This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Lúc này, trời đã lành lạnh, một vài hơi heo may đã lò dò về sớm. Không có quần áo thay, dù vậy, tôi vẫn cởi bộ quần áo ra vò mạnh cho đỡ tanh, thối. Cúi vào vòi nước, tôi xoa, cào mấy cái cho bong ít vảy ghét. Cả cái bắp đùi của tôi bây giờ chỉ vừa một chít tay với 3 đốt ngón tay. Hai cái xương phía ngoài đấu gối, trông như hai cái đầu con bọ ngựa ngọ nguậy, ngút ngắc, lúc tôi đứng lên ngồi xuống. Tôi gãi hai mông đít, chả thấy những đầu xương nhọn hoắt. Bao nhiêu công việc, tôi phải làm vội vàng, vì chỉ có 15 phút. Nhưng, có lẽ tên Kế thấy tôi nỗ lực với cuộc sống, cho nên đã để cho tôi hơn 20 phút.
Sau khi tôi dùng tay, ăn và húp hết bát canh, còn nắm cơm, tôi mang vào. Cho họ cùm xong mới ăn, vì hết giờ rồi. Cùm, xích xong, và khi cửa buồng sập xuống, những bước chân đi dần vào phía trong.
Tôi cũng cố gắng lắng nghe qua những âm thanh để có thể phán đoán chút gì, về người phía bên trong được không. Có tiếng mở khóa và kéo cửa lên, nhưng đợi mãi, không nghe tiếng chân ra ngoài đổ bô và rửa ráy. Im lìm một lúc, rồi nghe tiếng sập cửa và khóa, những tiếng bước chân sền sệt nhỏ dần lên phía cửa “cát xô”. Đã quá nhiều lần tôi gọi buống phía trong rồi, nhưng không hiểu tại sao người trong ấy, không lên tiếng trả lời. Hôm nay, tôi cũng chả muốn gọi nữa!
Tôi thấy lạnh run lên, dù tôi đã cố sức vắt khô quần áo, nhưng tôi vẫn run. Thật chẳng có cái dại nào giống cái dại nào. Lần sau, thà chịu bẩn, chịu cứt đái, chứ chả dám giặt nữa. Phải ăn cơm ngay, để có chút “ca lô ri” chống lạnh, tôi run lắm rồi!
Trong ánh sáng mờ mờ của căn hầm, khi tôi bẻ nắm cơm ra, mũi tôi thoáng ngửi một mùi đặc biệt, làm nước miếng của tôi rào rào chảy ra đầy mồm. Tôi nhìn ở giữa nắm cơm: một mầu nâu nâu, đen đen, trăng trắng. Thì ra một miếng thịt heo vuông mỗi bề độ 3 phân, dầy độ 5 ly. Ôi chao! Sao tôi lại có cái diễm phúc thần tiên như thế này?
Tôi đã biết, ở trong Hỏa Lò, thịt là cả một vấn đề. Một năm, cũng chỉ 3, 4 bữa là cùng, mỗi bữa chỉ được 2 miếng con con bằng hai đốt ngón tay. Hỏa Lò là trại giam của Thủ Đô Hà Nội, bộ mặt của cả nước, có nhiều khách quốc tế, và các “vị” lãnh đạo tối cao của xã hội chủ nghĩa tới lui, mới được hưởng cái “đặc ân” đó.
Hôm nay là ngày gì đâu mà Hỏa Lò có thịt!? Vậy, đây chỉ là của cán bộ, và do tài ba nhập nhằng thế nào đấy của anh bếp tù hình sự, để gọi là một chút giúp đỡ cho người, họ có thiện cảm.
Tôi hơi lặng người đi vì xúc động, trước một việc làm cao cả của một người có tâm hồn, lấy nghĩa khí để xử thế, đôi khi tiền không mua được. Thực vậy, nếu vì lý do nào đó bị phát giác, không những mất “nồi cơm”, nghĩa là mất chân béo bở ở nhà bếp, phải trở về buồng giam, để tiếp tục những ngày đói triền miên ở trong tù. Hồ sơ còn bị ghi vết xấu, sau này đi trại nào, cũng khó lòng có cơ hội nhận lãnh những “chân” béo bở nữa. Ngoài ra, có khi còn bị kỷ luật, bị cùm ở trại chung. Phải nói, đây là một việc làm tôi suốt đời, không quên.
Chỉ vì miếng thịt, dù tôi chưa ăn, chỉ mới ăn cơm, tôi đã quên bẵng đi mọi việc chung quanh. Người hết lạnh lúc nào, ngừng run lúc nào, tôi cũng không hay. Ngay bộ quần áo, cũng đã khô ráo rồi!
Bây giờ tôi nằm xuống, cầm miếng thịt hà hít cho nó sướng cái đã, rồi tôi bắt đầu nhẹ cắn một miếng. Tôi bảo đảm, tất cả các tế bào trong cơ thể của tôi đều như đứng bật dậy, cùng nhún nhẩy, đong đưa để đón nhận hương vị của miếng thịt. Tôi vừa nhai, vừa nghe tiếng róc rách, của những giòng nước thơm thơm, ngầy ngậy từ từ chảy ngấm vào con tì, con vị của mình. Đầu óc tôi cứ lâng lâng, miên man bâng khuâng! Xin cảm tạ đấng Tạo Hóa! Tại sao lại có lòng ưu ái đối với thế nhân đến như vậy? Ngài đã ban cho con người một thứ vưu vật tuyệt vời, mà không phải ai cũng được hưởng hết cái giá trị của nó…..
Những ngày hôm sau, tôi nhìn nắm cơm, tuy trông bề ngoài cũng như mọi khi, nhưng khi bẻ ăn, thấy rắn chắc khác thường. Phải nói, lượng cơm gần như gấp rưỡi, nhưng được nắm lại thật chặt để trông vẫn như thường. Cũng vì vậy, cơ thể tôi có thêm sức để chịu đựng. Trước dây, tôi chỉ mừng là có được một người tù thông cảm với hoàn cảnh của mình, nên đã tận tình giúp đỡ. Nhưng một đêm, tôi chợt nhận thấy, ý nghĩa của vấn đề còn to lớn hơn. Ở đây, người giúp đỡ tôi, anh ấy nói có nhiều người khác biết. Vậy, đây là quần chúng! Không bị tuyên truyền, không bị lừa lọc, bịp bợm. Bằng thực tiễn và thời gian, quần chúng đã tự hiểu, và tự nguyện giúp đỡ một người bị bọn cường quyền hành hạ. Như thế, việc tôi làm, đường tôi đi, càng ngày càng được sự thương yêu, đùm bọc của quần chúng. Điều đó là một cứu cánh quyết định, giúp tôi vượt qua nhiều gian khổ, trên đường đi tới sau này.
Dần dần, tôi càng ít nghe thấy những tiếng rọt rẹt của xích sắt, phía bên trong hơn. Cả những tiếng rên và tiềng rầm rì như tiếng tụng kinh, đã quen thuộc lâu ngày.
Đến ngày thứ Bảy tuần đó, sau khi nhận cơm và nước, tôi quen lệ như mọi lần, chờ nghe điệp khúc của điệu nhạc “cho tù ăn” trỗi lên. Tôi chỉ nghe đến “khúc” kéo cửa sắt lên, rồi…..ngừng bặt, ngắt quãng, thay vào đó là tiếng bước chân hấp tấp của anh tù hình sự đi trở ra. Qua khỏi chuồng của tôi, một giọng nói to lẫn trong tiếng thở hổn hển:
– Báo cáo cán bộ, buồng phía trong đã chết tự bao giờ rồi!
Tiếng bước chân dồn dập đi vào phía trong. Một lúc, rồi tiếng sền sệt chạy trở ra và nhỏ dần về phía cửa “cát xô”.
Qua sự phán đoán của tôi, anh hình sự vẫn còn đang đứng đợi chờ trên bực hầm. Đây là trường hợp hi hữu, bất ngờ. Tôi đã có chủ định từ mấy hôm nay, vì vậy gặp dịp không thể bỏ lỡ, tôi vờ ho lên một tiếng, rồi kêu bâng quơ:
– Đau bụng quá trời ơi!
Tiếng bước chân đi nhanh xuống, giọng nhỏ nhẹ hỏi:
– Anh làm sao đấy?!…
Chủ động, ý của tôi là cố tìm cách để biết tên anh tù hình sự, và về người ở buồng phía trong. Vì vậy, tôi hỏi ngay, giọng như thì thào:
– Tôi mong muốn được biết tên bạn?
– Em tên Minh. Còn anh?
– Đặng Chí Bình…..Người vừa chết ở phía trong, Minh có biết là ai không?
– Ông ấy là Linh Mục.
Tôi thoáng giật mình, hỏi gấp:
– Tên gì?
– Em không biết!
– Linh Mục có điếc, hay câm không?
– Không câm, không điếc,nhưng không nói với ai từ ngày bị bắt, nên họ mới cho vào “cát xô”.
– Lâu chưa?…..
Giữa lúc đó, có tiếng người xa xa, anh Minh lẹ chân chạy ngay lên phía trên bậc hầm.
Bốn, năm người đi qua chuồng của tôi. Tiếng rút chốt cùm. Tiếng mở khóa xích sắt rủng rẻng. Lịch kịch một lúc, rồi những tiếng bước chân nặng chịch vì phải khênh, kéo một thân người ngang qua chuồng tôi.
Một mùi thịt người chết lâu ngày nồng nặc. Mùi đó quạt vào mũi làm tôi bỗng chợt nhớ lại một hình ảnh của quá khứ, ở nghĩa địa Đô Thành, Sài Gòn, ngày 13-14 tháng 11 năm 1960 – Ngày binh biến 11/11/1960 của miền Nam. Hôm đó, tôi theo giòng người vào nhà xác trong nghĩa địa Đô Thành, vừa để thỏa tính tò mò, vừa để xem, biết đâu, lại chả có người quen, mình biết để về báo cho gia đình họ hay. Bao nhiêu dẫy xác chết. Có những xác phình to tướng như xác người ngoại quốc. Có cái lòi ruột, cái mất đầu, có cái chỉ còn….chiếc cẳng chân dính toòng teng một cục thịt lầy nhầy mấy đoạn ruột…..Đặc biệt, một mùi khăm khẳm, tanh tanh, ngai ngái từ những chỗ thịt đã thối nồng nặc bao trùm cả một vùng chung quanh.
Người nào vào, cũng có chiếc khăn bịt mũi, vậy mà vẫn vang lên đây đó tiếng nôn ọe, lẫn với tiếng gào, khóc của thân nhân, khi đã nhìn thấy xác của người nhà. Thậm chí, tôi đã rời xa nghĩa địa hàng nửa cây số, thế mà vẫn còn ngữi thấy cái mùi đặc biệt đó. Rồi hôm nay, mũi tôi lại ngửi thấy mùi thịt người chết lâu ngày này, khiến tôi nhớ đến những cảnh đời trong một thời gian khác, ở một không gian khác của Tổ Quốc Việt Nam nhiều nghiệt ngã cay đắng, đó là miền Nam thân yêu, mãi tít xa vời vợi.
Nghe qua âm thanh, tôi hiểu chúng đã khiêng người chết lên trên đồi; cửa “cát xô” đã đóng, mà sao mùi xú uế của tử khí còn nồng nặc căn hầm.
Chừng nửa giờ sau, cửa “cát xô” lại mở. Nghe tiếng bước chân, tôi biết có hai người đi xuống. Rồi một người đi trở lên. Một lúc, tôi nghe tiếng quét dọn, rồi tiếng phì phì nôn ọe. Tôi hiểu đó là tiếng của anh nhà bếp hình sự. Tiếng mở vòi nước chảy ồ ồ, tiếng xối nước ào ào. Đột nhiên, giọng anh Minh nói như thầm thì:
– Mọi khi, họ để vào nhà xác, đêm mới mang đi chôn. Hôm nay, phải đem đi ngay rồi, vì thối quá!
– Chết từ bao giờ mà mùi kinh thế!
– Mới đêm qua. Nhưng, vì cái chân ông ta bị lở loét thối và có bọ nửa tháng nay rồi. Hàng ngày giòi bọ, bò lổm nhổm ra cả ngoài nền này.
Thảo nào, cái mũi tôi đã không lầm khi ngửi thấy mùi thịt chết nhiều ngày. Thấy anh nói có vẻ tự nhiên như không có cán bộ, dù vậy, tôi vẫn chưa yên tâm nên hỏi:
– Cán bộ đâu?
– Không chịu nổi hôi thối, ông ta trèo lên cửa “cát xô” rồi.
– Minh họ gì?
– Lê, Lê Hoàng Minh!
– Ông Linh Mục bị bắt từ bao giờ?
– Em không rõ, chỉ biết vào “cát xô” hai tháng nay.
– Ông ta chừng bao nhiêu tuổi?
– Khoảng 40, 45. Ông ấy bị chết vì cái chân gần đứt rơi ra ở trong cùm, trông thấy cả ống xương chân trắng hếu, rất nhiều giòi bọ.
Đột nhiên, một giọng miền Nam quát vang lên từ phía cửa “cát xô”:
– Xong chưa? Làm gì lâu thế!?…
Tiếng anh Minh vội vàng:
– Báo cáo, xong ngay đây ạ!
Vừa báo cáo, anh vừa hấp tấp đi lên.
Cửa “cát xô” đóng rồi, lòng tôi vẫn vơi đầy với vị Linh Mục nào đó. Tại sao người không nói chuyện với tôi? Nếu tôi biết từ trước người là Linh Mục, tôi đã có cách để nói chuyện với người. Biết đâu, vừa biết rỏ về người, may ra cổ vũ tinh thần cho người, người lại….chưa chết. Tôi hiểu, có những nhân vật lỗi lạc về nhiều khía cạnh trong cuộc đời, nhưng khi gặp thế cùng, lại quên đi những điều sơ đẳng nhất.
Đêm hôm đó, tôi tự dưng thấy rợn người mấy lần, vì dưới nhà…..mồ, bây giờ còn mỗi mình tôi. Thỉnh thoảng, nghe những tiếng lịch kịch phía bên trong, tôi cũng thấy nổi gai ốc lên. Nhất là, mùi khăm khẳm vẫn chưa tan hết dưới hầm. Nhưng, chợt một ý nghĩ dấy lên trong đầu làm tôi yên lòng, bớt thấp thỏm khi nghe những âm thanh lạ trong đêm trường:”Dứt khoát chẳng làm quái gì có ma! Bởi vì rất dễ hiểu, nếu có ma thực, những lũ Cộng Sản đã bị bóp cổ chết hết rồi, còn đâu!”.
Biết bao nhiêu chiến sĩ Quốc Gia, biết bao nhiêu những đồng bào vô tội trong cải cách ruộng đất, trong các nhà tù hiện nay…..bị lũ Cộng Sản tàn sát, giết hại; lòng căm hờn dâng cao như núi. Nếu chết đi thành ma, lũ Cộng làm sao còn! Cũng như, bao nhiêu kẻ ác trên cõi đời này làm sao yên hưởng xa hoa trên đống xương, và máu của người khác…..?
Do những suy nghĩ như vậy, tôi không cón cảm thấy rờn rợn, nổi da gà khi nghe thấy những tiếng xọc xạch ở phía trong, lúc đêm khuya nữa. Chắc đấy chỉ là một con chuột nào đó, đi kiếm ăn đêm?…..
Xưa nay chỉ thấy tô phở bò, gà theo chân người Việt tỵ nạn tràn lan và nổi danh toàn thế giới; còn tô hủ tiếu quê mình hình như đã tàn phai nhan sắc. Chớ hồi xưa trong nước, phở Bắc chỉ làm ‘đại ca’ trên chốn giang hồ Sài Gòn; ngay cả vô Chợ Lớn cũng phải chào thua.
Nhứt là Lục tỉnh Nam Kỳ tô hủ tiếu quê mình vẫn vô địch quyền vương, độc cô cầu bại. Tô phở Bắc mon men về tới cái đất Mỹ Tho danh trấn giang hồ về hủ tiếu cũng đành phải chịu xếp ve luôn. Mỹ Tho có cả hàng chục tiệm hủ tiếu chỉ loe ngoe vài ba tiệm phở tái, nạm, gầu…
Do đó, đầu bếp Gordon Ramsay, 49 tuổi, người Scotland, chủ nhiều nhà hàng nổi tiếng trên toàn thế giới, một năm kiếm được tới 5, 6 chục triệu đô la Mỹ, tánh tình nóng nảy, ăn nói bổ bả, bặm trợn hay chửi thề um trời trong rất nhiều chương trình trên truyền hình của Anh, của Mỹ như Masterchef, Hell’s Kitchen…khen hủ tiếu của miệt Lục tỉnh quê mình ngon hết biết là chuyện không cần thiết; vì tô hủ tiếu nầy nó ngon tự lâu rồi chớ đâu phải mới đây.
(Khen như vậy là khen con bò trắng răng vì chẳng cần kem đánh răng, bò nhơi cỏ, đánh răng suốt thì răng làm sao mà không trắng cho được chớ?)
Thoạt kỳ thủy Gordon Ramsay là cứ nghĩ món ăn Việt Nam cũng như các món Thái hoặc các nước lân bang vùng Đông Nam Á. Nhưng sau mới ngộ ra rằng: “Món ăn Việt Nam đúng là độc đáo và không thể so sánh với bất cứ món ăn nào ở những đất nước mà tôi đã đi qua”.
Gordon Ramsay khen nước lèo hủ tiếu có thể ngon hơn nhiều nhà hàng Việt tại London, rồi học cách nấu hủ tiếu, bán trên một chiếc thuyền trôi bềnh bồng trên sông Cái Răng, Cần Thơ cùng với đầu bếp Úc gốc Việt, Luke Nguyen, tháp tùng theo làm thông dịch để quay truyền hình cho bà con toàn thế giới xem chơi!
***
Tây thấy món nào có nước thì gọi là soup. Hủ tiếu nó gọi là ‘soupe chinoise’ (súp Tàu). Gọi vậy cũng phải vì hủ tiếu là của người Tàu, người Quảng Đông; còn người Triều Châu thì ăn hủ tiếu bò vò viên, tức ‘ngầu dục viễn’! Nổi tiếng nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho! Nó khác xa với hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế, bún mắm Sóc Trăng. Hủ tiếu Mỹ Tho của người Quảng Đông nhưng bánh hủ tiếu lại do người Việt ở Gò Cát, bên bờ kia sông Bảo Định, vùng ven thành phố Mỹ Tho làm.
Bánh hủ tiếu bằng bột gạo, không pha bột mì, bột lọc. Sợi hủ tiếu tươi chỉ cần trụng sơ với nước nóng là trong, giòn và dai và dẻo hơn các loại bánh hủ tiếu mềm xèo ở Chợ Lớn.
Cái thùng nước lèo của mấy xe hủ tiếu Mỹ Tho có hai ngăn. Một là nước sôi để trụng bánh; một ngăn chứa nước lèo, có vị ngọt từ xương, giò heo và khô mực nướng cùng với củ cải. Thịt heo nạc xắt mỏng như tờ giấy quyến, gan heo trải lên mặt tô rồi chan nước lèo lên, rắc tiêu.
(Sau nầy người ta thêm phèo non, tôm thẻ và trứng cút… Nhưng ăn thấy nó làm sao đâu vì làm mất cái vị, cái mùi hủ tiếu!) Hủ tiếu là phải ăn với giá sống, hẹ, cải xà lách, củ hành phi. (Đừng có bỏ rau tần ô rau ghém vô, ăn lãng xẹt hè). Nêm nếm là phải xì dầu và dấm đỏ. Nêm bằng nước mắm y, rồi vắt chanh vào (để ăn phở) là trật lất.
***
Sở dĩ tui kỹ từng chút một về tô hủ tiếu là vì em yêu của tui là á xẩm. Ông già vợ tui, bà con gọi là Chú Xồi, chuyên nghề bán hủ tiếu. Chú Sồi có một chiếc xe có thành vách ba bên, lộng kiếng vẽ hình trong truyện Tam Quốc như Quan Công phò nhị tẩu, Giang tả cầu hôn, Đương Dương trường bản, Khổng Minh tọa lầu.
Ở giữa xe là một thùng nước lèo, bốc hơi nghi ngút, những rổ nhỏ đựng bánh hủ tiếu, mì nhỏ, mì lớn, hoành thánh, dầu chá quảy. Hồi xưa lúc đói bụng, trong túi lại có kha khá tiền, tui bèn tắp vào lề, ngồi lên cái ghế xếp, trước mặt xe, có miếng ván hình chữ nhựt gài chốt bè ra, đủ đặt vừa tô hủ tiếu.
(Thằng nhỏ nào Chú Sồi cũng kêu là Tửng hết trơn hè. Hèn chi sau về làm rể cho Chú Sồi tui cũng bị hơi tửng tửng!)
Tui chơi lại tiếng Tàu luôn; cho dù tiếng tàu của tui là loại ‘Tào Lao’. “Dách cô phảnh, thím xực xí quách…tố tố sủi!” (Một tô hủ tiếu nhiều xí quách, nhiều nước lèo). “Hầy lớ!” (Được rồi!)
Đưa tay đón lấy tô hủ tiếu từ bàn tay búp măng của á xẩm Quế Thanh, con gái chú Xồi, tui xịt một chút xì dầu, giấm đỏ, gắp thêm vài lát ớt, xốc bánh hủ tiếu lên, gắp một đũa khá lớn đưa vào miệng, bắt đầu hẩu xực.
Nước lèo nóng, cay vì ớt vì tiêu, hơi nước lèo phả vào mặt, mồ hôi tươm ra ướt cả lông mày. Tui chiến đấu quyết liệt, hai hàm răng kêu kèn kẹt, chỉ trong chốc lát là tô hủ tiếu cạn queo.
Quế Thanh mang cho tui cái bình trà “Thái Đức’ bằng nhôm nóng hổi, rót cho tui một ly rồi hỏi: “Hẩu lớ hia Tửng?” (Ngon không anh Tửng?)
Em nguýt tui một cái dài thậm thượt chừng 3 cây số, xổ luôn một tràng tiếng Việt: “Tía em nghe được là rượt anh chạy có cờ đó nhe! Ai biểu hia Tửng no bụng cửng lên, dám dê ‘tiểu thư’, con cưng của Tía!”
***
Rồi sau khi CS chiếm miền Nam, gia đình bà con mình ai cũng đều suy sụp, ai cũng mạt, không còn tiền ăn hủ tiếu. Cái một xã hội mình trước 75, dù đang chịu đựng cuộc chiến đẫm máu kinh hoàng để vệ quốc vẫn còn chút ổn định nhưng khi tiếng súng ngưng rồi tàn phá còn hơn cả lúc chiến tranh. Người dân bị bức hại, bị trả thù, bị đe dọa cướp nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, bị đày đi kinh tế mới. Đêm nào CA Phường cũng xét hộ khẩu để bắt người đem đi nhốt khơi khơi.
Không còn chịu đựng nổi, bà con mình ai nấy cũng âm thầm nhưng rất quyết tâm là tìm đường ra biển. Muốn ra biển là phải biết đường sông vì tất cả các dòng sông đều xuôi dòng ra biển; nên phải chấp nhận cuộc sống gạo chợ nước sông, đời sương gió buôn bán qua ngày dò đường để dọt. Phần trên đường bộ bọn chúng rào đường, chận ngỏ ác liệt không bán buôn gì được hết.
Thế là ở những ngã ba sông: chợ nổi Cái Bè, chợ nổi Lục Sĩ Thành (Trà Vinh), chợ nổi Cái Răng, Phong Ðiền và chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp, (Cần Thơ) nổi lên. Khoảng thời gian thương hồ, dò đường đi nước bước, dù chỉ là tạm bợ để tìm cách ra đi vẫn ghi dấu lại biết bao là kỷ niệm. Kết bạn thương hồ, sống rất ruột gan, tứ hải giai huynh đệ, sống điệu nghệ. (Bây giờ, quê người cơm áo đủ đầy, thừa mứa nhưng tình người hình như hơi bị hiếm!)
Tui trở về Mỹ Tho thăm Quế Thanh lần cuối trước khi đi. Không biết lành dữ thế nào, tui nói với em rằng: “Nị rán chờ chừng nào biết thằng Tửng nầy chết chắc; rồi hãy đi lấy chồng nhe!”
Chú Xồi nghe được, kêu tui lại biểu: “Tửng à! Nị dắt nó đi luôn đi. Thương nhau là sống chết phải có nhau, đồng tịch, đồng sàng, đồng quan, đồng quách mới được lớ!”
***
Người ta thương hồ khấm khá thì có ghe lườn, ghe cui, ghe rỗi, ghe cà vom… mui lợp ván chắc chắn, chịu được nắng mưa. Còn hai đứa tui nghèo, nhờ Chú Xồi vét hết trong nhà được chưa tới 5 chỉ vàng, mua cho một chiếc ghe tam bản be kèm, lợp mui giả khung bằng nan tre đan bện lá dừa nước, chạy máy đuôi tôm Kohler 4.
Sáng em bán hủ tiếu, tui bán cà phê, nước đá và rượu trên chợ nổi Cái Răng.
Chiều về một bến sông nào đó qua đêm thì Quế Thanh chèo mũi; tui chèo lái hoặc căng bốn góc mềm nhờ gió đưa đi cho đỡ tốn xăng.
(Hồi đó, trèo vô trèo ra trên ghe chạm mặt hà rầm mà sao ít cự cãi hơn bây giờ?)
Chợ nổi họp theo con nước lớn, 5 giờ sáng tiếng máy ghe, thuyền trên chợ nổi cứ bồng bềnh trên sông trong tiết trời mờ mờ đục đục đẫm hơi sương.
“Chợ đã nổi từ nửa đêm về sáng/Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn/ Em treo ‘bẹo’ Cái Răng, Ba Láng/ Ta thương hồ Vàm Xáng, Cần Thơ”
Giang hồ gạo chợ nước sông, dù có á xẩm em yêu kè kè một bên nhưng bữa nào đi bán một mình cũng có vài em bẹo hình bẹo dạng với tui. Con gái đồng bằng trên sông nước, gió thổi phần phật lật lên vạt áo bà ba, có cái gì trăng trắng làm tui cũng thèm nhểu nước miếng hè.
Rồi nghe em than mà đứt ruột: “Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi. Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê!” Thôi thì cám cảnh nhau, tui lén Quế Thanh cho em thương hồ ăn chịu hủ tiếu, chừng nào có tiền trả cũng được mà giựt luôn cũng hổng sao.
Em bạo dạn ướm lời: “Nước xuôi chạy gió buồm mền, muốn vô làm bé, biết bền hay không?”
Đời mà trai năm thê bảy thiếp là thường. Năm bảy con (vợ), tui còn lo được huống gì là hai nên tui tính ừ cho rồi. Nhưng Quế Thanh, em yêu của tui, đánh hơi được, nhứt định không chịu cái cảnh chồng chung; nếu tui rước thêm một con ‘ngựa bà’ nữa xuống ghe là em sẽ nhẩy xuống sông tự trầm mà chết. Sau sợ tui lạc lòng, nấn ná lâu sanh biến; nên Quế Thanh về lại Mỹ Tho ‘ráp’ với mầy xì thẩu có đóng tàu vượt biên cho hai đứa tui, vốn quen kiếp sông hồ làm ‘taxi’ đưa khách ra cá lớn.
Hôm cuối cùng, đưa khách bị bể, không dám quay vô, tui với em bèn ngộ biến phải tùng quyền, leo đại lên theo thuyền, dông theo luôn ra cửa biển. Cái đó gọi là canh me! Gần 4 chục năm rồi, đêm ngủ bên Quế Thanh, á xẩm bán hủ tiếu, tui vẫn còn nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền trên chợ nổi năm nào.
“Vật đổi sao dời. Ðá mòn sông cạn. Trần ai chớp mắt trăm năm mộng”. Tui vẫn nhớ chiếc ghe hủ tiếu thương hồ đã đưa mình thoát khỏi gông cùm CS để đến được bờ bến tự do.
Chuyện rằng: Hồ Xung người làng Phú Thuận, huyện Núi Thoại, đã lập gia đình, nên duyên giai ngẫu với Doanh Doanh người cùng xóm, cùng làng, cùng huyện, cùng phủ sông An, phía Tây Nam nước Việt giáp ranh với vương quốc Khmer!
Ba năm hương lửa cháy bừng bừng! Ðụng nhè nhẹ một cái, Doanh Doanh sáng tác ra một tác phẩm, một đứa. Ba năm, ba tác phẩm, ba đứa. Nhà nheo nhóc; lại thêm Mẹ già, vì chữ hiếu ráng mà chăm sóc hết lòng nhưng bữa đói, bữa no. No thì ăn cơm với nước mắm kho quẹt. Còn đói thì ăn cháo trắng với muối hột.
Làm thân nam nhi chi chí, nuôi vợ con không nổi thì lỗi vô cùng! Vậy mà Hồ Xung lại không lo; tối ngày chỉ chuyên tâm luyện ‘Tịch tà kiếm phổ’; mơ làm bá chủ chốn giang hồ; để làm giàu bằng nghề đâm thuê chém mướn.
Nhưng thiên hạ đang đại loạn, anh hùng nổi lên như nấm mối gặp mưa. Có đứa rành chiêu thức ‘Tàn chi quái đao’ so với ‘Tịch tà kiếm phổ’ thì bên tám lạng đằng nửa cân nên nhiều trận đụng độ phải u đầu sứt trán!
Hồ Xung thấy làm ăn ngày một khó bèn đổi qua nghề thầu khoán chuyên cất nhà hay sửa chữa lặt vặt để kiếm miếng cơm dù không có tốt nghiệp trường lớp kiến trúc gì hết ráo!
Cùng huyện, có Linh San, nửa chừng xuân gãy cành với Bình Chi, đành ở vậy. Một hôm, Linh San ăn gói mì tôm, hên hết biết, trúng thưởng “khuyến mãi” được 3 cây vàng 3 số chín, bèn kêu Hồ Xung đến cất cho mình một căn nhà cấp 4, lợp tôn để có chỗ chui vô, chui ra.
Hồ Xung nhận hợp đồng đến xây nhà cho Linh San. Chiều nghỉ, xuống bến nước rửa tay chưn xong, ngồi chéo ngoảy trên ghế đẩu để chờ chủ nhà cơm bưng nước rót và còn bồi dưỡng thêm cho một xị rượu đế ngâm tắc kè để mai có sức mà làm tiếp.
Linh San sở dĩ tiếp đãi Hồ Xung rất nồng hậu là vì sợ khi cất nhà mình, đối đãi nó hổng vừa ý, nó ếm bùa lỗ ban là mình tan hoang nhà với cửa.
Thói đời cơm no bò cưỡi. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Tình ta quá chén… nên việc cất nhà không làm rút cho xong mà cứ nhởn nhơ ngày nầy sang ngày khác. Xây nhà rồi giờ tính xây luôn cả tổ uyên ương.
Doanh Doanh, tai vách mạch rừng, biết tỏng trò mèo mả gà đồng của Hồ Xung và Linh San, mấy lần đến đánh ghen, làm um sùm lối xóm. Thưa ra hương quản nhưng cả hai đều chối. Không bắt được quả tang, vả lại tay hương quản nầy vốn là thằng chăn trâu, học hành không tới đâu, không biết làm sao mà phân xử nên sự việc chìm xuồng luôn, mạnh ai nấy lội.
Dù vậy, duyên đôi ta tình nồng như rượu nếp mà Doanh Doanh cứ tới phá đám hoài thiệt làm mất vui; vì đang ‘tù ti tú tí’ mà cứ lo ngay ngáy là Doanh Doanh đến tập kích bất tử… nên Linh San nghĩ ra một kế như vầy:
Rút trong ruột tượng ra còn được hai cây vàng 3 số 9 của tiệm Thế Tài, Linh San đánh tiếng thương lượng với Doanh Doanh để mua đứt bán đoạn Hồ Xung. (Thấy vàng miếng là nó ham hà!) Quả nhiên Doanh Doanh đồng ý bán!
Hai bên bèn làm tờ cam kết bằng giấy trắng mực đen đàng hoàng, có lăn tay (điểm chỉ) vì cả hai đều mù chữ …
“Ngày 24-5-201, âm lịch, tôi Doanh Doanh đồng ý cho chồng tôi là Hồ Xung sống cùng chung với chị Linh San… Nay chúng tôi làm tờ thỏa thuận này để làm bằng chứng. Kể từ nay không ai xúc phạm tới ai”.
Từ đấy, Hồ Xung ở hẳn bên nhà Linh San, gần như ly thân với vợ, chỉ thỉnh thoảng về thăm mẹ, thăm con một chút! Coi ta tuy vắng nhà nhưng cám của ta còn để đó… có con heo nào ‘ột ột’ dám đòi ăn sảng hay không? Thiệt là đồ bắt cá hai tay!
Tưởng chuyện chỉ có thế thì bỗng dưng hai năm sau, Hồ Xung vẫn còn ‘sung’ độ lắm… cao chạy xa bay! Linh San lòng bức bối và tức tối nên tìm gặp Doanh Doanh để đòi lại hai cây vàng 3 số 9 theo giá thị trường bữa nay là 50 triệu đồng.
Ðôi bên cãi qua cãi lại từ giờ nầy qua giờ khác, từ giờ Thìn tới giờ Dậu mà không phân định hơn thua… bèn đưa vụ việc lên quan huyện. Huyện quan thấy chuyện tréo ngoe nầy cũng không biết xử ra làm sao nên họp dân để trưng cầu ý kiến. Bởi ý dân là ý Trời mà?!
Thì dân nói rằng: “Doanh Doanh đã ‘bán’ chồng là Hồ Xung cho Linh San với giá 50 triệu đồng. Vậy là xong! Tiền trao cháo múc!
Bây giờ Hồ Xung lặn đâu mất ?!… Có hai trường hợp: Một là Hồ Xung bay đi tìm cánh hoa khác sau hai năm mặn nồng hương lửa mà giờ củi lửa tắt queo. Hai Xung còn sung mà Chế San đà hết xí quách thì cái chuyện lôi thôi rắc rối nầy là giữa Xung và San còn Doanh Doanh được hai cây vàng do bán chồng, đã đánh số đề thua hết ráo thì lấy tiền đâu mà trả?
Hai là suốt hai năm trời nay, Hồ Xung đã cúc cung tận tụy, phục vụ Linh San thiếu điều thấy ‘linh sàn’ luôn! Xung mới bỏ chạy vì lẽ đã hết pin. Thử hỏi bỏ tiền ra mua cục pin về xài, nó hết pin rồi thì ráng chịu! Chớ ai mà trả tiền lại bao giờ?
Thế nên quan huyện Núi Thoại bác đơn của Linh San đòi tiền lại.
Anh bạn văn nghe tui kể chuyện nầy bèn ngửa mặt lên trời cười ba tiếng; xong cúi mặt xuống đất, khóc ba tiếng.
“Cha chả khen thay cho Hồ Xung, còn rất ‘sung’, nên con vợ Doanh Doanh còn đem đi sang nhượng cho người khác xài, được tới hai lạng vàng 3 số chín. Nghĩ thân ta. Mỹ nhân thiên hạ nhiều vô kể. Thử hỏi tri âm được mấy người? Ai dám bỏ vàng ra để mua ta đâu hả?”
Người viết nghe anh cảm thán như vậy bèn vuốt râu cười hí hí, phán rằng: “Già cúp bình thiếc như anh, còn xí quách đâu mà gặm để mỹ nhân phải bỏ vàng lượng ra mà mua anh như Linh San mua Hồ Xung từ tay của con nữ Doanh Doanh!”
Anh bạn văn chạm tự ái, bực bội: “Coi ốm nhưng mà không có yếu đâu nha! Không có cái vụ giờ thì cũng yêu mà yêu yếu xìu để nhà ngươi dám khi dể tại hạ.
Nhưng mà xí quách là cái quái gì? Hết xí quách nghĩa là sao? Già như ta xương cốt còn đầy đủ, bẻ khớp tay còn kêu nghe răng rắc; sao các hạ lại dám phán là ta đà hết xí quách?”
Người viết bèn tầm chương trích cú để giảng giải cho ông bạn già thông hiểu từ đầu tới cuối cái thành ngữ sặc mùi Nam Bộ nầy.
Xí quách hay còn gọi là chí quách. Vốn xuất phát từ tiếng Quảng Ðông của mấy chú Ba Tàu bán hủ tiếu. Chí quách là xương heo (chí là heo; quách là xương)
Món xương heo đã được dùng để nấu nước lèo. Xương đã hầm (ninh) lâu trong nước sôi, nên lớp thịt mỏng hoặc gân còn dính ngoài xương đã trở nên rất mềm, dễ gặm, dễ tách rời khỏi xương.
Dân ‘nhậu’, khi vào tiệm ở Sài Gòn hay Chợ Lớn, trước khi gọi hủ tiếu, mì hoặc hoành thánh, họ gọi “xí quách” để nhâm nhi với bia hay với rượu trắng.
Vì vậy dân nhậu già già như tui với anh, răng cỏ xếu xáo hết ráo khoái ăn xí quách lắm vì nó vừa mềm, giá vừa lại rẻ. Do đó bữa nào xách cái thau ra, khuya lúc tiệm hủ tiếu, mì gần đóng cửa mà chậm chưn, Chú Ba lắc đầu quầy quậy nói: “Hết xí quách rồi! Nị tới trễ quá” là buồn ơi là buồn!
Cái buồn đó cũng giống như anh em mình, đang đi chậm rãi vào bóng hoàng hôn, không còn cái khả năng ‘ấy ấy’ nữa… Dẫu muốn mà cũng không được; nên nó cũng buồn như xách thau đi mua xí quách về nhậu mà không còn xí quách nữa vậy!
Thưa sao anh bạn văn và một số bà con mình hay để ý đến cái chuyện hết hay còn xí quách? Chớ thú thiệt là: “Tui đã hết xí quách tự năm nào! Giờ phẻ re hà; chỉ biết ăn rồi ngủ mà thôi. Yêu chi nữa cho bận lòng nhau chớ?!”
Nhưng con vợ tui, nó vốn đa nghi, không tin đó là sự thật, phũ phàng duyên kiếp ba sinh. Cứ nhìn bóng tưởng hình, cứ ghen bóng ghen gió; nó cứ làm trắc nghiệm ‘IBM’ tui hoài mới chết.
Cuối tuần rồi nè: Em yêu muốn biết tui sẽ phản ứng ra sao khi phát giác ra là em lẳng lặng, Thúy đã đi rồi! (Mà không biết đi đâu để xây tổ uyên ương với thằng quỷ hó nào nữa?!)
Thế nên em bèn viết cho tui một bức thơ tình cuối mùa thu, vĩnh biệt tình anh, như vầy: “Thôi chia tay từ đây vì em chán ngấy anh rồi! Hết xí quách rồi! Làm sao em gặm! Nên em ‘bái bai’ từ đây. “But I will always love you…” (Làm như em là Whitney Houston hổng bằng! Ê đừng có mơ mộng quá xá như vậy chớ!)
Viết xong, em để trên giường ngủ của đôi ta; rồi chui xuống gầm giường mà trốn.
Tui đi làm về, vừa mệt vừa đói, vô phòng ngủ tính thay đồ rồi xuống bếp lục cơm nguội, ăn với đậu rồng chấm chao có bỏ ớt cho đỡ đói chút coi!
Thấy thơ, cầm lên lẩm nhẩm đánh vần. Im lặng giây phút dài bằng thiên thu! Xong, tui cầm viết lên, nguệch ngoạc vài hàng gởi em trìu mến.
Rồi tui vừa thay đồ, vừa huýt sáo bản ‘Cầu sông Kwai’, điệu quân hành nghe rất là vui vẻ. Tui móc trong túi quần cái mobile phone ‘Samsung Thiên Hà S(ờ) 6’ ra, kéo màn hình rẹt rẹt: “Hello! Cưng ơi! Nếu cưng có ngước lên trời cao, sẽ luôn thấy có một vì sao là anh đó! ‘Ó ó!”
“Nếu giờ cưng đang buồn đau, hãy nhớ đến lúc ta gần nhau! Xin chờ anh nhé cưng! Chụt chụt! Bái bai! “See you soon!” (Dưới chân giường, em cố gắng dỏng tai nghe.)
Thì ngoài tiếng Anh, tiếng U ra, tui còn phụ đề Việt ngữ thêm rằng: “Cưng ơi! Anh đang thay đồ đến gặp cưng đây. Thiệt là vui mừng vui quá vui khi nó đã bỏ đi rồi. Anh thật là ngốc nghếch khi cưới con vợ ‘cà chớn lửa’ như nó! Giờ anh đã thoát khỏi xích xiềng nô lệ rồi! Ôi tự do! Từ nay anh khỏi lo có đứa nào cằn nhằn cửi nhửi tháng nầy sao đưa tiền ít quá? Sao hút thuốc nhiều quá? Sao nhậu nhẹt nhiều quá ?” “Gặp cưng ngay đây. Chờ anh em nhé!” Xong tui tắt ‘mobile phone’, tếch thẳng luôn ra cửa.
Em từ dưới chân giường lồm cồm bò ra, mắt đẫm lệ. “Trời ơi! Thằng chả dám bỏ ta đi! Hi hi! Hu hu!”
Em run run cầm tờ thư lên xem cái thằng chồng bạc tình bạc nghĩa nầy nó viết thêm cái quái gì trên bức thơ của mình đây?
Thơ rằng: “Nè em khùng! Ta đã thấy hai cái cẳng của em ló ra khỏi chân giường. Ta đi mua bánh mì Như Lan ngoài chợ Footscray một chút nhe!
Lội ngược dòng sông cùng với bảy người thông thái tốt hơn nhiều khi lội cùng với một trăm cái đầu ngu dốt ¾ Đại tá Charlie A. Beckwith, người sáng lập lực lượng Delta
Trận chiến ở Mogadishu
Howard E. Wasdin
Bài 13
Khi trở về chúng tôi thấy mọi người đang tập trung khá đông. Cánh trực thăng đang quay tít, xe Humvee vào vị trí sẵn sàng và mọi người đều đã lắp hộp tiếp đạn vào súng. Mặc dù ánh nắng mặt trời đang rọi tia sáng qua bầu trời trong xanh, nhưng tôi biết không phải các binh lính này đi picnic. “Cái quái gì đang diễn ra ở đây vậy?” Chỉ huy trưởng Olson tiến về phía chúng tôi trước khi chúng tôi bước xuống chiếc “Humvee chế” của mình. Chiếc xe này nguyên dạng là chiếc Humvee nhưng đã được chúng tôi bỏ mui và các cửa. Nó không được bọc lớp thép đặc biệt và còn có tên gọi là xe chở quân/hàng hóa M-998. Tuần trước, một nhóm kỹ sư từ Mỹ đã sang lắp tấm thép chống đạn vào gầm xe để chống mìn bộ binh và mìn phân mảnh. Tôi ngồi ở ghế lái cùng với Casanova, trong tay là một khẩu súng ngắn. Ghế sau tôi là Gã Mập lùn và Sourpuss. Phía sau họ là hai băng ghế chạy dọc theo xe là hai quân nhân khác. Tôi nghĩ họ là các biệt kích Ranger, nhưng cũng có thể họ là các đặc nhiệm Delta. Hơn nữa, lính biệt kích Ranger thường ở vị trí điều khiển súng máy cỡ nòng 0,50 caliber. Chỉ huy trưởng Olson phổ biến nhanh nhiệm vụ cho chúng tôi trong vòng vài phút “Các bạn sẽ tham gia với tư cách là lực lượng đánh chặn. Lực lượng Delta sẽ đu dây xuống và tấn công tòa nhà. Các bạn sẽ bắt các tù binh, rồi nhanh chóng rút khỏi đó”. Thông thường việc quán triệt nhiệm vụ này phải kéo dài khoảng một tiếng rưỡi. Lực lượng Delta, Ranger và những người khác cũng nhận quán triệt nhiệm vụ, nhưng chúng tôi sau đó đã quên béng điều này. Mặc dù, nhiệm vụ khá quan trọng và lẽ ra chúng tôi phải có thời gian để tự quán triệt nhiệm vụ, nhưng nó lại xảy ra quá bất ngờ, trong khi chúng tôi đang đi lắp các thiết bị tiếp sóng cho CIA. Chỉ huy trưởng Olson vỗ vỗ vào vai tôi rồi nói “Không nên để mất nhiều thời gian. Chúc may mắn. Gặp lại nhau khi các anh trở về.”
Mỗi chiếc trực thăng Little Bird AH-6J đều chở bốn lính bắn tỉa, ngồi hai bên cửa và các rocket dưới gầm máy bay. Hai chiếc Little Bird AH-6J, được vũ trang súng máy cỡ nòng 7,62 li và rocket 6,8 li, yểm trợ mặt trước tòa nhà mục tiêu từ trên không, trong khi hai chiếc còn lại bay phía sau. Phi đội Charlie của Delta sẽ nhanh chóng đu dây xuống từ hai chiếc Little Bird MH-6 và tấn công tòa nhà. Cùng tham gia là tám chiếc Black Hawk bay phía sau. Hai chiếc chở lực lượng tấn công của Delta. Bốn chiếc chở biệt kích Ranger. Một chiếc bay lượn phía trên và chở đội tìm kiếm và giải cứu. Chiếc thứ tám chở hai Chỉ huy chỉ đạo chiến dịch − một người điều phối hiệp đồng tác chiến giữa các phi công và người còn lại chỉ đạo lực lượng trên mặt đất. Ba chiếc trực thăng Kiowa OH-58 với quả cầu đen được gắn trên cánh quạt không lẫn vào đâu được, có nhiệm vụ bay phía trên mục tiêu. Quả cầu đen là một con mắt, bên trong có hệ thống truyền hình, hệ thống thu hình bằng nhiệt và radar dò tìm nhằm chuyển hình ảnh và âm thanh các hành động dưới mặt đất về cho Tướng Garrision ở Trung tâm Hoạt động Chung (JOC). Bay trên cùng là một chiếc máy bay trinh sát P-3 Orion. Tôi đánh xe vào vị trí thứ ba trong đoàn xe. Đằng sau đoàn xe Humvee của chúng tôi là ba chiếc xe tải thùng trọng tải năm tấn và khóa đuôi là năm chiếc xe Humvee khác. Biệt kích Ranger ngồi ở hầu hết tất cả các xe. Tổng cộng tất cả có 19 máy bay, 12 xe ô tô và 160 quân tham gia chiến dịch lần này. Người của Aidid đã chứng kiến cách chúng tôi tác chiến trong sáu lần trước đó và lần này chúng tôi tác chiến giữa ban ngày, ngay trong lãnh địa của chúng. Giờ này, nhiều quân lính của Aidid hẳn vừa nhai xong lá Khat. Tinh thần của chúng đang hăng chứ không rơi vào trạng thái uể oải như lúc tối muộn. Sự mạo hiểm luôn đòi hỏi những hành động táo bạo. Những người không chấp nhận mạo hiểm hẳn là những kẻ ngốc. Một phần công việc của chúng tôi là phải biết chấp nhận rủi ro và mạo hiểm. Lúc 3 rưỡi chiều, các máy bay trực thăng cất cánh trước, bay men theo bờ biển. Khi nhận được mật lệnh “Chim trời đã vào đất liền”, chúng tôi sẽ xuất phát. Tôi không hề run sợ bởi đây là hoạt động thường xuyên đối với tôi. Trên đường, chiếc Humvee đi đầu rẽ nhầm hướng. Nhưng không xe nào đi sau nó rẽ theo cả. Chiếc xe đi đầu sẽ bắt kịp mọi người. Chúng tôi tăng tốc theo hướng đông bắc xuyên qua Gesira. Trước khi đến ngã tư K4, chúng tôi vấp phải hỏa lực lẻ tẻ của đối phương. Đột nhiên Gã Mập lùn hét lên: “Mẹ kiếp, tôi trúng đạn rồi!”
Phải chăng chúng tôi đang rơi vào ổ mai phục? Phải chăng Gã Mập lùn bị thương vào ngực? Kim đồng hồ đo chỉ số sợ hãi của tôi vẫn gần vạch số không. Gã Mập lùn bị dính đạn chứ không phải tôi. Cũng giống nhau cả thôi, tôi lo lắng cho mạng sống của Gã Mập lùn và tôi bắt đầu cảnh giác hơn.
Tôi rê xe vào bên lề đường phía trên có phần đất nhô ra, nhấn phanh, nhảy xuống phía sau kiểm tra vết thương Gã Mập lùn. Gã Mập lùn nằm lăn dưới sàn xe và phần lưỡi của con dao Randall, gã luôn mang theo bên mình, rơi bên cạnh. Tôi cứ nghĩ sẽ nhìn thấy máu chảy từ một bộ phận nào đó từ cơ thể Gã Mập lùn nhưng rồi tôi chỉ thấy một vết đỏ to trên chân. Một viên đạn của súng AK-47 đã bắn trúng vào làm hỏng con dao và phần lưỡi bật ra bên ngoài. Con dao đã cứu cái chân của Gã Mập lùn.
Đoàn xe vẫn tiếp tục di chuyển trong lúc tôi đậu xe bên đường. Tôi trở lại ghế lái rồi tăng tốc về phía trước, bắt kịp vị trí cũ của mình. Đoàn xe vượt qua ngã tư K4 và đi theo hướng bắc, theo đường Lenin, rồi tiến về hướng đông theo đường quốc lộ. Cuối cùng, chúng tôi rẽ trái vào con đường đất chạy song song và ở phía nam con đường Hawlwadig.Lúc 4 giờ kém 20, chúng tôi đến gần khách sạn Olympic năm tầng màu trắng. Khi đó, tôi không biết là, cách về phía tây mục tiêu khoảng1,5 km, quân lính của Aidid đang tụ tập tại khu chợ Bakara để nhận vũ khí và đạn dược. Cách khoảng 1,5 km về phía đông, quân nổi dậy đã đến từ lâu. Chúng tôi bị kẹp giữa hai gọng kìm mà không hề hay biết. Lực lượng tình báo của chúng tôi hẳn đã chế áp điện tử với sóng di động trong một vùng rộng lớn bao quanh mục tiêu. Lợi dụng trận bão cát sa mạc, đặc nhiệm Delta đu dây tụt xuống tòa nhà mục tiêu, một tòa nhà hai tầng màu trắng ở phía trước và ba tầng phía sau, mái có cấu trúc hình chữ L và nhiều cây xanh được trồng trên sân. Đây là một căn cứ của quân Aidid. Lực lượng Delta áp sát cửa ra vào thành hàng ngang, chuẩn bị phá cửa đột nhập và tấn công mục tiêu. Bốn nhóm Ranger − mỗi nhóm có mười hai người – nhanh chóng đu dây xuống và đứng chặn bốn góc xung quanh tòa nhà mục tiêu. Họ đóng vai trò là lực lượng ngăn chặn bảo đảm nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Tôi rời chiếc Humvee của mình và chọn vị trí bắn tại một hành lang song song với khách sạn. Phía cuối khách sạn, một tay súng bắn tỉa của đối phương di chuyển phía sau bức tường. Phía trên cùng tòa nhà năm tầng về phía trái, một tay súng bắn tỉa khác di chuyển trên hiên. Chuyển vị trí bắn đến chỗ khác thuận lợi hơn, nhưng tôi nhận thấy không thể bắn được từ vị trí chúng tôi đang nấp. Tôi nói với một lính bắn tỉa của Delta “Chúng ta buộc phải di chuyển về phía chúng.”
Chúng tôi nhảy lên, tiến về phía trước cách khách sạn chưa đầy 100m. Trong khi chúng tôi còn đang chiếm lĩnh vị trí bắn, kẻ địch đã nhả đạn vào tòa nhà mục tiêu đặc nhiệm Delta đang tấn công. Điều này làm cho tôi cảm thấy hình như chúng đã bố trí để chờ chúng tôi đến. Chúng chuẩn bị rất kỹ càng và vị trí ẩn nấp của các tay súng bắn tỉa thật hoàn hảo. Có lẽ, nguồn tin về chiến dịch tấn công của chúng tôi đã bị rò rỉ.
Tay súng bắn tỉa dưới mặt đất kê súng lên một bức tường, cách chỗ chúng tôi chừng 100 – 150 m, nòng súng chĩa về phía biệt kích Ranger trong đoàn của tôi. Tay súng này chọn vị trí bắn thật hoàn hảo, chỉ nhô lên mỗi phần đầu. Tôi siết cò, bắn trúng vào phần đầu nhô lên của hắn. Nhờ hành lang, tôi có thể nhìn thấy mái hiên của tòa nhà năm tầng gần bên. Chưa đầy 200m trên tầng năm, có hai tay súng đang dùng AK-47 nã đạn vào phía sau tòa nhà mục tiêu, chỗ lực lượng Delta đang xung kích. Từ chỗ đang đứng, tôi không thể bắn được hai tên này. Tôi ngoái lại phía sau nói với tay súng bắn tỉa của Delta: “Chúng ta cần tiếp cận hai tên phía trên tầng năm nếu không chuyện tồi tệ sẽ xảy ra.”Chúng tôi trườn dọc theo hành lang và chiếm lĩnh vị trí bắn phía sau một cột trụ bên phải. Vị trí này vẫn chưa ổn. Hai tay súng trên tầng năm tiếp tục nhảy ra bắn xối xả vào lực lượng xung kích của Delta rồi lại thụt vào trong.Viên đặc nhiệm của Delta và tôi tiếp tục di chuyển về phía trước. Sau khi tìm được vị trí bắn tốt, tôi nằm xuống. Các đồng đội bảo vệ sự an toàn xung quanh cho tôi. Tôi di chấm đỏ trên ống ngắm vào vị trí tay súng bên phải vừa nhô lên. Theo thuật ngữ của dân bắn tỉa thì hành động này được gọi là bắn đón đầu − nhằm vào một điểm và đợi mục tiêu xuất hiện. Tương tự, kỹ thuật này có thể áp dụng cho bắn mục tiêu di động − nhắm vào một điểm phía trước đường di chuyển của mục tiêu. Khi tay súng nhô lên, tôi siết cò và viên đạn trúng vào thân trên của gã. Gã đổ vật ra phía sau và không thấy nhô ra lần nào nữa. Tên thứ hai không rút kinh nghiệm từ tên trước đó. Hắn cũng nhô lên và nã đạn như mưa nhưng cũng dính đạn của tôi vào phần thân trên và mất dạng. Nếu tôi không hạ gục được hai tên này, có lẽ chúng đã sát hại nhiều người khác bằng kiểu nã đạn từ các cửa sổ của tòa nhà − kiểu bắn này là cơn ác mộng đối với các đặc nhiệm Delta: Trong khi lực lượng xung kích Delta tập trung tấn công tòa nhà và tìm cách kiểm soát mọi thứ phía trong, bỗng nhiên đạn lại bay ra từ các cửa sổ phía ngoài. Ít nhất ba mươi phút đã trôi qua kể từ khi chúng tôi đến. Cứ thêm một phút ở lại vùng mục tiêu thì mức độ nguy hiểm lại gia tăng thêm. Lệnh thu quân đã được phát ra qua vô tuyến điện. Trên đường rút lui ra chiếc xe Humvee, tôi bị trúng đạn vào kheo trái, ngã đập mặt xuống đất. Ngay lúc đó, tôi không cử động được nữa. Kim chỉ mức độ sợ hãi dừng ở con số 1 trên 10. Sau đó kim chỉ nhảy lên số 2 rồi số 3. Sự đau đớn làm tôi ngạc nhiên bởi tôi nghĩ mình đã được đào tạo kỹ càng và giỏi hơn tất cả. Mọi người xung quanh tôi có thể bị trúng đạn hoặc thương vong chứ không phải tôi. Ngay cả các tay súng bắn tỉa khác cũng có thể bị bắn hoặc bị thương bởi họ không phải là tôi. Tôi đã được đào tạo tốt hơn. Thậm chí cả những đồng đội SEAL khác có thể bị bắn hoặc bị thương bởi vì họ không phải là tôi. Đó là lý do tại sao bạn bị rơi xuống từ thang dây – bởi bạn không phải là Howard Wasdin. Bạn chưa vượt qua tôi trong khóa học vượt vật cản – bởi bạn không phải là Howard Wasdin. Ngay cả sau lần đầu bị trúng đạn trong trận chiến ở Mogadishu, tôi vẫn rất ngạo mạn.
Dan Schilling CCT, xuất hiện. Casanova đến và bình tĩnh bắn gục một tên địch. Rồi một tên khác nữa. Một bác sĩ bắt đầu chữa trị cho tôi khi Dan nắm lấy dây đeo súng của tôi và kéo tôi ra khỏi vùng chết. Viên bác sĩ nhét miếng gạc loại Kerlix vào chân tôi và buộc lại. Ngay sau đó, tôi đã đi lại được. Những tên khốn đốt lốp xe ô tô − một hình thức đánh tín hiệu đến chỉ huy của chúng là hãy tăng quân tham chiến và những cột khói đen làm cản trở tầm nhìn của chúng tôi. Du kích quân của Aidid cùng với súng AK-47 bất ngờ xuất hiện từ những cột khói, từ những đường phố và tòa nhà xung quanh – có thể nói là ở mọi nơi. Ngay khi tôi hạ gục được một tên nào đó, ngay lập tức có một tên khác xuất hiện thay thế. Những người phụ nữ không trang bị vũ khí bước ra và đóng vai trò là người chỉ thị các mục tiêu bắn. Họ có nhiệm vụ phát hiện các vị trí của chúng tôi và ra dấu cho các tay súng bắn. Súng chống tăng RPG bắt đầu nhả đạn. Người của Aidid hét vào loa. Khi đó, tôi không hiểu ý nghĩa của những câu nói đó là “Hãy cút khỏi mảnh đất này và về bảo vệ tổ quốc của các ngươi” nhưng tôi hiểu những lời nói đó hàm ý sự có mặt của chúng tôi gây hại cho họ. Một chiếc xe tải 5 tấn trong đoàn chúng tôi bốc cháy do bị trúng đạn RPG. Ai đó trong đoàn đã ném lựu đạn phá hủy chiếc xe để không bị rơi vào tay kẻ địch. Chiếc xe bốc cháy bùng bùng.
Lực lượng Delta đẩy khoảng 20 tù binh đã bị trói tay lên hai trong số những chiếc xe tải 5 tấn còn lại. Trong số những tù binh này có cả cố vấn chính trị hàng đầu của Aidid, Ngoại trưởng Omar Salad. Mặc dù, Delta để sổng Qeybdid nhưng lại bắt được thủ hạ có vai trò quan trọng tương đương, Mohamed Assan Awale. Họ cũng trao thưởng cho thủ lĩnh một thị tộc Abdi Yusef Herse vì đã cung cấp tin tức giá trị. Sau khi trở về trại, lực lượng Delta đã giữ lại những nhân vật chủ chốt trong số tù binh và phóng thích số còn lại. Vào phút thứ 37 của cuộc chiến, trên vô tuyến điện vang lên lời nói “chiếc Black Hawk 61 đã trúng đạn”. Một viên đạn của khẩu RPG đã bắn trúng chiếc trực thăng Black Hawk có treo hình Elvis Presley bên cạnh và bắt sống Velvet Elvis. Cơ trưởng, chuẩn úy Cliff Wolcott, đã từng nhại lại vai diễn của Elvis và là một trong số phi công theo chúng tôi tham gia chiến dịch săn lùng này. Giờ đây, nhiệm vụ của chúng tôi chuyển từ bắt giữ tù nhân sang giải cứu đồng đội.
Chúng tôi lên xe để rút lui. Đưa mắt nhìn vào hành lang, tôi thấy một biệt kích Ranger, khuôn mặt trẻ măng như một cậu bé. Tôi ngồi trong ghế lái gọi anh ta: “Lên xe nhanh, chúng ta còn đi”. Cậu lính này vẫn cứ trơ ra đó. Tôi nhảy xuống xe, chạy đến góc tòa nhà và đá vào cậu ta. Cậu ngước mắt nhìn tôi đầy vẻ ngỡ ngàng. “Nhanh lên xe đi!” Cậu ta trèo lên chiếc xe Humvee của mình. Đôi khi các biệt kích Ranger trẻ tuổi chỉ tập trung vào nhiệm vụ được giao từ đầu nên họ thường mất cái nhìn bao quát toàn cục. Mắt của họ không bắt nhịp với sự thay đổi của điều kiện hoàn cảnh và tai của họ không chú ý đến những mệnh lệnh miệng. Gặp phải tình huống phức tạp làm hệ thần kinh quá tải, họ thường không bắt kịp với những diễn biến thay đổi mau lẹ.
Thật may mắn, sự nghiêm khắc của cha dượng đối với tôi đã giúp rất nhiều trong những tình huống khó khăn như thế này. Ngoài ra, nhờ nhiều tuần huấn luyện gian khổ, nhờ thời gian công tác ở Đội đặc nhiệm số 2, số 6 của SEAL và ở Trường đào tạo lính bắn tỉa, tôi đã trui rèn được khả năng này. Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu. Chiến dịch Bão táp Sa mạc cũng giúp tôi rất nhiều. Tôi đã phát triển được khả năng chịu đựng trong những tình huống hệ thần kinh quá tải. Một số lính Ranger rất trẻ, chỉ mới vừa tốt nghiệp cấp ba vài ba năm nhưng tất cả họ đều chiến đấu vô cùng dũng cảm.
Ngồi cùng xe với tôi có Casanova, Gã Mập lùn và một số người khác nữa. Sourpuss không ngồi cùng xe với tôi. Do quá tập trung vào trận đánh nên tôi quên béng chuyện Sourpuss phải hộ tống đưa một lính Ranger bị thương trở về trước. Tôi lái xe ra khỏi khu vực mục tiêu theo hướng bắc, đi theo đường Hawlwadig. Tay trái tôi để trên vô lăng, tay phải tôi cầm khẩu CAR-15. Đạn AK-47 bắn vào chúng tôi từ cả bên trái và phải. Khi những viên đạn này bay qua đầu tôi, chúng tạo ra sóng áp lực còn nhanh hơn tốc độ của âm thanh. Tôi nghe thấy một số viên đạn đang bay đến − nhờ vào âm thanh phát ra như tiếng vỗ tay do va chạm giữa hai loại sóng.
Những cột khói trắng tỏa ra, kéo theo là tiếng đạn RPG nổ làm rung chuyển không khí khiến cho không khí có vị cay. Mùi lốp cao su và chất thải cháy bốc lên khét lẹt làm cho Mogadishu hôi thối khủng khiếp chẳng khác gì địa ngục. Súng máy cỡ nòng 0,50 caliber của chúng tôi nhả đạn, chiếc Humvee lúc lắc và tai chúng tôi chấn động. Tuy nhiên, tiếng súng làm cho mọi người cảm thấy yên tâm hơn. Tôi chẳng mấy cảm nhận được điều này vì tôi còn đang mải quan sát phát hiện địch trong tầm bắn của mình. Các cựu chiến binh SEAL sau này thường nói rằng tiếng súng máy làm họ yên tâm hơn. Chúng tôi được đào tạo, huấn luyện phải sử dụng các yếu tố bất ngờ, tốc độ và hành động vũ lực để giành thắng lợi. Trong đoàn xe, chúng tôi không tạo được bất ngờ với kẻ địch, không thể chạy nhanh hơn chiếc xe Humvee phía trước. Khẩu súng máy cỡ nòng 0,50 caliber tạo cho chúng tôi có hành động vũ lực. Nòng súng lóe sáng trút đạn ra, nhai hết cả bê tông, sắt thép và da thịt – nói theo nghĩa đen là nó phá sập hết các bức tường. Thật vậy, khẩu súng máy có sức sát thương rất khủng khiếp. Thật không may, kẻ địch cũng có loại súng máy cỡ nòng 0,50 caliber này, được bắt vít trên sàn những chiếc xe bán tải ở gara ô tô của Osman Atto. Những chiếc xe tải này lúc ẩn, lúc hiện ở các hành lang nhả đạn vào chúng tôi. Một khẩu súng máy trên trực thăng nhả đạn vào kẻ địch, phá nát hai bên của một tòa nhà. Quân Somali chạy tán loạn. Một số gào thét, một số choáng váng đứng chôn chân. Xác người chết và xác một con lừa nằm lăn trên mặt đất. Người của Aidid được trang bị tốt hơn những gì chúng tôi tưởng, họ chiến đấu giỏi hơn chúng tôi nghĩ và có rất nhiều người được trang bị vũ khí tốt hơn chúng tôi dự cảm. Giờ đây tôi lo sợ mình sẽ làm các mật vụ của mình bị nguy hiểm. Trên đồng hồ đo mức độ sợ hãi, kim chỉ vượt qua số 3 và chạm vạch số 5. Bất kỳ ai nói không sợ hãi khi lâm chiến thì hoặc là kẻ điên, hoặc là kẻ nói dối trắng trợn. Tất cả mọi người trở nên sợ hãi. Đó là một nỗi sợ hãi lành mạnh. Tôi không bao giờ muốn sát cánh cùng với những người không có chút sợ hãi nào khi tham chiến. Sự khác biệt giữa một chiến binh với một người thường là ở chỗ người chiến binh có thể kiểm soát nỗi sợ hãi. Người chiến binh phải phát triển khả năng này để kiểm soát nỗi sợ hãi bằng cách tin rằng mình có thể kiểm soát được nỗi sợ hãi. Niềm tin này có được từ việc biết vượt qua nỗi sợ hãi trong những trải nghiệm trước đó, chứng kiến cách đồng đội vượt qua những nỗi sợ hãi kiểu này, biết rằng mình là một chiến binh ưu tú và biến sự sợ hãi thành hành động.
Trong đoàn xe của chúng tôi, xe nào cũng có người bị thương. Chúng tôi vẫn muốn cứu cơ trưởng và phi hành đoàn của chiếc trực thăng bị bắn rơi. Gần một con đường ở đó có hai biệt kích Ranger bị thương đang nằm. Tôi nghĩ, Chẳng biết cái quái gì đang xảy ra với những người Somali này? Chúng tôi đến đây để chấm dứt cuộc nội chiến. Họ đã nhận được lương thực nhưng lại đang giương súng bắn chúng tôi. Chẳng lẽ đây là những cái chúng tôi được đền đáp? Tôi thật không tin nổi điều này. Tôi tấp xe vào lề đường và dừng lại. Người biệt kích Ranger đầu tiên tôi bế lên xe bị thương vào chân. Chúng tôi đưa cậu ta lên phía sau của xe. Rồi chúng tôi đưa người thứ hai lên. Cậu ta bị thương bên má tay – đây không phải là vết thương nặng và không thể làm cậu ta suy kiệt. Trở về ghế lái, tôi ngoái lại phía sau. Cậu biệt kích Ranger bị thương ở chân đang hỗ trợ chúng tôi nạp đạn, trong khi đó cậu còn lại ngồi đó đầu cúi xuống nhìn chằm chằm vào vết thương ở tay.
Người biệt kích Ranger giúp chúng tôi nạp đạn lại bị dính đạn, lần này trúng thương vào vai, nhưng cậu ta vẫn tiếp tục giúp chúng tôi nạp đạn ở phía trước. Rồi một viên đạn nữa trúng vào cánh tay cậu ta. Nhưng cậu vẫn tiếp tục công việc nạp đạn giúp chúng tôi. Trong khi đó, cậu biệt kích Ranger trúng đạn ở tay vẫn ngồi yên một chỗ, kim chỉ mức độ sợ hãi của cậu ta lên đến số cao nhất, số 10. Cậu là lính Ranger duy nhất tôi thấy suy sụp tinh thần vì cuộc chiến. Phản ứng của cậu là có thể hiểu được − cậu mới chỉ là một cậu bé nhưng lại phải tham gia vào một trận chiến khủng khiếp đến vậy. Ngoại trừ một số Ranger trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm, tất cả đều chiến đấu rất dũng cảm. Nhấn mạnh chân ga, tôi bắt kịp đoàn xe. Đoàn xe rẽ phải vào con đường đất. Khi chiếc Humvee đi đầu giảm tốc tại ngã tư, các xe sau buộc phải chạy chậm theo. Sau đó, chúng tôi lại quặt phải đi về hướng nam – nhưng khi đến chúng tôi cũng đã đi từ hướng nam.
Tôi vô cùng thất vọng với Trung tá Danny McKnight, chỉ huy hoạt động trên mặt đất, nhưng lúc đó tôi không biết ông chỉ làm theo chỉ thị. Chiếc máy bay trinh sát P-3C Orion có thể thấy được diễn biến nhưng lại không thể trực tiếp thông tin cho McKnight. Nên nó chuyển thông tin về Bộ chỉ huy tại JOC. Tiếp theo, JOC gọi điện cho máy bay chỉ huy. Cuối cùng, máy bay chỉ huy điện đàm cho McKnight. Thời điểm Mcknight nhận được hướng dẫn đổi hướng là lúc chúng tôi đã đi qua con đường đó.
Tất cả những gì tôi biết là chúng tôi lại một lần nữa bị phục kích, thành xe tôi bị bắn thủng lỗ chỗ. Những người ngồi phía sau xe đang bị dính đạn. Thật không thể tin nổi. Tôi muốn nhấn gara khỏi vùng chết, nhưng cũng không thể vượt quá tốc độ của chiếc xe phía trước. Tôi bắn quân địch ở hai bên đường. Cố gắng vừa lái xe vừa bắn vào mục tiêu lúc ẩn lúc hiện ở hai bên đường và ngạc nhiên khi tỷ lệ sát thương vẫn đạt tới 30%. Quân địch ở các tòa nhà trên tầng hai nhắm bắn chúng tôi. Tôi nhanh chóng lấy đường ngắm, di chấm đỏ vào mục tiêu đầu tiên và bóp cò. Một tên địch bị hạ, rồi lại tên nữa. Bọn khốn ném những tấm rào chắn đang cháy ra đường và đào rãnh ngang đường để chúng tôi không đi nhanh được. Trong khi tôi đang lách qua các chướng ngại vật, năm người phụ nữ đi sát bên nhau, tay cầm những sợi dây màu sắc, tiến về phía đoàn xe. Khi chiếc Humvee đi đầu đến vị trí những người phụ nữ này, họ kéo váy lên và những tên lính vũ trang đứng phía sau dùng AK-47, để ở chế độ bắn tự động, nã đạn vào chiếc xe đó. Sau đó, họ cũng áp dụng chiến thuật này với xe của tôi. Lần đầu tiên trong cuộc giao tranh này, tôi chuyển cần gạt sang chế độ bắn tự động. Một tay lái xe, tay kia cầm khẩu CAR-15, tôi bắn hết 30 viên đạn hạ gục hết số phụ nữ này và bốn tên có vũ trang ẩn phía sau. Tôi thực sự không muốn thế và đây chỉ là hành động tự vệ mà thôi.
Sau đó, trên vô tuyến điện, tôi nghe được tin chiếc trực thăng Black Hawk do Mike Durant lái vừa bị một khẩu RPG bắn rơi. Mệnh lệnh đưa ra là trước tiên cứu Velvet Elvis, sau đó di chuyển đến khu vực máy bay thứ hai rơi để cứu Mike.Chúng tôi dừng lại trên đường tạo thành một hình tròn, nạp đạn và vạch kế hoạch hành động tiếp. Sử dụng băng dính sơ cứu để băng bó vết thương ở vai và tay cho các biệt kích Ranger cùng một số binh lính khác trong xe. Một số lính Ranger trông như những kẻ mất hồn, ánh mắt họ mất hết thần khí. Một chỉ huy của Delta bước đến. “Tôi trúng đạn. Nhờ cậu xem giúp vai bên này hộ tôi chút.” Một viên đạn đã xuyên qua miếng thép cứng chống đạn trên lưng nhưng vẫn chưa đủ để loại anh ta ra khỏi vòng chiến đấu.
Xạ thủ súng máy cỡ nòng 0,50 caliber ở một chiếc Humvee khác, đã mặc áo chống đạn có thể chống lại được những loại đạn nhỏ. Cẩn thận hơn, cậu còn cho thêm vào ngực miếng thép chống đạn kích thước 10 x 12 cm trước ngực bảo vệ chống lại loại đạn nặng hơn như AK-47. Tuy nhiên cậu ta không mang miếng thép này trên lưng. Có lẽ như những binh lính khác, cậu cũng cho rằng nhét miếng thép vào lưng chỉ khiến thêm nóng và thêm nặng. Hơn nữa, đa số đạn bắn từ phía trước chứ mấy khi từ phía sau. Sự trớ trêu đã xảy ra và cậu ta hy sinh. Qua vô tuyến điện, chúng tôi đề nghị để xạ thủ súng máy bên xe tôi sang thay thế. Chiếc Humvee của cậu bắn súng máy bị chết di chuyển lên sát xe tôi. Bên trong xe, một biệt kích Ranger, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt, đang ôm ghì lấy xác đồng đội và nói trong nước mắt: “Tôi đã bảo cậu đeo miếng thép vào mà cậu có nghe đâu”.
Họ kéo xác cậu ta ra và xạ thủ của chúng tôi vào vị trí thay thế. Casanova và tôi đã sử dụng hết 10 băng đạn loại 30 viên trong bao đạn của mình, cộng với 5 băng đạn lấy từ cậu biệt kích Ranger bị thương ở vai và tay đã giúp chúng tôi nạp đạn. Do cả hai chúng tôi đều sử dụng súng CAR-15 nên loại đạn của chúng tôi giống với lực lượng biệt kích Ranger. Gã Mập lùn không mang súng CAR-15 mà lại mang khẩu M-14. Lúc này, Gã Mập lùn nhận ra sự sai lầm của mình vì chẳng ai có chung cỡ đạn đó cả.
Đoàn xe di chuyển về phía trước và chúng tôi rẽ trái đi về phía đông, rồi lại rẽ trái về phía bắc. Tôi không biết McKnight bị thương ở tay và cổ. Chúng tôi dừng lại. McKnight dùng vô tuyến điện liên lạc với trực thăng chỉ huy để xin chỉ dẫn nhưng một lần nữa họ lại chỉ nhầm đường cho chúng tôi. Đoàn xe tiếp tục tiến về phía bắc, sau đó rẽ trái. Tôi cũng không biết Dan Schilling đã thay McKnight. Dan đã thành công trong việc bỏ qua các vòng lặp thông tin liên lạc phức tạp và liên lạc thẳng với một trong hai chiếc trực thăng chỉ huy. Khi Dan bảo họ chỉ đường cho chúng tôi tới vùng chiếc máy bay đầu tiên bị nạn để cứu Velvet Elvis, chỉ huy trực thăng lại chỉ thị chúng tôi đến khu vực tai nạn gần nhất, khu vực chiếc máy bay thứ hai bị tai nạn − cứu Mike.
Chúng tôi rẽ trái lên đường Hawlwadig, chạy về gần khách sạn Olympic và tòa nhà mục tiêu. Đoàn xe đã đi một vòng tròn! Chúng tôi đã vô tình để lộ lực lượng trước quân của Aidid trong các cuộc tấn công trước đó, sau đó chúng tôi mở cuộc tấn công giữa ban ngày và giờ đây một lần nữa bị mai phục − thật không còn gì để nói! Cán bộ chỉ huy SEAL từng dạy chúng tôi: “Nếu bạn sống sót sau một cuộc phục kích, hãy rửa tay gác súng và cảm ơn Chúa cả phần đời còn lại”. Tôi vẫn nhớ chỉ huy trưởng nhóm SEAL Olson vỗ vai trước khi chúng tôi rời trại: “Đừng để mất nhiều thời gian.” Mẹ kiếp. Những tên này vẫn là những tên vừa bắn chúng tôi lúc trước. McKnight đang làm cái quái quỷ gì thế? Ngớ ngẩn thật, chúng tôi đã chiến đấu ở nơi này. Lần đó đã chẳng có mấy kết quả tốt đẹp gì. Trong khi trên vô tuyến điện vẫn đang băn khoăn không biết chúng tôi đang tiến đến chiếc máy bay thứ nhất hay thứ hai bị tai nạn, tôi thấy một đám đông đang tiến đến chỗ Mike Durant và tôi chợt nhớ lại những điều đã đã xảy ra với binh lính Pakistan khi bị một đám đông tấn công và xé xác sau đó. Trong lần phục kích đoàn xe chúng tôi, quân Aidid đã gây thương vong và giết chết một số lính, nhưng chúng tôi kịp rút khỏi ổ mai phục trước khi cho chúng một bài học đau thương. Xác chết nằm rải rác khắp nơi. Giờ đây kẻ địch lại phục kích chúng tôi lần thứ hai. Lần này phải cho chúng một trận ra trò mới được. Súng máy và rocket từ trực thăng sẽ bắn xuống xé tan xác chúng thành nghìn mảnh.
Trong lần giao tranh này, tôi đã gọi nhiều trực thăng hơn để đánh đuổi kẻ địch phía sau. Một phi công trả lời, “Chúng tôi hết đạn rồi.” Họ đã sử dụng hết số đạn mang theo, kể cả 20% số đạn dự trữ để tự vệ khi bay về căn cứ. Tôi đang tính đến 20% số đạn dự phòng chúng tôi mang theo. Mặc dù họ hết đạn nhưng các phi công vẫn lái trực thăng bay sát kẻ địch và dùng đuôi máy bay tấn công chúng. Kẻ địch rời bỏ chúng tôi và chĩa súng vào các máy bay trực thăng. Trong khi bọn chúng ngắm bắn trực thăng, chúng tôi bắn chúng. Các phi công không chỉ dùng đuôi máy bay tấn công chúng một lần. Họ đã làm vậy tổng cộng sáu lần. Các phi công trong Trung đoàn không vận 160 quả là đáng kính phục khi tự biến mình thành mục tiêu sống để cứu tính mạng chúng tôi. Lúc này, khẩu CAR-15 của tôi cũng hết đạn. Tôi bỏ nó sang một bên và rút khẩu súng lục SIG SAUER cỡ nòng 9 li ra khỏi bao súng bên hông. Đoàn xe của chúng tôi chạy chậm lại và một tên địch xuất hiện trước cửa ngôi nhà, chĩa nòng khẩu AK-47 về phía tôi. Tôi vung khẩu súng lục và bóp cò hai phát. Tôi đã tập kiểu bắn này hàng nghìn lần. Nhưng trong hoàn cảnh chiến trận, tôi bóp cò khá vội và kết quả là trượt. Hoóc môn từ tuyến thượng thận tiết ra ồ ạt, mọi thứ xung quanh tôi hình như đều chậm lại. Tên địch từ từ siết cò. Viên đạn trúng vào ống đồng phải của tôi và phần ống chân dưới gần như bị đứt lìa. Khóa nòng súng của hắn lùi lại phía sau, vỏ đạn văng ra bên ngoài. Mất hơn nửa giây tôi mới lấy được đường ngắm. Hai tiếng súng vang lên. Cả 2 viên đạn đều trúng mặt hắn. Nếu lần bắn đầu tôi lấy đường ngắm lâu hơn độ hơn nửa giây thì tôi đã diệt được tên khốn kiếp và đã cứu được cái chân của mình.
Chiếc xe của tôi đột nhiên chạy chậm lại. Cái quái gì xảy ra với chiếc xe này vậy? Tôi lấy sức nhấn chân ga nhưng không thể. Đưa mắt xuống sàn xe, tôi nhìn thấy đầu ngón chân cái quay ngược ra sau. Lúc đó, tôi thậm chí không nhận ra bàn chân của mình bị xoắn vào phía trong. Tôi cố gắng dẫm lên chân ga một lần nữa. Chiếc chân phải của tôi hoàn toàn tê liệt. Trời đất, đó là chân của tôi. Đưa chân trái sang, tôi nhấn ga. Vấn đề rắc rối thật rồi. Mặc dù đây là lần thứ hai bị trúng đạn trong trận đánh nhưng tôi vẫn tin vào sức mạnh của mình. Kim chỉ mức độ sợ hãi mới tăng lên số 6 chứ chưa phải số 10. Tôi chỉ cảm nhận được cảm giác tê cứng chứ không cảm thấy đau đớn bởi các thụ thể thần kinh của tôi đã quá tải. Mặc dù ngạc nhiên khi bị thương lần thứ hai trong trận đánh nhưng tôi vẫn ngầm từ hào khi là một lính bắn tỉa của Đội đặc nhiệm SEAL số 6.
Tôi vô cùng bực tức với McKnight và gọi ông ta qua vô tuyến điện. “Hãy đưa chúng tôi ra khỏi nơi chết dẫm này!” Cuối cùng chúng tôi cũng ra khỏi được vùng chết, đoàn xe dừng lại để cầm máu cho những người bị thương, nạp đạn và lập kế hoạch cho hành động tiếp theo. Casanova giúp tôi bò qua bảng điều khiển trung tâm vào ghế sau, nhường ghế lái lại cho anh. Khẩu CAR-15 của tôi được treo trên bảng điều khiển trung tâm. Gã Mập lùn cầm lấy khẩu súng CAR-15 của tôi và bỏ lại khẩu M-14 của mình.
Phần xương vỡ có cạnh răng cưa, có thể làm đứt các động mạch chủ và làm tôi chảy máu đến chết. Casanova đặt cái chân bị thương của tôi lên trên capô của chiếc Humvee và đặt chân trái của tôi bên cạnh để đỡ. Kê chân dốc lên cao giúp máu chảy chậm hơn. Casanova khẽ nói “Tôi sẽ đưa anh về nhà”.
Đoàn xe bắt đầu khởi hành và Casanova nhấn chân ga. Chiếc xe của chúng tôi chạy trên ba chiếc bánh đã hết hơi. Đoàn xe quay đầu và quặt phải tại Khách sạn Olympic, hướng về nơi chiếc máy bay đầu tiên bị bắn rơi. Việc làm này chẳng khác gì cảnh bộ phim Groundhog Day, lặp đi lặp lại các hành động tương tự.
Khoảng năm hay mười phút sau đó, một viên đạn của đối phương xuyên qua mắt cá chân trái của tôi. Không giống như chỗ xương gãy ở ống chân phải, không làm tôi đau đớn vì hệ thần kinh trung ương làm tắt cơn đau, vết thương ở mắt cá chân hành hạ tôi muốn chết đi sống lại. Kim chỉ mức độ sợ hãi của tôi đã nhảy lên số 7. Lúc này cảm xúc của tôi đối với kẻ thù đã hoàn toàn chuyển sang tức giận. Chúng đã cướp đi sức mạnh của tôi. Đột nhiên, tôi nhận ra mình đang thực sự gặp rắc rối. Đúng vậy, đoàn xe của chúng tôi lại một lần nữa không đến đúng vị trí chiếc máy bay đầu tiên bị bắn. Chúng tôi dừng lại. Mọi người bước ra khỏi xe và đứng thành vòng tròn. McKnight ra khỏi xe cùng với một người nào đó và hình như họ trải bản đồ ra để xác định vị trí. Thật ngớ ngẩn hết mức. Trong khi bị kẻ địch bủa vây, tại sao không vào quầy hàng 7- Eleven mà hỏi đường?
Đoàn xe của chúng tôi đã hai lần nhầm lẫn trong việc tìm vị trí các phi công bị bắn rơi. Chúng tôi sắp hết cơ số đạn mang theo. Bính lính bị thương và tử thương đã chật ních các xe. Khoảng một nửa số binh lính bị thương nặng, đa số là các đặc nhiệm. Nếu chúng tôi không trở lại căn cứ và tái hợp, có thể đoàn sẽ chẳng còn một mống nào để làm nhiệm vụ giải cứu. Chiếc xe của tôi bị đạn bắn thủng lỗ chỗ chẳng khác gì miếng bọt biển. Gương hai bên xe đều hỏng. Khi đoàn xe tiến về phía trước, xe của tôi bị trúng mìn bộ binh. Tấm thép dưới gầm xe đã cứu chúng tôi khỏi tan xác. (Sau này tôi trở thành thành viên danh dự của câu lạc bộ Những người sống sót Kevlar.) Casanova đánh xe vào lề đường rồi xe chết máy. Kẻ địch bất ngờ tấn công chúng tôi. Chúng tôi sắp toi rồi.
Tôi nhớ đến bộ phim yêu thích The Alamo sản xuất năm 1960, với nhân vật chính Dany Crockett do diễn viên John Wayne. Đây hẳn là cảm giác của Davy Crockett trước khi họ giết chết anh ta: bại trận, hết người chiến đấu. Chứng kiến cảnh đồng đội của mình từng người từng người một tiêu diệt trong khi kẻ địch vẫn tiếp tục áp sát. Vậy đó. Howard Wasdin sẽ chấm dứt cuộc đời của mình tại Mogadishu ở Somali vào buổi chiều ngày 03/10/1993. Điều tôi nuối tiếc nhất chính là tôi đã không thường xuyên nói với những người tôi yêu qúy những lời yêu thương. Suốt thời gian sống trên cõi đời, lẽ ra đó là điều mà tôi phải làm nhiều hơn. Hai người đầu tiên xuất hiện trong tâm trí tôi là các con tôi Blake và Rachel. Có lẽ tôi chỉ nói với chúng câu “bố yêu các con” khoảng sáu lần một năm. Một phần vấn đề nằm ở chỗ, do thường xuyên bận tập luyện và tham gia các chiến dịch tác chiến nên tôi chẳng có nhiều thời gian bên chúng. Mặc dù đã kết hôn, nhưng lúc này tôi chẳng nghĩ đến vợ tôi Laura. Mối quan hệ của tôi với Đội đặc nhiệm SEAL đã trở nên quan trọng hơn cuộc hôn nhân của tôi. Nhưng tôi muốn nói với Blake và Rachel rằng tình yêu của tôi dành cho chúng là vô bờ bến.
Kim đo mức độ sợ hãi của tôi chỉ ở số 8. Nó sẽ không bao giờ lên tới số 10. Khi kim chỉ mức độ sợ hãi của ai đó nhảy lên số 10 thì người đó sẽ không còn hành động được nữa. Khi đó bạn sẽ phó mặc số phận của mình cho hoàn cảnh xung quanh. Tôi vẫn chưa chết. Tôi dùng súng lục quay lại bắn phía sau nhằm xua đuổi 6 hay 7 tên địch xung quanh. Về thể lực, tôi không thể bắn trúng được bất kỳ tên nào vào thời điểm đó. Tôi bắn hết hai băng đạn của khẩu súng lục Casanova đưa cho tôi. Trên vô tuyến điện, tôi nghe thấy thông tin QRF đang trên đường đến cứu chúng tôi − bốn giờ nữa sẽ tới nơi xảy ra giao tranh. Lực lượng phản ứng nhanh − chẳng hiểu khái niệm của lực lượng này về chữ “nhanh” là cái quái gì nữa?
Xe của chúng tôi vẫn chết máy bên lề đường, tôi ngước mắt lên và thấy máy bay của QRF bay qua chỗ chúng tôi. Chúng tôi đã có cơ hội được cứu sống nhưng họ lại bay vượt qua. Chắc họ muốn bỏ mặc chúng tôi chết ở nơi đây. Sau đó QRF dừng lại và yểm trợ cho một chiếc xe trọng tải 3,5 tấn. Cám ơn Chúa, cuối cùng họ cũng đã nhìn thấy chúng con. Khi họ đến con đường bên cạnh chúng tôi, quân địch bỏ chạy hết. Xe của QRF dừng lại. Casanova và Gã Mập lùn giúp chuyển những người bị thương lên xe của QRF.
Một biệt kích Ranger đang loay hoay cuộn thang dây vừa thả từ trực thăng xuống – đây là công việc đã được làm đi làm lại nhiều lần khi tập luyện. Do thần kinh quá tải, người lính này chỉ làm theo bản năng mà quên hết những gì đã được dạy. Không tự đi được, tôi nhìn chằm chằm vào cậu lính Ranger trong sự hoài nghi. Tôi hét lên “Đây không phải là đợt huấn luyện! Hãy đặt sợi dây xuống, vứt vào trong xe và đưa chúng tôi ra khỏi đây!”. Tay biệt kích của Ranger tiếp tục kéo sợi dây mà không ý thức được hoàn cảnh xung quanh và không nghe theo mệnh lệnh của tôi. Tôi dí khẩu súng lục SIG SAUER của tôi vào cậu ta: “Tôi sẽ không giết anh nhưng anh sẽ phải đi tập tễnh nếu không vứt sợi dây đó vào xe!”Cậu ta bối rối mất một lúc rồi thả sợi dây ra. Cậu ta vội vã vào xe. Cuối cùng, những người trong xe cũng đưa được tôi lên chiếc xe tải của QRF. Casanova bảo mọi người hãy để ý hơn đến tôi vì chân phải của tôi chỉ treo lủng lẳng như vậy chứ không còn cử động được nữa.
Chúng tôi lái xe về trại mà không hề gặp bất kỳ cản trở nào từ quân của Aidid. Sau khi vào trong cổng, khoảng 40 đến 50 người đang chờ sẵn ở đường băng, trong đó có cả các nhân viên y tế. Họ đến để làm nhiệm vụ phân loại những người bị thương không thể cứu chữa với những người có thể cứu chữa được cũng như mức độ nặng nhẹ của thương tích. Một người lính của Ranger mở thành xe phía sau của một chiếc Humvee – máu từ xe chảy ra nhiều vô kể.
Casanova và Dan Schilling đưa tôi đến khu vực phân loại. Lúc này trời vẫn sáng, các nhân viên y tế cởi hết quần áo của tôi ra để thuận lợi cho việc chữa trị. Họ để tôi nằm trần truồng trên đường băng, vây quanh là các xác chết. Một lần nữa, tử thần lại “vồ” trượt tôi như những lần trước đó: như khi kẻ địch bắn rơi chiếc trực thăng của QRF và giết chết ba người bay cùng chuyến đó; như khi quân của Aidid mở cuộc tấn công lớn vào Pasha; như khi các pháo thủ của kẻ địch nã pháo vào khu của CIA, nơi tôi đến thăm và rời đi hôm trước. Tôi nghĩ có lẽ Casanova và tôi đã có một kết cục khác nếu chúng tôi bay cùng trong chuyến bay có ba lính bị sát hại hôm đó, nhưng có thể cũng sẽ chẳng khác gì và tôi có lẽ đã bị chết hôm đó. Tuy nhiên, điều đó không xảy ra bởi Chúa luôn bên cạnh phù hộ tôi. Giờ đây tôi đã 48 tuổi và đôi khi vẫn tự hỏi, Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không hạ gục kẻ địch trước khi hắn hạ gục tôi? Có lẽ mọi người chỉ có thể gặp tôi ở nghĩa trang mà thôi.
Trước khi diễn ra trận đánh ở Mogadishu, những hỗ trợ chúng tôi nhận được từ chính quyền Clinton thật đáng chê trách. Chính quyền Clinton đã từ chối cấp cho chúng tôi loại xe chiến đấu bộ binh M-2 Bradley, xe tăng M-1 Abrams và máy bay cường kích AC-130 Spectre. Chính quyền Clinton quan tâm đến khía cạnh chính trị nhiều hơn là tính mạng binh sĩ Mỹ. Trong trận đánh ở Mogadishu, 18 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và 84 binh sĩ khác bị thương; 1 lính Malaysia chết và 7 người khác bị thương; hai binh sĩ Pakistan và 1binh sĩ Tây Ban Nha bị thương. Mặc dù chỉ khoảng 180 binh sĩ chiến đấu chống lại gần 3.000 quân của Aidid nhưng chúng tôi vẫn bắt được Omar Salad, Mohamed Hassan Awale, Abdi Yusef Herse và nhiều thủ hạ quan trọng khác. Hàng ngàn người trong bộ tộc của Aidid thiệt mạng và số bị thương còn nhiều hơn thế. Chúng tiêu hao rất nhiều đạn dược. Nhiều tù trưởng phải sơ tán vì sợ các cuộc phản kích của Mỹ. Bốn lính bắn tỉa từ Đội Anh ba Xanh (Blue Team) đang trên đường sang thay chúng tôi. Phi đội Alpha của Delta đang làm công tác chuẩn bị sang thay Phi đội Charlie. Một loạt lính Ranger mới cũng đang trên đường sang. Chúng tôi đã phá vỡ được hậu phương của Aidid và chúng tôi muốn hoàn tất sứ mệnh này.
Bất chấp những thắng lợi của chúng tôi, Tổng thống Clinton vẫn coi chúng tôi là những kẻ bại trận. Mặc dù chúng tôi vẫn chưa bắt được Aidid và chưa chuyển được số lương thực viện trợ đến người dân nhưng Clinton đã rũ tay. Ông ra lệnh ngừng tất cả các hành động chống lại Aidid. Bốn tháng sau, Clinton trả tự do cho Osman Atto, Omar Salad, Mohamed Hassan Awale, Abdi Yusef Herse và các tù nhân khác. Đúng là chó chết thật. Chúng tôi đã mất rất nhiều thời gian sát cánh với người dân Somali để tạo dựng lòng tin, thuyết phục họ rằng chúng tôi sẽ ở bên họ trong thời gian dài. Nhiều người trong số những người Somali này đã dám mạo hiểm tính mạng bản thân để giúp chúng tôi. Một số còn dám đánh đổi cả sự an toàn của gia đình. Những lính canh trước đây của chúng tôi ở Pasha đều tham gia vào trận đánh ở Mogadishu và họ chiến đấu đến phút cuối. Chỉ một ít người trong số họ sống sót. Những người còn lại đều đã hy sinh khi sát cánh cùng chúng tôi. Chúng tôi đã bỏ lại những người bạn Somali của mình trong lúc họ vẫn đang cần sự giúp đỡ. Tôi có cảm giác sự hy sinh của chúng tôi là vô ích. Tại sao họ lại điều chúng tôi đến Somali trong khi vẫn chưa hạ quyết tâm phải hoàn tất sứ mệnh? Lẽ ra chúng tôi không nên tham gia vào cuộc nội chiến ở Somali – đây là vấn đề của họ chứ không phải của chúng tôi. Nhưng khi chúng ta cam kết, chúng ta nên hoàn thành cái chúng ta phát động: đó là một bài học chúng tôi luôn nhớ mãi trong lòng.
Somali không còn nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong nỗ lực mang lại hòa bình và lương thực cho đất nước nữa. Sự hỗn loạn và nạn đói gia tăng. Aidid đã ém nhẹm đi khá nhiều con số thương vong, mất mát của phe hắn trong cuộc chiến nhưng cũng chẳng thống trị được nước Somali thống nhất. Aidid chết năm 1996 trong một trận chiến tranh giành quyền lực nội bộ với Osaman Atto.
Cát-xô, chiếc…..”quan tài” đá của Hỏa Lò Hà Nội…..!
Đặng Chí Bình
Bài 8
Theo ông Huệ nói, từ đây ra tới cổng Hỏa Lò, ngoài bao nhiêu lần cửa, với bao lần canh gác, ngay chính ông cũng chịu trách nhiệm giữ tôi. Nếu tôi trốn, ông cũng phải chịu trách nhiệm. Tôi cười thầm, hiện giờ ngay việc ngồi dậy tôi còn thấy khó khăn, nói gì tới trốn. Dù thế, cảnh giác cao luôn luôn là một nguyên tắc của Cộng Sản, cho nên ra vào buồng tôi, ông vẫn phải khóa.
Trưa nay, vết thuơng ở tam tinh bỗng nhức quá, đau đến độ mồ hôi của tôi chảy ra đầm đìa, cuối cùng tôi lại lịm đi. Thấy có người lay gọi, mở mắt ra, tôi ngạc nhiên: tên Thành chấp pháp! Thấy tôi tỉnh dậy, y mỉm cười:
– Anh thấy trong người đã đỡ chưa?
Tôi nhìn y, hơi ngượng! Trước đây, tôi luôn nói là thích xã hội chủ nghĩa, vậy mà tôi lại đánh cán bộ rồi trốn. Tôi thều thào cảm ơn sự quan tâm của y. Sau khi tôi trốn rồi bị đổ bể, tôi nghĩ rằng từ nay bọn cán bộ, chấp pháp sẽ ghét thù tôi lắm. Nhưng, điều làm tôi ngạc nhiên là tôi không thấy tên Thành có thái độ gì khác trước đây. Từ ánh mắt cho đến cử chỉ, vẫn như những tháng trước tôi gặp y. Y mở một cuốn sổ tay lớn, cầm bút và nhìn tôi:
– Nguyên nhân nào đã đưa đến, để anh trốn tù?
– Từ trước tôi vẫn thích xã hội chủ nghĩa, và vì thế tôi đã khai báo thật ngay từ đầu. Nhưng rồi, cách mạng không tin, cứ giam cầm, cùm kẹp mãi, nên tôi tìm cái chết. Chết không được, tôi tìm cách trốn!
Chỉ nói có bấy nhiêu câu, mà tôi phải nói rất lâu. Nhiều chỗ y nghe không rõ, phải hỏi lại. Y ghi hết.
– Anh định trốn từ bao giờ?
Tôi nghĩ bụng, tôi có ý định trốn ngay từ khi tôi phát hiện bị theo dõi ngoài phố, nhưng chỉ vì không có điều kiện thời cơ thôi. Tuy nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn khào khào trả lời:
– Sau khi tôi tự tử không được!
– Ngay khi anh gặp ông cán bộ lạ, một mình hỏi cung anh, là anh có ý định đánh ông ta để trốn?
Những việc nay tôi cứ trả lời thật:
– Phải nói, mãi tới lúc gần xong buổi cung, tôi thấy ông ta có vẻ lơ ngơ, đờ đẫn tiếc cái chum không tìm thấy, tôi mới lóe lên ý định trốn.
– Anh định đánh chết rồi chuồn ra ngay?
Tôi biết đây là một câu hỏi bẫy. Nếu có chủ ý mà vô tình, sẽ bị mắc. Tôi trả lời:
– Thưa ông, tôi không có ý định đánh chết ông ấy, mặc dù tôi thừa khả năng. Tôi cố ý làm ông ấy vừa đủ ngất đi thôi.
Tên Thành tiếp tục hỏi chi tiết nhiều vấn đề: Nào, anh trốn ra đi về đâu? Sẽ làm sao để che mắt công an? Chủ trương trốn về Nam theo đường nào? Hay, ra giao thiệp liên lạc với cơ sở, v.v…? Gần hai tiếng dồng hồ, y vừa hỏi, vừa ghi.
Y đã đi rồi, hồn tôi còn chơi vơi khắc khoải. Tôi dĩ nhiên hiểu là “gieo gió, gặt bão”. Vừa qua, tôi đã gieo cái nhân, bây giờ phải chuẩn bị tình thần để lãnh cái quả. Hãy gồng mình lên mà chịu đựng, có thế lý trí mới còn sáng suốt. Buồn rầu, kêu van, đều không phải là của một người tỉnh táo, có lý trí mạnh. Tôi cũng hiểu là, những ngày tới sẽ chồng chất cam go. Vậy, sẽ đừng lạ lùng, ngạc nhiên, để rồi oán hận đất, trời lung tung.
Tôi tự nhẩm, nhắc lại ý tưởng sau khi tự tử không chết hơn 4 tháng trước:
Trên đường đi, nhiều cay đắng âm thầm.
Hãy nhận lấy, để dồn vào sâu kín.
Ý tưởng này phải trở thành phương châm trên con đường đi tới của đời tôi. Thực vậy, nếu không tránh được những điều khổ đau, tai ương: không gì bằng hiên ngang ngửng mặt, giơ tay đón nhận.
Những khó khăn trong cuộc đời, ai chả từng gặp. Điều khác biệt là thái độ của người gặp khó khăn: nếu gặp khó khăn lại chùn bước, nản lòng, bi quan, yếm thế; đôi khi, chính khó khăn ấy sẽ đè mình gục xuống, không thể trỗi dậy được nữa. Nhưng, nếu nhìn những khó khăn, chỉ là điều tất yếu của cuộc đời phải có, hãy tỉnh táo xông vào giải quyết, tin chắc rằng khó khăn sẽ bớt, đôi khi không nói là hết khó khăn. Nhưng, lại phải hiểu rằng, hãy yên trí đi, lại sẽ sắp sửa có khó khăn khác đang đi tới, vì đó là lẽ sống ở đời mà!
Tôi cứ quẩn quanh nằm suy nghĩ như thế. Điều đó cũng giúp tôi nhiều, trên đường đi đầy chông gai, hầm hố này.
Tôi ở bệnh xá được 6 ngày. Mồm tôi đã đỡ, chỉ mất 3 chiếc răng. Cánh tay phải được ông Huệ lấy lại khớp xương, bây giờ đã giảm sưng, cử động nhẹ được. Trong ngực bị mấy cú đòn ngầm, bây giờ cũng đỡ đau sau mấy ngày khạc ra một đống máu. Riêng vết thương chỗ tam tinh, vẫn còn thấy đau nhức nhiều. Vì không có gương, tôi chỉ lấy tay sờ, thấy vết thuơng hơi lệch về phía mắt trái. Chính ông Huệ một lần nói nhỏ với tôi:
– Anh hãy còn may mắn, nếu mũi súng chỉ lệch đi chừng một phân về phía trái, bảo đảm bây giờ anh trở thành “độc nhỡn nhân” rồi!
Tôi chỉ hỏi:
– Liệu vết sẹo có to lắm không?
Ông nói:
– Thủ thuật khâu của tôi cũng có hạng lắm đấy, tôi lại cố gắng làm cho anh, cho nên sẹo không to lắm đâu!
Hỏi và nói chuyện với ông như vậy thôi, chứ sẹo to hay nhỏ bây giờ còn giá trị gì nữa mà quan tâm. Tôi vẫn phải còn ăn cháo, vậy mà buổi chiều, tên Bằng đã vào nói là có lệnh Ban Giám Thị đưa tôi vào “cát xô”. Tôi cũng hiểu là phen này chưa chắc đã sống được. Tôi chợt nhớ đến xà lim I, còn một số đồ lặt vặt, nhưng rất có giá trị đối với tôi: bộ đồ chống muỗi, cái điếu bằng bao diêm, cái vỏ ba lô trong có chì mật và chiếc kim khâu. Chỉ có con dao là mất, trong bộ đồ quần áo để lại đắp cho tên Hạ. Vì vậy, tôi phều phào (cái môi tôi vẫn còn vều ra) nói với tên Bằng, xin lại mấy thứ đó. Y trừng mắt nhìn tôi, rồi buông thõng một câu:
– Anh đã định trốn đi, thì còn cần gì những thứ đó!
Nghe giọng y nói và cách y nhìn tôi, tôi hiểu là y không căm ghét gì tôi lắm, vì thế tôi nằn nì:
– Thưa ông giúp tôi! Ai cũng vậy, đã trốn còn tiếc gì! Nhưng bây giờ tôi không trốn được!
Cả tên Bằng và ông Huệ cùng cười. Không ai nói gì! Khi tôi ra khỏi buồng, rồi ra tời cổng bệnh xá, ông Huệ còn ra theo đưa cho tôi một gói bột trụ sinh:
– Anh nhớ hàng ngày rắc vào chỗ tam tinh, đừng để nó làm mủ. Nếu làm mủ ở đấy, đôi khi có nhiều biến chứng nguy hiểm.
Tôi vừa tập tễnh đi theo tên Bằng, vừa nghĩ ngợi mông lung. Tình cảm của ông Huệ y tá, tôi chấp nhận. Còn của chấp pháp, tuyệt đối không! Ông Huệ chỉ là y tá, suốt những ngày ở bệnh xá, chẳng bao giờ ông ta hỏi tôi bất cứ một khía cạnh nào, về việc tôi làm.
Sân trại chung lúc này đã vắng tanh! Nhưng, tất cả những nhà chung quanh sân trại, nhà nào cũng có tiếng rì rầm, ồn ào như tiếng thác đổ trong rừng sâu. Mãi xa tít phía đàng kia là bức tường và chiếc cổng mầu xanh xanh của xà lim I. Không khí của chiều đầu Thu vẫn còn hanh khô. Những chiếc lá bàng đã đổi mầu, úa dần. Đây đó đã dăm, mười chiếc lá rời cành như báo hiệu mùa Thu tới. Và đây, tôi cũng sắp tới “cát xô”!
Đã hơn 2 năm, tôi nằm trong xà lim Hỏa Lò rồi, nhưng chưa biết “cát xô”. Một lần, tôi nghe tên Tân nói, “cát xô” là chỗ kỷ luật những tù nhân án tử hình, chung thân. Ai vào đó, nếu không chết ngay ở đấy, sau đó cũng chết với bao nhiêu chứng bệnh, mang theo trong người. Bây giờ tôi vào, tôi sẽ biết.
Đến một chỗ góc của dẫy nhà, một hành lang sâu hun hút dẫn tới một cái cửa sắt dầy. Qua cửa này, có những bậc đi sâu xuống đất. Rồi tới một cửa sắt nữa, rất bé và hẹp. Tên Bằng chọn một chìa, trong chùm chìa khóa đang cầm ở tay mở ra: Một lối đi rất hẹp! Đến đây, từ lối đi đến những bức tường đều toàn bằng đá, đá hộc và đá thuớc; tưởng như một thạch thất trong truyện võ hiệp của Tàu. Một mùi khăm khẳm lợm giọng xông lên. Tên Bằng khạc, rồi nhổ đánh “bẹt” một bãi nước bọt vào một góc tường. Thoáng nhìn, tôi thấy ba, bốn cái chuồng đá hay hòm đá.
Bỗng nhiên có tiếng lịch kịch, rồi tiếng chân người, tôi và lão Bằng đều liếc lên nhìn, thấp thoáng có mấy áo vàng bên trên, chắc là những tên cán bộ trực ca tối. Tên Bằng mở cửa hòm đá, chiếc cửa sắt quá nhỏ, tôi phải cúi, lách vào. Hòm đá cũng có cái cùm như trên xà lim. Đặc biệt hơn là có hai sợi dây xích sắt to, bằng loại sắt tròn đường kính hai phân, mỗi sợi dài độ 80 phân, gắn liền vào trong tường đá; ở mỗi đầu sợi xích là một cái khóa bóp.
Ở ngoài, tên Bằng rút chốt cùm, lách người vào nhấc nửa trên cái cùm há lên, và bảo tôi bỏ chân vào. Y đóng cùm xuống, trong khi mũi y cứ thở phì phì. Y mở hai khóa ngàm ở đầu hai sợi xích, bóp khóa vào cổ tay tôi. Xong, y ra ngoài chốt cùm. Trước khi đóng cửa, y gằn giọng:
– Kỷ luật ở “cát xô”: mỗi tuần mở cùm một lần, 12 phút vào trưa mỗi thứ Hai. Ngày chỉ được ăn một lần!
Y chỉ tay vào cái nắp sắt tròn, mở một mé góc trong chuồng đá:
– Đái, ỉa, nhấc cái nắp lên. Một tuần đổ một lần, sạch hay bẩn thì tùy.
Tuy tôi đã nâng cao tinh thần chịu đựng. Đã tự trang bị cho mình một số tư tưởng lạc quan, thế mà trước cảnh này, tôi cũng đầy băn khoăn lo lắng. Thấy không có chiếu chăn gì, chỉ có đá và sắt, tôi đề nghị:
– Thưa ông, ông giúp tôi, về buồng tôi cho tôi xin chiếc chiếu và những thứ lặt vặt của tôi.
Y đóng xầm cửa lại, cộc lốc:
– Bao giờ ra hãy hay. Ở đây không cần!
Cửa đóng lại, ánh sáng chỉ lờ mờ. Tôi có cảm tưởng như mình đang ở trong một cái “quan tài” đá, chỉ có khác là cái “quan tài” này hình hộp vuông, mỗi bề 1m50. Ai cao hơn 1m50 thì phải khòm. Nằm cũng không được. Phải lựa thế xoay chân, nằm nghiêng và co chân lại. Nghĩa là, không thể nằm duỗi thẳng chân được.
Ông bà ta nói thật đúng:”Ở gần nhà xí mãi không còn thấy thối”. Đúng thế, khi mới vào đây, tôi ngửi ngay thấy cái mùi lợm giọng buồn nôn, vừa khăm khẳm, nồng nồng, lại vừa ngai ngái như mùi thịt chết để lâu ngày. Vậy mà, mới qua 3, 4 tiếng đồng hồ sau, tôi đã không còn ngửi thấy mùi ấy nữa, tuy thỉnh thoảng cũng thấy khó chịu, nhưng không đến nỗi buồn nôn.
Tôi hiểu đây là giai đoạn cam go nhất của đời mình. Nếu không nổ lực để sống; tôi sẽ tàn lụi từ đây. Cảnh thế này, chỉ cần mươi ngày là rất nhiều loại bệnh kéo ra: tê xuội, lao phổi, điên rồ vì thần kinh, ghẻ lở, kiệt sức, v.v…Chết!
Một điều khó khăn nhất đối với tôi bây giờ là… không khí! Từ trước, sở dĩ chưa bị bệnh tật là nhờ tập luyện, mà không khí trong lành là chính. Đã đói cơm, đói gạo, nhưng còn không khí bù lại. Ở đây, chúng không ngăn không khí, nhưng không khí lại bị ô nhiễm. Mùi xú uế lại còn nguy hiểm hơn. Cho nên, càng căng lồng ngực hít không khí này vào, càng chóng giã từ cõi đời. Đó là điểm đã mấy ngày nay tôi suy nghĩ nát đầu, mà chưa tìm ra một lối giải quyết.
Mỗi ngày, cứ khoảng 12 giờ 30, lúc đó trại chung cũng đã vào hết, bấy giờ tên cán bộ trực mới dẫn một anh hình sự vào đưa cơm nước. Anh hình sự chừng 22, 23 tuổi, xách một hộp gỗ, trong có hai nắm cơm. Mỗi nắm chừng 3 lạng, ở giữa nắm cơm, có ít muối gói trong một miếng lá chuối khô. Nắm cơm được gói trong 2 chiếc lá bàng còn tươi. Trong hộp gỗ, còn có một cái tích to, đựng khoảng 4 gáo nước.
Tên cán bộ này thay đổi từng ngày, tùy theo ca trực trưa. Không có cán bộ trực chuyên môn “cát xô”, bởi vì “cát xô” chỉ có mấy hộp đá. Y vào mở cửa, rồi đứng trông cho anh hình sự đưa cơm.
Hiện nay, ở mãi phía trong cùng “cát xô”, còn có một người nữa. Đêm qua, tôi đã gọi mấy lần, nhưng không có tiếng trả lời. Cơm vẫn 2 nắm, một cho tôi và một cho người phía bên trong. Thỉnh thoảng, tôi nghe tiếng ho, nhưng tôi gọi vẫn yên ắng.
Trưa hôm nay, cũng như trưa hôm qua, tôi vừa rắc ít bột trụ sinh vào chỗ tam tinh, vừa ngồi nhắm mắt vận công, chợt có tiếng lẻng xẻng của chìa khóa và tiếng mở cửa. Tiếng bước chân sột soạt nghe rõ dần, rồi tiếng loạch xoạch mở khóa. Tấm cửa sắt con được kéo lên, một bàn tay đen đen, đầy cáu ghét đẩy nắm cơm vào. Tiếng loảng xoảng xô đông cửa xích sắt, rộ lên khi tôi cầm chiếc gáo giơ ra, cho y rót nước vào.
Y chỉ ngồi một lúc, mà mũi cứ thỉnh thoảng phải xì xì thở ra, vì mùi phân và nước giải lâu ngày ở cái bô nhỏ dưới lỗ xông lên, và vì mùi hôi hám của cơ thể tôi, lâu không được tắm rửa. Những mùi đó cuộn vào nhau đầy ắp dưới căn hầm.
Tôi liếc ra ngoài, chỉ nhìn thấy đôi ống quần vàng, đứng ở mãi gần cửa ra vào “cát xô”. Khi tên tù hình sự rót nước vào gáo cho tôi, vừa để chống đói, và vừa để có nước kha khá một chút để dự trữ để rửa đít. Tôi trợn mắt, uống gần hết gáo nước, trong khi tay tôi rối rít khua ra hiệu chờ, cho xin thêm đầy gáo. Im vắng, không một tiếng người, chỉ có tiếng rọt rẹt của xích sắt, khi hai tay tôi di chuyển cử động, và tiếng nước rót vào gáo kêu long tong. Sau đó, chính tên tù hình sự tháo chốt cho tấm cửa sập xuống, tên công an chỉ việc đến khóa.
Tiếng bước chân nhỏ dần vào phía trong. Rồi những âm điệu của bản nhạc “cho tù ăn” lại trỗi lên một lần nữa.
Mỗi ngày, chỉ trong vòng mươi, mười lăm phút, bản nhạc không lời đó được tấu lên, như một điệp khúc. Rồi nhà hầm lại trở về yên lặng như nhà mồ, cách biệt với thế giới loài người bên trên. Thỉnh thoảng tiếng rọt rẹt khua động của xích sắt, tiếng ho khục khặc lẫn với tiếng rên rỉ ai oán kéo dài lê thê, càng làm rợn người trong đêm trường.
Một điều thật may là ở dưới này, lâu lâu mới có một con muỗi vo ve. Có lẽ vì kín, phần khác, ngay không khí cũng thiếu “oxy”. Cho nên các chú muỗi chẳng thích, hoặc chẳng dám vào.
Bị cùm ở “cát xô”, đi ỉa, đi đái thật vất vả! Phải xê dịch làm sao cho đúng lỗ, mà muốn đúng lỗ, thì hai tay phải giơ lên phía đầu. Vì hai sợi xích kéo ngược lên, ngắn, chỉ có hạn, nên cứ phải nằm nghiêng, hai tay giơ lên đầu hàng giờ, có khi 2 giờ vì phân táo bón. Rã rời, đau đớn, nhức mỏi! Đi xong, chẳng lẽ không rửa, mà rửa thì cực nhọc vô vàn. Xoay được thế chân cho nghiêng cái mông, cái tay lại bị dây xích giữ, không với tới. Vì vậy, nhiều khi nước rửa đổ chan hòa ra chỗ nằm, ngồi càng hôi thối, tanh tưởi.
Dù đã quen mũi, nhưng khi mở nắp lỗ phân, với nước giải 5, 6 ngày rồi, tôi thấy nhiều lúc như nghẹt thở. Những lỗ phân ở nông thôn không hôi mấy, vì trống trải, mùi hôi khuếch tán trong không khí. Ở đây trong hầm kín, mỗi lần mở nắp ra, ôi thôi, giá con người không có mũi thì tuyệt biết bao! Mùi hôi thối làm nhức đầu, đờ đẫn người, làm mờ cả mắt, tê liệt cả thần kinh.
Tôi hiểu, tụi công an Hỏa Lò không phải không biết cái mùi hôi chết người này, nhưng chúng cố ý coi đó là một trong những phương pháp, để hành tội người tù. Trước đây, tôi đọc sách báo, cũng như tôi đã vào cái nghề “hang một lỗ” này, tôi cứ đinh ninh, khi một điệp viên đã bị đối phương bắt, thì sẽ bị tra tấn bằng mọi cách để khai thác, rồi bắn bỏ. Cho nên, lúc tôi bị bắt, phần thì trước mắt, chúng cũng thấy tôi không, hoặc chưa hoạt động gì, như vậy dứt khoát chúng không thể bắn tôi. Còn vấn đề tra tấn, đối với một người, nếu can trường, dũng lược, cũng chỉ như một trận đòn “hội chợ”. Bởi vì, nếu làm quá đã ngất rồi, mà ngất, thì còn biết đau đớn là gì. Như vậy, chừng dăm mươi trận rồi cũng phải kết cung. Nhưng, với Cộng Sản, phương pháp của chúng hoàn toàn mới lạ. Cũng chính vì trước đây, chúng đã bị tra tấn dưới thời thực dân Pháp, cũng như Sài Gòn ngày nay rồi. Nghĩa là, chỉ tra, đánh tới tấp năm, mười trận, trong 5, 6 tháng là kết cung. Cho nên, nếu có sự kiên trì, gan lì chịu đựng, thường là bảo vệ được bí mật của mình. Ở đây, chúng dùng thời gian và dạ dầy để khai thác.
Như trên tôi đã trình bầy, hầu hết những người lính (người lính tôi dùng theo ý nghĩa là người có tinh thần chống Cộng, không hẳn phải cầm súng) của phía Quốc Gia, tự do của chúng ta, tinh thần của họ rất cao, rất dũng cảm, có thể chịu đựng qua những phút cùng khổ, đắng cay cao nhất. Nhưng, với điều kiện ngắn thôi, một tuần, một tháng, một năm, 2 năm là nhiều, chứ xem chừng mãi mãi, không biết ngày nào, hầu như đa số phải bỏ cuộc. Chịu đựng được lâu dài, đòi hỏi kinh qua nhiều trận bão tinh thần; vật lộn giằng co hàng ngày với đói khát, cùm, xích trong những điều kiện ngặt nghèo nhất. Tinh thần bị ức chế cao độ, dồn ép lại thành một xác tín: cứ chịu đựng gian khổ, khắc nghiệt triền miên, cho tới khi cơ thể không chịu đựng được nữa, những nan bệnh sẽ đè gục xuống đẩy mình về với cát bụi mây ngàn.
Bản thân tôi cũng nằm trong nhược điểm đó, nhiều lúc tôi cũng quá nản lòng. Sức người chịu đựng cũng có hạn nào đó! Tôi muốn buông xuôi, mặc cho cơ thể lụi tàn dần. Tôi cũng xác quyết là dù có nỗ lực phấn đấu bao nhiêu, rồi sớm hay muộn cũng phải lìa đời trong cảnh ngục tù này. Những ý tưởng này chỉ nổi lên từng phút, từng giờ, rồi lại phải nhường chỗ cho những tư tưởng lạc quan, tích cực, nỗ lực đến phút cuối cuộc đời.
Tóm lại, cuối cùng để tư tưởng lạ quan tích cực với lẽ sống làm chủ tình hình, cũng phải trải qua biết bao trận chiến đấu cam go, giằng co nghiêng ngửa với những tư tưởng tiêu cực, bi quan. Những tư tưởng xấu, tồi bại này cũng như lũ phản động Cộng Sản. Mỗi khi chúng bị nguy khốn, chúng rút vào trú khu để chờ dịp, lại chui ra quấy phá cuộc đời, làm tê liệt, làm lệch hướng đi của cuộc sống. Vậy, chỉ còn một cách duy nhất, là ta phải luôn luôn trang bị cho mình một nghị lực mạnh. Đó là loại vũ khí hơn hẳn để chế ngự, đè bẹp chúng.
Hôm nay là thứ Hai, như vậy, tôi mới vào “cát xô” được 6 ngày. Ba vết thương đều đã giảm đau nhiều. Chỉ còn vết thương ở tam tinh, hình như có mủ, vì gói thuốc bột trụ sinh ông y tá cho, tôi bôi dè sẻn hàng ngày, cũng đã hết. Vết rách ở môi dưới đã ngứa, ăn da non, cánh tay phải, do tôi tích cực tập luyện, vết thương trật khấp xương nay đã hết sưng tím. Ngược lại, hai cái chân, mặc dù ngày nào tôi cũng xoay sở, tập dịch lên, lùi xuống nhiều lần bây giờ cứ cắn nhức trong xương. Dưới gan bàn chân, cứ râm ran như có nhiều con kiến cắn.
Bây giờ ở “cát xô”, tôi không còn ý niệm được về thời gian ngày hay đêm, trừ chừng 15, 10 phút ăn cơm. Thường cứ nằm độ 2 tiếng, lại ngồi chừng 2 tiếng. Nằm nhiều, đau lưng, đau người; lại ngồi, ngồi nhiều đau đít lại phải nằm. Chẳng bao giờ tôi nghe thấy một tiếng động gì ở bên trên. Nhiều lúc, tôi cảm giác là mình ở một thế giới khác, một thế giới mà con người khi sinh ra đã phải đeo xiềng xích, thứ xiềng xích gắn liền vào thân người cho tới chết. Một thế giới riêng biệt, không liên quan, dính dáng gì đến loài người nữa.
Nhất là về đêm (tôi chỉ theo sự suy luận và tính toán của mình để biết là đêm), nhiều lúc thấy hoang vắng, không có một sinh vật nào khác nữa cùng với mình, tôi lại gào lên gọi người phía bên trong. Tôi thèm, tôi háo hức được nghe tiếng một đồng loại. Nhưng, dù tôi gào, kêu như năn nỉ người bạn đồng cảnh lên tiếng cho đỡ cô liêu, tịch mịch trong nhà hầm, vẫn không có một tiếng trả lời. Có lúc, tôi nghĩ hay là người đó điếc, hoặc câm? Nhưng, rõ ràng nhiều lần tôi nghe tiếng rầm rầm, rì rì như tiếng đọc kinh cầu nguyện, sám hối.
So với bên tôi, thì bên đó rất ít khi nghe tiếng rung reng của xích sắt, có lẽ người đó rất ít cử động. Trong khi tôi, dù kiệt sức, rã rời vì đói, vẫn phải nổ lực, cố gắng tập cử động tay chân. Nếu nằm ngửa, phải nghệch đầu vào tường đá, vì không bao giờ co chân lại được. Nằm nghiêng hai phía, lại phải nằm co, hai tay phải luôn luôn giơ lên phía đầu, vì dây xích có hạn.
Tôi đang nằm đầu óc vẩn vơ nghĩ ngợi với những nỗi niềm trăm hướng, bỗng có tiếng động xọc xoạch mở khóa, rồi cửa “cát xô” mở. Một lúc, tôi nghe tiếng mở khóa cái “quan tài” đá của tôi. Miếng cửa sắt được kéo lên. Thì ra tên cán bộ Kế và một tên hình sự vẫn đưa cơm.
Tên Kế là người miền Nam, đeo lon thượng sĩ, phải 45, 50 tuổi rồi. Y vẫn thường coi buống số 9 trại chung. Hôm nay vào “cát xô”, y phải đeo khẩu trang. Việc mở cùm mở xích cho tù, bắt buộc phải do cán bộ mở, nếu không, chắc y đã sai anh hình sự làm thay. Bởi vì, tôi thấy y mở khóa xích cho tôi mà phải nín thở, nhăn mặt, vội vàng làm cho xong, rồi chạy mãi ra phía gần cửa “cát xô”, mới quay lại quát:
– Cho ra đổ bô và lấy nước dội, làm vệ sinh chỗ nằm! Đồng thời cho tắm rửa 15 phút!
Khi tôi chui ra khỏi chuồng, đứng dậy, hai đầu gối của tôi rủn ra, tôi ngã ngồi bệt xuống nền đá. Tôi lại chỗi dậy, cứ như vậy mấy lần. Người tù hình sự nhìn tôi với ánh mắt đầy thương cảm của tình người. Anh ta chừng 23, 23 tuổi, trông mập mạp, nhưng nước da vẫn xám xịt. Mập mạp là vì làm nhà bếp. Dưới chế độ chủ nghĩa, câu:”Giầu nhà kho, no nhà bếp”, dù ở đâu, hay lúc nào, cũng đúng!
Sau khi cái chân tôi đã tạm nhuần, bấy giờ tôi mới chui vào mở nắp lỗ phân, lôi cái bô phân và nước giải đã 6, 7 ngày của tôi lên. Tên Kế càng lùi xa lên phía trên cửa “cát xô”. Ngược lại, anh hình sự lại tìm cớ vờ đặt cái khay gỗ xuống gần chỗ tôi, tay lúi húi xếp một nắm cơm, và một bát rau muống già nấu, đen xì. Nhìn bát rau muống, tôi thật là mừng. Hàng tuần nay, ruột xót như cào. Không có một tí rau nào, chỉ ăn cơm với muối. Nhưng muối cũng không đủ. Vậy mà mỗi bữa cơm, tôi vẫn gắng ăn dè ra, thường để giành được…..mươi hạt muối! Từ đó cho đến bữa cơm kế, 24 tiếng, cứ khoảng hai tiếng tôi lại lấy một hạt muối cho vào mồm. Những lúc đó, một mâu thuẫn đã xảy ra, trong nội tại sự việc: một đằng muốn hạt muối ngấm tỏa ra nhiều mùi thơm ngon; đàng khác lại muốn đừng tan nhanh quá. Mâu thuẫn này luôn luôn không thể giải quyết được. Được phía này thì mất phía kia.
Anh hình sự quả là cũng quái. Đúng lúc một tên cán bộ nào đó ở phía trên đi qua, hỏi tên Kế cái gì đó, Kế vừa ngửng lên chỉ trỏ nói chuyện, ở dưới này, anh hình sự tươi mặt nhìn tôi khẽ nói:
– Anh có biết anh em tù ở trên ca ngợi hành động can trường của anh lắm. Họ còn biết anh từ miền Nam ra hoạt động ở Hà Nội nữa. Chúng em có người được đi dọn rửa phân buồng ấy về nói là anh đánh nó phọt cứt ra.
Vừa lúc ấy tên Kế hết nói chuyện, và lại cúi đưa mắt nhìn xuống dưới, tôi không thể nói được lời cám ơn anh em có nhã ý với mình. Tuy vậy, tự trong lòng, tôi cũng thấy dâng lên nhè nhẹ một niềm an ủi; thêm nguồn sống phấn khởi; nhưng lại cũng xen lẫn một chút bâng khuâng man mác buồn. Sự việc thất bại. Bây giờ, tôi đang sống dở, chết dở ở nhà mồ này; và sau này, chắc chắn trong hồ sơ có vết “trốn tù”, “đánh cán bộ”. Như thế, chẳng bao giờ tôi được “hưởng” sự rộng rãi cả. Nếu hôm ấy, tôi thành công! Chúng chỉ còn biết một tù nhân đã bí mật biến mất, trước bao nhiêu hàng rào canh phòng. Nhưng thôi, nghĩ làm gì những chuyện “nồi canh đã bể” ấy, chỉ càng thêm buồn, thêm tiếc !…..
Trưa hôm nay, tuy đã đầu Thu, nhưng cái nóng chói chang vẫn như hun đốt không gian. Không khí như một miếng bông thấm khổng lồ, hút khô cảnh vật. Làm môi như co lại, bong ra từng miếng vẩy, để chống lại cái nóng hanh của đất trời.
Tôi đang nằm đăm chiêu, vướng vất những suy tư về vụ án của anh Căn, đột nhiên cửa sổ nhỏ mở. Tiếng mụ Hoa, giọng rèn rẹt Quảng Nam:
– Đi cung!
Rồi mụ quay ra, rút xoạch chiếc chốt cùm. Chà! Lâu quá không đi cung, và cũng khá lâu rồi không gặp mụ Hoa. Chẳng hiểu, bặt đi 4, 5 tháng, tôi đi cung chẳng thấy mụ ta đâu, tôi cứ tưởng mụ đã đổi đi nơi khác rồi.
Vừa đi tôi vừa liếc nhìn dáng đi vặn vẹo, với đôi chân vòng kiềng khều khào của mụ như múa bên cạnh, tôi liên tưởng tới thời kỳ con gái của mụ. Tôi không thể hình dung được sắc đẹp của mụ thời gian ấy, nó như thế nào mà có thể đánh đổ kềnh một anh Trung Sĩ nhà ta. Để rồi đè bẹp một đồn binh của chúng ta, như lời tên Tân kể lại cho tôi nghe trước đây.
Tôi chậm chạp, lầm lủi đi theo mụ. Quen như mọi khi, tôi rẽ về phía trái. Là chỗ dẫy phòng đi cung, nhưng mụ lại ra hiệu bằng ngón tay, hướng ra phía cổng Hỏa Lò. Tôi thấy hơi lạ! Hơn 2 năm trời, chưa bao giờ tôi lại ra phía cổng Hỏa Lò để đi cung, vì vậy, tôi phải chuẩn bị ngay tư tưởng để phòng hờ, đối ứng với những việc bất ngờ. Khi gần tới cổng, mụ dẫn tôi quẹo về phía bên phải, trèo lên một bậc hè, đến một căn buồng có chiếc xe đạp đang dựa vào tường gần cửa buồng. Mụ đẩy cửa, bảo tôi vào. Bên trong là một căn buồng trống trơn, cũng như nhiều căn buồng hỏi cung khác, nghĩa là chỉ có một cái bàn mộc cũ kỹ, trước bàn có một cái ghế đẩu để cho bị can (người tù còn đang trong thời gian khai thác) ngồi. Một tên cán bộ lạ hoắc, chừng 30 tuổi, đang ngồi trước bàn. Trên bàn có một chiếc căp đen đầy, có lẽ đựng hồ sơ. Thấy tôi vào, y chỉ chiếc ghế đẩu, ra hiệu bảo tôi ngồi:
– Anh “nà” Đặng Chí Bình?
Chỉ thoáng qua giọng nói cùng vài cử chỉ, tôi đã thấy tên cán bộ này ở một tỉnh xa về đây có việc. Tỉnh đó có thể là quê hương tôi. Tôi dè dặt, chỉ “dạ” một tiếng! Y đứng dậy, nghiêm mặt lạnh lùng:
– Anh phải thành khẩn trả “nời” rõ ràng những câu tôi hỏi: “Núc” 1954, bố mẹ anh di cư vào “Lam” rồi. Trong cuộc cải cách ruộng đất, nhân dân, trong đó có họ hàng và người ở “nàm” thuê cho gia đình anh đã tố cáo “nà” bố anh, có chôn trong thửa đất nhà anh một cái chum to, chứa toàn đồ cổ bằng sứ và đồng đen. Đường phố cũ bây giờ mở rộng, dẫy phía nhà anh đều phá bỏ. Đây “nà” sơ đồ thửa đất và nhà của bố mẹ anh. Anh hãy chỉ, bố anh chôn cái chum đó chỗ “lào”? “Lếu” tìm thấy, anh sẽ được hưởng một “lửa”.
Nhìn và nghe y hỏi, tôi rất ngạc nhiên. Ngạc nhiên là năm 1953, tôi từ Hà Nội về quê chơi mấy tháng, và một đêm yên ắng, tối trời, (ngay chị giúp việc, cũng đã phải cho về quê nghỉ mấy ngày), chỉ có bố tôi và tôi ở nhà, hì hục đào dưới nền nhà bếp để chôn cái chum, thế mà giờ đây bên ngoài đã biết. Như vậy, đã từ lâu và nhiều lần rồi, ngay từ cuối 1954, khi bố mẹ tôi di cư vào Nam, chúng nó đã xâm, chọc và đào khắp thửa đất nhà tôi, nhưng chưa thấy! Bây giờ, từ Hà Nội, công an về điều tra lý lịch của tôi tại quê. Rồi từ đấy, tụi cầm quyền địa phương chợt nhớ đến chuyện cái chum, cho nên chúng đã phái một cán bộ lên Hỏa Lò, xin phép để gặp tôi. Chúng hy vọng tôi biết và nhớ chỗ chôn cái chum, sẽ chỉ chỗ cho chúng đào.
Điều thứ hai làm tôi ngạc nhiên là, không biết chúng đánh giá sự hiểu biết của tôi thế nào, mà lại hỏi tôi thế? Tôi nghĩ rằng, ngay một người dân bình thường, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc từ 1954 đến bây giờ; ai cũng hiểu những loại của đó không những không được dùng, mà đôi khi còn bị liên lụy để vào “ấp” nữa. Huống chi, tôi đã là một người tù, lại là một người tù chính trị chống đảng nặng nhất. Vậy, một tên tình báo ra ngoài Bắc, cho dù bẹt đi nữa, cũng phải được học và nghiên cứu về xã hội miền Bắc, nơi sắp sửa xâm nhập để hoạt động. Rồi nó ra ngoài miền Bắc hàng tháng trời đi lại tứ tung; thế mà nó lại không biết một điều đơn giản như vậy hay sao, đến nỗi để mắc vào cái mưu “mua chuộc” trẻ con ấy của cộng sản”? Chỉ có họa chăng là anh ấy điên, mới bị mắc cái “bẫy” ấu trĩ này.
Nghĩ như vậy, tôi ngửng mặt lên nhìn y, thái độ và vẻ mặt của tôi càng tỏ vẻ ngạc nhiên hơn, nhưng là cái ngạc nhiên khác:
– Thưa ông, khi rời nhà quê, tôi mới 12 tuổi. Hơn nữa, chưa bao giờ tôi nghe thấy bố mẹ tôi nói về cái chum chôn đó cả; cả ngay sau này ở miền Nam cũng vậy. Như thế, có thể đây là một chuyện nhầm lẫn hay chăng?
Không biết dáng vẻ của tôi trả lời như thế nào, mặt nó nghệt ra như ngỗng…ỉa. Vừa như tiếc là bao hy vọng của bọn cầm quyền địa phương, cũng như của y lên đến đây, đều không được việc gì. Vừa như ngẩn ngơ bần thần, không biết rồi đây có cách nào để tìm được cái chum. Tâm lý người đời là vậy! Con cá sẩy là con cá to, cái chưa biết và không thể tìm thấy thì cho là quý lắm. Nhìn cái gò má bên trái của y giật giật, và bàn tay của y cứ xoa đi xoa lại trên mặt bàn, tôi chợt lóe lên một ý nghĩ:”Tên này, thật cả đẫn! Hay ta lợi dụng thời cơ chớp nhoáng, chuồn? Thời cơ bất ngờ đưa đến! Thời cơ thường dễ đi, khó đến. Thời cơ đến, không biết chớp lấy, đôi khi còn mang họa nữa ấy chứ! Hơn nữa, canh bạc cuộc đời tôi ra ngoài Bắc đánh với chúng, tôi đã thua rồi cơ mà. Bây giờ được đánh lần nữa, biết đâu chẳng gỡ được. Vả lại, dù thua, tôi có mất thêm gì nữa đâu. Bởi có còn gì nữa đâu mà mất! Tóm lại, hành sự đi, chỉ có được chứ không mất gì cả.
Suy tới nghĩ lui xong, tôi tính toán thật nhanh, nhìn tổng quát mọi điều kiện, rồi hình thành ngay một kế hoạch.
Bây giờ đã gần 3 giờ chiều rồi, còn 2 tiếng nữa mới tới giờ tan tầm. Tôi liếc nhìn cửa buồng đóng, nhớ chiếc xe đạp dựa tường phía bên ngoài. Tên cán bộ đang cúi nhìn bàn sơ đồ của thửa đất và mấy ngôi nhà tôi. Y chỉ cao bằng tôi. Có mập hơn một chút; nhưng, nhìn bắp thịt tay, tỏ ra là y không có tập tành gì cả.
Hơn 2 năm nay, từ khi tôi bắt đầu đi cung, đã thấy ra một điều gần như quy luật: Sau khi chấp pháp hỏi, tra xong, dẫn bị can xuống phòng trực giao cho cán bộ trại. Chứ chưa thấy cán bộ trại lên phòng cung đón bị can mang về bao giờ. Cá biệt, cán bộ trại mới đưa bị can tới phòng chấp pháp. Thông thường, chấp pháp phải đợi ở phòng trực, khi cán bộ vào trại vào các buồng lấy tù ra đến phòng trực, bấy giờ chấp pháp mới ký vào một cuốn sổ để nhận người. Khi đem trả, cũng ký trả.
Đầu tôi căng lên vì tính toán, cuối cùng tôi quyết định, phải tiến hành. Có nguy hiểm, nhưng phải liều. Không liều, nhiều khi không có gì cả. Tôi cũng hơi ngập ngừng băn khoăn một chút, khi nghĩ tới sợi chì mật, vẫn giấu trong cái vỏ ba lô gối đầu, để ở buồng xà lim. Thôi, dù sau này có kẻ nào nhìn thấy sợi ny lông, cũng không thể nào cho đó là chì mật. Hơn nữa, nó ở trong đường chỉ của mép túi, có khi cái ba lô ấy dùng đến rách nát, bỏ đi, cũng không ai trông thấy. Thời gian cấp bách quá rồi, không thể chần chừ được nữa. Cứ giùng giằng thì không làm nên việc gì cả!
Trong cuộc đời tình báo của tôi, và khi thụ huấn một số “cao nhân” trong nghề, tôi biết nhiều thế đánh, thế khóa, nhưng tựu chung, có mấy thế thật hữu hiệu. Tùy theo người đánh muốn đối phương chết, hay ngất ngay, không một tiếng kêu. Tất nhiên, cũng phải ở những cánh tay, cứng cáp và…yếu tố bất ngờ.
Tính rồi, tôi tươi nét mặt, tay vỗ trán nhìn tên cán bộ, vờ nói để có thể đến gần y được:
– À, tôi nhớ ra rồi! Tôi nhớ mang máng khoảng 1952 hay 53 gì đó, một hôm chơi trong buồng, tôi không thấy cái chum to nhất, tôi vẫn thường trèo vào trốn ú tim với các em. Tôi hỏi, con em 10 tuổi bảo là bố chôn ngoài vườn hoa, giữa gốc cây đào và cây mơ.
Mắt y sáng lên, y cúi gầm xuống tờ giấy ở trên bàn, hấp tấp:
– Đâu? Đâu? Cây đào và cây mơ nhà anh ở đâu?
“Thế là anh bạn đã lãnh đủ với tôi rồi!” Tôi đứng dậy, tiến sát vào bàn, cũng cúi xuống, tay trái của tôi chỉ chỉ, trỏ trỏ, như tìm những vật chuẩn ở phía sau nhà. Y đang ngồi, tay cầm một cái bút chì cũng rê rê theo ngón tay tôi. Trong khi đó, tôi chậm chạp xê dịch người, lựa đúng khoảng cách để ra đòn có trọng lượng cao nhất.
Vận sức vào cánh tay phải, tôi lấy đà quay một vòng, chớp nhoáng chém một phát như búa bổ vào cái gáy đang cúi xuống của y. Tôi vừa sử dụng cùng một miếng đòn của vỏ sĩ Samsaray, vô địch quyền tự do của Cam-Pu-Chia, đã hạ võ sĩ Hà Châu, vô địch Hồng Kông, và hạ võ sĩ Vĩnh Tiên, vô địch quyền anh Đông Dương, ở trận võ đài quốc tế những năm trước, được tổ chức trong sở thú (Sài Gòn). Tôi đã tính rồi, bây giờ vì đói khổ lâu ngày, sức giảm đã nhiều, vậy cú đòn đầu này có thể làm y choáng váng. Tiếp theo, tôi sẽ dùng một thế khóa cho ngất đi, mà không cho y chết, bởi vì, y không phải là kẻ thù chính của tôi. Nhưng, thật không ngờ, cú đánh của tôi vẫn còn quá mạnh. Y chỉ kêu được một tiếng “Hực”! nhỏ, rồi gục ngay xuống bàn, tay chân xuội ra, ngất ngay.
Tôi chạy lẹ ra chốt cửa lại. Trở vào, tôi cởi ngay bộ quần áo kaki xám cán bộ của y ra, cởi quần áo của tôi đắp cho y, để mặc y nằm nghiêng dưới chân bàn. Tôi móc ví y, thấy có hơn 10 đồng và nhiều giấy tờ. Tôi xem một cái thẻ, có ghi tên “Đỗ Đình Hạ”. Trong cặp có nhiều giấy tờ, tôi không có thời giờ xem, cứ việc cắp lấy đã. Tên Hạ này không có đồng hồ.
Trước khi mở cửa buồng tiến ra ngoài, tôi liếc nhìn tên Hạ. Thấy chân y từ từ co lại, duỗi ra, mặt y hồng hồng trở lại. “Phải cho y ngủ thêm lúc nữa đã”, tôi nghĩ thế, rồi tiến lại sau lưng y, dùng một thế khóa chẹn cổ, không cho y thở; chừng 5 phút, cả người y lẫn tay chân giật dúm lại. Một mùi thối hoăng xông lên. Tôi liếc nhìn xuống phía dưới: Y bĩnh ra một bãi. Nếu cứ giữ thế khóa này 15, 20 phút, chắc chắn y sẽ xuống lòng đất hầu hạ tên “đầu bóng, râu xồm” ở Hồng Trường Mạc Tư Khoa. Nhưng, tôi chỉ giữ yên khoảng 6, 7 phút rồi buông ra. Bây giờ, coi như đã trèo lên lưng cọp rồi. Đàng nào cũng thế, không tiến tới không xong. Tôi vuốt lại đầu tóc, quần áo, đi cả đôi dép râu của y, tôi đường hoàng mở cửa tiến ra ngoài.
Tên này không có mũ, tôi phải cần có một cái mũ nữa mới giải quyết được. Tôi vừa ra khỏi buồng, liếc nhanh toàn bộ sân giàn nho và cổng Hỏa Lò. Nhìn về phía trái, tôi thấy hành lang sâu hút, có lẽ là khu nhà của bọn công an vũ trang. Đầu không có mũ, ra cổng dứt khoát không ổn. Bằng mọi giá, phải kiếm được một cái mũ. Tôi liếc mắt nhìn chiếc xe đạp vẫn dựa vào tường phía ngoài buồng, chiếc khóa dây đeo ở ghi đông, không khóa vào xe. Có lẽ tên Hạ đã nghĩ đây là trong Hỏa Lò làm gì có ăn cắp. Nhưng, điều đó cũng nói lên là y không có chủ trương gặp tôi lâu. Tôi đành lần vào khu nhà của công an vũ trang để tùy cơ kiếm một cái mũ.
Phải làm nhanh, làm lẹ. Lúc này đã gần bốn giờ chiều. Để tới năm giờ là sự việc sẽ đổ bể. Giờ tan tầm, tụi cán bộ trực nhìn sổ, thấy còn tôi đi cung chưa về, sẽ phải báo cáo, và từ đấy phải đến phòng tôi đi cung…..
Thấy một cánh cửa khép hờ, tôi lại gần, nghe ngóng, liếc vào bên trong, yên ắng. Tôi đẩy nhẹ, thì ra đây là chỗ rửa mặt và giặt giũ của bọn công an vũ trang. Nhìn lướt qua một lượt không có cái gì tôi cần. Mãi chỗ góc treo nhiều khăn mặt, có một cái mũ nồi đen, tôi tiến nhanh đến, chộp lẹ. Cái mũ đã thủng một lỗ phía sau. Nhìn chéo phía trước mặt, tôi thấy một cánh cửa nữa, cũng chỉ khép hờ. Tay vẫn cầm chiếc mũ nồi, tôi tiến về phía cánh cửa đó. Ghé mắt liếc vào, nghe thoáng có tiếng ngáy nhè nhẹ. Có lẽ phòng ngủ của đám công an vũ trang. Có thể có những tên trực đêm, nên đang ngủ ngày. Như vậy, biết đâu trong buồng cũng có kẻ thức? Tôi muốn gắng kiếm một cái mũ cối của công an, nhưng nếu khó khăn quá, đành dùng cái mũ nồi này vậy. Có còn hơn không. Có mũ, mới che bớt được bộ mặt, chắc là gầy và xanh tái, của tôi. Hơn nữa, nhớ gặp cán bộ quen mặt, chúng khó nhận ra. Thử xem sao? Tôi nghĩ vậy và khe khẽ, từ từ đẩy cánh cửa đang khép hờ đó ra. Tôi giật thót người! Ngay cạnh cửa, một tên công an mặc áo may ô, da trắng hồng, đang ngồi qua lưng ra, lúi húi viết trên một cái rương màu xanh. Quá căng thẳng, tay tôi nhè nhẹ kéo cánh cửa lại như cũ. Hú vía, nếu hắn quay mặt ra thì…..
Thôi, không thể kiếm mũ được rồi. Thời gian trôi qua, cấp bách lắm rồi, tôi không được phép chần chừ nữa. Lùi qua phòng rửa mặt, tôi trở ra. Lúc này, tôi đành đội cái mũ nồi lên đầu. Về tới phòng cung, cửa vẫn đóng như trước, tôi đẩy nhẹ, vào lấy cái cặp khi nãy tôi để ghệ vào chân tường, bên trong buồng. Tên Hạ vẫn nằm một đống, căn buồng nồng nặc mùi phân. Ra khỏi buồng, tôi khép cửa lại.
Vừa đặt tay vào chiếc xe đạp, định buộc cái cặp vào yên hành lý phía sau xe, mắt tôi chợt thoáng thấy tên Thế “mũi cà chua” đang từ giữa vườn hoa tiến về hướng tôi. Tôi vội vàng nghiêng người đi, như đang tập trung trí óc vào việc buộc cái cặp. Một luồng lạnh chạy từ dưới lưng lên gáy tôi. Qua kẽ nách, tôi thấy đôi dép râu và hai ống quần màu vàng, đang chậm chạp tiến sát lại gần. Tôi thoáng lên một quyết định trong óc. Được, hôm nay, có gì, tôi sẽ cùng chết với tên “mũi cà chua” này. Tôi vẫn bầm gan tím ruột vì trận đòn phủ đầu của nó ở Hỏa Lò, hơn hai năm về trước với tôi. Đôi dép râu và hai ống quần kaki màu vàng đã đến gần hơn, còn cách sau lưng khoảng chừng 7 – 80 phân thì ngừng lại, như ngập ngừng do dự một lúc. Chân trái tôi đã hơi chùn xuống và bàn tay phải nắm chặt lại, sẵn sàng. Nhưng, hai ống quần vàng lại rẽ đi vào phía nhà ngủ, của công an vũ trang. Một hơi thở nén từ nãy bây giờ từ từ xì ra, tôi nhẹ hẳn người. Muốn hay không muốn, lúc này tôi phải tiến ra cổng rồi.
Thường ngày, hai cánh cổng lớn Hỏa Lò ở giữa, to như cổng thành, vẫn đóng, chỉ trừ khi có xe ô tô ra vào đặc biệt, mới mở. Còn như bình thường, tụi cán bộ làm việc ra vào, sẽ đi hai ngách cổng nhỏ ở hai bên cửa chính. Mỗi bên, đều có một bàn xét giấy tờ, và một công an vũ trang bồng súng gác phía ngoài. Chiếc ngách cổng này là một lối đi rộng chừng 1m rưỡi, dài chừng 8m bằng bề ngang của chiếc cổng. Bên trên cổng là căn lầu nhiều buồng, xây kiên cố, để bọn giám thị và cán bộ ở. Với lối đi hẹp như vậy, nếu có hai chiếc xe đạp cùng ra vào một lúc, một chiếc phải ngừng lại, nép sát phía tường, nhường cho chiếc kia đi, rồi chiếc này mới đi được.
Dắt chiếc xe đạp từ từ về phía cổng, tôi hơi băn khoăn là khi đi qua bàn giấy, có phải cán bộ nào cũng phải trình giấy, hay chỉ người lạ. Vì vậy, tôi dừng lại, vờ cúi xuống sờ sờ, mó mó lại cái má thắng của bánh trước, trong lúc tiến chậm về phía cổng, chờ mấy tên cán bộ đi ra vào để quan sát. Thực ra, đứng ở đây rất nguy hiểm, lỡ bất ngờ có cán bộ quen mặt ra vào, thì chỉ có nước…..độn thổ. Nhưng khốn nổi, tôi lại chưa biết gì về cách ra vào trình giấy tờ…Thật may, nếu không dừng lại để theo dõi, chắc chết. Một số cán bộ đi ra (tất nhiên là lạ) đều ghé vào bàn giấy để lấy tấm thẻ, chắc lúc vào đã phải gởi. Bây giờ, tôi lại lo lắng điều khác, nếu tên cán bộ ngồi ở bàn giấy quen với tên Đỗ Đình Hạ này, việc sẽ đổ bể ra ngay. Nhưng, dù nguy hiểm đến đâu, đã ngồi trên lưng “ông ba mươi” rồi, tôi không còn cách chọn lựa nào khác.
Tôi đường hoàng dắt xe tiến tới chỗ bàn giấy. Tên cán bộ ngồi ở bàn giấy chừng 28, 30 tuổi, trông hơi quen quen mặt, hình như tôi đã có lần thoáng thấy y, những khi trên đường đi cung thì phải. Nhưng, lúc này, tôi không thể nhớ ra được. Và, hy vọng là y cũng không thể nhớ ra mặt tôi!…..
Khi tới gần bàn, y ngẩng mặt lên nhìn tôi quan sát. Tôi tươi mặt tình cảm:
– Chào đồng chí! Tôi, Đỗ Đình Hạ!
Y nhìn tôi, mắt y mở to, thoáng vẻ như ngỡ ngàng. Tôi cũng thấy nóng hai bên má, ngực tôi ngứa ran lên. Im lặng và nặng nề. Tôi phải phá tan cái không khí này, vừa cười, tôi vừa nói như ca thán:
– Tôi tưởng chỉ một giờ, thế mà kéo dài gần ba tiếng!
Giữa lúc đó, có hai tên cán bộ dắt xe đạp từ ngoài cổng đi vào, phải dừng lại một bên chờ vì vướng xe tôi. Tên cán bộ ngồi bàn giấy đưa tay lên cái khay xếp nhiều tấm thẻ, lật vài tấm, rồi cầm một cái lên,mở ra coi. Trước khi đưa cho tôi, y còn nhìn tôi như ngập ngừng định hỏi gì lại thôi. Tôi cầm tấm thẻ, cười với y, rồi dắt xe tránh lối cho hai chiếc xe đạp kia vào.
Trời đã đầu Thu mà trán tôi cũng rướm mồ hôi. Đây là cửa ải sinh tử! Nếu tôi qua được, ra khỏi cổng Hòa Lò, coi như thoát 80-90%.
Tôi phác một viễn ảnh sơ khởi trước mắt: để đánh lạc hướng điều tra, lùng sục của công an vì chúng sẽ đặt trọng tâm hướng đi của tôi là về Nam, hoặc hướng Tây để sang Lào, vậy tôi sẽ đi ngược lại về hướng Bắc. Sau đó, tìm cách bán chiếc xe đạp, nằm lì một thời gian, rồi tìm thời cơ ăn cắp một giấy tờ khác, tùy theo điều kiện mới ìm về hướng Nam.
Trước cổng Hỏa Lò, tôi đã thấy con phố hẹp và vắng. Liếc thoáng tên cán bộ vũ trang đang đứng gác, nét mặt y trẻ măng, chừng 20 tuổi. Nhìn từ phía sau, tôi thấy đầu tóc y cắt ngắn ngủn và nhọn hoắt lên, như trái bưởi Biên Hòa. Khẩu CKC đeo ở vai y chúc mũi xuống. Chiếc báng súng lắc lư theo nhịp điệu bàn chân y, đang đập đập xuống nền hè. Mắt y hình như đang lơ đãng nhìn mấy cây sấu phía bên kia phố. Lúc tôi dắt chiếc xe đạp ngang qua y, y mới xoay người đưa mắt nhìn tôi, ánh mắt vẫn còn lờ đờ như vừa đắm chìm, trong một giấc mộng dài. Tôi hơi tuơi nét mặt, nhếch mép mỉm cười với y. Môi y cũng cong lên, ngọ nguậy một cách ngờ nghệch thụ động, để đáp lại nụ cười của tôi.
Bất chợt, bánh sau chiếc xe đạp tôi đang dắt, nẩy lên một cái từ trên hè xuống dưới đường, chiếc dây xích tuột ra. Đúng lúc đó, từ phía bên kia đường, tên Lê phó giám thị và tên Điền coi nhà tiếp tế đang ngồi trên hai chiếc xe đạp rẽ sang cổng Hỏa Lò. Không kịp tránh nữa rồi! Cả hai tên đang cười đùa gì đấy, bỗng im bặt. Tôi xoay nhanh mặt về phía tên công an vũ trang đang gác, cũng còn kịp thấy hai cặp mắt cú vọ của chúng mở to nhìn tôi.
Căng thẳng và hồi hộp. Nếu tôi cúi xuống lắp xích xe, chắc chắn chúng sẽ đến hỏi để xem kỹ mặt tôi. Nếu cứ để tuột xích dắt xe đi ra cổng, chúng có thể càng nghi ngờ hơn, đuổi theo hỏi. Thần kinh tôi như tê dại đi mấy giây đồng hồ. Đành quyết định dắt chiếc xe đạp tuột xích đi.
Không xong rồi, một tiếng gọi rổn đanh lên của tên Lê, như ra lệnh:
Hồn tôi còn đang bập bềnh, nổi trôi, dập dờn giữa nửa trong là mộng, nửa ngoài là …xà lim, bỗng nhiên cửa sổ nhỏ xịch mở. Tôi giật mình, lúc này đã hết giờ làm việc chiều rồi, chẳng lẽ gọi đi cung? Có tiếng xọc xạch, rồi chốt cùm được rút ra, giọng tên Lê, Phó Giám Thị, rành rọt từ phía cửa sổ nhỏ:
– Anh có cái gì mang hết đi!
Tôi hơi ngỡ ngàng, nhưng chợt hiểu ngay là mình chuyển xà lim. Tôi vội vàng chấn chiếc cùm, rút chân ra, trong khi nghe tiếng mở khóa cửa lớn.
Tôi chẳng có cái quái gì, ngoài một bộ quần áo sọc tù đã sắp mục; chiếc ba lô cũ, vật kỷ niệm của anh Hoàng Hùng; chiếc túi con nhiều màu đựng ít giẻ rách và các thứ lặt vặt. Tôi ôm gọn tất cả trong tay, tiến ra cửa, dạ băn khoăn chẳng hiểu chúng còn đẩy tôi đến xà lim nào nữa đây? Thân mình, bây giờ có còn là của mình nữa đâu, mặc cho sóng đời dập vùi, đẩy đưa. Tôi đang bần thần ngơ ngác, tên Lê đã ra hiệu tay, hất vào phía trong xà lim:
– Vào trong kia!
À, thì ra chỉ chuyển buồng thôi; vậy mà cứ tưởng đưa người ta đi đâu. Tôi vào xà lim I đã 5, 6 tháng rồi, nhưng chỉ ở buồng số 3 phía ngoài này, nên những lúc đổ bô, lấy cơm, đôi khi liếc mắt nhìn sâu vào trong, tôi chỉ thấy mờ mờ, hun hút chẳng thấy rõ các buồng. Hơn nữa, như đã nói trên, lúc ấy ngày cũng như đêm, tôi chỉ ngụp lặn trong nỗi sầu tê tái của người sắp tìm tới cái chết, nên tôi đâu cần biết đến những gì xảy ra chung quanh tôi.
Đến trước buồng số 6, y mở khóa rồi mở cửa buồng đồng thời, y cúi xuống rút chốt cùm phía bên phải.
Buồng số 6 hơi chéo nên trông có vẻ rộng hơn các buồng khác vài chục phân. Sau khi tên Lê chốt cùm, khóa cửa và đã đi rồi, tôi ngước mắt nhìn toàn bộ căn buồng.
Vì theo hình thể của Hỏa Lò, nên xà lim I giống như hình một chữ “V” giãng.
Tôi đang lúi húi dùng chiếc chiếu con, và lựa thế xoay cái chân trong cùm để phủi bụi bẩn trên sàn xi măng, đột nhiên một giọng đùng đục cất lên ở buồng số 12:
– Anh bạn ở số 3 chuyển vào đấy à? Anh có khỏe không?
Tôi mở mắt to ngạc nhiên, phán đoán:
– Ai đây? Sao họ bạo thế! Chắc anh này cũng phải nắm vững được tụi cán bộ ra vào, nên mới đường hoàng nói năng như vậy.
Nghĩ như thế, tôi cũng lên tiếng:
– Cảm ơn anh, tôi bình thường! Anh ở 12 hả?
– Tôi ở 12 đây!
Rồi như ngập ngừng dè dặt, anh hỏi tiếp:
– Mấy tháng trước, anh có chuyện gì buồn, phải tự tử? Hôm đó, tôi tưởng anh đi rồi. Đêm ấy, cán bộ tụi nó chạy ra vào huỳnh huỵch ấy!
Đột nhiên, một giọng ong ỏng, trọ trẹ tiếng miền Nam, ngay phía phải sát buồng tôi:
– Đ. má, chết làm gì! Các em thơm như múi sầu riêng để cho ai?
Tôi cau mặt. Tên số 7! Thật là cộc cằn lỗ mãng! Không biết y tội gì? Ngay khi tôi còn ở buồng số 3, thỉnh thoảng vẫn thoáng nghe tiếng hắn om sòm ở phía trong này. Tôi không trả lời hắn và quay sang buồng số 12:
– Anh 12 khỏe không?
– Khỏe thôi. Vụ án tôi 15 tháng này xử rồi! Chưa biết ra sao?
Vì tôi bị cùm chân, không đứng lên được để nắm rõ tình hình, nên tôi e dè hỏi chuyện:
– Này anh bạn 12! Anh có quan sát được cán bộ ra vào không, mà nói chuyện đường hoàng thế?
Tiếng xìn xịt cười:
– Anh yên tâm, tôi đã ở xà lim hơn 5 năm rồi. Tôi đã là vua xà lim, chúng nó, thằng nào ra vào tôi biết hết. Hễ khi nào tôi ho thì đừng nói nữa.
Tôi giật mình ngỡ ngàng. Chà! Anh này tội gì mà ở xà lim lâu thế! Không thể kìm được sự tò mò, tôi hỏi:
– Anh bị bắt về tội gì?
– Hoạt động tình báo!
Tôi choáng người, hỏi tiếp:
– Bị bắt từ bao giờ?
– Đầu 1959.
Trong lòng tôi nôn nóng băn khoăn, phải chăng đây là một đồng chí, một đồng nghiệp của tôi? Tôi vội hỏi để thăm dò:
– Anh ở đâu?
– 80 Quan Thánh, chỗ cửa hiệu sửa xe đạp ấy!
Ủa! Như vậy là thế nào? Anh này là ở miền Bắc, vậy tội tình báo của anh là sao đây? Giữa lúc đó, tiếng ho của anh nổi lên. Xà lim trở lại im lặng, tôi vểnh tai nghe ngóng. Quả thật có tiếng động, rất nhỏ ngoài sân, lẫn với tiếng xào xạc của những chiếc lá bàng khô. Rồi tiếng mở từng cửa sổ con mỗi buồng. À, cán bộ đi kiểm tra. Đến buồng tôi, tôi cố nhìn xem tên cán bộ nào, nhưng cửa nhỏ mở ra đóng vào rất nhanh, nên tôi không kịp thấy rõ đó là ai.
Một lúc lâu, tiếng lá bàng lại khua động ngoài sân. Chắc rằng trong lòng anh số 12 cũng nôn nóng muốn hỏi chuyện tôi, cho nên tên cán bộ vừa ra, anh đã lên tiếng:
– Anh số 6 tên gì?
– Bình! Còn anh?
– Căn! Nguyễn Văn Căn!
– Anh có đồng vụ không?
Số 7 lại ông ổng giọng miền Nam:
– Chỉ có tôi với thằng chó đó một vụ thôi!
Như vậy, từ nãy, số 7 vẫn lắng nghe tôi với anh Căn nói chuyện. Đột nhiên, số 7 đổi giọng ỏn ẻn:
– Em Hương ơi! Đêm nay, trời đẹp như thơ, sang đây nằm với anh, anh sẽ cho em hạnh phúc tuyệt vời!
Tôi biết là buồng số 9 ở trong cùng, phía cuối dẫy, có hai cô gái. Nhưng, tôi vẫn ngạc nhiên không ngờ tên số 7 lại thả những lời thô lỗ như vậy. Tên số 7 vẫn tiếp tục:
– Người đẹp của anh ơi! Trong suốt hai tỉnh Châu Đốc và Hà Nội này, em cứ hỏi một đứa nhỏ nào, có cũng biết Long Châu Sa này là ai. Anh đã đạp trời, khuấy nước. Lấy anh, em sướng cả đời. Của anh, lại thuộc loại ngoại cở, em sẽ phải rú lên vì sướng.
Rồi như để tán thưởng cho những lời tán tỉnh ấy, y cười lên sằng sặc, chân y đạp xuống sàn xi măng thình thình.
Xà lim vẫn yên ắng, không một tiếng ai trả lời, trong khi tôi mở to mắt ngạc nhiên: Tại sao lại có cảnh này trong xà lim? Thằng này thật đểu cáng, như một tên côn đồ vậy. Có thể vì nó ở xà lim lâu ngày quá, tinh thần ức chế, nên như một tên điên khùng chăng? Tên số 7 lại lên tiếng, giọng rè rè như say rượu.
– Em Hương, em không trả lời anh một câu thì anh không ngủ được, anh sẽ không cho buồng nào ngủ hết. Ngày mai, là ngày tắm giặt, anh sẽ quệt phân vào đôi đũa của em, và quần áo của em phơi ở ngoài sân!
Đang bực tức y, tôi cũng phải mỉm cười. Cũng có vài tiếng xìn xịt ở các buồng chung quanh. Tôi hiểu là nó đe dọa, nhưng cũng có thể nó làm được, khi nó là một tên không còn là một con người nữa. Có lẽ buồng số 9 cũng nghĩ vậy, nên một giọng nữ cất lên, nghe như tiếng khánh, tiếng ngọc chạm nhau:
– Số 7 ngủ đi!
Giọng ồng ộc như con heo của số 7 ré lên:
– Ồ, ồ, công nương đã lên tiếng! Xin đa tạ, bỉ nhân đêm nay sẽ ngủ ngon lành.Và xin chấp hành mệnh lệnh của công nương.
Vài tiếng xì xí. Bản thân tôi cũng phải nhếch mép. Chẳng hiểu số 9 tội gì? Tôi chỉ nhớ ang áng hai cô vào xà lim từ hơn một tháng nay.
Trong thâm tâm lúc này, tôi cũng còn muốn hỏi tiếp chuyện với anh Căn để sáng tỏ về vụ án của anh. Nhưng vì chân bị cùm, tôi không chủ động được, phải tùy thuộc vào số 12. Xà lim vẫn vắng lặng, khí hậu hanh hanh dìu dịu, thoảng vài hơi heo may nhè nhẹ đẩy mùa Thu về. Đêm Thu, ngoài trời chỉ biết có trăng không? Hôm nay là ngày bao nhiêu của Âm lịch, tôi cũng không biết. Tôi đang triền miên mong chờ anh 12 lên tiếng để nối lại chuyện cuộc đời đang bỏ dở, đột nhiên tiếng ngọc buồng số 9 lại khua lên:
– Số 6 vì sao bị bắt?
Tôi hơi bâng khuâng hướng về số 9, nhưng im lặng. Xà lim lại chìm vào hoang vắng, chẳng nghe thấy cả tiếng ho. Tôi hiểu, nếu có buồng nào được ra sân phơi áo, lượt buồng phía ngoài từ số 9 đến số 14 nếu tinh quái đoán được vị trí của cán bộ đứng, có thể đứng lên sàn để nhìn ra sân và thấy rõ được người ở ngoài. Vì thế, cũng có thể những ngày trước đây khi tôi ra sân phơi quần áo, họ đã thấy tôi rồi chăng, cũng như họ có thể đã nhìn được khắp lượt các buồng rồi. Cả anh Căn buồng 12 cũng vậy, hẳn cũng đã tò mò.
Cũng có nhiều tên cán bộ rất tinh quái, nhất là tên Chiến. Y thường đứng ở bàn trực nhìn theo người ra sân phơi quần áo. Nếu người đứng phơi, lại đưa mắt nhìn về phía cửa sổ các buồng thì qua thái độ, y cũng có thể biết được buồng nào đã đứng lên nhìn ra sân. Khi đã nghi rồi, y sẽ rình bắt. Lần sau, cũng buồng ấy ra, y sẽ đi vào trong theo dõi qua khe hở của cửa sổ nhỏ, nếu người trong buồng nhấp nhổm đứng lên là chết ngay với y.
Những tháng trước, dù không để ý, tôi cũng đã nghe thấy mấy buồng bị bắt cùm rồi. Nhưng, trừ có buồng 12, tôi chưa thấy anh ta bị bắt lần nào. Đây cũng có thể coi như một cuộc đấu trí nhỏ. Anh nào quái hơn, anh đó thắng.
Mãi gần một tiếng đồng hồ sau, buồng 12 lại lên tiếng:
– Số 6 ngủ chưa?
– Chưa, anh ạ. Bây giờ mới khoảng chín giờ chứ mấy!
– Anh bị bắt vì tội gì mà bị cùm?
Tôi thấy nói ở đây lại có nhiều buồng khác cùng nghe, rất bất lợi. Do đó, để khỏi rắc rối về sau, tôi trả lời:
– Đi tìm tự do! Lúc bị vây hắt, tôi đã đánh nhau với cán bộ nên bị họ cùm!
– Lúc chưa bị bắt, anh làm gì!
– Giáo viên cấp II.
– Ở đâu?
– Phủ Lý.
Để chuyển ý, tôi chủ động hỏi về anh:
– Số 7 với anh cùng vụ?
– Cùng vụ!
– Vì sao bị bắt?
– Tại thằng Long Châu Sa giết một đứa bé 12 tuổi ở Hàng Bạc, để đậy miệng nó lại. Vỡ lở nên bị vồ!
– Gia đình anh cũng ở 10 Quan Thánh?
– Đấy là nhà bố mẹ vợ…..Tôi đã có 2 cháu.
– Năm nay, anh bao nhiêu tuổi?
– 33.
– Tình báo của các anh là do miền Nam, hay thời Pháp còn lại?
Im ắng một lúc, có lẽ anh ta đắn đo trả lời, hoặc anh thoáng nghe hiện tượng có cán bộ vào. Mãi sau, anh mới nhỏ nhẹ, nói vừa đủ buồng tôi nghe:
– Từ trước 1954 cài lại. Chúng tôi có liên quan đến Trần Minh Châu, tức Cập.
Tôi thót người lại, hỏi kỹ thêm:
– Tôi tưởng Trần Minh Châu đã xử năm 1958 rồi?
– Anh Cập bị xử tử rồi, chuyện về sau mới vỡ.
– Còn hơn một tuần nữa xử các anh. Vậy các anh có đoán, các anh sẽ bị bao nhiêu năm không?
Như dè dặt, cân nhắc, một lúc sau anh trả lời:
– Tôi, nhẹ thì 15 năm, nặng thì 20 năm. Còn số 7, nhẹ từ 10 đến 12 năm, nặng thì 15 năm.
Để có ý niệm về vụ mình, tôi hỏi tiếp:
– Vì sao họ giam lâu thế, các anh có bị cùm không?
– Vì có nhiều rắc rối! Điểm chính là anh Cập đầu vụ đã chết rồi, nên chúng nó khó điều tra. Chúng nó cùm tôi gần 2 năm trời, bán sống, bán chết, tôi đã phải bò lê, bò càng, chân của tôi bị xuội mấy tháng trời. Nếu không có vợ tôi tiếp tế, thuốc men, tôi đã sống không được.
– Thế, số 7 thì sao?
– Ồ, cái thằng đó, cán bộ tập kết đấy, nhưng là loại lưu manh giở, anh thấy nó vơ vét nịnh bợ cán bộ…
Đột nhiên, buồng số 7 gầm lên:
– Đ. M mày, thằng Căn, thằng con heo ghẻ! Mày tốt đẹp lắm đấy!
Thế là im lặng luôn. Xà lim chìm sâu vào đêm Thu với nhiều nỗi đầy vơi, khắc khoải của mỗi buồng. Tôi lại miên man suy nghĩ! Chợt nhớ lại trước đây, khi tôi còn giam chung với tên Tân ở xà lim II, có lần Tân nói đến một vụ gián điệp, đã giết một đứa bé ở Hàng Bạc. Vụ này đã làm xôn xao cả Hà Nội lúc ấy, không ngờ bây giờ là đây. Phải, có như vậy tôi mới khỏi băn khoăn thắc mắc, khi nghe “12” là gián điệp tình báo.
Với sự hiểu biết của tôi, tụi chấp pháp và cán bộ Hỏa Lò cũng thừa hiểu, dù nội quy nghiêm khắc, cán bộ xà lim báo cáo theo dõi tốt; nhưng những lúc sơ hở, những giờ khuya khoắt, làm sao chả có lúc bị can liên lạc với nhau. Vậy, chỉ những bị can nào xét ra vô hại với nhau, hoặc nếu có cũng không đáng kể, chúng mới cho giam chung một xà lim mà thôi. Từ ý nghĩ này, tôi tin chắc tôi khó có thể gặp một đồng chí, một đồng nghiệp cùng ở miền Nam ra, trong thời gian chúng còn đang thẩm tra cung tôi.
Sáng hôm sau là ngày tắm giặt! Khi đến buồng tôi tắm xong, tên Chiến ngồi ở bàn quát:
– Ra đi!
Ở xà lim ai cũng hiểu là khi đổ bộ, hoặc tắm xong rồi, nếu muốn ra trước khi cán bộ giục, phải báo cáo: “Báo cáo, nhà tắm xong!”. Nếu cho ra mới được ra, còn không phải đợi. Vì, đợi khi có buồng khác ra vào, đi cung chẳng hạn. Khi tôi ôm bô với quần áo đã giặt qua bàn y, tôi báo cáo:
– Báo cáo, cho phơi quần áo?
Mỗi buồng 15 phút (tắm), 10 buồng 150 phút, lại còn lấy cơm, trả bát, như vậy gần hết buổi sáng. Vì thế, để nhanh, khi buồng này báo cáo phơi, y đứng dậy mở cho buồng khác ra. Do đó, buồng ra sân, khi phơi xong, cũng phải báo cáo vào, vì sợ gặp người ở trong đang đi vào nhà tắm.
Ra sân, trong khi phơi quần áo, tôi nhìn trên chiếc dây phơi, thấy ngoài một số đồ trại vải sòng sọc, và một số quần áo tư của nam giới, lại còn mấy quần áo phụ nữ ở trong góc. Tôi chợt liếc lên, thấy buồng số 9 và 12 đang đứng lấp ló chỗ cửa sổ rồi. Tôi phải cảnh giác tên Chiến, nếu nó đi vào trong, tôi sẽ lập tức ra hiệu cho 2 buồng đó ngồi xuống.
Trong buồng nhìn ra sân thì rất rõ, vì từ tối nhìn ra sáng. Ngược lại, từ ngoài sân nhìn vào, vì qua một lượt lưới thép nên trông không rõ lắm, mặc dù cửa sổ khá to. Tuy vậy, tôi cũng thấy bóng trong buồng 12 có bộ mặt tròn trịa, đầu tóc hớt cao, nhọn hoắt, dạng người mập tròn. Còn bên buồng số 9, cả hai cô đều đứng lên, một cao, một thấp. Tôi đoán, có lẽ cô Hương là cô cao, có mớ tóc dài, bộ mặt trái soan. Cả hai cô cứ rối rít vời như chào tôi. Để giữ cho các cô, tôi không tỏ thái độ gì vì biết tên Chiến, đang đứng chỗ bàn trực nhìn về phía mình.Tôi đang đứng quay lưng về phía hắn, tay vẫn vờ sờ sờ, kéo kéo quần áo ra trên đây, y không thấy mặt tôi, và tôi cũng không dám cử động cái đầu quay về phía các cô. Chỉ dám cười, như để đáp trả những cái vời của các cô.
Vào trong buồng, tôi cũng thấy bâng khuâng, lòng nao nao vui. Giữa chốn tù đày cùng khổ thế này, mà tình người vẫn nồng đượm chơi vơi. Ngay chiều hôm ấy, khi trả bát, tôi xin ra ngoài sân lấy quần áo phơi, buồng số 9, hai cô cũng đứng lên. Họ dũng cảm thật, không sợ cùm! Nhưng, cũng chỉ là nhìn nhau thôi, chứ nói chuyện hỏi thăm nhau làm sao được…..
Tối hôm ấy, cán bộ trực là tên Điền, người vẫn phụ trách phòng tiếp tế. Tên này có tính ít đi “tua”, và cũng không hay rình rập, thường kiểm tra xong là đi đâu mất, có thể lại ra phòng trực ngoài trại chung, ngồi đấu láo với nhau bên ấm trà cho đỡ sầu đêm Thu. Theo tôi hiểu, một ca trực đêm các khu trong Hỏa Lò, gồm cả trại chung, xà lim và cơ quan, cũng chỉ 4, 5 tên công an; còn vũ trang đi tuần phòng và canh gác bên ngoài thì không kể. Cho nên, chúng nó cũng buồn. Ca sau lại 4, 5 tên khác. Hơn nữa, Ban Giám Thị cũng như cán bộ thường ở ngay những dãy nhà phía cổng Hỏa Lò. Do đấy, có chuyện gì đột xuất, chúng vẫn có đầy đủ người để giải quyết.
Mới từ hôm qua đến nay, để ý, theo dõi, tôi đã nắm được toàn bộ số người trong xà lim (tất nhiên, cũng nhờ có sẵn kinh nghiệm của hơn 2 năm nằm xà lim nên mới vững nhanh như vậy). Tổng số: 17 người. Có 7 người cùm một chân; chia ra: Buồng số 1, một người; buồng số 2, không người; buồng số 3, 2 người, một bị cùm một chân; buồng số 4, 2 người; buồng số 5, 1 người; buồng số 6, là tôi; buồng số 8, 2 người, cả hai bị cùm một chân; buồng số 8, 2 người; buồng số 10, 1 người; buồng số 11, 1 người, bị cùm một chân; buồng số 12, 1 người; buồng số 13, không có người; và buồng số 14, 2 người, một người bị cùm một chân.
Tôi thắc mắc, không hiểu tại sao hai buồng số 2 và số 13 luôn luôn không mở cửa đến. Nhưng, thỉnh thoảng vào những ngày Chủ Nhật, lại có hàng đoàn người, cả đàn ông đàn bà vào ra im lìm trong buồng này. Như vậy để làm gì?
Giữa lúc này, số 12 lên tiếng:
– Số 6 quê ở đâu, hở anh bạn?
– Hà Nội!
– Năm nay bao nhiêu tuổi?
– 26
Bỗng buồng số 9 lên tiếng, giọng ngập ngừng:
– Số 6 chỉ có quần áo trại, vậy ra không không có người tiếp tế à?
Chà cô này để ý thật, tôi cũng mềm dẻo cho qua:
– Cảm ơn sự quan tâm, vì một lý do riêng, tôi không có người tiếp tế!
– Thế bị bắt đã lâu chưa?
Tên Long Châu Sa bỗng hộc lên như con lợn nái đòi ăn:
– Công nương của tôi hôm nay nói nhiều quá! Em có biết không? Nghe giọng em nói, anh muốn tụt quần ra thôi!
Thật là bỉ ổi. Tôi lờ đi, quay sang 12:
– Này, 12 ơi! Anh có biết buồng số 2 và 13 chúng để làm cái gì không?
– Ồ, tôi đã ở xà lim này hai năm rồi, năm ngoái, khi ông Vân còn trực ở đây, thấy tôi tù lâu xà lim, nên thỉnh thoảng chiếu cố cho tôi ra quét dọn. Có lần, tôi phải lấy nước dội rửa và quét hai buồng ấy. Theo chúng nói, thời Pháp thuộc, buồng số 2 là chỗ giam Hoàng Văn Thụ, và buồng số 13 giam Trần Đăng Ninh. Bây giờ, chúng để hai buồng đó lại làm lưu niệm. Thỉnh thoảng có các phái đoàn ở các tỉnh, cũng như các cơ quan vào thăm để thấy cái…dã man, tàn ác của thực dân Pháp.
Đột nhiên, buồng số 7 ư ử rên, gọi số 10:
– Anh bạn số 10, ngày mai là Chủ Nhật, cán bộ khác trực, không phải ông Chiến là được rồi, anh báo cáo, có ít thuốc lào muốn cho cái thằng Căm Pu Chia điên khùng này nhé! Tôi biết anh bạn có nhiều thuốc lào. Tôi lại hết rồi, 5 năm nay không ai tiếp tế cho cả. Anh bạn nhớ nhé “bố thí” nhé!? Nếu không, tôi bảo đảm với bạn là đũa và bát cơm của bạn thế nào cũng có phân!
Thật đúng là một tên vô liêm sỉ. Tôi nghĩ rằng, loại người như tên Việt gốc Căm Pu Chia này, ở bất cứ một chế độ nào, hay một tập thể nào, cũng chỉ đập phá, làm ung thối tập thể hoặc chế độ đó mà thôi. Vậy tại sao, nó lại là cán bộ tập kết ra Bắc? Rồi màng lưới tình báo của Trần Minh Châu tức Cập lại thu nhận những con người như vậy, dù cho là chỉ với tính cách giai đoạn? Nó là loại “mất nhân tính”, không có cách gì cải hóa được, sớm hay muộn nó cũng phản; như một con chó mà cắn lại chủ, chủ nào nuôi?
Ngày hôm sau, trực xà lim lại là tên Nhiễm. Đã lâu rồi, từ hôm tôi tự tử, bây giờ tôi mới lại trông thấy y. Tên này rất nghiêm và khó tính. Thế mà, buồng số 7 vòi vĩnh, nịnh bợ thế nào không biết, tên Nhiễm đã hỏi số 10, có thuốc lào hãy cho thằng khốn nạn ấy một ít. Thực ra, nếu ai có thuốc lào, cũng không hối tiếc gì đối với một người bạn tù; nhưng đâu dám báo cáo cho buồng khác. Như vậy, các anh đã liên lạc với nhau khi vắng cán bộ à? Nếu không, làm sao biết buồng kia hết thuốc lào? Nhưng, có lẽ riêng tên Căm Pu Chia mất gốc này, ai cũng thấy nó chẳng có chính “chị”, chính “em” gì cả, mà chỉ là loại “chính ăn” hay “lưu manh chính trị”. Cho nên, hầu như tên cán bộ nào cũng có đôi chút dễ dãi với nó. Còn mọi người đồng phạm trong buồng thì coi nó như người hủi, không một ai muốn dây.
Tôi chợt nghĩ, nếu đây là một phương pháp đóng kịch tuyệt hảo của y thì sao? Có như vậy mới qua mặt được hết mọi người. Suy nghĩ, và nhận thức về một con người mà mình ít nhiều tiếp xúc (tôi đã có một số kinh nghiệm nghiệp vụ, qua nhiều thực tiễn, đến giai đoạn là “ngửi” vấn đề), chủ quan, tôi thấy y là một tên vô lại từ bản chất. Dù vậy, tôi chưa khẳng định, còn đợi thời gian và sự việc để bổ sung cho nhận thức của tôi thêm bén nhậy sau này.
Chả bao lâu đã tới ngày 15. Ngay từ sáng sớm, tên Chiến trực xà lim chưa đến, đã thấy có mấy tên cán bộ lạ vào, mở buồng số 7 và 12 dẫn đi.
Mãi tới 12 giờ, hai buồng mới về. Tôi rất nóng lòng muốn biết họ bị xử bao nhiêu năm. Có lẽ, một số buồng khác chung quanh cũng cùng có một tâm trạng như tôi. Lúc này đang là giờ trưa, nhiều lần tôi định lên tiếng hỏi thăm buồng 12 mà cứ ngập ngừng không dám, vì tôi chưa nắm chắc được là cán bộ tinh quái (như tên Thế “mũi cà chua” chẳng hạn) giả vờ nặng chân đi ra cổng, đóng cửa nghe đánh thình một cái, nhưng y lại chưa ra, rón rén trở vào, đứng yên chờ nghe các buồng nói chuyện. Buồng nào chủ quan không để ý kỹ, ôi thôi lại đặt chân vào “cạm”. Cũng có tên, theo kiểu ngồi lì như tên Chiến, y để một cái ghế giữa hai dẫy buồng xà lim, rồi ngồi im đọc sách, hàng mấy tiếng đồng hồ. Buồng nào đứng lên nhìn cổng, rồi nghe ngóng mãi không thấy động tĩnh, hiện tượng gì tỏ ra là có cán bộ ở trong, tưởng là an toàn, bấy giờ lên tiếng gọi nhau, chỉ còn nước há hốc mồm ra mà đút chân vào cùm.
Ngập ngừng mãi, không làm sao được, tôi ho hắng gọi 12, nhưng mãi cũng không thấy 12 lên tiếng gì cả. Chắc buổi xử án căng thẳng thế nào đó, nên 12 về nằm liệt không thiết nói chuyện với ai nữa. Tôi suy đoán tới lui, đưa ra nhiều lý do, trường hợp, nhưng tất nhiên là không có lời giải đáp nào chắc chắn. Tôi lại nằm chiếc sàn cạnh buồng số 5, nên không có cách nào để gõ vào tường phía số 7 để hỏi được. Mãi gần tới giờ trưa, giờ làm việc chiều đã tới, bỗng dưng cô Hương buồng số 9 lên tiếng:
– 12 và số 7 xử án thế nào?
Giọng ìn ịt rên rỉ của số 7:
– Người đẹp ơi! Vụ án của anh căng quá, xử từ sáng tới giờ chưa xong. Phen này chắc anh đi “mò tôm” mất em ơi!…
Đột nhiên, tiếng cửa sổ nhỏ buồng số 7 xoạch mở, một tiếng quát làm nẩy tim mọi người:
– Anh nói chuyện với buồng nào?
– Tôi nói chuyện với nàng tiên của tôi!
– Nàng tiên nào?
– Ở trong mộng!
– Tôi cùm cổ anh vào bây giờ, mặc quần áo vào!
Cửa buồng số 7 mở, rồi đến phòng 12.
Thì ra là tên Bằng! Chắc là nó vào từ lúc buồng 9 vừa hỏi xong, vậy mà không ai biết. Số 7 cũng nhanh trí, không thì số 9 kẹt. Vả lại, tên Bằng này cũng dễ! Thêm nữa, chắc y cũng thông cảm với tên tù đã lâu, lại đang trong ngày xử án tinh thần căng thẳng, nếu không nó cứ truy hỏi tới, thì chắc cũng ra buồng số 9 để cùm. Hoặc giả nó có chủ ý để bắt, nó cứ đứng yên một lúc nữa để nghe hai bên đối đáp, rồi chỉ việc rút chốt cùm là xong!
Khoảng 4 giờ chiều, bỗng có tiếng động ở ngoài cổng xà lim, rồi những tiếng xụt xịt đi đang vào trong sân.
– Có gan làm, có gan chịu, khóc lóc cái gì! Tòa xử bao nhiêu năm?
Tên Chiến vừa hỏi, vừa đập đập chùm chìa khóa lên mặt bàn. Giọng số 7 nói trong nức nở:
– Chung thân!
– Còn anh kia?
Tiếng một tên cán bộ trả lời, giọng miền Trung nặng chịch:
– Nguyễn Văn Căn, tử hình. Lê Văn Lượng, chung thân!
Có cả tiếng tên Tư trực xà lim III:
– Anh kia! Vào dọn quần áo ra trại!
Những tiếng bước chân xoèn xoẹt của 4, 5 người đi vào buồng số 7 và 12. Tôi điếng người khi nghe anh Căn bị tử hình, bản thân tôi cũng không ngờ. Tôi liên tưởng tới bản án của Phạm Huy Tân. Hai vụ án, tất cả bị can đều ước đoán mức án dưới sự thực xa. Phải chăng đây là một chủ trương của ngành hành pháp và tư pháp của cộng sản? Tuy mới biết có hai vụ, chưa gọi là đủ để kết luận, nhưng tôi đã thấy chiều hướng đúng, ngả về phía dự đoán của mình.
Từ nãy, tôi vẫn chỉ nghe tiếng xụt xịt của Lượng, mà không thấy tiếng của Căn. Trong khi lục đục dọn quần áo ở trong buồng, bỗng số 7 gào to:
– Công nương ơi! Từ nay ngàn dậm phương trời, làm sao anh sống được!
Có lẽ mấy tên cán bộ, nhất là Chiến, biết số 7 nói với ai rồi. Nhưng, chúng không chấp trong những phút như thế này, vì thế, tên Chiến chỉ quát:
– Im ngay cái mồm, ra đi! Lừng khừng mãi!
Trong lúc một tên cán bộ dẫn số 7 đi, thì nghe tiếng chốt cùm buồng 12 rút ra đến xoạch một cái. Giọng miền Trung nghe nặng như tiếng giã gạo trong cối đất:
– Lúc ở phòng Ban Giám Thị, anh đã nghe đọc quyết định rồi, bây giờ hãy chấp hành!
Lúc này, tôi mới nghe tiếng của anh Căn, run run như đang lên cơn sốt:
– Vợ con tôi từ nay sống làm sao?
– Ngoài tòa, anh có ký đơn xin Chủ Tịch nước, ân xá tội tử hình không? Vừa đóng chốt, tên Chiến vừa hỏi.
Tiếng anh Căn:
– Báo cáo, có!
– Như vậy, anh còn sống thêm 6 tháng nữa, để chờ quyết định tối hậu.
– Thưa ông, về tội chính trị từ trước tới giờ, Chủ Tịch nước có tha ai đâu!
Tên miền Trung có vẻ cáu tiết:
– Anh đừng nói láo! Hãy tin tưởng, nghe không!
Cửa đóng, tiếng những bước chân xền xệt nhỏ dần ra phía cổng xà lim. Lòng tôi dâng lên một niềm thương mến anh Căn vô độ. Sau khi vểnh tai nghe ngóng và phán đoán là lúc này không còn tên cán bộ nào trong xà lim, tôi liền lên tiếng. Vì tôi muốn là người đầu tiên nói với anh những lời thăm hỏi, ủi an thầm kín, của một người đồng chí hướng:
– Anh Căn ơi! Tôi xin chia xẻ nỗi đau buồn của anh.
Giọng anh run run, xúc động:
– Cám ơn anh, tôi chỉ thuơng vợ con tôi thôi!
– Anh hãy nên…..
Đột nhiên, tiếng cô Hương buồng số 9 chận ngang câu nói của tôi, bằng một giọng thì thào vội vã:
– Cán bộ vào!
Tôi thầm cảm ơn người số 9. Trong khi hai bên nói chuyện, lại đều bị cùm, cô đã gác tụi áo vàng cho chúng tôi. Từ lúc này, nếu chúng tôi muốn nói chuyện đều phải nhờ buống số 9. Chẳng hiểu buồng số 9 có thấy như vậy không?
Đêm hôm đó, và cả ngày hôm sau, lòng tôi đầy vơi bao nhiêu ngả vì anh Căn. Anh và tôi, tuy mới vừa biết nhau, thậm chí tôi còn chưa trông rõ mặt anh, thế mà lòng tôi cảm thấy thân thương, gần gũi. Có phải lòng tôi như vậy, vì anh là một người lính chiến của thế giới tự do, mang trong mình giòng máu Quốc Gia chống cộng? Điều ấy, có lẽ tôi không phủ nhận. Vâng, có! Nhưng chỉ một phần thôi, phần đó lại chưa phải là phần cơ bản. Bởi vì, trên đường tôi đi, tôi đã gặp nhiều, nhan nhãn, đâu mà chả có những người lính chiến, vào sinh ra tử, không từ nan gian khổ, dù có phải hy sinh tính mệnh, vẫn cầm chắc tay súng, ghim những viên đạn thù vào đầu lũ giặc cộng, vì tự do cho mọi người. Phần chính làm tôi dạt dào mến mộ anh, đó là, anh đã chiến đấu, và không may anh bị rơi vào tay kẻ thù. Bây giờ, anh đã nhận lãnh một bản án tử hình, do tòa án phi công lý của kẻ thù kết tội. Anh đang nằm chờ ngày anh về với cát bụi, một mình giữa đơn lạnh, hoang vắng trong tăm tối gông cùm, không một ai hay. Có chăng, chỉ người vợ dại và hai đứa con thơ của anh.
Trong đêm tối mịt mùng này, chỉ có mình tôi, tôi đại diện cho tất cả mọi người đang được hưởng tự do và hạnh phúc, biết ơn anh. Nếu không có hàng triệu triệu những chiến sĩ vô danh như anh, ngoài chiến trường, trong rừng sâu, ngoài biên cương hẻo lánh, hay trong nơi tăm tối ngục tù, thì làm sao có những người đang được nhởn nhơ, ngụp lặn trong đống vàng, và đang bơi lội trong hạnh phúc. Tôi cứ miên man nghĩ ngợi, rồi đi dần vào giấc ngủ muộn đêm thâu. Đang mơ màng, đột nhiên một tiếng cười ré lên làm tôi giật mình tỉnh dậy. Lúc này, có lẽ khoảng 2, 3 giờ đêm, tôi đã ngủ được một giấc khá dài.
Đêm càng về khuya, xà lim càng vắng lặng heo hút. Ngoài trời, đêm nay gió thật nhiều! Tiếng gió gầm gào vi vu, nhiều lúc như rít lên trên mái nhà. Tiếng xào xạc, sôi réo từng hồi củ những chiếc lá bàng, lắc lư đập vào nhau theo từng đợt gió mạnh. Tiếng sột soạt của những chiếc lá rời cành, báo cho thế nhân nàng Thu đã về. Tiếng rên từng chập dài lê thê của buồng số 8; tiếng cò cử như bễ thợ rèn của buồng số 5;…tất cả tạo thành một bản nhạc đêm Thu, cho người không ngủ não nề nằm…..nghe.
Hồi nãy, rõ ràng có một gọng cười đã đánh thức tôi dậy, không biết của buồng nào? Tôi đang nằm tỉnh mơ, lòng băn khoăn vì tiếng cười, tai vẫn thuởng thức điệu nhạc Thu đêm dài, đột nhiên, tiếng cười lại ré lên. Lần này nghe rõ mồn một, của buồng số 10; cứ im một tí lại cười. Có lúc dòn khậc khậc như con gà Tây gáy, có lúc ngắc ngư khìn khịt như con heo nái, đang hục mõm trong máng cám tìm ăn; lại có lúc nghe ọt ẹt, õng ẹo như con gà mái muốn đẻ đang gại trứng. Những tiếng cười này làm cho tôi, và có lẽ cho một số buồng khác chung quanh, không ngủ được cho tới sáng. Một tên cán bộ từ ngoài cổng xà lim đi vào, quát ầm lên:
– Buồng nào làm ầm thế?
Chẳng có tiếng trả lời! Vẫn chỉ là những tiếng sằng sặc như nắc nẻ của buồng số 10. Tên cán bộ vào, mở cửa sổ nhỏ buồng 10, hỏi:
– Anh cười cái gì thế! Anh điên à?
Im lặng, cả tiếng cười cũng bặt luôn. Tên cán bộ vừa đóng cửa sổ nhỏ lại, vừa gằn giọng:
– Anh không ngậm ngay cái miệng của anh lại, tôi vào cùm đầu anh bây giờ!
Chỉ im được một lúc, rồi vẫn tiếng cười ấy nổi lên. Có khi, cười chán lại khóc, hễ có cán bộ vào quát thì im, khi cán bộ ra, lại tiếp tục như cũ. Suốt ngày đêm!
Sáng hôm nay cũng vậy, nhưng tên Chiến trực chính của xà lim I, xưa nay vẫn có tiếng trị những người tù dở chứng. Y vào, mở cửa buồng số 10:
– Anh bỏ ngay cái trò con tiều đó đi! Anh muốn giả điên hả? Tôi đã trị bao nhiêu thằng điên như anh rồi. Anh có ăn được cứt ngon như ăn cơm không?
Im lặng, không hề nghe tiếng số 10. Tên Chiến đi ra, số 10 lại tiếp tục cười. Tên Chiến trở vào, rút chốt cùm, quát to:
– Bỏ chân vào!
Lục đục một lát, tên Chiến lại quát:
– Bỏ 2 chân vào! Nếu biết điều, không làm ồn nữa, tôi tha cho, nếu tiếp tục làm ồn, tôi sẽ cùm mồm lại. Anh càng dở chứng, anh càng chết sớm!
Nhiều buổi, tôi thấy số 10 đổ cơm nước, linh tinh ra lối đi. Dạo này, cũng không thấy số 10 đi đổ bô hay tắm rữa. Vẫn ngày đêm, lúc cười, lúc khóc. Những tiếng cười, tiếng khóc này càng gợi thêm nỗi não nề, cay đắng cho người chung quanh.
Mấy ngày sau, chẳng hiểu cứt, đái của anh ta trong buồng thế nào, mùi thối hoăng xông lên. Ngày cũng như đêm, cứ thỉnh thoảng lại một cơn heo may nhè nhẹ, đẩy vào buồng tôi mùi phân khăm khẳm buồn nôn.
Chứng kiến buồng số 10, và bao nhiêu buồng trước đây nữa của xà lim III, xà lim II, tôi lại hình dung cảnh tù đầy của chính mình. Thú thật, tôi rất sợ bệnh thần kinh. Ở trong xà lim như thế này, lâu ngày, rất dễ bị thác loạn tinh thần.
Nào là cực khổ đói rét, thần kinh căng thẳng ngày đêm vì cung kẹo, rồi những suy tưởng đến gia đình, bạn bè, xã hội, cuộc đời…..bao nhiêu thứ giằng co, cào xé bộ óc. Miệng thì câm như hến, nhưng đầu óc thì cứ căng ra suốt đêm ngày. Tinh thần bị ức chế tối đa! Vậy, nếu không chịu tìm nhiều lối thoát cho tư tưởng, và có một nghị lực chế ngự mạnh, không sớm thì muộn, tinh thần sẽ không còn bình thường nữa.
Lễ Tạ Ơn ở Hoa Kỳ phải rơi vào Thứ Năm của tuần lễ thứ tư tháng Mười Một.
Năm nay, 2017, Lễ Tạ Ơn ở Mỹ rơi vào ngày 23, tháng Mười Một.
Mùa lễ kéo dài đến hết cuối tuần, tới 4 ngày, nên cả nước Mỹ lên xe hơi, xe lửa, đáp máy bay hoặc chạy xe đạp, dọc ngang như mắc cửi để mọi người trong gia đình gặp lại nhau, dù ở xa cả ngàn cây số cũng lặn lội về thăm, năm một lần.
Nhưng thằng bạn tui bên Mỹ, lỡ cưới con vợ Mỹ, lại nghĩ: một năm mà bà con cô bác, nhứt là bên vợ, đến thăm nhà nó nhân Mùa Lễ Tạ Ơn là quá xá nhiều.
Vì nó phải nghe đầy cả hai cái lỗ tai những lời dạy đời của bà Má vợ Mỹ.
“Trong thời tiết khắc nghiệt của mùa Thu Bắc Mỹ, năm 1621, nhiều sử gia tin rằng chỉ có 5 người phụ nữ ‘Pilgrim’ dự tiệc trong số 50 người! Tại sao vậy con?”
Má vợ tra vấn nó như hồi xưa mình đi thi vấn đáp vậy. Cũng như những người phụ nữ khác: Hỏi là để hỏi chớ câu trả lời có sẵn rồi hè!
“Vì đa số phụ nữ xưa giờ luôn tẩy chay việc nhậu nhẹt của chồng mình. Thế nên con đừng có lân la, tụm năm tụm bảy với băng tần nhậu. Hãy làm người chồng tốt bằng cách ở nhà ăn cơm với nước mắm kho quẹt nhe con!”
“Xin nghe lời chỉ dạy chí lý của Má. Phần con trộm nghĩ: Lễ Tạ Ơn rất tuyệt vì vợ con giống như con gà tây kêu ‘cờ lót, cờ lót’ ít hơn mọi ngày vì mồm nó mắc bận nhai!”
Nghe lời dạy cách làm chồng của bà má vợ Mỹ, anh rể Việt, rễ đu đủ, chỉ còn tìm cách trả thù ngọt ngào là: Khi con vợ Mỹ đút con gà Tây vào lò nướng, nó len lén gắn vào mình nó thêm hai cái chân nữa.
Lúc dọn ra bàn tiệc, bà Má vợ Mỹ nầy há hốc mồm rồi ngã lăn ra xỉu. Quá đã!
***
Ai cũng biết theo truyền thống, Lễ Tạ Ơn của Mỹ là phải có gà Tây, tức Turkey, nên có đứa gọi đó là ‘Turkey Day’!
Bạn gọi một con gà Tây không có một cọng lông là gì? Là bữa ăn tối Lễ Tạ Ơn. Tuy nhiên bạn có phân biệt được con gà trống hay gà mái hay không?
Rất dễ! Con gà trống một tay cầm lon beer, tay còn lại cầm cái bộ phận điều khiển từ xa của máy truyền hình.
Còn con gà mái cầm cái điện thoại di động tức ‘cell phone’ và kêu ‘cờ lót cờ lót’ rất ấn tượng.
Nên mỗi lần đi công tác xa nhà, tình cờ nghe được tiếng kêu ‘cờ lót, cờ lót’, tui lại nhớ vô cùng, nhớ tha thiết đến em yêu.
Tuy nhiên em Mỹ yêu lại không thích chuyện bếp núc, đảm đang yêu chồng, thương con như những người vợ Việt Nam mình đâu, nên nấu dở ẹt hè.
Lúc em dọn thức ăn lên bàn để ăn mừng Lễ Tạ Ơn thì đám con lại tưởng đó là bữa tiệc để tưởng nhớ biến cố Trân Châu Cảng chớ!
Thế nên Lễ Tạ Ơn em yêu thích làm gì nhứt? Là tìm ra cho được cái nhà hàng nấu ăn ngon nhứt để mà đặt chỗ cho cả nhà.
Tuy nhiên mùa Lễ Tạ Ơn năm nay khác hơn năm ngoái nhiều vì Má tui ở Việt Nam vừa bay qua thăm tui và đám cháu nội nên nhà rôm rả hẳn lên.
Em yêu muốn chứng tỏ dẫu là Mỹ, cũng là vợ hiền dâu thảo, bèn đi chợ tìm mua con gà Tây cho Lễ Tạ Ơn. Nhưng con nào cũng nhỏ xíu.
Em bèn hỏi thằng nhỏ trong quầy là: “Những con gà Tây nầy, có lớn hơn không?”
“Thưa bà nó không thể lớn hơn được nữa. Vì tụi nó đã chết hết ráo rồi ạ!”
Nhìn em yêu cứ loay hoay hoài trong bếp như gà mắc đẻ mà không nấu được món nào nên thân, tui cảm thương, tội nghiệp vô cùng người vợ Mỹ của tui.
Vì yêu chồng, thương con em mới lặn lội xuống bếp năm một lần đó! Chớ bình thường em chỉ ngồi kẻ mắt và giũa móng tay.
Tui đang lui cui rửa sơ một đống chén dĩa chuẩn bị cho vào máy thì em yêu của tui từ phòng khách tất tả chạy xuống nhà bếp, la lên: “Ðể đó cho em! Má anh tới kìa!”
***
Trên bàn tiệc Lễ Tạ Ơn, luôn luôn có bắp, khoai tây nghiền, các loại bánh pie, rau, thịt heo muối, ngỗng hoặc vịt quay và dĩ nhiên không thể thiếu món gà Tây quay để nhắc lại bốn chú gà Tây rừng đã có mặt trong buổi Lễ Tạ Ơn đầu tiên tại nước Mỹ do tui đặt ở nhà hàng đem tới!
Nói nào ngay, tui cũng muốn dạy con tui ý nghĩa về Lễ Tạ Ơn nên hỏi: “Con tạ ơn về điều gì?” “Dạ con xin tạ ơn ông Trời, vì con không phải sinh ra dưới kiếp một con gà Tây!”
Thế nên nếu kiếp nầy mình làm ác, kiếp sau chắc sẽ bị ông Trời trừng phạt bằng cách cho mình đầu thai lên kiếp con gà Tây, trước sau gì cũng vô lò nướng và lên bàn tiệc Lễ Tạ Ơn.
Chết không ít đâu, mỗi mùa Lễ Tạ Ơn, hàng chục triệu con gà Tây anh dũng hy sinh vì sự nghiệp ăn nhậu của nhân dân Mỹ chúng ta.
Món gà Tây đút lò trong buỗi tiệc tối Lễ Tạ Ơn đã giúp số người bị bệnh béo phì ở Mỹ tăng lên như hoả tiễn.
Vì, sau bữa tiệc tối Lễ Tạ Ơn vô cùng thịnh soạn, đi thử máu, Y tá chỉ rút ra được từ mạch máu cánh tay tui toàn là nước sốt!”
Tiệc Lễ Tạ Ơn cũng giúp cho quý ông anh mình đầy vóc dáng, cân nặng đủ tiêu chuẩn để đóng vai ông già Santa Claus cho mùa Lễ Giáng Sinh sắp đến.
Dân Úc có cái tánh rất dễ thương là làm cái gì trật là quy lỗi cho kẻ khác. Chớ không phải ‘tiên trách kỷ, hậu trách nhân’, lỗi tại tôi muôn phần như người Việt mình đâu.
Một số người Mỹ, (hổng dám quơ đũa cả nắm), sau mùa Lễ Tạ Ơn, làm gãy cây kim của cái cân, cũng quy lỗi tại con gà Tây đút lò ngon quá.
Tuy nhiên, người từng làm Thống đốc tiểu bang California, tài tử vai u thịt bắp mồ hôi dầu Arnold Schwarzenegger (Chu choa! Cái tên mà mất tới 10 năm, tui vẫn không biết làm sao phát âm cho nó đúng!) lại thương quá gà Tây:
“Gà Tây và mấy em mình có chung điểm gì? Cái điểm chung đó là bộ ngực mà quý anh mình ai cũng say mê. Nhìn thấy là nhểu nước miếng hè!”
“Tui yêu con gà Tây của tiệc tối Lễ Tạ Ơn. Vì đó là lần duy nhứt mỗi năm trong đời, tui được thấy một bộ ngực tự nhiên, sanh sao để vậy, ở thành phố Los Angeles nầy đây”
***
Người Mỹ muốn ăn thịt gà Tây vào Lễ Tạ Ơn, thì con gà Tây muốn gì? Muốn ‘tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng’, chạy trốn vô rừng, dù vận tốc có thể đạt tới 20 dặm giờ nhưng cũng không có thoát.
Chỉ còn cách duy nhứt là chạy vô Toà Bạch Ốc để nhờ Tổng thống Mỹ Donald Trump và em yêu là Melania cùng một đám con lóc nhóc, dòng trước dòng sau, cháu nội, cháu ngoại có mặt đủ đầy để xin tha chết.
Vậy con gà Tây có tội tình gì mà phải xin ân xá chớ? Không ai biết, như chuyện dưới đây: Em yêu mua về con vẹt biết nói. Chẳng may con vẹt nầy xưa sống ở nhà Tú Bà và Mã Giám Sinh nên quen thói ăn nói linh tinh hay chửi thề và nói tục.
Em giận quá, nhốt con vẹt nầy vô tủ lạnh để trừng phạt. Sau 3 phút, em thả con vẹt ra!
“Xin lỗi bà chủ, tôi đã biết tội của tôi rồi. Nhưng xin cho tui hỏi: Con gà Tây bị nhốt trong tủ lạnh, nó có tội gì đấy ạ?”
Kết luận là sanh ra làm kiếp gà Tây vô tội cũng bị ‘thịt’ như thường!
***
Bà con mình ai cũng biết ngày 20, tháng Sáu, năm 1792, con đại bàng đầu trụi lũi không có một cọng lông, nhưng sống rất dai, có sức mạnh kinh hoàng và cái vẻ rất oai nghiêm đường bệ và chỉ đất Mỹ mới có, nên được chọn làm biểu tượng cho sức mạnh của đất nước Hoa Kỳ.
Ca tụng lòng quảng đại, dám hy sinh cả thân mình để cho cả trăm triệu người Mỹ, già trẻ lớn bé say sưa đánh chén hằng năm, nên ông ông Benjamin Franklin lại đề nghị lấy con gà Tây làm linh vật, biểu tượng cho nước Mỹ
Vốn là dân khoái tiệc tùng ăn nhậu, tui xin giơ cả hai tay lên mà đồng ý… kiến!
Vì trộm nghe rằng: hai tuần đầu của tháng Mười Một, con gà trống nói với con gà mái: “Thôi em ở lại mạnh giỏi!”
Con gà mái ngạc nhiên hỏi: “Sao vậy? Chuyện gì sẽ xảy ra?”
“Ông chủ của mình đã loại anh ra khỏi danh sách bạn bè của ổng trên ‘Facebook’ rồi!”
“Nè ông chủ! Vì sự nghiệp ăn với nhậu mà ông nỡ đang tâm bẻ gãy chữ kim bằng!
Năm 1981, sáu năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, Hana Bùi cùng chồng là Sơn Võ bồng bế con trốn chạy chủ nghĩa CS,vượt biển tìm tự do và đến được Nam Dương.
Ước nguyện cháy bỏng của gia đình tị nạn CS nầy là muốn được đặt chân tới nước Mỹ tự do!
“American dream! Giấc mơ Mỹ! Cũng là ước vọng của cả triệu thuyền nhân khác đã đào thoát khỏi chế độ Cộng Sản.
Michelle Võ, tên Việt Nam là Võ Ngọc Chí Mỹ. (Chí Mỹ nghĩa là quyết chí đến nước Mỹ tìm tự do) chào đời tại Fullerton, một thành phố hơn 100 ngàn dân, nằm về phía Bắc của Quận Cam (Orange County), tiểu bang California, Hoa Kỳ.
Tốt nghiệp trung học Independence năm 2003, Michelle theo học và tốt nghiệp Cử nhân Truyền thông tại University of California—Davis năm 2007; rồi làm việc cho Công ty Bảo hiểm New York Life Insurance Co.
“Michelle rất thông minh, chín chắn, nhưng tính vẫn thích vui đùa như những người trẻ tuổi khác. Michelle rất yêu nước Mỹ và có lúc tính gia nhập quân đội.”
(Người viết cũng có một đứa cháu gái, tính tình tương tự như vậy!
Sau khi tốt nghiệp đại học, cháu đi làm để dành tiền qua Úc du lịch cho biết đó biết đây và thăm lại dì ruột của mình.
Năm 2001, sáng thứ Ba, ngày 11, tháng Chín, bọn khủng bố cướp máy bay đâm vào hai tòa cao ốc ở New York và Ngũ giác đài ở Washington DC.
Xe chữa lửa, lính cứu hỏa, cảnh sát bất chấp hiểm nguy, cấp tập xông vào cấp cứu. Hai tòa tháp lần lượt như hai ngọn đuốc khổng lồ cháy bừng lên rồi rụi xuống. Khói bụi mù trời!
Những hình ảnh kinh hoàng xuất hiện liên tiếp trên màn ảnh truyền hình làm cháu ngồi đứng không yên, kéo va li ra phi trường để bay ngay về Mỹ.
Nhưng nước Mỹ lệnh nội bất xuất; ngoại cấm nhập! Tất cả phi cơ đang bay trên trời được lịnh đáp xuống phi trường gần nhất. Vì theo tin, vẫn còn một chiếc phi cơ United Airlines Flight 93 đã bị không tặc trên đường bay ngược về lại Washington DC.
Cháu đành quay trở lại nhà. “Chờ vài bữa nữa cho tình hình yên ắng đã rồi hãy về!”Cháu trả lời: “Phải về ngay để đi hiến máu!”
Vâng! Nước Mỹ đã tạo một thế hệ trẻ dẫu da vàng đi chăng nữa cũng yêu thương đất nước đồng bào như ruột thịt của chính bản thân mình!)
Tuy nhiên vẫn có Stephen Paddock, 64 tuổi, đã nhẫn tâm xả hàng ngàn phát đạn từ tầng 32 của khu phức hợp khách sạn sòng bạc Mandalay Bay, Las Vegas giết chết 58 người và làm bị thương hơn 500 đồng bào của chính mình!
Số nạn nhân vô cớ bị bắn chết nhiều nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.
Hung thủ, tên giết người hàng loạt, đã tự sát trong căn phòng chứa đầy vũ khí khi cảnh sát ập vào.
Bà Hana Bùi, mẹ của Michelle Võ thuật lại cho giới truyền thông Mỹ: “Ngày thứ Hai, khoảng 5-6 giờ sáng thì Cathy ghé nhà cho hay là Michelle bị thương ở vai.Lúc đó tôi giống như là nghẹt thở vậy; nhưng thầm hy vọng vết thương không đến nỗi nào và sẽ mau lành!
Nóng lòng muốn biết rõ tình trạng của con gái mình ra sao; nhưng những cú điện thoại không người trả lời. Chỉ còn biết chờ đợi.”
Người chị của Michelle là Diane cùng chồng và một số bạn bè vội vã đáp máy bay tới thành phố Las Vegas!
Diane nói: “Michelle, mới đầu, không yêu nhạc đồng quê cho lắm. Chỉ mới gần đây, do gia đình giới thiệu loại nhạc nầy. Loại nhạc với ca từ ngọt ngào đã quyến rũ được Michelle.”
Với cá tính tự lập, đầy nghị lực ấy, Michelle đã rời Los Angeles một mình đến Las Vegas, lần đầu tiên dự một đại nhạc hội đồng quê ngoài trời vào đêm Chủ Nhật, mùng Một, tháng Mười, năm 2017.
Lần đầu tiên trong đời Michelle cũng là lần cuối cùng định mệnh!
Tại sân đại nhạc hội, Michelle kết bạn sơ giao với Kody Robertson, đến từ tiểu bang Ohio.
Michelle bị trúng đạn bên trên ngực trái! Và chính Kody đã bế Michelle chạy tìm nơi cấp cứu!
Khoảng 11 giờ sáng, bác sĩ báo tin dữ rằng Michelle đã không qua khỏi, vì vết thương quá nặng!
“Kody thật là một người tốt, một thiên thần. Anh sẽ mãi mãi thuộc về cuộc đời của chúng tôi. Giờ đây chúng tôi không thể nào nghĩ đến Michelle và không nhớ tới Kody.”
“Cuộc đời quá ngắn ngủi,” Bà Hana Bùi, Mẹ của Michelle, nói bằng tiếng Anh, trong niềm xúc động chực tuôn trào.
“Năm sau, khi đại nhạc hội này trở lại, Kody thề hứa chắc chắn sẽ đến dự, sẽ đứng ngay tại chỗ mà anh đã từng đứng bên cạnh Michelle!”
Gia đình Michelle cũng sẽ đến để nhớ tới người con gái yêu vắn số của mình.
Từ khi tin tức về cái chết của Michelle Võ loan đi vào đầu tuần này, mạng xã hội tràn ngập những lời tiếc thương của thân nhân và bè bạn.
“Tôi học cùng trường trung học suốt bốn năm, ngồi cùng lớp, và có cùng bạn bè với Michelle.
Michelle thông minh lém lỉnh, tử tế, xinh đẹp và đúng là tuýp người nỗ lực nhiều hơn mức trông đợi.”
“Đồng nghiệp nơi sở làm cũng bàng hoàng và đau buồn về thảm kịch khủng khiếp xảy ra ở Las Vegas.
Nỗi đau càng sâu hơn khi biết rằng trong đại gia đình Công ty Bảo hiểm New York Life, Michelle Võ là một trong số những người thiệt mạng.
“Trong thời điểm khủng khiếp này, chúng tôi dành những suy tư và dâng lời cầu nguyện của mình cho gia đình và những người thân yêu của Michelle.”
***
Rồi điện thoại của bệnh viện báo lúc nào thì gia đình có thể đưa thi thể của Michelle về nhà!
Jeremiah Hawkins, người anh rể, đã mở một trang web để gây quỹ cho Michelle Võ trên mạng GoFundMe.
Chỉ trong vỏn vẹn trong vòng có hai ngày, trang này đã nhận được hơn $50,000 Mỹ kim, vượt xa mục tiêu ban đầu là 10.000 đôla.
Việc đầu tiên, gia đình sẽ dùng với số tiền này trang trải cho chi phí vận chuyển để mang Michelle Võ về quê nhà ở San Jose, California, nơi để hỏa táng theo đúng ý của Michelle.
“Michelle rất yêu biển. Từng nói, nếu qua đời, Michelle muốn tro cốt của mình được rải trên tại các bãi biển khác nhau trên khắp địa cầu!”
***
Người Mỹ trên toàn quốc, cũng như Cộng đồng Người Việt mình rải rác trên toàn thế giới thật sự rúng động với cuộc thảm sát kinh hoàng nầy đã cùng dang tay đóng góp ít nhiều để chia sẻ bớt nỗi đau của gia đình những nạn nhân vô tội!
Trên trang Facebook của mình, Robin Ray, một chủ tiệm bán bánh mì thuật lại một câu chuyện đẹp về tình người ngời sáng trong một thế giới đen tối hỗn mang.
Đó là vào ngày mùng 7, tháng Mười, một buổi sáng thứ Bảy bình thường tại tiệm Maple’s Bakery ở Yarmouth, tiểu bang Maine, Hoa Kỳ. Khách hàng đang xếp hàng dài ngoài cửa chờ mua cà phê và bánh ngọt!
Một người đàn ông, không muốn xưng tên, bước tới quầy thu ngân đưa ra một yêu cầu rất không bình thường là xin được trả tiền cho 58 khách hàng mà ông chưa hề quen biết trước! Lý do là vì ông muốn tưởng niệm 58 nạn nhân đã bị bắn chết một cách thảm khốc ở Las Vegas.
Đưa số thẻ tín dụng, ông nói: “Tốn bao nhiêu cũng được! Tiền bạc không phải là vấn đề gì để bận tâm!”
Xong ông nhận ly cà phê và bánh bông lan của mình rồi đi ra cửa.
Sau khoảng một giờ, tất cả 58 khách hàng được cho biết là cà phê và bánh đã được trả tiền rồi, và hóa đơn đã thu được gần 1.000 đô la.
Ông Chủ tiệm và nhân viên phục vụ lẫn 58 khách hàng đều xúc động vì họ hiểu rằng: “Lúc tinh thần của tất cả chúng ta đều xuống dốc vì những gì đang diễn ra ở đất nước nầy: thiên tai bão lụt, cháy rừng dữ dội cho tới những vụ vô cớ nổ súng giết người …
Ý định chính của ông ấy là cho tất cả chúng ta đều có thể làm một cái gì đó cho người khác. Một cử chỉ nhỏ nhưng ý tưởng thật lớn lao là: Được thấy nụ cười, niềm hy vọng của tha nhân khi họ biết cũng còn có ai đó trên nước Mỹ bao la nầy quan tâm tới tình người!”
“Xin cám ơn người khách vô danh đã khôi phục lại niềm tin của tôi về người và về đời. Mặc dầu đôi lúc, ở nơi nào đó, thời điểm nào đó tôi cảm thấy mình như bị ác quỷ vây quanh!”
Robin Ray nói: “Tôi tin rằng chỉ có một cách duy nhứt để thay đổi thế giới nầy là mỗi cá nhân phải có từ tâm.”
Một khách hàng nói: “Con gái tôi và tôi cũng nằm trong số những người được mời cà phê và bánh ngọt sáng nay, nhưng tôi chưa bao giờ nghe được câu chuyện đằng sau hành động bất ngờ nầy.”
“Tôi có hai người anh em họ làm việc ở Las Vegas, và cả hai đều may mắn! Tôi sẽ nhớ sự tử tế này và trong tương lai tôi sẽ làm như vậy!”
Một cử chỉ dù nhỏ nhưng đẹp cũng có thể cảm hóa cuộc đời người khác!
***
Tuy nhiên cũng có người, đa nghi như Tào Tháo, phán rằng: “Công việc tuyệt vời! Robin Ray, bạn đã có một quảng cáo quốc tế miễn phí cho cửa hàng của bạn! Chúng tôi biết tỏng chính bạn là người khách vô danh đó!”
Và cũng có một người, khoái làm thầy đời! Tiền của người ta mà lên lớp dạy bảo rằng: “Cử chỉ này đẹp! Nhưng tại sao không tặng cho những người bị thương, may mắn sống sót hoặc các gia đình của nạn nhân? Hoặc hiến tặng cho một tổ chức từ thiện nào đó!
Trả tiền cà phê, bánh ngọt cho 58 người có khả năng chi trả cho chính họ thì hành động nầy dường như vô nghĩa.
Ý tôi là, cái gì tiếp theo? Một phụ nữ ôm 58 con chó để tôn vinh những nạn nhân ở Las Vegas?”
***
Ối miệng đời mà! Trong bóng đêm có kẻ ngồi nguyền rủa nhưng cũng có người lui cui thắp lên một đóm lửa nhỏ. Nhưng cả triệu người cùng thắp lên thì bóng đêm sẽ tan đi.
Chỉ cần: “Lòng ta trong sáng, trí ta nhẹ nhàng, lương tâm thanh thản là được!”
Nhạc sĩ Lê Hựu Hà trong bản “Yêu Người Và Yêu Đời” đã từng khuyên nhủ chúng ta rằng: “Bạn thân ơi cố gắng yêu thương người/ Dù người không yêu ta, hãy cứ yêu thương hoài / Mặc người ai quen ai, hãy cho nhau một lời
Dù là lời nghe chua cay, dù là lời thoáng qua tai…
… Ngày nào bầu trời còn mây bay/ Lòng ta vẫn thấy thương người
Tuần rồi đi nhậu, anh bạn văn của tui than phiền “bà đầm” của ảnh quá xá!
Thấy tui có vài bài phiếm được báo đăng (và nhờ dựa hơi ông Chủ bút) nên ông Chủ báo cho chút đỉnh tiền nhuận bút, đủ uống cà phê mà mặt đã vênh vênh, váo váo ra vẻ ta đây là nhà văn ‘nhớn’, nên em yêu tui, tức con vợ tui, tức má bầy trẻ của tui (chớ không phải má của tui) đã chướng tai gai mắt, không nói không rằng, lẳng lặng gởi vào cái email của tui bài: ‘Vợ răn chồng’ trong sách Cổ Học Tinh Hoa của nhà văn Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (để tui học tập và quán triệt?! Cái nầy nghe coi bộ quen nhe! He he!).
Ðại để câu chuyện là: “Án Tử nhỏ con nhưng làm chức lớn, tới Ðại phu nước Tề, nhưng cực kỳ khiêm tốn. Trong khi tên đánh xe theo hầu, vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, bự con, lại làm chức nhỏ, nhưng lúc nào cũng vác mặt lên trời, dương dương tự đắc. Con vợ nhà không chịu được cái tánh kênh kiệu của chồng nên muốn bỏ về với má! Sợ vợ bỏ, anh chàng đánh xe nầy bèn xếp ve chớ không còn dám vênh váo nữa!”
Ðọc xong câu chuyện, tui thầm nghĩ: “Ối đàn bà là những niềm đau!” Làm quê chồng mình! Chồng làm phách cũng phải vì đánh xe ngựa cho quan cũng vinh quang lắm chớ!?
Chồng viết phiếm đăng báo trước là mong độc giả đọc thiệt rồi cười chút chơi cho vui cửa vui nhà, sau kiếm thêm chút tiền còm để uống cà phê, cà pháo và đấu láo với bạn bè mà cũng lên mặt dạy đời làm tui cũng mất vui luôn.
À phải rồi, chắc em thấy tui ốm mà cũng yếu, nên em khoái bú li (bully) để cho tui ngoan ngoãn trong vòng tay kềm kẹp của em. Bảo gì nghe nấy, đặt đâu là chàng phải ngồi đấy, cấm nhúc nhích, cục cựa như xưa giờ vậy đó!
“Như em đây, gọi Bà Tùng Long người viết tiểu thuyết ‘phơi-dơ-tông’ (feuilleton), hồi xưa, đăng trên tuần báo Phụ nữ Diễn đàn, kỳ nào cũng có, bằng Bà mà em còn chưa dám khoe khoang! Còn cái văn tài của anh không là cái thá gì so với Bà em hết ráo!”
Tức hộc gạch, nên tui xỏ xiên lại: “Em không khoe là phải… phải! Bà em viết văn hay… chớ em có biết viết đâu mà khoe?!
Chuyện tui và ‘bà đầm’ của tui ngày nào không cãi là ăn cơm hổng có ngon.
Nên sau lần cãi lộn sanh tử lửa với em yêu cách đây 3 năm, tui quyết tịnh khẩu luôn, không nói tiếng nào. Cần gì của em… là tui chỉ ra dấu hè… He he!”
o O o
Thưa bà con! Anh bạn văn của tui cãi lộn với vợ về cái thói háo danh mà tịnh khẩu tới ba năm! Nhằm nhè gì! Tui tịnh khẩu tới 30 năm, từ hồi mới về với em lận!
Tuần rồi, tui có may mắn đọc “Thư gửi bạn ta” rất nổi tiếng, nhà văn Bùi Bảo Trúc kể rằng: “Hơn ba mươi lăm năm trước, một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sài Gòn, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi ‘Ông biết tôi là ai không?’
Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút ‘hào quang’ vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi…”
Rồi 30 năm sau, trên bước đường lưu lạc trên đất Mỹ, tình cờ nhà văn Bùi Bảo Trúc đã tìm được câu trả lời thích đáng cho câu hỏi năm xưa, bằng cách kể lại một câu chuyện thú vị như vầy: “Tại phi trường, chuyến bay bị trễ, ai cũng bực bội vì phải chờ lâu, sắp hàng dài dằng dặc để chờ lên máy bay, thì có ông khách, muốn ưu tiên, muốn nhảy hàng, mà Mỹ thường hay gọi ‘jump the queue’ hét vào mặt một nhân viên trẻ và xinh của hãng hàng không “Cô biết tôi là ai không?” (Do you know who I am?)
Cô nầy trả lời ông bằng cách hỏi người khác: “Có một vị hành khách không biết mình là ai, quý hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”
Cô ám chỉ ông nầy bị khùng rồi nên không nhớ “Tôi là ai?”
Làm bà con ai nấy đều phá ra cười vui như xem một cái phim hài hước của Vua hề Sạc Lô vậy.
Bị chọc quê, ông nầy điên lên, chửi thề ỏm tỏi… Nhưng cô em vẫn bình thản trả lời: “Ông muốn cái ‘vụ đó’ với em thì ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được!” He he!
***
Thưa bà con! Ðọc truyện nầy của ông Bùi Bảo Trúc tui khoái quá xá, gật gù tấm tắc khen hay! Viết như vậy mới là viết chớ!
Ai đọc câu chuyện nầy cũng biết đây là một vở kịch, do một tác giả tài hoa sáng tác để răn đời, để chỉ trích, để phê phán những hạng người ưa vênh váo dù mình chỉ là con cáo chớ hổng phải là con báo.
Vậy mà quỷ thần ơi, cũng có một ông, chắc muốn chứng tỏ mình là người đọc sâu hiểu rộng, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, lên mặt chê nhà văn mà tui hằng thán phục và kính mến rằng:
“Câu chuyện của tác giả Bùi Bảo Trúc ngỡ là do tác giả chứng kiến, nhưng thật ra thì không đúng! Thực ra bài này tôi đã đọc trên báo Mỹ từ lâu lắm rồi. Khi đó chưa có internet. Ổng cũng đi “chôm” của thiên hạ nhưng khéo làm như của mình đó thôi!”
(À thì ra muốn nổi tiếng, cho Vua biết mặt Chúa biết tên, phải có danh gì với núi sông, thì không có cách nào ngắn, gọn và mau (khỏi ngồi nặn óc, viết lách lôi thôi gì ráo) chỉ cần lôi các nhà văn nổi tiếng ra mà bình phẩm!)
(Nói nào ngay, nhà văn cần người đọc, cần người phê bình lắm chớ! Người phê bình hay, phê bình đúng chính là thầy ta vậy!
Vì viết văn, viết báo gì chăng nữa, những điều mình biết chỉ là một hạt cát mà điều mình chưa biết lại là một đống cát bự ế kinh luôn!)
Nhưng bộp chộp kết tội nhà văn tài tuệ nầy là chôm của thiên hạ… thì thiệt là hỗn hào quá đáng nhe!
Cũng như Nguyễn Du đã từng dựa vào Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, đời nhà Thanh bên Tàu để sáng tác ra Truyện Kiều, áng văn chương bất hủ của Văn học Việt Nam xưa giờ vậy.
Ðâu có ai nghĩ chuyện đời của Kiều là thực 72 phần dầu đâu?!
Và cũng không ai ếch ngồi đáy giếng không thấy được bầu trời cao và rộng hơn cái miệng giếng mà vội vã kết tội rằng tác giả ‘chôm’ của người nầy người nọ đâu?!
Ông Bùi Bảo Trúc đâu phải là một phóng viên, là người viết bản tin. Bản tin dĩ nhiên cần sự thật trăm phần trăm. Chuyện đó không ai dám cãi rồi.
Ông Bùi Bảo Trúc là nhà văn! Mà là nhà văn thì người ta có quyền sáng tác ra, dựng nên một câu chuyện, xoay quanh những nhân vật, diễn biến như thế nào trong một không gian hay một thời gian nào đó!
Không ai cần phải hỏi Kiều có thật ngoài đời hay không? Ðẹp cỡ Củng Lợi hay Chương Tử Di không? Hay Thúc Sinh là ông nào, có phải là tui hay không, mà sợ vợ quá thể? Hay Hoạn Thư có phải đã từng ghen đến nỗi ra tay tàn độc, bắt tình địch của mình là Thúy Kiều phải cạo đầu trọc lóc để đi tu? (Ðể cho Kiều phải tuân theo giới luật, không được lén ‘tò tí’ với Thúc Sinh hay ngay cả người khác. Thiệt ghen mà dùng thế lực để cấm vận tình địch mình, từ nay không được làm chuyện ấy nữa… thì ác quá! Cấm gì thì cấm! Cấm chuyện đó? Thà bị xử tội chết còn sướng hơn!)
Thưa ông thần nầy trông gà hóa cuốc, tưởng nhà văn Bùi Bảo Trúc lại là một ông nhà báo hay sao?!
Chuyện có thật hay không? Chẳng nhằm nhò gì ở đây hết ráo! Cái quan trọng, cái cốt lõi của một tác phẩm văn học là nó muốn truyền đi một cái thông điệp nào đó xuống cuộc đời?!
***
Như vậy té ra chỉ vì một chút hư danh mà thiên hạ nỡ nhẫn tâm, thản nhiên chà đạp lẫn nhau không thương tiếc!
Tui thì khác nhe! Vì có chuyện như vầy: Ðầu năm học một chú nhóc chuyển vào trường mới. Giờ ra chơi, chú tán gẫu với một em học trò gái.
Chú chê ông Hiệu trưởng trường nầy sao cái mặt lúc nào cũng quạu đeo hè? Thiệt trông không có cảm tình gì ráo trọi!
Ðứa học trò gái có vẻ bực bội hỏi lại: “Nè! Trò có biết tôi là ai không?”
Chú trả “Không!” “Tui là con gái cưng của ông Hiệu trưởng đây”
“Vậy con gái cưng của ông Hiệu Trưởng có biết tôi là ai không?”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.