàn tán om sòm, những câu: hàng rồi bị giết không, có bị trả thù không, mình sẽ được chức gì, có được giữ lại của cải của mình không. Đánh Hồ có thắng không, nếu thua thì làm sao? Đám bộ hạ bàn tán lăng nhăng chẳng đi tới đâu, Từ Hải bực mình phải quát lên:

_Ta chỉ có một câu hỏi cần trả lời: hòa hay chiến? không có vì sao, tại sao. Câu hỏi đặt ra chỉ có vài kẻ kêu đòi chiến, còn thì đều im lặng ra vẽ suy nghĩ. Từ Hải buồn rầu nhìn họ vì chỉ có một thời gian ngắn mà đám bộ hạ đã thay đổi gần hết. Xưa kia họ hăng hái, họ xông lên, đòi giết cho hết bọn quan lại hại dân đòi lập một đời sống mới coi thường cái chết…thì nay họ đã suy nghĩ, họ muốn đứng lại ở cái địa vị cai trị của họ, không còn muốn xông pha phiêu lưu nửa. Từ nhìn bộ hạ mà nói:

_Ta họp các ông lại đây là để cùng ta quyết định, ta cho chuyện này là hệ trọng lắm. Cơ nghiệp dựng lên chẳng có gì to tát là công của mọi người chung sức mà có được, khi khổ có nhau, khi sướng có nhau. Riêng với ý ta, ta không hàng, ít ra chúng ta cũng còn được giữ như thế này lâu lắm, đó là chưa nói tới việc lớn hơn. Chúng ta đang được sống tự do vùng vẫy chẳng có gì ép buộc mình, vậy tại sao chúng ta lại hàng, lại bó thân về cái triều đình  ta đã chống đối. Chúng ta có chịu được cái đời sống gò bó vào luồn ra cuối ở giữa những kẻ xa lạ kia không? Thật ta chẳng ham gì một địa vị công hầu khanh tướng như thế. Đó là nói ở cái thế mà họ thực tình, nếu họ tráo trở chúng ta còn là tướng nửa không khi đã hết quân? Ta sợ khi đó chúng ta hối cũng không kịp nửa. Nói xong Từ đứng lên:
_Chúng ta hãy giải tán để ai nấy suy nghĩ rồi mai chúng ta sẽ quyết định.

Từ rời sảnh đường vào phòng riêng thì gặp Kiều đã ngồi ở đó, hỏi:

_Tướng quân đã quyết định như thế nào?

_Chưa quyết định gì cả.

Từ ngồi nói cho Kiều nghe tinh thần của bộ hạ dáng băn khoăn buồn buồn. Trong thâm tâm Kiều từ hôm nhận được vàng bạc châu báu những lời hứa hẹn của Hồ Tôn Hiến đã có ý khuyên chồng giải binh, nhưng vẫn sợ thêm vào đó sự phân vân lựa chọn. Sau chót cái ý nghĩ được yên thân sum họp với gia đình đã thắng thế. Biết ý Từ chưa quyết, Kiều liền nói vào:

_Từ ngày được về hầu hạ tướng quân thật thiếp như kẻ được mang từ cõi chết ra cõi sống, nhưng chứng kiến cảnh binh đao thật nhiều khi thiếp lo sợ cho tính mệnh tướng quân. Nay triều đình đã biết đến tướng quân mà xin hòa, chức tước địa vị đợi sẳn tại sao tướng quân lại từ chối, với ý thiếp, được sống yên ổn vẫn hơn chứ nếu như ngày nay rồi nếu chẳng may lúc mình thua thì còn chi? Thân tướng quân đã vậy, còn thân thiếp ra sao? Tại sao tướng quân lại không chấp nhận sự bình thường, nhận bổng lộc cho thiếp được nở mày, nở mặt, được xum họp với cha mẹ và chúng ta có một đời sống yên vui lâu dài. Ở đây sung sướng nhưng mãi mãi vẫn mang danh phường giặc cỏ.

Tử Hải bị Kiều thuyết chàng phân vân, tình cảm bị chế ngự nên hôm sau họp bộ hạ Từ quyết định nghị hòa. Chẳng mấy chốc tin đình chiến giải binh loan truyền trong dân chúng. Một vài kẻ chủ chiến mang gia đình dời đi, còn lại thì binh sĩ trễ biếng chẳng còn nghĩ đến chuyện đánh nhau nửa. Từ Hải phúc đáp thư cho Hồ Tôn Hiến định ngày thúc giáp rồi cho quân sĩ vui chơi. Hồ Tôn Hiến vui mừng rồi sắp sẳn mưu kế chờ cho Từ ra hàng.

****

Từ đứng lên vươn vai vẽ mệt nhọc, Kiều ngồi dưới thềm ngữa mặt lên hỏi:

_Tướng quân đi đâu đêm vui chưa hết nửa cuộc.

Từ im lặng, vuốt áo ra khỏi sảnh đường. Tiếng đàn hát vẫn còn quấn quýt chạy theo. Đêm đã khuya cảnh tịch mịch trùm xuống khu thành, chỉ còn đêm nay nửa mai thành này sẽ chẳng còn ở trong tay. Một thân vùng vẫy dọc ngang làm vua một còn mà chỉ còn làm một tên quan ngày ngày cuối lưng nới thềm rồng bệ ngọc. Giây phút Từ thấy bâng khuâng, buồn như sắp mất đi một cái gì lớn lắm..chắc chẳng bao giờ chàng lấy lại được nửa. Một mình Từ dạo qua những nơi quen thuộc quân lính đều đã ngủ say chỉ còn một vài tên lính canh đi lại dáng uể oải mệt nhọc, Từ qua kho lương xuống chuồng ngựa.. rồi theo bậc thang leo lên mặt thành. Đêm bao la chụp xuống cả một vùng đồi núi, trong thành đêm nay nhiều ánh đèn hơn mọi đêm, trại quân của Hồ Tôn Hiến đã rút hẳn ra ngoài xa, chừng như đang mở hội ăn mừng. Từ bước thảnh thơi, thở hít không khí gây lạnh không phải là thi sĩ để có thể làm một bài thơ tức cảnh, Từ thấy tiếc làm sao. Tiếng trống canh rời rạc, một vài trạm chừng như lính đã ngủ hay bỏ về nhà với vợ con không thấy điểm trống. Giá như lúc khác đã có kẻ phải rơi đầu, nhưng đêm nay không cần thiết nửa. May này…bất chợt Từ thở dài..

_Thưa tướng quân, tướng quân chưa đi nghỉ?

Từ giật mình quay lại, rời đưa mắt nhìn ra xa.

_Nếu tiểu tốt không lầm vì tướng quân đang buồn vì sớm mai này tướng quân ra hàng giặc?

_Hàng giặc, sao lại là hàng giặc? Ngươi là ai?

_Tiểu tốt lài ai? Thưa tướng quân tiểu tốt là bộ hạ của tướng quân, kẻ đã nghĩ triều đình là giặc, tướng quân là bậc đế vương. Thế mà mai này khi mặt trời lên bậc đế vương đó sẽ dẫn tất cả đoàn quân dưới trướng này ra khỏi thành, quỳ gối khom lưng nhận giặc là minh chúa để nguyện trung thành tận tụy suốt đời… Thưa tướng quân, có phải vì thế mà tướng quân buồn?

_Buồn, ta không hiểu ý nhà ngươi.

_Có lẽ tướng quân cố ý không hiểu đó thôi…đáng buồn lắm chứ…

Từ bâng khuâng, tiếng nói của người đối diện như xoáy vào trong tâm tư của mình. Nhưng ít nhất cũng có người hiểu được rằng Từ buồn. Tự nhiên Từ lấy được sự thân mật dễ chịu. Ngay sau đó một cảm giác ớn lạnh chạy khắp người Từ. Thôi thế là không còn gì nửa. Mai này sẽ chỉ còn lại hai bàn tay trắng và một thái độ chịu thua, thái độ chấp nhận, thái độ đầu hàng.

_Sao ngươi lại nói với ta như vậy. Ta buồn thật sao?

Từ quay lại nhìn người đối diện với mình chờ đợi. Người thanh niên nỉm cười dáng ngạo mạn lì lợm. Anh ta vào khoản trên hai mươi, khỏe mạnh, nước da ngăm đen tóc búi ngược, y phục một tên cận vệ. Từ cố gắng để nhớ xem có phải người đối diện mình là một tên cận vệ hay không. Thanh niên xoay người chống tay lên mặt thành nhìn ra bãi cỏ phía trước.

_Tiểu tốt biết tướng quân buồn. Buồn thật hay không điều đó tướng quân tự biết.

_Bây gờ ta cũng chẳng còn là tướng quân gì nửa. Anh cũng chẳng còn là tiểu tốt nửa. Mình thua rồi.

Thanh niên xoay phắt người lại  đứng thẳng. Trong ánh sáng mập mờ Từ chừng như thấy khuôn mặt kẻ đối diện thay đổi, mặt nghiêm lại, mắt mở lớn, đôi mày rậm dướn lên vẽ dữ dằn.

_Sao lại thua, mình đâu có thua.

Từ huýt người ngồi lên tường thành, hơi cúi đôi vai lớn, ngước mặt lên:

_Đó là sự thật. Anh có lấy làm buồn không?

_Nói không là dối lòng mình. Nhưng tôi không lấy đó làm thất vọng. Tôi còn trẻ..Tướng quân có thấy là tôi còn trẻ không? Từ gật gật đầu:

_Đúng anh còn trẻ, như vậy có phải ta già rồi không?

_Tướng quân cũng còn trẻ

_Thôi, anh đừng gọi ta là tướng quân nửa, còn quân đâu nửa mà tướng. Ta cũng chỉ như anh. Ta đâu còn như hồi xưa. Phải không?

_Cũng vẫn như hồi xưa. Cũng có thể làm lại như ngày xưa..

_Ngày xưa. Anh đừng nói đến làm chi nửa..

_Sao lại vậy. Chỉ có ngày xưa..Cũng chính cái ngày xưa đó mà tôi gặp được tướng quân, đã hào hùng và bây giờ..

_Thất vọng?

_Tướng quân có biết, nhưng mà thôi…

_Biết sao, anh hãy nói ta nghe, anh hãy coi ta như một người bạn…Ai hiểu được ta, có lẽ chỉ có anh? Mà sao ta trông anh cũng buồn vậy?

_Tôi nhớ lại lúc còn sống tại quê nhà ở Giang nam nghe tin tướng quân nổi dậy đốt thuyền bè chống quan lại. Tôi đã lặn lội từ đó lên Việt đông. Tự xung vào làm sĩ tốt…Tướng quân còn nhớ những gày đó

_Nhớ, mới như vừa xảy ra mà đã năm sáu năm trời rồi còn gì. Dấy lên với hai bàn tay không với những tấm lòng hào hiệp…Mà này sao ta không bao giờ được gặp anh?

_Có chứ, nhưng chắc tướng quân quên, làm sao để tướng quân nhận từng người trong nghìn vạn quân tướng..

Người thanh niên buồn bã:

_Trong nghìn vạn quân tướng ấy đã có bao nhiêu người ngã xuống chiến trường, trải thây trên con đường hành quân, những người xông pha ở Việt đông, Triết giang, hạ năm thành ở cõi Nam, cướp Châu thai, lấy Vô tích, chiếm Lâm truy để cho tới lúc tướng quân có một giang sơn như ngày nay, có thành quách như hiện nay… Và tôi đã sống sót để mai này chứng kiến cái công lao của  những ngày gây dựng không còn nửa..

_Thôi anh đừng nhắc chuyện đó ta đã thua rồi. Anh có tiếc công, tiếc sức đã theo ta không. Anh có cho rằng ta đã phản bội lòng tin cậy của anh, của các bạn đã theo ta không?

Câu hỏi của Từ dội đi, tiếng trống canh rời rã. Từ bước đi loanh quanh. Giọng người thanh niên mơ hồ:

_Lúc sống tại quê nhà cha tôi nói: bây giờ là thời loạn. Kỷ cương của nước không còn nửa, lòng người ly tán kẻ sĩ mất truyền thống trở thành hèn hạ, con còn dùng bút nghiên làm gì nửa, ta muốn thấy con hành động như một tên du côn còn hơn. Câu chuyện ấy vẫn còn làm cho tôi băn khoăn suy nghĩ. Không có thời loạn mà chỉ có lòng người loạn. Cha tôi cũng là kẻ khoa cử nhưng từ chối công danh sự nghiệp cha tôi nhận làm một kẻ câm điếc đui mù, ngoảnh mặt đi với cuộc sống mà lại muốn con như một tên thảo khấu du côn. Cha tôi cũng loạn sao? Cha tôi bảo kỷ cương không còn, trật tự bị phá hủy, sách vỡ thánh hiền đã lu mờ còn đâu kẻ sĩ với tinh thần hào hiệp. Lòng người đã phụ với trời, kiến văn chỉ làm người ta đê hèn, bần tiện đi. Kẻ có học dùng sở học vào đường bất chánh, như vậy thất học còn hơn vì thất học không phải nhiễm độc bởi những cặn bã của tư tưởng thì với lương tâm may ra còn sống được ngay thẳng. Làm thằng du côn có chí thì cứu được đời…Tôi đã ngẫm lại và thấy có phần đúng. Trong xã hội tôi không còn thấy ai là kẻ sĩ nửa. Bọn thư sinh mặt trắng đi vào con đường tư danh, hư lợi..Có nghĩa thời loạn còn kéo dài lâu lắm. Giữa lúc ấy nghe tên Từ Hải, một tên con nhà thuyền chài vô học dấy lên, lòng người ngã theo, tôi nghĩ cha tôi đã đúng và tôi vứt bút nghiên đi theo một tên du côn.

_Một tên du côn. Anh đi theo một tên du côn mà anh nghĩ còn phải. Bây giờ anh có hối hận không?

_Không, tôi không hề hối hận.

_Tại anh kiêu ngạo không chịu nhận.

_Không phải tôi kiêu ngạo mà tôi không nhận.

_Hay anh cho định mệnh lịch sử nó phải thế?

_Không, không bao giờ tôi lấy một thứ số phận, một thứ định mệnh nào để trốn chạy. Chính là tại tôi tại tướng quân, tôi muốn hỏi tướng quân: tướng quân đâu muốn ép thân thuần phục, đâu tướng quân có kính nể Kiều, đâu tướng quân có nghe lời bàn của bọn hèn nhát, chủ hòa. _Sao anh lại cho rằng ta không kính nể nàng Kiều, không kính nể mà sao ta có thể cưới nàng làm vợ. Anh nghĩ nàng là một con điếm sao? Nếu quả vậy thì anh đã nhầm, anh đã cho rằng du côn còn khá thì với ta ngày nay trong giới đàn bà chỉ có bọn làm điếm là khá. Du côn dám nhận là du côn, làm điếm dám nhận là làm điếm, còn ai hơn nửa. Cả thiên hạ làm điếm mà không dám nhận là điếm. Như vậy ai được quyền khinh nàng Kiều. Ta chẳng sợ gì mà không nói với anh. Ta kính nể con điếm là vợ ta đó. Còn cái bọn ở chung quanh ta, cái bọn Từ Văn Trường, cái bọn văn hay chữ tốt, khoa bảng ta đâu có coi bằng một con ngựa ta nuôi. Bọn họ đâu sánh được nàng Kiều. Ta nuôi bọn nó để bọn nó nịnh bợ, ca tụng, su phụ ta. Ai cũng muốn có kẻ nịnh bợ mình, muốn có kẻ đóng kịch làm hề cho mình coi…Bọn nó theo ta chẳng phải như anh, như quân sĩ của ta. Bọn nó theo ta vì chúng không được làm đầy tớ yêu của chủ chúng như Hồ Tôn Hiến chẳng hạn.

Chúng bất mãn bỏ đi và bây giờ anh thấy đó, chúng muốn ta hàng thuận để chúng được sống yên ấm  với nhung lụa, địa vị…Bọn nó không theo đuổi một lý tưởng và sống chết với nó, bọn nó nay theo thằng này mai theo thằng khác, cứ bỏ tiền ra là mua được hết. Bọn nó làm ô danh kẻ sĩ. Loạn cũng vì bọn nó. Bọn chó phản chủ và chúng mãi mãi như thế. Với ta khi nào không được ân huệ nửa, bọn nó sẽ phản lại. Ta đã thua, ta chịu quy hàng chẳng phải vì ta đã nghe theo những vợ, những quần thần. Ta chịu thua, chịu hàng bởi vì bọn chúng không có được cái chí lớn như ta nghĩ. Ta còn lại một mình, ta hàng, ta chịu thua vì ta thất vọng, ta buồn bã. Bọn họ nghĩ giờ đã có thế lực, địa vị, mục đích đã đạt rồi còn khổ sở làm chi nửa. Họ muốn đóng lại cho đúng vai trò những kẻ mà trước đây họ chống đối. bọn họ cũng muốn trở thành quan lại, bốc lột, cũng muốn xe ngựa, áo quần, địa vị…

_Không, không thể như thế được.

_Ta không muốn chính những kẻ theo ta sẽ giết ta. Ta cũng chỉ là một tên du côn, một tên du côn về già, một tên du côn hết thời. Ta tiếc rằng sao không giữ mình là một tên du côn ở đất Việt đông. Ta nghĩ tới mai này ta phải khúm núm với cân đai bố tử ra vào chốn triều đình, rúc ngồi với bọn quan lại, nào thưa nào gởi mà sao ta muốn chết quá, hãy vứt bỏ hết đi…Sống đời một tên du côn với mảnh khố rách còn sung sướng hơn nhiều…Mai này anh có chịu ra quy hàng nhận lã nh bổng lộc của triều đình ban cho không?

_Không canh ba đêm nay tôi sẽ mạo muội tướng quân mà trốn đi

_Anh không muốn được hưởng phú quý vinh hoa với ta sao?

_Tôi còn đầy đủ điều kiện để làm một thằng du côn. Chốn công quyền không phải nơi tôi lui tới. Tướng quân sắp từ chức một tên du côn rồi sao?

_Anh cho làm du côn là cao quý lắm sao?

_Thời nay địa vị du côn cao quý lắm không có gì so với hắn được như đã thưa với tướng quân.

_Anh có bằng lòng cho ta cùng trốn đi làm du côn trở lại được không?

_Tại sao không?

Tên bộ tướng xách chiếc đầu đầm đìa máu tươi chạy hộc tốc đến bên Hồ Tôn Hiến lưỡi gươm còn vấy máu chảy chan hòa xuống đốc kiếm, hắn giơ chiếc đầu lên và nói:

_Thưa tướng quân, tôi xem đầu này không phải là đầu Từ Hải

_Không phải Từ Hải? Tại sao?

_Hắn mang râu giả.

Vừa nói tên bộ tướng vữa gỡ bộ râu quai nón nơi chiếc đầu. Tôn Hiến đứng ngây như một pho tượng gỗ mắt trợn ngược. tên tướng nói tiếp:

_Lợi dụng đêm tối, Từ dã trốn đi

_Nàng Kiều đâu?

_Nàng đang khóc bên xác chết không đầu.
_Quân sĩ của Từ?

_Đã hoàn toàn quy hàng. Một số nhỏ vứt khí giới, cởi quân trang bỏ trốn làm thường dân.

_Từ trốn đi một mình.

_Có lẽ chỉ đem theo một vài tên tâm phúc.

_Còn Từ Văn Trường không?

_Còn đầy đủ bọn hầu cận không thiếu một tên nào. Họ đang chờ vào phục lịnh tướng quân.

Hồ Tôn Hiến lặng im, bỗng hắn nỉm cười:

_Từ còn sống nhưng cũng coi như Từ đã chết. Hãy dán râu vào cho hắn, sóc lên đầu giáo trương cao cho quân sĩ an lòng rồi cho chôn đi. Một mình hắn còn sống cũng không làm được gì. Tướng không có quân không còn là tướng nửa. Một Từ Hải còn sống sẽ là một “Từ Hải giả”.

Tên bộ tướng tuân lệnh, phóng mình lên ngựa, sóc chiếc đầu vấy máu lên đầu ngọn thương, giơ lên cao chạy ra giữa trận nói lớn:

_Bớ loạn quân. Từ Hải đã bị chặt đầu theo vương lệnh. Hồ tướng quân tha chết cho bọn bây. Tất cả hãy bỏ khí giới quy hàng sẽ được toàn tính mạng: và ân xá cho trở về làm ăn, ai muốn đầu quân sẽ được thu nạp..Trên bãi chiến chỉ còn vài tốp nhỏ đang giao tranh một cách uể oải, thấy chủ tướng đã chết quân Từ tìm cách tháo lui hoặc đầu hàng, trên mặt thành vài ngọn cờ nghiêng ngã. Khắp nơi khí giới ngổn ngang cùng xác chết, kẻ bị thương kêu khóc vang trời. Khói súng phảng phất mùi khét mấy đám cháy ngọn lửa vẫn hung hãn như muốn bùng to, đám lương dân từ trong thành chạy ra ùn ùn tán loạn, kêu khóc thảm thiết, bọn lính nhân cơ hội hè nhau cướp giật. Tiếng kêu khóc van xin tưởng thấu tới trời xanh. Trong trướng Hồ Tôn Hiến cười khà khà đắc ý chợt thấy có năm ba người đi vào thì chăm chú nhìn, rồi bước xuống thêm, nỉm cười thi lễ:

_Kìa Thanh Đằng tiên sinh đã lại, kẻ hèn đang mong chờ tiên sinh. Từ Văn Trường cùng mấy bộ hạ của Từ Hải đều vòng tay thi lễ rồi tiến vào phân ngôi chủ khách và hàn huyên. Bây giờ kể tiếp chuyện nàng Vương Thúy Kiều. Sau cuộc vui cuối cùng của đêm trước khi ra hàng, nàng trở về phòng thấy bứt rứt không nguôi vì thấy thái độ của Từ Hải đầy vẽ băn khoăn lo lắng và buồn bã khi bỏ dỡ cuộc vui ra ngoài, nàng ngầm hiểu phần nào tâm trạng của Từ. Bao nhiêu năm trời vùng vẫy một cõi giang sơn, nay đây mai đó với hai bàn tay không dựng một cơ nghiệp; ra vào chốn trận địa như chổ không người, dọc ngang chẳng còn biết có ai. Cũng như ai một phương hùng cứ, triều đình một cõi đủ văn võ bá quan. Nàng Kiều đã lấy làm hãnh diện trước những danh quan danh tướng như Từ Văn Trường, cả cái bọn khoa bảng chữ tốt văn hay ấy cũng một điều thưa, hai điều bẩm.

Nếu như lúc ở Vô Tích, Lâm Truy, Hàng Châu chẳng cần tới hạng người đó cũng đủ làm xấu nàng, vứt tiền vào những tú bà, bạc hạnh để được hành hạ thân thể nàng cho chán rồi nhổ nước miếng vào mặt nàng gọi là con đĩ. Bây giờ con đĩ ấy đã là vợ của Từ Hải, một hoàng hậu chưa có ngôi và đủ để cho bọn kia cúi đầu vâng lịnh, khen nịnh, tâng bốc..Nghĩ thế nàng thấy lòng mình thắt lại và hiểu Từ buồn hơn nàng biết chừng nào. Từ một kẻ cầm đầu thành một kẻ tuân lệnh, khúm núm, chung đụng với kẻ mà mình kinh tởm gớm ghiếc, những bọn quan không ra quan, tướng không ra tướng, danh vọng, địa vị chẳng do tài đức lập nên mà do tiền bạc mua bán, do nịnh bợ, phe cánh, bè đảng tạo thành. Từ một cuộc sống vùng vẫy tự do lại phải khép mình vào những lề thói, tập tục chỉ là cái vỏ che đậy những bẩn thỉu giả trá của một triều đình mục nát vua không ra vua, quan không ra quan, của một xã hội đồi trụy không trật tự, không sinh khí, đầy tồi bại, hủ lậu, vô liêm, lẫn trốn trong cái vỏ luân lý đạo đức hào nhoáng như lớp sơn trên thân gỗ mục, mọt rỗng. Kiều nghĩ quanh nghĩ quẩn và thấy hối hận, nhưng ngay sau đó Kiều lại tìm những lý do an ủi để chấp nhận: nàng sẽ chính thức là một phu nhân, vợ một viên quan của triều đình, không còn là vợ một tên tướng cướp, vợ một tên quan được khắp cả thiên hạ công nhận sẽ không còn phải nay đây mai đó trôi nổi bất trắc và số phận sẽ ra sao vào một ngày kia khi quân Từ bị đánh tan? Nàng sẽ về gặp lại cha mẹ, Kim Trọng, về quê mở mặt, mở mày với làng xóm bà con.

Nàng không muốn phiêu lưu nửa, nàng muốn được sống tầm thường trong thái bình an lạc không còn phải run sợ trước cái bất trắc đe dọa, đau lòng trước cảnh chém giết binh lửa mà đã bao lâu nay nàng phải chứng kiến. Kiều trằn trọc với những ý nghĩ đâu đâu khiến nàng không sao nhắm mắt được, mãi đến khuya nàng mới thấy Từ trở vào phòng và lên giường vui vẽ nói vài câu chuyện rồi nằm im như ngủ. Sớm hôm sau khi Kiều thức dậy thì đã không còn thấy Từ Hải, hỏi bọn thị nữ thì nói Từ xuống trại binh sửa soạn quân mã và dặn lại Kiều ở lại trong dinh chờ Từ ra ngoài gặp Hồ Tôn Hiến xong sẽ vào đón. Nhưng giữa lúc đang trông đợi, bỗng nghe tiếng súng nổ vang rền, tiếng la dậy đất, Kiều kinh hoàng ra mặt thành ngó xuống thì thấy quân Từ đã rơi vào ổ phục kích của địch. Nàng kêu lên trước sự gian trá, giữa trận chiến nàng đau lòng nhìn đoàn quân bách chiến bách thắng tan rã và trong khói đạn mờ mịt nàng thấy bóng Từ Hải ngã xuống ngựa. Giữa cơn náo loạn, nàng bỏ chạy ra xông vào giữa trận tơi bời tên đạn, giáo mác. Dưới chân con hồng mã với  bộ giáp điều, Kiều nhận ra Từ Hải với cái xác không đầu nàng ôm lấy  kêu khóc và ngất đi. Kiều tỉnh dậy giữa tiếng ồn ào huyên náo nàng nghe thấy nhiều tiếng nói khác nhau, trong đó có tiếng nói êm ái của Từ Văn Trường:

_Phu nhân đã tỉnh rồi.

_Tỉnh thật không, người đẹp như vậy mà chết thật đáng tiếc.

Kiều mở mắt và ngồi dậy nàng thấy mình đang ở trong một gian phòng tráng lệ tràn đầy ánh sáng. Không phải là nơi trận tiền. Nàng cố nhớ lại cảnh hãi hùng thoảng qua như một giấc chiêm bao. Nàng định thần nhìn kỹ, xung quanh nàng đầy đủ những tên hầu cận, những thị vệ. Ta vẫn còn ở trong cảnh cũ sao? Nhưng đến lúc nhìn thấy ngoài cửa phòng Hồ Tôn Hiến đang ngồi ngất ngưỡng uống rượu và tiếng đàn tiếng hát thì nàng đã rõ thực tế. Nàng òa lên khóc: Thôi rồi chính ta đã giết chàng, bây giờ còn mặt mũi nào ngồi đây? Nàng kêu gào, la hét và khóc khiến cho những người cũ dưới trướng Từ cũng phải rơi lệ.

_Thưa phu nhân đằng nào thì tướng quân cũng đã không còn nửa, phu nhân có làm sao thì Từ tướng quân cũng không sống lại được mà phu nhân thì phải sống, còn cha mẹ anh em. Kiều tỉnh lại, la lên phẫn nộ:

_Phu nhân! Phu nhân! Ta không còn là phu nhân gì nửa, phải rồi không làm sao cho chàng sống lại chính là ta đã giết chàng và chính chúng bay đã giết tướng quân của chúng bay. Có phải chính chúng bay đã được  bổng lộc, ân huệ đã chia ngọt xẻ bùi với Từ và ngày nay chúng bay ngồi đây chờ đợi ân huệ khác. Chúng bay cũng là văn quan, cũng là võ tướng, cũng là hầu cận thế mà ngày nay nhìn Từ chết mà chúng bay lại ngồi đây để chung sống với bọn bất tín, bọn phản trắc, bất lương..ôi bọn bay lại có thể sống như vậy được sao? Ta không là phu nhân, phu phen gì nửa. Ta chỉ là một kẻ giết chồng và ta khinh bọn bay còn ngồi đây làm chi, bọn chó phụ nghĩa, bọn bay hãy bước đi cho khuất mắt ta.

_Thưa phu nhân đâu chúng tôi muốn ra hàng và đâu ngờ là ta bị lừa.

_Thôi bọn bay đừng tìm cách bào chữa. Tao không muốn nghe cái giọng ấy nữa, cái giọng hèn nhát không đáng là quân sĩ của Từ Hải, những kẻ đã sống hiên ngang và chết khí phách. Những kẻ không phản trắc, không sợ kẻ mạnh bất chánh, không vì sự yên thân, đời sống nhung lụa mà quên việc nghĩa. Bọn bay không lấy thế này làm nhục sao? Bọn bay không biết chọn lúc nào phải sống, lúc nào phải chết sao? Kiều gào lên như một kẻ điên cuồng, lũ bộ hạ chỉ biết cúi đầu ngồi nghe, bỗng một tên bộ tướng đứng lên:

_Lời của phu nhân làm cho kẻ hèn này hổ thẹn. Quả Từ tướng quân đã không xấu hổ với một người vợ như phu nhân.  Vậy xin có chút lòng này tạ ơn người đã khuất.

Nói dứt lời tên bộ tướng rút đoản kiếm đâm vào bụng, lưỡi kiếm xuyên qua người, hắn quỳ xuống, hai tay còn giữ lấy đốc kiếm nơi bụng và cúi đầu hướng về nàng Kiều. Hắn gục xuống như một pho tượng, trong phút chốc máu chảy loang trên mặt đất. Tiếng khóc của Kiều nỉ non bứt rứt. Lúc đó Hồ Tôn Hiến bước vào chứng kiến cảnh tượng mà run lên cầm cập, nhưng Hồ cố trấn tĩnh kêu bọn thị vệ vào vực nàng Kiều ra ngoài cho chôn cất kẻ chết rồi lên tiếng an ủi những bề tôi cũ của Từ, Hồ sợ bọn họ bị kích động, phẫn uất gây chuyện chẳng lành. Nàng Kiều bị mang ra nơi sảnh đường, buổi tiệc khao quân đang vào lúc hào hứng  Hồ Tôn Hiến ngồi nơi bàn tiệc sai quân dâng chén bát và rót rượu mời Kiều. Hồ cầm ly rượu trên tay giơ lên:

_Mời nàng nâng ly cùng uống với ta gọi là vui đã cùng nhau lập nên công trạng này. Ta  nghĩ thành ta thu được một phần nhờ công của nàng vậy nay nếu nàng muốn xin điều gì, bất cứ điều gì ta cũng cho gọi là một chút phần thưởng.

_Phận tôi chẳng có gì để xin. Ông cho việc tôi giết chồng là công sao?

_Không ta đâu nói vậy, ta thật áy náy nhưng ta nghĩ, ta làm như vậy vì nhân dân, vì triều đình. Nàng nghĩ xem nàng thích cảnh chém giết tao loạn sao? Tất nhiên nàng phải chịu thiệt thòi thay cho những thiệt thòi lớn hơn của bao kẻ khác.

_Ông thật không xứng là tướng quân. Chỉ vì tôi là một con đàn bà nhẹ dạ như bao nhiêu người khác, tôi đã bị lừa giết chồng mà không biết. Không, tôi không muốn biết thiệt thòi của kẻ khác, có ai biết thiệt thòi cho tôi không. Chồng tôi chừng như đã rõ điều này nên chàng đâu muốn ra hàng, mang tấm thân cương cường khí phách về uốn lưng nơi triều đình.  Chàng chẳng bao giờ hành động như các ông, cảnh chém giết có diễn ra cũng chỉ bởi chồng tôi muốn đa số dân chúng không còn bị áp bức, bốc lột đè nén, thoát được cảnh lầm than dở sống dở chết dưới quyền cai trị của các ông. Từ lúc còn là tên cướp bể nhỏ nhoi, chồng tôi chỉ biết lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo, giết bọn sâu dân mọt nước, bao nhiêu năm vùng vẫy chí lấy cái lương tâm mình mà làm điều hay, tránh điều dở. Nghĩ lại tôi biết tôi nhầm khi khuyên chàng ra hàng, tôi cũng muốn được yên thân, cũng muốn tránh cảnh tang thương giết chóc. Ai ngờ cũng vì vậy mà tôi mắc tiếng giết chồng không dao và thân tôi dang dở. ôi như vậy mà ông còn muốn đền công cho tôi nửa…

_Thôi nàng đừng làm giảm cuộc vui của ta, nàng sẽ được đền bù xứng đáng. Nàng hãy vui lên một chút cho ta hài lòng…

Hồ cười lên hô hố, uống liên tiếp từng bát rượu lớn, bọn quân sĩ chung quanh vừa ăn uống vừa ca hát nhảy múa. Nàng Kiều khóc khô nước mắt và tưởng mình như đang ngồi trong một lò lửa chịu cực hình. Tại sao không chọn cái chết cho xong? Nàng nghĩ đến cha mẹ và Kim Trọng khiến lòng lại thổn thức. Hồ Tôn Hiến chợt cất tiếng:

_Xưa ta nghe nàng là một tay danh cầm trong thiên hạ, nay giữa cuộc vui ta muốn được nàng cho nghe một khúc.

Kiều đáp:

_Xưa kia cũng bởi tiếng đàn vận vào người khiên cho thân này trôi nổi nên từ đó thề không cầm đến cây đàn nửa.

Hồ Tôn Hiến vẫn nài ép.

_Mấy khi có được cơ hội như thế này nàng lại không thể gảy một khúc hồi sinh cho đời nàng sao.

_Ông nghĩ tôi giết được chồng là vui sướng lắm sao? Tôi vốn là con đĩ đâu có được cái vui sướng của những kẻ chính chuyên khi giết được chồng xin ông tha cho mà đừng ép tôi làm việc bất nghĩa phụ tình đó.

Hồ Tôn Hiến vẫn không buông tha, sai kẻ hầu mang đàn ra để trước mặt bàn, nàng Kiều cầm lấy mà nói:

_Tôi đã thưa cùng ông đến cạn lời mà ông vẫn bắt tôi làm việc bất nhẫn ông giết được chồng tôi bởi một mưu mô sảo quyệt còn chưa đủ hả, lại còn muốn vợ của kẻ chết chưa nguội xác kia gảy đàn mua vui. Sao tâm địa của ông nham hiểm, bất lương, độc ác đến vậy. Thân tôi dù chết tôi cũng chẳng thể làm được chuyện đó.

Nói xong Kiều cầm cây đàn đạp xuống đất cho tan ra, rồi đứng dậy bỏ chạy như một con ngựa điên.

*****

Sau đêm bỏ thành trốn đi, dứt bỏ những vinh hoa phú quý của một cuộc sống bình thường chẳng ai ngờ Từ đã thoát chết. Chàng thanh niên bảo:

_Nó tưởng lừa mình được, ai ngờ mình lừa được nó.

Hai người bạn dành những ngày đầu tiên để ăn chơi, ngao du trong cuộc sống tự do, nghĩ đến những ngày cũ không khỏi làm cho Từ nhiều lúc chạnh lòng nhớ tiếc, trong những đêm nơi quán trọ dọc đường nghĩ đến Kiều khiến chàng rơi lệ. Chàng đã mất tất cả và bây giờ phải làm lại tất cả. Sau một thời gian hai người bạn bắt đầu công việc kết nạp kẻ đồng chí, những kết nạp khó khăn hơn vì Từ không muốn chỉ có một đoàn quân ô hợp. Chẳng bao lâu thế lực của Từ một lớn dần. Một ngày kia Từ bàn với người bạn ý muốn về đón nàng Kiều vì chàng đã được tin sau khi tự vẫn được cứu thoát đã trở về sống với gia đình. Người bạn có vẽ phân vân, Từ nói:

_Ở trên đời này ngoài huynh ra tôi có mình nàng là hiểu và thương tôi, tôi hiểu sự phân vân của huynh nhưng tôi có thể đoan chắc việc riêng của tôi sẽ chẳng hại gì tới việc chung mà chúng ta đang gây dựng. nàng còn hơn một người thường, từ lúc nghe tin nàng tự vẫn để giữ trọn nghĩa thật không lúc nào tôi quên được nàng.

Người bạn thở dài không nói, lặng lẽ thu xếp hành lý, giao công việc rồi cùng Từ dong thuyền tìm về quê nàng Kiều. Sau thất bại của cuộc nổi dậy tại miền duyên hải của Từ Hải đã làm cho người dân nhỏ lệ khóc thầm, một tương lai hé ra chưa đước bao lâu đã bị dập tắt. Đã mất tự do họ lại còn bị quan quân triều đình trở về hành hạ hơn hồi trước chừng như để trả thù những ngày họ được sống sung sướng dưới sự bảo vệ của Từ Hải. Đâu đâu người ta cũng nghe thấy những lời ta thán oán hận Hồ Tôn Hiến, nhiều người dân đã bỏ xứ ra đi đến những nơi xa lạ làm ăn hòng thoát bớt cảnh đè nén áp bức. họ truyền tai nhau kể lại cái chết của Từ Hải, cái đê tiện của Hồ Tôn Hiến. Họ ngậm ngùi cho số phận của nàng Kiều vì không chịu đựng được phải gieo mình xuống sông Tiền đường lấy cái chết mà giữ tiết với chồng. Miết rồi những lời kể mỗi lúc sai lạc đi vô vàn những huyền thoại chung quanh Từ Hải và Vương Thúy Kiều. Nhiều văn nhân thi sĩ cũng từ hứng khởi của cuộc nổi dậy mà sáng tác ra những áng văn chương được dân chúng truyền tụng ngâm nga. Họ luôn nhắc nhở đến Từ Hải như một anh hùng cứu thế nhưng số trời đã định buộc dân chúng còn phải lầm than khổ sở. Có kẻ đã dựa vào sấm ký vào những lời tiên tri để tìm cách giải nghĩa cho dân chúng rằng: họ đang ở vào thời mạt pháp. Cách giải thích mù mờ đã chẳng giúp gì cho lòng tin của dân chúng mà làm cho họ chán nản, không phấn đấu, đi tìm an ủi nơi tín ngưỡng, do đó nhiều ma giáo xuất hiện làm những chuyện bậy bạ khiến cho xã hội càng thêm tao loạn suy vong.

Nàng Kiều trong những giây phút kinh hoàng đã không còn giữ được bình tĩnh nàng chỉ còn nhìn thấy cái chết là hợp lý nên đã lao đầu xuống sông tự vẫn, mượn cái chết rửa sạch kiếp người, nhưng số nàng chưa trọn, quân sĩ Hồ Tôn Hiến đã vớt được nàng lên, mủi lòng thương cũng có, phần nể sợ cũng nhiều nên Hồ đã cho nàng chọn lựa cuộc sống, nàng đã vào ngụ tạm nơi một ngôi chùa dưỡng bệnh trước khi trở về quê, dứt cuộc sống trần tục mà lập một ngôi chùa nhỏ sớm tối lấy kinh kệ làm khuây.

Nhưng nào nàng có được yên với sắc đẹp của nàng nên bọn đàn ông chung quanh đứa nào củng chỉ định ăn sống nuốt tươi. Những cái nhìn như hãm hiếp nàng. Sau hôm được cứu sống ít ngày, một đêm kia nàng đang thiếp ngủ thì bỗng giật mình vì có một kẻ vận áo nhà sư xông vào giường mà ôm lấy nàng định hãm hiếp, nàng định la lên cầu cứu và kháng cự, may nhờ ngôi chùa nàng đang tạm trú ở sát ngay trại quân của Hồ Tôn Hiến nên nghe tiếng kêu liền báo động, biết không yên kẻ gian vội vã tẩu thoát. Sớm hôm sau Hồ Tôn Hiến bắt nàng tới hỏi xem kẻ kia là ai để trị tội vì trong thâm tâm Hồ vẫn thèm khát Kiều mà không dám, nên nổi máu ghen với kẻ lạ mặt. Kiều cứ tình thực mà khai là thấy một ông sư nhưng vì đêm tối nên nhận không được rõ. Hồ Tôn Hiến liền bắt tất cả các sư đang trụ trì trong ngôi chùa ra cho Kiều nhận diện, Kiều một mực nói không rõ ai nhưng Hồ không chịu còn bảo: nếu không nhận ra người nào thì sẽ giết hết mấy vị sư vì làm nhớp cửa Thiền. Hồ hỏi các ông xem ai làm điều bậy bạ thì hãy nhận, nhưng ai cũng nói không. Hồ liền sai mang ra chém cả. Kiều đành liều chỉ đại một người. Nhưng ngay đó một chuyện xảy ra giải cái oan cho nhà chùa. Nguyên kẻ làm bậy là Từ Văn Trường đã giả dạng nhà sư tưởng có thể che mắt được. Ai ngờ quả báo, buổi tối đó sau cái chết oan của vị sư Từ Văn Trường trở về nhà thì bỗng nhìn thấy trên giường một ông sư đang giao hoan cùng vợ, hai thân thể trần truồng lung linh trước mắt, cơn giận bốc lên Từ rút gươm xông vào đâm, nhưng lúc nhìn ra hóa chỉ có mỗi vợ mình rãy chết trên vũng máu. Vì giết người Từ bị bắt dù là kẻ có công ở dưới trướng nhưng Hồ Tôn Hiến cũng không thể vì tình mà tha được, nhất là sau khi Từ Văn Trường đã khai ra cái chuyện đội lốt nhà sư kia. Bị nhốt Từ Văn Trường phát điên, phá nhà ngục chạy về đốt nhà rồi nhảy vào lửa mà chết. Câu chuyện đã làm náo động dư luận. Kiều những khóc thầm vì phải chứng kiến nhiều cảnh đau thương oan trái do đó nàng đã quyết chọn đường tu để mong sám hối tội lỗi lãng quên cuộc đời.

Dời khỏi ngôi chùa trở về quê Kiều muốn quên ngày cũ, nhưng tới nhà Kim Trọng lại đòi nối lại tình xưa, có lẽ chẳng phải vì lời thề thốt nhưng bởi nhan sắc mặn mà và cái thân thể khêu gợi của nàng Kiều, về phía Thúy Vân thì ghen tương sợ chị cướp mất chồng sẽ mất phần nào sự mặn nồng tình ái. Kiều ở vào hoàn cảnh dở khóc dở cười chỉ còn biết than thân trách phận. Nàng nhất định dứt đường tình ái ra nơi am vắng nhưng Kim Trọng đã chẳng buông tha, một mực ép nàng muốn cho cửa am thành nơi dơ bẩn, Kiều chẳng dám nói lớn sợ vỡ ra thì xấu chàng hổ thiếp chỉ tìm cách lẩn tránh. Nàng Thúy Vân cùng cha mẹ biết chuyện chỉ đành chép miệng thở dài.

Một đêm kia kinh kệ vừa xong, đóng cửa am cẩn thận rồi đi nằm, giấc ngủ chưa đến bỗng nghe tiếng gỏ cửa, nàng thất kinh cố ý nằm im, nhưng nghe tiếng gõ mỗi lúc một lớn, sợ kinh động khiến người ngoài biết nàng đành phải ra.

_Em lạy anh, hãy buông tha cho em được yên thân, em đâu còn trinh trắng nửa, hãy để cho em giữ lại một chút lòng này với anh. Anh đừng ép để em phải lấy cái chết mà giữ mình.

Tiếng gỏ im Kiều lắng nghe có tiếng bàn tán, khiến nàng run sợ chợt có tiếng quen quen hỏi:

_Có phải nàng Kiều đó không?

Kiều cố moi óc nhớ xem giọng ai, tiếng nói tiếp theo:

_Anh đây, anh Từ Hải mở cửa cho anh, anh về đón em đây.

Nghe xong Kiều muốn ngất xỉu, nàng run rẫy quỳ xuống:

_Từ tướng quân, sống khôn thác thiêng, em biết em đã giết tướng quân, xin tướng quân tha cho..

_Anh còn sống mà, anh chưa chết đâu, em hãy mở cửa ra.

_Không anh chết rồi, em thấy rõ anh chết rồi, anh có linh anh hãy độ cho em.

_Khổ quá, anh còn sống nhăn, em hãy mở cửa ra xem.

Rồi một tiếng lạ khác:

_Từ tướng quân vẫn còn sống, phu nhân cứ mở cửa đừng sợ.

Sau một lúc trấn tĩnh, Kiều đánh liều mở cửa, trước mặt nàng rõ là Từ Hải và một người khác, Kiều kêu lên:

_Em đang mơ hay tỉnh đây.

_Em đang tỉnh

Từ Hải cầm lấy tay nàng:

_Em hãy lại đây.

Kiều hoảng rút vội tay nhưng không kịp nửa  và nàng nhận rõ đúng là Từ Hải. Nàng ôm choàng lấy Từ nỗi vui khôn xiết. Từ kể lại chuyện trá hàng cho Kiều nghe và Kiều kể những gian truân từ bấy đến nay, hai bên cùng ứa lệ chan hòa. Kiều oán trách:

_Sao anh trốn đi mà không cho em theo?

_Vì anh tưởng em muốn vinh hoa phú quý thì để em hưởng ai ngờ như ngày nay.

Chợt Từ hỏi:
_Vừa xong em tưởng anh là ai vậy?

Ngập ngừng một lúc nàng mới nói được:

_Em tưởng chàng Kim vì chàng Kim vẫn còn muốn em.

_Thằng khốn khiếp, cái bọn nho sĩ dâm loạn, nó muốn người ta ai cũng là đĩ mãi, người ta vào chùa rồi nó muốn người ta làm đĩ nửa. Thôi em hãy cở bỏ cái áo đó rồi theo anh, anh không muốn em phải sống khổ sở thế này. Chúng ta phải gây dựng lại.  Ngay đêm đó Kiều cùng Từ Hải và người bạn xuống thuyền ra đi.

Những năm về sau từ miền duyên hải Việt đông mãi tới Giang nam nhiều vụ dấy loạn nổi lên. Người ta bàn tán về  một đám giặc lùn nhận là Từ Hải, kẻ nói dư đảng, kẻ nói là bọn mạo danh, nhưng có kẻ cả quyết rằng chính mắt đã nhìn thấy Từ Hải . Trong dân gian kẻ nói thế này người nói thế khác thực giả chẳng biết đâu mà phân biệt.

Có điều những vụ nổi dậy đã làm cho triều đình lo âu và người dân bị đàn áp ngóng chờ loạn lạc hy vọng một đổi đời sẽ đến, cái hy vọng mà xưa kia trong một thời gian ngắn ngủi Từ Hải đã mang đến cho họ..

(1963-1965)

Hải Hành Mùa Đại Dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted on 5 Jul 2021

Post by Sơn râu 13 Aug 2023

Kỳ 5.

Hồi hôm nghe tiếng tàu đề máy tôi giựt mình thức giấc, biết tàu khởi hành nhưng giờ đó không phải giờ tôi làm việc, tôi lăn người trở mình làm chiếc mền tuột rớt xuống sàn, tôi cúi xuống kéo mền lên đắp lại rồi ngủ tiếp. Không hiểu sao tôi ngủ mê man tới khi đồng hồ reo mới giựt mình thức dậy. Thường thì tôi thức sau bốn giờ sáng, pha một tách cà phê đen đậm bằng nước lọc, không đường, không sữa rồi đem lên phòng, mở laptop ra vừa nhâm nhi cà phê vừa đọc, đọc xong rồi gõ bàn phím viết lưu lại những chuyện xảy ra trên tàu, cho tới khi đồng hồ reo tôi mới ngưng. Sợ mê đọc và viết quên giờ làm việc, nên tôi chỉnh đồng hồ reo đúng sáu giờ sáng, để nó nhắc nhở tôi đã tới giờ tập thể dục trước khi bắt tay làm việc. Nhưng tối hôm qua tôi ngủ say như chết, cho tới khi đồng hồ reo, tôi lật đật ngồi dậy, đi vội xuống bếp chỉ kịp lấy chai nước lọc đổ vô máy pha cà phê, rót cho mình một tách và bưng ra boong. Định uống hết tách cà phê rồi tập thể dục, nhưng thấy cảnh bên ngoài hấp dẫn quá nên tôi đứng ngắm. 

Chuyến này tàu nhận chuyển hàng từ Hamburg lên Stockholm, thủ đô của nước Thuỵ Điển, nếu tàu muốn đi tới Stockholm thì phải băng ngang con kinh đào Kiel để vô biển Baltic. Tàu đã vô kinh Kiel hồi sáng sớm và chạy một đoạn cũng khá xa rồi. Bất cứ tàu lớn, tàu nhỏ gì hễ vào kinh chỉ được phép chạy bảy hải lý một giờ. Những chiếc tàu buồm du lịch màu trắng nho nhỏ xếp buồm chạy bằng động cơ dọc bên bìa kinh và ở giữa dòng những chiếc containers trên ngàn tấn nối đuôi chạy thẳng hàng trong sương pha loang loáng, mặt dù nhiều tàu xuôi ngược trong kinh nhưng rất trật tự và không gây tiếng ồn ào nên trông quang cảnh rất là thanh bình. Tôi để tách cà phê lên đầu cột trụ rồi đi vô phòng lấy chiếc điện thoại thông minh trở ra chụp dọc theo dòng kinh, chụp xong mấy bôi, tôi lại đầu cột trụ bưng cà phê hớp một hớp, cà phê nguội ngắt, tôi ngước cổ ực một hơi hết sạch. Tôi bấm điện thoại xem đồng hồ, gần bảy giờ rồi, không còn đủ giờ tập thể dục nữa. Tôi đi vô phòng tắm sửa soạn đánh răng rửa mặt, nhưng khi vặn vòi nước thì thấy màu nước pha sét vàng khè, tôi nghĩ thợ máy đang thay đổi bồn nước hay đang sửa chữa gì đó. Tôi trở ra phòng ngoài lấy chai nước lọc đem vô rửa mặt đánh răng, xong rồi trở ra thay quần áo và bắt đầu công việc cho ngày mới. Tôi đi xuống mở thử vòi nước trong phòng bếp, vẫn đục ngầu, bèn day qua nhấc điện thoại lên gọi xuống hầm máy hỏi về nguyên do nước bị sét, người phụ máy cho biết, ống dẫn của bồn nước bị bể nên nước chảy hết rồi, chờ tàu tới Kiel ghé xưởng sửa chữa xong sẽ lấy nước khác. Định điện thoại lên hỏi thuyền trưởng chuyện nước nôi thì thuyền phó và Edy xuống tới, mặt hai thằng còn ngái ngủ, đã vậy mà thuyền phó vừa nhăn nhó vừa chửi thề nên trông mặt mày nó bèo nhèo như cái nùi giẻ lau sàn tàu. Nó càu nhàu:

– Hổng có nước đánh răng, rửa mặt!

Tôi nói:

– Hồi sáng tao đánh răng rửa mặt bằng nước lọc.

Thuyền phó hô:

– Oh, ý kiến hay.

Edy thì đưa ngón tay lên gặt gặt.

– Tốt, tốt…

Nói xong hai đứa liền day lưng đi trở lên tầng trên, tôi đoán chừng tụi nó lên phòng lấy nước lọc để rửa mặt, đánh răng. Tôi day ngang nhấc điện thoại quay gọi thuyền trưởng hỏi ông cho tôi lấy mấy can nước dự phòng khi tàu gặp nạn để xài. Nhưng ông kêu tôi chờ chút để ông gọi thuyền phó lấy nước cho tôi. Vừa để hộp điên thoại xuống thì thấy thằng nhỏ mới đổi xuống thay cho Ama đứng lấp ló ngoài cửa bếp, thấy tôi nó chào:

– Chào chú.

Nó chìa tay ra định bắt, tôi cười và đưa cùi chỏ ra, nó rụt tay lại và miễn cưỡng đưa cùi chỏ lên cụng một cái. Xong nó tự giới thiệu:

– Con là Philip, em của Sam, mới đi chuyến đầu.

– Chào mừng xuống tàu. Hồi hôm con xuống tàu lúc mấy giờ?

– Dạ, mười một giờ.

Tôi chỉ tay qua máy cà phê, nói:

– Con lấy cà phê uống đi, chắc còn được một tách.

Nó lắc đầu nói:

– Con hổng uống cà phê.

Ngập ngừng một chút, nó rụt rè hỏi:

– Hôm qua con đi cả ngày hổng ăn gì hết, chú có gì ăn không?

Tôi chỉ tay qua phòng ăn nói:

– Con vô trong phòng ăn, phó mát, thịt nguội, bánh mì, nước trái cây và sữa chú để trong tủ lạnh, con coi thứ nào ăn được thì lấy ăn.

– Xin lỗi chú, con đạo Hồi, hổng ăn thịt heo. Chú có mì gói không?

Không biết người đạo Hồi ở những nước khác như thế nào, chớ người đạo Hồi ở In Đô phần đông mới xuống tàu họ giữ giới rất kĩ, hổng ăn thịt heo, hổng uống bia rượu, ra vẻ ta đây là người đạo đức hoặc là thánh nhân và muốn người khác phải phục vụ cho mình. Đôi khi là người In Đô với nhau cũng khó chịu và còn đố kỵ với nhau, có vài người đạo Thiên Chúa hổng ăn thịt cừu mà ăn thịt heo, ngồi trước mặt mấy người đạo Hồi họ ăn thịt heo ngon lành và cố ý ra vẻ ăn rất bạo, họ ăn để chọc tức mấy người đạo Hồi cho bỏ ghét chớ chớ hổng ăn vì Chúa. Nhưng phải nói là người đạo Hồi thứ thiệt thì sống đời thủy thủ có hơi khó khăn, nói đúng là sống không được. Tôi thấy một vài người đi chưa hết hợp đồng đã cuốn gói về nước, và có nhiều người cố gắng đi hết hợp đồng rồi về luôn không trở qua nữa, nguyên do cũng tại vì tàu của Hoà Lan thịt heo nhiều quá và những thứ thức ăn chế biến của Hoà Lan thường dùng mỡ heo. Phần đông đạo Hồi người In Đô hổng đọc hoặc hiểu kinh Koran, ban đầu mới xuống còn nghiêm túc giữ đạo, đi được một thời gian thì phá giới uống bia, rượu, hổng ăn thịt heo thì cũng ăn được da heo chiên dòn, hễ có dịp đổ bộ thì đi vô khu đèn đỏ tìm đĩ rẻ tiền mà chơi. Trước kia thấy những chuyện như vậy tôi bất bình hay chọc ghẹo nói xiên nói xỏ. Nhưng rồi một ngày tôi nhận ra khắp nơi trên thế giới này, cũng vì ba cái vụ đạo này đạo kia mà con người ta sanh ra đố kị rồi thù oán, cá nhân thì mỉa mai, chửi bới thậm chí đánh nhau lỗ đầu chảy máu. Cùng một giống nòi hổng ưa nhau cũng vì người theo đạo này, người theo đạo nọ, đạo ăn thịt heo, đạo ăn thịt bò không ưa nhau; cùng là con Phật người ăn chay hổng ưa người ăn mặn. Còn tầm cỡ quốc tế thì nước này gây chiến với nước kia, đánh nhau tơi bời hoa lá cũng vì đạo khác nhau mà người ta gọi là thánh chiến. Thiệt ra thì đạo nào cũng truyền bá thông điệp về tình yêu, vậy mà hễ nghịch nhau thì bị khủng bố, hăm he bắn giết, chặt đầu, bâm thây, đốt nhà cướp của. Tôi nhìn thằng nhỏ, mới bước vào cuộc sống hải hồ còn non nớt, bỡ ngỡ, rụt rè nhưng không biết nó giữ giới được bao lâu, hay là lao vào đời sống tranh đua một thời gian sẽ lơi là chuyện đạo cũng giống như những bậc đàn anh, đàn chú đi trước nó. Tôi bưng ấm nước lên, trong ấm không còn chút nước nào hết. Tôi day lại nói với Philip:

– Hổng có nước làm sao nấu mì.

Thằng nhỏ ra chiều thất vọng định quay đi. Tôi chợt nhớ ra:

– À…à… con chờ chú chút xíu, chú nấu mì cho.

Tôi lấy chai nước lọc đổ vô chiếc ấm điện bấm nút nấu, mở gói mì bỏ vô tô và đập thêm một cái trứng, chờ nước sôi tôi chế lên mì rồi lấy cái dĩa làm nắp đậy, tôi bưng tô mì qua phòng ăn để vô lò vi sóng, bấm hai phút. Tôi trở vô bếp mở hộc tủ lấy muỗng nĩa đưa cho Philip và dặn:  

– Khi nghe tiếng chuông, tức là mì đã xong, con tự bưng ra ăn nhé.  

– Dạ, con biết rồi, cám ơn chú.

Cùng lúc đó thuyền phó cũng vừa đi xuống, mặt mày tươi tắn, sáng sủa lên, nó đưa chùm chìa khoá ra lắc lắc nghe rột rẹt và nói:

– Tui xuống kho lấy nước cho ông.

Nó xuống kho một lát sau hai tay xách lên hai lố nước lọc để lên mặt bàn, tôi ngạc nhiên hỏi:

– Thuyền trưởng kêu mày lấy nước này cho tao nấu ăn hả?

– Ừ.  

– Nhưng hai lố đâu có đủ.

Nó lật đật xuống kho hai tay xách lên hai lố nước nữa và nó tháo chìa khoá kho máng lên cái móc trên vách rồi dặn tôi:

– Thuyền trưởng dặn tui để chìa khóa cho ông, khi nào thiếu nước ông cứ xuống kho lấy.

Tôi định hỏi sao hổng lấy mấy can nước dự trữ, nhưng nghĩ lại, một lố nước lọc sáu chai, mỗi chai một lít rưỡi giá tiền chưa tới ba euro, nấu nướng một ngày năm bảy chục lít cũng hổng sao, còn phần rửa ráy lặt vặt thì tôi lấy sô chứa nước sét để lóng lại xài cũng được. Coi như chuyện nước nôi đã giải quyết xong và tôi bắt tay làm việc, tôi đổ nước vô máy pha cà phê rồi day ngang mở điện lò và ra phòng ăn dọn cho bữa ăn sáng. Trong lúc tôi dọn bàn thì nghe tiếng chào:

– Chào ông Tấn.

Tôi ngó lên thấy Anatoli thợ máy người Estonia. Có hơi ngạc nhiên tôi hỏi:

– Ông xuống hồi nào?

– Hồi khuya.

– Sao tui hổng nghe ai nói hết.

Ông nhún vai nói:

– Tui hổng biết.

Chuyện thay đổi người hoặc tin tức này nọ trên tàu thường thì thuyền phó nói cho tôi biết, nhưng có lẽ mấy hôm nay bận rộn chuyến hàng nên nó hổng có thời gian để thông báo. Thợ máy hỏi:

– Ông có cà phê không?

Tôi chỉ tay vô bếp:

– Có, ông vô bếp lấy đi.

Tàu qua kinh Kiel lúc khuya, thủy thủ thức làm việc cho tới khi tàu vô kinh mới ngủ, sáng nay thủy thủ ngủ bù nên tôi không dọn bàn ăn, với lại người In Đô ăn sáng cũng dễ, trên tàu bơ, sữa, dăm bông, phó mát và mứt trái cây để đầy tủ lạnh nhưng ít khi người In Đô rớ tới, họ thường ăn mì gói với cái trứng luộc hoặc cơm nguội với trứng chiên omelet là xong. Tôi dọn bàn xong trở vô bếp, thì thợ máy lấy cà phê rồi đi đâu mất, có lẽ ông ta xuống hầm máy. Tôi lấy nồi đổ mấy chai nước vô hầm xương để nấu súp, chỉ mới pha cà phê và hầm xương bò mà hết bốn chai nước lọc rồi. Hôm nay tôi định làm món hachee, ăn với cơm trắng hoặc khoai tây luộc và bắp cải đỏ hầm táo, hachee là món thịt bò hầm với củ hành tây, món ăn truyền thống của Hoà Lan và hợp khẩu với phần đông người Hoà Lan, chớ người nước khác thì không khoái khẩu lắm, trên tàu chỉ có một thằng nhỏ phụ máy là người Hoà Lan. Thật ra thì trên tàu đầu bếp nấu món gì thủy thủ đoàn phải ăn món đó, không ai có quyền ọ ẹ, theo luật là như vậy, chớ người nào hổng ăn và cũng hổng ọ ẹ thì hổng lẻ lấy thức ăn nhét vô họng bắt họ ăn. Tôi hổng muốn thức ăn của mình bỏ công ra nấu mà ít có người thưởng thức, bị dư thừa rồi đem đổ bỏ. Tôi quyết định thay món hachee ra món bò hầm cà rốt, khoai tây ăn với cơm trắng, món súp tôi đổi lại món borsch, món này nổi tiếng của nước Đông Âu và Nga, dân nước nào ăn cũng thấy ngon. Tôi day qua lấy thịt bò ra định xắt thì thuyền trưởng điện thoại hỏi chuyện nước nôi và hỏi tôi có bị rắc rối gì nữa không? Tôi nói:

– Tất cả đều tốt nhưng kho nước lọc của ông từ đây tới chiều tốn hao nhiều lắm đó.

Thuyền trưởng cười ha hả và nói:

– Không thành vấn đề.

Tôi định gác máy, nhưng ông nói tiếp:

– À, Bếp làm thêm hai phần ăn cho buổi trưa và bây giờ thì phiền Bếp làm hai phần ăn cho người lái tàu và hoa tiêu nhé, Edy sẽ xuống bưng lên cho họ.

– Yes sir.

Tàu qua ngang kinh Kiel phải dùng hoa tiêu và người lái tàu của địa phương, cho nên mỗi lần qua đây khỏi cần thuyền trưởng nhắc nhở tôi cũng nấu thêm hai ba phần ăn. Trong lúc tôi sắp bánh mì ra dĩa, trét bơ, để lên mấy miếng phó mát và bắt chảo lên lò định chiên trứng thì Edy xuống. Tôi ngạc nhiên nói:

– Oh, sao lẹ vậy ?

– Thuyền trưởng vừa gọi, con xuống liền.

Thấy tôi đang đập trứng bỏ vô chảo, nó nói:

– Để con phụ chú, chú chiên trứng đi.

– Ok.  

Chuyện mấy đứa vô bếp phụ tôi làm không phải bắt buộc, tuy nhiên mấy đứa thích phụ tôi lắm, nhưng tôi cho vô bếp chỉ một đứa thôi, trước đây Ama phụ, Ama về rồi Edy xin vô phụ. Edy mở tủ lấy chiếc mâm vuông, lấy giấy lau gói dao, nĩa lại để lên mâm và  lấy tách rót nước trái cây. Edy dọn mâm xong thì tôi cũng vừa chiên trứng để lên bánh mì và tôi để hai phần ăn lên mâm cho Edy bưng lên phòng lái. Edy vừa đi thì thuyền phó cũng vừa tới, nó ló mặt vô bếp hỏi:

– Bếp có thể chiên cho tôi hai cái trứng sunny-side-up (mặt trời chiếu ngược, tức là trứng chiên một mặt) được không?

Tôi nhìn lên đồng hồ trên vách, nãy giờ lo chuyện nước nôi làm lố giờ ăn sáng rồi, tôi day qua nói:

– Dĩ nhiên, nhưng mày phải chờ.

– Ok.

Tôi chiên trứng dọn ra bàn cho thuyền phó thì thấy thằng nhỏ phụ máy đã ngồi trong bàn ăn hồi nào, tôi hỏi nó:

– Mày ăn trứng không tao chiên luôn.

Nó lắc đầu:

– Không, cám ơn Bếp.

Tôi trở vô bếp thì thấy Edy đứng khoanh tay trong góc bếp. Tôi hỏi:

– Sao con hổng ngủ?

– Ăn xong con ngủ.

– Oh, vậy con ăn mì gói không chú nấu.

Nó dở nắp nồi cơm, thấy còn cơm nguội, nó day ngang lấy dĩa vừa bới cơm vừa hỏi:

– Chú chiên trứng cho con được không?

– Dĩ nhiên.

Nó bưng cơm đem bỏ vô lò vi sóng, tôi đánh trứng ra chiên cho nó, thường những người In Đô ít khi ăn trứng chiên nửa sống nửa chín. Một lát sau Edy bưng dĩa cơm đã hâm nóng trở lại và cầm theo cái tô dơ của Philip ăn hồi nãy đưa cho tôi, miệng nó càu nhàu:

– Cái thằng, ăn xong rồi bỏ đó, đi mất tiêu rồi.

Tôi nói:

– Nó mới xuống mà, nếu nó hổng biết chuyện gì thì từ từ con chỉ cho nó.

Tôi lấy cái sạn xúc trứng bỏ vô dĩa cơm của Edy:

– Phần của con xong rồi nè.

– Cảm ơn chú, con bưng lên phòng ăn nhé chú.

– Ok, ăn ngon.

Thuyền phó và phụ máy ăn xong rồi đem dao, nĩa, dĩa dơ vô đưa cho tôi, tôi sắp mọi thứ vô máy, coi như bữa ăn sáng đã xong rồi. Tôi day ngang thấy nồi xương hầm sôi lên bọt sắp trào, tôi vặn bớt lửa và vội lấy dá vớt bọt. Xong tôi định đi lên phòng nghỉ ngơi một chút rồi xuống xắt thịt. Vừa đi tới cầu thang thì chạm mặt thuyền trưởng, ông bưng chiếc mâm của người lái tàu và hoa tiêu đã ăn xong đi xuống. Thấy tôi ông chào:

– Xin chào ông bếp.

Tôi ngạc nhiên khi nghe ông chào bằng tiếng Việt và thốt lên:

– Oh! Chào!

Tiện tay ông đưa chiếc mâm cho tôi và hỏi tôi:

– Bếp chiên cho tui hai cái trứng sunny-side-up được không?

– Dĩ nhiên.

Tôi bưng mâm trở vô bếp để lên bàn, day ngang bật điện lò và bắt chảo lên. Trong lúc chờ chảo nóng, thuyền trưởng vô đứng bên tôi và đưa máy điện thoại ra khoe:

– Năm rồi tui có đi du lịch bến Ninh Kiều, Cần Thơ, Tây Đô nè.

Chắc hôm đi du lịch học được vài ba tiếng Việt, hôm xuống tàu tới nay bận rộn nên quên, hôm nay nhớ lại mới đem ra xài, mấy tên địa danh ông nói dính chùm nhau, nhưng giọng ông rõ ràng tôi nghe là hiểu liền. Làm ra vẻ hiểu biết, ông nói Cần Thơ mà còn kèm theo Tây Đô nữa. Dạo sau này những người Tây tôi biết thường đi du lịch Việt Nam, khi trở về gặp tôi hay khoe. Tôi day qua vui vẻ nói:

– Oh, đã quá vậy?

Ông có ý định khoe nên mở điện thoại trước, khi đưa ra cho tôi xem thì trên màn hình đã hiện sẵn những chiếc đò dọc và vỏ lải đuôi tôm chạy trên sông, ông bấm tiếp cho tôi xem chợ nổi Cái Răng, tham quan lò làm hủ tiếu và ngồi ăn cá lóc nướng trui trong một cái quán miệt vườn. Cuối cùng dừng lại tấm hình ông mặc quần đùi, mang ba lô đứng dưới chân tượng ông Hồ Chí Minh trên bến Ninh Kiều. Ông chỉ tay vô tấm hình và hỏi:

– Bếp thích cái này không?

Tôi nhớ có lần tới công trường cách mạng tháng mười ở St. Petersburg tôi có chụp hình đứng trước tượng ông Lenin và tôi có khoe cho thuyền trưởng, lúc đó ông còn là thuyền phó. Hôm đó ông cũng hỏi tôi câu tương tợ như vậy. Tôi cười nhưng không trả lời thẳng:

– Chỉ là pho tượng thôi mà, nước Nga cũng quá trời tượng vinh danh ông kia, bà nọ, hồi đó tui qua St. Petersburg cũng có chụp tượng ông Lenin vậy.

– À, tui nhớ rồi.

Chợt tôi nghe mùi khét, tôi ngó qua bếp thấy chiếc chảo đặt trên lò khói bốc lên nghi ngút, tôi vội day ngang nhắc chảo xuống rồi day lại cười nói:

– Nãy giờ tui với ông lo tán chuyện nên chảo bị cháy rồi.

– Oh, xin lỗi.

– Hổng sao, ông ra bàn ngồi uống cà phê chờ tui, trứng chiên một mặt lâu hơn trứng chiên hai mặt.

– Thiệt hả?

– Thiệt mà, tự nhiên tôi cao hứng giải thích, trứng chiên một mặt phải để lửa nhỏ cho trứng chín từ từ và sau khi đập trứng bỏ vô chảo chiên phải cho vài giọt nước để phía dưới không bị khô, chiên sao tròng trắng phải đặc màu sữa, tròng vàng còn nguyên là được. Còn chiên hai mặt thì để lửa cao một chút đập trứng vô chảo rồi lấy sạn lật qua lật lại hai ba phút là xong.

– Oh, bây giờ tui mới biết tại sao ai cũng thích trứng chiên của ông, nhứt là trứng chiên với thịt ba chỉ hun khói.

– Ông nói đúng, thường thì sáng nào tôi cũng mất một khoảng thời gian chiên trứng cho thủy thủ đoàn. À mà ông muốn trứng với thịt ba chỉ không?

– Hôm nay thì không.

Ông day lưng đi qua phòng ăn. Tôi day lại đem chảo rửa và bắt lên bếp. Chiên trứng xong đem ra cho ông, tôi hỏi:

– Ông đi du lịch tour hay là tự đi?

– Tui đi với người bạn.

– Vui không? Và ăn, uống được không?

– Vui chớ, người Miền Tây rất vui, đi đường gặp người nào cũng cười chào, thức ăn thì món nào tui ăn cũng ngon, trừ cái món lẩu mắm là tôi chịu hổng được.

– Ha ha…Tui là người Miền Tây mà ăn còn hổng vô nữa nói chi ông. Thôi, ăn trứng sunny side up cho ngon.

– Cảm ơn.

Tôi nhìn đồng hồ đã qua chín giờ, mất toi giờ nghỉ giải lao và lố luôn thời gian làm việc. Tôi lật đật đem thịt bò ra xắt, loại thịt bò dai như da dày này hầm hai tiếng trở lên mới ăn được.

Những năm gần đây trong đám thủy thủ người Nga tôi quen biết, họ thường mang ba lô đi một mình hoặc đi với bạn bè nên họ khác với người Hoà Lan thường đi tour trọn gói, loại mắc tiền nên đi về họ kể lại những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, ngủ trong khách sạn cao cấp và ăn, uống trong nhà hàng hạng sang nên gặp tôi họ khen Việt Nam đẹp, thức ăn ngon, phục vụ tốt. Còn người Nga đi du lịch ba lô nên gần gũi với thiên nhiên và hiểu biết chút ít nhân tình thế thái, về những món ăn bình dân như phở, gỏi cuốn tôm và thịt ba chỉ, thịt kho, cá lóc nướng trui, lẩu mắm. Họ còn biết chuyện kinh tế nước Việt Nam đang phát triển và biết luôn những sự cố rừng núi bị tàn phá, sông Cửu Long bị ô nhiễm, ngập mặn… Trước kia khi nghe họ khen Việt Nam giàu đẹp và là một quốc gia đang phát triển, tôi thích thú và hãnh diện vô cùng. Rồi một ngày tôi ngộ ra những người đi du lịch dù hình thức nào đi nữa, một năm đi một lần thì cũng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa. Cho nên tôi nghe và ra vẻ đồng tình xã giao vậy thôi chớ thiệt ra hổng còn cảm xúc vui vẻ khi nghe những chuyện tốt hoặc bức xúc khi nghe những chuyện xấu xa như trước kia nữa.

Tôi xắt thịt vừa xong thì thuyền trưởng cũng đã ăn xong, ông đem dao, nĩa, dĩa, tách dơ vô để vào chậu. Rồi day qua nói với tôi:

– Trưa nay tui hổng ăn, chiều ăn luôn.

– Ok. Ngủ ngon.

Trong khi tôi phi tỏi, hành và cho thịt vô xào thì thợ máy từ dưới hầm máy chui lên, ló đầu vô bếp hỏi:

– Ông có cornflakes không?

– Dĩ nhiên, tôi để trong tủ phòng ăn.

– Ông cho tui mượn cái tô và cái muỗng, tôi ăn Cornflakes được rồi.

Tôi day qua kệ lấy tô và kéo học tủ lấy muỗng đưa cho ông:

– Ăn ngon.

Tôi biết Anatoli trong những ngày đầu nước Hoà Lan nhận lao động Nga và Đông Âu sang làm việc. Thời gian đó thủy thủ người Hoà Lan và người Nga tranh chấp, kỳ thị nhau căng lắm. Người Hoà Lan bình thường trông rất hiền hoà, bỗng chốc tôi thấy từ thuyền trưởng cho tới những người cấp dưới ông bộc lộ tánh kỳ thị rất nặng, họ tỏ thái độ rất là hung hăng, không chịu ngồi ăn chung với người Nga, tới giờ ăn các ông lấy đồ ăn bưng lên phòng hoặc xuống ăn trước giờ ăn, thợ máy không chịu phụ máy người Nga hoặc phụ máy hổng chịu làm việc chung với thợ máy người Nga, làm việc chung với nhau mà ngày nào cũng nghe nói xấu người Nga và có khi chửi bới người ta om sòm. Tuy quốc gia Estonia đã sát nhập vào Âu Châu nhưng Anatoli cũng bị chung số phận, ông là thợ máy chánh, bận rất nhiều chuyện, cái máy rửa chén bị hư những thợ máy người Hoà Lan không sửa được, thuyền trưởng bắt Anatoli sửa đi sửa lại hoài, máy cũ xì rồi sửa sao được, các người lấy đó làm đề tài nói xấu người ta. Thật tình thì lúc đó tôi cũng hổng ưa tánh tình của những người trong khối cộng sản lắm, họ nhậu nhẹt, quậy phá, giữa đêm khuya muốn ăn thì gõ cửa phòng đầu bếp hỏi đồ ăn, muốn chơi thì lên gõ cửa phòng con nhỏ thuyền phó đòi chơi, ban ngày thì thừa cơ hội rờ mông, bóp chim con người ta… dĩ nhiên chuyện như vậy chỉ có vài tên say xỉn thôi nhưng cũng là đề tài cho người Hoà Lan đem ra châm biếm và bôi bác rồi. Tuy bực mình nhưng thấy Anatoli bị đì tội nghiệp, nhưng tôi không giúp được gì ông ta hết, chỉ biết động viên về mặt tinh thần, thân thiện, vui vẻ với ông. Có lần tôi rủ ông lên hội quán chơi, trong lúc ngồi uống bia ông nói với tôi:

– Mình ở nước nhỏ nên bị mấy người ở nước lớn xem thường.

Tôi nói:

– Nước Hoà Lan cũng nhỏ mà.

– Nhưng nó giàu.

Tôi nhìn Anatoli và nói:

– Giàu nghèo gì thì ở cũng một cái nhà, ăn cũng đầy một cái bụng, tối ngủ cũng có một cái giường.

– Ông ở Hoà Lan nên ông mới nói vậy.

Ông đưa ngón tay trỏ và ngón cái chà chà vào nhau và nói tiếp:

– No money, no honey…

Câu thành ngữ tiếng Anh no money, no honey, đại khái là không có tiền thì không vui vẻ, không hạnh phúc, câu này tôi thường nghe những người nói với thái độ đùa vui hoặc của các cô gái trong các hộp đêm. Nên khi nghe Anatoli thốt lên với giọng nghiêm túc, tôi thấy nó sao sao. Tôi ôn tồn và nói ra sự trải nghiệm của thân phận ăn nhờ ở đậu nước người ta:

– Tại ông nghĩ vậy thôi, chớ ít tiền cũng vẫn sống vui vẻ được mà.

Thấy ông ngẫm nghĩ tôi nói tiếp:

– Ông biết không, tui chạy trốn khỏi Cộng Sản tới Hoà Lan định cư trong những ngày còn trẻ, cả đời làm lụng vất vả và đóng thuế đầy đủ cho đất nước này, được cái là sống trong thế giới tự do thôi, chớ thiệt ra tui vẫn là người Việt và người Hoà Lan họ cũng đâu có coi tôi là người của họ.

– Nhưng ông quốc tịch Hoà Lan thì ông vẫn là người Hoà Lan.

Hết ở Hoà Lan rồi tới vẫn là người Hoà Lan! Nãy giờ thấy ông chú ý lắng nghe và trầm ngâm suy nghĩ, tôi tưởng ông cũng lãnh hội được ít nhiều những gì tôi nói, nhưng xem ra những lời nói của tôi hổng thấm tháp gì với ông hết. Lúc đó tôi mới nhận ra cùng một khối Cộng Sản với nhau nhưng khi tan rã ra thì tâm trạng của mỗi người dân của mỗi nước mỗi khác nhau. Người Nga thì có vẻ cao ngạo, tự hào, còn dân những nước nhỏ cạnh nước Nga mà vài người tôi được biết, cũng như Anatoli, họ nhẫn nhịn và âm thầm làm việc, họ sống tách biệt với mọi người. Tôi nhìn thẳng mặt Anatoli, ông cúi xuống cầm ly bia xoay xoay, tôi nghĩ gần một thế kỷ người Estonia bị đảng Cộng Sản Nga cai trị, cho nên dân tộc này gương mặt lúc nào cũng buồn bã, cam chịu, giống như người Nga, trong đầu họ chỉ biết làm sao kiếm được thiệt nhiều tiền, ngoài ra không còn gì khác. Có thể vì vậy những lời tâm sự của tôi đối với ông cũng như nước đổ đầu vịt mà thôi. Muốn thân thiện với Anatoli lắm, nhưng thái độ và cách nói chuyện của ông tôi nghe hơi kì kì, thật tình là tôi nghe hổng lọt lỗ tai.  

Sau chuyến đó tôi đổi tàu đi những tuyến đường khác. Hơn năm sau tôi mới trở lại gặp ông. Lúc đó tình hình thay đổi rất nhiều, những người Hoà Lan không chịu làm chung với những người Nga thì nghỉ việc công ty này đi làm cho công ty khác. Những người còn ở lại người nào cũng thay đổi tánh tình, họ thay đổi một trăm tám mươi độ la bàn, sống hoà đồng, nói chuyện vui vẻ và chuyện ngồi hơi ăn, uống chung chạ không còn là vấn đề nữa. Lúc tàu đang hải hành thì giờ cà phê đám officers tự pha cà phê uống trên phòng lái. Trên tàu ngày chủ nhật, tôi làm bánh kem hoặc bánh táo thường thì giờ cà phê phụ thuyền phó, phụ máy hoặc thực tập sinh xuống bưng lên phòng lái. Nhưng hôm đó Anatoli vui vẻ xuống bưng bánh, ông hớn hở khoe với tôi là được ngồi ăn chung với người Hoà Lan và giờ cà phê được lên phòng lái uống chung với họ. Tôi định nói, chuyện đó là quyền lợi của ông, có gì đâu mà ông vui vậy? Nhưng thấy ông vui mừng giống như người được trúng thưởng, sợ ông cụt hứng. Tôi bèn nói:

– Chúc mừng ông nhé.

Giờ ăn trưa hôm đó, Edy phụ bưng đồ ăn lên cho tụi hoa tiêu và ăn xong nó phụ tôi dọn dẹp. Trong lúc dọn nó thấy tôi múc riêng ra một phần ăn, bọc giấy nhựa cẩn thận và để trên bàn, nó hỏi:

– Chú dành cho ai vậy? 

Tôi nói với Edy:

– Ông thợ máy.

– Tại sao tới giờ ăn ông hổng vô ăn?

– Có lẽ ông ta bận.

– Tàu đang chạy mà bận gì?

Ngập ngừng một chút, nó nói:

– Ông ta hay làm phiền đầu bếp và coi thường người In Đô lắm, có khi ông ra boong chửi thủy thủ ngoài boong nữa.

– Có chuyện đó sao?

– Con nói thiệt mà.

– Con biết ông ta hả?

– Dạ, mấy năm qua con thường làm chung với ông ta mà, tự cao tự đại lắm, chú coi chừng ông ta đó.

– Oh! Vậy là có vấn đề rồi !

Nghe Edy nói tôi mới nhớ, gặp Anatoli hồi sáng tới giờ hổng thấy ông cười và thái độ của ông hổng còn vồn vã như hồi tôi gặp lần cuối nữa. Trước giờ ăn ông vô bếp dặn tôi dành phần ăn riêng cho ông, hình như ông tránh mặt những người Nga. Trước kia chuyện ăn uống trễ giờ làm tôi bực mình, nhưng sống với người Nga và Đông Âu riết rồi cũng quen, tôi nói với Edy:

– Trên tàu có mười một người, đủ cho một đội đá banh mà có tới năm quốc tịch khác nhau, tánh tình mỗi người mỗi khác. Tự cao hay tự thấp gì thì thái độ cũng giống như nhau, mình hổng biết hết được đâu, mặc kệ ông ta đi.

Nói thì nói vậy thôi, chớ thiệt ra thì những ý nghĩ ôn hoà, sự bao dung phải có sự từng trải và tập luyện nhiều năm mới có được. Tôi mỉm cười và day nhìn lại Edy, nó cũng nhìn tôi gật gật cái đầu và mỉm cười trông có vẻ đồng tình, nhưng tôi cũng hổng hiểu nó đang nghĩ gì nữa.

Tây Nam Đại Tây Dương 28-2-2021

Anh hùng đâu cứ phải có râu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Aug 2023

Nước Mỹ rộng bao la. Từ Bắc, nước Canada xuống Nam, nước Mexico, từ Ðông sang Tây, từ Ðại Tây Dương tới Thái Bình Dương dài cả vài ngàn cây số. Nên dân Mỹ đi bộ đâu có nổi.

Hồi xưa thời lập quốc là phải đi xe ngựa, xe bò. Rồi chế ra được chiếc xe hơi, là cả nước Mỹ nằm trên bốn cái bánh xe, quay vòng vòng liên tục. Nhưng xe hơi là phương tiện di chuyển tiện lợi chừng vài trăm cây số trở lại chớ xa hơn khoảng vài ngàn cây là phải leo lên máy bay.

Ðó là nói nội địa thôi nhe chớ còn ở hải ngoại, chu choa nó bay vô bay ra nườm nượp như đàn châu chấu vậy.

Mỗi chiếc máy bay chở chừng vài trăm hành khách mà mỗi ngày bay tới bay lui, bay xuôi bay ngược cả hàng trăm ngàn người.

Nên nước Mỹ có cả trăm hãng hàng không lớn, vừa vừa và nhỏ. Và lớn nhứt có 10 đại ca danh trấn giang hồ. Nổi tiếng và cũng nhiều tai tiếng.

Chẳng hạn như hãng Delta Air Lines. Nên bà con cười ha ha, chọc quê rằng: Delta viết tắt của hàng chữ “Don’t Expect Luggage to Arrive!” (Ðừng hy vọng hành lý sẽ tới).

Như vậy là còn tệ hơn phi trường Tân Sơn Nhất nữa đó. Hành lý cũng tới phi trường nhưng va ly bị tụi nó rạch ra, ăn cắp nào mobile phone, kiếng mát, son môi, dầu thơm; ngay cả thịt bò Úc bà con mình từ Melbourne bay về bỏ bọc ny lon cho bà con làm bò nhúng giấm ăn chút thơm thảo của kẻ xa quê, vinh quy bái tổ, mà tổ cha nó cũng biến mất… vô bao tử của thằng nào?

o O o

Ðó là chuyện rất bực mình, nhưng chuyện nầy là vui nè!

Một chiếc phi cơ chở khách DC-10 đáp xuống phi đạo mà vận tốc cũng còn hơi nhanh.

Ðài kiểm soát không lưu bèn hướng dẫn: “Chiếc American 751 quẹo phải nếu có thể. Bằng không hãy chạy tới lối ra ở Xa lộ 101, cặp bên phải rồi quẹo lại phi trường! He he!”

Phi công trưởng bật máy phóng thanh: “Thưa quý bà! Thưa quý ông! Cuối cùng chúng ta đã đến Heathrow, chúng tôi hy vọng quý vị hài lòng khi bay với hãng hàng không “Rarely Crash Airways” (Hãng hàng không ít khi bị rớt!).

Chúng tôi hy vọng sẽ gặp lại và xin chúc quý hành khách thương mến thương thượng lộ bình an trong suốt cuộc hành trình còn lại!”

Nói xong, viên phi công trưởng lại quên tắt nút máy phóng thanh.

“Roger! Chiều nay làm gì?” “Oh! Mike! Vợ tui sẽ đến khách sạn rồi hai đứa tui đi coi ‘sexy show’! Còn bồ thì sao?”

“Tui hả? Thủ tục ly dị con vợ đã xong tuần rồi. Tui thành một kẻ tự do. Quá đã!”

“Trước tiên tắm một cái cho sạch sẽ, rồi ăn cái gì đó! Xong tui sẽ gọi cho con nhỏ chiêu đãi viên, phục vụ hạng thương gia; hình như nó tên là Susane thì phải. Tui sẽ đưa em xuống phố đêm nay, nhậu một trận rồi đưa em về lại căn phòng.

Rồi chuyện gì sẽ xảy ra? Chắc chú em biết rồi, khỏi kể thêm chi tiết làm chú em thèm nhểu nước miếng, tội nghiệp!”

Hành khách nghe được cuộc đối thoại cực kỳ lý thú giữa phi công trưởng và phi công phụ nên hoan hỉ vỗ tay ầm ĩ.

Susane nghe thấy vậy, bèn từ trên lầu bước xuống phòng lái để nhắc phi công trưởng tắt máy phóng thanh đi.

Em chạy vội giữa hai hàng ghế, vấp vào túi xách tay hành lý để ngổn ngang trên lối đi, suýt té nhủi đầu.

Bà cụ thấy Susane luýnh quýnh bèn bảo em rằng: “Nè con gái cưng! Ði đâu mà vội mà vàng? Cứ thủng thẳng vì thằng Mike nó còn phải tắm nữa mà!”

o O o

Mấy anh mình (có máu cà nanh) hay bĩu môi chê mấy đứa đẹp trai, sức khỏe đầy đủ, ỷ làm phi công (đắt mèo hai chưn) rồi làm phách, vảnh cái mặt lên trời… thấy ghét.

Thiệt tình, phi công cũng có rất nhiều người đứng đắn đàng hoàng, lịch sự có thừa và đầy lương tâm chức nghiệp.

Ngày 15, tháng Giêng, năm 2009 chiếc Airbus 320 của hãng US Airways, chuyến bay 1549 cất cánh từ phi trường LaGuardia.

Mới vừa bình phi thì chẳng may đụng phải đàn ngỗng trời bay qua làm cả hai động cơ đều bất khiển dụng.

Phi công trưởng Chesley Sullenberger không thể đáp xuống bất cứ phi trường nào bèn quyết định hạ cánh trên dòng sông Hudson.

Các tàu thuyền trên sông đổ xô lại cứu. Sullenberger là người cuối cùng rời khỏi phi cơ khi tất cả hành khách đã được di tản một cách an toàn.

Năm 2016, đạo diễn Clint Eastwood và tài tử lừng danh Tom Hanks, vừa được đề cử vào Hàn lâm Nghệ thuật Mỹ cùng với cựu Tổng thống Barack Obama, đóng vai Chesley Sullenberger trong phim ‘Sully’, về cuộc đáp xuống kỳ diệu trên dòng sông Hudson.

o O o

Còn chuyện sau đây lại là của một nữ phi công Tammie Jo Shults so với quý anh mình thì anh hùng không kém một ly ông cụ nào.

Nhà em gần phi trường, hằng ngày em thấy máy bay bay lên bay xuống. Ước vọng là  một ngày mình ngồi trên chiếc máy bay đó, nhưng không phải là một hành khách mà là phi công trưởng, người điều khiển chuyến bay.

Thời Trung học, em đến dự một buổi thuyết trình về ngành hàng không do một Ðại tá phi công về hưu đảm trách. Ông ấy cứ tưởng em đi lạc vì trong khán phòng, chỉ em là con gái.

Tốt nghiệp đại học năm 1985, Shults nộp đơn vào Không quân. Không quân từ chối. Nộp đơn vào Hải quân, được nhận cho đi học phi hành để trở thành huấn luyện viên chớ không phải phi công chiến đấu.

Rời khỏi Hải quân năm 1993, trở thành phi công hàng không dân dụng. Và Shults trở thành một nữ anh hùng!

Ngày 17, tháng Tư năm 2018, chuyến bay số 1380 của hãng hàng không Southwest từ NewYork bay đi Dallas được 20 phút thì động cơ bị trục trặc.

Miếng kim loại che bên ngoài động cơ bị vỡ, mảnh vụn văng làm bể một khung cửa sổ hàng ghế thứ 14 ở khoang hành khách.

Một hành khách ngồi kế cửa sổ, dù có thắt dây nịt an toàn vẫn bị hút ra và, mắc kẹt trong khung cửa sổ. Bảy người khác cũng bị thương.

(Năm 1973 một chiếc DC-10 của hãng hàng không National có một động cơ bất khiển dụng và một cánh quạt làm vỡ một khung cửa sổ. Một nam hành khách bị hút ra ngoài không trung. Mãi tới 2 năm, sau xác của ông mới được tìm thấy.)

Trong tình huống nguy cấp như thế Shults vẫn bình tĩnh báo cáo với đài không lưu là: “Southwest 1380, chúng tôi chỉ còn một động cơ hoạt động. Một phần phi cơ bị mất nên tôi phải bay chậm lại. Xin cho nhân viên cứu thương túc trực ở phi trường vì có một số hành khách bị thương.”

Shults trấn an hành khách: “Mọi người mang mặt nạ dưỡng khí vào, nghiêng người về phía trước, hai tay vịn vào thành ghế phía trước Chúng ta sẽ tiếp đất hơi mạnh! Chúng ta sẽ đáp xuống. Chúng ta sẽ không rơi. Xin hãy bình tĩnh!”

Khi máy bay ngừng trên phi đạo, nhân viên cứu thương lên khoang tàu, nhưng người mẹ có hai con, không qua khỏi.

“Lòng chúng tôi trĩu nặng vì sự mất mát lớn lao nầy xin chia buồn với gia đình người hành khách không may thiệt mạng!”

“Hành khách trên chuyến bay khóc ròng, lòng tràn ngập niềm biết ơn vì còn sống sót. Người nữ phi công nầy đã có thần kinh làm bằng thép. Tôi xin tỏ lòng ngưỡng mộ và sẽ gởi thiệp Chúc mừng Giáng sinh cho bà ấy!”

Thế mới biết anh hùng đâu cứ phải có râu!

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 12th Feb 2021

Post by Sơn râu 13 Aug 2023

Kỳ 6

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Mười phút sau khi 821 và 824 xuất phát, trong máy PRC 25 của tôi có 2 tiếng “Xẹc! Xẹc!” đó là dấu hiệu quân trinh sát của tôi đã tới sát bìa rừng.

Cũng mười phút sau nữa, tôi nghe tiếp 3 tiếng “Xẹc! Xẹc! Xẹc” đó là dấu hiệu báo rằng 824 ngừng lại vì thấy địch, còn 821 vẫn tiếp tục tiến lên.

Bẵng đi hai mươi phút sau, tôi mới nghe được 4 tiếng “Xẹc!Xẹc!Xẹc!Xẹc!”  đó là tín hiệu của Mom Sol báo rằng 821 đã đi qua hết tuyến dàn quân của địch.

Tôi với tay cầm ống liên hợp, bóp ba cái, “Xẹc!Xẹc!Xẹc!” sau đó ba giây đồng hồ, tôi lại bóp tiếp ba tiếng nữa, “Xẹc!Xẹc!Xẹc!”

Tín hiệu này là lệnh rút lui ban ra cho 821 và 824.

Sau đó, tôi bò lên dốc, đưa tay vỗ nhẹ một cái lên vai chú Phước, Phước tiếp tục vỗ lên lưng người bên cạnh, cứ thế người được báo tin cuối cùng là Trung sĩ Thon. Như vậy, tất cả anh em trong tiểu đội cận vệ đều đã được thông báo tránh ngộ nhận. Chúng tôi chuẩn bị đón quân bạn tụt xuống đồi bất cứ lúc nào.

Tôi hồi hộp, bồn chồn.

Từng giây đi qua, từng phút trôi qua, trăng lên đã cao, dưới thung lũng vẫn chỉ có tiếng dế kêu, xen lẫn tiếng gió lùa.

Rồi từ hướng Nam của con thông thủy vọng lại tiếng “Xoẹt! Xoẹt! Xoẹt!”

Ðó là âm thanh tạo thành bởi những vật nặng vừa lao từ trên đồi xuống, chạm phải bụi cỏ lau dưới thung lũng.

Toán 824 của Binh 1 Yang đã về! Ba ông Viễn Thám này xuống đồi bằng cách nằm ngửa, chong súng lên trời, xuống đồi bằng lưng!

Xuống dốc bằng lưng nhanh gấp mười lần xuống dốc bằng bụng! Ngày xưa, tôi học được kỹ thuật này của Việt-Cộng! Trong một lần tiếp viện cho quân bạn, tôi đứng bên này suối, thấy Việt-Cộng “chém vè” bằng cách nằm ngửa, ôm súng tụt xuống dốc, vừa nhanh lại vừa an toàn.

Về hậu cứ, tôi đem quân ra Biển Hồ tập thử, thì thấy cách xuống núi này quả thực là hay, nhất là cho các ông Viễn Thám.  Ông lính Viễn Thám nào dưới quyền tôi cũng rành cách xuống núi thoát hiểm này.

Gần 2 giờ sáng ngày 29 tháng 9 tôi mới có tin tức của 821. Khi bóng trăng đã xế, toán 821 của Hạ sĩ 1 Mom Sol mới về tới ngã ba thông thủy, đầu nguồn suối Dak Boun Bring.

Tôi ra lệnh đạp lau sậy xuống để đánh dấu điểm chạm suối của Binh 1 Yang và điểm chạm suối của Hạ sĩ 1 Mom Sol.

Khoảng cách của hai dấu mốc này sẽ là tuyến dàn quân của tôi ngày tiến công.

Tình hình địch trên Mục Tiêu 1 đã được Mom Sol mô tả một cách thật chính xác như sau:

Sau khi rời vị trí của toán 824, thì 821 tiếp tục men theo bìa rừng, đi về hướng Ðông Nam.

Ðịch rải quân thành một tuyến dài, trong bụi, đằng sau lề đường.

Tuyến dàn quân này dài khoảng gần hai trăm thước. Mom Sol không biết chiều sâu của trận địa ra sao. Nhưng điều chắc chắn là trên đỉnh đồi không có địch.

Ðịch canh gác rất ơ hờ, có nhiều tên còn đốt lửa sưởi ấm và cất tiếng ca hát giữa đêm khuya.

Mom Sol cũng ngửi được cả mùi khói bùi nhùi bay ra từ các hố cá nhân. Ðịch đốt bùi nhùi để chống muỗi rừng.

Sáng sớm ngày 29 tháng 9 tôi cùng tiểu đội cận vệ đi cùng Ðại Ðội 1/82 của Thiếu úy Ðặng Thành Học, len lỏi trong rừng theo bờ Ðông của con thông thủy lên chiếm ngọn đồi có hình hạt đậu hướng Nam.

Ngọn đồi này nằm bên bờ Ðông con suối, đối diện với đồi 898 và cách Mục Tiêu 2 chừng tám trăm mét.

Ðồi này có nhiều cây thân mộc, khá cao, từ đây với cái ống nhòm, tôi nhìn rõ mồn một từng hố cá nhân, từng tấm vải nhựa che mưa của địch trên Mục Tiêu 2.

Tôi đưa cái ống nhòm cho Học,

– Chú nhìn cho rõ nhé! Theo anh thì chỉ cần một trung đội hàng ngang tiến thật nhanh rồi đánh bằng lựu đạn là tụi nó chạy có cờ!

Trưa ngày 29 tháng 9 tôi đã có trong tay bản ghi chép chi tiết tình hình địch và kế hoạch tiến quân.

Chiều 29 tháng 9 tôi đang ngủ say trên võng thì Ðại tá Vấn tới lều, dựng tôi dậy.

Giọng nói của ông liên đoàn trưởng rất nhẹ nhàng, nhưng có vẻ không vui,

– Sắp hết thời hạn rồi mà sao anh không thấy chú có động tĩnh gì cả? Chú bị bịnh hay sao mà ngủ giữa ban ngày?

Tôi ngáp một cái rồi dụi mắt,

– Niên trưởng để tôi ngủ chút đi! Còn tới bốn ngày nữa mới hết kỳ hạn, tôi đã hứa là tôi sẽ hoàn thành công tác trước 7 ngày, hôm nay mới là ngày thứ ba.

Nói xong, tôi nằm xuống võng ngủ tiếp.

Ðại tá Vấn ra chiều thất vọng. Tôi nghe ông thở dài, rồi chui ra khỏi lều, lững thững xuống đồi.

Kế đó tôi nghe dưới đường có tiếng léo nhéo,

– Hai ngày nay tôi thấy thằng Thái Sơn cứ ngủ li bì. Chắc nó sợ không dám đánh rồi! Hay mình cho thằng Chí Tôn vào trận đi!

Người vừa nói là Ðại tá Vấn.

(Chí Tôn: là danh hiệu truyền tin của Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân)

– Thì cứ chờ xem! Tôi biết tính thằng Long, nó đã hứa thì thế nào nó cũng giữ lời!

Ðó là tiếng Trung tá Hoàng Kim Thanh.

Ngủ dậy, đánh răng, rửa mặt xong, tôi ôm tấm bản đồ đi sang khu pháo binh để gặp mặt Ðại tá Vấn.

Tôi cho ông đại tá hay rằng đêm mai, 30 tháng 9 tôi sẽ bắt đầu khai hỏa.

Tôi hứa rằng sau hai ngày, tôi sẽ hoàn tất nhiệm vụ.

Tôi nhờ ông liên đoàn trưởng, trong ngày 30 tháng 9 gắng xin cho tôi hai phi tuần tiền oanh kích; sau đó là 100 viên đại bác 105 ly trực xạ từ Ðạo-Trung đánh trên Mục Tiêu 1.

Ông đại tá vui mừng ra mặt, chấp thuận tất cả những gì mà tôi yêu cầu.

Trước khi về lều, tôi khẩn khoản đề nghị với Ðại tá Vấn rằng xin ông giữ kín kế hoạch điều binh của tôi, đừng cho thượng cấp biết vội, vì tôi e rằng hệ thống truyền tin mà bị tiết lộ thì quân của tôi sẽ bị nguy to.

oOo

Tiến chiếm mục tiêu

Về tới lều, tôi gọi ông Ðại úy Tiểu đoàn phó cùng ba ông Ðại đội trưởng 2, 3, và 4/82 tới họp bàn.

Kế hoạch hành quân đề ra là:

Chiều 30 tháng 9 tôi sẽ xin không quân tiền oanh kích Mục Tiêu 1, tiếp theo là 100 trái đại bác 105 ly sẽ dội trên bìa rừng của đồi 898.

Cùng giờ đó, Ðại úy Tiểu đoàn phó sẽ dẫn hai Ðại Ðội 2 /82 và 4/82 len lỏi  trong rừng, tới ém quân trong vùng hai cây số hướng chính Tây vị trí hiện tại của các đơn vị này.

Chờ đêm xuống, hai đại đội này sẽ leo lên trải quân án ngữ con đường xe be, cũng là đường rút của địch.

Chắc chắn những tên Việt-Cộng đang chạy về khu hướng Tây sẽ bị cánh quân của ông tiểu đoàn phó tóm hết.

Sau trận Pleime thì hai Ðại Ðội 1/82 và 4/82 chịu ít tổn thất hơn hai đại đội còn lại.

Kỳ này Ðại Ðội 1/82 của Thiếu úy Học được tôi cho đi đơn độc.

Còn Ðại Ðội 4/82 của Thiếu úy Thủy sẽ đi kèm Ðại Ðội 2/82 của Trung úy Danh.

Tôi dặn dò ông tiểu đoàn phó phải ưu tiên cho Ðại Ðội 2/82 đi phía sau.

Ðại Ðội 3/ 82 có một nửa quân số là tân binh, nên tôi sẽ cho đơn vị này nằm dưới quyền trực tiếp chỉ huy của tôi.

Ðúng tám giờ tối ngày mai tôi sẽ dẫn quân xuống núi.

Trong thời gian tôi dàn quân ở chạm tuyến, thì khẩu cối 81 ly của Thượng sĩ Năng và Trung sĩ Minh sẽ liên tục bắn 100 trái trên Mục Tiêu 1.

Sơ đồ tiến quân đêm 30/9/1974 của TĐ 82 BĐQ tại Đạo Trung, Quảng Đức.

Ngày 30 tháng 9 năm 1974 trời nắng ráo.  Mười giờ sáng, tôi đang ngồi uống cà phê thì từ hướng Tây có tiếng “ì ầm!”  của đại bác bắn đi. Vài giây sau thì “Vèo! Vèo! Xè! Xè! Oành! Oành!” những viên trái phá 105 ly theo nhau bay qua đầu tôi, rơi trên mặt Liên Tỉnh Lộ 8B và khu rừng thưa bên kia đường.  Bụi khói bắt đầu bốc cao. Không ai bảo ai, mọi người đều lao xuống hố cá nhân.

Tôi còn đứng trên đồi, miệng tôi la lớn,

– Anh em Ðại Ðội 3 và Viễn Thám nhớ mở mắt cho to, thấy thằng Việt-Cộng nào xung phong thì phải bắn ngay!

Nhìn qua căn cứ hỏa lực, tôi không thấy bóng dáng ông lính nào trên mặt đất, không thấy ai chuẩn bị phản pháo cả.

Hai phút sau khi pháo địch ngừng, tôi nghe ông Ðại tá Vấn gọi,

– Thái Sơn đây Hai Lẻ Chín! Vừa rồi tụi nó chọi đá có trúng đầu con cái của Thái Sơn không? Chú có bị thiệt hại gì không?

Tôi ra dấu cho anh hiệu thính viên không trả lời Ðại tá Vấn. Vì nếu tôi trả lời thì địch sẽ nghe được, và sẽ truy ra vị trí đóng quân của tôi; trong tương lai chúng sẽ không còn bắn trật nữa.

Tôi cất bước đi quanh ngọn đồi, những anh lính cũ thấy tôi thì toét miệng ra cười, những anh lính mới thấy thế cũng nhe răng cười theo. Tôi hỏi một tân binh,

– Chú em có sợ không!

– Dạ! Lúc đầu em cũng run, nhưng thấy Thiếu tá còn đứng trên đồi, kêu tụi em coi chừng địch xung phong thì bắn ngay, em không còn sợ nữa!

Sau cơn mưa pháo chừng mười phút, cây đàn guitar Vọng Cổ của anh nhạc sĩ cận thị Lao Công Ðào Binh tên là Phan Thành Hoàng đã bắt đầu “Tửng! Từng! Tưng!”  trở lại. Ði hành quân, các ông Lao Công Ðào Binh là sướng nhất, không canh gác, không xung phong, không súng ống, chỉ loanh quanh bên hầm khẩu 81 ly, nằm giữa bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Hai giờ chiều 30 tháng 9 trên trời có chiếc thám thính cơ L19.

Tôi vào tần số Không Lục, có tiếng ông Thiếu úy Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu đang bay trên trời,

– Thái Sơn cho tọa độ, chúng tôi đánh ngay!

Lúc này tôi và Ðại tá Vấn đang đứng bên ụ súng 105 ly; ông Ðại tá vội cầm máy,

-Yêu cầu chú đánh ngay trái khói của pháo binh. Ðánh cho ngọn đồi đó tan hoang thành bình địa cho tôi!

Tôi liền ghé tai ông Vấn,

– Ðánh sát các bìa rừng, không đánh trên đỉnh. Ðịch không đóng trên đỉnh!

Ông Ðại tá vội lớn tiếng,

– Ðiều chỉnh lại, yêu cầu đánh sát bìa rừng, không đánh trên đỉnh! Nghe rõ không trả lời!

Một trái khói từ khẩu 105 được bắn đi. Ðạn nổ vừa xong, chiếc L19 cũng chúc xuống bắn thêm một trái khói nữa.

Phút sau, hai chiếc A 37 sà xuống trút bom. Hôm đó tôi không nghe tiếng phòng không của địch.

Hai chiếc A 37 thả bom thật là chậm rãi, từng trái một, nhìn như đang thực tập.

Cây cối gãy đổ, cành lá đua nhau bay lên trời, đồng cỏ tranh bắt đầu bốc cháy.

Cạn bom rồi, hai con tàu còn bay vần vũ trên trời một hồi lâu, rồi mới bay đi.

Ông Ðại tá quay qua tôi,

– Hết không yểm rồi! Mình xin hai phi tuần, bốn phi xuất, nhưng họ chỉ cho một phi tuần thôi!

Vị sĩ quan pháo đội trưởng chui ra khỏi lều hỏi tôi,

– Tới giờ mình “chơi” chưa Thiếu tá?

Tôi nói,

– Mình chờ chừng năm phút nữa, đợi tụi nó chui ra khỏi hầm mình đánh tiếp.

Năm phút sau, bốn khẩu 105 ly đua nhau giựt cò, cứ một viên chạm nổ, tiếp theo là một viên nổ cao, đồi 898 hóa thành một cột bụi ngùn ngụt dâng cao.

Trời nóng quá, tôi cởi cái áo ngoài ra vắt trên nóc hầm. Thấy thế, Ðại tá Vấn cũng theo tôi, cởi áo ngoài, vắt trên nóc hầm.

Lúc này một ông Thiếu tá và một ông Ðại tá mặc áo thun trắng, mặt mũi nhễ nhại mồ hôi, cứ chạy đi, chạy lại, giúp các ông xạ thủ vác đạn, giựt cò.

Dưới giao thông hào, ông liên đoàn phó giơ máy ảnh lên chụp lia chụp lịa. Năm 2009 ở Mỹ, ông cựu liên đoàn phó có cho tôi biết rằng ông ấy mới tìm ra cuộn phim có cái ảnh ngày đó tôi và ông Vấn mặc áo may-ô trắng, đứng trong đám khói bụi mịt mù giữa bốn khẩu pháo. Ông nói sẽ sang tấm ảnh kỷ niệm ấy ra, rồi gửi cho tôi, nhưng tôi chờ hoài mà không thấy thư của ông.

Trong lúc pháo binh đang bắn thì Ðại úy Nguyễn Hữu Tài báo cáo rằng cánh quân chặn địch của ông ta đã bắt đầu di chuyển. Từ đó qua đêm, tới sáng 1 tháng 10 tôi không nghe được đài nào của cánh quân này.

Nhá nhem tối 30 tháng 9 tôi cho lệnh xuống đồi, Viễn Thám 821 dẫn đường, rồi tới Ðại Ðội 3/ 82.

Tới chân dốc tôi ngạc nhiên ngừng lại, vì thấy Thiếu úy Hổ đang bạt tai một tân binh, miệng la,

– Ðù mạ! Mi định trốn hả! Ði lên! Mau lên!

Tôi hỏi,

– Gì đó Hổ?

– Dạ! Trình Thiếu tá! Thằng này cứ lủi lủi lại đàng sau tính trốn!

Tôi vỗ vai Hổ,

– Chú cứ đi lên chỉ huy đại đội. Ðể thằng này lại cho anh.

Nghe lệnh tôi, Thiếu úy Hổ lừ lừ nhìn anh tân binh rồi quày quả bước đi.

Tôi gặng hỏi anh lính đang đứng trước mặt,

– Em sợ lắm hả!

– Dạ! Trình Thiếu tá em sợ lắm!

Trước mắt tôi giờ đó, không phải là một anh lính Biệt Ðộng Quân kiêu hùng, mà là một cậu bé rất đáng thương. Thằng bé rõ ràng đang sợ hãi lắm! Hai vai nó run run như đang lên cơn sốt rét.

Tôi ra lệnh,

– Thiếu úy Phước đem nó về bộ chỉ huy, giao cho Thượng sĩ Năng!

Thiếu úy Phước hằm hè kéo cổ áo anh tân binh lôi đi.

Chúng tôi an toàn tiến sát tới cọc mốc xa nhứt mà 821 đã đánh dấu đêm hôm trước.

Thật nhanh chóng, 18 Viễn Thám viên và tiểu đội cận vệ vào đội hình hàng ngang.

Trong lúc tôi và Thiếu úy Hổ lo trải quân cho Ðại Ðội 3 /82 thì Thiếu úy Trần Văn Phước quay trở lại, sau lưng Phước là anh chàng Trung sĩ Nguyễn Minh của khẩu đội 81 ly.

Tới sát bên tôi, Phước nói nhỏ,

– Em giao thằng lính chết nhát cho ông Năng rồi, còn ông Minh này cứ kèo nài xin đi theo Thiếu tá.

Tôi nói,

– Cho nó theo nhóm cận vệ luôn!

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 5th Feb 2021

Kỳ 5

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Phi trường dân sự Pleiku – 1970s. Ảnh do tác giả cung cấp

Nghe ông liên đoàn phó phân tích sự việc, tôi cũng phát lo. Tiểu đoàn tôi giờ đây chỉ còn một mình Thiếu úy Phạm Văn Thủy là đại đội trưởng cũ, hai ông Thiếu úy Ðặng Thành Học và Trung úy Võ Hữu Danh vừa từ nơi khác tới, ông Thiếu úy Nguyễn Văn Hổ cũng mới lên chỉ huy đại đội chưa đầy hai tháng, kinh nghiệm chẳng nhiều. Thêm vào đấy, một phần ba quân số của tôi cũng là tân binh, nếu phải đi tiếp viện cho đơn vị khác, thấy người ta chạy, chắc chắn các ông tân binh của tôi cũng chạy theo mất thôi!

Tôi ôm đầu suy nghĩ một lúc rồi nói,

– Trung tá về nghỉ đi! Mai tôi trả lời.

Anh Thanh giơ tay, bắt tay tôi nhưng miệng anh vẫn khẩn khoản,

– Chú suy nghĩ lại, rồi cho anh biết ý kiến càng sớm càng tốt!

o O o

Yếu tố tinh thần trong chiến trận

Ðêm 27 tháng 9 năm 1974 tôi trằn trọc, suy nghĩ liên miên.

Tôi thấy hai ông chỉ huy của tôi là Ðại tá Từ Vấn và Trung tá Hoàng Kim Thanh rất có lý khi phân tích tình trạng tâm lý các quân nhân dưới quyền.

Tôi có người bạn cùng khóa Võ Bị là Ðại úy Lê Thanh Phong. Mùa Hè năm 1972 Ðại úy Lê Thanh Phong chỉ huy Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân và đã ghi được nhiều chiến công trong chiến dịch giải vây Kontum.

Vậy mà chỉ ít lâu sau, đầu tháng 12 năm 1972, anh Phong đã bị Cộng-Quân bắt tại trận ở Ðức-Cơ.

Trước đó, tháng 8 năm 1972 Ðức-Cơ đã bị bao vây, tôi được lệnh xuống chỉ huy căn cứ này.

Tôi đã giải tỏa xong áp lực địch chỉ với một Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng.

Tháng 10 năm 1972, tình hình yên tĩnh trở lại, tôi đã bàn giao Ðức-Cơ cho ông Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn.

Tôi đi khỏi Ðức-Cơ thì trại này được tăng cường thêm hai tiểu đoàn nữa để phòng thủ, đó là Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân của Ðại úy Lê Thanh Phong và Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Nguyễn Công Thông.

Người chỉ huy ba tiểu đoàn này là Trung tá Lê Chữ. Ông Chữ vốn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân, mới được thăng cấp trung tá sau lần tử thủ, giữ được Căn cứ Biên Phòng Bạch-Hổ (Ben Het).

Ngày đó yểm trợ cho Ðức-Cơ, chúng ta có hàng chục khẩu pháo 105 ly và 155 ly sẵn sàng từ Thanh-An và Thanh-Giáo; ta còn hàng chục máy bay oanh tạc chất đầy bom đạn nằm chờ ở phi trường Cù Hanh, Pleiku, chưa kể tới những pháo đài bay B 52 sẽ có mặt trên vùng chỉ sau vài giờ chờ đợi.

Với ba tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân phòng thủ, và được yểm trợ mạnh như vậy mà Ðức-Cơ vẫn mất, mất là vì sao?

Mãi tới tháng 7 năm 1974 gặp lại anh bạn Lê Thanh Phong sau khi bạn tôi được trao đổi tù binh, tôi mới nhận được câu trả lời thích đáng.

Bạn Phong ấm ức phân trần với tôi:

“Mẹ nó! Ngày đó ở Ðức-Cơ không có tiếng súng nào! Vậy mà cha Mẫn và cha Chữ cứ cắm đầu chạy! Vạ lây cho tui! Người ta chạy, làm cho lính dưới quyền tui cũng chạy theo! Chuyện thực khôi hài, nhưng tức muốn chết!”

Thì ra, qua một đêm chịu pháo, 5 giờ sáng ngày 4 tháng 12 năm 1972, các ông chỉ huy căn cứ Ðức-Cơ là Trung tá Lê Chữ và Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn đã bỏ đồn, hớt hải chạy ra cổng, tới tá túc với đơn vị của Ðại úy Lê Thanh Phong nơi đầu phi trường.

Theo chân hai ông chỉ huy là một tốp lính của Tiểu Ðoàn 81, sau lưng toán lính này là một toán Việt-Cộng hò reo đuổi theo. Không có tiếng súng nào, chỉ có tiếng la “Hàng sống! Chống chết!”

Ðịch không bắn, có thể là vì trời còn tối, chúng không nhìn thấy quân ta, cũng có thể là chúng sợ quân ta đông hơn nên không dám bắn.

Ðâu ngờ những tiếng hô “Hàng sống! Chống chết!” đã khiến hai ông Mẫn và Chữ hoảng hồn dẫn quân đạp lên lều võng của Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân rồi bỏ phi trường phóng đi luôn.

Bộ chỉ huy của Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân đóng gần đó, nên nhìn thấy ông Trung tá Lê Chữ đang vắt giò lên cổ, ông Thiếu tá Nguyễn Công Thông chẳng biết ất giáp gì, cũng lao theo chân ông Lê Chữ!

Thấy quan và quân của đơn vị bạn chạy tán loạn, những người lính nhát gan của Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân cũng ùn ùn chạy theo.

Phút chốc, trên sân bay chỉ còn lại ông Ðại úy Lê Thanh Phong, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân và vài chục anh lính.

Ba ngày sau, Ðại úy Lê Thanh Phong bị địch bắt sống ở trong rừng.

Trước Hòa Ðàm Paris mà đã có những chuyện chưa đánh đã chạy như thế, thì sau Hòa Ðàm Paris phải chiến đấu trong tình trạng thắt lưng buộc bụng, thiếu thốn trăm bề, chắc chắn tinh thần chiến đấu của quân ta cũng bị suy sụp đi nhiều.

Chưa nghe anh Phong tâm sự, tôi đã biết, yếu tố tinh thần là vô cùng quan trọng, nó quyết định vận mạng của cả một chiến trường.

Bằng cớ là, nếu không có cái quyết tâm thà chết không đầu hàng, không bỏ chạy của những chiến sĩ trong Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân dưới quyền tôi, thì tôi đã bị địch bắt sống hay giết chết trong trận Pleime 1974 rồi.

Tôi nghĩ rằng, nếu đánh nhau với địch, địch mạnh hơn mình, mình yếu thế hơn phải rút lui thì không nói làm gì. Chứ mình đi sau người ta, chưa đánh nhau mà người ta đã chạy, làm cho lính của mình thấy thế cũng hoảng sợ, rồi rủ nhau cắm đầu, cắm cổ chạy theo người ta, bỏ mình ở lại, thì mình chỉ còn cách tự đấm ngực mà chết mất thôi!

Lại nữa, tôi thấy đơn vị nào đã thua một trận, sẽ mắc cái “huông” rồi cứ thế được trớn, thua luôn! Trở thành lỳ đòn, trơ mặt, không biết xấu hổ là gì!

Dưới quyền Thái Sơn Vương Mộng Long, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là một đơn vị chưa hề chiến bại.

Giữa đêm khuya, tôi chợt buột miệng hét to:

“Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ không bao giờ chiến bại!”

Hai anh lính Viễn Thám gác đôi gần đó, nghe tiếng tôi la, bèn chạy vội vào cửa lều, lớn tiếng hỏi,

– Thái Sơn gọi tụi em hả!

Tôi bật cười,

– Ừ! Mai thầy trò mình đi nhảy toán!

Tôi cầm cái ống liên hợp máy PRC 25 gọi cho Trung tá Hoàng Kim Thanh,

– Okay! Tôi sẽ hoàn thành sứ mệnh trước thời hạn 7 ngày!

o O o

Trinh sát dạ hành…

Suốt ngày 28 tháng 9 với cái ống nhòm và tấm bản đồ trên tay, tôi kín đáo núp sau những gốc cây bên sườn đồi, quan sát cái thung lũng dưới chân tôi và ngọn đồi sừng sững hướng Tây.

Từ những năm 1968, 1969 khi còn giữ chức đại đội trưởng ở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, tôi đã nhiều lần nhận nhiệm vụ mở đường và giữ đường từ Ðức-Lập tới Nghi-Xuân, do đó địa thế vùng này không phải là xa lạ đối với tôi.

Khắp khu vực Nam Ðức-Lập và Bắc Gia-Nghĩa toàn là đồi có cao độ từ 800 tới 900 mét sàn sàn nhau.

Nếu nhìn trên bản đồ, ta chỉ thấy những vùng loang lổ mầu trắng xen với màu xanh lá cây. Màu trắng là khu vực cỏ tranh cao cỡ đầu gối, màu xanh lá cây là những cụm rừng số 3, cây không cao lắm.

Vùng này suối không sâu và cạn kiệt vào mùa khô. Thời gian này đang là mùa khô.

Thiếu tá Bùi Ngọc Long đã chỉ cho tôi biết vị trí những cây súng cộng đồng của địch đều tập trung dọc theo con đường xe be cắt ngang đỉnh ngọn đồi có cao độ 898 mét. Chắc chắn hiện thời địch đang có mặt trên đồi này, chúng ngang nhiên đốt lửa giữa ban ngày, nơi bìa rừng từng lọn khói đen cứ lừng lững vươn lên cao rồi tan đi thật bình yên vô tư.

Ngọn đồi này nằm cách chỗ tôi đóng quân đúng 2 cây số về hướng Tây Nam. Xe cộ đi ngang qua đoạn đường yên ngựa hướng chính Nam của Căn cứ Ðạo-Trung thường là mục tiêu cho các loại súng cộng đồng đặt trên đồi 898 nhắm bắn. Ðiểm chiến thuật thứ hai là ngọn đồi có cao độ 880 mét nằm ngay trên Liên Tỉnh Lộ 8 B, cách lều của tôi đúng một cây số rưỡi. Nếu địch gài được một cái chốt cấp đại đội trên đỉnh đồi này thì cái cua chữ “C” hướng Nam Căn cứ Ðạo-Trung biến thành tử địa.

Cũng từ ngọn đồi này, hằng ngày các tay bắn tỉa của Việt-Cộng liên tục nã súng vào các pháo thủ đóng trong căn cứ.

Muốn giải tỏa áp lực địch trên Liên Tỉnh Lộ 8 B bắt buộc phải chiếm cho kỳ được đồi 898 và đồi 880.

Ðồi 898 sẽ là Mục Tiêu 1, đồi 880 sẽ là Mục Tiêu 2.

Tôi dự trù sẽ bứng Mục Tiêu 1 trước, kế đó mới là Mục Tiêu 2.

Thoạt nhìn vào bản đồ thì bất cứ cấp chỉ huy nào cũng chọn con đường xe be từ Liên Tỉnh Lộ 8B rồi theo hướng Tây Nam để làm trục tiến tới Mục Tiêu 1.

Nếu có chiến xa tăng phái, chắc chắn tôi sẽ dùng trục lộ này. Nhưng ngặt nghèo là thời gian này các đơn vị thiết giáp của ta còn kẹt ở mặt trận Pleiku, có làm đơn xin cũng còn lâu mới được thỏa mãn.

Tôi đã được Thiếu tá Bùi Ngọc Long kể lại, trước khi chúng tôi được lệnh vào vùng thì một đơn vị bộ binh đã dùng trục tiến này để đánh địch nhưng thất bại. Quân bạn đã phải bỏ xác người chết trên đường lui vì không kéo ra được.

Tôi thấy lý do thất bại của đơn vị bạn rất dễ nhìn ra. Chỉ vì đoạn đường từ khu tập trung tới mục tiêu quá xa, nếu ta dùng đội hình hàng dọc thì không đủ quân xung phong ở chạm tuyến; nếu sử dụng đội hình hàng ngang thì quân ta sẽ chết rất nhiều trước khi tới tuyến xung phong. Vậy là trục tiến này không thể dùng được, tôi phải bày kế khác.

Tôi cũng nghĩ tới kế sách tiếp theo là liều mạng dàn quân hàng ngang dưới suối, rồi leo nhanh lên dốc, tấn công trực diện, nhưng cách đánh này đòi hỏi một hỏa lực yểm trợ tiếp cận thật mạnh, giống như hỏa lực của trực thăng vũ trang Hoa-Kỳ thời 1966-1972.

Nhưng sau Hòa Ðàm Paris mà đánh nhau kiểu này thì không khác gì tự sát dưới hỏa lực hùng hậu của địch.

Suy đi, tính lại mãi, cuối cùng, tôi quyết định sẽ áp dụng chiến thuật đánh đêm.

Dạ chiến có lợi thế bất ngờ, vì trong bóng đêm, ta có thể bí mật áp sát mục tiêu, tới sát bên địch rồi, ta mới khai hỏa.

Muốn thực hiện điều này phải có những tay súng tinh nhuệ và gan lỳ.

Trận này bắt buộc tôi phải dùng tới 18 Viễn Thám viên và 12 anh lính cận vệ. Thời gian này Thiếu úy Trần Văn Phước kiêm nhiệm chỉ huy 12 anh cận vệ, vì Thiếu úy Lý Ngọc Châu còn đang theo học khóa Chiến Tranh Chính Trị trên Ðà-Lạt.

Với quân số này, tôi có thể chiếm lĩnh một tuyến có chiều dài trên dưới một trăm thước để làm đầu cầu cho Ðại Ðội 3/82 phía sau bò lên theo.

Nhưng trước khi ra quân, ta phải biết:

“Lực lượng địch cỡ nào? Ðịch dàn quân ra làm sao? Nơi nào nên đánh? Ðánh như thế nào?”

Muốn trả lời những câu hỏi ở trên thì cấp chỉ huy phải đích thân thám sát địa thế, tìm hiểu địch tình.

Tôi đã biết, mỗi khi thực hành một trận đánh, các cấp chỉ huy Việt-Cộng đều đích thân đi thám sát trận địa để nắm vững chính xác tình hình của quân ta. Trong khi đó thì đa số chỉ huy của ta lại cứ đòi phải có trực thăng hay L 19 mới chịu bay quan sát.

Tôi xuất thân là đầu lãnh của những toán Viễn Thám Biệt Ðộng Quân một thời ngang dọc Vùng 2, chẳng lẽ lại thua gan mấy tay chỉ huy Việt-Cộng?

Thế là ngay tối 28 tháng 9 tôi đã đích thân chỉ huy tiểu đội cận vệ cùng hai toán Viễn Thám 821 và 824 xuống núi thi hành một cuộc hành quân xâm nhập.

Ðêm 28 tháng 9 trên trời có trăng nhưng dưới thung lũng thì sương mù trắng xóa.

Toán 821 do Hạ sĩ 1 Mom Sol dẫn đầu, tiếp đó là 824 do Binh 1 Yang chỉ huy, tôi là người đi kế tiếp, theo tôi là Thiếu úy Trần Văn Phước, người đoạn hậu tiểu đội cận vệ là Trung sĩ Y Thon Nier với khẩu M79 bắn đạn chài.

Chúng tôi tiến thật êm trên thảm cỏ tranh nằm giữa hàng cây xanh sát bờ suối và đỉnh ngọn đồi trọc bên hướng Tây.

Tới khu đồng cỏ hướng Ðông của đồi 898 tôi cho quân dừng lại.

Tiểu đội cận vệ dưới quyền Thiếu úy Phước trải thành một hàng ngang, vừa bảo vệ cho tôi, vừa sẵn sàng tiếp cứu hai toán Viễn Thám.

Viễn Thám 821 dẫn đầu, 824 theo sau, hàng một leo lên dốc.

Ðêm lạnh, chỉ có tiếng gió lay cành lá hòa với tiếng ếch nhái dưới thung lũng nghe thật là ảm đạm, thê lương.

Thời gian hai toán Viễn Thám vượt khoảng đất trống từ triền Ðông của đồi 898 tới mặt đường xe be là thời gian nín thở của những người ngồi dưới khe.

Tôi đã từng nhiều lần đi toán, vậy mà kỳ đi thám sát này tôi cũng thấy lòng hồi hộp không yên.

Đường về Gia Nghĩa

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted on 29 Jan 2021

Post by Sơn râu 13 Aug 2023

Kỳ 4

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Phi trường dân sự Pleiku – 1970s. Ảnh do tác giả cung cấp

Tôi chọn vị trí đóng quân cho hai Ðại Ðội 1/82 và 3/82 cùng Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 82 là một ngọn đồi nhỏ và hẹp nằm bên hướng Tây của Liên Tỉnh Lộ 8 B và cách vị trí pháo binh ba trăm mét về hướng Bắc.

Ngọn đồi này có lợi thế ngụy trang vì có cây cao che khuất tầm nhìn từ xa của địch.

Bên trái ngọn đồi này là một thông thủy tuy không sâu lắm, nhưng dốc hơi đứng, rất khó xung phong.

Chỉ còn một hướng chính Bắc là cần chốt chặn nơi ngã ba giao tiếp Liên Tỉnh Lộ và con đường xe be. Ông đại úy tiểu đoàn phó cùng với hai Ðại Ðội 2/82 và 4/82 sẽ trấn thủ cái ngã ba này.

Bố quân xong, tôi đang ngồi trên bãi cỏ ven đường chuẩn bị mồi một điếu thuốc lá thì một quân nhân tới đứng nghiêm chào xin trình diện. Người này chính là anh Trung sĩ Nguyễn Minh, mới được bổ sung.

Minh vừa xoa hai bàn tay vào nhau, vừa cười cầu tài, rồi năn nỉ tôi,

– Nhà em ở Nghi-Xuân, sau chuyến hành quân này Thái Sơn du di cho em nghỉ vài ngày thăm nhà.

Tôi gật đầu,

– Nơi này cách Nghi-Xuân hơn mười cây số thôi, nhưng đường lại bị Việt-Cộng đóng chốt. Chờ hôm nào bứng xong mấy cái chốt, trên đường về Gia-Nghĩa anh sẽ thả chú xuống, cho chú ghé thăm gia đình vài bữa.

– Cám ơn Thái Sơn! 

Minh lí nhí, chào tôi rồi lui về khu trú quân của đơn vị anh ta.

Hai phút sau Trung sĩ Minh quay trở lại, anh ta có vẻ như muốn nói với tôi chuyện gì đó.

Tôi mở lời,

– Gì đó Minh?

Minh gãi đầu, cúi gằm mặt xuống, miệng lí nhí,

– Dạ! Em muốn trình bày với Thái Sơn một chuyện.

– Có gì cứ nói đi! Tôi từ tốn.

Minh rụt rè nhìn tôi rồi ấp úng,

– Trình Thái Sơn! Em không phải là nội tuyến đâu! Em bị nghi oan!

Tôi lấy làm lạ, tại sao Trung sĩ Minh lại tự ý tới gặp tôi để nói chuyện này, vì tôi có để lộ cho anh ta biết rằng tôi đã đọc biết lý lịch của anh ta đâu?

– Nội tuyến cái gì? Ai nói chú là nội tuyến mà chú phải phân trần với anh?

– Dạ! Em nghe mấy anh bạn trong ban Truyền Tin của Liên Ðoàn 23 nói rằng em bị xuất ngành vì bị tình nghi làm nội tuyến.

– Chắc tụi nó đồn bậy đó! Ðừng có lo nghĩ gì cho mệt xác! Ở đây có anh! Anh tin rằng chú không làm bậy là được rồi!

– Em cám ơn Thái Sơn!

Miệng trả lời tôi mà đầu Minh vẫn cúi nhìn xuống đất. Vài phút sau anh trung sĩ ngửng mặt lên, tôi thấy hai dòng nước mắt đang lăn xuống má anh ta.

Tôi chợt thấy lòng xót xa. Người đứng trước mặt tôi không thể là một tay giỏi đóng kịch. Những giọt nước mắt kia chắc chắn là kết quả của những ưu tư, lo sợ, muộn phiền, và uất ức tạo nên.

Tôi chỉ tay xuống bãi cỏ trước mặt,

– Chú ngồi xuống đây anh có chuyện cần hỏi.

Minh từ từ ngồi xuống trước mặt tôi. Tôi bắt đầu tìm hiểu con người trước mặt với câu,

– Trước khi đi lính, chú có gia nhập đảng phái hay đoàn thể nào không?

– Dạ không! Em học xong chương trình Ðệ Nhất Cấp thì đi làm thợ hàn để giúp đỡ mẹ em. Tới năm 1971 em xin được cái Chứng Chỉ Ðệ Nhị rồi tình nguyện theo học khóa Hạ sĩ quan của trường Ðồng-Ðế. Ra trường, em được chọn về Biệt Ðộng Quân, rồi bị đưa đi Vũng-Tàu, thụ huấn lớp Hạ sĩ quan Truyền Tin. Mãn khóa học, em được phân phối về Ðại Ðội Truyền Tin của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, dưới quyền Ðại úy Táo. Ngày đó Thái Sơn còn là Ðại úy Trưởng Phòng 2.

Tôi đổi đề tài,

– Thân nhân của chú có ai đi tập kết không?

– Trình Thái Sơn! Bố em đi tập kết năm em vừa lên bốn. Em còn hai đứa em, một đứa em trai sinh năm 1952, một đứa em gái sinh năm 1953. Em không nhớ bố tên gì. Em đã nhiều lần thắc mắc với mẹ nhưng mẹ cứ trả lời rằng mẹ đã quên rồi! Trên giấy tờ thì mẹ khai tụi em có cha vô danh nên tụi em mang họ mẹ. Hiện thời mẹ em và hai em của em sinh sống ở Nghi-Xuân. Gia đình em vào đó từ thời cụ Diệm thành lập các khu Dinh Ðiền.

Tôi hỏi tiếp,

– Ở Ðại Ðội 2 Truyền Tin chú giữ công việc gì?

– Em là hạ sĩ quan mật mã, mỗi ngày em mã hoá các công điện gửi đi, giải mã các công điện mật từ nơi khác chuyển về.

– Chú có vào máy chuyển công điện hằng đêm, hằng ngày hay không?

– Dạ không! Từ tháng Giêng 1972 cho tới ngày có lệnh ra Liên Ðoàn 23. Ban ngày em chỉ làm công tác chuyên môn, ban đêm em phải trực gác pháo đài hay cổng chính của đại đội.

Tôi vỗ vai Minh ôn tồn,

– Ðược rồi! Anh sẽ giải oan cho chú! Chú về lều đi! Ðừng lo nghĩ gì nữa!

Sở dĩ tôi quả quyết người hạ sĩ quan này không phải là kẻ gian chỉ vì ngay từ đầu, tôi chưa cật vấn, anh ta đã thành tâm, tự ý cho tôi biết gia phả của anh ta.

Anh ta không phải là người trực tiếp chuyển công điện; nếu anh ta muốn chuyển tin cho địch bằng phương cách khác thì cũng vài ba ngày sau, tin mới tới tay người nhận.

Trong khi đó thì, hằng đêm, các đài kiểm thính của ta đều báo cáo rằng Việt-Cộng có trong tay toàn bộ điểm đóng quân đêm của các đơn vị Biệt Ðộng Quân Vùng 2 chỉ vài giờ sau khi Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 gửi bản tổng kết lên Quân Ðoàn II.

Trước đây, mỗi lần về Pleiku, tôi thường vào gặp Ðại tá Tất để lưu ý ông chuyện này. Ông Tất đã ra lệnh cho Phòng An-Ninh của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 mở những cuộc điều tra theo dõi những kẻ tình nghi.

Ðã xảy ra nhiều chuyện thay đổi nhân sự ở các phòng, ban liên quan tới đặc lệnh truyền tin hay khóa mật mã.

Trung sĩ Nguyễn Minh và một vài nhân viên văn phòng khác đã bị xuất ngành và thuyên chuyển lâu rồi, mà tình trạng tin tức bị tiết lộ vẫn còn tiếp tục thì nhất định người chuyển tin cho địch vẫn chưa bị phát giác.

Tôi có cảm tưởng rằng, tên nội tuyến ấy vẫn còn sống phây phây đâu đó ngay trong Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 ở Pleiku chứ không đâu xa.

Bốn mươi năm sau chiến tranh, ở Mỹ, qua điện thoại, ông Cựu Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 than phiền với tôi rằng ông không ngờ viên Ðại úy Ðại đội trưởng Ðại Ðội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 lại là một thượng úy nội tuyến của Việt-Cộng!

Trong hai ngày 25 và 26 tháng 9 có ít nhất năm, sáu vụ bắn tỉa nhắm vào Căn cứ Ðạo-Trung.  Về phía Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân không có đe dọa gì. Có thể vì chúng tôi tới đây bằng chân, không có xe cộ rầm rộ, nên địch chưa phát giác ra vị trí trú quân của tôi. Lý do thứ nhì là anh em chỉ nấu nướng một lần vào lúc chạng vạng tối, sương mù che khói lửa, địch không nhìn ra.

Trưa ngày 27 tháng 9 năm 1974 Ðại tá Từ Vấn đáp xuống mặt tỉnh lộ, cách lều của tôi vài chục thước.

Sau ba ngày nghỉ phép đặc biệt ở Sài-Gòn, ông Vấn đã bay ra Nhơn-Cơ bằng Air Việt-Nam rồi nhờ trực thăng của Ðại tá Nghìn để tới đây.

Máy bay vừa trở đầu cất cánh thì phòng không Việt-Cộng đã “Choang choác!” từ khe suối bên hướng Tây bắn sang.

Ông đại tá chạy vội vào lều của tôi rồi lấy máy truyền tin của tôi để ban lệnh cho các đơn vị thuộc quyền.

Nửa giờ sau, bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn Ðịa Phương Quân của Thiếu tá Bùi Ngọc Long phải di chuyển sang trú quân trên một ngọn đồi ở hướng Ðông liên tỉnh lộ để nhường chỗ cho Biệt Ðộng Quân thiết lập Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Ðoàn 24.

Trong khi các quân nhân Biệt Ðộng Quân đang căng võng đào hầm, thì đạn đại bác của Cộng-Quân từ hướng Tây ào ào bay tới. Gần hai chục viên 105 ly đã rơi trên mặt Liên Tỉnh Lộ 8B, may mắn là không có ai bị thương.

Chiều 27 tháng 9 năm 1974 tôi được lệnh sang Căn cứ Ðạo-Trung để họp hành quân.

Trong phòng họp chỉ có năm người cầm đầu liên đoàn. Ðại tá liên đoàn trưởng mở đầu buổi họp với giọng thật là nhỏ nhẹ,

– “Tông Tông” bắt tụi mình phải khai thông con đường này trước ngày lễ thành lập Quân Ðoàn II để ổng ra thăm Pleiku và Quảng-Ðức, rồi gắn huy chương cho các chiến sĩ hữu công. Ông Nghìn cho mình 10 ngày, nhưng tôi thấy, nếu cố gắng, mình có thể hoàn tất công việc này trong vòng một tuần.  (Tông Tông: Tổng Thống)

Nghe ông liên đoàn trưởng ban lệnh, tôi nhớ lại, trong buổi họp hành quân cách đây ba ngày thì, Tiểu Ðoàn 63 sẽ là nỗ lực chính, còn Tiểu Ðoàn 82 là thành phần trừ bị, tôi bèn giơ tay vỗ nhẹ lên vai Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân, để an ủi,

– Ông tổng thống ra lệnh hoàn thành công tác trong vòng 2 tuần lễ, tức là 14 ngày, ông tỉnh trưởng rút xuống còn 10 ngày, ông liên đoàn trưởng trả giá thấp chút nữa thành …7 ngày! Thế thì kỳ này niên trưởng Ðàng của tôi hơi mệt đó!

Tôi kêu Thiếu tá Trần Ðình Ðàng là “niên trưởng” chỉ vì ông thiếu tá này xuất thân từ Khóa 15 Ðà-Lạt, ngang vai với các ông thầy dạy tôi trong trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam.

Nào ngờ tôi vừa dứt lời, Ðại tá Từ Vấn đã giơ tay, quơ quơ trước mặt,

– Khoan! Khoan! Các ông im lặng nghe tôi nói đây! Lệnh hành quân bây giờ đổi lại là, Tiểu Ðoàn 82 sẽ đảm nhận vai trò nỗ lực chính, dồn sức bứng các chốt chặn hướng Tây tỉnh lộ; Tiểu Ðoàn 81 có nhiệm vụ thám sát mặt lộ, rà mìn và đặt các trạm an ninh; Tiểu Ðoàn 63 vì có ông tiểu đoàn trưởng mới từ Vùng 3 thuyên chuyển ra, chưa quen địa thế Vùng 2 nên được đi sau bộ chỉ huy liên đoàn và là thành phần trừ bị!

Tôi sững người ngồi im không phản ứng ngay được. Sao lại có chuyện kỳ vậy nè? Rõ ràng ba ngày trước ông Vấn nói, vì chúng tôi mới bị vây lâu ngày, có nhiều người chết và nhiều người bị thương chưa xuất viện, nhiều tân binh vừa bổ sung chưa quen trận mạc, nên ông ta cho 82 làm trừ bị, nay chẳng hiểu vì duyên cớ gì mà đột nhiên ông ta đổi ý bắt 82 làm nỗ lực chính?

Tôi đứng dậy, trợn mắt nhìn Ðại tá Vấn, rồi lớn tiếng,

– Ba ngày trước Ðại tá cho tôi làm trừ bị, ba ngày sau ông lại bắt tôi “húc” ông làm cái gì mà kỳ vậy?

Thấy tôi nổi dóa, Ðại tá Từ Vấn bèn ra dấu cho hai vị tiểu đoàn trưởng kia lui ra rồi đấu dịu,

– Không phải trận này anh cố ý ép Long. Chỉ vì anh biết khả năng hai ông tiểu đoàn trưởng kia không thể hoàn thành công tác đúng thời hạn mà tổng thống giao, rồi cuối cùng chú vẫn phải vào trận. Chi bằng anh giao việc này cho chú ngay từ đầu.

Tôi vùng vằng bước ra khỏi phòng họp, cúi đầu đi về lều, không thèm đôi co thêm tiếng nào.

Lúc đó mặt tôi nóng bừng bừng, hai tay run lên vì giận. Rõ ràng ông Vấn là một cấp chỉ huy không công bằng! Trận Pleime tiểu đoàn tôi chịu trận hơn một tháng trời, bị chết chóc, thương tật cả trăm người, Tiểu Ðoàn 81 đánh nhau vừa đúng một ngày thì tan hàng, bỏ chạy, Tiểu Ðoàn 63 từ ấy tới nay không phải bắn một phát súng nào vì cứ núp ở đàng sau xa.

Nay thấy lệnh của tổng thống ban ra, các ông chỉ huy sợ không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ bị khiển trách nên bắt Tiểu Ðoàn 82 “húc” tiếp!

Tới sẩm tối, thằng Bích vào báo cho tôi hay trung tá liên đoàn phó đang đứng dưới đường chờ vào gặp tôi có việc cần. Tôi bảo nó,

– Mi xuống nói với ông trung tá rằng thiếu tá mệt, đi ngủ rồi!

Vừa lúc đó Trung tá Hoàng Kim Thanh đã chui vào lều, ngồi nơi đầu võng của tôi, vừa cười vừa nói,

– Bớt nóng đi chú em! Anh sang nói chuyện với chú vài phút, nghe xong, chắc chú sẽ hết giận ngay thôi!

Tôi miễn cưỡng ngồi dậy,

– Anh có gì cần thì nói đi! Tôi bực cái ông Vấn này quá! Tiền hậu bất nhất!

Trung tá Thanh ra dấu cho Binh 1 Nguyễn Bích đi ra ngoài, rồi hạ giọng,

-Trưa nay anh và ông Hai Lẻ Chín có họp riêng với Ðại tá Nghìn. Ông Nghìn cho biết nếu không khai thông được con đường này đúng thời hạn thì ông ta sẽ mất việc, nên ông ta cứ nài nỉ ông Vấn cố gắng lên. (Hai Lẻ Chín hay 209, là danh xưng truyền tin của Ðại tá Từ Vấn)

Tôi cự nự,

– Bộ cứ sợ ông Nghìn bị mất việc là các ông bắt tiểu đoàn tôi phải đâm đầu vào chỗ chết hay sao?

– Không phải thế đâu! Anh với ông Vấn sợ Thằng 63 vào trận, chưa chi đã chạy thì quân ta sẽ mất tinh thần. Việc này sẽ ảnh hưởng tâm lý tới các tiểu đoàn khác. Cuối cùng cũng phải nhờ tới chú. Chi bằng cho chú đánh từ đầu, chắc chắn sẽ xong việc thôi!

– Thế còn Thằng 81?

Anh Thanh lắc đầu,

– Sau khi thằng Lân (Tiểu đoàn trưởng 81) bị Việt-Cộng chặt đầu, thằng Ngọc (Tiểu đoàn phó 81) mất tích, thì tinh thần binh sĩ của Tiểu Ðoàn 81 sa sút trầm trọng lắm! Không còn ngon lành như trước đây nữa đâu! Chúng nó đang chờ ngày đi tái huấn luyện dưới Dục-Mỹ.

Tâm sự kẻ sang Tần

Post by Sơn râu 12 Aug 2023

Kịch thơ Vũ Hoàng Chương

Hồi Thứ Nhất

Trong một phủ đệ lộng lẫy nơi Thái tử Đan tiếp đón và thù phụng hào kiệt bốn phương. Mở màn lên Kinh Kha ngồi một mình.

Kinh Kha

Nửa đời luân lạc, buồn thay

Trai thời loạn vẫn trắng tay cơ đồ!

Lênh đênh Tề Nguỵ

Ra Sở vào Ngô

Nào mây Vu Giáp trăng Tần Lĩnh

Nào gió Tam Giang sóng Ngũ Hồ!

Có nghe chăng Kinh Kha:

Bẩy nước anh hùng đàm tiếu?

Nửa đời, ngươi bôn ba

Nửa kiếp, ngươi không nhà

Tay trắng hoàn tay trắng

Kinh Kha hề Kinh Kha!

Lại thấy chăng, Hàm Dương sôi lửa máu

Trăm nghìn cay đắng nỗi lương dân?

Bao thảm khốc dưới bàn tay dâm hậu

Và đứa con hoang của nước Tần!

Doanh Chính tàn bạo

Lòng tham mưu sâu;

Thôi rồi vương đạo

Còn chi nửa đâu!

Hoạ diệt vong đè sáu ngã chư hầu…

Đủ nanh vuốt, ngày nay Tần bạo chúa

Sắp hung binh dầy xéo đất Yên bang;

Chiều hôm qua lời nói của Điền Quang

Thực đã khiến lưỡi gươm này phẫn nộ

Túc Vệ (ra)

Dạ bẩm tướng quân

Nắng chiều đã tắt

Núi xa xanh mờ ảo bóng trăng xuân

Gió nhẹ chuyển bức màn sương tím ngắt

Giờ Dậu đã lưng chừng

Dám xin người xuống lệnh

Bày ca vũ tưng bừng

Đương ngoài hiên đợi mệnh

Kinh Kha

Đã giờ Dậu! (đứng dậy ra cửa sổ)

Hừ, trăng nằm sóng soải

Biếc vườn tơ, phơi phới mặt hồ gương

Trãi bao năm ta dãi gió dầu sương

Nay mới được tâm hồn thư thái chút

Quân đâu!

Túc Vệ

Dạ!

Kinh Kha

Kíp mang đây nghiên bút,

Mài mực nghe! ta vịnh mấy vần chơi…

(Túc Vệ mang nghiên bút ra; Kinh Kha viết rồi ngâm)

Dưới nguyệt mài gươm chốc nửa nửa đời

Nghìn thu sự nghiệp hỏi đâu nơi!

Khi say bốn bể thu vào chén

Lúc tỉnh mười phương vẫn rối bời…

Thiên hạ tung hoành ai đế bá?

Nào ai tâm sự có đầy vơi?

Giơ tay cười ngất, phen này nhỉ,

Đem chữ Tài tranh với chữ Thời!

(đi ra cửa sổ)

Ồ, xuống bút một bài thơ đắc ý

Chẳng hoài nhung uổng lụa một đêm xuân

Hồn Thiên Thai phảng phất tưởng đâu gần

Hồn Thiên Thai…

Túc Vệ

Dạ, bẩm tướng quân

Bày ca nhạc đã từ lâu đợi mệnh

Kinh Kha

Ngươi kíp ra truyền lệnh

Cho bọn chúng tuân ngay

Phổ lời ca điệu nhạc tám câu này,

Tơ với trúc phải sao cho hùng tráng

(Túc Vệ vào, Kinh Kha nói một mình)

Một vũ khúc tưng bừng trong ánh sáng

Của trăng xuân…Ta hãy lắng nghe nào!

Phải chăng kìa mây nước củng xôn xao?

Túc Vệ (ra)

Bẩm tướng quân…

Kinh Kha

Lại điều chi vậy hử?

Túc Vệ

Dạ, dám bẩm, có xe loan Thái Tử

Người đã tới!

Thái Tử Đan (ra)

Gửi chào Kinh tướng quân!

Kinh Kha

Kha này nghênh giá chậm, lỗi muôn phần

Ngửa trông lượng hải hà khoan thứ.

Thái Tử Đan

Đâu dám thế, kẻ Đan này đức nhỏ

Ngôi đông cung hổ thẹn đã nhiều

Huống nước nhà nay dưới gót lũ thiên kiêu

Bị uy hiếp, đương sớm chiều run sợ

May mắn sao, ý hoàng thiên còn tựa

Cho Đan này được tri ngộ Kinh Khanh

Cả một sơn hà nép dưới oai danh

Của hiệp sĩ, sao người khiêm nhượng quá!

Kinh Kha

Chút tài mọn xứng đâu lời điện hạ!

Kinh Kha tôi càng hổ thẹn riêng mình

Đã không hay khiển tướng điều binh,

Lại chẳng biết mưu bày kế đặt;

Chỉ mang nặng một tấm lòng u uất,

Ba mươi năm đây đó kiếp bèo trôi.
Làm trai đứng ở trong trời đất,

Chưa có danh chi với đất trời!

Thái Tử Đan

Lớn lao thay chí khí kẻ làm trai!

Câu nói ấy đáng ghi vào lịch sử

Và mai mốt vàng son ngời nét chữ

Đất trời kia hẳn được vẽ vang lây!

Kinh Kha

Tâu điện hạ, xá chi lời nói đó,

Chí làm trai phải ở lưỡi gươm đây!

Thái Tử Đan

Doanh Tần bạo ngược, tội ác đã đầy!

Dám mong tráng sĩ phen này vì Yên

Kinh Kha

Kinh Kha tôi sức mọn tài hèn

Được điện hạ có lòng tri ngộ

Tính mệnh lẽ đâu còn tiếc nửa!

Một sang Tần…

Thái Tử Đan (cướp lời)

…Xin tráng sĩ vì Yên!

Kinh Kha

Một sang Tần ngang dọc lưỡi gươm thiêng

Quyết lưu lại hào quang ngàn vạn thuở

Thái Tử Đan

Công ơn ấy với Đan này chẳng nhỏ

Và lớn lao thay lòng kẻ sang Tần!

Túc Vệ (ra)

Dạ muôn tâu và kính bẩm tướng quân

Bày ca nhạc đã hoàn thành khúc điệu.

Kinh Kha

Được, cho lui!

Thái Tử Đan

Hát hay và múa khéo

Củng làm vui khoảnh khắc dạ anh hùng

Bây giờ đây trắng sáng cảnh mung lung

Giọng oanh yến hẳn muôn phần thánh thót!

Tướng quân hãy cùng Đan dạo gót

Tới hoa viên ngồi thưởng khúc ca say

Kinh Kha

Tiểu thần xin lĩnh chỉ

Thái Tử Đan (lớn tiếng truyền lệnh)

Lũ quân bây!

Mau dẫn lối và kíp bày dạ yến (Kinh Kha và Thái Tử Đan sánh bước cùng vào: một lúc sau, vị lão thần Điền Quang bước ra)

Túc Vệ

Dạ, bẩm lão quan, người đã đến!

Điền Quang

Tướng quân đâu, mà vắng vẽ thư phòng?

Túc Vệ

Cúi bẩm lão quan, vừa mới đây xong,

Nhân sắc nguyệt mung lung vườn Thái Dược

Chúa công đã cùng tướng quân sánh bước

Ra tây đình nghe nữ nhạc đàn ca

(Khúc ca vọng lên)

Điền Quang (lắng nghe)

Ờ, cuối Xuân mà ấm khúc Dương Hoà

Lão nghe củng tấm lòng trai rộn rã

(Nghe đến câu thơ phổ thành khúc điệu, chợt giật mình)

Hừ, thiên hạ tung hoành ai đế bá!

Nào ai tâm sự có đầy vơi!

Túc Vệ

Dạ, dám bẩm lảo quan, khúc nhạc vừa rồi

Đã do lệnh tướng quân đây truyền xuống

Phải múa hát làm cho lâm ly hùng tráng

Theo lời thơ người mới cảm đề xong

Điền Quang

Thảo nào nghe lòng thấy xốn xang lòng

(để ý đến tờ hoa tiên trên bàn, cầm lên xem)

À, đây bài ngẫu chiếm

Của hiệp sĩ Kinh Kha

Nào xem người múa kiếm

Lời thơ có gấm hoa!

(ngâm)

Dưới nguyệt mài gươm chốc nửa đời

Nghìn thu sự nghiệp hỏi đâu nơi

Khi say bốn bể thu vào chén

Lúc tỉnh mười phương vẫn rối bời

(chau mày, ném tờ hoa tiên xuống kỷ, nói một mình:)

Vậy ra thế đó, trời ơi!

Hỏi đâu sự nghiệp, nửa đời mài gươm!

Lời thơ hoa gấm lạ thường

Nhưng tâm sự cớ sao mà uất ức?

Người kiếm khách đối dâu cồn bể vực

Cớ làm sao lây thói kẻ thi nhân?

Ừ, cớ sao lòng đã định sang Tần

Còn nghi hoặc chữ Tài, do dự mãi?

Không thể được, giang sơn này một giải

Phút giờ đây còn mất ở Kinh Kha!

Kẻ sang Tần phải vững chí xông pha;

Nếu chưa quyết, hỏi sao thành đại sự?..

Phải đập cho tan niềm lưỡng lự

Của người đi ngay tự bây giờ!

Tính sao đây, trời hỡi khắt khe chưa!

(Điền Quang còn đang băn khoăn thì Kinh Kha bước ra)

Kinh Kha

Xin cúi chào quốc lão

Người thứ cho tội lớn Kha này

Canh khuya dời gót ngọc tới đây,

Hẳn người có điều chi dạy bảo

Người an toạ và xin người chỉ giáo.

_Chư quân đâu, kíp tiến hương trà!

Có điều chi, người cứ dạy cho Kha.

Điền Quang

Gửi tướng quân, lão phu nào dám thế!

Oai danh ấy vang lừng trong bốn bể

Sắp vì Yên cứu vớt cảnh lầm than,

Sắp vì Yên hỏi tội đứa hung tàn

Trên xương máu toan lòng xây nghiệp đế.

Kinh Kha

Tài Kha chi đáng kể

Lão quan người quá khen.

Điền Quang

Cánh tay kia mai mốt sắp vì Yên

Chém cường tặc, moi gan Tần bạo chúa;

Cả Hàm Dương sắp trời long đất lở

Dưới gót chân kiêu dũng kẻ sang Tần.

Chiều nay đây mang ý của muôn dân,

Lão phu tới quỳ dâng lời cảm tạ

Kinh Kha (đỡ Điền Quang vừa quỳ xuống)

Chết nỗi, Điền lão quan…

Điền Quang (cướp lời)

Giờ đại hoạ

Phút tiêu vong đã điểm bốn trời Yên

Lão phu đây tuổi tác cánh tay hèn,

Ơn quân phụ chẳng báo đền muôn một,

Nghĩ tủi thẹn với cân đai bào hốt,

Dương mắt trông đàn trẻ nít tung hoành…

Ôi! xưa kia từng cướp ải đoạt thành,

Thân bách chiến đã ra vào sinh tử!

Gươm tuốt ngược xông pha rừng đạn lửa

Giáo cầm ngang vùng vẫy bến phong lôi

Ngựa dẫm đâu là beo sói im hơi

Thuyền trỏ đấy ắt kình nghê lặng thở

Ngoài sáu cõi lân bang đều nể sợ

Trong bốn phương đạo tặc phải ghê hồn.

Trãi ba triều giúp chúa định giang sơn

Giữ bờ cõi vì dân mưu hạnh phúc

Có ngờ đâu tuổi trời nay tám chục

Mang trên vai là mang nhục trên đầu;

Ôi thời xưa oanh liệt mất về đâu!

Mới hay những kẻ thân làm tướng,

Đừng để nhân gian thấy bạc đầu…

Kinh Kha

Nghe lão quan người than thở giờ lâu

Thực đã khiến Kinh Kha này hổ thẹn

Nửa kiếp lênh đênh hồ biển

Nào đâu sự nghiệp thiên thu?

Mà thời gian có nghỉ cánh bao giờ!

Điền Quang

Lão phu sống từ nay đà vô ích

Chỉ thêm một trò cười cho nước địch;

Thanh gươm cùn, tay yếu hỏi dùng chi?

Âu là dưới gót kẻ ra đi,

Lão đem chút hơi tàn trao gửi…

Tần bạo chúa lòng tham như hổ đói

Cậy hung binh toan nuốt sống Yên bang

May được tướng quân động chí ngang tàng’

Một mũi kiếm trỏ Hàm Dương hỏi tội;

Hào khí ấy cùng trăng sao chói lọi,

Bước bước đi, sông tiễn, núi nghiêng đầu

Lão phu đây, kỳ vọng bấy nhiêu lâu,

Nguyền một thác đưa chân người kiếm khách

Hồn thiêng sẽ theo người qua bến Dịch,

Bên tai người nhắc nhỡ: chí nam nhi

Với đất trời kia phải có danh gì!…

(Nói dứt lời rút gươm tự sát)

Kinh Kha

Trời! Điền quốc lão!

Người quyên sinh để thúc giục Kha này;

Hùng tâm, nghĩa cử, đáng khen thay!

Ta ngại ngùng chi nửa

Mà chưa quyết sang Tần?

Những đường gươm sắc sảo, cánh tay thần,

Ta khổ luyện đã bao nhiêu năm tháng

Cơ hội tới phải d ùng cho xứng đáng;

Nghiệp thiên thu xây đắp một phen này…

Cánh thời gian chẳng ngừng bay

Mà ôi thôi! tóc đã đầy tuyết sương!

Còn đắn đo chi? quyết phải lên đường

Cho tỏ mặt nam nhi ngàn vạn thuở!

Vang danh kiếm sĩ từ bao độ

Chẳng lẽ mài gươm đến bạc đầu!

Điền lão quan! Người hiểu rõ cho nhau:

Chiều nay, chí sang Tần, Kha đã quyết

MÀN

hết hồi thứ nhất

Vẫn cảnh trong phủ đệ, thời gian chuyển dịch tới đêm sau, Kinh Kha ngồi một mình. Tiếng ngâm thơ vọng từ xa của Cao Tiệm Ly nhịp với tiếng gõ trúc.

HỒI THỨ HAI

Tiếng ngâm

Hoa mai nở tuyết đầu khe núi

Làn song kỳ hương nhập ánh trăng

Ca giữa lời mây hề đàn trong tiếng khói

Hồn củ trời Nghiêu hề ai có nghe chăng?

Ta nghe vạt áo cô Hằng

Nổi lên trận gió chim bằng ngày xưa

Nhạc tan thành một bài thơ

Dòng Ngân quạ réo đôi bờ lưu ly,

Từ phen Trái Đất ra đi

Lệ chia phôi đã xanh rì trùng dương..

Chiều nay hề lòng khe nở nguyệt

Đầu khe hề rừng tuyết đưa hương

Tám suối âm thanh hề dồn trong nhịp trúc

Ta gõ mà chơi hề vang giấc hoàng lương

Nhắn chơi về cuộc tang thương

Bông hoa mai rợp con đường trầm luân

Đời hiểu gì chăng hề chữ Đạo?

Ta có hay không hề cái Thân?

Nước trôi sáu ngã vào Tần

Chẳng qua một phút mây vào sườn non…

Kinh Kha(nói một mình)

Canh tà vang điệu trúc

Người tri kỷ đến rồi

(Truyền lênh cho Túc Vệ:)

Chư quân đâu, ta miễn cho túc trực

TúcVệ

Dạ xin tuân thượng lệnh

Kinh Kha

Được, cho lui!

(Túc Vệ vào, Kinh Kha một mình ngâm:)

Trăng liềm một mảnh lâng lâng bạc

Nghiêng xuống cành dương lá lá rơi

Nhịp theo tiếng trúc cao vời

Đất quay một hướng mơ trời Thuấn Nghiêu

Tiếng ngâm

(Của Cao Tiệm Ly hoạ theo, mỗi lúc một gần)

Vạt áo Thiên Thai hề lênh đênh màu sắc

Đôi cánh chim bằng hề mây gió phiêu diêu

Bến Hoa từ đấy cô liêu

Cắm thuyền thơ, ngủ suối Điều, mình ai…

(Cao Tiệm Ly nhảy vào qua cửa sổ đến trước mặt Kinh Kha)

Kinh Kha

Cao hiền huynh! em đón đợi lâu rồi

Cao Tiệm Ly

Nghe hiền đệ chí vì Yên đã quyết

Thanh gươm báu sắp vào nơi hổ huyệt

Nên ta vì đại nghĩa phải dời chân

Kíp tới đây bàn giúp việc sang Tần

Kinh Kha

Đa tạ hiền huynh vì nhau khó nhọc

Chẳng tiếc công từ rừng núi biên cương

Đến dạy bảo cho Kha lời vàng ngọc

Trước giờ Kha mang sứ mệnh lên đường

Cao Tiệm Ly

Vậy ra hiền đệ

Lòng quyết hy sinh?

Kinh Kha

Một chuyến ra đi, vẹn toàn hai lẽ;

Vì Yên mà củng lại vì mình

Cao Tiệm Ly

Ta biết rồi, nhưng…

Kinh Kha (cướp lời)

Nửa kiếp phiêu linh

Há nỡ để gươm thần hoen rỉ mãi!

Tuổi cường tráng qua rồi không trở lại…

Cao Tiệm Ly

Khá khen cho hiền đệ chí hơn đời

Một cánh tay toan lấp bể vá trời

Đem tính mạng xây nền cho sự nghiệp

Bụi đỏ tên ghi, sử xanh việc chép:

Ngàn thu sau …ồ!..kiếm sĩ kinh Kha

Tiếng thơm cùng non nước mãi không già!.

Nhưng khoan chút, hãy dừng tay dệt mộng;

Trước khi chết nghe ta bàn lẽ sống:

Kinh Kha (ngạc nhiên)

Cao hiền huynh! chẳng lẽ…

Cao Tiệm Ly (ngắt lời)

Thử ra xem

Bày tinh tú!…Ngẫng đầu lên chút nửa!

Mây thành dựng màu tro viền sắc lửa

Nạn máu sông xương núi tránh làm sao?

Kìa, phía Tây chói lọi một vì sao

Mà tám ngã chầu về dâng ánh sáng…

Kinh Kha (nhìn theo ngón tay bạn)

Vâng nẻo đó thật muôn phần sáng lạn

Khác nào như một biển ngọc mênh mông

Chứa hào quang gồm nuốt mọi ngành sông

Cao Tiệm Ly (kéo bạn trở về chổ cùng ngồi)

Kinh hiền đệ, em thấy rồi đó chứ?

Phía Tây ấy hiện Doanh Tần đang ngự

Đất Hàm Dương vượng khí tự sơ khai

Phút giờ đây chung đúc mọi anh tài

Diệt sáu nước để thu về một mối…

Kinh Kha

Diệt sáu nước?…Có lẽ đâu, trời hỡi!

Cao Tiệm Ly.

Chính lẽ trời tan hợp lạ gì đâu!

Ba mươi năm một cuộc bể thành dâu

Phân cương mãi ắt có ngày thống nhất

Từ thượng cổ, song hưng suy còn mất

Cứ từng cơn tiến thoái, nhịp nhàng thay!

Ngẫm mà xem thế sự bấy lâu nay:

Kể từ độ nhà Chu dần bạc nhược

Không chấn áp nổi chư hầu tiểu quốc

Dời kinh đô về đóng ở phương Đông,

Lần lượt nhau xưng bá với xưng hung

Tề Tấn Sở nêu cao gương cát cứ

Chẳng ai biết tới uy quyền thiên tử

Miếng mồi ngon mặc sức kẻ tranh giành

Gió sa trường nồng khét máu hôi tanh

Lớn nuốt nhỏ, mạnh thì uy hiếp yếu

Còn sót lại Sở Tề Hán Nguỵ Triệu

Và Yên đây và sau hết Tần kia

Bẩy nước cùng xâu xé miếng mồi chia

Nhưng thế tất chẳng sao cùng đứng vững;

Nay đế nghiệp đã tới kỳ xây dựng…

_Ô kìa sao hiền đệ mãi phân vân?

Kinh Kha

Trời ơi chua chát muôn phần!

Lẽ đâu thiên hạ về Tần hay sao?

Cao Tiệm Ly

Sáu nước rồi tiêu diệt

Thiên hạ sẽ về Tần

Trái thời cơ, dấn thân vào chổ chết,

Thực đáng thương và đáng tiếc bao nhiêu!

Kinh Kha

Nghe hiền huynh bấy nhiêu điều

Thực đã mệnh trời sáng tỏ;

Nhưng chẳng lẽ gươm thiêng nằm mãi vỏ

Không vì Yên…

Cao Tiệm Ly

…Và quyết chẳng sang Tần!

Kinh Kha

Nhưng Tần vương bạo ngược, khắp xa gần

Đều căm tức…

Cao Tiệm Ly

…Chỉ có một con đường

Cho kẻ sĩ thức thời cơ tự trọng

Ấy là chẳng đoái hoài danh vọng;

Trần ai đừng nhiễm mảy may nào…

Ta về ta ẩn non cao

Giang sơn riêng Suối Hoa Đào thênh thênh

Kinh Kha

Nhưng còn Kha theo sao được hiền huynh

Đã chót hứa với Yên triều Thái Tử…

Cao Tiệm Ly

Tuỳ ngươi đó, nếu ngươi còn lưỡng lự

Thì mặc ta lên núi một mình ta

Kinh Kha

Việc sang Tần đành lẽ bỏ…Nhưng mà

Nghĩa khứ tựu phải sao cho rành mạch

Vả triều Yên đãi Kha này thượng khách

 Lẽ nào Kha lòng nỡ quá vô tình

Lúc ra đi không từ biệt phân minh!

Vậy xin hẹn ba ngày. Sau hẹn đó

Hiền huynh tới, em xin làm hiệu lửa

Rồi chúng ta cùng sánh bước về non.

Cao Tiệm Ly

Ta sẽ ca vang nhịp trúc khua ròn

Nghe nhạc nổi ngươi làm ngay hiệu lửa

Nếu ngọn sáp bừng tươi trong khuôn cửa

Ấy là ngươi tình nghĩa dứt cùng Yên

Ta sẽ vào…Thôi! vầng nhật sắp lên

Gà gáy đã ba lần…Ngươi phải nhớ:

Nghe tiếng trúc phải làm ngay hiệu lửa

Nhược bằng không ta cứ thẳng đường đi!

(Cao Tiệm Ly vào khuất sân khấu)

Kinh Kha (dặn với theo)

Chào hiền huynh, xin chớ ngại điều chi!

(một mình) Hai lẽ đi cùng ở

Lòng ta thực hoang mang

Trái thiên mệnh liều đi thì việc lỡ

Mà không đi cơ hội bỏ sao đang!

Ôi thôi nửa kiếp ngang tàng!

Đành ư, giải giáp quy hàng thời cơ?

Thua trời xanh một nước cờ
Mài gươm rồi để bạc phơ mái đầu

Ta về ta ẩn rừng sâu

Bạn cùng hoa cỏ ngâm câu thoát trần…

_Hàm Dương đế nghiệp khởi

Lục quốc hỗn vu Tần
Lẽ mầu nhiệm thực đó ư trời hỡi!

Liều ra đi là uổng sức hoài thân?

Đành ư, một lưỡi gươm thần

Vùi sâu non động phai dần hào quang!

(gục xuống thiếp đi…Thái Tử Đan ra giữa lúc Kinh Kha nói mê sảng:)

Trời đất ơi, trọn kiếp hận còn mang!

Thái Tử Đan

Mộng ảo có chi mà uất ức

Hẳn tướng quân mỏi mệt tinh thần!

Lỗi đó ở quả nhân

Dám xin người lượng thứ

Túc vệ! kíp truyền vũ nữ

Tới đây, thị yến giải sầu

Túc Vệ

Dạ muôn tâu

Xin lĩnh chỉ

Kinh Kha

Khiến điện hạ nhọc lòng giời ý

Kinh Kha này đắc tội xiết bao!

Ơn trên nhường đất thẳm trời cao

Mạt tướng biết lấy chi đền đáp

Từ lúc được Yên triều dung nạp

Đông cung thực đã quá ân cần

Cho Kha này bối rối phân vân

Chỉ sợ tài hèn sức mọn

Chẳng xứng đem dùng việc lớn

Thái Tử Đan

Thôi hôm nay tạm gác việc sang Tần

Không bàn chi! hãy cùng với quả nhân

Cùng nâng chén giãi sầu giây lát đã

(Hai người cùng tới cửa sổ lớn, nhìn vào phía sân rộng bên trong, nơi biểu diễn ca vũ)

Kìa điệu múa phong lưu huyền ảo lạ!

Hoa vườn xuân nghiêng ngã củng say theo

Sương lam tan để lộ áng mây điều

Vạt áo tía lung linh màu buổi sáng

Nào tráng sĩ, hãy dời chân ngoạn thưởng

(thấy Kinh Kha mê mãi theo khúc múa)

Lạ lùng thay tráng sĩ bỗng triền miên

Cặp mắt như thờ thẫn đắm mê nhìn…

Kinh Kha

Ồ, đôi cánh tuôn mưa và nổi gió

Nõn nà nhung phơi phới tuyết sương bay!

Mượt như tơ và nhẹ tựa làn mây

Ngọc ẩn hiện tới lui, ngà thấp thoáng

Mười búp quỳnh hoa bừng chuyển dáng

Hai dòng cẩm thạch uốn sườn non

Ngón tay ai nhỏ vút cánh tay tròn

Cõi hạ giới ngờ đâu mình thấy được!

Những mơ ở chiêm bao nào thuở trước

Khi tuổi xuân còn chưa quá hai mươi,

Vậy mà nay…

Thái Tử Đan

Kinh hiệp sĩ quá lời!

Chẳng qua đó một người trong nhạc bộ

Nếu quả thật Kinh Khanh lòng hạ cố

Thì xin dâng để chầu chực sớm khuya

Kinh Kha

Hạ thần trong một phút cuồng si

Buông lời nói nhàm tai thánh thể

Đáng tội mấy mươi thẹn thùng xiết kể

Mong Đông Cung người khoan thứ một vài

Hiểu cho Kha: Từ đeo kiếm trên vai

Chỉ mơ ước nghìn thu xây nghiệp lớn

Chẳng hề để tâm hồn vấn gợn

Bâng khuâng vì ân ái tình duyên

Ba mươi năm Ngô Sở dạo con thuyền

Vó ngựa ruỗi Tây Tần qua Bắc Nguỵ

Gió sớm chợ Hàn sương khuya bến Vệ

Thép Long Tuyền mài đã nát tơ trăng

Vẫn giận chưa cất được cánh chim bằng

Chín vạn dặm thời cơ không nổi gió

Lẽ nào ư, Đông cung người xét rõ,

Kinh Kha này mê sắc đẹp giai nhân!

Huống hồ đương bối rối việc sang Tần!

Câu nói lỡ vừa đây xin điện hạ

Hiểu cho rằng Kinh Kha tôi chỉ đã

Yêu cánh tay băng tuyết ngọc ngà ai

Khác gì yêu pho tượng đẹp mà thôi…

Thái Tử Đan

Cô gia đã hiểu rồi, Kinh hiệp sĩ!

Đôi mắt ấy thật muôn vàn tế nhị,

Yêu là yêu cái Đẹp phải hay chăng?

Đẹp nhường kia, pho tượng đẹp sao bằng!

_Túc Vệ đâu, kíp truyền ra nật chỉ

Thi hành ngay (ngồi thảo lệnh cho Túc Vệ cầm vào rồi nói tiếp với Kinh Kha)

Đó là nàng Ngọc Tý

Người đứng đầu nhạc bộ của cô gia

Tên gọi kia thực xứng với tay ngà!

Nàng Ngọc Tý, người đứng đầu nhạc bộ…

Túc Vệ (ra)

Dạ muôn tâu! quan đại thần Thái Phó

Đương chờ xin diện kiến đức Đông Cung

Thái Tử Đan

Truyền cho y cứ thẳng tới triều trung

Chờ sẳn nhé! ta tiến triều ngay đó…

_Hiệp sĩ gắng chờ đây, và lát nửa

Thu nhận cho lễ mọn của Đan này

Dâng Kinh Kha tửu hứng giúp phần say

(Thái Tử Đan cùng Túc Vệ vào. Kinh Kha ngồi một mình đọc sách. Im lặng một lúc)

Kinh Kha

Chà! tâm trí bỗng tơi bời rối loạn

Nghe đâu đây như quỷ oán ma hờn

Trên đầu ta như một dãy trường sơn

Đè chỉu nặng, không sao còn gượng được!

Chân rời rã cơ hồ không thể bước,

Hai vai trùng, tê điếng khắp xương da…

Trời đất ơi! lòng củng rộn phong ba

Năm cửa ải giác quan bùng lửa cháy!

(Linh hồn Ngọc Tý hiện lên)

Gì kia nửa? ai muốn điều chi vậy?

Ai vào kia? ai đó? lạ lùng chưa?

Nói mau lên, ta rút kiếm bây giờ!

Ngọc Tý

Gửi hiệp khách, tỳ nhi xin bái kiến

Kinh Kha

À ra ngươi là ca nữ vừa rồi

Ngọc Tý

Một oan hồn ca nữ, tướng quân ôi!

Kinh Kha

Một oan hồn! ta mê rồi chẳng lẽ!

Ngọc Tý

Tướng quân vẫn ngồi đây trong phủ đệ

Và tỳ nhi một ca nữ hồn oan,

Vì tướng quân, vừa lánh cõi trần gian…

Kinh Kha

Nàng đã chết vì ta?

Ngọc Tý (hát giọng thảm)

Xuân mới nở

Trong màu hoa, và hót ở lời chim

Hỡi ơi sắc úa hương chìm

Tạnh cơn mưa, có ai tìm ngày xuân?

Ai rằng ảo mộng chân thân?

Nghìn thu ngà đúc một lần tuyết tiêu…

Thương cho ngọc dắt vàng đeo

Ánh trăng suông để buồn theo xuyến vòng

Tiếc cho quỳnh nở mười bông

Giữa đêm kỳ thú men bồng bềnh tan

Vườn xưa nhịp điệu chưa tàn

Cánh xiêm mở chếch cung đàn khép lơi

Vầng trăng sụp đổ lưng trời

Vì nhau thôi đã rụng rời cánh tay!

Xót thay mà ngậm ngùi thay

Nào ai hay, một mình hay nỗi mình…

Trời đất vô tình

Mây gió vô tình

Gẫy trâm rồi, đã rơi bình

Sầu lên chưa tắt màu dư lệ

Sầu có hồn chăng, lệ có hình?

(Bóng ma chợt tan biến theo tiếng hát chìm dần)

Kinh Kha (nói một mình)

Hừ, lạ chưa! từ thế giới u minh…

Một ca nữ ta chưa từng gặp mặt

Chết vì ta… Có lẽ đâu, trời đất!

Nội Giám (ra)

Bẩm tướng quân, thừa lệnh chúa công truyền

Tiểu nô mang tặng phẩm kính dâng lên

Kinh Kha

Được, cho lui!

Nội Giám (trao chiếc hộp cho Túc Vệ)

Dạ, chúa công lại nhắn

“Tráng sĩ muốn điều chi xin cứ dặn

Vì Yên bang người đã sắp ra tay,

Thì dẫu cho tính mệnh của Đan này

Người muốn lấy củng xin dâng nộp đó”

Kinh Kha

Thôi được! hãy cho về

(Nội Giám vào. Kinh Kha một mình) Yên Thái Tử

Trọng đãi ta vào bậc đại ân nhân

Biết làm sao gỡ nổi việc sang Tần!

Ca vũ đê mê, linh đình yến ẩm

Suốt ngày đêm, nay còn trao tặng phẩm

Giúp cho mình tửu hứng được cao bay…

Nào thử xem tặng phẩm gì đây!

(Mở nắp hộp) Trời hỡi, đôi cánh tay nào đó,

Mà băng tuyết ngọc ngà hoen máu đỏ?

Thôi rồi, ta đã giết nàng đây;

Một ca nhi vô tội, não nùng thay!

…Yên Thái Tử đãi mình tri kỹ thực,

Muốn vật chi củng lập tức dâng ngay!
Yêu đôi tay thì chặt hẳn đôi tay

Không dám tiếc… Vậy mà…

(Im lặng một phút) Không thể được!

Dù chẳng thuận thời cơ, dù có ngược

Mệnh trời kia, ta củng phải ra đi.

Một là cho phỉ chí kẻ nam nhi

Và hai nửa báo đền ơn tri ngộ

(ngâm dài) Xưa nay kẽ sĩ liều sinh tử

Đền đáp ơn sâu kẻ biết mình

(Trông về nẻo xa ngậm ngùi)

Hiểu cho Kha, hỡi hỡi Cao hiền huynh!

Dẫu sao, việc sang Tần đành phải quyết.

MÀN

hết hồi thứ hai

HỒI THỨ BA

Vẫn cảnh trong phủ đệ. Buổi chiều. Thời gian đã chuyển tới hai ngày sau. Thái Tử Đan ngồi đàm đạo với Kinh Kha.

Thái Tử Đan

Xin tráng sĩ vì Yên

Kinh Kha

Lời điện hạ

Kẻ mạt tướng vẫn đinh ninh trong dạ

Sẽ tuỳ cơ mà tiến thoái kinh quyền

Thái Tử Đan

Một sang Tần, xin tráng sĩ vì Yên…

Nay kế hoạch bày xong, người đi đã quyết

Thì ngựa ruổi ắt thành công, Tần vương phải chết

Và chết theo cả chính sách tham tàn,

Yên quốc từ đây bền vững giang san,

Nhưng khanh ạ, việc không nên trì hoãn nửa

Ta phải làm ngay, cứu dân như cứu lửa…

Kinh Kha

Kinh Kha tôi chỉ đợi lên đường

Thái Tử Đan

Vả lại chốn biên cương

Suốt ngày đêm cao cấp

Vì kẻ kia tướng dũng binh cường

Định tràn lấn, thực là nguy ngập!

Từ bến Dịch, biểu dâng về tới tấp;

Có kỳ mưu, ta phải gấp thi hành

Thôi, quả nhân xin tạm biệt cùng khanh

Việc lớn mong rằng lưu ý

Kinh Kha

Mạt tướng xin tuân thánh chỉ…

(Thái Tử Đan vào, Kinh Kha một mình)

Thế là ta đành phải quyết sang Tần

Lẽ đâu còn đo đắn phân vân

Hừ, đâu lẽ phụ người tri kỷ!…

(Đến chổ bàn để chiếc hộp)

Ồ, đây nửa cánh tay nàng Ngọc Tý

Vẫn còn nguyên khối ngọc với khuôn ngà

Thịt chẳng khô mà chẳng héo làn da

Ánh nhung mướt vẻ xinh tươi mềm mại

Còn nguyên đó màu hồng chưa biến cải

Đây mùa xuân, không chút bụi trần vương

Một mùa xuân vĩnh viễn sắc cùng hương

Giữa băng tuyết mở một trời trinh bạch

Khối thịt ấm đê mê hồn cẩm thạch

Làm da mềm ngây ngất ánh phù dung,

(Ngâm:) Cánh tay ai đẹp vô cùng

Vì ai hương sắc não nùng thời gian!…

Ta nghe còn thấp thoáng mảnh hồn oan

Người ca nử…đâu đây lời rõ huyết!

_Vậy mà sao chí sang Tần chưa quyết?

Trời đất ơi, lòng ta vẫn tơ vò!

(Lắng tai nghe) Lại đã vang lừng tiếng trúc rồi ư?

_Mà chính phải Cao hiền huynh đã đến

Hẹn ba ngày, hôm nay là đúng hẹn

Nhịp trúc khua chính phải bạn ta rồi!

(Tiếng hát của Cao Tiệm Ly hoà theo nhịp trúc đánh)

Tiếng hát (Vẳng từ xa)

Sao ngà lác đác vài ngôi

Phải chăng thiên đại bồi hồi giọt châu

Mặt trời đi mất về đâu

Mây bay nhoà tím trên đầu núi xanh

Ruổi xe chị Nguyệt du hành

Báo tin chàng Gió đa tình đưa hương

Rừng xuân đậm khói mờ sương

Cánh hoa mở khép con đường chiêm bao

Kinh Kha (một mình)

Ôi lời hát thanh tao

Chính bạn ta rồi đó

Ta hẹn chiều nay làm hiệu lửa

Nếu lòng ta quyết bỏ việc sang Tần

Đoạn tuyệt cùng Yên rũ áo, dời chân

Không một chút tơ vương gì cuộc thế

Bạn ta sẽ vào đây và ta sẽ

Theo đi, trở lại rừng xanh

Cùng nhau ẩn tích mai danh

Tiếng hát (láy lại theo nhịp trúc)

Ruổi xe chị Nguyệt du hành

Báo tin chàng Gió đa tình đưa hương

Kinh Kha (một mình)

Ồ, tại sao ta cứ phải lên đường

Để đi ngược với thời cơ như vậy?

Cao hiền hữu lời lời châu ngọc ấy

Tại sao ta chẳng chịu dốc lòng nghe?

Trái mệnh trời ta nếu quyết ra đi

Ắt việc lỡ mà thôi vô ích quá!

Việc chẳng thành nói chi đền đáp nửa

Ơn sâu và nghĩa nặng những ai ai!

Và nói chi sự nghiệp để muôn đời…

Túc Vệ đâu!

Túc Vệ (ra)

Dạ, tiểu nô đợi mệnh

Kinh Kha

Đốt thêm nến để gian phòng đỡ lạnh!

Đặt lên bàn cho sáng tỏ

Túc Vệ

Xin vâng

Kinh Kha (vẫy tay ra lệnh cho Túc Vệ vào)

Thôi, để ta tự đốt

(Kinh kha đứng lên châm lửa từ ngọn đèn dầu, định thắp vào cây nến, trong khi tiếng trúc khua vang mãi, Kinh Kha nói một mình:)

Cánh chim bằng

Đành thôi nhé nghìn thu không cất được

Thế là uổng tài danh lừng bẩy nước

Uổng Điền Quang lảo tướng chết vì ta

Uổng dâng ta, Ngọc Tý, cánh tay ngà

Và uổng cả mắt xanh Yên Thái Tử

Uổng, uổng hết!…có lẽ nào thế chứ?

Không sang Tần, cô phụ bấy nhiêu người,

Ôi Kinh Kha, hèn nhát quả là ngươi!

(nhất định không thắp lửa vào ngọn nến)

Tiếng hát (láy lại)
Sao ngà lác đác vài ngôi

Phải chăng thiên địa bồi hồi giọt châu

Kinh Kha (một mình)

Ta quyết phải sang Tần, không lưỡng lự

Chẳng bao giờ về ẩn chốn rừng sâu!

Tiếng hát (càng gần)

Mặt trời đi mất về đâu

Mây bay nhoà tím trên đầu núi xanh

Ruổi xe chị Nguyệt du hành

Báo tin chàng Gió đa tình đưa hương

Kinh Kha (một mình)

Dù sao nửa, thành công hay thất bại,

 Vì tri âm ta củng phải lên đường

Tiếng hát (gần thêm)

Rừng Xuân đậm khói mờ sương

Cành hoa mở khép con đường chiêm bao

Cao Tiệm Ly (thong thả bước ra)

Vậy ra hiền đệ quyết rồi sao?

Nhất định sẽ vì Yên liều chết?

Kinh Kha (khêu ngọn đèn dầu cho sáng tỏ)

Huynh thứ cho. Việc sang Tần đã quyết

Cao Tiệm Ly

Ngươi dối ta. Nhưng chẳng dối được nào!

Ta biết ngươi còn do dự xôn xao,

Miệng nói quyết chẳng qua là gượng đó

Ngươi đã định tay làm hiệu lửa

Bao lần, nhưng lại ngập ngừng tay

Ngồi đứng không yên, mấy lượt chau mày;

Lý luận những thế nào ta củng biết.

Kinh Kha

Dạ, thực lòng em đã quyết,

Không còn lưỡng lự điều chi

Cao Tiệm Ly

Đáng lẽ ta cứ thẳng đường đi

Vì chẳng thấy ngươi làm hiệu lửa

Nhưng cùng người bạn thân từ thuở nhỏ

Lại thấy ngươi bối rối việc sang Tần

Đâu lẽ nhìn ngươi nhắm mắt đưa chân

Đành cứ phải vào đây là thế đó

Kinh Kha

Đa tạ hiền huynh lời gắn bó

Nhưng lòng Kha đã quyết lên đường

Chỉ nay mai ngựa ruổi đất Hàm Dương

Sự nghiệp ấy, lẽ nào…Ân nghĩa ấy,

Lẽ nào Kha

Cao Tiệm Ly

Việc Yên bang nhờ cậy,

Không thì thôi, đã nhận phải hy sinh

Phải làm sao cho khỏi phí công trình

Phải xếp đặt trước sau cho ổn đáng

Dù ngươi có vì Yên liều tính mạng

Dù một đi thành hay bại chẳng về

Củng làm sao cho bẩy nước khỏi cười chê

Rằng đã hoài thân vô ý thức

Có như thế hãy nên, ta nói thực!…

Kinh Kha

Dạ, hiền huynh đã hỏi tới mưu cơ

Lẽ nào em không bày tỏ nước cờ!

Hiền huynh ạ giờ đây Yên thái tử

Đã hàng biểu dâng lên, rồi khiển sứ

Tới Hàm Dương, tiến cống để xin hoà

Cao Tiệm Ly

Sứ thần kia là ngươi đó, Kinh Kha?

Kinh Kha (gật đầu)

Trong hàng biểu, Yên triều xin cắt đất

Dâng Tần vương một nơi trù phú nhất

Của Yên bang, nơi ruộng tốt dân giầu:

Xứ Đốc Cương, Tần khao khát từ lâu!

Kha này sẽ mang bản đồ xứ ấy

Sang Hàm Dương.Lòng tham kia nổi dậy,

Ắt Tần Doanh hạ lệnh xuống vời Kha

Đến gần y…

Cao Tiệm Ly (ngắt lời)

…Và giữa lúc không ngờ,

Ngươi sẽ rút một thanh dao đã sẵn

Dấu đâu đó dù con dao ấy ngắn,

Củng đủ trong chớp mắt giết Tần vương

Kinh Kha

Không, không đâu, nếu vậy quá tầm thường

Kinh Kha này mang danh là kiếm khách

Lẽ đâu chỉ tới Hàm Dương hành thích?

Lẽ nào Kha lừa giết trộm hay sao?

Cao Tiệm Ly

Vậy ngươi sẽ…

Kinh Kha

… Một mình trên chín bệ,

Ta uy hiếp Tần vương bằng khí thế

Của đôi tay… và củng một mình,

Ta kể tội y tàn ngược sinh linh,

Bắt trả lại chư hầu bao đất cát

Mà y đã trước đây từng chiếm đoạt.

Cao Tiệm Ly

Khá khen ngươi đáng mặt anh hùng!

Nhưng mà ngươi…quyết chẳng thành công

Kinh Kha

Sao vậy hiền huynh?

Cao Tiệm Ly

Như thế đó!

Vì ngươi đã coi thường bạo chúa,

Kinh Kha

Ồ, Kha này thua sức hay sao?

Huống hồ…

Cao Tiệm Ly (ngắt lời)

…Tay ấy dẫu cầm dao

Chỉ giết được mà không uy hiếp được

Tần Doanh Chính đã làm vua một nước

Lại là vua từng hống hách oai quyền

Đức lớn dù không, nhưng quyết không hèn;

Uy hiếp được, đâu phải là chuyện dễ!

Vả chăng y còn đang trong tuổi trẻ

Sức cánh tay chưa chắc kém gì ngươi

Muốn bức Tần vương phải có hai người

Cùng lên điện…Một người tay nắm giữ

Lấy minh y, không cho y chống cự,

Dao phải kề luôn tận ngực không dời

Còn một người kia dõng dạc cao lời

Trấn áp cả bọn triều thần văn võ

Khiến ai nấy phải run lên vì khiếp sợ

Cả vua tôi đều phách lạc hồn bay

Hồn phách kia, phải nắm được trong tay,

Mới có thể bắt khoan hay bắt nhặt

Nêu tội ác bấy lâu, đòi trả đất,

Cứu Yên bang và để tiếng muôn đời…

Nhược bằng đi chỉ có một mình ngươi

Thì chẳng bõ mua cười cho bẩy nước!

(Dằn từng tiếng)

Muốn thành công, phải hai người mới được!

Kinh Kha

Ơn hiền huynh chỉ giáo Kha này

Châu ngọc lời kia đích đáng thay!

Nhưng, xin cứ bình tâm. Yên thái tử,

Một khi đã vời Hàm Dương thông sứ

Dâng đất đai, ắt phải cử thêm người

Đi cùng Kha…

Cao Tiệm Ly

…Ngu muội quá, trời ơi!

Ta nhắc lại: Tần vương oai dậy đất

Trông thấy y những người can đảm nhất

Củng phải cơ hồ vỡ mật tan gan,

Còn nói chi những hạng tầm thường!

Trong triều Yên chẳng một ai đáng mặt

Đi cùng ngươi.

Kinh Kha

Thực muôn phần khe khắt!

Làm sao cho ổn đáng được, hiền huynh?

Cao Tiệm Ly

Có một người bốn bể đã vang danh

Kiếm thuật cao siêu thần kinh quỷ khiếp

Ngươi quên mất rồi chăng?

Kinh Kha

À, Cáp Nhiếp!

Kha nhớ rồi, nhưng nay biết tìm đâu?

Cao Tiệm Ly

Người ấy quen ẩn náu chốn rừng sâu

Lũ phàm tục trên đời không thể gặp

Kinh Kha

Biết làm sao! việc sang Tần đã gấp

Cao Tiệm Ly

Đi cùng ngươi, phi Cáp Nhiếp không xong!

Kinh Kha

Biết tìm đâu, kẻ ấy kiếp phiêu bồng…

Cao Tiệm Ly

Ngươi phải đợi

Kinh Kha

Nhưng mà…

Cao Tiệm Ly

Ta đã hẹn

Với Cáp Nhiếp trong mười hôm sẽ đến

Chổ biên thuỳ Yên Triệu khoảng rừng mai

Để cùng ta đàm đạo

Kinh Kha

Thực ư, trời?

Nếu vậy thự Yên bang hồng phúc đó

Nhưng…

Cao Tiệm Ly

Ngươi phải nói cho Yên thái tử

Hay rằng phi Cáp Nhiếp không xong

Có sang Tần củng chỉ phí hoài công!…

Kinh Kha

Kha sẽ gắng

Cao Tiệm Ly

Và kiên tâm chờ đợi

Ta cùng Cáp sau mười hôm sẽ tới

Nhược bằng ngươi cậy sức cứ đi liều

Ấy là ngươi tự ném để trôi theo

Dòng thác lũ cả thanh danh một thuở

Kinh Kha

Hiền huynh cứ yên lòng

Cao Tiệm Ly

Ngươi phải nhớ

Những lời ta!…thôi, ta biệt cùng ngươi

Trống lầu nghe đã điểm quá khuya rồi

Kinh Kha

Đợi Cáp Nhiếp, hừ bao giờ mới đến!

(Im lặng một lúc, Thái Tử Đan ra. Kinh Kha hoảng hốt)

Trời!…Điện hạ có việc chi cấp biến?

Mà canh khuya…

Thái Tử Đan

Việc khẩn trọng vô cùng!

Tướng quân ơi! hàng biểu dẫu đem dâng

Mà Tần tặc vẫn đề binh khắp chốn

Tiếng ngựa hí tiếng quân reo vang rộn

Khiến dòng sông Dịch Thuỷ nghẹn kinh hoàng

Núi biên cương nằm run rẫy hoang mang

Rừng Tam Lộ, chính ngay nơi cuống họng

Của Triệu Yên, quân Tần vừa chiếm đóng

Các ải quan lo sợ suốt đêm ngày

Thoi thóp chờ tai vạ, thực nguy thay!

Ta để chậm một giờ không được nữa

Chậm một giờ bốn phương bừng khói lửa,

Thì cơ mưu đành gác bỏ mà thôi!…

Việc sang Tần, gấp lắm rồi

Lên đường ngay cúi xin người vì Yên,

Kinh Kha

Dạ, muôn tâu, việc lớn, vội không nên

Thái Tử Đan

Mọi sự đã sẳn sàng đâu đấy cả

Chỉ còn đợi tướng quân

Kinh Kha

Tâu điện hạ,

Cuộc tồn vong trông cậy ở phen này

Tiểu thần đi, vì điện hạ, ra tay,

Đâu dám quản tấm thân này sống chết

…Nhưng dám xin lượng bể trời soi xét:

Đi một mình Kha ắt, việc không thành

Thái Tử Đan

Cô gia đã vì khanh

Chọn một người phó sứ

Để giúp đỡ trong khi lâm sự

Thôi, khanh đừng lo ngại nửa chi!

Kinh Kha

Dạ, muôn tâu cùng mạt tướng ra đi

Ắt phải có một người kiêm trí dũng

Trước nguy biến chẳng hề nao núng

Đủ cơ quyền và đủ cả lược thao

Người ấy, muôn tâu, tìm chẳng dễ nào!

Có khí vũ hiên ngang, lòng nghĩa hiệp

Sức hơn Kha mà kiếm thuật củng hơn

Thái Tử Đan

Vậy càng hay!

Kinh Kha

Xin gắng đợi mười hôm

Thái Tử Đan

Trời hỡi, đợi mười hôm!

Khinh Kha

Xin Điện Hạ…

Thái Tử Đan

Không thể được, tướng quân người đã rõ

Nghiệp Yên bang đầu sợi tóc đương treo,

Từng phút từng giây, muôn vạn hiểm nghèo

Nếu chậm trễ ắt tan thành tro bụi…

Không thể được, dẫu cho là phải đợi

Một ngày thôi.

Kinh Kha

Xin Thái Tử cao minh

Việc khó khăn mà thần có một mình

E lỡ mất

Thái Tử Đan

Không, tướng quân đừng ngại!

Chuyến đi này cả non sông một giải

Và thần dân trăm họ nước Yên đây

Củng trông vào, đâu có lẽ Đan này

Chẳng thận trọng, bách quan đà tiến cử

Người xứng đáng theo khanh làm phó sứ

Tần Vũ Dương một niên thiếu anh hùng

Đã bao phen trước trận lập kỳ công

Rất hăng hái và coi thường cái chết

Để ta gọi y vào bái yết

Hiền khanh_Túc Vệ, kíp truyền ngay

Tần tướng quân tức khắc vào đây!

Túc Vệ

Dạ, thần đẳng xin tuân thánh chỉ (vào)

Thái Tử Đan

Rồi đó khanh coi Tần dũng sĩ

Hùng tâm hào khí có hơn đời

(Tần Vũ Dương cùng Túc Vệ ra)

Tần Vũ Dương

Dạ muôn tâu được lệnh chúa công vời

Kẻ mạt tướng…

Thái Tử Đan (nói với Tần Vũ Dương)

Đây Kinh Kha hiệp khách

Người bốn bể oai danh từng hiển hách

Người sắp vì Yên hỏi tội Hàm Dương

(nói với Kinh Kha:)

Và đây là dũng sĩ Tần Vũ Dương

Người lĩnh mệnh theo khanh làm phó sứ

Kinh Kha

Xin cảm tạ Đông Cung…Người được cử

Sang Hàm Dương quả tướng mạo hơn đời!

(quát to) Quả thực là anh dũng chẳng thua ai!

(Tần Vũ Dương chợt giật mình, biến sắc mặt. Kinh Kha lại chậm dãi nói tiếp với Thái Tử Đan:)

Vì việc gấp cho nhọc lòng Điện Hạ

Giữa đêm khuya còn nơi này ngự giá

Lẽ nào Kha lại dám chẵng vâng lời

Nhưng…

Thái Tử Đan

Và ta phải gấp ngày đêm thẳng trỏ

Sao cho khi trống Mão điểm biên thành,

Ngựa tướng quân đã dẫm đất Tần Doanh

Và ta đứng bên đây bờ sông Dịch,

Cùng bách quan trông theo người kiếm khách

Một sang Tần không trở lại, vì Yên…

Kinh Kha

Giờ Ngọ ngày mai…

Thái Tử Đan

…Nhẹ gót chinh yên,

Người kiếm khách sang Tần…

Kinh Kha

…Không trở lại!

Dù mạt tướng thành công hay thất bại,

Dù giết hay không giết được Tần vương?…

Thái Tử Đan

Thôi nhắc chi điều ấy buổi lên đường!

Hãy sửa soạn để trưa mai cho kịp

Bây giờ đây, xin cùng khanh tạm biệt,

Quá khuya rồi!

(Thái Tử Đan, tần Vũ Dương và Túc Vệ cùng vào)

Kinh Kha

Kẻ mạt tướng xin tuân

(một mình) Trưa mai đúng Ngọ sang Tần!

Nhưng trời hỡi, thành công sao được!

Tần Vũ Dương, há phải ngươi thao lược

Đủ cơ mưu quyền biến đủ can trường

Để giúp ta cùng uy hiếp Tần Vương?

Kẻ ấy chỉ có tài đua võ nghệ

Trước ba quân, thực là không đáng kể!

Hừ, chẳng qua một đứa mãng phu thôi,

Chừ phải đâu tuấn kiệt ở trên đời

Ta biết lắm, y có thừa can đảm

Thừa hăng hái để xông pha trong đám

Muôn vạn hùng binh cướp giáo đoạt cờ,

Huyết khí thanh niên, y củng có thừa

Nhưng thiếu hẳn một tấm lòng bền vững

Chỉ sôi nổi mà không hay chịu đựng,

Chỉ liều thân mà không biết tiến lui

Nhất là khi mừng giận lúc thương vui

Đều chẳng thể giữ điềm nhiên sắc mặt

Trước uy vũ tinh thần kia phải mất,

Phải hoang mang lòng ấy trước nguy cơ

Ta đã, vừa đây, trong lúc bất ngờ

Lớn tiếng quát để dò xem ý tứ,

Quả nhiên y không còn bình tĩnh nửa,

Tay run lên, cặp mắt bỗng mờ đi,

Mặt đương tươi bỗng sám ngắt như chì

Nét kinh hãi dù chỉ trong nửa chớp

Lộ ra thôi, nhưng dấu ta sao được!

Trời đất ơi, ta biết tính sao đây?

Thanh danh ta còn đâu nửa phen này!

_Việc thế nào củng lỡ,

Đi sao đành, Kinh Kha?

Chết mà chưa trắng nợ,

Chết sao đành Kinh Kha!

Sang Tần không Cáp Nhiếp

Cùng đi và giúp ta,

Chẳng thế nào uy hiếp

Được Doanh Chính đâu mà!

Nước đến chân, đợi chờ không được nửa

Mà đi thì chết uổng việc không thành

Còn nói chi đền ơn tri ngộ

Còn nói chi ngàn thuở lưu danh!

(Im lặng một lúc lâu)

Hay là… ba mươi sáu chước, thôi đành!

Túc Vệ (ra)

Bẩm tướng quân, ngoài kia Phàn nguyên suý

Xin vào hầu

Kinh Kha (ngạc nhiên)

Phàn Ô Kỳ? chẳng lẽ

Phàn Ô Kỳ đại tướng của Tần vương

Đã gần đây treo ấn bỏ Hàm Dương
Sang Yên quốc đầu hàng?

Túc Vệ

Vâng chính phải!

Chính hàng tướng Ô Kỳ đang đứng đợi

Xin vào hầu khẩn cấp

Kinh Kha

Lạ lùng chưa!

Ta chẳng cùng y giáp mặt bao giờ

Mà nay giữa đêm khuya còn…Thôi được!

Cho y vào

Túc Vệ

Dạ xin tuân (vào)

Kinh Kha (một mình)

Ngày trước

Ta từng nghe bẩy nước lừng danh

Phàn Ô Kỳ nguyên soái của Tần Doanh

Vậy mà sao…

(Phàn ô Kỳ bước ra, cúi đầu thi lễ trước Kinh Kha)

Phàn Ô Kỳ

…Kẻ hàng thần có tội

Xin cúi chào tướng quân

Kinh Kha

Chết nỗi!

Kinh Kha này đâu dám thế_Quân bay!

Túc Vệ (ra)

Dạ

Kinh Kha

Tiến trà mau!_Túc hạ tới đây

Giữa đêm khuya, hẳn có điều chỉ giáo

Xin an toạ, chúng ta cùng đàm đạo

Phàn Ô Kỳ

Trôm nghe biết tướng quân

Vì  Yên sắp sang Tần

Kẽ hàng tốt Phàn mỗ

Bấy lâu từng ngưỡng mộ

Nên chẳng nề đường đột tới đây

Cùng tướng quân hơn thiệt tỏ bày

Kinh Kha

Xin túc hạ cứ cho nghe

Phàn Ô Kỳ

Phàn mỗ,

Trước đây ở Hàm Dương thờ bạo chúa

Còn lạ chi tính nết của Tần Doanh

Y chẳng tin ai trung trực với mình

Ngờ vực đến cả những người thân cận

Lúc lâm triều củng như khi xuát trận

Thường đeo gươm và mặc giáp hẳn hoi

Trên ngai cao chót vót một mình ngồi

Dưới chín bệ sắp hai hàng văn võ

Một tấc sắt trong người không được có

Dẫu là hiển tước công thần

Dẫu là quốc thích hoàng thân!

Cấm tuyệt đối không một ai được phép

Bước lên thềm cả những khi cần kíp,

Chỉ trừ ra có lệnh của y vời…

Đó, tướng quân người thử xét mà coi

Một sứ giả tới gần y sao được!

Kinh Kha

Kha biết lắm! _Đã sẵn bày mưu lược…

Phàn Ô Kỳ

Xứ Đốc Cương, dù muôn dặm phì nhiêu

Dù hoa thêu gấm dệt tới bao nhiêu

Củng chẳng thể khiến cho Tần bạo chúa

Đủ ham mê đến không ngờ vực nửa,

Và thềm cao cho phép tướng quân lên

Để tướng quân…

Kinh Kha

Kha mỗ vốn tài hèn

Lại nông nổi chưa hay trù tính kỹ

Được túc hạ dạy cho tường nguyên uỷ

Thực là như vừa tỉnh giấc chiêm bao

Nhưng giờ đây Kha biết nghĩ mưu nào?

Xin túc hạ vì Kha…

Phàn Ô Kỳ

Kinh hiệp sĩ

Chuyến này đây muốn danh truyền vạn kỷ

Muốn cứu yên, trừ bạo, muốn thành công,

Chẳng có đầu Phàn mỗ quyết không xong!

Kinh Kha

Đầu túc hạ? Trời ơi!

Phàn Ô Kỳ

…Tần bạo chúa

Cơn sấm sét vẫn không nguôi thịnh nộ

Kể từ khi mạt tướng bỏ Hàm Dương

Huống nghe tin mạt tướng đã quy hàng

Yên thái tử. Lòng y như lửa cháy

Lại quạt thêm và tưới dầu thêm vậy!

Nên chuyến này, y tận khởi hung binh

Để chiếm đất đai, việc ấy đã đành

Nhưng củng để nổi căm hờn được thoả

Phạt Yên sau, bắt Ô Kỳ trước đã!

Kinh Kha

Vậy ra Tần Doanh Chính…

Phàn Ô Kỳ

Với Phàn tôi

Có mối thù không thể đội chung trời…

Nay chém đầu, Phàn mỗ

Đem dâng Tần bạo chúa

Lòng kiêu căng đã thoả, giận đã nguôi,

Yên sứ được lên thềm dâng lễ vật

Y chỉ muốn đầu Ô Kỳ trước nhất

Đó mà thôi! _Chứ đồ bản chi chi

Củng chẳng làm siêu được tấm lòng y…

Chút mạng hèn chiều nay đây Phàn mỗ

Xin tự nộp, để cho thành đại sự!

Kinh Kha

Sáng suốt thay! Túc hạ thật mưu thần!

Nhưng trời ơi!…

Phàn Ô Kỳ (nghiêm giọng)

Hỡi kẻ sắp sang Tần!

Phải hiểu rõ lòng ta cho xứng đáng

Chiều nay đây ta dâng ngươi tính mạng

Có phải đâu là ta đã vì ngươi

Vì Kinh Kha lưu tiếng tốt muôn đời

Củng chẳng phải ta căm hờn bạo chúa

Mượn tay ngươi để thù riêng được thoả

Củng chẳng vì ta muốn báo ơn sâu

Của Yên triều Thái Tử bấy nhiêu lâu

Đã biệt đãi một hàng thần phiêu đãng

Không, không phải! ta dâng ngươi tính mạng

Không vì ngươi mà củng chẳng vì mình,

Củng chẳng vì Yên quốc! Ta hy sinh

Chiều nay đây, chỉ vì thiên hạ đó

Vì thiên hạ, đầu này ta cắt bỏ.

Kinh Kha

Ôi chỉ vì thiên hạ!

Phàn Ô Kỳ

Nghĩ mà xem!

Bức tử cha, đầy mẹ, giết anh em,

Tần Doanh Chính thật vô cùng bạo ngược!

Còn có thể gọi là người sao được

Huống hồ chi một bậc đế vương

Phải tự mình treo đức sáng để mười phương

Cùng ngưỡng vọng. Một mai đây thiên hạ

Nếu vô phúc lọt vào tay bạo chúa

Thì ôi thôi, còn chi nữa nhân luân!

Vương đạo tàn đi, thiên tính phai dần

Người lúc ấy chỉ còn là thú dữ,

Và hiểm độc có phần hơn nửa chứ!

Lại còn đây một tội ác tầy trời

Không thể nào dung được biết chăng ngươi?

Tội đốt sách thánh hiền, chôn kẻ sĩ

Ôi một phút tiêu tan trong lửa quỷ

Biết bao nhiêu tâm huyết của tiền nhân!

Bao nhiêu người vô tội đã chôn thân

Dưới huyệt thẩm củng chỉ vì có học,

Có đạo lý, có tài năng kiến thức,

Không chịu làm nô lệ Doanh Tần…

Kinh Kha

Độc địa thay là chính sách ngu dân!

Phàn Ô Kỳ

Trời đất hỡi! một mai đây thiên hạ

Nếu vô phúc lọt vào tay bạo chúa

Thì, ôi thôi! văn hoá mấy ngàn năm

Hỏi còn đâu? Trong dằng dặc tối tăm,

Loài người sẽ chỉ ngang hàng chó ngựa

Kinh Kha

Và hèn đớn u mê hơn thế nửa!

Phàn Ô Kỳ

Tướng quân ơi, người có hiểu, phút giờ đây,

Oán Tần Doanh, thiên hạ muốn phanh thây

Và xé xác moi gan cho hả giận?…

Ngùn ngụt Hàm Dương niềm uất hận

Kinh hoàng sáu nước hoạ tiêu vong

Chuyến đi này, cả thiên hạ chờ mong;

Chút mạng nhỏ lẽ đâu còn tiến nửa.

(Đứng phắt lên và lớn tiếng quát:)

Đầu ta đây, ngươi hãy vì thiên hạ!

Kinh Kha

Phàn Nguyên Nhung vì thiên hạ đã hy sinh,

Lẽ nào Kha vì thiên hạ chẳng quên mình!

Phàn Ô Kỳ

Lời nói thực muôn vàn tri kỷ…
Mong tướng quân tới Hàm Dươg chí ý

Kinh Kha (nói một mình)

Ta ngại gì hai chữ Thời Cơ!

Ta cần chi thành bại nước cờ!

Dù bạo chúa được thiên thời địa lợi,

Dù Cáp Nhiếp chẳng cùng ta rong ruổi,

Ta củng đi hỏi tội đứa hung tàn,

Khối bất bình ta quyết đập cho tan

Chẳng những vì tiếng thơm muôn thuở

Chẳng những vì tri ngộ ơn sâu

Ta đi đây chính vì thiên hạ
Nỗi hờn căm rửa sạch làu làu

Phàn Ô Kỳ (ngâm dài)

Hàm Dương một ruổi vó câu

Lòng thiên hạ gửi trên đầu mủi gươm…

_Tráng sĩ ơi, giờ đã gấp lên đường

Kinh Kha

Giờ đã gấp…Hãy yên lòng, túc hạ!

Kinh Kha tôi chẳng quên lời vàng đá.

Sẽ gặp nhau mai mốt dưới tuyền đài

Quyết nhìn nhau chẳng thẹn chí làm trai

Đã cùng biết hy sinh cho thiên hạ.

(Phàn Ô Kỳ quỳ xuống đợi chết. Kinh Kha nói tiếp:)

Ồ!…khoảnh khắc lòng ta vừa giác ngộ.

(trông về phía xa xa, như để nói với Cao Tiệm Ly:)

Cao Tiệm Ly, ngươi lầm đó ngươi ơi!

Lòng muôn dân ấy mới thực lòng trời.

Thiên mệnh chỉ là dân ý,

Dân đã muốn trời nào ngăn được nhỉ?

Giờ đây ý muốn của toàn dân

Là huỷ ngay chính sách Cường Tần

Bắt kẻ ác phải đền ngay tội ác…

Dẫu chỉ có một mình ta gánh vác

Công việc nặng nề kia,

Tới Hàm Dương ta củng liều một thác

Không lưỡng lự e dè

Cùng với thanh gươm sắc

Ta mang cả tấm lòng thiên hạ ra đi

Rồi mai, dân bẩy nước

Cùng dang tay cất bước

Đón hào quang một thế hệ thanh bình…

(Rút gươm cúi đầu nói lớn tiếng với Phàn Ô Kỳ:)

Và giờ đây người thứ nhất hy sinh

Cho thiên hạ, chính là ngươi, Phàn Nguyên Suý

(ngâm dài:)

Gươm thiêng này sẽ

Đượm máu anh hào

Để từ nay hùng khí át trăng sao!

(Kinh Kha giơ cao thanh gươm để chém xuống cổ Phàn Ô Kỳ, giữa lúc ấy thì màn hạ nhanh)

MÀN

hết hồi thứ ba

KẾT TỪ

Cảnh bờ sông Dịch. Quán gió thu. Thời gian đã chuyển dịch tới sau khi Kinh Kha bị mạng vong ở Tần.

Cao Tiệm Ly (một mình ngâm theo nhịp trúc)

Khói sông mơ màng trôi ánh nguyệt

Đìu hiu sông Dịch nước đê mê

Có ai nhớ tới ai hào kiệt

Buổi ấy ra đi chẳng một về?

Buổi ấy thét gươm từng trận gió

Ào ào sông Dịch lạnh lùng ghê

Dư âm còn vẳng chiều nay đó

Nhắc mãi lời ca “nhất khứ hề”!

Buổi ấy, một trời sương khói tiễn

Kẻ vào nơi Bách nhị trùng quan

Chiều nay khói quạnh sương mờ bến

Vọng mãi lời ca “bất phục hoàn”…

Đưa kẻ một sang Tần, buổi ấy

Nghiêng trời lớp lớp sóng hân hoan.

Đành thôi quằn quại trôi từ đấy

Sông nghẹn lời ca “Dịch thuỷ hàn”!

Chủ quán (từ trong quán bước ra)

Cao ẩn sỉ đó chăng? Giờ đã muộn

Còn nơi đây than thở ngậm ngùi chi?

Nhớ tiếc mãi thuở dòng sông cuồn cuộn

Vang lời ca nhịp trúc tiễn ai đi!

Cao Tiệm Ly

Ồ chủ quán! ai là không nhớ tiếc

Buổi tiển đưa hào khí ngút trường giang!

(ngâm) Một phen động chí ngang tàng

Nghìn thu sóng gió mơ màng thét gươm

Chủ Quán

Hãy vào đây, ẩn sĩ, rượu ta còn!

Hãy cùng uống cho say niềm tiếc nhớ.

Riêng gì ngươi trên sông này than thở!

Riêng gì ngươi đau đớn việc sang Tần

(ngâm) Trên sông gió giục mây vần

Chính lòng ta củng bao lần đắng cay.

Cao Tiệm Ly

Rượu còn ư? Nào ta hãy cùng say!

Để cùng nhớ Kinh Kha người kiếm khách

(Hai người đến trước quán cùng ngồi)

Chủ Quán

Ngươi lầm đó! Giờ đây trên bến Dịch

Ta ngồi than giọt lệ đẫm canh tà

Phải đâu rằng ta nhớ tiếc Kinh Kha!

Kẻ ấy đã thua tài lỡ việc

Xứng đáng gì đâu mà nhớ tiếc!

Nhớ, hoạ chăng ta nhớ buổi lên đường

Gió say reo hy vọng của mười phương

Và sóng vỗ dâng cao niềm ký thác,

Những lầm tưởng cánh tay kia lỗi lạc

Vì Yên bang, vì sáu nước, vì đời…

Có ngờ đâu…

Cao Tiệm Ly

Chủ quán, hãy khoan lời!

Chủ Quán

Ta có tiếc, hoạ chăng là chỉ tiếc

Cho ai kia trước đây đã liều chết

Vì Kinh Kha sửa soạn việc lên đường

Ích gì đâu mạng ấy hỡi Điền Quang!

Vô ích cả đầu ngươi Phàn Nguyên Soái!

Hồn các ngươi hẳn còn u uất mãi…

Và ôi thôi Ngọc Tý, biết chăng nàng?

Đã uổng vì ai trâm gảy bình tan!

Cao Tiệm Ly

Khoan chút, hãy nghe ta!

Chủ Quán

Còn nhớ rõ

Chính nơi đây cả triều Yên thuở nọ

Mặc áo tang đưa tiễn kẻ sang Tần

Cả triều Yên nâng chén rượu ân cần

Dâng kẻ ấy, cả triều Yên lệ ứa

Cùng đứng nhìn theo bóng người trên ngựa

Cho tới khi chìm khuất phía ngàn cây…

Hỡi ơi!  màu tang chế, tưởng đâu đây

Còn phảng phất như oan hồn quá khứ…

Uổng cả mà thôi! Chỉ vì đại sự

Đã lầm trao…

Cao Tiệm Ly

Khoan chút, hãy nghe ta!

Chủ quán ơi! đừng vội trách Kinh Kha

Người ấy đã không phụ lòng tri kỷ

Không hổ thẹn với thanh danh hiệp sĩ

Dù mang theo sứ mệnh tới Hàm Dương

Đã không hay đâm chết được Tần Vương.

Chủ Quán

…Ta hãy hỏi:

Kinh Kha kia nửa kiếp sống ngang tàng

Khắp bốn phương nghề kiếm đã lừng vang

Thường kiêu hãnh trên đời không địch thủ

Gươm trỏ xuống nằm rung trang lịch sử

Gươm vung lên ngừng chuyển bánh luân hồi

Mùa về Đông bể cả dấy phong lôi

Mùa về Bắc non cao mờ nhật nguyệt

Tiến một bước, ào ào hoa rụng tuyết

Lui một đường phơi phới tuyết bay hoa…

Vậy mà sao, ta hãy hỏi, sao mà,

Trời đất hỡi, Kinh Kha người kiếm khách

Người đã một sang Tần mang trọng trách

Sao thua tài uổng mạng giữa Hàm Dương?

Sao không hay kết quả được Tần Vương

Để việc lỡ cho muôn đời sĩ tiếu?

Ừ! nếu thực nghề gươm kia tuyệt diệu

Và cánh tay kia vô địch trên đời

Thì sao không…hừ! sao chịu thua người?

Hư danh cả!

Cao Tiệm Ly

Nghe ta! đừng vội trách

Luận công tội phải sao cho minh bạch!

_Hãy cùng ta nhớ lại việc Hàm Dương:

Kẻ sứ thần mang đồ bản Đốc Cương

Và thủ cấp Ô Kỳ lên chín bệ;

Nếu muốn giết Tần Doanh, ồ, rất dễ!

Vì chuôi dao đã nắm ở tay rồi

Chỉ vung lên bạo chúa ắt đầu rơi…

Nhưng sứ thần kia lại là kiếm khách

Chẳng chịu tiếng chỉ sang Tần hành thích

Chỉ sang Tần làm một kẻ sát phu

Lừa giết Tần vương giữa lúc không ngờ…

Chủ Quán

Đừng biện bác dông dài, ta chỉ hỏi
Sao Kinh Kha tự khoe tài cậy giỏi

Mà cánh tay thua sức ở Hàm Dương?

Mà không sao uy hiếp được Tần vương,

Dẫu chỉ có một mình y trên điện?

Cao Tiệm Ly

Thế mới biết ngươi hẹp hòi thô thiển

Không nghĩ sâu mà củng chẳng nhìn xa!

_Thử đặt ngươi vào địa vị Kinh Kha…

Chủ Quán

Ừ, sao nửa?

Cao Tiệm Ly

… Bản đồ dâng Tần tặc

Chỉ dấu đủ một lưỡi dao ba tấc

Một con dao lá liễu đấy mà thôi!

Khi Tần Doanh gươm đã ở tay rồi

Hỏi dao ngắn địch gươm dài sao được?

Dao ba tấc mà gươm kia ba thước

Ai thua ai điều ấy lẽ đương nhiên!

Đau đớn thay, người kiếm sĩ vô duyên

Chẳng có được thanh gươm mà xử dụng

Ví bằng có thì hoa bay tuyết rụng

Há nhường ai, mà há chịu thua ai!…

(than thở một mình)

Ôi Kinh Kha, dao ngắn địch gươm dài

Chữ thời vận, mỉa mai là thế đó!

(ngâm) Xưa kia dưới ánh trăng mờ tỏ

Mài thép bên rừng ta với ngươi

Nhắc chuyện thời cơ tê tái giận

Bàn câu thế sự ngã nghiêng cười

Sông Trời kéo xuống cùng lau kiếm

Trục Đất cầm lên định ghé vai

Hiền đệ Kinh Kha! ngươi một vắng
Trời kia đất nọ hỏi còn ai?

Chủ Quán

Ừ cho dẫu Kinh Kha nghề kiếm giỏi

Nhưng có đáng cười không, ta thử hỏi

Có đáng cười không, một kẻ liều thân

Vì hư danh, vì một chút dư ân?

Cao Tiệm Ly

Lầm, lầm quá, thực nhà ngươi lầm quá

Người ấy ra đi chỉ vì thiên hạ

Đó mà thôi! há phải đâu

Vì danh thơm, vì nghĩa nặng ơn sâu!

Chủ Quán (ngạc nhiên)

Vì thiên hạ sang Tần? Vì thiên hạ

Mà chết ở Hàm Dương? Ngươi nói lạ!

Nhưng nào đâu công trạng kẻ ra đi?

Chết uổng mà thôi, nào có ích gì…

Ta vẫn bảo Kinh Kha là có tội

Cao Tiệm Ly

Đừng nóng nảy, đừng hẹp hòi nông nổi

Hãy cùng ta bình tĩnh luận anh hào…

Kể từ khi Tần tặc chiếm ngôi cao

Dân bẩy nước như ngồi trên đống lửa

Một tiếng nói từ ngai vàng bạo chúa

Đủ làm cho vỡ mặt khắp chư hầu

Một cơn cười làm muôn vạn kẻ rơi đầu

Một cơn giận máu trào muôn vạn ngả

Y đứng lên, bể Đông nằm lặng thở

Y giơ tay, non Thái lụt mồ hôi

Lệnh Hàm Dương ai kẻ dám sai lời

Cả thiên hạ đều sợ Tần như hổ

Nào Hán Nguỵ, nào Tề Yên Triệu Sở

Đành khom lưng uốn gối chịu lầm than

Nay cắt thành mai nhượng đất, kêu van

Với bạo chúa mong vẹn toàn bờ cõi

Ai kẻ dám công nhiên hỏi tội

Đứa hung tàn nghịch đạo vô luân?

Ai dám ngang nhiên đứng giữa triều Tần

Thay mặt cả nhân dân bẩy nước

Thay mặt cả ngàn sau ngàn trước

Nêu cao bản án thiên thu?

Há chẳng phải Kinh Kha bậc trượng phu?

Há chẳng phải Kinh Kha người kiếm khách?

Người đã một chiều xưa trên bến Dịch

Nguyện ra đi vì thiên hạ đó chăng ngươi!…

Chủ Quán (Sau một lúc suy tư)

Ừ!…Kinh Kha vì thiên hạ, phải rồi!

Tấm lòng ấy thực anh hùng nghĩa hiệp

Nhưng củng chỉ một mai đây sử chép

Luận Kinh Kha rằng “Chí lớn tài sơ”

Vậy mà thôi…

Cao Tiệm Ly

Hừ, ta thực không ngờ

Óc ngu muội ngươi còn tăm tối mãi!

Ta đã nói, giờ đây ta nhắc lại:

“Việc làm ấy xá chi thành hay bại

Chỉ cần xem ai kẻ dám làm thôi”

Gương đã treo từ đây còn sáng mãi;

Nối chí kia, mai mốt thiếu chi người!

Dẫu bạo chúa giờ đây chưa bị giết

Nhưng toàn dân đã tỉnh giấc chiêm bao

Thì bạo chúa một mai đây phải chết;

Sau Kinh Kha, tiểu tử củng anh hào…

(Im lặng một lúc)

Ôi Kinh Kha, dẫu chí ngươi chưa đạt

Nhưng toàn dân ai nấy biết liều gan

Thì ngươi dẫu Hàm Dương thân đã thác

Mà vẫn như còn sống với thời gian

Chủ Quán (giọng cảm động)

Còn sống mãi với thời gian

Cao Tiệm Ly

Còn mãi

Thanh danh ai, người kiếm sĩ tiên phong!

Chủ Quán

Người kiếm sĩ một đi không trở lại

Cao Tiệm Ly

Và treo cao lịch sử tấm gương trong

Và mở lối…

Chủ Quán (tiếp lời)

…Cho muôn vàn thế hệ

Cao Tiệm Ly

Và hy sinh…

Chủ Quán

…Cho thiên hạ toàn dân

Người đã dám một mình trên chín bệ

Cao Tiệm Ly (tiếp lời)

Giữa triều Tần nêu tội ác vua Tần

Chủ Quán

Cao ẩn sĩ! những lời ngươi nói đó

Thực đã khiến cho lòng ta sáng tỏ

Những câu bình luận rạch ròi kia

Là đuốc soi đường cho kẻ u mê…

Ôi Kinh Kha! người anh hùng vạn đại,

Người treo gương, người mở lối, người hy sinh

Người đã thành công ngay trong thất bại

Thể phách tan, nhưng còn mãi tinh anh…

(quỳ xuống bên sông)

Chiều nay đây, trên bờ sông Dịch vắng

Ta quỳ xin người thứ lỗi cho ta

_Ồ có phải vừa đây trong gió vẳng

Tiếng gươm thần vang thét đó, Kinh Kha!

Cao Tiệm Ly

Đứng lên thôi, chủ quán, hãy cùng ta

Rót chén rượu trên sông này kính viếng

Người hiệp sĩ nghìn thu còn để tiếng

Kẻ anh hào một chết đã vì dân…

Ta cùng ngươi lại một lần tiếc thương

Hôm nào tiễn kẻ lên đường

Bâng khuâng nhịp trúc, bờ sương lạnh lung

Mây trời bát ngát nhớ nhung

Gió trường giang thét não nùng đêm đêm…

(một lúc im lặng)

Ôi Kinh Kha hiền đệ!

Ngày xưa củng nơi đây

Cùng ta trong quán rượu này

Xót cho thiên hạ cùng say ngậm ngùi

Phẩm bình gương trị loạn

Bầu nhiệt huyết cùng sôi

Hai ngả đường xuất sử

Chung đau một chữ Thời
Bên vai tiếng thép cựa

Nhìn nhau giọt lệ rơi

Chia tay cùng gắn bó

Đinh ninh việc cứu đời

(ngâm) Bốn phương khói lửa tơi bời

Nhớ câu tâm sự nhớ người ra đi

Chủ Quán (trỏ ra phía ngoài sông)

Ô này, trông! Cao ẩn sĩ, ô kìa

Mây tám ngả đen rầm phai ánh nguyệt!

Gió ào nổi trên sông và sóng thét

Vẳng nghe như tiếng sắt tiếng vàng chen,

Vẳng nghe như vó ngựa đập vang rền…

Trời đất hỡi! sương sa mờ khắp nẻo!

_Ta vào thôi!

(Kéo Cao Tiệm Ly vào quán. Nhưng Cao tiệm Ly dứt áo tiến ra phía bờ sông một mình)

Cao Tiệm Ly

Thực rồi chăng? gió réo

Và sóng tung cuồn cuộn mặt sông dài

Vẳng nghe đâu từ thăm thẳm tuyền đài

Tiếng gươm thét trong tay người kiếm sĩ

Ôi! sóng gió chợt mơ màng sát khí

Lòng ta nghe sông Dịch đã sầu lên!

_Kinh Kha hiền đệ!

Trong cõi u huyền

Thấu cho lòng kẻ

Muôn đời không quên…

Sáo Ly Đình ngơ ngẩn chốn giang biên

Nhịp trúc gõ một mình ta với bóng

Hồn ai có đi về trên khói sóng

Và giờ đây thông cảm với hồn ta?

Thì lắng nghe mấy lời ca

Gửi vào giấc mộng nhắn ra cuộc đời

(ngâm dài)

Ngàn xưa khói sóng hận chơi vơi

Những kẻ thi gan với chữ Thời

Ngàn sau khói lửa tơi bời

Sông nào Dịch Thuỷ, ai người Kinh Kha?

MÀN

chấm dứt vỡ kịch

Hải Hành Mùa Đại Dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted 1 May 2021

Post by Sơn râu 12 Aug 2023

Sáng nay mấy thủy thủ người In Đô thức sớm hơn mọi hôm, xuống phòng ăn sáng xong ra boong làm việc hết, trông người nào cũng vui tươi và đầy sức sống. Buổi sáng của đầu bếp cũng đã xong, tôi rót ly cà phê định bưng lên phòng vừa nhâm nhi cà phê vừa lên mạng rà đọc một cái gì đó như thường ngày, nhưng hôm nay tàu vô sông Elbe nên tôi bưng tách cà phê ra sau boong đứng. Tôi có thói quen hễ mỗi khi tàu chạy trên một dòng sông, vào những ngày nắng ấm cũng như những ngày đông giá lạnh, tôi hay ra boong đứng nhìn bầy chim nhàn bay trên khoảng không phía sau lái. Bây giờ là mùa xuân nắng hanh, gió nhẹ, khí trời man mác và bầy chim nhàn thảnh thơi bay theo lái tàu, thỉnh thoảng một con nhàn thấy cá ngay lặp tức lao xuống sớt liền. Nước dưới dòng sông còn ròng nên màu vàng lợt và dòng sông không minh mông như những ngày nước lớn. Nhìn nước dưới lái tàu bị chân vịt quậy cuồn cuộn màu phù sa và nhìn hai bờ sông lớn rộng thênh thang làm lòng tôi bồn chồn xôn xao. Từ vàm sông Elbe vô cảng Hamburg khoảng chừng vài chục hải lý, nhưng tôi cũng thấy lòng dạ bồn chồn trông cho mau tới hải cảng. Trong tôi Hamburg còn có những thâm tình và nhiều kỷ niệm ngây ngô của thời trai trẻ. Ngoài ra tôi cũng ngưỡng mộ một hải cảng sống động nhờ những chiếc tàu buôn quốc tế ra vào với những chiếc đò chở đầy du khách bốn phương thưởng ngoạn trên sông và một thành phố đa văn hóa cũng nhờ con sông Elbe hùng vĩ, nhộn nhịp tàu bè ra, vô từ khắp nơi trên thế giới. Nếu không gì trở ngại thì chiều nay tôi sẽ hẹn vài người bạn ra hội quán nhậu lai rai, sau đó lên Reeperbahn xem trong mùa đại dịch này nó có thay đổi gì không.

Thuyền phó từ trên phòng lái đi xuống, nó dừng lại bên tôi hớn hở báo tin:

– Chiều nay thuyền trưởng già về.

Vừa ngắm sông vừa vu vơ suy nghĩ. Chợt nghe tiếng thuyền phó, tôi day lại và nói:

– Oh, vậy hả?

– Oleg xuống thay. Ông còn nhớ Oleg không?

– Nhớ chớ, Oleg Bugrov?

– Đúng rồi.

–  Oleg nghe có ông ở đây, ông ấy gởi lời chào.

– Oh, cám ơn.

Nó cười hì hì rồi đi tới chỗ Edy và Nando đang lui cui rút dây lái ra sắp gọn để chuẩn bị cho tàu ghé bến, nó căn dặn hai đứa cái gì đó rồi day lại tôi, nó nói:

– Tui vô ăn sáng, ông chiên cho tui hai cái trứng được không?

– Sorry, trứng hết rồi, trưa vô Hamburg mới lấy thêm thực phẩm, còn bánh mì, thịt nguội, phó mát tao để ở trên bàn, mày vô lấy ăn đi.

Tàu sắp vô bến người nào việc đó, bận rộn lu bù. Tôi là đầu bếp trên tàu, ngoài những lần thực tập cứu hộ hoặc phòng cháy, chữa cháy ra tôi không phải bận tâm với công việc ngoài boong, vì vậy trong những ngày không thực tập tôi không biết tới mũi tàu và khoang tàu ra sao hết. Tôi cũng không cần phải bận tâm tới chuyện người này nói người kia, nhưng tôi chỉ để ý tánh tình mỗi người và mỗi sắc dân. Có lẽ chung chạ với nhiều giống người và tiếp xúc nhiều văn hoá khác nhau, nên nói chuyện một vài lần với một người nào đó, tôi có thể biết được tánh tình của họ, biết để mà cư xử sao cho hợp thôi chớ hổng phải để so đo với ai hết. Bởi vì thức ăn của tôi nấu cho tất cả mọi người ăn đều có hương vị và chất lượng ngon hoặc dở giống như nhau, miễn sao nấu ngày nào họ ăn hết ngày nấy, thức ăn ít thừa mứa đem đổ bỏ là tôi yên tâm.

Có điều là chung sống với nhiều giống người trong nhiều chế độ và tín ngưỡng khác nhau, tôi nhận thấy những người trong khối Cộng Sản Đông Âu trước kia, kể cả người Nga khi mới qua Hoà Lan làm việc, phần đông họ nghĩ các nước bên Tây Âu giàu lắm, trên tàu cái gì cũng có và ăn uống được tự do, nên khi xuống tàu cần thứ gì thì họ xuống kho lấy thứ đó, ngang nhiên vô bếp lục lạo và gây khó khăn cho đầu bếp. Thật tình thì lúc đầu tôi cũng không ưa những loại người này lắm, chửi lộn hoài, nhất là với người Nga. Nhưng khi nhớ lại, hồi mới tới Hoà Lan tôi cũng có ý nghĩ như họ, nhưng tôi là người tị nạn Cộng Sản và may mắn được định cư trong một xứ sở tự do, giàu, đẹp và nhân văn, sau một thời gian dài tôi mới thấm nhuần tự do và nhân bản. Dần dà tôi cũng hiểu ra, con người lúc nào cũng hướng về những điều tốt đẹp, ngoài những người Nga già cả, đầu óc còn bảo thủ, sống ích kỷ ra, phần đông đám trẻ học hỏi rất mau, vui vẻ hoà đồng với mọi người và sống cũng rất là văn minh, giống như cái cây đương trồng một nơi thiếu ánh mặt trời, mặt trăng và đất đai cằn cỗi, còi cọc, héo úa, nay được thay đất thêm phân giữa bầu trời tinh khiết nó tự do nhảy ra nhiều nhánh trông tươi tắn hẳn lên.  Khi ngộ ra điều đó tôi liền thay đổi cách nhìn về con người, không phân biệt, biết cảm thông và chia sẻ, thử hỏi nếu ngày xưa tôi kẹt lại trong chế độ Cộng Sản thì tôi sẽ ra sao, biết đâu còn tệ hơn họ nữa, cho nên khi nói chuyện với họ tôi tránh những lời lẽ phân biệt để khỏi mích lòng. Tôi có thể nhường nhịn mọi người, chịu thiệt thòi đôi chút, ngoại trừ người nào có thói quen vô kỷ luật, không tôn trọng giờ giấc ăn uống, hống hách, ỷ có chút địa vị rồi lên mặt, coi thường người khác thì tôi phải dùng ngôn ngữ chợ búa ra đối xử với họ.

Hồi mới qua Hoà Lan làm việc, có lẽ Oleg nghĩ làm thuyền phó rồi muốn ăn gì thì ăn, cho nên nó xuống kho lấy nguyên một hộp bánh ngọt và cả một lít kem đem về phòng dự trữ. Một tháng đặt hàng được mười lăm lít kem, tám hộp bánh ngọt, đầu bếp phải phân ra mỗi tuần chỉ được ăn kem một lần vào ngày chủ nhật và một hộp bánh ngọt cho officers, một cho thủy thủ. Theo luật lệ trên tàu thì không ai được phép xuống kho tự lấy thức ăn, tuy nhiên tôi biết cũng có nhiều người lén xuống kho lấy ăn, nhưng chút đỉnh tôi làm lơ, nhưng Oleg nó lấy nhiều quá nên tôi mới lưu ý nó. Thường thì những người Nga lớn tuổi còn máu cộng sản trong người hay ỷ quyền và xem đầu bếp như người phục vụ, nên hay sai đầu bếp làm này làm kia, khi bị tôi lưu ý và nhắc nhở thì họ cự nự có khi làm dữ nữa, nên tôi phải dùng lời lẽ nặng nề chửi cho một trận họ mới chịu yên. Oleg thì không, nghe tôi cảnh cáo nó liền đem bánh đem kem trả lại và xin lỗi, cũng từ đó mỗi khi lên bờ nó mua kem và bánh ngọt đủ loại, kem nó nhét trong học tủ đông trong phòng của nó hổng hết, phần còn lại đem xuống gởi tôi cất trong phòng đông lạnh, thỉnh thoảng nó cũng lấy kem, lấy bánh mời tôi ăn.

Thường thì thủy thủ làm việc không nhất định trên một chiếc tàu, cho nên những gương mặt thủy thủ đoàn mà tôi không thường tiếp xúc qua lại ít khi tôi nhớ. Oleg là một trong những người Nga để lại trong tôi ấn tượng. Tôi còn nhớ lần đầu tôi trò chuyện với nó, nó hỏi:

– Ông là nhà văn?

– Không, tao là nhà bếp.

– Nghe nói ông viết văn mà.

 – Oh, hobby thôi.

– Ông là người Việt mà tôi tưởng là người In Đô.

– Câu này tao cũng nghe nhiều người nói.

– Thấy ông thân thiện với người In Đô hơn.

– Tao đã sống chung với họ cả đời rồi. À, bộ mày hổng nghe tao nói chuyện với họ bằng tiếng gì sao?

Oleg ngẩng người ra ừ hử. Tôi nhìn thẳng mặt nó, hơi bị ngượng nó niễng mặt qua một bên. Cái thằng trông cũng đẹp trai, thông minh và có vẻ dễ gần gủi hơn những người Nga lớn tuổi. Tôi bắt chuyện:

– Bộ tao hổng thân với mày sao?

– Có, nhưng ít thấy ông cười.

Tôi cười lớn và nói:

– Oh! Chuyện cười à? Mày phải nói người Nga của mày mới đúng.

Nó chưa hiểu ý tôi nên hỏi:

– Ông nói người Nga sao?

– Theo tao thấy thì người Nga của mày mới là người có gương mặt buồn bã và ít cười nhứt thế giới.

Nghe tôi nói vậy nó phá lên cười ha hả và nói:

– Tui là người Nga và cũng biết cười mà.

Tôi cười và nhìn nó nói giọng khôi hài:

– Lần đầu tiên tao thấy một người Nga biết cười và còn biết dí dỏm nữa.

Lúc vui vẻ lắng xuống, nó nói với giọng nghiêm túc:

– Thật ra thì những người lớn tuổi ít tiếp xúc thế giới bên ngoài nên họ ngại cười.

– Sống trong chánh quyền sao thì con người ra vậy. 

Nó nhìn tôi cũng vẫn chưa hiểu ý tôi nói gì, nó hỏi:

– Ông nói sao?

Thật ra thì từ ngày biết nước Nga qua thành phố Leningrad và vài ba hải cảng trong vịnh Phần Lan, tôi thường hay thắc mắc những học giả, nhà văn và nhà báo và cả các nhà cách mạng của miền Bắc nước Việt Nam thời đó, mấy ông mấy bà qua Nga học hỏi nghiên cứu cái giống gì hổng biết mà một xã hội có những con người với bộ dạng mệt mỏi, ban ngày giống như những cái xác không hồn, về đêm thì đi như những bóng ma giữa một thành phố đẹp lộng lẫy và văn minh, nhưng bị chế độ Cộng Sản tàn phá tanh bành té bẹ. Xe cộ cũ xì, đường xá ổ gà, ổ voi; xe bus, xe điện chạy xụp xuống một cái thì sét rớt lộp độp, khớp xe nghiến nhau nghe ken két và khua rổn rảng. Vậy mà mấy ông, mấy bà viết ra thành cái thiên đường rồi trở về nước đem in thành sách, phổ biến, tuyên truyền ca ngợi ầm ỹ cho dân chúng cả ba miền đất nước Việt Nam về cái chủ nghĩa xã hội liên xô giàu đẹp. Cho mãi tới ngày hôm nay, chiến tranh đã qua nửa thế kỷ rồi, những sự thật đã sáng tỏ, vậy mà vẫn còn những nhà báo hay nhà văn Việt Nam, cũng cách viết giả tưởng đó, đem ra phân tích nụ cười của người Nga. Theo những người này thì: “Trong nhận thức giao tiếp của người Nga, có một quy tắc: nụ cười phải thực sự phản ánh tâm trạng tốt và mối quan hệ tốt. Đó là lý do vì sao các nụ cười Nga là điều hiếm hoi và chỉ xuất hiện trong những trường hợp được coi là thích hợp, thể hiện một cảm xúc hạnh phúc thực sự…” Cười mà cũng phải có quy tắc?! Nhưng dù gì đi nữa thì chuyện đã qua nửa thế kỷ rồi. Oleg nó có biết gì đâu và tôi cũng đã thấy những người Nga lớn tuổi dần dần biến mất, nhường lại đám trẻ đầu óc còn trong trắng học hỏi được văn minh trong những quốc gia tiên tiến, sống biết vui vẻ và hoà đồng với mọi người.

Tôi nói với Oleg:

– Mày thấy những lãnh tụ các nước Cộng Sản có ông, bà nào cười được tươi đâu.

Nó định nói gì nhưng nghĩ sao đó, nó hỏi:

– Ông có tới Nga lần nào chưa?

– Có, tao tới thành phố St. Petersburg hồi còn mang tên Leningrad.

– Ông có ấn tượng gì không?

Thật ra thì ấn tượng tôi có rất nhiều về St. Petersburg và tôi cũng đã ghi chép lại những gì tai nghe mắt thấy từ khi thành phố St. Petersburg còn nghèo nàn, tan hoang cho tới khi phát triển tốt đẹp như ngày hôm nay. Không muốn dài dòng nên tôi cũng chỉ nói ngắn gọn: 

– St. Petersburg hồi còn là Leningrad trông nó giống như một cô hoa hậu thế giới bị bọn côn đồ hãm hiếp đến thân tàn ma dại. Nhưng từ ngày lấy lại tên St. Petersburg nó tràn trề sức sống và phát triển rất mau, tốt lắm, đẹp lắm…

Oleg cười ha hả rồi nói:

– Ông nói chuyện nghe vui quá.

Về Oleg tôi nhớ được bao nhiêu và cũng từ sau chuyến đó tôi không còn có dịp đi chung với nó nữa. Nghĩ tới đây thì chợt thấy dưới nước sau lái tàu, một bầy cá con đang nhảy lưng tưng trên mặt nước đục ngầu. Oh! tàu vừa cán lên một bầy cá nhỏ, thấy chúng rộn ràng trông cũng vui mắt. Chợt chạnh lòng khi thấy trên không bầy chim nhàn xôn xao như xông trận, chúng tăng tốc, nhấp cánh lia lịa rồi lấy trớn lao như tên bắn xuống đớp những con cá con tội nghiệp. Chậc! Giá mà tàu không cán lên bầy cá thì giữa cá và chim sống trong hai thế giới, dưới nước và trên không thanh bình biết bao nhiêu.

Edy và Nando sắp xếp xong dây chạc, hai đứa đứng lên, đi tới trước mặt tôi, Edy hỏi:

– Chú biết thuyền trưởng Oleg hả?

– Ờ, chú biết lúc ông ta còn là thuyền phó.

Nó đưa ngón tay lên gặt gặt:

– Oleg là thuyền trưởng tốt?

Tôi vỗ vỗ lên vai Edy:

– Con siêng năng làm việc là được rồi. Để ý tới thuyền trưởng tốt hay xấu làm gì.

– Ờ ờ… chú nói đúng.

Edy day ngang nói tiếng In Đô với Nando gì đó, rồi hai đứa chào tôi đi ra phía trước.

Sau buổi ăn trưa tàu ghé cảng Hamburg. Khi tàu đã yên vị và máy tàu đã tắt thì người giao hàng cũng vừa xuống đưa tôi danh sách thực phẩm để kiểm tra. Nghĩ cũng buồn cười, đầu bếp đặt hàng, thuyền trưởng kiểm tra xong gởi về công ty, công ty kiểm tra lại một lần nữa rồi mới gởi đặt mua. Đầu nậu giao hàng thứ gì phải nhận thứ đó, đầu bếp không được trả lại những thứ không vừa ý, vậy mà cũng đưa danh sách kêu đầu bếp kiểm tra. Trong lúc chờ đợi hàng chuyển xuống, tôi nhớ lại hồi mới làm đầu bếp, tôi làm dưới quyền một vị thuyền trưởng hiền hậu, ông chỉ dạy tôi rất nhiều điều hay, tôi nhớ hoài câu chuyện ông đã dạy trong lúc tôi đang nêm nồi xúp nấm. Ông vô bếp lấy một cái trứng đưa lên ông hỏi tôi:

– Làm sao một cái trứng mà chia đều cho cả tàu ăn? 

Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu:

– Hổng biết.

Ông liền đập cái trứng bỏ vô chén và đánh cho trồng trứng hoà nhau, sau đó tay trái cầm cái dá múc canh, tay phải bưng chén trứng trúc vô nồi rồi ông quậy cho trứng quệnh vào xúp. Xong ông day qua hỏi tôi:

– Hiểu rồi phải không? 

Vỡ lẽ ra tôi hô: 

– Yes sir!

Khi ông đi rồi tôi cảm thấy mắc cỡ, vì lúc đó tôi lo ăn uống cho đám officers nhiều hơn đám thủy thủ ngoài boong. Từ sau bài học đó tôi đã hiểu như thế nào là bình đẳng và mỗi khi thấy chuyên bất công thì tôi nhớ tới bài học cái trứng và nồi xúp nấm mà thuyền trưởng đã dạy tôi cách đây hơn ba chục năm. Thật ra thường những thuyền trưởng tư cách rất cao, ngoài việc điều hành trên tàu ra, ông còn lo sức khoẻ cho thủy thủ đoàn, nếu thuyền trưởng lớn tuổi thì coi thủy thủ như con, thuyền trưởng trẻ thì xem thủy thủ như anh em. Từ ngày có người Nga qua làm việc mới xuất hiện vài thuyền trưởng có đầu óc kỳ thị, trước khi đổi về biết thuyền trưởng người Nga xuống thay thì ông đặt thực phẩm bớt lại chơi cho bỏ ghét. Những món tôi đặt đều không thiếu, nhưng số lượng thì món nào cũng bớt một hai phần, có món bớt phân nửa. Biết trước như vậy nên tôi chỉ xem những món tôi cần có đủ không, nếu thấy món nào thiếu thì tôi ghi lại, sau đó tôi đưa cho thuyền trưởng mới để ông ta giải quyết, còn chất lượng của thực phẩm thì khỏi cần xem tôi cũng biết toàn là những thứ rẻ tiền.

Trong lúc mọi người đang chuyển hàng xuống kho. Thuyền trưởng già áo quần tươm tất, mang khẩu trang xệ dưới càm. Đi tới hỏi tôi:

– Tất cả đều tốt?

Tôi nhún vai:

– Tốt xấu gì ông cũng biết mà.

Ông cũng nhún vai, nói:

– Xe bus chờ trên bến tao về đây.

– Ok, ông đi bình an.

Đoạn ông day qua mấy thủy thủ, đưa tay chào từ biệt rồi ông đi lên bến. Khi ông ra khỏi cửa, Nando đưa hai tay lên trời mừng rỡ hô to:

– Oh yéé…vậy là hổng còn BBQ cuối tuần nữa.

Mọi người cười rộ. Tôi lắc đầu cười nói với tụi nhỏ:

– Chậc, được ăn nhiều cũng phàn nàn, nếu gặp những viên thuyền trưởng keo kiệt, tụi con có thèm BBQ cũng hổng có để mà ăn.

Nhận hàng xong tôi lo cho buổi ăn chiều, đương lui cui múc thức ăn ra dĩa thì Oleg đi vô vồn vã bắt tay, không theo luật đề phòng dịch gì hết, sau khi hỏi thăm sức khoẻ, nó đưa tôi gói kẹo:

– Cho ông nè.

Tôi cầm lấy gói kẹo và chỉ tay qua phòng ăn nói:

– Cảm ơn, thuyền trưởng vô ăn luôn đi.

Oleg chào tôi rồi đi qua phòng ăn, lúc đó Ama đi vô, nó phụ tôi lấy thức ăn cho thủy thủ. Tôi hỏi nó:

– Chừng nào con có chuyến bay?

– Chiều mai, vì hổng có chuyến bay Hamburg qua Frankfurt nên sáng mai con phải đi chuyến xe lửa sớm tới Frankfurt.

– Corona, phiền phức quá.

Sau bữa ăn chiều Ama vô phụ tôi dọn dẹp, xong nó day ngang bắt tay tôi và nói:

– Sáng con đi sớm, chắc không gặp chú.

Tôi đưa tay vỗ vỗ vào vai nó:

– Ok, thăm gia đình con, đi đường bình an. 

Hải cảng Hamburg là một trong những hải cảng quốc tế lớn đứng thứ nhì Âu Châu. Mùa hè là thời điểm thích hợp để du khách khám phá thành phố cảng. Du khách có thể đi tours để khám phá lịch sử của hải cảng quan trọng này, những chuyến đò hiện đại đưa du khách qua các kinh đào, qua những cây cầu kiến trúc lâu đời… Nói chung dòng sông Elbe, trước mùa dịch, lúc nào cũng nhộn nhịp tàu bè vô ra. Cũng vì đại dịch mà làm cho tàu bè thưa thớt trên dòng và những chuyến đò hiếm hoi, vắng vẻ bóng du khách đến từ bốn phương.  Hồi sáng tôi còn nôn nao chờ tàu ghé bến, dự định trước tiên tôi sẽ lên Seaman’Club Duckdalben, điểm dừng chân tuyệt vời cho thủy thủ bốn phương, sau đó lên dạo phố Hamburg. Nhưng khi biết quán bar của hội quán đóng cửa, chỉ có cửa hàng mở bán những món thủy thủ cần dùng. Xe bus hội quán rước mỗi chuyến được hai người, những người lên xe phải mang khẩu trang và ngồi giữ khoảng cách đúng tiêu chuẩn phòng dịch. Chiều nay đứng nhìn dòng sông Elbe vắng vẻ và kè đá của bến cảng còn nhiều khoảng trống, chỉ có vài chiếc tàu buôn đậu rời rạc. Bên kia bến đợi, những chiếc tàu du lịch tầm cở quốc tế có lớn, có nhỏ đang đậu lại im lìm, trông trống vắng lạnh lùng. Nghĩ tới những thủ tục rườm rà khi lên bến thì sự nôn nao, háo hức lúc ban sáng biến đâu mất. Lòng nghe buồn bã nên tôi hổng muốn đi đâu nữa hết.

Anh Ba Gà!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 Aug 2023

Trước ngày 30 tháng Tư năm 75 tới, những người có kinh nghiệm đau thương ở miền Bắc trước 54, rất thông minh, nhanh nhạy với thời cuộc, đã bỏ nước ra đi trước khi Trời sập!

Nhưng cũng có người có thể đi được nhưng chọn ở lại. Sau bị quê xệ vì lầm!

Nên xa em rồi nhớ em nhiều; bèn viết nhạc để trải nổi lòng… thòng!

Dù biết thân, nịnh nọt hết mức, vẫn bị bọn Tuyên huấn kiểm thảo ráo riết, phê bình nặng nề là tiểu tư sản. Em ôm chân đế quốc Mỹ chạy đi rồi mà khóc than cái nổi gì?

Thiệt là cái gân gà khó nuốt! Nên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đổ mồ hôi hột, buộc phê phán em Khánh Ly qua bên đất Mỹ hỏng có tiếng gà gáy trưa đâu nhe!

“Em ra đi nơi này vẫn thế/ Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ/ Vườn xưa vẫn có tiếng Me ru/ Có tiếng em thơ / Có chút nắng trong, tiếng gà trưa!”

Lúc đó, tui cũng muốn dọt hết sức; giờ nghĩ vẫn còn ấm ức; vì không biết cách nào?! Chỉ biết chạy vô chạy ra như con ‘gà mắc tóc!’

***

Thưa bà con! Năm nay, năm Đinh Dậu, mình bàn về con gà mái trước. “Lady first” mà!

Gà mái, chân dài tới nách, trường túc bất chi lao như bao em hoa hậu, là biểu tượng sinh sản, lông rực vàng nắng xuân…trông rất đáng ‘cắn’yêu!

Úc gọi một người nữ là ‘chick’ (gà); để ca ngợi mấy em!

“What are the chick’s doing tonight?” “Các nàng sẽ làm gì tối nay?”

Nhưng mấy thằng Úc lựu đạn cũng có một thành ngữ là ‘bird brain’, não như chim; nghĩa là nhỏ nên ngu?!

Gà mái tơ cũng là một loại ‘chim’ khờ khạo, ngu quá xá là ngu! Nên Úc gọi em là ‘chick’ có nghĩa là đẹp, hấp dẫn; nhưng cái đầu trống rỗng. Thiệt là bậy bạ! Phân biệt giới tính… vì dê em hỏng có được?!

Do đó muốn dê sảng mấy em Úc tóc vàng sợi nhỏ, cái mỏ cong cong; thì đừng có khờ, ngu ngơ gọi ‘chick’ nầy ‘chick’ nọ! Kẻo không còn cái răng mà ăn cháo gà.

Việt Nam mình gọi em là gà, trước Úc vài trăm năm lận! Bằng cớ, ca dao, “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh/ Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”.

Rồi em trẻ đẹp như gà tơ mà phải lấy một ông già (như tui chẳng hạn) bèn than thân trách phận như vầy: “Gà tơ xào với mướp già/ Vợ hai mươi tuổi, chồng đà sáu mươi/ Ra đường chị giễu, em cười/ Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng/ Đêm nằm tưởng cái gối bông/ Giật mình gối phải râu chồng nằm bên/ Sụt sùi tủi phận hờn duyên/ Oán cha trách mẹ tham tiền bán con!”

Còn về con gà trống, thì anh Ba Gà, bạn nhậu của tui, thôi ca tụng con gà trống hết biết đi. Điều đó không làm tui ngạc nhiên chút nào hết! Vì trong khai sanh ảnh tên Dậu, sanh năm Dậu. Ảnh thứ Ba trong nhà, nên bà con lối xóm kêu là anh Ba Gà.

Anh Ba Gà gáy rằng: Gà trống có đủ 5 đức tính mẫu mực theo mấy chú Ba Tàu là: văn, võ, dũng, nhân và tín?!

Văn: Hai cái mào ở dưới nhìn như mũ cánh chuồn của ông tiến sĩ, chữ nghĩa đầy mình… Võ: cựa gà như dắt bên chưn hai cái dao găm.

Dũng: liều chết đánh nhau dẫu xù lông tước máu, để bảo vệ lãnh thổ biên cương và đàn gà mái của mình! Nhân: có ăn thì ‘túc túc’gọi một bầy gà vợ và đám gà con của mình cùng mổ!

Cuối cùng là Tín: luôn gáy đúng giờ, giữ lời… bất kể Sài gòn giờ trời mưa hay nắng ?!

Anh Ba Gà còn thêm rằng: Xa quê đã lâu nhưng đêm ngủ với con gà mái của ảnh; nàng không có gáy mà chỉ ngáy. Nên anh nhớ vô cùng tiếng gà gáy trưa eo óc, chơi vơi, lảnh lót vang xa !

Theo anh Ba Gà dày công nghiên cứu đồng loại thì: Cứ bình minh! Gà như chiếc đồng hồ chạy bằng thóc, đập cánh, vươn cổ gáy là do đồng hồ sinh học của nó, tạo hóa có lập trình sẵn.

Nhưng ban ngày, gà trống gáy là để dụ khị mấy em gà mái (ham nghe hát hò) đến cho chàng đạp mái!

(Giành gái thì ghét nhau vì tiếng gáy. Con người nào có khác gì đâu?!

Trong bàn nhậu bốn người, thì ít nhứt có hai chiến hữu gáy đã lỗ tai luôn!

Tui vẫn ngồi cười ruồi, chăm chăm gắp mồi, đưa vô miệng nhai rau ráu rồi chiêu thêm một cốc whiskey. Vì trộm nghĩ đi ăn nhậu, nghĩa là ăn rồi nhậu chớ đâu phải vô trường gà mà lại gáy te te!)

Người Việt mình quan niệm vật dưởng nhân. Nên nuôi gà dù mến tay mến chân nhưng cuối cùng thân phận gà là phải nhảy vô nồi cháo…

Gà được làm thịt để cúng trong đám giỗ, đám cưới. Đám là có thịt gà…

Tết cũng có luôn! Chiều 30, rước ông bà về vui ba bữa. Tới ngày mùng Ba gọi là cúng tất cũng là gà.

“Khách đến nhà không gà thời vịt!” Lòng hiếu khách của bà con Lục tỉnh Nam Kỳ mình vậy đó; nên khi nhà có khách là đám gà mừng lắm …vì sắp được đi đầu thai rồi.

Anh Ba Gà, thuật lại cuộc tình ái truân chuyên của ảnh như vầy: Sau ba năm đi ở rể, chai cả hai vai, gánh nước đêm trăng để tìm bạn chung tình!

Mà nhà gái hà tiện, hà tặn cho ăn uống cực kỳ kham khổ. Miếng thịt gà xé phay chỉ thấy trong mơ! Chỉ giếng đâu thì dắt anh ra kẻo anh chết khát vì cà nhà em!

Tía Má anh Ba Gà trầu rượu coi Tía má em đòi thêm sính lễ gì nữa để đi cầm đồ có tiền cưới vợ cho thằng cu của nhà mình.

Má em tằng hắn, sai tui đi cắt cổ gà nấu cháo, xé phay, để đãi Tía Má tui!

Ghê quá ai làm tui ăn thì được. Phần tui tên Ba Gà nữa kêu cắt cổ gà, tui từ chối! Cắt nó không chết tội nghiệp!

Nghe bà già vợ tương lai lầm bầm gì đó! Rồi thấy bả tự tay hạ thủ; nhưng con gà không chết; chạy cà niểng vòng vòng, máu chảy ròng ròng… trông rất thảm thương!

Tui khèo em Chín bờ đò, người vợ tương lai của tui, ra sao hè, nói nhỏ: “Tía má em, vốn hà tiện, vắt chày ra nước, lại chảnh, bày đặt gà vịt chi cho nó tốn hao? Sao không bắt chước nhà thơ Nguyễn Khuyến.

“Đã bấy lâu nay bác tới nhà/ Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa/ Ao sâu, sóng cả, khôn chài cá/ Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà!”

Đang rù rì rù rỉ với em sau hè chợt nghe tiếng the thé cuả Má em gọi: “Thằng Chín à (Tui thứ Ba mà; nhưng vì tính cưới em nên bên vợ đổi thứ của tui một cách ngang xương hè)

“Đem hai con gà nầy lên cúng coi! Một con để trên bàn thờ! Đầu quay vô lư hương, há miệng, chân quỳ, cánh duỗi! Là đang chầu ông bà cố tổ của nhà nầy!

Con còn lại, cúng trên bàn, đầu quay ra ngoài, đừng chổng phao câu ra! Coi không đặng!

Ổi vẻ chuyện! Có cái phao câu; hồi chổng ra, hồi chổng vô làm em Chín và tui phải lăng xăng như ‘gà mắc đẻ’.

Cúng xong, xé phay với bắp chuối hột, rau răm, rắc đậu phọng rang đâm dốt dốt. Xong mời anh chị suôi cầm đủa.

Sau khi bàn thảo về đám cưới xong, Tía má tui húp vài muỗng cháo rồi xin kiếu; về cho kịp con nước.

Đưa Tía Má tui xuống bến nước. “Ba năm ở rễ khổ lắm hả Cu?”

Nghe Má tui hỏi vậy! Tủi thân, tui muốn trào nước mắt! Con khổ lắm Má ơi!

Tía tui nói: “Không ở rễ gì hết ráo. Không con gà nầy thì con gà khác! Thiếu gì gà!”

Tui bèn cười hí hí làm sao mà dám hỏng chịu. Con bỏ bùa em Chín bờ đò rồi Tía Má cứ thân tâm thường an lạc đi!

Vì em Chín đã dặn: “Chuột kêu chút chít trong rương. Anh đi cho khéo đụng giường Má hay!”

Thằng Ba Gà nầy đã đóng dấu nhà bưu điện lên con cò đó rồi… Cò giò lên cây! Sức mấy?!

Đừng tưởng thấy con khờ mà tưởng con ngu.Con lù khù nhưng con biết vác cái lu mà chạy đó!

Hèn chi sau nầy chị Ba Gà, không biết ăn cái giống gì, mà hệt như cái lu vậy đó!

Có vẻ Anh Ba Gà gáy hơi nhiều về đời sống tình dục của loài gà:

“Hai Lúa làm ruộng, có nuôi một chú gà trống rất sung. Đạp mái hết gà mái rồi tới vịt mái khiến chúng đẻ liên tục, nên rất lấy làm hả hê!

Một bữa, Hai Lúa đi làm ruộng về, thấy gà trống đang nằm chổng mông trước sân, bên trên là mấy con quạ đang bay vòng quanh chờ ăn xác.

“Ối trời đất ơi! Sao mày vội bỏ tao mà đi sớm vậy?!”

Gà trống mở he hé mắt nói: “Nè Hai Lúa! Đi chỗ khác chơi! Kẻo lũ quạ mái bay hết mất bây giờ!”.

Anh Ba Gà giờ đã già! Tình dục vẫn như xưa! Có số lượng nhưng không có chất lượng! Người ta nói như gà đâu có sai!

Dẫu vậy, tạo hóa cho vậy mình chịu vậy nên anh Ba Gà vẫn gáy như thường khi nghe tui nói già rồi tui đã nghỉ chuyện tù ti tú tí. Bây giờ tui là con gà chết, gà tử mị!

Anh Ba Gà không chịu: “Có con gà trống hoa mơ. Nó đi đạp mái bạc phơ cả đầu. Bạc thì bạc có sao đâu! Nếu không đạp mái sống lâu làm gì?”

Đường về Gia Nghĩa

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 22 Jan 2021

Post by Sơn râu 12 Aug 2023

Kỳ 3

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Phi trường dân sự Pleiku – 1970s. Ảnh do tác giả cung cấp

Thành gãi đầu,

– Trình Thái Sơn, em đã thử nhiều lần lắm rồi mà chưa bỏ được. Kỳ này gặp lại ông thầy, nghe ông thầy khuyên bảo, em sẽ cố gắng thêm! Chắc chắn em sẽ làm được!

Trong khi ngồi chờ giờ xuất phát, tôi hỏi thăm Thành về gia đình chú ấy.

– Thế nào? Cô vợ 16 tuổi người Blao của chú bây giờ ra sao?

Bất ngờ bị tôi nói trúng tim đen, Phan Thành trố mắt,

– Ít ai biết vợ em lấy em khi mới 16 tuổi. Làm sao Thái Sơn lại biết chuyện này?

– Năm 1968 ở Blao, trên cái giấy cho phép con gái vị thành niên lấy chồng của ông bố vợ chú có chữ ký của người làm chứng là Trung úy Vương Mộng Long! Bố vợ chú là bác Phát làm nghề hái trà ở Tân-Hóa. Vợ chú là bạn thân của cô Sen, con gái bác Tần!

Nghe tôi trả lời, Thành ngẩn người ra một phút rồi cầm tay tôi lắc lắc mấy cái,

– Vậy mà em không biết chuyện này! Phải công nhận rằng không có việc gì xảy ra ở Tiểu Ðoàn 11 mà qua được đôi mắt của Thái Sơn.

Một phút sau, Thành cúi mặt, rầu rầu,

– Tụi em đã có hai đứa con, một trai, một gái. Cháu lớn lên ba, cháu nhỏ mới thôi nôi. Ông cụ thân sinh của vợ em vừa qua đời năm ngoái.

Nghe Thành nói, tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ tới ông bạn già làm nghề hái trà ở Tân-Hóa. Mỗi lần tôi đi qua trước cửa, ông đều niềm nở mời tôi vào nhà uống trà và nói chuyện thời sự cho vui. Ông già goá vợ, có ba cô con gái, không có con trai. Vợ của chú Thành là người con lớn nhất.

Trước giờ toán Viễn Thám 822 và trung đội của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân xuất phát, tôi cho lệnh Ðại Ðội 3/82 của Thiếu úy Hổ xuống núi, đóng quân trong vòng rào kẽm gai của Liên Ðoàn 23. Nếu tình hình biến chuyển không êm xuôi, quân tiền phương chạm địch nặng, thì tôi sẽ cùng Ðại Ðội 3/82 và chi đội chiến xa M41 lên tiếp cứu.

Tối đó tôi và Trung tá Nhu ngồi hút thuốc chờ tin bên hai cái máy vô tuyến trong hầm trú riêng của ông.

Khoảng chín giờ đêm có tiếng ì ầm của lựu đạn nổ từ hướng đồi 631. Hai phút sau, một hỏa châu cầm tay được phóng lên trời, đây là dấu hiệu của 822 báo đã chiếm xong mục tiêu.

Suốt đêm, Toán 822 đã tắt máy để tránh bị lộ, nhưng tôi yên chí rằng toán này không bị thiệt hại gì.

6 giờ sáng ngày 20 tháng 9 tất cả các đài vô tuyến của các đơn vị tham chiến đều lên máy. Một giờ sau thì trung đội của Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân hoàn tất công tác trải quân phòng thủ Tiền đồn 631.

Chưa tới 8 giờ sáng ngày 20 tháng 9, Toán 822 về tới chân núi Chi Kara, tôi và Ðại Ðội 3/ 82 đang chờ ở đây.

Trưa 20 tháng 9 Trung tá Hoàng Thọ Nhu gọi máy cho tôi để thông báo rằng ông sẽ gửi cho Hạ sĩ Nguyễn Ba và hai anh Viễn Thám viên của Toán 822 mỗi người 5 nghìn đồng và một Bằng Tưởng Lục Cấp Trung Ðoàn.

Ngày hôm đó Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II được tin báo rằng trong đêm 19 tháng 9 Tiền đồn 631 đã bị một đại đội địch tấn công, quân trú phòng đã anh dũng đẩy lui quân địch, địch phải rút lui và để lại…nhiều vũng máu.

Chiều hôm đó tôi xuống núi, ghé thăm Trung tá Nhu. Ông Nhu úp mở,

– Anh có lệnh trả chú lại cho ông Vấn. Hình như chú sắp nhận lệnh đi xa. Chắc đi khỏi đây rồi, chú sẽ nhớ Pleiku lắm nhỉ?

Nói xong câu này ông Nhu nhìn tôi, cười hóm hỉnh.

Tôi không rõ ông niên trưởng này có ý gì, nên uống hết ly trà, tôi đứng lên cáo từ.

Ðêm 20 tháng 9 năm 1974, khuya lắm rồi, mà tôi vẫn còn ngồi trên mỏm đá cao, bên sườn núi Chi Kara nhìn về Pleiku. Ðèn Pleiku rực sáng một vùng trời.

Tôi đã là cư dân của Pleiku một thời gian gần mười năm dài. Tôi đâu biết rằng hai ngày nữa tôi sẽ phải đem quân xa rời nơi ấy. Tôi cũng không ngờ, xa Pleiku lần này, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ chẳng bao giờ quay trở lại…

o O o

Chiến trường

réo gọi…

Chiều 21 tháng 9 tôi được lệnh rút về Pleiku. Hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân cũng vừa được triệu tập về đây một ngày trước đó.

Tối 21 tháng 9 Ðại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân gọi điện thoại báo cho tôi biết có lệnh cho liên đoàn chuẩn bị đi khai thông Liên Tỉnh Lộ 8 B để giải tỏa áp lực địch trên đoạn đường từ Ðức-Lập tới Gia-Nghĩa.

Chúng tôi có trọn ngày 22 tháng 9 để tái trang bị và tiếp tế, sáng 23 tháng 9 năm 1974 chúng tôi lên đường.

Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đi trên những chiếc xe dẫn đầu của đoàn công voa.

Vì Quốc Lộ 14 bị Việt-Cộng quấy rối vùng Bắc Ðèo Tử Sĩ nên chúng tôi phải rẽ vào Liên Tỉnh Lộ 7 B rồi quẹo phải, đi qua Thuần-Mẫn, tiến tới Buôn Blech rồi nhập vào Quốc Lộ 14. Vì thế, chúng tôi tốn nhiều thời gian hơn là đi thẳng từ Phú-Nhơn.

Chiều ngày 23 tháng 9 năm 1974 chiếc xe cuối cùng của chúng tôi có mặt ở Ban Mê Thuột. Toàn thể quân nhân của liên đoàn và đoàn xe chuyên chở chúng tôi đều tập trung trong khuôn viên doanh trại của Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân.

Sau khi sắp xếp nơi ăn ngủ cho anh em, tôi lên xe về nhà. Nhà tôi nằm trên đường Hàm Nghi, cách hậu cứ Liên Ðoàn 21 chừng một cây số.

Trời sắp tối xe của tôi mới ngừng trước cổng.

Vợ tôi ít khi đi ra ngoài, nên nàng không biết Liên Ðoàn 24 đã vào thành phố từ lúc ban trưa.

Từ tháng 4 tới nay, đã gần nửa năm, sau khi tham dự hai trận đánh ác liệt nhất năm 1974 của Vùng 2, tôi mới có dịp ghé thăm nhà.

Cũng như bao lần trước, mỗi khi tôi từ mặt trận trở về, vợ tôi đều vòng tay ôm tôi, mặt nàng úp vào ngực tôi, những ngón tay nàng liên tục nhịp nhịp nhè nhẹ sau lưng tôi, miệng nàng không ngừng thì thầm, “Mình ơi! Mình ơi! Mình ơi!”  

Ôm hôn vợ xong, tôi quay sang bồng đứa con gái nhỏ nhất. Bé Tiên Giao của tôi sinh ra đúng ngày Căn cứ 711 do Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/19 trấn giữ đã bị Sư Ðoàn 320A của Cộng-Sản tấn công và tràn ngập.

Hôm đó tôi đã trải qua một trận đánh xáp lá cà. Vừa thoát ra khỏi vòng vây, tôi được Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 đang bay trên trời thông báo rằng:

“Ông già vợ của chú vừa báo cho ta hay, vợ chú vừa đẻ đứa con gái thứ ba!”

Tiếp đó là trận Pleime 33 ngày đêm dầm mưa, đội pháo.

Mãi tới giờ này, tôi mới có dịp ôm trong tay đứa con bé bỏng của tôi.

Vợ tôi ôm vai tôi, rồi đưa tay vỗ nhè nhẹ vào mông em bé,

– Bé Tiên Giao hay khóc giữa đêm, em phải lấy cái áo mayor của mình đắp cho con, con hết khóc.

Vợ tôi thường nghe các cụ nói rằng, khi em bé đi ngủ, thì lấy áo của bố nó đắp cho nó, nó sẽ ngủ yên.

Tin lời các cụ, nên vợ tôi vẫn làm như thế…

Võng đong đưa, sợ con trẻ giựt mình,

Em ủ cho con hơi ấm áo anh…

(Thơ Vương M Long)

Không biết có phải cái tình phụ tử vô hình đã báo cho con tôi biết rằng bố nó đang ôm nó hay không, mà con bé cứ quơ quơ hai bàn tay tí hon, mũm mĩm của nó sờ sờ, vuốt vuốt, mặt bố nó.

Ðôi mắt con bé tròn xoe, mở lớn, miệng nó cứ, “bi bô, bi bô”, ra chiều đang vui thích lắm.

Hai đứa chị nó, một đứa ba tuổi, một đứa lên hai, cũng cố lấn vào ôm chân bố, chờ bố chúng nó cúi xuống vỗ về…

Tính nhẩm lại, tôi được gần vợ, gần con chỉ vài giờ đồng hồ, vì chưa tới 4 giờ sáng hôm sau tôi đã phải thức dậy, thay quần áo rồi vào trại kiểm quân, chuẩn bị lên đường.

Tôi lên xe, các con tôi còn say ngủ. Sau lưng tôi, chỉ có đôi mắt của người vợ trẻ dõi trông theo…

Ðời chiến binh, hạnh phúc gia đình của chúng tôi được tính từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây…

Ðêm hôm đó, trên trời Ban Mê Thuột, sương mù đã che khuất mảnh trăng non.

Ðoàn quân xa đi ngang qua thị xã,

Áo trận hoa rừng phủ đầy đất đỏ,

Ta ghé thăm Em và Bé mới ra đời.

Em cười, giọt nước mắt trên môi lăn vội.

Ta chỉ biết nói lời xin lỗi!

Ðã để cho Em một mình đi biển mồ côi…

Ta ôm con vào lòng, bé bỏng con tôi!

Ta chỉ bên Em, bên con, vài giờ ngắn ngủi.

Chiến trường sục sôi, chiến trường réo gọi…

Ðoàn quân xa lại vội vã lên đường,

Ðể lại Bé, để lại Em và thành phố sau lưng…

Tuổi trẻ, một thời để yêu

Tuổi trẻ, một thời để chết

Mùa Xuân ra đi biền biệt…

Ngày xanh, tuổi trẻ của ta…

Ta đã cho quê hương tất cả!

(Thơ Vương M Long)

8 giờ sáng ngày 24 tháng 9 năm 1974, đoàn công voa chuyển quân khởi hành, dẫn đường là hai chiếc xe V100 của Tiểu Khu Darlac (Darlac là tên trước 1975, sau 1975 là Dak Lak) kế đó là chiếc Jeep của tôi.

Thời gian này gia đình binh sĩ của Liên Ðoàn 24 còn ở Pleiku, nên hai bên đường chúng tôi đi qua, không có ai vẫy tay chào tạm biệt.

oOo

Vào vùng…

Trưa 24 tháng 9 đoàn xe chuyển quân tạm dừng trước cổng Chi Khu Ðức- Lập vài chục phút đồng hồ để các sĩ quan chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân vào quận đường nhận lệnh hành quân từ ông Ðại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng, kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu Khu Quảng-Ðức.

Trong thời gian chúng tôi họp ở hội trường của Quận Lỵ Ðức-Lập thì anh em binh sĩ tản vào các quán xá hai bên đường nghỉ mệt.

“Tổng thống ra lệnh, trong vòng hai tuần lễ, chúng ta phải khai thông Liên Tỉnh Lộ 8B để tiếp tế cho Quảng-Ðức và Phước -Long. Tôi cho Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân thời gian ba ngày để chuẩn bị, sau đó phải hoàn tất công tác này trong mười ngày!”

Sau khi lớn tiếng kết thúc buổi họp hành quân, ông tỉnh trưởng vội vã cất bước ra đi, mà chẳng thèm bắt tay giã từ ai.

Ngay sau đó, Ðại tá Từ Vấn đứng dậy giơ hai tay lên trời,

– Ông liên đoàn phó và ba ông tiểu đoàn trưởng ngồi lại đây bàn chuyện, các sĩ quan khác giải tán.

Hai phút sau khi ông Ðại tá Nghìn khuất dạng, trong hội trường chỉ còn lại năm sĩ quan của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân là Ðại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng, Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn phó, Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân, Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân, và tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Chúng tôi chưa kịp ngồi xuống ghế thì Ðại tá Vấn đã lớn tiếng phân công,

– Kỳ này Tiểu Ðoàn 63 sẽ đảm nhận vai trò nỗ lực chính, dồn sức bứng các chốt chặn hướng Tây tỉnh lộ; Tiểu Ðoàn 81 có nhiệm vụ thám sát mặt lộ, rà mìn và đặt các trạm an ninh; Tiểu Ðoàn 82 vừa đánh Pleime xong, có nhiều tân binh mới được bổ sung, chưa quen chiến trận, sẽ đi sau bộ chỉ huy liên đoàn và là thành phần trừ bị.

Lệnh hành quân sẽ được đánh máy và gửi cho các đơn vị ngay chiều nay.

Sau đây, tôi nhờ trung tá liên đoàn phó trông coi liên đoàn giùm tôi, tôi có việc phải bay về Sài-Gòn, ba ngày nữa tôi sẽ ra chỉ huy. Thôi! Giải tán!

Sau đó bộ chỉ huy liên đoàn và hai tiểu đoàn bạn xuống xe, tạm trú trong vòng đai Quận Ðức-Lập.

Riêng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, vì là thành phần trừ bị, nên tiếp tục hành trình, để chiếm lĩnh đầu cầu, đồng thời cũng là tuyến xuất phát.

Ðiểm tới của đơn vị tôi sẽ là Căn cứ Hỏa lực Ðạo-Trung

Tới ngã ba Dak Son tôi dừng xe để hỏi thăm tin tức của đơn vị giữ đường.

Ông chỉ huy đơn vị khai lộ đang nằm trên cái võng tòn ten dưới bóng cây, nghe biết tôi đang tìm ông ta thì ông ta vội vã chạy ra đường,

– Chào niên trưởng, niên trưởng có khỏe không?

Thì ra đơn vị giữ đường ngày hôm đó là Tiểu Ðoàn 3/53 Bộ Binh của Thiếu tá Cao Mạnh Nhẫn, Nhẫn là Võ-Bị Khóa 21, đàn em của tôi.

– Ðường từ đây vào Ðạo-Trung có yên không chú? Tôi hỏi Nhẫn.

– Bảo đảm trăm phần trăm! Em giữ đường! Niên trưởng yên chí!  Thiếu tá Nhẫn nhìn tôi, rồi vừa cười vừa nói.

Trong trận Pleime 33 ngày đêm hồi tháng 7 và 8 vừa qua, đơn vị của chú Nhẫn là một trong hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh vào giải vây cho tôi.

Tiểu Ðoàn 1/53 bị thiệt hại nặng, Tiểu đoàn trưởng là Ðại úy Nguyễn Dương Lâm, Khóa 19 Võ-Bị tử trận.

Tiểu Ðoàn 3/53 của Thiếu tá Cao Mạnh Nhẫn cũng phải bỏ chạy cùng với Bộ Chỉ Huy Nhẹ của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh do Trung tá Trần Nguyên Khoa, Khóa 18 Võ-Bị chỉ huy.

Ngồi chơi với chú Nhẫn vài phút, tôi cho lệnh tiếp tục.

Còn cách Căn cứ Ðạo-Trung gần một cây số tôi cho xe ngừng lại, mọi người xuống đi bộ; đoàn xe trống trở đầu, quay về Ðức-Lập,

Căn cứ Hỏa lực Ðạo-Trung nằm trên một ngọn đồi trọc, ngay một khúc quanh của Liên Tỉnh Lộ 8 B.

Hiện thời căn cứ này có 4 khẩu 105 ly và do một tiểu đoàn Ðịa Phương Quân giữ an ninh. Vị tiểu đoàn trưởng Ðịa Phương Quân này là Thiếu tá Bùi Ngọc Long chuyển ngành từ Lực Lượng Ðặc Biệt. Tôi chỉ nhớ mang máng rằng ông thiếu tá này tốt nghiệp Khóa 5 hay Khóa 6 Thủ-Ðức.

Thiếu tá Bùi Ngọc Long cũng là dân Bắc Di Cư, lớn hơn tôi cả chục tuổi. Ông khuyên tôi nên cẩn thận khi di chuyển hay đứng trên các mô đất cao, vì ở đây ngày nào cũng bị địch bắn tỉa.

Ðịch ở cách ta chỉ một con suối và một cái thung lũng cạn. Bên kia thung lũng trên mặt đường xe be, sát bìa rừng còn vài cái xác của chiến sĩ bộ binh bị bỏ lại, trong đó có một chuẩn úy.