Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 1 Oct 2023

Những sai lầm của thế giới tự do

Đặng Chí Bình

Bài 13

Hôm nay là Chủ Nhật. Ngồi trong xà lim không nhìn thấy trời, ánh sáng hắt vào từ khung cửa sổ mờ mờ, âm u như không có mặt trời. Không khí ẩm ướt, lành lạnh của những ngày cuối Thu. Tôi nằm nghĩ suy, tính toán tìm cách gì để chống cái lạnh của mùa Đông sắp tới. Tôi vẫn băn khoăn lo lắng nhất là đôi chân. Ở trong cùm, năm nào chân cũng bị cước, ngứa buốt suốt cả mùa Đông. Cuối cùng, tôi thấy chỉ có một cách duy nhất là khâu một đôi vớ thật dầy bằng những mảnh giẻ chùi, ở nhà tiêu trong buồng tắm. Vậy, ngay từ hôm nay, tôi lại bắt đầu tìm nhặt giẻ để chuẩn bị cho đôi “bít tất” mùa Đông. Mặt khác, tôi lại phải kiếm một cái gì để làm “con dao” nhỏ. Con dao nhỏ trước, đút trong ve áo đã mất khi trốn tù rồi.

Tôi đang ngồi nhìn hai bàn chân của mình, bây giờ đã bé lại, lồi rõ 4 cục xương mắt cá chân. Từng miếng vảy đen xám bong ra, trông như con chó ghẻ rụng hết lông, vừa sần sùi, vừa loang lổ, sờ cờn cợn thấy ghê cả tay. Chợt, tai tôi thoáng nghe tiếng bước chân xèn xẹt, và cửa sổ nhỏ buồng tôi xịch mở. Giọng Quảng Nam của mụ Hoa, nghe như tiếng cua bò trên mâm đồng:

– Anh này chuẩn bị đi cung!

Rồi mụ ta cúi xuống rút chốt cùm. Cửa mở, tôi theo mụ ra sân, vừa đi vừa nghĩ ngợi băn khoăn: Hôm nay là Chủ Nhật, phải có chuyện gì đặc biệt nên chúng mới gọi tôi. Tôi tự hiểu là tâm trạng mình cứ hay thấp thỏm lo sợ, nhất là trong những khi chúng gọi bất ngờ như thế này. Như, biết đâu, đường dây “M” bị lộ? Biết đâu “Z5” sa lưới? Biết đâu, chúng đã điều tra xác minh, đã rõ ràng sự việc của tôi ở trong Nam, v.v… Hàng chục cái “biết đâu” kéo dài từ hơn hai năm nay rồi, và có lẽ sẽ đeo đuổi tôi suốt những ngày, còn ở trong tay chúng. Mải suy nghĩ trên đường đi, đầu tôi đã ướt hết vì mưa bụi, tôi cũng không hay. Nhìn những hạt mưa phùn li ti dẫy dọn, lúc xọc sang phía bên này. Lúc xiên sang phía kia hàng loạt, theo từng cơn heo may nhè nhẹ, như những giọt nước mắt mùa Thu mến cảnh, mến người, luyến lưu từ giã, nhường lại đất trời cảnh vật cho Đông về.

Ra tới phòng trực, tôi thấy chỉ có tên Thành ngồi đấy. Như mọi khi, theo hiệu tay của y, tôi đi về phía sân giàn nho, theo con đường nhò, giữa những luống hoa hồng, cúc, v.v…

Trời mưa bay bay, không khí lành lạnh! Những bông hồng nhung tươi thắm đang lắc lư với gió. Những hạt mưa nho nhỏ, đọng lại trên những cánh hoa như những hạt xoàn trắng to, nhỏ đính trên nền nhung đỏ càng long lanh, dưới ánh nắng nhạt trong mưa bay. Một làn hương thoang thoảng, nhè nhẹ, vương vương gợi cho tôi một ý tưởng: tại sao Hỏa Lò là một trại giam, nơi cùm kẹp, xiềng xích tội nhân đêm cũng như ngày, chỉ toàn những tiếng rên la thảm khốc, đắng cay tràn lối của kiếp tù đầy…..lại có những luống hoa đủ loại tuyệt vời như thế? Phải chăng, chúng dùng hoa để làm vơi dịu nỗi thương đau của những người cùng khổ? Hay là, như thông thường của người đời, những cái gì xấu xa thì lại được bọc bằng những vải vóc cao sang đắt tiền? Vật càng xấu, cái bọc càng cần phải đẹp!

Vì là ngày Chủ Nhật nên quang cảnh ngoài sân của Hỏa Lò thật vắng vẻ. Nhưng khi bước chân vào phòng cung, tôi thấy lố nhố 6, 7 người. Tôi ngạc nhiên, vì thấy mấy người lạ hoắc, lại có cả máy ảnh; chỉ có tên Thành và Đặng là chấp pháp tôi đã biết. Còn 4, 5, người kia, chắc là ở nơi khác đến, tôi chưa hề thấy mặt bao giờ. Đã ở mấy năm trường, bất cứ ai dù tôi không gặp trực tiếp, nhưng ra vào, đi lại nhiều lần, tôi cũng phải thấy dáng quen quen, nếu là người đã làm việc ở Hỏa Lò.

Những người lạ mặt ngồi ở một ghế dài, mặt thật lạnh lùng, với những cặp mắt gườm gườm soi mói. Tên Thành chỉ ghế cho tôi ngồi, rồi y mở một gói giấy báo trên bàn, vừa nói:

– Hôm nay, anh phải diễn lại tất cả những thái độ, cử chỉ, động tác hôm anh trốn tù.

Y đưa cho tôi 2 củ khoai lang và nói:

– Anh ăn tạm 2 củ khoai, rồi bắt đầu!

À ra thế! Bây giờ tôi mới hiểu. Nhưng, tôi cũng không ngờ chúng đặt vấn đề quan trọng như thế. Có lẽ chúng bắt tôi diễn lại cảnh trốn, để vừa dùng làm chứng từ buộc tội sau này, vừa làm tài liệu rút kinh nghiệm cho chúng.

Sau đó, tất cả các chi tiết trong vụ đào thoát “bất thành”, tôi phải lần lượt diễn lại. Có một sự việc tôi buồn cười và nhớ nhất là: Khi đến chỗ tôi phải lấy thế, dùng cú đòn chặt gáy, tên lạ mặt ngồi đóng vai Đỗ Đình Hạ chấp pháp, cứ nhấp nhổm sợ sệt không yên, mắt lấm lét sợ tôi làm thật. Tôi buồn cười là vì, nhìn lại thân hình mình, một người ốm tong teo, khẳng khiu, so với y, một tên khỏe mạnh đường đường “một đấng nam nhi”. Thế cho nên, người ta chỉ sợ bóng, sợ vía là nhiều. Nghe người ta đồn, nghe người ta nói lại, cứ tưởng như ghê gớm lắm; sự thực, nhiều sự việc không đến nỗi như họ tưởng đâu.

Chúng nó chụp tôi rất nhiều kiểu ảnh, từ lúc đầu, cho tới lúc tôi dẫn xe đạp ra khỏi cổng Hỏa Lò. Với cách đứng đợi, cách vào lấy thẻ, cách dẫn xe ra cổng, cách cười với tên công an vũ trang đứng gác, cho tới khi gặp tên Lê Phó Giám Thị và tên Điền, v.v…Chúng chỉ “không bắt” tôi diễn cái cảnh khi tôi bị bắt lại, bị đánh tơi bời hoa lá.

Vậy mà, cũng đến 12 giờ trưa mới xong, chúng cho tôi về xà lim. Tôi vừa đi vừa nghĩ việc trình diễn như đóng kịch vừa rồi. Tuy là ngày Chủ Nhật, tụi công an vũ trang, đa số là tuổi 20 hay ngoài, cũng ra theo dõi tôi diễn lại. Lợi dụng lúc diễn lại vai trò, mắt tôi vẫn không ngừng nhìn khắp đây đó, để xem có cái gì đem về mài thành con dao nhỏ, mà tôi đang cần không. Mãi đến lúc chúng nghỉ giải lao, tôi xin vào đi giải trong nhà xí của bọn công an vũ trang, tôi mới bẻ được đầu một miếng sắt rỉ, một chiều khoảng hai phân và chiều kia gần một phân. Thế là tôi đã có lại con dao tôi đã mất, cũng thấy vui vui trong dạ.

Về tới cổng xà lim, chợt tôi nghe tiếng loa léo nhéo nói về miền Nam: Nào là, Nguyễn Văn Thiệu đang củng cố uy quyền, đưa phe cánh vào những khâu chủ chốt,…..Nào là, sau khi lập nền đệ nhị Cộng Hòa…kêu gào Mỹ tăng cường viện trợ để chống đỡ với tình hình càng ngày càng nghiêm trọng, v.v…Tôi nghe, lòng vẫn lửng lơ, man mác bâng khuâng như chiếc cửa của một căn nhà trên lưng đồi vắng. Một cánh cửa đóng hững hờ, còn một cánh mở. Cánh mở để nhìn thấy, suy lý, dựa trên những cơ sở thực tế của miền Nam, của miền Bắc, của phe Cộng Sản và thế giới tự do: Ông Thiệu đâu phải là đối thủ của Cộng Sản miền Bắc. Còn cánh đóng: Dù hiểu như vậy, nhưng hãy đè chặt trong lòng, miễn bình luận; vì ở trong một cái thế là nói ra càng tan rữa lòng người, chỉ có cái lợi cho kẻ thù mà thôi.

Tôi đã vào buồng, đóng cùm, đóng cửa rồi, lòng tôi vẫn nặng chĩu những suy tư về đất nước, về cuộc đời.

Tôi cứ nhắm mắt, mặc cho đầu óc mình bềnh bồng trôi nổi đó đây, suốt về miền Nam, lại ra miền Bắc, lại chạy về Nam…..Tôi nhìn toàn bộ khung cảnh xã hội miền Nam. Tôi nhìn toàn bộ khung cảnh xã hội miền Bắc.

Xã hội và con người có nhiều sự việc, về một phía, thật bao la phức tạp muôn màu, nghìn sắc; nhưng về phía khác, cũng rất giản đơn. Nếu ai đó, không bị mờ mắt vì địa vị, vì tiền bạc, nghĩa là không bị cái bả quyền lợi cá nhân che lấp mắt, đều nhìn thấy rõ rành rành.

Muốn hiểu vấn đề xã hội, nhiều khi xét từ một tập thể, có khi từ một cá nhân; bởi vì, có nhiều điều liên quan, tương tự, đôi khi giống nhau như một khuôn đúc. Điều chính, cá nhân là một đơn vị. Một đơn vị không thể tách, chẻ nhỏ hơn, để xây dựng nên xã hội.

Nhìn về xã hội miền Nam, nhìn về thế giới tự do, điều nổi bật nhất, cái gốc cổ thụ để sinh đẻ ra trăm nghìn cái khác, là đã để chủ nghĩa cá nhân lấn áp tập thể, lấn át xã hội, lấn át Dân Tộc, Tổ Quốc. Đấy là đầu nguồn để sinh sôi, nảy nở ra ngàn đường, trăm nhánh; đến nỗi nhiều người khi nhìn một sự việc nào đó, tưởng như hoàn toàn không có liên quan gì đến cái gốc, là chủ nghĩa cá nhân lên cao. Nhưng, nếu người ta chịu khó mày mò truy nguyên, từ cái này sang cái kia, rồi cuối cùng về đến cái gốc của nó, chính là chủ nghĩa cá nhân; nhiều người sẽ phải ngơ ngác, giật mình.

Vì vậy, nếu thấy một người lính không có tinh thần chiến đấu; một người công chức tham nhũng, thái độ cựa quyền; người dân lạnh lùng bàng quan (nhất là người dân đó nhìn người thương binh lủi thủi, lặc lè trên đường); đến cả người thanh niên trốn quân dịch, v.v…; đừng ngạc nhiên lắm. Chính đó là những cái quả, của cái nhân là chủ nghĩa cá nhân mà thôi.

Từ cái gốc căn bản sai lầm đó, sai lầm này đẻ ra sai lầm khác, cứ như thế chất chồng. Xã hội đầy rẫy những hiện tượng tắc trách, thiếu trách nhiệm trong công tác; hời hợt, cưỡi ngựa xem hoa đối với công việc mình phải làm. Trong hàng ngũ cán bộ của chính quyền ở mọi lãnh vực, từ hành chính, chính trị cho đến quân sự, v.v…loại cán bộ này chiếm đại đa số. Những hiện tượng này chỉ biến mất khi người đứng đầu quốc gia thực lòng vì dân vì nước lấy bản thân mình làm gương sáng, mang tâm hồn và khí lực ngày đêm xả thân lo lắng, để có một đội ngũ cán bộ trung ương được đào tạo, thử thách nhiều công phu.

“Vạn sự khởi đầu nan!”, cần sao gây được những hạt giống tốt lúc đầu. Tuy nhiên, phải mang tâm huyết chịu đựng vất vả, gian khổ để tìm được chỗ khơi nguồn. Khi nguồn đã được khơi, sau đấy tự nó sẽ chảy thành sông. Tất nhiên còn đòi hỏi nhiều vấn đề khác để hộ trợ, cũng như khích lệ và thúc đẩy, để chủ trương của mình được hiện thực. Chỉ mới sơ khởi như thế, và nhìn về miền Nam lúc này, bộ mặt nào làm được như vậy? Ngay đến cụ Ngô cũng còn một số sai lầm. Nếu cụ còn sống, dù cũng chả làm gì được miền Bắc, nhưng chắc miền Nam đã không mất. Huống chi, trong khi Mỹ là người anh cả, là nước chịu trách nhiệm vì mình và vì người, giúp đỡ các nước anh em trong thế giới tự do, cũng đã mắc 3 sai lầm trầm trọng:

Thứ nhất: Bắt những nước được giúp đỡ phải theo những quy chế, những khuôn thước dân chủ tự do nhất của thế giới hiện nay là nước Mỹ

Thứ hai: Giúp người, nhưng lại vì quyền lợi của mình nhiều hơn

Thứ ba: Quá nghiêng nặng nề về đồng tiền và vũ khí.

Từ ba điểm trên, đã đẻ ra rất nhiều những sai lầm nhỏ khác, để cuối cùng hầu như đa số các nước mà Mỹ giúp, đã không đạt được kết quả, không đạt được mục đích. Và, ngay nước Mỹ, không những không được người ta biết ơn, còn bị chửi là thực dân mới, chỉ vì tư lợi thương mại, tìm thị trường tiêu thụ, v.v…

Sau đây, ta khái niệm mổ xẻ, phân tích từng điểm:

Điểm thứ nhất: Nói về nền tự do dân chủ thực sự trong thế giới loài người hiện nay, không ai có thể phủ nhận được nước Mỹ là một trong những nước có nền dân chủ thực sự tiên tiến. Từ đấy, ta thấy chế độ Cộng Hòa Dân Chủ của Mỹ là chế độ tiến bộ của loài người hiện nay. Nhìn nền dân chủ ưu việt của những nước Anh, Pháp, Mỹ, v.v… những ai thực lòng vì dân vì nước mà chẳng mong muốn nhân dân và đất nước họ cũng được hưởng một nền dân chủ, tự do như thế.

Muốn được như vậy, phải cần có một điều kiện, đó là đất nước ấy phải có một số hoàn cảnh giống như nước Mỹ, nước Pháp, nước Anh. Bởi vì, thời đại ngày nay, thế giới đang đảo điên, nghiêng ngửa với cái nạn Cộng Sản. Cộng Sản tàn bạo, khát máu nhưng lại che mắt thế giới bằng cách khoác lên những bộ mặt của Chúa Jesus, của Phật Thích Ca, của Mohamed, v.v… với những đôi mắt giả nhân giả nghĩa từ bi ngấn lệ thương đồng bào, đồng loại; mồm méo xệch cứ lẩm bẩm những lời tha thiết cứu nhân độ thế; làm cho biết bao nhiêu người ngộ nhận, để rồi tán gia, bại sản, tàn lụi cả cuộc đời…

Hơn nữa, như một công lý, mỗi người một khác nhau, mỗi nước một khác biệt. Cơm, gạo, bột là những món ăn tốt để nuôi sống con người. Món ăn bổ và ngon như thế đấy, nhưng người ăn mức độ cũng khác nhau. Một người khỏe, ăn 1kg, cơ thể không sao; một người đang có bệnh, ăn 1kg, “ngủm”!.

Vậy mà Mỹ, như cơ thể của một người khỏe, lại muốn bắt một nước, đang như một người bệnh, ăn những món ăn giống mình và nhiều như mình; rồi cứ bảo phải ăn đi, nó bổ lắm. Nó dân chủ lắm, nó dân quyền lắm, v.v…Thử hỏi, nước đó sẽ ăn làm sao được. Ăn thì chết! Không ăn, Mỹ bảo là phản dân chủ, là độc tài, là… bướng; nay đe cắt giúp đỡ, mai đe cắt viện trợ, v.v…

Còn nói về tự do, dân quyền: Để làm sáng tỏ vấn đề này một cách đơn giản, Khổng Phu Tử, hơn hai ngàn năm xưa, đã nói: “Nói mà không thí dụ, và thí dụ mà không đơn giản, thì không sáng tỏ”.

Thí dụ hỏi một người:

– Anh có biết trái cam không?

Người đó trả lời:

– Chưa hề trông thấy trái cam bao giờ!

Vậy ta hỏi tiếp:

– Thế anh có biết trái bưởi không?

Người kia vui vẻ trả lời là anh ta không lạ gì trái bưởi.

Lúc đó, ta chỉ cần nói đơn giản:

– Trái cam giống hệt trái bưởi, nhưng bé hơn và ngọt hơn!

Chỉ cần đơn giản như thế, người kia hiểu ngay về trái cam. Chứ ta tuyệt đối không nên cầu kỳ, dùng danh từ hoa mỹ, triết học giải thích nào là: quả cam màu vàng, hình cầu, được bọc một lớp vỏ mỏng, có những túi dầu để duy trì bảo vệ nước cam ở trong được tươi lâu, bên trong có những cái bọc hình bán nguyệt, trong cái bọc này, v.v…và v.v…

Nói nhiều, dùng những triết này, thuyết kia đẻ ra vẻ giai cấp trí thức; cuối cùng người kia chả hiểu, chả biết anh nói cái quái gì cả.

Vậy, lý luận về tự do và dân chủ, cụ thể là ở miền Nam Việt Nam lúc này, tôi cũng xin lấy một thí dụ đơn giản để làm sáng tỏ.

Ở cùng chung một căn nhà có 4 người là A, B, C, và D. Lúc hòa bình, không có chuyện gì cả, tình người và tình đồng bào thắm thiết, nào chào hỏi, nào hàn thuyên, tay bắt mặt mừng rối rít mỗi khi gặp nhau. Mọi người tha hồ tự do. Anh này muốn đi chơi đâu mặc anh; anh kia nấu nướng ăn gì cũng kệ; anh khác ngủ đến 11, 12 giờ trưa đó là quyền của anh; v.v… Mỗi người đều tự do làm theo ý mình. Nhưng sau đó, vì một lý do nào đó, do những điều kiện và hoàn cảnh tạo nên, 4 người này trở thành kẻ thù không đội trời chung của nhau, và vẫn phải cùng ở một căn nhà. Lúc này, mỗi anh thủ một con dao, rình cơ hội để hạ đối phương để chiếm toàn bộ ngôi nhà, và vì sự sống còn của mình.

Vậy, lúc này, tình trạng sẽ ra sao? Mọi người có còn được tự do, ăn lúc nào thì ăn, ngủ lúc nào thì ngủ, thích chỗ nào thì nằm chỗ đó nữa hay không?

Lúc này, ai cũng thấy sáng tỏ là tự do trong cảnh đó là tự do chết!

Căn nhà Việt Nam lúc này ra sao? Một nửa nhà là miền Bắc, Cộng Sản đã chiếm đóng; nửa còn lại là miền Nam, Cộng Sản đã đặt được một bàn chân vững chắc là:” Mặt Trận Giải Phóng”. Ngay trong chính quyền Sài Gòn, cũng đầy dẫy những người của Cộng Sản.

Tóm lại, căn nhà Việt Nam giống hệt như căn nhà tôi đã trình bày thí dụ ở trên.

Bây giờ, ta tự do cho biểu tình, hội họp, đảng đối lập, v.v… và v.v…như khuôn thước của xã hội Mỹ, miền Nam sẽ ra sao? Một cậu bé ngây thơ 15, 16 tuổi cũng thấy ngay là miền Nam mất đi, không có gì là lạ nữa. Nếu có lạ là lạ tại sao miền Nam lại chưa mất!

Đó, nếu báo chí và tuyên truyền chỉ can đơn giản trình bày như vậy với quần chúng, riêng về góc cạnh tự do, như trên, lúc đó, nhân dân sẽ ý thức được ngay. Rồi, hàng trăm góc cạnh khác của xã hội cũng trình bày đơn giản như vậy để hỗ trợ, tác động qua lại, nhiều việc sẽ tốt đẹp hơn nhiều.

Thế mà, các cơ quan to lớn chuyên nghiên cứu vể xã hội và về riêng Việt Nam với những quý vị học giả uyên thâm của Mỹ, v.v… lại chưa đánh giá đúng mức, để rồi bắt con bệnh Việt Nam “ngốn” cho bằng người khỏe như “vâm” là Mỹ. Không ăn, các ngài bực mình, la ó là độc tài, là phản dân chủ, v.v…

Ngay cá nhân với cá nhân, nếu giúp đỡ người khác, tất nhiên tôi chấp nhận là ở đời, phải hai bên đều có lợi. Nhưng, nếu cái lợi của phía người giúp đỡ lớn hơn, lấn át cái lợi của người mà mình giúp, lúc đó sẽ ra sao? Tình cảm và lòng biết ơn của người nhận sẽ giảm; đôi khi còn không biết ơn nữa. Thậm chí, cá biệt, người làm ơn không biết xử thế khéo, còn bị người được giúp đỡ căm thù. Nghĩa là, họ thấy họ bị lợi dụng. Như thế, còn làm sao gắn bó, tin cậy nhau nữa. Người được giúp, lúc đó, nếu không thủ đoạn, tính toán, giữ thế với người giúp, thì cũng quay ra buồn chán, tiêu cực, không thể đạt được ý nguyện lúc đầu của người muốn giúp đõ, nghĩa là không đạt mục đích.

Vậy, một quốc gia, với một quốc gia khác, trông bề thế hơn, tưởng như phức tạp hơn, nhưng cái nhân, cái gốc cũng như vậy thôi. Do đó, Mỹ đừng lạ, và đừng buồn, tức khi thấy những nước mà mình giúp lại vô ơn, đôi khi còn chửi lại mình, hoặc trở thành kẻ thù của mình.

Tôi thừa nhận trên cõi đời này, đồng tiền mua tiên cũng được, nhưng với điều kiện là phải biết cách. Nếu không, nhiều khi đồng tiền không những không giải quyết được vấn đề, mà còn bị người lấy tiền, nhận tiền, cười chê người cho tiền nữa.

Mỹ là “người” có nhiều tiền, chỉ thấy giá trị tuyệt đối của đồng tiền, chứ không thấy những khía cạnh phức tạp khác. Thí dụ: Một người đang hì hục xây một căn nhà. Vì nghèo nên thiếu thốn vật liệu; anh ta cứ đầu tắt mặt tối, ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng, đem sức cần lao để xây dựng căn nhà; nhưng thấy khó thành, hoặc không biết đến bao giờ mới hoàn thành nổi. Mỹ thấy vậy, mang tiền, mang vật liệu đến giúp. Vì không khéo, lại không nghiên cứu từ thực tế, cần những gì về nhiên liệu. Căn nhà kiểu ấy, chỉ cần vật liệu là cây, Mỹ lại đem sắt đến, cứ chở đến ùn ùn. Anh chủ nhà lúc đó sẽ ra sao? Làm, thì không được, để thì phí, hỏng! Trong lúc đó, Mỹ cứ đưa đến, nói tốt lắm, phải tiếp tục xây mạnh đi. Anh chủ nhà hoang mang. Nếu cứ để từ từ, anh ta còn có thể tốt theo kiểu suy nghĩ, sáng tạo của anh ta. Đằng này, lại cứ thúc giục, khiến anh ta thấy cứ để đống nguyên liệu đấy thì không ổn; vì như vậy là từ chối sự giúp đỡ, nên anh ta phải tìm cách chuyển đi chỗ khác, rồi nói dối là đang nỗ lực làm, xây dựng. Anh ta lúc này không còn tập trung hết tinh thần vào việc xây ngôi nhà, vì quá mệt mỏi tính toán trả lời sao về những vật liệu mà Mỹ giúp, đâu còn những giây phút cần cù, miệt mài trước dây. Vả lại, bây giờ, lại sẵn đồng tiền, anh ta phải tìm cách giải trí. Lúc đầu, lâu lâu mới giải trí một lần; sau quen đi. Như thế, cuối cùng căn nhà vẫn chưa xây được, mà tinh thần anh ta trở nên tiêu cực, biếng nhác. Như vậy, nhìn về phía, Mỹ đã gián tiếp làm hại những người mà Mỹ giúp.

Tóm lại, phải biết cách dùng đồng tiền thì, uy thế của nó mới phát huy một cách huyền diệu. Không biết dùng, kết quả sẽ không những ngược lại, mà còn làm hư hỏng con người.

Còn về vũ khí: Tôi nhớ lại những năm còn ở miền Nam. Tôi xem những buổi duyệt binh, với những cỗ pháo to, những xe tăng lớn và những máy bay phản lực, Phi đội “Lôi Hổ” của Đài Loan gầm rít biểu diễn trên bầu trời Sài Gòn năm 1960. Rồi báo chí, đài phát thanh nói Mỹ có nhiều loại vũ khí nguyên tử. Nào là, chỉ một phần mười kho vũ khí nguyên tử của Mỹ nổ cũng đủ làm tan trái đất. Nào là, Mỹ đang nghiên cứu chế những loại bom ánh sáng, tia “laser”, v.v…

Lòng tôi khi ấy dậy lên một niềm tin tưởng to lớn, vững chắc vào thế giới tự do. Tôi tin tưởng gần như chắc chắn là sức mạnh của các loại vũ khí như thế, thừa sức đè bẹp lũ Cộng Sản khát máu.

Nhưng bây giờ, khi đã đi vào thực tế, tôi có điều kiện để nhìn, không những cả 4 mặt của một sự vật, mà còn nhìn được cả phía bên trong của sự vật đó. Sự cọ sát giữa suy lý, nhận thức của mình khi ấy thật là ấu trĩ, ngây thơ. Xét đoán một sự vật, một vấn đề chỉ đứng từ một góc độ, rồi cứ vỗ ngực khẳng quyết với cái hiểu non nớt của mình; không thấy được rằng: Bất cứ loại vũ khí tối tân nào cũng phải do con người chỉ huy và sử dụng. Vì vậy, trừ khi lực lượng quá chênh lệch: một bên 10, một bên 5; hoặc bên này 100, bên kia chỉ có 10 thì không kể. Còn thông thường, chỉ xấp xỉ hơn nhau ít chút một 8, một 10; bên nào có yếu tố tinh thần hầu như bên ấy thắng. Do đấy, yếu tố tinh thần mới quyết định thắng bại. Ngoài ra, nhìn tổng quát cái thế và điều kiện của thế giới ngày nay, tôi dám khẳng quyết là bất kể một nước nào có vũ khí nguyên tử để gây thành Thế Chiến Thứ Ba, thì kẻ đó tự sát.

Từ đấy suy ra, các chiến lược gia nào chỉ nặng về vũ khí (làm sao để chế ra loại tối tân hơn, nhiều hơn đối phương…) là có mặt sai lầm. Thực tế, chỉ cần đòi hỏi vừa đủ để làm thế kiềm chế nhau thôi; và hãy chú ý về loại vũ khí chiến thuật thông thường có kỹ thuật cao, để sử dụng trong chiến tranh cục bộ, hoặc khu vực là cần thiết. Điều quan trọng và chính yếu nhất vẫn là phải chú ý về mặt nhân sinh và xã hội.

Như tôi đã trình bày ở trên, đây không phải là một tác phẩm tư tưởng, lý luận, nên không được phép dài dòng; nhưng dựa trên những cơ sở biện chứng, tôi thấy Liên Xô dù có mạnh hơn Mỹ, cũng không bao giờ dám đem quân sang đánh Mỹ, hay Anh, Pháp cả. Đó là một điều chắc chắn, trừ phi Liên Xô không phải là nước Cộng Sản nữa. Kim chỉ nam của họ là dùng áp lực tối đa bên ngoài, xúi dục kích động người dân của nước ấy đứng lên lật đổ chính quyền. Đôi khi cao nhất cũng chỉ dùng một nước Cộng Sản đàn em tiến hành chiến tranh cục bộ, đem quân sang một nước khác, để giúp một bộ phận nhỏ người bản xứ đứng lên lật đổ chế độ đang cai trị mà chúng bảo là thối nát, và chúng làm cách mạng, v.v…Cứ như vậy, chúng tiến hành nhiều nơi trên thế giới, cho tới khi màu đỏ loang lỗ khắp địa cầu, lúc dó có trời cũng không cứu nổi nước Mỹ khỏi tự nhiên thành Cộng Sản.

Vậy, Mỹ hãy lo ngay cho xã hội Mỹ, hãy làm sao cho người dân Mỹ hiểu đầy đủ về cái cảnh nếu phải sống dưới chế độ Cộng Sản sẽ bị o ép toàn diện. Mọi người lam lũ lầm than, không có một chút tự do, con người như con vật là chính. Chứ cứ tập trung tâm tư, khí lực để thi đua với Liên Xô, để rồi bị con dao đâm từ phía sau, tự trong lòng, lúc đó, đã muộn rồi!….

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 1 Oct

2023

Tin tức, hay tuyên truyền bịp bợm!

Đặng Chí Bình

Bài 12

Sáng hôm sau, chưa mở mắt, tiếng đài đã léo nhéo! Dù không muốn nghe, tiếng loa vẫn cứ như chọc vào tai mình, nó độc lập với ý chí của mình. Phải nói, nhiều lúc tôi coi tiếng loa như một cái nạn phải chịu đựng vậy. Sáng hôm nay, trong một bài bình luận, tôi chợt nghe đến một ý chúng lý luận cứ như thật ấy! Rằng:

“…..Trong chế độ tư bản mà chúng gọi là thế giới tự do, nguyên tắc sống của xã hội đó là mạnh được, yếu thua, cá lớn nuốt cá bé; cho nên, xã hội ấy tôn thờ và đề cao: Lẽ phải thuộc về sức mạnh. Nhưng, dưới chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tỏ cho thế giới thấy tính hơn hẳn của chủ nghĩa Cộng Sản. Một cuộc cách mạng đổi đời từ tận gốc, đã biến đổi hẳn nguyên tắc sống của xã hội tư bản xấu xa cũ, trở thành: Sức mạnh thuộc về lẽ phải. Nghĩa là, nếu có lẽ phải, là có sức mạnh…..”

Một người dân bình thường, sống dưới chế độ chuyên chính này cũng thấy ngay, đó chỉ là lý luận bịp bợm, trái ngược hoàn toàn với thực tế của xã hội Cộng Sản. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hãy nhìn bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, chuyện ở trong nước, cũng như chuyện ở ngoài nước, ta thấy chúng luôn luôn, và còn nhiều lần gấp bội xã hội tư bản, lấy sức mạnh để đè bẹp lẽ phải. Như vậy mà chúng cứ bắt người phải nghe! Phải nói rằng: Nó có lý do của nó. Nó buồn cười như trên đài, trên báo thường xuyên ca ngợi, đề cao tự do. Nhưng có tìm đỏ mắt cũng không thấy có tự do thực sự trong chế độ Cộng Sản. Sau này, chúng ta sẽ bàn tới.

Giờ hành chính đã đến, cán bộ trực xà lim đã bắt đầu mở buồng cho ra rửa ráy.

Qua cách mở cửa, và tiếng bước chân đi, tôi biết không phải tên Chiến, nhưng cũng không đoán ra là ai? Tiếng buồng 1 báo cáo xong. Rồi tiếng cán bộ quát:

– Ra đi!

À, tên Dư! Tên này là trung sĩ, tôi có gặp hắn vài lần trực xà lim vào ngày Chủ Nhật. Nhưng, hôm nay là ngày thường, có lẽ hắn đã trực xà lim thay tên Chiến cũng nên. Dư có tuổi, khoảng 50, 55 người thấp bé, cũng là loại tương đối dễ tính, không quá ác ôn như nhiều tên công an khác.

Đến lượt buồng tôi, vì đã có chủ ý, tôi vội vàng cố gắng nâng cái cùm, rồi rút chân ra. Mãi không thấy tôi ra, y thò cổ vào, đang định quát hỏi, tôi nói ngay:

– Báo cáo ông, tôi ở “cát xô” mới được cõng về đây chiều tối hôm qua, tôi chưa đi được.

Chỉ vết cùm hằn ép vào chân mình, tôi nói:

– Thưa cán bộ, chân tôi bị phù to quá, lỗ cùm lại nhỏ. Xin cán bộ cho tôi đổi qua cùm bên kia.

Vừa nói, tôi vừa chỉ cái cùm ở sàn bên cạnh. Y không nói năng gì cả, đóng sầm cửa lại, cũng chả thấy rút chốt cùm sàn bên. Thôi, mặc, tôi tranh thủ vịn vào sàn chậm chạp tập đi. Hai chân nặng như hai hòn đá, lại còn đau buốt như kim châm, tôi vẫn cố gắng tập đi. Nhìn hai mu bàn chân, tôi thấy điều lạ là chúng sưng to đã đành, nhưng còn tím lại như bên trong có máu bầm đen vậy. Hình như chân sưng lên vì vết thương chứ không phải phù.

Các buồng khác đã đổ bô vào đều bị cùm ngay, thế mà buồng tôi không đi rửa, lại chưa bị cùm? Tôi thấy thái độ của y như vậy, tôi càng hy vọng sẽ được đổi cùm.

Nghe loáng thoáng buồng 14 bị kiết lỵ ra máu, báo cáo xin thuốc từ mấy hôm trước, bữa nay y tá mới vào, tôi liền báo cáo ầm lên:

– Báo cáo ông Dư, chân tôi buốt lắm, xin ông báo y tá cho xin thuốc!…

Tiếng chân đi vào rõ dần, rồi cửa con xoạch mở:

– Anh báo cáo cái gì, làm ầm lên thế!

– Thưa ông, chân tôi tím lại buốt quá, xin y tá cho thuốc!

– Chờ đấy!

Cửa sổ nhỏ đóng rồi. Bây giờ tôi mới để ý thoáng thấy chiếc lon 3 sao nằm trên một vạch trắng, trên một miếng dạ đỏ nhỏ hình bình hành, gắn ở ve cổ áo, còn mới nguyên. Tôi lại nhớ đến, tên Đại cũng chiếc lon mới toanh. Như vậy, dịp mồng 2 tháng 9 vừa rồi, ngành công an lại cho lên lon. Thời chiến, có nhiều tình huống mới, tụi lãnh đạo bộ chính trị phải mua chuộc phỉnh phờ tụi cán bộ cấp thấp, hạ tầng. Có thể vì mới được lên thượng sĩ, nên tên Dư lại càng dễ tính hơn. Mỗi tháng cũng thêm được mươi đồng.

Một lúc sau, cửa lớn mở: Bà Dậu y tá. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy bà ta dạo này gầy hẳn đi, da xạm lại, trong tay chân bà ta như con chão chàng, trắng nhờn nhợt. Trong khi đó, ngược lại, bà ta cũng mở to mắt nhìn bộ xương của tôi. Chắc hẳn bà ta cũng chẳng lạ gì chuyện trốn tù của tôi hơn hai tháng trước. Bà sờ tay vào hai mu bàn chân của tôi, dịu dàng hỏi:

– Chân anh làm sao tím lại thế?

Tôi chỉ lắc đầu, tỏ vẻ cũng không biết tại sao. Bà ta nói thong thả, chậm rãi:

– Cái này chỉ chích B1, khỏi ngay. Nhưng, B1 bây giờ rất hiếm. Tôi sẽ đề nghị cho anh ăn cơm cám một tuần.

Cuối cùng, tôi chả có thuốc gì cả, nhưng được những lời thăm hỏi, an ủi về tinh thần. Điều làm tôi hưng phấn nhất là thái độ của tên Dư, cũng như của bà Dậu, họ không có vẻ căm ghét tôi đã đánh cán bộ. Chính điều này, lúc đó, tôi chưa nhận thức được đầy đủ, nhưng đã là những yếu tố góp vào sự phân tích của tôi sau này, có phần thực tế hơn.

Khi lấy cơm vào, cũng như lúc trả bát, tôi phải bò. Tên Dư đã đóng chốt cùm phía này, và rút chốt cùm phía sàn bên kia, đổi chỗ cùm cho tôi.

Hai ngày hôm sau, tôi bắt đầu được ăn cơm….trộn cám. Về xà lim được 5 ngày, tôi đã có thể chậm chạp đi lần theo tường ra lấy cơm, cũng như đổ bô.

Sau một tuần ăn cơm cám, và phần khác, do sự nổ lực tập luyện hàng ngày, chân tôi đã bớt trông thấy. Mỗi ngày mỗi rút nhỏ lại, đến bây giờ, tôi đã đi lại được. Cuộc sống lại trở về phong thái của hơn 3 tháng trước đây. Như vậy, có thể nói rằng việc quyết định trốn tù của tôi, đã đúng như tôi nhận định: Nếu không được, tôi cũng không mất cái gì cả! Chợt cái lưỡi đẩy đưa vào khoảng trống ở hàm dưới, tôi thầm nghĩ: Cũng có mất, 3 cái răng và một vết sẹo kỷ niệm ở tam tinh.

Đến hôm nay, tôi đã nhận biết là 2 cô gái ở trong buồng số 9, không còn ở đó nữa. Thay vào đấy, bây giờ, là một tù nhân nam. Tiếng cười điên rồ của buồng 10 cũng đã hết. Không biết anh ta chuyển đi đâu, tình trạng của anh ta, sau khi tôi đi, diễn tiến thế nào?

Anh Nguyễn Văn Căn, bị kết án tử hình, đã ký đơn xin ân xá với tên cáo Hồ (?), tôi biết đây chỉ là một hình thức chính trị, bịp bợm. Một cái khung sơn phết lòe loẹt đủ hình thức dân chủ, nhân dân, chấp pháp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, quốc hội, Công tố viện, luật sư, xin ân xá Chủ Tịch nhà nước, v.v… Tất cả chỉ để che đậy cái “lò nấu xác”, một cái “lò sát sinh” không hơn không kém ở bên trong. Tuy tôi chưa dám kết luận, nhưng nếu tôi đoán không lầm thì anh Căn đã bị xử rồi, nhất là khi tình hình đang biến đổi sang thời chiến.

Nhân sự trong xà lim đã thay đổi hết, ngay cả cán bộ trực xà lim cũng là những tên cán bộ khác rồi. Chỉ hai tháng đi “cát xô” mà đổi thay nhiều thế.

Tôi cứ nằm vẩn vơ nghĩ ngợi. Thỉnh thoảng một cơn gió nhè hẹ vương rải một mùi hương vừa ngọt, vừa ngây ngất, nhắc nhở tôi mùa bàng chín của Hỏa Lò. Đột nhiên, cửa sổ nhỏ xoạch mở. Tôi giật mình, nhìn ra, thoáng thấy cái môi vẩu nhọn ra như cái môi con cá ngão, tôi đã biết ngay là tên Bằng. Bây giờ, cán bộ Hỏa Lò đối với tôi, cũng như tôi đối với chúng, đã quen nhau, nhẵn mặt nhau quá rồi. Y chỉ nói cộc lốc hai tiếng:”Đi cung!”, rồi cúi xuống rút chốt cùm, mở khóa mở cửa. Tôi vừa nhấc chân ra khỏi cùm, vừa chuẩn bị tư tưởng lên phòng cung. Vì từ ngày tôi trốn đến nay, đã hai tháng hơn mới gọi.

Ra tới hè. Trời! Sân xà lim, bàng chín rơi từng đống. Tôi tập tễnh đi qua, mắt nhìn những quả bàng chín vàng ngây, rẽ chân chim lăn lóc khắp sân. Tôi như ngụp lặn vào một trời ngất hương nồng. Dứt khoát, lúc đi cung trở về, tôi phải tìm mọi cách, kiếm một hai quả vào buồng để ngửi, hít cho đã đầy sự khát khao rồi…chén nữa.

Ra tới cổng trại chung, cũng là phòng trực, ở hàng ghế lố nhố một số cán bộ và chấp pháp cả hình sự lẫn chính trị, tôi đã thoáng thấy tên Thành. Y đừng dậy, ký vào sổ, rồi quay lại ra hiệu tay cho tôi đi trước.

Nhìn sân ngoài của Hỏa Lò, cái sân có giàn nho và rải rác một số luống hoa; đây góc này, góc kia cũng từng đống đất mới vàng ệch, với những lổ tròn của miệng hầm cá nhân hoắm sâu xuống lòng đất. Tôi có cảm tưởng, nhịp độ tù cũng như cán bộ Hỏa Lò thưa ra, chắc cũng nằm trong chủ trương chung của thành phố là sơ tán. Số tù cho chuyển gấp đi các trại trung ương đã đành, ngay số cán bộ ở các khâu, hình như cũng tinh giảm, để trở thành những nhân lực chiến đấu, hoặc phục vụ chiến đấu.

Khi tên Thành dẫn tôi vào buồng cung, trong buồng đã có tên Đặng ngồi sẵn; trên bàn vẫn có chiếc cặp hồ sơ cố hữu. Điều tôi thấy hơi khác mọi khi là chiếc ghế đẩu dành cho bị can để cách xa bàn của chúng hơn. Thông thường, trước đây chỉ cách bàn 50, 60 phân. Bây giờ, phải xa hơn 1 m. Không những thế, từ lúc tôi vào buồng, hai tên cứ chăm chú nhìn chân tôi, như soi mói với những ánh mắt vừa băn khoăn, vừa cảnh giác.

Tên Thành cố tươi nét mặt, vẻ xã giao:

– Lâu ngày, anh không lên đây, anh thấy gì lạ không?

Câu hỏi không rõ ràng. Ở buồng này có gì lạ? Hay ngoài sân? Bởi vì, cả hai nơi đều có lạ. Nhưng, để dễ nói chuyện, và cho không khí đỡ căng thẳng, tôi chọn ngoài sân để trả lời:

– Thưa ông, tôi thấy một không khí chiến tranh, vì tôi nhìn thấy những hầm trú ẩn cá nhân mới đào.

Hai tên đều gật gật cái đầu như câu trả lời của tôi hợp lý theo ý chúng. Vì vậy, tên Đặng nghiêm nét mặt dõng dạc:

– Đế quốc Mỹ đã bắn phá tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chúng đe dọa cho nhân dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Để rồi xem, chúng có làm được điều chúng nói không? Rồi đây, nhân dân ta sẽ dạy cho Mỹ một bài học.

“Tuy Mỹ giàu có, vũ khí tối tân, nhiều phương tiện chiến tranh khoa học, nhìn bên ngoài, nhìn phiến diện, ai cũng thấy mạnh lắm, và ngay bản thân Mỹ cũng lầm như vậy, khi nghĩ về mình. Nhưng, nếu nhìn sâu, phân tích kỹ, không nhìn thấy những nhược điểm nội tại to lớn ngay trong lòng xã hội Mỹ. Nghĩa là nó nằm ngay trong đầu của những người Mỹ. Cho nên, đảng ta đã nhận định: Mỹ chỉ là một tên khổng lồ, chân bằng đất sét”.

Ngồi nghe y nói, tuy tôi không đồng ý hoàn toàn, nhưng về cơ bản, tôi cũng có nhiều điểm đồng ý với nhận định của y. Mỹ, nói riêng, và thế giới tự do nói chung, to mà không mạnh, vì đầy dẫy những mâu thuẫn. Vũ khí tối tân nào cũng phải được chỉ huy, sử dụng bằng con người. Vậy, nếu con người đó không có lý tưởng, mà chỉ vì cuộc sống và đồng tiền, thì còn nguy hại hơn. Vì, có thể sẽ bán, sẽ đưa vũ khí tối tấn đó, cho kẻ thù bắn ngược lại mình.

Mỹ quên mất một điều. Hễ người làm việc nước như lính tráng; cán bộ các loại, các cấp, v.v… mà có nhiều tiền là không có lý tưởng. (Hễ thanh liêm là nghèo). Điều này rất biện chứng như một nguyên tắc vậy. Sau này, càng về cuối thiên hồi ký này sẽ càng có minh chứng, vì lúc ấy mới có nhiều sự việc thực tế để bổ sung cho lý luận thêm sáng tỏ. Bởi vì, lý luận mà không có thực tế cũng như người có mắt mà không có chân. Ngược lại, có thực tế mà không có lý luận, cũng chẳng khác gì người có chân mà không có mắt. Cuối cùng, chẳng cái nào đạt được mục đích cả. Cả hai yếu tố đều cần thiết, phải gắn liền với nhau một cách hữu cơ. Nhưng, cũng kinh qua từ thực tế rút ra: Yếu tố “có chân” có tầm vóc lớn hơn “có mắt”.

– Chỉ có lý thuyết mà không có thực hành, không những không đi được, mà rất nhiều khi rơi vào không tưởng, hão huyền chỉ nói chuyện trên trời.

– Có thực hành mà không có lý luận: Mắt mù nhưng có đôi chân, ít ra cũng còn mò mẫm đi được, nhưng chỉ  đi đến đâu thì biết đến đấy, tùy tiện may rủi.

Lý thuyết và thực hành sinh động như sự sống của con người phải có hai yếu tố: Không khí và thực phẩm. Yếu tố “không khí” cũng có tầm vóc lớn hơn yếu tố “thực phẩm”, vì có thể nhịn thực phẩm hàng tuần, không chết; nhưng không có không khí trong mươi mười lăm phút là….chết!

Tôi hiểu, tên Đặng nói qua về Mỹ, cũng chỉ là một câu chuyện xã giao mào đề, chứ chúng gọi tôi lên đây, dĩ nhiên, phải có một mục đích khác. Quả nhiên, mặt y trở nên lạnh lùng, vừa mở mấy trang giấy hồ sơ, y vừa gằn giọng:

– Anh phải khai chi tiết từ động cơ nguyên nhân đã dẫn đưa anh đến sự việc trốn tù. Anh kể lại từ đầu, từng chi tiết, như anh tường thuật lại sự việc vậy.

Đã có nhiều kinh nghiệm về kiểu cung kẹo này rồi, vì thế, tôi suy nghĩ và hệ thống hóa lại toàn bộ, lược bỏ những chỗ nào thấy không có lợi, hoặc sẽ phức tạp lôi thôi, rắc rối sau này. Tôi lần lượt trình bày lại sự việc. Đến đoạn đi tìm mũ, tên Đặng vẫy tay ra hiệu cho tôi ngừng nói. Rồi, y mềm dẻo kích tôi về tâm lý:

– Anh hãy kể lại thực chỗ này. Chuyện trốn tù của anh cũng đã xong rồi, nhưng anh phải nói cho hợp lý. Anh nói, tai anh nghe có thông, người khác mới nghe được chứ! Anh vào khu công an là để kiếm súng, kiếm vũ khí, người ta mới nghe được. Chứ chỉ vì cái mũ mà phải mò vào chỗ hiểm nguy như vậy, thật thậm chí vô lý!

Nghe y lý luận đẩy đưa, tôi cười thầm trong bụng. Ngay từ những ngày đầu, khi mới bị bắt vào Hỏa Lò, tôi cũng không ấu trĩ sa vào cái bẫy tầm thường như thế. Dù tôi thực có ý định vào khu công an vũ trang để tìm vũ khí, tôi cũng không khai, không mắc bẫy; huống chi, bây giờ đã trải qua biết bao trận thử lửa, đấu trí với chúng hai năm rưỡi trời. Bao nhiêu lỡ lầm mới có những bài học ngày nay. Trước đây, nếu khai một chi tiết gì không thật, chúng nó đập bàn, đập ghế nạt nộ, quát tháo như nước sôi lửa bỏng rằng “nói láo”, “bịp bợm”, “không hợp lý, hợp tình chút nào”, v.v…tôi sinh ra lo lắng. Đôi lúc hớ hênh, lúng túng lại lòi đuôi ra cho chúng nắm được và từ đó chúng phanh phui ra sự thật. Nhưng giờ đây, tôi hiểu rằng, chuyện chúng nạt nộ thế nào cũng mặc chúng; khi đã cân nhắc, tính toán phải khai thế nào, thì cứ thế mà khai. Bởi vì, trong thực tế, có nhiều sự việc mới nghe qua, thật vô lý, không hợp tình, nhưng lại thực 100%. Ngược lại, có những sự việc nghe ra rất hợp tình, hữu lý, nhưng lại hoàn toàn là giả dối. Do đấy, bảo thế nào là vô lý, thế nào là có lý, nhiều khi thật cũng khó xác định.

Trên đây, cũng chỉ là lý luận, phân tích một vài góc cạnh của những việc chung ở đời. Chứ với công an, nhất là công an Cộng Sản, khi mình đã lọt vào tay chúng, chớ có nói chơi, không dễ gì qua mặt chúng được. Trong quyền hạn ngập mình của chúng, nhiều sự việc chúng điều tra tận nơi, từng ngóc ngách chi tiết, chúng mới tin. Vì vậy, muốn qua mặt chúng, phải đòi hỏi có điều kiện, chứ không hẳn đơn giản như lý luận.

Tóm lại, sự việc trốn tù, tôi cứ thực tế tuần tự khai báo sự thật. Chỉ có đoạn sau khi ra khỏi Hỏa Lò, tôi khai là sẽ tìm đường về Nam với gia đình bố mẹ, chứ không nói ý định thay vì về miền Nam, lại ngược về phía Bắc, v.v… để đánh lạc hướng truy lùng của công an… Và, tôi vẫn khăng khăng là tôi thích xã hội chủ nghĩa. Nhưng, cách mạng không tin, nên tôi đã buồn chán tự tử. Tự tử không được, tôi mới tìm cách trốn…..Thế mà, phải cả buổi sáng và suốt buổi chiều hôm ấy, mới khai báo xong vì chúng không tin và truy hỏi nhiều.

Hai hôm sau, chúng lại gọi lên, bắt tôi ngồi viết tường thuật lại chi tiết sự việc. Tôi cũng phải viết ròng rã hai ngày trời mới xong

Quẹo Cù Nèo!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on August 3rd, 2023

Post by Sơn râu 30 Sep 2023

Ðồng trong tiểu đồng là con nít. Dao trong ca dao là bài hát có vần, có điệu. Ðồng dao là bài hát của con nít. Và con nít nào chắc cũng biết bài đồng dao: “Kỳ đà là cha cắc ké. Cắc ké là mẹ kỳ nhông. Kỳ nhông là ông kỳ đà. Kỳ đà là cha cắc ké”.  Kỳ đà, kỳ nhông, cắc ké là loại bò sát, cắc ké nhỏ con nhất. Ông bà mình gọi cái đám thấp kém nhất trong bọn là đồ cắc ké.

Con cắc ké thứ nhứt: Nhà báo VC Lê Văn Nghĩa, sinh năm 1953, tại Chợ Lớn, học trường tiểu học Bình Tây, học trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký. Lúc còn con nít ke, nghe VC xúi bậy, Lê Văn Nghĩa đã từng xuống đường chống chế độ Việt Nam Cộng Hòa nên bị bắt đày đi Côn Ðảo. Sau khi CSBV xích hoá được Miền Nam Lê Văn Nghĩa về lại Sài Gòn. Trong cái đám bò sát kỳ đà, kỳ nhông chữ không đầy lá mít, Lê Văn Nghĩa lại là tay có học hành đàng hoàng dưới mái trường công lập Petrus Trương Vĩnh Ký nổi tiếng nhứt Miền Nam. Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản, có lý lịch đỏ lòm, nhưng công trạng khủng bố dân lành cũng chẳng đặng bao nhiêu, nên sau 75, Lê Văn Nghĩa cốt khỉ vẫn hoàn là cốt khỉ, cũng chỉ là một con cắc ké.

Tuy vậy trong tòa soạn Báo Tuổi Trẻ Cười, dẫu còn là con nít, Lê Văn Nghĩa lại là ‘Bố già’, trùm khủng bố ‘Mafia’ trong làng báo Sài Gòn. Lê Văn Nghĩa viết châm biếm với nhiều bút hiệu: Ðại Văn Mỗ, Ðiệp Viên Không Không Thấy, Thằng Hề v.v. Hai Cù Nèo, một bút hiệu chung, do Lê Văn Nghĩa thiếu niên tiền phong, quàng khăn đỏ, làm ‘đầu nậu’ cướp công viết của đám đàn em đang núp dưới nách hôi của mình. Trên Hai Cù Nèo có Sáu Dân, tức Võ Văn Kiệt, Bí thư thành ủy bao che. Sáu Dân xài Hai Cù Nèo một mặt để tô son trét phấn, đánh bóng tên tuổi của mình. Mặt khác để đâm thọt các đối thủ trong đảng hầu ngoi lên trên nấc thang quyền lực. Thế nên có đầu gấu bảo kê, năm khi mười họa lỡ dại vác cù nèo ngoéo cẳng mấy tay chóp bu khác trong đảng cùng lắm là chỉ bị khẻ tay hoặc bị búng lỗ tai, bị bắt thụt dầu như thời còn đi học! Chớ không bị đi cải tạo mút chỉ cà tha, mút mùa lệ thủy như bọn: Trần Dần, Phùng Quán, Văn Cao… thời Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956 ngoài Bắc!

Tới lúc ung thư gần chết, bớt sợ ai nữa, trong truyện dài “Mùa hè năm Petrus’, ở chốn riêng tư (chớ nói công khai vẫn chưa dám?) nhà văn CS Lê Văn Nghĩa thú nhận rằng: “Nền giáo dục của VNCH trước đây rất hay! Nhất là hệ thống trường công lập. Ai thi đậu vô đó là chuyện học được bảo đảm chắc chắn không phải lo lắng gì”.  Viết biên khảo về đời sống văn nghệ Sài Gòn, Lê Văn Nghĩa cũng cho rằng: “Trước năm 1975 là một thời sôi động hàng đầu của cả miền Nam, không khi nào có lại được không khí đặc biệt như vậy.”

Năm kia, Sài Gòn bị COVID-19 nên đám đàn em không ai dám đến; Hai Cù Nèo đi chết một mình buồn vì không có cơ hội để rủ vài ba đứa đàn em theo điếu đóm!

Con chim sắp chết cất tiếng bi thương; con người sắp chết nói lời chân thật. Nhưng có tên biết mình sắp chết vẫn tiếp tục nói dối. Ðó là con cắc ké thứ hai: Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bà con mình, ở Huế sau Tết Mậu Thân, đổi họ Hoàng thành Ðao. ‘Hoàng Phủ Ngọc Tường’ thành ‘Ðao Phủ Ngọc Tường’.

Ðao phủ là một người đàn ông đầu chít khăn đỏ, mặc áo quần màu đỏ (màu máu, màu cờ CS) Tên ngồi xử tội cầm thẻ bài tử ném xuống đất. Tử tội bị bịt mắt, điệu ra pháp trường. Ðao phủ uống một ngụm rượu rồi phun vào đao, từ từ giơ lên cao rồi chém đầu tử tội đang quỳ, hai tay trói quặp về phía sau.

Hàng ngàn người dân Huế vô tội không bị chém đầu mà bị đập đầu vỡ sọ chết, bị vùi thây ở Khe Ðá Mài, ở Bãi Dâu. Khe Ðá Mài, vì có những hòn đá dùng để mài dao, ngay đầu con suối, nằm giữa hai ngọn đồi Kim Kê và Hòn Chuối, trong rừng Ðình Môn Kim Ngọc, thuộc xã Dương Hòa, quận Hương Thủy, Thừa Thiên.

Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ cắc kè bông, đổi màu theo thời thế để kiếm ăn, cũng đã viết:  “Chiều đi qua bãi dâu, hát trên những xác người. Tôi đã thấy, tôi đã thấy, trong khu vườn, một người mẹ ôm xác đứa con…”

Bãi Dâu nằm ở phía Ðông thành phố Huế, gần bờ biển.

Trong ‘Giải khăn sô cho Huế’ xuất bản năm 1969, nhà văn Nhã Ca tai nghe, mắt thấy đã ghi lại ba nhân vật: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân là những tên khát máu, là thủ phạm ra tay giết hại, chôn sống đồng bào Huế Tết Mậu Thân.

Hoàng Phủ Ngọc Phan có kể rằng: “Có lần cụ thân sinh ra hắn nghiêm nghị hỏi rằng: Người ta nói Tết Mậu Thân con với thằng Tường về Huế giết rất nhiều người, có thật như vậy không?” Dĩ nhiên Phan chối phăng, chối phắt.

Con cắc kè thứ ba là nhạc sĩ VC Tôn Thất Lập, sanh tại Huế năm 1942, đã từng thú nhận quân CS thất bại dưới tay Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh trong trận Tết Mậu Thân tại Huế. Tôn Thất Lập kêu gào: “Ai chiến thắng không hề chiến bại? Ai nên khôn không khốn một lần? Dậy mà đi, dậy mà đi!”

Nhưng đồng bào Huế không nghe mà bỏ chạy hết ráo khi có dịp. Vậy là Tôn Thất Lập cũng không dậy mà đi, nằm thẳng cẳng lúc 8 giờ 45 phút, ngày 26, tháng 7, năm 2023.

Tóm lại, tui thấy tháng Bảy   CSVN xui chết mẹ. Ngày nầy hai năm trước, ngày 25 tháng Bảy, Lê Văn Nghĩa quẹo Cù Nèo. Năm nay, tới phiên tên đao phủ Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng quẹo Cù Nèo. Rồi Tôn Thất Lập cũng quẹo Cù Nèo, Cả ba hè nhau đi chầu Các Mác, Lê Nin.

Ba con cắc ké, ba cái cù nèo giờ quẹo hết ráo cùng một ngày. Chắc chúng có hẹn rủ nhau xuống địa ngục a tỳ cho quỷ sứ bỏ vô vạc dầu sôi hầu đền tội với nhân dân! Vậy cũng tốt, giỗ một ngày cho đỡ tốn hay chăng?

ĐXT

Hương quản Hèo

baotreonline

Đoàn Xuân Thu

Posted on September 22nd, 2023

Post by Sơn râu 30 Sep 2023

Trước 1975, dành cho con nít có tuần báo Tuổi Hoa, của mấy ông Cha, ở đường Kỳ Ðồng, quận Ba. Nhiều nhà văn cộng tác quá, tui chỉ nhớ tên Hương Kim Long. Chắc người đẹp nầy tên Hương, dân Huế gốc Kim Long. Vì Huế có câu. “Kim Long có gái mỹ miều. Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trầm đi!”.

Có giai thoại rằng (vua phải nói ‘vi hành’; không được nói ‘vua đi’) vua Thành Thái chơi đất Kim Long. May gặp Nguyễn Hữu Thị Nga, mới 15 tuổi, nhưng đẹp não nùng, bèn rước về cung làm vợ.

Sau khi CSBV chiếm được Miền Nam, tui có thằng bạn dạy học, quê vợ xã Phước Tỉnh, Phước Tuy vượt biên bị bắt nên bị đuổi. Mất dạy, nhớ học trò, nó bèn đi bán bong bóng trước cổng trường. Nó dạy tui điều này để kiếm kế sanh nhai trong thời CS: “Tao thấy bán kẹo kéo, bán cà rem, bán đồ chơi dụ con nít là dễ nhứt. Con nít không tiền không mua; có tiền là mua; không mua chịu. Mua nhưng không bao giờ kỳ kèo bớt 1 thêm 2 như con vợ tao đi chợ!”

Thằng bạn tui tưởng một mình nó khôn trật búa “Eureka” (tao đã tìm ra) cách dụ khị con nít. Chớ trước nó rất lâu, chí lớn gặp chí mén: ông Nguyễn Vỹ ra tuần báo Thiếu Nhi bán cho con nít đọc. Thiên hạ nói ông Nguyễn Vỹ khá lắm. Hồi làm báo ở Hà Nội, có mượn của ông Nhất Linh 5 đồng bạc, giờ tiền bạc rủng rỉnh, ông Nguyễn Vỹ còn nhớ trả lại đó; dù ông Nhất Linh quên đòi. Còn ông Duyên Anh ra tuần báo Tuổi Ngọc le lói chạy xe ‘Renault Dauphine’.

Làm công cho Duyên Anh có Ðinh Tiến Luyện chuyên vẽ bìa: hình con gái, ốm nhom, ốm nhách không phải do ‘diet’; vì miệng mắc ngậm một cọng bông hồng gai không; làm sao nhai? Từ Kế Tường làm thơ, viết truyện. Cả bọn đều nhắm vào túi tiền của bọn con nít ‘ke’.

Ông Nguyễn Vỹ mất trong vụ xe lô Minh Chánh chạy Mỹ Tho Sài Gòn gặp nạn gần cầu Tân An năm 1971.

Sau 1975, ông Duyên Anh cùng với Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, Nhã Ca…bị đại úy CA Cộng Sản Huỳnh Bá Thành dựng chuyện ‘biệt kích cầm bút’ để bắt nhốt trong vụ án Hồ Con Rùa.

Bí danh Ba Trung, Huỳnh Bá Thành là họa sĩ Ớt chuyên vẽ tranh biếm (political cartoons) cho báo Tin Sáng, báo Ðiện Tín. Gọi xách mé Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là Tông tông, là Sáu Thẹo; nhưng đâu có ai bắt bớ gì ‘Cu Ớt’ đâu? Trong khi Nhã Ca viết ‘Giải khăn sô cho Huế’ là chuyện thiệt thì bắt nhốt người ta. Về báo chí, chế độ tự do và độc tài khác nhau ở chỗ đó đa.

Nghe nói ông Ðinh Tiến Luyện vì đóng lon thiếu uý, nên bị CS bắt tù cải tạo. Riêng Từ Kế Tường, (sanh năm 1946, tuổi con chó, nhưng bất trung) phẻ re như con bò không phải kéo xe, về làm đệ tử, điếu đóm cho Huỳnh Bá Thành ở báo Công An.

Còn anh bạn văn nghệ của tui sanh năm 1947, tên Nguyễn Ðinh Hợi. Hồi tốt nghiệp khóa 4/72 SQTBTÐ, ảnh được biệt phái qua Cảnh sát, mang lon thiếu úy làm trưởng cuộc ở xã. Tụi tui chọc quê gọi ảnh là hương quản Hèo (Heo huyền).

Mới đây, hương quản Hèo chép bài “Tình làng nghĩa xóm’ của Từ Kế Tường gởi cho tui coi. “…Ðò máy chạy trên sông ghé qua những bến bãi đưa rước khách, gợi nhớ trong ký ức xa xôi những chuyến đi của đứa trẻ 9-10 tuổi một mình trên chiếc đò máy ngược sông Bến Bạ lên Mỹ Tho rồi từ Mỹ Tho đi bộ tới ga xe lửa mua vé lên Sài Gòn là một phần đời vui buồn lẫn lộn và không thể nào quên…”.

Tui hỏi Bến Bạ ở đâu? Hương quản Hèo trả lời: “Hồi 1973, đi chiến dịch Hiệp định Paris ở quận Bình Ðại, tỉnh Kiến Hòa, tui được về xã Tân Phú Trung. Muốn về Mỹ Tho, không có đường bộ an ninh, phải ngồi xe lôi lên phía trên bến xã Lộc Thuận, đò từ Bình Ðại lên mới ghé vô đón khách. Ngồi trên mui, gió sông mát rượi; đò qua rừng Bộ Khuyết, ổ Việt Cộng, lơ kêu xuống khoang. Ngồi trên mui sợ du kích từ giáp rừng dừa bắn ẩu xuống chết dân.

Hương quản Hèo nói: “Từ Kế Tường sanh ở Phú Vang, tên xã thời CS. Viết vậy là trật. Viết thời nào phải xài địa danh thời nấy. Hồi trước, nó thuộc xã Lộc Thuận nằm dọc theo sông Mỹ Tho, chắc Bến Bạ ở cái xã đó”.

Tui nói: “Một đứa nhỏ 9, 10 tuổi, tối ngủ còn đái dầm, mà một mình đón đò từ Bến Bạ lên Bến đò Bình Ðại Mỹ Tho; rồi còn đi bộ qua sông (Vườn Hoa Lạc Hồng) mua vé xe lửa đi Sài Gòn? Tui e ông nội nầy đặt dóc quá (khứ). 9, 10 tuổi tui khờ căm hè. Xa chưn Má, đi một mình xa cả trăm cây số, tui sợ xe bắt chó bắt lắm!”

Rồi “Người quê sống rất tình nghĩa, đúng với nghĩa ‘tối lửa tắt đèn có nhau’…Lúc dựng nhà không cần nhờ vả, hàng xóm lân cận tới phụ dựng lên rồi lợp mái, dừng vách. Chỉ một bữa cơm đơn sơ gia chủ mời, hoặc một bình trà đưa chuyện, thế là xong.”

Theo tui, thành ngữ ‘Tối lửa tắt đèn có nhau; ông Từ Kế Tường dùng ở đây cũng không đúng. Hồi xưa, ở quê, nhà nào cũng có con cúi để giữ lửa, Lỡ tối lửa (lửa con cúi tắt queo) thì phải đi xin lửa nhà hàng xóm. Nghĩa bóng là ngặt lắm phải nhờ vả lối xóm.

Còn lợp nhà là chuyện khác. Mái nhà lá dẫu có lợp kỹ nhưng cùng lắm ba mùa mưa mục dột là phải thay. Bà con xúm lại lợp nhà vần công. Nó giống như cấy, gặt, đập lúa đổi công của ông bà mình.

Rồi ông Từ Kế Tường viết “Cảnh hàng xóm xúm xít lợp mái nhà?! Viết xúm xít là dùng chữ trật lất. ‘Xúm xít’ là bu lại làm một chuyện một. ‘Xúm xít’ gói bánh ít. Tui từng kêu ‘con ghệ’: “Xít lại chút coi!” (Là xít lại để tui coi!). Còn kẻ trên lợp, người dưới đưa lá công việc khác nhau. Phải dùng chữ “tụ lại” mới đúng. Dùng chữ ‘bu lại’ cũng sai. ‘Bu lại’ là vì tò mò muốn coi một cái gì đó đang xảy ra.

Chữ của ông bà để lại, phải xài cẩn thận! Hương quản Hèo nói mà không nghe thì coi chừng cây hèo của ổng!

ĐXT

Hồng Úc!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on September 8th, 2023

Post by Sơn râu 30 Sep 2023

Như cánh bèo dạt hoa trôi trên dòng sông Maribyrnong trời xui đất khiến, tui tấp đại vào cái đất Footscray này đây. Như đa số bà con mình hồi mới tới, tui bị ‘tàn tật’ tiếng Anh. Nghe thì tiếng được, tiếng không.

Rốt cuộc như người bị lãng tai, tui không hiểu gì ráo. Nói thì cà mập cà mờ vừa rặn, vừa quơ.

Ðời mà! Ông bà mình có dạy: “Muốn ăn thì lăn vào bếp. Muốn chết thì lết vô hòm. Muốn cãi lộn với Úc thì kiếm Úc mà học. Kiếm Úc dốt làm cu li như mình. Ðừng kiếm Úc có chữ nghĩa. Vì loại chữ đó không có thằng Úc đá cá lăn dưa nào nói hết.

May mắn thay em Rose, tiếng Việt là Hồng, tui gọi là Hồng Úc, gốc Anh, làm bảo vệ chung đồng ý dạy tui. Bù lại cứ mỗi hai tuần lãnh lương, tui phải dắt nó đi ‘pub’ nhậu.

Em Rose, Hồng Úc, thâu băng lời em nói, rồi gởi email cho tui nghe. Nghe xong, tui lặp lại để tập nói cho trơn tru và viết. Tui muốn Hồng Úc dạy tui cái văn hóa của dân Úc tục tục một chút cho vui và tui dễ nhớ hơn là tiếng Anh hoàng gia trong sách giáo khoa. Một trong những bài của em Hồng Úc dạy tui như vầy nè: “Một cô giáo cầm một cái gì đó giấu dưới hộc bàn và cô muốn các em đoán nó là cái gì?” “Cái này hình tròn và màu đỏ.” Johnny giơ tay lên, nhưng bị phớt lờ; vì cô giáo biết nó là một thằng trùm quậy, thường gây ra bao nhiêu điều rắc rối. “Nó là một trái mận!” Một em học trò gái trả lời. “Không phải!” Cô giáo cười nói. “Nó là một trái táo đã chín! Nhưng cô thích cách nghĩ của em!

“Cái tiếp theo có hình tròn và có màu xanh lục.” Cô giáo, một lần nữa, lại phớt lờ bàn tay háo hức của Johnny giơ lên. “Nó là trái táo chưa chín! Nhưng Cô thích cách nghĩ của em đó Billy.”

Johnny không thể kiềm chế được nữa, vọt miệng nói: “Em đố cô một cái! Cái gì nó cứng, dài khoảng một ‘inch’ và cái đầu nó màu đỏ.”

“Johnny! Thật là tởm!” Cô giáo giận dữ hét lên. “Không!” Johnny nói. “Nó là một que diêm! Nhưng em thích cách nghĩ của cô!”

Rồi tháng sau nữa, em Hồng Úc gởi cho tui một bài học khác: “Ði ngang qua phòng ngủ của con mình, ‘daddy’ rất ngạc nhiên khi thấy ra giường phẳng phiu và mọi thứ đã được thu dọn. Sau đó, bố nhìn thấy một phong bì, được đặt trên gối. Với linh cảm không may, daddy run rẩy mở phong bì và đọc lá thư.

“Gửi Daddy! Con viết thư cho bố mà lòng hối tiếc với nỗi buồn đau. Con đã phải bỏ trốn với bạn gái mới của con. Vì con muốn tránh cảnh Mẹ và Bố luôn xung đột vì con. Con thực sự yêu Sam. Em rất đẹp, nhưng con biết bố sẽ không tán thành vì tất cả những chiếc khuyên tai, hình xăm, bộ quần áo mô tô bó sát người của cô ấy, và vì cô ấy lớn tuổi hơn con rất nhiều.

Nhưng đó không chỉ là niềm đam mê, bố ạ. Sam đang mang thai. Em nói rằng tụi con sẽ rất hạnh phúc. Em có một chiếc xe kéo trong rừng, và có cả một đống củi cho cả mùa Ðông. Hai đứa con có chung ước muốn sinh thêm nhiều con. Sam đã mở rộng tầm mắt của con với sự thật rằng cần sa không thực sự làm tổn thương bất cứ ai. Hai đứa con sẽ trồng cần sa cho chính mình xài và bán nó với những người khác trong xã để đổi lấy ‘cocaine’ và thuốc lắc cái mà chúng con đang cần đến. Trong thời gian chờ đợi, chúng con sẽ cầu nguyện rằng khoa học sẽ tìm ra cách chữa khỏi bệnh AIDS để Sam có thể khỏi bệnh. Cô ấy chắc chắn xứng đáng với điều đó! Bố đừng lo, con đã 15 tuổi rồi và con biết cách chăm sóc bản thân mình. Một ngày nào đó, con chắc chắn rằng tụi con sẽ trở lại thăm để bố có thể làm quen với nhiều cháu nội của bố. Yêu bố! Con trai của bố: Johnny.

Tái bút: Bố! Không có điều nào ở trên là sự thực. Con chỉ đến nhà của thằng Michael ở xóm trên. Con chỉ muốn nhắc bố rằng trong cuộc sống có những điều tồi tệ hơn nhiều so với bảng điểm của con mà trường vừa gởi về con đặt nó gần bếp. Hãy gọi con về khi nhà mình an toàn!”

Vậy là sau hai năm học, tui đủ chữ để cãi lộn, em Hồng Úc dạy tui về văn hóa. Em nói: “Năm nay, Father’s Day ở Mỹ là ngày 18 tháng Sáu năm 2023.

Chuyện rằng: William Jackson Smart vợ chết; một mình gà trống nuôi một bầy con 6 đứa. Năm 1910, Sonora Smart Dodd lần đầu tiên đề xướng Father’s Day đầu tiên vào Chủ Nhựt thứ ba của tháng Sáu, để vinh danh thân phụ của mình.

Úc coi Anh là Mommy, coi Chú Sam là đại ca. Chú Sam làm gì là cháu Kangaroo bắt chước, nhưng tùy theo thời tiết. Father’s Day của Úc rơi vào Chủ Nhựt đầu tiên của tháng Chín, năm 2023, nhằm mùng ba khi trời vừa mới chớm sang Xuân.

Em Hồng Úc nói: “Tình phụ tử không phân biệt chủng tộc. Úc hoặc Mít, ai cũng thương con mình hết ráo. Em nói: “Daddy của em ngày nào cũng vất vả đi cày để kiếm bánh mì, quần áo, giày vớ cho con. Sống với daddy thiệt là khỏe re; không phải lo gì hết ráo. Tối daddy bế Rose vô giường. Bố và em cầu nguyện trước khi đi ngủ. Rồi bố hôn lên trán em “Good night!”. Khi mommy mất, daddy sụp xuống và khóc, nói:  “Chúa ơi, tại sao lại không đưa con đi?” Ðêm nào daddy ngủ ngồi trên ghế ‘phô tơi’. Daddy không lên lầu nữa vì mommy không còn trên ấy.

Thời gian bóng câu qua cửa sổ. Daddy già đi và Rose cùng lớn lên theo. Một hôm, daddy nói với em: “Dad sống một mình cũng được. Con lập gia đình, lo cho hạnh phúc của riêng con đi”.

Em lấy chồng ba lần rồi cũng đổ vỡ. Không thằng Úc nào yêu em bằng một góc daddy yêu em. Rose tính lấy anh. Nhưng Rose biết là dân vượt biên, vượt biển, anh còn bỏ lại đám con thơ bên kia trời lận đận trong gông cùm CS. Em biết anh không thể bỏ đám con anh! Thôi đành vậy! Kiếp sau ta tìm thấy nhau. Và tui mất Rose từ Father’s Day năm ấy!

ĐXT

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 30 Sep 2023

Đứng dậy từ những mất mát

Howard E. Wasdin

Bài 14

Khi mặt trời đã lặn, nhân viên y tế mới đưa tôi đến bệnh viện dã chiến của Thụy Điển. Đầu óc tôi chìm sâu trong ý nghĩ rằng tôi có thể phải cưa chân. Tôi vô cùng sợ hãi. Tại bệnh viện, một y tá tiêm cho tôi một mũi moóc phin giảm đau nhưng nó chẳng có tác dụng gì. Hóa ra tôi thuộc 1% số người không có tác dụng với thuốc moóc phin. Người y tá này lại tiêm thêm cho tôi mũi nữa. Chân tôi vẫn đau kinh khủng. Họ xử lý vết thương: khoét bỏ những tế bào hỏng, nhiễm khuẩn và chết để giúp tôi mau khỏi. Sau đó, họ chuẩn bị chuyển tôi sang Đức.Các nhân viên y tế đưa chúng tôi lên máy bay. Nội thất bên trong máy bay thật ấn tượng, trông giống như bệnh viện biết bay: có giường bệnh, các chai dung dịch truyền, thiết bị máy móc. Một y tá đi ngang qua tôi.Tôi đưa tay ra và nắm lấy chân cô ta “Tôi đau quá. Xin hãy làm cái gì đó giúp tôi?”.

Cô y tá nhìn vào phác đồ điều trị của tôi và nói “Anh đã được tiêm hai mũi moóc phin rồi thì làm gì còn đau đớn nữa.” Sau đó, cô ta bỏ đi để xem xét các bệnh nhân khác. Lát sau, một bác sĩ đến bên cạnh và nhìn tôi.

Đây là vết thương trong xương − một loại thương tật tồi tệ nhất. Với một vết cắt phần mềm, cơ thể sẽ bù đắp bằng cách thắt các động mạch để giảm lưu lượng máu đến vùng thương tật, ngăn không cho máu chảy mãi. Nhưng với vết thương từ trong xương, cơ thể không thể làm được điều đó. Cơ thể xanh xao, mất máu của tôi run lên bần bật và mồ hôi túa ra khi tôi nghiến chặt răng, cố gắng không để vết thương hành hạ. Ổn định mạch đập, thở chậm, cố gắng chịu đau. Tôi đã từng làm điều này khi còn là một đứa trẻ nhưng tại sao nó vẫn không hết đau? Tôi có thể làm điều này khi còn là một đứa trẻ nhưng tại sao bây giờ tôi không thể? Đó là một cách thức đơn giản tôi từng áp dụng khi bị đau trong những lần ẩu đả thời con nít: tự thoát ra khỏi sự đau đớn và không để thể xác xâm lấn tâm trí. Nhưng tôi vẫn không thắng nổi những biểu hiện sợ hãi của cơ thể: người cứ run lên bần bật và mồ hôi vã ra nên tôi lại cố gắng tập trung lý trí để chống lại sự giằng xé của cơn đau.

Vị bác sĩ nói: “Cậu lính này đang đau lắm đây”, rồi ông tiêm cho tôi mũi giảm đau Demerol và hỏi

“Cậu thấy thế nào?”. Ngay lập tức tôi thấy cơn đau dịu đi và cảm ơn vị bác sĩ đó.Người bác sĩ nói gì đó với nữ y tá. Sau đó, cô quay trở lại và xin lỗi tôi. “Tôi xin lỗi, thành thật xin lỗi. Tôi không biết anh bị đau.” Cô nói mà gần như muốn khóc. Chẳng biết chân của tôi có bị cưa cụt không? Chúng tôi hạ cánh xuống căn cứ Không quân Ramstein ở Đức. Lính Không quân đưa chúng tôi lên một chiếc xe buýt. Những người lính Không quân này rất vui vẻ và thân thiện. “Chúng tôi nghe nói các anh đã giành chiến thắng. Chúng tôi đến để chăm sóc cho các anh đây”. Họ làm chúng tôi cảm thấy thật phấn chấn. Khi đến Trung tâm y tế vùng Landstuhl của Lục quân, bệnh viện lớn nhất ngoài lãnh thổ Mỹ, các bác sĩ đưa thẳng tôi đến phòng phẫu thuật. Trong phòng điều hành, họ làm công tác chuẩn bị cho tôi. Một y tá đang chuẩn bị gây mê toàn thân. Tôi vội nói “Tôi không muốn ngủ”. Cô ta lý sự với tôi “Chúng tôi cần phải đưa anh vào giấc ngủ để còn phẫu thuật.” “Tôi không muốn ngủ. Tôi biết mọi người muốn cưa chân của tôi.” Cô ta và một nam y tá nữa ra sức đè tôi xuống nhưng tôi đã đẩy bật họ ra. Tình hình khá căng thẳng khi bác sĩ phẫu thuật bước vào “Đang xảy chuyện gì vậy?”.Cô y tá giải thích: “Bệnh nhân đang chống đối không chịu hợp tác, anh ấy không để chúng tôi gây mê toàn thân”.

Bác sĩ phẫu thuật nhìn tôi. “Có vấn đề gì không?”

“Tôi chỉ sợ các ông sẽ cưa chân của tôi khi tôi đang chìm trong giấc ngủ. Tôi không muốn ngủ. Tôi xin các ông đấy”.Bác sĩ phẫu thuật nói với người nữ y tá: “Hãy gây tê ngoài màng cứng cho cậu ta”.

Cô ta tiêm cho tôi một mũi vào thắt lưng giống như gây tê cho bà đẻ. Kiểu gây tê này sẽ làm mất cảm giác từ phần thắt lưng trở xuống. Ông ta cầm tay và nhìn vào mắt tôi rồi nói: “Tôi là bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình ỏi nhất trong Không quân. Tôi sẽ giữ lại chiếc chân cho cậu”. Thái độ chân thành của ông khiến tôi cảm thấy khá an tâm.Người bác sĩ tiến hành phẫu thuật trong khi tôi vẫn thức để xem. Khi chắc chắn rằng họ sẽ không cưa chân mình, tôi chìm vào giấc ngủ. Sau đó, tôi tỉnh dậy vì thấy đau bên đùi phải. Thuốc tê đã hết tác dụng. Bác sĩ phẫu thuật dùng dụng cụ để lấy một miếng da ở đùi tôi. Ông bỏ miếng da vừa lấy được vào một chiếc máy trông giống như máy vắt phô mai. Ông sử dụng chiếc máy này để làm cho các lỗ chân lông nở ra. Sau đó, ông đặt miếng da vào vùng vừa phẫu thuật. Dần dần, tôi bắt đầu cảm nhận được sự đau đớn. Khi họ tiến hành ghép da lần thứ hai thì tôi hơi ngần ngại. Nếu trường hợp của tôi xảy ra trong thời Chiến tranh với Việt Nam, các bác sĩ hẳn đã cắt bỏ chiếc chân của tôi. Nhờ những tiến bộ y học, tôi đã giữ lại được chân của mình. Sau khi hoàn tất việc phẫu thuật, họ đẩy tôi vào phòng hậu phẫu. Người y tá treo một bơm điện vào giường của tôi và căn dặn: “Nếu thấy đau, chỉ cần bấm nút này, anh sẽ hết đau. Tuy nhiên chỉ khi nào anh thực sự đau đớn thì mới bấm nút để tự tiêm cho mình liều thuốc giảm đau.”

“Thật tuyệt.” Tôi ấn nút hai lần liền và tôi chìm vào giấc ngủ. Khi thức dậy, tôi không còn có khái niệm thời gian. Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng rên rỉ: “Trời ơi, đau quá! Trời ơi, đau quá!” Giọng y tá vang lên: “Chờ một chút, chúng tôi sẽ tìm một chiếc bơm điện cho anh”.Tôi đưa mắt nhìn sang và nhận ra người đang kêu đau chính là cậu biệt kích Ranger dũng cảm, người bị một vết thương ở chân, hai vết thương ở vai và một vết thương ở cánh tay nhưng vẫn kiên cường nạp đạn giúp chúng tôi trong trận đánh ở Mogadishu.

Sau một lúc khá lâu mà người y tá vẫn chưa mang bơm điện cho cậu ta. Có thể do bệnh viện chưa kịp chuẩn bị với nhiều thương binh đến cùng một lúc như thế này. Cậu lính biệt kích tiếp tục kêu đau. Tôi gọi tên cậu ta. Cậu ta đưa mắt nhìn tôi và thốt lên vui mừng “Chào, Thượng”. Lính biệt kích Ranger thường gọi tắt “Thượng sĩ” là Thượng.Tôi vươn tay ra cầm lấy một đầu chiếc chổi lau sàn để dựa bên tường, ngay gần giường của tôi, rồi tôi đưa đầu còn lại cho cậu lính biệt kích và nói “Nắm lấy này”.

Cậu ta cầm lấy đầu cây gậy. Tôi nói: “Chúng ta hãy kéo hai giường lại sát nhau nhé.”Chúng tôi kéo cho đến khi bánh xe dưới gầm giường của mình chạm vào nhau. Khi hai chiếc giường đã sát vào nhau, tôi tháo kim của mình ra và cắm ven cho cậu lính biệt kích, sau đó ấn nút hai lần. Do đã sử dụng gần như toàn bộ sức lực nên tôi không còn đủ sức để đẩy hai giường rời nhau ra nữa. Cả hai cùng chìm vào giấc ngủ.

Khi người y tá trở lại, cô ta vô cùng tức giận và la toáng lên “Có chuyện gì với hai chiếc giường này vậy? Có chuyện gì? Tại sao anh lại cho cậu ta thuốc của anh? Nếu cậu ta có phản ứng với loại thuốc này thì hẳn anh đã giết chết cậu ta rồi đó!” Cô ta lấy chiếc kim ra khỏi cậu lính biệt kích và cắm trả lại cho tôi.

Một bác sĩ hàm đại tá nhìn tôi và nói “Này, cậu lính, cậu nghĩ cậu điều hành bệnh viện này hả?”. Tôi vội giải thích, “chúng tôi cùng sát cánh chiến đấu bên nhau. Cậu ấy đang bị cơn đau hành hạ. Tôi chỉ muốn làm cho cậu ta hết đau thôi. Còn nếu ngài muốn thì ngài có thể bắn chết tôi.” Vị bác sĩ này cười nụ với tôi. Ông kéo nữ y tá ra cuối phòng và nói: “Những chàng trai này được huấn luyện phải biết chăm sóc lẫn nhau. Bỏ qua cho họ lần này đi.” Nữ y tá quay lưng lại với tôi trong khi vị bác sĩ quay lại và nháy mắt với tôi. Sau đó, ông rời khỏi phòng. Ngày hôm sau, tôi thấy da đầu ngứa ngáy, khó chịu. Tôi đưa tay lên gãi. Một cục màu đen bám vào phần trong móng tay. Trong trận đánh ở Mogadishu, tôi đã cõng một cậu lính biệt kích Ranger, máu của cậu chảy ra đầu tôi. Những cục màu đen trên đầu tôi chính là máu đã khô lại.

Bác vợ tôi, Earl đến Đức thăm một chi nhánh công ty của ông tiện thể ghé thăm tôi sau khi nghe tin. Khi thấy tôi, ông chỉ nhìn chằm chằm một lúc rồi quay lưng rảo bước ra khỏi phòng đến gặp nhân viên chăm sóc và quát lên “Wasdin đang nằm lẫn với nước tiểu kia kìa!” Tôi không hề hay biết điều này bởi sau khi tiêm thuốc tê ngoài màng cứng, tôi không còn kiểm soát được bàng quang của mình nữa. Rồi tôi nghe thấy ông bác nói tiếp “Người cậu ta bẩn hết rồi!” Các nhân viên bệnh viện cố tìm cách trấn tĩnh bác tôi.

Bác Earl mất bình tĩnh và tiếp tục quát: “Tôi muốn các người lau người cho cậu ấy! Thay quần áo sạch cho cậu ấy! Cho cậu ấy đánh răng! Tốt nhất là các người làm ngay đi nếu không tôi sẽ gọi điện cho Washington ngay bây giờ và không để các người yên đâu!”

Có thể do nhân viên bệnh viện quá bận rộn vì chúng tôi nhập viện đột xuất với số lượng khá đông nên họ chăm sóc không xuể. Dù vậy, chỉ sau vài phút một nhân viên chăm sóc đã có mặt gội đầu cho tôi. Tôi thấy thật mái. Sau đó, nhân viên đó đưa cho tôi chiếc bàn chải và tôi đánh răng. Người nhân viên này cũng thay luôn cả tấm đệm dù nó đã được bọc nhựa và không bị thấm ướt gì. Họ đưa cho tôi một chiếc áo choàng mới. Tôi thấy tốt hơn rất nhiều. Bác Earl mang vào một chiếc xe lăn và nói “Cháu còn cần cái bác giúp gì nữa không?”.

“Dạ, cháu muốn ra ngoài”. Ông giúp tôi ngồi vào xe lăn và đẩy tôi đến cửa hàng đồ lưu niệm. Ông mua cho tôi một chiếc quần len, một chiếc áo len, một chiếc mũ tròn và một con gấu nhồi bông. Bác tôi bảo nhân viên thu ngân: “Cô có thể cắt bỏ hai ống chiếc quần len này lên ngang đầu gối được không?” Cô ta nhìn bác tôi thoáng vẻ bối rối và quay ra nhìn tôi rồi ngọt ngào đáp “Được chứ ạ”. Nhân viên thu ngân lấy ra chiếc kéo và cắt bỏ ống quần theo yêu cầu của bác tôi, sau đó cô đưa chiếc quần cho bác tôi. “Cám ơn”. Bác Earl đưa tôi vào phòng thay đồ của quầy lưu niệm và mặc chiếc quần len cho tôi trùm qua phần cố định bên ngoài. Bác sĩ phẫu thuật khoan bốn lỗ vào chỗ xương không bị thương, gần đoạn dập gãy, sau đó, cắm bốn đinh vào xương. Bên ngoài chân, họ dùng miếng thép gắn bốn đinh lại để cố định các đinh. Những chiếc đinh và miếng thép tạo thành bộ phận cố định phía ngoài. Sau đó, bác Earl mặc áo len và đội mũ giúp tôi. Ông đẩy xe ra khỏi phòng thay đồ và đến quán ăn tự chọn lấy vài cốc bia Hefeweizen. Đây là loại bia lúa mạch không lọc truyền thống của Đức. Loại bia này không đắng và nhiều cacbon hơn loại bia lọc. Ông hỏi tôi: “Cháu muốn gì nữa không?”

“Bác có thể đẩy cháu ra sân phơi nắng được không ạ?” Ông đẩy xe ra ngoài và chúng tôi ăn uống ở đó. Sau khi được lau rửa sạch sẽ, thay quần áo thơm tho và ngồi uống bia dưới ánh sáng mặt trời, tôi thấy phấn chấn hẳn lên. Tôi uống nửa cốc bia rồi đi ngủ. Sau này, tôi tặng con gấu bông cho cô con gái Rachel.

Hôm sau, cậu lính của Delta bị thương ở vai đến thăm tôi. Chúng tôi nói chuyện với nhau về trận đánh. Cậu nói “Lúc đầu, tôi không đánh giá cao các anh vì nghĩ các anh không thực sự là thành viên trong đội của chúng tôi. Nhưng các anh thật tuyệt. Chúng tôi không nghĩ SEAL lại đánh hay như thế! Đặc biệt là anh! Tôi nhìn thấy anh vài lần trong trận đánh. Ước gì tôi được đi chung với anh nhiều hơn trước khi trận đánh diễn ra.”

“Cám ơn” – tôi nói.“À này, Brad đang ở tầng dưới. Anh có muốn gặp anh ấy không?” “Đương nhiên là muốn rồi”.Cậu đẩy xe đưa tôi đến gặp Brad, một trong số những tay súng bắn tỉa của Delta. Tôi thấy chân Brad bị cắt cụt – chân của Brad bị gãy lìa khi chiếc trực thăng anh ngồi bị trúng đạn RPG. Brad bắt tay tôi và nói: “Anh không cưa bỏ chân mà lại muốn đóng đinh à?” Brad nói tựa như mọi thứ vẫn rất bình thường với anh vậy. Anh chìa gói sợi thuốc loại Copenhagen ra mời tôi. Tôi lấy một ít cho vào miệng.

Ba chúng tôi ngồi nói chuyện phiếm với nhau. “Ô, họ vẫn giữ được chân cho cậu à?” – Brad hỏi. “Tôi nghe họ nói chỉ cần vết thương của tôi nhích lên trên một cm nữa, họ sẽ buộc phải cưa cụt. Brad đón nhận sự mất mát nhẹ nhàng hơn tôi mặc dù một chiếc chân của anh đã bị cắt bỏ. Lúc đó, tôi thấy buồn với chính mình. Giận Trời và Chúa. Anh ấy không còn chân nhưng vẫn giữ thái độ vui vẻ.

Nhìn thấy Brad vui vẻ, tôi cũng cảm thấy phấn chấn hơn. Brad là lính bắn tỉa của Delta ngồi trên chiếc Black Hawk 62. Cùng bay trên chiếc trực thăng đó là hai tay súng bắn tỉa khác của Delta, Gary Gordon và Randy Shughart. Họ bay phía trên chiếc trực thăng thứ hai bị bắn rơi và nhìn thấy Mike Durant đang di chuyển. Một đám đông người Somali khép dần vòng vây. Lúc này không còn ai bên cạnh, Mike đơn độc một mình. Ba tay súng bắn tỉa và các tay súng khác liên tục nhả đạn vào đám đông từ trên trực thăng.

Brad, Gordon và Shughart nhìn nhau và gật đầu. Gordon nói với viên phi công, “Hãy để ba chúng tôi đến hỗ trợ chiếc trực thăng Black Hawk 64”. Viên phi công gọi về Trung tâm chỉ huy “Ba lính bắn tỉa đề nghị được giúp chiếc 64”. “Không được. Có quá nhiều địch ở phía dưới. Không thể mạo hiểm được”. Khi một tay súng bên cửa máy bay bị trúng đạn, Brad cầm luôn khẩu súng máy. Mọi người đều cần khẩu súng lớn trong trận đánh để chế áp đối phương. Đám đông trên mặt đất tiến sát lại chỗ chiếc trực thăng bị rơi của Mike. Gordon thét lên: “Cho hai chúng tôi xuống.” Viên phi công lại gọi về Trung tâm chỉ huy “Hai lính bắn tỉa của Delta xin lệnh hỗ trợ chiếc máy bay bị rơi chừng nào lực lượng giải cứu tới.”

“Không được.” Gordon nhất định đòi xuống bằng được.Viên phi công hạ thấp độ cao máy bay. Brad dung súng máy bắn yểm trợ để Gordon và Shughart đu dây xuống. Trên mặt đất, hai tay súng bắn tỉa bình tĩnh đưa Mike và các thành viên phi hành đoàn khác đến vị trí an toàn hơn với vị trí bắn tốt hơn. Sau đó, Gordon và Shughart chiếm lĩnh vị trí phòng thủ ở phía đối diện với chiếc trực thăng bị bắn hạ, lạnh lùng bắn hạ từng tên địch một. Gordon sử dụng súng CAR-15, còn Shughart dùng khẩu M-14.

Đột nhiên, Gordon hét lên: “Tôi trúng đạn rồi”. Sau đó, tiếng súng của Gordon câm bặt. Shughart lấy khẩu CAR-15 của Gordon đưa cho Mike. Shughart tiếp tục chiến đấu. Khi súng của Shughart hết đạn, anh quay lại chỗ chiếc trực thăng bị bắn hạ và gọi điện về Trung tâm chỉ huy. Anh đi ra phía trước trực thăng và tấn công đám đông bằng khẩu súng lục, buộc đám đông phải lùi lại. Súng của Shughart hết đạn, đám đông phản kích, giết chết anh. Xác các tay súng Somali nằm rải rác trên đất quanh xác các lính bắn tỉa đã ngã xuống. Shughart và Gordon là những người đen đủi nhất trong số những người bị sát hại. Đám đông trả thù họ bằng cách kéo lê xác của họ trên đường phố và sau đó cắt thành nhiều khúc. Họ bắt sống Mike và giữ anh làm con tin với hy vọng dùng anh để trao đổi tù binh. Sau đó, Mike được trả tự do. Phần thưởng cao nhất trong quân đội là Huân chương được trao cho hai lính bắn tỉa của Delta: Gary Gordon và Randy Shughart.

Một hôm, Đại tướng Henry Hugh Shelton, Tư lệnh Bộ các chiến dịch đặc biệt của Mỹ, đến thăm tôi ở bệnh viện và tặng tôi huân chương Anh dũng bội tinh với Trái tim đỏ tía (Purple Heart) và Huy chương của Bộ tư lệnh các chiến dịch đặc biệt. Sự chân thành, chu đáo và những lời khích lệ của ông đã khích lệ tôi rất nhiều.

Ông hỏi: “Bệnh viện chăm sóc cậu tốt chứ?” “Vâng, thưa ngài.” Tướng Shelton hỏi tôi về tinh thần chiến đấu của các biệt kích Ranger trong trận đánh ở Mogadishu. “Họ chiến đấu dũng cảm, thưa ngài.” – Tôi trả lời.Nghĩ một lát rồi tôi hỏi: “Thưa ngài, chẳng lẽ chúng ta lại bỏ dở sứ mệnh của mình?” “Không, chúng tôi đưa xe tăng vào và hoàn thành nốt phần sứ mệnh còn lại.” Tôi tin những điều ông nói là sự thật nhưng Nhà Trắng đã không bao giờ cho phép điều đó xảy ra.

Tôi ở Trung tâm y tế vùng Landstuhl khoảng một tuần trước khi họ dùng máy bay chở tôi và những người khác đến Căn cứ Không quân Andrews ở Mary Land. Khi họ đưa tôi xuống máy bay, Laura và hai con của tôi ùa ra đón. Cậu con trai Blake 8 tuổi chạy đến bên tôi và choàng tay quanh ngực. Laura đang mang thai, trên tay cô là bé Rachel 3 tuổi. Ở độ tuổi này, Rachel còn quá nhỏ để hiểu được những điều đang xảy ra. Sau một đêm ở lại Mary land, tôi được đưa đến trụ sở của Đội ở Dam Neck. Tôi nói với họ rằng mình muốn vào Bệnh viện Lục quân Fort Stewart ở Georgia để phục hồi chức năng. Bệnh viện này cũng là nơi Blake cất tiếng khóc chào đời, cách nhà tôi khoảng 30 phút lái xe. Đội tặng tôi một chiếc xe lăn trọng lượng nhẹ, làm từ hợp chất composite, có giá tới hàng nghìn đô-la. Gia đình bốn người chúng tôi sống với bố mẹ vợ ở Odum, Georgia trong suốt thời gian phục hồi chức năng.

Khi nghe tin Delta sẽ tổ chức lễ truy điệu cho những binh lính tử trận, tôi cũng muốn đi dự. Quân đội điều một máy bay vận tải cỡ nhỏ C-12 đến đón tôi tại Sân bay Lục quân Hunter ở Savannah. Tôi bay đến buổi lễ truy điệu được tổ chức tại quân doanh của Delta ở Fort Bragg. Đón tôi tại sân bay là Tim Wilkinson và Scotty, PJ và Dan Schilling, CCT trong chiếc xe thể thao SUV. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi được gặp lại những người bạn cũ từng sát cánh bên nhau ở nhà chứa máy bay tại Somali. Mặc dù họ là lính không quân nhưng chúng tôi đã cùng chiến đấu bên nhau ở Mogadishu. Điều này làm tôi cảm thấy gần gũi với họ còn hơn cả những đồng đội trong Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Không quân trao huân chương Danh dự hạng nhì và Bội tinh chiến công cho Tim. Scotty được trao Ngôi Sao bạc, Huân chương danh dự hạng ba trong quân đội. Dan được nhận Ngôi Sao đồng, Huân chương danh dự hạng dưới của Ngôi Sao bạc.

Họ đẩy tôi qua một bức tường, ở đó có khắc tên của những đặc nhiệm Delta đã ngã xuống. Tôi thấy sáu đôi ủng dã chiến, sáu khẩu súng trường M-16 với các lưỡi lê giương lên, sáu lưỡi lê ở báng các khẩu súng trường này và các bức hình chân dung của các đặc nhiệm tử trận: Dan Busch, Earl Fillmore, Randy Shughart, Gary Gordon, Tim Griz Martin, và Matt Rierson.

Tôi nhớ Griz là người có một vết chàm lớn trên mặt. Griz là người vui nhộn, luôn nghĩ ra những trò đùa mới lạ và vui vẻ.Tại buổi Lễ truy điệu tổ chức ở trong phòng, Đức Cha dẫn dắt mọi người đọc kinh cầu nguyện cho những người đã ngã xuống. Những người vợ đầm đìa nước mắt. Nhìn vẻ mặt của cha mẹ Dan Busch thì biết ông bà hụt hẫng như thế nào. Dan là con một trong gia đình và mới chỉ 25 tuổi đời − một độ tuổi mà ít ai nghĩ đủ khả năng để được lựa chọn vào Delta.

Dan là một người rất ngoan đạo. Tôi chưa bao giờ nghe cậu ta báng bổ Chúa. Tôi nhớ có một ngày sau bữa ăn trưa, chúng tôi xoa dầu chống nắng và phơi nắng trên nóc của một tòa nhà bên ngoài nhà chứa máy bay ở Mogadishu. Trong khoảng thời gian rỗi ít ỏi này, tôi đã trò chuyện khá nhiều với Dan Busch.Một trung sĩ điểm danh lần cuối. Mọi người đều đáp “Có” khi được gọi đến tên, ngoại trừ sáu người đã ngã xuống. Đội tiêu binh bắn ba loạt đạn. Đội kèn thổi bài hành khúc trong lễ truy điệu.

Trong nghề nghiệp của mình, ngay từ khi chấp nhận công việc này, chúng tôi biết sẽ có những buổi như ngày hôm nay. Tuy nhiên, chứng kiến sự đau khổ của các bậc sinh thành, của những người vợ và những đứa con thơ, tôi thực sự đau lòng. Các chàng trai này đã ra đi, Dan đã ra đi. Sao tôi vẫn còn sống mà họ thì không? Dan Busch là người tốt hơn tôi, ngoan đạo hơn tôi. Tại sao anh lại chết còn tôi thì không? Tôi cảm thấy tội lỗi khi sống sót trở về. Kết thúc buổi lễ truy điệu, khi Scotty, Tim và tôi đang trò chuyện với nhau thì một đặc nhiệm Delta hỏi tôi là ai. Họ không nhận ra tôi trong bộ râu dài, rậm chưa cạo. Tôi quá yếu và chẳng còn hơi sức để cạo râu nữa. Scotty và Tim nói cho cậu ta tôi là ai.”Ôi, lạy Chúa”, cậu đặc nhiệm này đi đến chỗ các đặc nhiệm Delta khác và nói “Này Wasdin đang ở đây đấy!”Họ vây quanh tôi, đưa tôi đến phòng đợi của Phi đội Charlie và nhét vào tay tôi hai cốc bia. Chúng tôi trò chuyện với nhau và họ cười ầm lên khi nghe tôi kể chuyện bơm thuốc cho cậu biệt kích Ranger ở bệnh viện Landstuhl. Sau đó, Delta tổ chức một bữa tiệc nhưng tôi bị sốt và không còn sức lực để vui cùng với họ. Tôi về phòng khách sạn của mình trước. Chỉ có Bộ trưởng Quốc phòng Les Aspin tham dự lễ truy điệu. Phần lớn nội các trong chính quyền Clinton đều hy vọng trận đánh ở Mogadishu sớm đi vào dĩ vãng và muốn người dân Mỹ lãng quên trận đánh này. Sáng hôm sau, tôi trở về Georgia. Ngay khi về tới Georgia, tôi đến bệnh viện khám định kỳ. Tôi bị chứng tiêu chảy. Cơn sốt làm bệnh trầm trọng thêm. Toàn thân đau nhức. Tôi cảm thấy mất phương hướng. Tôi nghĩ chắc mình đang chết đây. Một nhóm nhân viên y tế đến bên, tiêm vào mông hai mũi và cho tôi truyền dịch. Họ tháo băng trên chân tôi ra và bắt đầu kiểm tra. Một bác sĩ hỏi tôi: “Cậu vừa đi đâu về? Chúng tôi liên lạc với gia đình cậu nhưng cậu không có ở nhà. Kết quả xét nghiệm máu cho thấy cậu bị nhiễm khuẩn cầu chùm.” Khuẩn cầu chùm đã bò vào người tôi qua những chiếc đinh ghim ở chân. Điều này phần nào giải thích tại sao tôi thấy không còn chút sức lực nào để có thể dự tiệc cùng Delta sau buổi lễ truy điệu.

Trên giường bệnh, tôi nhổm dậy, nhìn xuống phần chân và lẩm bẩm: Mình đang chết đây. Loại khuẩn cầu chùm này còn nguy hiểm hơn cả chiến tranh. Ngày hôm sau, bác sĩ tỏ ra bực bội với tôi và nói “Nếu đồng ý để tôi chăm sóc thì cậu phải cho chúng tôi liên lạc với cậu. Nếu không, cậu phải quay trở lại Virginia để các bác sĩ hải quân chăm sóc.” Ông ấy thực sự sợ hãi. Người bác sĩ đã rất ưu ái khi để tôi phục hồi chức năng ở bệnh viện của ông ấy, vậy mà tôi lại đem đến cho ông sự sợ hãi.

“Vâng, thưa bác sĩ.” Họ giữ tôi trong bệnh viện vài ngày cho đến khi tôi hồi phục.Ngồi ở nhà trên chiếc xe lăn, tôi mới thấy rõ mình đã phạm lỗi về lòng dũng cảm và cảm thấy có lỗi với bản thân. Tôi trượt sâu vào khủng hoảng. Thức dậy vào sáng hôm sau, tôi phải chăm sóc các đinh ghim bằng cách sát trùng những phần xung quanh bốn chiếc đinh thò ra phía ngoài chân. Nếu tôi không làm, các vi khuẩn có thể lại bò theo các đinh ghim vào xương tôi – lại gây ra nhiễm khuẩn cầu chùm như lần vừa rồi và suýt chút nữa lấy đi tính mạng của tôi. Sau đó, tôi băng bó vết thương lại. Quá trình này mất khoảng 40 đến 50 phút. Cứ hai ngày tôi lại lau rửa một lần. Tự lau rửa các đinh ghim khá vất vả. Tôi nhờ vợ và em vợ giúp nhưng họ chẳng có bụng dạ nào làm việc đó cho tôi. Trông vết thương thật kinh tởm với bốn đinh ghim thò ra phía ngoài chân. Phần da ở chỗ đinh ghim trông muốn buồn nôn và có thể nhìn thấy phần thịt bên trong.

Cả ngày tôi chỉ quanh quẩn trong các bức tường. Tôi không quen bị nhốt trong nhà và sự trầm cảm ngày càng đè nặng lên tôi. Tôi phải ra ngoài mới được. Theo đó, tôi quyết định tự làm những công việc bình thường và thường nhật. Nhưng thật không ngờ những việc đơn giản như đi chợ mua sắm hàng ngày lại làm tổn hại lòng tự trọng của tôi. Một ngày nọ, khi đang tự xoay xe trong lối đi ở Siêu thị Winn-Dixie ở Jesup, Georgia, tôi bắt đầu cảm nhận được sự thoải mái khi ra khỏi nhà, góp chút công sức nhỏ mọn cho gia đình.

Một người phụ nữ béo phì nhìn chằm chằm vào chân tôi. Mặt bà ta nhăn mặt lại như thể vừa ăn phải chanh chua. Tôi đã mang bên ngoài chân là chiếc quần len để che lấp phần cố định vết thương, nhưng các đinh ghim vẫn lộ ra ngoài. Bà ta nói: “Tại sao anh không ở nhà? Anh không thấy vết thương của anh làm người ta phát ớn thế nào à?

Tôi bị thương ở chân là để bảo vệ tổ quốc của bà − tổ quốc của chúng ta. Có thể đây là cách một người dân Mỹ bình thường nhìn tôi. Có phải họ muốn nhìn thấy chúng tôi chết vì họ nhưng lại không muốn nhìn thấy chúng tôi bị thương như thế này? Tôi cảm thấy buồn cho bản thân vì bà ta không biết tôi là ai và vì sao tôi bị thương. Câu nói này đã xúc phạm tôi và lúc đó tôi muốn đáp trả nhưng lại không thể. Những lời lẽ xúc phạm càng làm tôi chìm sâu vào trầm cảm. Ở nhà, tôi lăn xe quanh nhà, ăn uống và xem ti vi để giết thời gian. Tôi không thể tắm vì không được phép để các đinh ghim bị ướt. Tôi phải gội đầu bằng chậu và chỉ lau người bằng khăn tắm.Tôi tiếp tục đến bệnh viện Fort Stewart để phục hồi chức năng. Họ sử dụng phương pháp bồn xoay nước nóng chữa chân trái của tôi. Phương pháp này làm bong phần thịt chết ra ngoài. Nó làm tôi đau muốn chết, như thể bị trúng đạn lần nữa vậy. Họ đưa cho tôi đôi nạng. Họ đỡ dậy và đặt tay tôi vào thanh nạng. Vết thương dày vò làm tôi không nén được sự đau đớn, nước mắt cứ tràn ra. Tôi đã không vận động trong một thời gian khá dài. Sau đó, họ phẫu thuật cho tôi. Họ còn tiến hành phẫu thuật thêm ba lần nữa.

Đồng hồ sinh học của tôi không kịp điều chỉnh vì tôi liên tục di chuyển, ban đầu là ở châu Phi, rồi sang Đức và bây giờ là Mỹ. Thời gian rảnh nhiều nên tôi hay ngủ vặt ban ngày và điều này làm tôi khó ngủ vào ban đêm. Đau xương quả là vấn đề. Chừng nào những chiếc đinh còn trong chân, tôi vẫn còn đau. Thật dễ hiểu tại sao mọi người hay sử dụng thuốc giảm đau để cắt cơn đau. Nhưng tôi không đếm xỉa đến những loại thuốc này bởi nó chỉ làm người tôi tê dại đi mà thôi. Ở một mức độ nào đó, tôi muốn được nhấm nháp sự đau đớn, tội lỗi vì trong khi tôi sống sót thì rất nhiều đồng đội tốt của tôi, đặc biệt là Dan Busch đã ngã xuống. Tôi nghĩ có lẽ tôi thật kỳ cục khi gặm nhấm nỗi đau theo kiểu này.

Không còn ở quân doanh Đội đặc nhiệm SEAL số 6 và không còn đồng đội nào bên cạnh, tôi mắc triệu chứng khép mình lại do bị tách rời khỏi đồng đội. Tôi cũng vấp phải cú sốc về văn hóa. Mọi người trong khu phố có thể nói chuyện với tôi về cuộc sống của họ nhưng tôi lại không thể kể cuộc đời tôi cho họ nghe. Tôi không thể kể cho họ nghe về những tuần tập luyện vất vả, cũng không thể làm họ cười bằng chuyện tôi tiêm thuốc cho cậu biệt kích khi ở chung trong bệnh viện tại Đức. Mọi người xung quanh chẳng thể hiểu nổi. Tôi bắt đầu học cách im lặng trong các câu chuyện phiếm. Giờ đây tôi mới hiểu mình khác lạ với người xung quanh biết chừng nào. Không có đồng đội bên cạnh, tôi cảm giác mình bị lãng quên. Không còn các sứ mệnh phải thực thi, tôi mất đi cảm giác về chất hoóc-môn ở tuyến thượng thận tiết ra. Bây giờ, tôi thậm chí còn không đi lại được. Theo văn hóa của SEAL, tôi là kẻ bại trận đáng xấu hổ. Tôi ghét thế giới này nói chung và ghét Chúa nói riêng. Tại sao điều này lại xảy ra với tôi?

Sau này ngồi ngẫm lại, tôi ngộ ra rằng hẳn Chúa muốn tôi hiểu, tôi chỉ là một người bình thường và rằng lính đặc nhiệm cũng chỉ là một nghề không hơn không kém. Howard, con quá cứng đầu mà không chịu nghe Ta sau khi con bị trúng đạn lần đầu. Con cũng không nghe Ta sau lần thứ hai bị trúng đạn. Nào lại đây, cậu bé, hãy để Ta cho con gánh chịu nỗi đau lần thứ ba. Bây giờ con đã hiểu chưa? Con không phải siêu nhân. Con chỉ là người Chúa phái đi thực hiện các sứ mệnh đặc biệt chừng nào còn đủ sức. Con ở đâu đều do Ta quyết định, chứ không phải do con. Đây chính là điều Ta muốn con nhớ lấy. Bây giờ, con đã hiểu, hãy để Ta tạo tác thêm cho con. Con vẫn chưa phải là sản phẩm hoàn chỉnh. Chúa đã làm cho tôi biết khiêm nhường và đưa tôi trở lại với thế giới thực, làm cho tôi trở thành người cha của những đứa con theo đúng nghĩa. Ở thời điểm đó, chẳng ai khuyên tôi những điều như thế cả nhưng nhìn lại, bị thương ở chân chính là món quà quý báu nhất đối với tôi.

Một ngày nọ, anh bạn thân của tôi gọi điện đến. Ở nông trại của anh, có một giống hươu lai đặc biệt được anh lai tạo từ loài hươu đuôi trắng Mỹ. Anh ta bảo tôi: “Hãy đến chỗ tôi và chúng ta cùng săn bắn một chút.” “Được! Được! Hãy đến đây và đưa tôi ra khỏi căn phòng chán ngắt này!” Anh đi xe bán tải đến đón rồi đưa tôi đến nông trang. Anh đặt chiếc xe lăn của tôi xuống đất. Anh đẩy tôi đi khoảng 30 m qua các bụi cây nhỏ, rồi anh dừng lại. Anh chỉ tay về một chấm nhỏ cách chừng150m và nói “Con hươu thường hay xuất hiện chỗ đó.” Súng săn của tôi là khẩu Magnum cỡ nòng 7 li có kính ngắm chuẩn. Lòng tôi tràn ngập hạnh phúc. Tôi ngồi đó đợi khoảng một tiếng rưỡi. Một con hươu đực xuất hiện. Ngồi trên xe lăn, tôi tì báng khẩu súng săn lên vai, bóp cò và con hươu gục ngã. Một cú bắn hoàn hảo. Sau khi đặt khẩu súng xuống đất, tôi đẩy xe đến chỗ con vật. Phải mất một lúc khá lâu tôi mới tới được chỗ con hươu bị trúng đạn. Tôi dừng xe bên cạnh con hươu. Đó là con hươu đực rất đẹp. Nó ngước mắt nhìn tôi, khịt khịt mũi, rồi ngả đầu ra phía sau. Nó hộc lên lần cuối. Chứng kiến con hươu chết, tôi đâm ra nghĩ ngợi. Tao muốn ra ngoài và nhìn mày chứ không muốn lấy đi mạng sống của mày. Tao đã chứng kiến quá nhiều cảnh chết chóc rồi. Tôi nhấc con hươu lên và cắt đầu nó treo vào xe lăn. Ở miền Nam Georgia, săn bắn là thú tiêu khiển được nhiều người ưa thích. Các chàng trai xuất phát từ lúc tảng sáng và ngồi nấp sau các cây đợi con mồi xuất hiện. Tôi luôn sẵn sàng giết người để cứu bản thân hoặc một người nào đó − sẵn sàng giết người khi thực thi nhiệm vụ − nhưng từ đó tôi không bao giờ đi săn bắn nữa.

Những người đến bệnh viện để phục hồi chức năng cư xử với tôi như một người nổi tiếng. Vào thời điểm đó, tôi là người duy nhất trong bệnh viện bị thương khi tham chiến. Cứ mỗi lần tôi đến bệnh viện, năm hoặc sáu người lại chạy đến bắt chuyện với tôi. Sau sáu hay bảy tuần gì đó, cháu gái tôi kiếm cho tôi một thiết bị bịt vết thương bảo đảm nước không thấm vào. Nhờ thiết bị này, tôi đã có thể tắm được. Tôi đứng một chân trong bồn tắm và xoa dầu gội lên tóc. Tôi cảm thấy đây là món quà quý báu nhất tôi từng nhận được.

Đầu tháng Mười hai, sau hai tháng dài nhất trong cuộc đời mình, khu phố của tôi Screven, Georgia tổ chức lễ chào đón tôi − anh hùng của thành phố − bằng việc tổ chức tuần hành trong dịp Giáng sinh. Băng rôn, khẩu hiệu treo khắp mọi nơi. Một tấm bích chương lớn được treo trước khách sạn với hàng chữ: Chào mừng Howard trở về, người hùng của phố. Phía dưới là chữ ký của mọi người trong thành phố. Gần như tất cả 900 người trong khu phố đều ký tên vào tấm bích chương này. Mọi người từ Hạt Wayne đổ ra đường phố thành những hàng dài để nhìn mặt tôi và chúc tôi mau lành bệnh. Họ không hay biết những nỗi đau thể chất, tinh thần, sự mất mát, sự khủng hoảng đã tra tấn tôi như thế nào trước khi họ vinh danh tôi như hôm nay. Họ không thể hiểu hết những hành động này có ý nghĩa như thế nào đối với tôi. Giờ tôi không còn cảm giác là kẻ bại trận nữa. Mike Durant, cơ trưởng của chiếc Black Hawk số hiệu 64, chiếc trực thăng thứ hai bị bắn hạ trong trận đánh ở Mogadishu, bị gãy cả chân và lưng. Abdullahi “Firimbi” Hassan, Bộ trưởng Tuyên truyền của Aidid, giữ anh làm tù binh khoảng 11 ngày. Sau đó, Mike và một tù binh của Nigeria được những tên bắt cóc đưa đến Trụ sở Liên Hợp Quốc tại Somali. Một trong số những tên bắt cóc Durant đã kéo từ cổ ra chiếc thẻ an ninh, do Liên Hợp Quốc cấp cho hắn, đưa cho đưa cho lính canh. Họ ra hiệu cho hắn vào. Lực lượng canh gác ở trạm kiểm soát lúc đó không nhận ra Mike đang ngồi trong xe. Không ai biết điều này chỉ khi Mike đã được đưa đến đường băng. Những kẻ bắt cóc giao anh cho Tổ chức Chữ thập đỏ. Liên Hợp Quốc đã chứng minh với kẻ địch rằng họ là những người đáng tin cậy, nhưng tôi luôn cảm nhận Liên Hợp Quốc không chứng minh cho chúng tôi thấy mình có thể tin cậy họ. Bạn chỉ nên tin cậy những người cùng huấn luyện và chiến đấu với bạn. Tôi đã từng huấn luyện với các đơn vị chống khủng bố người nước ngoài và tôi tin tưởng họ. Sự vồn vã của lực lượng canh gác ở trạm kiểm soát của Liên Hợp Quốc dành cho tên bắt cóc Durant và kẻ bắt cóc Durant có thẻ an ninh do Liên Hợp Quốc cấp đã xác nhận sự mất niềm tin của tôi đối với Liên Hợp Quốc là đúng.

Mike Durant và tôi gặp nhau tại Căn cứ Không quân Fairchild ở Spokane, Washington. Đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp lại nhau kể từ khi rời Somali. Chúng tôi đến đây để tham gia khóa học về cách tự tồn tại, lẩn trốn, chịu đựng và tẩu thoát. Mặc dù khóa học này giống với khóa học tại Căn cứ Không quân của Hải quân ở Brunswick, Maine với kịch bản bị kẻ địch săn tìm, rồi bị bắt giam và tra tấn nhưng khóa học này được tổ chức trong một căn phòng chỉ có từ 10 – 20 học sinh và chủ yếu tập trung vào khía cạnh tâm lý khi bị giam giữ. Với những trải nghiệm ở Mogadishu, Mike và tôi nhanh chóng trở thành diễn giả của lớp học đặc biệt này. Các giảng viên mời chúng tôi nói về những trải nghiệm và trả lời tất cả câu hỏi của học viên và giảng viên.

Lực lượng Hải quân đưa Casanova, Gã Mập lùn, Sourpuss, Đại úy Olson và tôi đến Lầu Năm Góc để trao Huân chương Ngôi Sao bạc cho chúng tôi. Tại Mogadishu, Đại úy Olson rời Trung tâm chỉ huy để tham gia chiến dịch giải cứu các binh sĩ. Buổi lễ trao giải thưởng được quay video. Người ta đã đọc to bản Tuyên dương chiến công của tôi giữa khán phòng: Tổng thống Hoa Kỳ vinh dự tặng Huân chương Ngôi Sao bạc cho Howard E. Wasdin, thuộc lực lượng Hải quân Hoa Kỳ vì đã có chiến tích sau: Chiến đấu dũng cảm và gan dạ trong chiến dịch UNOSOM II ở Mogadishu, Somali vào ngày 3 và 4 tháng Mười năm 1993. Hạ sĩ Wasdin là thành viên của nhóm bảo đảm an ninh đã hỗ trợ lực lượng xung kích khi lực lượng này đột kích vào căn cứ địa của kẻ địch và đã thành công trong việc bắt sống hai nhân vật chủ chốt trong hàng ngũ địch cùng hai mươi tên khác. Khi bị quân địch phục kích tứ phía, Hạ sĩ Wasdin đã chiếm lĩnh vị trí bắn và kiên cường bắn trả quân địch. Khi cùng đồng đội tấn công kẻ địch, anh bị thương vào bắp chân. Sau khi được sơ cứu, anh đã tiếp tục nhiệm vụ và tiếp tục tiêu diệt địch. Khi đoàn xe của anh ra khỏi vùng chết cùng với các tù binh trên xe thì anh thấy đồng đội vẫn đang bị tấn công. Hạ sĩ Wasdin cùng với đội bảo đảm an ninh dừng xe lại và bắn trả địch, giải cứu cho lực lượng đánh chặn Ranger. Mặc dù bị thương hai lần, anh vẫn tiếp tục tham gia chiến đấu và đẩy lùi kẻ địch. Sau đó, trong khi đang bắn trả kẻ địch với nỗ lực giải cứu những người bị nạn ở vùng máy bay rơi, Hạ sĩ Wasdin bị thương lần thứ ba. Tinh thần gan dạ của anh đã tiếp sức cho đồng đội cũng như toàn bộ đội hình. Với những hành động nhanh trí, quả cảm và sự tận tâm với nhiệm vụ được giao, Hạ sĩ Wasdin đã là tấm gương sáng, phát huy được truyền thống hào hùng của Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ. Bản tuyên dương chiến công này có chữ ký của tân Bộ trưởng Hải quân John Dalton. Casanova và tôi bước vào phòng làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng và bắt tay ông. Vô cùng phấn khích, Casanova cho biết “Bộ trưởng là người có bàn tay mềm mịn nhất anh ta từng biết.” Sau đó, tôi còn bị khiển trách vì đã không tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, tự ý cứu chữa cậu bé Somali dẫm phải mìn bộ binh. Nhưng đối với tôi, đó là việc làm thành công và có ý nghĩa nhất khi ở Somali.

Casanova và tôi ngồi nhai thuốc sợi Copenhagen trong phòng đợi của Đội Anh cả Đỏ. Đó là một căn phòng lớn, rất hài hòa về màu sắc. Casanova và tôi ngồi bên một cái bàn. Gã Mập lùn đến, cầm trên tay là chiếc phong bì của Công ty sản xuất dao Randall. Gã mập đã gửi con dao của gã cho công ty, kể câu chuyện của gã cho công ty biết và muốn quảng cáo cho công ty qua câu chuyện “Lính bắn tỉa của Đội đặc nhiệm SEAL thoát chết nhờ con dao Randall”. Casanova hỏi “Họ trả anh bao nhiêu tiền?”

Gã Mập lùn mở bức thư ra và đọc “Cám ơn anh đã chia sẻ câu chuyện của mình với chúng tôi. Chúng tôi sẽ giảm giá 10% nếu anh mua con dao khác.” Gã mập tức giận chửi thề “Bọn chó chết này.”Cả Cassanova và tôi cười ngặt cười nghẽo khi nghe nội dung bức thư. Suýt chút nữa tôi đã nuốt miếng thuốc đang nhai vào bụng. Tôi hồi phục rất nhanh và trở lại đội. Lần đầu tiên tôi gặp Trung tá Chỉ huy trưởng Buttwipe là khi ông ta tiếp nhận chức Chỉ huy trưởng Đội Anh cả Đỏ. Buttwipe chuộng thành tích hơn là kết quả công việc. Do vậy, ông ta đã làm rối tung tổ chức lên. Một số người đã chuyển công tác khỏi Đội Anh cả Đỏ để sang Đội Anh hai Vàng và Đội Anh ba Xanh. Ông ta có điệu cười rất gian trá, đặc biệt khi có mặt Chỉ huy cấp trên. Khi cười với chúng tôi, tôi luôn có cảm tưởng ông ta đang nghĩ về một điều gì đó. Là người gốc Nhật Bản nên ông ta có vóc người thấp lùn và luôn để tóc ngắn, phần trước trán cắt bằng.

Có thể Buttwipe cũng ý thức được bản thân không có thực tài. Mặc dù ông bơi và chạy rất giỏi nhưng khả năng bắn súng thì lúc nào cũng đứng cuối bảng và thiếu tính quyết đoán. Có thể ông ta ghen tị với tôi vì chưa từng được tham chiến trực tiếp hay không được nhận Huân chương Ngôi Sao Bạc. Ngoài ra, bằng cách nào đó Buttwipe phát hiện ra rằng lực lượng Delta muốn có tôi. Các tay súng bắn tỉa ở bệnh viện tại Đức động viên tôi gia nhập lực lượng Delta với họ. Một Đại tá của Delta đã nói với tôi tại bệnh viện ở Căn cứ Không quân Andrew là muốn tôi chuyển sang phục vụ cho Delta. Giờ đây, ngồi ngẫm lại, tôi hiểu rằng Delta đã hiểu và tôn trọng tôi hơn. Về phần mình, tôi cảm thấy thân tình hơn với những người từng sát cánh chiến đấu bên nhau. Sợi dây tình cảm của tôi với Cassanova, Gã Mập lùn, các đặc nhiệm Delta, lực lượng CCT và PJ nồng ấm hơn so với các đồng đội khác của tôi ở SEAL.

Buttwipe nói với tôi “Tôi sẽ ủng hộ cậu nếu cậu ở lại SEAL nhưng nếu cậu nhất quyết rời bỏ SEAL, tôi sẽ là cơn ác mộng của cậu.” Những hành động của Buttwipe thôi thúc tôi chuyển sang lực lượng đặc nhiệm Delta. Tuy nhiên, trong lời nói của mình, ông ta lại không muốn tôi đi. Ông ta chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả. Cuối cùng, tôi vẫn quyết định ở lại SEAL vì tôi được huấn luyện, đào tạo để trở thành một đặc nhiệm SEAL. Tôi vẫn muốn tiếp tục là một đặc nhiệm của SEAL. Đó là lựa chọn đúng đắn của tôi.

Trên thực tế, Buttwipe chẳng những không ủng hộ tôi mà còn gây khó dễ cho tôi. Ông đã lôi chuyện tôi đến dự lễ truy điệu các binh lính Delta tử trận trong trang phục dân sự, râu ria không cạo để quở trách tôi. Tôi thực sự không hiểu cách lập luận của ông ta là như thế nào nữa – Tôi đã suýt mất mạng vì nhiễm khuẩn cầu chùm trong quá trình bay đến dự lễ truy điệu. Việc phải chống chọi lại cái chết đã lấy đi gần hết sức lực của tôi. Khi đó, cạo râu là một hành động quá xa xỉ đối với tôi. Tôi xem thường sự yếu kém về năng lực của ông ta. Buttwipe nên làm một chính trị gia hơn là một nhà điều hành. Giờ đây, chỉ cần nghĩ về ông ta là tôi đã muốn ném một cục đá vào mặt ông ta rồi. Laura và tôi ly dị. Đứa bé trong bụng Laura không phải là của tôi, thậm chí không cùng chủng tộc với tôi. Chuyện này xảy ra khi tôi đi công tác xa nhà. Chuyện này tôi không muốn đề cập đến nhiều. Bản thân tôi cũng từng không chung thủy. Rachel và Blake chuyển đến sống với mẹ vì tôi không thể chăm sóc chúng khi phải đi nhiều. Trước đây, tôi đã không dành nhiều thời gian cho Rachel, giờ tôi càng ít ở bên cạnh nó hơn. Laura để cho con bé làm tất cả những gì nó thích nhưng tôi thì không. Khi Rachel đã đủ khôn lớn để đưa ra lựa chọn của mình, con bé chọn sống chung với mẹ. Sau này, khi Rachel vào học cấp ba, mẹ con bé đã để nó đi chơi với bạn trai – điều này tôi không bao giờ cho phép. Quan hệ của tôi với con bé ngày càng xấu đi. Mặc dù, với Blake, tôi còn nghiêm khắc hơn cả với Rachel, ấy vậy mà Blake vẫn chọn sống với tôi khi cậu bé bước sang tuổi 13. Mặc dù tôi biết phải luôn đặt gia đình lên trên công việc nhưng tôi lại hy sinh gia đình, đặt mối quan hệ của đơn vị lên trên hết.

Tôi đã hy sinh tất cả cho đội nhưng vẫn không lấy lại được phong độ trước đây của mình. Suy nghĩ của tôi ngày càng tiêu cực hơn. Một ngày, tôi cầm khẩu súng lục SIG SAUER P-226 trên tay. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi tự sát bằng khẩu súng này? Có những điều còn tồi tệ hơn cả cái chết. Cái chết đâu giải quyết được tất cả.

Blake đến thăm tôi và cất tiếng gọi: “Bố ơi!”. Tiếng gọi đó đã làm tôi thức tỉnh. Kết liễu cuộc đời là hành động ích kỷ. Nếu tôi không còn mục đích gì để sống thì ít nhất tôi vẫn còn có con cái. Từ đó, những ý nghĩ đen tối không còn đọng lại trong tâm trí tôi nữa. Chuyện này giống như việc ban đầu tôi tưởng mình sẽ không giữ được chân nhưng cuối cùng vẫn giữ được nó. Tôi đi được bằng nạng, đi không cần vật trợ giúp và bắt đầu tập bơi trước khi được yêu cầu làm những việc đó. Mọi người nghĩ rằng tôi sẽ đi tập tễnh nhưng lại không phải như vậy. Nhiều người nghĩ tôi sẽ chẳng thể chạy được nữa nhưng tôi đã chạy được. Sau khi trở lại đội, tôi tập thể hình và thể lực đều đặn vào mỗi sáng với đồng đội. Không phải lúc nào tôi cũng theo kịp mọi người nhưng vẫn kiên trì tập luyện.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chì Bình

Post by Sơn râu 30 Sep 2023

Tìm Được Cố Vật…Không Gặp Cố Nhân!

Đặng Chí Bình

Bài 11

Chiều hôm đó, vào khoảng sau giờ tan tầm được một lúc, cửa “cát xô” lại mở. Tên Đại vào mở cửa chuồng tôi, ra hiệu bảo tôi chui ra ngoài. Khi thấy tôi chui ra khỏi chuồng, y đứng chụm hai chân lại, người thẳng dưỡn lên, nét mặt ra vẻ hết sức nghiêm trang:

– Thừa lệnh Ban Giám Thị, tôi tuyên bố anh được tha ở “cát xô”, trở về xà lim, cùm một chân!

Nhìn y đứng cứng ngắc, hai mắt nhìn thẳng lên cửa hầm “cát xô”, hai môi mím chặt, trông cả đẫn một cục to tướng, nhưng tôi cũng không cười được. Bởi vì, tiếng sáo “Cầu Sông Kwai” đang trỗi dậy trong lòng tôi như chào mừng dứt điểm “cát xô”, trở về hay trở lên trần thế với xã hội loài người.

Sau khi tuyên bố xong, y ra hiệu tay cho tôi bò lên cửa “cát xô”. Dù trong lòng, điệu sáo mê hồn vẫn lả lơi, nhảy múa; nhưng tôi vẫn chưa đi được. Hai bàn chân vẫn nặng chịch, nhức buốt. Chắc rằng Ban Giám Thị cũng hiểu như vậy, nên chúng đợi cho tới khi trại chung vào hết rồi, mới mở “cát xô” cho tôi bò ra. Hai đầu gối chỉ là hai cục xương, nghiến xuống đá và xi măng đau quá! Tôi cố bò lên khỏi lỗ hầm, rồi nằm vật ra, không bò được nữa. Hai đầu gối đã rướm máu.

Tên Đại cũng nhìn thấy vậy, y lúng túng không biết phải giải quyết thế nào. Giữa lúc đó, tên Trì, Phó Giám Thị, cùng một tên cán bộ nữa đang từ cổng trại chung đi vào. Y đến bên cạnh tôi, nhìn tôi đang nằm ngửa thở, y liếc đôi chân tôi một lúc, rồi quay sang nói với tên Đại như ra lệnh:

– Đồng chí xuống trại thợ, gọi một tên thằng lên cõng nó về xà lim!

Tên Đại hấp tấp đi ngay! Tên Trì cứ nhìn đôi bàn chân của tôi, đầu y gật gật. Rồi nhìn tôi, môi trên y nhếch cong lên, để lộ mấy cái răng hô đầy cáu ghét ra ngoài:

– Anh chịu đựng tốt hỉ?

Tôi im lặng như không nghe y nói gì. Trong khi ấy, tên Đại và một anh tù từ phía nhà bếp đi lên. Khi tới cạnh tôi, tên Đại nói với anh tù như quát, tay chỉ về phía cuối sân:

– Cõng tên này về phía kia!

Anh tù, chắc là hình sự, chừng 30 tuổi, mập, lùn, da bánh mật, mặc chiếc quần đùi nâu đã vá hai miếng ở mông, với chiếc áo trại nhiều vết dầu mỡ đen xì. Anh cố ý nương nhẹ, đỡ hai tay cho tôi ngồi dậy, rồi nâng tôi đứng lên, nghiêng vai nói nhẹ, giọng miền Nam đã pha Bắc:

– Anh ôm cổ tôi!

Anh cõng tôi đi trước, tên Đại cầm chùm chìa khóa lẻng kẻng theo sau.

Kể từ ngày tôi vào “cát xô” tới hôm nay, là 47 ngày; nhưng nếu kể cả những ngày nằm ở bệnh xá, thì gần hai tháng. Mới chỉ hai tháng, không khí cũng như quang cảnh sân trại chung đã thay đổi, khác lạ hẳn xưa. Rải rác chung quanh cái sân trại rộng lớn là những lỗ “tăng xê” cá nhân, màu đất mới vàng au, từng đống đây đó. Bốn chiếc loa to ở cái chòi giữa sân Hỏa Lò, đang lải nhải chửi Mỹ khiêu chiến, tạo nên vụ Vịnh Bắc Bộ với chiếc tàu Maddox. Những bài nói chuyện, cũng như những thông cáo của những tên lãnh đạo miền Bắc khích lệ, cổ vũ, hô hào quân cũng như dân miền Bắc chuẩn bị chiến tranh. Nào là…..các quân binh chủng tăng cường luyện tập, bố trí công sự, hầm hố, chuẩn bị nhiều phương án tác chiến. Đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống, v.v…Nào là, động viên người và của, chuẩn bị cho chiến tranh lớn… Nào là, ra lệnh và hô hào quần chúng, nhân dân Hà Nội, các trường học, bệnh viện, mọi cơ sở sản xuất không cần thiết cho chiến đấu đều phải di tản, sơ tán khỏi Hà Nội, v.v…

Lúc này máy bay Mỹ đã bắn phá thị xã Đồng Hới và Hòn Gay. Không khí sôi nổi và căng thẳng của chiến tranh, tràn ứ khung trời Hà Nội. Khi anh tù hình sự cõng tôi đến cổng xà lim I, tên Đại đẩy cánh cổng, ra hiệu cho anh tù cõng tôi vào.

Trời! Sân xà lim đầy những lá bàng, và bao nhiêu là quả! Tôi ngước nhìn lên cành bàng, cả cây bàng trĩu trái xanh, vàng, hồng lẫn trong màu lá xanh. Từng chiếc lá úa vàng, lốm đốm những chấm hồng, đỏ lả lơi rời cành đang dẫy dọn quay cuồng trong gió để trở về cội. Thỉnh thoảng, những tiếng lộp độp đây đó của những quả bàng, đã chín vàng cũng rùng mình lìa cành lao về với đất. Tất cả tạo thành một bức tranh đầy mầu sắc của trời Thu.

Ngay trên chạng ba của cây bàng, một chiếc loa mới gắn chỉa thẳng vào xà lim. Từ nay, tôi lại điếc tai với “con mụ lắm mồm”, loại chửi thuê ở bến xe, xó chợ.

Khi qua sân, trong lúc chờ tên Đại loay hoay mở ngăn kéo, lấy chùm chìa khóa của các buồng xà lim, anh tù hình sự lựa, khẽ để tôi ngồi ghệ trên hè, dựa vào tường. Tôi đưa mắt quan sát những quả bàng gần sát chân mình. Có những quả vàng ươm, chín rẽ chân chim. Một mùi thơm ngây ngất, ngon ngọt, theo từng cơn gió đẩy đầy ắp vào mũi tôi, mở toang bao nhiêu cửa tuyến, để cho nước miếng tàn đầy mồm. Mũi tôi đang cong lên để đón nhận những làn hương trong gió, đột nhiên, anh hình sự ghé vào tai tôi thì thào:

– Chúng tôi ở trại thợ, hoan nghênh anh lắm!

Tôi chỉ kịp quay lại mỉm cười và tươi ánh mắt nhìn anh nói với anh lòng thiện cảm của tôi, vì tên Đại đã đứng lên, ra hiệu cho anh tù hình sự cõng tôi vào buồng.

Thật là lạ lùng, thấy nó đưa vào gần tới buồng 6, tôi tưởng nó phải cho tôi về buồng cũ, trong đó vẫn còn một số đồ lặt vặt của tôi; nhưng lại là buồng 5, ngay buồng bên cạnh.

Khi anh hình sự cõng tôi lách vào cửa, đặt tôi lên sàn xi măng ở một bên, tên Đại cũng vào buồng ra hiệu cho anh hình sự ra ngoài. Tôi liền báo cáo ngay:

– Thưa ông, trước khi phải vào “cát sô”, tôi có chiếc chiếu và một bộ quần áo trại cũ, vỏ ba lô, cùng một số thứ lặt vặt còn để ở buồng số 6. Đề nghị ông, cho tôi xin lại, lấy cái dùng!

Y nhìn tôi, ngần ngừ một lúc, rồi sang bên buồng số 6 mở cửa. Y sai anh hình sự ôm hết các thứ của tôi sang.

Trông thấy những món đồ cũ, thật tôi thấy nở từng khúc ruột, vừa là những đồ kỷ niệm với bao nhiêu công trình, lại vừa còn cái chì mật nữa. Trong khi tôi mừng rỡ, lúi húi vơ gọn những đồ anh hình sự mang sang, tên Đại ra rút chốt cùm. Tôi tự hiểu, nên lê dần xuống phía cái cùm, nâng miếng sắt nửa trên của cái cùm cho há ra, rồi tôi phải dùng tay nâng chân để vào. Vì chân bị phù, nên lỗ cùm vừa khít, thật là chặt. Tôi rất lo lắng! Bề ngang của cái cùm rộng 8 phân là sắt, áp sát vào ống chân. Ở xà lim đã có nhiều người bị thối chân, chỉ vì chân to, cùm chặt. Thối chân ở trong này, làm gì có thuốc chữa, tất nhiên chân ấy phải hỏng, vì sẽ trở thành sâu Quảng.

Sau khi tên Đại đã khóa cửa đi rồi, tôi cố gắng vặn, xê dịch cái cổ chân. Quá chặt! Không còn cách nào khác. Chỉ còn mong sao tập tành thế nào cho chân rút phù, mới lỏng ra được. Tôi dõi mắt nhìn sang cái cùm phía sàn bên kia, với ước lượng của mắt, tôi thấy hai lổ cùm bên ấy hình như có nhỉnh hơn. Ngày mai, tôi sẽ lựa lời báo cáo với tên Chiến trực xà lim, xin cùm bên ấy.

Lại còn tên Chiến nữa. Không biết sự việc xảy ra do tôi, bây giờ nó có căm hận, ghét tôi không? Điều này, phải đợi sáng mai mới biết.

Tôi chợt nhớ anh Căn buồng 12, đối diện với buồng 5 của tôi hiện giờ; rồi hai cô gái buồng số 9 nữa. Chắc rằng họ chẳng biết gì về tôi. Họ chỉ biết tự nhiên tôi đi mất. Có thể, họ cho là tôi đã được ra trại chung, hoặc đi trại trung ương rồi, chứ làm sao họ hiểu được là, vừa qua tôi đã làm một cú động trời, và đến nay, gần chết lại trở về đây?

Tôi nằm chờ 2, 3 tiếng đồng hồ, xà lim vẫn yên ắng khác thường. Tôi cảm thấy như đổi thay hết, sau gần hai tháng tôi rời xa.

Tôi cứ nằm miên man suy nghĩ, trong khi tiếng loa, bây giờ, nghe rõ mồn một. Chợt, tôi nghe chúng đề cập tới “câu chuyện cảnh giác”:…..chúng nhắc đến việc Biệt Hải miền Nam đã bí mật đột kích hòn Mê….. rồi, chúng nói đến “kế hoạch 34A” của miền Nam, cho Người Nhái lợi dụng những đêm tối trời, hoặc mưa gió bất ngờ đổ bộ lên những vùng ven biển. Bắt dân, hoặc cán bộ mang ra xuồng cao su rồi chạy ra tàu ở ngoài khơi, chở về Nam để khai thác tin tức tình báo.

Điều tôi muốn nói ở đây, “kế hoạch 34A” phải là một kế hoạch bí mật. Vậy sao trên đài, trên báo của Cộng Sản, chúng đã nói một cách công khai? Như vậy, ta thấy tình báo của Cộng Sản, đã phải biết kế hoạch này, ngay từ lúc chưa được thi hành.

9 giờ tối, tiếng loa đã tắt, xà lim yên ắng. Thỉnh thoảng một vài tiếng lộp bộp của những quả bàng rơi xuống sân, nghe như tiếng đập nia, xảy thóc ngày mùa. Tôi ho mấy tiếng như gọi, như chào, nhưng vắng lặng vẫn hoàn toàn vắng lặng. Quái thật! Mới 2 tháng, cảnh cũ còn đây mà người xưa đâu ta? Thấp thỏm, băn khoăn mãi, rồi cũng phải chìm dần vào giấc ngủ muộn…

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn Sơn râu 30 Sep 2023

Những Tấm Lòng …..Tù!

Đặng Chí Bình

Bài 10

Vì hàng ngày đôi chân thường không cử động được, cứ phải nằm yên một chỗ, ba tuần lễ nay, không lần nào tôi đứng lên được ngay, mỗi lần khi được mở cùm để ra đổ bô và tắm rửa. Tôi thường phải vịn tay vào tường đá, đứng lên ngồi xuống vài lần, rồi mới đứng lên và đi được. Cho nên, nếu không muốn trở thành một phế nhân, để càng phải chịu thêm nhiều cay đắng nữa của cuộc đời, tôi không còn cách nào khác là phải phấn đấu đến phút cuối cùng, dù ngày mai có phải chết.

Mỗi ngày ba lần, tôi dùng tay xoa nắn, chà sát, đấm bóp hai chân. Chân không tự cử động được thì phải dùng tay giúp vậy; nhưng cũng rất khó khăn, hạn chế, vì cố gắng lắm, hai tay cũng chỉ với tới quá đầu gối một chút mà thôi. Vì thế, ngày cũng như đêm, từ đầu gối trở xuống, nếu ngứa, tôi đã kiếm được một cuống chổi thanh hao, dài chừng 40 phân, để giải quyết. Tôi dùng que chổi này chọc, lách vào trong cùm, gãi chỗ nào ngứa. Có tay, mà nhiều khi như không có vậy!

Tôi nằm, miên man nghĩ ngợi, thật là may, hồng phúc cơ duyên thế nào tôi lại gặp được anh Minh đã hết lòng giúp đỡ. Mỗi ngày được thêm gần nửa suất cơm như vậy, chẳng khác nào như được tiếp máu. Tuy về vật chất nó chỉ đáp ứng nhỏ mọn; nhưng về tinh thần, lại là cả một sự tiếp cứu lớn lao. Nó đã móc, nâng tinh thần của tôi lên cao, để khỏi bị chìm nghỉm trong “lò nấu xác” của lũ quỷ đỏ thèm khát thịt người.

Trong “cát xô”, tôi không thể nằm thẳng chân thực hiện phương pháp vận công “A”, tôi vẫn thường làm ở xà lim, tôi đổi lại thành ngồi. Mỗi ngày, tôi làm ba lần: sáng, trưa và tối. Nhiều lúc, ngồi tham thiền nhập định xong, tôi nhìn hai cái chân trong cùm, hai cái tay trong xích mà buồn cười. Chẳng biết những vị cao nhân trong võ lâm lúc ngồi điều khí vận công, mà chân tay bị xích, có tập luyện được không? Tôi chưa được đọc thấy một tác phẩm nào có nhân vật bị cùm xích, mà tập được võ công cả. Vì bị cùm và xích, làm sao tập theo được những thế võ trong bí kíp!?…..

Hôm nay là ngày thứ 34 ở “cát xô”. Dù tôi đã nỗ lực phấn đấu hết sức mình để tồn tại; dù được sự hà hơi tiếp sức của anh Minh; đến nay, hai cái chân tôi đã phù to lên. Phù này khác với cước vì lạnh trước đây. Phù bây giờ một phần là do thiếu chất dinh dưỡng lâu ngày; nhưng, phần chính là do hai cái chân không cử động được, hầu như ngày nào cũng như ngày nào, cứ đặt yên một chỗ. Nhìn đôi bàn chân sưng phù, tôi thật nản lòng. Bao nhiêu công tập luyện từ hôm vào nhà hầm, đều trôi cuốn theo giòng nước lũ. Một điều khác làm tôi nản hơn là, người đưa cơm hôm nay lạ, không phải là anh Minh nữa; mà là một anh hình sự khác, có đôi mắt ngờ nghệch chậm chạp.

Tôi băn khoăn nóng ruột, muốn hỏi người đưa cơm này về anh Minh. Nhưng, phần vì thái độ của anh như vô tình, lơ đãng và lạnh lùng như một cái máy cử động vậy. Phần khác, những tên công an thường theo sát, đứng ngay bên cạnh, nhìn và sai anh hình sự làm, nên tôi không làm sao thực hiện được ý định đó. Có thể vì anh hình sự này mới, công an phải chỉ bảo và thử thách. Cũng có thể vì “cát xô” bây giờ chỉ có mình tôi. Tôi lại cố gắng giữ gìn vệ sinh, cho nên cái “cát xô” đã bớt hôi thối, (những lúc tắm rửa, tôi miệt mài năn nỉ, xin thêm từng xô nước để dội chỗ nằm). Tên cán bộ nào cũng vào đứng sát chuồng của tôi, khi cho ăn cơm. Không còn cảnh bịt mồm, chỗ nước bọt như mọi khi.

Ngẫm chuyện đời, tôi thấy là bất kể chuyện gì, việc gì cũng đều có hai mặt mâu thuẫn, đối kháng nhau: lợi và hại. Chỉ có tỷ lệ, mức độ chênh lệch nhiều hay ít. Sự việc lợi nhất, cũng có cái hại của nó. Ngược lại, điều xấu tệ hại nhất, cũng có cái lợi của nó. Tôi cố giữ gìn vệ sinh cho nhà hầm đỡ hôi thối, như vậy là lợi cho sức khỏe, rất đáng làm; nhưng, bị điều bất lợi như đã trình bầy ở trên. Vì thế, nếu xét một việc mà chưa thấy những mặt mâu thuẫn, là vì ta chưa mổ xẻ, phân tích kỹ mà thôi.

Bây giờ, nắm cơm hàng ngày lại nhỏ như trước, khi chưa có sự giúp đỡ của anh Minh. Nghĩa là chỉ còn được khoảng 2 bát cơm con.

Tôi đợi mãi, rồi cũng tới ngày thứ Hai, ngày tắm rửa. Hôm nay lại là ngày lão Kim già trực. Từ sau ngày tôi đánh lừa y để tự tử, hễ nhìn thấy tôi đâu, là lão lại quắc mắt lên giận dữ. Câu chuyện đã 5, 6 tháng rồi, và cũng đã 3, 4 tháng nay tôi không gặp lão. Vì vậy, khi lão cúi đầu vào quát bảo, tôi đưa tay cho lão mở khóa xích. Nhìn thấy tôi, mắt lão chớp chớp sau gọng kính trắng, vẻ hơi ngỡ ngàng. Tôi hiểu là lão còn căm ghét tôi nhiều, cho nên tôi cố tránh không nhìn lão. Tôi phải bò ra, vì hai chân không thể đứng lên nổi nữa. Tôi cố tập đứng lên, ngồi xuống vài lần như mọi khi, nhưng vừa buốt vừa run rẩy, lại phải ngồi bệt xuống. Trong khi tên hình sự đưa cơm đang ngồi ghệ ở một bậc đá, gần cửa “cát xô” chờ tôi đổ bô và tắm rửa, đột nhiên, lão già Kim hỏi tôi:

– Anh ở “cát xô” bao nhiêu ngày rồi?

– Báo cáo “cụ” (ai cũng gọi lão như vậy, vì lão đã trên 60 tuổi rồi), hôm nay là ngày thứ 42 ạ!

Tôi trả lời trong hơi thở hổn hển vì mệt. Qua thái độ và cách lão hỏi tôi, tôi cảm nhận hình như lão không ghét tôi nhiều lắm! Nhìn tôi bò ra phía vòi nước một cách vất vả, vì phải mang theo cái bô phân và nước tiểu. Tự nhiên, lão mắng tôi một câu:

– Anh như con thú ấy, có chịu nằm yên đâu!

Tôi chẳng buồn nói năng chi, vì đang phải nghiến răng chịu đựng cái rát, buốt khi bàn chân nết trên nền đá. Tôi cứ phải nhắc cái bô đặt một chỗ với sức vươn tối đa, rồi lại bò, cứ như vậy cho đến chỗ cống đổ phân. Tôi chỉ rửa ráy qua loa, rồi lại hì hục bò về chuồng như mọi khi. Tôi ngồi húp và ăn bát canh rau muống trước, còn nắm cơm sẽ mang vào trong buồng mới ăn. Nguyên tắc, một tuần chỉ được mở cùm, để đổ bô và tắm rửa trong 15 phút, thế mà hôm nay, lão Kim để cho đến 30 phút.

Từ đấy, tôi càng thấy bản chất của một con người, hầu như không thể thay đổi được. Có chăng, chỉ là sự che đậy bên ngoài, vì một lý do nào đó của cuộc sống mà thôi.

Lúc khóa, xích tay tôi lão lại hỏi nữa:

– Lúc đưa anh vào “cát xô”, cán bộ có tuyên bố bao nhiêu ngày không?

– Báo cáo cụ, không!

Vì không có dịp thuận tiện nào, nên điều cứ thắc mắc trong lòng tôi là, tôi muốn hỏi anh bếp mới về anh Minh giờ ra sao, đã không thực hiện được.

Bốn ngày sau, vào một buổi sáng thứ Sáu, tôi đang nằm băn khoăn về hai cái chân mình (tôi không còn cách nào để phấn đấu luyện tập nữa), đành chịu cho đôi chân mình đi đến chỗ có thể bị liệt. Nắm cơm quá ít, chỉ đủ để ăn không chết, chứ không còn sức để cử động tay chân, Tôi thấy, nếu trước đây không được anh Minh giúp đỡ, tôi đã nằm liệt lâu rồi, và chưa biết những chuyện đau buồn gì đã xảy ra. Bỗng, tôi nghe tiếng lẻng xẻng của chìa khóa, tiếng lịch kịch của cánh cửa hầm “cát xô” mở. Tôi ngạc nhiên, mở mắt ra nghe ngóng. Bây giờ mới khoảng 8 rưỡi, 9 giờ, đâu đã phải giờ cho ăn cơm? Hay lại có một đồng cảnh nữa mới vào? Tôi muốn bò dậy để xem chuyện gì? Nhưng, không ngờ là sức tôi bây giờ không đủ để ngồi dậy nữa!

Tiếng chìa khóa mở chuồng của tôi. Rồi cửa được kéo lên. Tên Đại, cán bộ văn thư (làm ở văn phòng) nhìn tôi, rồi quát:

– Bò dậy! Đưa tay ra đây để mở xích!

Tôi cố chống tay, mấy lần vẫn không bò dậy được. Chỉ vì hai sợi dây xích không đủ dài để chống hai tay xuống nền. Mọi khi, tôi thường phải dùng thêm sức kéo của tay, rồi lấy thế ngồi lên. Bây giờ, người tôi rã rượi, như không còn một tí hơi sức nào.

Thấy tôi xoay sở, cố gắng nhưng không thể ngồi dậy được, tên Đại đành phải cúi đầu vào để mở hai cái khóa ở đầu dây xích. Rồi, y ra ngoài rút chốt cùm.

Hai tay được tự do, không phải mang sức nặng của sợi dây xích, tôi chống tay bò dậy, thế mà cũng phải mấy lần mới ngồi lên được. Hai mắt hoa lên, quay cuồng, tôi phải cố như lấy gân cả hai tay, mới nâng cho cái cùm há mồm lên, để lấy đôi chân ra. Đôi chân tôi bây giờ sưng húp lên cả mắt cá. Hai bàn chân to tướng với mấy khúc xương tong teo nhăn nhúm, xám xịt, như hai chiếc đũa cắm vào hai củ khoai lang luộc vậy.

Tôi cố bò ra khỏi buồng. Y nhìn thân hình của tôi một lúc, rồi dịu giọng:

– Cho anh ra rửa ráy, rồi vào viết kiểm điểm.

Vừa nói, y vừa chỉ mấy tờ giấy, cái bút và lọ mực đang để trên bậc đá, lối lên cửa hầm “cát xô”.

Thật là lạ lùng, mắt của tôi nhìn ngay y, cũng không rõ nữa. Hình ảnh một tên mặc quần áo màu vàng, mồm đang quàng một cái khẩu trang màu trắng trông cũng rất lờ mờ. Tôi lại càng lo sợ, không hiểu vì sao mắt mình lại như vậy. Phải chăng, vì ở trong chỗ mờ tối quá lâu (gần hai tháng trời), mắt luôn luôn phải điều tiết căng thẳng, hay vì mấy năm nay ăn uống đói khát và thiếu chất dinh dưỡng? Có lẽ vì hai lý do. Tôi nghiến răng, kéo “hai củ khoai lang luộc” về chỗ vòi nước rửa hai con mắt xem thế nào.

Trời đã vào Thu nên nước bắt đầu lạnh. Tôi vuốt, dụi, rửa hai con mắt, nhưng vẫn không thấy sáng hơn. Tôi bò lại chỗ để mấy tờ giấy và lọ mực.

Đầu tiên, tôi viết chữ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Do cái tay quen viết theo tay; mắt tôi chỉ thấy những nét ngoằn ngoèo, đen đen mờ mờ trên giấy trắng, không đọc rõ được nét chữ. Tôi quay lại y:

– Thưa ông, tôi chả nhìn thấy chữ tôi viết!

Y ngạc nhiên, lại gần tôi nhìn. Có thể y thấy thái độ khổ tâm của tôi vì đôi mắt như vậy, nên y bật cả hai cái đèn trong hầm “cát xô”, y lại trèo lên những bậc đá tới của hầm “cát xô”, mở phanh to cho ánh sáng ở trên chiếu vào. Căn hầm đã sáng hẳn ra, nhưng mắt tôi nhìn chữ viết vẫn chưa rõ hẳn, vì vậy tôi bỏ bút xuống, nói với y:

– Thưa ông, hiện giờ mắt tôi không nhìn rõ chữ viết. Vậy, để mai kia xem mắt tôi có nhìn thấy, tôi mới viết được. Hơn nữa, lúc này tôi mệt lắm, tôi không biết viết gì!?…..

– Được! Sau này anh sẽ viết chi tiết. Còn bây giờ, theo nguyên tắc, anh phải viết mấy giòng ngắn gọn: “Xin nhận hoàn toàn khuyết điểm, sai lầm. Xin cam đoan không bao giờ tái phạm”.

Thấy y nói như vậy, tôi cũng cố gắng viết đại theo lời y nói, dù tôi chả nhìn thấy rõ. Tôi cũng viết 3, 4 giòng, ký tên, rồi đưa cho y. Lúc đó mới khoảng 10 giờ, y cầm tờ giấy tôi viết, xem qua, rồi hất tay ra hiệu bảo tôi chui vào chuồng:

– Hãy đi vào buồng, tạm cho anh nghỉ cùm và xích!

Được lời như cởi tấm lòng, tôi bò vào chuồng có vẻ nhanh hơn lúc tôi bò ra. Cửa chuồng đã đóng, và cửa “cát xô” cũng đã khóa. Tôi loay hoay tìm thế nằm ngửa, gối đầu lên cùm sắt, giơ hai chân thẳng lên, rồi co lại. Dần dần, làm được! Mệt, tôi nghỉ, hết mệt, tôi lại tiếp tục làm.

Theo suy lý của tôi, hai cái chân bị phù toàn là nước ở bên trong, bây giờ giơ ngược lên nhiều lần, nước dần dần sẽ phải rút xuống cơ thể.

Trưa hôm đó, một cán bộ lạ coi trại chung dẫn anh hình sự vào cho tôi ăn cơm. Ăn xong, tôi lại tiếp tục tập. Thực ra cơ thể tôi lúc này, chỗ nào cũng cần tập, nhưng trong điều kiện tối ưu tiên, phải dành cho hai chân đã. Nghĩa là dồn hết sức của cơ thể để tập cho hai chân. Chẳng hiểu sự suy lý của tôi có đúng hay không, hay vì lý do gì khác mà tôi không biết. Điều trông thấy, cũng như sờ thấy là hai bàn chân tôi, mà tôi gọi là “hai củ khoai lang luộc”, chỉ có một đêm với nửa ngày tập, đã rút được đến hai phần mười.

Tôi càng cảm thấy được khích lệ, sáng hôm sau, tôi lại tiếp tục nỗ lực tập nữa. Nhất là đêm vừa rồi lại không bị cùm, xích, tôi cảm thấy tay chân tự do, thoải mái nhẹ tênh tênh, muốn để tay đâu, muốn để chân đâu, tùy theo ý mình. Hỡi tự do! Mi là thiên thần của loài người! Nhưng không phải ai cũng đưọc mi tới thăm.

Tuy được tha cùm và xích tay, nhưng tâm tư tôi vẫn thấp thỏm không yên. Thoáng nghe tiếng động cửa lại giật mình lo sợ cán bộ vào cùm, xích lại. Lúc cán bộ vào cho ăn cơm, tôi ngồi nhai miếng cơm, nhưng mắt vẫn theo dõi thái độ của y, sợ bất chợt y bảo bỏ chân vào cùm, bỏ tay vào xích. Thật, nhiều lúc tủi hận cho một kiếp người, chẳng khác gì một con chó! Nhưng, tôi nghĩ rằng con chó không thể ý thức sự cùm xích bằng tôi. Nó làm sao cảm thấy tủi hận, uất hờn, dày vò, cấu xé trái tim đã rướm máu bầm đen như tôi. Tạo hóa sinh ra loài người là sinh vật cao quý nhất, nhưng, cũng là sinh vật đểu giả, nham hiểm, tàn ác nhất!…..

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 30 Sep 2023

Cái Chết Của Một Người Tù….Linh Mục!

Đặng Chí Bình

Bài 9

Lúc này, trời đã lành lạnh, một vài hơi heo may đã lò dò về sớm. Không có quần áo thay, dù vậy, tôi vẫn cởi bộ quần áo ra vò mạnh cho đỡ tanh, thối. Cúi vào vòi nước, tôi xoa, cào mấy cái cho bong ít vảy ghét. Cả cái bắp đùi của tôi bây giờ chỉ vừa một chít tay với 3 đốt ngón tay. Hai cái xương phía ngoài đấu gối, trông như hai cái đầu con bọ ngựa ngọ nguậy, ngút ngắc, lúc tôi đứng lên ngồi xuống. Tôi gãi hai mông đít, chả thấy những đầu xương nhọn hoắt. Bao nhiêu công việc, tôi phải làm vội vàng, vì chỉ có 15 phút. Nhưng, có lẽ tên Kế thấy tôi nỗ lực với cuộc sống, cho nên đã để cho tôi hơn 20 phút.

Sau khi tôi dùng tay, ăn và húp hết bát canh, còn nắm cơm, tôi mang vào. Cho họ cùm xong mới ăn, vì hết giờ rồi. Cùm, xích xong, và khi cửa buồng sập xuống, những bước chân đi dần vào phía trong.

Tôi cũng cố gắng lắng nghe qua những âm thanh để có thể phán đoán chút gì, về người phía bên trong được không. Có tiếng mở khóa và kéo cửa lên, nhưng đợi mãi, không nghe tiếng chân ra ngoài đổ bô và rửa ráy. Im lìm một lúc, rồi nghe tiếng sập cửa và khóa, những tiếng bước chân sền sệt nhỏ dần lên phía cửa “cát xô”. Đã quá nhiều lần tôi gọi buống phía trong rồi, nhưng không hiểu tại sao người trong ấy, không lên tiếng trả lời. Hôm nay, tôi cũng chả muốn gọi nữa!

Tôi thấy lạnh run lên, dù tôi đã cố sức vắt khô quần áo, nhưng tôi vẫn run. Thật chẳng có cái dại nào giống cái dại nào. Lần sau, thà chịu bẩn, chịu cứt đái, chứ chả dám giặt nữa. Phải ăn cơm ngay, để có chút “ca lô ri” chống lạnh, tôi run lắm rồi!

Trong ánh sáng mờ mờ của căn hầm, khi tôi bẻ nắm cơm ra, mũi tôi thoáng ngửi một mùi đặc biệt, làm nước miếng của tôi rào rào chảy ra đầy mồm. Tôi nhìn ở giữa nắm cơm: một mầu nâu nâu, đen đen, trăng trắng. Thì ra một miếng thịt heo vuông mỗi bề độ 3 phân, dầy độ 5 ly. Ôi chao! Sao tôi lại có cái diễm phúc thần tiên như thế này?

Tôi đã biết, ở trong Hỏa Lò, thịt là cả một vấn đề. Một năm, cũng chỉ 3, 4 bữa là cùng, mỗi bữa chỉ được 2 miếng con con bằng hai đốt ngón tay. Hỏa Lò là trại giam của Thủ Đô Hà Nội, bộ mặt của cả nước, có nhiều khách quốc tế, và các “vị” lãnh đạo tối cao của xã hội chủ nghĩa tới lui, mới được hưởng cái “đặc ân” đó.

Hôm nay là ngày gì đâu mà Hỏa Lò có thịt!? Vậy, đây chỉ là của cán bộ, và do tài ba nhập nhằng thế nào đấy của anh bếp tù hình sự, để gọi là một chút giúp đỡ cho người, họ có thiện cảm.

Tôi hơi lặng người đi vì xúc động, trước một việc làm cao cả của một người có tâm hồn, lấy nghĩa khí để xử thế, đôi khi tiền không mua được. Thực vậy, nếu vì lý do nào đó bị phát giác, không những mất “nồi cơm”, nghĩa là mất chân béo bở ở nhà bếp, phải trở về buồng giam, để tiếp tục những ngày đói triền miên ở trong tù. Hồ sơ còn bị ghi vết xấu, sau này đi trại nào, cũng khó lòng có cơ hội nhận lãnh những “chân” béo bở nữa. Ngoài ra, có khi còn bị kỷ luật, bị cùm ở trại chung. Phải nói, đây là một việc làm tôi suốt đời, không quên.

Chỉ vì miếng thịt, dù tôi chưa ăn, chỉ mới ăn cơm, tôi đã quên bẵng đi mọi việc chung quanh. Người hết lạnh lúc nào, ngừng run lúc nào, tôi cũng không hay. Ngay bộ quần áo, cũng đã khô ráo rồi!

Bây giờ tôi nằm xuống, cầm miếng thịt hà hít cho nó sướng cái đã, rồi tôi bắt đầu nhẹ cắn một miếng. Tôi bảo đảm, tất cả các tế bào trong cơ thể của tôi đều như đứng bật dậy, cùng nhún nhẩy, đong đưa để đón nhận hương vị của miếng thịt. Tôi vừa nhai, vừa nghe tiếng róc rách, của những giòng nước thơm thơm, ngầy ngậy từ từ chảy ngấm vào con tì, con vị của mình. Đầu óc tôi cứ lâng lâng, miên man bâng khuâng! Xin cảm tạ đấng Tạo Hóa! Tại sao lại có lòng ưu ái đối với thế nhân đến như vậy? Ngài đã ban cho con người một thứ vưu vật tuyệt vời, mà không phải ai cũng được hưởng hết cái giá trị của nó…..

Những ngày hôm sau, tôi nhìn nắm cơm, tuy trông bề ngoài cũng như mọi khi, nhưng khi bẻ ăn, thấy rắn chắc khác thường. Phải nói, lượng cơm gần như gấp rưỡi, nhưng được nắm lại thật chặt để trông vẫn như thường. Cũng vì vậy, cơ thể tôi có thêm sức để chịu đựng. Trước dây, tôi chỉ mừng là có được một người tù thông cảm với hoàn cảnh của mình, nên đã tận tình giúp đỡ. Nhưng một đêm, tôi chợt nhận thấy, ý nghĩa của vấn đề còn to lớn hơn. Ở đây, người giúp đỡ tôi, anh ấy nói có nhiều người khác biết. Vậy, đây là quần chúng! Không bị tuyên truyền, không bị lừa lọc, bịp bợm. Bằng thực tiễn và thời gian, quần chúng đã tự hiểu, và tự nguyện giúp đỡ một người bị bọn cường quyền hành hạ. Như thế, việc tôi làm, đường tôi đi, càng ngày càng được sự thương yêu, đùm bọc của quần chúng. Điều đó là một cứu cánh quyết định, giúp tôi vượt qua nhiều gian khổ, trên đường đi tới sau này.

Dần dần, tôi càng ít nghe thấy những tiếng rọt rẹt của xích sắt, phía bên trong hơn. Cả những tiếng rên và tiềng rầm rì như tiếng tụng kinh, đã quen thuộc lâu ngày.

Đến ngày thứ Bảy tuần đó, sau khi nhận cơm và nước, tôi quen lệ như mọi lần, chờ nghe điệp khúc của điệu nhạc “cho tù ăn” trỗi lên. Tôi chỉ nghe đến “khúc” kéo cửa sắt lên, rồi…..ngừng bặt, ngắt quãng, thay vào đó là tiếng bước chân hấp tấp của anh tù hình sự đi trở ra. Qua khỏi chuồng của tôi, một giọng nói to lẫn trong tiếng thở hổn hển:

– Báo cáo cán bộ, buồng phía trong đã chết tự bao giờ rồi!

Tiếng bước chân dồn dập đi vào phía trong. Một lúc, rồi tiếng sền sệt chạy trở ra và nhỏ dần về phía cửa “cát xô”.

Qua sự phán đoán của tôi, anh hình sự vẫn còn đang đứng đợi chờ trên bực hầm. Đây là trường hợp hi hữu, bất ngờ. Tôi đã có chủ định từ mấy hôm nay, vì vậy gặp dịp không thể bỏ lỡ, tôi vờ ho lên một tiếng, rồi kêu bâng quơ:

– Đau bụng quá trời ơi!

Tiếng bước chân đi nhanh xuống, giọng nhỏ nhẹ hỏi:

– Anh làm sao đấy?!…

Chủ động, ý của tôi là cố tìm cách để biết tên anh tù hình sự, và về người ở buồng phía trong. Vì vậy, tôi hỏi ngay, giọng như thì thào:

– Tôi mong muốn được biết tên bạn?

– Em tên Minh. Còn anh?

– Đặng Chí Bình…..Người vừa chết ở phía trong, Minh có biết là ai không?

– Ông ấy là Linh Mục.

Tôi thoáng giật mình, hỏi gấp:

– Tên gì?

– Em không biết!

– Linh Mục có điếc, hay câm không?

– Không câm, không điếc,nhưng không nói với ai từ ngày bị bắt, nên họ mới cho vào “cát xô”.

– Lâu chưa?…..

Giữa lúc đó, có tiếng người xa xa, anh Minh lẹ chân chạy ngay lên phía trên bậc hầm.

Bốn, năm người đi qua chuồng của tôi. Tiếng rút chốt cùm. Tiếng mở khóa xích sắt rủng rẻng. Lịch kịch một lúc, rồi những tiếng bước chân nặng chịch vì phải khênh, kéo một thân người ngang qua chuồng tôi.

Một mùi thịt người chết lâu ngày nồng nặc. Mùi đó quạt vào mũi làm tôi bỗng chợt nhớ lại một hình ảnh của quá khứ, ở nghĩa địa Đô Thành, Sài Gòn, ngày 13-14 tháng 11 năm 1960 – Ngày binh biến 11/11/1960 của miền Nam. Hôm đó, tôi theo giòng người vào nhà xác trong nghĩa địa Đô Thành, vừa để thỏa tính tò mò, vừa để xem, biết đâu, lại chả có người quen, mình biết để về báo cho gia đình họ hay. Bao nhiêu dẫy xác chết. Có những xác phình to tướng như xác người ngoại quốc. Có cái lòi ruột, cái mất đầu, có cái chỉ còn….chiếc cẳng chân dính toòng teng một cục thịt lầy nhầy mấy đoạn ruột…..Đặc biệt, một mùi khăm khẳm, tanh tanh, ngai ngái từ những chỗ thịt đã thối nồng nặc bao trùm cả một vùng chung quanh.

Người nào vào, cũng có chiếc khăn bịt mũi, vậy mà vẫn vang lên đây đó tiếng nôn ọe, lẫn với tiếng gào, khóc của thân nhân, khi đã nhìn thấy xác của người nhà. Thậm chí, tôi đã rời xa nghĩa địa hàng nửa cây số, thế mà vẫn còn ngữi thấy cái mùi đặc biệt đó. Rồi hôm nay, mũi tôi lại ngửi thấy mùi thịt người chết lâu ngày này, khiến tôi nhớ đến những cảnh đời trong một thời gian khác, ở một không gian khác của Tổ Quốc Việt Nam nhiều nghiệt ngã cay đắng, đó là miền Nam thân yêu, mãi tít xa vời vợi.

Nghe qua âm thanh, tôi hiểu chúng đã khiêng người chết lên trên đồi; cửa “cát xô” đã đóng, mà sao mùi xú uế của tử khí còn nồng nặc căn hầm.

Chừng nửa giờ sau, cửa “cát xô” lại mở. Nghe tiếng bước chân, tôi biết có hai người đi xuống. Rồi một người đi trở lên. Một lúc, tôi nghe tiếng quét dọn, rồi tiếng phì phì nôn ọe. Tôi hiểu đó là tiếng của anh nhà bếp hình sự. Tiếng mở vòi nước chảy ồ ồ, tiếng xối nước ào ào. Đột nhiên, giọng anh Minh nói như thầm thì:

– Mọi khi, họ để vào nhà xác, đêm mới mang đi chôn. Hôm nay, phải đem đi ngay rồi, vì thối quá!

– Chết từ bao giờ mà mùi kinh thế!

– Mới đêm qua. Nhưng, vì cái chân ông ta bị lở loét thối và có bọ nửa tháng nay rồi. Hàng ngày giòi bọ, bò lổm nhổm ra cả ngoài nền này.

Thảo nào, cái mũi tôi đã không lầm khi ngửi thấy mùi thịt chết nhiều ngày. Thấy anh nói có vẻ tự nhiên như không có cán bộ, dù vậy, tôi vẫn chưa yên tâm nên hỏi:

– Cán bộ đâu?

– Không chịu nổi hôi thối, ông ta trèo lên cửa “cát xô” rồi.

– Minh họ gì?

– Lê, Lê Hoàng Minh!

– Ông Linh Mục bị bắt từ bao giờ?

– Em không rõ, chỉ biết vào “cát xô” hai tháng nay.

– Ông ta chừng bao nhiêu tuổi?

– Khoảng 40, 45. Ông ấy bị chết vì cái chân gần đứt rơi ra ở trong cùm, trông thấy cả ống xương chân trắng hếu, rất nhiều giòi bọ.

Đột nhiên, một giọng miền Nam quát vang lên từ phía cửa “cát xô”:

– Xong chưa? Làm gì lâu thế!?…

Tiếng anh Minh vội vàng:

– Báo cáo, xong ngay đây ạ!

Vừa báo cáo, anh vừa hấp tấp đi lên.

Cửa “cát xô” đóng rồi, lòng tôi vẫn vơi đầy với vị Linh Mục nào đó. Tại sao người không nói chuyện với tôi? Nếu tôi biết từ trước người là Linh Mục, tôi đã có cách để nói chuyện với người. Biết đâu, vừa biết rỏ về người, may ra cổ vũ tinh thần cho người, người lại….chưa chết. Tôi hiểu, có những nhân vật lỗi lạc về nhiều khía cạnh trong cuộc đời, nhưng khi gặp thế cùng, lại quên đi những điều sơ đẳng nhất.

Đêm hôm đó, tôi tự dưng thấy rợn người mấy lần, vì dưới nhà…..mồ, bây giờ còn mỗi mình tôi. Thỉnh thoảng, nghe những tiếng lịch kịch phía bên trong, tôi cũng thấy nổi gai ốc lên. Nhất là, mùi khăm khẳm vẫn chưa tan hết dưới hầm. Nhưng, chợt một ý nghĩ dấy lên trong đầu làm tôi yên lòng, bớt thấp thỏm khi nghe những âm thanh lạ trong đêm trường:”Dứt khoát chẳng làm quái gì có ma! Bởi vì rất dễ hiểu, nếu có ma thực, những lũ Cộng Sản đã bị bóp cổ chết hết rồi, còn đâu!”.

Biết bao nhiêu chiến sĩ Quốc Gia, biết bao nhiêu những đồng bào vô tội trong cải cách ruộng đất, trong các nhà tù hiện nay…..bị lũ Cộng Sản tàn sát, giết hại; lòng căm hờn dâng cao như núi. Nếu chết đi thành ma, lũ Cộng làm sao còn! Cũng như, bao nhiêu kẻ ác trên cõi đời này làm sao yên hưởng xa hoa trên đống xương, và máu của người khác…..?

Do những suy nghĩ như vậy, tôi không cón cảm thấy rờn rợn, nổi da gà khi nghe thấy những tiếng xọc xạch ở phía trong, lúc đêm khuya nữa. Chắc đấy chỉ là một con chuột nào đó, đi kiếm ăn đêm?…..

Hủ tiếu thương hồ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Sep 2023

Xưa nay chỉ thấy tô phở bò, gà theo chân người Việt tỵ nạn tràn lan và nổi danh toàn thế giới; còn tô hủ tiếu quê mình hình như đã tàn phai nhan sắc. Chớ hồi xưa trong nước, phở Bắc chỉ làm ‘đại ca’ trên chốn giang hồ Sài Gòn; ngay cả vô Chợ Lớn cũng phải chào thua.

Nhứt là Lục tỉnh Nam Kỳ tô hủ tiếu quê mình vẫn vô địch quyền vương, độc cô cầu bại. Tô phở Bắc mon men về tới cái đất Mỹ Tho danh trấn giang hồ về hủ tiếu cũng đành phải chịu xếp ve luôn. Mỹ Tho có cả hàng chục tiệm hủ tiếu chỉ loe ngoe vài ba tiệm phở tái, nạm, gầu…

Do đó, đầu bếp Gordon Ramsay, 49 tuổi, người Scotland, chủ nhiều nhà hàng nổi tiếng trên toàn thế giới, một năm kiếm được tới 5, 6 chục triệu đô la Mỹ, tánh tình nóng nảy, ăn nói bổ bả, bặm trợn hay chửi thề um trời trong rất nhiều chương trình trên truyền hình của Anh, của Mỹ như Masterchef, Hell’s Kitchen…khen hủ tiếu của miệt Lục tỉnh quê mình ngon hết biết là chuyện không cần thiết; vì tô hủ tiếu nầy nó ngon tự lâu rồi chớ đâu phải mới đây.

(Khen như vậy là khen con bò trắng răng vì chẳng cần kem đánh răng, bò nhơi cỏ, đánh răng suốt thì răng làm sao mà không trắng cho được chớ?)

Thoạt kỳ thủy Gordon Ramsay là cứ nghĩ món ăn Việt Nam cũng như các món Thái hoặc các nước lân bang vùng Đông Nam Á. Nhưng sau mới ngộ ra rằng: “Món ăn Việt Nam đúng là độc đáo và không thể so sánh với bất cứ món ăn nào ở những đất nước mà tôi đã đi qua”.

Gordon Ramsay khen nước lèo hủ tiếu có thể ngon hơn nhiều nhà hàng Việt tại London, rồi học cách nấu hủ tiếu, bán trên một chiếc thuyền trôi bềnh bồng trên sông Cái Răng, Cần Thơ cùng với đầu bếp Úc gốc Việt, Luke Nguyen, tháp tùng theo làm thông dịch để quay truyền hình cho bà con toàn thế giới xem chơi!

***

Tây thấy món nào có nước thì gọi là soup. Hủ tiếu nó gọi là ‘soupe chinoise’ (súp Tàu). Gọi vậy cũng phải vì hủ tiếu là của người Tàu, người Quảng Đông; còn người Triều Châu thì ăn hủ tiếu bò vò viên, tức ‘ngầu dục viễn’! Nổi tiếng nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho! Nó khác xa với hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế, bún mắm Sóc Trăng. Hủ tiếu Mỹ Tho của người Quảng Đông nhưng bánh hủ tiếu lại do người Việt ở Gò Cát, bên bờ kia sông Bảo Định, vùng ven thành phố Mỹ Tho làm.

Bánh hủ tiếu bằng bột gạo, không pha bột mì, bột lọc. Sợi hủ tiếu tươi chỉ cần trụng sơ với nước nóng là trong, giòn và dai và dẻo hơn các loại bánh hủ tiếu mềm xèo ở Chợ Lớn.

Cái thùng nước lèo của mấy xe hủ tiếu Mỹ Tho có hai ngăn. Một là nước sôi để trụng bánh; một ngăn chứa nước lèo, có vị ngọt từ xương, giò heo và khô mực nướng cùng với củ cải. Thịt heo nạc xắt mỏng như tờ giấy quyến, gan heo trải lên mặt tô rồi chan nước lèo lên, rắc tiêu.

(Sau nầy người ta thêm phèo non, tôm thẻ và trứng cút… Nhưng ăn thấy nó làm sao đâu vì làm mất cái vị, cái mùi hủ tiếu!) Hủ tiếu là phải ăn với giá sống, hẹ, cải xà lách, củ hành phi. (Đừng có bỏ rau tần ô rau ghém vô, ăn lãng xẹt hè). Nêm nếm là phải xì dầu và dấm đỏ. Nêm bằng nước mắm y, rồi vắt chanh vào (để ăn phở) là trật lất.

***

Sở dĩ tui kỹ từng chút một về tô hủ tiếu là vì em yêu của tui là á xẩm. Ông già vợ tui, bà con gọi là Chú Xồi, chuyên nghề bán hủ tiếu. Chú Sồi có một chiếc xe có thành vách ba bên, lộng kiếng vẽ hình trong truyện Tam Quốc như Quan Công phò nhị tẩu, Giang tả cầu hôn, Đương Dương trường bản, Khổng Minh tọa lầu.

Ở giữa xe là một thùng nước lèo, bốc hơi nghi ngút, những rổ nhỏ đựng bánh hủ tiếu, mì nhỏ, mì lớn, hoành thánh, dầu chá quảy. Hồi xưa lúc đói bụng, trong túi lại có kha khá tiền, tui bèn tắp vào lề, ngồi lên cái ghế xếp, trước mặt xe, có miếng ván hình chữ nhựt gài chốt bè ra, đủ đặt vừa tô hủ tiếu.

Lập tức chú Sồi đon đả: “Hà cái lầy thằng Tửng ‘xực mý dệ’ (ăn cái gì)?”

(Thằng nhỏ nào Chú Sồi cũng kêu là Tửng hết trơn hè. Hèn chi sau về làm rể cho Chú Sồi tui cũng bị hơi tửng tửng!)

Tui chơi lại tiếng Tàu luôn; cho dù tiếng tàu của tui là loại ‘Tào Lao’. “Dách cô phảnh, thím xực xí quách…tố tố sủi!” (Một tô hủ tiếu nhiều xí quách, nhiều nước lèo). “Hầy lớ!” (Được rồi!)

Đưa tay đón lấy tô hủ tiếu từ bàn tay búp măng của á xẩm Quế Thanh, con gái chú Xồi, tui xịt một chút xì dầu, giấm đỏ, gắp thêm vài lát ớt, xốc bánh hủ tiếu lên, gắp một đũa khá lớn đưa vào miệng, bắt đầu hẩu xực.

Nước lèo nóng, cay vì ớt vì tiêu, hơi nước lèo phả vào mặt, mồ hôi tươm ra ướt cả lông mày. Tui chiến đấu quyết liệt, hai hàm răng kêu kèn kẹt, chỉ trong chốc lát là tô hủ tiếu cạn queo.

Quế Thanh mang cho tui cái bình trà “Thái Đức’ bằng nhôm nóng hổi, rót cho tui một ly rồi hỏi: “Hẩu lớ hia Tửng?” (Ngon không anh Tửng?)

Tui cười hè hè: “Hẩu hẩu” (ngon ngon)! “Nị hụ len, hụ len!” (Em đẹp lắm!)

Em nguýt tui một cái dài thậm thượt chừng 3 cây số, xổ luôn một tràng tiếng Việt: “Tía em nghe được là rượt anh chạy có cờ đó nhe! Ai biểu hia Tửng no bụng cửng lên, dám dê ‘tiểu thư’, con cưng của Tía!”

***

Rồi sau khi CS chiếm miền Nam, gia đình bà con mình ai cũng đều suy sụp, ai cũng mạt, không còn tiền ăn hủ tiếu. Cái một xã hội mình trước 75, dù đang chịu đựng cuộc chiến đẫm máu kinh hoàng để vệ quốc vẫn còn chút ổn định nhưng khi tiếng súng ngưng rồi tàn phá còn hơn cả lúc chiến tranh. Người dân bị bức hại, bị trả thù, bị đe dọa cướp nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, bị đày đi kinh tế mới. Đêm nào CA Phường cũng xét hộ khẩu để bắt người đem đi nhốt khơi khơi.

Không còn chịu đựng nổi, bà con mình ai nấy cũng âm thầm nhưng rất quyết tâm là tìm đường ra biển. Muốn ra biển là phải biết đường sông vì tất cả các dòng sông đều xuôi dòng ra biển; nên phải chấp nhận cuộc sống gạo chợ nước sông, đời sương gió buôn bán qua ngày dò đường để dọt. Phần trên đường bộ bọn chúng rào đường, chận ngỏ ác liệt không bán buôn gì được hết.

Thế là ở những ngã ba sông: chợ nổi Cái Bè, chợ nổi Lục Sĩ Thành (Trà Vinh), chợ nổi Cái Răng, Phong Ðiền và chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp, (Cần Thơ) nổi lên. Khoảng thời gian thương hồ, dò đường đi nước bước, dù chỉ là tạm bợ để tìm cách ra đi vẫn ghi dấu lại biết bao là kỷ niệm. Kết bạn thương hồ, sống rất ruột gan, tứ hải giai huynh đệ, sống điệu nghệ. (Bây giờ, quê người cơm áo đủ đầy, thừa mứa nhưng tình người hình như hơi bị hiếm!)

Tui trở về Mỹ Tho thăm Quế Thanh lần cuối trước khi đi. Không biết lành dữ thế nào, tui nói với em rằng: “Nị rán chờ chừng nào biết thằng Tửng nầy chết chắc; rồi hãy đi lấy chồng nhe!”

Chú Xồi nghe được, kêu tui lại biểu: “Tửng à! Nị dắt nó đi luôn đi. Thương nhau là sống chết phải có nhau, đồng tịch, đồng sàng, đồng quan, đồng quách mới được lớ!”

***

Người ta thương hồ khấm khá thì có ghe lườn, ghe cui, ghe rỗi, ghe cà vom… mui lợp ván chắc chắn, chịu được nắng mưa. Còn hai đứa tui nghèo, nhờ Chú Xồi vét hết trong nhà được chưa tới 5 chỉ vàng, mua cho một chiếc ghe tam bản be kèm, lợp mui giả khung bằng nan tre đan bện lá dừa nước, chạy máy đuôi tôm Kohler 4.

Sáng em bán hủ tiếu, tui bán cà phê, nước đá và rượu trên chợ nổi Cái Răng.

Chiều về một bến sông nào đó qua đêm thì Quế Thanh chèo mũi; tui chèo lái hoặc căng bốn góc mềm nhờ gió đưa đi cho đỡ tốn xăng.

(Hồi đó, trèo vô trèo ra trên ghe chạm mặt hà rầm mà sao ít cự cãi hơn bây giờ?)

Chợ nổi họp theo con nước lớn, 5 giờ sáng tiếng máy ghe, thuyền trên chợ nổi cứ bồng bềnh trên sông trong tiết trời mờ mờ đục đục đẫm hơi sương.

“Chợ đã nổi từ nửa đêm về sáng/Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn/ Em treo ‘bẹo’ Cái Răng, Ba Láng/ Ta thương hồ Vàm Xáng, Cần Thơ”

(Em treo ‘bẹo’, là treo lủng lẳng trên cây sào trái khóm, trái xoài, dưa hấu, bầu, khoai lang, bưởi, khóm, chuối, cam, quýt. mía… bẹo hình, bẹo dạng, treo gì bán nấy.)

Giang hồ gạo chợ nước sông, dù có á xẩm em yêu kè kè một bên nhưng bữa nào đi bán một mình cũng có vài em bẹo hình bẹo dạng với tui. Con gái đồng bằng trên sông nước, gió thổi phần phật lật lên vạt áo bà ba, có cái gì trăng trắng làm tui cũng thèm nhểu nước miếng hè.

Rồi nghe em than mà đứt ruột: “Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi. Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê!” Thôi thì cám cảnh nhau, tui lén Quế Thanh cho em thương hồ ăn chịu hủ tiếu, chừng nào có tiền trả cũng được mà giựt luôn cũng hổng sao.

Em bạo dạn ướm lời: “Nước xuôi chạy gió buồm mền, muốn vô làm bé, biết bền hay không?”

Đời mà trai năm thê bảy thiếp là thường. Năm bảy con (vợ), tui còn lo được huống gì là hai nên tui tính ừ cho rồi. Nhưng Quế Thanh, em yêu của tui, đánh hơi được, nhứt định không chịu cái cảnh chồng chung; nếu tui rước thêm một con ‘ngựa bà’ nữa xuống ghe là em sẽ nhẩy xuống sông tự trầm mà chết. Sau sợ tui lạc lòng, nấn ná lâu sanh biến; nên Quế Thanh về lại Mỹ Tho ‘ráp’ với mầy xì thẩu có đóng tàu vượt biên cho hai đứa tui, vốn quen kiếp sông hồ làm ‘taxi’ đưa khách ra cá lớn.

hu tieu thuong ho 04Hôm cuối cùng, đưa khách bị bể, không dám quay vô, tui với em bèn ngộ biến phải tùng quyền, leo đại lên theo thuyền, dông theo luôn ra cửa biển. Cái đó gọi là canh me! Gần 4 chục năm rồi, đêm ngủ bên Quế Thanh, á xẩm bán hủ tiếu, tui vẫn còn nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền trên chợ nổi năm nào.

“Vật đổi sao dời. Ðá mòn sông cạn. Trần ai chớp mắt trăm năm mộng”. Tui vẫn nhớ chiếc ghe hủ tiếu thương hồ đã đưa mình thoát khỏi gông cùm CS để đến được bờ bến tự do.

đoàn xuân thu.

melbourne