Hãy cứ yêu thương người!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 28 Sep 2023

Năm 1981, sáu năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, Hana Bùi cùng chồng là Sơn Võ bồng bế con trốn chạy chủ nghĩa CS,vượt biển tìm tự do và đến được Nam Dương.

Ước nguyện cháy bỏng của gia đình tị nạn CS nầy là muốn được đặt chân tới nước Mỹ tự do!

“American dream! Giấc mơ Mỹ! Cũng là ước vọng của cả triệu thuyền nhân khác đã đào thoát khỏi chế độ Cộng Sản.

Michelle Võ, tên Việt Nam là Võ Ngọc Chí Mỹ. (Chí Mỹ nghĩa là quyết chí đến nước Mỹ tìm tự do) chào đời tại Fullerton, một thành phố hơn 100 ngàn dân, nằm về phía Bắc của Quận Cam (Orange County), tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Tốt nghiệp trung học Independence năm 2003, Michelle theo học và tốt nghiệp  Cử nhân Truyền thông tại University of California—Davis  năm 2007; rồi làm việc cho Công ty Bảo hiểm New York Life Insurance Co.

 “Michelle rất thông minh, chín chắn, nhưng tính vẫn thích vui đùa như những người trẻ tuổi khác. Michelle rất yêu nước Mỹ và có lúc tính gia nhập quân đội.”

(Người viết cũng có một đứa cháu gái, tính tình tương tự như vậy!

Sau khi tốt nghiệp đại học, cháu đi làm để dành tiền qua Úc du lịch cho biết đó biết đây và thăm lại dì ruột của mình.

Năm 2001, sáng thứ Ba, ngày 11, tháng Chín, bọn khủng bố cướp máy bay đâm vào hai tòa cao ốc ở New York và Ngũ giác đài ở Washington DC.

Xe chữa lửa, lính cứu hỏa, cảnh sát bất chấp hiểm nguy, cấp tập xông vào cấp cứu. Hai tòa tháp lần lượt như hai ngọn đuốc khổng lồ cháy bừng lên rồi rụi xuống. Khói bụi mù trời!

Những hình ảnh kinh hoàng xuất hiện liên tiếp trên màn ảnh truyền hình làm cháu ngồi đứng không yên, kéo va li ra phi trường để bay ngay về Mỹ.

Nhưng nước Mỹ lệnh nội bất xuất; ngoại cấm nhập! Tất cả phi cơ đang bay trên trời được lịnh đáp xuống phi trường gần nhất. Vì theo tin, vẫn còn một chiếc phi cơ United Airlines Flight 93 đã bị không tặc trên đường bay ngược về lại Washington DC.

Cháu đành quay trở lại nhà. “Chờ vài bữa nữa cho tình hình yên ắng đã rồi hãy về!”Cháu trả lời: “Phải về ngay để đi hiến máu!”

Vâng! Nước Mỹ đã tạo một thế hệ trẻ dẫu da vàng đi chăng nữa cũng yêu thương đất nước đồng bào như ruột thịt của chính bản thân mình!)

Tuy nhiên vẫn có Stephen Paddock, 64 tuổi, đã nhẫn tâm xả hàng ngàn phát đạn từ tầng 32 của khu phức hợp khách sạn sòng bạc Mandalay Bay, Las Vegas giết chết 58 người và làm bị thương hơn 500 đồng bào của chính mình!

Số nạn nhân vô cớ bị bắn chết nhiều nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.

Hung thủ, tên giết người hàng loạt, đã tự sát trong căn phòng chứa đầy vũ khí khi cảnh sát ập vào.

Bà Hana Bùi, mẹ của Michelle Võ thuật lại cho giới truyền thông Mỹ: “Ngày thứ Hai, khoảng 5-6 giờ sáng thì Cathy ghé nhà cho hay là Michelle bị thương ở vai. Lúc đó tôi giống như là nghẹt thở vậy; nhưng thầm hy vọng vết thương không đến nỗi nào và sẽ mau lành!

Nóng lòng muốn biết rõ tình trạng của con gái mình ra sao; nhưng những cú điện thoại không người trả lời. Chỉ còn biết chờ đợi.”

Người chị của Michelle là Diane cùng chồng và một số bạn bè vội vã đáp máy bay tới thành phố Las Vegas!

Diane nói: “Michelle, mới đầu, không yêu nhạc đồng quê cho lắm. Chỉ mới gần đây, do gia đình giới thiệu loại nhạc nầy. Loại nhạc với ca từ ngọt ngào đã quyến rũ được Michelle.”

Với cá tính tự lập, đầy nghị lực ấy, Michelle đã rời Los Angeles một mình đến Las Vegas, lần đầu tiên dự một đại nhạc hội đồng quê ngoài trời vào đêm Chủ Nhật, mùng Một, tháng Mười, năm 2017.

Lần đầu tiên trong đời Michelle cũng là lần cuối cùng định mệnh!

Tại sân đại nhạc hội, Michelle kết bạn sơ giao với Kody Robertson, đến từ tiểu bang Ohio.

Michelle bị trúng đạn bên trên ngực trái! Và chính Kody đã bế Michelle chạy tìm nơi cấp cứu!

Khoảng 11 giờ sáng, bác sĩ báo tin dữ rằng Michelle đã không qua khỏi, vì vết thương quá nặng!

“Kody  thật là một người tốt, một thiên thần. Anh sẽ mãi mãi thuộc về cuộc đời của chúng tôi. Giờ đây chúng tôi không thể nào nghĩ đến Michelle và không nhớ tới Kody.”

“Cuộc đời quá ngắn ngủi,” Bà Hana Bùi, Mẹ của Michelle, nói bằng tiếng Anh, trong niềm xúc động chực tuôn trào.

“Năm sau, khi đại nhạc hội này trở lại, Kody thề hứa chắc chắn sẽ đến dự, sẽ đứng ngay tại chỗ mà anh đã từng đứng bên cạnh Michelle!”

Gia đình Michelle cũng sẽ đến để nhớ tới người con gái yêu vắn số của mình.

Từ khi tin tức về cái chết của Michelle Võ loan đi vào đầu tuần này, mạng xã hội tràn ngập những lời tiếc thương của thân nhân và bè bạn.

“Tôi học cùng trường trung học suốt bốn năm, ngồi cùng lớp, và có cùng bạn bè với Michelle.

Michelle thông minh lém lỉnh, tử tế, xinh đẹp và đúng là tuýp người nỗ lực nhiều hơn mức trông đợi.”

“Đồng nghiệp nơi sở làm cũng bàng hoàng và đau buồn về thảm kịch khủng khiếp xảy ra ở Las Vegas.

Nỗi đau càng sâu hơn khi biết rằng  trong đại gia đình Công ty Bảo hiểm New York Life, Michelle Võ là một trong số những người thiệt mạng.

“Trong thời điểm khủng khiếp này, chúng tôi dành những suy tư và dâng lời cầu nguyện của mình cho gia đình và những người thân yêu của Michelle.”

***

Rồi điện thoại của bệnh viện báo lúc nào thì gia đình có thể đưa thi thể của Michelle về nhà!

Jeremiah Hawkins, người anh rể, đã mở một trang web để gây quỹ cho Michelle Võ trên mạng GoFundMe.

Chỉ trong vỏn vẹn trong vòng có hai ngày, trang này đã nhận được hơn $50,000 Mỹ kim, vượt xa mục tiêu ban đầu là 10.000 đôla.

Việc đầu tiên, gia đình sẽ dùng với số tiền này trang trải cho chi phí vận chuyển để mang Michelle Võ về quê nhà ở San Jose, California, nơi để hỏa táng theo đúng ý của Michelle.

“Michelle rất yêu biển. Từng nói, nếu qua đời, Michelle muốn tro cốt của mình được rải trên tại các bãi biển khác nhau trên khắp địa cầu!”

***

Người Mỹ trên toàn quốc, cũng như Cộng đồng Người Việt mình rải rác trên toàn thế giới thật sự rúng động với cuộc thảm sát kinh hoàng nầy đã cùng dang tay đóng góp ít nhiều để chia sẻ bớt nỗi đau của gia đình những nạn nhân vô tội!

Trên trang Facebook của mình, Robin Ray, một chủ tiệm bán bánh mì thuật lại một câu chuHay cu yeu thuong nguoi 05yện đẹp về tình người ngời sáng trong một thế giới đen tối hỗn mang.

Đó là vào ngày mùng 7, tháng Mười, một buổi sáng thứ Bảy bình thường tại tiệm Maple’s Bakery ở Yarmouth, tiểu bang Maine, Hoa Kỳ. Khách hàng đang xếp hàng dài ngoài cửa chờ mua cà phê và bánh ngọt!

Một người đàn ông, không muốn xưng tên, bước tới quầy thu ngân đưa ra một yêu cầu rất không bình thường là xin được trả tiền cho 58 khách hàng mà ông chưa hề quen biết trước! Lý do là vì ông muốn tưởng niệm 58 nạn nhân đã bị bắn chết một cách thảm khốc ở Las Vegas.

Đưa số thẻ tín dụng, ông nói: “Tốn bao nhiêu cũng được! Tiền bạc không phải là vấn đề gì để bận tâm!”

Xong ông nhận ly cà phê và bánh bông lan của mình rồi đi ra cửa.

Sau khoảng một giờ, tất cả 58 khách hàng được cho biết là cà phê và bánh đã được trả tiền rồi, và hóa đơn đã thu được gần 1.000 đô la.

Ông Chủ tiệm và nhân viên phục vụ lẫn 58 khách hàng đều xúc động vì họ hiểu rằng: “Lúc tinh thần của tất cả chúng ta đều xuống dốc vì những gì đang diễn ra ở đất nước nầy: thiên tai bão lụt, cháy rừng dữ dội cho tới những vụ vô cớ nổ súng giết người …

Ý định chính của ông ấy là cho tất cả chúng ta đều có thể làm một cái gì đó cho người khác. Một cử chỉ nhỏ nhưng ý tưởng thật lớn lao là: Được thấy nụ cười, niềm hy vọng của tha nhân khi họ biết cũng còn có ai đó trên nước Mỹ bao la nầy quan tâm tới tình người!”

“Xin cám ơn người khách vô danh đã khôi phục lại niềm tin của tôi về người và về đời. Mặc dầu đôi lúc, ở nơi nào đó,  thời điểm nào đó tôi cảm thấy mình như bị ác quỷ vây quanh!”

Robin Ray nói: “Tôi tin rằng chỉ có một cách duy nhứt để thay đổi thế giới nầy là mỗi cá nhân phải có từ tâm.”

Một khách hàng nói: “Con gái tôi và tôi cũng nằm trong số những người được mời cà phê và bánh ngọt sáng nay, nhưng tôi chưa bao giờ nghe được câu chuyện đằng sau hành động bất ngờ nầy.”

“Tôi có hai người anh em họ làm việc ở Las Vegas, và cả hai đều may mắn! Tôi sẽ nhớ sự tử tế này và trong tương lai tôi sẽ làm như vậy!”

Một cử chỉ dù nhỏ nhưng đẹp cũng có thể cảm hóa cuộc đời người khác!

***

Tuy nhiên cũng có người, đa nghi như Tào Tháo, phán rằng: “Công việc tuyệt vời! Robin Ray, bạn đã có một quảng cáo quốc tế miễn phí cho cửa hàng của bạn! Chúng tôi biết tỏng chính bạn là người khách vô danh đó!”

Và cũng có một người, khoái làm thầy đời! Tiền của người ta mà lên lớp dạy bảo rằng: “Cử chỉ này đẹp! Nhưng tại sao không tặng cho những người bị thương, may mắn sống sót hoặc các gia đình của nạn nhân? Hoặc hiến tặng cho một tổ chức từ thiện nào đó!

Trả tiền cà phê, bánh ngọt cho 58 người có khả năng chi trả cho chính họ thì hành động nầy dường như vô nghĩa.

Ý tôi là, cái gì tiếp theo? Một phụ nữ ôm 58 con chó để tôn vinh những nạn nhân ở Las Vegas?”

***

Ối miệng đời mà! Trong bóng đêm có kẻ ngồi nguyền rủa nhưng cũng có người lui cui thắp lên một đóm lửa nhỏ. Nhưng cả triệu người cùng thắp lên thì bóng đêm sẽ tan đi.

Hay cu yeu thuong nguoi 07Chỉ cần: “Lòng ta trong sáng, trí ta nhẹ nhàng, lương tâm thanh thản là được!”

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà trong bản “Yêu Người Và Yêu Đời” đã từng khuyên nhủ chúng ta rằng:  “Bạn thân ơi cố gắng yêu thương người/  Dù người không yêu ta, hãy cứ yêu thương hoài / Mặc người ai quen ai, hãy cho nhau một lời

Dù là lời nghe chua cay, dù là lời thoáng qua tai…

…  Ngày nào bầu trời còn mây bay/ Lòng ta vẫn thấy thương người

Háo danh!

đoàn xuân thu
Post by Sơn râu 28 Sep 2023

Tuần rồi đi nhậu, anh bạn văn của tui than phiền “bà đầm” của ảnh quá xá!

Thấy tui có vài bài phiếm được báo đăng (và nhờ dựa hơi ông Chủ bút) nên ông Chủ báo cho chút đỉnh tiền nhuận bút, đủ uống cà phê mà mặt đã vênh vênh, váo váo ra vẻ ta đây là nhà văn ‘nhớn’, nên em yêu tui, tức con vợ tui, tức má bầy trẻ của tui (chớ không phải má của tui) đã chướng tai gai mắt, không nói không rằng, lẳng lặng gởi vào cái email của tui bài: ‘Vợ răn chồng’ trong sách Cổ Học Tinh Hoa của nhà văn Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (để tui học tập và quán triệt?! Cái nầy nghe coi bộ quen nhe! He he!).

Ðại để câu chuyện là: “Án Tử nhỏ con nhưng làm chức lớn, tới Ðại phu nước Tề, nhưng cực kỳ khiêm tốn. Trong khi tên đánh xe theo hầu, vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, bự con, lại làm chức nhỏ, nhưng lúc nào cũng vác mặt lên trời, dương dương tự đắc. Con vợ nhà không chịu được cái tánh kênh kiệu của chồng nên muốn bỏ về với má! Sợ vợ bỏ, anh chàng đánh xe nầy bèn xếp ve chớ không còn dám vênh váo nữa!”

Ðọc xong câu chuyện, tui thầm nghĩ: “Ối đàn bà là những niềm đau!” Làm quê chồng mình! Chồng làm phách cũng phải vì đánh xe ngựa cho quan cũng vinh quang lắm chớ!?

Chồng viết phiếm đăng báo trước là mong độc giả đọc thiệt rồi cười chút chơi cho vui cửa vui nhà, sau kiếm thêm chút tiền còm để uống cà phê, cà pháo và đấu láo với bạn bè mà cũng lên mặt dạy đời làm tui cũng mất vui luôn.

À phải rồi, chắc em thấy tui ốm mà cũng yếu, nên em khoái bú li (bully) để cho tui ngoan ngoãn trong vòng tay kềm kẹp của em. Bảo gì nghe nấy, đặt đâu là chàng phải ngồi đấy, cấm nhúc nhích, cục cựa như xưa giờ vậy đó!

“Như em đây, gọi Bà Tùng Long người viết tiểu thuyết ‘phơi-dơ-tông’ (feuilleton), hồi xưa, đăng trên tuần báo Phụ nữ Diễn đàn, kỳ nào cũng có, bằng Bà mà em còn chưa dám khoe khoang! Còn cái văn tài của anh không là cái thá gì so với Bà em hết ráo!”

Tức hộc gạch, nên tui xỏ xiên lại: “Em không khoe là phải… phải!  Bà em viết văn hay… chớ em có biết viết đâu mà khoe?!

Chuyện tui và ‘bà đầm’ của tui ngày nào không cãi là ăn cơm hổng có ngon.

Nên sau lần cãi lộn sanh tử lửa với em yêu cách đây 3 năm, tui quyết tịnh khẩu luôn, không nói tiếng nào. Cần gì của em… là tui chỉ ra dấu hè… He he!”

o O o

Thưa bà con! Anh bạn văn của tui cãi lộn với vợ về cái thói háo danh mà tịnh khẩu tới ba năm! Nhằm nhè gì! Tui tịnh khẩu tới 30 năm, từ hồi mới về với em lận!

Tuần rồi, tui có may mắn đọc “Thư gửi bạn ta” rất nổi tiếng, nhà văn Bùi Bảo Trúc kể rằng: “Hơn ba mươi lăm năm trước, một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sài Gòn, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi ‘Ông biết tôi là ai không?’

Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút ‘hào quang’ vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi…”

Rồi 30 năm sau, trên bước đường lưu lạc trên đất Mỹ, tình cờ nhà văn Bùi Bảo Trúc đã tìm được câu trả lời thích đáng cho câu hỏi năm xưa, bằng cách kể lại một câu chuyện thú vị như vầy: “Tại phi trường, chuyến bay bị trễ, ai cũng bực bội vì phải chờ lâu, sắp hàng dài dằng dặc để chờ lên máy bay, thì có ông  khách, muốn ưu tiên, muốn nhảy hàng, mà Mỹ thường hay gọi ‘jump the queue’ hét vào mặt một nhân viên trẻ và xinh của hãng hàng không “Cô biết tôi là ai không?” (Do you know who I am?)

Cô nầy trả lời ông bằng cách hỏi người khác: “Có một vị hành khách không biết mình là ai, quý hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”

Cô ám chỉ ông nầy bị khùng rồi nên không nhớ “Tôi là ai?”

Làm bà con ai nấy đều phá ra cười vui như xem một cái phim hài hước của Vua hề Sạc Lô vậy.

Bị chọc quê, ông nầy điên lên, chửi thề ỏm tỏi… Nhưng cô em vẫn bình thản trả lời: “Ông muốn cái ‘vụ đó’ với em thì ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được!” He he!

***

Thưa bà con! Ðọc truyện nầy của ông Bùi Bảo Trúc tui khoái quá xá, gật gù tấm tắc khen hay! Viết như vậy mới là viết chớ!

Ai đọc câu chuyện nầy cũng biết đây là một vở kịch, do một tác giả tài hoa sáng tác để răn đời, để chỉ trích, để phê phán những hạng người ưa vênh váo dù mình chỉ là con cáo chớ hổng phải là con báo.

Vậy mà quỷ thần ơi, cũng có một ông, chắc muốn chứng tỏ mình là người đọc sâu hiểu rộng, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, lên mặt chê nhà văn mà tui hằng thán phục và kính mến rằng:

“Câu chuyện của tác giả Bùi Bảo Trúc ngỡ là do tác giả chứng kiến, nhưng thật ra thì không đúng! Thực ra bài này tôi đã đọc trên báo Mỹ từ lâu lắm rồi. Khi đó chưa có internet. Ổng cũng đi “chôm” của thiên hạ nhưng khéo làm như của mình đó thôi!”

(À thì ra muốn nổi tiếng, cho Vua biết mặt Chúa biết tên, phải có danh gì với núi sông, thì không có cách nào ngắn, gọn và mau (khỏi ngồi nặn óc, viết lách lôi thôi gì ráo) chỉ cần lôi các nhà văn nổi tiếng ra mà bình phẩm!)

(Nói nào ngay, nhà văn cần người đọc, cần người phê bình lắm chớ! Người phê bình hay, phê bình đúng chính là thầy ta vậy!

Vì viết văn, viết báo gì chăng nữa, những điều mình biết chỉ là một hạt cát mà điều mình chưa biết lại là một đống cát bự ế kinh luôn!)

Nhưng bộp chộp kết tội nhà văn tài tuệ nầy là chôm của thiên hạ… thì thiệt là hỗn hào quá đáng nhe!

Cũng như Nguyễn Du đã từng dựa vào Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, đời nhà Thanh bên Tàu để sáng tác ra Truyện Kiều, áng văn chương bất hủ của Văn học Việt Nam xưa giờ vậy.

Ðâu có ai nghĩ chuyện đời của Kiều là thực 72 phần dầu đâu?!

Và cũng không ai ếch ngồi đáy giếng không thấy được bầu trời cao và rộng hơn cái miệng giếng mà vội vã kết tội rằng tác giả ‘chôm’ của người nầy người nọ đâu?!

Ông Bùi Bảo Trúc đâu phải là một phóng viên, là người viết bản tin. Bản tin dĩ nhiên cần sự thật trăm phần trăm. Chuyện đó không ai dám cãi rồi.

Ông Bùi Bảo Trúc là nhà văn! Mà là nhà văn thì người ta có quyền sáng tác ra, dựng nên một câu chuyện, xoay quanh những nhân vật, diễn biến như thế nào trong một không gian hay một thời gian nào đó!

Không ai cần phải hỏi Kiều có thật ngoài đời hay không? Ðẹp cỡ Củng Lợi hay Chương Tử Di không? Hay Thúc Sinh là ông nào, có phải là tui hay không, mà sợ vợ quá thể? Hay Hoạn Thư có phải đã từng ghen đến nỗi ra tay tàn độc, bắt tình địch của mình là Thúy Kiều phải cạo đầu trọc lóc để đi tu? (Ðể cho Kiều phải tuân theo giới luật, không được lén ‘tò tí’ với Thúc Sinh hay ngay cả người khác. Thiệt ghen mà dùng thế lực để cấm vận tình địch mình, từ nay không được làm chuyện ấy nữa… thì ác quá! Cấm gì thì cấm! Cấm chuyện đó? Thà bị xử tội chết còn sướng hơn!)

Thưa ông thần nầy trông gà hóa cuốc, tưởng nhà văn Bùi Bảo Trúc lại là một ông nhà báo hay sao?!

Chuyện có thật hay không? Chẳng nhằm nhò gì ở đây hết ráo! Cái quan trọng, cái cốt lõi của một tác phẩm văn học là nó muốn truyền đi một cái thông điệp nào đó xuống cuộc đời?!

***

Như vậy té ra chỉ vì một chút hư danh mà thiên hạ nỡ nhẫn tâm, thản nhiên chà đạp lẫn nhau không thương tiếc!

Tui thì khác nhe! Vì có chuyện như vầy: Ðầu năm học một chú nhóc chuyển vào trường mới. Giờ ra chơi, chú tán gẫu với một em học trò gái.

Chú chê ông Hiệu trưởng trường nầy sao cái mặt lúc nào cũng quạu đeo hè? Thiệt trông không có cảm tình gì ráo trọi!

Ðứa học trò gái có vẻ bực bội hỏi lại: “Nè! Trò có biết tôi là ai không?”

Chú trả “Không!” “Tui là con gái cưng của ông Hiệu trưởng đây”

“Vậy con gái cưng của ông Hiệu Trưởng có biết tôi là ai không?”

Em trả lời: “Không!”

Nghe em trả lời không, chú nhóc hú hồn, mừng quá… dông luôn!

Thưa chú nhóc đó là tui 60 năm về trước đó bà con ơi!

Từ cái kinh nghiệm nhém chết nầy, tui rút ra được bài học là người ta không biết mình là ai… là mình phẻ hè!

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu

Sứ mệnh do thám Mogadishu

Howard E. Wasdin

Bài 12

Để bắt Aidid, chúng tôi phải vượt qua trò chơi đèn xanh, đèn đỏ. Chúng tôi được thông báo sẽ chẳng có tin tình báo nên ít cơ hội hành động. Đột nhiên, chúng tôi được bật đèn xanh hành động. Rồi một chỉ huy nào đó sẽ lại hủy bỏ sứ mệnh đó trước khi chúng tôi xuất phát. Một chỉ huy trong đội bắn tỉa Anh ba Xanh (Blue Team) thuộc Đội đặc nhiệm SEAL số 6 gọi điện từ Dam Neck hỏi về nhiệm vụ và cho biết đang chuẩn bị người thay hai chúng tôi vào ngày 15 tháng Mười. Chúng tôi báo cáo với người chỉ huy về những việc đang làm, những điều kỳ vọng, những trang bị cần và không cần mang theo. Ngày 22 tháng Chín năm 1993, khi đang ngồi trên giường ở nhà chứa máy bay, một Thượng sĩ thuộc JSOC đến nói chuyện phiếm với chúng tôi. Anh ta khuyên chúng tôi nên hòa đồng với các đặc nhiệm Delta, đặc biệt với các đặc nhiệm thuộc Phi đội Charlie. Ở một phương diện nào đó, SEAL khá tương đồng với Delta. Chẳng hạn, cả hai lực lượng này đều giỏi đột kích và bắn súng. Nhưng ở khía cạnh khác, chúng tôi khá khác nhau – chẳng hạn SEAL đổ bộ từ tàu còn Delta đổ bộ từ máy bay. Do thường phải tiến hành chiến dịch riêng rẽ, việc tiếp xúc với Delta thường rất khó và do môi trường cạnh tranh cao nên một số đặc nhiệm Delta tỏ ra ghen tị với chúng tôi. Trong lực lượng Delta, chúng tôi cạnh tranh trực tiếp với các tay súng bắn tỉa Delta vì nhiệm vụ của chúng tôi có nhiều điểm chung. Khi ra ngoài chơi, chúng tôi thường đi cùng lực lượng CCT và PJ vốn đã biết nhau từ trước. Cấp trên hủy bỏ chuyến bay của chúng tôi cùng với lực lượng QRF. Tôi đoán hẳn đã xảy ra mâu thuẫn giữa chỉ huy của QRF với chỉ huy của Delta. Chỉ huy Eric Olson, sĩ quan của Đội đặc nhiệm SEAL số 6, sau này là người đầu tiên trong lực lượng SEAL trở thành Tư lệnh Hải quân của JSOC, đã gặp chúng tôi tại nhà chứa máy bay. Ông đến thay Chỉ huy trưởng Tewey của SEAL vì Tewey nhận nhiệm vụ khác ở cơ quan Liên Hợp Quốc tại Somali.

Chỉ huy trưởng Olson hồ hởi nói: “Tôi chỉ đến để nói lời chào các bạn và xem các bạn đã làm được những gì.” Chúng tôi báo cáo với ông những gì chúng tôi biết. Ngày 23 tháng Chín năm 1993, có thể là do ảnh hưởng của Chỉ huy trưởng Olson, chúng tôi lại được phép bay cùng QRF, chính thức thực thi sứ mệnh theo dõi Mogadishu. Từ 3 giờ đến 7 giờ 15, Casanova và tôi bay cùng QRF. Trong thời gian này, chúng tôi nhận được cuộc điện thoại cung cấp thông tin về vị trí một ụ súng máy. Mất khoảng 5 phút, chúng tôi đến được khu vực này, nhưng những tay súng đã chuồn mất. Sau khi trở về căn cứ, tôi đánh một giấc khoảng vài giờ đồng hồ. Tôi tỉnh dậy lúc 12 giờ và lên một chiếc trực thăng cùng lực lượng PJ, Scotty và Tim để huấn luyện kỹ thuật cứu thương. Chúng tôi bay về phía nam nhà chứa máy bay và hạ cánh ở một cánh đồng rải rác có vài con dê. Tôi đứng trên cánh đồng, quay lưng lại một con dê non, bác sĩ phẫu thuật của Delta, Thiếu tá Rob Marsh, rút súng bắn vào con dê. Anh ta nói: “Tiến hành đi”. Tôi quay lại và biết cần phải làm gì với con vật này. Cầm máu động mạch chủ, ổn định hơi thở, băng bó và cố định vết thương ở ngực. Sau đó, anh ta bảo tôi quay đi và rút súng bắn vài ba phát. Tôi quay lại và kiểm tra nhưng chẳng thấy có vết bắn nào trên người con dê. Lật ngửa con dê và tôi tìm thấy một vết thương bằng dao đâm vào bên phải lá phổi. Tôi vội khâu lá phổi lại và xếp lá phổi lành lặn lên trên. Một lần nữa, Thiếu tá Marsh dùng chân dẫm mạnh lên chân sau của con dê non. Khi ông nhấc chân ra, máu tuôn trào từ động mạch ở đùi con dê giống như mạch nước ngầm phun trào. Vì vậy, tôi lại tiến hành cầm máu. Tất nhiên, nếu tôi thất bại, con dê sẽ chết. Các nhà hoạt động bảo vệ động vật hẳn sẽ buồn biết mấy nếu chứng kiến cảnh này, tuy nhiên đó lại là khóa tập huấn cứu thương tốt nhất tôi từng tham gia. Sau khi tập huấn xong, chúng tôi cho người dân con dê để họ xẻ thịt. Việc làm này chẳng là gì so với hàng triệu con bò và gà bị giết thịt làm thức ăn hàng ngày. Hơn nữa, việc làm này là sự tập luyện để cứu sống một mạng người nào đó, khi cần. Ngày hôm sau, ngày 24 tháng Chín năm 1993, chúng tôi nhận lệnh đột kích vào một phòng trà. Đại tá Hassan Awale, Bộ trưởng nội vụ của Aidid là khách quen của quán này. Tất cả bốn chúng tôi có nhiệm vụ xử lý đám tù nhân và nếu cần, Casanova và tôi sẽ hỗ trợ lực lượng Delta khi họ tấn công.

Trong khi chờ đợi nhiệm vụ tiếp theo của mình, bốn tay súng bắn tỉa của Delta, Casanova và tôi lên hai chiếc trực thăng Little Bird và bắt đầu một cuộc huấn luyện săn bắn trên thảo nguyên châu Phi. Được trang bị súng CAR-15, chúng tôi ngồi trên các chân càng máy bay và săn bắn lợn rừng, linh dương. Tôi là người duy nhất bắn hạ được một con lợn rừng. Chúng tôi hạ cánh để kéo xác con lợn và các con thú khác săn được lên máy bay. Đối với các tay súng bắn tỉa, huấn luyện bắn mục tiêu di động khi đang bay là vô cùng hữu ích. Chúng tôi trở về nhà chứa máy bay. Tôi đã cắt chiếc răng nanh của con lợn rừng làm quà tặng cho cậu qúy tử Blake. Tôi không nghĩ chiếc răng nanh là quà tặng phù hợp với cô con gái tôi. Tuy nhiên chẳng có món quà đẹp đẽ nào trong các cửa hàng nên tôi đành phải khất bé Rachel vào dịp khác. Tôi bỏ ruột con lợn, lột da, rửa sạch, rồi nướng lên. Sau đó, tất cả chúng tôi cùng thưởng thức một bữa thịt lợn nướng – một món ăn thay đổi cho những gói đồ ăn sẵn. Chỉ làm việc mà không thư giãn hẳn sẽ thành những thằng ngốc. Đã đến lúc chúng tôi cần phải xả hơi một chút. Chúng tôi quyết định tổ chức trận đấu bóng chuyền. Các sĩ quan thách đấu với lính. Trước khi trận đấu diễn ra, chúng tôi đã phục kích các sĩ quan. Tôi cùng với một số người khác có nhiệm vụ bắt cóc chỉ huy trưởng Phi đội Charlie của lực lượng Delta, Đại tá William G. Boykin. Chúng tôi lấy chiếc áo trùm lên đầu rồi trói chân tay ông ta lại và bỏ lên một chiếc cáng. Lực lượng Delta cũng làm như vậy với chỉ huy Dick Marcinko. Sau đó, chúng tôi chụp ảnh Đại tá Boykin.Boykin tham dự cuộc thi tuyển chọn vào lực lượng Delta năm ông 29 tuổi. Trung tá Burruss không ngờ Boykin sẽ đánh vào đầu gối bị đau của ông. Hơn nữa, một chuyên gia tâm lý ở căn cứ Fort Bragg đã tìm cách loại Boykin ra khỏi Delta với lý do Boykin quá sùng đạo. Boykin đã làm nhiều người ngạc nhiên khi vượt qua kỳ thi tuyển chọn và trở thành đặc nhiệm của Delta. Ông từng tham gia chiến dịch giải cứu con tin ở Iran năm 1980, chiến dịch ở Grenada, Panama và chiến dịch săn lùng trùm buôn lậu ma túy Colombia Pablo Escobar.

Ngày 25 tháng Chín năm 1993, mặc dù chúng tôi và các phi công của QRF rất muốn thực hiện sứ mệnh do thám Mogadishu, nhưng cấp trên lại không đồng ý cho chúng tôi bay cùng chuyến bay tối hôm đó. Thật khó lường với bộ phận chính trị trong quân đội – lúc họ cho phép chúng tôi thực thi nhiệm vụ, lúc lại không – có lẽ một chỉ huy cấp trên nào đó đã không muốn để mất chiến tích vào tay của Delta và SEAL.

Đêm đó, quân của Aidid sử dụng súng phóng lựu RPG bắn hạ một trực thăng của QRF. Phi công chính và phụ đều bị thương, còn ba người khác chết. Người của Aidid đã băm vằm xác ba binh sĩ tử trận. Chỉ sau vài phút, binh lính Pakistan và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) đã có mặt ở khu vực này, bảo vệ hai viên phi công bị thương. Lực lượng PJ, với sự hỗ trợ của chúng tôi, đã sẵn sàng thực hiện sứ mệnh giải cứu hai phi công trong vòng 15 phút. Tuy nhiên, do chỉ huy của QRF quá ỷ vào sự giúp đỡ của chúng tôi và không có khả năng thực hiện nhiệm nhiệm vụ đúng cách nên phải mất hai giờ đồng hồ đội giải cứu của QRF mới có mặt. Điều này hoàn toàn không thể chấp nhận nổi. Sự chậm trễ này không chỉ làm hai phi công có nguy cơ bị thiệt mạng mà còn đẩy binh sĩ Pakistan và UAE bảo vệ trên mặt đất vào tình thế nguy hiểm. Thật chẳng biết từ nhanh trong “lực lượng phản ứng nhanh” ở chỗ nào nữa. Giá như Casanova và tôi cùng bay trên chuyến bay tối hôm đó, hẳn chúng tôi đã cứu được họ. Một số người cho rằng việc dùng súng chống tăng RPG bắn hạ được trực thăng Black Hawk chỉ là ăn may. RPG là loại súng đất đối đất chứ không phải đất đối không. Nhắm bắn một mục tiêu trên không đồng nghĩa với việc luồng hơi phía sau sẽ đập xuống mặt đường rồi bật trở lại và nó có thể giết chết người bắn. Hơn nữa, trực thăng Black Hawk bay quá nhanh và được bọc thép dày chắc nên không thể bị bắn hạ bởi loại vũ khí dạng này. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh những nhận định này là sai.

Sáng hôm sau, ngày 26 tháng Chín năm 1993, chúng tôi đợi lệnh đột kích phòng trà. Nhưng nếu không có tín hiệu, chúng tôi sẽ thực hiện nhiệm vụ khác. Một thuộc hạ của Aidid đến trụ sở “Các chiến dịch của Liên Hợp Quốc tại Somali – UNOSOM” và cho biết y không theo Aidid nữa mà muốn làm việc cho chúng tôi. Vào buổi tối, một khẩu súng phòng không cỡ nòng .50 caliber được bố trí ở nhà máy sản xuất bột mì. Sáng hôm sau, khẩu súng này đã bị phá hủy. Người của Aidid đã từng thấy cách chúng tôi hoạt động và giờ đây chúng bất ngờ tấn công chúng tôi. Quả là chúng thông minh hơn chúng tôi nghĩ. Ngày 27 tháng Chín năm 1993, Aidid Qeybdid và hai trợ thủ khác đang ở trong tòa nhà của NBC. Chúng tôi đã chuẩn bị thực hiện sứ mệnh. Tuy nhiên, chúng tôi buộc phải hủy bỏ nhiệm vụ vì có người đã phát hiện thấy Aidid ở một khu vực nào đó và họ muốn chúng tôi thực hiện nhiệm vụ săn lùng Aidid.

Lực lượng CIA, SIGINT và phản gián đã bắt giam 11 người được cho là lực lượng điều khiển bắn và các pháo thủ của đối phương. Ngày 28 tháng Chín năm 1993, chúng tôi đến Sư đoàn Sơn cước số 10 dự lễ tang tổ chức cho ba binh lính tử thương trong vụ trực thăng bị bắn rơi hôm trước. Kền Kền cũng có mặt. Sau lễ tang, Kền Kền bảo tôi: “Chúng ta có rất nhiều mục tiêu, nhưng tệ quan liêu đã ngăn cản chúng ta.” Rõ ràng Kền Kền rất bất bình với kiểu làm việc như thế này. QRF gặp nhiều khó khăn trong việc hiệp đồng với Delta. Còn Delta lại gặp khó khăn khi hiệp đồng với CIA. Tuy nhiên, lớn hơn cả là vấn đề trong nội bộ Liên Hợp Quốc, đặc biệt là rắc rối do quân Italia gây ra. Thiếu sự hỗ trợ của chính quyền Clinton lại càng làm cho vấn đề lộn xộn hơn. Xác ba binh lính tử thương của QRF được đưa lên máy bay về nước.

Cuối ngày hôm đó, mặc dù không muốn, chúng tôi vẫn phải cùng ra chụp ảnh với Delta ở đường băng. Tôi buồn bã đứng ở cuối hàng. Tại sao chúng ta lại làm việc này? Nếu ai đó có được tấm hình này và xử lý chúng tôi từng người từng người một thì sao? Nhưng giờ nhìn lại, tôi rất hạnh phúc. Đó là bức hình duy nhất tôi chụp với Dan Busch, một tay súng bắn tỉa trong Phi đội Charlie của Delta. Anh đang đứng cạnh tôi. Đó cũng là bức hình duy nhất tôi chụp với người khác ngoài đội SEAL. Tôi luôn để bức ảnh này trong phòng làm việc riêng của mình. Đôi khi tôi lấy bức ảnh ra ngắm và nó lại gợi tôi nhớ tới ký ức ngày xưa. Thứ Tư, ngày 29 tháng Chín năm 1993, chúng tôi nhận được thông báo sẽ không có tin tình báo sâu. Điều này trái hẳn với những điều Kền Kền đã nói với tôi hôm trước. Tôi bay ra tàu FFG-46 đang đậu ngoài bờ biển Somali. Đây là loại tàu khinh hạm, trang bị tên lửa có điều khiển. Tại đây tôi ôn luyện để chuẩn bị cho kỳ thi nâng cấp quân hàm lên E-7. Trở về nhà chứa máy bay được biết sẽ có nhiệm vụ trong vòng năm phút nữa. Nhưng thật tiếc, nhiệm vụ này sau đó cũng đã bị hủy bỏ sau đó.

Trung tá, Chỉ huy trưởng Phi đội Charlie của Delta thông báo cho tôi kế hoạch sửa sang lại khu ở, kể cả việc thay điều hòa, các lều bạt… Sẽ chẳng có bất kỳ sự luân chuyển nào cả. Chúng tôi chỉ rời khỏi Somali khi sứ mệnh hoàn thành. Tôi được dự kiến bay cùng Sourpuss lúc 22 giờ, nhưng chiếc trực thăng của chúng tôi lại bị hỏng trước giờ cất cánh. Ngày hôm sau, ngày 30 tháng Chín năm 1993. Bên ngoài khu ở, dưới lá quốc kỳ Mỹ, thay vì treo lá cờ của Delta, lần đầu tiên người ta cho treo cờ của Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Lá cờ in hình đầu một người Mỹ thổ dân da đỏ trên nền đỏ. Lá cờ được Gã Mập lùn mang theo từ phòng chuẩn bị của Đội Anh cả Đỏ cùng với các trang bị cá nhân của mình đến Mogadishu. Khi lực lượng SEAL phải đi tác nghiệp ở một nơi nào đó, chúng tôi thường giữ bí mật với mọi người. Khoảng giữa trưa, chúng tôi nhận được báo cáo cho biết đã phát hiện ra dấu vết của Qeybdid. Chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng lên đường nhưng bộ phận trinh sát để mất dấu hắn và chúng tôi không đi nữa. Việc tìm một người trong mê cung của Mogadishu chẳng khác gì việc tìm kiếm một nốt ruồi trên thân một con voi. Lẽ ra chúng tôi nên tóm hắn từ cơ hội trước đó, nhưng đổi lại chúng tôi lại phải hủy bỏ để dò theo Aidid. Trái với điều Trung tá nói hôm trước đó, Chỉ huy Olson nói rằng sẽ có người thay thế chúng tôi vào một thời điểm nào đó.

Chiều hôm đó, tại bãi biển, một con cá mập đầu búa tấn công một người lính đang bơi thư giãn ở vùng nước biển sâu đến thắt lưng. Người lính bị mất cả hai chân: một chân bị mất đến tận hông, chân còn lại bị mất đến đầu gối, máu chảy xối xả. Tôi cũng xếp hàng cùng với những binh lính khác để hiến máu cho người bị thương. Anh ta mất khoảng 27 đơn vị máu. Thật không may, ai đó đã đặt ống thở vào thực quản thay vì vào khí quản của người lính bị thương. Mọi người đều nghĩ anh ta khó qua khỏi đêm hôm đó. Mặc dù anh ta qua cơn nguy kịch và vẫn sống sót, tuy nhiên não của anh ta bị liệt. Từ đó, anh ta sống cuộc sống thực vật. Tôi chẳng biết nên trách con cá mập hay trách người đặt ống thở nhầm. Chiều ngày 2 tháng tháng Mười năm 1993, chúng tôi chuẩn bị đột kích vào nhà riêng của Sheik Aden Adere để bắt Aidid. CIA một lần nữa khẳng định tin tức cung cấp là hoàn toàn đáng tin cậy, nhưng chẳng có mệnh lệnh nào được đưa ra. CIA vô cùng phẫn nộ. Ngày 3 tháng Mười năm 1993, khi tôi dậy, CIA nói rằng họ muốn thiết lập một vài trạm tiếp sóng ở quận Lido trong thủ phủ Mogadishu. Theo đó, các viên mật thám có thể sử dụng bộ đàm truyền tín hiệu đến trạm tiếp sóng, sau đó, trạm tiếp sóng sẽ chuyển tín hiệu về trụ sở. Tương tự, trụ sở có thể truyền tín hiệu cho các viên mật thám qua các trạm tiếp sóng này. Điều này cho phép truyền tín hiệu đi xa hơn.

Tôi mặc bộ quần áo dã chiến có áo giáp bên trong, quàng lên vai bao đạn với 10 băng đạn trên đó. Trong mỗi băng đạn chứa 30 viên. Tổng cộng tôi mang theo 300 viên đạn. Đeo dây súng cho phép tôi cử động dễ dàng hơn, đặc biệt cả khi ở tư thế nằm hay đứng có bệ tì như bức tường chẳng hạn. Tôi còn đi tất và đi loại ủng GSG9. Phần cốt tông của đôi tất được xấp sũng nước, nhưng phần len lại bảo đảm nước không thấm vào da. Quá trình bốc hơi nước giúp làm mát đôi chân vào ban ngày. Vào buổi tối, khí hậu sa mạc chuyển sang lạnh, lớp len giữ cho đôi chân ấm áp. Là một lính bắn tỉa, tôi không đeo thiết bị bảo vệ đầu gối hay đội mũ chống đạn. Để liên lạc, chúng tôi mang theo một chiếc điện thoại dự phòng cùng với các bộ đàm chống nước có khả năng mã hóa có độ bền cao loại MX-300 do Motorola sản xuất, bên thắt lưng. Tai nghe được gài phía sau tai nên nó không ảnh hưởng đến thính giác. Bộ nói tì sát vào vùng khí quản của tôi và không nhô cao lên mặt để khi ngắm bắn, chúng tôi có thể dễ dàng tì má vào báng súng mà không gặp bất kỳ cản trở nào. Tất nhiên, tôi cũng mang theo nước trong bình tông. Như thường lệ, tôi cũng mang theo con dao quân dụng Thụy Sĩ của mình. Chúng tôi lái trực thăng Huey đến sân vận động Pakistan, sau đó lái xe ô tô đến hai ngôi nhà. Sau khi cài đặt các thiết bị tiếp sóng, chúng tôi lái xe về nhà máy sản xuất mì ống bên bãi biển. Ở đó, trực thăng đã chờ sẵn để đón chúng tôi. Tôi cảm tưởng đây là ngày dài nhất trong cuộc đời mình và cũng là lần duy nhất trong cuộc đời tôi thực hiện sứ mệnh này.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 28 Sep 2023

Những giây phút…..mộng mơ

Đặng Chí Bình

Bài 5

Bây giờ, tâm hồn tôi thật thư thái, ung dung. Thậm chí, nhiều khi tôi bật ra tiếng ca ong ỏng, hoặc ồm ồm đọc thơ. Bất cứ một lời ca, một đoạn thơ, chẳng nhớ, chẳng biết của ai, bài gì, cứ thấy phù hợp với tâm tư vơi đầy của mình, là tự nhiên trỗi dậy thành lời, cho đôi tai cùng thưởng thức những phút tương đồng.

Ngồi nhiều mỏi lưng đau đít, lại nằm cho lòng siêu thoát bay nơi nơi, cho hồn lãng mạn dật dờ, chơi vơi đắm chìm trong những vùng trời hương sắc của cuộc đời. Để được nghe tiếng đời xua động, để cho võng lòng đu đưa.

Hoàn cảnh thực tại thì chẳng có một cái gì, có chăng chỉ là những cay đắng thương đau. Vì vậy, tôi phải tạo nên những cảnh đời, tôi muốn trong…..mơ. Những điều tôi không làm được trong thực tế, tôi sẽ hiện thực nó trong giấc mơ đầy.

Nằm lim dim đôi mắt, tôi nhớ lại những buổi trước ngày đi. Một anh bạn đến rủ tôi đi xem cuốn phim “Tên Trộm Thành Bá Đa”, câu chuyện cổ tích trong “Một Ngàn Một Đêm Lẻ”. Từ hàng chục năm xưa, cuốn phim đã chiếu đi, chiếu lại nhiều lần; nhưng lần nào khán giả cũng đầy rạp. Nội dung phim, tôi không trình bầy ở đây, mà chỉ ghi lại những đoạn tôi muốn đề cập.

Tên ăn trộm, đẹp trai đáng yêu này, vì muốn chữa căn bệnh quái ác, lòa và câm của nàng công chúa mỹ miều tuyệt vời, người yêu của y. Y đã phải chấp nhận “đăng ký” cùng nhiều chàng trai khác để đi tìm một bông hồng xanh. Theo lời tiên đế mách bảo vua cha của công chúa, chỉ có bông hồng xanh mới chữa khỏi căn bệnh kỳ lạ đó của công chúa.

Tất cả mọi chàng trai, tất nhiên trong đó có cả tên ăn trộm đáng yêu, sẽ phải đi qua 9 cửa ải thập phần nguy hiểm, mới tới được chỗ có bông hồng xanh. Mỗi cửa ải, với bao gian nan hiểm nguy, chết chóc, lần lượt đoàn người thưa dần, hoặc chết, hoặc bỏ cuộc. Từ cửa ải thứ tư trở đi, khi chỉ còn một mình tên ăn trộm tài ba, hiên ngang và quyết tâm này. Một mình một bóng, y len lỏi nơi núi rừng hoang vắng, đầy chết chóc đợi chờ…..

Đến cửa ải thứ năm (nếu tôi nhớ không lầm), sau bao nhiêu tính toán mưu mô, với một trận chiến đấu tưởng thập phần…tử, tên trộm đoạt được chiếc áo tàng hình của tên Sơn Thần trấn ải. Từ đó, trên đường đi tới, chiếc khăn choàng tàng hình này, đã giúp y vượt qua nhiều chặng hiểm nguy kinh hồn…để cuối cùng tìm được bông hồng xanh.

Đặc điểm của chiếc khăn choàng tàng hình, là khi nào chủ nhân muốn dùng, chỉ việc buộc quàng chung quanh cổ mình. Tức khắc, người đó sẽ trở thanh vô hình, và nếu có mang hay ôm vật gì theo, người ta cũng không trông thấy cái đó.

Đến đây tôi chợt nghĩ, nếu bây giờ trong hoàn cảnh cùm kẹp, giam cầm trong ngục tù bất hạnh này, có được một chiếc khăn choàng như vậy, tôi sẽ làm gì? Tôi sẽ làm điều gì nhỉ?…Tôi lại miên man tưởng tượng: À, tôi sẽ lợi dụng lúc tên Chiến mở cửa buồng cho ra trả bát, chờ lúc y lúi húi quay chỗ khác, tôi chỉ việc quàng cái khăn tàng hình vào cổ mình. Tôi sẽ không đi ngay, còn phải chờ xem bộ mặt ngơ ngẩn và hốt hoảng của y, khi ngẩng lên không trông thấy tôi đâu. Rồi, y sẽ nhớn nhác chạy vào buồng tôi, rồi hộc tốc chạy vào buồng tắm…..cuối cùng không thấy tôi, y chỉ còn cho là tôi đã chạy ra phía cổng xà lim, để ra ngoài sân trại chung.

Tôi vẫn chưa chuồn ngay, cứ khoanh tay đứng nhìn bọn chúng nhốn nháo, báo động, bố ráp tìm kiếm tôi khắp Hỏa Lò như thế nào, cả tiếng đồng hồ…Tội gián điệp là một trong những tội nặng nề nhất về chính trị. Một điệp viên, đang còn trong thời gian khai thác, tự dưng biến mất; chắc chắn chúng sẽ dùng nhiều người và nhiều biện pháp cao nhất để truy lùng. Đó là việc bọn chúng! Còn tôi bây giờ, tôi sẽ làm gì nữa đây? Sau đó, chắc chắn vì bụng đã quá đói lâu ngày, hãy tạm xuống bếp riêng của cán bộ Hỏa Lò, kiếm cái gì ăn cho đã một bữa, rồi nhiên hậu mới tính đến những việc khác.

Việc thứ hai, trong lúc chúng nghiên cứu, bố ráp và tìm kiếm tôi, thế nào chúng cũng xem lại hồ sơ của tôi. Vậy, tôi sẽ lợi dụng thời gian này, tìm về phòng chấp pháp Bộ Công An, để tùy cơ xem hồ sơ, chúng đã nhận định về vụ án của tôi ra sao. Tôi rất tò mò muốn biết điểm này, bởi vì trong hai năm, “đấu” cung với chúng, tôi chỉ được đứng từ một phía để suy đoán.

Ngay tối hôm đó, tôi phải vào Phủ Chủ Tịch,…..để thăm sức khỏe tên cáo Hồ. Trong lúc chờ y vào buồng ngủ, trước hết, tôi hãy thăm cái bếp Chủ Tịch phủ mà tôi nghĩ rằng chẳng thiếu thức ăn sâm, nhưng, bổ béo. Tôi cũng cần hồi sức càng nhanh càng tốt để còn phải làm nhiều việc. Trong quá trình đến Bộ Công An và Phủ Chủ Tịch, tôi đã kiếm được hai khẩu súng ngắn và một con dao sắc, bén vừa ý. Chắc cũng phải 11, 12 giờ khuya, tên cáo già mới vào buồng ngủ. Lúc đó, chỉ còn mình y và tôi trong buồng. Chờ y lên giường nằm và lúc y chỉ còn để đèn ngủ, tôi bật đèn sáng trong buồng lên. Để uy hiếp tinh thần y, tôi vẫn không cho y thấy tôi. Tôi thừa hiểu trên giường y nằm, và trên bàn y ngồi, chắc chắn phải có những nút báo động hoặc những vũ khí cần thiết để tự cứu nguy cấp thời. Bây giờ, tôi thừa lực, thừa tài để không sợ những vật ấy. Nhưng tôi cũng không cho phép y sử dụng những thứ ấy. Tôi bắt y quỳ ra giữa buồng. Có thể y sẽ phản ứng hoặc tìm cách chống trả, để trấn áp tinh thần y, tôi xẻo một tai của y. Hơn nữa, không nhìn thấy người, y sẽ phải táng đởm kinh hồn, sợ một phép và làm theo ý muốn của tôi.

Đàng nào tôi cũng sẽ giết y, nhưng trước khi phải chết, tôi muốn y được nghe và biết một số điều. Để cho y được rõ ràng, tôi dõng dạc tuyên bố:

– Tội của mày đối với quê hương, dân tộc cao như núi Hoàng Liên Sơn, nước biển Thái Bình không rửa sạch hết. Tao là người của Trời sai xuống, đại diện hàng triệu người bị mày giết hại, để xử mày đầu tiên. Đây cũng là giờ chế độ cộng sản phi nhân trên trái đất này bắt đầy bị tiêu diệt.

Mặc cho nó lạy van khóc lóc, tôi đâm một dao vào tim nó. Lẽ ra, tôi phải mang xác nó vào chuồng cọp sở thú, nhưng tôi đổi ý. Để cho quần chúng nhân dân biết, tôi sẽ vác xác nó về khu phố Hoàn Kiếm và để vào một chỗ kín đáo an toàn. Rồi, tôi tìm một cuộn dây thừng, một tờ giấy bìa to, bút vẽ. Viết cái gì đây? “Thế thiên hành đạo!”? Không được, có vẻ tiểu thuyết Tàu quá! Cuối cùng, tôi viết chữ thật to: “Tên cáo Hồ đền tội! Giờ chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới bị tiêu diệt đã điểm! Đồng bào hãy đứng dậy trả thù! Mặt Trận Toàn Cầu Diệt Cộng”.

Tôi sẽ lấy một cuộn dây và một số giấy gói, ít cái kẹp sắt, xong trở lại chỗ giấu xác y. Tôi vác y ra chỗ mấy cây sấu sát bờ hồ, chéo bên hông nhà Thủy Tạ, trước quán “Mụ Béo” trông sang. Tôi kẹp chặt tờ bìa đã viết chữ từ ngực y trở xuống. Xong, buộc dây thòng lọng rút chặt vào hai vai y. Đầu dây kia buộc vào một hòn đá ném kên cành nào tôi định treo. Tôi cắt “cái” của y, rồi lấy dao cậy mồm của y ra, nhét vào cho y ngậm một nửa, còn một nửa để lòi ra ngoài cho nhân dân trông thấy. Tôi làm như vậy vì cái mồm y lừa đảo, bịp bợm, dụ khị biết bao nhiêu người, để rồi cuối cùng, dần dần y lừa tiêu diệt hết. Cho nên, cái mồm ấy, chỉ đáng ngậm “cái ấy” của y. Tôi lại lấy đất, đá buộc thành 5 gói to nhỏ, viết bên ngoài hàng chữ “Mìn nổ chậm”. Tôi leo lên cây, dùng phương pháp liên đới kéo xác tên già lên lưng chừng, rồi cột lại một khoảng cách cho người dưới đất, với tay lên không tới. Tôi treo vào xác 3 dây gói mìn, hai gói còn lại treo trên chỗ chạng cây, phía gốc cây. Tôi buộc những gói mìn nổ chậm giả này, mục đích là kéo dài thời gian, để tụi công an ngần ngại, không dám trèo lên cây lấy xác tên cáo xuống ngay. Nhân dân qua lại đủ thì giờ, nhìn cho sướng mắt.

Bây giờ, thừa sức, thừa tài và điều kiện, tôi cũng không thèm giết những người cộng sản khác, vì bất cứ ai, dù ở cương vị nào, họ cũng ít nhiều bị tên cáo già này lợi dụng. Vậy, xét ra họ cũng đáng thương. Tôi chỉ cần giết một vài tên đầu sỏ.

Sau một đêm vừa thức vừa làm việc, tất nhiên tôi mệt mỏi, nhưng tôi không ngủ. Tôi phải ngồi trên cây, đặt một tay vào xác y, với chiếc khăn kỳ diệu trên mình, dĩ nhiên xác y cũng tàng hình luôn. Tôi muốn chờ tới khi sáng rõ, mới cho mọi người thấy. Khi đồng bào bắt đầu đi lại đông đảo, tôi mới bỏ tay ra, tụt xuống, tìm một chỗ kín đáo và an toàn để ngủ bù. Tôi cần phải lấy lại sức, để còn làm nhiều việc nữa…..

Chiều hôm ấy, tôi mò vào trường bay Gia Lâm, tìm các chuyến bay ra ngoại quốc. Tôi tìm chuyến đi Hồng Kông là nhanh nhất. Rồi từ Hồng Kông, tôi sang xứ cờ Hoa. Tất nhiên trên máy bay, tôi phải thận trọng tránh né hết mọi người. Tôi muốn đến Hợp Chủng Quốc ngay, bởi vì qua thực tế, tôi thấy dù muốn hay không, cũng phải thừa nhận Hoa Kỳ là một nước đã bỏ nhiều công sức, trong mặt trận thế giới chống cộng sản. Hơn nữa, Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện cũng như khả năng để giúp tôi thực hiện sớm chiến dịch này. Chương trình dự trù của tôi là trong 6 tháng, hệ thống cộng sản thế giới sẽ bị đập tan hoang về căn bản.

Khi tôi mò được đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn, chắc tin Hồ Chí Minh tai bị cắt, mồm ngậm chim, xác chết treo cành cây sấu ở bờ hồ Hoàn Kiếm đã được báo chí và truyền hình thế giới đang sôi nổi tìm tòi tường thuật rồi.

Hiện giờ đang trong nhiệm kỳ của Tổng Thống Johnson. Cũng có một điều khó khăn cho tôi, đó là vấn đề vốn liếng Anh ngữ cập quạng của mình. Nhưng, với thế chủ động, tôi tin là sẽ giải quyết được. Tôi chuẩn bị trước mấy ý trình bày. Trong lúc mò kiếm cái ăn, hoặc những lúc nghỉ ngơi, tôi cứ lẩm bẩm tập nói trước mấy câu đó. Chắc hẳn, ai cũng biết, với cái khăn choàng tàng hình, tôi vào Tòa Nhà Trắng chẳng khó khăn gì. Tuy là có vợ con, nhưng chắc chắn Tổng Thống Johnson phải có một phòng làm việc riêng. Chờ khi nào ông chỉ có một mình ở trong phòng riêng, đầu tiên, tôi sẽ lên tiếng chào. Chắc hẳn ông ta sẽ ngạc nhiên, đồng thời với bản tính tự nhiên của một vị nguyên thủ, ông sẽ tìm thế tự vệ chống trả. Nhưng tôi sẽ nói:

– Ông đừng sợ! Tôi đến với ông như là bạn, cần bàn với ông nhiều việc tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản.

Để ông ta yên tâm hơn và thoải mái nói chuyện, tôi nói thẳng:

– Tôi là người vừa giết chết tên Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Vậy, nếu tôi muốn làm hại ông, ông làm sao tránh thoát.

Chỉ nghe tiếng nói mà không thấy người, tất nhiên ông ta phải tin lời nói của tôi có giá trị. Tôi mời ông ta ra bàn ngồi nói chuyện. Tôi sẽ nói ngay về tình trạng Anh ngữ kém cõi của mình và yêu cầu ông ta cân nhắc thật kỹ để tìm một người thân tín biết rành tiếng Việt Nam. Người đó phải thuộc cơ quan của Tòa Nhà Trắng. Những lúc tiếp xúc tay ba, người đó phải chịu một điều kiện là bị bịt mắt lại bằng một chiếc khăn đen do chính tôi đưa, và ông ta buộc. Rồi tôi sẽ nói luôn là trong thời gian của cuộc tiếp xúc này, có thể lâu, người đó sẽ không được ra ngoài, phải ở luôn trong một phòng ngay tại Tòa Nhà Trắng. Mặt khác, tôi cũng yêu cầu Tổng Thống Johnson nâng cao ý thức bảo mật, vì mục đích chung quan trọng là tiêu diệt cộng sản một cách hữu hiệu. Tôi cũng yêu cầu ông ta không được nói với bất cứ ai dù là vợ con, về sự vô hình của tôi. Nghĩa là trên trái đất này, Tổng Thống Johnson là người duy nhất biết tôi vô hình. Ngay đối với người thông dịch, cũng sẽ để anh ta tưởng là có một người bình thường đang nói chuyện với Tổng Thống mà anh ta không được phép nhìn thấy mặt. Điều này vô cùng quan trọng, chiến dịch sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn, hoặc có khi thất bại, nếu thiên hạ biết là có người vô hình. Như thế, để sau này, mỗi sự việc xảy ra, người ta chỉ có thể tìm tòi và suy đoán theo lẽ thường tình, không nghĩ là do bàn tay của người vô hình. Người nào đã nghe thấy tiếng nói của tôi mà không thấy tôi, vì cái chủ trương phải tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, nên người đó phải chết rồi.

Tóm lại, Tổng Thống hay nước Mỹ sẽ phải chịu trách nhiệm thực hiện những chuyến bay hợp lý để tôi đến các nước cộng sản. Đầu tiên là Liên Xô, rồi Trung Quốc, Cuba, Đông Đức, Tiệp Khắc, v.v… Đồng thời, Tổng Thống mở một chiến dịch toàn cầu với những nước cần thiết hữu quan như Nhật Bản, Pháp, Anh, Tây Đức, Do Thái, Ý, v.v…để tất cả chuẩn bị rầm rộ các phương tiện tuyên truyền, quân đội, tình báo, v.v…một cách cao nhất, hữu hiệu nhất, xông vào giúp nhân dân các nước cộng sản đứng lên tổ chức lại chính quyền Cộng Hòa, Dân Chủ thực sự. Tổng Thống sẽ phải tận dựng tối đa khả năng tác động qua lại giữa bí mật là tôi, và công khai là Mặt Trận Toàn Cầu để làm tan rã nhanh chóng sự chống đối cùng quẫn của cộng sản.

Phần tôi, tôi chịu trách nhiệm thanh toán tất cả các đương kim lãnh tụ của các nước cộng sản. Bất cứ một tên cộng sản ngoan cố nào, ở bất cứ một nước nào, muốn đứng lên hô hào tổ chức chống lại, đều bị hình phạt như tên cáo Hồ.

Như vậy, tôi nghĩ, tối đa chỉ mất sáu tháng, nhiệm vụ của tôi sẽ hoàn thành. Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ bị xóa sạch trên trái đất này, và nhân loại tránh được một tai ương ghê khiếp nhất.

Tôi mở choàng mắt ra để nhìn thực tại của xà lim. Cái chân trong cùm của tôi vẫn còn đang rung rung, như dư vị của một bữa ăn tinh thần thỏa mãn còn xót lại. Ít nhất, tôi cũng được hai tiếng dồng hồ không bị gông cùm, giam hãm trong xà lim án chém của Hỏa Lò Hà Nội này. Tuy vậy, óc tôi vẫn còn đầy vơi thấp thỏm với giấc mộng diệt thù vừa qua, vẫn còn thấy khả năng của chiếc khăn tàng hình còn hạn hẹp, chưa đạt yêu cầu…

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 28 ASep 2023

Mài sắt…..nên kim!

Đặng Chí Bình

Bài 4

Hôm nay là Chủ Nhật. Vào những ngày này, xà lim càng im vắng, vì rất ít khi cán bộ vào gọi buồng nào đi cung.

Trời đã vào gần giữa hạ. Không khí hanh khô. Từ những đám rêu xanh ngoài đầu hè, những ẩm mốc (không bao giờ có ánh mặt trời ở các buồng xà lim) bốc lên một mùi nồng nồng, khăm khẳm riêng biệt. Tôi đang ngồi nhìn những nốt muỗi cắn trên tay, chân, mình mẩy và suy nghĩ, phải tìm một cái gì đó để chống đỡ với lũ muỗi này, đột nhiên cửa sổ con mở. Tên Điền thò một ngón tay vào chỉ tôi, giọng cộc lốc:

– Đi cung!

Rồi y cúi xuống rút chốt cùm, mở cửa lớn. Tôi cũng hơi một chút băn khoăn lẫn ngạc nhiên. Ngay ngày thường, bây giờ thỉnh thoảng chúng mới lại gọi tôi. Còn Chủ Nhật, hầu như từ 7, 8 tháng nay, không bao giờ còn gọi nữa. Vậy sao hôm nay lại gọi bất ngờ như thế này, có chuyện gì đây?

Trên đường đi cung, tôi phải đi qua sân trại chung. Cả một cái sân rộng bao la càng làm tăng thêm sự vắng lặng trong ngày Chủ Nhật. Khi đi tới cổng trại chung, bên cạnh xà lim II, nơi ghi dấu một đoạn đời tù, với bao nhiêu gian khổ ngày ấy. Hình ảnh một thân hình da bọc xương, đầy ghẻ lở, hai chân trong cùm, để rồi cuối cùng suýt gặp tử thần, nhưng được may mắn cứu sống. Tôi chợt nghĩ, ở cả 3 xà lim, tôi đều có dịp đến trước ngưỡng cửa nhà…..thần chết, rồi lại trở về. Tử thần chưa đón nhận tôi! Xà lim III, đang đêm đem đi bắn; xà lim II, phải đem xuống bệnh xá để cứu sống; xà lim I, chính tôi đã tìm đến cái chết. Rồi đây, trên đường đời phía trước, còn những gì chờ đợi tôi nữa?

Khi tên Điền dẫn tôi qua sân trại chung, quen như mọi khi, tôi rẽ về phía trái, nơi có những phòng tôi thường đi cung, nhưng tên Điền ra hiệu tay về phía phải:

– Đi rẽ phía này!

Ngay đầu dẫy là một căn phòng lớn, phòng của ban giám thị Hỏa Lò. Tôi hơi ngạc nhiên, khi y ra hiệu bảo tôi vào

Ngay từ cửa, tôi thoáng nhìn thấy có 5, 6 người bên trong: Một người đầu hói, tóc đã bạc một nửa, hơi gầy nhưng cao, kính trắng. Áo “vét”, dáng rất nghiêm, lạnh lùng ngồi ở giữa. Bên phải là ông Trì đeo lon Thượng Úy; bên trái là tên Lê, lon Trung Úy. Cả hai đều là Phó Giám Thị. Thái độ hai tên Trì và Lê hôm nay cũng rất trang nghiêm. Còn 2, 3 người nữa ngồi ở ghế bành dài, phía trái buồng, tôi chưa kịp nhìn. Hơi ngỡ ngàng, tôi bước vào.

Không khí trong phòng đang yên lặng, tôi mới bước chân qua cửa, bỗng rổn vang lên giọng tên đầu bạc:

– Hứ, ừ…ừ! Cặp mắt cứ như…..điện ấy!

Tôi biết tất cả những con mắt của chúng đều tập trung vào mình. Tôi tiến đến gần chỗ chiếc ghế đẩu để trước bàn, dành cho người tù, tôi đứng yên. Giọng miền Trung nặng chịch của tên Trì:

– Cho anh ngồi!

Tôi ngồi xuống, lẳng lặng suy nghĩ, không biết tên già này là ai, y tỏ ra rất tinh quái. Không khí im lặng, nặng nề kéo dài đến 1 phút. Thật là…lâu! Không một tiếng động. Bỗng, giọng tên già lanh lảnh:

– Anh Bình! Hãy ngẩng mặt lên nhìn…..tôi!

Tôi đường hoàng ngẩng mặt lên, nhìn thẳng vào … mắt y. Lão phải 60 tuổi, hay ngoài, hai mắt sáng long lanh sau cặp kính trắng. Quắc mắt, lão nhìn vào mắt tôi, như thôi miên một lúc, rồi chỉ một ngón tay dài ngoẵng vào mặt tôi, ngoáy ngoáy, quay tròn mấy vòng, giọng rành rọt:

– Trong óc anh đang cuộn lên những mưu mô, thủ đoạn chống đối. Chúng đang lộ ra trong mắt anh kia kìa! Anh quay xoắn vào bao nhiêu vòng, rồi sẽ phải mở nó ra bấy nhiêu vòng.

Vừa nói, y vừa quay quay ngược lại vòng ngón tay của y, rồi với một giọng như ra lệnh:

– Thôi, cho về!

Tôi đứng dậy đi ra, theo tên Điền vào xà lim, lòng ấm ức, đầy băn khoăn. Chỉ 10 phút, không hỏi han gì. Như vậy, y là ai?

Buổi gặp y ngắn ngủi chỉ 10 phút, nhưng đã ghi hằn nét trong lòng tôi. Cho mãi tới bây giờ, đã 21 năm rồi, hình ảnh buổi Chủ Nhật gặp lão ấy vẫn chưa phai mờ, vẫn như hiện rõ nét trong trí tôi. Giờ đây, chắc lão đã “ngủm” củ kiệu rồi, nhưng tôi vẫn còn không biết lão là ai? Làm gì? Phải nói, trong suốt 18 năm 4 tháng lao tù của tôi, lão là một trong hai tên tinh quái mà tôi đã gặp.

Về xà lim, suốt buổi chiều và tối hôm ấy, tôi vẫn còn băn khoăn suy nghĩ về buổi gặp lão già, không tên đó mãi.

Buổi trưa hôm sau, một buổi trưa nắng hạ gay gắt ngoài trời, trong xà lim ẩm thấp. Bầu không khí như trong trẻo nhè nhẹ vào lòng toi, trong khi tôi lim dim cặp mắt, nằm nghĩ đến…..nhà xí ở buồng tắm.

Ngay cạnh lỗ cầu tiều có một thùng gỗ nhỏ, đã mục vì ẩm thấp lâu ngày, đựng những giẻ rách và giấy đi cầu đã dùng rồi. Cầu tiêu này chỉ dành cho cán bộ. Cán bộ nam ít khi vào đây, vì quá xa. Ban tối, tôi thường thấy mấy cán bộ nữ vào nhà tiêu là nhiều. Có thể xà lim I sâu mãi trong này nên im vắng, cho nên cán bộ nữ thường vào tắm rửa. Tất nhiên, tôi chỉ nghe âm thanh để phán đoán. Hơn nữa, những lúc vào đổ bô, liếc nhìn trong thùng gỗ đựng giấy chùi, tôi còn thấy giẻ rách, hoặc băng màn vệ sinh của phụ nữ. Nhiều khi tôi thấy có những mảnh vải to bằng 2, 3 bàn tay, hoặc những rẻo vải của thợ may, cắt thừa từ quần áo ra.

Vì vậy, tôi đã hình thành một phương pháp chống muỗi, bằng những thứ vật liệu “vất đi” đó. Sự bẩn, hay sạch trong hoàn cảnh này, chỉ là tương đối thôi. Nghĩ vậy, tôi thực hiện ngay ý định ngay trong những ngày sau đó. Mỗi ngày 2 lần đổ bô, một tuần hai lần tắm, tôi sẽ tranh thủ nhặt rất nhanh những giẻ và vải…..chùi đít đó. Nhặt được mảnh nào, tôi đem ra vòi nước vò cho sạch phân, rồi về buồng phơi ra.

Tôi sẽ chọn những mảnh dài, còn tốt, rút sợi rồi se thành chỉ. Để làm kim, tôi sẽ lấy một cái tăm cật, mài thật xuôi và nhọn; đít kim làm bằng cách mài thật mỏng phía ruột tre, còn phía cật ngâm nước cho mềm rồi uốn đầu vào, lấy một sợi tóc buộc chặt hai vòng. Khéo tay một chút là thành một cái kim có lỗ hẳn hoi, tuy rằng khâu mũi hơi thưa, nhưng được.

Từ nhỏ, chưa bao giờ có dịp mó vào kim, nhưng bây giờ vì hoàn cảnh, nên tôi phải tập, lúc đầu sẽ xấu, lo gì, rồi sẽ đẹp lần thôi.

Khâu vá thì phải có con dao. Tôi nghĩ mãi, không đào đâu ra. Dạo này, chúng ít gọi cung tôi. Hàng ngày, tôi chỉ loanh quanh từ buồng vào nhà tắm. Vì vậy, mỗi lần vào nhà tắm tôi đổ bô như máy, mắt nhìn ngay vào thùng đựng giấy, giẻ chùi, tay bới vội lên vài lần. Chúng cũng nghèo, nên giẻ chùi thật linh tinh, đủ loại. Thậm chí, chúng còn dùng cả lá cây để chùi nữa. Có tí giẻ, chúng chùi thật kỹ, nên…..đầy phân. Tôi cứ đưa vào vòi nước, vò đại, rồi vắt khô, nhét vào cạp quần; trong khi mắt còn nhìn khắp buồng tắm xem có cái gì có thể làm con dao. Cuối cùng tôi đã tìm được.

Ở chỗ nép cửa sổ trong buồng tắm, tấm sắt nhỏ ép bên trong vì lâu ngày, nước mưa làm rỉ một góc phía dưới. Chỗ rỉ không đều nhau, nên lồi ra một khoảng to bằng ngón tay cái. Tội vội bẻ. Bẻ mấy lần chưa gẫy, bên ngoài tên Chiến đã quát:

– Nhà tắm ra đi! (Mỗi buồng chỉ được 5 phút).

– Vâng!

Thôi để lần sau bẻ tiếp vậy. Về buồng, dù một chân vẫn bị cùm, tôi cũng thấy vui vui. Bây giờ có thể tìm được dao rồi. Có dao, sẽ giải quyết được nhiều chuyện. Lúi húi móc những miếng vải lại từng miếng cho thật khô, rồi phơi rải ra phía trên đầu sàn. Trên đó còn thừa một khoảng, vì bị cùm, nên tôi phải thụt người xuống đến 30 phân ấy.

Tôi dự định sẽ khâu hai cái túi chân, hai cái túi tay và một cái …..túi đầu. Vì thế, tôi phải kiếm nhiều giẻ. Lúc đầu, tôi phải kiếm nhiều giẻ. Lúc đầu, sợ thiếu cho nên trong thùng giẻ to, giẻ nhỏ tôi lấy hết. Nếu nên cán bộ nào đi cầu, ngồi để ý nhìn vào thùng gỗ nhỏ, chắc sẽ lấy làm lạ, không biết bao nhiêu giẻ chùi dạo này đi đâu mất hết.

Ngày hôm sau, tôi đã bẻ được miếng sắt nhỏ ấy. Nó méo mó, đường kính độ một phân.

Tôi mài miếng sắt nhỏ đó vào một chỗ nhám như đá mài ở sàn xi măng. Tôi cũng phải lựa lúc an toàn mới dám mài. Chúng nó mà bắt được, cũng là phạm nội quy. Chỉ trong một ngày, tôi đã hoàn thành một con dao khá sắc bén. Tuy nó không được già lắm, nhưng cắt được móng tay, sau khi ngâm móng tay vào nước một lúc. Còn cắt vải và chỉ thì…..tuyệt cú mèo!

Kỳ này, ngày nào tôi cũng có công việc làm. Hết rút sợi, lại se chỉ, lúc thì mài kim. Hơn một tuần sau, tôi đã bắt đầu khâu. Sau một hồi tính toán nghĩ suy, đầu tiên, tôi khâu nối những miếng vải lại với nhau thành một miếng to theo ý muốn. Rồi tôi khâu một đôi túi tay bằng nhau, mỗi cái cũng phải 4, 5 miếng vải, đủ mầu. Vì có dao (cùn thì lại mài, đá mài có sẵn là sàn xi măng), nên cắt đo cũng dễ dàng. Đến 2 cái túi chân, tôi mất nhiều ngày kiếm vải và công khâu hơn. Nhất là bây giờ kim tre xem ra bất tiện, lúc kéo lên kim cứ bị móc vải, tôi phải mài và bọc lại mãi, mất nhiều thời gian.

Tôi chợt nghĩ là phải làm được một cái kim…..sắt, thì mới thật tiện lợi. Nghĩ thì dễ, nhưng đào đâu ra…..một mẩu sắt bây giờ? Vì đã có ý định tìm kim sắt, nên tôi ngừng khâu, hàng ngày chỉ lo kiếm vải, rút sợi và se chỉ thôi.

Con dao của tôi bây giờ thực đắc dụng. Những lúc ngồi buồn buồn, lại dùng cắt được cả râu nữa. Tay cứ sờ sờ, thấy sợi nào dài là cắt, cắt cả lông mũi nữa. Thật là tuyệt vời! Vì vậy, tôi phải có chỗ giấu tốt, nếu bất ngờ phải chuyển buồng, không bị mất. Nghĩa là phải luôn mang theo bên mình, và làm sao cho chúng không khám thấy, mà lúc lấy dùng cũng dễ. Sau một lúc suy nghĩ, tôi thấy không tiện gì bằng ở ngay hai mép vạt áo, chỗ gấu áo dưới khuy và cúc cuối cùng. Tôi chỉ cần lấy dao rạch nhẹ phía trong một tí, vừa con dao đút vào, như một cái túi, lại luôn đi với người, mà chẳng ai để ý.

Cái ý định làm kim luôn lẩn quẩn trong đầu, nên bất cứ lúc nào có dịp được ra khỏi buồng như: lấy cơm, đổ bô, hoặc trả bát hay đi cung…..mắt tôi thường để ý mọi vật.

Một hôm, đến lượt buồng tôi ra đổ bô, như thường lệ sau khi làm xong ở nhà tắm, tôi báo cáo:

– Báo cáo, nhà tắm xong!

Tên Chiếu ngồi ở bàn quát:

– Ra đi!

Tôi ôm bô về buồng: mọi khi, y ở bàn cũng đứng lên theo vào đóng cửa. Nhưng hôm nay, khi tôi đi ngang qua bàn y, y nói nhẹ:

– Cất bô vào buồng, rồi ra đây tôi gặp!

Vào buồng, trước hết, tôi mó mấy miếng giẻ tôi vừa nhặt và nhét trong cạp quần ra, dù hãy còn ướt, tôi cũng đút đại dưới cái gối “vỏ ba lô”. Trong dạ hơi băn khoăn, không biết có chuyện gì? Tôi ra, vừa từ từ tiến đến chỗ bàn y, vừa chuẩn bị tinh thần để đối ứng với những việc bất ngờ. Y ngẩng lên, đút mấy cuốn sổ đang xem trên mặt bàn vào ngăn kéo, rồi chỉ ghế:

– Anh ngồi đi!

Giọng y có vẻ êm dịu. Sau khi tôi ngồi, y có vẻ ngập ngừng, dè dặt:

– Anh ra Hà Nội bằng đường nào?

Tôi hơi ngạc nhiên, dù vậy tôi vẫn chậm rãi trả lời:

– Dạ, bằng hải thuyền!

– Anh đổ bộ ở đâu?

Tôi vẫn dè dặt:

– Hà Tĩnh ạ!

– Anh ra bao lâu thì bị bắt?

– Gần một tháng!

– Ở miền Nam, anh ở đâu?

– Dạ, Sài Gòn!

– Miền Nam, dân thường bị đói, vậy hàng năm, chết nhiều không?

Tôi mở to mắt nhìn y ngạc nhiên. Y cũng khựng lại, khi thấy thái độ của tôi như vậy:

– Thưa ông, ở miền Nam, tôi đã sống 8 năm, tôi chưa hề nghe cái từ “chết đói” bao giờ cả.

– Thật à?

Nghe tôi nói, mặt y vừa ngẩn ra, vừa ngạc nhiên, y chỉ thốt ra một câu “thật à?” như nửa tin, nửa không tin! Tôi chậm rãi, nói tiếp:

– Thực ra, nhà tôi nghèo, vì vậy, tôi phải xin vào trại sinh di cư để đi học, ở đó chính phủ nuôi ăn. Ngay khi còn ở nhà với bố mẹ, tôi cũng chẳng biết bao nhiêu tiền một ký gạo, vì hâu như mọi người không ai chú ý đến gạo ăn. Mà có khi nào bàn đến, cũng chỉ bàn xem chỗ nào bán món ăn ngon thôi. Còn ở trại, trong bữa cơm, trại sinh thường nắm cơm nho nhỏ để ném nhau, mỗi khi họ trêu đùa nhau trong bữa ăn. Đôi khi họ còn dùng cả những mẩu bánh mì trong phòng ăn, để ném nhau nữa. Ngoài xã hội, mỗi khu phố đều có những quán cơm, gọi là “quán cơm xã hội”. Ở đấy, họ chỉ lấy tiền thức ăn, còn cơm, tha hồ muốn ăn bao nhiêu tùy ý. Mỗi bữa chỉ có 5 đồng. Chúng tôi là học sinh nghèo, cũng ít khi hoặc chả bao giờ vào đấy ăn, vì ngượng, sợ những bạn học khác thuộc những gia đình giầu có nhìn thấy, cười.

Để ông ý niệm được, tôi xin nói là lúc đó, tức 1962 về trước, Bộ Lao Động Miền Nam ấn định lương tối thiểu cho một ngày làm của một người đàn ông là 45 đồng, đàn bà 42 đồng. Lương này gọi là lương “phù động”, quy định cho một người không biết nghề nghiệp gì, chỉ làm các việc linh tinh như quét dọn, khuân vác, v.v… Nhưng, người ta ít chịu đi làm lắm, vì lười, và vì xấu hổ. Hơn nữa, ở đâu họ cũng không đói, nên họ không cần đi làm kiểu ít tiền như thế. Vậy ông thử tính, với lương công nhân hạng bét, họ cũng làm một ngày, ăn bốn ngày. Trong khi ở miền Bắc này, tôi thấy, làm ngày nào, ngày ấy mới có ăn, mà phải làm cố gắng với hết cả sức lực của mình.

Mặt y cứ bần thần suy nghĩ. Một lúc, y nói vẻ ngập ngừng:

– Lúc nào anh kể cho tôi nghe câu chuyện anh ra miền Bắc, mỗi ngày một ít. Tôi sẽ gọi anh ra đây!

Tôi gật đầu đồng ý. Với những kinh nghiệm nghề nghiệp, tôi “ngửi” thấy y là một người tò mò muốn biết cuộc sống thực tế của miền Nam. Với chức cai tù này, y chỉ biết tội chính của người tù dưới quyền y có trách nhiệm quản lý, nhưng không được quyền biết chi tiết nội dung tội của người đó, nhất là về chính trị.

Qua một lúc nói chuyện, nhiều lần mắt y lấm lét liếc ra phía cổng, thái độ ngập ngừng như muốn dặn tôi không được nói với ai là y đã hỏi chuyện tôi; nhưng, có lẽ vì tự ái của một cán bộ nên y lại thôi, để chờ dịp khác thuận tiện. Phần tôi, tôi đã xác định rõ ràng, loại tội như tôi đã rơi vào tay cộng sản, chẳng bao giờ chúng tha, nhất là lúc đất nước lại chia đôi thế này. Vậy, đằng nào cũng thế, sợ quái gì. Tùy theo điều kiện cho phép, sẽ cho y biết thực một số nét về xã hội miền Nam. Đấy cũng chỉ là trách nhiệm của một người bình thường. Giữa người và người, thấy một người khác hiểu lầm điểm A ra điểm B, mà mình biết rõ, mình phải nói, thế thôi.

Trong lúc ngồi nói chuyện, y có những nét không được tự nhiên, vừa như băn khoăn sợ sệt, vừa như ham muốn hiểu sự thật nhiều vấn đề mà y bán tin, bán nghi. Y ngồi hỏi chuyện tôi mà cứ nhấp nhỏm không yên. Rồi khi có tiếng động ở cổng, y vội vàng ra hiệu bảo tôi vào. Tôi cũng liếc nhanh, chỉ là lão Bằng vào đi cầu, hay gọi buồng nào đó đi cung thôi.

Những ngày sau đó, tôi để ý thấy y nhìn tôi thiện cảm, nhưng chẳng bao giờ y gọi tôi nữa. Như vậy, trước hết tôi khẳng định là không phải y muốn moi móc, khai thác tôi để lấy tin báo cáo lên trên. Bởi vì nếu muốn moi tin, y phải gọi tôi ra trò chuyện nhiều lần nữa, vì câu chuyện đang có chiều hướng thuận lợi cho y muốn tìm hiểu. Như thế, chỉ có thể là y tò mò muốn biết, lại vừa sợ tôi vô tình ra chấp pháp nói rằng cán bộ xà lim gọi ra hỏi chuyện. Hỏi như vậy trong khi không được lệnh, là y có khuyết điểm. Khuyết điểm này lại về tư tưởng. Cuối cùng, vì chỗ đứng và vì nồi cơm, dù tò mò thích biết rõ những điều mình nghi ngờ nhưng y cũng đành chịu vậy thôi.

Điều này cũng cho tôi thấy, ngay trong hàng ngũ cán bộ của chúng, nhiều tên tư tưởng cũng đã rạn nứt, bán tin, bán nghi về những lời “thánh kinh” của đảng dạy bảo rồi.

Ngay chiều hôm ấy, khi ra lấy cơm, tôi thoáng nhìn thấy ở đầu chiếc nan gỗ sắp long, của cái chõng bằng cây, nhà bếp vẫn khênh thùng nước và cơm, có một cái đinh khoảng 5 phân đã thò đầu ra đến một phần ba rồi. Làm sao mà lấy được đây? Ác cái là, những lúc lấy cơm, tên Chiến thường đứng ngay đấy nhìn, bởi vì trước đây nhiều lần có hiện tượng xẩy ra là buồng được ra lấy cơm trước, cán bộ không để ý, đã bốc một nắm của bát khác bỏ vào bát mình. Có khi bốc cả canh, cả rau nữa, dù là rau muống già nấu muối, đen xì và cũng chỉ được vài gắp, trong cái bát nhỏ. Nhất là hôm nào, lâu lâu có bữa tươi, có mấy miếng thịt heo, hoặc thịt trâu, cán bộ càng phải coi kỹ, kẻo những anh ra sau chịu thiệt. Dù rằng bị cán bộ bắt được, phải bị cùm, có khi còn bị sỉ vả ở xà lim, nhưng mỗi người, mỗi buồng, chả ai trông thấy ai, nên họ đâu có ngượng.

Nhiều lúc trả bát, nhiều khi tên cán bộ nào lười không đi ra, đi vô theo, thường đứng ở cửa buồng chờ tù ra đặt trả bát, rồi múc gáo nước đi vào, y chỉ việc đóng cửa cài then thôi. Tôi phải chờ thời cơ, trong lòng cũng hơi lo, nhỡ ở dưới nhà bếp, tên nào nhìn thấy chiếc đinh như vậy, ngứa mắt lấy búa đóng lại thì hỏng. Phải chờ chực mãi; 4 ngày sau mới có dịp. Hôm đó, đúng lúc tôi trả bát, bỗng có tiếng huỳnh huỵch ở buồng số 12, tên Chiến vội chạy vào xem. Thời cơ đến, tôi chả cần biết chuyện đó là chuyện gì, lẹ làng như máy, tôi cúi xuống rút chiếc đinh tôi đã nhắm từ mấy hôm trước. Chiếc đinh đã lúc lắc, nhưng vì đầu chiếc đinh nhỏ, nên kéo ra đau tay quá. Mắm môi, mắm lợi mà không kéo nó ra được. Không có cái gì, tôi vơ vội tà áo của mình làm lót tay, nghiến răng rút. Vừa rút được xong, cửa cổng xà lim xịch mở, tên Kế, cán bộ ngoài trại chung đi vào. Thật hú vía, nếu lão vào sớm một chút, hỏng cả việc.

Tôi càm gáo nước đi vào. Bây giờ tôi mới chú ý nghe tiếng quát của lão Chiến, trong lúc y đang cúi rút chốt hai cái cùm, với hai người bên trong buồng số 12:

– Cho chân vào!

Chốt cùm vào xong, y lại mắng:

– Các anh là con vật à? Tù trong xà lim còn đánh nhau!

Lúc nãy, vì tập trung chú ý vào việc nhổ đinh, nên tôi không biết vì sao họ đánh nhau. Nhưng, dù sao chăng nữa, câu tên Chiến mắng vẫn đúng với họ. Tôi chẳng biết họ là ai, tội gì, nhưng qua việc này, họ cũng đáng chê!

Tên Chiến trở lại buồng tôi cài then cửa, rồi mở cửa nhỏ nhìn vào, thấy chân tôi đã ngoan ngoãn để trong cùm rồi. Y chốt then cùm, xong mới trở vào buồng số 7 gọi cung, vì tên Kế đang đứng chờ.

Cửa đóng rồi, tôi quay lưng lại phía cửa, lấy cái đinh ra coi, nó hơi bị cong queo. Lợi dụng những kẻ hở của chiếc cùm sắt, hoay hoay một lúc, tôi đã uốn được chiếc đinh thẳng ra. Nhìn chiếc đinh, tay mân mê: “To quá”, tôi ngẫm nghĩ, mãi đến khi nào mới thành…cái kim!”. Hơn nữa, tôi có được mài tự do đâu. Không nghe ngóng, che giấu cẩn thận, lại một chân nữa vào cùm như chơi. Mà còn mất cả cái đinh, tôi đã tốn nhiều tâm óc mới lấy được, mục đích là để hoàn thành những đồ dùng chống muỗi.

Tất cả mọi thứ đã đủ rồi, chỉ còn mỗi cái kim nữa thôi, là sẽ hoàn toàn mục tiêu. Nghĩ như vậy, tôi nâng cao quyết tâm mài.

Tôi tìm những giờ an toàn để mài. Ban đêm, im lặng quá, thậm chí có những đêm mất ngủ, tôi còn nghe rõ tiếng gãi bụng rồn rột ở buồng số 14. Buồng số 2 không mở cửa bao giờ. Buồng số 1 ở phía trái, cách một buồng số 2. Buồng 4 ngay cạnh phía phải cùng dẫy; buồng 14 ở ngay đối diện. Ba buồng này; 1, 4 và 14 ban đêm tôi nghe thấy cả những tiếng thở dài, tiếng kéo bô, mở bô, đi giải, hay đi cầu. Vậy bây giờ tôi mài, tất nhiên họ cũng biết, và có thể các buồng phía trong cũng nghe thấy, chỉ có điều họ không biết tôi mài cái gì. Tóm lại, ban đêm tiếng mài nghe rõ, nhưng cũng có lợi điểm là nếu để ý lắng nghe, khi cán bộ vừa mở cổng xà lim, cách xa đến 40 mét, thì trong này đã biết có người vào rồi. Vì vậy, tôi thường mài về đêm, và vào ngày Chủ Nhật.

Đầu tiên, tôi đè thẳng cây kim xuống sàn. Cứ đẩy dọc. Một lúc, cái đinh nóng quá, tôi phải lót tay 3, 4 lần vải mà vẫn nóng; sau phải mài nước. Tôi chủ định mài vuông 4 mặt cho nhỏ dần. Khi nào cái đinh bé theo ý muốn, tôi mới mài tròn, và mài nhọn. Điều may là trước đây, tôi đã là thợ kim hoàn, nên tính toán kết hợp với sự khéo tay, cũng không khó khăn lắm, chỉ mất nhiều công.

Nhiều lúc mài, tay mỏi rời, tôi thấy cũng nản, định bỏ cuộc vì cái đinh…..to quá, mài lại không được tự do, vừa mỏi tay, vừa căng thẳng tinh thần. Những lúc như thế, óc tôi lại nhớ đến bài học thuộc lòng, trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lúc còn nhỏ:

Có Chí Thì Nên

Làm trai chí ở cho bền.

Chớ lo muộn vợ, chớ phiền muộn con.

Khi nên trời giúp công cho,

Làm trai năm liệu, bẩy lo mới hào.

Trời sinh, trời chẳng phụ nào,

Công danh gặp hội, anh hào ra tay.

Trí khôn sẵn để dạ này.

Có công mài sắt, có ngày…..nên kim.

Một thoáng mây buồn vương trong trí tôi! Như vậy, tôi chỉ có thể hiện thực được vế dưới của bài học, cái vế…mài đinh thành kim. Còn vế trên, vừa bất tài, lại vừa mang số phận hẩm hiu nữa, nên đành chịu thua. Không có tài đã là một điều bất hạnh rồi, lại gặp buổi không may, vào xà lim ngồi, đáng quá rồi! Mặc dù đã thừa nhận như vậy, nhưng tôi vẫn không khỏi cảm thấy vướng vất một nỗi uất nghẹn, tủi hờn. Uất nghẹn, tủi hờn của một người không đủ khả năng, để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Chỉ một áng mây đen lững lờ trôi qua, thế mà tay tôi như chùn lại không muốn mài nữa. Nổi buồn nguy hiểm thật, làm chậm bước trên đường đi tới. Thôi tạm biệt mi! Đối với Francois Sagan thì “Bonjour Tristesse”, nhưng tôi thì phải nói “Adieu Tristesse!” mới đúng. Lại bắt tay vào việc. Thật vất vả, hơn nửa tháng trời tôi mới hoàn thành chiếc kim.

Do sự khéo tay của nghề vàng, tôi đã biến một chiếc đinh thành chiếc kim thật óng nhọn; nhất là phía đít kim, mài mỏng, uốn gấp lại, rồi mài thành một cái lỗ nhỏ xúi, rất vừa ý. Trong quá trình, tôi vừa làm vừa nghiên cứu, mới đầu chưa tốt, rồi dần dần thành tốt, thành đẹp. Tôi giấu chiếc kim này thật bí mật, ngay trong cái quai ba lô ở đầu giường. Tôi vẫn để chiếc kim tre đấy, phòng hờ cán bộ nào khác thắc mắc, hỏi lấy kim ở đâu để khâu, thì giơ ra.

Bây giờ có kim rồi, tôi khâu rất nhanh. Khâu mãi cũng quen tay, nên tôi khâu ngày càng nhanh, mà lại đẹp. Lần lượt tôi khâu đến 2 cái túi chân. Tôi khâu cái túi dài lên quá bắp chân.

Tối đến, tôi cho 2 chân vào túi, kéo hai ống quần trùm ra, rồi lấy hai sợi dây buộc lại như đi ủng. Hai tay cũng hai cái túi dài quá cổ tay. Tôi khâu dính liền hai sợi dây vào thành túi, khi cho tay vào rồi, chỉ việc cầm dây cuốn hai vòng, rồi giắt đầu dây chặt lại. Còn trên đầu là cái túi to. Tôi đã cố dành những mảnh giẻ lớn và mỏng để khâu túi … đầu.

Lúc đầu, tôi chỉ khâu một cái túi, rồi chui đầu vào. Túi dài xuống bên dưới cổ, cho vào trong cổ áo, rồi cài khuy áo cổ lại. Nằm một lúc, rất nóng và bí hơi, khó thở. Tôi suy nghĩ, trên đầu có tóc, muỗi không đốt được, vậy có thể tháo phía trên ra, rồi khâu vào như cạp quần, xỏ luồn sợi dây nhỏ để thắt lại, muốn để lỗ to nhỏ tùy ý. Tôi thực hiện như ý nghĩ, xong đội túi vào. Nằm xuống một lúc, thấy vẫn nóng, vẫn khó thở. Tôi lại nghĩ, lỗ mũi mình luôn luôn thở ra hít vào, dù là ngủ, vậy các chú muỗi không dám đến cắn. Tôi lại khoét ra một lỗ rất xinh, lại khâu viền nữa, thò vừa cái chỏm mũi ra và hai lỗ mũi. Thế là ổn rồi!

Bây giờ đang đầu tháng 8 dương lịch, vẫn đang giữa mùa hè, trời nóng ghê gớm. Tối đến vẫn phải đóng bộ như trên. Các đồng chí muỗi của cộng sản, từ này chỉ đứng ngoài khóc thôi, nghe các chú! Nhưng sáng dậy, mồ hôi ướt đẫm quần áo. Mùa hè nóng như vậy, ngay cởi trần, và chỉ mặc quần đùi, mà mồ hôi còn ra nhễ nhại, huống chi mặc quần áo, lại che tay chân, trùm kín đầu. Cũng đành, phải chịu đựng chứ biết làm sao!

Cũng trong khoảng thời gian này, nhiều đêm tôi phải dậy đột ngột. Có những đêm tôi đang ngủ ngon lành, tôi giật mình thức dậy vì những tiếng đập cửa buồng thình thình. Tôi ngồi lên, mất một lúc mới tháo được túi trùm đầu ra, thì lại nghe người bên ngoài buông thõng một câu:

– Thôi, nằm xuống đi!

Vài lần xẩy ra như vậy làm tôi ngạc nhiên, nhưng sau tôi hiểu ra. Tên cán bộ đi tuần đêm, thấy tôi nằm thẳng cẳng, tay chân, đầu đều bó kín, nghĩ là tôi tự tử, hay chết rồi không chừng, y liền đập cửa gọi. Đến khi tôi ngồi dậy, rút đầu ra khỏi túi, y đã hiểu là tôi làm như vậy chỉ để chống muỗi, nên y lại bảo nằm xuống… Với tên cán bộ nào thấy như vậy rồi, thì lần sau y không gọi nữa. Nhưng, những tên cán bộ khác lại phải gọi. Mà một đêm thường phải đến 3, 4 tên trực trong khoảng từ 10 giờ tối, đến 5 giờ sáng. Cũng may, dần dần tất cả tụi cán bộ Hỏa Lò đều biết, nên đêm đêm tôi đỡ phải giật mình thức giấc nữa. Chỉ còn những trường hợp đột xuất, cán bộ Sở Công An sang đi kiểm tra ban đêm, dĩ nhiên không biết, lại đập cửa.

Bây giờ, tôi lại thấy hai cái túi tay hơi bất tiện, ở chỗ muốn cầm cái gì, hay buộc dây chẳng hạn, cũng khó. Kẹt nhất là việc…..gãi, vì không có ngón tay. Tôi lại nghĩ việc cải tiến thành đôi…..”găng”, có những ngón tay đỡ lùng thùng. Và, tôi bắt đầu tiến hành, chỉ mươi ngày sau, tôi đã kiếm được mấy miếng giẻ to. Tôi chọn 4 miếng to nhất, xòe bàn tay ra, rồi đặt úp xuống miếng vải. Làm sao, có cái gì để vẽ đây? Tôi nhìn quanh, à cái chổi Thanh Hao kia! Tôi lấy một đoạn cuống, đốt cháy đến đâu tôi dầm vào gáo nước tới đó. Thế là tôi đã có một cục than nhỏ! Tôi nhẹ tay vẽ theo hình những ngón tay xòe ra, rồi dùng lưỡi dao nhỏ cắt dần theo đường vẽ, được hai miếng cho tay này, và hai miếng cho phía kia. Rồi khâu, khâu xong lộn ngược ra, tôi thấy ở những kẽ giữa hai ngón tay, dồn vào một cục, trông không ra làm sao cả. Tôi lại nghiên cứu, dần dần cũng giải quyết được. Dây buộc ở cổ tay, đêm ngủ giẫy giọn thế nào cứ bị tuột ra. Để tránh tình trạng này, tôi lấy hai cái cúc ở áo cũ, đính vào phía trên cổ tay áo mỗi bên; trên cổ tay “găng” cài vào, mà lại không bị tuột khi ngủ, dù tay có vung vẩy. Bây giờ, tay đeo “găng”, có ngón, gãi cũng được. Ban đêm như vậy người tôi che kín hết, chỉ thò ra ngoài có cái chỏm mũi thôi, vậy mà có nhiều con muỗi cũng thật tinh khôn và dũng cảm. Có hôm, tôi mới đóng bộ, còn nằm thả hồn theo gió mây, chưa ngủ, một chú muỗi đậu vào đốt. Tôi chờ, lừa tay khẽ nện cho chú một phát. Mở túi đầu ra, tôi nhìn thấy máu và một chú muỗi bẹp dí.

Lúc này, vào nhà xí, chỉ khi nào thấy miếng giẻ to và còn tốt, tôi mới lấy để chuẩn bị khâu “bí tất” cho mùa Đông tới. Tôi lấy được một miếng vải hoa cũ, tôi khâu một cái túi để đựng kim tre, chỉ và giẻ vụn, bao diêm, cái điếu, lược, bàn chải đánh răng v.v… Bên ngoài cái túi đó, tôi khâu thêm một cái túi nhỏ xíu, để đựng mấy cái tăm. Mỗi cái tăm, tôi dùng ít nhất cũng một tháng, cho tới khi mục gẫy mới thôi. Mỗi lần xỉa răng xong, tôi lại cầm gáo nước đổ một tí để rửa, rồi cắm vào một cái lỗ nhỏ, tôi đã làm sẵn ở túi đựng tăm. Gói tăm, lúc mới bị bắt vào có 24 cái, giờ đã hơn hai năm rồi mà vẫn còn tới 10 cái. Tôi đính dây vào chiếc túi và móc treo cái túi đựng đồ linh tinh này vào cái cuống chổi Thanh Hao, tôi đã cắm sẵn ở một lỗ đinh trên tường.

Cuộc sống cũng thấy nề nếp, ung dung hơn trước. Tôi lại hí hoáy tập thêu chữ “B” hoa thật to ngoài chiếc túi ấy. Trông cũng đẹp chán!

Dạo này, một điều làm tôi hưng phấn là, kể từ ngày tôi quyết tâm tập thể dục và phương pháp “A” hàng ngày, cho tới nay mới được hơn ba tháng. Vậy mà bệnh nhức đầu quái ác của tôi đã khỏi hẳn, lúc nào tôi cũng không hay. Thêm nữa, tinh thần của tôi tương đối sảng khoái, thanh thoát. Ngay dáng dấp, phong độ của tôi cũng nhanh nhẹn hẳn lên.

Thế là, hàng ngày ngoài những lúc lúi húi, loay hoay thêu cái này, vá cái kia, tôi ngồi tập thêu chữ, thêu cành hoa, v.v….Xấu thôi! Nhưng là những tác phẩm, do chính tay mình tạo ra, ngắm nhìn cũng thấy vui vui, thấy cõi lòng nhè nghẹ, lâng lâng như được bồi thêm sinh khí. Hơn là cứ ngồi không, hết nhìn cái cùm, lại nhìn cái bô, với 4 bức tường chật hẹp…..

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 28 Sep 2023

Chuyển biến tinh thần

Đặng Chí Bình

Bài 3

Một điều thật phấn chấn trong lòng tôi! Đúng 7 ngày sau khi bị cùm hai chân, hôm đó vào sáng thứ Ba, tôi đang nằm bơi lội trong nỗi sầu khổ đau vì hai cái chân mỏi nhức trong cùm, với cái đầu cứ cắn buốt từng cơn, bỗng cửa buồng xịch mở. Tên Chiến bước vào, trước bốn con mắt mở to của tôi và anh Đà, không biết có chuyện gì với người nào trong chúng tôi. Tên Chiến nhìn tôi, vẻ trịnh trọng:

– Hôm nay, lệnh Ban Giám Thị chỉ cùm anh một chân!

Tôi thấy như truyền vào cơ thể một nguồn sinh lực, vội vàng nhấc cùm và nhấc chân ra. Tôi ôm cái bô, cùng anh Đà đi vào nhà tắm. Trên đường đi, nhìn thoáng mặt tên Chiến, hôm nay tôi thấy mặt y trông thật dễ coi; hai con mắt y đăm đăm nhấp nháy nhìn tôi nhơn nhơn với cái vẻ như vừa ban ân huệ cho một người cùng khổ.

Từ nay, chỉ phải cùm một chân, tôi nằm ngồi sẽ bớt được trăm phần khó khăn. Chỉ còn cái đầu, vẫn ngày đêm hành hạ tôi, như Phật Bà Quan Âm hành ông Tề Thiên Đại Thánh ngày xưa!

Những ngày sau đó, đầu tôi càng cắn nhức, nhiều lúc như muốn điên lên. Trước kia, thỉnh thoảng một tháng, có khi đôi ba tháng, tôi mới bị nhức đầu một lần. Tôi chỉ ngậm 1 viên Aspirine, hay Aspro, tan hết viên thuốc là khỏi. Nhưng, từ sau ngày tôi thắt cổ không chết, hậu quả đến với tôi là chứng bệnh quái ác này. Tôi cứ nằm miên man,óc vẫn không ngừng nghĩ suy vơi đầy. Tôi nhìn, rồi suy ngẫm, biết bao nhiêu gian khổ từ ngày tôi bị bắt. Biết bao nhiêu lần tôi sát nách với cái chết chỉ trong tấc gang. Giòng suy tư về những chìm nổi của kiếp người, cứ chảy dài trong tâm tưởng tôi.

Từ những thực tiễn đau thuơng, tôi thấy rằng: Đời một con người chỉ là một chuỗi dài những con dấu cộng giữa những giai đoạn thuận tiện và khó khăn. Khi ở giai đoạn thuận tiện, con người hớn hở, vui tươi, nụ cười không tắt trên môi. Ngược lại, khi ở giai đoạn khó khăn, mặt mày sầu héo khóc lóc, than van, oán trời, oán đất. Vậy, sự sầu héo, đau thuơng, rên rỉ này có thể thay đổi cái công thức của một đời người trên, trở thành chỉ là những giai đoạn thuận tiện được hay không? Hỏi là trả lời. Ai cũng thấy là không thể được, trừ phi không phải là người. Như vậy, sự sầu héo, rên rỉ đó đã không giải quyết được gì, còn mang một cái hại, tùy theo mức độ.

Trước nhất, khi anh sầu héo, chán nản, anh sẽ bi quan, tiêu cực mọi mặt trong cuộc sống. Mặt mày ủ dột như thần sầu. Ngay ngồi lên nằm xuống cũng chán chường, chậm chạp, nhìn đâu cũng thấy một mầu xám úa. Suốt ngày đêm chỉ thở vắn than dài, thì trí óc còn làm sao thoải mái khôn ngoan, minh mẫn để hòng tìm ra một phương cách cải tiến từ giai đoạn khó khăn sang thuận tiện? Huống chi, đã xông vào miền bão tố, vùng lửa đạn để chiến đấu. “Ngay những ai kia, đã chiến thắng mà không từng chiến bại? Ai khoe khôn, mà đã chẳng từng bị dại, đôi ba lần?”

Tôi đã sai lầm, sai lầm trầm trọng gần hai năm nay, cứ ngày đêm rên rỉ ngụp lặn trong biển sầu. Cuối cùng, không những tôi không giải quyết được vấn đề, mà còn đa mang thêm những di hại nữa. Phải dũng cảm chấp nhận mọi thương đau trên đường đi tới:

Trên đường đi, nhiều cay đắng âm thầm,

Hãy nhận lấy để dồn vào………sâu kín!

Bằng xuơng, bắng máu, tôi mới rút ra một thực tế: Không được phép chán cuộc sống này, bao giờ cũng phải trang bị tư tưởng lạc quan tích cực cho mình. Tôi nhớ đến một câu danh ngôn của Pháp, nhưng không nhớ tên tác giả: “Quand on n’a pas ce que l’on aime; il faut aimer ce que l’on a!”(Khi mình không có cái mình thích, thì hãy thích cái mình có). Bây giờ tôi có cái gì? Ngày 2 bữa cơm ngon tuyệt vời. Mỗi bữa cơm, cứ thấp thỏm đợi chờ, mong ngóng. Rồi khi được hưởng thụ, có cái sướng vập vồ, khao khát mà khi còn ở ngoài đời, một bữa ăn sang nhất cũng không thú bằng, sướng bằng.. Bởi vì trong thực tế, hạnh phúc của cuộc đời có cái tiêu chuẩn quái náo đâu. Cho nên, người xưa đã rút ra:

“Tri túc, tiễn túc, đãi túc hà thời túc,

Tri nhàn, tiễn nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn”.

Và, tôi cũng xin làm theo cụ Nguyễn Công Trứ. Theo sách sử, mãi tới năm 42 tuổi, cụ mới thành đạt. Còn trước đó, cụ đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, gian nan, nghèo túng. Với “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch”…..Trong những giai đoạn này, ngoài những giờ nhào nặn văn chương để chuẩn bị cho ngày tới, cụ phải tự tạo cho mình những cái cụ chưa có thể có, bằng cách tìm một lối thoát cho tinh thần. Nghĩa là siêu thoát, để quên cái thực tại bần hàn.

Tóm lại, nếu không có cái mình thích, hãy thích những cái mình có. Cái “có” của tôi trong cảnh này tuy cũng có, nhưng có phần hạn hẹp, tôi phải tạo nên “cái” tôi chưa có vậy. Do đó, tôi thả hồn bay khắp phương trời, tha hồ theo ý muốn; và tôi vẫn nhởn nhơ nhìn tụi cộng sản. “Mày bắt được tao, mày giam tao, cùm tao, nhưng đố tụi mày giam cùm được tư tưởng của tao đấy”

Một quan điểm nữa. Tôi nhớ đến một câu trứ danh của Madame de Maintenon: “Nếu khi nào anh bị đau khổ, bất hạnh, liều thuốc thần tuyệt vời để chữa khỏi, là anh hãy chỉ nghĩ đến những người đang khổ đau, bất hạnh hơn anh!”. (Quand vous vous trouvez malheureux, songez aux plus malheureux que vous; c’est un remède qu’est infaillible!).

Theo quan điểm của tôi, những tư tưởng thuộc loại “Hoa Thơm Cỏ Lạ” của phương Tây và Cổ Học Tinh Hoa của phương Đông đều được rút tỉa ra từ cuộc sống thực tiễn của loài người, qua nhiều thời đại. Tất nhiên, chẳng phải chúng ta chỉ áp dụng nó một cách rập khuôn, cứng ngắc. Mà phải suy lý, phân tích để thích ứng với thực tế, thời đại của chúng ta. Nghĩa là có bổ sung, hoặc sửa đổi đôi chút, nhưng tôi thấy điều này cũng chỉ hạn hữu. Điều quan trọng là ta có áp dụng nghiêm chỉnh hay không mà thôi. Thí dụ: Anh bị cùm một chân, hãy chỉ nghĩ đến người A, người B đang bị cùm hai chân, đến C cụt chân, đến D lòa đôi mắt v.v… Nếu chêm vào đấy, anh nghĩ đến hình ảnh của một người bạn anh đang ở Sài Gòn đang đèo một cô gái trên xe vespa Italy phây phây lượn lờ trên phố phường để khoe hương, khoe sắc, tất nhiên hiệu lực sẽ giảm đi.

Chỉ có một đêm mầy mò suy nghĩ, sáng hôm sau, tôi nhìn cuộc đời đã thay đổi hẳn, không cón cái mầu xám xịt, héo úa của mọi khi. Tinh thần của tôi được nâng cao rõ rệt. Nhân sinh quan của tôi thay đổi hẳn. Cũng từ đấy, tôi suy nghĩ đến cơ thể của mình. Tôi đang mang cái bệnh đau đầu quái ác này, lại không có thuốc chữa, vậy chính mình phải tự cứu lấy mình. Tôi nghĩ đến phương pháp Dưỡng Sinh (relaxation) của phương Tây, Yoga của Ấn Độ, Đề Khí Vận Công của nghiệp võ, và phương pháp Cốc Đại Phong của Trung Quốc. Tôi rút tỉa những tinh túy nhất, phù hợp với thực tế của cơ thể tôi trong điều kiện này. Tôi cũng lại nhớ đến phương pháp “Long Live” mà một tờ tuần báo Mỹ, đã có công phỏng vấn 100 cụ già nhất, ở khắp nơi trên thế giới (Tất nhiên toàn những cụ trên 100 tuổi cả), rồi đúc kết lại. Câu hỏi chính là: “Vì sao cụ sống lâu như thế?”. Tùy theo chủ quan của mỗi cụ. Các cụ trả lời từ nguyên nhân chính, đến nguyên nhân phụ. Sau đó, tôi trộn lộn tất cả, rồi tự rút ra một phương pháp tạm gọi là “A”, để áp dụng cho chính mình. Tôi cứ áp dụng, rồi lại bổ sung, hoặc sửa chữa, sao cho phải đạt được 3 điểm:

– Không mất nhiều thời gian.

– Đơn giản, có thể ở đâu và lúc nào cũng làm được.

– Hiệu quả cao nhất.

Phương pháp “A” chỉ cần từ 15 đến 20 phút mỗi ngày. Nằm thẳng cẳng. Đầu không gối gì, để chân và tay ở tư thế hoàn toàn thoải mái, hơi thở đều đều, từ tốn, mắt nhắm lại. Lúc đó, sẽ thấy một mầu, có thể là mầu xanh, vàng, hồng, đỏ v.v… Dùng ý chí chế ngự sao cho chỉ còn một mầu duy nhất, hiện ra trong óc mình. Như vậy vừa đạt được tinh thần chế ngự mạnh, lại vừa giữ được óc nghỉ ngơi, không một sự việc gì có thể xâm nhập. Những ngày đầu hơi khó khăn, để chế ngự duy nhất một mầu. Nhưng với quyết tâm, sẽ làm được, và dần dần trở thành thói quen.

Tôi cứ thực hiện như vậy một cách nghiêm chỉnh. Vì không có đồng hồ, tôi phải nhẩm đếm 300 lần bằng hơi thở, để ước định thời gian tập. Sau này thế nào không biết chứ ngay trước mắt, tập xong, mở mắt ra, tôi cảm thấy tinh thần sảng khoái, mắt sáng ra như sau khi chợp được một giấc ngủ ngon.

Còn về mặt tập thể dục. Tôi nghĩ rằng, trên đời này không có một vị thuốc nào, kể cả cao, sâm, nhung…..có thể tốt, bổ bằng thể dục, với điều kiện làm sao cho đúng. Bởi vì, qua thực tiễn cuộc sống, kết hợp với sự suy lý phân tích, ta phải thấy: Ngay cơm gạo là thứ bổ nhất để nuôi sống con người, nhưng nếu ăn quá độ thì không bội thực, cũng làm cho con người mệt mỏi, tức bụng, còn yếu, mệt hơn khi chưa ăn. Tập thể dục, hay tập võ cũng vậy, đừng thấy người ta làm sao, rồi mình cũng làm thế. Cơ thể con người tuy có nhiều cái chung, nhưng cũng có nhiều cái riêng. Về mức độ, lại hoàn toàn khác nhau. Anh A ăn 3 bát cơm, không sao, rất khỏe, nhưng, anh B ăn 3 bát cơm, sẽ khó chịu, muốn bệnh. Anh A cữ 10 lần tạ, khỏe ra, ngực, tay nở nang; anh B muốn cố gắng để cho sức khỏe bằng anh A, nên cũng tập như vậy, da tái lại, gầy đi, nhiều khi còn bị một số chứng bệnh về tim nữa.

Từ những suy luận trên, tôi tập một số động tác thể dục thích ứng với cơ thể ngồi tù một chỗ; ăn vừa không đủ no, vừa thiếu chất dinh dưỡng, lại bị cùm một, hoặc hai chân.

Một điều nữa, con người sống được là do hai yếu tố chính là thực phẩm và khí trời. Cả hai thứ đều cần thiết và gắn bó với nhau như một chất hữu cơ. Có thứ này mà thiếu thứ kia, con người cũng không sống được. Tuy vậy, về mặt nào đó, không khí cần thiết hơn. Cụ thể, nhịn ăn một vài ngày, không chết; nhưng chỉ cần thiếu không khí trong 10, 20 phút, là đời đi tong! Thế mà, không khí lại vô vàn, vô tận ngay chung quanh ta. Cộng sản chỉ có thể hành người tù về thực phẩm, về cái dạ dầy. Nhưng, về không khí, chúng đành chịu thua. Vậy, tôi phải biết lợi dụng tối đa không khí để bù lại phần nào, điều chúng muốn hành tôi về thực phẩm, và những mặt khác của sơ thể.

Tôi nhớ lại, khi tôi vào lớp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, họ đo “pi nhê”. Khi đo vòng ngực, bắt thở hết ra để đo, rồi hít vào thật đầy, đo. Hai lần đo cộng lại chia đôi. Khoảng cách, thở ra hít vào của mỗi người khác nhau. Có người thì 3, 4 hay 5 phân; cá biệt, có anh tới 8, 9 phân. Sự rộng, hẹp này, hoàn toàn không phụ thuộc vào người có ngực nở, to con hay nhỏ con. Người ta gọi khoảng cách đó là khoảng “Sống” của mỗi người. Có người to con, khoảng “Sống” lại nhỏ hơn người bé con. Như vậy, nếu việc gì làm cần sự dẻo dai, bền bỉ, lâu mệt, người có khoảng “Sống” lớn sẽ hơn người có khoảng “Sống” nhỏ. Thí dụ như chạy, hay trèo núi chẳng hạn, nhiều người to con, trông rất “văm”, thế mà chỉ một lúc là phờ râu tôm.

Ai cũng biết, phổi con người thở ra thán khí (CO2): khí dơ, có hại; và hít vào là dưỡng khí (O2). Vậy, lá phổi cũng như miếng vải trắng, muốn nhuộm được tốt nhất, phải giặt sạch chất dơ bẩn. Nghĩ như vậy, mỗi buổi sáng, tôi đứng một chân xuống đất, tập một số động tác, và bắt đầu tập thở. Trước hết, tôi thở ra, từ từ, rất dài; hết hơi rồi. Nhưng trong phổi còn thán khí nhưng đọng, chưa ra hết, tôi lại tiếp tục thở ra cho đến khi không còn thở ra được nữa. Bấy giờ, tôi mới hít vào và cố gắng hít thật nhiều cho căng lồng ngực. Để cho các tế bào phổi đủ thời gian tiếp nhận hết dưỡng khí, tôi lại ưỡn ngực, ngưng một, hai giây, rồi mới từ từ thở ra. Cứ như vậy, 10 lần thôi.

Điều quan trọng nhất là không cần tập nhiều, (vì tập nhiều thường mất nhiều thời gian nên chóng chán) nhưng phải tập thường xuyên, ngày nào cũng tập. Tất cả chỉ mất 10 hay 15 phút. Tôi thấy cơ thể mình có tiến triển theo chiều hướng tốt. Tinh thần cũng vậy. Thế là tôi nâng quyết tâm, dù thế nào, ngày nào cũng sẽ tập như vậy, như rửa mặt và ăn cơm, cho tới khi chết. Chỉ bỏ tập trong trường hợp bị ốm bịnh, không ăn được cơm.

Từ đấy, ngày nào cũng vậy, dù buồn vui, dù gặp bao nhiêu chuyện bất ngờ, căng thẳng, tôi vẫn giữ quyết tâm tập thể dục và một lần làm phương pháp “A”. Thậm chí, có điều kiện nằm không, mỗi ngày tôi làm phương pháp “A” hai lần. Một lần buổi sáng và một lần trước khi đi ngủ. Một điều lợi tôi thấy ngay là trước khi ngủ, tập xong, gối đầu lên gối, chỉ 5, 10 phút là ngủ ngay. Óc không căng thẳng như mọi khi cứ trằn trọc 2, 3 tiếng vẫn không ngủ được. Hơn nữa, tôi thấy bệnh quái ác nhức đầu của mình có vẻ giảm đi, những cơn đau đầu thưa dần.

Anh Đà ở buồng tôi chừng hơn 20 ngày… Một hôm, vào buổi chiều, tên Chiến mở cửa bảo anh ôm hết quần áo ra trại chung. Vì chân bị cùm, tôi không thể giúp đỡ dọn với anh, đành rằng trong tù chả có quái gì nhiều, nhưng nó cũng là một hành động tình cảm khi anh đi, và có nhiều hy vọng là…..không bao giờ thấy và gặp lại nhau nữa. Do đó, tôi chỉ ngồi nhìn anh gấp chăn màn, bằng ánh mắt tiễn chào lưu luyến.

Trước mặt tên Chiến, anh cầm một gói thuốc lào, cái điếu, và một bao diêm đưa cho tôi:

– Anh giữ cái điếu này lại mà hút, tôi được ra trại chung!

Tôi xúc động trước tấm lòng của anh, dù vậy, tôi vẫn nói:

– Anh mang điếu đi theo để hút, vì đó cũng là kỷ niệm của anh!

Anh cười, giọng phớt đời:

– Ồ, ngoài trại chung thiếu gì. Anh em đông, nhiều người có.

Tên Chiến thò cổ vào quát:

– Mau lên, dềnh dàng mãi!

Anh ôm bọc chăn màn ra còn ngoái cổ lại:

– Anh ở lại khỏe!

Cửa đóng rồi, tôi vẫn còn mân mê cái điếu, suy nghĩ mãi về ân tình của một người cùng khổ, tặng cho một người khốn cùng khác.

Tôi lại trở về tình trạng ở một mình. Tên Chiến có lẽ hàng ngày quan sát thái độ của tôi, thấy tôi năng nổ lạc quan, không còn ủ rủ lầm lì, đến độ con ruồi đậu vào mũi cũng không buồn đuổi. Tất nhiên, y đã có báo cáo với cấp trên, và chúng thấy chẳng cần người ở với tôi, kẻo sợ tôi lại tự tử nữa. Ngay chính ánh mắt của y bây giờ, tôi nhìn hàng ngày cũng dường như có chút thiện cảm, không lạnh lùng, ác cảm như trước. Trong những lần ra đổ bô, lấy cơm, trả bát, nhiều lúc bắt gặp ánh mắt của y nhìn tôi với vẻ tò mò. Tôi hơi băn khoăn, không hiểu y có ý định gì đối với tôi, trong khi bản chất của y là một kẻ phớt đời, nói ít mà làm mạnh. Buồng nào tỏ ra ngang bướng, y trị đến nơi. Y nghiêm như vậy nên xà lim rất im lặng. Thỉnh thoảng cũng có vụ tuyệt thực, của một buồng nào đó, y mở cửa, thấy không ra lấy cơm, y chỉ hỏi vì sao không ăn, Tùy theo cách trả lời, nếu người tù tỏ ra không muốn ăn để chết, v.v… Y đóng cửa và nói rằng:

– Tôi sẽ không mở cửa buồng anh nữa. Khi nào anh cần ăn, báo cáo tôi!

Và, y đã làm như lời nói, không nom, nhìn gì đến nữa. Y vẫn thường nói to với những buồng nào tuyệt thực:

– Anh nào muốn chết, cho chết luôn!

Y rất ghét thái độ hèn nhát, hoặc nịnh bợ, trong khi hầu như đa số các tên cán bộ khác lại rất thích.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 27 Sep 2023

Lùng bắt quân sư của Aidid

Howard E. Wasdin

Bài 11

Ngày 12 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bước vào nhà chứa máy bay với râu tóc bờm xờm. Trong suốt thời gian ở Mogadishu, tôi không cắt tóc lần nào. Tại nhà chứa máy bay, mọi người tỏ ra rất vui mừng khi gặp lại chúng tôi. Họ biết chúng tôi đã có mười lăm ngày sống trong lòng địch và họ đã nghe một số điều về những việc chúng tôi thực hiện ở đó. Một số lính biệt kích Ranger chạy đến chỗ chúng tôi và nói: “Rất cám ơn các anh đã sát cánh bên chúng tôi khi chúng tôi bị mai phục”. Những người khác đều muốn hỏi: “Các anh đã thực hiện sứ mệnh gì vậy?”

Chúng tôi sống chung với lực lượng Delta, đội Điều hành Tác chiến CTT và lực lượng Giải cứu Bán chuyên nghiệp PJ. Đội CCT là lực lượng dò đường trong các chiến dịch đặc biệt của Không quân. Họ có thể nhảy dù xuống một khu vực bất kỳ và thực hiện trinh sát thực địa, điều hành bay, bắn chi viện và chỉ huy, kiểm soát và liên lạc trên mặt đất. Họ đặc biệt hữu dụng với chúng tôi khi gọi chi viện từ trên cao. SIGINT đã thu nhận khá nhiều người trong đội này. Lực lượng PJ của Không quân cũng tham gia các chiến dịch đặc biệt. Nhiệm vụ chủ chốt của đội này là giải cứu các phi công bị bắn rơi trong lãnh thổ đối phương và tiến hành sơ cứu thương trị bệnh. Cả Delta và Đội đặc nhiệm SEAL số 6 đều được bổ sung thêm lực lượng của CCT và PJ. Một chiếc tàu của Đội đặc nhiệm SEAL số 6 gồm tám thành viên có nhiệm vụ tấn công một tòa nhà được bổ sung thêm một PJ làm nhiệm vụ trị thương. Tương tự, đội cũng được bổ sung một CCT mang một chiếc radio trên lưng và làm nhiệm vụ gọi Không quân trợ giúp. Mặc dù, họ không giỏi việc đột nhập bằng SEAL hay Delta, nhưng là những tay chuyên nghiệp trong lĩnh vực của mình – hơn rất nhiều so với SEAL hay Delta. Việc bổ sung họ vào lực lượng SEAL và Delta là sáng kiến tuyệt nhất từ trước tới nay của JSOC. Do trình độ tác chiến của họ không thể so được với SEAL, đặc biệt là khả năng cận chiến trong thành phố nên chúng tôi làm quân xanh để huấn luyện họ. Trong khóa huấn luyện, một PJ và một CCT đã vượt qua kỳ sát hạch. Sau đó, họ lại xoay vòng sang huấn luyện ở Delta. Trong thời gian ở cùng với các đơn vị của Không quân, họ cứ thế xoay vòng tập luyện cùng Đội đặc nhiệm SEAL số 6 và lực lượng Delta. Tại nhà chứa máy bay, bốn chúng tôi hay cùng với CCT và PJ lang thang ra ngoài chơi vì chúng tôi đã biết họ khi cùng huấn luyện tại Dam Neck, Virginia. Giống như lực lượng Delta, họ thường để râu tóc gọn gàng để trông giống lực lượng biệt kích Ranger. Tuy nhiên, nước da xanh nhờ trên đầu đã làm họ lộ tẩy hết.

Đội chúng tôi có một cậu tên Jeff. Cậu ta khá điển trai và có sức hấp dẫn mạnh đối với Casanova. Thậm chí, thỉnh thoảng họ còn ra ngoài chơi cùng nhau. Một CCT khác tên là Dan Schilling. Cậu này ba mươi tuổi, tính tình cởi mở và sống ở Nam California. Dan rời bỏ lực lượng dự bị của Lục quân để gia nhập CCT. Ở giữa nhà chứa máy bay, chúng tôi thường chơi bài trên một chiếc bàn gấp dùng để lập kế hoạch. Dan vẫn hay mời tôi xì gà. Cậu ta rất thích hút loại xì gà Hoàng gia Jamaica Maduros.

Tim Wilkinson bỏ công việc kỹ sư điện để gia nhập PJ. Còn Scotty là chỉ huy của đội PJ.

Gần chiếc bàn lập kế hoạch của lực lượng Không quân, CCT và PJ để một con búp bê, tên là Gina Nữ thần Tình yêu, là món quà sinh nhật cho một lính không quân của vợ Dan Schilling và bạn gái của Jeff. Trên cổ búp bê vẫn còn dính miếng giấy báo giá. Sau một chuyến thăm của các Nghị sỹ, Gina bỗng dưng biến mất. Điều này thật là nực cười!

Lực lượng biệt kích Ranger đông đảo hơn cả, nhưng họ vẫn rất thận trọng về đường phân giới ảo. Đường phân giới này giống như một bức tường phân cách khu vực của chúng tôi với lực lượng biệt kích Ranger. Có lẽ do họ tôn trọng tính chất công việc bí mật của chúng tôi hoặc tiếng tăm của chúng tôi. Tuy nhiên, cho dù là vì nguyên nhân gì đi chăng nữa, họ đã tạo cho chúng tôi một không gian riêng. Nhiều gã trong lực lượng Delta luôn có quan điểm Nếu không phải người của Delta, chẳng có việc gì phải giao thiệp cả. Có lẽ một số người trong Đội đặc nhiệm số 6 cũng có quan điểm như vậy, nhưng ở đây chúng tôi chỉ có bốn người. Nếu cả bốn chúng tôi đều thuộc Đội Anh cả Đỏ thì có thể chúng tôi còn kiêu ngạo hơn. Chỉ có bốn lính SEAL ở châu Phi nên chúng tôi buộc phải đi chơi cùng với ai đó.

Khi ở trong khu nhà chứa máy bay, chúng tôi mặc áo phông, quần soóc và đi dép tông. Khi mặc quân phục, chúng tôi không đeo biển tên hay đeo cầu vai quân hàm. Với chúng tôi, cấp hàm không có nhiều ý nghĩa như đối với lực lượng biệt kích Ranger và sĩ quan thông thường. Trong các đội đặc nhiệm của SEAL, chúng tôi thường noi gương chỉ huy của mình bởi danh tiếng của họ hoặc một số kỹ năng đặc biệt họ sở hữu. Không giống các sĩ quan thông thường, lính đặc nhiệm của SEAL thường gọi các sĩ quan của họ bằng tên thật hoặc biệt hiệu. Chúng tôi cũng không tuân thủ cấp trên một cách vô thức như những con rô bốt. Đơn giản là bởi chỉ huy cấp trên ở SEAL không đồng nghĩa là anh lãnh đạo tất cả − ngoại trừ về mặt văn bản giấy tờ. Trong thực tế, chúng tôi phải lựa chọn vũ khí và chiến thuật cho phù hợp với mỗi môi trường và tình huống cụ thể.

Lúc 9 giờ tối, chúng tôi bị pháo kích. Giờ đây, pháo kích vào chỗ chúng tôi là chuyện xảy ra như cơm bữa. Một số nghĩ ra trò chơi cá cược. Mỗi người sẽ đặt cược một thời điểm bất kỳ dự đoán xảy

ra cuộc pháo kích với giá đặt cược là 1 đô-la. Ai dự đoán đúng thời điểm xảy ra cuộc pháo kích, người đó sẽ thắng. Chẳng có ai đưa tin về hành tung của Aidid cả.

Hôm sau, ngày 13 tháng Chín năm 1993, mặc dù là sĩ quan cao cấp của SEAL, nhưng Sourpuss không làm gì và chẳng chỉ đạo gì cả. Anh ta ngồi viết thư cho vợ. Gã Mập lùn kiểm tra cách thức gọi trực thăng của lực lượng QRF khi cần hỗ trợ. Chúng tôi cũng được phép ra ngoài tuần tra cùng với lính biệt kích Ranger khi không có việc gì để làm.

Một đoàn xe Pakistan đến tiếp tế. Theo lệnh của Tướng Garrison, Casanova và tôi lên máy bay đi cùng với Steve (một tay súng bắn tỉa của Delta thường xuyên làm việc với tình báo quân sự), Tư lệnh Assad và binh lính Pakistan dưới quyền chỉ huy của Assad. Chúng tôi lái xe qua thị trấn về phía tây bắc, gần Sân vận động Pakistan. Ở đây, quân Pakistan canh phòng rất chặt chẽ. Nơi họ ở rất gọn gàng và sạch sẽ. Họ không tùy tiện như binh lính Italia, những kẻ đang muốn làm chúng tôi suy yếu.

Suốt đêm hôm đó, quân của Aidid nổ súng bắn vào một chiếc trực thăng của chúng tôi và chúng sử

dụng Trường Đại học Quốc gia Somali bỏ hoang làm nơi ẩn náu. Casanova và tôi trèo lên đỉnh của một chiếc tháp sáu tầng. Từ vị trí đó, chúng tôi có thể nhìn thấy nhà của Osman Ali Atto – chuyên gia tài chính và là quân sư đắc lực của Aidid. Atto sử dụng số tiền thu được từ buôn bán ma túy (chủ yếu là lá cây Khat), cướp bóc và bắt cóc tống tiền để mua vũ khí và tài trợ cho quân của Aidid. Bên cạnh nhà Atto là một gara sửa xe ô tô. Gara này là một tòa nhà đồ sộ, được xây bê tông kiên cố và không đổ mái. Trong gara, các thợ cơ khí đang sửa chữa xe ô tô, xe ủi và đang lắp súng máy cỡ nòng .50 caliber được đặt trên giá đỡ ba chân vào thùng chiếc xe bán tải. Đây chính là gara ô tô Aidid dùng để tổ chức buổi họp khích lệ tinh thần binh lính hôm chúng tôi còn ở Pasha. Nếu bắt được Atto, chúng tôi sẽ cắt được nguồn viện trợ tài chính cho quân Aidid. Atto chính là kẻ nắm giữ hầu bao và điều tiết cuộc chiến. Không có gì quan trọng diễn ra ở nhà Atto, ngoại trừ bóng điện ngoài hiên nhấp nháy theo chu kỳ ba lần một. Có lẽ đây là một dạng ám hiệu, nhưng chúng tôi không thấy bất cứ hoạt động nào trong nhà. Việc bắt Atto chỉ là vấn đề thời gian.

Ngày 14 tháng Chín năm 1993, chúng tôi tiếp tục quan sát gara ô tô của Atto. Mọi người tấp nập ra vào. Có ba thợ cơ khí đang sửa xe. Casanova và tôi phát hiện một người nhìn giống Atto, đang nở một nụ cười lớn khoe hàm răng trắng bóng.

Chúng tôi chụp lại hình, sau đó truyền dữ liệu qua đường truyền mật cho các sĩ quan tình báo để họ nhận xem người trong ảnh có phải là Atto không. Chúng tôi đã mất dấu khi hắn rời gara và lái xe đi.Cùng ngày, một biệt kích của Ranger nghĩ là đã phát hiện ra Aidid trong một đoàn xe. Lực lượng Delta đột kích vào tòa nhà và khi đó mới phát hiện ra người bị bắt giữ là Tướng Ahmed Jilao chứ không phải là Aidid, mặc dù Jilao cao to và trắng trẻo hơn Aidid và là đồng minh thân cận của Liên Hợp Quốc. Aidid trở nên giống như minh tinh Elvis Presley, người ta thấy hắn ở mọi nơi nhưng thực tế lại chẳng phải là hắn.

Vào ban đêm, khu ở của lính Pakistan bị pháo kích từ những bụi cây và các tòa nhà gần đó dội vào. Tư lệnh Assad nói: “Chúng tôi sẽ tiếp tục bị pháo kích. Các anh có thể giúp chúng tôi chứ?”.

“Chúng tôi có thể phát hiện ra chúng bằng kính hồng ngoại và bắn pháo sáng vào chúng và các tay súng của ông có thể nhả đạn vào khu vực đó”. (Pháo sáng là loại đạn phốt-pho chiếu sáng mặt đất bằng sức nóng).

Chúa đã phù hộ nhóm du kích vì đêm hôm đó, chúng không bắn thêm lần nào nữa.

Hai ngày sau đó, ngày 16 tháng Chín năm 1993, 3 phụ nữ vào nhà Atto và chỉ có hai người trở ra. Một người đàn ông cũng bước vào. Một cuộc họp khác nữa đang diễn ra, có cả Atto. Dường như hắn

phụ trách, hướng dẫn mọi người thực thi kế hoạch.

Casanova rời khỏi tháp ở khu của lính Pakistan và di chuyển gần hơn tới bức tường còn sót lại đối diện với nhà Atto. Casanova nhận thấy mọi người bước vào ngôi nhà gần gara ô tô chứ không phải vào thẳng nhà Atto. Chúng tôi gọi trực thăng của lực lượng QRF đến pháo kích, ba quả pháo nổ nhưng chẳng quả nào nổ gần nơi đó cả.

Sau đó, chúng tôi trở lại nhà chứa máy bay ở khu quân sự. Tại đây, chúng tôi báo cáo vắn tắt tình hình cho một Đại úy của Delta.Trong báo cáo, tôi nói: “Đi tuần tra cùng biệt kích Ranger chẳng có vấn đề gì, nhưng chúng tôi muốn đi một mình. Chúng tôi sẽ biết phải xử trí ra sao khi bị tập kích, nhưng lại không biết lính biệt kích Ranger sẽ xử trí như thế nào trong tình huống đó”.

Viên Đại úy chấp thuận lời đề nghị.

“Ngoài ra, chúng tôi còn đề nghị thực hiện các chuyến bay do thám Mogadishu cùng với lực lượng

QRF.” “OK.” Casanova và tôi đến trụ sở của CIA và chia sẻ tin tức tình báo về hành tung của Atto với họ.

Đây là lần đầu tiên Casanova và tôi đi chung máy bay cùng lực lượng QRF. Chúng tôi nhận thấy quy định tham chiến của họ khác với chúng tôi. Họ được phép cho đạn vào hộp tiếp đạn nhưng lại không được phép lên đạn khi đối phương chưa bắn họ. Còn với chúng tôi, súng luôn lên đạn sẵn nên chúng tôi chỉ việc mở chốt an toàn và nhả đạn. Ở vùng chiến, quy định này của lực lượng QRF thật là nực cười.

Một hôm, Casanova và tôi lên một chiếc Humvee cùng với lực lượng QRF. Tôi ra lệnh: “Khóa chốt an toàn và lên đạn”. Các binh sĩ QRF ngỡ ngàng nhìn tôi. “Cái gì?”. Trời tối dần, đường phố và nhà cửa đã lên đèn. Súng của tất cả chúng tôi đều được khóa chốt an toàn và lên đạn sẵn. Casanova và tôi phải chịu trách nhiệm hoàn toàn nếu xảy ra thiệt hại cho đồng đội.

Lần tiếp theo, một số biệt kích Ranger. Casanova và tôi lại lái xe Humvee đến khu ở của QRF. Số binh lính từng đi cùng với Casanova và tôi trước đó vội vã phóng xe theo chúng tôi và vẫn nhớ mệnh lệnh đầu tiên của chúng tôi “khóa chốt an toàn và lên đạn”.

Sau đó, nhiều binh sĩ có cơ hội đi cùng chúng tôi. Họ thường đứng thành hàng để đợi chiếc Humvee do Casanova và tôi lái. Chúng tôi cười hạnh phúc khi thấy họ tranh nhau để được đi cùng chúng tôi.

Lúc 12 giờ đêm, chúng tôi lên trực thăng với QRF. Hai chúng tôi ngồi một bên cửa máy bay.

“Khóa chốt an toàn và lên đạn”.

Hai tay súng bắn tỉa của QRF ngồi ở bên cửa còn lại. Súng của họ cũng “khóa chốt an toàn và lên đạn”.

Tổ bay của chúng tôi thường chờ đợi cho đến khi bị bắn trước thì mới bắn trả, nhưng họ chỉ mang theo vũ khí hạng nhẹ và hai khẩu RPG buổi đêm hôm trước. “Hãy bắn bất cứ kẻ nào bạn cảm thấy bị đe dọa”. Nếu ai hướng súng nhắm vào chúng ta hoặc ở tư thế sẵn sàng tấn công chúng ta hay đứng ở vị trí bắn thì chúng ta có thể nhả đạn vào chúng.

Mặc dù ban ngày nhiệt độ ở Mogadishu trung bình cao hơn 31°C, nhưng đến đêm xuống còn 15°C. Trong quá trình bay do thám ở Mogadishu phát hiện ra nhiều đống lửa được đốt ở các tầng trên của các tòa nhà bỏ hoang. Tôi hiểu những người tị nạn ngồi quanh các đống lửa này để sưởi ấm.Hai người Somali dưới đất chĩa súng vào chúng tôi. Casanova giương khẩu CAR-15 nhắm vào họ. Anh siết cò hạ gục một tên. Tên còn lại bỏ chạy giữa các tòa nhà. Viên phi công không thể giúp chúng tôi tiếp cận được hắn.

Cũng đêm hôm đó, đặc nhiệm Delta dùng khẩu CAR-15 bắn ba phát vào ngực một thủ hạ của Aidid.

Thật không may, một đặc nhiệm khác của Delta phải cuốn gói về nước. Viên đặc nhiệm này thuộc biên chế của một trong những đơn vị chiến đấu tinh nhuệ nhất trên thế giới. Anh ta đã vô tình nhả đạn vào nhà chứa máy bay. Có thể hành động này đã cướp đi sinh mạng của một ai đó. Tôi vẫn nhớ như in nét mặt của viên đặc nhiệm sau hành động đó – anh ta biết điều gì sẽ đến với mình. Tướng Garrison và những người khác rất giận dữ. Mặc dù viên đặc nhiệm được huấn luyện để chiến đấu, nhưng giờ đâylại phải đóng gói súng ống và quay trở về Mỹ. Hồ sơ quân nhân của anh ta cũng sẽ bị ảnh hưởng. Chúng tôi có thể chịu đựng được nỗi đau thể xác và sự khổ cực, nhưng bị loại bỏ khỏi hàng ngũ là sự trừng phạt nặng nề nhất. Điều này mãi sau này tôi mới hiểu.

Ngày hôm sau, 17 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi trèo lên đỉnh tháp ở khu trại của binh lính

Pakistan để thay ca cho Gã Mập lùn và Sourpuss vì họ đã ở đó theo dõi gara ô tô của Atto ba giờ rồi.

Một mật vụ của CIA đi vào trong gara ô tô và xác minh xem người trong đó có phải là Atto hay không trước khi chúng tôi đột kích đa lực lượng. Đột kích đa lực lượng ít nhất cũng có một trăm người tham gia, bao gồm một xe Humvee, một vài trực thăng Little Bird chở lính bắn tỉa Delta và một vài trực thăng Black Hawk chở biệt kích Ranger và đặc nhiệm Delta. Khi nhận được tín hiệu: viên mật thám đi vào giữa gara, dùng tay phải bỏ chiếc mũ màu vàng đỏ xuống và đi vòng quanh khu vực Casanova và tôi sẽ phát tín hiệu tấn công. Đây quả là trách nhiệm to lớn với hai chúng tôi.

Chúng tôi phát hiện ra Atto sẽ có cuộc họp trong gara ô tô vào 7 giờ 30 phút hôm sau. Lực lượng

HUMINT quả là tuyệt vời khi cho chúng tôi biết chính xác thời gian và địa điểm cuộc họp. Thật buồn là trước đây, chúng tôi không có được những tin tình báo giá trị như thế khi theo dõi Aidid.

Lực lượng Delta đã từng dùng radio phát lệnh cuộc tấn công bắt Aidid, nhưng lại bị nhầm. Tối hôm đó, Casanova ở lại tháp, còn tôi nấp bên bờ rào tại khu ở của lính Pakistan và nhìn qua bức tường bên cạnh trại trẻ mồ côi để tiện quan sát. Từ lúc nhá nhem tối tới tận đêm, có quá nhiều hoạt động diễn ra nơi đây. Sau đó, nguồn tin của HUMINT cho biết một trong số các tay lái xe người Somali đã bí mật sử dụng thùng xe để vận chuyển vũ khí và đạn dược, kể cả đạn pháo. Xe này treo cờ của trại trẻ mồ côi phía trên và do đó dễ dàng qua được các trạm kiểm soát. Tôi không nghĩ rằng người ở trại trẻ mồ côi biết tài xế sử dụng xe vào mục đích này, nhưng nó giúp chúng tôi trả lời được câu hỏi về cách thức vận chuyển vũ khí, trang bị của Aidid.

Ngay từ lúc 6 giờ sáng, ngày 18 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bắt đầu theo dõi gara ô tô của Atto từ trên đỉnh tháp. Lúc 8 giờ kém 15, viên mật vụ của CIA, để ria mép, đầu đội mũ vàng đỏ, mặc áo phông xanh và váy macawi kẻ sọc xanh trắng, xuất hiện tại gara ô tô. Anh ta sẽ kiếm được 5.000 đô-la nếu thành công. Sau 25 phút, anh ta vẫn chưa ra ám hiệu thống nhất từ trước. Rồi Atto cũng đến. Đi cùng với y là các vệ sỹ và một người đàn ông đứng tuổi. Chúng tôi chỉnh radio nhưng vẫn đợi tín hiệu từ viên mật vụ trước khi phát lệnh tấn công.

Thay vì đưa ra tín hiệu như đã hiệp đồng, viên mật thám hành động rất sơ xuất. Anh ta dang tay sang một bên, vòng tay lên đầu cầm lấy vành mũ, giơ chiếc mũ lên cao, rồi vòng tay theo đường vòng cung hạ mũ xuống bên hông. Nếu là một vệ sỹ của Atto, hẳn tôi đã bắn chết tên ngốc này ngay lập tức. Tôi hoàn toàn nghĩ rằng viên mật vụ này sẽ bị sát hại ngay trước mắt mình, nhưng thật may chẳng ai để ý hành động thái quá đó.

Casanova và tôi phát lệnh đột kích đa lực lượng. Lực lượng QRF ngay lập tức có mặt. Những chiếc trực thăng Little Bird và Black Hawk bay rợp trời. Ngay tức khắc, các đặc nhiệm Delta tụt dây xuống đổ bộ vào phía trong gara ô tô, còn các biệt kích Ranger đổ bộ phía ngoài bao vây gara ô tô và các trực thăng Little Bird chở các tay súng bắn tỉa của Delta bay lượn bên trên để bắn chi viện. Người của Atto chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Lực lượng bán vũ trang xuất hiện ở ngôi nhà kế bên, nhắm bắn trực thăng. Các phóng viên cũng xuất hiện và ngay lập tức tay súng bắn tỉa Dan Busch ném bom phát sáng để các phóng viên sợ hãi tháo lui khỏi vùng chết. Sau này, nhóm phóng viên hồi tưởng lại rằng rất nhiều lựu đạn đã được ném về phía họ. Đúng là những tên ngốc vô ơn. Nếu là lựu đạn thì chúng đã bị giết chết hết rồi. Sau này, chính Dan nói cho tôi biết có điện thoại gọi sang từ Lầu Năm Góc và anh đã phải giải thích cho cấp trên hiểu là anh không ném lựu đạn sát thương vào đám phóng viên.

Sau khi bò qua bức tường và ra ngoài rìa của chiếc tháp sáu tầng, tôi nằm sấp xuống. Khẩu CAR-

15 của tôi có viên trong hộp tiếp đạn và một viên đã lên nòng. Casanova đảm trách nửa trái gara ô tô,

còn tôi nửa phải. Qua kính ngắm, tôi phát hiện một tên trong lực lượng bán vũ trang của Aidid cách chỗ tôi nằm chừng 500m đang nhắm bắn trực thăng từ cửa sổ. Tôi siết cò bắn trúng ngực. Hắn ngã ngửa ra phía sau và vĩnh viễn nằm đó.

Một tên khác cầm AK-47 vọt ra từ cửa thoát hiểm bên hông tòa nhà, cách chừng 300 m, giương súng nhắm bắn đặc nhiệm Delta đang tấn công gara. Tôi bắn hắn ta từ phía trái và viên đạn xuyên qua người. Hắn đổ vật xuống cầu thang mà vĩnh viễn không hiểu cái gì đã giết chết mình.

Cách chỗ tôi nằm khoảng 800 m, một gã vác vai khẩu RPG, chuẩn bị phóng bắn trực thăng. Mỗi lần chỉnh thước ngắm ở khoảng cách khác nhau tốn khá nhiều thời gian. Do vậy, tôi lấy thước ngắm ở tầm bắn 900 m, rồi tôi tự tính toán khoảngcách dựa theo tầm bắn đó. Lấy điểm chuẩn là ức của tên đang cầm khẩu RPG, tôi siết cò. Viên đạn trúng ngay dưới mũi hắn. Mọi người thường cho rằng khi dính đạn, nạn nhân sẽ ngã ra sau, nhưng thật ra phải ở hướng ngược lại mới đúng. Viên đạn xuyên qua ở tốc độ cao nên kéo hắn ngã về phía trước, đập mặt xuống đất. Tên này đã kéo cò khẩu RPG khi đang ngã và viên đạn găm ngay xuống mặt đường phát ra tiếng nổ Bùm!

Ngồi trên trực thăng, các tay súng bắn tỉa của Delta nhìn thấy phát bắn của tôi. Vài phút sau, một chiếc trực thăng bay ngay sát nóc tháp. Các tay súng bắn tỉa hét lên và giơ ngón tay cái lên chúc mừng tôi. “Đồ chết tiệt”. Thật may là cả Casanova và tôi đều ở tư thế nằm sấp, nếu không gió từ cánh quạt có thể hất phăng chúng tôi khỏi chiếc tháp. Delta bắt được 15 tù binh, nhưng các biệt kích Ranger ở trong các xe Humvee không kịp đến để bao vây vòng ngoài. Atto đã đổi trang phục cho một thủ hạ và chạy trốn theo lối cửa sau của gara. Hắn đã tẩu thoát.

Rạng sáng ngày 19 tháng Chín năm 1993, tôi nhìn thấy lực lượng QRF đang đột kích vào những ngôi nhà cách chỗ chúng tôi đứng khoảng 500m. Lực lượng QRF chỉ mang theo một số khẩu súng cá nhân và súng RPG. Lực lượng bán vũ trang của Aidid đã bắn nhầm vào đoàn xe buổi sáng hôm đó. Từ trên tháp, qua kính ngắm đêm, tôi nhìn rõ quân địch. Tôi nhấc bộ đàm và hướng dẫn trực thăng đến bắn vào quân của Aidid. Trực thăng của QRF nã đạn .50 caliber và 40 li xuống như mưa, trong khi lực lượng QRF trên mặt đất tấn công dữ dội như thể trời long đất lở. Một số tên cố chạy thoát nhưng cuối cùng đều bị giết chết dưới họng súng của Casanova và tôi.

Chúng tôi đã sử dụng tháp này rất hiệu quả, nhưng người của Aidid cũng hiểu ra vấn đề. Một người phụ nữ dừng lại và ngước mắt nhìn chúng tôi. Sau đó bà đưa tay lên cứa cổ hàm ý muốn cắt cổ cả hai. Chúng tôi hiểu rằng vị trí ẩn nấp này đã bị lộ và nhận được lệnh tạm rời tháp một vài ngày. Chúng tôi rời khu ở của binh lính Pakistan lúc 5 giờ chiều và có mặt ở nhà chứa máy bay vào 5 rưỡi. Gần chục tay súng bắn tỉa Delta đón chúng tôi ở cửa trước, giơ hai tay lên cao và đập vào tay chúng tôi chúc mừng chiến thắng. “Wasdin, anh cừ quá!” Một người trong số họ nhìn chằm chằm vào các tay súng bắn tỉa Delta khác. “Nếu phải lựa chọn ai đó, nhất định tôi sẽ chọn Wasdin!”

Sau đó, Casanova và tôi sử dụng tia laze để đo khoảng cách thực từ chỗ tôi nằm bắn đến chỗ tên bị tôi bắn trúng đầu hôm đó, tổng là 846m. Đây là phát bắn chính xác nhất trong đời binh nghiệp của tôi. Từ sau lần đó, quan hệ của tôi với nhóm Delta được cải thiện rõ rệt. Nhưng có một điều tôi không bao giờ nói với họ là tôi thực sự đã ngắm bắn vào ngực gã đó.

Lúc 2 rưỡi sáng, ngày 20 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bay cùng QRF đến tận 6 giờ kém 15. Trong chuyến bay, chúng tôi phát hiện thấy một người đàn ông đang dựng một máy phát sóng di động. Chúng tôi nghĩ, mình đã tìm ra được vị trí đài phát thanh của Aidid ở Mogadishu. Chúng thường sử dụng đài này để truyền đạt mệnh lệnh, phương thức pháo kích và tuyên truyền: Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ muốn chiếm Somali, đốt Kinh Koran và giết hại trẻ sơ sinh. Ngay cả khi quân của Aidid bị tổn hại và thất bại, đài phát thanh này vẫn rêu rao là đã giành thắng lợi nhằm tiếp tục khích lệ người dân gia nhập hàng ngũ của Aidid. Casanova và tôi không được phép bắn gã đang dựng cột phát sóng này, nhưng chúng tôi cũng kịp đánh dấu vị trí có thể là nơi đặt trạm phát sóng của đài phát thanh.

Lực lượng của QRF hỏi liệu chúng tôi có thể bay với họ tất cả các tuần được không. Họ đã rất nỗ lực trong thời gian qua bởi muốn trở nên giỏi như các tay súng bắn tỉa của SEAL.

Cuối ngày hôm đó, Kền Kền liên hệ với chúng tôi. Một viên mật vụ của anh ta báo cáo Atto sẽ ở nhà riêng vì có một cuộc họp diễn ra tại đó. Chỉ có bốn chúng tôi mới là những đặc nhiệm có thể xác minh được Atto vì chúng tôi thường xuyên nhìn thấy hắn. Kền Kền muốn một đặc nhiệm SEAL và một vài đặc nhiệm Delta đi cùng. Chúng tôi quyết định để Casanova đi, nhưng thật tiếc nhiệm vụ bị hủy bỏ.

Chuyến bay của chúng tôi cùng lực lượng QRF cũng bị hủy bỏ. Mặc dù chúng tôi đã lên xe Humvee sẵn sàng đột kích vào nhà Atto, nhưng rồi lại cũng hủy bỏ. Lần nào cũng chuẩn bị, hủy bỏ, rồi lại chuẩn bị. Chẳng biết bao giờ mới hết tình cảnh này. Sự việc này đúng là mệt mỏi nhưng không làm mất đi động lực của tôi. Cho dù là thách thức gì đi chăng nữa, tôi luôn biết mình đã chọn công việc này và phải tiếp tục cố gắng. Tại Trung tâm Huấn luyện Tác chiến Đặc biệt dành cho các đặc nhiệm của SEAL tại California, huấn luyện viên Stoneclam từng nói với chúng tôi, “Tôi phải nghiêm khắc với tất cả học viên, thậm chí cả về lý trí”. SEAL nổi danh là tinh gọn so với cả bộ máy quân sự quy mô lớn

và cồng kềnh. Điều này đòi hỏi chúng tôi phải kiên nhẫn. Tôi và tất cả đồng đội đều có chung suy nghĩ này. Chúng tôi học được cách kiểm soát cảm giác để khỏi rơi vào tình trạng chán chường. Tôi biết mình có thể vượt qua được những thách thức trong môi trường luôn biến động. Không phải mọi điều đều luôn đúng theo kế hoạch. Ngay cả với kế hoạch hoàn hảo nhất, thì khi đạn bắt đầu bay, kế hoạch đó cũng sẽ thay đổi.

Ngày 21 tháng Chín năm 1993, mật vụ Abe báo cáo đã trông thấy Osman Atto ở Lido gần ngôi nhà bí mật cũ Pasha của chúng tôi. Trong quá trình xử lý tin tình báo, chúng tôi luôn phải xác định được đó

là tin thật hay tin vì thành tích cá nhân. Tôi không nghĩ có viên mật vụ nào đó muốn lừa dối mình, nhưng họ có thể thổi phồng tin tức để nhận tiền. Abe dường như không nằm trong nhóm người này. Abe là người ăn nói nhẹ nhàng và không bao giờ mất bình tĩnh như những người khác. Anh ta rất bình tĩnh và các báo cáo của anh bao giờ cũng dựa vào thực tế. Chúng tôi thích làm việc với “Abe trung thực”. Trong bộ phim kinh điển Black Hawk Down – Diều hâu gãy cánh, một người lính nào đó đã đánh dấu xe Atto bằng cách dán lên trên nóc xe một miếng băng dính màu xanh ô liu chỉ dùng trong quân đội. Hành động này trông giống cảnh quay trong serie phim Điệp viên 007 về James Bond. Tuy nhiên, trong thực tế, Cơ quan Bảo đảm Kỹ thuật của CIA đã gắn một thiết bị theo dõi vào trong chiếc gậy có tay cầm bằng ngà voi làm quà tặng Aidid. Kền Kền đã sửa lại chiếc gậy và giao cho Abe để đưa cho một liên lạc viên thường xuyên tiếp xúc với Atto. Liên lạc viên này sẽ trao cây gậy cho Atto như một món quà tặng. Trong khi người liên lạc, mang theo cây gậy, lái xe đến phía Bắc Mogadishu, một chiếc trực thăng sẽ lần theo tín hiệu từ thiết bị nói trên. Khi chiếc xe dừng lại đổ xăng, Atto xuất hiện. Một mật vụ gọi điện báo cho Kền Kền biết Atto đã ở trong ô tô. Kền Kền dùng bộ đàm gọi cho Delta.

Delta xuất kích. Trực thăng tấn công đậu gần ngay trên đầu chiếc xe và một lính bắn tỉa nã đạn vào động cơ làm chiếc xe chết máy. Atto mở tung cửa ra và bỏ chạy. Tên vệ sĩ dùng AK-47 bắn vào đội xung kích nhưng một lính bắn tỉa đã bắn tên vệ sĩ bị thương ở chân. Các đặc nhiệm nhảy ra khỏi máy bay, lao nhanh về phía tòa nhà và bắt sống Atto.

Lực lượng Delta còn lại tạo thành một vòng tròn bao vây tòa nhà. Quân Somali đốt lốp ô tô để ra hiệu cứu viện. Một số tiến về phía các đặc nhiệm Delta đang bao vây ngôi nhà. Rồi một đám đông kéo đến, chúng dùng súng AK-47 và RPG nhắm bắn trực thăng. Các tay súng bắn tỉa ở một chiếc trực thăng và các khẩu súng máy ở chiếc trực thăng khác bắn xối xả vào đám người này, hạ gục khoảng mười đến hai mươi tên và buộc chúng phải thối lui.

Bên trong tòa nhà, lực lượng Delta dẫn Atto lên nóc nhà, ở đó, một chiếc trực thăng đã đợi sẵn để đón.

Sau đó, khi đã quay trở lại quân doanh, Delta nói với chúng tôi “Chúng tôi không chắc liệu tên bị bắt có phải là Atto hay không. Liệu các cậu có thể đến đó và nhận diện hắn giúp chúng tôi được không?”

Casanova và tôi đi bộ đến chỗ giam giữ Atto ở đầu bên kia của đường băng gần khu nhà CIA ở. Atto bị nhốt trong thùng một chiếc công ten nơ. Trong bộ phim “Black Hawk Down”, nhân vật Atto là một gã to con, luôn ăn mặc bảnh bao, hút xì gà và hay nói mỉa kẻ bắt giữ hắn. Trong thực tế, mặc dù mặc áo sơ mi và váy macawi, hắn vẫn sụt sùi và van lơn xin được tha tội. Thấp lùn, gầy gò như một cán chổi và lắc lư như chiếc lá trong gió, Atto nhìn Casanova và tôi như thể chúng tôi là Thần chết đến mang hắn đi vậy. Tôi cảm thấy tiếc cho Atto. Tôi bị giằng xé giữa hai trạng thái. Một phần muốn nhào đến ôm và nói với hắn “Mọi việc sẽ ổn thỏa thôi”, nhưng một phần lại muốn rút súng bắn vỡ mặt hắn.

“Đúng, chính hắn đây”, Casanova nói. “Tôi không biết”, tôi nói đùa. “Trước đây, mỗi lần thấy hắn, hắn đều đang nở nụ cười lớn với hàm răng trắng bóng.”

Casanova nhìn gã thông dịch. “Bảo hắn nếu không cười, chúng tao sẽ đánh cho hắn một trận lên bờ xuống ruộng đấy.

Atto đã cười trước khi các thông dịch viên có thể dịch.

Trước đây, chúng tôi không biết Atto nói được tiếng Anh. Casanova và tôi đập tay vào nhau chúc mừng và cùng nói “Chính là hắn ta đấy!”Delta đưa hắn đến nhà tù trên một hòn đảo ngoài khơi Somali. Một bức thư ngắn gửi tới Atto khuyên hắn nên gặp các phóng viên để mở cuộc hội đàm với Liên Hợp Quốc ở Somali. Chúng tôi phán đoán, bức thư này khả năng được gửi từ Aidid – con cá lớn mà chúng tôi vẫn chưa bắt được.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 27 Sep 2023

Đường dây tài liệu “M”….bị lộ?

Đặng Chí Bình

Bài 2

Mùa hè thứ hai đã bắt đầu. Chúng đã thu chăn lại. Tuy trời chưa nóng, nhưng muỗi đã mỗi ngày một nhiều. Tôi nằm vật ra, nhắm mắt, để mặc cho giòng tư tưởng tràn dâng như sóng biển sầu. Tôi chợt nghĩ đến cái biên bản kỷ luật mà tên Chiến đọc. Chúng chẳng nói tới chuyện tôi xé quần để làm gì. Tôi xé quần áo đánh thừng tự tử! Vậy mà trong biên bản, chẳng có một câu nào, hay một ý nào nói đến việc tự tử của tôi cả. Trong dạ cũng hơi băn khoăn, nhưng thôi cũng mặc, chúng muốn nhào nặn thế nào kệ chúng. Thân mình bây giờ, có còn là của mình nữa đâu!

Đầu tôi cứ cắn nhức không thể chịu được. Nó như muốn nổ tung ra. Không thể nào nằm yên được nữa, tôi chống tay bò dậy, lấy hai tay đập đập vào đầu. Tôi đã báo cáo với tên Chiến mấy ngày nay, nhưng vẫn chả có viên thuốc nào, cũng chẳng thấy mặt mũi y tá đâu. Suốt cho đến chiều tối, tôi không thể nằm được, ngồi lên thì đầu đỡ nhức hơn. Nhưng, ngồi mãi hai chân mỏi rừ trong cùm. Tôi rũ rượi dựa vào tường, cố gắng chịu đựng cơn đau, cái mỏi.

Đột nhiên, có tiếng đập cửa ầm ầm của một buồng nào đó, rồi im lặng. Chừng một phút sau đập nữa, mấy lần như vậy. Tiếng chân của tên Chiến từ phía ngoài vừa đi vào, vừa quát:

– Buồng nào làm cái gì vậy?

Một giọng nói như gào:

– Tôi ở xà lim đã ba tháng rồi! Hơn một tháng nay không thấy gọi hỏi gì tôi cả. Đề nghị cho tôi gặp chấp pháp để xem sự việc của tôi như thế nào? Ngày nào cũng để tôi thế này, chịu sao được!

À ra buồng số 10, dẫy đối diện với tôi, ở phía trong. Giọng tên Chiến chắc đanh:

– Câm ngay cái mồm! Anh muốn gặp chấp pháp, phải nghiêm túc đề nghị, không được làm ầm xà lim! Lần sau, tôi cùm cổ anh lại!

Giọng số 10, bỗng dưng, như nức nở:

– Xin cán bộ cho tôi gặp chấp pháp. Tôi sợ lắm rồi! Suốt ngày ngồi trong cái buồng con một mình thế này, tôi điên mất!

Tên Chiến dịu giọng:

– Được rồi, nằm im đi, tôi sẽ phản ánh cho!

Tôi chẳng hiểu buồng số 10 tội gì. Không bị cùm, mà còn như thế! Qua tiếng nói, tôi đoán chắc khoảng 25, 30 tuổi.

Xà lim lại trở về im ắng, chỉ còn tiếng rên ư ử phía trong, không rõ là buồng nào. Tôi vào xà lim I đến nay đã ba, bốn tháng rồi, từ lúc mới vào tôi chỉ nghĩ đến cái chết nên chẳng còn tâm trí đâu mà để ý đến các buồng khác ở chung quanh, như hồi còn ở xà lim II và III. Hàng ngày, bao nhiêu chuyện xảy ra trong cái xà lim nhiều buồng như thế này, tôi cũng chả cần biết. Vì vậy, vào đây đã lâu, tôi vẫn chưa biết gì, dù là khái niệm về các buồng. Ngay bây giờ đây, ngoài hai cái chân trong cùm nhức mỏi, tôi còn phải ôm đầu để chống đỡ với cơn đau từng chập.

Đêm đã khuya, thế mà tôi vẫn chưa dám nằm. Đầu đã đau như búa bổ, nhưng óc vẫn cứ suy nghĩ đầy vơi hết chuyện này, chuyện kia của cuộc đời. Người ta nói rằng: “Sầu héo!” Nghĩa là khi sầu, người ta sẽ kém ăn, ít ngủ, người sẽ gầy đi, teo lại, cho nên mới bảo là sầu héo chăng? Một ý nghĩ buồn cười chợt đến trong óc tôi: Nếu ai sầu buồn thì thở ra khói đen. Nếu người nào càng sầu nhiều, khói càng nhiều, càng đen. Miền Bắc này, chắc luôn luôn ngày đêm sẽ bị khói đen bao phủ. Nhất là Hỏa Lò khói sẽ đen kịt, sẽ phải đốt đèn điện ngày đêm, may ra mới thấy đường đi!…

Sáng hôm sau, mới gần tới giờ làm việc, cán bộ chưa mở cửa các buồng cho đổ bô, tên Điền coi nhà tiếp tế vào gọi tôi đi cung. Đã khá lâu, gần một tháng rồi, không gọi. Hôm nay không biết có chuyện gì? Ra tới phòng cung, tôi thấy hai tên Đức và Thành. Cả hai nhìn tôi chằm chằm, nhất là cổ tôi bây giờ vẫn còn một vết thâm nâu chung quanh. Tôi đoán mau như vậy, bởi vì vừa đây, trên đường đi cung qua một cài hè trước một phòng khách có cánh cửa kính, tình cờ hôm nay mở ra, thoáng nhìn qua tấm kính, tôi đã bần thần ngạc nhiên không thể ngờ được con người trong kính lại là tôi. Thật là kinh khủng! Cùm kẹp, khổ đau và lo lắng cung kẹo đã tàn phá con người tôi đến thế. Đồng thời, tôi cũng chú ý đến cái cổ của tôi, mặc dù chín ngày rồi, vết thâm vẫn còn. Tên Thành chỉ ghế dịu giọng:

– Anh ngồi đi! Lâu rồi, chúng tôi không gặp anh. Dạo này anh có khỏe không?

Vẫn chỉ là một câu hỏi xã giao lấy lệ như mọi khi của chúng. Cũng như những lần trước, tôi cúi đầu dè dặt:

– Dạ, tôi vẫn đều đều!…..

Tên Đức, từ nãy lúi húi mở cặp hồ sơ, rút ra một số giấy tờ, bây giờ y mới lên tiếng:

– Lâu nay, anh có theo dõi đài không?

Phải nói, ít lâu nay, tâm trí tôi cứ lẩn quẩn ngày đêm với những ý nghĩ của người sắp lìa bỏ cõi đời, nên chuyện gì tôi cũng không cần biết nữa. Phần khác, 4 cái loa to ở xa mãi giữa sân trại chung, chĩa ra 4 dẫy buồng chung quanh, nên trong xà lim chỉ nghe loáng thoáng. Thêm nữa, là buồng số 3 của tôi lại nằm mãi phía trong, càng khó nghe hơn. Dù vậy, tôi vẫn trả lời:

– Thưa ông, tai tôi dạo này nghe rất kém, nên không rõ!

Tên Đức ngần ngừ một lúc, rồi hỏi:

– Vậy anh có biết hiện nay, ở miền Nam đang đảo chính xoành xoạch không?

Tôi biết là y chỉ muốn làm ruỗng nát thêm lòng tôi ra, nên tôi trả lời cộc lốc:

– Không ạ!

Những câu hỏi bâng quơ từ nãy tới giờ chỉ là mở đề, lúc này với vẻ mặt lạnh lùng, tên Đức bất chợt hỏi:

– Khi anh ra Hà Nội, anh thường ra đền Ngọc Sơn để làm gì?

Tôi hơi điếng người. Có vấn đề liên quan đến tài liệu “M” rồi chăng? Dù không nhìn thẳng, tôi cũng biết chúng đang theo dõi nét mặt của tôi. Tôi vẫn bình thản, và để thăm dò, tôi trả lời:

– Thưa các ông, như tôi đã viết và trình bày nhiều lần trước đây, Hà Nội nói chung, và riêng đền Ngọc Sơn không những là một thắng cảnh nổi tiếng của đất nước, đối với riêng tôi, nơi đó còn mang nhiều kỷ niệm của buổi ấu thời, nên tôi thường ra thăm lại.

Tên Đức đứng bật dậy, giơ tay chặn không cho tôi nói nữa, y quắc mắt:

– Anh đừng dùng luận điệu cũ rích đó nữa! Tôi nói cho anh biết: Anh đã ra đền Ngọc Sơn để liên lạc với một cô gái! Hiện nay, chúng tôi đã nắm được đầy đủ vấn đề. Vậy, dù anh có không nói ra, cũng không được nữa đâu! Do đó, khôn hồn anh hãy khai rõ mọi chi tiết. Bây giờ, đừng trách gì chúng tôi nữa!

Tôi thấy tim mình tưởng chừng như thắt lại. Nghe từng lời, từng ý nó nói, óc tôi suy nghĩ rất nhanh, và nét mặt vẫn không biến đổi. Tới bây giờ đã gần hai năm rồi, phải chăng đường giây “M” hoạt động, chúng đã “vồ” được? Nếu không, tại sao mãi tới bây giờ chúng mới hỏi? Nhưng, tại sao chúng chỉ nói đến đền Ngọc Sơn, mà không nói đến vườn hoa “Con Cóc”? Như vậy, nếu sự việc liên quan tới tài liệu “M”, có thể hiểu theo hai chiều hướng:

1) Do từ Sài Gòn. Nhưng, Sài Gòn không thể biết tôi giao tài liệu ở đâu. Chỉ biết nơi gặp đã được chỉ định là trên cầu Thê Húc.

2) Do đường giây “M”. Bây giờ bị chúng “vồ” được rồi, đường giây “M” đã phải khai báo ra. Nhưng nếu đã khai gặp ở đền Ngọc Sơn, sẽ phải khai nhận tài liệu ở vườn hoa “Con Cóc”, chứ ở đền Ngọc Sơn không có gì cả.

Cuối cùng, để biết rõ thêm ý chúng, tôi trả lời, mắt giả vờ mở to ngạc nhiên:

– Các ông làm tôi thật ngạc nhiên, tôi không hề nói chuyện với một cô gái nào trong đền Ngọc Sơn cả!

Tên Đức quắc mắt, gầm lên, đập mạnh tay xuống bàn:

– Đến giờ phút này, anh còn ngoan cố như thế! Vậy anh có lợi dụng mấy đứa trẻ con để gặp cô gái ấy không?

Tên Thành từ nãy vẫn ngồi yên, bây giờ cũng gắt:

– Anh Bình! Anh phải biết điều. Anh không khai thật ra, những hình phạt đau đớn sẽ đến với anh ngay sau đây! Anh sẽ hối không kịp!

Trong khi chúng quát nạt, óc tôi cứ nghĩ tiếp. Dứt khoát không phải do người của chúng nằm trong Cục ở Sài Gòn rồi. Bởi vì, nếu đã biết một, thì phải biết hai, có khi phải biết cả ba là khác. Nghĩa là nếu đã biết tài liệu “M”, phải biết tài liệu “X”, hoặc 3 lá thư của Linh Mục Hoàng Quỳnh. Khi chúng quát tháo xong, tôi đã rõ nguyên nhân rồi. Thì ra là thế! Tôi cảm thấy người nhẹ nhõm hẳn lên. Nếu tôi không bình tĩnh và tỉnh táo tính toán, tôi có khi đã “không khảo mà xưng rồi!” Suýt nữa!…Tôi đã tưởng phen này chắc chết với chúng. Thật là hú vía!

Vì thế, làm như chợt nhớ ra, tôi tươi mặt ngửng lên:

– Trời ơi! Tôi nhớ ra rồi, các ông đa nghi thật. Phải nói đó là một chị phụ nữ, chứ không phải là một cô gái. Hôm đó…tôi không còn nhớ ngày nào; tôi ra đền Ngọc Sơn chơi như mọi khi. Ngồi nhìn mấy em nô đùa, đuổi nhau. Các em vui đùa, nhưng các em lại dùng những câu rất tục tĩu, tôi nghĩ ngay người lớn cũng ít khi nói những câu này…Lúc đó, một chị cũng ở gần đấy mới tiến lại chỗ các em, chị nói là chị mới ở quê ra Hà Nội. Chị khuyên các em không nên nói tục bậy bạ, ví các em là cháu ngoan Bác Hồ, là mầm non của Đảng vĩ đại, đang ra sức vun trồng, là thiếu nhi Thủ Đô, lá cờ đầu vẻ vang của cả nước v.v… Nhưng không ngờ, có thể vì thấy chị là phụ nữ, lại là một phụ nữ quê mùa nên các em đã chửi lại, thậm chí chúng còn lấy những cục đá con ném chị nữa… Tôi thấy chị đó có ý thức tốt đối với xã hội, nên tôi đã đứng lên nghiêm giọng mắng các em… Phải nói, tôi và chị ấy cũng không hề nói chuyện với nhau… và tôi cũng không hề biết tên chị là gì.

Tên Đức và Thành nghe tôi nói như vậy có vẻ bớt nóng, nhưng tên Đức vẫn còn khẳng quyết:

– Anh đã lợi dụng lúc ấy để trao tài liệu cho chị ta!

Câu nói của y càng làm sự việc sáng tỏ. Do đó, tôi cũng bình tĩnh khẳng định:

– Tôi không biết vì sao các ông lại biết được sự việc ấy. Trước đây, những chuyện như vậy, cũng như hàng nghìn việc của một người, một ngày đi ra phố đã gặp, tôi kể với các ông làm gì. Nếu hôm nay các ông không nhắc đến, tôi cũng quên luôn. Vì vậy, tôi xin đoan quyết là: Tôi không hề nói chuyện hay đưa bất cứ một cái gì cho chị ta. Các ông đã biết rõ, các ông cứ điều tra, nếu tôi sai, tôi xin chịu hình phạt nặng nhất của nhà nước.

Tên Đức vẫn nạt nộ:

– Anh đừng già mồm nữa, anh tưởng chúng tôi không biết à! Anh ra miền Bắc, bất cứ anh làm cái gì chúng tôi cũng biết hết. Anh đi những đâu, làm cái gì, anh tưởng chúng tôi là mộc đấy à?

Thấy y nói như vậy, để đánh một đòn sâu hơn nữa, tôi cười nói:

– Vâng, bây giờ các ông đã biết hết rồi. Bởi vì, ngay từ khi tôi bị bắt, tôi đã thành khẩn khai chi tiết mọi sự thật rồi.

Y lại quát to hơn:

– Anh không khai chúng tôi cũng đã biết, anh hiểu không?

Tôi vẫn cười, nhìn y bằng ánh mắt không tin. Trong khi đó, tôi suy đoán: Tại sao cho đến bây giờ, chúng mới hỏi tôi sự việc ấy. Điều tôi thấy trước mắt là, cho đến bây giờ, vụ án của tôi chúng vẫn chưa tin, chúng vẫn còn đang điều tra. Còn để trả lời câu hỏi trên, vì chỉ đứng một phía cho nên thiếu cơ sở cụ thể, do đó tôi chỉ dám nói có thể ở mấy điểm sau đây: Chúng chưa thỏa mãn về vụ án của tôi, nên chúng phải nghiên cứu lại toàn bộ vấn đề. Từng ngóc ngách, từng khía cạnh, đều phải rà lại; trong đó, chúng cũng nghiên cứu chi tiết lại toàn bộ những bản tường thuật báo cáo của những tên đã theo dõi tôi. Rồi để thẩm tra lại, chúng gọi tôi lên, và để đè chừng bắt bóng, chúng cứ khẳng quyết như sự thật là vậy, rồi xem thái độ của tôi ra sao. Như vậy, tôi chẳng có gì lo lắng nữa, vì thực sự tôi chẳng liên quan cóc khô gì với chị đó cả.

Tên Thành nhìn tôi một lúc, rồi đột nhiên hỏi:

– Anh muốn tự tử để theo chân Ngô Đình Diệm phải không? Anh định tự tử để chôn chặt sự bí mật của anh à?

Tôi tỏ nét mặt buồn buồn, rồi trả lời như tôi đã viết trong tờ kiểm điểm. Tên Thành cười, nói như khích:

– Tôi không tin như anh nói. Anh là một người khôn ngoan, lại có chí, anh sẽ không tự tử vì sự khổ cực của giam giữ.

Tôi cũng cười:

– Thưa ông, tôi có chí quái gì đâu. Bất cứ lúc nào tôi cũng không thiết cuộc sống này. Ngay bây giờ đây, tôi cũng không muốn sống nữa.

Tên Đức thấy cứ nói những chuyện không đâu, hơn nữa cũng gần hết giờ, nên nói:

– Thôi, cho anh về suy nghĩ để khai rõ sự việc của anh với chị phụ nữ đó trong đền Ngọc Sơn.

Tôi đứng lên, nhưng nói một cách khẳng quyết:

– Thưa ông, tôi không có gì để suy nghĩ nữa. Chuyện đơn giản như thế, tôi đã thưa rõ rồi!

Trên đường về xà lim, lòng tôi trĩu nặng ưu tư, như vậy, vụ án của tôi vẫn chưa ổn. Chúng vẫn còn chưa tin, Vậy, với điều kiện có thể, một mặt chúng sẽ tăng cường nhiều biện pháp, thủ đoạn để khai thác tôi; mặt khác, chúng chỉ thị cho những bộ phận của chúng nằm vùng ở miền Nam tìm tòi những gì có liên quan, dính dáng đến tôi, để hòng làm sáng tỏ vụ án. Chỉ còn mong một điều, một điều không may cho tôi là tôi đã bị chúng phát hiện ngay ngày thứ 3, khi vừa tới Hà Nội. Nhưng, chính từ điểm bất lợi có tính cách quyết định này, mặt trái của sự việc ấy cũng có một điều lợi nhỏ cho tôi: Vì chúng đã theo dõi mọi hành động, đường đi nước bước của tôi từ những ngày đầu này, nên chúng rồi sẽ có thể tin được là tôi đã “không làm gì”, đúng như “lời tôi đã khai báo”. Tôi đã tự phân tích để xác định vấn đề theo chiều hướng như thế, và….. điều đó cũng làm cho bệnh đau óc của tôi càng trầm trọng thêm.

Ngay chiều hôm ấy, có tiếng khóa loạch xoạch mở cửa buồng, tôi nhìn ra, một người chừng 30 tuổi ôm một túm bọc chăn màn lách cửa bước vào. Phía ngoài cửa buồng, tên Chiến nói với người mới:

– Anh hãy để chăn màn, quần áo của anh ở sàn bên này. Ra đi cung đã!

Anh đó ngơ ngác đặt bọc quần áo xuống, liếc nhìn hai chân của tôi đang trong cùm, rồi vội vàng ra theo tên Chiến.

Cửa đóng rồi, tôi nhìn thoáng sang bọc chăn màn. Vì lúng lúng vội vàng, anh đó đã để tung tóe cả ra. Tôi thấy rất nhiều bao diêm và thuốc lào, vài khúc bánh mì nhỏ, mấy cái keo giấy…..Nhưng, thuốc lào và bao diêm đã thu hút hết tâm trí của tôi rồi. Tôi cũng băn khoăn chẳng hiểu anh này tội gì, vừa vào đã bị gọi đi cung ngay?

Một mặt, có người vào nằm thêm với mình, cũng đỡ buồn. Nhưng mặt khác, trong trường hợp tôi đang bị cùm hai chân, những buổi cơm nước, đổ bô, tôi sẽ không được mở cùm nữa. Như vậy, hai cái chân không được cử động, sẽ càng chóng bị liệt.

Gần hết giờ làm việc, cửa mở, anh đó đi cung về. Khi nãy, lúc tôi ra lấy cơm, tên Chiến bảo tôi lấy một gáo dừa nữa múc nước và cầm thêm một suất cơm vào cho anh mới. Vì vậy, suất cơm của anh tôi vẫn để ở cuối chỗ cái cùm bên phía sàn của anh. Sau khi cửa đóng, vì tôi đã có kinh nghiệm, nên bảo anh, khi thấy anh quay lại lúi húi định sắp xếp các thứ:

– Anh hãy ăn cơm đã. 15 phút nữa, cán bộ sẽ mở cửa bắt trả bát ngay!

Anh quay lại nhìn tôi, dáng vừa ngỡ ngàng lại vừa buồn buồn, hai mắt cứ mở to nhìn hai cái chân của tôi trong cùm:

– Tôi mệt lắm, không muốn ăn!

Tôi hiểu ngay, anh mới bị bắt, đầu óc còn đang căng thẳng đầy lo lắng, còn bụng dạ thiết đến ăn uống, nhất lại là cơm tù. Trong khi ấy, bụng tôi vẫn đói, ăn cho đã bây giờ phải 3 suất! Nhưng, do lòng tự trọng, làm sao tôi dám mở miệng nói “để tôi ăn cho” được. Anh nhìn chân tôi, có vẻ băn khoăn hỏi:

– Anh làm sao mà bị cùm thế?

Thấy anh chả hiểu được tình tiết, nên tôi chỉ trả lời đơn giản:

– Tôi bị kỷ luật!

Tôi hỏi lại anh ngay:

– Anh bị bắt bao giờ?

– Một tuần rồi!

Tôi ngạc nhiên:

– Thế mấy ngày trước, anh bị giam ở đâu?

– Buồng số 9 ở ngoài trại chung!

– Bị bắt về tội gì?

– Tôi lái xe khách, đường Tây Bắc, chở hàng lậu.

Như vậy, anh này bị tội hình sự. Vậy, tại sao phải vào xà lim? Tôi tỏ vẻ tình cảm, hỏi anh:

– Tội hình sự ít vào xà lim lắm. Vậy, đang ở trại chung, vì sao anh lại phải dọn vào đây?

Nét mặt anh cũng đăm chiêu:

– Tôi cũng chẳng hiểu sao nữa. Từ hôm tôi bị bắt vào, mới đi cung 3 lần. Xe tôi chỉ chở có 5 ký chè búp, có khi phải bị từ 3 tới 6 tháng.

Anh vẫn cứ nhìn hai cái chân tôi:

– Anh bị bắt về tội gì, cùm ghê thế?

Tôi đã suy đoán được vấn đề. Chắc hẳn là chúng sợ tôi lại tìm cách tự tử nếu để tôi một mình. Những tội chính trị khác cho vào giam với tôi, chúng xét thấy không có lợi. Cho nên, mang một anh hình sự vào nằm với tôi một thời gian, vô thuởng vô phạt. Như thế, anh này chắc cũng chẳng ở lâu với tôi. Nghĩ vậy, tôi trả lời:

– Tôi là giáo viên trường Phổ Thông Cấp II ở Phủ Lý. Tôi theo tư tưởng “xét lại”.

Anh cười hồn nhiên, vẻ vô tâm:

– Các anh làm chính trị ghê nhỉ!

Rồi như anh chẳng quan tâm đến vấn đề “chính chị, chính em”, anh nhìn suốt sàn tôi một lượt rồi hỏi:

– Anh có hút thuốc lào không?

– Cũng có hút chút ít, nhưng tôi chưa có gia đình tiếp tế!

Anh vồn vã, tự nhiên:

– Ồ, thuốc lào tôi thiếu gì! Anh hút phè ra thì thôi!

Vừa nói, anh vừa kéo ra một buộc 5 gói thuốc lào…Qua một lúc chuyện trò, tôi thấy anh kiến thức hạn hẹp, nhưng ở anh, thể hiện ra là một con người khinh bạc, giang hồ, vì thế tôi cũng tự nhiên:

– Tôi thấy anh có điếu đâu?

– Sẽ làm, có ngay! Làm bằng bao diêm, có cơm dán rồi.

Giữa lúc ấy, cửa mở. Tôi biết là phải trả bát. Bát cơm vẫn để nguyên, anh ta không ăn. Tôi vội giở cái quần đùi rách ra, nói:

– Anh hãy đổ suất cơm vào đây: đem trả, phí đi, vừa để tôi ăn, vừa dán điếu!

Anh đó, tên Đà, vừa đổ bát cơm vào chiếc quần lót rách tôi đang giơ ra, vừa trách tôi:

– Thế mà từ nãy anh không ăn. Tôi cũng quên không mời, không biết anh đói. Lúc trưa, tôi “quất” 3 cái bánh chưng con với khúc bánh mì, bây giờ hãy còn no.

Trả bát xong, anh vào, lúi húi lấy hộp thuốc đánh răng bằng nhôm. Anh dùng tay bóp phía đầu ra, rồi chỉ bằng cái đầu cán bàn chải đánh răng, anh hì hục, loay hoay. Có lúc anh mài mài xuống sàn xi măng. Chỉ một lúc sau, đã có một chiếc nõ điếu bằn nhôm con con, xinh xắn. Anh lấy ra 3 bao diêm không. Anh dùng những tờ giấy bàn gói thuốc lào, phết bánh chưng dán  3 bao diêm vào với nhau để làm thân điếu. Vừa miệt mài làm, anh vừa chuyện trò với tôi.

Với thái độ lính tráng, bụi đời, anh vất sang tôi hai cái bánh:

– Đừng ăn cơm nguội đó nữa. Ăn mấy chiếc bánh này này!

Thấy anh chỉ có ba, bốn cái bánh; hơn nữa, rồi đây anh sẽ đói, nên tôi xua tay:

– Đừng phí phạm như vậy, anh Đà ạ! Còn dài ngày, rồi đây anh sẽ đói nhiều. Tôi ăn chỗ cơm này, tốt chán rồi!

Tôi ném trả lại cho anh 2 cái bánh. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, anh đã làm xong cái điếu vuông vắn, rất xinh. Anh “bắn” điếu thuốc đầu tiên với nét mặt thỏa mãn, say sưa. Rồi, anh đưa điếu, diêm và thuốc sang cho tôi. Điếu kiểu này, hút hơi khó khăn, vậy mà tôi cũng say đáo để.

Phải nói, đêm hôm đó tình cờ lại có thêm suất cơm, tôi ăn xong rồi nằm nghe cái bụng trổi lên những khúc nhạc đê mê, dịu dàng, êm tai. Con tì, con vị cũng rủ nhau tham gia vào buổi “dạ vũ” độc nhất vô nhị từ gần hai năm nay này. Mà quái, cái đầu của tôi hôm nay cũng như hưởng ứng ít nhiều với cuộc vui đó, vì thấy đỡ nhức hẳn đi…

Những ngày sau đó, qua những lúc trao đổi, chuyện trò, tôi hiểu được sơ sơ về anh. Anh đã đi bộ đội, và đã phục viên được 4 năm nay. Nhờ chạy vạy, xoay sở mạnh nên anh được lái xe đường trường cùng Tây Bắc. Anh có vợ và hai con. Theo anh, trên miền Bắc hiện nay, nghề lái xe khách đường dài là dễ kiếm ăn nhất, và nhất là nếu lại biết cách “móc ngoặc” với khách. Thỉnh thoảng chở giấu hàng lậu cho khách như chè, gạo, v.v… thì cũng kiếm ăn ra trò. Anh có khả năng kiếm ăn giỏi, nên tính anh rất rộng rãi, lính tráng, khác hẳn với tên Hoàn, tên Tân và cả anh Hoàng Hùng.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí bình

Post by Sơn râu 27 Sep 2023

Chưa dứt… nghiệp!

Đặng Chí Bình

Bài 1

Mãi tới khi thấy mũi cay xè, tôi mở mắt thấy lố nhố mấy người, rồi tôi cứ nấc lên, và không thở được nữa. Tôi lại mê man. Đầu tôi vẫn nóng như nung, và như vang vang một hồi còi ai thổi rất dài, đôi lúc ngân nga như tiếng sáo diều…..Rồi tôi tỉnh lại. Mãi một lúc lâu, tôi mới nhìn rõ một người mặc quần áo xanh đang đè chặt ngực tôi. Tôi cảm thấy khó thở. Cố gắng lắm, tôi cũng chỉ thở được khò khè. Bây giờ, tai tôi mới nghe được tiếng người nói, nhưng rất nhỏ:

– Sống rồi!

Người mặc quần áo xanh mặt trắng trẻo, chừng tuổi tôi, cầm tay tôi và nhìn tôi với một vẻ đầy thương cảm. Anh ta cúi sát tai tôi nói:

– Đừng dại mà tự tử. Hãy cố gắng mà sống!

Tôi muốn với anh ta lời cảm ơn, nhưng tôi không nói được, chỉ đưa mắt nhìn anh ta với vẻ biết ơn. Một lúc sau, tôi thấy một người mặc áo “blouse” trắng ôm khay thuốc đi vào. À, ông Huệ y tá. Ông ta cầm chiếc ống nghe trên khay thuốc đeo vào tai, rồi vạch ngực áo tôi lên, đặt ống nghe chỗ này, chỗ khác. Lúc này tôi đã nghe rõ hơn chung quanh, có hai tên áo vàng là tên Nhiễm vẫn trực xà lim III và tên Kế trực ở ngoài trại chung. Tên Kế tay đang cầm sợi dây thừng bằng vải của tôi, một phía đầu dây có vết cắt.

Y tá Huệ nghe ngực tôi một lúc, rồi lấy một gói thuốc gì, bột vàng vàng đổ vào một chiếc ly nhỏ cùng với một chút nước còn lại, trong cái gáo dừa ở buồng tôi. Y quấy một lúc rồi đổ vào miệng tôi, dịu giọng:

– Anh uống cái này đi!

Cổ họng đau quá không nuốt được, nên tôi chỉ nhấp từng ngụm nhỏ. Ly nước chỉ có một chút mà tôi uống mãi mới hết. Mùi thuốc gì hăng hăng như mùi rau cải bẹ sống.

Sau đó, y lấy chai dầu nóng, dùng bông xoa chung quanh cổ của tôi. Vừa xoa, y vừa nói:

– Anh chết thiệt thân anh thôi! Đừng nghĩ quẩn mà dại như thế!

Tôi nằm nghe, chẳng muốn nói gì. Vả lại, cũng không nói được. Một lúc sau, chúng ra hết và đóng cửa buồng lại. Lúc này trời đã sáng! Phần đau, phần mệt, tôi lại lịm đi lúc nào không biết…..

Mãi tới khi nghe tiếng người gọi, tôi mở mắt ra, trời đã sáng rõ. Tên Chiến, cán bộ trực xà lim, quắc mắt nhìn tôi:

– Hôm qua, anh dám đánh lừa cán bộ Kim rồi thắt cổ hả?

Tôi nhìn y nhưng không nói được. Y có vẻ bực tức, một lúc, có lẽ hiểu tôi không nói được vì thấy cái cổ sưng to lên của tôi. Y trở ra đóng cửa, và mở các buồng cho ra đổ bô.

Đến khoảng 9 giờ, cửa lại mở. Lần này là tên Trì, Thượng Úy Phó Giám Thị và tên Chiến đứng sau lưng y. Tên Trì với giọng miền Trung nặng chịch:

– Anh định tự tử theo chân Ngô Đình Diệm?

Tôi nhìn y, lắc đầu. Y cười nửa miệng, nói với giọng giễu cợt:

– Anh muốn trung thành với Ngô Đình Diệm, anh ôm bí mật xuống lỗ để báo cáo với y hỉ?

Thái độ của lão thật đểu cáng, tôi quay mặt vào phía trong nằm im. Trước khi ra, y còn quay lại đe:

– Rồi đây, đến lúc muốn sống cũng không đuợc sống!

Tôi hiểu, với cộng sản, dù tòa án của chúng đã xử anh tử hình và chờ ngày đem bắn, anh tự tử chúng cũng vẫn cứu sống, để rồi chính chúng thi hành bản án. Chúng muốn bóc lột cả chủ quyền thiêng liêng nhất là sự sống, quyền sở hữu sơ đẳng của con người. Huống chi, tôi vẫn còn đang trong thời gian bị khai thác. Chúng phải cần tôi sống để moi chứ.

Cả buổi sáng hôm ấy, chúng không cho tôi ăn uống gì. Vì thế, tôi càng mệt lả, nằm li bì mãi tới chiều. Tới giờ cơm, tên Chiến mới mở cửa, nhìn tôi quát:

– Bò dậy, ra lấy cháo!

Cả người mệt lả vì đau và vì từ chiều hôm qua tới giờ không có gì trong bụng, tôi cố gượng dậy mà mắt hoa lên. Nhưng, tôi hiểu là nếu không cố gắng ra lấy cháo ăn, càng đói càng khổ mình, chứ chúng không bao giờ bưng vào cho. Những người tù hình sự làm việc bưng thùng cơm ở ngoài kia thì lại không được phép trông thấy người trong xà lim, nên chắc chắn chúng cũng không cho mang giúp vào. Tôi chập choạng đứng lên, tưởng muốn ngã. Cổ tôi sưng to, không quay đi quay lại được. Tôi vịn sàn, vịn cửa, rồi hai tay lần theo tuờng lảo đảo, chậm chạp ra chỗ lấy cơm.

Tới nơi, tôi thấy chỉ là một bát nước cháo. Tôi cảm thấy mệt quá, ngồi bệt ngay xuống hè, cố nâng bát cháo lên húp. Thấy mằn mặn, chắc có pha ít muối.

Tên Chiến không muốn mất thì giờ, định giục tôi mang bát cháo vào trong buồng, nhưng khi nhìn thấy tay tôi bưng bát cháo húp còn run run chực đổ xuống nền mấy lần, nên y chỉ thúc:

– Mau lên!

Vì bụng đói, tôi cố gắng húp. Nhưng, cái cổ đau, cuống họng của tôi bây giờ hình như bé đi, tôi chỉ húp được từng chút một, và mỗi lần nuốt xuống như có mảnh chai cào vào cuống họng, rát như bỏng. Phải đến mười lăm phút sau, tôi mới húp hết bát cháo.

Tên Chiến tỏ ý rất bực bội, tôi vừa bỏ bát xuống, y đã cộc lốc:

– Vào!

Tôi lại chậm chạp đứng lên, lần theo tường lảo đảo vào buồng.

Hai ngày húp nước cháo, rồi sau đó ăn cháo 3 ngày. Bây giờ, tay trái của tôi bỗng dưng xuội hẳn ra như bị liệt; còn phía trên đỉnh đầu, suốt ngày đêm cứ cắn như kim châm. Tôi hiểu rằng đây là những phản ứng hậu quả của cơ thể vì việc thắt cổ tự tử.

Ngay ngày thứ ba, khi bắt đầu được ăn cháo, chúng đã bắt tôi bỏ chân vào cùm rồi. Tâm trạng tôi lúc này thực buồn nản ghê gớm. Đúng là cái nghiệp mình phải trả, chưa dứt được. Muốn chết cũng không xong! Bây giờ, lại mang bệnh đau óc và xuội tay. Sống như thế này, còn khổ biết chừng nào!

Tôi nằm nhớ lại hôm tôi thắt cổ, và suy đoán qua những hiện tượng lúc đó. Phải rồi, khi tôi trèo lên mép cửa sổ, chắc chắn là ánh đèn điện giữa trần của căn buồng, đã chiếu bóng tôi xuống lối đi phía chân tường, sát bên ngoài buồng giam (nhưng vẫn là bên trong Hỏa Lò). Một tên công an vũ trang thỉnh thoảng đi tuần tra bên ngoài, phía sau xà lim, hoặc đang đứng canh trên một vọng gác gần đó, giữa đêm khuya vắng lặng, thoáng thấy một bóng loay hoay ở cửa sổ, hẳn y nghi là có tù đang chuẩn bị tìm cách trốn, nên đã bí mật theo dõi và tiến sát gần cửa sổ. Lúc bấy giờ, một phần do tâm trạng của một kẻ sắp lìa bỏ cõi đời, chẳng quan tâm đến những sự việc chung quanh nữa; phần khác, vì tôi không có định trốn, nên tôi chỉ chú ý đến việc thực hiện “kế hoạch” tự tử của mình mà không để ý gì đến sự việc bên ngoài. Vì vậy, tôi đã không phát hiện kịp.

Sau khi theo dõi một lúc, thấy tôi loay hoay với thừng dây tròng vào cổ, y đã đoán được ý đồ của tôi nên quát hỏi. Rồi mặt khác, y chạy ngay vào báo cho cán bộ. Rồi, có lẽ y cũng theo cán bộ vào buồng tôi. Như thế, y phải là cấp chỉ huy của công an vũ trang, và phải quen biết cán bộ quản giáo, y mới vào buồng giam đặc biệt này được. Vậy, tên mặc quần áo công an vũ trang “màu xanh” vuốt ngực tôi và nhìn với vẻ thiện cảm chính là người đã quát tôi bên ngoài cửa sổ chăng?

Nghĩ lại, tôi không biết nên trách vì mình không chết được là tại y, hay cảm ơn vì còn sống được là nhờ y? Bần thần một lúc, tôi thấy trong lòng mình như dâng lên một mối thiện cảm với y. Do từ một bộ óc còn chút tình người, từ một trái tim vẫn còn đỏ máu tươi nhân đạo trong chế độ đã hết tình người. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, anh vẫn là một cây sen quý. Vậy mà, tôi chả biết anh là ai, dù mai đây có gặp lại!

Tóm lại, từ ngày vào Hỏa Lò tới nay, đã ba lần tôi đến sát với cái chết. Chúa, Trời vẫn bắt tôi phải sống để nhận những đắng cay, tủi nhục của một kiếp lao tù.

Sau 5 ngày ăn cháo, cổ tôi dần dần đỡ đau, bây giờ, tôi đã nói được, nhưng vẫn khào khào như con ngan đực. Người tôi đã đói rã rời triền miên vì 5 ngày ăn cháo, nên cơ thể càng cồn cào, mệt mỏi. Tuy nhiên, một điều làm tôi phấn khởi hơn là nhờ sự tích cực tập cử động, cánh tay trái của tôi từ từ đã đưa lên đưa xuống được; sau nhiều lần dùng tay mặt giúp sức đưa lên đưa xuống. Có hưng phấn một chút vì tay trái cử động được, thì lại lo âu thêm vì cái đầu ngày càng nhức nhiều hơn. Cái bệnh đau đầu này làm tôi lo sợ không ít.

Ngày thứ 6 kể từ ngày tự tử hụt, tôi bắt đầu được ăn cơm. Bây giờ, bữa cơm thường rất lâu, vì tôi phải nhai thật kỹ từng miếng nhỏ. Tên Chiến thông cảm, nên tới giờ trả bát, y mở hết các buồng khác trước, rồi sau cùng mới mở buồng tôi.

Chiều hôm đó, tên Chiến mở cửa gọi tôi ra bàn trực. Tôi không biết sẽ có chuyện gì. Sau khi bảo tôi ngồi, y nghiêm mặt, lạnh lùng:

– Hôm chủ nhật vừa qua, anh đã đánh lừa cán bộ, do vô tình đã không cùm anh. Rồi anh xé quần áo trại đánh thừng, đang đêm tự tử. Anh đã vi phạm trầm trọng nội quy xà lim. Hôm nay, tôi gọi anh ra đây, cho phép anh viết kiểm điểm. Anh chuẩn bị ra sao, đánh lừa cán bộ thế nào, vì sao anh định tự tử?…..Tùy theo bản viết kiểm điểm của anh thành khẩn trình bầy và nhận khuyết điểm đến đâu, cách mạng sẽ theo đó để có biện pháp xử lý.

Nói xong, y mở ngăn kéo rút ra 3 tờ giấy trắng, đưa một cây bút với lọ mực cho tôi, rồi chỉ vào cái ghế:

– Hãy đem ghế ra góc sân kia ngồi viết!

Tôi đem cái ghế ra góc sân như y bảo, rồi ngồi bệt, ghệ xuống hè, để giấy lên mặt ghế làm bàn. Nội dung chính tôi viết: Tôi xác định là có tội với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bởi vì rõ ràng tôi đã xâm nhập vào Thủ Đô Hà Nội. Nhưng, vì có lòng thích xã hội chủ nghĩa, nên tới Hà Nội tôi đã không hoạt động gì cho chính quyền miền Nam cả. Khi bị bắt, tôi đã thành khẩn khai báo tất cả sự thực ngay từ đầu. Nhưng, đã gần 2 năm rồi, tôi vẫn bị cùm kẹp ở trong xà lim. Nghĩ rằng trước sau cũng chết và quá đau thương tủi hận vì nhà nước và cách mạng không hiểu cho lòng thành thực của mình, nên tôi đã tìm cách tự tử. Còn sống ngày nào, thì chỉ là những ngày tâm tư bị dằn vặt khổ đau, v.v…

Tôi đang viết, bỗng nhiên có tiếng đập vào cánh cổng xà lim thình thình. Tên Chiến ngồi ở bàn hất tay bảo tôi:

– Vào ngay nhà tắm, đóng cửa lại!

Tôi hiểu là có người đi cung được cán bộ giong về. Ở xà lim, tù nhân khác buồng không được phép nhìn thấy nhau. Một lúc, chắc hẳn đã đưa tù đó vào buồng rồi, tôi nghe tên Chiến nói to:

– Nhà tắm ra đi!

Có lúc cũng đang viết, cán bộ vào gọi buồng nào đó đi cung, tôi cũng lại phải chạy vào nhà tắm….. Tuy ngồi viết, nhưng tâm tư tôi cũng đầy vơi với bao nhiêu nỗi niềm của cuộc đời. Nhìn những tảng mây trắng đang lững lờ theo gió bay về phương Nam xa xôi, lòng tôi như muốn nhắn nhủ, gởi gắm nỗi nhớ thương chất chồng đang đầy ắp trong tôi về phương trời bên ấy. Một đàn sẻ năm, sáu con vụt sà đáp xuống phía cuối góc sân, nhảy nhót tung tăng, ríu rít chuyện trò với nhau. Sân xà lim vắng lặng đìu hiu, làm gì có đồ ăn cho chúng. Chỉ có những đám rêu xanh mọc bám dài theo chân tường. Chúng thi nhau mổ lấy, mổ để, chẳng hiểu món ăn của chúng là những ngọn rêu xanh, hay những chú côn trùng trong đám rêu xanh ấy? Tôi chợt nhớ lại những đoạn đời ấu thơ nơi quê nhà. Bạn bè dăm ba đứa cũng nhảy nhót tung tăng suốt ngày. Bây giờ, tôi ngồi đây, trong cảnh này! Một tiếng thở dài nhè nhẹ lê thê như tự xót thương cho số phận của mình! Ngày ấy, nay còn đâu! Mùi rêu xanh ẩm mốc, mùi của những chiếc lá bàng khô, và mùi cống rãnh xông lên, tất cả quyện lại thành một thứ mùi hăng hăng, nồng nồng như mùi của một ngôi chùa hoang, hay miếu cổ. Càng làm tăng lên sự tịnh mịch hoang vắng của xà lim. Mặc dù nơi đây nằm giữa thủ đô Hà Nội. Đầu tôi lại tự nhiên cắn nhức, tôi viết đại cho xong, rồi đưa nộp cho y. Lúc đó, cũng đã gần hết giờ buổi chiều. Sáng hôm sau, vừa đến giờ làm việc, cửa buồng tôi đã xịch mở, tên Chiến tay cầm một tờ giấy, nhìn tôi lạnh lùng:

– Anh hãy nghe lệnh kỷ luật của Ban Giám Thị:

“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – Bộ Công An

Lệnh kỷ luật

Tên: Đặng Chí Bình xé quần trại, đánh lừa cán bộ, vi phạm trầm trọng nội quy xà lim. Nay quyết định: Cùm hai chân trong thời gian 7 ngày. Kể từ ngày…..tới ngày…..

Ban Giám Thị trại,

Phó Giám Thị

Lê Trì.”

Chao ôi! Lại cùm ư! Cổ tôi hãy còn sưng, tiếng nói của tôi còn chưa rõ, đầu tôi vẫn đau nhức như kim châm mà không có thuốc, bây giờ lại cùm hai chân! Tuy nói chỉ 7 ngày, nhưng như những lần trước đây, làm sao tôi tin được, mà sống cũng không sống được!

Y trở ra, rút chốt cùm, và bắt tôi bỏ cả 2 chân vào. Như cái xác không hồn, như cái mày, tôi theo lệnh hắn cho thêm chân nữa vào cùm…..

Thép đen

Đặng Chí bình

Post by Sơn râu 27 Sep 2023

Chạm Mặt Tử Thần 

Đặng Chí bình

Bài 45

 Chờ mãi rồi thời cơ cũng đến. Hôm ấy là Chủ Nhật. Chiến, cán bộ trực xà lim nghỉ, một cán bộ khác vào thay thế trực ngày Chủ Nhật. Thực là trời giúp để tôi thực hiện được kế hoạch. Gần 8 giờ, tôi nghe tiếng mở cổng xà lim, tiếng chân nhè nhẹ và tiếng chùm chìa khóa lọc xọc. Khi vào tới bàn trực, tiếng xô ghế, rút ngăn kéo bàn, rồi đóng lại, tiếng ném chùm chìa khóa lên bàn, tiếng khì khì thở lúc nặng, lúc nhẹ. Không sai vào đâu nữa, đúng lão Kim già rồi!

 Lão này, phần vì già phải đeo kính trắng, mắt nhìn tơ lơ mơ; nhưng phần chính, so với các tên công an khác, lại tương đối dễ tính. Có lần, y trông thấy một người đứng lên sàn nhìn ngoài, lại chỉ mắng và giáo dục mấy câu chứ không cùm. Cũng vì thế, hôm nào lão trực, hết buồng này báo cáo hỏi cái này, lại tới buồng kia hỏi cái khác, xà lim hôm ấy có vẻ rộn ràng hẳn lên. Lại còn điều này cũng rất đặc biệt, khác hẳn với những tên công an ác ôn kia, trước khi mở cửa cho các buồng ra đổ bô, lão đi mở cửa con suốt một lượt, thấy buồng nào bị cùm là cúi xuống rút chốt cùm ngay. Rồi cho tới khi tù ra đổ bô, lấy cơm ăn, xong lúc trả bát vô, bấy giờ lão mới cùm lại. Buổi chiều cũng như vậy.

Tôi suy nghĩ mãi vẫn chưa hiểu vì sao lão có lòng rộng rãi với người tù như thế. Có thể lão đã già rồi, trông lão phải hơn 60 tuổi; đầu lão tóc đã bạc hơn một nửa, mà lão chỉ có cái lon Thượng sĩ. Lão sắp sửa xuống lỗ, trong tâm tư chắc lão muốn có chút phúc đức để khi chết được thanh thản. Phần khác, theo tên Tân nói, lão là cán bộ lưu dụng, đã là cai tù ở Hỏa Lò. Vì thế, thời 1954 trở về trước, cũng có thể khi ấy, những tên Cộng Sản bị tù mua chuộc và lợi dụng lão, rồi kết nạp lão vào tổ chức. Như vậy, lão đã có nhiều thời gian sinh hoạt, giao tế trong quỹ đạo quốc gia, đã thấy được lẽ thiện ác, ân oán ở đời. Bây giờ, 10 năm sau, cũng vẫn…coi tù, thực tế cũng vẫn là anh cai tù. Hơn nữa, hẳn phần nào lão đã thấy được thực chất cái chế độ mà trước đây lão tưởng bở. Cho nên, cuối cùng lão tự hiểu là trong đời: Ở hiền gặp lành; càng khôn ngoan lắm, càng oan trái nhiều. Dầu sao, đây cũng chỉ là sự suy đoán của tôi về lão, trong khi thiếu cơ sở cụ thể, vì vậy, chưa hẳn đã là đúng.

Cửa mở, đến lượt buồng tôi đi đổ bô. Tôi ôm bô vào nhà tắm, thoáng nhìn bộ mặt lão, lòng tôi dâng lên một mối băn khoăn. Hôm nay, tôi sẽ phải lợi dụng cặp mắt kém và tính tốt của lão. Nếu thực hiện được mục đích của mình, lão sẽ phải bị kiểm thảo tơi bời, có khi còn bị kỷ luật hoặc hạ từng công tác nữa. Lương tâm tôi áy náy, thấp thỏm. Nhưng, tên cán bộ Chiến, trực chính xà lim, đầy khôn ngoan, quỷ quái, xem chừng tôi không thể lừa y được. Còn tên Điền, phụ trách việc nhận quà tiếp tế của thân nhân tù, và tên Bằng “mắt lồi” vẫn không kém phần tinh quái. Chỉ còn có lão Kim già này thôi. Đành vậy! Chẳng lẽ chỉ vì những suy nghĩ về lương tâm vụn vặt “tiểu tư sản” đó, lại bỏ cả mục đích của mình sao?

Vì thế, ngay từ lúc trưa, tôi lấy chiếc ba lô vẫn gối đầu, gấp cuốn lại thành một đoạn dài, thay cho khúc chân từ đầu gối xuống cổ chân. Buổi chiều, khi lão Kim đến rút cùm cho tù nhân đi đổ bô lấy cơm. Trong khi chờ đến lượt buồng mình, tôi tập thử mấy động tác cho thực nhanh, nhuần nhuyễn, hầu như chỉ trong một phút; cởi quần, co một chân vào sát mông, mặc quần, ngồi ngay vào sàn. Lấy cái ba lô đã buộc sẵn, đút vào chỗ ống quần không có chân, để nối với cái túi vẫn đút bàn chân mọi khi. Làm đi làm lại hai, ba lần cho thuần thục.

Từ sáng, tôi đã để ý khi lão mở một buồng nào cho ra trả bát, múc nước (ở thùng nước đặt tại mé hè chỗ bàn trực) lão thường ra theo, ngồi vào bàn, có khi cầm chùm chìa khóa đập chơi xuống bàn, có khi mở sổ trực ra nhìn. Dáng điệu chậm chạp, cho tới khi tù cầm gáo nước đi vào buồng, bấy giờ từ bàn lão mới đứng dậy, đi theo vào đóng và khóa cửa. Thời gian từ bàn lão đi theo tới cửa buồng khoảng hơn một phút. Thừa sức để tôi làm những động tác đã thực tập.

Gần 4 giờ chiều, đến giờ lão mở các buồng cho trả bát, tôi cũng hơi hồi hộp. Lão mở buồng số 1. Chẳng hiểu buồng số 1 báo cáo hỏi lão cái gì, một lúc lâu đến 5 phút, lão mới đóng cửa cài then và khóa. Buồng số 2 từ hôm tôi đến không thấy mở cửa bao giờ, vậy là không có người. Rồi cửa buồng tôi mở. Tôi lấy dáng đi chậm chạp. Lúc đặt bát cũng như khi múc nước, tôi liếc nhanh, thấy lão ngồi vào bàn, rút ngăn kéo đang lục tìm cái gì.

Tôi trở vào buồng. Hơi căng thẳng, tôi làm rất lẹ, trong khi tai vểnh lên nghe tiếng bước chân lão. Tôi vừa hoàn thành xong, và lấy cái chăn khoác lên người thì bước chân lão đi vào. Khi tới buồng tôi, lão thò cổ vào buồng nhìn tôi một lúc, rồi nhìn chân tôi. Tim tôi hơi thắt lại. Tại sao lão lại nhìn tôi lạ lùng thế? Tôi vẫn ngồi yên như vậy, chờ cho lão mở hết các buồng…..Rồi đợi đến 5 giờ, một tên cán bộ khác đến nhận thay “ca”, đi mở các cửa con kiểm tra…..Mãi đến 6 giờ, xà lim mới trở về yên tĩnh, vắng lặng. Từ chiều, bao nhiêu tâm tư, trí óc mải tập trung để thực hiện xong bước đầu của kế hoạch, bây giờ tôi như mới hoàn hồn, trở về với nỗi đầy vơi của kẻ sắp giã từ cõi đời.

Tôi ngồi gục đầu rũ rượi, ngụp lặn trong một trời khổ đau, uất hận. Óc tôi cứ bập bềnh nổi trôi trên giòng sông thê lương. Trước đây, tôi từng nghe nói đến những người chán đời tự tử, mỗi người mỗi tình huống khác nhau. Còn tôi, tôi vẫn tha thiết với cuộc đời, tôi không chán đời, lòng tôi vẫn khao khát với cuộc sống con người. Nhưng, chỉ vì một cái thế, điều kiện hoàn cảnh đã dồn tôi đến chỗ phải xa lìa cuộc sống. Yêu thuơng đời tha thiết, mà phải xa lìa! Một nỗi đau dầy vò, cấu xé dâng lên đè tôi gục xuống sàn, lịm dần vào đêm thâu… để chờ giờ khởi sự.

Đêm khuya im vắng, thỉnh thoảng một tiếng rên rỉ vọng lên từ một buồng nào đó. Đôi khi một tiếng rú giật lên, dài lê thê vang vào đêm trường của một ai đó, chắc trong một cơn ác mộng hãi hùng.

Lúc này, chắc hẳn 1, 2 giờ khuya, có tiếng bước chân lạo xạo bên ngoài, phía sau xà lim. Có lẽ là tiếng bước chân của một tên công an vũ trang đi tuần tra. Tôi bò dậy, cởi cuộn thừng, tôi vận cuốn chung quanh bụng ra, giấu dưới chân. Tôi tìm bó tăm, cởi ra, lấy sợi ny lông “chì mật”. Tôi muốn mẩu “chì mật” này sẽ theo tôi về lòng đất, vì thế, tôi đút sâu vào hậu môn. Tôi đang loay hoay đút mẩu “chì mật” thì thoáng nghe có tiếng bước chân, động lá khô ngoài sân xà lim, tôi vội vàng nằm xuống, lấy chăn đắp che kín cả người, cả cùm, chỉ để hở cái mặt. Một lúc, cửa sổ nhỏ bật mở. Như vật là một tên cán bộ đến thay “ca” trực. Cứ hai tiếng một “ca”.

Tôi lại bò dậy, lấy cuộn dây dưới chăn ra. Trước hết, tôi thắt chặt nút một đầu dây, rồi lại buộc thanh một nút tuột thòng lọng. Vừa buộc, tôi vừa nhìn lên hàng song sắt ở cửa sổ là một mét rưỡi. Từ mặt sàn xuống đến nền nhà là 60 phân. Như vậy, từ mép dưới của cửa sổ xuống tới mặt nền là 2m10. Tôi hiểu, thường thường người ta muốn thắt cổ tự tử, phải làm sao khi đã thắt rồi, dù muốn cởi ra cũng không được nữa. Bởi vì, con người ai cũng thế, khi sắp tắt thở, do phản xạ tự nhiên, không còn theo ý định của mình nữa, sẽ tìm mọi cách để thở. Như vậy, việc thắt cổ ấy sẽ khó thực hiện được, nếu tôi đứng trên sàn, buộc dây lên song cửa sổ, rồi đạp chân cho người treo lủng lẳng xuống nền nhà, lúc đau đớn vì không thở được, tôi sẽ vùng vẫy với hai tay lên mép cửa sổ, để kéo người lên; hoặc dạng hai chân ra để đứng vào hai sàn bên, làm sao chết được.

Vì thế, tôi phải trèo lên mép cửa sổ, rồi thắt theo lối chuyên môn đặc biệt do nghề nghiệp dạy cho, mới hy vọng…..chết được!

Trong lúc lúi húi buộc dây, tôi nhìn sợi dây oan nghiệp sẽ kết liễu đời mình. Một niềm xúc động tự nhiên trào vào lòng. Hình ảnh mẹ tôi hiện ra nhìn tôi đăm đăm Rồi hình ảnh bố tôi, các em tôi. Tôi nghĩ đến Cục Tình Báo miền Nam. Nghĩ đến miền Nam thân yêu cách xa vời vợi…Tôi khóc. Không phải vì tôi sợ chết (chứng tỏ tôi đang tìm đến với tử thần). Cũng không phải tôi tiếc thương cõi đời này. Đó chỉ là những giọt lệ tủi hận, của một kiếp người chết trong tăm tối, âm thầm uất nghẹn. Rồi đây, không một ai của miền Nam, kể cả bố mẹ và các em tôi, biết là tôi chết trong tủi hận thế này. “Xin bố mẹ tha tội cho đứa con bất hạnh này!” Tôi lẩm bẩm, quỳ lên, hướng về miền Nam lạy 3 lần, xin vĩnh biệt cuộc đời!…

Tôi đứng lên, thọc một đầu dây vào lưới thép, thắt thật chặt vào chân một cái song sắt. Tôi trèo lên cửa sổ. Ngoài mối thòng lọng, bên trên tôi thắt một nút nữa. Nút này tôi chỉ thắt hờ một lần, để nếu kéo mạnh hai đầu, dây sẽ rút chặt lại. Tôi leo hai chân lên như ngồi xổm ở mép cửa sổ. Tôi đút đầu váo cái nút thắt hờ phía trên. Hai tay quàng xuống phía dưới hai đầu gối, rồi đút vào cái thòng lọng và rút buộc chặt hai cổ tay lại. Lúc này, tôi chỉ cần đẩy nhẹ cho người lạng ngã ra là xong. Khi ấy, nút thòng lọng đã buộc chặt hai tay mình, muốn rút ra cũng không được nữa vì cả sức nặng của cơ thể. Hai chân càng đè nặng hai tay, sẽ rút chặt cái nút ở cổ. Vì sức mạnh của cơ thể, càng giẫy dụa, nút ở cổ tay càng chặt và nút ở cổ càng rút vào. Lúc này, người tự tử không muốn chết nữa cũng đành phải gặp tử thần để về lòng đất thôi. Trừ khi…..có người khác cứu.

Chỉ 5 phút ngồi trên mép cửa sổ, tôi đã làm xong tất cả, chỉ cần đẩy nhẹ người ra một cái là xong hết mọi chuyện!

Bỗng, một tiếng quát to vang lên trong đêm khuya, ngay dưới cửa sổ, phía đàng sau xà lim:

– Anh kia! Trèo lên đó làm gì đấy!

Tôi giật mình, vội hất người ra lao xuống nền, đầu thoáng nghĩ: Chỉ mười phút thôi! Nghĩa là chỉ trong 10 phút, không còn cứu được nữa.

Tôi chỉ thấy cổ mình bị giật mạnh, rồi đầu tôi nóng ran như lửa đốt. Và, tôi không biết gì nữa…