Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 24 Oct 2026

Sydney ngày … tháng … 12.1994

Nam Anh thân,

Nhận thư bạn thật mừng. Mới HO sang Mỹ chưa “an cư” mà bạn đã viết thư cho tôi ngay, mà thư dài kể chuyện anh em bè bạn gần xa, quý lắm. Vẫn còn nhớ buổi tán nhảm với bạn ta ở trại Ba Sao (Nam Hà). Thế mà đã hơn 11 năm rồi đấy. Dạo ấy tôi ở trại Tân Kỳ (Nghệ Tĩnh) chuyển trại, đi ra quốc lộ 1 tưởng đã phải đi Vĩnh Linh (Quảng Bình) dọn bãi mìn chưa nổ hay đào bom rơi đạn thối ở khu vĩ tuyến 17, nhưng còn có phước là xe ngược ra miền Bắc tuôn về Hà Nội. 50 cây số nữa cách Hà Nội, đến Phủ Lý thì quẹo vô tay trái đi miết về rặng núi đá vôi tới trại Ba Sao. Ở trại này gặp lại Nam Anh và số đông bạn cũ. Năm 1983 là năm gần kết thúc thời kỳ đưa tù ra Bắc, nên trước khi đưa tù vô Nam trở lại là đến trại trung chuyển Ba Sao. Anh em ta ở đây đông lắm. Ngay hôm sau khi vừa tới trại, buổi sáng đang ra giếng rửa mặt chợt có một người ôm lấy tôi. Nhìn ra thấy ông bạn Đỗ Trọng Huề. Bạn Huề ôm vai tôi mà nói “Yên trí đi ông, sắp xong rồi, marché conclu, thằng em tôi bên Canada vừa viết thư về nói vậy.” Tôi ở trại Tân Kỳ năm trước, có nghe tin bạn Đỗ Trọng Huề, nhà văn hóa của Quân đội, người cầm bút nhiều hơn là cầm súng mà dạo ở trại tù phía Bắc giáp biên giới, đã liều mạng hơn ai, vượt ngục. Cuộc trốn trại của bạn không thành, bị bắt lại. Người bạn trẻ, đại tá Trung đoàn trưởng … bị đánh chết ngay trước khi giải giao về trại cũ. Bạn Đỗ Trọng Huề sau khi bị đòn hội chợ chết lên chết xuống, được nhét vô một cái hầm khoét sâu vào vách núi. Gần 2 năm, người tù kiên giam nằm cùm một mình, đối diện với im lặng và bóng tối. Người tù vượt ngục kiên giam năm ấy bây giờ là đây. Người bạn văn gầy ốm năm nào, bây giờ đây gầy ốm hơn nhiều nhưng mắt vẫn ánh lên hi vọng. “Mừng rằng bạn vẫn tinh thần chưa can”.

Nam Anh, bạn ở Ba Sao lâu ngày chắc nhớ bạn già Trần Mộng Chu? Ông ủy viên Quân pháp của QĐ3. Ông này thấy tôi về Ba Sao là ngày chủ nhật kéo ngay sang uống trà. Ông đang làm ở ban dịch thuật tài liệu “Phản động của Mỹ” cho bộ Nội vụ. Trà của ông đặc biệt lắm, do anh em ta lên núi hái trà, chọn những búp nào ngon nhất, mập nhất bỏ vô tay áo “trây di” mang về phơi nắng, sao tẩm thành một thứ trà đặc hạng. Trà pha đặc quánh như có thể “cắm tăm”. Uống vô chát đắng, nhưng cái hậu còn lại trong cổ thật là tuyệt diệu. Ông Trần Mộng Chu thì không nói chuyện gì khác, chỉ uống trà đọc thơ, thơ sáng tác, thơ dịch đủ loại. Nhưng có cái kẹt cho tôi là dạo ấy tôi rách lắm, đói lắm. Trại tù Nghệ Tĩnh thăm nuôi yếu. Mình uống trà lúc đầu thì sướng, nhưng uống vô hoài mà bao tử rỗng không thì nó xót ruột ông ơi. Thành ra, nghe bạn đọc thơ, giọng thật là cảm khái mà tôi có cảm nhận được gì đâu. Chỉ nghe cái bao tử của mình nó âm thầm réo gọi. Tôi đã định một lúc nào đó phải xin lỗi ông bạn Trần Mộng Chu và xin nghe lại bài thơ của ông. Nhưng mà không kịp. Ông bạn của chúng ta, được tha về năm 87 có nhắn tôi lên chơi nhà ở đường Nguyễn Huỳnh Đức … Tôi ở tận Hóc Môn một huyện vùng ven Sài Gòn từ khi được tha về năm 1985, cũng ít khi lên Sài Gòn, nên chưa kịp đến. Có nghe anh em nói từ khi về ông bạn họ Trần cứ cái xe đạp cọc cạch chở bà ấy đi đến nhà bè bạn khắp nơi xoa mạt chược còm. Đôi vợ chồng già vui với nhau sau mười mấy năm xa cách. Nhưng mà không được lâu đâu. Chừng vài năm là ông bạn của chúng ta “về”. Ông về với đất vào khoảng đầu năm 89. Ông Nam Anh ơi, có những chuyện, những việc mà có trải qua rồi mình mới hiểu. Ngày trước đọc câu thơ Lý Thương Ấn “Tương kiến thời nan biệt diệc nan” (Gặp nhau đã khó, biệt nhau còn khó hơn) mình không hiểu hết được cái nghĩa của nó. Nhưng mà đi tù rồi thì hiểu ra. Đến một cái trại tù ở một nơi hải giác thiên nhai, gặp bạn cũ thì mừng hết lớn. Nhưng mà khó khăn hơn, đau buồn hơn là lúc chia tay. Tôi đi trại này, bạn về trại khác. Cuộc đời tù mịt mù, thăm thẳm nào biết ngày mai ra sao?

Mà mình thì tuy ăn nói ngông nghênh, nhưng thật ra già rồi, yếu rồi. Mười năm trước mình gần 60, bây giờ thì gần 70. Cái thuở nào chúng ta động viên vào Thủ Đức tóc xanh mươn mướt mà bây giờ thành ông già đầu bạc cả rồi. Đi tù nó lại càng già đi, yếu đi nhiều lắm. Cho nên hai anh tù già chia tay, nắm lấy tay nhau mà lắc đi lắc lại, mà hẹn này hẹn kia nhưng ở chốn cùng thẳm tâm hồn cứ vương vấn mãi một câu hỏi không dám nói ra “có còn gặp lại nhau không, có còn nhìn thấy nhau không.” Cái “biệt diệc nan” là thế đấy ông ạ. Không bao giờ gặp lại Trần Mộng Chu được nữa.

Nam Anh, bạn nhớ cái buổi mà chúng ta mấy kẻ, bàn về cái việc “marché conclu” của ông bạn Đỗ Trọng Huề không? Hôm ấy nào ông Quang “dù”, tư lệnh phó Sư đoàn 22, nào ông Tín cựu tỉnh Quảng Nam ai cũng cho rằng cái việc mặc cả 2 bên như thế là xong rồi. Nhưng tôi còn nhớ mãi ý kiến của bạn Nam Anh. Bạn bảo rằng: Chỉ mới thỏa thuận trên nguyên tắc thôi, bao giờ thi hành mới là đáng kể. Đối với người Cộng sản thì mình biết rồi “đừng tin những gì CS nói, nhìn những gì CS làm”. Còn anh Huê Kỳ, mình tin bàn tay lông lá được bao nhiêu? Mình là cái thá gì mà khiến nó bỏ hàng tỉ Mỹ kim ra để chuộc mình. Mình là thứ đồ bỏ rồi, phế thải rồi, bỏ thì thương, vương thì tội, đừng có mong. Mình có phải là “ông nội” nó đâu. Còn kẹt một cửa nữa là Mỹ vốn là tên thực dụng. Càng để chúng ta trong tù ngày nào Mỹ càng có lý do để chơi bản nhạc “nhân quyền” ngày đó. Lúc nào bàn tay lông lá mà nhấn khúc nhân quyền là đối phương lại vất vả. Cho nên mình vẫn phải dè dặt”. Đồng ý quá bạn Nam Anh. Bạn ta xưa nay làm cái gì, phát ngôn điều gì đều rất là “đúng sách”. Anh em gọi Nam Anh là “maitre” cũng là có lý. Tôi, những năm đi tù cũng là một thứ “kinh cung chi điểu”. Tin sao được những lời tuyên bố của các nhà chính khứa. Tuyên bố cho đẹp vậy thôi; thực tế phải đi tìm ở giữa những lời tuyên bố hay đằng sau những lời tuyên bố. Nói vậy mà không phải vậy đâu. Nhưng cũng phải nhận rằng từ khoảng đầu thập niên 80, những cái tin thỏa thuận xong rồi, mình sắp được về. Mỹ sắp bốc đi, không biết thực hư ra sao nhưng được coi như ánh sáng cuối đường hầm đối với tù cải tạo. Nó là một cái phao cho người tù đang đắm đuối. Ai đưa ra những tin tức loại này? Chính CS đưa ra để làm một thứ thuốc tê, khiến cho tù nguôi quên khổ hận, đi tiếp quãng đời tù mà không bạo loạn, không gây khó khăn cho các trại giam. Hay chính chúng ta, whisful thinking như con thú liếm láp vết thương của mình để cho dịu đi phần nào đau đớn. Những tin tức loại này, dù không biết xuất xứ từ đâu nhưng nó cho chúng ta thêm một nguồn sinh lực. Do đó nên ở trong tù mà lại xảy ra một hiện tượng ngược đời. Cán bộ coi tù từ giám thị cho đến quản giáo, công an bảo vệ ai nấy đều mặt khó đăm đăm, coi như những kẻ táo bón tinh thần mãn tính. Còn tù khổ sai nhọc nhằn, gầy trơ xương lõ đít mà vẫn cứ phăng phăng. Nụ cười ở đám tù nhân bại trận nhiều hơn ở trong đám coi tù thắng trận. Nhưng mà anh em ta cũng có một số người đi quá trớn. Lạc quan tếu không chịu được. Có anh nhẩm xem ngày mai đây mình lĩnh bao nhiêu tiền rappel. Cứ tạm tính một ngày 5 đô thôi. Mình đi tù trên 3000 ngày rồi. Lĩnh sơ sơ 15 ngàn đô. Rồi có nhà làm sẵn, đợi mình ở bển. Có anh còn phát ngôn rằng “đã nhìn thấy hình màu rõ ràng cư xá dành riêng cho mình rồi. Nhà cửa đàng hoàng, garage rộng rãi.” Tôi có một ông anh họ, xưa nay làm việc gì, phát ngôn cái gì cũng hăng hái lắm. Thuyết trình, bàn cãi với ai mặt đỏ lên như gà chọi. Xác tín đến như ông là cùng. Vô tù, ông vẫn vậy. Cứ như là máy bay Chinook nó sắp sửa đỗ xuống “mời quý vị lên”. Tôi gọi ông là “Chánh sự vụ sở hồ hởi”. Một hôm bà chị tôi từ Sài Gòn ra thăm ông ở trại mút mùa Thanh Phong, gần Hạ Lào, đường vô trại khó không kém thầy Đường Tăng đi thỉnh kinh ở Tây Trúc ngày xưa.

Lúc mãn thăm nuôi, ông mang vô một cái samsonite bóng lưởng. Tôi cà rà lần tới định chạp một ít thuốc lào hoặc kẹo bánh cầm hơi. Nhưng ông anh tôi bữa nay không có tặng món nào “lấy thảo”. Tôi mới hỏi “Chị mang cho anh cái xách tay đẹp vậy?” Ông liền mở samsonite ra. Trong đó có một bộ quần áo complet xám là ủi đàng hoàng, chemise, manchette, cà vạt và một đôi giày đen rất là tư cách. Ngoài ra không có thức ăn, thức uống gì hết. Ông khẽ nói:

“Mình sắp lên đường rồi. Cần gì đồ ăn, sang Mỹ thiếu gì. Phải ăn bận cho nó đàng hoàng một chút. Dù sao mình vẫn là đại tá quân lực VNCH”. Sau vụ này, chắc ông phải thăng lên chức Tổng Giám đốc Nha Hồ Hởi”.

Bạn ơi, ông anh tôi cũng đi HO, không rõ 13, 14 gì đó và bây giờ cũng đã ở Mỹ hơn năm nay rồi. Chắc khi sang đến nơi đụng đến cái thực tế phũ phàng ở Mỹ, kinh tế chưa hồi phục, tiền welfare, food-stamp càng ngày càng hạn hẹp, của khó người khôn, trâu chậm uống nước đục, cái bánh đa “hồ hởi” của ông anh tôi bây giờ như gặp nước mưa ướt nhẹp, ỉu xìu. Tôi vô cùng thương cảm và trọng nể những anh em đồng bạn của mình, như trường hợp bạn đấy Nam Anh, biết rằng sang Mỹ, chậm chân là vất vả mà vẫn cứ đi, già rồi mà vẫn kéo cày, vẫn nhận lãnh những công việc dù rằng khiêm nhượng, không mong điều tốt đẹp cho mình mà lo cho lũ con mình có được cơ hội làm lại cuộc đời. Cái ân hận của tôi và cũng chắc là của phần đông của chúng ta, nằm trong trại tù trước đây là tại sao mình vụng tính, vụng suy để đến nỗi vợ con mình, gia đình mình di lụy. Mình đi tù thì cũng được rồi, mình làm mình chịu nhưng vợ con mình đâu có tội tình gì. Cho nên, bây giờ sau bao nhiêu năm tù tội, quản thúc biết ra nước ngoài là tránh cái khổ này gặp cái khổ kia mà vẫn cứ đi. Đi là đi cho lũ con mình, đâu phải cho mình nữa. Xin mừng bạn và lũ “nhô” bây giờ đã tạm ổn định ở Connecticut, miền Đông nước Mỹ. Ở đó chắc lạnh hơn miền Tây nhiều, nhưng mà bây giờ chỗ nào mình có tí job còm, con mình có chỗ học, chỗ làm thì chỗ ấy là quê hương mới. Dạo mới đến bạn ở Seattle một thời gian rồi phải không? Không khá nên bạn mới phải “move” sang bên bờ biển Đại tây dương. Tôi cũng có thời gian đi qua Seattle rồi. Năm 1969, trong phái đoàn báo chí Thái bình dương tôi có ghé Seattle thủ phủ của bang Washington. Đây là một thành phố nhiều màu xanh, nhiều cây và nhiều mưa nữa. Kỹ nghệ lớn của Seattle là xí nghiệp máy bay Boeing và kỹ nghệ hải sản vì tiểu bang Washington nằm sát ngay Thái bình dương. Dạo ấy 1969, thăm hãng Boeing thì Jumbo 747 còn là maquette, báo chí Thái bình dương được mời xem qua cho biết. Bây giờ 25 năm trôi qua, Boeing 747 đã tràn lan khắp các đường bay thế giới. Tôi cũng có được đến thăm một hãng làm cá hộp salmon. Vì là hãng cá nên trong nhà máy lúc nào cũng phải giữ độ lạnh 5 độ dưới 0. Cứ như một cái freezer khổng lồ. Mình ở xứ nhiệt đới quen rồi, nay đi hết phân xưởng này sang phân xưởng kia, xem hết mặt hàng này đến mặt hàng khác, rét run muốn chết. Đến lúc được ra sân sắp sửa ra về, một bạn phóng viên Huê Kỳ lại chĩa ngay một cái micro vào mặt mình và hỏi “cho biết cảm tưởng”. Tôi liền phang ngay “có mấy ông nhà báo Thái bình dương đang chết coóng ở trong nhà máy kia kìa”. Đồng nghiệp Huê Kỳ liền nhe răng cười, chuồn thẳng.

Tôi được đến Seattle lần thứ hai cũng mới đây thôi, năm 1992. Tôi về năm 1985 như đã thưa với bạn ở trên.

Nhà cửa bị quản lý rồi, vợ con đi kinh tế mới. Không sống nổi nên sau mới lần mò về huyện Hóc Môn, nơi ông bà nhạc tôi mới mua lại được một thửa vườn ở ẩn. Vợ con tá túc ở đấy luôn. Đến khi tôi được về thì cũng xin “tạm trú” luôn ở đó. Năm 1989 thì mới bắt đầu thực hiện chương trình HO. Nộp đơn rồi, nếu tôi đi HO chắc vào khoảng HO 3 hay 4. Nhưng tôi nghĩ nước bạn Huê Kỳ thường hay “bán cái”. Tôi chỉ có 1 đứa con (con gái đầu lòng) và người em ở Mỹ. Còn 3 đứa con tôi nó lại lưu lạc sang Nam bán cầu, xứ Úc. Cho nên cho chắc ăn tôi xin chuyển cảnh từ Mỹ sang Úc, từ HO sang ODP. Tôi sang đến xứ Úc này giữa năm 91. Đến đầu năm 92, tôi và “mẹ cháu” mới sang chơi bên Mỹ. Em tôi và con tôi đều ở San Diego. Ở đó một thời gian mấy tuần thì anh em, bè bạn có lòng thương mới gửi cho vé máy bay đi thăm thú một vài nơi. Tôi tái ngộ Seattle tháng 3 năm 1992. Nơi đó anh em bè bạn thiếu gì. Có bạn văn Vũ Đức Vinh, bạn thơ Phạm Hậu, Hà Huyền Chi, Trần Thiện Hiệp, bạn đồng học tham mưu Lại Như Sơn, Trần Hữu Tác, bạn đồng hương Phạm Huy Sảnh, bạn “cột chèo” Lê Văn Bình. Tôi cũng có đi được một vài nơi, nhưng ít thấy chỗ nào nó “ái tình” như là khu nhà của mấy ông bạn ở đây. Hơn mười năm trước, lưu lạc đến khu này mấy ông Phạm Hậu, Hà Huyền Chi, Trần Hữu Tác, Lại Như Sơn … mới kéo nhau đến lập nghiệp ở khu ngoại ô Seattle này. Chắc cũng muốn quây quần với nhau cho nó ấm, nhỡ khi tối lửa tắt đèn. Hoặc là ngày ngày muốn nhìn thấy nhau, nghe thấp thoáng một vài tiếng Việt cho nó đỡ nhớ quê nhà. Bây giờ sau mười mấy năm, khu ngoại ô hiu quạnh đã trở nên sầm uất, hoa lá xum xuê. Xứ này vốn Flora tươi tốt. Tôi vừa đến là ông Phạm Hậu tác giả “Chuyện chúng mình” đi ra vườn đưa tay lên miệng làm loa mà “ới” anh em hàng xóm: “Ông P.L.P. tới rồi nha”. Thế là bạn bè quanh đó kéo sang, người mang chai rượu, người mang chả giò, người mang bún thang làm ngay một tiệc rượu tẩy trần, rồi sau đó mới xáp vô “xoa” mấy tẩy. Ở đây cũng có thói quen rất đáng yêu là hàng năm vào đầu mùa xuân, hoa cỏ tươi tốt là anh em bè bạn xúm nhau vui một ngày “hội hoa đào”. Nhà ông thi sĩ Trần Thiện Hiệp có một cái sân sau, hoa Anh đào nở tưng bừng hoa lá. Tôi đến Seattle lần này vào cuối tháng 3.92, thật ra hoa chưa đến độ mãn khai nhưng anh em có hảo ý năm nay ta chơi hoa đào sớm để cho người bạn phương xa có dịp chung vui. Ông bà Trần Thiện Hiệp này giống như đôi vợ chồng trong thơ Nguyễn Bính. “Thơ anh làm em hát – Tơ em dệt anh may”.

Bà ấy ngâm thơ của ông ấy say sưa và nũng nịu như “cô nhân tình bé … ” Người phương xa xin được cảm ơn và ghi nhớ mãi hảo ý của anh em bè bạn xứ Seattle thơ mộng. Những ngày ở Seattle, tôi cùng bạn Vũ Đức Vinh (cũng Air kaki với bạn đấy Nam Anh) đi thăm Túy Hồng và viếng Thanh Nam. Đôi vợ chồng Thanh Nam, Túy Hồng định cư ở Seattle này từ khi mới tới Huê kỳ. Vũ Đức Vinh cùng Thanh Nam, Mai Thảo làm báo. Túy Hồng nghề chính là đi làm, nghề phụ là viết văn. Ở VN, tôi được tha về ít lâu là nghe tin Thanh Nam mất vào khoảng giữa thập niên 80. Thế là trong số bè bạn ngày xưa ở căn gác nhỏ phố hàng Bông Hà Nội, Thanh Nam là người đi sớm nhất. Ngày trước, năm 1950, tôi từ ngoài bưng “dinh tê” về thành là xáp vô với mấy bạn Thanh Nam, Nguyễn Minh Lang, Nguyễn Thiệu Giang, Vũ Đức Vinh ở căn gác nhà Nguyễn Thiệu Giang, tập tễnh làm “văn nghệ”. Bạn Thiệu Giang có một bà chị rất lạ đời. Ông bà thân của Thiệu Giang mất sớm nên chị Căn, chị của Thiệu Giang ở vậy không lấy chồng, trông nom gây dựng cho các em. Trông nom, gây dựng hết cho cô em này đến cậu em khác. Chị Căn bán buôn rất đảm (có một cơ ngơi ở phố Hàng Bông), người nền nã, miệng cười thật tươi, hàm răng hạt na đen nhánh. Tụi tôi mấy đứa ăn dầm nằm dề ở căn gác phố Hàng Bông, mùa nào thức nấy, được chị Căn “cung phụng” cho mấy ông em đầy đủ. Chị cưng Thiệu Giang cậu em áp út “công tử Hàng Bông” nên tụi tôi cũng được cưng lây. Nhưng “chinh chiến đã mang đi bạn bè”. Năm 1951, Vũ Đức Vinh động viên khóa 1. Năm 1952 tôi động viên khóa 2. Năm 1953, Thanh Nam xách valise vào Sài Gòn lập nghiệp. Đầu tháng 9.1954, gần đến ngày “tiếp quản thủ đô Hà Nội”, tôi từ Hải Phòng lên để lần cuối cùng đến chào chị Căn, chào tạm biệt căn gác nhỏ. Chị Căn nắm níu cái valise của tôi mãi rồi mới cho đi. Trong số mấy tên tập tễnh văn nghệ văn gừng năm đó ở Hàng Bông, 3 đứa vào Nam, 2 người ở lại Nguyễn Minh Lang và Thiệu Giang. Tôi vốn là tên lính chiến nên ở trong Nam năm 1956 tôi mới lần mò về Sài Gòn. Về đây giống như ngày xưa tôi  xáp vô ở với Thanh Nam ở ngõ Nancy, căn nhà nhỏ ở ngay trước cửa nhà Tạ Ty. (Vũ Đức Vinh lúc ấy còn ở Nha Trang). Ở bên cạnh là nhà anh em ông Nhật Bằng, Thể Tần, Hồng Hảo (ban hợp ca Hạc Thành). Ở ngoài một chút là nhà ông “sáo sĩ” Tô Kiều Ngân. Ở cùng nhà Thanh Nam lúc bấy giờ có ông Hoàng Thư “ngâm sĩ” và vũ Trấn Thủ Lưu Đồn, có ông Thái Thủy làm thơ và ông quản đốc đài Quân đội Vũ Quang Ninh. Một lũ độc thân, chưa có anh nào vợ con gì hết. Nhà này thỉnh thoảng lại “phùng trường tác hí”. Có ông Vũ Khắc Khoan gõ muỗng vào ly mà “Hồ Trường, Hồ Trường … ta biết rót về đâu”. Có ông Mai Thảo với ông Phạm Đình Chương rượu uống tì tì, càng uống mặt càng tái đi, có ông Anh Ngọc cảm khái mà ca “Anh đến thăm em một chiều mưa”, có ông Đinh Hùng vừa nằm vừa viết văn chương Tao Đàn. Ngày Tết thì kéo sang nhà ông Tạ Ty, sải chiếu ra đánh bất.

Nhưng sau đó anh em lần lượt dời căn nhà ngõ Nancy ra đi. Kẻ đi lấy vợ, người đổi đi nơi khác. Thanh Nam buồn tình nên dời sang Phan Đình Phùng rồi sau đóng trụ ở building Cửu Long đường Hai Bà Trưng. Anh em bè bạn vợ con đề huề cả, riêng Thanh Nam vẫn là một gã celibataire endurci. Năm 1965, Thanh Nam mới lần đầu “choáng váng”. Thanh Nam gặp Túy Hồng. Hai người làm đám cưới, kéo nhau về khu Võ Tánh sau chuyển về đường Lý Thái Tổ. Dạo này giữa thập niên 60, làng văn miền Nam “đại hỉ” – Có 3 nhà văn nữ đụng 3 nhà thơ: Túy Hồng Thanh Nam – Thụy Vũ Tô Thùy Yên – Nhã Ca Trần Da Từ. Những cuộc hôn phối tuyệt vời của nghệ thuật. Vì lập gia đình muộn nên hai ông bà bạn tôi Thanh Nam, Túy Hồng hơi vất vả. Túy Hồng vừa đi dạy vừa viết văn. Thanh Nam vừa làm trên đài, vừa viết feuilleton túi bụi. Nhưng mỗi khi bè bạn đến chơi, ở con hẻm đường Lý Thái Tổ (gần phở Tàu Bay) là Thanh Nam lại sẵn sàng “làm một ly”. Có tý rượu là bạn tôi lại như xưa, thơ văn lè nhè, đầu gối quá tai, rung đùi tanh tách. Năm 1970, gần Tết bạn tôi vào tuổi 40, nên vi vút một bài hành. Bè bạn gần xa đọc bài hành tuổi 40 mà rưng rưng thương cảm:

Én nhạn về Nam Xuân rồi đây

Chợt thèm ly rượu, chút mưa bay

Gọi về trong đáy hồn lưu lạc

Những bước chân xưa nhạt dấu giày

Bạn cũ hãy nương theo rét lạnh

Về đây cùng nhập một cơn say

Uống ly thứ nhất mừng tao ngộ

Cho tiếng cười lên vỡ tháng ngày

Vào cuộc hành hương tìm gặp lại

Cõi trời xanh biếc tuổi thơ ngây

Chí lớn chia nhau đầy gác nhỏ

Bụi hồng chưa khiến tóc xanh phai

Dăm bảy lòng sông ôm biển cả

Coi đời dưới mắt nhẹ không ai

Cơn mê nhập cuộc sầu chưa bén

Thân thế chưa đau cát bụi này.

***

Gió nổi mười phương trời buổi đó

Với ngày như lá tháng như mây

Lãng đãng khói sương trời tưởng nhớ

Ly này xin cạn hết chua cay

Mười lăm năm đó từ phiêu bạt

Đứa vợ con yên, đứa lạc loài

Viết mướn đã bao thằng mệt mỏi

Sang giàu đếm được những ai đây

Cuộc chiến nay chừa dăm bảy mạng

Thôi thì rượu đó, uống cho say

Rót thêm ly nữa chào năm cũ

Tuổi bốn mươi rồi, thương lắm thay.

Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ

Vai kép buồn kia vẫn diễn hoài

Nhìn lại trời xưa vừa khép kín

Thơ hồng tuổi ngọc tiếc thương ai.

***

Nghiêng chai thêm một ly này nữa

Trên vách sầu ta đối bóng gầy

Chợt tiếng con thơ cười lảnh lót

Nhìn con lòng bỗng thấy xuân đầy

Lại đây con nhỏ, con yêu dấu

Bố uống cho con ly rượu này

Ly rượu mừng con tròn mộng đẹp

Niềm vui hoa nở tháng năm dài.

Tiếng bạc đời cha gieo đã lỡ

Chiều tà khôn gỡ nước cờ sai

Trắng tay nhìn lại con còn đó

Hy vọng đời cha mẹ kiếp này

Tăm tối cam phần cha đã chịu

Cánh hồng con hẳn sẽ xa bay

Ngủ đi con, ngủ đi yên giấc

Cha ru con bằng hơi rượu say

Cha ru con bằng lời thống khổ

Trong nhục nhằn mê sảng đêm nay …

Có thể nói trong thi ca Việt Nam, sau “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, sau “Bài Hành Phương Nam” của Nguyễn Bính, bây giờ chúng ta có “Bài Hành Tuổi 40″ của Thanh Nam. Đây không phải là một Thanh Nam tỉnh thức. Đây là một Thanh Nam say.

Người say nói lời điên cuồng nhất, mà cũng là lời thành thực nhất. Cả một trời tâm sự ùa ra đầu ngọn bút Thanh Nam …

Tháng tư đen 1975. Tình hình bấn loạn. Từ giữa tháng đã nghe tin Thanh Nam – Túy Hồng có thể đi ra Phú Quốc sớm. Tôi vội vàng chạy đến. Thanh Nam sắp sửa lên đường. Ba lô, khăn gói sẵn sàng. Thanh Nam ghé tai tôi nói vội:

“Tao đi trước nhé. Hẹn gặp mày sau.” Bây giờ 17 năm sau, tôi tới đây, bạn tôi hẹn gặp mà không bao giờ gặp nữa. Nhớ bạn ngày xưa hay rượu, trước khi đến đây tôi và Vũ Đức Vinh có mang theo một chai rượu chát. “Uống ly thứ nhất mừng tao ngộ”. Làm sao mà tao ngộ đây. Bà Túy Hồng thấy vậy liền mở tủ, lấy ra một khuôn hình Thanh Nam để cho tôi nhìn lại bạn xưa. Chắc đã khá lâu rồi khuôn hình nằm trong góc tủ, nên khuôn hình bụi bặm. Thắp một nén nhang cho Thanh Nam. Hình Thanh Nam mờ tỏ “Mày đây sao Thanh Nam, mày hẹn gặp tao mà tới nơi mày chỉ còn lại một khuôn hình khô cứng và bụi bặm. Ôi Thanh Nam. Thanh Nam”.

***

Bạn Nam Anh, trước khi chúng ta vào Thủ Đức, ở Hà Nội bạn không thân với tụi văn nghệ văn gừng tụi tôi nhưng hẳn là bạn biết Nguyễn Thiệu Giang. Dân Chu Văn An cả. Nhưng người bạn Air kaki Hoàng Song Liêm người đưa bạn từ Seattle về miền Đông bây giờ chắc chắn biết Nguyễn Minh Lang, Nguyễn Thiệu Giang. Vì ông Hoàng Song Liêm là em ông Hoàng Phụng Ty. Hai anh em ông này đều làm văn nghệ. Thơ ông Hoàng Phụng Tỵ “tới” lắm. Nhưng ông Hoàng Phụng Ty (khóa 1 Nam Định) không có vào Nam. Ông ở lại và nghe nói bạn thơ Hoàng Phụng Tỵ trở nên người mất trí. Nghe tin này tôi không biết nên buồn hay vui. Ở với Cộng sản, có khi “mất trí” lại càng dễ sống. Tôi ở Seattle, ở nhà Vũ Đức Vinh. Rỗi rãi bạn mới cho

hay tin tức anh em bên nhà. Những tên ở nhà Thanh Nam cũ, ngõ Nancy thì Hoàng Thư ngâm sĩ không biết tin tức ra sao. Chỉ biết “giải phóng” xong là vợ bỏ, hai bố con dắt nhau đi lang thang ngoài đường, thảm lắm mà bây giờ không biết ở đâu. Ông làm thơ Thái Thủy thì trong khi đi cải tạo, ở nhà bà vợ cũng “sang ngang”. Ông ấy được về ít ngày, song lại dính vô vụ ông Nguyễn Đan Quế nên bây giờ vẫn còn nằm ấp. Chỉ có ông Vũ Quang Ninh đài Tự Do sau này, phút cuối cùng dọt được là tạm yên. Hình như ông vẫn làm cái nghề của ông từ xưa tới nay là phát thanh, phát hình.

Còn hai người bạn ở lại ngoài Bắc thì vài năm nay, không hiểu sao ông Nguyễn Minh Lang liệt nửa người.

Bây giờ đang tập đi trở lại. Nhận thư bè bạn từ xa gửi về, ông ấy cứ cầm hình cầm thư mà khóc. Trước đây Nguyễn Minh Lang cứng tay không viết được. Bây giờ cũng đang tập viết trở lại. Thư cho Vũ Đức Vinh chữ viết ngoằn ngoèo. Còn ông Nguyễn Thiệu Giang thì không được ở căn nhà Hàng Bông nữa. Lưu lạc về khu Hàng Bồ, Hàng Thiếc. Ông “công tử Hàng Bông” ngày nào bây giờ cùng con cái trông nom một cái chõng bán nước chè tươi kẹo bột, kẹo vừng ở đầu phố. Bà ấy là công nhân viên nghỉ hưu nên mới được “bồi dưỡng” như thế đấy.

Nhưng tin tức về chị Căn thì “phấn khởi”. Gọi là chị chứ bây giờ chị đã 76 tuổi rồi. Cụ Căn mới đúng. Chị vẫn còn khỏe. Vẫn ở một mình nhưng luôn chạy đi chạy lại, lúc thì giúp cô này, lúc thì đỡ cậu kia. Vẫn như xưa. Trong thư chị viết gửi sang chị bảo “Chị vẫn còn một căn nhà nhỏ, để các cậu Vinh, cậu Phúc và gia đình có về chơi, vẫn có chỗ ở chơi với chị”. Bạn ơi, năm nay mình cũng gần 70 rồi, bao nhiêu năm mới lại có người gọi mình là cậu. Vừa sung sướng, vừa buồn rầu.

Thôi, viết “ba lăng nhăng” cho bạn như thế cũng dài dòng quá rồi. Chả dám hứa với bạn gì đâu. Chỉ mong lúc nào bạn rỗi bạn lại viết cho tôi vài ba trang. Đụng gì viết nấy, nhớ gì viết nấy. Mình bạn già với nhau, viết như vậy coi như gặp nhau bù khú. Mừng sự an cư của bạn và gia đình ở miền đất mới.

Thăm bà cụ thân sinh ra mấy đứa nhô của bạn.

Thân.

(1994)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply