This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sáng hôm nay trời mưa thật lớn, chẳng biết mưa từ lúc nào đó trong đêm. Trận mưa như tắm rửa, giặt giũ, kỳ cọ những cảnh vật vào cuối Đông để chuẩn bị đón nàng Xuân sắp về. Mưa ào ào dữ dội như có một giòng sông lớn ở trên trời, mở đập ngăn để cho nước đổ xuống trần gian.
Kẻng bào thức đã lâu rồi, mà tên trực trại vẫn chưa vào điểm buồng. Những khung cửa sổ, sàn trên cũng như sàn dưới, nhiều anh khoác chăn ngồi nhìn mưa rơi. Một giọng ngâm khàn khàn của ai đó ở sàn trên dội xuống:
– Em thương ơi!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có dài lê thê
Thì em ơi, em cứ đợi
Anh của em lại về…..
Tiếng ngâm rè rè, khô khan không hay mấy, mà cũng làm cho nhiều bộ mặt tần ngần, mắt đăm chiêu rõi mãi ra mưa gió mịt mờ. Nghĩ mình cóc có ai đợi cả, tôi quay sang Vân, đang phì phèo điếu thuốc buổi sáng ở môi:
– Có lẽ hôm nay nghỉ lao động?
Vân đưa hai ngón tay lên kẹp điếu thuốc vẫn ở trên miệng, hít một hơi thật dài. Đầu điếu thuốc lá cuộn, đỏ sáng lên. Vân vừa lấy điếu thuốc ra khỏi miệng, vừa nói trong làn khói hắt hiu, đang phả ra từng sợi ngoằn ngoèo lãng đãng:
– Mưa, bão. Trại nghỉ nhưng toán thủ công không bao giờ…..
Vân chưa nói hết câu, tôi còn đang tính toán, sắp xếp thời gian từng phút, vì hôm nay đến lượt tôi lấy sắn sáng, thì cửa đã lạch xạch và tiếng chùm chìa khóa rủng rẻng. Như tắt ngừng một cái máy, chỉ ba mười giây, âm thanh và mọi di động đều ngưng bặt. Khi cửa mở thì mọi người trong buồng đã ngồi ngay ngắn, thẳng hàng, im phăng phắc, như những tượng đá chùa Hương. “Hương Sơn đệ nhất động, hỏi rằng đây đó phải?”
Điểm xong, mặc mưa rơi, mặc gió thổi, áo tơi, áo lá, nhiều anh lao vào gió mưa, xuống bếp lấy sắn sáng về chia cho mâm mình. Hai buồng kia, cán bộ điểm xong, khóa cửa lại. Lúc ngồi nhai sắn ở hội trường, tôi hỏi anh Đồng mới hiểu: không đi lao động, thì không có ăn sáng. Gà không cục tác, thì gác mỏ. Nhưng “gác mỏ” mà đâu có được nằm yên, trong buồng lại phải đọc báo rồi sinh hoạt. Bởi vậy, với đại đa số người tù, mưa không đi lao động được, lại là một bất hạnh đối với họ. Sáng sáng, quen có mấy đoạn sắn vào dạ dầy, hôm nay đành nhịn teo, mà còn phải gò lưng ngồi sinh hoạt hay đọc báo nữa. Cho nên ai cũng muốn được đi làm, sướng hơn. Phải chọn giữa hai cái xấu, thì ai cũng sẽ chọn cái xấu ít.
Gần trưa thì mưa thưa hạt, rồi tạnh hẳn. Mặt trời lại vén bức màn mây xám xịt, thò mặt ra tươi cười chào mừng nhân thế. Núi rừng lại bừng sáng, lung linh. Hai con sáo to, mầu lông đen óng, hai chiếc mỏ đỏ như sơn Tầu. Chúng cứ khúc khích, nhún nhẩy trầm mình xuống vũng nước mưa ngoài chiếc sân con trước nhà vernie. Một con bọ ngựa mầu xanh lam, to như ngón tay cái, đứng nép dưới chiếc lá của cành muồng non phía chái hồi. Chiếc đầu hình tam giác tí hon, cứ nghiêng ngó nhìn cặp sáo đang vùng vẫy, nhởn nhơ trong hạnh phúc lứa đôi. Chẳng hiểu nó có chạnh lòng nghĩ đến cảnh đơn côi một chiếc của nó; hay nó cũng buông lơi tâm tư để hòa nhịp, hưởng ứng cái hạnh phúc của đời? Thân nó đứng không yên, cứ lắc lư như bà vãi lên đồng.
Tôi hơi bàng hoàng, khi thoáng nhìn thấy một bàn tay gầy nhăn nheo, đang từ phía sau gốc cây muồng cụt, thò ra chộp nghiến lấy chú bọ ngựa, làm rung rinh cành muồng còn đẫm nước. Ồ, bác Chánh, mắt bác vậy mà còn tinh gớm!
Hai con sáo bay vụt lên, đậu tít trên ngọn cây bằng lăng phía cổng khu thủ công. Chúng quay lại chí chóe nhìn bác Chánh đang mang con bọ ngựa về phía đống lửa đun nước, đang cháy hừng hực của toán. Chúng cứ chí chóe mãi, chẳng hiểu chúng trách oán ông Chánh đã phá bĩnh cuộc vui tắm mưa của chúng hay chúng mừng đã nhanh chân chạy thoát ông thần người?
Chỉ còn 5 ngày nữa là đã Tết. Sáng nay, nhân dịp mưa, anh Lân và Đinh Khắc Sản theo toán hai và ba ra lán, rồi được lệnh trở về họp ở trại.
Buổi chiều, anh Lần về phổ biến lại cho toàn buồng gồm cả toán hai và toán ba vì anh Lân là buồng trưởng, thi đua, trật tự, do ban giáo dục, cán bộ trực trại và cán bộ toán nhà bếp chủ tọa. Họp suốt gần ba tiếng đồng hồ, cuối cùng được công bố như sau:
1/ Trại viên sẽ chính thức được nghỉ hai ngày, mồng Một và mồng Hai. Ngày mồng Ba Tết, toàn trại sẽ ra quân, nỗ lực thi đua vượt mức kế hoạch vụ Đông Xuân, lấy thành tích chào mừng ngày thành lập Đảng Lao Động vinh quang 3 tháng 2.
2/ Năm nay, do sự cố gắng lao động sản xuất, hăng say với khí thế một người làm việc bằng hai của toàn thể trại viên, nên đã vượt kế hoạch ấn định của trại. Ban giám thị quyết định, cho trại viên ăn Tết 4 bữa chính, cơm không độn. Một bữa chiều Ba Mươi Tết, sáng, chiều mồng Một và bữa cuối cùng vào sáng mồng Hai. Từ chiếu mồng Hai mọi sự trở lại bình thường.
3/ Hiện nay trại ta có nuôi được hai con lợn, một con 40 kg, một con 25 kg, ban giám thị quyết định cho giết cả để phục vụ trong bốn bữa Tết. Như vậy, kể cả nhân để gói bánh chưng. Bình quân, mỗi đầu người được hưởng 2 lạng 1 thịt lợn hơi (tính cả xương xẩu, lông lá, phèo lòng và phân của lợn nữa). Mỗi trại viên được một bánh chưng 2 lạng rưỡi gạo (luộc chín sẽ thành hơn 4 lạng). Đặc biệt, trại chính phân phối cho trại ta 50 kg, vừa cải bắp vừa chou-fleur (súp lơ), một tạ khoai tây.
4/ Toán hai, chịu trách nhiệm trang trí và vẽ khẩu hiệu trong toàn trại, và làm một bộ quân cờ lớn cho toàn trại viên vui Xuân.
5/ Về bình bầu thi đua giữa các toán, có 4 toán được là xuất sắc đó là:
Toán 1 nhà bếp.
Toán lâm sản.
Toán 2 mộc, thủ công.
Toán 3 xẻ, thủ công.
Đây là do trại bình bầu, còn quyết định tối hậu do ban giám thị điều nghiên, duyệt xét sẽ công bố sau. Khi anh Lân phát biểu xong, toàn buồng vỗ tay râm ran, đôm đốp như pháo. Mặt ai cũng tươi roi rói; già, trẻ ai cũng vỗ tay thật nhiệt tình. Thấy mọi người vỗ, thì tôi cũng vỗ hết khả năng, mặc dù tôi cũng chưa hiểu hết trọn vẹn ý nghĩa, đến nỗi vỗ xong, đau cả tay. Chờ cho Vân vỗ tay xong, tôi hỏi ngay:
– Buồng hôm nay vui thế?
Vân nói mà nỗi vui còn phè ra nét mặt:
– Gấp đôi năm ngoái, còn gì nữa mà không vui. Năm ngoái chỉ có hai bữa thôi, mà còn không có chou fleur nữa.
Thấy bầu không khí trong buồng cứ vui như Tết, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: từ ngày tôi lên trại, hàng ngày mặt người nào cũng đăm đăm, mang nhiều u uất, nặng nề. Thế mà chỉ hai lạng thịt hơi, hãy còn trong hứa hẹn, đã làm tan biến cái màn u ám, đen tối, khổ đau; nhường chỗ cho những tiếng cười, tiếng nói thoải mái, không còn một chút ngập ngừng. Thế mới biết cái uy lực ghê gớm của vật chất, nếu biết dùng đúng chỗ và đúng lúc.
Hôm nay ngày 27 tháng củ mật (tháng Chạp), chỉ còn 3 ngày nữa là đã Tết rồi. Toán lâm sản chịu trách nhiệm lấy lá giong để gói bánh chưng, nên họ đã phân công 2 người vào rừng ngay từ sáng sớm hôm nay rồi. Ngoài ra, mỗi toán chọn lựa 2 người “đứng đắn” (có nghĩa là quá trình chưa bị những lem nhem, táy máy về ăn uống) xuống bếp gói bánh chưng và phụ với nhà bếp.
Mới có 2 ngày từ lúc tuyên bố – chưa có bánh chưng, chưa có thịt và chưa có cả Tết nữa, mà buổi tối ở các tổ, các toán sinh hoạt. Đã có nhiều người tố cáo, phát hiện anh này định bán bánh chưng với giá 2 đồng. Anh kia đã đặt tiền mua suất thịt ngày mồng 1, mồng 2 hoặc cả bốn bữa ăn của người khác rồi. Lung tung liên quan đến rất nhiều người. Để tối nay, các toán trưởng được lệnh của ban giám thị tuyên bố trước.
Nếu trong ngày Tết, cán bộ biết hay bắt được anh nào mua bán đổi chác dưới bất cứ hình thức nào về ăn uống sẽ bị tịch thu. Cả người bán lẫn người mua đều bị đi kỷ luật và không được ăn Tết.
Tôi hiểu rằng: có những người cả năm không có một hơi hướng về miếng thịt, cũng thèm lắm chứ. Nhất là những người dân tộc, hoặc những anh đã kém khả năng xoay sở, lại không có gia đình tiếp tế. Họ cũng thèm ăn lắm; nhưng có thể nhiều thứ khác trong cuộc sống đối với họ còn cần thiết hơn. Như xà phòng, thuốc lào, tem giấy viết thư v.v…chẳng hạn. Họ đành nhịn, họ chỉ cần có cái ăn sao cho không chết, nên họ mới bán cái thứ quý báu mà hằng năm mới có này.
Ngay như tôi, nếu không sợ bị anh em tố giác, tôi cũng sẽ đổi chiếc bánh chưng hay 1 suất thịt để lấy miếng xà phòng con. Mỗi lần tắm về mùa Đông, nước quá lạnh tôi chỉ cần xát một tí lên đầu gội, hoặc để cọ xát cái bàn chải đánh răng mỗi buổi sáng một tí cho có bọt. Như thế chỉ hy sinh một suất thịt mà có thể dùng được 5 – 6 tháng. Hoặc nếu đổi thuốc lào, một chiếc bánh chưng trị giá những 2 đồng. Thuốc lào, giá chính thức ngoài xã hội là hai hào một gói. Nhưng giá trong trại là 5 hào, thì cũng được 4 gói. Hút dè cũng được 2 tháng rưỡi hay 3 tháng.
Chiều tối cũng như nhiều những buổi chiều khác. Nếu làm nhanh công việc riêng như ăn uống, rửa ráy thì thường thường ai cũng có khoảng 15 hay 20 phút thong dong trước khi kẻng vào buồng. 15 hay 20 phút này, vào những hôm trời không mưa, hoặc không quá lạnh. Chỗ tụ tập đông nhất ở ngoài sân là phía đầu nhà hội trường. Nơi có những cây sào nứa làm dàn để phơi quần áo.
Họ ra đây một phần là để cho thoáng khí, trao đổi những câu chuyện rông rài lúc lao động sản xuất của một ngày. Phần khác, mà có lẽ là phần chính yếu, họ ra đấy để thưởng thức những món ăn ngon lành mà đời họ không còn có được. Mấy hôm đầu thì tôi còn lạ, còn ngơ ngác, chứ bây giờ quen rồi. Bởi vậy, sau khi rửa bát xong khi Toàn nhắc tôi:
– Chốc nữa ra “ăn hơi” chứ anh Bình?
Tôi đã vừa cười vừa gật đầu đồng ý ngay. Của trời cho trại E, tại so không hưởng? Cho hồn ngây ngất, cho lòng đê mê! Khi tôi và Toàn ra tới nơi, thì đã có hơn một chục người rồi. Chỉ không có toán nhà bếp thôi, chứ toán nào cũng có. Chỗ thì 2 người đứng nói chuyện nhỏ to ra vẻ tâm đầu ý hợp lắm. Nhưng rất nhiều người chỉ đứng một mình thẩn thơ trầm ngâm. Mắt họ lơ đãng nhìn những ngọn nứa đang ngắc ngư phía bên ngoài bờ rào trại như những triết gia đang bận tâm tìm một lối thoát cho thế nhân đồng loại. Lại có người ngồi ghệ trên viên gạch, hay hòn đá con. Họ cũng cúi đầu đăm chiêu như đang để hết tâm hồn trên một hướng đi cho mình và cho dân tộc.
Có gì đâu, chỉ vì phía bên kia hàng rào là nhà bếp của cơ quan. Cứ đến cái giờ chết tiệt này là họ xào, họ nấu, họ nướng đủ thứ. Mùi hành, tỏi, mùi mỡ, mùi cá chiên, mùi thịt nướng theo gió, nó rót vào trại E. Có những buổi chiều, mũi nhiều anh đã phải cong lên, mặt đần ra, mắt lờ đờ chỉ vì những cái hương vị chết người đó, ở phía bên nhà bếp cơ quan bay sang. Bởi thế, nhiều người ra đây để tranh thủ 15 hay 20 phút. Có khi hẹn hò như tôi với Toàn, có khi không, nhưng cùng một chí lớn nên đều tụ về một điểm này để ăn…hơi. Mà khoa học thực nghiệm đã cho tôi biết: cái gì ăn tưởng tượng thường lại đẹp hơn cái mình đã có trong tay. Mà nhớ nó cũng thật lâu.
Sau này dù đi trại nào, hay ở đâu, tôi vẫn nhớ nhiều về trại E hơn, chỉ vì cái món ăn “hơi” tuyệt cú mèo này.
Xuyên qua mấy chục tờ Ti Vi Tuần san có câu chuyện “Đen như mõm chó”. Vai chính trong câu chuyện đó là ông thầy đồ. Ngoài Bắc gọi là thầy Đồ, trong Nam gọi là thầy giáo. Thầy Đồ hay thầy giáo thì khi gõ đầu trẻ tuổi củng cỡ 20 xấp lên. Với cỡ tuổi đó có người củng có vài đứa con, nếu như cha mẹ thương con lo vợ sớm đúng theo câu “Nữ thập tam, Nam thập lục” Vậy mà ông thầy đồ gì đó sao ông ta lại dốt gái quá?!!
Đọc qua những câu chuyện thầm kín của ông mà tôi đâm ra tức. Sở dĩ tôi tức dùm cho ông vì nhớ lại củng có lần tôi đi qua cửa Khổng sân Trình thì tuổi tôi chưa đầy mười lăm? Vây mà khi vô lớp học ngâm nga cuốn Ấu Học Tầm Nguyên phải giữ đúng câu “Nam nữ thọ thọ bất tương thân” vì trong lớp học chữ Nho này cũng có một đám con gái học chung.
Trường làng tôi, trường tiểu học Thới Thuận có 3 lớp: lớp Sơ Đẳng (Élémentaire) lớp Dự Bị (Réparatoire) lớp Đồng Ấu (Enfatin). Chỉ có lớp Sơ Đẳng mỗi thứ Năm học thêm chữ Nho.Trên trường tỉnh, trường quận thì có thầy dạy chữ Nho, còn dưới trường làng thì không có thầy dạy chữ Nho, cho nên môn này nhà nước không bắt buộc học sinh phải học. Nhưng tại làng Thới Thuận có một ông thầy Đông Y tình nguyện dạy. Trong đám nho sinh thân nhân tới cho làm lễ nhập môn toàn là con cháu hương chức hội tề tân cựu.
Những viên chức hội tề này họ cho là đi học chữ Quốc ngữ không quan trọng bằng đi học chữ Nho. Trong làng mỗi năm có 4 lệ cúng: cúng Cấu An, cúng Ông Nam Hải, cúng bà Chúa Xứ và cúng Tổ Hát Bội củng là ngày cúng thầy (thầy dạy môn nhạc lễ). Mỗi lễ cúng đều phải viết nhiều câu liễng đối trên giấy hồng đơn đỏ với mực Tàu đen. “Cúng mấy heo không bằng treo câu liễng”Thật vậy cúng tại nơi nào dù lớn hay nhỏ, khi nhang tàn khói tỏa mà dân chúng đi ngang qua có thấy đôi liễng dán trước mặt tiền ai củng biết là nơi dó đã xong lệ cúng hàng năm.Còn họ không thấy có đôi liễng để chứng kiến thì dầu cho có cúng mấy con heo, củng như chưa cúng.Ông thầy dạy chữ Nho cho đám con hương chức hội tề là người xứ Huế. Không biết ông vô đây khi nào nhưng khi lớn lên tụi tôi biết ông có vợ và có con tại làng này. Ông thi đậu bằng Tú Tài Hán học, nhưng tới thời kỳ chữ Nho không được dùng cho hành chánh nửa, ông trú tại làng này sanh sống bằng nghề Đông Y. Làng tôi bị ảnh hưởng nặng về Nho học, vì vậy nơi miền duyên hải xa xôi lại có thêm đám thiêu niên nam nữ nơi quê vợ ông mỗi tối thứ Năm tề tựu lại phía sau nhà ông thọ giáo. Ông tình nguyện dạy miễn phí mà tận tình. Khi làm lễ nhập môn lớp Sơ Đẳng, trong đó có 4 trò gái. Học sinh khi lên lớp Sơ Đẳng mới được để tóc dài hớt Maninh, còn lớp dưới thì thầy giáo dạy chữ Quốc ngữ cho hớt trọc (Carée), trò gái thì hớt Bom-be. mặc quần đen áo bà ba trắng. Khi đám nho sinh ngâm nga cuốn Ấu Học Tầm Nguyên và Tam Tự Kinh, mấy đưa không đi học chữ Nho này thấy dạng tụi tôi thì tụi nó la “Nhân chi sơ tinh bổn thiện, cái miệng đòi ăn..ăn..Thiên trời địa đất, thất mất tồn còn,tử con tôn cháu, lục sáu tam ba, kê gà cẩu chó…con chó ăn cứt” Đó là mấy đứa con mấy gia đình không có trách nhiệm với ban du nghệ cho nên tụi nó không cần đi học sách vỡ của thánh hiền.Mỗi tháng ông thầy đều có cho vài câu trắc nghiệm cho cả lớp.Ông thầy ngồi trên bộ ván ngựa giữa lớp, phía dưới Nho sinh ngồi hai hàng dài trên ghế thấp bàn cao. Bữa đó ông thầy lên bảng viết hai câu như sau:
Tảo bất thực quả
Dạ bất đả thê
Nét chữ thật rõ ràng bằng phấn trắng trên tấm bảng đen. Các nho sinh đều to nhỏ với nhau: gái thì thầm theo gái, trai thì to nhỏ từng cặp một.Một không khí thật là bí mật, trò nào củng muốn đứng lên, nhưng suy nghĩ sao đó rồi lại ngồi xuống. Tôi mạnh dạnh đứng lên giảng nghĩa hai câu trên bảng đó:
_Dạ thưa thầy con xin giải nghĩa.
_Các trò im lặng, có trò giải nghĩa đây.
_Dạ thưa thầy câu đầu: Tảo bất thực quả, là sách dạy mình buổi sáng không nên ăn trái cây như me, bần, ổi vì buổi sáng bụng còn đói mình ăn vô sanh bịnh.
_Đúng là câu đầu như vậy, trò giải nghĩa luôn câu sau.
_Dạ thưa thầy còn câu: Dạ bất đả thê là sách dạy buổi tối mình không nên đánh vợ, vì đánh nó thì đêm đó nó không cho mình… ngủ chung. Tôi nói vừa dứt lời thì cả lớp cười rộ lên. Mấy đứa con trai chạy ra sau chuồng heo cười lớn lên, còn mấy trò gái thì cúi mặt xuống bàn củng cười ha hả. Ông thầy củng cười làm cho tôi vững bụng. Tôi hỏi:
_Dạ thưa thầy con trả lời như vậy trúng hay trật vậy thầy?
_Trò giải nghĩa như vậy củng trúng mà củng trật.
_Dạ sao lạ vậy thầy?
_Nếu như tôi hỏi trò mà trò trả lời như vậy là trúng, nhưng tôi đã viết lên bảng mà trò trả lời như vậy là trật. Câu “ Dạ bất đả thê”,chữ thê ở đây không phải là chữ thê thiếp, là vợ.Chữ thê này trên đầu có bộ thảo là loài cỏ, nếu trên đầu có bộ mộc thì là loại cây. Cho nên chữ thê này là loài cỏ thi. Sách dạy mình buổi tối không nên dùng gậy đánh vô mấy bụi cỏ vì lúc tối mấy con rắn thường nằm núp trong mấy bụi cỏ. Mình lấy gậy đánh vô bụi cỏ, con rắn giựt mình phóng ra cắn vô chân mình mà mình không thấy được nó. Sự nguy hiểm là vậy đó!
Nhưng tôi được thầy cho tới 2 khuyên đỏ. Khi nghe ông thầy cho tôi được 2 khuyên đỏ, các trò đều hăng hái đoán câu đố thứ hai và ông thầy lại lên bảng viết củng hai câu như sau:
Phi nhu phi cương
Phi thảo phi mộc phi như hà
Câu này thật là câu hóc búa với tụi tôi. Phi như hà. Nghĩa là định nghĩa nó ra làm sao? Cả lớp nhốn nháo bàn vô bàn ra, không đứa nào dám đứng lên trước hết vì chữ thật là dễ hiểu. Nhưng dễ hiểu là một lẽ, còn giải nghiã là một lẽ khác. Trúng thì được khuyên đỏ khuyến khích, còn trật thì bị cho khuyên đen, bị mài mực thấy mẹ, vì cục mực lớn gần bằng ngón tay cái của người lớn, mà mài trên cái nắp thố nhỏ, mài cho đủ lớp viết thì củng rã cả tay.
Rồi cả lớp sửng sốt khi thấy trò Tám Nải đứng lên xin giải nghĩa. Anh tướng này vô học thường hay ngủ gục, học dở nhất lớp nên anh chọn ngồi bán dưới chót hết. Vậy mà câu này dám đứng lên tính giựt khuyên đỏ chói? Ông thầy ra lịnh cho thật im lặng nghe trò Tám Nải giải nghĩa câu này.
_Dạ thưa thầy chữ phi nhu phi cương có nghĩa là không cứng không mềm. Cả lớp củng nói đồng thanh như vậy “Phải rồi, phải rồi”
Dạ thưa thầy còn chữ “Phi thảo phi mộc” là không phải cây mà củng không phải là loài cỏ nửa. Còn chữ “Phi như hà” là nó như con cu của em trai con, vì khi nó mắc đi tiểu thì nó cứng lên, khi tiểu xong thì nó xìu, cho nên có lúc nó cương (cứng) có lúc nó nhu (xìu)..nó không phải lọai cây hay cỏ mà nó là loại gân.
Tró Tám Nải vừa cắt nghĩa hụych tẹt ra hai câu đố, miệng anh cười chúm chím, còn tụi tôi thì bò lăn ra cười. Mấy trò gái mặt mày đỏ lơ, cúi xuống bàn miệng nói lớn “Thưa thầy trò Tám Nải nói tục trong lớp”
Sau khi cả lớp trật tự trở lại, thầy cho anh Tám Nải ngồi xuống.
Tháng này tôi cho hai câu trắc nghiệm, cả hai trò đều trả lời giống như nhau, mấy trò học câu “Nhân chi sơ tánh bổn thiện là vậy” Trò Tám Nải vừa trả lời câu chữ đó là theo sự học còn nông cạn, nên hiểu sao thì nói ra như vậy.
_Dạ thưa thầy câu đó có nghĩa ra sao thầy?
_Câu đó là ví cây tre. Nó không cứng không mềm vì mấy trò thấy những cây cao lớn mà gặp giông tố gió lớn thường bị gãy nhánh và ngã cây. Còn như cây tre giông tố gió lớn nó bị nằm xuống mà khi trời êm trở lại nó vẫn đứng lên như thường. “Phi thảo phi mộc: không phải loài cây cỏ” Câu này dùng để ví người quân tử, vậy mà trò Tám Nải ví như con cu của em trai trò là vì sự hiểu biết của trò giới hạn có bao nhiêu. Cho nên sự học cao chừng nào sẽ hiểu rộng hơn chừng nấy. Để khuyến khích trò Nải tôi củng cho trò một khuyên đỏ. Cả lớp vỗ tay mừng và kể từ ngày anh được một khuyên đỏ đó anh củng có một cái tên mới khác, đó là anh Tám Như Hà. Xóm ngoài anh ở thì còn kêu tên thật, còn khi anh vô tới xóm chợ thì tụi tôi kêu tên mới là anh Tám Như Hà. Ban đầu anh còn cự nự dữ lắm, có lúc anh xuống nước nhỏ với tụi tôi là anh sẽ đãi tụi tôi một con chó đặng tụi xóm cho bôi tên Như Hà của anh nhưng không đứa nào chịu và cho tới khi lớn lên có vợ có con nhưng khi gặp anh vui miệng củng kêu Như Hà. Củng trong thời gian tuổi dưới mười lăm đó tôi phải luyện thêm Việt Văn để đi thi bằng Tiểu Học trên trường tỉnh Mỹ Tho. Năm đó trên quận An Hóa có phái xuống một cô giáo. Cô giáo này được phái xuống đặng dạy cho đám trò gái về môn Nữ Công. Đám trò trai thì đã có thầy giáo dạy về môn Thủ Công, nhưng môn Thủ Công này được thầy cho làm tự do, trò nào muốn làm vật gì thì làm, khi làm xong mới đem vô trường cho cả mấy thầy chấm điểm. Dân miền duyên hải thì đề tài thủ công củng là vật dùng miền duyên hải, nào là trò đan ky bằng tre để xúc cá, đan giỏ cần xé, đan sàng. Trò ra rừng cắt dây mủ về đan rế thứ dùng để nồi cơm trách cá. Trò thì lấy đất sét nắn ra con trâu, con dê, con ngựa, năm đó tôi đốn cây giá về lại chổ mấy trại đóng ghe, muợn đục cưa ra làm cái cày.
Khi thầy chấm điểm xong những môn thủ công đó được treo chung quanh lớp học, cho nên có quan khách tới thăm trường ngó lên thì biết vật dụng thông thường miền duyên hải. Cô giáo biệt phái này có giờ luyện Việt văn cho tụi tôi, trong số đã được tuyển cho đi thi Tiểu học. Dân duyên hải đứa nào đứa nấy thật cồ con.
Cô giáo này tính tình vui vẽ không quá nghiêm khắc như mấy cô giáo trước. Hôm nay trong đề tài học tiếng đôi, tiếp theo bài trước học về tiếng chiếc, cô đọc một hồi: Lý tưởng, cô đơn, lâm ly, hài lòng, hạnh phúc, ê a và trừu tượng, tưởng tượng và các trò tuần tự đứng lên giảng nghĩa từng tiếng một. Trò giải nghĩa trúng củng có mà trật củng có, nếu trật thì cô sẽ giải thích cho biết. Tới chữ trừu tượng thì tới phiên tôi phải đứng lên trả lời.
_Trò Ba cho tôi biết ý nghĩa chữ trừu tượng ra sao?
Hồi sớm mai mấy trò gái có mấy trái bần ổi thật ngon mà tôi xin nửa trái mấy trò ham ăn không cho, còn bỏ trong túi áo bà ba kè kè nên tôi lấy đề tài đó chọc tụi nó cho bỏ thói ham ăn chua.
_Dạ thưa cô chữ trừu tượng là…mình thấy vật trước mắt mà nó không được rõ lắm. Củng như hiện em trông thấy trong túi áo mấy trò gái bỏ vật gì mà nó phùng ra mà không biết nó là trái bần hay là trái ổi? Cô giáo và cả lớp cười ồ lên. Còn phía bên kia con gái…thì hai ba ngón tay xỉ qua ngay tôi, miệng nói lầm thầm gì đó dịch vật anh. Xong cô giáo nói:
_Trò Ba ..hãy định nghĩa câu nửa cho rõ ràng hơn.
Cô giáo mặc áo dài đi lên rồi đi xuống. Khi cô đi ngang qua bàn tôi đang suy nghĩ coi phải chọn vật gì cụ thể tại đây. Bổng tôi thấy tà áo dài cô bay phất phơ theo chiều gió từ ngoài cửa thổi vô, phất phơ chéo áo tôi liền đứng lên nói tiếp danh từ trừu tượng mà cô giáo sẽ chấm điểm giờ Việt văn cho tôi:
_Thưa cô, trước mặt em, thấy cô hiện đương mặc cái xì-líp bên trong mà bên ngoài em chỉ thấy dạng đường gân lên cho nên em chỉ trừu tượng như vậy mà klhông biết nó là màu sắc gì?
Tôi vừa trả lời xong câu này thì dường như cả lớp đều cười khúc khích? Cô giáo thì dường như hơi mắc cỡ nên ngó tôi một giây ngắn ngủi. Cô nói: “Bộ hết chổ so sánh rồi hay sao?” và cô cho tôi được …dix bon bien! Đó là đại khái những cái tôi “sáng dạ” hơn ông thầy đồ của Thầy Chạy. Nhà có cơm có tiền cho tôi đi ăn học. Học chữ Nho rồi học chữ Quốc ngữ, hai thứ văn hóa này quá xung khắc với nhau. Chữ Nho cầm bút lông viết từ bên mặt qua bên trái. Chữ Quốc ngữ cầm ngòi bút sắt viết từ bên trái qua bên mặt.Chữ Nho mỗi cuối tháng có khuyên đỏ là được ưu hạng. Chữ Quốc ngữ mà được cái vòng tròn đỏ thì tháng đó phải sụt xuống cỡ 5 hạng sấp lên, có khi còn ngồi dưới đít mấy đứa con gái (Xin lỗi, dưới đít đây là trong sổ của thầy, còn ngồi thì đã ngồi riêng ra trai với gái). Hồi xưa lớp tôi còn nhỏ ở nông thôn cha mẹ cho con đi học là để biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ gái trai gì củng vậy. Đó là các gia đình lao động bình dân, còn lớn lên đã có một trách nhiệm về sinh kế với gia đình nên ít người cho con đi học lấy bằng cấp đặng làm thầy. Có câu “Vác giạ lúa không ai vác giạ chữ” con đi học lấy bằng cấp đặng làm thầy. Có câu “Vác giạ lúa không ai vác giạ chữ”
Chưa đầy 20 tuổi đã lo cưới vợ, vì 21 tuổi là bị “hung niên” mấy trò gái chưa lên tới lớp Sơ đẳng mà thôi học còn để tóc ra dài đặng bới đầu là đã biết cha mẹ hứa gã cho ai rồi. Riêng cá nhân tôi được hân hạnh gia đình cho đi học hai thứ chữ, chữ Nho và chữ Quốc ngữ. Thứ chữ nào củng dạy “Tiên học lễ,hậu học văn” .Các sư phụ dạy toàn là “trung, hiếu, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”.Họ muốn đào tạo mình trở thành một công dân tốt vậy mà tuổi mới chưa đầy mười lăm mười tám biết trả lời câu “Dạ bất đả thê” là sách dạy mình tối không nên đánh vợ.Trả lời cái nghĩa gần sát củng được,vậy mà còn thêm câu “Tối đánh vợ thì đêm đó nó không cho mình ngủ chung” .Củng như giờ Việt văn lăm le khai thác chọc ghẹo trả thù mấy trò gái hồi sáng không cho ăn bần ổi, lợi dụng chữ trừu tượng để chỉ cho cả lớp biết khi vô lớp mà còn đem theo trong mình cho tụi con gái mắc cỡ. Cô giáo biết là tôi chọc phá mấy trò gái bắt tôi phải trả lời lại hai chữ trừu tượng một lần nửa và lần này tôi củng lẹ làng và rất thực tế “trước mắt thấy cô mặc cái xì-líp” bên trong mà không biết nó màu gì. Một câu trả lời làm ngạc nhiên cô giáo An Hòa, câu này phải là câu lớn tuổi đồng trang bạn với cô để mà chọc ghẹo. Còn tôi là đứa nhỏ còn bận quần xà lỏn đi học vì vậy cô giáo cho tôi 10 điểm.
Cho nên tôi mới dám chê Ông thầy đồ trong câu chuyện “Đen như mõm chó”. Vai tuồng Ông thầy đồ đóng trong phòng the kín đáo mà gặp tôi thì câu chuyện đó nó không được dài dữ như vậy.!!
Nếu trên bờ thì nghề đó kêu là ăn trộm hay dân đạo tặc (bần cùng sinh đạo tặc) lại củng có có tên là đạo chích (chó người đạo chích sủa vua Nghiêu) còn dưới sông ăn trộm thì kêu là Bối. Bửu bối là vật quý của thầy tặng cho các trò tu tiên là phép khi hạ san để phòng thân ra phò vua giúp nước, đâu có cho kẻ gian trong giới giang hồ. Vậy mà trong đám thảo khấu sông hồ này lại có tên hoa mỹ như vậy?
Các ghe thương hồ thưở xưa tất cả xuôi ngược đều chèo suốt ngày có khi suốt đêm, mái chèo khuấy nước làm động cơ. Vì vậy mà khi mái chèo được gát lên be ghe, tất cả trong ghe đều mỏi mệt chìm đắm trong giấc ngủ đó là giờ thuận tiện cho đám Bối làm ăn.
Chúng sẽ lén bò qua ghe lấy đồ và vật, nhưng không c1o gì đáng đồng tiền thì họ lấy chèo, bánh lái. Ghe nếu không có hai thứ này thì như bị chết máy giữa đường sẽ làm trễ nải công việc bán buôn sở hụi hàng ngày bị kéo dài ra… rồi sẽ có người bơi xuồng tới họ làm môi giới cho chủ ghe đi chuộc lại vì họ thấy mấy món đồ đó nó trôi giữa sông nên họ vớt lên đem về nơi nào đó!
Khắp vùng Tiền Giang chổ nào củng có Bối, nhưng tiến tăm nhất chỉ có đám Bối Ba Cụm. Sào huyệt đám Bối ba Cụm này nằm trong rạch tên Ba Cụm. Rạch này lối gần ngã ba Giao Hoà đầu con kinh An Hoà phía dưới làng Phú An Hoà trên con sông Cửu Long thuộc tỉnh Mỹ Tho. Nhưng các chi nhánh đặt nhiều nơi từ Vàm Bà Rãi xuống tới cù lao Ngũ Hiệp, cù lao Thới Sơn, cù lao Rồng là vùng trên. Còn vùng phía dưới từ vùng Bình Đại lên Lộc Thuận, Vang Quới, Phú Thuận, Long Phụng vàm Giao Hoà thuộc về tụ điểm Ba Cụm.
Từ đầu con kinh Kỳ Hôn vô ngã ba Ông Văn, kinh Chợ Gạo, Bình Phục Nhất, Bình Phục Nhì tới đầu kinh Nước Mặn và chợ Dinh lại thuộc về tụ điểm ngã ba Ông Văn. (chợ Dinh làng Đồng Sơn quận Cần Giuộc Chợ Lớn). Dân đi Bối có nhiều hình thức để nghi trang: xuồng đi bám vàm, xuồng đi câu tôm cá, xuồng bơi đi chợ…trong đó chỉ có xuồng đi bám vàm là nguy hiểm nhất. Đêm khuya canh vắng, một giọng hò huê tình:
Hò ơ… đèn cầu tàu ngọn xanh ngọn đỏ, đèn chợ Mỹ ngọn tỏ ngọn lu.. anh về học lấy chữ Nhu (Nho).. chín trăng em đợi..hò ơi.. mười thu em củng chờ..
Hò..ơ..Mỹ Tho nước ngọt gió hiền…tàu xuôi Nam Hải ngược miền Nam Vang…thương hồ chiếc dọc chiếc ngang ..tiếng rao lãnh lót..hò..ơ..nhịp nhàng chèo khua, cháo gà, cháo vịt, cà phê, nước ngọt, nhậu lai rai đây.
Tiếng cô thiếu nữ rao nghe thanh tao, Bối cặp theo ghe thương hồ đậu nghỉ củng không phải chỉ đi bám vàm còn chuyên nghề đấm bóp và xa hơn nửa nếu chịu xong giá cả đôi bên thoả thuận. Khi anh lái buôn tỉnh giấc Vu Sơn người bạn một đêm đâu mất và cả tiền bạc cùng những đồ đạc quý củng mất luôn! Có khi người bạn một đêm vẫn còn nằm bên cạnh mà đồ vẫn bị mất như thường, vì khi mỏi mệt cùng người đẹp trong giấc mộng chung tình chính tay người đẹp đó sẽ lén chuyển đồ vật cho đồng bọn Bối xuống gần ghe hay là bỏ đại những quần áo xuống dưới mặt nước, nước trôi xuống có người chờ đợi vớt lên về xài.
Vì ghe thương hồ nội trong mui là phòng khách, phòng ăn và luôn cả phòng ngủ của chủ ghe. Tất cả bạn trạo phu ban đêm thì ngủ ngoài rồi tự do ai muốn bắt cặp thì bỏ tiền ra bắt cặp. Mỗi xuồng vàm từ hai cô cho tới ba cô, cặp mối xong thì bò qua ghe, vì vậy mà luôn bị thế nội ứng, ngoại hiệp! Thật tụi nó tài tình như có bửu bối? Có lẽ vì vậy mà họ bỏ chữ Bửu chỉ xài một tiếng Bối để đặt tên?
Mấy anh lái buôn hảo ngọt bị mấy em đoạt mất hồ bao đều có một sách khi về tới nhà báo cáo cho vợ con, chuyến này bị Bối xông thuốc mê tụi nó bơi xuồng ngang qua ghe mình nghe tiếng ngủ ngáy đều đều thì tụi nó xông thuốc mê trong ghe không ai hay hết.
Lệ cúng Kỳ Yên làng Thới Thuận ngày 16 tháng 6 âm lịch. Đi coi hát đình tụi tôi ngán nhất ông Từ ngồi gần sân khấu còn lấn qua lấn lại dành chổ làm cho đào kép trên sân khấu hát không được, mà phía dưới khan giả coi củng không được. Vậy mà khi nghe tiếng nói ông Từ tới đó thì tất cả đám nhỏ đều ngồi xuống lặng thinh. Ông cầm cây roi tre dài, áo dài đen đội khăn đống đàng hoàng, hai vạt áo dài cột lại cho gọn, ông đi tuần tra cho nam ra nam nữ ra nữ không cho hai phái đụng gần nhau. Mấy đứa con nít con hương chức hội tề, ông có quyền bổ roi tre trên đầu nếu không chịu ngồi xuống, còn đánh lộn thì ông xách hai tay hai đứa đuổi ra khỏi đình giữ trật tự cho chầu hát.
Ngày mùng 1 đầu tháng, ngày rằm nửa tháng sau khi dứt ba hồi trống nhóm tại công sở Thới Thuận, các hương chức hội tề lần lượt vô công sở nhóm đặng bàn về việc quan, việc làng. Ông Từ củng áo dài khăn đen vô công sở lãnh nhang đèn về đình. Bà Từ mỗi buổi sáng đầu đội cái sàng hai tay bưng hai thúng đựng trầu cau vô chợ bán. Nếp sống trầm lặng của ông bà Từ trái hẳn với nếp sống đua chen của dân ngoài xóm đình này. Làng cất cho ông bà căn nhà nhỏ giữa khoản đất trong đình với làng. Ông bà chết được làng chôn cất và bài vị người tiên vãng sau hậu đình. Như vậy làng này ông bà không có ai là thân nhân hết. Khi về nhà thấy trên lư hương bàn thờ có miếng giấy màu đỏ đó là của ban khánh tiết gởi tới báo tin cho các nhạc sanh và lễ sanh tới kỳ ra tập dượt lễ nhạc ngoài đình.
Ăn cơm chiều xong đám con cháu trong ban du nghệ lần lượt ra đình dưới sự chứng kiến của Hương Lễ, Hương Nhạc, hai bô môn này phải cho hiệp nhất, phải cho ăn rập và nghiêm trang khi tế thần. Sau giờ tập xong các đám tập sanh lễ nhạc lần lượt ra về. Thường thường tôi ở lại trò chuyện với ông Từ:
_Ở đây ông có bà con với ai không ông Từ?
_Tao ở xứ lạ lại đây không có bà con với ai hết.
_Xứ ông ở đâu vậy ông Từ?
_Củng ở chung một quận An Hoà trên kia.
_Trên kia là trên nào vậy ông Từ?
_Thằng này thiệt tò mò, tao ở trên Ba Cụm.
_Phải ở chổ đó họ kêu là Bối Ba Cụm không ông Từ?
_Thì vậy chớ sao mày?
_Cái đó là cái gì mà họ kêu là Bối Ba Cụm?
_Bối là ban đêm đi ăn cắp đồ dưới ghe, củng như ăn trộm ăn cắp đồ trên bờ vậy.
_Sao không kêu ăn trộm cho dễ hiểu mà bày đặt kêu Bối?
_Thằng này hỏi riết làm tao không biết đường mà trả lời, ông cười.
_Hồi ở trên ông có đi Bối không ông Từ?
_Có chớ sao không mày, tao là dân chuyên môn mà.
_Dân chuyên môn mà sao ông lại xuống đây làm ông Từ đốt nhang cho thần?
_Thôi để bữa nào rãnh tao nói cho mày nghe, bây giờ khuya rồi.
Rồi một đêm, một già một trẻ dưới ngọn đèn leo lét, ông Từ mới bắt đầu tâm sự với tôi. Ông kể lại một thời lừng danh tại tổng hành dinh của bọn thảo khấu sông hồ Ba Cụm. Năm đó tao đi bán bí rợ trên Cầu Ông Lãnh khi buôn bán xong chờ chủ vựa trả tiền, mấy đứa bạn thì đi coi Sở thú, đứa thì vô coi Chợ Lớn Mới Bình Tây. Tao củng thả lần ra chợ Thầy Gòn coi họ buôn bán. Tao đi dài theo con đường gì đó bỗng có người trong nhà hàng ra mời tao vô nhà hàng uống cà phê chơi. Thầy đó bận đồ tây mà lạ hoắc, tao không biết là ai, nhưng tao cũng vô nhà hàng theo thầy đó. Trong nhà hàng củng có hai thầy bận đồ tây bắt tay tao và mời tao ngồi.
_Anh còn nhớ tôi không?
_Tao hết hồn tưởng đâu là gặp lính kín.
_Dạ tôi không nhớ gặp thầy ở đâu và hồi nào.
_Năm ngoái tôi gặp anh trong ngã ba Ông Văn chợ Gạo, ghe tôi đậu ngủ tại Binh Phục Nhì bị đám đệ tử anh lấy mất bánh lái, tôi đi chuộc lại đó.
_Xin lỗi, vì nhiều người quá nên tôi không nhớ hết.
_Khi ghe anh lên bán bí rợ thì đám em út của tôi ở Cầu Muối có cho hay tụi tôi đợi cho anh buôn bán xong mới đón anh làm quen và mời anh lại nhà tụi tôi chơi và bàn nhiều công chuyện làm ăn với anh.
Ai củng bận đồ tây chỉ có mình tao bận đồ bà ba xập xệ, ngôi chung trên xe chạy vòng vo tam quốc. Họ chỉ chổ này họ chỉ chổ kia tao đâu có nhớ cho hết vì mình ở dưới nhà quê lên Thầy Gòn. Xe tới nhà họ thì có mấy người đàn bà chạy ra mừng, nhà họ coi sang trọng lắm, đem rượu tây ra uống nói chuyện chơi. Khởi đầu họ nói, trên này tụi tôi danh tiếng là Bối Ba Cụm nên phục tài mấy đệ tử của anh, vậy bây giờ anh đừng sợ và nghi ngờ gì hết nhé. Tụi tôi đây củng đồng nghiệp với anh. Tao nghe họ nói tao hết hồn, mình nghèo mới đi ăn trộm, còn họ sao giàu như vậy mà củng đi ăn trộm như mình? Họ mời tao vô phòng kín cho thấy nào là mặt nạ, dao găm, củ chì thung lại có súng nửa. Như vậy là chánh ăn cướp chớ đâu phải là Bối như tao. Bây giờ họ mới nói thiệt với tao, họ muốn cùng tao hiệp lại làm ăn một chuyến lớn, kết quả còn hơn tao đi Bối ba năm. Nếu như tao bằng lòng thì họ thảo luôn kế hoạch tại đây, còn như dụ dự thì họ đưa tao về ghe dưới Cầu Ông Lãnh.
_Rồi ông chịu hợp tác làm ăn với họ không ông Từ?
_Chịu chớ sao không, vì trong bụng tao hồ nghi đám này là đám anh hùng Hiệp Liệt trong bộ tiểu thuyết “Châu về Hiệp Phố” quá.
_Mày có coi bộ tiểu thuyết đó không?
_Dạ cháu nghe nói bộ tiểu thuyết đó hay lắm, nhưng ở nhà cấm không cho coi tiểu thuyết. Chỉ cho đọc truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Phong Thần, Ngũ Hồ Bình Tây, Tiết Nhân Quí Chính Đông, truyện Tây Du, thơ Phạm Công Cúc Hoa, thơ Sáu Trọng, thơ Cậu Hai Miêng.
_Mày coi mấy thứ đó nói toàn là chuyện đánh Nam dẹp Bắc, đứa nịnh hại đứa trung, người tôi trung bị hoạn nạn đã đời rồi thì đâu vô đó. Ân báo ân, oán báo oán, chuyện nào củng như vậy hết nhất là bộ truyện Phong Thần. Còn mày coi bộ truyện Tam Quốc Chí người anh hùng như Tào Tháo thì bị khi dễ, còn như Quan Công là tay điếm đàng thì lại cho hiển thánh!
_Trời ơi, ở đây họ thờ ông Quan Công nhiều lắm.
_Bởi vì họ dốt nên thấy mấy người Các chú họ thờ nên mình củng bắt chước họ mà thờ, mình người An Nam không thờ anh hùng người An Nam mà đi thờ người bên Tàu!
_Mày có đọc truyện Tam Quốc mày biết tại sao trong đời chiến Tam Quốc chỉ có một cây Thanh Long Đao?
_Dạ ông thợ rèn Lữ gì đó rèn cho ông Quan Công mới có một cây rồi vì đứng gần coi ông Quan Công múa thử nên bị tai nạn rủi ro là ông Quan Công vớt một phát đứt đầu, cho nên chỉ có một cây Thanh Long Đao mà thôi.
_Mày nhớ giỏi, sự thật thì không phải bị tai nạn rủi ro mà là có ý vì Quan Công múa thử cây đao thật vừa tay quá, nếu để cho anh thợ rèn này còn sống thì trong đời Tam Quốc y rèn cho biết bao nhiêu cây đao như vậy thì hết giá trị cây đao này, chi bằng giết anh ta chết thì đâu còn ai mà rèn được cây đao thứ nhì. Rồi Quan Công chết về tay ai giết?
_Dạ ông bị phục kích chết vì không chịu đi về tiểu lộ có tin cho hay đi đại lộ về thì sẽ bị phục kích, mà người phục kích đó là Lữ Mông.
_Mày biết Lữ Mông là con ai không?
_Dạ cháu quên không biết là con ai.
_ Lữ Mông là con anh thợ rèn người rèn cây Thanh Long Đao, khi Quan Công phục chết anh thợ rèn thì vợ anh ta đang có bầu. Sauk hi mẹ nó sanh ra, nuôi nó lớn khôn và cho nó biết người đã giết cha nó là Quan Công, nên nó quyết báo thù cho cha nó.
_Còn đoạn quá ngũ quan trãm lục tướng?
_Dạ ông Quan Công hay tin anh muốn đi thăm mà mấy lần vô xin phép ông Tào Tháo đều lánh mặt nên ông phò nhị tẩu trốn đi. Vì không có lịnh tiển nên các cửa ải không cho ông ra khỏi ải vì bị cản trở nên ông đi qua 5 ải giết chết hết 6 tướng giữ ải của Tào Tháo.
_Mày coi trong truyện gì đó, có hai ông Bá Di và Thúc Tề giận không ở vào nhà Châu, lên núi Thú Dương ở không thèm ăn gạo của nhà Châu, nghĩ thẹn nên nhịn đói mà chết như vậy mới ngon. Còn Quan Công khi phò nhị tẩu, tạm trú nơi núi Thổ Sơn, thiếu thốn cực khổ quá nên mới đua điều kiện, mà về ở với Tào Tháo. Gặp tay Tào Tháo là người mến tài, tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến, người ta đối đãi như vậy mà khi ra đi lại còn giết hết 6 tướng?
_Rồi trận Huê Dung Đạo?
_Trận đó Tào Tháo thất trận chạy tới ngõ hẹp Huê Dung, thì bị ông Quan Công đón bắt được.
_Rồi sao nữa?
_Dạ rồi bị Tào Tháo khóc kể lể, nên bây giờ hể ai năn nỉ kể lể, thì họ nói sao thằng này lại kể lể như Tào Tháo. Cho nên ông Quan Công thấy vậy thương tha cho Tào Tháo chạy về nhà.
-Đó mày thấy không bị mang nặng án kẻ thù nên vì lẽ đó mà dám bắt giặc, tha giặc theo luật nhà binh thì bị tội tử hình. Đừng nói chi khi ra đi còn có làm tờ cam kết với Khổng Minh. Nội mày thấy bao nhiêu đó, thì cái lý lịch của Quan Công toàn là mâu thuẫn với hai câu thơ liễng thờ:
Trung đồng nhật nguyệt nghĩa đồng thiêng.
_Mày có học chữ Nho, mày thấy có trung chổ nào mà nghĩa chổ nào? Nói ra thì mất lòng sự tự do tín ngưỡng, nên ai muốn thờ ai thì thờ.
_Ông nói người An Nam thờ anh hùng người An Nam là ai?
_Thằng có ăn học mà sao ngu quá, hiện giờ tao với mày nói chuyện ở đâu đây?
_Dạ ở hậu đình chớ đâu.
_Đình là để thờ thần, ông thần này là anh hùng người An Nam, mày thấy tới lễ cúng cầu an cho bá tánh cúng con heo tuyền, tiền vãng con heo tuyền sắc 100 kg cái đầu heo đó đem kiến người thừa hưởng tiền Hiền, còn cái nọng thì đem kiến cho người thừa hưởng hậu Hiền.Người thừa hưởng tiền hậu Hiền là chú Bảy Nhỏ trong ấp Thới Lợi họ Ngô. Người thừa hưởng tiền Hiền là thân nhân họ có công lặn lội từ đây ra tới Đế kinh thỉnh được sắc thần do nơi vua ban đem về tại làng Thới Thuận. Hàng năm tới ngày giỗ là ngày 16/6 âm lịch cũng là ngày cầu an cho bá tánh. Ngày giỗ của vị anh hùng có công phò vua giúp nước đã tử trận. Mày không nghe có câu: “Sống làm tướng chí bền ngọc thạch, chết làm thần danh tạc đá vàng” là vậy đó. Còn người được hưởng Hậu Tiền là người thợ mộc chánh, đứng ra chỉ huy cất cái đình này. Mày thấy cái đình này có hơn trăm năm, mà mấy ông thợ mộc đời nay còn phải phục từ miệng kèo, miệng cột.
_Sao cháu thấy nghinh Sắc thần vô đình mà không có cúng ông thần trước mà lại cúng ông Tiền Vãng trước?
_Tiền Vãng là chết trước, những người chết trước trong ban Du Nghệ như ông cố mày, ông ngoại mày, ba mày hay ai là người trong ban khánh tiết hay hương chức hội tề. Trước sau củng vậy luôn luôn đám Hậu Tân phải nhớ ơn họ và khi có những lễ cúng tuy là người khuất mặt mà vẫn nhớ tới như họ vẫn luôn có mặt tại đây với người còn sanh tiền.
_Vậy cháu biết rồi giờ ông nói tới vụ bọn cướp Hiệp Liệt đi. _Khi họ nghe tao chịu hợp tác làm ăn với họ, thì họ mời tao ở lại đêm, ăn cơm và đi coi hát cải lương. Họ đua cho tao một bộ đồ tây mặc vô đi coi hát. Bây giờ nhớ lại cái xe của bọn cướp là kiểu điếu xì gà màu đỏ mà hiệu Đờ La Hay. Ăn cơm xong họ chở tao ra chợ Bến Thành đường gì đó rạp gì có tên như là Modern (đường D’Espagne). Họ với tao là ba người, một người lại mua giấy thấy giá thượng hạng $1.20 hạng nhất $1.00.00 hạng nhì. $0.60 hạng ba, hạng cá kèo $0.30 đứng. Tao với người đi chung đứng ngoài, chỉ có một người lại chổ bán giấy. Anh ta đứng đó xin tấm gờ-ram coi, trong khi đó thì gần tới giờ mở màn nên khán giả chen lại mua giấy. Anh ta đứng coi một hồi thì chỉ cho họ ghi 3 cái giấy thượng hạng là $3.60. Khi người bán giấy đưa ra thì người đó biểu thối lại tiền.
Người bán giấy nói:
_Thầy chưa đưa tiền mà đòi thối à?
_Tôi đưa cho anh tấm giấy con công anh coi lại trong tủ anh coi có hay không?
Người bán giấy thấy người đó mặc đồ Tây Tussoir, mang kiếng gọng vàng coi bộ dân sang quá nên đành thối lại $1.40. Tao được chứng kiến từ đầu tới cuối, đi coi hát ba vé thượng hạng đã không mất tiền mà còn thêm được $1.40 bỏ túi, tao bái phục bọn này! Ngồi trong rạp hát thấy chung quanh toàn là người ăn mặc bảnh bao, phụ nữ thì dồi phấn thoa son, xức dầu thơm nực nồng. Thanh niên thì ăn mặc đồ Tây lịch sự, ai nấy vui vẽ chuyện trò so sánh lại thấy mình thua họ xa quá!! Vì vậy trên sân khấu đào kép ca hát còn tao ngồi suy nghĩ lung tung nên không thưởng thức được đêm hát cho trọn. Coi có hai màn thì họ kêu nhỏ ra ngoài chơi và họ đưa tao ra ngoài Lăng Tô hứng gió, xe đâu môt chổ thanh vắng, bây giờ họ mới thảo kế hoạch với tao: họ đưa cho tao $100.00 với số tiền này tới ngày đó tháng đó, giờ đó phải có mặt tại núi Nứa thuộc tỉnh Bà Rịa giả làm lái buôn.
Trong ghe toàn là người trong đảng, tuyệt đối giữ bí mật không cho tụi bạn biết gì hết. Họ đưa cho tao 4 tấm giấy quánh ($20) 4 tấm giấy con công ($5) đưa tiền lẽ xài không ai nghi ngờ. Khi ra tới chợ Bà Rịa, thì đậu ở đó lên mua cá thịt tất cả thực phẩm, rượu trà bánh đều đủ rồi chèo ra núi Nứa. Ra đó coi đám dưa hấu nào đỏ rồi gánh lần lần xuống ghe, ghe đậu gần đường đi lại chợ Long Sơn. Họ căn dặn thật kỹ rồi đưa tiền và chở tao về ghe Cầu Ông Lãnh.
_Lấy tiền rồi ông có đi ra chổ nào đó ông Từ?
_Đi chớ sao không, đi cho biết đá biết vàng. Chuyến đi buôn đó vốn lời không tới $50 mà họ dám đưa tao tới $100 mà không sợ mất thì đúng là dân anh hùng rồi còn gì nửa? Khi nhận tiền tao hứa là bằng cách nào miễn sao ghe tao ra tới núi Nứa đậu ở đó đúng ngày là được. Vì từ kinh nước Mặn, tao lên quận Cần Giuộc lên tới ngả ba cây Khò ra Phú Xuân (Nhà Bè) ngang Bình Khánh ra ngã Đường Tranh vô tới Vũng Vàng đi ngang qua quận Long Điền lên đó đi chợ mua thực phẩm xuống ghe ăn rồi đi ra Hộ Bài, đi ngang qua Rừng Sát, chèo trong mấy rạch nhỏ ra núi Nứa đâu đó cho đúng ngày giờ đã hẹn. Họ không cho tao đi lung tung trong rừng như vậy vì ngày đó họ có cho người canh tại chợ Bà Rịa coi tao nhận tiền mà có ra đó không? thành ra ghe tao đi vòng vo mới tới cầu sắt chợ Bà Rịa (sau chợ Bà Rịa dời vô ngã ba đường đi Long Thành) Khi đúng lời hẹn ghe tao đâu tại chợ Bà Rịa mua nào cá, nào thịt, nào rượu trà xong mới chèo ra núi Nứa.
Tỉnh Bà Rịa có đủ Cửu Long và Thập Phước. Cửu Long là 9 chổ có địa danh mang chữ Long: Long Hải, Long Điền, Long Kiên, Long Thành, Long Hoà, Long Hậu, Long Phú, Long Quới, Long Sơn (núi Nứa).
Thập Phước là 10 chổ có địa danh mang tên đầu là Phước: Phước Lễ, Phước Tỉnh, Phước Lý, Phước Tuy, Phước Hoà, Phước Hưng, Phước Lợi, Phước Bình, Phước Lâm và Phước Bửu (Cù My). Tại chân núi Nứa là đảo Long Sơn có một cảnh chùa mà không phải là chùa Phật. Có một tu sĩ cầm đầu đạo này kêu là ông Đạo Trần.
_Mày có nghe tiếng gì đó không?
_Dạ có tiếng tù và thổi ở xóm ngoài.
_Tiếng tù và của anh Lái Chiến mà lại có 3 cái thổi lên một lượt.
_Vậy là bửa nay ghe đáy của ông Quản Hộ trúng cá Mùa?
_Tao phải lấy cá về cúng Lệnh Ông Nam Hải, mày về bửa nào nói thêm.
_Xứ tôi, làng Thới Thuận một tục lệ được duy trì qua nhiều thế hệ của ngư dân chuyên đóng đáy hàng khơi (đáy rạo). Hàng đáy nào mà trong vùng biển đó đóng được con cá Mùa loại cá như cá Thu mà không phải là cá Thu. Loại cá này theo truyền thuyết của các bậc tiền bối ngư phủ là loại cá mà ông Nam Hải thích nhất. Nếu chỉ được vài con thì lái và bạn cúng ngoài biển cho cá lạc bầy. Còn như đóng được cả bầy lối vài chục con thì ghe phải về sớm hơn ông lái lên nhà cho chủ hay, chiều biển này mình trúng được cá Mùa.
Chủ nhà bày hương án ra giữa trời để 10 con cá Mùa lên mâm, khi nhang đèn đốt lên kế đó là thổi tù và lối xóm nghe có 3 giọng tù và khác nhau là biết ghe biển đó trúng cá Mùa, nếu trúng ít thì chỉ thổi một cái mà thôi. Cho nên ông Từ giữ phần hương khói cho làng ông Nam Hải thay mặt cho vạn lạch làng Thới Thuận khi nghe có tiếng tù và vào nửa đêm phải thân hành ra chổ trúng cá Mùa nhận 3 con đem về làng để sống như vậy cúng. Còn phần chủ ghe đáy khi cúng xong lâp tức cho gia nhân đem những con cá quý đó đi biếu những thân nhân gần nhất như sui gia chẳng hạn. Thành ra tôi chỉ nghe tới loại cá quý đó mà chưa bao giờ được ăn cả.
Tại chân núi Nứa là làng Long Sơn có môt cảnh chùa mà không phải là chùa Phật. Có một tu sĩ cầm đầu mối đạo này mà họ kêu là ông Trần. Người thì cho là ông họ Trần, người thì nói ông chỉ ở trần quanh năm không bận áo. Toàn đảo Long Sơn này đều theo đạo ông Trần, đàn ông củng để tóc và bới đầu như đàn bà ở xa thấy họ mặc quần lãnh đen áo túi trắng bới đầu tóc thì đàn ông lẫn đàn bà đều giống nhau. Mỗi năm tới kỳ đại lễ Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 âm lịch khách thập phương đi tới cúng tấp nập, gần chợ Long Sơn có cất cái tổ đình thật lớn để cho khách thập phương tới ở tạm nơi đó. Còn dân địa phương gần tới ngày lễ lớn thì họ tự động gánh củi đem rau cải và những thức ăn chay đem tới chùa.
Các đệ tử ông đạo Trần phần nhiều là dân Sài Gòn, toàn là dân giàu có, phu nhân các bác sĩ, kỹ sư, thương gia… không biết khi họ nghe ông đạo Trần thuyết pháp như thế nào mà các đệ tử của ông đem tới dâng hiện kim hơn hiện vật?
Đúng ngày giờ hẹn họ xuống ghe đưa cho tao gói quần áo biểu mặc vô đi theo họ, đó là bộ đồ khăn đen và áo dài. Tao đi theo họ lên chùa cúng Ngọ.
Giờ này là giờ Tịnh của ông đạo Trần không ai được phép lai vãng chổ cấm phòng, trong đó chỉ có mình ông ngồi tịnh. Tao đi theo người đàn bà này tới bàn này đốt nhang, đi tới bàn kia đốt nhang lạy. Khi đi tới cánh cửa phòng cấm là phòng riêng ông đạo Trần họ gõ 4 tiếng. Cửa mở thì có hai người bạn cùng trong phòng đi ra trao cho tao môt bao và một bó nhang đốt cháy- đỡ bao đó lên vai tao vác đi, tay cầm bó nhang. Cả bọn đồng đi ra khỏi chùa, đi xuống ghe tao đậu kế đường đi, họ ra lịnh chèo mau theo hướng họ chỉ. Ghe chèo đi lẩn quẩn trong những đám cây Đước, cây Mắm cho tới khi có chiếc ca nô đậu thì họ và tao leo qua ca nô chạy đi một nơi cách đó thật xa và lủi vô bụi rậm. bấy giờ thì họ mới đổ bao đồ ra thì toàn là giấy bạc… Họ đếm thật kỹ và chia ra làm 5 phần, tao hỏi sao có 4 mà chia tới 5?
Họ nói chia dư ra làm 1 phần cho họ giữ phòng khi trong bọn có bị lính bắt thì họ lấy số tiền đó lo đi hối lộ cho mình khỏi bị ở tù. Chia phần của tao thì có bỏ chung vô cái gói căn dặn trong đó có bảng chỉ dẫn bằng chữ quốc ngữ, không được cho ai biết tới gói đồ đó. Họ đưa tao lại ghe, còn họ thì lên chiếc ca nô, họ nói nhỏ với tao là vừa rồi mình ăn cướp tiền của ông đạo Trần. Phải hơn 5 tiếng đồng hồ nửa thì các đệ tử của ông mới hay, hiện ông bị trói miệng và củng bị bịt kín ngồi trong phòng riêng của ông, khi đám đệ tử của ông hay được thì họ lùng kiếm chung quanh đây mà giờ đó thì mình đã có mặt tại Sài Gòn.
_Họ chia cho ông một phần bao nhiêu vậy ông Từ?
_Một phần của tao được một ngàn sáu trăm đồng… ghê chưa? tao cho hai đứa bạn giả đó mỗi đứa một trăm nó mừng gần chết vì tụi nó chỉ thấy bạc lẽ, chưa bao giờ thấy bạc trăm.
_Còn cái gói họ đưa cho ông là cái gì mà bí mật dữ vậy?
_Khi về tới nhà được an toàn chôn cất số tiền ra nhiều chổ bí mật xong xuôi cả tháng tao mới hoàn hồn vì những thủ đoạn tổ chức đi ăn hàng của đám đó làm cho tao sống lại với bọn cướp Hiệp Liệt. Lần đầu họ diễn trước mặt tao vụ đi coi hát cải lương, mua giấy đã không trả tiền mà còn biểu thối lại. Sau này tao mới nhớ lại là khi người đó đứng gần chổ bán giấy, xin tấm “program” coi. Sự thật là đứng chờ có người mua giấy đưa vô tấm giấy 5 đồng hay là 20 đồng để trong hộc tủ. Nhưng phải ăn bận cho thật sang và tự nhiên như lúc đánh phé vậy.
Cái gói đồ là họ chấp nhận tao vô môt đảng với họ, gồm có cái áo Bành Tô, cái nón tây Singapore, sợi dây nịt da bản lớn, một quần lãnh đen lưng vận, một áo thung tơ hiệu 3 tiền điếu một đôi giày Tàu và cái ống điếu bằng ngà. Bản chỉ dẫn bằng chữ Quốc ngữ như sau: Kiểu ăn mặc như đám du côn Cầu Muối dưới mang đôi giày tàu, mặc quần lãnh đen lưng vận mà không vận vì có sợi dây nịt da lớn bản nên lưng quần phải thả lỏng bàn. Trên mặc áo thung tơ, ngoài bận áo Bành Tô nút chuối. Công dụng của cái nón Singapore là bên trong có chất cao su thật cứng, không phải như loại nón Tây làm ở Sài Gòn bằng cây mốp mềm xèo. Cho nên dân du côn thường đội nón đó khi bị dao chém. trên đầu không bị thương nặng. Sợi dây nịt da thứ lớn củng thật cứng khi bị đâm củng không tới lòi ruột. Và điểm đặc biệt này là tối quan trọng của một đảng cần biết ám hiệu. Vô sự thảnh thơi đi chơi thì mặc áo Bành Tô gài đủ 3 nút dưới. Muốn gặp mặt đại ca và nhị ca thì chỉ gài một nút vô mấy tiệm cà phê sẽ có người liên lạc cho gặp mặt đại ca muốn bàn tính việc gì. Còn cầu cứu cấp tốc thì thả luôn 6 nút như báo động vậy. Củng ăn mặc đồng phục như vậy đó mà thấy người nào hớt tóc kiểu Bum-bê vén qua hai mép tai thì mình phải chào, không chắp tay thưa mà chỉ gật đầu hay nháy mắt là đủ. Vì trong giới anh chị du côn người nào để tóc theo kiểu như Nguyễn An Ninh là thuộc về thứ dữ nên lưu ý tới kiểu hớt tóc dài vén qua hai mép tai.
_Áo Bành Tô là kiểu áo ra sao?
_Mày thấy khi ông Quận An Hoá xuống thăm làng với thầy thong dây thép, ông Chủ Sự Kiểm Lâm, mấy ông đó mặc đồ Ô Hoe, trước ngực bật ra có thắt “cà ra quách”. Còn áo Bành Tô là kiểu áo của mấy ông lính đồn, có cổ cao lên trước gài một hàng nút, kiểu đó người Pháp kêu là “fermée”, mà không biết sao mình phổ thông kêu là áo Bành Tô, tao củng không hiểu nửa.
_Mày thấy cách tổ chức của người có ăn học nó khác xa với dân nhà quê như tụi tao, mãn đời đi rình mò chờ cho người ta ngủ mới ăn cắp đồ mà đáng giá có bao nhiêu tiền, mà khi bị bắt củng bị ở tù.
-Sau này có lần nào ông gặp lại mấy người mà ông cho là đám cướp Hiệp Liệt lần nào hay không?
_Tao có gặp họ hai lần.
_Ông củng đi buôn trên Cầu Ông Lãnh mới gặp họ hay gặp họ ở đâu?
_Sau chuyến đi làm ăn với họ ngoài Bà Rịa tiền bạc có dư dã nhiều đâu còn đi buôn chi cho cực nhọc có lổ có lời. Tao bắt đầu lo tới tương lai nghĩa là muốn cải tả quy chánh. Đem tiền về cho than nhân ruột thị mua vườn, mua cây ván cất nhà đặng giải nghệ cưới vợ sống cuộc đời lương thiện làm ăn. Chuyến đi đó tao mướn hai thằng bạn thằng thì ở bên Châu Bình quận Bảo Lộc bên Bến Tre thằng đó khá có tiền thì lo cưới vợ, chỉ có dư được chuyến đi với tao ngoài ra tiền bán mỗi chuyến là 6 đồng tao tặng thêm cho nó 100 đồng. Tao dấu nó nói là chuyến đó đánh bài với mấy lái dưa trên đảo Long Sơn nhờ có đám điếm ở Sài Gòn ra nó vẫn tin như vậy. Còn thằng kia thì nó ở bên Giao Long có tiền lo đi sắm đồ đạc và đánh me của sòng me Hương Quản B bên đó. Luôn mấy cái từ dưới Bình Đại, Lộc Thuận lên trên rạch Miễu xuống cái nào củng đổ, tay em vùng này ai củng trúng làm cho phách cái về tay không, vậy mà thằng đi bán cho tao nó không ăn như người ta, nó thua. Vùng này từ nhỏ tới lớn ai củng biết mặt nó là thằng chuyên làm ruộng và đi bạn mướn. Sao tự nhiên lại có tiền sắm quần áo, lại có tiền để đi đánh me? Như vậy số tiền của nó đâu phải làm ăn lương thiện, không ăn trộm thì củng đi ăn cướp, cho nên lúc đó mà cở nhỏ như mày mà cầm tờ giấy 20 đồng thì sẽ bị lính kín bắt liền.
Cho nên một bửa cái bên chợ An Hoá qua củng bị đổ luôn tay em, ai củng trúng mà thằng bạn tao lại thua nửa nên khi móc tiền ra đât nó nói lầm thầm: “đụ mẹ tiền ngoài Bà Rịa xui quá… tiếng chửi thề và nói tiền ngoài Bà Rịa xui quá lọt qua tai lính kín của quận Năm. Rồi thằng bạn tao sau mấy ngày liền bị bắt giam trong khám An Hoá.
Hay tin nó bị bắt giam ở An Hoá, sợ nó khai lung tung làm nguy hiểm cả chum liên hệ với nó tao mới lên Sài Gòn mặc đồ theo dân anh chị vùng Cầu Muối. Tao mặc áo Bành Tô thả luôn 6 nút. Thật quả như vậy khi tao vô tiệm cà phê ngồi kêu ly Phế nại chưa uống hết ly thì có người lại hỏi đại ca hay nhị ca?
_Đại ca hay nhị ca củng được khẩn cấp lắm huynh.
Tao với anh này lên xe kéo chạy môt hồi tới đường La Pheo. Chổ này tao có đi vài lần dân lục tỉnh lên buôn bán thì thằng nào củng phải lại đây với đám em út có phấn son theo Châu thành. Anh này dắt tao vô ngồi trên bộ salon hút thuốc chờ đợi gặp nhị ca. Hút hết phân nửa điếu thuốc thơm thì có người mời đưa tao vô phòng. Bước vô tao thấy giữa bộ ván gõ có mâm hút á phiện và có mấy người mặc áo thun lá đang nằm hút á phiện. Thấy tao vô họ ngồi dậy hỏi liền:
_Bạn ở vùng nào?
_Dạ em ở vùng Ba Cụm
_Chuyện gì nói mau cho rõ ràng.
_Thằng đi bạn với tôi nó bị lính kín ở quận Năm An Hoá bắt.
_Bắt đã mấy ngày, hiện giam tại dâu, còn bên An Hoá hay bị giải Mỹ Tho?
_Hôm qua em hỏi thăm thì nó còn bị giam tại An Hoá nên em đi liền
_Tối nay anh nghỉ đâu, có chổ nghỉ hay không?
_Dạ em ra ga xe lửa Mỹ mướn phòng ngủ rồi sáng về sớm.
_Em cầm 5 đồng về xe, để vụ đó trên này lo, em yên chí và kể như bị bể, em nên tìm chổ lánh mặt một thời gian lâu chừng nào tốt chừng đó nghe không?
Khi về tới nhà lo chuẩn bị đi lánh mặt nhưng chờ cho thằng bạn của tao được thả rồi tao mới đi. Vài ngày sau nghe tin nó được thả về, hú hồn!
_Anh đó được thả rồi ông tính đi đâu lánh mặt? _Từ khi mắt thấy đám này có tổ chức đàng hoàng và tử tế đúngnhư lời họ hứa (nếu ai bị bắt thì họ hối lộ cho thả ra) thiệt quả như vậy. Nghề võ thì tao đã biết nhiều nhưng dân du côn phải là có gồng, nên tao tính đi qua Trà Vinh học gồng.
Hằng năm tới ngày 16/6 âm lịch là ngày lễ Kỳ Yên làng Thái Thuận. Trong đoàn đi nghinh sắc thần theo cổ lệ trang nghiêm và trật tự chỉ có hình ảnh ông Từ là oai nghi hơn hết. Đi đầu là viên chức vác cây Đại kỳ nền đỏ có 4 chữ: Phong Đều Vũ Thuận chung quanh viền màu đen, kế đó ông Từ đầu đội nón gổ, mặc võ phục triều đình mang gươm chân vấn xà cạp chân mang giày ba ta. Tay cầm trống lệnh, cái trống tròn bằng cái đĩa bàn, có cái cán, ông đánh tong tong tong… kế đến 3 tiếng chiên rồi đến 3 tiếng trống chầu thùng thùng thùng…Sau đó là đến 4 kép, 4 đào trang điểm như khi ra sân khấu kế đến là 3 cặp trò lễ, đầu đội mão Tú Tài áo thụng màu vân củng mang hia. Đến 4 viên chức khiêng long đỉnh sơn son phết vàng sắc thần trên đó, đến chánh bái, phó bái và Quận trưởng cai tổng Hoà Thịnh cùng các hội tề tân cựu cùng đi với than hào nhân sĩ trong làng.
Mỗi năm chỉ có một lần mà ông Từ vẫn đi rập rang theo tiếng Bác Câu. Hình ảnh người lính tiền phương tiền hô, hậu ủng. Ông Từ đốt nhang cho đình thần, làng xã họ cấp lương cho ông. Ông củng đốt nhang cho làng Ông Nam Hải, toàn ấp Thới An này chuyên sống về nghề Hạ Bạc, nghề này họ tôn ông Nam Hải làm thần hộ mạng cho nên mỗi gia đình luân phiên nhau đem tôm cá, bất kể giờ giấc biếu cho ông bà ăn lấy thảo.
Thôn quê mỗi làng đều chọn nơi thanh tịnh khu biệt lập làm Đình Thần. Đình Thần làng Thới Thuận nằm cạnh hương lộ, một đám cây dước mịt mù mới tới mấy hàng cây dương và mấy cây me cổ thụ. Ngoài là bìa rừng rậm về đêm le lói ánh đèn, có tiếng đọc thơ, đọc truyện, đó là giờ giải trí của gia đình ông Từ, môt người mà tôi chỉ biết có phân nửa cuộc đời, khi ông còn tham gia một thời với đám Bối Ba Cụm. Không biết vì hoàn cảnh nào mà ông ở đây, nhận chức ông Từ cho đình thần. Môt cuộc đời đây ngang dọc từng theo đám đầu trộm đuôi cướp mà trong cuốn Việt Nam tự điển của ông Lê Văn Đức quyển Thượng trang 129…Bối làm ăn theo rạch Ba Cụm…?
Dã sử Trung Hoa có sự tích Bát Tiên Quá Hải. Tám vị tiên đó có tên như sau:
Hà Tiên Cô (tự Ngũ Mai, sư trưởng)
Lữ Đồng Tân
Lý Đạo Minh (tự Lý Thiết Quày)
Tào Quốc Cửu
Hàn Tôn Nữ
Lâm Thái Hòa
Hớn Chung Ly
Trương Quốc Lão
Bảy tiên ông chỉ có một tiên bà là Hà Tiên Cô. Hà Tiên Cô trước kia là Ngũ Mai sư trưởng , bà có lập một cảnh chùa. Theo phái Hồng Môn nhận nam nữ thiếu niên dạy nghề văn, nghiệp võ. Thế võ Mai Hoa Thương và Mai Hoa Quyền là của bà lưu truyền. Bà nhận môn sinh khi làm lễ nhập môn dưới chùa thì bà cho môn sinh lên trên chùa trên núi cao luyện võ nghệ và văn chương. Chương trình của bà dạy đệ tử không biết ngày nào hạ san? Từ trên núi là chổ luyện tập võ nghệ đó, có con đường độc đạo để cho các đệ tử tự do xuống núi. Các đệ tử của bà phải đi qua105 cơ quan bí mật. Trong 105 đường trên núi là 105 thế võ bí hiểm của bà. Sau khi đã qua được 105 toàn là người máy đó, phải nhảy qua một hào sâu chung quanh một kẹt đá gay go mới đi tới cửa động.
Cử động không có người giữ, mà chỉ tấn bằng phiến đá lớn. Làm sao cho phiến đá đó đi chổ khác thì tự nhiên cửa động mở. Các môn sinh đi không thấu bị thương trở lên, nếu bị què giò là vì khi đi tới cơ quan thứ 61 nhảy không được cao, nếu bị thương sau lưng là tại không nghe được tiếng gió đâm lên từ phía sau…
Đệ tử bà xuống núi, toàn là tay làu thông võ nghệ kiếm hiệp giang hồ. Lối dạy khắc khổ của bà nên không thâu nhận nhiều môn đệ. Trong khi đó các phái như Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Lôn thì thâu thập không biết bao nhiêu là thanh niên nam nữ Trung Hoa. Sách Tàu có câu: “Cao nhân tất hữu cao nhơn trị”? Mình giỏi có người giỏi hơn mình.
Các môn phái Hồng Môn, Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Lôn là nhiều đệ tử trong đám kiếm khách giang hồ. Sau khi Chí Thiện thiền sư tự là Thiết Đầu Đà, đầu ông cứng như sắt có thể đập vỡ đá, thịt da nát tan như cám. Nhưng khi thử tài cho các môn đệ hai bên coi chơi Thiết Đầu Đà chuyển hết thần lực, húc vô ngay bụng của đạo nhân trưởng phái Nga Mi bị ông này hút vô kẹp cứng rồi lần hồi bị nát ra như bột . Kể từ ngày tỉ thí đó thì hai môn phái này thề không đội trời chung với nhau nửa. Bà Ngũ Mai ngao ngán thay cho c ác phái Hồng Môn, là người tu hành mà còn nặng nợ trần tục gây sự thù oán với nhau. Nên bà mới xuống núi xin gia nhập với đám thất tiên trung lập. Họ sống tiêu diêu không màng danh lợi.
Cho nên đám con cháu các vị dưới lục địa Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch có thua Mao Trạch Đông mà chạy ra đảo Đài Loan, Bát Tiên họ không cần biết tới, họ vẫn ở nơi nào đó trên phần đất Trung Hoa. Như vậy các tiên ông không chịu chạy ra đảo theo phe Tưởng mà ở lại vùng kiểm soát với đảng cộng sản thì theo phe cộng hay sao?
Bát Tiên sống theo thuyết trung lập, không có trong lý lịch hộ khẩu thì dầu cho ai lên cầm quyền tại lục địa củng là người Hán tộc. Bát Tiên đâu có mỗi tháng đi lãnh khẩu phần gạo, mỗi năm đâu có lãnh vãi và các nhu yếu phẩm của nhân dân sản xuất. Cho nên không ủng hộ mà củng không đả đảo phe nào cho mất lòng. Giữ vững thuyết trung lập đó, nên trên lục địa Trung Hoa thì có hình ảnh của Bát Tiên quá hải.
Mỗi năm tới ngày 23 tháng chạp, gần tới tết Nguyên Đán là Bát Tiên chuẩn bị đi xuống núi , châu du thiên hạ, đồng thời thăm đám cháu con. Năm nay Bát Tiên đi vòng quanh vùng Đông Nam Á châu Thái Bình Dương. Vùng này có hiệp hội các quốc gia đông Nam Á khối Asean. Sáu nước thành viên là: Phi Luật Tân, Nam Dương, Thái Lan, Mã Lai Á, Singapore và Brunel (Borneo). Bát Tiên đi du lịch và ủy lạo con cháu vòng quanh thế giới mà không đi máy bay hay tàu thủy như người phàm vì phương tiện văn minh đó nó tốn kém tiền bạc rất nhiều.
Mà tiền thì nhận của ai đây? Đặng Tiểu Bình hay Tưởng Kinh Quốc? Nhận tiền bên nào thì củng mất tính cách trung lập. Bát Tiên xuống núi ra bờ biển thấy cây khô trôi qua, khều lại hóa phép thần thông khúc cây thành con tàu vô hình. Bảy vị tiên ông ngồi dưới ca hát nghêu ngao, giữ đúng câu nam nữ thọ thọ bất tương thân, nên bà Hà Tiên Cô cỡi hạc bay trên thổi sáo.
Khởi đầu là ghé Thái Lan nơi phía quân nhân đang tranh quyền lực với nhau, cũng là nơi đang có nhiều đứa cháu con còn kẹt trong trại tị nạn, chưa có nước nào mới mở hồ sơ. Tiên ông Tào Quốc Cựu ở lại đây thăm viếng kiều dân và vô trại tị nạn ủy lạo. Kế đó là Nam Dương quần đảo, nước này bấy lâu nay không được than thiện với nhân dân Cộng Hòa Trung Quốc vì có lúc hình như cộng sản giựt dây chop he cộng đảo chánh nước này . Tại đây tiên ông Hàn Tân Tử ở lại thăm viếng kiều dân Trung Quốc. Kế đó là nước Phi Luật Tân, cựu Tổng Thống Marcos và gia đình chạy đi tị nạn qua tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ.
Lần đầu tiên trên thế giới có một nữ Tổng Thống là bà Aquino. Á Châu trước bà chỉ có nữ Thủ Tướng Ấn Độ, nữ Thủ Tướng Do Thái và bà nữ Thủ Tướng xứ trà là Tích Lan. Phi Luật Tân có nữ Tổng Thống thì Bát Tiên có bà Hà Tiên Cô. Như vậy đúng vai tuồng của bà , cũng giỏi văn, giỏi võ, bà ở lại đây, đang theo sát tình hình luôn luôn xáo trộn, có tin ông Marcos trở về, kế đó là nước vừa mới độc lập là nước Brunei (đảo Borneo) một nước nhỏ mà giàu nhất thế giới về dầu hỏa, thành viên thứ 6 khối Asean, dân số tương đối ít hơn các nước kia nên tiên ông Trương Quốc Lão ở lại thăm viếng kiều bào.
Kế bên là bán đảo Singapore, từ ngày tách rời khỏi nước Mã Lai Á, nhờ sự lèo lái tài tình của ông Lý Quang Diệu mà về kinh tế nước này chỉ đứng sau Nhật Bổn, có một phi trường tối tân nhất Á Châu. Sau khi hay tin tết Nguyên Đán này, Bát Tiên là tiên ông Lý Đạo Minh tới Singapore dân chúng vui mừng đón tiếp. Thật cảm động khi đoàn người già trẻ trai gái, đi sau một ông già tay chống gậy, tay cầm bầu rượu, vai mang bị là hình dáng Cái Bang. Tiên ông Lý Đạo Minh là cốt tiên nhưng khi đi ủy lạo đám cháu thì nhập vô xác người ăn mày. Vậy mà giữa thành phố hoa lệ của Tân Gia Ba…ông được đón tiếp như một vị thượng khách, vị đương kiêm Thủ Tướng Lý Quang Diệu là cháu 99 đời của ông Lý Đạo Minh tự là Lý Thiết Quày..
Từ giã Singapore con tàu vô hình chạy qua hải cảng Penang của Mã Lai, nơi đây có một cuộc tranh chấp lớn lao của kiều dân Trung Quốc và dân Mã Lai tư bản người bổn xứ. Tại hải cảng quốc tế Penang, có một nghĩa trang của người Huê kiều, nằm trên đồi, kêu là đồi Trung Quốc.
Trên nghĩa trang đó có một ngôi mộ của vị thuyền trưởng người Trung Quốc chôn cách đây 500 trăm năm. Mỗi năm tới ngày lễ Thanh Minh tại đây là ngày lễ hội lớn của tất cả người Huê kiều sống tại xứ Mã Lai, khắp xứ đều tề tựu về đây. Con cháu họ từ nhiều đời đem hài cốt thân nhân chôn tại đây. Vì đất Mã Lai hẹp, phần nhiều là đồi núi, họ hỏa táng. Giới tư bản Mã Lai họ muốn dời cái nghĩa trang Trung Quốc đi nơi khác đặng nơi đó họ lập một khu thương mại có tầm vóc quốc tế gần Penang, liền bị phía kiều dân Hoa kiều phản đối mạnh , sự tranh chấp đi tới quốc hội Mã Lai này vẫn chưa giải quyết ra sao. Rồi tới chổ đụng chạm về tôn giáo và tín ngưỡng. Người Mã Lai họ theo Hồi Giáo cữ ăn thịt heo. Còn người Huê kiều thì thích ăn thịt heo, sanh ra ấu đả trầm trọng có khi đi tới đổ máu và có án mạng cho đôi bên. Giới tư bản Hoa kiều có tín ngưỡng không dám động tới mồ mã tổ tiên nằm lâu đời trên đồi Trung Quốc, giá nào họ củng đoàn kết chống lại. Giới tư bản Mã Lai trên đà phát triển mạnh, họ muốn chỉnh trang lại thành phố theo hiện đại.
Tiên ông Hơn Chung Ly được ở lại xứ Mã Lai.; Như vậy trên còn tàu vô hình này chỉ còn lại ông Lữ Đồng Tân và ông Lâm Thái Hòa, đi qua miền Nam nước Việt. Từ hải cảng Penang, tàu chạy trong cửa Malacca, xuống Singapore nhắm lên hướng Bắc đi ngay vô mũi Cà Mau, tính vô cửa Bạc Liêu trước.
Bạc Liêu là xứ làm giàu, dưới sông cá Chốt, trên gò Triều Châu…Mấy năm trước khi vô gần tới hải phận xứ Bạc Liêu là Vĩnh Châu thì thoang thoảng mùi thơm nhãn, từ trong vườn nhãn bay xa ra biển. Trên bờ người người đi tấp nập, dưới bến ghe thuyền đông đảo, nay sao trên bờ hoang vắng không một bóng người đi dưới bến không một chiếc ghe đậu mà chỉ toàn là xuồng con năm ba chiếc. Như thời xa xưa có chiến dịch vườn không nhà trống. Con tàu không ghé vô cửa Bạc Liêu mà chạy qua cửa Gành Hào. Trước lkia hình ảnh nổi bật ngoài cửa Gành Hào là miếu Bà Chúa Xứ. Ngày đêm nhang khói nghi ngút, ban đêm từ ngoài xa các ghe đi biển về đêm thấy ánh đèn lung linh ngoài mé biển, họ biết đó là ngay cửa miếu Bà củng như ngọn hải đăng cho các ghe cào, ghe lưới.
Nay không còn thấy nửa vì đã mất miếu Bà. Khi con tàu vô hình chãy ngang cửa, thì thấy nhà sàn hai bên cái còn cái sập. Trước kia cửa này tấp nập có hơn 300 chiếc ghe cào đậu dọc theo hai bên bờ sông, nay chỉ còn mấy chục chiếc nhưng ghe phải vô đậu gần hãng đông lạnh. Hãng đông lạnh thì kề mé sông, mà con song Gành Hào là giọt nước nó chảy mạnh nhất trong các con sông trong tỉnh Minh Hải này, độ chừng một năm thì một cơ sở đông lạnh thật tối tân đầy đủ tiện nghi của nhân dân Thụy Điển cất tặng cho VC. Nó sẽ bước xuống con song Gành Hào. Cảnh tang thương này củng như bên cửa Bạc Liêu thì đâu còn người Hoa kiều nào sinh sống nổi mà vô đó mất công.
Con tàu chạy qua cửa Bồ Đề, nơi đây toàn là rừng Đước âm u không một chiếc ghe nào lai vãng, vì VC nó không cho ở vùng này còn ghe tàu đánh cá thì phải chạy phía ngoài Hòn Khoai, một bãi bùn lầy ra xama61y cây số ngoài biển ghe vượt biên ban đêm thường bị mắc cạn.
Qua khỏi đây là tới mũi Ông Trang, một thị trấn nằm trên mặt nước. Tất cả và tất cả là nhà sàn, con lộ chính củng bằng cây cầu, mà cầu này đặc biệt hơn hết là nó nằm cao hơn cửa cái trong nhà. Vì cầu vừ hơi cũ, chưa sập xuống thì họ lại dựng lên trên lớp cầu mới luôn, nên mình thấy có ba lớp cầu chồng lên trên cầu.
Tại ngoài vàm cũng có một đồn công an biên phòng đóng giữ, vì trong rừng Đước Năm Căn, không ra được cửa song Bồ Đề thì ghe vượt biên sẽ ra ngã ông Trang. Con tàu chạy một khoảng này khá xa và cũng đầy nguy hiểm vì ngoài khơi ngư dân cặm không biết bao nhiêu là hang đáy loại bò cạp, vùng này là vùng rừng Đước Năm Căn , VC kêu là huyện Ngọc Hiền hàng đáy họ cắm nọc bằng cây Đước, trên hai cây rương ngang qua cũng bằng cây Đước, và 4 cây chỏi cũng bằng cây Đước thay vì trong sông thì xài bằng giây kẽm, hay bằng sợi dây Mây đánh lại nhiều con. Một dãy hàng đáy cặm chắc chắn như vậy cho neyn ban đêm ghe vượt biên chạy gần tới thì nước chảy xiết tấp vô căn hang đáy này thì chìm liền vì 4 cây chỏi nó quá chắc, đặng đứng vững với những ngọn sóng nước lớn cũng như nước ròng. Những năm đầu ghe đi tị nạn nhiều chiếc bị tai nạn chổ này nên họ kêu là vùng tử địa mũi Bà Quản (hay mũi Gò Công). Vùng tử địa này chạy hơn ba giờ mới tới Vàm Rạch Trẻo, rồi tới Cái Đôi Nhỏ, kế đến Cái Đôi Vàm. Cái Đôi Vàm cũng là Biệt khu Hải Yến. Khu này trước kia có ông cha người Trung Hoa tên Nguyễn Lạc Hóa.
Dưới quyền chỉ huy ông một đại đội biệt kích, dân thiện chiến đánh chiến lược du kích chống bọn VC. Đội lính biệt kích này là gốc lính Quốc Dân Đảng hơn 40 ngàn lính đó bị Pháp tước khí giới ngoài Bắc đem vô tập trung ngoài đảo Phú Quốc. Không biết bằng cách nào mà cha Hóa tuyển mộ được đem về đây. Vì vậy mà suốt thời gian lính này đóng tại khu Hải Yến thì địa bàn hoạt động của VC thâu hẹp lại vào mật khu Năm Căn. Đa số người ở vùng biên thùy Vân Nam không nói phổ thông tiếng Trung Hoa mà họ nói tiếng người Sơn Cước, cho nên dân địa phương kêu đại họ là lính Nùng. Có một lúc Má chín Lý Cái trên Chợ Lớn lãnh sứ mạng của Bảy Viễn ra Phú Quốc mộ lính này đặng về chống lại với ông Diệm. Không hiểu bên trong như thế nào mà Lý Cái bị Bả Viễn thủ tiêu; sau kiếm tây y được, mà không biết tại sao y bị giết bằng cách bị mổ mật.
Vô Cái Đôi Vàm xa phía trong là hành dinh khu Hải Yến cũng là Bình Hưng, một cổng chào vô thị trấn Bình Hưng có hai câu như sau:
Bình Hưng chính khí oán chung thiên
Hải Yến muôn sự trừ phỉ cộng.
Sau 1975 đại đội này không còn đóng tại đây, không biết họ đi đâu? Nhưng trước đó cũng có nhiều người ra dân, cưới vợ việt sanh sống vùng này, sự cần cù của người dân sơn cước cho nên họ khá giả hơn dân đại phương.
Họ cũng giữ nhiều trò giải trí cổ truyền như múa Lân, đánh võ Tàu, có hội hè thì lắc Tài Sỉu . Còn vấn đề ăn nhậu thì bị đồng hóa xứ mình. Hoàn cảnh của đám dân thiều số này mà tiên ông Lâm Thái Hòa và Lử Đồng Tân mới đi vô làng Bình Hưng phải ở lại đây với đám con cháu đáng thương này , ngoài Bát Tiên ra… thì tới chết họ cũng không được một người chánh gốc Trung Hoa lặn lội tới đây thăm viếng. Riêng họ thì đành bỏ xương nơi quê vợ. Làm sao họ có đủ khả năng lo hối lộ đặng vượt biên hầu tìm về Tàu. Sau một cuộc hành trình quá dài xuyên qua bảy nước, Bát Tiên thấm mệt kết thúc chương trình đi ủy lạo và ở lại Bình Hưng chung vui với đám cháu miền sơn cước lưu vong hải ngoại trong 3 ngày Nguyên Đán.
Ra giêng sẽ tiếp tụ lên thị trấn Sông Đốc thuộc xứ Cà Mau.
Thưa trái đất của chúng mình tròn quay, đầu hơi dẹp, chia làm hai, bằng đường xích đạo. Phía trên, Bắc bán cầu, phía dưới Nam bán cầu. Thời tiết đối nghịch nhau! Như bây giờ phía Miệt Dưới (Down Under) là nước Úc, trời đã sang Đông; nhưng Miệt Trên, có cả quê mình, thì đang vào mùa Hè rực nắng! Mùa Hè là học trò nghỉ Hè. Lại nhớ thời đi học quê mình quá cỡ thợ mộc nên tui xin phép bà con cô bác cho tui được viết lang bang về mùa hoa Phượng đỏ.
Thưa đất lạ, quê người nên cái gì cũng lạ, cũng khác… ngay cả cái chuyện ăn học. Ở Úc, niên học bắt đầu từ tháng Giêng và chấm dứt vào tháng Chạp. Học như điên, học suốt 12 tháng hay sao? Đâu có! Học trò Úc cũng có nghỉ, nhưng không nghỉ Hè một lèo, suốt 3 tháng, từ tháng Sáu cho tới tháng Chín như ở quê mình đâu. Mà trò Úc nghỉ sau mỗi học kỳ. Một năm có 4 học kỳ; có bốn lần nghỉ cho nó phẻ!
Cứ hết một học kỳ, nghỉ hai tuần (ngày hơi khác biệt nhau chút đỉnh tùy theo tiểu bang và lãnh thổ). Lúc con em nghỉ, thì phụ huynh học sinh cũng xin nghỉ phép theo; nên nhiều địa điểm vui chơi mùa nghỉ rất là tấp nập Tía má và mấy công tử lẫn tiểu thư.
Như năm 2015, xong học kỳ Một, học trò nghỉ từ 28 tháng Ba tới 12 tháng Tư. Lúc đó Úc rơi vào mùa Thu và trùng với lễ Phục Sinh (Easter). Trời Thu nhưng vẫn ấm và vẫn đầy ánh mặt trời; nhiệt độ dao động từ 20 đến 30 độ C.
Thủ đô Canberra, cây cối đã chuyển màu, từ xanh xao sang vàng úa, từ lá cam sang lá đỏ. Bà con lặn lội, mang lều cọc, thịt hộp, xúc xích, bacon, (thịt heo xông khói), bia bộng vào các công viên quốc gia mà cắm trại. Tây Úc là bắt đầu mùa của cá voi và cá mập. Bà con giong thuyền ra biển để coi tụi nó đua chơi! Cuối học kỳ Hai, kỳ nghỉ từ 27 tháng Sáu cho đến 12 tháng Bảy, rơi vào mùa Đông xứ Úc. Hiếm khi nhiệt độ xuống dưới 0 độ C, nhưng vẫn có tuyết rơi trên đỉnh Snowy Mountains, tiểu bang New South Wales, hay vùng cao nguyên của tiểu bang Victoria hoặc nhiều phần đất thuộc Tasmania. Vậy là bà con đi trượt tuyết.
Nhưng cũng có nhiều gia đình trốn lạnh bằng các dẫn con em bay lên tiểu bang nắng ấm Queensland; đến những địa điểm du lịch nổi tiếng như Gold Coast, Sunshine Coast, Noosa Heads, the Whitsunday Islands và Cairns.
Vùng nhiệt đới của Úc, thời tiết mát hơn nên có nhiều người lớn dẫn con nít đi lãnh thổ Bắc Úc (Northern Territory), thăm Darwin, thăm Kakadu hay chiêm ngưỡng phiến đá Uluru khổng lồ, nằm chình ình giữa trung tâm sa mạc nước Úc. (Nhớ cẩn thận coi chừng chó rừng Dingo tha mất con mình như đã từng xảy ra tại đây vào ngày 17 tháng Tám năm 1980).
Tại Victoria, đó là khoảng thời gian tuyệt vời nhứt để vi vu trên Great Ocean Road, được mấy hãng du lịch quảng cáo là một trong những con đường đẹp nhất trên thế giới. Mại vô không đến xem, bỏ qua là rất uổng!
Cuối học kỳ Ba, từ 19 tháng Chín đến 4 tháng Mười, trời ấm dần lên, trong kỳ nghỉ mùa Xuân nầy, các tiểu bang miền Nam người ta ra biển, tắm nhưng xin bà con hãy coi chừng cá mập.
Trời vẫn còn hơi mát, đi thăm vùng phía cực Bắc như Cairn cũng được, lúc hơi ẩm và mưa mùa vẫn còn chưa kịp đến.
Còn Tây Úc, mùa nầy hoa dại nở đầy, mùa sinh sản của thú rừng, mùa rất tuyệt để trượt nước, chèo thuyền độc mộc trên sông, trên suối, đất hoang sơ.
So với kỳ nghỉ mùa Xuân, mùa Thu, mùa Đông, nghỉ Hè, cuối niên học, từ 19 tháng Chạp tới 26 tháng Giêng là dài nhứt, là ‘đã’ nhứt vì nhiều lẽ.
Thời tiết nóng dần lên, thiên hạ đổ xô ra biển. Tui cũng nhào ra biển, rửa hai con mắt ti hí của tui luôn; mà em yêu hỏng có càm ràm gì ráo trọi; vì tui đeo kính râm nhìn chăm chăm chỗ nào… thì làm sao em biết đặng?!
Mùa Hè cũng là khoảng thời gian bận rộn nhứt trong năm với Lễ Giáng Sinh và Mừng Năm Mới. Những môn thể thao ngoài trời như Cricket, như Đại giải quần vợt Úc mở rộng, tổ chức hằng năm ở Melboure, những liên hoan âm nhạc ngoài trời…
Học trò nước Úc hoàn thành ‘vẻ vang’ bậc Trung học, sau 12 năm mài đũng quần trên ghế nhà trường, bèn xả hơi, tụ tập lễ hội gọi là Schoolies Week, 3 tuần, quậy tưng bừng, quậy hết biết, khắp các tiểu bang, khởi sự vào tuần lễ thứ Ba của tháng Mười Một. Đám nhỏ choai choai nầy bay lên Gold Coast, Byron Bay, Sunshine Coast, Airlie Beach và Lorne, một bãi biển nổi tiếng thuộc tiểu bang Victoria cách Melbourne khoảng 2 giờ chạy xe!
Sút chuồng, quậy mát trời Tía Má luôn. Tuổi nầy mà Tía Má nào lỡ rầy hơi bạo làm nó quạu… là nó tiếu ngạo giang hồ đó nha! Nên xin bà con cẩn trọng, đừng nạt nộ gì cho khổ mà phải nhẹ nhàng khuyên bảo các con thơ! Hu hu!
Tóm lại học trò Úc học thì cũng rất siêng và chơi thì cũng ‘quá’ siêng luôn. Vì thầy cô Úc nói (như xúi): “Chơi cũng là học. Và học cũng là chơi!” Vì có đi du lịch, có về quê, có lên rừng hay ra biển, có đi viện bảo tàng hay thư viện đều giúp trẻ em phát triển toàn diện sau nầy. Nhưng nhớ đừng quên đọc sách! Nghỉ một tháng, thầy cô cho chừng 25 cuốn thường là ebooks để đọc với Tía, với Má để đừng có quên chữ nghĩa thánh hiền nhe! Đứa nào giỏi, siêng đọc hết 25 cuốn… Úc, nó gọi là ‘bookworm’, người Việt mình gọi là con ‘mọt sách’. Thưa còn người viết thì ‘nghỉ Hè’ có nghĩa ‘sát sàn sạt’ là ‘ra Hè mà nghỉ’. Mấy đứa cháu nội nghỉ Hè, thì hai thằng con chở về giao cho ’em yêu’ của người viết, tức bà nội, tức vú em, tức nanny, để cho tụi nó rảnh mà đi cày, kiếm tiền đong gạo.
Ngoài Hè cũng có vườn cây trái; cũng đầy tiếng chim kêu nhưng không có nghe vượn hú à nhe! Nhà nghèo tiền đâu dắt sắp nhỏ đi chơi xa?! Nhưng ở nhà cũng vui hết biết mà lại đỡ tốn tiền! Bà Nội lụm cụm dắt sắp nhỏ ra Hè, bày cách làm bánh tai yến gì đó. Đứa nào cũng xăng xái giành pha bột, nói: “Nội à! Để con ‘heo’ (help) cho!” He he!
Thưa chuyện Hè bây giờ của đám cháu Nội làm mình lại nhớ vô cùng mùa Hè xưa cũ, cách đây gần nửa thế kỷ! Mùa Hè theo tiếng ‘hú u’ của bè bạn, đạp xe ra khỏi khói, bụi và nắng Sài Gòn, (hỏng dám em đi mà chợt mát đâu), băng qua cầu Nhị Thiên Đường, về một mảnh vườn quê của Tía Má thằng bạn, để trèo cây hái trái; hay ra sông câu cá chốt hay tập lội đì đùng, té nước tùm lum. Mùa Hè ’em’ dắt chó ra ruộng, đem theo một cái mai, đào hang dọc bờ mẫu, bắt chuột đồng về lột da, khìa ăn chơi, như Tây nó ăn thịt gà rô ti vậy, hay nấu canh chua với bần chín, thêm món chuột xào sả ớt ăn với cơm trắng, là mồ hôi mồ kê rịn ra đầy trên trán. Quá đã!
Bằng không thì xách cái rổ, lội ra đồng năng, lác quê mình mà xây cù. Nghĩa là cắm cái rổ xuống chỗ nước còn đọng vũng, kêu mấy đứa lội vòng vòng cho cá trắng, cá đen nhỏ bằng mút đũa sợ, nó chạy vô cái rổ của mình. Được kha khá, cá đầy vài ba chén ăn cơm thì đem về rửa sơ sơ với nước muối; xong bắt chảo, chờ mỡ nóng lên, chiên xù. Thịt cá nó bong, nó xù ra, xúc, cuốn với bánh tráng, rau sống: dấp cá, đọt xoài, rau răm, chấm nước mắm me. Đưa lên miệng, nhai từ từ; vẫn nghe nghe rau ráu; mới biết thiên đàng ẩm thực nó có đâu xa!
Chu choa! Viết tới đây tui còn nhểu nước miếng đó bà con ơi! Hay mùa Hè đi chăn bò để học được bài học ‘đặc sắc’ là: “Ngu như bò, thẩn thơ đồng chiều gốc rạ mà không làm gì hết ráo; đôi khi… sướng hơn đi học nhiều! Hi hi!” Đó là lối ‘ngụy biện’ của đứa con nít mới 14, 15 chưa biết ‘y cà lết’ (yêu) tí tẹo nào như tui thời thơ dại đó bà con ơi! Nhưng mấy chú dậy thì sớm, râu măng lún phún trên cằm, lỡ để ý tiểu thơ nào chung lớp thì mùa Hè tới, mấy chú buồn lắm, như Đỗ Trung Quân chẳng hạn: “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng/ Em chở mùa Hè của tôi đi đâu? Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 16/ Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu/ …” “Em chở mùa Hè đi qua còn tôi đứng lại/ Nắng ngập đường một vạt tóc nào xa!” Nhà thơ nầy đứng lại than đi nha… Còn em yêu đã mang mùa Hè của tôi ra biển; vượt biên mất rồi… trước khi mùa Bão tới.
* * *
Thưa còn bây giờ mùa Hè trong nước, nó ra làm sao?
Thiệt là tội nghiệp đám con nít ghê. Suốt niên học dài đăng đẳng một lèo chín tháng học và học. Học ngày học đêm, học đến mụ người, học đến đẹt ngắt, học đến lớn không nổi… nên lùn beo hè!
Vậy mà mùa Hè tới là không có nghỉ Hè gì hết ráo. Mùa Hè là phải đi ‘bộ đội’. Sao kỳ vậy hỡi trời? Bởi: Con trai, con gái 13, 14 tuổi, chỉ biết ăn với học, chẳng bao giờ động chân, động tay đến việc nhà, lại có vẻ bắt đầu ương bướng, nên mùa Hè này, Bố Mẹ cho tụi con “đi bộ đội” ở Sơn Tây, học bắn súng AK. Học kỳ quái đản nầy diễn ra từ 7 đến 10 ngày, tốn khoảng 6 triệu đồng một đứa. Cũng khoảng 300 đô Úc chớ đâu có ít ỏi gì! Tốn tiền kha khá mà hỏng ai khen; còn bị mấy phụ huynh khác ‘xì nẹt’ tưng bừng: “Chiến tranh, loài người có lương tri, không ai muốn. Cực chẳng đã mới phải cầm súng bắn vào đồng loại. Còn con nít dạy nó thương người, thương đời không hết. Ai dạy cho nó cầm súng AK vậy mấy cha?”
Rồi mấy tháng trước đây, trên truyền hình, các ‘cụ’ giao liên cộng sản tại Đà Nẵng dạy cho mấy em cách nhào nặn và giấu thuốc nổ C4 trong bánh giò. “Luộc lá, luộc bánh, nặn thuốc nổ C4 cho giống bánh, rồi lấy lá gói lại”.
Thường dân Nam Bộ cự nự quá, nói: “Học gì không học, học làm khủng bố! Những thủ thuật đánh du kích dã man đó phải bị loại khỏi cuộc sống loài người mới phải chứ” “Dạy trẻ nhỏ toàn chuyện nguy hiểm, xem thường tính mạng người khác; chưa bao giờ là sứ mệnh của một nền giáo dục nhân văn. Trách sao lớn lên, chúng không bị tiêm nhiễm thói vô cảm, hung hãn, côn đồ…”
Thưa con em mình, ai cũng có quyền có một thời thơ dại đẹp như thơ! Xin quý phụ huynh đừng có nghe lời mấy đứa xúi dại: nghỉ Hè đi bộ đội gì gì đó… để tụi nó trước là lượm tiền bỏ túi, sau là cố ý tẩy não con mình! Thưa quý ông, quý bà xúi dại con nít, cho phép tui hỏi thiệt là ngặt câu nầy nha: “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng! Tụi bây chở mùa hè của sắp nhỏ đi đâu?!”
Jimmy ngước nhìn tôi ngac. nhiên: – Chị Loan à? Nhưng chị ấy ở xa đây mà. Mình làm gì có tiền đi xe đò. – thì mình cuốc bộ. Jimmy nhìn tôi hoài nghi: – Anh có chắc là còn đi bộ nổỉ không? Tôi gật đầu: – Đươc.. Mình hết cách rồi. Có chết tao cũng không chết ở đây. Để anh nghỉ môt. chút rồi nếu mày ẵm con bé Ti thì anh có thể lết đươc.. – Không sao , em bế nó cho. Chúng tôi rời nhà vào khoảng mười giờ sáng, băng ngang cổng chính. Vài cái đầu lấp ló trong nhà bác theo qua những khung cưả sổ. Cơn tê bạị ở phần dưới cuả tôi đã dần dần tan, nhường chỗ cho cái đau nhọn hoắt như có những móng tay dàì thoc sâu vào lưng tôi mỗi khi tôi bước. Jimmy cõng bé Ti trên lưng, cũng đang lê phía trước tôi vài bước, con Lu đi bên canh.. Lâu lâu nó và con Lu quay laị dòm chừng tôi, bốn con mắt tròn xoe, đen thuì. Khi chúng tôi ra tới ngã rẽ đầu tiên thì Jimmy ngừng laị. Khuôn mặt đầy vẻ lo âu: – Anh có biết lối đến nhà chị ấy không? Tôi đoan chắc với nó – Dĩ nhiên rồi! Không khó lắm đâu. Ra tới quốc lộ môt. mình cứ đi thẳng miết là tới chợ. Mày còn nhớ cái chợ ấy không? Nhà chị Loan không cách xa đấy lắm đâu. Nó hỏi: – Nhà ấy là nhà mình hồi trước, phải không? Tôi sửa lại: – Bây giờ là nhà cuả người ta rồi. Đừng nói như thế trước măt. chị ấy, kẻo chị buồn. Trời càng về trưa càng nóng. Khi chúng tôi đặt chân lên quốc lộ thì nhưạ dường đã bốc hơi lên ngùn ngụt và chẩy nhão ra, dính vào dép cuả chúng tôi như có keo dán. Bầu không khí nóng làm cho quang cảnh trước mắt chúng tôi như rung rinh mờ mit.. Phía trước măt, bên kia đường là những cánh đồng nối daì nhau đến mênh mông vô tân.. Con đường quốc lộ cũng chaỵ daì cho đến khi mờ đi thành môt. cái nấm nhoè ở cuối tầm mắt. Sự tĩnh mich. cuả cuả muà hè bao trùm lên măt. đất như môt. tấm mền vô hình bốc lên môt. muì khét let. cuả cao su bị cháy. Jimmy nói nhỏ với tôi: – Anh có chắc là mình phaỉ đi như vâỵ không? Còn bao xa nữa, anh Kiên? – Tao không biết, có thể độ năm hay sáu cây số nữa. Nếu mình muốn có cái ăn thì phaỉ đi tìm chị Loan. Trừ phi mày có ý kiến nào hay hơn. Chân tôi vẫn bước tới và biết rằng nó sẽ đi theo tôi. Rồi tới môt. lúc , tôi không còn biết mình đã đi đươc. bao xa và phải đi trong bao lâu nữa, chỉ có một điều mà tôi thấy rõ là mình đã đi quá xa để có thể quay trở lại. Đằng trước, chẳng có một dấu hiêụ nào cho cuộc hành trình này sẽ có lúc chấm dứt. Tôi cứ tiếp tục bước vì sợ rằng nếu chúng tôi ngừng laị để nghỉ ngơi thì sẽ chẳng còn hơi sức đâu mà tiếp tục đi nữa. Cổ họng tôi khô cháy. Đầu lưỡi ngọ nguâỵ như một con cá ở trong mồm. Bên cạnh tôi , thằng em tôi lếch thếch trên đường nhưạ, cõng theo em bé Ti trên lưng, tay bé kéo chiếc gối bẩn thỉu lõng thõng trên măt. đường đầy buị bậm? Môi cuả chúng nó cũng bắt đầu rộp lên. Cuối cùng, nó dừng laị, đứng ỳ ở ngay giữa lộ. Tôi nhìn ra xung quanh, mơ hồ thấy chúng tôi hoàn toàn lac. lõng cô đơn trên con đường hoang vắng. Không thấy có lấy một chiếc xe , một bóng người, chỉ có chúng tôi giữa cái mênh mông cuả đồng luá. Phía trước vài bước, con chó cuả Jimmy quay laị dòm chừng chúng tôi, cái lưỡi đỏ ké cuả nó thòng xuống một bên mép đang sùi bọt.. Jimmy đặt em bé xuống đất. Bé Ti nhìn chúng tôi rồi oà lên khóc. Cơ thể nó bốc lên một mùi tanh tưởi như cá ươn. Thằng em tôi lắc đầu: – Em hết đi nổi rồi anh Kiên, em cần phải kiếm cái gì để uống cho đỡ khát. Tôi quát lên: – Cứ đi đi. Mình sẽ uống khi nào tới nơi. Không thể ngừng ngay bây giờ đươc.. Nó chẳng nghe lời tôi mà nhìn quanh coi có cái bóng mát nào để ngồi nghỉ. Còn em gái tôi thì gào lên to hơn, hai chân dãy đành đạch.. Tôi quơ lấy thân mình tong teo cuả nó rồi hét lên: – Nín ! Có câm môm` đi không. Để cho tao được yên. Tao đâu có mắc nợ gì mà mày báo tao? Tao chẳng có bổn phận phải lo cái ăn cho mày. Tao chẳng có bổn phận phải trông nom mày. Tao chẳng phaỉ làm cái quái gì hết. Nghe rõ chưa? mày muốn chết hả? Bộ mày muốn thế hả? Tôi cứ hét lên như thế mà không thể ngừng đươc.. Măt. tôi dí sát vào mặt nó, tay tôi đăt. lên cổ cuả nó: – Để tao giúp mày môt. tay. Để tao giúp mày thoát khoỉ caí nỗi khốn khổ này. Rồi tôi tát vào măt. nó liên hồi, giằng tóc nó, keó lê nó vòng quanh và cuối cùng tôi dằn nó úp mặt xuống giữa đường lộ. Giong. cuả tôi khản đi khi tay tôi xiết chăt. lấy cái cổ gầy đét cuả nó: – Mày nói gì, tao không nghe thấy! Mày có muốn chết không? Bé Ti chớp hai con mắt, săc. suạ, cố gỡ mấy ngón tay siết chặt cứng cuả tôi ra khỏi cổ nó, cái gối vẫn còn bám trên tay. Nó gào lên: – Đừng. Đừng. – Vâỵ mày có chiụ đi hay không? Hay là tao bỏ mặc. mày ở đây cho xe nó cán. Mắt nó trắng dã, nhìn dán vào tôi. Tôi buông nó ra, loạng choạng lui lại vài bước. Bé Ti vẫn nằm ở giữa đường. Trong lòng tôi, sự căm ghét con bé dâng lên mãnh liêt.. Thâm tâm tôi cầu mong cho cái xe nào cán lên nó cho rồi. Nó mà chết thì tôi sẽ được thảnh thơi. Từ trên con lộ trống trải, em gái tôi bò laị phía tôi bằng chân tay xương xẩu cuả nó. Mặt nó lem luốc đầy nước mắt và buị bậm?. Nó van nài tôi bế nó. Kiệt sức, tôi ngồi bệt xuống cạnh em trai tôi và ngửa măt. lên trời thở dốc. Sau cùng thì Jimmy góp ý là nên tiếp tục cuôc. hành trình. Chúng tôi cố gượng đứng dâỵ một cách khó khăn, lòng ngần ngại vì phải rời bỏ chỗ có bóng mát, chúng tôi cùng tiến về phía trước, bé Ti đã chật vật đi theo sau, cách vài bước. Bỗng môt. ý tưởng chợt lóe trong đầu tôi. Tôi nói với Jimmy: – Mình xuống ruộng đi. Nếu người ta có trồng luá thì phải tưới nước. Vâỵ mình đi kiếm nước uống đi. Jimmy không nghe tôi nói. Nó đang nghiêng cái đầu, có vẻ như đang tập trung chú ý. Rồi nó quay lại tôi, hỏi: – Anh có nghe thấy gì không? Tôi hỏi: – Nghe thấy gì? Nó đăt. ngón tay lêm môi như bảo tôi yên lăng, rồi nói: – Nghe này! Đôt. nhiên tôi cũng nghe thấy. Từ phía trên một ngọn đồi, có tiếng rì rầm vẳng lại qua bầu không khí trống rỗng, nghe như tiếng ồn ào cuả một đám đông. Chúng tôi nhìn nhau mà không thốt lên một lời nào. Rồi với một hình ảnh cuả ngôi chợ hiện ra trong đầu, chúng tôi vừa chaỵ lên đồi vừa la hét ầm ĩ. Mở ra trước măt. chúng tôi, y như thể một trang chuyện thần tiên, là cái chợ trải dài xuống tận chân đồi. Phía sau chợ là tỉnh lỵ hiện ra sáng ngời dưới ánh mặt trời mầu cam, đẹp tuyệt vời!
Đêm hôm ấy, sau bữa cơm, cả gia đình quây quần tại phòng ông bà ngoại tôi để nghe chị Loan kể về những chuyện đã xaỷ ra với chị trong thời gian gần đây. Mặc dầu đoàn thanh niên xung phong không phải là một ngành trong quân đội, nhưng chị Loan cũng được huấn luyện như kiểu nhà binh, từ cách tháo ráp súng ống đến các ứng dụng những chiến thuật và ngay cả học cách giết kẻ địch khi cần thiết. Tuy nhiên nhiệm vụ của chị là thanh lọc đất nước, từ bài trừ những tên cực đoan đến việc chống chủ nghĩa tư bản và trừng trị những kẻ bất hợp tác với chế độ mới.
Ba năm trời phục vụ, chị cho rằng mình đã chứng kiến những vụ việc hỗn độn. Đến kỳ triển han. công tác, chị đã từ chối đăng ký. Thời gian phục vụ của chị cũng đã khá dài, đủ để đảm bảo cho chị có được một vị trí tương đối dễ chịu. Khi chị kể xong, tôi lên tiếng hỏi:
– Chị sẽ ở lại với chúng em chứ ?
Chị trả lời, nét mặt buồn bã:
– Không đâu, Kiên. Hôm nay chị tới là để từ gĩa mọi người.
Không ai có vẻ ngạc nhiên về điều này cả. Với sự ” tiến bộ CM ” của chị, việc liên hệ với những thành phần phản động như gia đình chúng tôi chỉ kéo trì chị xuống. Ông tôi hỏi:
– Vậy con sẽ đi đâu?
Chị thở hắt ra:
– Con sắp lấy chồng, bác Oai ạ.
Chị tránh ánh mắt của ông tôi và tiếp:
– Tuần sau là đám cưới rồi.
Ông tôi kêu lên:
– Con quyết định thế là hay lắm rôì. Bác rất vui mừng. Mà đứa nào có may mắn thế? Có phải con gặp nó trong đoàn Thanh Niên Xung Phong không?
Chị Loan trả lời, giọng yếu ớt:
– Thưa bác, không phải ạ.
Chị thở dài, ngực ưỡn lên sau lớp đồng phục đã bạc mầu:
– Người ấy thì bác cũng đã biết rồi. Hồi trước anh làm vườn cho nhà ta.
Nụ cười tắt ngóm trên môi ông ngoại và ông chớp lia mắt như thể không tin ở tai mình :
– Là cái ông Trần ấy à?
– Dạ vâng!
Ông tôi quay đi hai tay bưng lấy mặt. Chị Loan cố nói cho hết cái tin lấy chồng của mình:
– Anh ấy bốn mươi và chưa lập gia đình bao giờ. Theo tiêu chuẩn của xã hội mới thì anh ấy khá lắm đấy. Trong mấy năm vừa qua, ảnh đã tận tình săn sóc con. Khi con vào thanh niên xung phong, xa nhà, chính anh ấy đã tới thăm con thường xuyên, dù con di chuyển tới chỗ này chỗ kia. Ảnh đã chia sẻ với con những lúc con gặp khó khăn nhất. Và điều quan trọng nhất là anh đã hưá rằng không còn gây khó dễ gì đến bất cứ ai trong gia đình nhà ta nữa. Như thế, con đã cảm thấy con nợ ảnh bằng cả một cuộc đời của con rồi.
Ông tôi xuống giọng:
– Con đừng vì gia đình bác mà hủy hoại cuộc đời mình. Hắn ta không thể làm khó gia đình này được nữa đâu.
– Dĩ nhiên là không rồi, thưa bác. Nhưng con chọn anh ấy cũng là vì tương lai của con. Con muốn tìm một nơi an toàn và yên ổn để nương tựa. Nếu có vì sự an toàn của bác cũng chỉ là thêm thắt vào mà thôi. Con mong bác, cũng như tất cả mọi người hiểu được điều đó.
Ông tôi gật đầu:
– Con nghĩ cũng phải, bác hiểu, và bác nghĩ là con quyết định đúng. Bác mừng cho con, Loan ạ. Nếu con đến đây chỉ báo tin đó thì bác xin cầu chúc cho con được hạnh phúc. Còn nếu con tới đây vì những chuyện khác nữa, thì bác xin kiếu, vì bác thấy mệt rồi, tuổi già nó thế đấy.
Chị Loan nói với vẻ ngần ngại:
– Đúng ra thì cũng có chuyên khác nữa. Đây là vấn đề của chị Khuôn. Sau đám cưới, con sẽ dọn vô ở chung với anh Trần trong biệt thự họ Nguyễn. Anh ấy nghĩ rằng muốn được làm chủ căn nhà ấy phải lập gia đình và có con cái. Hy vọng một ngày nào đó hai bác và chị sẽ hiểu và tha thứ cho con. Nay thì mọi người đã biết chỗ ở của con, vậy bất cứ lúc nào có ai cần bất cứ điều gì, xin cứ tới tìm con. Đó là con nói ra tự đáy lòng, xin đừng từ chối.
Rồi chị quay sang tôi:
– Nhất là em đó, Kiên. Thỉnh thoảng em tới thăm chị nhé.
Cuối cùng thì mẹ tôi cũng lên tiếng:
– Chuyện giữa em và ông Trần chẳng phải là cái tin sửng sốt gì. Tôi đã thấy cái cách ông ta lăm le em từ nhiều năm nay rồi. Tôi biết là trước sau gì em cũng thuộc về ông ta, vấn đề chỉ còn là thời gian mà thôi.
Chị Loan kiếu từ và đi ra khỏi nhà. Đứng tựa vào khung cưả sổ, tôi nhìn chị trong bộ quân phục mầu xanh lao động. Chị vác chiếc ba lô lên vai rồi rẽ xuống đường phố.
Vài ngày sau đó, bà ngoại tôi phát hiện ra một vết sước ở bên gót chân bên phải. Bà tôi không biết tại sao lại có vết ấy. Mẹ tôi thì cho là bà bị cái cạnh sắc của đôi dép mà bà vẫn dùng đi trong nhà cứa phải. Vết sước không lành mà càng ngày càng lở loét to hơn.
Một buổi sáng sớm, tiếng ngoai rền rĩ đánh thức tôi dậy. Ngoại nằm trên giường, quây chung quanh là ông ngoại tôi, mẹ tôi và hai người anh chị họ. Tất cả đang quan sát chân của bà, bây giờ sưng vù lên nom như một con heo sữa quay và cũng bóng nhẫy như vậy. Lớp da chân bị phồng lên, căng quá mức, nom đỏ au và như muốn vỡ toang ra. Mẹ tôi dùng mũi dao chọc vào đó, hy vọng làm mủ chảy ra. Nhưng thay vì mủ lại có cả máu bầm lẫn lộn những sợi thịt rữa rỉ ra, giỏ từng giọt xuống cái khay bằng đồng để ở dưới giường. Mùi hôi thối xông lên tràn ngập không khí.
Chúng tôi đưa bà vào nhà thương lớn ở Nha Trang, tại đó, các bác sĩ cột chân bà bất động trên một cái băng ca đặc biệt có bánh xe trong lúc tiến hành thử nghiệm. Được vài ngày, vì gia đình tôi không có tiền trả phí tổn nhà thương, và cũng vì các bác sĩ không thể đồng ý với nhau về lý do đã khiến cho bà tôi đến nông nỗi này, bà tôi được cho về nhà với lời chẩn bệnh là bị ung thư.
Tại nhà, mẹ tôi đã nhờ tới một ông lang có tiếng trong thành phố. Sau một vài lần chữa trị, cơn sốt có dịu đi nhưng chỗ chân sưng vẫn chẳng thuyên giảm.
Trong khi đó, việc mua bán của mẹ tôi đã trở nên khó khăn hơn. Chiến thuật mới nhất của nhà nước để triệt tiêu việc tư nhân buôn bán ở miền nam là bằng cách ban giấy phép buôn bán, nhưng lại chỉ cấp cho một vài tổ hợp được lựa chọn. Còn những ai chưa được cấp giấy thì được khuyến khích ” tình nguyện ” bỏ nghề buôn bán. Để đảm bảo việc thực thi chính sách cho có hiệu lực, hằng ngày công an sục sạo khắp chợ để hỏi giấy phép của bạn hàng. Kẻ nào bị bắt gặp buôn bán mà không có giấy phép thì đều bị coi là bất hợp pháp và bị bắt lao động cải tạo trong vài tuần lễ.
Một hôm, ngay sau khi ông lang ra về và mẹ tôi đang thay băng cho chỗ đau của bà thì dì Đặng đến thăm. Giống như hoàn cảnh mẹ tôi, dì bị chính phủ ngược đãi cũng vì có lý lịch xấu. Gia tài dì chẳng còn gì ngoại trừ một vài bộ quần áo, một chỗ ở thuê chật hẹp đối diện với khu chợ và cái quá khứ vàng son của mình. Dì đi thẳng đến chỗ mẹ tôi mà không màng đến mùi hôi thối quá sức bay ra từ vết thương, nói:
– Khuôn à, nghe mình nói cái này nhé. Mình có cách cho chị và mình kiếm sống rồi.
Mẹ tôi trả lời:
– Nói đi, tôi đang nghe đây.
– Chị cũng biết là chúng mình không thể buôn bán chui. Sớm muộn rồi cũng bị công an nó tóm thôi. Tôi có giao thiệp với một vài người đã có giấy phép đàng hoàng. Họ cần có mối để Sài Gòn chuyển vải vóc và hàng hoá ra cho họ.
– Mình làm được mà, Khuôn. Bây giờ hết chiến tranh rồi, đâu còn luật nào cấm mình đi đây đi đó nữa. Mình lại có thẻ chứng minh nhân dân. Chúng nó không còn bắt mình bê sổ hộ khẩu đi từ thành phố này qua thành phố kia nữa.
Dì Đặng ngừng một lúc để cho lời lẽ mình thêm thấm thía rồi tiếp:
– Vậy chị tính sao ? có đi Sài Gòn với tôi không?
Mẹ tôi lắc đầu. Dì tiếp:
– Thôi nào, Khuôn. Chị nghĩ tôi tính có đúng không?
– Tôi cũng chả biết nữa. Nhưng sao nghe phức tạp qúa. Ngoài ra, mẹ tôi đang ở trong tình trạng như thế này, chưa nói gì đến lũ nhỏ, chị thấy tôi đi làm sao được ? Rồi, còn ở phường, nếu họ không cho mình giấy thông hành thì mình đi làm sao đây?
Dì Đặng nắm lấy cổ tay mẹ tôi:
– Chị còn con đường nào khác không? Nếu chị không làm vụ này thì chẳng lẽ cứ tiếp tục sống cuộc sống bấp bênh theo kiểu buôn bán chui hoài này sao ? Hay là cứ ru rú trong nhà để cho chết đói cả đám hay sao?
Mẹ tôi biết là mình đuối lý, nên hỏi:
– Vậy thì đi trong bao lâu? Và mình cần vốn khởi đầu là bao nhiêu?
– Tôi tính rằng vốn liếng cả hai chắc phải cần khoảng hai ngàn đồng, còn đi thì cũng mất năm ngày. Trừ tất cả chi phí, mỗi đứa cũng kiếm được ít nhất vài trăm đồng mỗi chuyến đi.
Mẹ tôi kêu lên nho nhỏ:
– Mỗi người phải cần tới một ngàn đồng kia à? Tôi làm gì ra có nhiều như vậy. Tôi biết đào ở đâu ra?
Dì Đặng trả lời thản nhiên:
– Hãy làm như tôi, bán đồ đạc đi. Ngày mốt mình nên khởi hành. Tôi muốn chị hứa một tiếng là sẽ đi cùng với tôi.
Ở phòng kế bên, em bé gái của tôi thức dậy từ giấc ngủ trưa và cất tiếng khóc. Đã hai tuổi rưỡi rồi mà cả thể xác cũng như tinh thần, nó chỉ như đứa bé lên một, mắc miú trong một thân hình bạc nhược và nhăn nhúm mà lúc nào cũng mọc đầy mụn đau đớn, nhất là ở đầu và cổ. Nó tập đi và tập nói cực kỳ khó khăn. Đa phần, nó chỉ muốn bò trên sàn nhà thay vì đi và khóc thay vì xin đồ ăn. Mặt nó nom già khằn mà giọng thì lại nhỏ xíu y như một con mèo con mới đẻ.
Tiếng khóc của em tôi làm cho mẹ tôi giật mình, ngưng việc chăm sóc vết thương của bà tôi và quát lên giận dữ:
– Kiên, bắt nó nín đi. Tao còn đang bận với dì Đặng đây này.
Tôi bế em tôi lên và đung đưa nó trong khi nó cố bám chặt lấy cái gối rách ở trước ngực. Mặc dù đã gần mục và bốc mùi hôi thối vì rớt rãi của nó, nhưng cái gối vẫn là đồ chơi duy nhất của nó. Nằm trong lòng tôi, Bé Ti nhìn tôi ngây ngô với đôi mắt mầu nâu to, lồi, và cười với tôi bằng nụ cười chẳng có cái răng nào. Những răng sữa của nó đã rụng hết mà răng khôn thì chưa kịp mọc để thay thế.
Kế bên, mẹ tôi hỏi ý kiến bà Ngoại về đề nghị của dì Đặng. Tôi nghe thấy tiếng bà tôi yếu ớt góp ý:
– Mẹ nghĩ là con nên đi Sài Gòn. Đừng bận tâm gì đến cả nhà. Mẹ đã có ba trông nom, còn thằng Kiên sẽ săn sóc hai đứa nhỏ. Dù con có ở nhà thì cũng chẳng hơn được gì.
Hai ngày sau, với món tiền bán chiếc máy may, mẹ tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi. Bà dúi vào tay tôi tờ giấy năm mươi đồng. Bà đoán chắc với tôi số tiền này sẽ đủ cho cả nhà trong năm ngày sắp tới, rồi bà từ biệt mọi người để lên đường.
Cùng ngày hôm đó, ở trường tôi có buổi diễn hành đánh dấu ngày cuối cùng của học kỳ. Dẫn đầu toán diễn hành là Đoàn Thiếu niên Cộng sản Hồ Chí Minh, phân biệt với những học sinh khác bằng chiếc khăn quàng quanh cổ. Anh chàng phó trưởng lớp của tôi đã đi tiên phong, hãnh diện vói cây cờ đu đưa trên tay. Họ đi diễu qua các đường phố, hát bài quốc ca và hô những khẩu hiệu tuyên truyền Công sản trước đám đông nồng nhiệt.
Tôi ở lại trong lớp để tránh buổi hội lễ. Sợ tôi buồn, Duy ở lại với tôi. Nó đứng cạnh cửa sổ xem đoàn diễn hành từ xa. Lúc ấy vào khoảng mười hai rưỡi trưa, mùa hạ mới chớm mà đã nóng nực phát khiếp. Có mùi phân bò thoảng lại hoà lẫn với mùi ngọt ngào của lúa chín từ những cánh đồng gần đó. Tất cả tạo nên một sự êm dịu và tôi buồn ngủ đến ríu cả mắt.
Duy hỏi tôi:
– Mày có nghe tin về cô San chưa?
Tôi choàng tỉnh, sự tò mò thay thế cơn buồn ngủ:
– Không, mày biết tin gì thì nói đi.
Duy nói với giọng đôi chút xúc động:
– Tao nghe nói cô đã vượt biên từ mấy hôm trước đây, nhưng tầu của cô có kẻ phản bội. Cô đã bị bắn. Chẳng có ai là được coi biết rõ cả. Công an đã báo cáo với ông gíam hiệu. Họ nói là cô đã chết.
Như có tiếng bom nổ ngang tai, đầu óc tôi ù lên:
– Ôi trời ơi!..
– Vậy đó kinh khủng quá phải không? mà cũng chả có đám ma nữa. Họ không cho tuị học trò tưởng niệm cô.
Nó nhìn tôi chăm chú rồi tiếp:
– Nếu còn cô San ở đây, chắc chắn cô sẽ đấu tranh để giữ mày trong cuộc diễn hành.
Ông gíam hiệu nói là tao không xứng đáng được cái vinh dự ấy. Tao cũng không nghĩ rằng ông ta sẽ cho là cô San xứng đáng có một buổi tưởng niệm. Không phải là vấn đề cá nhân ở đây. Mà chỉ vì sự đời là thế!
TTO – Nhà báo Jeroen Visser (42 tuổi) là đặc phái viên báo De Volkskrant của Hà Lan tại khu vực Bắc Âu, làm việc tại Stockholm (Thụy Điển). Trước đó từ năm 2016-2020, anh là đặc phái viên của tờ báo này tại Hàn Quốc.
Hải quân Hàn Quốc trục vớt tàu ngầm Bắc Triều Tiên vào tháng 9-1996 – Ảnh: AFP
Nhật ký tiết lộ các chiến thuật, cách thức hoạt động và những người mà họ đã giết.
Năm 2018, Visser đã từng đến Pyeongchang thuộc tỉnh Gangwon đưa tin về Thế vận hội mùa đông tại Hàn Quốc. Trên bờ biển băng giá ở vùng đông nam cách thủ đô Seoul hơn 120km, anh nhìn thấy một vật trưng bày lạ lùng mà đối với anh còn hấp dẫn hơn các môn thể thao mùa đông.
Đó là một chiếc tàu ngầm nhỏ của CHDCND Triều Tiên được trưng bày trong công viên bên ngoài thị trấn nghỉ mát ven biển Gangneung cạnh một boongke quân sự kiên cố bao quát vùng biển phía trước.
Chiếc tàu ngầm thôi thúc anh tiến hành điều tra, từ đó đã viết xong một cuốn sách với tựa đề “Bắc Triều Tiên không bao giờ nói lời xin lỗi” (Noord-Korea zegt nooit sorry, NXB Das Mag) xuất bản ở Hà Lan và Bỉ đầu năm 2022.
Cuốn sách kể lại một câu chuyện không hề hư cấu với “nội dung tương tự một câu chuyện phiêu lưu ly kỳ khó có thể xảy ra” như các nhà phê bình sách nhận xét.
Tháng 9-1996, Tổng cục Trinh sát Triều Tiên (RGB – cơ quan tình báo chủ chốt của CHDCND Triều Tiên) đã điều động một tàu ngầm loại nhỏ lớp Sang-O cùng 26 đặc nhiệm thực thi nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo ở Hàn Quốc.
Mục tiêu của tàu ngầm là căn cứ không quân gần thị trấn Gangneung. Ba đặc nhiệm Bắc Triều Tiên có kinh nghiệm xâm nhập giới tuyến đã hoàn thành nhiệm vụ chụp ảnh căn cứ không quân. Đêm 17-9, khi họ tìm cách rút ra và quay về thì mọi thứ đã trở nên tồi tệ.
Visser kể với báo Asia Times: “Có bão và sóng lớn nên tàu ngầm bị mắc cạn cách bờ chừng 20m. Họ định cho nổ phá hủy tàu ngầm nhưng không thành công, vì vậy 26 người trên tàu chia thành nhiều nhóm rời đi”.
Một tài xế taxi chạy xe khuya phát hiện nhóm người khả nghi nên trình báo với cảnh sát. Rạng sáng hôm sau, tàu ngầm mắc cạn trên đá bị phát hiện. Hàn Quốc đã tổ chức chiến dịch săn người quy mô với 40.000 binh sĩ tham gia.
Ngay từ đầu, 11 đặc nhiệm trên tàu ngầm Bắc Triều Tiên dường như bị chính các đồng đội giết chết, không rõ vì họ không đưa được tàu ngầm ra khỏi bãi đá hay họ chấp nhận cái chết bởi hiểu rằng không thể đào thoát trên chặng đường gần 100km vượt qua địa hình đồi núi đến khu giới tuyến quay trở lại miền Bắc.
Visser muốn tái hiện vụ xâm nhập của tàu ngầm Bắc Triều Tiên vì theo anh, câu chuyện vẫn còn nhiều tình tiết hết sức vô lý. Vụ xâm nhập đã được công bố rộng rãi, vậy Visser mang đến thông tin gì mới?
Một trong những phần gây tò mò nhất trong vụ xâm nhập là hai đặc nhiệm Bắc Triều Tiên đã viết nhật ký kể lại hoạt động hằng ngày của họ, một điều cấm kỵ mà lực lượng đặc nhiệm nước nào cũng phải nằm lòng.
Sau khi họ bị bắn chết trong vụ chạm súng, các binh sĩ Hàn Quốc đã khám xét và tìm thấy nhật ký trên người họ. Mặc dù nhật ký không được công bố rộng rãi cho công chúng nhưng Visser và người phiên dịch đã tìm thấy nó trong Thư viện Quốc hội ở Seoul.
Anh kể: “Tôi đã nắm trong tay nội dung toàn bộ cuốn nhật ký. Tôi không biết còn trường hợp nào các biệt kích của Tổng cục Trinh sát Bắc Hàn ghi chép lại nhiệm vụ của họ hay không”.
Anh nhận xét nội dung trong cuốn nhật ký vừa thú vị lại vừa kinh khủng: “Nhật ký tiết lộ các chiến thuật, cách thức hoạt động và những người mà họ đã giết. Họ chế giễu lính Hàn Quốc kém cỏi thế nào và họ đã trốn thoát dễ dàng ra sao. Tuy nhiên phía sau đó vẫn che giấu thái độ căng thẳng không biết khi nào bị bắt”.
Hình ảnh vụ xâm nhập được Hàn Quốc công bố năm 1996 – Ảnh: reddit.com
Một đặc nhiệm sống sót quay về miền Bắc?
Visser kể tiếp: “Họ đã gặp ba người Hàn Quốc lớn tuổi – một phụ nữ và hai người đàn ông, có lẽ đi hái nấm trên núi. Cuộc gặp tình cờ thôi”. Ít nhất đã có hai nhiệm vụ gần đây của lực lượng đặc biệt không quân Anh (SAS) ở Iraq và đơn vị SEAL của Mỹ ở Afghanistan dẫn đến hậu quả chết người sau khi các đặc nhiệm bị người dân địa phương phát hiện. Trong cả hai trường hợp, SAS hoặc SEAL không “giết người diệt khẩu”…
Visser kể: “Họ đã giết thường dân. Hai người bị bắn, một người bị bóp cổ và bị đánh bằng thứ gì đó”. Các binh sĩ Hàn Quốc nghe tiếng súng đã khoanh vùng truy lùng và 24 tiếng sau phát hiện dấu vết nhưng hai đặc nhiệm Bắc Triều Tiên chạy thoát được.
Cuối cùng họ bị phát hiện lần nữa cách khu phi quân sự khoảng 16km. Trong cuộc đọ súng sau đó, cả hai đã giết chết ba người và làm bị thương 14 người bên phía Hàn Quốc trước khi bị lính đặc nhiệm Hàn Quốc hạ gục.
Chiến dịch săn lùng kéo dài 49 ngày kết thúc hôm 5-11-1996 nhưng câu chuyện vẫn tiếp tục. Lee Kwang-soo – thủy thủ điều khiển tàu ngầm Bắc Triều Tiên – là đặc nhiệm duy nhất ra đầu thú. Sau đó, Lee đã trở thành sĩ quan hướng dẫn cho hải quân Hàn Quốc về tổ chức và chiến thuật của RGB.
Thế nhưng vẫn còn một đặc nhiệm mất tích. Chính Lee đã xác nhận người này là một trong các thủy thủ trẻ tuổi nhất và không mang quân hàm sĩ quan trên tàu ngầm. Điều kỳ lạ là không ai tìm thấy bất kỳ dấu vết gì về người này.
Visser kể: “Tôi đã tìm thấy một bộ phim tài liệu của Bắc Triều Tiên nói về sự kiện Gangneung 20 năm sau. Họ có danh sách 25 thủy thủ thiệt mạng, trong đó có người này. Vậy Bắc Triều Tiên tin rằng anh ta đã chết. Phim có ghi hình mộ phần của anh ta với danh tính ghi trên bia lưu niệm”.
Visser đã trò chuyện với nhiều nguồn tin trong các cơ quan tình báo Hàn Quốc và họ vẫn luôn nghĩ người này đã quay lại miền Bắc. Song anh tin chắc người này không thể nào trở lại miền Bắc vì không hề có bằng chứng chứng minh điều đó. Nghi vấn phải chăng đây là đặc nhiệm duy nhất sống sót quay trở lại Bắc Triều Tiên vẫn chưa có lời giải đáp.
CHDCND Triều Tiên đã tiến hành hàng loạt nhiệm vụ gián điệp và biệt kích chống Hàn Quốc trong những năm 1960, 1970 và 1980. Sau đó, hoạt động xâm nhập giảm dần. Bắc Triều Tiên vẫn duy trì lực lượng đặc nhiệm,
trong đó RGB tiếp tục giữ vai trò chủ công về đặc nhiệm trên mạng. Hiện nay, ưu tiên quân sự và nguồn đầu tư lớn nhất của Bắc Triều Tiên là vũ khí hủy diệt hàng loạt chứ không phải lực lượng đặc nhiệm như ngày trước.
Trường hợp của đặc nhiệm Bắc Triều Tiên đầu thú Lee Kwang-soo không bao giờ được đơn vị cũ thừa nhận.
Nhà báo Visser giải thích: “Họ đã xóa sạch Lee khỏi lịch sử. Các nguồn tin cho biết vợ và gia đình Lee bị tống giam. Anh ta còn một con trai ba tuổi, anh chị em và cha mẹ. Họ không bao giờ quên hành động phản bội của anh ấy”.
Visser cho biết Bắc Triều Tiên đã từng cử hai đặc vụ tìm cách tiếp cận với Lee tại nơi trú ẩn an toàn ở Hàn Quốc. Trong đó có một đặc vụ mang bí danh Black Venus (tên thật là Park Chae-seo) lại là điệp viên hai mang nổi tiếng của Hàn Quốc.
Câu chuyện của điệp viên này đã được dựng thành bộ phim The Spy Gone North (tựa tiếng Việt là “Kế hoạch Bắc Hàn”) đã được chiếu giới thiệu tại Liên hoan phim Cannes năm 2018.
—————————-
Lực lượng đặc biệt của Mỹ và Israel thuộc hạng giỏi nhất thế giới, thế nhưng họ đã từng gặp thất bại thảm hại ở Niger (Mỹ) và dải Gaza (Israel). Nhiều đặc nhiệm đã trả giá bằng chính mạng sống của họ.
TTO – Trong phần nêu thành tích, Bộ trưởng Shoigu tuyên bố các đơn vị của lữ đoàn 810 đã ‘thực hiện nhiệm vụ đặc biệt của tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Nga trên lãnh thổ Cộng hòa Ả Rập Syria’.
Giải cứu phi công Konstantin Murakhtin – Ảnh: Twitter
Ngày 1-10-2015, tức một ngày sau khi Nga triển khai quân đội giúp đỡ quân sự cho Tổng thống Bashar al-Assad ở Syria, Hãng tin Interfax (Nga) dẫn nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Nga cho biết các toán đặc nhiệm Nga đã tham gia “bảo vệ chu vi” các cơ sở quân sự Nga ở Syria. Ngoài ra còn có lữ đoàn cận vệ 810 của hạm đội Biển Đen và sư đoàn đổ bộ đường không số 7 (Novorossiysk).
Năm đơn vị đặc nhiệm chủ lực
Hãng tin lenta.ru (Nga) ghi nhận thông tin nêu trên đã được chính thức xác nhận vào tháng 6-2016 khi Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu trao tặng huy chương cho lữ đoàn 810.
Trong phần nêu thành tích, Bộ trưởng Shoigu tuyên bố các đơn vị của lữ đoàn 810 đã “thực hiện nhiệm vụ đặc biệt của tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Nga trên lãnh thổ Cộng hòa Ả Rập Syria”.
Ba tháng trước đó, thượng tướng Alexander Dvornikov chỉ huy các lực lượng quân đội Nga tại Syria và Iraq đã trả lời báo Nga Rossiyskaya Gazeta: “Tôi sẽ không che giấu sự thật rằng các đơn vị tác chiến đặc biệt của chúng tôi đang hoạt động tại Syria.
Họ thực thi các nhiệm vụ trinh sát mục tiêu không kích của Nga, tham gia dẫn đường cho máy bay đến các mục tiêu ở khu vực xa xôi và giải quyết nhiều nhiệm vụ đặc biệt khác”.
Đến cuối năm 2016, kênh truyền hình Nga Rossiya-24 đã phát một thiên phóng sự về hoạt động đặc nhiệm Nga tại Syria.
Trên thực tế đây là thông tin chính thức đầu tiên nêu đầy đủ chi tiết về vai trò tham chiến của đặc nhiệm Nga tại Syria.
Phóng sự ghi nhận đặc nhiệm Nga đảm trách các nhiệm vụ như săn lùng các chỉ huy chiến trường, chỉ điểm cho máy bay, điều động các tay súng bắn tỉa chuyên nghiệp hỗ trợ quân đội Syria.
Tháng 11-2015, đặc nhiệm Nga đã tham gia chiến dịch tìm cứu phi công Konstantin Murakhtin nhảy dù từ máy bay ném bom Su-24 bị không quân Thổ Nhĩ Kỳ bắn rơi.
Lực lượng đặc nhiệm Nga thường được gọi là Spetsnaz, tên ghép từ hai từ tiếng Nga “spetsialnoye” (đặc biệt) và “naznacheniya” (nhiệm vụ), tức lực lượng thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt. Spetsnaz là lực lượng can thiệp được huấn luyện bài bản, tinh nhuệ nhất của quân đội và cơ quan tình báo Nga. Spetsnaz gồm năm đơn vị chủ chốt:
* Spetsnaz Tổng cục Tình báo (GRU) ra đời năm 1950 được xem là tai mắt của Bộ Tổng tham mưu. Đơn vị này thực thi nhiệm vụ trên phạm vi quốc tế, đã từng hiện diện ở Tiệp Khắc, Angola, Lebanon, Syria, Afghanistan, Campuchia…
* Spetsnaz Tổng cục An ninh Liên bang Nga (FSB) với đội chống khủng bố Alpha ra đời năm 1974.
Đơn vị này đã thực hiện nhiều chiến dịch nổi tiếng như phối hợp với Spetsnaz GRU tấn công cung điện Tajbeg giết chết Tổng thống Afghanistan Hafizullah Amin năm 1979, chống khủng bố trong chiến tranh Chechnya, năm 2002 phối hợp với đội Vympel (thành lập năm 1981) tấn công nhà hát Dubrovka ở Matxcơva giải cứu con tin.
* Lực lượng đặc nhiệm đổ bộ đường không hoạt động sau phòng tuyến chuẩn bị địa bàn cho lính nhảy dù đổ bộ. Nổi tiếng nhất là lữ đoàn trinh sát độc lập số 45.
* Spetsnaz hải quân: Tên chính thức hiện nay là Đơn vị chiến đấu chống thiết bị và lực lượng xâm nhập dưới nước (PDSS) bảo vệ các cơ sở hải quân và tàu chiến đồng thời làm công tác phá hoại trong chiến tranh.
* Lực lượng tác chiến đặc biệt (SOF) ra đời năm 2009 trực thuộc Bộ Tổng tham mưu. Lực lượng này quy tụ mọi đơn vị đặc nhiệm quân đội Nga. Thông tin về nhân sự và hoạt động của SOF luôn được giữ bí mật. Lực lượng đã tham gia chiến dịch ở Crimea (năm 2014), Syria và đụng độ với cướp biển Somalia.
Đặc nhiệm Nga ở Crimea vào tháng 4-2014 – Ảnh: TASS
Năm quan niệm sai lầm
Hầu hết các lực lượng đặc nhiệm quân đội trên thế giới được giữ bí mật hoạt động vì an ninh quốc gia. Spetsnaz cũng không phải ngoại lệ.
Chính vì vậy có khi câu chuyện về Spetsnaz được thêm mắm giặm muối mô tả người lính đặc nhiệm kiêm luôn làm điệp viên và chuyên gia phá hoại, từ đó dẫn đến khó phân biệt giữa thực tế với hư cấu.
Một sĩ quan Spetsnaz nghỉ hưu (giấu tên) giải thích với tạp chí Nga Russia Beyond có năm quan niệm sai lầm phổ biến:
Thứ nhất, đặc nhiệm Nga không phải là những người cơ bắp như Rambo trong phim ảnh Mỹ vì nếu như vậy làm sao đặc nhiệm có thể hòa nhập vào đám đông.
Thông thường họ là người mảnh khảnh cao khoảng 1,7m. Khi hành quân rèn luyện, họ phải chạy, nhảy, bò, không ăn ngủ trong thời gian dài, do đó cần nhiều thức ăn và nước hơn.
Thứ hai, không phải đặc nhiệm Nga đều giỏi võ thuật. Cựu sĩ quan Spetsnaz nhận xét: “Chiến đấu tay không chỉ hữu ích nếu hai kẻ ngốc gặp nhau mà không có súng máy, súng lục, dao, xẻng, đá trong tầm tay và ngay cả gậy gộc.
Chỉ trong những điều kiện như vậy mới đấu tay không”. Kỹ năng cận chiến thật ra chỉ cần thiết để rèn luyện tính cách giúp họ không mất tinh thần trong chiến trận khi đạn bay vèo vèo trên đầu.
Thứ ba, không phải cái gì đặc nhiệm Nga cũng biết mà mỗi người có chuyên môn và nhiệm vụ riêng. Người hoạt động nội thành trong đám đông, người tác chiến ở vùng rừng núi, người khác nữa sành sỏi ngoại ngữ hoặc bắn tỉa. Cựu sĩ quan Spetsnaz giải thích: “Ví dụ chuyên môn của tôi là hoạt động chống khủng bố trong rừng và địa hình đồi núi…”.
Thứ tư, không phải đặc nhiệm Nga lúc nào cũng có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ. Cựu sĩ quan Spetsnaz nêu trên kể: “Nhiệm vụ của đơn vị tôi có thể là giải tỏa khu vực, quan sát lâu dài, thu thập tin tình báo, đột kích. Tôi cũng chuẩn bị phục kích và theo dõi đối phương trong một hoặc hai tuần trên đồi hoặc bên đường”.
Ngoài ra còn có nhiều đơn vị đặc nhiệm hoạt động trên tuyến đầu với nhiệm vụ chính là chiếm cứ điểm và tiêu diệt quân địch.
Đội đặc nhiệm tấn công từ bên sườn chớp nhoáng rồi rút. Còn có cách đánh khác tương tự bằng ôtô, máy bay trực thăng hoặc tàu thuyền. Sĩ quan Spetsnaz nghỉ hưu giải thích: “Đôi khi bạn phải chỉ điểm mục tiêu. Chúng tôi ở bên ngoài chiến tuyến thu thập thông tin và tọa độ để chỉ điểm cho pháo binh, trực thăng và máy bay. Bạn có thời gian rút khỏi khu vực”.
Thứ năm, đặc nhiệm Nga chỉ xài vũ khí Nga, ngoại trừ súng ngắn. Cựu sĩ quan Spetsnaz cho biết: “Có bốn thứ quan trọng: vũ khí chính, vũ khí phụ, hệ thống liên lạc và thuốc”. Sử dụng vũ khí là súng tiểu liên, súng trường tự động hay súng bán tự động còn phụ thuộc phạm vi hoạt động xa hay gần và chiến thuật.
Ví dụ có cần dùng súng hãm thanh hay không, đối phương ở cách bao xa lúc khai hỏa, hoạt động ban ngày hay ban đêm, làm nhiệm vụ ở đâu (nhà cửa, đồng ruộng, rừng núi). Cuối cùng ông khẳng định tất cả vũ khí đều được sản xuất ở Nga.
Theo trang web forces.net (Anh), hiện nay cũng như dưới thời Liên Xô cũ, lực lượng đặc nhiệm Spetsnaz của Nga nổi bật là lực lượng được huấn luyện kỹ, có kỷ luật và trang bị tốt về cơ bản. Spetsnaz luôn được điều động trước tiên trong các hoạt động chống khủng bố và giải cứu con tin.
Điều khác biệt của Spetsnaz so với các lực lượng đặc biệt phương Tây là Spetsnaz được sử dụng cho nhiều mục đích đặc biệt, từ tấn công vào nguồn lực đối phương, ngăn chặn thông tin liên lạc cho đến triển khai đến các khu vực gặp thảm họa thiên tai và các trường hợp khẩn cấp về y tế như động đất kinh hoàng ở Tashkent (Uzbekistan) năm 1966, bệnh đậu mùa ở Aralsk (Kazakhstan) năm 1971.
Hồn tôi đang lãng đãng, chơi vơi, nửa mơ màng, nửa thức thì lại có tiếng lục đục ồn ào, ngay sàn trên chỗ tôi nằm. Tôi giật mình, ngồi bật dậy. Tưởng lại một người nữa đi cùm. Tôi chồm xuống đất, xỏ dép nhìn lên. Ba, bốn anh đang tranh nhau chộp vồ huỳnh huỵch. Thì ra có một con gián to, Lê Văn Kinh đã vồ được.
Vội vàng, Kinh trèo xuống đất, đến chỗ chiếc đèn con, đang để ở gầm sàn dưới, chỗ hút thuốc lào của buồng. Anh dùng một chiếc đóm nứa con đốt, hơ, nướng con gián. Con gián thật to, mầu sậm bồ quân. Cánh cháy trụi ngay, bụng nó bị ngọn lửa của chiếc đóm hơ mãi vào. Nó phình ra, rồi cong lên, phì ra một đám bọt li ti, sủi lên sùng sục. Một mùi thơm ngậy, phả ra khắp buồng.
Tôi mở to mắt, nhìn cái thân hình đồ sộ, nhìn những ngón tay chuối mắn dài nghêu của Lê Văn Kinh đang vặt từng chiếc chân, cái đầu con gián, đưa lên miệng. Cuối cùng, còn cái thân mình con gián, anh đút tỏm vào mồm, làm nước chân răng của tôi ứa ra. Qua ánh mắt của những người khác, đang ngồi nhìn Lê Văn Kinh thưởng thức con gián. Tôi dám cả quyết rằng cuống họng của họ, cũng bị ướt như tôi. Hàng tháng không có chất protein trong người, chỉ cần một tí hơi hướng, cũng làm say đắm hồn người.
Hẳn cũng sắp đến giờ kẻng báo thức đi làm buổi chiều. Vì không chợp mắt được chút nào, người tôi cảm thấy mệt mỏi. Tôi vội vàng mượn chiếc gầu của cậu Toàn, chạy lẹ xuống giếng, rửa qua cái mặt cho tỉnh người. Khi ngang qua buồng số một, tôi thoáng thấy một đám người ồn ào, to tiếng ở phía chái hồi. Lẹ làng tôi ghé tới. Có mấy bác già, mặt đang chảy dài như quả bí khô. Một bác đang năn nỉ với tên trật tự Tân:
– Xin anh thông cảm tha cho, vì chúng tôi tuổi già không ngủ được.
Hai con mắt của tên Tân, càng trắng thêm ra. Tay y cầm một con dao con làm bằng một miếng sắt, dài hơn một ngón tay. Miệng y đang nguệch ra, hai hàm răng khít lại như không muốn cho ai nhìn thấy lưỡi:
– Tôi tha đề nghị kỷ luật. Từ trưa mai, dù không ngủ, các anh cũng phải vào buồng nằm. Tụ tập, chui rúc ra đây để bàn chuyện phản động à? Con dao này, tôi tịch thu!
Dù không phải chuyện của tôi, nhưng sao người tôi cứ nóng lên bừng bừng, chân tay tôi, thấy ngứa ngáy bứt rứt. Nghe tên Tân nói, tai tôi như có ai rắc sạn vào. Có lẽ, từ nỗi khinh rẻ, căm uất nó từ buồng số 2 xà lim II, Hỏa Lò, nên nhìn cảnh này, nỗi khinh, nỗi uất trong lòng tôi càng chất chứa nhiều hơn.
Xuống đến giếng rồi, mà tay chân tôi vẫn còn rần rật. Vừa lau mặt, vừa nhìn chiêc hoa chuối đang rung rinh với gió. Mới có mấy ngày mà hôm nay nó đã lồi ra, thò dài. Những chiếc bẹ úp phía ngoài, mầu đỏ đã thẫm lại, giương xòe ra như những chiếc cánh dơi. Ấp bên trong một lượt quả con tí, như những ngón tay con gái, dài ngoẵng, trắng đục màu ngà. Trông chiếc hoa chuối chiều nay như một chiếc hoa sen đại đang thì, đỏ choét.
Nước lạnh, nhìn hoa chuối đỏ, tôi quên béng chuyện của tên Tân, để rồi tiếng kẻng mất dạy, đập ngay vào bên tai. Trên chòi gác, tên bộ đội oắt con, cứ thong thả nện cái búa con, vào cái vỏ quả bom kêu oăng oẳng. Tôi thừa nhận cái kẻng này mất dạy thật. Người ta đang ngủ ngon lành thì nó khua dậy. Người ta đang gửi hồn, lãng đãng với trời, mây, gió, nước thì nó đập tan tành. Nó cũng mất dạy, trơ tráo, ỏm tỏi như những tên chủ của nó vậy.
Lúc các toán xuất trại đi làm chiều, tôi đang ngồi trong hàng ở giữa sân, bên cạnh Phan Thanh Vân. Vừa thì thào nói chuyện với Vân, mắt vừa lo đãng rõi nhìn các toán đang xếp hàng đôi, theo nhau ra ngoài cổng trại. Tiếng một tên cán bộ quát to, làm tôi chú ý:
– Không đi, thì lôi nó đi!
Toán bốn, toán nông nghiệp, do anh Hà làm toán truởng. Theo lệnh của tên cán bộ toán, anh đang lúng túng, chỉ định cho hai đi cuối hàng, trở lại kéo một anh còn đang ngồi lại ở sân. Anh này chừng 30 tuổi, mặc bộ quần áo trại mầu xanh xám đã tã. Anh có bộ mặt xương xẩu, đang gục đầu vào hai đầu gối, hai tay luồn, ôm ngang bụng, mồm rên rỉ kêu:
– Thưa ông, tôi đau bụng quá!
Hai anh toán 4 được chỉ định, còn đang lóng ngóng, ngần ngừ, thì tên Cẩn trực trại, quát giận lên:
– Kéo nó đi, còn chần chờ gì nữa! Để cho toán khác xuất trại chứ?
Như cái máy khởi động do người khác điều khiển; hai người cầm hai tay anh đang đau bụng, kéo nê ra phía ngoài cổng. Anh đau bụng nằm ngửa hơ hơ, hai chân xuội ra, rê trên mặt đất. Đầu anh ngoẻo về một bên, đôi mắt nhắm nghiền, miệng cứ rên rỉ…đau quá! Vì lần đầu tôi nhìn thấy cảnh này, nên quay lại hỏi Vân:
– Đau bụng mà không được nghỉ lao động à?
Vân quay sang, như đang định trả lời, thì tên trực trại đã gọi đến toán 2. Thành ra, mãi tới khi vào đến nhà vernie, tôi phải hỏi lại Quý và Lê Sơn. Tôi rất ngạc nhiên, thấy Lê Sơn văng tục:
– Địt mẹ cái thằng Thái y tá! Phải có gì cho nó, thì không ốm, muốn nghỉ cũng được nghỉ.
Thấy thái độ giận dữ của Lê Sơn như vậy, Quý Cụt cũng buồn cười, nói vừa như dàn hòa, vừa như mai mỉa:
– Quy định của trại là 2 phần trăm người bịnh chung cho các toán. Như toán ta có 49 người, thì chỉ được phép nghỉ ốm 1 người là cao nhất. Nếu áp dụng đúng chính sách thì chỉ được nghỉ tám phần chín thân của một người mà thôi. Do đấy, không những mọi người đã “thông” mà còn phải biết ơn cái nhã ý, linh động, nhân đạo của ban giám thị nữa chứ! Hơn nữa, y tế cũng phải chấp hành lệnh của cán bộ mà!
Thấy Lê Sơn cầm mấy tờ bìa đi xuống dưới lán mộc, tôi lại hỏi Quý nữa:
– Việc gì mà phải lôi kéo như thế, nhỡ anh ta đau bụng thật thì sao?
Quý Cụt cười lên khềnh khệch:
– Y tá không cho nghỉ, thì đi làm. Không đi thì bị lôi đi, có khi còn vào kỷ luật nữa chứ!
Không hiểu vì sao, chỉ trả lời như vậy mà Quý lại cười? Hay anh cười tôi đã hỏi một câu thật là tồ? Tôi không hỏi nữa, quay vào lấy sơn, bút ra làm tiếp công việc buổi sáng. Tay làm việc nhưng lòng tôi vẫn băn khoăn; không yên được. Tôi lại đến chỗ Quý:
– Này, thế anh Thái nào đó là y tá có khá chuyên môn không?
Quý đang mở tủ xách mấy lọ dầu sơn ra. Vì Quý chỉ có một tay nên tôi phụ giúp. Xong, Quý quay lại thong thả giải thích:
– Chuyên môn ở đây là phụ thôi. Ông Đặng Văn Hiệp kia kìa, là bác sĩ nội khoa nổi tiếng đấy; đang ở toán 6 nông nghiệp, làm cỏ, nhổ mạ, gánh phân như điên. Vấn đề là tư tưởng và tội trạng, chứ chẳng phải do chuyên môn.
Quay về chỗ tiếp tục làm việc, tôi vẫn chưa hiểu hết vấn đề Quý nói.
Buổi cơm chiều nay, cả toán 2 xôn xao náo nhiệt hẳn lên. Cứ í a, í ới, ríu ra, ríu rít gọi nhau về bát với đĩa, làm như mở đại tiệc. Một đám đông những nhân vật tai mắt trong toán: toán trưởng, tổ trưởng, tự giác đang túm hụm vây quanh gánh rau lá cải bắp già luộc. Tay chân các vị chỉ chỏ, miệng bàn tán cứ vung củ cải lên. Tôi nhớ, ngay từ khi còn ngoài lán thủ công: lúc anh Lý A Chén gánh về một gánh đầy lá rau cải bắp. Trong lán, anh em giáo giác đổ xô hết cả ra chỗ gánh rau đang để ở giữa sân, bên cạnh đống lửa bác Đặng Minh Chánh hàng ngày vẫn đun nước sôi cho toán. Dù phải tôn trọng giờ lao động, nhưng ai cũng liều chạy ra nhìn một cái, rồi mới chịu vào làm. Tôi cũng chả ngăn được sự háo hức nên cũng phải nhào ra. Nhìn cái mầu xanh xậm của những lá cải bắp nằm từng loạt hơ hớ, xếp xuôi chiều, thấy mát cả mắt và cũng mát cả con tì, con vị luôn.
Tên Kích cán bộ toán hôm nay cũng có vẻ dễ dãi. Y cũng thấy nhiều anh em rầm rập chạy ra chỗ gánh rau, nhưng có lẽ y nghĩ rằng: nỗi vui này, hạnh phúc này cũng có phần chính của y ban cho nên tuy y đứng ngay đấy mà chẳng hề nói gì. Mặc dù hàng ngày có bác Chánh dọn dẹp, phục vụ vệ sinh và đun nước cho toán, hôm nay anh Lân còn phân công thêm 2 người nữa, xin bộ đội vũ trang dẫn vào trại, gánh nước ra để rửa và luộc rau.
Thế mà chỉ khoảng 40 phút sau, rau đã được vớt ra để vào 3 cái giành còn mới tinh, đậy bằng mấy lá chuối tươi, khói tỏa ra nghi ngút. Cả toán được thưởng thức phần cải thiện đầu tiên ngay tại lán là nước rau. Cái này thì cho tự do, tuy vậy, anh Lân, toán trưởng cũng nhẹ nhàng nhắc nhở anh em hãy tự giác. Mỗi người nên uống in ít, còn để dành cho người khác.
Lê Sơn đưa cho tôi cái cóng nhôm Guigoz đã vàng khè vì đôi khi nấu trà:
– Bình hãy xuống múc đầy 3 chiếc ly nứa.
Nước óng lên mầu xanh bích ngọc, tôi nghĩ rằng nó chứa rất nhiều diệp lục tố. Nước nóng, 3 chúng tôi vừa thổi, vừa uống, vừa nhìn nhau. Uống đến đâu, tôi cảm thấy khoan khoái, mát rượi cả cõi lòng đến đấy. Tôi liên tưởng đến những năm xưa còn ở thành đô nhiều hương sắc. Những buổi trưa hè oi ả sau buổi tan tầm, ghé chiếc solex đến chiếc xe sinh tố ở đầu đường Yên Đổ làm một ly cối thập cẩm: măng cụt, chuối, dứa, mãng cầu với một hột gà cũng tuyệt cú mèo đến thế này là cùng.
Bây giờ ở trong trại, theo anh Lân cho biết: gánh rau luộc rồi cân được 19 kg 5. Như thế, toán 49 người, đổ đồng mỗi người cũng xấp xỉ 4 lạng rau chứ có phải chơi đâu. Của hiếm, lâu ngày mới có, nhiều anh toán 2 cũng đem đi chia xẻ niềm hạnh phúc với những người thân quen ở toán khác. Tôi vẫn có lòng thương mến riêng cậu Hùng, vì vậy tôi cũng đưa cho cậu một bát con; gọi là một chút cho ấm lòng nhau lúc này. Hôm nay trại cũng có canh rau, tuy mỗi phần cũng chỉ độ nửa lạng, nhưng vì hàng tuần lễ chỉ có canh sắn hoặc muối rang. Cho nên, cũng có nhiều chỗ một, hai người đã hể hả ăn chung với nhau như một bữa tiệc thân tình.
Buổi trưa hôm sau, khi ăn cơm xong tôi và Toàn xách túi rổ, rá, bát đĩa từ dưới giếng về, vừa bước chân vào cửa buồng, thì anh Lân đang nằm ngay mép sân, cạnh lối cửa ra vào, bò giật dậy, tay chỉ vào tôi, miệng ré lên:
– Thằng Bình, mày đổ rận cho tao phải không?
Phần bất ngờ, phần thấy nhiều người đều chăm chú nhìn tôi, cả Toàn nữa làm tôi ngượng chín người, yếu ớt chống chế:
– Đâu có!
Anh Lân choài người ra, nắm tay tôi, kéo ngồi xuống chỗ anh, miệng vẫn bô bô, làm nhiều người đã nằm đều ngồi dậy nghe chuyện:
– Chính mày mang rận ở Hỏa Lòa lên rồi!
Thấy mọi người còn ngơ ngác nhìn, anh lại nói tiếp như phân bua:
– Tôi thấy lạ, mấy hôm nay đêm nằm cứ ngứa mãi. Lúc nãy cởi áo ra xem, bắt được mấy chú rận kềnh. Tôi nghĩ và biết ngay là anh chàng Bình chứ không có ai vào đấy cả.
Tôi chỉ cười, mặt hơi nóng lên vì ngượng. Nhất là mọi người cứ nhìn tôi như đang nghe một trò vui ngộ nghĩnh. Chưa tha, anh Lân còn chỉ vào mặt tôi giọng chì chiết:
– Trông mã cậu, kẻng trai, tư cách như sinh viên, ai ngờ người toàn rận. Mình không biết lại cứ ôm ấp nó!
Anh còn đang nói, thì Vân ở sàn trong cũng bò giật dậy, la hoảng:
– Thôi chết, thảo nào mấy đêm nay tôi cũng thấy ngứa quá!
Một số các anh, các bác xôn xao có ý kiến:
– Thôi, chiều nay anh Lân phải đề nghị ông cán bộ toán: cho đun một thùng nước sôi. Tất cả quần áo chăn màn của 3 anh, hãy nhúng vào nước sôi, cho chết cả trứng đi. Nếu không, rận lan ra toàn toán thì chết.
Lân còn quay lại hỏi tôi:
– Có rận, sao không nói cho tao biết!
Lí nhí, ngập ngừng, tôi nói nhỏ:
– Tôi quên mất, là nó lại có thể bò sang người khác!
Nhiều người cười ầm cả lên. Để chữa ngượng, tôi nói như thanh minh:
– Lúc ở xà lim ra, họ cho tôi vào một cái buồng có đến hàng trăm đứa trẻ con. Ghẻ lở, rận, chấy đầy, tôi không biết làm sao được.
Và buổi chiều hôm ấy ở ngoài lán, tôi phải một bữa rét run. Quần áo phải nhúng nước sôi, vắt kỹ rồi hơ, phơi ở đống lửa trong nhà vernie, suốt cả buổi mới khô.
Câu chuyện rận này, cho suốt mãi hàng chục năm sau, ở trại này, hay trại kia, nếu mỗi lần Nguyễn Huy Lân gặp lại tôi, còn nhắc nhở đến. Anh lại vẫn không quên nói với anh em chung quanh:
– Trông cậu thế đấy, mà trong người toàn rận thôi!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.