Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 18th Mar 2021

Post by Sơn râu 15 Aug 2023

Kỳ 11

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Nhưng tiếp theo sau đó, chúng tôi được lệnh giữ đường để tiếp tế cho Phước-Long.

Ðợt tiếp tế này dự trù sẽ diễn ra liên tục năm ngày. Ông tiểu đoàn phó xin tôi cho ông 4 ngày phép để đưa vợ con về thăm bên ngoại dưới Nha-Trang, sau đó gia đình ông sẽ trở lại theo chuyến tiếp tế sau cùng.

Trong năm ngày đêm, tôi không dám ngủ, sợ quân của mình ơ hờ để địch len lỏi ra chặn đường, hay bắn xe, thì thế nào mình cũng bị khiển trách.

Kỳ này cấp trên đã huy động hàng trăm xe vận tải GMC mười bánh của Tiếp Vận 2 và Tiếp Vận 5 để chuyển hàng hóa tiếp tế cho Phước-Long rồi chở mủ cao su từ Phước-Long ra biển.

Suốt năm ngày, năm đêm, những chiếc GMC Quân Vận theo đuôi nhau chạy đi, chạy về, rầm rầm mà không có phát súng nào của Việt-Cộng.

Tôi lấy làm ngạc nhiên, không hiểu tại sao địch lại làm ngơ trước cảnh tượng khiêu khích xảy ra chình ình ngay trước mắt chúng.

Tới khi mất nước rồi, nằm trong nhà tù cải tạo, tôi mới được một vị lớn tuổi hơn tôi, đi lính trước tôi, mang lon lớn hơn tôi, thủ thỉ bên tai,

– Anh nói, chắc chú không tin, ngày đó, tụi Tây chủ đồn điền đã chi tiền (?) cho các ông lớn của ta (!) và chi tiền cho bọn Việt-Cộng, để chúng nó được an toàn đem hết mấy ngàn tấn mủ cao su ra Nha-Trang, đưa xuống tàu chở qua Pháp! 

Nếu biết sớm chuyện này, tôi đã yên tâm nằm khoèo trên võng mà ngủ suốt năm ngày, năm đêm cho khoẻ cái thân, công đâu mà lõ mắt canh chừng bên máy truyền tin theo dõi tình hình.

oOo

Ngày vui qua mau

Sau đợt tiếp tế Phước-Long là những ngày thật là nhàn rỗi, thảnh thơi…

Thời gian này, tôi thấy Trung tá Thanh, Thiếu tá Ðàng và các sĩ quan khác trực thuộc liên đoàn cứ thay nhau nghỉ phép ngắn hạn, đi đi, về về, Sài-Gòn hay Ban Mê Thuột mà tôi thì không thể rời xa nơi này nửa bước, nên chạy về Gia-Nghĩa nêu thắc mắc với Trung tá Liên đoàn trưởng,

– Trung tá coi lại, tại sao gần hai năm nay tôi không có phép thường niên, mà cứ gởi công điện lên liên đoàn xin thì lại bị từ chối?

Trung tá Thanh nhướng mắt thật to,

– Ủa! Chứ cậu không hay rằng ông Toàn có lệnh là chỉ có sự chấp thuận của ông ấy thì chú mới được phép vắng mặt ở Kiến-Ðức sao?

Tôi ngẩn người ra, chẳng hiểu gì cả! Vì lý do gì mà ông Tướng Vùng phải quan tâm tới chuyện phép tắc, có mặt, hay vắng mặt của một sĩ quan cấp thiếu tá là tôi, tôi bèn thắc mắc,

– Ai nói với Trung tá lệnh này là do ông Toàn?

– Thì ông Trường An (Ðại tá Tất) truyền lại lệnh này chứ ai?

Tôi vừa ngạc nhiên vừa bực bội, chạy vào phòng truyền tin, dùng máy PRC74 gọi cho Ðại tá Phạm Duy Tất.

Sau khi nghe tôi vặn hỏi, ông Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 cũng nói không khác gì Trung tá Thanh,

– Thì ngay sau khi mở đường Ðức-Lập xong, ông Toàn có ra lệnh cho anh và ông Nghìn không cho phép chú đi đâu nếu không có sự chấp thuận của ông ấy. 

Ông Tất vừa dứt lời, tôi vội phóng lên xe chạy vào Tiểu Khu Quảng-Ðức. May thay, tôi gặp được Ðại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng-Ðức đang đứng giữa sân Tiểu Khu. Vừa giơ tay chào ông Nghìn, tôi vừa lớn tiếng hỏi,

– Niên trưởng ơi! Có phải ông Toàn ra lệnh rằng tôi muốn đi đâu vài ngày thì tôi phải chờ sự đồng ý của ông ấy có đúng không?

– Ừ! Anh có nghe ông Toàn ra lệnh như thế!

Nghe ông Nghìn trả lời, tôi vội nói,

– Niên trưởng cho tôi mượn cái trực thăng của niên trưởng vài giờ. Tôi muốn bay về Pleiku gặp mặt ông Toàn hỏi cho rõ trắng đen cái chuyện vô lý này mới được.

– Ừ! Lấy trực thăng của anh mà đi, nhớ trả lại máy bay và phi hành đoàn cho anh ngay sau khi xong việc đó!

Hơn một tiếng đồng hồ sau tôi đã có mặt trên sân Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II.

Tôi vào Phòng 2 gặp Ðại tá Trịnh Tiếu, rồi nhờ ông Tiếu đưa tôi lên lầu hai để gặp mặt ông Tư Lệnh Quân Ðoàn.

Anh Quân Cảnh gác cầu thang không thèm tước vũ khí của tôi, vui vẻ dẫn tôi vào văn phòng của ông Tướng.

Thấy tôi, Tướng Nguyễn Văn Toàn từ tốn hỏi,

– Chi đó mi?

– Trình Trung tướng! Trong Liên Ðoàn 24 các ông chỉ huy liên đoàn và tiểu đoàn muốn đi đâu thì đi. Các ông ấy đi đi, về về Sài-Gòn như đi chợ. Tôi đánh hết trận này tới trận khác, muốn có vài ngày phép thường niên về thăm vợ con mà không được. Tôi nộp đơn xin nghỉ phép thì ông Tất với ông Nghìn nói rằng tôi phải chờ sự chấp thuận của Tư Lệnh Quân Ðoàn! Sao có chuyện vô lý như thế?

Tôi nói một mạch, không ngừng. Vừa nghe xong, ông Toàn vội đập hai bàn tay hộ pháp của ông ta xuống mặt bàn rồi quát lên,

– Ðù mạ! Tau có ra lệnh này hồi nào đâu? Chuyện phép tắc của mi thì thằng Nghìn, thằng Tất phải giải quyết. Tau còn phải lo bao nhiêu công chuyện lớn lao, hơi đâu mà để ý tới chuyện phép tắc của tụi mi?

Nói xong, Tướng Toàn phẩy tay hai, ba cái để đuổi tôi ra khỏi phòng.

Tôi đứng nghiêm, chào ông Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn rồi quay gót.

Lúc tôi ra tới cửa thì ông Toàn gọi giựt lại,

– Ê! Mi có đi phép thì đi chừng năm ngày thôi! Không được đi lâu hơn đó nhe!

Trên đường bay về Quảng-Ðức tôi cứ bấm bụng cười thầm, ông Tướng Vùng vừa nói rằng ông ta phải lo bao chuyện quan trọng, hơi sức đâu mà để ý tới vấn đề đi phép, đi tắc của tôi, vậy mà sau khi đuổi tôi đi, ông ta lại nhắc nhở tôi rằng “không được vắng mặt lâu hơn năm ngày đó nhe!”

Cuối tháng 10 năm 1974 vợ chồng tôi và ba đứa con, tới đóng đô năm ngày trong một căn phòng nơi từng hai của Khách Sạn Mộng-Ðiệp nằm sát bên cầu thang dẫn xuống tầng trệt của chợ Hòa-Bình, Ðà-Lạt.  Khách sạn này trước đây có tên là Maxim, sau đổi thành Mộng-Ðiệp.

Những tấm ảnh màu mà gia đình tôi chụp ở Vườn hoa Ðà- Lạt, Thác Prenn hay Hồ Xuân-Hương còn giữ được cho tới sau này chính là những ảnh được chụp trong thời gian cuối tháng 10 năm đó.

Ngày vui thời buổi nào cũng ngắn, sau năm ngày hạnh phúc ở Ðà-Lạt, tôi trở về Kiến-Ðức.

Xe tôi đi qua khúc quanh Mả Thượng thì gặp xe của ông trung tá liên đoàn phó đi ngược chiều, ông ta được lệnh chấm dứt nhiệm vụ thay tôi chỉ huy mặt trận Tây Quảng-Ðức vào lúc tôi bước chân vào trình diện Trung tá Thanh để báo cho ông liên đoàn trưởng biết rằng tôi đã về.

Trong thời gian sáu ngày tôi vắng mặt, mọi lệnh truyền ra cho các cánh quân của ông liên đoàn phó đều qua giọng nói của Trung úy Nguyễn Văn Trâm sĩ quan Truyền Tin của tiểu đoàn. Do vậy, cả địch và ta đều không biết rằng tôi đã không ở đây trong một thời gian gần tuần lễ.

Tôi bước vào phòng hành quân thì Ðại úy Hoàn, Trung úy Trâm, cùng mấy ông hạ sĩ quan tíu tít vây quanh mừng rỡ. Ông Hoàn nói,

– Mấy ngày rồi anh em tụi tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Chỉ sợ địch biết không có mặt ông, chúng nó đánh úp thì chết!

Tôi cười,

– Có ông liên đoàn phó ở đây, duyên cớ chi mà các cha lại lo sợ dữ vậy!

Ðại úy Hoàn vừa cười, vừa lắc đầu,

– Nói thực với ông, những ngày sống dưới quyền ông liên đoàn phó chúng tôi không yên tâm chút nào.

Ông Ðại úy Hoàn là bạn của ông Trung tá Xuân. Ông Hoàn tốt nghiệp Khóa 10 Thủ-Ðức cùng ngày với ông trung tá, đi Biệt Ðộng Quân cùng ngày với ông trung tá, nhưng hiện thời hai ông này đang ở hai vị trí khác nhau.

Ðêm đó tôi và Trung úy Trâm đi một vòng quanh chiến hào, quan sát tình hình, tới một căn lều đôi của một khẩu đại liên, tôi nghe tiếng hai người lính nói chuyện với nhau. Một anh lớn tuổi nói,

 – Không biết Thiếu tá đi phép tới bao giờ mới về? Thiếu tá vắng nhà, tao lo quá!

Tiếng nói thứ nhì của anh lính có vẻ trẻ hơn,

– Em cũng lo! Không có Thiếu tá mà bọn nó tấn công, chẳng biết tụi mình sẽ chống đỡ ra làm sao đây?

Trung úy Trâm vỗ mạnh vào nóc căn lều rồi cười lớn,

– Thiếu tá về rồi! Tụi mày yên chí đi!

Hai anh lính nghe Trung úy Trâm nói vậy liền nhào khỏi lều, thấy tôi đang đứng nhìn thì chúng nó ào vào ôm tôi chặt cứng, rồi reo lên,

– Thái Sơn về rồi! Thái Sơn về rồi!

Anh Trung úy Pháo đội trưởng 105 ly đóng dưới sườn Bắc đồi Kiến- Ðức biết tin tôi vừa hết phép, cũng chạy lên kéo tay tôi và Trung úy Trâm xuống hầm tác xạ của anh ta. Tiệc mừng tôi hết phép của anh bạn pháo binh là một chai Hennessy và hai con khô mực.

oOo

Chuyện thường ngày ở huyện

Kiến-Đức…

Sau kỳ lãnh lương tháng 10 năm 1974 vợ con binh sĩ từ Pleiku kéo nhau lên thăm chồng, cha càng ngày càng đông.

Tôi thấy để đàn bà con nít sống chen chúc trong các hầm hào phòng thủ vừa bất tiện, vừa mất vệ sinh, nên tôi ra lệnh cho tiểu đội Lao Công Ðào Binh cắt tranh, đốn cây, cấp tốc dựng lên hai dãy nhà có sạp tre thay giường nằm.

Hai dãy nhà này tọa lạc dưới chân ngọn đồi chính, bên lề của Tỉnh Lộ 344, đối diện với Câu Lạc Bộ tiểu đoàn và Trung đội Pháo Binh Biệt Ðộng Quân Biên Phòng.

Ở đây, hai căn gia binh được ba ngọn đồi che chắn, các cháu bé cũng không sợ bị gió lùa gây bịnh cảm mạo, phong hàn. Vị trí này cũng rất an toàn, không sợ vũ khí bắn thẳng của địch. Tôi còn cho lệnh đục vách núi thành hai cái hầm cho vợ con binh sĩ trú ẩn nếu có pháo kích.

Cũng trong thời gian này, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tiếp nhận đợt bổ sung mới, gồm có một sĩ quan là Thiếu úy Nguyễn Nhơn, và một ông Trung sĩ 1 già người Bắc tên là Ngô Thái Bình cùng với năm hay sáu tân binh.

Tôi quá bận bịu với những buổi họp hành trên liên đoàn, nên giao cho Ðại úy Hoàn công việc phỏng vấn mấy ông tân binh. Còn ông thiếu úy và ông trung sĩ thì tôi sẽ đích thân tiếp xúc.

Thiếu úy Nguyễn Nhơn là người Huế, bạn đồng khóa của Cố Trung úy Phạm Ðại Việt cựu Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/82.

Sau khi lễ phép chào tôi, anh Nhơn móc túi trao cho tôi cái thư giới thiệu, viết bởi anh bạn tôi là Ðại úy Nguyễn Lạn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Trong thư bạn tôi nói rằng Thiếu úy Nhơn là người đồng hương của Lạn đã từng là đại đội trưởng ở Tiểu Ðoàn 11 vừa mãn khóa Rừng Núi Sình Lầy trở về. Nhưng hiện thời Tiểu Ðoàn 11 đã có dư sĩ quan đại đội trưởng, Lạn bèn đề nghị anh ta về Pleiku năn nỉ ông Thiếu tá Nguyễn Giáp, Trưởng Phòng 1 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cho anh ta về Tiểu Ðoàn 82 với tôi.

Tôi đang có ý định kiếm người thay cho Thiếu úy Hổ để chú Hổ đi học lớp Tổng Quản Trị, khi trở về sẽ đảm nhận công việc này của đơn vị. Ngặt vì Ðại Ðội 3/82 có nhiều tân binh, nên tôi cho Thiếu úy Phạm Văn Thủy thay Thiếu úy Nguyễn Văn Hổ, và cho Thiếu úy Nhơn giữ chức đại đội trưởng Ðại Ðội 4/82.

Sau khi sắp xếp cho vị sĩ quan mới đáo nhậm, tôi cho phép ông hạ sĩ quan vào trình diện.

Nhìn ông già Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình, người Bắc Di Cư, vừa bước vào, tôi nảy ra ý nghĩ sẽ để cho ông hạ sĩ quan lớn tuổi này giữ công tác an ninh phòng thủ thay chỗ ông Thượng sĩ Y Khăm Nier mới chết cách đây vài bữa do vướng mìn. Bắt tay ông trung sĩ xong, tôi nhẹ giọng,

– Trước khi tới 82 Trung sĩ ở đơn vị nào?

Tôi vừa dứt lời, ông già Bắc Kỳ Di Cư đã đốp chát ngay,

– Quân lao!

– Quân lao nào?

– Nha-Trang!

Tôi ngạc nhiên hỏi tiếp,

– Lý do gì mà ông bị nhốt trong quân lao?

Giơ cả hai cánh tay lên trời, hai bàn tay xòe rộng, ông Bình trợn mắt nhìn tôi rồi lớn tiếng,

– Sáu tháng trước, tôi bắn thằng đại úy tiểu đoàn trưởng, may mà, nó bị thương, không chết, nên tôi chỉ bị kêu án ba năm, ở được nửa năm, có người tới chiêu dụ tôi đi đơn vị tác chiến thì được hưởng án treo thời gian hai năm rưỡi còn lại. Tôi tình nguyện ngay! Vậy là người ta còng tay chở tôi ra đơn vị. Tôi tới liên đoàn chiều hôm trước, sáng hôm sau tôi giáp mặt ông đây! Ông muốn tôi làm công việc gì thì cứ ra lệnh, đừng chất vấn lôi thôi cho mất thời giờ!

Nghe ông già Bắc Kỳ bạt mạng, lỗ mãng này đối đáp, tôi cũng thấy tò mò, thích thú nên hỏi tiếp,

– Trung sĩ cũng lớn tuổi rồi, chắc ông đi lính đã lâu? Ông có thể kể sơ lược cuộc đời lính của ông cho tôi nghe được không?

Hình như được gãi đúng chỗ ngứa, ông Trung sĩ già nói một hơi như nước tuôn qua ống cống giữa cơn giông, khiến tôi đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Sau đây là lý lịch cuộc đời của ông trung sĩ 1.

Ông Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình lớn hơn tôi một giáp, ông ta là con một địa chủ ở Thái-Bình. Mười tám tuổi ông Bình thi đậu bằng “Bắc Ðơ” tức là bằng Tú Tài 2, rồi tình nguyện theo học Khóa 1 Nam-Ðịnh.

Còn một tuần lễ nữa thì tốt nghiệp, trong cơn say, ông Sinh viên Sĩ quan Ngô Thái Bình đã đánh gãy hai cái răng cửa của viên sĩ quan cán bộ người Tây nên bị ra trường với cấp bậc trung sĩ.

Ông bị đưa ra đơn vị tác chiến có tên là Commando đóng quân trong vùng Bạch-Mai, ngoại ô Thủ Ðô Hà-Nội.

Ở Hà-Nội Trung sĩ Bình lại dính líu vào một cuộc ẩu đả giữa Commando và lính Nhảy Dù của Pháp.

Sau vụ này Trung sĩ Bình bị lột lon trung sĩ, xuống binh nhì, tống sang một đơn vị Bảo Chính Ðoàn của Quân Ðội Quốc-Gia Việt-Nam.

Ông Binh nhì Ngô Thái Bình ở yên đơn vị Bảo Chính Ðoàn này một thời gian thì tới Hiệp Ðịnh Geneve.

Ðầu năm 1955 đơn vị của ông lên tàu há mồm vào Ðà-Nẵng.

Tới Ðà Nẵng Binh nhì Ngô Thái Bình làm đơn tình nguyện thuyên chuyển sang Nhảy Dù.

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

March 12th, 2021

Post by Sơn râu 15 Aug 2023

Kỳ 10

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

– Mình là người lớn, nói phải giữ lời! Anh nói với ông Hai Lẻ Chín đừng vi phạm cái giao kèo này đấy nhé!

Vài phút sau tôi lên xe cùng với ông Trung tá Hoàng Kim Thanh phóng như bay ra Quảng-Ðức.

Chiều đó xe của tôi trở về Kiến-Ðức chở theo ông cao bồi bắn… dở như hạch, tên là Trần Văn Phước.

Hai ngày sau, ông Ðại tá Từ Vấn bàn giao chức vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cho ông Trung tá Hoàng Kim Thanh.

Buổi lễ bàn giao liên đoàn diễn ra vô cùng giản dị. Trên cái bàn dài có hai chai rượu Hennessy cùng mấy đĩa thịt gà luộc. Hiện diện quanh bàn tiệc, ngoài năm vị cầm đầu liên đoàn ra, có chừng năm sáu sĩ quan tham mưu.

Diễn văn từ biệt của Ðại tá Từ Vấn vỏn vẹn ba câu ngắn gọn, mà bốn mươi sáu năm sau tôi vẫn còn nhớ nằm lòng,

(1) Hôm nay tôi gặp mặt từ giã anh em để lên đường nhận nhiệm vụ mới.

(2) Tôi chúc tất cả anh em luôn luôn mạnh khỏe, bình an.

(3) Chúc Thiếu tá Long vinh thăng trung tá để giữ chức liên đoàn trưởng!

Sau khi ông Từ Vấn ra đi khá lâu, tôi mới hiểu ý nghĩa những lời giã từ của ông ấy. Thì ra câu, “Chúc Thiếu tá Long vinh thăng trung tá để giữ chức liên đoàn trưởng!” chỉ là một câu nói móc lò. Ông Vấn chắc chắn đã biết cái lon trung tá đặc cách tại mặt trận của tôi đã bị người ta ém nhẹm mất tiêu rồi, nên ông ta cười vào mặt tôi, mà tôi không hay!

Ông Ðại tá Từ Vấn thuyên chuyển, Trung tá Hoàng Kim Thanh đương nhiên được đảm nhận chức vụ Xử Lý Thường Vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, và Trung tá Trịnh Thanh Xuân từ Pleiku tới nhận chức Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24.

Ông Trịnh Thanh Xuân vốn dĩ là Tiểu đoàn trưởng của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân. Trong thời gian Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bị vây ở Pleime thì đơn vị của ông Xuân trú quân vùng Tây Pleiku.

Một đêm tối trời, tiểu đoàn của ông Xuân đã có công đánh lui một mũi Ðặc-Công Việt-Cộng trong lúc chúng đang cố gắng cắt rào, chui vào khu vực phòng thủ của pháo binh ở Căn cứ 333 vùng Tây Pleiku.

Sau khi thất bại, tụi Việt-Cộng đã bỏ chạy và để lại chiến trường bốn cái xác mặc quần áo đen, cùng mấy bánh thuốc nổ, nhưng không có khẩu súng nào.

Thiếu tá Trịnh Thanh Xuân được Ðại tá Phạm Duy Tất và Trung tướng Nguyễn Văn Toàn cho đặc cách thăng cấp trung tá vì công trạng này.

Cùng đi với Trung tá Xuân là một đại úy, dự trù sẽ được bổ sung cho Tiểu Ðoàn 82 thay chỗ Ðại úy Nguyễn Hữu Tài. Ông đại úy này tên là Lê Bá Ngọ mới từ Sài-Gòn thuyên chuyển tới.

Ðại úy Ngọ là “Cố nhân” đồng thời cũng là người chỉ huy tôi ngày tôi mới ra trường.

Ðầu năm 1966 ông Ngọ là Trung úy Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/11 Biệt Ðộng Quân, tôi là một thiếu úy trung đội trưởng dưới quyền ông Ngọ.

Tôi với ông Ngọ xa cách lâu rồi, nay ông ta xin về làm tiểu đoàn phó cho tôi, nhưng tôi đã thẳng thắn từ chối, không nhận Ðại úy Lê Bá Ngọ về đơn vị mình.

Hôm sau, tôi lại bị gọi về liên đoàn để nhìn mặt một “Ứng Viên” thứ nhì cho chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Lần này là một đại úy người Nam xuất thân Khóa 10 Trừ Bị Thủ -Ðức.

Vừa bắt tay nhau, ông đại úy đã toét miệng cười, để lộ hai, ba cái răng bịt vàng,

– Tui mới từ Sài-Gòn ra, được lệnh tới Tiểu Ðoàn 95 giữ chức tiểu đoàn phó. Nhưng tui nghe ông cần người phụ tá, tui vội tình nguyện đi ngay.

– Làm phó 95 có khác gì làm phó 82 mà ông lại xin về 82?

– Tui thích ông, phục ông, nên xin về 82. Vả lại tui biết ông từ năm 1966, ngày ông mới ra trường!

– Năm 1966 ông ở tiểu đoàn nào ngoài Vùng 1 mà nói biết tôi?

– Tui ở Ban Ðại Diện Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 1 dưới quyền Thiếu tá Hoài. Tui là anh trung úy đã lái xe ra đón mấy ông thiếu úy Khóa 20 Ðà Lạt ở sân bay Ðà-Nẵng, rồi đem các ông phân phối cho ba tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân của Quân Khu 1. Trong số mấy ông Khóa 20 ngày đó tôi nhớ tên ông nhất, vì tên ông vừa lạ lại vừa đẹp!

– Từ đó tới nay cũng 8 năm rồi, ông còn nhớ tôi thì quả là ông giỏi lắm đó! Nếu có duyên thì mình sẽ có dịp ở với nhau lâu. Tôi nhận ông về làm việc với tôi kể từ giờ này.

Vài ngày sau tôi nhận được công điện xác nhận của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 ghi rõ ràng việc bổ nhậm chức vụ của ba vị sĩ quan có tên dưới đây:

1) Ðại úy Nguyễn Hữu Tài, Khóa 10 Thủ-Ðức, giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân.

2) Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Khóa 10 Thủ-Ðức, giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

3) Ðại úy Lê Bá Ngọ, Khóa 12 Thủ-Ðức, giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân.

Ông tân tiểu đoàn phó của tôi đi đâu cũng đem vợ con theo, tôi phải cho gia đình ông đại úy tá túc trong một căn hầm khá rộng nằm sát vách hầm truyền tin của tiểu đoàn. Gia đình này gồm một chồng, một vợ, một bé gái và một con chó Nhật bé tí teo.

oOo

Đời lính, vinh quang và cay đắng…

Hạ tuần tháng 10 năm 1974 tôi nhận được danh sách những quân nhân được tưởng thưởng do chiến thắng Pleime 1974.

Tôi ngạc nhiên khi thấy trên công điện thông báo thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vỏn vẹn có tên ba người được thăng cấp là ông Tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Tài lên thiếu tá, ông Trưởng Ban 3 Trần Dân Chủ lên đại úy, ông Trưởng Ban 2 Trần Văn Phước lên trung úy.

Những sĩ quan khác đều bị gạch tên, không huy chương, không lên lon, kể cả Thiếu tá Vương Mộng Long và ba ông sĩ quan đại đội trưởng tác chiến.

Vị đại đội trưởng tác chiến duy nhất của tôi được thăng cấp đó là Thiếu úy Phạm Ðại Việt, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/82. Thiếu úy Phạm Ðại Việt đã được cấp trên gắn cho cái lon Cố Trung Úy.

Thượng cấp không nỡ gạch tên ông ta, chỉ vì ông ta đã bị trúng đạn pháo kích của địch quân ngày 16 tháng 8 năm 1974 và đã chết mất rồi!

Tôi là người thay mặt Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng gắn ba bông mai vàng lên ve áo của ông Trần Dân Chủ.

Ðại úy Ngũ Văn Hoàn thay mặt cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng gắn hai bông mai vàng lên ve áo của ông Trần Văn Phước.

Vì Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu không cho tôi biết lý do vì sao những quân nhân còn lại của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã bị loại ra khỏi cái danh sách thăng thưởng mà tôi đề nghị, nên tôi không thể đại diện cho Ðại tướng Cao Văn Viên trả lời thắc mắc của những người lính dưới quyền tôi.

Trong cuộc đời 10 năm chinh chiến, tôi đã lên voi xuống chó nhiều lần rồi, vấn đề lon lá tôi không coi trọng.

Nhưng những quân nhân dưới quyền tôi thật là tội nghiệp, họ đã nghiêm chỉnh thi hành lệnh của Ðại tá Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, Trung tướng Tư lệnh Quân Ðoàn II và Tổng thống nước Việt-Nam Cộng-Hòa là: “Chọn cái chết chứ không di tản chiến thuật”.

Họ đã quên mạng sống của chính mình để “Tử Thủ” và sẵn sàng chết theo Pleime nếu tiền đồn này rơi vào tay giặc.

Vì thế mà nghe được cái tin “Tất cả quân nhân tham chiến trận Pleime 1974 sẽ được đặc cách thăng một cấp” thì nhiều ông đã thủ sẵn trong túi cặp lon mới sáng chói, chờ ngày “Rửa lon”.

Ai ngờ cấp trên đã nói trước, quên sau, những lời hứa chỉ còn là cái bánh vẽ!

Các ông Trung úy Nguyễn Công Minh, Nguyễn Hữu Anh, Thiếu úy Lê Ðình Khay, Phạm Văn Thủy, Huỳnh Kim Hoàng, Nguyễn Văn Hổ, Chuẩn úy Phan Quốc Thiều, Lê Hữu Ðức, Nguyễn Hữu Ðức, Nguyễn Hữu Phước, Lê Văn Phước, Lê Hữu Bảo, Thượng sĩ Nguyễn Văn Năng, Y Khăm Nier, Y Ngon Nier, Trần Văn Sơn, Lê Hữu Phong, Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn, Hạ sĩ 1 Mom Sol… cùng với ông Trung úy Pháo binh Biên Phòng tên là Nguyễn Như, khi thấy mình lọt sổ trên danh sách thăng cấp đặc cách thì cũng buồn năm phút, nhưng các vị này hết buồn ngay sau khi biết rằng con chim đầu đàn là Thái Sơn mà còn bị người ta “quên” (!)

Tôi cũng được thông báo rằng, Trung úy Nguyễn Văn Song, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/81 là đơn vị tăng phái cho tôi đã được đặc cách lên đại úy và ông trung úy Trưởng Ban 3 liên đoàn cũng được lên đại úy.

Khi nghe tin ông Trung úy Y sĩ trưởng của liên đoàn được tưởng thưởng một huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Ðồng, tôi cũng mừng cho ông ấy, vì Quân Y mà có Anh Dũng Bội Tinh thì hiếm lắm!

Nhưng tôi lại rất buồn khi nhìn thấy anh Hạ sĩ nhứt Y tá tên là Chiến của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã không được lên lon mà cũng chẳng nhận được một tờ giấy khen dù là của cấp trung đoàn.

Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân không có sĩ quan trợ y, Hạ sĩ 1 Chiến chính là ông “Bác Sĩ Vĩ Đại” của chúng tôi trong 33 ngày đêm tử thủ. Từ chuyện chữa trị chứng nhức đầu, sổ mũi của anh tân binh sau một đêm dầm mưa, tới chuyện băng bó những vết thương gãy tay, lòi ruột của anh em trong chiến trận, việc gì “Bác Sĩ Chiến” cũng làm được cả. Ðặc biệt là lúc nào trên môi Chiến cũng sẵn nụ cười hiền hoà, và lời an ủi vỗ về “Không sao đâu! Không sao đâu!”

Sau khi kho thuốc của tiểu đoàn bị pháo binh địch bắn cháy thì không còn chai thuốc đỏ, thuốc mê, thuốc tê nào nữa. Nhiều thương binh Pleime ngày đó đã trải qua những ca mổ bụng, ghép xương mà không được chích tê, mê.

Nhờ những lời an ủi dịu dàng và nụ cười của chú Chiến mà các thương binh đã quên đau.

Dưới mắt tôi, Hạ sĩ 1 Chiến là người thầy thuốc lành nghề, siêng năng, tận tâm và can đảm nhứt mà tôi đã thấy trong suốt cuộc đời mười năm trận mạc.

Pleime 1974 là chiến công lớn nhất trong năm của Vùng 2 Chiến Thuật, nên có vài ông sĩ quan văn phòng của Quân Ðoàn II cũng được lên lon “ăn ké”.

Không biết bằng cách nào mà mấy vị sĩ quan này có thể chen vai, luồn lách vào danh sách đề nghị thăng thưởng do Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 thiết lập.

Một anh sĩ quan Khóa 20 Thủ-Ðức, từ ngày ra trường đã liên tục tá túc ở Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II, kỳ này cũng “ké” được cái lon thiếu tá.

Anh ta là một trong vài sĩ quan siêng năng, vất vả nhất của quân đoàn. Cuối tuần nào anh ta cũng phải đi làm thêm giờ ở nhà ông đại tá, sau này là Chuẩn tướng Lê Trung Tường. Anh sĩ quan này là chuyên viên chia Bài Tứ Sắc và Bài Xẹp cho bà Tường!

Thậm chí huy chương tưởng thưởng chiến công Pleime 1974 còn bay tới tận Qui-Nhơn, tới tay những vị có công ký giấy chấp thuận những đơn xin cấp phát lương khô, gạo, đạn, cho các chiến sĩ trú phòng Pleime.

Vì ông Tài đã thuyên chuyển, nên tiểu đoàn chỉ tổ chức lễ “rửa lon” cho hai ông Phước và Chủ, bữa tiệc này cũng là bữa tiệc tiễn đưa Ðại úy Trần Dân Chủ thuyên chuyển lên liên đoàn đảm nhận chức vụ Trưởng Ban 3 liên đoàn thay chân cho ông đại úy cựu trưởng ban mới được lên lon và xin thuyên chuyển về Nam.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã đi Dục-Mỹ tái bổ sung và huấn luyện, thay chân bằng Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân đóng quân ở Bù Binh, trong vùng Nam quận Kiến-Ðức.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân là Ðại úy Ðặng Xuân Tòng. Ông Tòng là một đồ đệ của Ðại tá Phạm Duy Tất.

Ðại úy Tòng còn có biệt danh là “Tòng Xì Ke” vì có một thời gian ông ta vướng víu vào con đường chích choác và hút xách.

Thời điểm này, quân của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân được phân phối trên ba vị trí:

(1) Ðại Ðội 24 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân do Ðại úy Nguyễn Văn Song chỉ huy, trú đóng ở Xã Nghi-Xuân, vùng Bắc Gia-Nghĩa.

(2) Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cùng một nửa Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân do Trung tá Hoàng Kim Thanh, Trung tá Trịnh Thanh Xuân, và Thiếu tá Trần Ðình Ðàng chỉ huy, trú quân trong khu rừng tre, nằm trên Tỉnh Lộ 344 cách Gia-Nghĩa 4 cây số về hướng Tây, và cách Kiến-Ðức 25 cây số.

(3) Phần còn lại của liên đoàn do Thiếu tá Vương Mộng Long chỉ huy kéo dài từ đồi Bù Row hướng Bắc, tới ranh giới Phước-Long hướng Nam, với các đơn vị tham chiến là Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân và một nửa Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân.

Nửa Tiểu Ðoàn 63 tăng phái thì có công điện xác nhận, nên tôi cho một đại đội đóng chốt ngay Ngã Ba Mả Thượng và kiểm soát cái cống nước hướng Bắc phi trường Nhơn-Cơ, trên Tỉnh Lộ 344. Ðại đội thứ nhì nằm tại làng Bu M’Bré bên suối Dak Blao.

Riêng Tiểu Ðoàn 89 thì tôi chỉ có nhiệm vụ “để mắt xem nó có cần gì thì giúp nó!” như khẩu lệnh của ông liên đoàn trưởng.

Vì không có lệnh xác nhận bằng công văn, công điện, nên tôi cũng không thèm mua việc.

Từ ấy, mỗi ngày đơn vị này chỉ có hai lần liên lạc với Tiểu Ðoàn 82, năm giờ tối là một công điện báo cáo các điểm đóng quân đêm, năm giờ sáng là đoản văn “Tình hình trong đêm vô sự!”

Tôi nghĩ rằng, dù gì thì sự có mặt của Tiểu Ðoàn 89 cũng là một điều tốt, cứ coi như hướng Nam của tôi có một cái tiền đồn cấp tiểu đoàn. Nếu địch có đánh cái tiền đồn này thì cũng cả giờ sau chúng mới có thể tiến tới chân đồi Kiến-Ðức.

Thực ra, với khả năng của tôi, công việc chỉ huy hai hay ba tiểu đoàn đâu có gì là khó? Tôi đã từng nhiều lần chỉ huy những cánh quân liên binh với quân số trên hai tiểu đoàn rồi.

Nhưng hiện nay, tôi không phải liên đoàn trưởng, mà cũng không phải liên đoàn phó, tự dưng khoác lên cổ cái trách nhiệm bá vơ, bá láp này làm gì cho khổ thân!

Ðường Liên Tỉnh Lộ 8B đã được khai thông, Quảng-Ðức không còn lo thiếu lương thực.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted 30 Aug 2021

Post by Sơn râu 14 Aug 2023

Kỳ 7

Quần đảo Stockholm có cả chục ngàn hòn đảo, tàu bè từ ngoài khơi vô ra Stockholm phải lòn lách qua những hòn đảo lớn nhỏ. Nhứt là những ngày mùa xuân và mùa hè, khí trời mát mẻ giống như những ngày gió chướng của vùng biển trời vịnh Rạch Giá hướng ra hòn Tre, Sơn Rái, Cổ Tron và quần đảo Phú Quốc của quê hương. Trời trong vắt, quang cảnh hấp dẫn làm tôi say mê đứng ngắm tới khi bình minh ửng sáng phía chơn trời thì nghe tiếng của máy cuốn dây, đoán biết thủy thủ đã chuẩn bị dây chạc cho tàu ghé bến. Bấm điện thoại xem đồng hồ thì đã gần năm giờ sáng. Tôi xuống phòng bếp pha một

bình cà phê và rót một tách bưng lên phòng riêng, hớp một miếng cà phê đắng cho tỉnh táo tinh thần, để tách lên bàn và đi tới vẹt màn cửa sổ cho ánh sáng bên ngoài tràn vô rồi day qua tắt đèn phòng.

Cũng như thường ngày, tôi ngồi vào bàn và mở laptop, lướt mạng tìm đọc những thông báo mới và có bài nào cần lưu, tải xuống laptop dành khi ra khơi rảnh rang mở ra đọc. Đương rà chuột chợt hiện ra thông báo cái email của ông anh ở Việt Nam, hơi thắc mắc vì anh của tôi hổng biết xài điện thoại thông minh, hồi nào tới giờ hễ mỗi lần muốn gọi ảnh phải nhờ con, cháu bấm máy dùm, chỉ biết nói chuyện chớ không biết nhắn tin hay viết mail, hổng biết có chuyện gì không, định mở mail ra đọc thì có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Tôi đứng lên đi lại hé cửa thấy Brandon, phụ máy, người Hoà Lan đứng ngoài cửa, tay bưng tách cà phê, tươi cười hỏi:

– Ngồi chơi chút được không?

– Dĩ nhiên.

Mở rộng cánh cửa cho Brandon bước vô và chỉ chiếc ghế bên góc bàn mời nó ngồi. Brandon ngồi xuống và nói:

– Tàu tới Hamburg tui với ông và thuyền phó được về.

– Vậy là thuyền phó bay về Nga, còn tao với mày đi chung chuyến xe lửa về Hoà Lan.

– Trên tàu tui và ông là người Hoà Lan, mình về rồi còn lại người Nga với In Đô.

– Estonian nữa.

Brandon rụt vai một cái nói:

– Estonian và người Nga cũng như nhau.

Brandon cười và tôi cũng cười. Đã từ lâu rồi tôi để ý thấy chỉ có những lúc người Hoà Lan lẻ loi như vầy mới thân thiện cho tôi là người Hoà Lan, bình thường thì họ nói tôi người quốc tịch Hoà Lan. Riêng tôi thì chưa bao giờ nghĩ mình là người Hoà Lan. Cò là cò, quạ là quạ! Từ ngày bỏ nước ra đi tôi an tâm và vui vẻ sống và không mặc cảm với cái triết lý cò trắng, quạ đen này. Tôi cười và nói:

– Nhờ người ngoại quốc xuống làm nên các hãng tàu ở Hoà Lan trụ được cho tới ngày nay.

Nó hớp cà phê rồi chu cái miệng và gật gật cái đầu:

– Ờ, ông nói đúng, trên tàu bây giờ người ngoại quốc nhiều hơn người Hoà Lan.

– Tao nghĩ tương lai sẽ còn nhiều hơn nữa.

Nó đưa tay ra lắc lắc:

– Ờ ờ…

Tính tình Brandon trông bề ngoài vui vẻ, sống hoà đồng với mọi người, nhưng trong lòng còn có chút cao ngạo là công dân của một quốc gia văn minh giàu có. Cũng như những người Hoà Lan khác nó khó chịu khi làm việc dưới quyền những người ở nước khác tới đây làm việc. Tôi nói với nó:

– Rồi đây người da đen, da trắng, da vàng, da đỏ, da nâu gì rồi cũng sẽ chung chạ với nhau, cho nên sự đố kỵ càng lúc càng nhiều, theo tao nghĩ thì nên tập hoà đồng với mọi người để khỏi sanh phiền phức.

Nó chỉ tay lên đầu và nói:

– Tui biết.

– Thiệt ra thì hổng phải chỉ có trên tàu mới có nhiều người nước ngoài tới Hoà Lan làm, trong các hãng xưởng ở Hoà Lan công nhân người Ba Lan đầy nhóc. Ở nơi tao ở cuối tuần ra chợ hoặc buổi chiều khi tan việc vô siêu thị sẽ thấy lúc nhúc người Ba Lan, những thông báo ở nơi đông người cũng ghi tiếng Ba Lan. Mày nghĩ coi nếu hổng có những người này sang Hoà Lan làm việc thì những công việc lặt vặt, tay chưn, dơ dáy ai làm cho và những hãng xưởng ở Hoà Lan sẽ ra sao?

– Ông nói cũng đúng, nhưng người ngoại quốc tới Hoà Lan càng nhiều thì tội ác sanh ra cũng nhiều.

Có lẽ từ khi có loài người tới nay, con người tốt và con người xấu luôn có mặt trên trái đất này: phân biệt, kỳ thị, đố kỵ, chiến tranh, khủng bố khắp mọi nơi. Nhân loại vừa chấm dứt cuộc chiến này thì họ liền bày ra cuộc chiến khác. Lại thêm sức mạnh chia cách của dịch bệnh, truyền nhiễm cũng làm cho con người càng ngày càng xa lánh nhau. Trong những năm sau này những thủy thủ Nga, Ukrainia bị người Hoà Lan kỳ thị, tuy thái độ hổng còn gay gắt như lúc đầu, nhưng vẫn ngấm ngầm nói xấu sau lưng và có dịp cũng miệt thị nhau như thường. Tôi phải một phen giải thích cho Brandon nghe:

– Có người tốt thì cũng có người xấu. Mày không nên chỉ vì vài người mà quơ đũa cả nắm. Phần đông những người nhập cư tới nước Hoà Lan học hành chăm chỉ, làm việc siêng năng và đóng thuế đàng hoàng. Đúng ra người Hoà Lan nên biết ơn những người nước ngoài tới nước Hoà Lan làm việc.

Nó cười nói:

– Cũng như uncle Tấn vậy.  

– Dĩ nhiên, mày biết không, tao hải hải hành đã hơn bốn mươi năm, trong khoảng thời gian đó tới nay, cuộc sống của thủy thủ thay đổi rất nhiều, hồi trước kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu hơn bây giờ, vậy mà con người ta chung đụng, gần gũi rất dễ dàng và sống với nhau vui vẻ lắm. Các bến cảng Châu Âu tự do đi lại, nhứt là trong vùng Scandinavia này, mỗi khi tàu ghé bến, những người trên bờ xuống trao đổi bán buông rượu, thuốc lá và con gái, đàn bà xuống tàu ở lại chơi qua đêm với thủy thủ cho tới khi tàu rời bến. Từ khi khủng bố hoành hành khắp nơi thì những cửa rào bến cảng đóng lại, vô ra có nhân viên bảo vệ canh chừng, hổng còn tự do như trước nữa. Tuy nhiên thủy thủ vẫn còn lên những quán bar hoặc vô hội quán gặp gỡ người này người kia, khi cần đàn bà thì dẫn xuống tàu cũng được. Tới khi HIV xuất hiện thì đàn ông, đàn bà, con trai, con gái gặp nhau tránh né hổng dám liên hệ nhau nữa, chỉ còn những khu ăn chơi dành cho ông bà nào có nhu cầu cần thì mới đến đó chơi.

Brandon cười nói:

– Có nghe Ama nói, ông thường dẫn thủy thủ In Đô lên Reeperbahn chơi.

– Tụi In Đô đi cả năm trên tàu, mà tuyến đường này chỉ còn có khu Reeperbahn ở Hamburg để cho tụi nó xả hơi, nhưng bây giờ vì corona cũng đóng cửa hết rồi, hổng biết bao giờ mới mở lại, cái mửng này kéo dài thì tương lai đám thủy thủ trẻ như tụi mày treo cu hết.

Brandon cười ha hả rồi nói:

– Thì thủ dâm.

– Dĩ nhiên rồi.

Tôi bưng tách cà phê hớp một cái, nhưng tách cà phê cạn hồi nào hổng hay, nhìn qua thấy tách của Brandon cũng hết. Tôi hỏi nó:

– Mày uống cà phê nữa không?

– Để tui xuống lấy.

Nó nhanh nhẩu đứng lên bưng hai cái tách đi ra ngoài. Tôi nhìn ra khung cửa sổ, bây giờ ánh sáng nhiều hơn hồi nãy, phía sau lái có vài chiếc containers chạy nối đuôi, trong ánh sáng hiền hoà và mặt nước êm ả, chưn vịt tàu đạp nước lên bọt trắng kéo ra một đường dài. Giữa khoảng cách của hải đảo, nhiều cánh buồm nho nhỏ màu trắng in trên mặt nước xanh và trên tầng không những đám mây trắng hạ thấp nằm yên dưới nền trời xanh ngắt, chỉ trong một khung cửa kiếng nhỏ mà hiện ra một góc trời trong veo và sạch sẽ giống như tấm hình nghệ thuật của một nhà nhiếp ảnh tài hoa. Tôi day lại mở email xem ông anh ở bên nhà có chuyện gì? Nhưng đường truyền internet yếu quá, chấm đen giữa màn hình nó quay vòng vòng tới khi Brandon bưng cà phê lên mà vẫn chưa mở mail được. Tắt máy, day lại nói với Brandon:

– Đường truyền internet yếu quá.

Nó móc điện thoại ra bấm xem:

– Ờ, cúp rồi, chắc tại tàu qua ngang mấy hải đảo, lát nữa sẽ có lại.

Tôi ngồi vào chiếc băng trong góc. Brandon hỏi tôi:

– Trưa nay ông có lên bờ không? 

Tôi nói:

– Tao thích lắm, mỗi lần tới Stockholm là tao, thích lang thang trên phố, lần nào tao cũng thấy có cái mới mẻ, nhưng corona đang hoành hành, hổng biết đi có được không.

– Tui chưa tới đây lần nào, nhưng tui đọc báo biết được vùng nước nơi đây có một thời bị ô nhiễm.

– Ờ tao cũng có nghe, nhưng đã khắc phục được lâu rồi. Bây giờ sạch sẽ, nước xanh, trời xanh, đồi núi với cây xanh và ở khắp mọi nơi khí trời mát mẻ, có lẽ nhờ vậy mà thủ đô Stockholm đã được trao danh hiệu là Thủ Đô Xanh đầu tiên vào năm hai ngàn không trăm mười hai. Chợt đồng hồ reo, tôi bấm tắt và nói:

– Ồ, sáu giờ rồi.

– Tới giờ ông làm rồi.

Thật ra sáu giờ rưỡi tôi mớt bắt đầu làm việc, nhưng Brandon bưng tách cà phê đứng lên, nói:

– Nếu được trưa nay tui với ông lên bờ chơi.

– Dĩ nhiên.

Brandon bưng tách cà phê day lưng mở cửa bước ra ngoài, tôi bưng tách cà phê lên ngước cổ nốc cạn phần còn lại và cầm cái tách định đi xuống để trong phòng bếp rồi ra boong múa men tay, chưn một hồi cho giãn gân cốt. Nhưng vừa tới phòng bếp thì thấy Nando tay cầm mấy gói mì đứng sớ rớ. Thấy tôi nó nói:

– Chào buổi sáng Mr. Tấn.

Từ ngày Ama giới thiệu Nando và dạy nó kêu tôi bằng ông tới nay nó vẫn gọi tôi là ông Tấn, có kêu nó sửa lại gọi bằng chú cũng như mấy đứa khác nhưng nó hổng chịu. Tôi chào lại và hỏi:

– Hôm nay mấy đứa muốn ăn mì gói hả?

– Dạ.

– Ok, con để mì đó đi, còn sớm mà.

– Dạ, nhưng tàu sắp ghé, tụi con ăn xong còn phải ra boong, ông lấy nồi đưa con, con tự nấu cũng được.

Tôi bật lửa lò lấy nồi đổ nước vô rồi bắt lên bếp và day ngang pha thêm cà phê. Nando hỏi:

– Con giúp ông gì không?

– Con chờ nước sôi nấu mì cho anh em ăn đi.

Tôi mở tủ lạnh lấy ra gói xúc xích, thấy hết trứng tôi xuống kho lấy thêm trứng lên đưa trứng và xúc xích cho Nando kêu nó rửa trứng rồi bỏ vô nồi luộc. Nó mở gói xúc xích bỏ vô nồi, còn trứng để lại day qua tôi nó nói:

– Một lát nước sôi con đập trứng bỏ vô nấu chung với mì.

– Ok, con thích sao thì làm vậy.

Tôi giao bếp cho nó rồi đi lên phòng tắm, rửa mặt, đánh răng và thay đồ làm việc, thường thì những lúc như vầy tôi bỏ tập thể dục. Tôi trở xuống phòng ăn dọn bàn cho thủy thủ. Cùng lúc Edy từ ngoài bước vô chào tôi một cái, nó đi xuống phòng thay đồ, một lát sau trở lên thấy tôi lui cui trải khăn bàn, nó nói:

– Chú để con dọn bàn.

Edy vô bếp lấy muỗng, nĩa, tô và tương ớt ra sắp mọi thứ lên bàn. Philip và Makhmud cũng vô phòng ăn ngồi, thấy Philip còn bận đồ bảo hộ, Edy kêu nó xuống phòng thay đồ rồi mới được vô ăn. Philip nhìn qua như muốn xem thái độ của tôi. Tôi chỉ lên tấm bảng thông báo không được bận đồ làm việc vô phòng ăn, nói:

– Đó là quy tắc.

Nghe tôi nói vậy thằng nhỏ nhìn lên đọc tấm bảng rồi mới chịu xuống phòng thay đồ. Hồi mới vô nghề tôi cũng rất quy tắc, nghĩa là trên tàu ăn uống phải giống nhau nên dọn bàn cho In Đô cũng giống như của người Hoà Lan. Nhưng người In Đô ăn bánh mì mau đói hoặc ăn hổng vô, người thì ăn bỏ mứa, người sáng ăn xong tới giờ cà phê xin ăn nữa. Sống chung nhau lâu dần mới phát hiện ra, cái văn hoá ăn sáng In Đô buổi sáng cơm nguội, cá hộp, cơm chiên hoặc mì gói và cái trứng là đủ, nên phòng ăn của thủy thủ hổng dọn bánh mì thịt nguội ra bàn nữa. Tôi trở vô bếp thì Nando nấu mì cũng đã xong, nó để nguyên mì trong cái nồi bưng lên và nói với tôi:

– Tụi con ăn. 

– Ok. Ăn ngon.

Nando bưng nồi mì ra bàn chia cho mấy đứa. Tôi đi qua dọn bàn của Officers. Thường thì tàu ghé sớm như vầy đám officers bận rộn nên ăn sáng cũng trễ. Trước kia trên tàu của Hoà Lan có tục lệ, cử hổng được ăn bắp cải đỏ vào ngày thứ hai, ngày thứ bảy ăn súp đậu xanh hoặc đậu nâu, nói chung là ăn đậu nâu, đậu trắng gì cũng được, nhưng súp đậu thì phải kèm với pannenkoek. Chủ nhựt thì ăn gà đút lò hoặc bít tết, nhưng mấy năm nay công ty hổng cho ăn thịt bò thăn nữa mà toàn là thịt bò loại rẻ tiền dai như nhách như da giày, phải hầm hơn ba tiếng đồng hồ mới ăn được. Tôi dọn bàn xong định xuống kho lấy gà lên ướp. Vừa tới đầu cầu thang thì gặp thuyền phó từ trên đi xuống nó chào buổi sáng rồi ló đầu vô phòng ăn của thủy thủ, hô:

– Trước và sau!

Tội nghiệp mấy đứa, chưa kịp ăn liền bỏ muỗng nĩa lật đật đứng lên. Edy hấp tấp, nói với tôi:

– Chú để đó, tàu ghé xong tụi con vô ăn.

Tôi khoát tay nói:

– Tụi con đi đi.

Bốn đứa đi nhanh xuống phòng bận bộ đồ bảo hộ, đội nón an toàn rồi cùng thuyền phó đi nhanh ra boong. Tôi ngó vô phòng ăn, thấy mấy tô mì còn nguyên, có đứa còn chưa rớ được cọng nào hết, sợ để lâu mì bị nở, tôi bèn vô bưng mấy dĩa  mì chắt nước dùng trở vô nồi rồi lấy giấy kiếng bịt dĩa mì và lấy nắp đậy nồi nước dùng lại để một lát tụi nó vô chan nước dùng và để vô lò vi sóng cho nóng rồi ăn. Xong xuống kho lấy gà lên làm sạch và ướp. Hôm nay làm món gà đút lò ăn với sà lách trộn sốt mayonaise và khoai tây chiên dòn, mấy món đơn giản hổng tốn nhiều công, vừa chặt gà rửa sạch và ướp gia vị chưa đầy một giờ đã xong. Rửa tay định nghỉ ngơi một chút thì Antoli vô hỏi cà phê. Tôi lấy cà phê đưa cho nó, nó bưng tách cà phê đi xuống phòng máy. Tôi lên phòng ngồi mở laptop, máy chạy lên chưa hết chương trình thì có tiếng điện thoại reo. Thằng Bradon gọi tôi hỏi có trứng luộc không. Tôi nói không và hỏi nó:

– Mày muốn ăn trứng luộc hả?

– Oh, tui hỏi nếu hổng có thì thôi.

– Chờ tao chút xíu.

Tôi gác máy rồi đi xuống, thấy Brandon đứng trong phòng ăn.

Tôi nói:

– Lò còn nóng, trứng luộc thì chờ hơi lâu, mày ăn trứng chiên không tao chiên cho?

– Ok, bếp cho một cái omelet.  

Chiên omelet cho Brandon xong thì tàu cũng yên vị bên kè đá và máy tàu đã tắt. Makhmud và Philip đi vô, Makhmud nói:

– Con với Philip ăn trước rồi ra thay cho Nando và Edy vô ăn.  

– Ok, xuống thay đồ đi rồi lên ăn.

Tôi vô phòng chan nước dùng vô tô mì của hai đứa rồi đúc vô lò vi sóng. Thuyền phó đi vô tay cầm mấy cái khẩu trang loại dành cho thủy thủ mang khi đục xét, sơn tàu để lên bàn rồi đưa cho tôi một cái và nói:

– Một lát mấy người trên bờ xuống bếp đeo cái này vô, lúc đó Makhmud và Philip vừa lên, thuyền phó day ngang chỉ tay vô mấy cái khẩu trang và dặn hai đứa:

– Nhớ mang khẩu trang khi ra ngoài boong.

Hai đứa hô:

– Yes sir!

Thuyền phó day lại tôi:

– Bếp chiên cho tôi hai cái sunny side up nhé.

Tôi chiên trứng đem ra cho thuyền phó, vừa trở vô bếp thì nhân viên trên bến cũng vừa kéo xuống, thuyền phó ăn chưa xong, chưa chùi miệng liền đứng lên đeo khẩu trang đi qua phòng làm việc. Thấy người nào cũng đeo khẩu trang nên tôi cũng lấy khẩu trang đeo vô. Thuyền trưởng cũng vừa đi xuống, ông ngó vô phòng làm việc rồi nhìn qua tôi cười nói:

– Nhiều corona quá.

Tôi nói:

– Nhiều sao bằng bên nước Nga.

Ông nhìn thấy tôi đeo khẩu trang, ông cũng móc túi lấy ra cái khẩu trang y tế đeo vô. Tôi hỏi:

– Sao ông có khẩu trang y tế?

– Tui có mua một hộp, lát nữa tui cho ông mấy cái.

Lúc đó Edy mở cửa bước vô báo có cảnh sát xuống. Thuyền trưởng nói với Edy kêu nhân viên cảnh sát đi lên phòng làm việc của ông bằng đường cầu thang bên ngoài. Ông day qua nói với tôi:

– Tui hổng ăn sáng.

Dặn xong ông day lưng đi lên phòng làm việc. Philip và Makhmud ăn xong đem tô dĩa đưa cho tôi rồi xuống phòng thay đồ rồi lên lấy khẩu trang đeo và đi ra boong. Thuyền phó làm việc với nhân viên nhận hàng xong, trở ra phòng ăn ngồi ăn tiếp. Tôi qua phòng ăn hâm mì lại cho Nando và Edy xong để ra bàn hai đứa cũng vừa đi vô. Thuyền phó cũng đã ăn xong đem dĩa vô đưa cho tôi. Tôi nói:

– Vậy là khỏe rồi phải không?

Nó gằn giọng:

– Khoẻ gì mà khoẻ, hai cần trục làm việc, trưa nay xong phải quay về Hamburg.

Tôi cười:

– Ờ, cũng tốt mà.

– Tốt sao?

– Thì tao với mày được về sớm.

– Ờ ờ…

Nếu tàu hải hành thì buổi sáng trên tàu ai cũng ăn uống đúng giờ, đầu bếp có thời gian rảnh rổi ngồi đọc sách hay ghi chép gì đó. Nhưng tàu ghé bến giờ này thủy thủ boong phải tháo rở móc của hàng hoá, nhân viên và cảnh sát trên bến xuống làm việc với đám officers, ăn uống hổng giờ giấc gì hết. Đầu bếp lay hoay cho tới khi xong buổi ăn sáng thì đã qua chín giờ rồi, mất toi giờ nghỉ giải lao. Tôi day qua sắp gà vô vỉ rồi đút vô lò nướng và lấy rau cải ra xắt trộn sà lách, hôm nay không có thời giờ hầm xương nấu súp, tôi pha súp bột nấu cho bữa ăn trưa.

Công việc lu bu nên đầu bếp dọn dẹp xong trời đã xế chiều và tàu cũng đã khởi hành. Trong lúc dọn dẹp nhìn thấy rổ khoai tây hồi trưa vì bận rộn nên chiên bị quá lửa, tôi để riêng một rổ, hổng dọn ra bàn, định trút vô thùng rác nhưng thấy tàu ra biển rồi, tôi mới đem ra sau lái đổ xuống biển cho cá ăn, nhưng khi đổ mớ khoai chiên xuống nước nó nổi lềnh bềnh, tức thì cả bầy chim nhàn lao xuống xớt một lát hết sạch. Trước tới giờ, mặc dù tôi thường cho chim nhàn ăn bánh mì, nhưng tôi vẫn nghĩ loài chim biển này chủ yếu ăn cá và các sinh vật khác của biển. Hôm nay mới nhận ra những con nhàn là loài chim ăn tạp. Dọn dẹp xong tôi vô tắm rửa thay thay đồ lên giường nằm lim dim được một chút, chợt nhớ tới email của ông anh, thường thì những chuyện đặc biệt như vầy chắc bên nhà có chuyện gì đó. Tôi ngồi dậy vói tay qua bàn lấy điện thoại, nằm xuống định bấm mở email, nhưng tàu ra khơi hết sóng rồi, phải chờ thôi. Tiện tay bấm mở nhạc nghe rồi đánh một giấc.

Gần đây tôi hay thức sớm nhưng cảm thấy rất là tỉnh táo, nhưng mấy hôm nay có lẽ vì cái email của ông anh làm trong người bần thần, hổng ray rức mất ngủ như trước kia nữa, nhưng lòng có chút bất an. Điều tôi muốn biết trước tiên là con tàu hải hành tới ven biển hay gần một hải đảo nào? Bấm điện thoại lên thấy chưa tới năm giờ, tín hiệu báo emergency calls only, nghĩa là chỉ gọi khẩn cấp, thấy vậy thôi chớ hồi nào tới giờ tôi chưa biết gọi khẩn như thế nào, nhưng tôi biết tàu đã gần bờ và không bao lâu nữa sẽ có sóng. Tôi ngồi dậy đi xuống bếp pha một tách cà phê rồi ra sau boong đứng nhìn biển. Trong những ngày cuối mùa xuân, ban sáng vùng biển trời Baltic rất nhiều màu sắc, như màu xanh của nước, màu bạc của sương. Hơn năm giờ sáng mặt trời mọc lên trông nhàn nhạt, liền theo đó ánh sáng chói chang làm màn sương tan hết và chân trời trở nên màu đỏ. Những đám mây đen đen màu tro như nét cọ của một hoạ sĩ quét lên nền trời và những mảng ánh sáng chiếu xuống nước long lanh kim tuyến khắp vùng nước phương đông.

Điện thoại báo có tín hiệu, tôi móc túi lấy điện thoại ra xem, thấy đường truyền Đan Mạch, tôi bưng tách cà phê vô phòng, để tách lên bàn, đeo kiếng đọc, bấm mở laptop và mở email ra, hơi ngạc nhiên, hổng phải mail của ông anh mà là của một người tự xưng là em gái năm xưa, nỗi bồn chồn lo cho ông anh đã biến mất, đọc tiếp email, cô ta hỏi thăm sức khoẻ, và hỏi tôi còn nhớ Nga không? Đại khái Nga viết chồng cô đã chết hơn ba năm, con cái thì đã có chồng có vợ hết rồi, hiện sống trong vuông làm nghề nuôi tôm. Cuối cùng là số điện thoại và lời nhắn khi nào tôi rảnh điện về nói chuyện chơi cho đỡ buồn. Trong phần đính kèm có kèm theo một tấm hình, tôi bấm mở hình ra xem, một người đàn bà có gương mặt nám đen trông khắc khổ và dạn dài sương gió. Trong xóm ngày xưa tôi quen tới ba cô Nga, hai Nga làm nghề vá lưới và một Nga bán quán, cô nào cũng đẹp “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” và cô nào cũng xưng là em gái, chớ hổng chịu làm người yêu. Nhìn tấm hình thiệt kĩ nhưng vẫn hổng nhớ ra Nga nào của ngày xưa mà chỉ thấy một bà già đứng trước ngôi nhà tường màu xanh củ kĩ, chung quanh cây cối um tùm, trông quạnh quẻ và cô đơn. Có một điều tôi khám phá nội tâm mình, tính ra Nga nhỏ hơn tôi một hai tuổi gì đó, hồi đó tôi thấy mấy cô, cô nào cũng đẹp như Hằng Nga, thèm chảy nước miếng nhưng cua hoài mà hổng cô nào chịu hết, bây giờ tôi thấy một cô Nga ra một bà già và tự dưng trong lòng hổng còn chút ấn tượng gì hết ráo, mặc dù tuổi đời của tôi cũng không còn trẻ trung gì nữa.

Chợt nhiên buồn buồn và thấy chán chường mệt mõi, đứng dậy leo lên giường nằm hít thở nhưng đầu óc không tập trung mà cứ nghĩ ngợi lung tung. Đường đời thì dài vô tận mà đời người chỉ khoảng ngắn thời gian, hơn bốn mươi năm lang bạt kì hồ và đã gặp biết bao nhiêu khuôn mặt thoáng qua và không bao giờ gặp lại. Trước kia tâm thức tôi hay tìm về quá khứ và hay nhớ lại tất cả những bóng hình xưa cũ, như những ngày đầu mùa mưa trên cánh đồng mạ còn xanh non hay những sáng ngày mùa gió chướng ven biển ghe về với cá tôm đầy ắp. Nhớ nét mặt của những người thân thương, rồi hổng muốn chạy đua theo dòng thời gian nữa. Tôi đã quay về gặp được vài bạn bè xưa cũ và tìm gặp mối tình đầu, cuối cùng rồi cũng phải chia tay, chia tay trong sự trách hờn lòng dặn lòng là không gặp lại nữa.

Khi nghe điện thoại báo, mở máy xem thì thấy tàu đã qua hải phận nước Đức rồi, cùng lúc đồng hồ reo, để điện thoại lên giường, ngồi dậy bước ra boong, múa hết mười hai thức Dịch Cân Kinh nhưng sao trong lòng vẫn thấy bất an. Hơn sáu giờ mà trời sáng bưng, tôi đứng nhìn những chiếc tàu ngược xuôi cùng một tuyến đường, biết con tàu đã sắp sửa vô kinh Kiel. Bỗng dưng nhớ lại những câu trong bài thơ Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, ông chỉ mới đi  “Từ bên này sông Tiền (Mỹ Tho) – Qua bên kia sông Hậu  (Cần Thơ)” vậy mà nhà văn thấy như xa tận chơn trời góc biển, như đứt  từng đoạn ruột. Còn tôi xa quê nửa vòng trái đất, xa hết một đời người. “Thân không là lính thú, Sao chưa về cố hương? Chiều chiều nghe vượn hú, Hoa lá rụng buồn buồn…” Ở đây không vượn hú, hoa lá rụng cũng không nhưng sao lòng vẫn buồn buồn… Biết cõi đời như là quán trọ, là áng mây bay, những gì trong quá khứ thì cho nó qua đi, nhưng sao mỗi khi nhớ lại lòng vẫn thấy bất an và dạ vẫn thấy bồn chồn.

Vậy là Hải Hành Mùa Đại Dịch đã theo tàu qua hai tháng và mình đã chia sẻ cùng với các bạn đọc thân thương.

Xem ra còn lâu dịch mới chấm dứt, những sự đợi chờ và hy vọng cho dịch mau qua càng lúc càng xa.. Coi như ký sự bảy chương là phần một loạt ký sự Hải Hành Mùa Đại Dịch. Mình xin tạm dừng ở đây và hẹn gặp lại các bạn đọc trong những bài tiếp theo...

Vigo 29-6-2021

Bạn Úc thòi lòi!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Aug 2023

Ban Uc thoi loi 01Tranh Bảo Huân

Ban Uc thoi loi 02Ôi nhớ xưa! Khi miền Nam bất ngờ lọt vào tay CS Bắc Việt, bà con mình ai nấy cũng bỏ phiếu bằng chân; bằng cách vượt biên, vượt biển.

Đi bằng thuyền, làm thuyền nhân, là phải có vàng cây, vàng miếng đóng cho chủ tàu! Tui bộng, một chỉ vàng lận lưng cũng không có ; đành chọn cách đi bộ vậy!

Năm 1979, Lê Duẩn rượt đồng chí Pol Pot từ Nam Vang chạy tuốt ra tới tận Poipet, biên giới phía tây giáp với Thái Lan; vì đứa theo Nga cộng; đứa lại theo Tàu cộng!

Chờ chiến sự tạm lắng, tui lò mò qua Châu Đốc, tới Tịnh Biên để tìm cách vượt biên.

Hàng tuần, tui thồ hai cái bao nặng trĩu, đạp ì ạch qua biên giới, vào Takéo bên đất Campuchia.

Tên Công an của đồn biên phòng chận lại, tính kiếm chút cháo bào ngư, ra lịnh: “Xuống xe đạp ngay!” “Chở cái gì?”

“Lúa mà!” Không tin, tên CA nầy đổ tất cả từ bao cát ra xét. Quả nhiên toàn là lúa. Không phải hàng cấm, nên nó trả lại. Rồi tuần nầy, qua tuần khác đều xảy ra như thế. Tên CA nầy, sau rốt, bị về hưu non vì tội tham ô bất kể bao công lao nằm mùng chống Mỹ!

Một hôm đi nhậu trong một nhà hàng xịn ngoài thị trấn, hắn tình cờ gặp lại tui. Cầm ly rượu đến bàn, nó lè nhè hỏi: “Nè ông bạn! Hồi đang tại chức, tớ nghi cậu buôn lậu cái gì đó mà nghĩ hoài không ra? Cậu làm tớ mất ngủ nhiều đêm liền để suy nghĩ, nghĩ mãi vẫn không ra nên đầu bạc trắng như Ngũ Tử Tư hè!”

“Giờ tớ không còn chức quyền nữa; dám nào hỏi cậu hai câu. Một là: Cậu có buôn lậu không?” “Có chớ!” “Vậy cậu buôn lậu cái gì?” “Xe đạp!”

Nói cho cùng, tui cũng hơi khờ dại, rượu vô lời ra, tiết lộ cái bí mật nghề nghiệp nầy thì trước sau gì nó cũng điềm chỉ cho đồng bọn để bắt tui hè.

Nên lần cuối, tui cũng thồ hai bạo gạo; nhưng có  thêm cái nồi nấu cơm treo lủng lẳng trước cái ghi đông, tui dông luôn.

Sau nầy qua đây, một thằng bạn Úc hỏi: “Sao đành bỏ quê hương; sao đành bỏ ruộng vườn, bỏ người thương… bên kia trời lận đận?”

Thì tui kể cho nó nghe một câu chuyện ngụ ngôn như vầy: Một  người Úc và một người Việt từ địa ngục gọi điện thoại về trần thế để than phiền với thân nhân và bè bạn: “Cuộc sống dưới địa ngục nầy, ngày phải lao động là vinh quang, làm quần quật như ngựa, như trâu vẫn không đủ cái bỏ vào mồm. Đêm còn bị  bọn quỷ sứ đến xét hộ khẩu để đòi ăn hối lộ nên dẫu làm đến kiệt sức vẫn không nghỉ ngơi gì được hết ráo hè!”

Quỷ sứ tính tiền cú gọi cho ông Úc là 100 đô. Còn ông Việt chỉ tốn có 20 xu. Nên ông Úc phàn nàn tính tiền như vậy bất công quá!

Diêm Vương cười hè hè giải thích: “Công bằng lắm đó. Gọi về Úc là điện thoại quốc tế, viễn liên.

Gọi về nước Việt, đang chìm đắm trong chủ nghĩa CS độc tài, chỉ là một cú gọi địa phương!”

***

Nói nào ngay những ngày đầu người Việt đến đây tỵ nạn,  Úc nó thấy mấy em Việt Nam đẹp não nùng như Ngọc Trinh nên cứ thò lỏ hai con mắt ra mà dòm; thấy phát ghét.

Chính vì vậy người Việt Nam mình mới thân ái đặt cho Úc cái tên là Úc thòi lòi đó. (Thòi lòi là loài cá có hai con mắt to bằng hai cái tộ, thường hay đeo bập dừa dọc theo sông rạch quê mình!)

Đàn bà con gái Việt Nam là dành cho người Việt vậy mà ỷ là chủ nhà, nó tính ăn cơm hớt hay sao? “Sao tao ghét hai con mắt thòi lòi bự chảng của mầy quá!” “Thì bịt mắt chú mầy lại!”“Bịt bằng cái gì?” “Bằng sợi dây giày của tao đây nè!”

À! Thằng nầy hỗn! Nó dám chê tui mắt hí chớ! “IQ của mấy thằng ngu khoảng 40 mới biết cột dây giày. Hèn chi tao thấy mầy luôn mang dép. Thì dây giày mầy làm gì có?! Ha ha!”

Bị tui chê ngu; nó tìm cách chê lại, hỏi: “Làm thế nào chú mầy biết mấy đứa ăn trộm nầy là người Việt Nam?”

“Nhà khổ chủ lu gạo bị vét sạch không còn một hột. Chục chai nước mắm hiệu ba con cá cơm Phan Thiết cũng biến mất. Và máy thâu hình an ninh trước cửa nhà cho thấy: Bọn chúng loay hoay de xe ra khỏi lối đi; mất tới 3 tiếng đồng hồ mới được đó!”

Thành kiến và thiển cận, thằng Úc nầy nghĩ người Việt mình, ai cũng như ai, ai cũng hẩu xực thịt cầy hết ráo. (Tui đâu có thích ăn thịt người bạn tốt nhất của loài người là con chó đâu mà cũng bị vạ lây?!)

Nó đố: “Ê chú mầy! Ở Úc nầy đây, con chó vùng nào chạy nhanh nhứt?” Tui bí.

Nó cười hè hè trông rất đểu cáng rồi trả lời luôn là: “Springvale!”

(Springvale phía đông, cách thủ phủ Melbourne khoảng 30 km, nơi có rất nhiều người Việt, bà con mình sanh sống!)

Chẳng qua thằng Úc nầy đeo đuổi một em người Việt mình. Một hôm  nó thành thật ngợi khen em thơm mùi nước mắm lắm! Em cho rằng nó chửi xỏ nên cấm cửa, hăm: Còn lạng quạng đến nhà, em sẽ kêu lính bắt!

Nó đành ôm mối hận lòng mà cay cú, văng miểng tới tui.

***

Tuy nhiên người Úc cũng có đứa đàng hoàng dễ thương, chơi được chớ không phải ai cũng cà chớn như thằng nầy đâu!

Đất lạ quê người, hồi mới tới, tui cũng tính tiếp tục việc học vì thời cuộc phải dở dang để có cái bằng Tiến sĩ, ‘nổ’ cho thiên hạ giựt mình chơi!

Nhưng trộm nghĩ còn vợ và hai thằng ‘cu’ đang kẹt lại ở quê nhà, nhai bo bo đến sái cổ; mình lại tìm kiếm công danh hão! Cứ hai tuần lần gạch vào cái đơn xin trợ cấp đi học của chính phủ Úc thì làm sao mà đủ?

Nên tui nộp đơn xin việc. Quản lý công ty lại là một cựu quân nhân Úc đã từng tham chiến tại Việt Nam.

Nó xem cái CV trong hồ sơ xin việc thấy tui cũng đã từng ăn cơm chảo đụn, cá mối  nhà bàn của lính nên nó nhìn là đồng minh nên nhận tui vào làm ‘cu li’ cái rụp!

Chiều, nó còn mời tui đi nhậu để nhắc nhở thời chinh chiến cũ. Nó bảo:  “Bồ hên lắm đó nhe! Chớ tui xuất ngũ về, rầu lắm; vì phong trào phản chiến ở Úc nầy nó theo đuôi bọn Mỹ, dè bỉu tụi mình!

Lúc mình đi lính chống CS; tụi nó phè phè ở nhà  chỉ biết ăn với học nên giờ nó làm ‘boss’ của tụi mình. Thiệt là đời quá bất công!”

Tui trúng tuyển quân dịch, qua cuộc rút thăm, chánh phủ Úc gởi qua Miền Nam Việt Nam để chiến đấu chống lại bọn CS Bắc Việt xâm lược.

Bị thương tật, cấp độ tàn phế tới 50% nhưng vốn là một con người tử tế, dù phụ cấp Cựu Chiến binh cũng đủ sống nhưng ngồi nhà nhậu hoài sanh hư đốn nên tui nộp đơn xin việc.

Thằng boss của công ty hỏi: “Ở Việt Nam, ông có hành quân không?” “Sao không? Tui là lính đặc nhiệm, SASR, của Úc mà! Được hai năm, tui bị thương mới giải ngũ về đây đó chớ!”

“Nếu ông không phiền, cho tôi hỏi: Ông bị thương như thế nào? Ở đâu?”

“Thì ở Việt Nam chớ ở đâu.”

“Ý tôi muốn hỏi là ở đâu trên thân thể của mình đó mà!” “À! Tui đi tuần tra, tảo thanh VC, đạp nhầm trái lựu đạn gài, nổ làm bay mất hai cái ‘dế’ của tui”.

“OK! Đơn xin việc của ông đã thành công! ‘Congratulation’!

Mai, vô nhận việc lúc 10 giờ sáng nhe!” “Nè nè! Là thương binh, là một người lính dũng cảm; tui không muốn vin vào thương tật để nhận đặc ân của ai hết!” Mấy thằng Úc khác 7 giờ sáng đã đi làm! Sao tui lại tới 10 giờ?”

“Đâu có đặc ân gì đâu! Làm ‘cu li’ thì ai cũng như ai. Nhưng mấy thằng Úc khác đến đây lúc 7 giờ sáng, ngồi gãi ‘dế’ để suy nghĩ bữa nay sẽ làm cái gì trước, tới 10 giờ mới bắt tay vào việc!

Thế nên ông đâu cần tới sớm cả 3 tiếng để làm gì? Tới lúc 10 giờ là phải rồi!”

***

Từ độ ấy, tui làm thân với thằng ‘boss’ của tui. Vì công việc tốt không bằng có thằng ‘boss’ tốt! Cuối tuần nghỉ làm là hai đứa bò ra Footscray để uống beer. Chuyện riêng tư của Úc nó giữ riêng cho mình trong nhựt ký. Sống để bụng chết mang theo. Nhưng với tui là chiến hữu đồng minh; nên buồn trong kỷ niệm, nó đều dốc bầu tâm sự hết ra để tìm sự cảm thông.

Một lần nhậu, mỗi đứa cạn hết gần chục lon, nó rơm rớm kể lại mối tình năm cũ.

Trước khi qua căn cứ Núi Đất, tỉnh Phước Tuy, nó cũng có người yêu bỏ lại Footscray nầy. Sợ em bỏ nó, theo thằng khác. Nó bèn làm thơ gởi về em: “Em ơi đợi anh về/ Đợi anh hoài em nhé/ Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có buồn lê thê/ Em ơi em cứ đợi…Lòng ai dù tái tê/ Chẳng mong chi ngày về

Thì em ơi cứ đợi!/ Đợi anh hoài em nghe/ Tin rằng anh sắp về!

Trông chết cười ngạo nghễ/ Tan giặc bước đường quê/ Anh của em lại về”

Rồi một hôm nó nhận được một lượt hai bức thơ từ hậu phương gởi ra tiền tuyến. Một của em yêu. Bức thứ hai của bà nội nó. Cả hai đều kêu hãy gởi hình về để xem dung nhan đó bây giờ ra sao?

Tuy nhiên, nó chỉ có một tấm hình chụp trần truồng trên Bãi Sau ở Vũng Tàu.

Nó bèn cắt tấm hình đó ra làm hai. Phần trên gởi về em yêu dấu. Phần dưới gởi về cho bà Nội dấu yêu vui; vì tuổi già mắt mũi kèm nhèm không thấy gì đâu.

Bà Nội nó nhận được tấm hình, nhìn rồi thở dài: “Ôi tội nghiệp cho thằng cháu cưng cuả tui! Bận hành quân liên miên nên không có thời giờ để cạo mặt nên râu ria xồm xàm. Mà nó giống ông Nội nó biết là bao! Lúc nào cũng ngậm điếu xì gà trên miệng!”

26 Aug 1969, Long Thanh, Vietnam — Long Thanh, Vietnam: Australian “diggers,” who fought in the 1966 Battle of Long Thanh, stand at attention as a cross is dedicated to the men who died in the bloody clash. A chopper was used to transport the cross from Nui Dat to the site of the battle. August 26, 1969. — Image by © Bettmann/CORBIS

Bị thương không còn ‘dế’ để gãi, em yêu của nó cũng đi xuống thuyền bông lấy chồng từ độ ấy; nên giờ nó rất cô đơn chỉ sống cùng một con chó cưng và bốn bức tường.

Nó khuyên tui là: “Cứ đi nhậu với nó, tiền bạc khỏi phải lo, mà tiếng Anh không cần tới trường cũng giỏi. Học trên bàn nhậu!” Nhậu mà không phải chi tiền! Thiệt là hiếm có!

Em yêu của tui lại không hiểu; cho rằng tui xạo để có cớ mà đi bù khú với bạn bè. Chớ Footscray nầy em đi chợ hà rầm, tiếng Việt mình là sinh ngữ một đó nhe! Cần gì phải học tiếng Anh chi cho mỏi miệng. Cho đến một hôm đứa cháu nội làm em sực tỉnh ra.

Cuối tuần ba má nó chở về thăm. Mới bước vô nhà là: “Hi ông nội!”

Em yêu của tui vội đính chánh ngay lập tức: “Đâu có con! Từ hồi về với ông Nội, dẫu biết bao nhiêu thằng khác đeo đuổi nhưng bà Nội đã thề rằng: “Dẫu ai thêu phượng vẽ rồng. Bà nội chỉ một ông chồng mà thôi!”

Sao giờ con lại nói là ‘hai’ ông nội hả?”

Happy New Year!

Ba Tôi, Người Đánh Máy Mướn

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Aug 2023

Năm 1961, thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm trưởng ty Bưu Điện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Điện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Đường, dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau!

Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Điện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Định.

Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô

Đình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dễ thở của các công Nhà thờ Đức Bà – Sài Gòn (1967)      chức bậc trung. Nhà đông con, vật giá càng lúc càng tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn tiền quần áo tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm ‘job’ nữa. Đánh máy mướn!

Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Điện, Ba đánh máy rất nghề, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Đánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!

Cuối đường Phan Đình Phùng, đi về phía Chợ Lớn rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.

Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy stencil. Đó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.
Khách hàng đến là các giáo sư mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán “cours” cho sinh viên.
Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam… Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết.
Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.
Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Đình Phùng để làm cái “job” thứ hai.
Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Định.
Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; còn 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Đại Đồng, mua vài ổ bánh mì về cho con.

Đường Phan Thanh Giản-

Sài Gòn.

Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn rồi bảo: “Ăn đi con!” Ăn thì khoái thiệt nhưng “buồn ngủ” híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bán mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.
Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông… Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặngtrĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó!
Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời chúng nó sau không phải vất vả như Ba!
Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị gièm pha, xúc xiểm, ganh tị… nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn!
Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Đỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám “cúp cua” đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn: Dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!
Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời. Sao mà khổ dữ vậy! Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa thì có gì là… lớn lao lắm đâu! Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi.
Rồi khi thi đậu tú tài một, tú tài hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy!
Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành luật sư chẳng hạn… Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị xui xẻ, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu: Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?
Tôi thì thấy những chồng “cours” là đã “ớn.” Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, trên con đường Duy Tân, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui…
Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”

Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ “thản nhiên” như không. Trời ạ!
Sau nầy vào Đại Học Sư Phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư, làm giáo sư cũng được!” Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung Học Đệ Nhứt Cấp “quèn” mà thôi!

Tác giả: Đoàn Xuân Thu

* * *
Rồi 75 đến, nước mất nhưng nhà tôi nhứt định không tan. Cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than: Đi tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty. Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Đêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; dù mấy thằng cán bộ nhiều lần mỉa mai, phê bình Ba là còn giữ tác phong “tiểu tư sản”! Ba chỉ nói: “Mình mất nước chớ không mất tư cách!”
Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con: đứa thì đi tù vì là sĩ quan Ngụy, đứa thì bị đuổi! Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.
Cuộc sống cực kỳ khốn khó mà Ba vẫn không than van; vẫn không phiền trách ai đã làm cho mình mất nước!
Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống Francois Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ giùm họ cảm động làm sao đến nỗi ông chánh văn phòng của tổng thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và đã chỉ thị chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để hoàn tất tiếp hồ sơ!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.
Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế. Khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông trưởng ty như ngày cũ! Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bọn công an, bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi Chợ Lớn và Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Đơn thành công và ông được ra đi! Bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi, không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông trưởng ty.” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!
Đọc sử thế giới, tôi nhớ rằng Raoul Wallenberg (1912-1947), nhà ngoại giao Thụy Điển, đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Điển ở hải ngoại. Ngày 17 tháng 1, 1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17 tháng 7, 1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva. Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi đập nữa!
Chủ Nghĩa Phát Xít và Chủ Nghĩa Cộng Sản đều tàn ác như nhau. Chính bọn chúng đã giết đi những người nhân hậu!
Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, vượt thoát khỏi gông cùm cộng sản. Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám làm được như thế! Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”
* * *
Năm 81, thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt bảo lãnh Ba và các anh em qua. Cuối cùng cả gia đình đoàn tụ!
Đêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài này do anh Hoàng Định Nam, báo Trẻ Garland Texas đặt bài, nhân Father’s Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!
Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 15 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi… vẫn còn vang động đâu đây! Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió. Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn… mà ngủ tiếp. Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.
Người ta cần tới Father’s Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của Tháng Sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của Tháng Chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân!
Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống… Và cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 5th Mar 2021

Post by Sơn râu 14 Aug 2023

Kỳ 9

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

– Qua biết Biệt Ðộng Quân đối với em không tốt! Em xin về với qua, qua sẽ trình với đại tướng duyệt xét lại chiến công trận Pleime của em, điều chỉnh cho em lên trung tá, sau đó qua sẽ giao một trung đoàn cho em chỉ huy.

Tôi đã được Tướng Toàn và Ðại tá Tất hứa rằng tất cả quân nhân trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ đương nhiên thăng một cấp đặc cách sau chiến thắng Pleime 1974, nên khi nghe Tướng Niệm nói những lời trên, tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi bèn cười cười, đáp lời Tướng Niệm,

– Cám ơn Thiếu tướng! Tôi còn yêu mến binh chủng Biệt Ðộng Quân. Tôi chưa muốn đi đơn vị khác!

Bốn mươi sáu năm sau, tháng 10 năm 2020, tôi còn nhớ như in trong óc những lời Tướng Phan Ðình Niệm nói với tôi lúc giữa trưa ngày 10 tháng 10 năm 1974, cũng là dịp Kỷ Niệm 22 Năm Ngày Thành Lập Quân Ðoàn II.

Chiều 11 tháng 10 năm 1974 tôi về tới Kiến-Ðức thì được báo tin rằng trong thời gian tôi vắng nhà, Trung úy Nguyễn Công Minh và Thiếu úy Trần Văn Phước đã được thuyên chuyển lên làm việc ở Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Trung úy Minh được giữ chức Trưởng Ban Truyền Tin, và Thiếu úy Phước đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban 2.

Cũng trong thời gian này Thiếu úy Lý Ngọc Châu đã mãn khóa Chiến Tranh Chính Trị Ðà-Lạt.

Vừa trở về hôm trước, hôm sau chú Châu đã đôn đốc mấy ông Lao Công Ðào Binh hoàn tất một ngôi nhà lá Câu Lạc Bộ rất khang trang.

Ông Tàu Hỷ đầu bếp, kiêm thủ quỹ của Câu Lạc Bộ đã liên lạc được với một cửa hàng chạp phô dưới Nhơn-Cơ cung ứng mọi thứ hàng cần dùng để bán cho anh em. Chủ cửa hàng này là vợ chồng ông Lâm Văn Cáo người gốc Hoa Chợ Lớn.

Hiện thời, tình hình Tây Quảng-Ðức hoàn toàn lắng dịu, ta không thấy tên địch nào xuất hiện trong vùng, mà địch cũng không dám bén mảng tới gần để quấy rối ta.

Bỗng một hôm, tôi đang ngồi trong hầm hành quân chỉ dạy cho Thượng sĩ Nguyễn Phường, Hạ sĩ quan Ban 2 cách điều hành công tác tham mưu tình báo tiểu đoàn thì Trung úy Trần Dân Chủ, Ban 3 chạy vào báo cho tôi biết Chuẩn úy Trần Quảng, vừa quá giang xe đò từ Gia-Nghĩa tới Kiến-Ðức và muốn gặp mặt tôi để thông báo một tin quan trọng.

Chuẩn úy Quảng đang đứng dưới đường. Tôi cho phép chú Quảng vào Câu Lạc Bộ của tiểu đoàn chờ gặp.

Thấy tôi, Quảng liên tục phát ngôn,

– Anh Long ơi! Sáng nay ông Thiếu úy Trần Văn Phước đã vác súng đuổi bắn Ðại tá Vấn và Trung úy Hạp làm cho hai ông này chạy bán sống, bán chết!

Tôi ngạc nhiên,

– Vì lý do gì vậy? Chẳng lẽ thằng Phước lại say rượu nữa hay sao?

– Dạ không! Anh Phước tỉnh táo lắm! Sáng nay em trực hành quân, em thấy anh Phước mắt đỏ ngầu, tay cầm khẩu Colt 45 bước vào phòng họp, miệng la oang oang, “Ðại tá Vấn đâu? Ra đây! Tui cho ông biết thế nào là chạy! Thế nào là chết!” Nghe tiếng hét của anh Phước, Ðại tá Liên đoàn trưởng sợ quá, vội chạy ra khỏi phòng tránh mặt. Ông Trung úy Hạp, Trưởng Ban 3 Liên đoàn, tiến tới khuyên can thì bị anh Phước bắn bốn phát sượt qua vai. Ông Hạp phóng ra sân, anh Phước đuổi theo, nhưng bị vấp ngã, khẩu súng văng khỏi tay. Lập tức, anh Phước bị mấy người lính ôm vật rồi trói lại. Ðại tá đã chuyển anh Phước đi Gia-Nghĩa nhốt trong Ty An-Ninh Quân-Ðội. Biết chuyện này, em phải chạy ngay về đây báo cho anh hay ngay.

Chuẩn úy Trần Quảng trước đây là trung đội trưởng của Tiểu Ðoàn 82. Trong trận Căn cứ 711 tháng 4 năm 1974, Quảng bị thương, sau khi xuất viện, Quảng được chỉ định làm Sĩ quan Phụ tá Ban 3 của Liên Ðoàn 24.

Khác với những quân nhân trong đơn vị, lúc nào gặp tôi, Quảng cứ gọi tôi bằng đại danh từ “Anh” vì Trần Quảng là em của Trần Ðờn, một anh bạn cùng trường, cùng lớp của tôi từ thời 1956 ở Hội-An. Tôi biết Quảng từ ngày chú ấy còn mặc quần thủng đít. Tôi nhìn Quảng gặng hỏi,

– Vậy chú có biết vì lý do gì mà thằng Phước lại nổi điên như thế không?

– Em nghe nói anh Phước muốn giết ông đại tá là vì trong thời gian Tiểu Ðoàn 82 bị vây ở Pleime, ông Vấn có than phiền và “trù ẻo” cho Tiểu Ðoàn 82 sớm chết mất xác, sớm bỏ đồn gì đó! Vì thế mà anh Phước muốn trả thù ông Vấn!

Nghe Quảng giải thích, tôi nhớ lại ngay chuyện Ðại tá Từ Vấn đã “trù ẻo” chúng tôi như thế nào trong thời gian ấy.

Số là, hồi tháng 8 vừa qua, vòng vây của địch quanh Pleime càng lúc càng siết chặt, số mệnh của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân lâm vào tình trạng mong manh như ngàn cân treo sợi tóc, khiến cho ông Ðại tá Liên đoàn trưởng phải vất vả, âu lo với nhiều đêm thức trắng. Một hôm, quá nản lòng, thối chí, ông đã buột miệng than:

“Mẹ nó! Chết thì không chết! Chạy thì không chạy!  Cứ dở dở, ương ương, làm cho người ta mất ăn, mất ngủ!”

Lúc mới nghe được chuyện này tôi cũng bất mãn và tức giận lắm, sau này tôi bỏ nó ra ngoài tai, vì tôi nghĩ rằng ông Ðại tá Từ Vấn là người ăn nói vung vít, bụng để ngoài da, phát ngôn vô tội vạ, chứ cũng chẳng có ác ý gì.

Ðâu ngờ người đàn em của tôi cũng biết chuyện này, nên ghìm nỗi uất hận trong ruột, nay có dịp là bùng phát ra ngay.

Thiếu úy Trần Văn Phước là một trong những đàn em mà tôi đem theo từ ngày đầu nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Tính tình của Phước rất là vui vẻ, dễ thương, nhưng cũng không ai dễ dàng bắt nạt được chú ấy.

Phước có cái tật thích uống rượu, rượu vào rồi, dù có việc phải nhảy vào lửa đỏ, chú ấy cũng không từ nan.

Thêm vào đó, là cái lòng cương trực thẳng băng như ruột ngựa, khiến cho những người quen chú ấy đã thương thì thật là thương, đã ghét thì thật là ghét.

Ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 chỉ có mình tôi là người độc nhất chỉ huy được con ngựa bất kham này.

Cuối năm 1972, sau khi tốt nghiệp Khóa Tình Báo Căn Bản từ Trường Quân Báo Cây Mai, Chuẩn úy Trần Văn Phước đáo nhậm Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 và theo chân tôi từ đó.

Thời gian ở Pleiku, Phước chỉ huy Biệt Ðội Biên Vụ, có 18 anh Viễn Thám trực thuộc Phòng 2 dưới quyền tôi.

Có một tối cuối năm 1973, trong quán bún bò cũng là nhà riêng của ông Ðại úy Hải, Sĩ quan Phòng vệ của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, Phước mở tiệc khoản đãi một toán Biên Vụ vừa thoát chết trở về.

Tới khuya mà bọn này còn cười nói oang oang, khiến cho ông Sĩ quan Tổng trực, cũng là Thiếu tá Trưởng Phòng 3 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 nghe được.

Ông thiếu tá này bước vào quán, ra lệnh cho mấy anh lính Phòng 2 giải tán.

Thiếu úy Phước và Ðại úy Hải chủ quán vội vàng lên tiếng năn nỉ,

– Xin Thiếu tá cho phép anh em được ngồi thêm vài phút nữa để ăn cho xong mỗi người một tô bún bò.

Nghe xong, ông Sĩ quan Tổng trực tức quá hét lên,

– Không được! Phải dẹp ngay! Mai tôi sẽ làm phúc trình đề nghị đại tá ra lệnh đóng cửa vĩnh viễn cái quán bún bò này của ông Hải! Ngày nào cũng bán tới khuya, ồn ào, mất trật tự!

Cùng lúc đó, bà vợ Ðại úy Hải bưng ra mâm bún bò bốc khói để trên bàn ăn.

Vị Sĩ quan Tổng trực thấy mấy chàng lính Thượng râu ria xồm xoàm, tóc dài, ngổ ngáo, cứ giương mắt nhìn ông, ông bèn ra oai, cầm tô bún bò nóng bốc hơi, đổ lên đầu anh chàng Phước, miệng ông la,

– Ðủ mẻ! Tao ra lệnh cho tụi mi giải tán mà tụi mi cứ trơ mắt ngó! Không thi hành lệnh của tao hả!

Kết quả hành động oai hùng của ông thiếu tá đã đưa tới một kết cục không hay. Thiếu úy Trần Văn Phước sau khi giơ hai tay vuốt cho sạch mớ bún trên đầu tóc, đã thẳng tay đấm vào mặt ông thiếu tá một cú thôi sơn, khiến ông thiếu tá lăn quay ra đất, nằm giãy đành đạch.

Bi hài kịch này xảy ra vào lúc khá khuya, trong quán bún bò ông Hải, khán giả chỉ có trên dưới mười người. Xóm giềng của ông Hải đã ngủ yên. Giờ đó gia đình tôi cũng ngủ lâu rồi.

Sáng hôm sau, ông Thiếu tá Trưởng Phòng 3 mặt mày bầm tím, bước vào Phòng 2 gặp mặt tôi,

– Tui biết Trường An (Ðại tá Tất) thương Long, nhưng lính của Long kiêu binh quá! Ðêm qua lính của Long mới đánh tôi đây! 

Nhìn cái mặt bầm giập của ông Trưởng Phòng 3, tôi tá hỏa, ngạc nhiên,

– Chuyện xảy ra làm sao? Anh cho tôi biết để tôi trừng trị bọn hỗn hào, bá láp này!

– Tối qua tụi nó tụ tập nhậu nhẹt la hét om sòm trong quán bún nhà ông Hải. Tôi tới ra lệnh cho tụi nó giải tán, tụi nó xúm nhau vào đánh tôi! Cầm đầu là thằng Phước!

Tôi ra lệnh cho anh Viễn Thám gác cửa,

– Thằng Ba đi gọi Thiếu úy Phước lên đây trình diện tao!

Ba mươi giây sau, Thiếu úy Phước lấm lét đứng trước mặt tôi,

– Tối qua ông Sĩ quan Tổng trực làm nhục em, em chỉ phản ứng tự vệ!

Tôi nhìn thẳng vào mặt Thiếu úy Phước rồi dõng dạc,

– Kể hết đầu đuôi câu chuyện cho tôi nghe! Sau đó phải có lời xin lỗi ông Thiếu tá Sĩ quan Tổng trực!

Phước có vẻ nửa bất mãn, nửa sợ sệt, kể lại toàn bộ diễn tiến sự việc xảy ra tối hôm trước cho tôi nghe, cuối cùng Phước nhìn tôi buồn bã,

-Thái Sơn có thể đá đít, bạt tai em, hay đem em đi nhốt, vì tội lỗ mãng, nhưng Thái Sơn đừng bắt em phải xin lỗi ông thiếu tá này.

Nghe hiểu chuyện, tôi thấy nóng mặt, giơ ngón tay trỏ, chỉ ngay trán Thiếu úy Phước rồi hét lên,

– Mi là thằng hèn! Mi là thằng hèn!

Phước giật mình thụt lui lại đằng sau một bước run lẩy bẩy, miệng lắp bắp,

– Em …Em…

Tôi quát tiếp,

– Em! Em! Em cái gì? Em là một thằng hèn! Người ta đổ bát bún lên đầu em mà em chỉ dám đánh người ta! Em có súng mà không dám bắn người hạ nhục em thì em không xứng đáng là em của Thái Sơn! Ðáng lý ra em phải bắn vỡ đầu nó! Em là một thằng hèn! Nghe rõ chưa! Cút đi!

Tôi bực tức quay lưng bước vào ngồi trên chiếc ghế sau bàn làm việc.

Lúc tôi quay mặt lại thì không còn thấy bóng dáng ông Thiếu tá Trưởng Phòng 3 và anh Thiếu úy Trần Văn Phước đâu cả.

Ít ngày sau, tôi cho Thiếu úy Phước vào Pleime trước chờ tôi.

Gần hai tháng sau đó, tôi nhận chức chỉ huy căn cứ này.

Từ ấy tới nay chú Phước sống vào khuôn vào phép, không làm mích lòng ai.

Vậy mà mới sểnh tay tôi ra vài ngày là có chuyện!

Tôi chưa biết làm cách nào để cứu thằng em thì Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn, Hạ sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn xuống đồi tìm gặp,

– Hai Lẻ Chín mời Thái Sơn về liên đoàn có việc cần.

Tôi tới bộ chỉ huy liên đoàn thì phòng hội đã đầy người.

Trung tá Hoàng Kim Thanh đứng giữa phòng họp, thấy tôi xuất hiện thì ông vỗ hai tay vào nhau, rồi cao giọng, tuyên bố,

– Ðại tá liên đoàn trưởng bận đi họp trên tiểu khu, ủy quyền cho tôi chủ tọa buổi họp này. Tất cả anh em đang chờ Thiếu tá Long, giờ này mình bắt đầu khai mạc hội đồng kỷ luật được rồi!

Tôi ngồi xuống ghế thắc mắc,

– Kỷ luật ai vậy?

– Thì mình xử anh sĩ quan vô kỷ luật là Thiếu úy Trần Văn Phước của Tiểu Ðoàn 82 chứ ai?

– Thiếu úy Phước không phải là sĩ quan của Tiểu Ðoàn 82!

Trung tá Thanh nhìn sững ngay mặt tôi,

– Vậy chứ anh Phước là lính của ai?

– Thiếu úy Trần Văn Phước đã thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn, không còn thuộc quân số của Tiểu Ðoàn 82 nữa!

– Sáng nay Thiếu úy Trần Văn Phước đã bắn phá lung tung ở đây, nguyên nhân gây ra bắt nguồn từ Tiểu Ðoàn 82, Thiếu tá Long là Tiểu đoàn trưởng nên liên đới chịu trách nhiệm!

Tôi đứng dậy, gằn từng tiếng,

– Tôi đã biết rồi! Chuyện này là thù hằn riêng tư giữa Ðại tá Vấn và Thiếu úy Phước, không liên quan gì tới tôi!

Dứt lời, tôi đứng dậy bước ra ngoài, trước con mắt ngạc nhiên của mọi người có mặt.

Nửa giờ sau tôi đã về tới Kiến-Ðức, có vài lần Trung tá Thanh gọi tôi vào máy để nói chuyện. Tôi bắt máy nhưng chỉ ậm ừ vài tiếng rồi dứt khoát,

– Nếu không phải chuyện hành quân, tôi sẽ không tiếp ai cả.

Hôm sau Trung tá Thanh lên Kiến-Ðức tìm gặp tôi, anh Thanh nói,

– Ông Hai Lẻ Chín ra lệnh cho chú tới An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Ðức ký giấy lãnh thằng Phước ra.

Tôi lắc đầu,

–  Ông Vấn nhốt nó thì ông Vấn phải ký giấy thả nó! Tôi không rảnh mà làm chuyện này!

Thấy tôi nhất mực từ chối, Trung tá Thanh bèn vào hầm truyền tin nói chuyện với Ðại tá Vấn một lúc lâu rồi kéo tôi vào Câu Lạc Bộ.

– Nếu bây giờ liên đoàn hoàn trả nó cho 82 thì chú có lãnh nó không?

– Ông Vấn ký lệnh thuyên chuyển cho nó về lại 82 thì tôi sẽ lãnh nó ngay!

– Chú có dám bảo đảm rằng được tha ra, nó sẽ không làm loạn nữa chứ?

– Tôi bảo đảm, với điều kiện ông Vấn không phạt nó, và bỏ qua chuyện vừa rồi.

– Thì ông Vấn hứa với anh rằng ông ấy cũng có ý định như thế!

Tôi nhìn ngay mặt Trung tá Thanh,

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

February 26th, 2021

Post by Sơn râu 14 Aug 2023

Kỳ 8

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Khi bàn giao, Trung tá Nguyễn Lang, biệt danh là “Lang Trọc” Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân nói với tôi rằng vùng này yên tĩnh lắm, quân ta và quân địch nằm cách nhau chỉ một con suối, uống chung giòng nước Dak Blao mà không hề bắn nhau.

Nghe chuyện này tôi vô cùng ngạc nhiên. Kể từ khi Việt-Cộng vi phạm nghiêm trọng hiệp định ngưng bắn Paris, xua quân đánh chiếm Lệ Minh, và Bù Bông năm 1973, thì cái vụ hòa hợp hòa giải này đã hết hiệu lực từ lâu.

Chắc chắn ông Lang đã biết tôi vừa thoát chết ở Pleime, ông Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di mất xác ở Dak Pek, Thiếu tá Hà Văn Lầu tử trận ở Thượng-Ðức?

Vậy mà không hiểu vì lý do gì mà ông Lang dám cho lính dưới quyền ông ta sinh hoạt chung với địch mà không sợ bị địch trở mặt bất ngờ, và ông ta cũng không sợ bị thượng cấp trách phạt hay sao?

Tôi và Trung tá Nguyễn Lang là đôi bạn vong niên, chúng tôi gặp nhau thời gian Ðại tá Lê Khắc Lý là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.

Thời gian này tôi là Trưởng Phòng 2, còn Thiếu tá Lang là Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị.

Sau đó ông Lang ra thay ông Thiếu Tá Quang giữ chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng.

Mùa Hè năm 1972 Thiếu tá Lương Văn Ngọ bị Tướng Trần Văn Hai truất quyền chỉ huy Chiến Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân thay thế bằng Thiếu tá Nguyễn Lang.

Dưới quyền Thiếu tá Nguyễn Lang, Chiến Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân đã có công giải tỏa Quốc Lộ 14 tiếp cứu Kontum nên ông Lang được vinh thăng cấp trung tá.

Sau một thời gian, có lẽ đã hơn một năm rồi, tôi và ông Trung tá Lang mới gặp lại nhau.

Tôi nghĩ rằng chắc có ẩn tình gì đó, nên ông Lang đã giấu giếm không cho tôi biết nguyên nhân vì sao ông ta dám cho quân lính dưới quyền bắt tay giao du với giặc.

Tôi chưa kịp tìm hiểu tình hình thực sự của vùng này như thế nào thì sáng sớm hôm sau, 5 tháng 10 năm 1974 tôi đã nghe Thiếu úy Thủy mật báo rằng đêm qua đại úy tiểu đoàn phó đã ngồi nhậu cả giờ đồng hồ với một tên cán bộ Việt-Cộng trong căn lều tranh “Hòa Hợp, Hòa Giải” trên bờ Nam suối Dak Blao dưới chân đồi 700. Căn lều này đã được Tiểu Ðoàn 96 bàn giao lại!

Lập tức tôi cho Thiếu úy Phước xuống đồi gọi ông Tài lên trình diện.

Vài phút sau, trước mặt tôi, ông tiểu đoàn phó của tôi đã phân bua với tôi một cách thật ngây thơ,

– Tôi được Thiếu tá Hiển, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 96 Biệt Ðộng Quân bàn giao rằng trong vùng này, quân hai bên sẽ sống chung hòa bình, không bên nào xâm phạm bên nào. Tối qua tôi có nói chuyện với thằng chỉ huy Việt-Cộng, y ta đã đồng ý không tấn công mình trước. Tôi chưa kịp báo cáo với Thái Sơn chuyện này thì ông đã biết rồi!

Tôi nhìn mặt ông phó của tôi mà chỉ biết lắc đầu chán nản:

– Thôi! Ông khăn gói về nằm với thằng Danh trên ngọn đồi Tây. Tôi cấm ông bén mảng tới bờ suối! Cãi lệnh, tôi xử tử đó!

Ngay trưa hôm ấy tôi cho Ðại Ðội 3/82 tràn xuống chiếm cái làng Thượng có tên Bu M’Bré đã bỏ hoang, nằm bên hướng Tây Quốc Lộ 14, đối diện với đồi 700.

Hai ông Ðại đội trưởng 3/82 và 4/82 được mật lệnh tắt máy từ chiều hôm đó cho tới khi kế hoạch hoàn thành.

Kế hoạch đề ra là, đúng 10 giờ đêm 5 tháng 10 pháo binh sẽ bắn 200 trái đạn 105 ly trên một tuyến dài theo hướng Ðông Tây vùng Bắc suối Dak Blao.

Tới lúc pháo binh ngưng tác xạ, sẽ có những trái đạn 81 ly chiếu sáng soi đường cho Trung đội Viễn Thám vượt suối làm đầu cầu. Tiếp đó, Ðại Ðội 4/82 sẽ men theo cây cầu gãy, tiến chiếm cái làng Thượng đã bỏ hoang nằm trên khúc quanh của Quốc Lộ 14 cách suối Dak Blao hai trăm thước.

Ðại Ðội 3/82 sẽ làm trừ bị, sẵn sàng tiếp cứu Ðại Ðội 4/82 khi cần.

Trong khi quân ta tiến chiếm mục tiêu thì khẩu cối 106 ly của tiểu đoàn cứ thủng thỉnh rót từng viên đạn nổ trên khúc đường Quốc Lộ 14 nằm dưới chân núi Bù Row để tiêu diệt và áp đảo tinh thần những tên địch chạy khỏi vùng.

Tôi đã nghe ông Trung tá Lang cảnh cáo rằng, nếu ta bắn 1 viên đạn pháo hay cối vào vùng địch, ta sẽ bị địch đáp trả từ 10 tới 20 lần hơn.

Nhưng hình như đêm 5 tháng 10 Việt-Cộng đã bị hoàn toàn bất ngờ trước vụ tấn kích của tôi.

Tôi không nghe tiếng súng lớn nhỏ nào của địch cả.

Tuy vậy sáng ra, chúng tôi cũng chỉ phát giác được năm cái xác Việt-Cộng chết trong một chòi gác bên suối.

Ta thu được vỏn vẹn ba cây AK 47 và một khẩu súng B40.

Chẳng lẽ lâu nay trong vùng này chỉ có một cái tiền đồn với 5 tên Việt-Cộng mà ta đã phải huy động tới hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân để trấn giữ hay sao?

Trời sáng rõ, tôi tiếp tục xua quân lên tiến chiếm cao điểm Bù Row có cao độ 750 mét, nằm về hướng Tây, sát mép Quốc Lộ 14.

Ðồi Bù Row là một cái đồn cũ từ thời Pháp, có ba cái lô cốt và hàng rào mìn xung quanh.

Tuy vậy, sau hơn một năm làm chủ khu vực này, Việt-Cộng đã gỡ hết mìn bẫy trong vùng.

Xung quanh Bù Row giờ đây là những vạt vườn trồng khoai mì rộng mênh mông. Vùng này đã trở thành khu vực canh tác sản xuất của Trung Ðoàn 271 Cộng-Sản.

Trưa 6 tháng 10 năm 1974 tôi đang ngồi ôm cái ống nhòm, theo dõi hai đại đội tiền phương tiến quân, thì có một chiếc xe Dodge 4×4 từ Nhơn-Cơ chạy tới.

Tới chân đồi Kiến-Ðức, có vài người bước xuống. Một lúc sau, Trung úy Trần Dân Chủ chạy ra khu pháo binh báo cho tôi biết có một ông trung tá của tiểu khu muốn gặp mặt tôi.

Tôi ra lệnh cho ông Chủ xuống đường, dẫn ông trung tá lên đây nói chuyện, vì tôi đang bận điều quân.

Ông Trung tá Chỉ huy phó Tiểu Khu Quảng-Ðức bắt tay tôi, rồi dịu dàng,

– Anh Long có khoẻ không?

Tôi hớn hở khoe:

– Tôi khỏe như vâm! Tụi tôi đang đuổi bọn Việt-Cộng chạy như vịt! Tôi tái chiếm đồi Bù Row rồi! Nếu tiểu khu yểm trợ pháo cho tôi, và cho tôi một tiểu đoàn trừ bị, tôi lấy lại đồn Bu Bông trong vòng 24 giờ!

(Đồn Bù Bông nằm về hướng Bắc Quận Lỵ Kiến-Đức khoảng 20 cây số, do Địa Phương Quân phòng thủ. Đồn này đã bị Cộng-Quân chiếm giữ từ cuối năm 1973)

Ông tiểu khu phó lắc đầu thở dài,

– Ông Nghìn sai tôi ra đây để nói với anh rằng, ngừng cái hành động lấn đất dành dân ngay đi! Ông ấy sợ Sài-Gòn mà nghe biết tình hình vùng này đột nhiên mất an ninh, họ sẽ khiển trách ông tỉnh trưởng đấy!

Nghe ông tiểu khu phó nói, tự nhiên tôi thấy cụt hứng, bao nhiêu hào khí phút chốc tan như hơi sương.

Nhưng tôi vẫn cương quyết,

– Nhờ Trung tá về nói với Ðại tá Nghìn rằng, tôi đã lấn tới Bù Row. Vì từ đỉnh Bù Row địch có thể đặt cối và súng không giựt bắn vào Kiến-Ðức, nếu các ông mà bắt tôi trả Bù Row cho Việt-Cộng thì tôi sẽ xin đem quân đi chỗ khác, không trấn đóng vùng Tây Quảng- Ðức nữa!

Ông trung tá già nhìn tôi buồn rầu,

– Em là một sĩ quan lý tưởng của quân đội, tiếc rằng thời buổi này người ta không ưa những con người như em!

Rồi ông bắt tay tôi, từ giã.

Từ ấy cho tới ngày tàn chiến tranh, tôi không còn dịp nào gặp mặt ông nữa. Hình như sau đó ít lâu ông trung tá này đã thuyên chuyển đi nơi khác.

o O o

Ðêm 6 tháng 10 từ trong rừng hướng Bắc suối Dak Blao có tiếng loa của Việt-Cộng oang oang:

– Ðả đảo Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Ngụy đã vi phạm cam kết hòa hợp hòa giải! Ðả đảo tên Tiểu đoàn trưởng 82 Biệt Ðộng Quân khát máu!

Chỉ mười phút sau, tiếng loa tắt phụt sau một loạt đạn M16 nổ giòn.

Sáng ngày 7 tháng 10 toán Viễn Thám 823 của Trung sĩ Nguyễn Chi tiến vào rừng khai thác kết quả, chỉ thấy một thằng giặc nằm chết cong queo bên chiếc loa tay.

Từ đêm 7 tháng 10 trở đi không còn cái loa nào léo nhéo nữa….

Sáng 8 tháng 10 tôi đưa cho Ðại úy Nguyễn Hữu Tài cái sự vụ lệnh hoàn trả ông ta về liên đoàn, với lý do kém khả năng. Tôi không còn kiên nhẫn để ông đại úy này tiếp tục làm việc dưới quyền mình nữa.

Ðại úy Nguyễn Hữu Tài là người đầu tiên từ giã Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân mà không có tiệc tiễn đưa.

Trước giờ Ðại úy Tài vào chào tôi để giã từ, tôi đã tự tay xé cái giấy phạt 15 Trọng Cấm xin gia tăng tối đa mà tôi đã phạt ông Tài với tội danh “Bắt tay với địch quân”

Tôi làm chuyện này, vì tôi vừa hồi tâm, nhớ lại những lời ông trung tá già, Tiểu khu phó Tiểu Khu Quảng-Ðức: “Ông Nghìn sai tôi ra đây để nói với anh rằng, ngừng cái hành động lấn đất dành dân ngay đi! Ông ấy sợ Sài-Gòn mà nghe biết tình hình vùng này đột nhiên mất an ninh, họ sẽ khiển trách ông tỉnh trưởng đấy!”

Tôi không biết hành động sống chung hòa bình với kẻ thù của Trung tá Lang đã có sự đồng tình của ông tỉnh trưởng hay không? Tôi không biết ông Nghìn đã làm ngơ, hay ông Nghìn đã ngầm ra lệnh cho ông Lang bắt tay với địch để cho Sài-Gòn yên trí rằng: “Mặt Trận Miền Tây Quảng-Ðức vẫn bình yên” (?)

Tôi cũng không biết, nếu ngày đó người nhận bàn giao vùng Bắc Kiến-Ðức không phải là tôi, mà là Thiếu tá Mẫn hay Thiếu tá Ðàng thì quân ta và quân địch có tiếp tục chung sống hòa bình, uống chung một giòng nước suối Dak Blao hay không?

Mãi lâu lắm, sau này, tôi mới nghe biết Trung tá Nguyễn Lang đã bị Tư Lệnh Quân Ðoàn II phạt 40 ngày Trọng Cấm vì đã bắt tay với địch, nên bị buộc tội “Vi Phạm Huấn Lệnh Quân Sự”.

Sau khi bị phạt, ông Trung tá Nguyễn Lang đã bị giải ngũ, loại ra khỏi quân đội.

Còn Thiếu tá Huỳnh Công Hiển, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 96 Biệt Ðộng Quân cũng bị phạt nặng không kém gì ông Trung tá Lang, nhưng không bị giải ngũ.

Mãi tới năm 1979 tôi và ông Nguyễn Lang mới gặp lại nhau trong Trại tù Cải tạo Nam Hà A, ngoài Bắc Việt. Trong lúc ngồi ôn chuyện xưa ở Kiến-Ðức, ông Lang không phiền trách chuyện tôi đã xua quân qua suối Dak Blao phá vỡ hiệp ước bất tương xâm mà ông Lang và Việt-Cộng đã giao ước với nhau. Ông Lang chỉ bặm môi, chửi thề:

“Ðù má thằng Nghìn! Chơi xấu! Chạy tội! Ðổ lỗi lên đầu moa!”

Nghe ông Lang nói thế, tôi cũng chẳng thèm tìm hiểu thêm xem, ngày đó ông Lang và ông Nghìn đã có gì vướng víu, khúc mắc với nhau không? Có phải chính ông Nghìn đã làm ngơ trước lỗi lầm của Thiếu tá Hiển và Trung tá Lang không? Có phải tới khi chuyện xấu vỡ lở, ông ta lại phủi tay, chạy tội hay không?

Về phần tôi, hiển nhiên, ngày đó tôi đã bị ông Nghìn khóa tay, không cho đánh nhau nữa.

o O o

Đời lính, vui và buồn…

Ngày 9 tháng 10 năm 1974 tôi và ba quân nhân khác đại diện Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được trực thăng chở về hậu cứ Pleiku chuẩn bị tham dự ngày lễ thành lập Quân Ðoàn II.

Trong ba ngày 9,10 và 11 tháng 10 Trung tá Hoàng Kim Thanh thay thế tôi chỉ huy Ngã Ba Kiến-Ðức.

Buổi lễ kỷ niệm ngày thành lập Quân Ðoàn II đã diễn ra thật đơn giản.

Tổng thống đã không có mặt, các tỉnh trưởng trực thuộc Quân Khu 2 cũng không có ai.

Trên khán đài chỉ có hai ông tướng, là Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân Ðoàn II, và Thiếu tướng Phan Ðình Niệm, Tư lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.

Trong khi Tướng Toàn đang bận gắn cái huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu lên hiệu kỳ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, thì Tướng Niệm nài nỉ Tướng Toàn,

– Biệt Ðộng Quân không dùng Thiếu tá Long thì Trung tướng cho anh Long về làm việc với tôi đi!

Ông Toàn có vẻ bực mình, càu nhàu,

– Ông thích nó thì nói với nó, duyên cớ gì mà phải năn nỉ tui?

Nghe ông Toàn cự nự, Tướng Niệm bèn bước tới bắt tay tôi,

– Chúc mừng Tiểu Ðoàn 82 vừa được tuyên dương công trạng trước quân đội! Chúc mừng Thiếu tá Long!

Sau đó ông Tư lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh hạ giọng, vừa đủ cho tôi và mấy người đứng bên tôi nghe được.

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

February 19th, 2021

Post by Sơn râu 14 Aug 2023

Kỳ 7

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Trong thời gian 100 quả đạn cối 81 ly của Thượng sĩ Năng theo nhau rơi trên mục tiêu, tôi dàn quân và bắt đầu leo dốc.

Sau trận oanh tạc và pháo kích chiều nay, cánh đồng tranh đã cháy thành bãi đất đen.

Tôi đi sau lưng trung đội Viễn Thám, Thiếu úy Phước đi sau tiểu đội cận vệ.

Không lâu sau chúng tôi đã tới con đường xe be, bên kia đường là cánh rừng tả tơi vì bom đạn.

Gió đang thổi từ Ðông qua Tây, thật là thuận lợi cho chúng tôi vô cùng.

Tôi chỉ đem theo một khẩu Colt, không có súng dài, trận này trên dây ba chạc của tôi treo tòn ten bốn quả lựu đạn lân tinh.

Tôi rút chốt quả lựu đạn sáng, ném thẳng tay qua hàng cây. Trái lựu đạn rơi trên triền đồi.

“Bóc!” một chùm sáng chói lòa phụt lên!  Tiếp đó là những tiếng “Ùm! Ùm! Ùm!” của lựu đạn M26 đua nhau nổ rền.

Trái sáng của tôi chính là hiệu lệnh khai hỏa.

Ðợt tiến công phủ đầu là lựu đạn M 26. Nhờ có trái lựu đạn lân tinh mà chúng tôi đang ở ngoài sáng mà hóa ra ở chỗ tối. Ðịch bị ánh sáng lựu đạn làm chói mắt nên không nhìn thấy gì cả. Quả lựu đạn chiếu sáng thứ hai vừa bùng lên thì quân của tôi đã nằm sát bìa rừng. Theo đúng quy định, một khẩu súng chĩa về phải, còn khẩu kia chĩa về trái cứ thế mà bóp cò. Bắn đã năm phút mà không nghe phát đạn nào của địch đáp lại, tôi cho lệnh ngưng.

Lúc này Ðại Ðội 3/82 đã tiến tới đường xe be. Tôi cho Ðại Ðội 3/82 tràn vào lập thêm một hàng rào thứ hai.

Sau đó, tôi cho Trung đội Viễn Thám và tiểu đội cận vệ quay mặt ngược lại 180 độ, hướng về con đường xe be để giữ lưng cho Ðại Ðội 3/82.

Từ ấy, dưới ánh hỏa châu của pháo binh, Ðại Ðội 3/82 chậm rãi thanh toán từng hầm cá nhân của địch.

Mỗi cái hầm của Việt-Cộng lãnh một trái lựu đạn M 26.

Ðến khi trăng lên tới đỉnh đầu thì chúng tôi đã hoàn toàn làm chủ ngọn đồi 898.

Làm chủ Mục Tiêu 1 xong, tôi gọi cho Ðại úy Tiểu đoàn phó, ra lệnh cho ông ta đưa quân lên chặn đường, hốt gọn những tên địch vừa thoát chạy từ đây ra. Tôi gọi hoài mà không có đài nào của cánh quân thứ nhì trả lời.

Cùng lúc này Thiếu úy Ðặng Thành Học báo cho tôi hay, trên Mục Tiêu 2 có ánh đèn pin nhấp nháy. Tôi bước ra mặt đường xe be thì thấy trên đồi 880 có một ánh đèn pin chớp rồi tắt như đang tìm cách truyền tín hiệu với đồng bọn trên đồi 898.

Tôi nghĩ, chắc tụi này đã thấy đồi 898 bị đánh phá tơi bời, nên chúng dùng tín hiệu đèn để xin lệnh chăng?

Nhân cơ hội này mà mình tấn công chớp nhoáng, chắc chắn sẽ thắng ngay. Ngặt một điều là cho Ðại Ðội 1/82 tham chiến thì tôi không còn đơn vị nào trừ bị.

Nếu dùng hỏa lực mà đuổi được chúng nó thì công việc ngày mai của Ðại Ðội 1/82 sẽ nhẹ đi nhiều.

Nghĩ thế, tôi liền gọi máy cho liên đoàn xin thỏa mãn gấp 100 quả đạn 105 ly trên Mục Tiêu 2.

Hứng chịu 100 quả đạn đại bác chắc bọn Việt-Cộng đóng chốt trên đồi 880 cũng táng đởm, kinh hồn!

Một tiếng đồng hồ sau, trên mặt đường xe be từ hướng Nam có nhiều tiếng chân rầm rập, cùng với tiếng la: “Các đồng chí đừng bắn! Bạn đây!”

Hóa ra bọn này là đơn vị Việt-Cộng vừa thoát chạy từ Mục Tiêu 2!

Phút chốc, toán người này đã tới tuyến phòng ngự của tiểu đội cận vệ.

“Bạn đây! Bạn đây!” – “Ðùng! Ðùng! Ðùng! Rẹt! Rẹt! Rẹt! Cành! Cành! Cành!…”

Trong bóng đêm, bỗng có hai người bên cạnh đưa tay đè vai tôi xuống, rồi nhoài mình ra phía trước.

Hình như hai người lính này cố ý lấy thân mình để che chắn và bảo vệ người chỉ huy của họ.

Trước mặt tôi, hai anh này quỳ gối sát cánh nhau, tác xạ liên tục, một người sử dụng súng M79 bắn đạn chài, người kia sử dụng súng M16.

Súng nổ liên thanh cùng với những thân người ngã xuống.

“Ối! Ối! Ðừng bắn! Bạn đây! Chết tôi! Ối! Ối!…”

Cách tôi chỉ vài thước, trên mặt đường, có mấy cán binh Cộng-Sản đè lên nhau, quằn quại trên mặt đất.

Cũng có những tên địch nhanh chân phóng mất hút trong rừng đêm.

Bất ngờ từ mặt lộ, một tên Việt-Cộng đã bị thương bỗng ngồi dậy.

Một băng AK 47 nổ giòn. Tôi nghe tiếng đạn bay sát mang tai.

Hai Biệt Ðộng Quân che trước mặt tôi bị trúng đạn, chỉ kịp la lên hai tiếng “Ối! Ối!” rồi nằm vật sang bên.

Quân ta lại bắn tiếp, thằng Việt-Cộng bị thương lại gục xuống. Kỳ này thì y chết luôn!

Tiếng súng ngừng, dưới ánh hỏa châu, tôi thấy trước mặt mình có hai người chết.

Một người là Trung sĩ Y Thon Nier, người kia là Trung sĩ Nguyễn Minh!

Sáng 1 tháng 10 sau khi gọi mãi mà không nghe ông tiểu đoàn phó cùng hai Ðại Ðội 2/82 và 4/82 lên tiếng, tôi liền ra lệnh cho khẩu 81 ly bắn một trái đạn khói trên khu đồng cỏ tranh nằm cách vị trí đóng quân cũ của ông Tài chừng nửa cây số về hướng Tây.

Tôi bắn trái khói này cốt ý để hù dọa ông Tài, nếu ông ta có đem quân đi trốn thì cũng phải lòi mặt ra vì sợ tôi nã pháo vào đầu!

Quả đúng như tôi dự liệu, tôi chưa thấy khói bốc lên cao, ba cái máy chính của cánh quân này đã la lên oai oái,

-Xin ngưng tác xạ! Xin ngưng tác xạ! Các anh đã bắn vào đầu chúng tôi rồi!

Giận quá, tôi vội cầm ống liên hợp lên quát lớn,

– Rút ra đường! Kỳ này tụi mày sẽ ra tòa, đi tù hết!

Sau đó, tôi cho Thiếu úy Hổ tung quân ra lục soát toàn thể Mục Tiêu 1.

Triền Tây Nam của đồi 898 là vị trí chỉ huy của một tiểu đoàn Việt-Cộng, với hệ thống giao thông hào hình cánh cung. Có nhiều hầm hố đã bị bom và pháo binh đánh sập với nhiều vũng máu chưa khô. Chúng tôi thu được 17 khẩu AK 47, một bàn tiếp hậu cối 82 ly, một nòng đại bác 57 ly còn tốt, cùng gần chục khẩu AK và B40 gãy nát.

Thêm vào đó là vài chục viên đạn 57 ly cùng hàng trăm thủ pháo và bộc phá ném tay, chất đầy một căn hầm.

Trên tử thi của địch để lại, tôi tìm được một tờ giấy thấm máu, ghi tên đơn vị Việt-Cộng này, nhưng đọc không rõ là Tiểu Ðoàn D 407 hay D 401 Ðặc Công?

Sau khi kiểm soát toàn bộ diện tích đồi 898 và khu vực xung quanh, tôi cho Toán Viễn Thám 823 và 825 men theo con đường xe be dẫn về Tây Bắc. Từ đồi 898 tới điểm mà tôi đã ra lệnh cho hai Ðại Ðội 2 và 4/82 chặn nút có chiều dài gần hai cây số. Viễn Thám báo cáo rằng có nhiều dấu máu tươi trải dài trên mặt đường, cùng nhiều bông băng rơi rớt. Nếu cánh quân thứ hai của tôi đã thi hành đúng kế hoạch thì những tên địch rút chạy kia hết đường thoát.

Vì đêm trước tôi đã chứng kiến bọn Việt-Cộng đóng chốt trên Mục Tiêu 2 bỏ chạy rồi, nên chiều 1 tháng 10 tôi xin pháo binh bắn thêm 100 trái đạn nữa lên đồi 880, sau đó Ðại Ðội 1/82 tiến lên chiếm ngọn đồi này.

Nửa giờ sau Ðại Ðội1/ 82 đã làm chủ Mục Tiêu 2. Trên mặt đất chỉ còn ba cái xác cán binh Việt- Cộng chết không toàn thây, ba khẩu AK gãy nát cùng mấy cái nón cối thủng. Tám giờ sáng ngày 2 tháng 10 Thiếu úy Ðặng Thành Học bàn giao đồi 880 cho tiền quân của Tiểu Ðoàn 81.

Mặt trận Tây Quảng Đức tháng 10 năm 1974.

Ðoạn đường còn lại từ đồi 880 tới Nghi-Xuân tuy dài, nhưng không còn bóng dáng tên Việt-Cộng nào, do đó chưa tới 4 giờ chiều ngày 2 tháng 10 quân ta đã tới cổng Ấp Chiến Lược Nghi-Xuân.

Xế chiều ngày 2 tháng 10, một chiếc trực thăng đáp xuống mặt đường xe be, bên cạnh đống lửa của thày trò tôi.

Trung tá Hoàng Kim Thanh Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 thả xuống cho tôi một két La Ve Con Cọp và một cây nước đá. Trung tá Thanh hét lên, át cả tiếng của động cơ máy bay,

– Ông Nghìn (Tỉnh trưởng) gửi cho chú món quà này!

Tôi có cái tật khác người, thích uống bia cổ cao có hình Con Cọp hơn là uống Bia 33 hay các thứ rượu Martell hoặc Hennessy.

Nhưng tối 2 tháng 10 năm 1974, tôi đã không đụng tới những chai bia này, chỉ vì giờ đó cách chỗ tôi ngồi không đầy mười thước là hai cái poncho gói xác hai thằng em, một đứa người Kinh tên là Nguyễn Minh, đứa kia người Thượng tên là Y Thon Nier.

Nhìn cái poncho gói xác thằng Y Thon Nier, tôi nhớ lại khuôn mặt nhạt nhòa nước mắt của nó ngày thầy trò tái ngộ.

Có lẽ những giọt nước mắt đó chưa khô mà nó đã vội vã bỏ tôi mà ra đi rồi!

Bên cạnh nó là hình ảnh thằng em gốc Quảng-Nam, vừa cười cầu tài, vừa năn nỉ tôi cách đây không lâu,

– Nhà em ở Nghi-Xuân, sau chuyến hành quân này Thái Sơn du di cho em nghỉ vài ngày thăm nhà.

Tôi đã gật đầu và hứa với nó,

– Nơi này cách Nghi-Xuân hơn mười cây số thôi, nhưng đường lại bị Việt-Cộng đóng chốt. Chờ hôm nào bứng xong mấy cái chốt, trên đường về Gia-Nghĩa anh sẽ thả chú xuống, cho chú ghé thăm gia đình mấy bữa.

Hôm nay Liên Tỉnh Lộ 8B đã khai thông, ngày mai, hoặc ngày kia, chắc chắn thằng em tôi sẽ được về gặp mẹ nó và các em nó. Nhưng nó sẽ trở về với cái áo quan bằng gỗ, có lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ bên trên, và có cả một Tiểu Ðội Chung Sự của Tiểu Khu Quảng-Ðức với kèn trống đưa chân nó tới tận bàn thờ gia tiên.

Bao năm sau chiến tranh, tôi vẫn thường tự hỏi, có phải ngày đó ông Trời đã sai khiến hai thằng em Y Thon Nier và Nguyễn Minh về trình diện Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân chỉ với sứ mạng là chết thay cho ông thầy của chúng nó hay không?

Sáng 3 tháng 10 năm 1974 tôi rút quân về vị trí cũ của tiểu đoàn nằm bên cạnh tỉnh lộ, rồi cho gọi ba ông sĩ quan của cánh quân hướng Bắc về trình diện.

Vừa chào kính xong, Trung úy Võ Hữu Danh đã lớn tiếng tố cáo,

– Trình Thái Sơn, em và anh Thủy chỉ nghe lệnh ông Ðại úy Tài, ổng bảo gì, tụi em làm vậy. Tụi em không tự ý tắt máy rồi đi trốn đâu!

Thiếu úy Phạm Văn Thủy chỉ cúi mặt nhìn xuống đất, không mở miệng nói gì.

Còn ông tiểu đoàn phó thì mặt mày tái mét lấm lét nhìn tôi ra chiều lo âu lắm.

Tôi ra lệnh,

– Ðại úy Tài ở lại đây gặp tôi, Trung úy Danh và Thiếu úy Thủy đi về đơn vị!

Chờ cho hai anh đại đội trưởng đi khỏi, tôi mới nhìn vào mặt ông tiểu đoàn phó rồi gằn từng tiếng,

– Tôi sẽ đưa đại úy ra Tòa Án Binh vì tội “Vi phạm huấn lệnh quân sự”

Ðại úy Nguyễn Hữu Tài vội rối rít van xin,

– Xin Thái Sơn tha cho lần này! Chỉ vì tôi thấy cánh quân của tôi có nhiều lính mới quá, sợ vừa nổ súng chúng nó đã chạy, nên tôi đành cho tụi nó chui vào bụi trốn, chờ khi nào yên mới chui ra.

Không chờ tôi cật vấn nhiều lời, ông tiểu đoàn phó kể rằng, lúc nghe tiếng súng của Ðại Ðội 3/82 và Viễn Thám bắn nhau với địch quân, có vài anh lính mới vì sợ quá, nên rủ nhau bỏ vị trí, rồi ôm súng, tìm đường chạy ra liên tỉnh lộ.

Vì thế mà ông ta đành cho lệnh hai đại đội dưới quyền tắt máy truyền tin, trốn mất tăm, mất tích.

Câu trả lời thật lòng của ông tiểu đoàn phó làm tôi nhớ lại hình ảnh anh tân binh run rẩy cách nay vài ngày.

Cơn giận của tôi chợt nguôi ngoai, tôi giơ tay phất một cái ra lệnh,

– Ði đi!

Nghe thế, ông Tài vội lụp chụp đứng nghiêm, vừa chào tôi xong là chạy biến đi ngay.

Sáng 4 tháng 10 năm 1974 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được lệnh lên xe để về vùng hành quân mới.

Dọc đường từ Nghi-Xuân, qua Gia-Nghĩa tới Kiến-Ðức chúng tôi đã chứng kiến cảnh dân chúng vui mừng đổ xô ra mặt lộ, vẫy tay reo mừng, chào đón các chiến sĩ vừa khai thông xong Liên Tỉnh Lộ 8 B. Con đường Liên Tỉnh 8 B này chính là mạch sống của toàn thể cư dân Quảng-Ðức.

o O o

Bên suối Dak Blao …

Trưa ngày 4 tháng 10 chúng tôi tới chân đồi Kiến-Ðức. Ðoàn xe chở quân ngừng lại trên mặt Tỉnh Lộ 344, dưới chân một ngọn đồi có cái cây khô cao sừng sững.

Phong cảnh ở đây buồn quá, khiến cho tôi nhớ lại lời nói của ông Trung tá Nhu trước ngày tôi dẫn quân rời Pleiku:

“Chắc đi khỏi đây rồi, chú sẽ nhớ Pleiku lắm nhỉ?”

Nhẩm tính lại, nếu không bị cản đường, chỉ cần một ngày di chuyển bằng xe chúng tôi đã có thể đi từ Pleiku tới Gia-Nghĩa. Vậy mà trải qua nửa tháng trời vất vả chúng tôi mới có mặt ở chốn này.

Tại đây chúng tôi sẽ thay thế hai tiểu đoàn trực thuộc Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân giữ nhiệm vụ phòng thủ Chi Khu Kiến-Ðức và khu vực phụ cận.

Hướng Bắc vùng này do Tiểu Ðoàn 96 Biệt Ðộng Quân bàn giao. Tôi cho Bộ chỉ huy nhẹ của Ðại úy Tiểu đoàn phó và Ðại Ðội 4/82 trấn giữ khu vực này. Ðại Ðội 4/82 chiếm giữ ngọn đồi có cao độ 700 mét nhìn xuống con suối lớn có tên là Dak Blao.

Hướng Nam là khu vực do Tiểu Ðoàn 72 Biệt Ðộng Quân bàn giao.

Nơi đây có ba ngọn đồi nằm giữa Ngã Ba Kiến-Ðức. Tôi cho các đại đội còn lại phòng thủ ba ngọn đồi này.

Bộ chỉ huy tiểu đoàn nằm với Ðại Ðội 3/82 trên đồi chính, cũng là khu có bốn khẩu pháo 105 ly tăng cường.

Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 13 Aug 2023

  Tháng tám, mùa Thu năm Dậu, binh lửa khắp bốn phương, Hà Đô rực cháy ta lánh mình về ở Thạch Quận, nơi ấy núi đồi trùng điệp, khí lạnh căm căm. Nhân khi thong thả, có kẻ cho mượn một cuốn văn vần rách nát đọc giải khuây. Câu chuyện đời nàng họ Vương đã muôn phần éo le oan trái thời nhiễu nhương tao loạn, thật đau lòng rơi lụy; lại thêm lời thơ như ngọc chuốt, ta tuổi còn thơ cầm nước mắt không đang. Đến như Từ Hải đường đường một đấng mà cũng sa cơ làm ta xót xa tấc dạ.

Ta hỏi: Áng văn của ai mà trác tuyệt. Đồ trẻ ranh miệng còn hôi sữa biết gì mà nói, tuổi mày còn chưa được phép đọc nửa kể gì đàm luận, khúc Đoạn Trường Tân Thanh này là của Tố Như Tiên Sinh viết ra đã hơn một trăm năm. Từ buổi ấy ta lấy sách đó nằm lòng đọc đi đọc lại đến nỗi nhập tâm. Bao nhiêu dâu bể sống lên trong buổi nhiễu nhương bức rứt, đứng ngồi không yên, cảnh tang thương diễn ra như giấc mộng, tuồng đời lắm cảnh nhố nhăng khiến ta mỗi ngày một thêm yêu tay giang hồ Từ Hải, lòng những không yên tự hỏi: đời người anh hùng quả vậy chăng? Một đêm kia, ta đang đọc sách bên đèn trên lầu vọng nguyệt bỗng thấy một người oai phong lững lững vén màn đẩy cửa, đi vào ngồi xuống tràng kỷ đối diện với ta, xưng tên là Từ Hải. Vừa mừng  vừa lo, không biết mình tỉnh hay mê? Ta hỏi: Ông còn sống sao? Từ đáp: Ta vẫn còn sống, cảm vì thanh khí nên mạo muội đến hầu chuyện, uống với nhau chén rượu nhạt, hát với nhau một vài câu, chắc tiên sinh cũng chả chấp gì mà không cùng nhau vui ít phút nhất nửa ta cũng muốn kể lại cùng tiên sinh một vài sự thực của đời kẻ giang hồ này… Ôi câu chuyện ngày nào còn thảng thốt như một giấc chiêm bao, thực giả, giả thực nhiều lúc củng làm ta choáng váng chẳng biết ra sao. Khi tỉnh dậy ta vẫn còn nghe như tiếng ai trầm buồn bóng ai thấp thoáng, tiếng cười giọng nói như còn phảng phất. Từ đó đến nay câu chuyện vẫn còn in trong dạ đã nhiều phen cầm bút viết ra, nhưng giấy bút vẫn chừng như nguội lạnh, bao đêm trường thao thức nhiều khi muốn đoạn tuyệt với bút nghiên. Giấy mực còn có nghĩa gì nửa? chữ nghĩa thánh hiền mà làm chi?

Đêm qua ta lại thấy Từ Hải về đứng bên thư án hỏi: Tiên sinh còn nhớ kẻ hèn này không? Ta nói: Còn nhớ, quên sao được… Từ Hải trừng mắt nhìn ta: Sao tiên sinh không vứt bỏ bút, đốt bỏ sách mà cầm lấy một con chủy thủ? Ta buồn rầu: Con chủy thủ từ chàng Kinh Kha đến nay đã thất truyền, còn chăng là những con chủy thủ giả trong giới lục lâm. Từ Hải quát lên: Tiên sinh không còn một mũi nhọn nào khác sao? Ta lặng đi, đến khi nhìn lên thì không còn thấy Từ đâu nửa.

Đêm nay nằm nghe tiếng súng vẳng đưa vào kinh thành, trời đất u ám, ta nghe như tiếng quát của Từ Hải còn vang dậy. Ta thấy cần phải trả cho xong một món nợ nên ngồi vào thư án, thắp ngọn bạch lạp mà viết lại câu chuyện đời của Từ Hải này, một là để gởi cho vong linh của Từ Hải. Sau là để tạ ơn với Nguyễn Du tiên sinh đã cho một kẻ sống 200 năm sau được gặp một tay giang hồ cự phách.

Từ Hải dời bến lên tìm tửu điếm. Trời nhá nhem tối qua mấy con đường trong phủ vẫn không thấy một tửu điếm nào, mải cho tới cửa đông thành mới thấy mợt quán rượu lớn ngoài cửa có treo đèn lồng liền bước vào gọi rượu, chủ quán ngó vào mặt Từ Hải rồi từ chối:

_Ở đây không bán rượu anh sang cửa Bắc mà uống.

_Sao cửa tiệm bán rượu mà không bán rượu là thế nào. Nhà ngươi sợ ta không có tiền sao?

Vừa khi đó có hai người khách bước vào quán kêu rượu, chủ quán bỏ Từ Hải chạy vào kêu kẻ hầu mang rượu ra. Trông hai người kia có vẽ sang trọng hơn. Từ Hải đập bàn hét lớn:

_Tụi bay khinh ta không đáng uống rượu sao?

_Có lẽ anh ở xa mới tới nên không biết rằng nơi đây chỉ bán rượu cho các quan mà thôi. Anh sang cửa Bắc uống với tụi phu phen và lái buôn ở bên đó thì hơn.

Từ Hải nghe nói máu giận trào hông nhào tới thoi tên chủ quán một cái nhào vô tường té xỉu. Hai người khách ở bàn trong đứng dậy. Người cao lớn tiến ra chưa kịp nói nửa lời đã bị Từ hải đá chúi ngả vào gầm bàn. Người khách còn lại ra vẽ văn nhân đứng ở phía bên kia bàn nói ra:

_Nhà ngươi sao dám phạm vào quan Thái Úy, muốn chết hay sao?

_Thái gì, có thái thịt, mi muốn ta thái nó ra từng miếng mà nhậu nhẹt chơi không. Mi muốn sống hãy ngồi xuống, ngồi xuống, ta ra lệnh.

Người khách run sợ ngồi im. Từ Hải tới vực tên kia dậy rồi đặt ngồi trên ghế cùng tên chủ quán.

_Quán này dành cho các quan mà, toàn quan lớn cả, thằng thuyền chài này xin làm một tên lính hầu rượu cho phải phép. Tửu bảo đâu mang rượu ra đây.

Lũ hầu run sợ mang rượu ra, Từ Hải cầm cả vò đổ lên đầu tên Thái Úy và chủ quán.

_Uống đi mời các quan…ngàn năm một thưở kẻ hèn mọn du côn này mới có cơ hội để hầu rượu quý quan. À, quan lớn, mời quan lớn.

Người khách ngồi im như đã chết. Từ Hải đẩy một vò rượu qua nhưng khách vẫn ngồi im.

_Sao quan lớn, hay ngài không muốn dùng thứ rượu này. Tửu bảo hãy cho ta thứ rượu tăm Sơn đông ra đây, hãy hâm thật nóng. Tửu bảo mang rượu ra. Từ Hải mở vò ngửi ngửi rồi nhấc lên tu một hơi. Một hơi rượu làm Từ Hải tỉnh táo, Từ đưa tay quệt áo ngang miệng nhìn người khách vẫn ngồi im.

_Quan lớn, nhậu đi quan lớn, mấy khi tên cu ly này mới được hầu rượu quan lớn! Tửu bảo cho ta nửa con heo béo ra đây.

_Dạ thưa không có heo.

_Có thịt người không?

_Dạ… dạ…

Từ Hải hít mũi đánh hơi rồi xô ghế đứng lên đi thẳng xuống nhà bếp. Từ thấy có mấy đảnh thịt treo liền vớ lấy.

_Cái gì đây tụi bây?

_Dạ thịt cầy

_Thịt cầy thì tao không ăn được sao? Hay thịt cầy chỉ dành cho các quan lớn quan nhỏ nhà mày?

Từ Hải mang mấy đảnh thịt lên vừa ngoạm vừa uống rượu. Tên Thái Úy và chủ quán đã ngúc ngoắc cái đầu. Người khách vẫn ngồi im.

_A ha, quan lớn chê rượu Sơn đông à. Vậy thì có một thứ rượu chính hiệu Việt đông đây, kẻ hèn xin cam đoan là rượu tốt để dâng lên ngài dùng thử. Vừa nói Từ Hải vừa đứng lên hai chiếc ghế giang chân tụt quần ra và lấy chiếc bát cầm ở tay mà đái vào. Xong xuôi Từ Hải bước vào giữ đầu người khách mà đổ vào miệng. Hắn kêu ằng ặc như một con heo bị chọc tiết. Kẻ trong quán ngó ra xanh mặt.

Ăn uống no say Từ Hải đứng dậy kêu tửu bảo:

_Lúc các quan lớn trở dậy chúng bây nói lại rằng: Từ Hải, một tên chèo thuyền du côn ở bến Việt đông rất mong được hội ngộ quý quan…

Từ Hải chếnh choáng hơn men trở về bến miệng lảm nhãm văng tục. Lủ tửu bảo kinh hồn đứng ngó nhau, bởi cái tên Từ Hải làm họ rụng rời. Ở cái đất Việt đông này cái tên Từ Hải ai là chẳng nghe đến một hai lần bởi những hành tung của Từ Hải. Từ là một con người thuyền chài dưới bến, có võ nghệ, người đen đủi xấu xí, nhưng xử sự là một tay anh chị hào phóng. Hồi chưa có Từ Hải ở phủ Việt đông bọn du thủ du thực lưu manh phá phách thật khổ sở, chúng làm đủ mọi việc nhơ bẩn. Một tay Từ Hải đã làm cho bọn này khiếp sợ, kẻ thì bỏ đi tìm đất khác kiếm ăn, kẻ cải tà quy chánh làm đàn em Từ Hải, cho nên người ta gọi Từ Hải là “trùm du côn”. Từ Hải thấy chuyện gì chương tai gai mắt là chẳng bỏ qua giúp kẻ yếu trừ kẻ mạnh, lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo chẳng bao giờ thu cho mình một chút lợi nhỏ quanh năm đóng một chiếc khố rách. Bởi thế ai cũng kính nể, mến chuộng. Từ chỉ vui với đàn em và nghề chài lưới nể ai mời mọc trả ơn chàng thì nhận uống một bữa rượu suông cho say mà lấy làm thích. Uống rượu ngà ngà Từ Hải huyên thuyên hát và gảy đàn như một tài tử  nhàn du hạnh phúc. Viên quan ở đó có ý mến cho gọi đến sung vào lính. Từ Hải làm ngơ và từ chối: “Thưa quan lớn con chỉ là con nhà thuyền chài” Nhưng cũng vì những hành tung của Từ Hải mà bọn quyền thế thù ghét đã nhiều phen định hãm hại.

Chẳng bao lâu viên quan cai trị cũ bị đổi. Viên quan mới hống hách thêm vào bọn sai nha quấy phá. Những chuyện đo nhiều phen làm Từ Hải tím mặt bầm gan. Rồi bổng đâu có một tin sét đánh tới tai dân chài: Viên quan ra lịnh trưng dụng tất cả thuyền bè để chở đá về Bắc kinh xây dựng hoàng cung. Đó cũng là vì viên quan muốn lập công với triều đình. Lệnh vừa ban ra dân chài lo sợ cho đời sống. Họ chỉ còn biết nhìn nhau khóc. Lời ta thán kêu ca tưởng thấu tới trời. Từ Hải liền tụ tập mọi người kéo tới cửa phủ để kêu xin. Nhưng cửa phủ đóng kín, lính canh nghiêm ngặt không cho vào. Chẳng những thế lính canh còn được lệnh đánh đuổi lũ dân đen. Những ngọn roi đã quất xuống. Từ Hải cáu giận quát lên:

_Sao lại thế được không có dân chúng bây làm quan với ai? Chúng bây muốn chết không có đất chôn phỏng?

Từ Hải liền trở về. Đêm hôm đó liền tụ họp mọi người lại tìm cách đối phó. Từ Hải bàn cùng mọi người xem phải làm thế nào. Nhưng rồi chẳng biết phải làm sao.

_Tại sao chúng ta lại phải chịu mãi sự bất công? Chúng ta đâu phải súc vật để chúng nó làm sao nên vậy. Bà con cô bác nghĩ xem. Tôi chỉ muốn bằm cho chúng nó mấy nhát rồi ra sao thì ra.

_Nhưng sức chúng ta yếu.

_Không, chúng ta không yếu nếu chúng ta hợp sức với nhau. Tại sao chúng ta lại không chống cự?

_Anh định rủ bà con làm loạn hay sao?

_Làm loạn là thế nào? Ai lại không muốn yên ổn làm ăn? Nhưng bây giờ người ta có cho mình sống như thế không? Sưu cao thuế nặng, nay mai việc khác ăn không ngon, ngủ không yên. Kẻ trên không đoái đến dân chỉ lo thụ hưởng, chất chứa bạc vàng, xây dinh thự, đàn ca hát xướng. Kẻ dưới cậy quyền hà hiếp dân chúng. Miếng ngon của lạ bị cướp, vải lụa bị thu không còn mảnh khố che thân. Gái đẹp bị mang đi rồi thải ra cho làm đĩ… Bao nhiêu việc đó ai không thấy, có mắt tai để đâu mà không biết. Vậy thì ai làm loạn? Thời như thế này đã chẳng phải là loạn hay sao? Chúng ta không muốn loạn, không làm loạn mà chỉ muốn hành động để được sống yên…Nay chúng ta chỉ còn mấy mảnh thuyền nát, gạo không còn một hột, tiền không còn một trinh, sống chỉ nhờ vào cái thuyền, nay lại trưng dụng để đi chở gạch xây nhà cho quan ở, như vậy thì khác nào chúng giết dân chài. Chúng ta bị chăt cụt tay chân… Lẽ thiệt hơn như thế tôi nói để bà con cô bác hay. Chẳng lẽ lại ngồi nhìn nhau mà chờ chết hay sao?

_Nhưng nếu chúng ta không chống nổi triều đình?

_Sao lại không? Chưa hành động mà đã sợ thất bại là làm sao? Chẳng qua ở đời này ai cũng một lần chết. Như vậy chọn cách chết nào tốt đẹp cho cuộc sống thì thôi chớ. Được thì sống, thua thì chết là lẽ thường tình…Ai theo tôi?

Câu hỏi cuối cùng đầy vẻ quyết liệt làm cho mọi người im lặng. Cả một vùng bến nước đắm vào nỗi hoang mang lo lắng. Những chiếc thuyền đứng im, người ta chỉ nghe thấy những tàn đuốc rơi xuống mặt nước sèo sèo. Từ Hải đưa mắt nhìn vào hơn hai trăm chiếc ghe chài châu đầu vào nhau thành một vòng tròn. Trong nền đêm ánh đuốc soi chập chờn vào những khuôn mặt đen bóng khắc khổ. Những mái tóc bạc chen vào những mái tóc xanh. Những con mắt tư lự, đôi môi ním lại uất ức. Họ đã đồng thanh theo Từ Hải. Sau khi các thuyền bè đã tản ra Từ Hải tụ anh em lại bàn tính mọi việc. Sáng hôm sau Từ Hải loan báo cho dân chài biết hết, trưa mọi người sẽ rời bỏ bến kéo đi, đám thanh niên lựa lấy những chiêc thuyền tốt giữ lại còn bao nhiêu dồn lại một chổ rồi phóng hỏa đốt hết, lửa cháy rực trời cả bến Việt Đông, dân phủ náo loạn kéo xem. Quan Phủ nghe tin mang lính ra thì chỉ nhìn thấy những mảnh ván trôi lều bều trên mặt nước, dưới bến không còn một chiếc thuyền liền bắt người tra khảo nhưng chẳng ai cung khai điều gì. Tức giận viên phủ quan sai chém đầu mười kẻ bêu xác trên cửa thành và tuyên cáo lùng bắt đám dân chài nhưng họ đều đã đi mất tăm. Từ Hải dẫn đàn thuyền ẩn vào khu rừng lau ở giáp phủ Việt Đông với Uyển thành. Sau biến cố ở Việt đông viên quan vội vàng viết biểu về triều. Minh Thế Tổ lúc đó đang tin dùng lũ hoạn quan. Bao nhiêu quyền bính ở cả trong tay bọn dua nịnh nên kỷ cương nát bét. Giặc giả nổi lên tứ tung không làm sao đánh dẹp được. Dù vậy việc ở Việt đông lại được chú ý vì công việc xây dựng một hành cung trở thành quan trọng. Nhưng khi quân đội tới nơi củng chẳng có ai mà đánh ngoài việc cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà.. dân chúng thêm phần cực khổ, thanh niên phẫn uất bỏ đi theo Từ Hải thêm đông. Ngày thao luyện võ nghệ. Đêm đêm giong thuyền đón chặn những thuyền buôn lấy lương thực, đón bắt những lính tuần, cướp phá những kẻ quyền thế giàu có, cùng những tên quan hà hiếp dân lành. Tiếng tăm Từ Hải mỗi ngày một vang động khắp cả vùng Sơn đông. Nghe đến tên Từ Hải bọn quan lại đều run sợ. Chẳng bao lâu Từ Hải đã chiếm được một vùng ven biển làm bản doanh, thanh thế mỗi lúc một lừng lẫy. Những kẻ bất mãn với triều đình, những kẻ bị hàm oan, những kẻ có máu thảo khấu cùng tìm về tụ tập dưới trướng Từ Hải trong số có bọn thảo khấu Vương Trực ở Giang Nam, bọn Tứ Quái ở Thiểm Tây, bọn Từ Văn Trường ở Sơn Âm và nhiều thanh niên có máu giang hồ hảo hớn ưa chuyện phiêu lưu cứu khốn phò nguy khác.

Với lòng ngay thẳng thái độ khảng khái kiên cường Từ Hải đã nêu cao ngọn cờ đại nghĩa trước đám dân đã chán ghét một triều đình bất lực thối nát nên mỗi lúc ngã theo một thêm đông. Lòng người như thác lũ cuộn lên tưởng như có thể cuốn đi tất cả những gì đang ngăn chặn, ngăn cản, đè nén trên cuộc sống, Nhưng vì giòng nước không chảy về một phía mà đổ về nhiều đám giặc nhỏ, chia thiên hạ ra từng khu vực  mỗi kẻ hùng cứ một phương, xưng hùng xưng bá, tình cảnh nhiễu nhương thật không thể nào tả xiết. Nổi lên ở Việt đông, dần dần Từ Hải xua quân xuống miền Nam tung hoành như giữa chốn không người; chẳng bao lâu chiếm cả vùng duyên hải. Đại quân kéo xuống chiếm Lâm Thanh, Châu Thường và đóng tại đó, thế quân như thế chẻ tre. Các thành Vô Tích, Hàng Châu, Châu Thai bị đe dọa, chỉ mới nghe tiếng Từ Hải nhiều tên quan đã bỏ thành trốn hoặc sửa soạn đầu hàng. Dự định đánh một trận lớn để gây thanh thế Từ hải quyết định hạ trại, đóng quân thao dượt binh mã, chiêu nạp thêm quân lính rồi một mình cùng mấy kẻ hầu cận cải dạng xuống phương nam xem tình hình, trong đám có Từ Nguyệt Minh người ở Sơn Âm hiệu là Văn Trường trước vốn là thượng khách của Hồ Tôn Hiến. Từ Văn Trường là kẻ có học, văn hay chữ tốt, không sách gì là không đọc, tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ, nhưng thiếu bè cánh, không được trọng dụng nên sinh ra bất mãn, du sơn du thủy. Cái học không được đặt đúng chổ khiến cho Văn Trường thành kẻ trụy lạc, chỉ lấy thú vui rượu chè đĩ điếm làm hứng cho văn chương.

Khi trước Văn Trường đã từng đến mua vui ở Hàng Châu, thủ phủ có hàng mấy ngàn nhà điếm, chính ở đó Văn Trường đã chứng kiến chuyện viên Thái Thú Hàng Châu là Liễu Tuyên Giáo vì không ưa những kẻ xuất gia thờ Phật nên rắp tâm dùng bọn gái điếm cám dỗ khiến nhiều nhà tu phá giới. Đến lúc sau Thái Thú Liễu Tôn Giáo bị đổi đi. Trương Nguyên Biện đến thay thế, chính người này đã tiến cử Văn Trường với Hồ Tôn Hiến. Thái thú Trương Nguyên Biện ghét bọn gái điếm nên tìm cách đuổi đi hoặc giết những gái điếm trước kia trong viện Hồng Liên theo Liễu Tôn Giáo hại nhà chùa đều bị Trương Nguyên Biện giết hết con số lên đến hàng mấy ngàn người. Vì có chút cảm tình với nàng Vương Thúy Kiều nên Văn Trường đã xin cho nàng thoát nạn ấy. Do chuyện cũ Văn Trường đã đề nghị với Từ Hải ghé vào Hàng châu để nhân cơ hội gặp lại người xưa và để ăn chơi thỏa thích ít ngày, sau những gian nan khổ sở thiếu rượu, đàn bà, ca hát. Trên chiếc thuyền xuôi gió Văn Trường nói với Từ Hải:

_Tôi nghĩ rằng đã đến lúc tướng quân phải xưng đế hiệu để lấy danh nghĩa cho dân chúng theo. Chứ chẳng lẽ mãi mãi chúng ta chỉ là một phường cướp biển.

_Ông muốn được làm quan lắm sao? Ngó bộ mình làm như thế này không có chính nghĩa sao? Ta thấy ta chẳng xứng để mà xưng đế, làm một tên thuyền chài mà sánh với những Lưu Bị, Lưu Bang e không chính danh? Và có lẻ ta chỉ hợp được là một tên du côn rong chơi? Thực tình ta đâu có muốn làm chuyện này, làm một đế vương có gì là sướng nhỉ, không may lúc sống có thể bị chặt đầu, khi chết bị quật mồ. Làm một người dân thường ở vào buổi thái bình yên trị ta cho là hạnh phúc hơn hết. Không đành được sinh vào thời rối loạn thân chẳng yên mà ta phải hành động. Ta ước sao bây giờ có kẻ tài đức, thu thiên hạ về một mối mang lại đời sống yên ấm thái bình, ta chẳng tiếc gì mà không mang thân làm kẻ xách dép, cầm roi theo hầu. Ông có thấy lúc này dời bỏ được chốn ba quân, ta thảnh thơi vui sướng biết là bao nhiêu. Bây giờ ông hãy ngâm vịnh đi quên những việc chúng ta đang làm. Suốt đời, khi ăn, khi ngủ, lúc chơi bời mà cứ phải đóng vai tướng quân quả thật ta chẳng ham. Được làm ông trời mà phải bỏ rượu, bỏ hát, đàn địch, xa bạn bè, bỏ đàn bà thì ta cũng chẳng làm. “Bán khiên cung kiếm, nhất trạo giang sơn” ta hiểu vì sao Hoàng Sào chỉ là giặc Hoàng Sào mà không là hoàng đế Hoàng Sào. Lưu Bang chỉ là một tên xã trưởng tầm thường. Lưu Bị chỉ là một tên dệt chiếu, tôi nghĩ làm nên nghiệp đế đâu có khó gì, trong lúc tướng quân có binh hùng tướng mạnh lại ở lúc xã hội rối ren, triều đình mất cả chính nghĩa…

_Thôi, ông đừng khuyên ta chuyện đó. Bây giờ chúng ta ở đây, chung đụng với nhau, còn thương yêu dân chúng, còn quý mến bạn bè. Ta sợ khi làm vua rồi ta chẳng còn được cùng ông suôi thuyền mà đi tìm gái như thế này. Địa vị, quyền bính, vinh hoa sẽ làm cho chúng ta quên hết. Ta sẽ thành một hôn quân, ông sẽ thành nịnh thần tham nhũng và thật mệt cho dân chúng lại phải nổi lên mà lật đổ chúng ta…Ông đọc sách thánh hiền nhiều hơn ta sao chẳng biết chuyện đó, những chuyện liên tiếp xảy ra trong lịch sử. Văn Trường nghe Từ Hải nói trong bụng không vui. Vì ý Văn Trường trong lúc theo về với Từ đâu chỉ muốn làm một tên giặc biển, mộng của ông đặt vào lúc lập được triều đình làm một quan đại phu.

Từ Hải uống hết vò rượu này sang vò rượu khác, chàng lấy ra cây đàn vừa gảy vừa cất tiếng hát, trong giây lát chàng đã biến từ một tên tướng vũ dũng thành một nghệ sĩ say sưa trong cõi mộng. Lúc sau Từ hỏi Văn Trường:

_Ông ăn chơi lọc lõi đã nhiều vậy ở đất Hàng châu này có chổ nào đáng là đệ nhất lầu xanh?

_Xưa kia, viện Hồng Liên là đáng kể, nơi đó có một nàng ca kỹ tên Vương Thúy Kiều đáng được tôn là nữ hoàng. Tôi đã biết hàng vạn gái chơi ở Hàng châu này nhưng chưa thấy ai có thể sánh được với nàng. Khách giang hồ, tài tử sành điệu đã nhiều kẻ chết. Nay không hiểu nàng có còn ở đó chăng?

_Trong đám làng chơi lại có kẻ như thế được sao?

_Tôi nghe kể lại nàng vốn là con một nhà gia giáo, khốn nổi lúc gặp gia biến cha bị hàm oan, khiến nàng phải bán mình chuộc tội và số mệnh đưa nàng vào chốn thanh lâu. Nàng có hương sắc mặn mà, nghề chơi lão luyện, cầm kỳ thi họa đều trác tuyệt, quả tôi chưa gặp ai như thế.

_Ông dám chắc như vậy?

_Hẳn ý tướng quân vẫn ngờ về những gái làng chơi tầm thường vì hư thân mất nết đàng điếm mà dấn thân vào thường tìm lý do bào chữa, tự vẽ ra một quá khứ để lừa mình, lừa người. Quả nàng họ Vương không thuộc hạng đó, chẳng phải ai nàng cũng tiếp, mà được tiếp ít ai đã được ân cần. Chính tôi đây vẫn chưa được gần nàng. Tôi chỉ mong sao trong đời được một lần uống rượu trên người nàng.

_Nghe ông nói ta thấy ham quá. Tới nơi mong cho chúng ta có thể gặp được.

Sau quãng đường dài Từ Hải cho mấy tên bộ hạ phân tán đi thám thính còn chàng và Văn Trường thì đi kiếm nàng họ Vương. Là một dân thuyền chài rồi lại bôn ba mấy năm liền chưa biết những thú ăn chơi của bọn giàu sang quyền thế nên Từ Hải không khỏi ngạc nhiên bàng hoàng giữa thủ phủ Hàng châu, liên tiếp nhau những cao lâu tửu điếm, trà đình, những nhà chứa xây cất nguy nga như cung điện kể cả hàng mấy ngàn giai nhân tài tử, quần áo nhung lụa, lên xe xuống ngựa nhộn nhịp không thể đếm xiết. hàng châu trong những năm cuối đời Minh là một kinh đô văn hóa và truỵ lạc. Bọn văn nhân tài tử bốn bề tụ về ngâm vịnh, trên vách tường, bàn ăn ghế ngồi hiên nhà chốn lầu xanh chi chít những bài ngâm vịnh mang đủ mọi tên tuổi ca ngợi những đóa hoa biết nói hoặc suy tụng lạc thú. Những kẻ nhiều tiền, những viên chức cao cấp lâu lâu lại giả dạng tới chẳng thiếu mặt một ai. Họ bòn mót của dân bằng hà hiếp, hối lộ, thụt két, đến kẻ gian thương cho vay cắt cổ…cuối cùng lại mang tiền đó đến Hàng châu mà thiêu trong cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Vì thế con gái nhà lành trong thiên hạ hoa mắt vì ăn chơi kéo nhau đến Hàng châu làm đĩ mỗi lúc một đông, nghề nghiệp nhàn hạ, lại được ăn ngon mặc đẹp, có kẻ phúc mai bỗng một sáng một chiều trở thành mệnh phụ. Làm đĩ quả là nghề đi buôn không mất vốn mà dễ được giàu to bởi hoàn cảnh nhiễu nhương suy đồi tạo thành.

Tìm kiếm hỏi thăm mãi sau Văn Trường và Từ Hải mới thấy được nơi ở của Kiều. Nàng ở một căn lầu nhỏ nhưng tráng lệ nguy nga trong một khu rộng lớn với nhiều nhà khác nhưng thuộc hạng rẽ tiền. Nhận được mặt ân nhân Kiều vô cùng mừng rỡ rước lên lầu. Từ Hải lại trút ra một số bạc lớn nên mụ chủ chứa chỉ biết cuống cuồng ra lệnh sửa soạn tiệc rượu để cung phụng vì gặp một món khách sộp. Vừa gặp mặt Kiều, Từ Hải đã say đắm. Thấy Từ đã hợp ý Văn Trường rút lui xuống nhà đi kiếm gái khác để cho Từ Hải và Kiều mặc tình mây mưa. Lâu ngày không gần đàn bà nên Từ háo hức như trâu bò được ngày phá dỗ, còn nàng Kiều cũng thấy sung sướng vì gặp một người con trai không phải nhà nghề giở những trò kinh tởm hành hạ nàng. Sau những phút say mê Từ bắt đầu tâm sự với Kiều, trong thâm tâm chàng nảy ra niềm trắc ẩn, thương yêu. Sao một người con gái như nàng mà phải đày đọa như vậy cùng với mấy ngàn con gái khác ở đất Hàng châu này. Trong số đó chắc cũng có kẻ hư hỏng còn thì ai không muốn có tấm chồng, một bầy con và một đời sống lương thiện. Cũng như chàng, cả những kẻ theo chàng ai không muốn được sống yên ấm trong một mái nhà. Hoàn cảnh khắc nghiệt và một nền cai trị hư hỏng như bầu khí độc đã làm tiêu ma bao nhiêu con người.

Từ Hải nói cho Kiều nghe đời sống của mình, chàng kết luận:

_Thiên hạ bảo anh là du côn, du kề và bây giờ là một tên giặc biển. Trong phòng này, trên giường này, trước mặt em chắc đã có những tên đại phu, những thằng đại tướng, những phường khoa bảng, những kẻ đầy chức tước quân công, bằng cấp, quỳ gối khom lưng năn nỉ em . Như vậy em có buồn vì anh chỉ là một tên du côn, giặc biển không?

_Em cũng muốn làm du côn làm giặc như anh vậy. Em khoái du côn lắm, du côn là chơi gậy, chơi gậy thì tốt không nham hiểm, lươn lẹo độc ác. Chẳng qua em giờ là một con đĩ, đĩ với du côn như nhau. Phải không anh?

_A, hay lắm không ngờ anh lại gặp được tri âm. Ừ nhỉ, tại sao du côn, đĩ không phải là những kẻ đáng giá hơn hết ở vào thời buổi này. Tại sao mình không thể lập một “triều đình du côn”. Anh là hoàng đế, em là hoàng hậu du côn?

_Anh có say không đó?

_Không, anh mà say thì anh đã mất đầu lâu rồi. Đi làm loạn thì không được say, vì anh say thì bộ hạ biết còn trông vào ai?

_Anh là tướng lớn vậy sao?

_Có đứa nó còn xui anh xưng đế hiệu nửa.

_Trời ơi, như vậy thì em có muốn làm vợ anh cũng chẳng được, một hoàng đế, một vị tướng quân mà lấy vợ là một gái điếm thì còn thể thống gì nửa?

_Trời ơi, em tưởng chứ, bọn nó điếm đến mấy lần, điếm mà không nhận là điếm. Tiên nhân chúng nó, điếm từ trong triều đình điếm ra. Vua đĩ, quan đĩ, tướng đĩ, cho nên thời mói loạn, dân mới khổ. Em mới thế này, anh mới thế này chứ. Như vậy làm điếm như em biết phân biệt người, biết kẻ tri âm, cũng như anh làm du côn, làm giặc mà còn bằng vạn bọn nó.

_Chết chết, anh say thật rồi đó.

_Anh không say, nhưng lòng anh như lửa đốt. Đâu anh muốn thế này, đâu em muốn thế này. Anh chỉ muốn có một chiếc thuyền, một cây đàn… Những kẻ bỏ nhà theo anh đâu muốn làm giặc. Quả anh bây giờ chỉ muốn đốt bỏ căn nhà này, hỏa thiêu cả thành Hàng châu giải thoát cho bao kẻ phải chịu kiếp khốn khổ, đem thân hầu hạ bọn người giàu có quền thế bất nhân trong thiên hạ. Chắc em cũng muốn như thế?

Giọng Từ hải như thét lên có lúc như tiếng thép chạm nhau, có lúc quằn quại  như cơn lốc, có lúc ồ ạt như sóng dữ, rồi trầm xuống xúc cảm thân yêu. Bao nhiêu năm lăn lóc trong đời nay Kiều mới gặp được một kẻ như thế. Nàng xúc động ứa nước mắt. Nàng như con chim bị nhốt chỉ muốn tháo cũi sổ lồng mà bay lên trời xanh. Chung sống với nhau Từ Hải và Kiều mỗi lúc thêm quyến luyến như chẳng muốn rời. Từ Hải bỏ tiền chuộc Kiều khỏi chốn lầu xanh và cùng nàng trở về chốn ba quân phong làm phu nhân, mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm.

Vui chơi ít ngày thỏa thích rồi Từ chỉnh đốn quân mã xuống hạ thành Châu thương, Lâm thanh dễ như trở bàn tay. Quân sĩ triều đình phần bỏ chạy như vịt, phần quy hàng. Từ liền kéo quân xuống vây Hàng châu. Văn Trường vốn nhơ ơn cũ của Thái thú Trương Nguyên Biện nên xin vời Từ vào thành thuyết phục Nguyên Biện ra hàng. Từ Hải còn ngần ngừ, Văn Trường liền nói:

_Tôi theo tướng quân đã lâu, ân huệ được hưỡng đã nhiều vậy nay xin cho tôi trước là được lập một chút công mọn, sau là tôi trả ơn cho một người bạn cũ đã giúp đỡ thưở hàn vi. Vả tướng quân cũng không muốn việc đâm chém, trong lúc lửa đạn biết bao kẻ vô tội phải vong thân.

Từ nghe phải liền cho Văn Trường vào thành thuyết Trương Nguyên Biện. Được tin báo có Văn Trường xin vào thành Nguyên Biện ra lệnh cho lính mở cửa mời vào rồi bước xuống thềm. Thấy Văn Trường, Nguyên Biện vội vái chào rồi nói:

_Không ngờ lại được hội ngộ cố nhân ở hoàn cảnh này, tôi nghe nói tiên sinh ở hàng ngũ của loạn quân nhưng không tin, chắc tiên sinh đến đây để giúp tôi cùng giữ thành và dẹp giặc, như vậy thì làm gì chúng ta chẳng thắng.

Văn Trường bị chăn họng trước không  biết nói sao, rốt rồi phải làm nước bài bây:

_Quả đúng như người ta đã nói với tiên sinh, hiện tôi ở dưới trướng Từ Hải. nay thấy  thành bị vây khốn nên xin vào đây gặp tiên sinh mang điều lợi hại mà bàn luận.

_Chết nổi sao tiên sinh lại có thể làm thế được. Như vậy chắc là tiên sinh vào đây thuyết phục tôi hàng giặc mưu phản lại triều đình mà tôi đã gội ơn mưa móc?

_Tôi vẫn biết tiên sinh có mắt thấy được người nên xưa kia đã tiến cử tôi với Hồ Tôn Hiến. Tôi tưởng đã có chổ dung thân mang chút tài mọn phò vua giúp nước. Nhưng triều đình nay không còn xứng chổ triều đình nửa. Sự hưng vong lẽ biến dịch là điều phải đến, phải có không ai cưỡng được. Từ Hải dấy binh cứu dân dựa vào lòng người nên đi đến đâu thâu được nhân tâm đến đó. Xưa kia Hán Cao Tổ chém rắn dấy nghiệp chỉ là tên xã trưởng, diệt được nhà Tần cũng chẳng phải là giặc sao! Tôi thiết nghĩ giặc hay không giặc chẳng thể đứng ở một phía triều đình mà định được. Tôi vào đây trước là tình bạn cũ sau là lẽ thiệt hơn, rốt là sinh mạng của binh sĩ và lê dân mong tiên sinh nghĩ lại để chúng ta cùng giúp Từ Hải mà lập nên nghiệp lớn, mang thái bình lại cho thiên hạ.

_Ý tôi đã quyết sinh ra tôi chỉ thờ một chúa. Kẻ sĩ học chữ thánh hiền trước phải lấy đạo trung làm trọng, sao lại có thể nay theo kẻ này mai theo kẻ khác mong vinh thân phì gia, như vậy chẳng phải là phường cầm thú hay sao?

_Tôi đọc sách thấy Hoài Âm Hầu bỏ Sở Bá Vương mà theo Hán. Công tử Củ chết, Thiệu Hốt chết theo mà Quản Di Ngô chịu ở tù về phò công tử Tiểu Bạch… Như vậy có phải là bất trung đâu. Người quân tử không vì tiết nhỏ mà bỏ việc lớn. Nay triều đình thối nát, quan lại hư hèn, kỷ cương không còn nửa, như vậy mà tiên sinh vẫn khư khư cố chấp với chữ trung hạn hẹp ngồi yên mà nhìn được sao?

_Trước tiên sinh ở dưới trướng Hồ Tôn Hiến có viết biểu Bạch Lộc dâng vua, tôi còn nhớ những lời xưng tụng của tiên sinh. Mới từ đó đến nay mà tiên sinh đã thay đổi được sao. Tôi e vậy mà thiên hạ không khỏi chê cười mà sử sách cũng còn lời quở trách. Tôi hỏi thật tiên sinh có phải cái mộng ước của tiên sinh chỉ là muốn được ngôi cao bổng hậu, chẳng phân biệt trắng đen phải quấy? Tiên sinh không coi hạnh của kẻ sĩ là trọng sao? Tôi mong tiên sinh có thể chết cho Từ Hải được, cũng như tôi, giữ được thành thắng được giặc thì nhất, không thà chết chịu tội bất tài. Xin tiên sinh đùng bắt tôi nghe những lời bất trung vô sĩ nửa.

Văn Trường ngượng mặt biết không thể thuyết được Trương Nguyên Biện nên cáo lui ra khỏi thành.

Nguyên Biện không chịu hàng, Từ Hải kéo quân lên vây sát thành rồi vác đao ra trước trận kêu Trương Nguyên Biện ra quyết đấu. Trương Nguyên Biện cũng dàn quân rồi ra trước trận chỉ gươm vào mặt Từ Hải mà mắng:

_Thằng giặc lùn kia muốn sống mà xuống ngựa đầu hàng ta sẽ tha chết cho. Trước ta đã định mang quân đi hỏi tội bọn bây về việc cướp bóc dấy loạn, bây giờ bọn bây lại dẫn xác đến đây quả là đến số.

Từ Hải chẳng nói chẳng rằng thúc ngựa vọt tới chổ Nguyên Biện nhưng thoắt cái đã có một viên tướng trẻ xông ra. Từ giật ngựa đứng lại nhìn tên tướng  mặt còn non choẹt… Từ Hải  bật cười hỏi:

_Mày là ai vậy thằng nhỏ? Múa may với ta làm gì cho phí sức, hãy dẹp ra cho ta bắt thằng già kia.

_Mày đừng hỗn láo với chủ tướng của ta mày thử xem có đủ sức để thắng nổi một tên bộ tướng này chăng?

_Thôi mà nhỏ, mày cũng là tướng nửa, nhưng ta có coi ngay cả cái thằng phong tướng cho mày ra cái gì đâu.

_Không nói gì hết, ta với mày kẻ sống người chết.

Hắn xông vào khiến Từ Hải phải kháng cự, qua mấy hiệp Từ Hải dừng lại, lui ra:

_Này nhỏ, quả mày muốn chết sao? Nhưng dù sao tao cũng muốn hỏi mày xem mày cũng là thằng khá mà sao mày lại đi làm tướng cho cái bọn triều đình khốn nạn kia. Mày làm tướng để bảo vệ cái gì?  Bảo vệ bọn vua quan? Bảo vệ cái tổ điếm Hàng châu này? Chẳng lẽ mày là một thằng đốn mạt vậy sao? Mày nên theo tao đi.

_Phường giặc cỏ đừng nhiều lời, thà chết, chứ tao không theo mày.

_Sống không biết sống sao cho đáng sống, chết không biết chọn cái chết cho đáng chết. Thế mà cũng đòi làm tướng.

Viên tướng trẻ như con gà sống tơ, mặt đỏ rần xông vào làm Từ Hải tức giận khoa đao nhẹ một đường nhanh như chớp chiếc đầu viên tường đã lìa khỏi cổ. Từ Hải vẫy quân tiến lên, chàng thì xông vào chém Trương Nguyên Biện một nhát chẻ người làm hai mãnh chết thê thảm. Quân triều đình tan vỡ trước sức ồ ạt của quân Từ Hải. Dân chúng mở cửa thành cho quân Từ kéo vào.

Vào được Hàng châu nghiễm nhiên Từ đã chiếm được cả một vùng rộng lớn. Từ ra lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc, ăn trộm. Chàng bắt hết các chủ chứa điếm giết đi bao nhiêu gái chơi được tự do chọn nghề sinh sống, kẻ nào muốn lấy chồng thì Từ mang gả cho lính mình rồi chia đất hoang cho khai thác lập nghiệp, các nơi ăn chơi được biến thành nhà ở, trường học. Chính sách của Từ đưa dân chúng đến cảnh an cư lạc nghiệp, sau bao nhiêu năm họ phải sống cảnh khôn khổ, đen tối. Nhưng cũng từ đó dưới trướng Từ Hải trong đám bộ hạ, những hoang phí, ăn chơi cờ bạc đã diễn ra cũng chẳng khác gì cuộc sống ở nơi triều đình. Mới đầu Từ còn ngăn cấm nhưng sau cũng nhạt dần vì tự nghĩ xưa kia họ đã khổ sở thôi để cho họ hưởng  một chút. Rồi những xung đột, ghen tỵ, tranh dành đưa đến cho Từ Hải phải giải quyết khiến cho Từ nhiều lúc mất vui. Bọn võ tướng đã lười biếng thao luyện, bọn văn quan đã chẳng còn dùng ngòi bút kích động lòng quân, viết thư hộ cho binh sĩ gửi về thăm vợ mà dùng ngòi bút vào ngâm vịnh tâng bốc Từ Hải nào là anh tài cái thế, anh hùng bậc nhất thiên hạ, cứu dân, cứu nước sáng như mặt trăng, mặt trời, nghe qua đọc lướt Từ Hải cũng phải ngượng thẹn. Đến độ họ còn lớn tiếng ngâm vịnh, chúc tụng cả sự lành bệnh của nàng Kiều sau một lần đẻ non.

Nàng Kiều dựa vào thế chồng đền ân báo oán những chuyện nhỏ nhặt. Xin xỏ cho kẻ hầu hạ dưới tay những ân huệ chức tước không đáng được hưởng. Từ vì nể vợ mà phải ưng cho. Nhiều đêm Từ thoát ra được cuộc sống nhàm chán chung quanh giả dạng làm người dân thường mà rong chơi ngoài phố la cà vào những chốn giải trí bình dân mua vui, hoặc chàng trốn lên một góc thành cao mang theo cây đàn bầu rượu hưởng thú tịch mịch trong đêm vắng của trời sao và cái bát ngát mênh mông của vũ trụ. Những lúc đó Từ nhớ tiếc thưở ấu thời nơi bến Việt đông, vài ba người bạn bồng bền trên chiếc thuyền nhỏ thả mình đám chìm trong cái bát ngát vô bờ của biển khơi trong xanh. Chàng nhớ tiếc cuộc sống bình thường nhưng hào sảng trong sáng ấy. cái cuộc sống không biết đến những nhung lụa, rượu ngon, gái đẹp, quyền bính, đầy những tranh dành dục vọng. Cái cuộc sống hòa điệu với người và với vũ trụ không phải quây cuồng chém giết… Nhưng bây giờ chàng chẳng thể làm vậy được nửa. Từ Hải nổi lên từ phía bắc trên bán đảo Liêu đông rồi kéo mãi xuống tận Triết giang thế quân mỗi lúc mỗi một thêm mạnh, liên tiếp những thành trì bị hạ, những toán quân được phái đến đánh dẹp đều thua; một là vì quân của triều đình ô hợp không có nhuệ khí lại ở dưới những tên tướng vô mưu, bất tài; hai là thế giặc dựa vào dân chúng mà kháng cự cho nên năm sáu năm liền quân Từ Hải làm chủ dọc cả vùng bờ biển, trong tay giữ hơn mười thành. Thế giặc quá lớn, sự khuynh đảo đe dọa cả nền cai trị của nhà Minh khiến cho triều đình lo âu. Nhưng khốn nổi không ai dám lãnh việc đánh dẹp cùng tinh thần hư hèn cầu an. Sau chót vua phải sai triệu Hồ Tôn Hiến ở Giang nam về cho thống xuất đại quân xuống đánh. Hồ Tôn Hiến chỉnh đốn quân mã ngày đêm kéo xuống đóng quân ở phía bắc sông Tiền đường đối diện với Nam thành là bản doanh của Từ Hải. Biết thế quân của Từ Hải mạnh nếu đường hoàng dùng sức mà đánh thì phần thắng không thấy nên Hồ Tôn Hiến cho đóng trại kiên cố và án binh bất động. Hà Tôn Tiến cho quân sĩ trà trộn vào dân chúng loan truyền rằng Hồ Tôn Hiến không muốn gây cảnh chiến tranh, chỉ muốn có hòa bình cho dân chúng nên muốn Từ Hải về cộng tác với ông mà giúp triều đình, tất cả mọi người sẽ được hưởng quyền lợi xứng đáng chẳng ai có tội mà cũng chẳng ai có công.

Một mặt Hồ cho kẻ lén lút mang dâng cho Vương Thúy Kiều những vàng lụa kim cương và vô số những bảo vật, đồng thời cũng viết mật thư cho Từ Văn Trường hứa hẹn những chức tước. địa vị kèm theo với nhiều phẩm vật nhờ Văn Trường thuyết Từ Hải giải giới. Nhiều kẻ dưới trướng họ Hồ hoài nghi về chiến thuật, Hồ cười mà quả quyết:

_Từ Hải không phải là một kẻ nuôi chí lớn làm bá chủ thiên hạ, xuất thân từ đám dân chài thất học không có được con mắt nhìn xa thấy rộng, chẳng qua nắm được ưu thế là vì nền cai trị hạ tầng của triều đình hư nát, lăm tệ đoan, quan lại chỉ lo vơ vét tiền của, không chăm lo dân, đó là cái thời thuận tiện cho Từ Hải. Bắt nguồn từ những bất mãn ấy dấy loạn thu phục nhân tâm gom góp những kẻ có chí vũng vẫy mà lại cứu khốn cho dân chúng là có được cái thế. Có thời có thế nhưng Từ hành động vì tình cảm mà không có ý thức. Nay ta phao truyền sự hòa bình là làm cho dân chúng giảm đi sự hiếu chiến, họ không muốn loạn để cho cơ nghiệp tan tành. Bọn bộ hạ của Từ Hải này kẻ nào cũng có của cải yên vui tất không muốn chiến đấu phiêu lưu, rồi tất Từ Hải nghe vợ, nghe bộ hạ nói ra nói vào mà nản chí, tình cảm bị lung lạc lúc đó thật lấy đầu hắn có khác chi lấy chút vật mọn trong túi áo, mất chủ tướng rồi bọn kia sẽ tan rã. Ta chẳng mất công gì mà dẹp được chúng.

_Nhưng nó lú thì có chú nó khôn, còn bọn quân sư của Từ?

_Ta biết rõ cái bọn đó, các ông cứ tin ta đi. Những tên như Từ Văn Trường trước kia ở dưới tay nên ta đã rõ. Những kẻ đó cũng nhiều kẻ có tài nhưng không có đức, không có chí, theo Từ là vì bất mãn muốn có địa vị. Theo Từ mà vẫn khinh Từ không có học nên không thể cùng Từ giúp Từ lập nên nghiệp lớn. Bọn chúng lại hay suy luận loanh quanh. Nay ta mang mồi mà nhử, chúng tất sẽ ăn. Cái bọn đó cứ mang địa vị, vàng bạc ra mà nhử thì mua được hết. Kẻ sĩ ở vào buổi suy vong thời nào cũng vậy. Cho nên ta tin chắc Từ Hải sẽ ra hàng.

Sau khi đã bủa lưới Hồ Tôn Hiến mới gửi thư dụ hàng sai quân vào thành dâng cho Từ Hải. Từ Hải liền cho triệu tập bộ hạ bàn luận. Họ bàn tán om sòm, những câu: hàng rồi bị giết không, có bị trả thù không, mình sẽ được chức gì, có được giữ lại của cải của mình không. Đánh Hồ có thắng không, nếu thua thì làm sao? Đám bộ hạ bàn tán lăng nhăng chẳng đi tới đâu, Từ Hải bực mình phải quát lên:

_Ta chỉ có một câu hỏi cần trả lời: hòa hay chiến? không có vì sao, tại sao. Câu hỏi đặt ra chỉ có vài kẻ kêu đòi chiến, còn thì đều im lặng ra vẽ suy nghĩ. Từ Hải buồn rầu nhìn họ vì chỉ có một thời gian ngắn mà đám bộ hạ đã thay đổi gần hết. Xưa kia họ hăng hái, họ xông lên, đòi giết cho hết bọn quan lại hại dân đòi lập một đời sống mới coi thường cái chết…thì nay họ đã suy nghĩ, họ muốn đứng lại ở cái địa vị cai trị của họ, không còn muốn xông pha phiêu lưu nửa. Từ nhìn bộ hạ mà nói:

_Ta họp các ông lại đây là để cùng ta quyết định, ta cho chuyện này là hệ trọng lắm. Cơ nghiệp dựng lên chẳng có gì to tát là công của mọi người chung sức mà có được, khi khổ có nhau, khi sướng có nhau. Riêng với ý ta, ta không hàng, ít ra chúng ta cũng còn được giữ như thế này lâu lắm, đó là chưa nói tới việc lớn hơn. Chúng ta đang được sống tự do vùng vẫy chẳng có gì ép buộc mình, vậy tại sao chúng ta lại hàng, lại bó thân về cái triều đình  ta đã chống đối. Chúng ta có chịu được cái đời sống gò bó vào luồn ra cuối ở giữa những kẻ xa lạ kia không? Thật ta chẳng ham gì một địa vị công hầu khanh tướng như thế. Đó là nói ở cái thế mà họ thực tình, nếu họ tráo trở chúng ta còn là tướng nửa không khi đã hết quân? Ta sợ khi đó chúng ta hối cũng không kịp nửa. Nói xong Từ đứng lên:
_Chúng ta hãy giải tán để ai nấy suy nghĩ rồi mai chúng ta sẽ quyết định.

Từ rời sảnh đường vào phòng riêng thì gặp Kiều đã ngồi ở đó, hỏi:

_Tướng quân đã quyết định như thế nào?

_Chưa quyết định gì cả.

Từ ngồi nói cho Kiều nghe tinh thần của bộ hạ dáng băn khoăn buồn buồn. Trong thâm tâm Kiều từ hôm nhận được vàng bạc châu báu những lời hứa hẹn của Hồ Tôn Hiến đã có ý khuyên chồng giải binh, nhưng vẫn sợ thêm vào đó sự phân vân lựa chọn. Sau chót cái ý nghĩ được yên thân sum họp với gia đình đã thắng thế. Biết ý Từ chưa quyết, Kiều liền nói vào:

_Từ ngày được về hầu hạ tướng quân thật thiếp như kẻ được mang từ cõi chết ra cõi sống, nhưng chứng kiến cảnh binh đao thật nhiều khi thiếp lo sợ cho tính mệnh tướng quân. Nay triều đình đã biết đến tướng quân mà xin hòa, chức tước địa vị đợi sẳn tại sao tướng quân lại từ chối, với ý thiếp, được sống yên ổn vẫn hơn chứ nếu như ngày nay rồi nếu chẳng may lúc mình thua thì còn chi? Thân tướng quân đã vậy, còn thân thiếp ra sao? Tại sao tướng quân lại không chấp nhận sự bình thường, nhận bổng lộc cho thiếp được nở mày, nở mặt, được xum họp với cha mẹ và chúng ta có một đời sống yên vui lâu dài. Ở đây sung sướng nhưng mãi mãi vẫn mang danh phường giặc cỏ.

Tử Hải bị Kiều thuyết chàng phân vân, tình cảm bị chế ngự nên hôm sau họp bộ hạ Từ quyết định nghị hòa. Chẳng mấy chốc tin đình chiến giải binh loan truyền trong dân chúng. Một vài kẻ chủ chiến mang gia đình dời đi, còn lại thì binh sĩ trễ biếng chẳng còn nghĩ đến chuyện đánh nhau nửa. Từ Hải phúc đáp thư cho Hồ Tôn Hiến định ngày thúc giáp rồi cho quân sĩ vui chơi. Hồ Tôn Hiến vui mừng rồi sắp sẳn mưu kế chờ cho Từ ra hàng.

****

Từ đứng lên vươn vai vẽ mệt nhọc, Kiều ngồi dưới thềm ngữa mặt lên hỏi:

_Tướng quân đi đâu đêm vui chưa hết nửa cuộc.

Từ im lặng, vuốt áo ra khỏi sảnh đường. Tiếng đàn hát vẫn còn quấn quýt chạy theo. Đêm đã khuya cảnh tịch mịch trùm xuống khu thành, chỉ còn đêm nay nửa mai thành này sẽ chẳng còn ở trong tay. Một thân vùng vẫy dọc ngang làm vua một còn mà chỉ còn làm một tên quan ngày ngày cuối lưng nới thềm rồng bệ ngọc. Giây phút Từ thấy bâng khuâng, buồn như sắp mất đi một cái gì lớn lắm..chắc chẳng bao giờ chàng lấy lại được nửa. Một mình Từ dạo qua những nơi quen thuộc quân lính đều đã ngủ say chỉ còn một vài tên lính canh đi lại dáng uể oải mệt nhọc, Từ qua kho lương xuống chuồng ngựa.. rồi theo bậc thang leo lên mặt thành. Đêm bao la chụp xuống cả một vùng đồi núi, trong thành đêm nay nhiều ánh đèn hơn mọi đêm, trại quân của Hồ Tôn Hiến đã rút hẳn ra ngoài xa, chừng như đang mở hội ăn mừng. Từ bước thảnh thơi, thở hít không khí gây lạnh không phải là thi sĩ để có thể làm một bài thơ tức cảnh, Từ thấy tiếc làm sao. Tiếng trống canh rời rạc, một vài trạm chừng như lính đã ngủ hay bỏ về nhà với vợ con không thấy điểm trống. Giá như lúc khác đã có kẻ phải rơi đầu, nhưng đêm nay không cần thiết nửa. May này…bất chợt Từ thở dài..

_Thưa tướng quân, tướng quân chưa đi nghỉ?

Từ giật mình quay lại, rời đưa mắt nhìn ra xa.

_Nếu tiểu tốt không lầm vì tướng quân đang buồn vì sớm mai này tướng quân ra hàng giặc?

_Hàng giặc, sao lại là hàng giặc? Ngươi là ai?

_Tiểu tốt lài ai? Thưa tướng quân tiểu tốt là bộ hạ của tướng quân, kẻ đã nghĩ triều đình là giặc, tướng quân là bậc đế vương. Thế mà mai này khi mặt trời lên bậc đế vương đó sẽ dẫn tất cả đoàn quân dưới trướng này ra khỏi thành, quỳ gối khom lưng nhận giặc là minh chúa để nguyện trung thành tận tụy suốt đời… Thưa tướng quân, có phải vì thế mà tướng quân buồn?

_Buồn, ta không hiểu ý nhà ngươi.

_Có lẽ tướng quân cố ý không hiểu đó thôi…đáng buồn lắm chứ…

Từ bâng khuâng, tiếng nói của người đối diện như xoáy vào trong tâm tư của mình. Nhưng ít nhất cũng có người hiểu được rằng Từ buồn. Tự nhiên Từ lấy được sự thân mật dễ chịu. Ngay sau đó một cảm giác ớn lạnh chạy khắp người Từ. Thôi thế là không còn gì nửa. Mai này sẽ chỉ còn lại hai bàn tay trắng và một thái độ chịu thua, thái độ chấp nhận, thái độ đầu hàng.

_Sao ngươi lại nói với ta như vậy. Ta buồn thật sao?

Từ quay lại nhìn người đối diện với mình chờ đợi. Người thanh niên nỉm cười dáng ngạo mạn lì lợm. Anh ta vào khoản trên hai mươi, khỏe mạnh, nước da ngăm đen tóc búi ngược, y phục một tên cận vệ. Từ cố gắng để nhớ xem có phải người đối diện mình là một tên cận vệ hay không. Thanh niên xoay người chống tay lên mặt thành nhìn ra bãi cỏ phía trước.

_Tiểu tốt biết tướng quân buồn. Buồn thật hay không điều đó tướng quân tự biết.

_Bây gờ ta cũng chẳng còn là tướng quân gì nửa. Anh cũng chẳng còn là tiểu tốt nửa. Mình thua rồi.

Thanh niên xoay phắt người lại  đứng thẳng. Trong ánh sáng mập mờ Từ chừng như thấy khuôn mặt kẻ đối diện thay đổi, mặt nghiêm lại, mắt mở lớn, đôi mày rậm dướn lên vẽ dữ dằn.

_Sao lại thua, mình đâu có thua.

Từ huýt người ngồi lên tường thành, hơi cúi đôi vai lớn, ngước mặt lên:

_Đó là sự thật. Anh có lấy làm buồn không?

_Nói không là dối lòng mình. Nhưng tôi không lấy đó làm thất vọng. Tôi còn trẻ..Tướng quân có thấy là tôi còn trẻ không? Từ gật gật đầu:

_Đúng anh còn trẻ, như vậy có phải ta già rồi không?

_Tướng quân cũng còn trẻ

_Thôi, anh đừng gọi ta là tướng quân nửa, còn quân đâu nửa mà tướng. Ta cũng chỉ như anh. Ta đâu còn như hồi xưa. Phải không?

_Cũng vẫn như hồi xưa. Cũng có thể làm lại như ngày xưa..

_Ngày xưa. Anh đừng nói đến làm chi nửa..

_Sao lại vậy. Chỉ có ngày xưa..Cũng chính cái ngày xưa đó mà tôi gặp được tướng quân, đã hào hùng và bây giờ..

_Thất vọng?

_Tướng quân có biết, nhưng mà thôi…

_Biết sao, anh hãy nói ta nghe, anh hãy coi ta như một người bạn…Ai hiểu được ta, có lẽ chỉ có anh? Mà sao ta trông anh cũng buồn vậy?

_Tôi nhớ lại lúc còn sống tại quê nhà ở Giang nam nghe tin tướng quân nổi dậy đốt thuyền bè chống quan lại. Tôi đã lặn lội từ đó lên Việt đông. Tự xung vào làm sĩ tốt…Tướng quân còn nhớ những gày đó

_Nhớ, mới như vừa xảy ra mà đã năm sáu năm trời rồi còn gì. Dấy lên với hai bàn tay không với những tấm lòng hào hiệp…Mà này sao ta không bao giờ được gặp anh?

_Có chứ, nhưng chắc tướng quân quên, làm sao để tướng quân nhận từng người trong nghìn vạn quân tướng..

Người thanh niên buồn bã:

_Trong nghìn vạn quân tướng ấy đã có bao nhiêu người ngã xuống chiến trường, trải thây trên con đường hành quân, những người xông pha ở Việt đông, Triết giang, hạ năm thành ở cõi Nam, cướp Châu thai, lấy Vô tích, chiếm Lâm truy để cho tới lúc tướng quân có một giang sơn như ngày nay, có thành quách như hiện nay… Và tôi đã sống sót để mai này chứng kiến cái công lao của  những ngày gây dựng không còn nửa..

_Thôi anh đừng nhắc chuyện đó ta đã thua rồi. Anh có tiếc công, tiếc sức đã theo ta không. Anh có cho rằng ta đã phản bội lòng tin cậy của anh, của các bạn đã theo ta không?

Câu hỏi của Từ dội đi, tiếng trống canh rời rã. Từ bước đi loanh quanh. Giọng người thanh niên mơ hồ:

_Lúc sống tại quê nhà cha tôi nói: bây giờ là thời loạn. Kỷ cương của nước không còn nửa, lòng người ly tán kẻ sĩ mất truyền thống trở thành hèn hạ, con còn dùng bút nghiên làm gì nửa, ta muốn thấy con hành động như một tên du côn còn hơn. Câu chuyện ấy vẫn còn làm cho tôi băn khoăn suy nghĩ. Không có thời loạn mà chỉ có lòng người loạn. Cha tôi cũng là kẻ khoa cử nhưng từ chối công danh sự nghiệp cha tôi nhận làm một kẻ câm điếc đui mù, ngoảnh mặt đi với cuộc sống mà lại muốn con như một tên thảo khấu du côn. Cha tôi cũng loạn sao? Cha tôi bảo kỷ cương không còn, trật tự bị phá hủy, sách vỡ thánh hiền đã lu mờ còn đâu kẻ sĩ với tinh thần hào hiệp. Lòng người đã phụ với trời, kiến văn chỉ làm người ta đê hèn, bần tiện đi. Kẻ có học dùng sở học vào đường bất chánh, như vậy thất học còn hơn vì thất học không phải nhiễm độc bởi những cặn bã của tư tưởng thì với lương tâm may ra còn sống được ngay thẳng. Làm thằng du côn có chí thì cứu được đời…Tôi đã ngẫm lại và thấy có phần đúng. Trong xã hội tôi không còn thấy ai là kẻ sĩ nửa. Bọn thư sinh mặt trắng đi vào con đường tư danh, hư lợi..Có nghĩa thời loạn còn kéo dài lâu lắm. Giữa lúc ấy nghe tên Từ Hải, một tên con nhà thuyền chài vô học dấy lên, lòng người ngã theo, tôi nghĩ cha tôi đã đúng và tôi vứt bút nghiên đi theo một tên du côn.

_Một tên du côn. Anh đi theo một tên du côn mà anh nghĩ còn phải. Bây giờ anh có hối hận không?

_Không, tôi không hề hối hận.

_Tại anh kiêu ngạo không chịu nhận.

_Không phải tôi kiêu ngạo mà tôi không nhận.

_Hay anh cho định mệnh lịch sử nó phải thế?

_Không, không bao giờ tôi lấy một thứ số phận, một thứ định mệnh nào để trốn chạy. Chính là tại tôi tại tướng quân, tôi muốn hỏi tướng quân: tướng quân đâu muốn ép thân thuần phục, đâu tướng quân có kính nể Kiều, đâu tướng quân có nghe lời bàn của bọn hèn nhát, chủ hòa. _Sao anh lại cho rằng ta không kính nể nàng Kiều, không kính nể mà sao ta có thể cưới nàng làm vợ. Anh nghĩ nàng là một con điếm sao? Nếu quả vậy thì anh đã nhầm, anh đã cho rằng du côn còn khá thì với ta ngày nay trong giới đàn bà chỉ có bọn làm điếm là khá. Du côn dám nhận là du côn, làm điếm dám nhận là làm điếm, còn ai hơn nửa. Cả thiên hạ làm điếm mà không dám nhận là điếm. Như vậy ai được quyền khinh nàng Kiều. Ta chẳng sợ gì mà không nói với anh. Ta kính nể con điếm là vợ ta đó. Còn cái bọn ở chung quanh ta, cái bọn Từ Văn Trường, cái bọn văn hay chữ tốt, khoa bảng ta đâu có coi bằng một con ngựa ta nuôi. Bọn họ đâu sánh được nàng Kiều. Ta nuôi bọn nó để bọn nó nịnh bợ, ca tụng, su phụ ta. Ai cũng muốn có kẻ nịnh bợ mình, muốn có kẻ đóng kịch làm hề cho mình coi…Bọn nó theo ta chẳng phải như anh, như quân sĩ của ta. Bọn nó theo ta vì chúng không được làm đầy tớ yêu của chủ chúng như Hồ Tôn Hiến chẳng hạn.

Chúng bất mãn bỏ đi và bây giờ anh thấy đó, chúng muốn ta hàng thuận để chúng được sống yên ấm  với nhung lụa, địa vị…Bọn nó không theo đuổi một lý tưởng và sống chết với nó, bọn nó nay theo thằng này mai theo thằng khác, cứ bỏ tiền ra là mua được hết. Bọn nó làm ô danh kẻ sĩ. Loạn cũng vì bọn nó. Bọn chó phản chủ và chúng mãi mãi như thế. Với ta khi nào không được ân huệ nửa, bọn nó sẽ phản lại. Ta đã thua, ta chịu quy hàng chẳng phải vì ta đã nghe theo những vợ, những quần thần. Ta chịu thua, chịu hàng bởi vì bọn chúng không có được cái chí lớn như ta nghĩ. Ta còn lại một mình, ta hàng, ta chịu thua vì ta thất vọng, ta buồn bã. Bọn họ nghĩ giờ đã có thế lực, địa vị, mục đích đã đạt rồi còn khổ sở làm chi nửa. Họ muốn đóng lại cho đúng vai trò những kẻ mà trước đây họ chống đối. bọn họ cũng muốn trở thành quan lại, bốc lột, cũng muốn xe ngựa, áo quần, địa vị…

_Không, không thể như thế được.

_Ta không muốn chính những kẻ theo ta sẽ giết ta. Ta cũng chỉ là một tên du côn, một tên du côn về già, một tên du côn hết thời. Ta tiếc rằng sao không giữ mình là một tên du côn ở đất Việt đông. Ta nghĩ tới mai này ta phải khúm núm với cân đai bố tử ra vào chốn triều đình, rúc ngồi với bọn quan lại, nào thưa nào gởi mà sao ta muốn chết quá, hãy vứt bỏ hết đi…Sống đời một tên du côn với mảnh khố rách còn sung sướng hơn nhiều…Mai này anh có chịu ra quy hàng nhận lã nh bổng lộc của triều đình ban cho không?

_Không canh ba đêm nay tôi sẽ mạo muội tướng quân mà trốn đi

_Anh không muốn được hưởng phú quý vinh hoa với ta sao?

_Tôi còn đầy đủ điều kiện để làm một thằng du côn. Chốn công quyền không phải nơi tôi lui tới. Tướng quân sắp từ chức một tên du côn rồi sao?

_Anh cho làm du côn là cao quý lắm sao?

_Thời nay địa vị du côn cao quý lắm không có gì so với hắn được như đã thưa với tướng quân.

_Anh có bằng lòng cho ta cùng trốn đi làm du côn trở lại được không?

_Tại sao không?

Tên bộ tướng xách chiếc đầu đầm đìa máu tươi chạy hộc tốc đến bên Hồ Tôn Hiến lưỡi gươm còn vấy máu chảy chan hòa xuống đốc kiếm, hắn giơ chiếc đầu lên và nói:

_Thưa tướng quân, tôi xem đầu này không phải là đầu Từ Hải

_Không phải Từ Hải? Tại sao?

_Hắn mang râu giả.

Vừa nói tên bộ tướng vữa gỡ bộ râu quai nón nơi chiếc đầu. Tôn Hiến đứng ngây như một pho tượng gỗ mắt trợn ngược. tên tướng nói tiếp:

_Lợi dụng đêm tối, Từ dã trốn đi

_Nàng Kiều đâu?

_Nàng đang khóc bên xác chết không đầu.
_Quân sĩ của Từ?

_Đã hoàn toàn quy hàng. Một số nhỏ vứt khí giới, cởi quân trang bỏ trốn làm thường dân.

_Từ trốn đi một mình.

_Có lẽ chỉ đem theo một vài tên tâm phúc.

_Còn Từ Văn Trường không?

_Còn đầy đủ bọn hầu cận không thiếu một tên nào. Họ đang chờ vào phục lịnh tướng quân.

Hồ Tôn Hiến lặng im, bỗng hắn nỉm cười:

_Từ còn sống nhưng cũng coi như Từ đã chết. Hãy dán râu vào cho hắn, sóc lên đầu giáo trương cao cho quân sĩ an lòng rồi cho chôn đi. Một mình hắn còn sống cũng không làm được gì. Tướng không có quân không còn là tướng nửa. Một Từ Hải còn sống sẽ là một “Từ Hải giả”.

Tên bộ tướng tuân lệnh, phóng mình lên ngựa, sóc chiếc đầu vấy máu lên đầu ngọn thương, giơ lên cao chạy ra giữa trận nói lớn:

_Bớ loạn quân. Từ Hải đã bị chặt đầu theo vương lệnh. Hồ tướng quân tha chết cho bọn bây. Tất cả hãy bỏ khí giới quy hàng sẽ được toàn tính mạng: và ân xá cho trở về làm ăn, ai muốn đầu quân sẽ được thu nạp..Trên bãi chiến chỉ còn vài tốp nhỏ đang giao tranh một cách uể oải, thấy chủ tướng đã chết quân Từ tìm cách tháo lui hoặc đầu hàng, trên mặt thành vài ngọn cờ nghiêng ngã. Khắp nơi khí giới ngổn ngang cùng xác chết, kẻ bị thương kêu khóc vang trời. Khói súng phảng phất mùi khét mấy đám cháy ngọn lửa vẫn hung hãn như muốn bùng to, đám lương dân từ trong thành chạy ra ùn ùn tán loạn, kêu khóc thảm thiết, bọn lính nhân cơ hội hè nhau cướp giật. Tiếng kêu khóc van xin tưởng thấu tới trời xanh. Trong trướng Hồ Tôn Hiến cười khà khà đắc ý chợt thấy có năm ba người đi vào thì chăm chú nhìn, rồi bước xuống thêm, nỉm cười thi lễ:

_Kìa Thanh Đằng tiên sinh đã lại, kẻ hèn đang mong chờ tiên sinh. Từ Văn Trường cùng mấy bộ hạ của Từ Hải đều vòng tay thi lễ rồi tiến vào phân ngôi chủ khách và hàn huyên. Bây giờ kể tiếp chuyện nàng Vương Thúy Kiều. Sau cuộc vui cuối cùng của đêm trước khi ra hàng, nàng trở về phòng thấy bứt rứt không nguôi vì thấy thái độ của Từ Hải đầy vẽ băn khoăn lo lắng và buồn bã khi bỏ dỡ cuộc vui ra ngoài, nàng ngầm hiểu phần nào tâm trạng của Từ. Bao nhiêu năm trời vùng vẫy một cõi giang sơn, nay đây mai đó với hai bàn tay không dựng một cơ nghiệp; ra vào chốn trận địa như chổ không người, dọc ngang chẳng còn biết có ai. Cũng như ai một phương hùng cứ, triều đình một cõi đủ văn võ bá quan. Nàng Kiều đã lấy làm hãnh diện trước những danh quan danh tướng như Từ Văn Trường, cả cái bọn khoa bảng chữ tốt văn hay ấy cũng một điều thưa, hai điều bẩm.

Nếu như lúc ở Vô Tích, Lâm Truy, Hàng Châu chẳng cần tới hạng người đó cũng đủ làm xấu nàng, vứt tiền vào những tú bà, bạc hạnh để được hành hạ thân thể nàng cho chán rồi nhổ nước miếng vào mặt nàng gọi là con đĩ. Bây giờ con đĩ ấy đã là vợ của Từ Hải, một hoàng hậu chưa có ngôi và đủ để cho bọn kia cúi đầu vâng lịnh, khen nịnh, tâng bốc..Nghĩ thế nàng thấy lòng mình thắt lại và hiểu Từ buồn hơn nàng biết chừng nào. Từ một kẻ cầm đầu thành một kẻ tuân lệnh, khúm núm, chung đụng với kẻ mà mình kinh tởm gớm ghiếc, những bọn quan không ra quan, tướng không ra tướng, danh vọng, địa vị chẳng do tài đức lập nên mà do tiền bạc mua bán, do nịnh bợ, phe cánh, bè đảng tạo thành. Từ một cuộc sống vùng vẫy tự do lại phải khép mình vào những lề thói, tập tục chỉ là cái vỏ che đậy những bẩn thỉu giả trá của một triều đình mục nát vua không ra vua, quan không ra quan, của một xã hội đồi trụy không trật tự, không sinh khí, đầy tồi bại, hủ lậu, vô liêm, lẫn trốn trong cái vỏ luân lý đạo đức hào nhoáng như lớp sơn trên thân gỗ mục, mọt rỗng. Kiều nghĩ quanh nghĩ quẩn và thấy hối hận, nhưng ngay sau đó Kiều lại tìm những lý do an ủi để chấp nhận: nàng sẽ chính thức là một phu nhân, vợ một viên quan của triều đình, không còn là vợ một tên tướng cướp, vợ một tên quan được khắp cả thiên hạ công nhận sẽ không còn phải nay đây mai đó trôi nổi bất trắc và số phận sẽ ra sao vào một ngày kia khi quân Từ bị đánh tan? Nàng sẽ về gặp lại cha mẹ, Kim Trọng, về quê mở mặt, mở mày với làng xóm bà con.

Nàng không muốn phiêu lưu nửa, nàng muốn được sống tầm thường trong thái bình an lạc không còn phải run sợ trước cái bất trắc đe dọa, đau lòng trước cảnh chém giết binh lửa mà đã bao lâu nay nàng phải chứng kiến. Kiều trằn trọc với những ý nghĩ đâu đâu khiến nàng không sao nhắm mắt được, mãi đến khuya nàng mới thấy Từ trở vào phòng và lên giường vui vẽ nói vài câu chuyện rồi nằm im như ngủ. Sớm hôm sau khi Kiều thức dậy thì đã không còn thấy Từ Hải, hỏi bọn thị nữ thì nói Từ xuống trại binh sửa soạn quân mã và dặn lại Kiều ở lại trong dinh chờ Từ ra ngoài gặp Hồ Tôn Hiến xong sẽ vào đón. Nhưng giữa lúc đang trông đợi, bỗng nghe tiếng súng nổ vang rền, tiếng la dậy đất, Kiều kinh hoàng ra mặt thành ngó xuống thì thấy quân Từ đã rơi vào ổ phục kích của địch. Nàng kêu lên trước sự gian trá, giữa trận chiến nàng đau lòng nhìn đoàn quân bách chiến bách thắng tan rã và trong khói đạn mờ mịt nàng thấy bóng Từ Hải ngã xuống ngựa. Giữa cơn náo loạn, nàng bỏ chạy ra xông vào giữa trận tơi bời tên đạn, giáo mác. Dưới chân con hồng mã với  bộ giáp điều, Kiều nhận ra Từ Hải với cái xác không đầu nàng ôm lấy  kêu khóc và ngất đi. Kiều tỉnh dậy giữa tiếng ồn ào huyên náo nàng nghe thấy nhiều tiếng nói khác nhau, trong đó có tiếng nói êm ái của Từ Văn Trường:

_Phu nhân đã tỉnh rồi.

_Tỉnh thật không, người đẹp như vậy mà chết thật đáng tiếc.

Kiều mở mắt và ngồi dậy nàng thấy mình đang ở trong một gian phòng tráng lệ tràn đầy ánh sáng. Không phải là nơi trận tiền. Nàng cố nhớ lại cảnh hãi hùng thoảng qua như một giấc chiêm bao. Nàng định thần nhìn kỹ, xung quanh nàng đầy đủ những tên hầu cận, những thị vệ. Ta vẫn còn ở trong cảnh cũ sao? Nhưng đến lúc nhìn thấy ngoài cửa phòng Hồ Tôn Hiến đang ngồi ngất ngưỡng uống rượu và tiếng đàn tiếng hát thì nàng đã rõ thực tế. Nàng òa lên khóc: Thôi rồi chính ta đã giết chàng, bây giờ còn mặt mũi nào ngồi đây? Nàng kêu gào, la hét và khóc khiến cho những người cũ dưới trướng Từ cũng phải rơi lệ.

_Thưa phu nhân đằng nào thì tướng quân cũng đã không còn nửa, phu nhân có làm sao thì Từ tướng quân cũng không sống lại được mà phu nhân thì phải sống, còn cha mẹ anh em. Kiều tỉnh lại, la lên phẫn nộ:

_Phu nhân! Phu nhân! Ta không còn là phu nhân gì nửa, phải rồi không làm sao cho chàng sống lại chính là ta đã giết chàng và chính chúng bay đã giết tướng quân của chúng bay. Có phải chính chúng bay đã được  bổng lộc, ân huệ đã chia ngọt xẻ bùi với Từ và ngày nay chúng bay ngồi đây chờ đợi ân huệ khác. Chúng bay cũng là văn quan, cũng là võ tướng, cũng là hầu cận thế mà ngày nay nhìn Từ chết mà chúng bay lại ngồi đây để chung sống với bọn bất tín, bọn phản trắc, bất lương..ôi bọn bay lại có thể sống như vậy được sao? Ta không là phu nhân, phu phen gì nửa. Ta chỉ là một kẻ giết chồng và ta khinh bọn bay còn ngồi đây làm chi, bọn chó phụ nghĩa, bọn bay hãy bước đi cho khuất mắt ta.

_Thưa phu nhân đâu chúng tôi muốn ra hàng và đâu ngờ là ta bị lừa.

_Thôi bọn bay đừng tìm cách bào chữa. Tao không muốn nghe cái giọng ấy nữa, cái giọng hèn nhát không đáng là quân sĩ của Từ Hải, những kẻ đã sống hiên ngang và chết khí phách. Những kẻ không phản trắc, không sợ kẻ mạnh bất chánh, không vì sự yên thân, đời sống nhung lụa mà quên việc nghĩa. Bọn bay không lấy thế này làm nhục sao? Bọn bay không biết chọn lúc nào phải sống, lúc nào phải chết sao? Kiều gào lên như một kẻ điên cuồng, lũ bộ hạ chỉ biết cúi đầu ngồi nghe, bỗng một tên bộ tướng đứng lên:

_Lời của phu nhân làm cho kẻ hèn này hổ thẹn. Quả Từ tướng quân đã không xấu hổ với một người vợ như phu nhân.  Vậy xin có chút lòng này tạ ơn người đã khuất.

Nói dứt lời tên bộ tướng rút đoản kiếm đâm vào bụng, lưỡi kiếm xuyên qua người, hắn quỳ xuống, hai tay còn giữ lấy đốc kiếm nơi bụng và cúi đầu hướng về nàng Kiều. Hắn gục xuống như một pho tượng, trong phút chốc máu chảy loang trên mặt đất. Tiếng khóc của Kiều nỉ non bứt rứt. Lúc đó Hồ Tôn Hiến bước vào chứng kiến cảnh tượng mà run lên cầm cập, nhưng Hồ cố trấn tĩnh kêu bọn thị vệ vào vực nàng Kiều ra ngoài cho chôn cất kẻ chết rồi lên tiếng an ủi những bề tôi cũ của Từ, Hồ sợ bọn họ bị kích động, phẫn uất gây chuyện chẳng lành. Nàng Kiều bị mang ra nơi sảnh đường, buổi tiệc khao quân đang vào lúc hào hứng  Hồ Tôn Hiến ngồi nơi bàn tiệc sai quân dâng chén bát và rót rượu mời Kiều. Hồ cầm ly rượu trên tay giơ lên:

_Mời nàng nâng ly cùng uống với ta gọi là vui đã cùng nhau lập nên công trạng này. Ta  nghĩ thành ta thu được một phần nhờ công của nàng vậy nay nếu nàng muốn xin điều gì, bất cứ điều gì ta cũng cho gọi là một chút phần thưởng.

_Phận tôi chẳng có gì để xin. Ông cho việc tôi giết chồng là công sao?

_Không ta đâu nói vậy, ta thật áy náy nhưng ta nghĩ, ta làm như vậy vì nhân dân, vì triều đình. Nàng nghĩ xem nàng thích cảnh chém giết tao loạn sao? Tất nhiên nàng phải chịu thiệt thòi thay cho những thiệt thòi lớn hơn của bao kẻ khác.

_Ông thật không xứng là tướng quân. Chỉ vì tôi là một con đàn bà nhẹ dạ như bao nhiêu người khác, tôi đã bị lừa giết chồng mà không biết. Không, tôi không muốn biết thiệt thòi của kẻ khác, có ai biết thiệt thòi cho tôi không. Chồng tôi chừng như đã rõ điều này nên chàng đâu muốn ra hàng, mang tấm thân cương cường khí phách về uốn lưng nơi triều đình.  Chàng chẳng bao giờ hành động như các ông, cảnh chém giết có diễn ra cũng chỉ bởi chồng tôi muốn đa số dân chúng không còn bị áp bức, bốc lột đè nén, thoát được cảnh lầm than dở sống dở chết dưới quyền cai trị của các ông. Từ lúc còn là tên cướp bể nhỏ nhoi, chồng tôi chỉ biết lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo, giết bọn sâu dân mọt nước, bao nhiêu năm vùng vẫy chí lấy cái lương tâm mình mà làm điều hay, tránh điều dở. Nghĩ lại tôi biết tôi nhầm khi khuyên chàng ra hàng, tôi cũng muốn được yên thân, cũng muốn tránh cảnh tang thương giết chóc. Ai ngờ cũng vì vậy mà tôi mắc tiếng giết chồng không dao và thân tôi dang dở. ôi như vậy mà ông còn muốn đền công cho tôi nửa…

_Thôi nàng đừng làm giảm cuộc vui của ta, nàng sẽ được đền bù xứng đáng. Nàng hãy vui lên một chút cho ta hài lòng…

Hồ cười lên hô hố, uống liên tiếp từng bát rượu lớn, bọn quân sĩ chung quanh vừa ăn uống vừa ca hát nhảy múa. Nàng Kiều khóc khô nước mắt và tưởng mình như đang ngồi trong một lò lửa chịu cực hình. Tại sao không chọn cái chết cho xong? Nàng nghĩ đến cha mẹ và Kim Trọng khiến lòng lại thổn thức. Hồ Tôn Hiến chợt cất tiếng:

_Xưa ta nghe nàng là một tay danh cầm trong thiên hạ, nay giữa cuộc vui ta muốn được nàng cho nghe một khúc.

Kiều đáp:

_Xưa kia cũng bởi tiếng đàn vận vào người khiên cho thân này trôi nổi nên từ đó thề không cầm đến cây đàn nửa.

Hồ Tôn Hiến vẫn nài ép.

_Mấy khi có được cơ hội như thế này nàng lại không thể gảy một khúc hồi sinh cho đời nàng sao.

_Ông nghĩ tôi giết được chồng là vui sướng lắm sao? Tôi vốn là con đĩ đâu có được cái vui sướng của những kẻ chính chuyên khi giết được chồng xin ông tha cho mà đừng ép tôi làm việc bất nghĩa phụ tình đó.

Hồ Tôn Hiến vẫn không buông tha, sai kẻ hầu mang đàn ra để trước mặt bàn, nàng Kiều cầm lấy mà nói:

_Tôi đã thưa cùng ông đến cạn lời mà ông vẫn bắt tôi làm việc bất nhẫn ông giết được chồng tôi bởi một mưu mô sảo quyệt còn chưa đủ hả, lại còn muốn vợ của kẻ chết chưa nguội xác kia gảy đàn mua vui. Sao tâm địa của ông nham hiểm, bất lương, độc ác đến vậy. Thân tôi dù chết tôi cũng chẳng thể làm được chuyện đó.

Nói xong Kiều cầm cây đàn đạp xuống đất cho tan ra, rồi đứng dậy bỏ chạy như một con ngựa điên.

*****

Sau đêm bỏ thành trốn đi, dứt bỏ những vinh hoa phú quý của một cuộc sống bình thường chẳng ai ngờ Từ đã thoát chết. Chàng thanh niên bảo:

_Nó tưởng lừa mình được, ai ngờ mình lừa được nó.

Hai người bạn dành những ngày đầu tiên để ăn chơi, ngao du trong cuộc sống tự do, nghĩ đến những ngày cũ không khỏi làm cho Từ nhiều lúc chạnh lòng nhớ tiếc, trong những đêm nơi quán trọ dọc đường nghĩ đến Kiều khiến chàng rơi lệ. Chàng đã mất tất cả và bây giờ phải làm lại tất cả. Sau một thời gian hai người bạn bắt đầu công việc kết nạp kẻ đồng chí, những kết nạp khó khăn hơn vì Từ không muốn chỉ có một đoàn quân ô hợp. Chẳng bao lâu thế lực của Từ một lớn dần. Một ngày kia Từ bàn với người bạn ý muốn về đón nàng Kiều vì chàng đã được tin sau khi tự vẫn được cứu thoát đã trở về sống với gia đình. Người bạn có vẽ phân vân, Từ nói:

_Ở trên đời này ngoài huynh ra tôi có mình nàng là hiểu và thương tôi, tôi hiểu sự phân vân của huynh nhưng tôi có thể đoan chắc việc riêng của tôi sẽ chẳng hại gì tới việc chung mà chúng ta đang gây dựng. nàng còn hơn một người thường, từ lúc nghe tin nàng tự vẫn để giữ trọn nghĩa thật không lúc nào tôi quên được nàng.

Người bạn thở dài không nói, lặng lẽ thu xếp hành lý, giao công việc rồi cùng Từ dong thuyền tìm về quê nàng Kiều. Sau thất bại của cuộc nổi dậy tại miền duyên hải của Từ Hải đã làm cho người dân nhỏ lệ khóc thầm, một tương lai hé ra chưa đước bao lâu đã bị dập tắt. Đã mất tự do họ lại còn bị quan quân triều đình trở về hành hạ hơn hồi trước chừng như để trả thù những ngày họ được sống sung sướng dưới sự bảo vệ của Từ Hải. Đâu đâu người ta cũng nghe thấy những lời ta thán oán hận Hồ Tôn Hiến, nhiều người dân đã bỏ xứ ra đi đến những nơi xa lạ làm ăn hòng thoát bớt cảnh đè nén áp bức. họ truyền tai nhau kể lại cái chết của Từ Hải, cái đê tiện của Hồ Tôn Hiến. Họ ngậm ngùi cho số phận của nàng Kiều vì không chịu đựng được phải gieo mình xuống sông Tiền đường lấy cái chết mà giữ tiết với chồng. Miết rồi những lời kể mỗi lúc sai lạc đi vô vàn những huyền thoại chung quanh Từ Hải và Vương Thúy Kiều. Nhiều văn nhân thi sĩ cũng từ hứng khởi của cuộc nổi dậy mà sáng tác ra những áng văn chương được dân chúng truyền tụng ngâm nga. Họ luôn nhắc nhở đến Từ Hải như một anh hùng cứu thế nhưng số trời đã định buộc dân chúng còn phải lầm than khổ sở. Có kẻ đã dựa vào sấm ký vào những lời tiên tri để tìm cách giải nghĩa cho dân chúng rằng: họ đang ở vào thời mạt pháp. Cách giải thích mù mờ đã chẳng giúp gì cho lòng tin của dân chúng mà làm cho họ chán nản, không phấn đấu, đi tìm an ủi nơi tín ngưỡng, do đó nhiều ma giáo xuất hiện làm những chuyện bậy bạ khiến cho xã hội càng thêm tao loạn suy vong.

Nàng Kiều trong những giây phút kinh hoàng đã không còn giữ được bình tĩnh nàng chỉ còn nhìn thấy cái chết là hợp lý nên đã lao đầu xuống sông tự vẫn, mượn cái chết rửa sạch kiếp người, nhưng số nàng chưa trọn, quân sĩ Hồ Tôn Hiến đã vớt được nàng lên, mủi lòng thương cũng có, phần nể sợ cũng nhiều nên Hồ đã cho nàng chọn lựa cuộc sống, nàng đã vào ngụ tạm nơi một ngôi chùa dưỡng bệnh trước khi trở về quê, dứt cuộc sống trần tục mà lập một ngôi chùa nhỏ sớm tối lấy kinh kệ làm khuây.

Nhưng nào nàng có được yên với sắc đẹp của nàng nên bọn đàn ông chung quanh đứa nào củng chỉ định ăn sống nuốt tươi. Những cái nhìn như hãm hiếp nàng. Sau hôm được cứu sống ít ngày, một đêm kia nàng đang thiếp ngủ thì bỗng giật mình vì có một kẻ vận áo nhà sư xông vào giường mà ôm lấy nàng định hãm hiếp, nàng định la lên cầu cứu và kháng cự, may nhờ ngôi chùa nàng đang tạm trú ở sát ngay trại quân của Hồ Tôn Hiến nên nghe tiếng kêu liền báo động, biết không yên kẻ gian vội vã tẩu thoát. Sớm hôm sau Hồ Tôn Hiến bắt nàng tới hỏi xem kẻ kia là ai để trị tội vì trong thâm tâm Hồ vẫn thèm khát Kiều mà không dám, nên nổi máu ghen với kẻ lạ mặt. Kiều cứ tình thực mà khai là thấy một ông sư nhưng vì đêm tối nên nhận không được rõ. Hồ Tôn Hiến liền bắt tất cả các sư đang trụ trì trong ngôi chùa ra cho Kiều nhận diện, Kiều một mực nói không rõ ai nhưng Hồ không chịu còn bảo: nếu không nhận ra người nào thì sẽ giết hết mấy vị sư vì làm nhớp cửa Thiền. Hồ hỏi các ông xem ai làm điều bậy bạ thì hãy nhận, nhưng ai cũng nói không. Hồ liền sai mang ra chém cả. Kiều đành liều chỉ đại một người. Nhưng ngay đó một chuyện xảy ra giải cái oan cho nhà chùa. Nguyên kẻ làm bậy là Từ Văn Trường đã giả dạng nhà sư tưởng có thể che mắt được. Ai ngờ quả báo, buổi tối đó sau cái chết oan của vị sư Từ Văn Trường trở về nhà thì bỗng nhìn thấy trên giường một ông sư đang giao hoan cùng vợ, hai thân thể trần truồng lung linh trước mắt, cơn giận bốc lên Từ rút gươm xông vào đâm, nhưng lúc nhìn ra hóa chỉ có mỗi vợ mình rãy chết trên vũng máu. Vì giết người Từ bị bắt dù là kẻ có công ở dưới trướng nhưng Hồ Tôn Hiến cũng không thể vì tình mà tha được, nhất là sau khi Từ Văn Trường đã khai ra cái chuyện đội lốt nhà sư kia. Bị nhốt Từ Văn Trường phát điên, phá nhà ngục chạy về đốt nhà rồi nhảy vào lửa mà chết. Câu chuyện đã làm náo động dư luận. Kiều những khóc thầm vì phải chứng kiến nhiều cảnh đau thương oan trái do đó nàng đã quyết chọn đường tu để mong sám hối tội lỗi lãng quên cuộc đời.

Dời khỏi ngôi chùa trở về quê Kiều muốn quên ngày cũ, nhưng tới nhà Kim Trọng lại đòi nối lại tình xưa, có lẽ chẳng phải vì lời thề thốt nhưng bởi nhan sắc mặn mà và cái thân thể khêu gợi của nàng Kiều, về phía Thúy Vân thì ghen tương sợ chị cướp mất chồng sẽ mất phần nào sự mặn nồng tình ái. Kiều ở vào hoàn cảnh dở khóc dở cười chỉ còn biết than thân trách phận. Nàng nhất định dứt đường tình ái ra nơi am vắng nhưng Kim Trọng đã chẳng buông tha, một mực ép nàng muốn cho cửa am thành nơi dơ bẩn, Kiều chẳng dám nói lớn sợ vỡ ra thì xấu chàng hổ thiếp chỉ tìm cách lẩn tránh. Nàng Thúy Vân cùng cha mẹ biết chuyện chỉ đành chép miệng thở dài.

Một đêm kia kinh kệ vừa xong, đóng cửa am cẩn thận rồi đi nằm, giấc ngủ chưa đến bỗng nghe tiếng gỏ cửa, nàng thất kinh cố ý nằm im, nhưng nghe tiếng gõ mỗi lúc một lớn, sợ kinh động khiến người ngoài biết nàng đành phải ra.

_Em lạy anh, hãy buông tha cho em được yên thân, em đâu còn trinh trắng nửa, hãy để cho em giữ lại một chút lòng này với anh. Anh đừng ép để em phải lấy cái chết mà giữ mình.

Tiếng gỏ im Kiều lắng nghe có tiếng bàn tán, khiến nàng run sợ chợt có tiếng quen quen hỏi:

_Có phải nàng Kiều đó không?

Kiều cố moi óc nhớ xem giọng ai, tiếng nói tiếp theo:

_Anh đây, anh Từ Hải mở cửa cho anh, anh về đón em đây.

Nghe xong Kiều muốn ngất xỉu, nàng run rẫy quỳ xuống:

_Từ tướng quân, sống khôn thác thiêng, em biết em đã giết tướng quân, xin tướng quân tha cho..

_Anh còn sống mà, anh chưa chết đâu, em hãy mở cửa ra.

_Không anh chết rồi, em thấy rõ anh chết rồi, anh có linh anh hãy độ cho em.

_Khổ quá, anh còn sống nhăn, em hãy mở cửa ra xem.

Rồi một tiếng lạ khác:

_Từ tướng quân vẫn còn sống, phu nhân cứ mở cửa đừng sợ.

Sau một lúc trấn tĩnh, Kiều đánh liều mở cửa, trước mặt nàng rõ là Từ Hải và một người khác, Kiều kêu lên:

_Em đang mơ hay tỉnh đây.

_Em đang tỉnh

Từ Hải cầm lấy tay nàng:

_Em hãy lại đây.

Kiều hoảng rút vội tay nhưng không kịp nửa  và nàng nhận rõ đúng là Từ Hải. Nàng ôm choàng lấy Từ nỗi vui khôn xiết. Từ kể lại chuyện trá hàng cho Kiều nghe và Kiều kể những gian truân từ bấy đến nay, hai bên cùng ứa lệ chan hòa. Kiều oán trách:

_Sao anh trốn đi mà không cho em theo?

_Vì anh tưởng em muốn vinh hoa phú quý thì để em hưởng ai ngờ như ngày nay.

Chợt Từ hỏi:
_Vừa xong em tưởng anh là ai vậy?

Ngập ngừng một lúc nàng mới nói được:

_Em tưởng chàng Kim vì chàng Kim vẫn còn muốn em.

_Thằng khốn khiếp, cái bọn nho sĩ dâm loạn, nó muốn người ta ai cũng là đĩ mãi, người ta vào chùa rồi nó muốn người ta làm đĩ nửa. Thôi em hãy cở bỏ cái áo đó rồi theo anh, anh không muốn em phải sống khổ sở thế này. Chúng ta phải gây dựng lại.  Ngay đêm đó Kiều cùng Từ Hải và người bạn xuống thuyền ra đi.

Những năm về sau từ miền duyên hải Việt đông mãi tới Giang nam nhiều vụ dấy loạn nổi lên. Người ta bàn tán về  một đám giặc lùn nhận là Từ Hải, kẻ nói dư đảng, kẻ nói là bọn mạo danh, nhưng có kẻ cả quyết rằng chính mắt đã nhìn thấy Từ Hải . Trong dân gian kẻ nói thế này người nói thế khác thực giả chẳng biết đâu mà phân biệt.

Có điều những vụ nổi dậy đã làm cho triều đình lo âu và người dân bị đàn áp ngóng chờ loạn lạc hy vọng một đổi đời sẽ đến, cái hy vọng mà xưa kia trong một thời gian ngắn ngủi Từ Hải đã mang đến cho họ..

(1963-1965)

Hải Hành Mùa Đại Dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted on 5 Jul 2021

Post by Sơn râu 13 Aug 2023

Kỳ 5.

Hồi hôm nghe tiếng tàu đề máy tôi giựt mình thức giấc, biết tàu khởi hành nhưng giờ đó không phải giờ tôi làm việc, tôi lăn người trở mình làm chiếc mền tuột rớt xuống sàn, tôi cúi xuống kéo mền lên đắp lại rồi ngủ tiếp. Không hiểu sao tôi ngủ mê man tới khi đồng hồ reo mới giựt mình thức dậy. Thường thì tôi thức sau bốn giờ sáng, pha một tách cà phê đen đậm bằng nước lọc, không đường, không sữa rồi đem lên phòng, mở laptop ra vừa nhâm nhi cà phê vừa đọc, đọc xong rồi gõ bàn phím viết lưu lại những chuyện xảy ra trên tàu, cho tới khi đồng hồ reo tôi mới ngưng. Sợ mê đọc và viết quên giờ làm việc, nên tôi chỉnh đồng hồ reo đúng sáu giờ sáng, để nó nhắc nhở tôi đã tới giờ tập thể dục trước khi bắt tay làm việc. Nhưng tối hôm qua tôi ngủ say như chết, cho tới khi đồng hồ reo, tôi lật đật ngồi dậy, đi vội xuống bếp chỉ kịp lấy chai nước lọc đổ vô máy pha cà phê, rót cho mình một tách và bưng ra boong. Định uống hết tách cà phê rồi tập thể dục, nhưng thấy cảnh bên ngoài hấp dẫn quá nên tôi đứng ngắm. 

Chuyến này tàu nhận chuyển hàng từ Hamburg lên Stockholm, thủ đô của nước Thuỵ Điển, nếu tàu muốn đi tới Stockholm thì phải băng ngang con kinh đào Kiel để vô biển Baltic. Tàu đã vô kinh Kiel hồi sáng sớm và chạy một đoạn cũng khá xa rồi. Bất cứ tàu lớn, tàu nhỏ gì hễ vào kinh chỉ được phép chạy bảy hải lý một giờ. Những chiếc tàu buồm du lịch màu trắng nho nhỏ xếp buồm chạy bằng động cơ dọc bên bìa kinh và ở giữa dòng những chiếc containers trên ngàn tấn nối đuôi chạy thẳng hàng trong sương pha loang loáng, mặt dù nhiều tàu xuôi ngược trong kinh nhưng rất trật tự và không gây tiếng ồn ào nên trông quang cảnh rất là thanh bình. Tôi để tách cà phê lên đầu cột trụ rồi đi vô phòng lấy chiếc điện thoại thông minh trở ra chụp dọc theo dòng kinh, chụp xong mấy bôi, tôi lại đầu cột trụ bưng cà phê hớp một hớp, cà phê nguội ngắt, tôi ngước cổ ực một hơi hết sạch. Tôi bấm điện thoại xem đồng hồ, gần bảy giờ rồi, không còn đủ giờ tập thể dục nữa. Tôi đi vô phòng tắm sửa soạn đánh răng rửa mặt, nhưng khi vặn vòi nước thì thấy màu nước pha sét vàng khè, tôi nghĩ thợ máy đang thay đổi bồn nước hay đang sửa chữa gì đó. Tôi trở ra phòng ngoài lấy chai nước lọc đem vô rửa mặt đánh răng, xong rồi trở ra thay quần áo và bắt đầu công việc cho ngày mới. Tôi đi xuống mở thử vòi nước trong phòng bếp, vẫn đục ngầu, bèn day qua nhấc điện thoại lên gọi xuống hầm máy hỏi về nguyên do nước bị sét, người phụ máy cho biết, ống dẫn của bồn nước bị bể nên nước chảy hết rồi, chờ tàu tới Kiel ghé xưởng sửa chữa xong sẽ lấy nước khác. Định điện thoại lên hỏi thuyền trưởng chuyện nước nôi thì thuyền phó và Edy xuống tới, mặt hai thằng còn ngái ngủ, đã vậy mà thuyền phó vừa nhăn nhó vừa chửi thề nên trông mặt mày nó bèo nhèo như cái nùi giẻ lau sàn tàu. Nó càu nhàu:

– Hổng có nước đánh răng, rửa mặt!

Tôi nói:

– Hồi sáng tao đánh răng rửa mặt bằng nước lọc.

Thuyền phó hô:

– Oh, ý kiến hay.

Edy thì đưa ngón tay lên gặt gặt.

– Tốt, tốt…

Nói xong hai đứa liền day lưng đi trở lên tầng trên, tôi đoán chừng tụi nó lên phòng lấy nước lọc để rửa mặt, đánh răng. Tôi day ngang nhấc điện thoại quay gọi thuyền trưởng hỏi ông cho tôi lấy mấy can nước dự phòng khi tàu gặp nạn để xài. Nhưng ông kêu tôi chờ chút để ông gọi thuyền phó lấy nước cho tôi. Vừa để hộp điên thoại xuống thì thấy thằng nhỏ mới đổi xuống thay cho Ama đứng lấp ló ngoài cửa bếp, thấy tôi nó chào:

– Chào chú.

Nó chìa tay ra định bắt, tôi cười và đưa cùi chỏ ra, nó rụt tay lại và miễn cưỡng đưa cùi chỏ lên cụng một cái. Xong nó tự giới thiệu:

– Con là Philip, em của Sam, mới đi chuyến đầu.

– Chào mừng xuống tàu. Hồi hôm con xuống tàu lúc mấy giờ?

– Dạ, mười một giờ.

Tôi chỉ tay qua máy cà phê, nói:

– Con lấy cà phê uống đi, chắc còn được một tách.

Nó lắc đầu nói:

– Con hổng uống cà phê.

Ngập ngừng một chút, nó rụt rè hỏi:

– Hôm qua con đi cả ngày hổng ăn gì hết, chú có gì ăn không?

Tôi chỉ tay qua phòng ăn nói:

– Con vô trong phòng ăn, phó mát, thịt nguội, bánh mì, nước trái cây và sữa chú để trong tủ lạnh, con coi thứ nào ăn được thì lấy ăn.

– Xin lỗi chú, con đạo Hồi, hổng ăn thịt heo. Chú có mì gói không?

Không biết người đạo Hồi ở những nước khác như thế nào, chớ người đạo Hồi ở In Đô phần đông mới xuống tàu họ giữ giới rất kĩ, hổng ăn thịt heo, hổng uống bia rượu, ra vẻ ta đây là người đạo đức hoặc là thánh nhân và muốn người khác phải phục vụ cho mình. Đôi khi là người In Đô với nhau cũng khó chịu và còn đố kỵ với nhau, có vài người đạo Thiên Chúa hổng ăn thịt cừu mà ăn thịt heo, ngồi trước mặt mấy người đạo Hồi họ ăn thịt heo ngon lành và cố ý ra vẻ ăn rất bạo, họ ăn để chọc tức mấy người đạo Hồi cho bỏ ghét chớ chớ hổng ăn vì Chúa. Nhưng phải nói là người đạo Hồi thứ thiệt thì sống đời thủy thủ có hơi khó khăn, nói đúng là sống không được. Tôi thấy một vài người đi chưa hết hợp đồng đã cuốn gói về nước, và có nhiều người cố gắng đi hết hợp đồng rồi về luôn không trở qua nữa, nguyên do cũng tại vì tàu của Hoà Lan thịt heo nhiều quá và những thứ thức ăn chế biến của Hoà Lan thường dùng mỡ heo. Phần đông đạo Hồi người In Đô hổng đọc hoặc hiểu kinh Koran, ban đầu mới xuống còn nghiêm túc giữ đạo, đi được một thời gian thì phá giới uống bia, rượu, hổng ăn thịt heo thì cũng ăn được da heo chiên dòn, hễ có dịp đổ bộ thì đi vô khu đèn đỏ tìm đĩ rẻ tiền mà chơi. Trước kia thấy những chuyện như vậy tôi bất bình hay chọc ghẹo nói xiên nói xỏ. Nhưng rồi một ngày tôi nhận ra khắp nơi trên thế giới này, cũng vì ba cái vụ đạo này đạo kia mà con người ta sanh ra đố kị rồi thù oán, cá nhân thì mỉa mai, chửi bới thậm chí đánh nhau lỗ đầu chảy máu. Cùng một giống nòi hổng ưa nhau cũng vì người theo đạo này, người theo đạo nọ, đạo ăn thịt heo, đạo ăn thịt bò không ưa nhau; cùng là con Phật người ăn chay hổng ưa người ăn mặn. Còn tầm cỡ quốc tế thì nước này gây chiến với nước kia, đánh nhau tơi bời hoa lá cũng vì đạo khác nhau mà người ta gọi là thánh chiến. Thiệt ra thì đạo nào cũng truyền bá thông điệp về tình yêu, vậy mà hễ nghịch nhau thì bị khủng bố, hăm he bắn giết, chặt đầu, bâm thây, đốt nhà cướp của. Tôi nhìn thằng nhỏ, mới bước vào cuộc sống hải hồ còn non nớt, bỡ ngỡ, rụt rè nhưng không biết nó giữ giới được bao lâu, hay là lao vào đời sống tranh đua một thời gian sẽ lơi là chuyện đạo cũng giống như những bậc đàn anh, đàn chú đi trước nó. Tôi bưng ấm nước lên, trong ấm không còn chút nước nào hết. Tôi day lại nói với Philip:

– Hổng có nước làm sao nấu mì.

Thằng nhỏ ra chiều thất vọng định quay đi. Tôi chợt nhớ ra:

– À…à… con chờ chú chút xíu, chú nấu mì cho.

Tôi lấy chai nước lọc đổ vô chiếc ấm điện bấm nút nấu, mở gói mì bỏ vô tô và đập thêm một cái trứng, chờ nước sôi tôi chế lên mì rồi lấy cái dĩa làm nắp đậy, tôi bưng tô mì qua phòng ăn để vô lò vi sóng, bấm hai phút. Tôi trở vô bếp mở hộc tủ lấy muỗng nĩa đưa cho Philip và dặn:  

– Khi nghe tiếng chuông, tức là mì đã xong, con tự bưng ra ăn nhé.  

– Dạ, con biết rồi, cám ơn chú.

Cùng lúc đó thuyền phó cũng vừa đi xuống, mặt mày tươi tắn, sáng sủa lên, nó đưa chùm chìa khoá ra lắc lắc nghe rột rẹt và nói:

– Tui xuống kho lấy nước cho ông.

Nó xuống kho một lát sau hai tay xách lên hai lố nước lọc để lên mặt bàn, tôi ngạc nhiên hỏi:

– Thuyền trưởng kêu mày lấy nước này cho tao nấu ăn hả?

– Ừ.  

– Nhưng hai lố đâu có đủ.

Nó lật đật xuống kho hai tay xách lên hai lố nước nữa và nó tháo chìa khoá kho máng lên cái móc trên vách rồi dặn tôi:

– Thuyền trưởng dặn tui để chìa khóa cho ông, khi nào thiếu nước ông cứ xuống kho lấy.

Tôi định hỏi sao hổng lấy mấy can nước dự trữ, nhưng nghĩ lại, một lố nước lọc sáu chai, mỗi chai một lít rưỡi giá tiền chưa tới ba euro, nấu nướng một ngày năm bảy chục lít cũng hổng sao, còn phần rửa ráy lặt vặt thì tôi lấy sô chứa nước sét để lóng lại xài cũng được. Coi như chuyện nước nôi đã giải quyết xong và tôi bắt tay làm việc, tôi đổ nước vô máy pha cà phê rồi day ngang mở điện lò và ra phòng ăn dọn cho bữa ăn sáng. Trong lúc tôi dọn bàn thì nghe tiếng chào:

– Chào ông Tấn.

Tôi ngó lên thấy Anatoli thợ máy người Estonia. Có hơi ngạc nhiên tôi hỏi:

– Ông xuống hồi nào?

– Hồi khuya.

– Sao tui hổng nghe ai nói hết.

Ông nhún vai nói:

– Tui hổng biết.

Chuyện thay đổi người hoặc tin tức này nọ trên tàu thường thì thuyền phó nói cho tôi biết, nhưng có lẽ mấy hôm nay bận rộn chuyến hàng nên nó hổng có thời gian để thông báo. Thợ máy hỏi:

– Ông có cà phê không?

Tôi chỉ tay vô bếp:

– Có, ông vô bếp lấy đi.

Tàu qua kinh Kiel lúc khuya, thủy thủ thức làm việc cho tới khi tàu vô kinh mới ngủ, sáng nay thủy thủ ngủ bù nên tôi không dọn bàn ăn, với lại người In Đô ăn sáng cũng dễ, trên tàu bơ, sữa, dăm bông, phó mát và mứt trái cây để đầy tủ lạnh nhưng ít khi người In Đô rớ tới, họ thường ăn mì gói với cái trứng luộc hoặc cơm nguội với trứng chiên omelet là xong. Tôi dọn bàn xong trở vô bếp, thì thợ máy lấy cà phê rồi đi đâu mất, có lẽ ông ta xuống hầm máy. Tôi lấy nồi đổ mấy chai nước vô hầm xương để nấu súp, chỉ mới pha cà phê và hầm xương bò mà hết bốn chai nước lọc rồi. Hôm nay tôi định làm món hachee, ăn với cơm trắng hoặc khoai tây luộc và bắp cải đỏ hầm táo, hachee là món thịt bò hầm với củ hành tây, món ăn truyền thống của Hoà Lan và hợp khẩu với phần đông người Hoà Lan, chớ người nước khác thì không khoái khẩu lắm, trên tàu chỉ có một thằng nhỏ phụ máy là người Hoà Lan. Thật ra thì trên tàu đầu bếp nấu món gì thủy thủ đoàn phải ăn món đó, không ai có quyền ọ ẹ, theo luật là như vậy, chớ người nào hổng ăn và cũng hổng ọ ẹ thì hổng lẻ lấy thức ăn nhét vô họng bắt họ ăn. Tôi hổng muốn thức ăn của mình bỏ công ra nấu mà ít có người thưởng thức, bị dư thừa rồi đem đổ bỏ. Tôi quyết định thay món hachee ra món bò hầm cà rốt, khoai tây ăn với cơm trắng, món súp tôi đổi lại món borsch, món này nổi tiếng của nước Đông Âu và Nga, dân nước nào ăn cũng thấy ngon. Tôi day qua lấy thịt bò ra định xắt thì thuyền trưởng điện thoại hỏi chuyện nước nôi và hỏi tôi có bị rắc rối gì nữa không? Tôi nói:

– Tất cả đều tốt nhưng kho nước lọc của ông từ đây tới chiều tốn hao nhiều lắm đó.

Thuyền trưởng cười ha hả và nói:

– Không thành vấn đề.

Tôi định gác máy, nhưng ông nói tiếp:

– À, Bếp làm thêm hai phần ăn cho buổi trưa và bây giờ thì phiền Bếp làm hai phần ăn cho người lái tàu và hoa tiêu nhé, Edy sẽ xuống bưng lên cho họ.

– Yes sir.

Tàu qua ngang kinh Kiel phải dùng hoa tiêu và người lái tàu của địa phương, cho nên mỗi lần qua đây khỏi cần thuyền trưởng nhắc nhở tôi cũng nấu thêm hai ba phần ăn. Trong lúc tôi sắp bánh mì ra dĩa, trét bơ, để lên mấy miếng phó mát và bắt chảo lên lò định chiên trứng thì Edy xuống. Tôi ngạc nhiên nói:

– Oh, sao lẹ vậy ?

– Thuyền trưởng vừa gọi, con xuống liền.

Thấy tôi đang đập trứng bỏ vô chảo, nó nói:

– Để con phụ chú, chú chiên trứng đi.

– Ok.  

Chuyện mấy đứa vô bếp phụ tôi làm không phải bắt buộc, tuy nhiên mấy đứa thích phụ tôi lắm, nhưng tôi cho vô bếp chỉ một đứa thôi, trước đây Ama phụ, Ama về rồi Edy xin vô phụ. Edy mở tủ lấy chiếc mâm vuông, lấy giấy lau gói dao, nĩa lại để lên mâm và  lấy tách rót nước trái cây. Edy dọn mâm xong thì tôi cũng vừa chiên trứng để lên bánh mì và tôi để hai phần ăn lên mâm cho Edy bưng lên phòng lái. Edy vừa đi thì thuyền phó cũng vừa tới, nó ló mặt vô bếp hỏi:

– Bếp có thể chiên cho tôi hai cái trứng sunny-side-up (mặt trời chiếu ngược, tức là trứng chiên một mặt) được không?

Tôi nhìn lên đồng hồ trên vách, nãy giờ lo chuyện nước nôi làm lố giờ ăn sáng rồi, tôi day qua nói:

– Dĩ nhiên, nhưng mày phải chờ.

– Ok.

Tôi chiên trứng dọn ra bàn cho thuyền phó thì thấy thằng nhỏ phụ máy đã ngồi trong bàn ăn hồi nào, tôi hỏi nó:

– Mày ăn trứng không tao chiên luôn.

Nó lắc đầu:

– Không, cám ơn Bếp.

Tôi trở vô bếp thì thấy Edy đứng khoanh tay trong góc bếp. Tôi hỏi:

– Sao con hổng ngủ?

– Ăn xong con ngủ.

– Oh, vậy con ăn mì gói không chú nấu.

Nó dở nắp nồi cơm, thấy còn cơm nguội, nó day ngang lấy dĩa vừa bới cơm vừa hỏi:

– Chú chiên trứng cho con được không?

– Dĩ nhiên.

Nó bưng cơm đem bỏ vô lò vi sóng, tôi đánh trứng ra chiên cho nó, thường những người In Đô ít khi ăn trứng chiên nửa sống nửa chín. Một lát sau Edy bưng dĩa cơm đã hâm nóng trở lại và cầm theo cái tô dơ của Philip ăn hồi nãy đưa cho tôi, miệng nó càu nhàu:

– Cái thằng, ăn xong rồi bỏ đó, đi mất tiêu rồi.

Tôi nói:

– Nó mới xuống mà, nếu nó hổng biết chuyện gì thì từ từ con chỉ cho nó.

Tôi lấy cái sạn xúc trứng bỏ vô dĩa cơm của Edy:

– Phần của con xong rồi nè.

– Cảm ơn chú, con bưng lên phòng ăn nhé chú.

– Ok, ăn ngon.

Thuyền phó và phụ máy ăn xong rồi đem dao, nĩa, dĩa dơ vô đưa cho tôi, tôi sắp mọi thứ vô máy, coi như bữa ăn sáng đã xong rồi. Tôi day ngang thấy nồi xương hầm sôi lên bọt sắp trào, tôi vặn bớt lửa và vội lấy dá vớt bọt. Xong tôi định đi lên phòng nghỉ ngơi một chút rồi xuống xắt thịt. Vừa đi tới cầu thang thì chạm mặt thuyền trưởng, ông bưng chiếc mâm của người lái tàu và hoa tiêu đã ăn xong đi xuống. Thấy tôi ông chào:

– Xin chào ông bếp.

Tôi ngạc nhiên khi nghe ông chào bằng tiếng Việt và thốt lên:

– Oh! Chào!

Tiện tay ông đưa chiếc mâm cho tôi và hỏi tôi:

– Bếp chiên cho tui hai cái trứng sunny-side-up được không?

– Dĩ nhiên.

Tôi bưng mâm trở vô bếp để lên bàn, day ngang bật điện lò và bắt chảo lên. Trong lúc chờ chảo nóng, thuyền trưởng vô đứng bên tôi và đưa máy điện thoại ra khoe:

– Năm rồi tui có đi du lịch bến Ninh Kiều, Cần Thơ, Tây Đô nè.

Chắc hôm đi du lịch học được vài ba tiếng Việt, hôm xuống tàu tới nay bận rộn nên quên, hôm nay nhớ lại mới đem ra xài, mấy tên địa danh ông nói dính chùm nhau, nhưng giọng ông rõ ràng tôi nghe là hiểu liền. Làm ra vẻ hiểu biết, ông nói Cần Thơ mà còn kèm theo Tây Đô nữa. Dạo sau này những người Tây tôi biết thường đi du lịch Việt Nam, khi trở về gặp tôi hay khoe. Tôi day qua vui vẻ nói:

– Oh, đã quá vậy?

Ông có ý định khoe nên mở điện thoại trước, khi đưa ra cho tôi xem thì trên màn hình đã hiện sẵn những chiếc đò dọc và vỏ lải đuôi tôm chạy trên sông, ông bấm tiếp cho tôi xem chợ nổi Cái Răng, tham quan lò làm hủ tiếu và ngồi ăn cá lóc nướng trui trong một cái quán miệt vườn. Cuối cùng dừng lại tấm hình ông mặc quần đùi, mang ba lô đứng dưới chân tượng ông Hồ Chí Minh trên bến Ninh Kiều. Ông chỉ tay vô tấm hình và hỏi:

– Bếp thích cái này không?

Tôi nhớ có lần tới công trường cách mạng tháng mười ở St. Petersburg tôi có chụp hình đứng trước tượng ông Lenin và tôi có khoe cho thuyền trưởng, lúc đó ông còn là thuyền phó. Hôm đó ông cũng hỏi tôi câu tương tợ như vậy. Tôi cười nhưng không trả lời thẳng:

– Chỉ là pho tượng thôi mà, nước Nga cũng quá trời tượng vinh danh ông kia, bà nọ, hồi đó tui qua St. Petersburg cũng có chụp tượng ông Lenin vậy.

– À, tui nhớ rồi.

Chợt tôi nghe mùi khét, tôi ngó qua bếp thấy chiếc chảo đặt trên lò khói bốc lên nghi ngút, tôi vội day ngang nhắc chảo xuống rồi day lại cười nói:

– Nãy giờ tui với ông lo tán chuyện nên chảo bị cháy rồi.

– Oh, xin lỗi.

– Hổng sao, ông ra bàn ngồi uống cà phê chờ tui, trứng chiên một mặt lâu hơn trứng chiên hai mặt.

– Thiệt hả?

– Thiệt mà, tự nhiên tôi cao hứng giải thích, trứng chiên một mặt phải để lửa nhỏ cho trứng chín từ từ và sau khi đập trứng bỏ vô chảo chiên phải cho vài giọt nước để phía dưới không bị khô, chiên sao tròng trắng phải đặc màu sữa, tròng vàng còn nguyên là được. Còn chiên hai mặt thì để lửa cao một chút đập trứng vô chảo rồi lấy sạn lật qua lật lại hai ba phút là xong.

– Oh, bây giờ tui mới biết tại sao ai cũng thích trứng chiên của ông, nhứt là trứng chiên với thịt ba chỉ hun khói.

– Ông nói đúng, thường thì sáng nào tôi cũng mất một khoảng thời gian chiên trứng cho thủy thủ đoàn. À mà ông muốn trứng với thịt ba chỉ không?

– Hôm nay thì không.

Ông day lưng đi qua phòng ăn. Tôi day lại đem chảo rửa và bắt lên bếp. Chiên trứng xong đem ra cho ông, tôi hỏi:

– Ông đi du lịch tour hay là tự đi?

– Tui đi với người bạn.

– Vui không? Và ăn, uống được không?

– Vui chớ, người Miền Tây rất vui, đi đường gặp người nào cũng cười chào, thức ăn thì món nào tui ăn cũng ngon, trừ cái món lẩu mắm là tôi chịu hổng được.

– Ha ha…Tui là người Miền Tây mà ăn còn hổng vô nữa nói chi ông. Thôi, ăn trứng sunny side up cho ngon.

– Cảm ơn.

Tôi nhìn đồng hồ đã qua chín giờ, mất toi giờ nghỉ giải lao và lố luôn thời gian làm việc. Tôi lật đật đem thịt bò ra xắt, loại thịt bò dai như da dày này hầm hai tiếng trở lên mới ăn được.

Những năm gần đây trong đám thủy thủ người Nga tôi quen biết, họ thường mang ba lô đi một mình hoặc đi với bạn bè nên họ khác với người Hoà Lan thường đi tour trọn gói, loại mắc tiền nên đi về họ kể lại những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, ngủ trong khách sạn cao cấp và ăn, uống trong nhà hàng hạng sang nên gặp tôi họ khen Việt Nam đẹp, thức ăn ngon, phục vụ tốt. Còn người Nga đi du lịch ba lô nên gần gũi với thiên nhiên và hiểu biết chút ít nhân tình thế thái, về những món ăn bình dân như phở, gỏi cuốn tôm và thịt ba chỉ, thịt kho, cá lóc nướng trui, lẩu mắm. Họ còn biết chuyện kinh tế nước Việt Nam đang phát triển và biết luôn những sự cố rừng núi bị tàn phá, sông Cửu Long bị ô nhiễm, ngập mặn… Trước kia khi nghe họ khen Việt Nam giàu đẹp và là một quốc gia đang phát triển, tôi thích thú và hãnh diện vô cùng. Rồi một ngày tôi ngộ ra những người đi du lịch dù hình thức nào đi nữa, một năm đi một lần thì cũng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa. Cho nên tôi nghe và ra vẻ đồng tình xã giao vậy thôi chớ thiệt ra hổng còn cảm xúc vui vẻ khi nghe những chuyện tốt hoặc bức xúc khi nghe những chuyện xấu xa như trước kia nữa.

Tôi xắt thịt vừa xong thì thuyền trưởng cũng đã ăn xong, ông đem dao, nĩa, dĩa, tách dơ vô để vào chậu. Rồi day qua nói với tôi:

– Trưa nay tui hổng ăn, chiều ăn luôn.

– Ok. Ngủ ngon.

Trong khi tôi phi tỏi, hành và cho thịt vô xào thì thợ máy từ dưới hầm máy chui lên, ló đầu vô bếp hỏi:

– Ông có cornflakes không?

– Dĩ nhiên, tôi để trong tủ phòng ăn.

– Ông cho tui mượn cái tô và cái muỗng, tôi ăn Cornflakes được rồi.

Tôi day qua kệ lấy tô và kéo học tủ lấy muỗng đưa cho ông:

– Ăn ngon.

Tôi biết Anatoli trong những ngày đầu nước Hoà Lan nhận lao động Nga và Đông Âu sang làm việc. Thời gian đó thủy thủ người Hoà Lan và người Nga tranh chấp, kỳ thị nhau căng lắm. Người Hoà Lan bình thường trông rất hiền hoà, bỗng chốc tôi thấy từ thuyền trưởng cho tới những người cấp dưới ông bộc lộ tánh kỳ thị rất nặng, họ tỏ thái độ rất là hung hăng, không chịu ngồi ăn chung với người Nga, tới giờ ăn các ông lấy đồ ăn bưng lên phòng hoặc xuống ăn trước giờ ăn, thợ máy không chịu phụ máy người Nga hoặc phụ máy hổng chịu làm việc chung với thợ máy người Nga, làm việc chung với nhau mà ngày nào cũng nghe nói xấu người Nga và có khi chửi bới người ta om sòm. Tuy quốc gia Estonia đã sát nhập vào Âu Châu nhưng Anatoli cũng bị chung số phận, ông là thợ máy chánh, bận rất nhiều chuyện, cái máy rửa chén bị hư những thợ máy người Hoà Lan không sửa được, thuyền trưởng bắt Anatoli sửa đi sửa lại hoài, máy cũ xì rồi sửa sao được, các người lấy đó làm đề tài nói xấu người ta. Thật tình thì lúc đó tôi cũng hổng ưa tánh tình của những người trong khối cộng sản lắm, họ nhậu nhẹt, quậy phá, giữa đêm khuya muốn ăn thì gõ cửa phòng đầu bếp hỏi đồ ăn, muốn chơi thì lên gõ cửa phòng con nhỏ thuyền phó đòi chơi, ban ngày thì thừa cơ hội rờ mông, bóp chim con người ta… dĩ nhiên chuyện như vậy chỉ có vài tên say xỉn thôi nhưng cũng là đề tài cho người Hoà Lan đem ra châm biếm và bôi bác rồi. Tuy bực mình nhưng thấy Anatoli bị đì tội nghiệp, nhưng tôi không giúp được gì ông ta hết, chỉ biết động viên về mặt tinh thần, thân thiện, vui vẻ với ông. Có lần tôi rủ ông lên hội quán chơi, trong lúc ngồi uống bia ông nói với tôi:

– Mình ở nước nhỏ nên bị mấy người ở nước lớn xem thường.

Tôi nói:

– Nước Hoà Lan cũng nhỏ mà.

– Nhưng nó giàu.

Tôi nhìn Anatoli và nói:

– Giàu nghèo gì thì ở cũng một cái nhà, ăn cũng đầy một cái bụng, tối ngủ cũng có một cái giường.

– Ông ở Hoà Lan nên ông mới nói vậy.

Ông đưa ngón tay trỏ và ngón cái chà chà vào nhau và nói tiếp:

– No money, no honey…

Câu thành ngữ tiếng Anh no money, no honey, đại khái là không có tiền thì không vui vẻ, không hạnh phúc, câu này tôi thường nghe những người nói với thái độ đùa vui hoặc của các cô gái trong các hộp đêm. Nên khi nghe Anatoli thốt lên với giọng nghiêm túc, tôi thấy nó sao sao. Tôi ôn tồn và nói ra sự trải nghiệm của thân phận ăn nhờ ở đậu nước người ta:

– Tại ông nghĩ vậy thôi, chớ ít tiền cũng vẫn sống vui vẻ được mà.

Thấy ông ngẫm nghĩ tôi nói tiếp:

– Ông biết không, tui chạy trốn khỏi Cộng Sản tới Hoà Lan định cư trong những ngày còn trẻ, cả đời làm lụng vất vả và đóng thuế đầy đủ cho đất nước này, được cái là sống trong thế giới tự do thôi, chớ thiệt ra tui vẫn là người Việt và người Hoà Lan họ cũng đâu có coi tôi là người của họ.

– Nhưng ông quốc tịch Hoà Lan thì ông vẫn là người Hoà Lan.

Hết ở Hoà Lan rồi tới vẫn là người Hoà Lan! Nãy giờ thấy ông chú ý lắng nghe và trầm ngâm suy nghĩ, tôi tưởng ông cũng lãnh hội được ít nhiều những gì tôi nói, nhưng xem ra những lời nói của tôi hổng thấm tháp gì với ông hết. Lúc đó tôi mới nhận ra cùng một khối Cộng Sản với nhau nhưng khi tan rã ra thì tâm trạng của mỗi người dân của mỗi nước mỗi khác nhau. Người Nga thì có vẻ cao ngạo, tự hào, còn dân những nước nhỏ cạnh nước Nga mà vài người tôi được biết, cũng như Anatoli, họ nhẫn nhịn và âm thầm làm việc, họ sống tách biệt với mọi người. Tôi nhìn thẳng mặt Anatoli, ông cúi xuống cầm ly bia xoay xoay, tôi nghĩ gần một thế kỷ người Estonia bị đảng Cộng Sản Nga cai trị, cho nên dân tộc này gương mặt lúc nào cũng buồn bã, cam chịu, giống như người Nga, trong đầu họ chỉ biết làm sao kiếm được thiệt nhiều tiền, ngoài ra không còn gì khác. Có thể vì vậy những lời tâm sự của tôi đối với ông cũng như nước đổ đầu vịt mà thôi. Muốn thân thiện với Anatoli lắm, nhưng thái độ và cách nói chuyện của ông tôi nghe hơi kì kì, thật tình là tôi nghe hổng lọt lỗ tai.  

Sau chuyến đó tôi đổi tàu đi những tuyến đường khác. Hơn năm sau tôi mới trở lại gặp ông. Lúc đó tình hình thay đổi rất nhiều, những người Hoà Lan không chịu làm chung với những người Nga thì nghỉ việc công ty này đi làm cho công ty khác. Những người còn ở lại người nào cũng thay đổi tánh tình, họ thay đổi một trăm tám mươi độ la bàn, sống hoà đồng, nói chuyện vui vẻ và chuyện ngồi hơi ăn, uống chung chạ không còn là vấn đề nữa. Lúc tàu đang hải hành thì giờ cà phê đám officers tự pha cà phê uống trên phòng lái. Trên tàu ngày chủ nhật, tôi làm bánh kem hoặc bánh táo thường thì giờ cà phê phụ thuyền phó, phụ máy hoặc thực tập sinh xuống bưng lên phòng lái. Nhưng hôm đó Anatoli vui vẻ xuống bưng bánh, ông hớn hở khoe với tôi là được ngồi ăn chung với người Hoà Lan và giờ cà phê được lên phòng lái uống chung với họ. Tôi định nói, chuyện đó là quyền lợi của ông, có gì đâu mà ông vui vậy? Nhưng thấy ông vui mừng giống như người được trúng thưởng, sợ ông cụt hứng. Tôi bèn nói:

– Chúc mừng ông nhé.

Giờ ăn trưa hôm đó, Edy phụ bưng đồ ăn lên cho tụi hoa tiêu và ăn xong nó phụ tôi dọn dẹp. Trong lúc dọn nó thấy tôi múc riêng ra một phần ăn, bọc giấy nhựa cẩn thận và để trên bàn, nó hỏi:

– Chú dành cho ai vậy? 

Tôi nói với Edy:

– Ông thợ máy.

– Tại sao tới giờ ăn ông hổng vô ăn?

– Có lẽ ông ta bận.

– Tàu đang chạy mà bận gì?

Ngập ngừng một chút, nó nói:

– Ông ta hay làm phiền đầu bếp và coi thường người In Đô lắm, có khi ông ra boong chửi thủy thủ ngoài boong nữa.

– Có chuyện đó sao?

– Con nói thiệt mà.

– Con biết ông ta hả?

– Dạ, mấy năm qua con thường làm chung với ông ta mà, tự cao tự đại lắm, chú coi chừng ông ta đó.

– Oh! Vậy là có vấn đề rồi !

Nghe Edy nói tôi mới nhớ, gặp Anatoli hồi sáng tới giờ hổng thấy ông cười và thái độ của ông hổng còn vồn vã như hồi tôi gặp lần cuối nữa. Trước giờ ăn ông vô bếp dặn tôi dành phần ăn riêng cho ông, hình như ông tránh mặt những người Nga. Trước kia chuyện ăn uống trễ giờ làm tôi bực mình, nhưng sống với người Nga và Đông Âu riết rồi cũng quen, tôi nói với Edy:

– Trên tàu có mười một người, đủ cho một đội đá banh mà có tới năm quốc tịch khác nhau, tánh tình mỗi người mỗi khác. Tự cao hay tự thấp gì thì thái độ cũng giống như nhau, mình hổng biết hết được đâu, mặc kệ ông ta đi.

Nói thì nói vậy thôi, chớ thiệt ra thì những ý nghĩ ôn hoà, sự bao dung phải có sự từng trải và tập luyện nhiều năm mới có được. Tôi mỉm cười và day nhìn lại Edy, nó cũng nhìn tôi gật gật cái đầu và mỉm cười trông có vẻ đồng tình, nhưng tôi cũng hổng hiểu nó đang nghĩ gì nữa.

Tây Nam Đại Tây Dương 28-2-2021