Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình
Post by Sơn râu 18 Oct 2023

Tổng Kết Một Năm Tù

 Đặng Chí Bình

Bài 22

Trưa nay tôi  nằm mãi không ngủ được. Bên cạnh Vân cũng trở mình hoài. Tôi hiểu cũng ít ai ngủ được buổi trưa nay. Ngày Tết đã đến nơi rồi, mà tấm thân vẫn nằm trong tù mịt mù.

Mỗi người là một thế giới riêng biệt đầy ngược xuôi, ngang dọc nỗi niềm thì làm sao mà ngủ được. Tôi cứ nằm chập chờn trong cái bồng bềnh của tâm tư. Hình ảnh của bố mẹ, các em thơ dại; hình ảnh những phố phường, bạn bè, thân thuộc của miền Nam nồng đượm hương sắc; hình ảnh chiếc lưng ong mỹ miều của người Hưng Yên ngày ấy….. tất cả, có lúc lướt nhanh vùn vụt rồi cũng biến nhanh đi vào cõi mông lung, mịt mùng, nhưng có lúc nó dềnh dàng, chậm chạp lắc lư như dừng đứng lại, trong nỗi khắc khoải mênh mông.

Một giờ 30. Tiếng kẻng lại rổn rang lên trong cái tịch mịch hoang vắng của núi rừng giữa một buổi chiều cuối năm. Kẻng tập họp. Tất cả mọi người đều phải ra hội trường để dự lễ tổng kết cuối năm.

Hội trường hôm nay đã được dọn dẹp, trang hoàng, sạch sẽ. Bàn đã được khênh hết ra ngoài, chỉ con những hàng ghế dài. Mười phút sau, hội trường đã chật ních đầy người. Phía khán đài, chính giữa treo tấm hình Hồ Chí Minh to tướng. Chung quanh là các khẩu hiệu chữ vàng, đỏ, treo la liệt. Tên Cẩn trực trại và mấy tên cán bộ lạ, đi lại lăng xăng. Đúng 2 giờ, một đoàn cán bộ, quần áo đại lễ, lúc nhúc từ phía cổng, trang trọng đi vào. Đi đầu là một tên đã đứng tuổi, đeo lon trung úy. Khi những tên này vào đến khán đài, một tên cán bộ đã đứng chờ sẵn hô to:

– Đứng dậy!

Cả hội trường phải đứng dậy chào y. Sau khi tù đã được lệnh ngồi xuống, tên đeo lon trung úy tiến ra bục nói chuyện. Y thao thao bất tuyệt, nói hết chuyện trên trời, dưới đất. Nào là quân dân miền Nam đang đà chiến thắng ở khắp mọi chiến trường. Quân dân miền Bắc sản xuất vượt mức trong mọi ngành, mọi nghề và hạ được nhiều máy bay Mỹ v.v…

Rồi về phần trại, y cũng nói rất nhiều. Cuối cùng vẫn có một câu bài vở: hầu hết trại viên đã nổ lực, phấn đấu thi đua lao động cải tạo, nhưng vẫn còn một số phần tử ngoan cố không chịu cải tạo, từ chối sự giáo dục của đảng, vẫn ngày đêm ôm ấp, bao che những tư tưởng chống đối, chây lười lao động, ù lì trong học tập. Những phần tử này phải mau mau chuyển biến, hối cải. Đảng và nhà nước sẽ nghiêm khắc trừng trị đích đáng v.v…

Tôi thấy y nói cũng chẳng có gì mới lạ. Tôi vẫn đinh ninh lão là Hoàng Thanh, mà ít ngày trước đã có nhiều anh em nói tôi. Nhìn và nghe y nói, lòng tôi đã giảm hẳn những lắng lo, băn khoăn của tôi về y. Nghĩa là, y cũng bình thường và chung chung mà thôi, không như tôi tưởng. Quay sang Vân ngồi bên cạnh, tôi nói như chia xẻ:

– Tôi cứ tưởng Hoàng Thanh ghê gớm, nham hiểm, sâu sắc lắm!

Một  mắt của Vân mở to nhìn tôi, rồi hơi nhếch môi trên, nửa như cười:

– Không phải đâu! Đây là ông Mạch, trưởng ban tuyên huấn của toàn trại trung ương số một này đấy.

Tôi hơi ngỡ ngàng, hỏi tiếp thì được biết: Hoàng Thanh đã đi đâu gần một tháng nay chưa về. Có thể ông ta có công tác về bộ.

Phần tuyên bố kết quả những toán và cá nhân xuất sắc do một tên cán bộ giáo dục đọc. Tên này, tôi vẫn thỉnh thoảng thấy y ra vào trại. Tuy y chỉ có cái lon trung sĩ, nhưng qua phong dáng và cách ăn nói, tỏ ra y là một người trầm tĩnh có năng lực điều hành, tổ chức. Chỉ nghe một buổi y nói chuyện, tôi có cảm nghĩ: rồi đây y sẽ tiến lên cao nữa trên bước đường công tác của y. Sau đó tôi được biết tên y là Tập, Bùi Huy Tập. Hai toán được xét duyệt là thi đua xuất sắc: toán 4 nông nghiệp và toán lâm sản.

Về cá nhân xuất sắc: cả trại gồm 15, 16 người. Riêng toán 2 có 4 người là: Lê Khắc Dũng, Phan Thanh Vân, Lù Chằn Páng và Lý A Chén (tự giác toán).

Khi bình bầu ở dưới toán thì có 7 người, trong số này không có Lê Khắc Dũng. Ngược lại Nguyễn Huy Lân (toán trưởng, buồng trưởng) Lê Văn Kinh (người nhái) Đặng Minh Chánh, khi đưa lên trên duyệt lại bị xóa tên.

Mỗi khi tên Tập đọc đến tên toán hay cá nhân xuất sắc thì người đó phải đi lên khán đài đứng quay mặt về phía trại viên. Toán thì do toán trưởng đại diện. Mỗi một người bước lên khán đài lại được một tràng vỗ tay của mọi người. Đến lượt Phan Thanh Vân ngồi cạnh tôi đứng dậy tiến lên khán đài, mặt Vân đỏ rừ, chả hiểu vì ngượng hay vì vui mừng?

Vì được chỉ định là đại diện các cá nhân xuất sắc nên Vân phải đọc một  bài viết sẵn, cảm tạ đảng và ban giám thị, hứa hẹn sẽ duy trì và phát huy sự cải tạo tiến bộ của mình. Đại diện hai toán xuất sắc do anh Hà, toán trưởng toán 4, cũng đọc một bài bài viết sẵn. Nội dung cũng từa tựa như trên.

4 giờ, vừa bế mạc lễ tổng kết. Tên Thái y tá, trưởng ban tổ chức Tết đã gọi tất cả các anh em ghi tên đấu cờ tướng và bóng bàn hãy tập trung tại hội trường để rút thăm đấu vòng loại, cho kịp chương trình vì thời gian chỉ có hạn. Theo chương trình, trận chung kết sẽ đấu vào mùng 2 Tết.

Riêng về cờ tướng, vì quá đông người ghi tên, nên chia ra làm 2 danh sách A và B, mỗi danh sách có 13 cặp. Tôi có tên trong danh sách B. Do thời gian tranh giải qua ngắn, nên sau khi rút thăm, đã bắt đầu đấu vòng loại ngay. Một cặp nào đó ra đấu ở bàn lớn ngoài sân, còn hầu hết các cặp khác đều đấu cờ bàn, tùy theo ở trong hội trường hay trong buồng. Khi đấu bất cứ bàn nào cũng đều có một người của ban tổ chức làm trọng tài, giám thị.

Tôi rút thăm gặp anh Thìn người Sơn Tây của toán Lâm Sản. Tôi thắng anh không có gì khó khăn lắm. Hơn một giờ sau, 26 cặp đấu vòng loại xong: bảng A còn lại 7 cặp, bảng B còn lại 6 cặp. Sáng mai, mồng 1 Tết sẽ thi đấu tiếp.

Tôi được biết đã 2 năm rồi, chức vô địch cờ tướng của trại đều do bác Lẫm người Hà Nội của toán 5 rau xanh giữ. Nghe nói trước đây bác đã từng tranh giải cờ người ở chùa Lán và Văn Miếu. Như vậy tôi hiểu rằng bác chẳng phải là tay tầm thường trong làng cờ Bắc Việt.

Như trên tôi đã trình bày, mục đích chính của tôi chỉ muốn nhân dịp này để làm quen, biết thêm các anh, các bác ở các toán khác mà thôi. Cho nên tôi không đặt hoàn toàn chủ trương vào cuộc tranh giải. Vả lại, tôi hiểu rằng nếu quyết tâm tranh giải, sẽ phải tập trung hết tâm tư, trí lực vào bàn cờ. Đêm nằm cũng phải suy nghĩ tính toán từng thế, từng nước cờ. Như vậy còn đâu tâm hồn để thưởng thức những món ăn tuyệt vời, mà đã hơn 6 năm nay tôi không được hưởng. Chưa nói, còn đâu những giờ phút thảnh thơi, thanh thản buông lơi cho hồn chơi vơi với cái Xuân trong tù. Do thế, tôi chả dại.

Nhớ lại lúc ban giám thị tuyên bố những cá nhân xuất sắc. Trong đám đông tôi liếc nhìn thấy nét mặt của Nguyễn Huy Lân và Lê Văn Kinh trầm ngâm, thẩn thờ khác thường. Tôi hiểu rằng, tâm trạng những người bị xóa tên, ít nhiều đều ôm một nỗi băn khoăn thấp thỏm. Không hiểu mình có điều gì nặng về tư tưởng, hoặc có ai báo cáo ngầm với ban giáo dục những điều gì để cuối cùng ban giám thị đã gạch tên. Tôi có ý định nhân ngày nghỉ Tết sẽ đến anh Lân để chuyện trò tìm hiểu thêm về quan điểm của anh, cũng như vụ án của toán Boone biệt kích.

Khi vào buồng, Shè Khửu Sáng đã đón tôi ngay ở cửa, nói nhỏ:

– Chúng em đã chờ anh từ nãy, mời anh lên chỗ Hùng để uống nước trà.

Nghĩa tình anh em trải ra như vậy, nên dù định về chỗ nằm nghỉ ngơi tôi cũng ráng trèo lên sàn trên chỗ Hùng ngay. Ố, vui quá! Có La Văn Thịnh, Nguyễn Văn Châu, Sáng và Hùng, bốn cậu người dân tộc cùng một toán biệt kích. Không thấy Nông Quốc Hải, tôi hỏi thì Hùng tỏ ý ngập ngừng. Thoáng hiểu có một chuyện gì đó trong nội bộ, nhất là ít thấy Hải nói chuyện với các cậu, vì vậy tôi hỏi vấn đề khác:

– Làm sao các cậu có trà, và lại ngồi đàng hoàng thế này?

Châu vừa khẽ nâng cái ca tráng men rót trà vào 5 chiếc ly nứa con, vừa cười:

– Anh không biết à? Ngay từ trưa trại đã thông báo: “trưa nay cho đến mồng 1, mồng 2 Tết, nhà bếp sẽ đun riêng 1 chảo nước sôi. Anh em trên toán được xuống lấy nước sôi tự do để pha trà”. Chúng em…..

Châu vừa nói đến đấy thì chiếc nắp ca đột nhiên bật ra rơi xuống chiếu, làm tung cả bã trà ra. Giộ lên những tiếng xuýt xoa tiếc rẻ, cùng với 4 -5 bàn tay như những cái chổi con nhanh nhảu vơ quét những bã trà. Chỉ một loáng, chiếu đã sạch trơn không còn một cánh trà. Bã trà đã gọn ghẽ vào trở lại trong ca và tiếp tục đổ nước sôi. Hùng hẳn còn nhớ ý của cậu Châu đang nói dở nên lại tươi mặt lên nhìn tôi:

– Chúng em có mấy người bạn dân tộc có gia đình tiếp tế, cho trà. Được phép chúng em mới dám công khai chứ anh!

Chỉ có dúm trà và ít thuốc lào, ngồi quây quần bên nhau thôi, nhưng dạt dào nghĩa tình anh em, chiến hữu. Trong cảnh bất hạnh, khốn cùng đầy ắp thương đau của đời, tình người lại càng nở hoa, lại càng thấy thương yêu nhau như anh em ruột thịt.

Mùa Xuân lá khô!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Chiều nào, lúc 3 giờ rưỡi là lo chạy xe đến trường để rước đứa cháu nội gái tan học về, người viết luôn gặp một anh bạn già đã đến trước chờ con. Lâu dần… rồi quen.

Người viết ham vui, cưới vợ sớm, nên lên chức sớm… đến rước cháu nội.  Còn anh bạn già nầy, tuổi cũng gần bằng người viết, nhưng chắc hổng ham vui gì cho mấy… nên mãi tới năm 35 tuổi, ảnh mới cưới vợ. Chị nhà lại thuộc ‘tuýp’ người không mắn đẻ nên mãi gần chục năm sau, ráng hết sức mới móc được trong túi ra cho ảnh được một nàng công chúa. Thôi cưng hết biết!

Và khi nàng công chúa nầy đi học mẫu giáo chung với cháu nội của người viết thì ảnh đã quá… quá… bên kia nửa chừng xuân, trên năm chục rồi còn gì nữa. Cha già con mọn nên ai thấy cũng thương. Ai biểu trầm đò chi cho nó trễ!

Anh chỉ buồn bã trả lời: “Tại chiến tranh mà! Đâu ai muốn. Chỉ sợ ra trận lỡ có bề gì thì con dại cái mang vành khăn tang trắng!”

Đám học trò nhỏ híu ríu rít theo chân cô giáo từ trong lớp ra, để vào phòng họp ngồi, đứng… chờ phụ huynh tới rước. Thấy ông, bà hay cha, mẹ đến, cháu vội chào cô giáo, kiểu Úc, bằng cách ‘high-five’ rồi theo người rước ra xe. Tuổi thơ là mùa xuân lá rất non xanh.

Người viết làm ông; còn ảnh là cha nhưng rước cháu, rước con đều tay bồng, tay bế như nhau mặc dù nó hơi nặng rồi đó nha! Tay xách cặp, nón. Năm tới cháu vô lớp một, chắc ông bồng hết nổi rồi thì để ông nội cõng vậy. Rồi lớp Hai, lớp Ba, ông càng già, cháu càng lớn, cõng hổng nổi nữa thì mình dắt. Đúng là tuổi già… Mùa xuân lá khô.

Chiều nay đến hơi sơm sớm, ảnh bắt tay, ‘Chúc mừng Năm mới’ ‘Happy New Year’ làm mình sực nhớ. Ờ hé! Sắp hết Tháng Chạp rồi. Mùa xuân đã ‘dông’. Ngày dãn ra; đêm thun lại. Mùa hè đổ lửa Úc sắp đến. Những hàng cây hôm qua còn xanh lá… mà bữa nay những mảng lá xanh đã cháy vàng trong nắng đỏ.

Cuối năm các hội đoàn như hội cựu học sinh, hội cao niên… thường hay tổ chức tiệc tất niên ở nhà hàng, mình cũng lò dò đến… để ráng tìm vui. Bà con xúm lại hỏi: “Năm nay có về Việt Nam ăn Tết không?” Câu hỏi nầy mình nghe năm ngoái, rồi năm nay và chắc lại là năm tới. Câu trả lời là không? Quê cũ còn đâu nữa mà về. Nhà xưa tanh bành trong đạn lửa, thành phố xưa chúng đập tanh bành, rồi cất lại… cho giống Singapore. Về chi nữa cho thêm đau lòng mình lắm lắm!

Nhớ năm rồi, may mắn được hai đứa con trai, dâu, cháu nội dắt hai vợ chồng người viết đi Sunshine, ăn ‘yum cha’ nhà hàng Tàu để mừng Năm mới của Việt Nam?!

Vợ chồng, con cái, cháu chắt ngồi đầy một bàn. Rôm rả, vui quá chừng chừng! Ăn xong, tính móc bóp ra trả tiền như mọi khi. Hai đứa con trai xúm vô cản: ‘Ba à! Để cho tụi con tính bữa nay. Mấy ngày khác thì phần của Ba. Hi hi.’

Ngày vui, nhưng đêm, khi mấy nhỏ đã vọt xe về ngủ, (dẫu Tết Việt Nam) để sáng mai đi làm. Lại cô đơn! Già khó ngủ! Một mình rót một ly rượu đỏ. Ngồi tư lự cho tới nửa đêm để tiễn biệt một ngày năm cũ. Hẹn năm tới. Vâng Tết quê người buồn như vậy dù đã ráng hết sức để tìm vui.

Còn quê mình xưa, Tết là những ngày vui lắm. Dẫu đất nước vẫn còn chìm trong cơn đạn lửa. Tết, ngày đầu năm lại là ngày đoàn tụ, dẫu đi năm sông bảy suối, chín núi ngàn đèo cũng lặn lội về thăm.

Tây thì khác, Giáng Sinh mới là ngày đoàn tụ gia đình, ăn bữa cơm chung gồm ông bà cha mẹ và con cháu trở về quần tụ dù mỗi đứa một nơi, tha phương cầu thực. Tết Tây, tụi nó xúm nhau ra ngoài city để xem đốt pháo bông đêm Giao Thừa. Đếm ngược đồng hồ, bụp, cả bầu trời xanh vàng tím đỏ, rồi hai đứa ‘hun’ nhau.

Giờ nầy đêm nay, cuối năm, ngồi một mình trước ly rượu nầy một mình con lại nhớ về quê cũ giờ đã xa hàng ngàn dặm biển, con lại nhớ đến Ba, nhớ Má, nhớ nhà xưa biết bao nhiêu mà nói. Những mùa khác, đêm đêm con cũng mơ, cũng nhớ về quê cũ nhưng năm cùng tháng tận con lại còn nhớ ác liệt hơn nữa? Kỷ niệm xưa… tràn về như sóng.

Nhớ hồi xưa nhà mình trong hẻm chợ Hai Mươi gần Ngã Tư đường Phan Thanh Giản và đường Cao Thắng. Con đi học trường tiểu học Bàn Cờ trong Cư Xá Đô Thành, lớp Nhì tức lớp Bốn bây giờ. Một bữa, cô giáo cho bài tập vẽ một bông hoa cúc. Hồi nhỏ, con nghĩ  ba cái gì cũng biết, cái gì ba cũng làm được. Con nít ở thành nhà cửa san sát, không có được một khoảng đất trống nho nhỏ nào để trồng cây, trồng bông, trồng hoa, thì làm sao có diễm phúc để biết bông cúc mặt tròn, mặt méo ra sao mà vẽ. Con nhờ ba vẽ giùm. Vô lớp cô giáo cho Ba một điểm. Thiệt cô của con không có con mắt thẩm mỹ chút nào.

Rồi lên lớp Nhứt, tức lớp Năm bây giờ, ba nộp đơn cho con thi vào Đệ Thất. Hai tuần sau kỳ thi, ba dắt con tới cổng trường Petrus Ký gần bùng binh Ngã Bảy Cộng Hòa, dò xem kết quả đậu rớt ra sao? Con được 56 điểm đậu hạng 176. Cái thằng đậu hạng chót chỉ được 45 điểm nghĩa là con của ba giỏi hơn con của người ta được 11 điểm. Còn cái thằng đậu thủ khoa được 81 điểm. Tên nó là Âu Dương Khoát nhưng không có bà con, dây mơ rễ má gì với Tây Độc Âu Dương Phong. Cái Trung tâm luyện thi Đệ Thất của nó, đậu chiếc xe Renault thời Bành Tổ, bắt ống loa trước cửa trường, la rùm, quảng cáo cho mấy đứa lỡ thi rớt năm nay, năm tới nhớ tới học nhe bây. Cái hay là cậu học trò đậu thủ khoa nầy phải thi tới lần thứ ba mới chiếm được bảng Trạng Nguyên. Mới thấy hồi xưa chỉ thi tuyển vào lớp Đệ Thất thôi mà đã trần ai khoai củ!

Ba dò thấy số báo danh của con mình trên bảng vàng, mừng quá, bèn móc túi ra cho con mười đồng, rồi dẫn con về đường Cao Thắng, trước cửa rạp hát bóng Đại Đồng để ăn hủ tiếu bò vò viên. Ôi! Tô hủ tiếu con ăn thời thơ dại đã lâu sao nhớ tới thuở bạc đầu.

Chú Tiều tay không bóc bò vò viên thường và bò vò viên gân bỏ vào nồi nước súp đang sôi sùng sục trên bếp. Bò viên trụng trong nồi nước lèo nóng dần lên, cắn vào còn xì khói, mới thấy hết cái vị ngon, giòn hết sẩy. Chén tương đen tương đỏ được rắc thêm một chút ớt sa tế cay nồng ở phía trên. Những miếng cải bắc thảo muối rắc lên mặt tô hủ tiếu bò viên với ngò gai xắt nhuyễn. Tô hủ tiếu bò viên nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Cầm đũa lên ‘lua’ hủ tiếu, lấy muỗng múc bò vò viên, cắn nghe cái xực! (Người Triều Châu phản Thanh phục Minh không được, quang gánh chạy về phương Nam chỉ mang theo hủ tiếu bò vò viên mà sống hùng, sống mạnh, sống ‘phẻ re’ cho đến tận bây giờ. Ôi cái miền Nam dễ thương của cha con mình đã dang tay đón biết bao nhiêu người cùng khốn mà cuối cùng, cay nghiệt thay, là cha con mình không còn sống nổi nữa… phải bỏ nước ra đi!)

Mười một tuổi, mười hai tuổi, sức đang lớn, ăn nhiều, ăn mạnh. Một tô hủ tiếu bò vò viên chưa đã miệng, còn thòm thèm, dù mồ hôi từ chân tóc đã tươm ra đầy lên mặt, rồi chảy từng giọt, từng giọt một trên má. Ngon quá là ngon mà!

Ba kêu thêm cho con một tô gân, lòng bò, lá sách, tổ ong… cùng bò viên. Con cũng tự nhiên, cắm đầu quất láng. Cái lạ là Ba không ăn gì hết chỉ ngồi gần con và uống một cái xây chừng.

Ăn xong, ba trả tiền. Trên đường về nhà cho má hay là con thi đậu. Cả hai cha con mình cười hỉ hả. Năm chục năm sau con đã tìm được câu trả lời tại sao ba lại không cùng ăn với con? Câu trả lời rất đơn giản là nhà mình nghèo không có đủ tiền để trả.

Rồi lớn lên con ráng vào đại học, ngưng ngang giữa chừng vì Mùa Hè đỏ lửa nổ ra. Rồi giầy sô áo trận. Chiều cuối năm nào, dù bận hành quân, cũng mong (dù không bao giờ có), được đi phép, trở về nhà mình đoàn tụ. Con đã xa má, xa ba, xa mấy em, xa người yêu để đi trong mùa xuân lá khô. Đi trong vùng hành quân vùng xa xôi đá sỏi biết buồn. Đi giữa lạnh sang đông… Để hy vọng: Rồi có một ngày. Sẽ một ngày chinh chiến tàn…Trả súng đạn này. Khi sạch nợ sông núi rồi Anh trở về quê, trở về quê. Tìm tuổi thơ mất năm nao… Nhưng một mùa xuân hòa bình chỉ là ảo vọng.

Rồi mất miền Nam, ba và con lưu lạc quê người. Đã hai mươi mùa Xuân quê nhà con xa. Và hai mươi mùa lá khô ở Úc mà ngày quay trở về sao thấy vẫn còn xa! Ước vọng gia đình ta có Ba; bay trở về quê cũ thăm lại Má đã nằm yên dưới ba tấc đất ở ngã ba Hòa Tịnh, Mỹ Tho đã vỡ tan.

“Mộ má nhìn ra lộ Đông Dương. Như trông như ngóng người thương trở về. Người thương nay đã trở về. Dẫu tro than vẫn câu thề ngày xanh! Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy; anh mới đành xa em.”

Mười lăm năm trước, khi ba trở bệnh nặng ở Adelaide, từ Melbourne, trời sụp tối, con ra nhà ga ‘Southern Cross’ đi xe lửa suốt đêm về thăm ba kẻo không còn kịp nữa.

Đêm sau, Chủ Nhựt, lúc từ giã Ba, con quay trở về nhà để Thứ Hai đi làm; con móc trong túi ra hai trăm đô nói: ‘Ba giữ để uống cà phê.’

Hồi xưa, Ba cho con thì cả hai cha con mình đều cười. Bây giờ, con cho lại Ba thì cả hai cha con mình đều khóc.

Con bây giờ, chiều cuối năm viễn xứ, như là chiếc lá khô… Nhớ nhà xưa, nhớ Ba, nhớ Má… Có giọt lệ nào ứa ra từ chiếc lá khô trong quê người cuối năm chiều lửa đỏ.

Mùa nước nổi

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Thưa! Ðời ông sơ, ông cố mình từ miền Trung khô cằn sỏi đá, dắt díu vợ con vào vùng đất mới, Ðồng bằng sông Cửu Long nầy lập nghiệp thì cái đầu tiên phải nghĩ tới là kiếm cái chỗ cất nhà để có chỗ che mưa đụt nắng chớ! Bởi có an cư mới lạc nghiệp được.

Cất nhà là phải lựa rẻo đất nào cao ráo, mùa nước nổi không có ngập tới nhà mình. Cái rẻo đất cao đó là giồng do phù sa bao đời tích tụ, nên đất xốp và màu mỡ… Thế mới có câu hát là trên đất giồng mình trồng khoai lang. Cha! Củ nào củ nấy nó bự ế kinh luôn. Chính vì vậy mà quý “anh Hai” mình ít khi bị vợ bỏ lắm?!

Cái tiếng tăm cái vùng đất làm chơi ăn thiệt nầy vang ra tới ngoải; bà con mình nghèo không đất cày, lũ lượt kéo vô! Cứ bám dọc theo bờ sông Tiền, sông Hậu! Ai tới trước khai khẩn trước; ai tới sau khai khẩn sau! Chừng mười hay hai chục mẫu là thường. Nên nói điền chủ ở Nam Kỳ Lục Tỉnh là phải nói vài trăm mẫu trở lên cho chó chạy cong đuôi mới được coi là điền chủ.

Khi các khu đất giồng đã bị nạn nhân mãn, do cưới nhau sanh con đẻ cháu, chắt, chít… thì bà con mới tới đành cất nhà sàn mà ở! Mùa nước nổi vẫn phẻ re, cao lắm là nước mấp mé bờ hè. Muốn đi nhậu thì chịu khó chống xuồng ba lá một chút qua anh Hai hàng xóm, cách chừng vài rẻo đồng.

Thưa! Ðồng bằng sông Cửu Long! Ðồng thì đúng quá xá mà bằng thì chưa chắc. Dù đất năm nào cũng được phù sa bồi lấp; tuy vậy cũng còn chỗ cao, chỗ thấp.

Cao thì gọi là Gò như Gò Công, Gò Quao hay Giồng như Giồng Riềng, Giồng Dứa! Còn thấp thì gọi là Vũng như Vũng Liêm, Vũng Thơm chẳng hạn!

Cuối dòng sông, chín cửa đổ ra Biển Ðông mà mùa nước nổi thường là từ Tháng Chín âm lịch khi Biển Hồ bên Campuchia đầy, nước tràn ra, trôi về xuống hạ lưu qua sông Tiền, sông Hậu.

Nước nổi nhảy bờ, cứ tìm cái vùng trũng mà lấp cho đầy (như vùng Tứ giác Long Xuyên chẳng hạn). Ðầy nước và phù sa trong đó lắng xuống bồi đắp năm nầy qua năm nọ; đời nầy qua đời khác cả ngàn năm nên bây giờ quê mình mới có Ðồng bằng Sông Cửu Long. Mới hôm qua còn đồng không mông quạnh mà bữa nay nước dâng lên từ từ là thấy mênh mông luôn như biển.

Trời thương trên cánh đồng giờ mênh mông biển nước đó có một loại lúa của Trời cho mà bà con có nơi cũng gọi là lúa ma! Nước dâng tới đâu là chú vọt lên tới đó; vì cây lúa cũng như con người mà thôi. Bám vào đất nhưng phải ngoi lên mặt nước mà thở chớ!

Ðến lúc nước giựt thì thân cây lúa rạp mình trên đất; chờ bà con xách liềm, hái, cù nèo ra gặt, về giã gạo trăng thanh là có nồi cơm chiều! Hột cơm ngon ăn đứt mấy cái loại lúa Thần Nông sau nầy chừng vài cây số!

Thưa! khi những về lục bình từ đồng đất Campuchia bị ngập, tróc rễ trôi về là mùa nước nổi đó bà con ơi! Nước đầy mặt sông, đầy kinh rạch thì tràn vô ruộng! Một là rửa phèn, hai là mang theo phù sa là một loại phân bón thiên nhiên của ông Trời ban tặng cho cánh đồng thêm màu mỡ. Ba là cùng với con nước đục ngầu đẫm phù sa, là các loại cá lội theo vào ruộng đồng đẻ trứng! Miễn phí hổng tốn cắc nào nên khoái làm sao đâu. Dân mình đâu có nghe lời mấy thằng ngu mà đắp đê làm chi cho phí của Trời!

Mùa mưa trên thượng nguồn đã hết, nước sông ít thì mực nước đứng lại và rồi hạ xuống rất nhanh gọi là “nước giựt”.

Miệt Tân Châu Hồng Ngự nước giựt trong đồng giựt ra sông mà miệt hạ lưu Vĩnh Long Cần Thơ nước lại nổi. Ông Trời công bằng chia đều hết, không sót một ai.

Ðến lúc nước giựt từ trong các đồng ruộng chảy ra, cùng với vô số cá lúc nhúc từng bầy, nhất là loại cá linh, ùa theo nhau tràn vào các kinh rạch để ra sông lớn. Dân đặt lờ, đóng đáy bắt cá dọc theo các kinh rạch này. Cá nhiều tới mức phải giở lưới lên xả bớt; kẻo bị rách lưới.

Mùa nước nổi ngày một chút cứ lên tà tà chơi, rất hiền hoà khác hẳn với các mùa lũ lụt tàn phá dữ dội như ở miền Bắc hoặc miền Trung. Do đó nói miền Tây lũ là hổng trúng chút nào! Lũ khác lụt chớ! Lũ, nước lên cái ào; còn lụt nước lè phè ngày vài tấc! Năm nào mưa nhiều nước lắm thì lụt là cùng… Nghĩa là những căn nhà vùng trũng, nước lé đé dưới sàn ra phải chịu khó leo lên bộ ván ngựa mà ăn cơm vậy.

Cái khác với ngoài Trung ngoài Bắc là nhà miền Tây đa phần lợp lá; ít có cái lợp bằng tranh; vì dừa nước dọc theo kinh rạch nó vô thiên lủng! Nhưng mấy tay nhà thơ, nhà nhạc cứ mái tranh không hè! Chắc để dễ gieo vần, dễ hát… nhưng mà trật lất!

Ðồng bào miền Tây mình bao đời nay, sống chan hòa với thiên nhiên như vậy hàng trăm năm rồi… mà có nghe ai khóc lóc than thở gì đâu?

Thưa vốn là dân ‘’vưỡn’’; nên tui chỉ biết mùa nước nổi về là bà con mình vui lắm. Có cá mà ăn; có phù sa cho ruộng. Dân nhậu thì càng khoái nữa! Rủ nhau vài đứa lên mấy rẻo đất cao, nơi rắn, chuột đang chùm nhum trên đó, mặc sức bắt về lột da khìa với nước dừa hay xào sả ớt ăn với cơm trắng.

Sau nầy đột nhiên tui nghe mấy cô ca sĩ khi mùa nước nổi quê tui về… lại đấm mặt, đấm mũi, nước mắt chảy ròng ròng, than khóc như vầy mới lạ!

“Không còn con sông, nước dâng tràn lên bãi bờ!/ Anh về quê em, khắp nơi như là biển khơi!/ Chập chờn mái tranh ngoi lên giữa ngọn triều dâng!/ những đàn gà con bơ vơ đứng nhìn trời xanh!

Bao ngày trôi qua lũ cao dâng thêm nữa rồi!/ Không còn nhận ra tiếng ai đi tìm người trôi!/ Mẹ ngồi dưới mưa tay ôm ấp trẻ lạnh căm!/ Xóm làng chìm trong bao la những nỗi đau này!

Ôi! Nước lũ dâng cao dâng cao dâng theo bao nỗi sầu đau!/ Ôi! Nước tràn bờ đê nước tràn bờ đê tang thương khắp một miền quê!

Bên bờ đê cao mái tranh tạm che kiếp người!/ Ơi đồng bằng ơi, biết bao thân phận nổi trôi!/ Còn một trái tim ai ơi nhớ lại Miền Tây/ “Nhiễu điều” mà thương dân ta lắm nỗi đoạn trường!”

Nước nổi tràn về bà con mình lòng vui hổng có hết mà sao ông nhạc sĩ và cô ca sĩ la làng chói lói… Coi bộ thảm thiết quá vậy ta?

Thì ra ông nhạc sĩ nầy là dân sanh đẻ ở Sài Gòn, cô ca sĩ cũng vậy… Nên đâu có biết mùa nước nổi là cái giống gì đâu! Ổng chỉ coi truyền hình rồi ổng khóc ròng! Vì cứ tưởng nước nổi ở miền Tây cũng làm khổ dân như cái đất Sài Gòn của ổng bây giờ hễ cứ mưa là lụt!

Nói nào ngay ông nhạc sĩ cũng thành thật bày tỏ cái tưởng tượng như cái ‘tưởng voi’ của mình như vầy: “Bài hát ‘Quê em mùa nước lũ’ được viết từ… gợi ý của ca sĩ Hương Lan. Qua truyền hình, tôi thấy ống kính quay cận cảnh một bà mẹ ngồi thu lu trong góc tối ôm xác đứa con ướt sũng, gương mặt mẹ thất thần dường như bà đã khóc con đến không còn nước mắt. Cảnh tan hoang điêu tàn, nước ngập mênh mông, đàn gà chạy táo tác…”

Bài hát được (ngu ngơ) phủ sóng trên khắp mọi miền quê hương đất nước, góp phần kêu gọi đồng bào cả nước hướng về… miền Trung ruột thịt mỗi khi mùa lũ tới (?!)

À há! Té ra ông viết Quê em mùa nước lũ ở đồng bằng sông Cửu Long nầy để hướng về lũ Miền Trung đó đa!

Thế mới hay nhà văn Sơn Nam khuyên một câu rất chí lý: ‘’Viết văn làm nhạc gì cũng phải biết Sử Ðịa nhe mấy cha! Kẻo trật bàn đạp!’’

Thưa theo ngu ý của tui là mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long tràn về là mình cười mình vui mới phải. Còn khóc, còn rên như bài hát nói trên là để dành cho khi quê mình khi không còn mùa nước nổi nữa mới đúng.

Mà đâu có lâu! Năm nay, năm 2015, Miền Tây không có mùa nước nổi. Úy Trời!

Nghĩa là ruộng không có phù sa và con cá linh sẽ trở thành đặc sản. Ðứa nào có tiền mới được quyền ăn, nghèo là chịu khó nhịn thèm đi nhe cưng! Ðó mới chính là thảm kịch. Mới đáng khóc ròng!

Mà tại ai gây ra để quê mình không có mùa nước nổi, để nước mặn Biển Ðông xâm thực, ngược dòng tới 80 cây số từ cửa biển! Tới chừng đó nước uống sợ còn không có… Chớ nói chi tới cá, tới tôm.

Thủ phạm là mấy đứa phá rừng là một. Mấy đứa làm đập thủy điện là hai!

Ðó là Thằng Trung Cộng, xây hằng chục cái đập thủy điện khổng lồ trên đất Vân Nam. Rồi quân phiệt Thái Lan xúi Lào Cộng xây đập thủy điện trên dòng sông Mekong để bán điện cho nó, làm “Mùa nước nổi” ở đồng bằng sông Cửu Long thành cổ tích.

Ðâu phải nó chảy qua địa phận nước nị rồi nị muốn làm gì cũng được.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 22

Về tới lối rẽ vào xóm tôi, Jimmy ngừng lại, thở một hơi dài, rồi xốc lại bé Ti trên lưng. Nó nói:
– Em sẽ đưa em bé về nhà. Còn anh đi lo vụ con Lu. Nhớ đoán chắc là họ phải hiểu rõ những điều kiện mình đưa ra.
Tôi nhấc em bé ra khỏi lưng Jimmy rồi nói:
– Dẹp chuyện đó di. Tao không làm nổi đâu. Mình sẽ tính sau.
Trời đã sụp tối. Đường xá vắng tanh, có những con đom đóm lập loè trong bụi rậm. Con hẻm dẫn tới khu nhà chúng tôi tưởng dài như vô tận, nhưng càng đi chúng tôi càng nhận ra mùi ổi chín thơm lừng từ khu vườn của bác tôi toả ra. Con chó của Jimmy rên ư ử khi chúng tôi tới gần cái cổng trước khiến cho Jimmy cứ phải vỗ nhẹ lên đầu nó để nó giữ yên lặng. Cả hai nhà đều thắp đèn sáng trưng. Trong phòng ông bà ngoại, tôi thấy lố nhố những bóng người. Từ cửa sổ, có ai đó phát hiện ra chúng tôi, la lên thất thanh.
Ông phường trưởng Ba Qùi, chạy ra phía trước, theo sau là mẹ tôi. Sau lưng hai người là Dì Đặng và vài người công an. Vừa thấy chúng tôi là mẹ tôi oà lên khóc. Lòng tràn ngập xúc động, chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Trong tay tôi, bé Ti dẫy dụa vì ngộp thở và mẹ tôi thì run rẩy cả thân mình.
Bà bế em bé lên, nhìn thấy ngay những vết bầm trên mặt tôi nên bắt tôi giải thích nguyên do. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn đường, tôi cởi áo và chỉ cho bà thấy những chỗ sưng và bầm giập mà Tín đã đánh tôi ở phía sau lưng, còn Jimmy thì kể lại câu chuyện về mấy củ khoai lang. Bà giận đến nổi mặt đỏ bừng bừng như than hồng.
Quay sang ông Ba Qùi, mẹ tôi lấy tay quệt những hàng nước mắt. Ông trưởng phường nhíu mày, mặt đượm nét suy tư. Mẹ tôi hắng giọng nói:
– Ông đã chứng kiến tất cả rồi. Xin hãy xử vụ này cho công bằng.
Ông ta nói:
– Cô Khuôn, cô muốn tôi làm cái gì bây giờ? Cô đi vắng tới chín ngày, bỏ con bỏ cái lại bơ vơ. Tất cả chúng tôi đều nghĩ là cô đã bỏ rơi chúng rồi. Ngày mai cô lên phường trình diện. Còn bây giờ thì chưa phải lúc; trời đã tối mà lũ trẻ thì cũng an toàn rồi. Về nhà sửa soạn mà ngủ đi đã.
Bỏ mặc lời khuyên của ông ta, mẹ tôi tiến thẳng lại ngôi nhà của bác tôi, đap. tung cánh cửa trước. Tay chống nạnh, bà hướng mặt về phía căn phòng khách, đồng thời réo tên Tín lên. Giọng của bà xoáy vào đêm tối, không có dấu vết mảy may nào là sợ hãi.
Ở trong phòng của mình, chị Ánh Nguyệt thức dậy và húng hắng ho. Có tiếng bà bác tôi hét trả lời mẹ tôi:
– Làm cái gì mà la lối ỏm tỏi lên vậy? Mày muốn tính chuyện với nó, chờ đến sáng mai hẵng hay!
Từ căn phòng ngủ, nơi bà ở chung với bốn con gái nhỏ từ nhiều năm qua, bác tôi hiện ra.
Mẹ tôi la lên:
– Tôi muốn giải quyết ngay bây giờ!
Bác tôi la lại:
– Được rồi. Thằng Tín đâu. Ra ngay đây.
Ông Ba Qùi chen vào:
– Nghe tôi đây, các bà. Đừng có gây thêm chuyện nữa. Tôi không muốn phải còng đầu ai hết.
Có tiếng bật công tắc đèn và ánh sáng tràn ngập phòng khách. Tín bước về phía mẹ tôi với vẻ bối rối. Mẹ tôi nhìn chằm chằm vào hắn, rồi nhìn cha mẹ của hắn, cất tiếng:
– Hôm nay, chỉ vì ba miếng khoai nhỏ, mày gần giết chết con tao. Sinh mạng của các con tao đối với mày rẻ rúng như thế hả? Nhìn quanh thử coi, mày trông thấy cái gì?
Tín chuyển động hai chân, điệu bộ bồn chồn. Mẹ tôi hỏi lại lần nữa rồi tự trả lời ngay:
– Mày trông thấy cái gì? Tất cả mọi thứ, từ căn nhà tới đồ đạc, ngay cả những đồ ăn còn dính trên kẽ răng của mày kia cũng đều là của tao tất. Đúng đó. Muốn biết thì cứ hỏi ông bố, bà mẹ vô dụng của mày coi. Mày có thể không thèm kính nể gì tao, hay tử tế gì với lũ con tao, nhưng mày không thể chối bỏ gì được cái thực tế rằng có được sự tồn tại của tụi bay chính là nhờ có con điếm hạ cấp này. Đừng hòng đụng đến con tao một lần nữa! Lần sau mà tao thấy mày sờ một ngón tay vào người chúng nó, tao sẽ đốt rụi cả căn nhà này cho coi. So với tụi bay, tao chẳng có gì để mất, vậy đừng có dồn tao vào chân tường.
Rồi bà xỉa tay về phía bác gái khi đó đang xanh xám với sự bối rối, ngượng ngập:
– Còn bà nữa, mỗi lần bà nói tôi là em gái độc nhất của bà, tôi muốn tin bà tận đáy lòng, nhưng không bao giờ nữa. Lần nào tin bà xong thì cũng chỉ kết thúc bằng đau khổ quá mức thôi. Hôm nay, con bà đánh con tôi thừa sống thiếu chết, thì liên hệ giữa tôi với bà kể như chấm dứt. Cũng kể từ nay, chúng ta chỉ còn là hai cái gia đình bất hạnh chung nhau cái giếng và cái hố xí mà thôi.
Bà dậm chân xuống đất bình bịch như để nhấn mạnh thêm lời nói của mình:
– Có giỏi thì bà nhìn kỹ cuộc đời của bà coi. Bà có biết tại sao bà lại cho phép con bà nhũng nhiễu con tôi không? Lý do là vì ghen tức. Bà ghen tức vì trên thực tế, trong con mắt của Ba, cả cái lũ con mười bốn đứa của bà chẳng bao giờ được đánh gía cao bằng một đứa con lai giống của tôi. Đau đớn lắm, phải không?
Biết rằng cả đám con bà chả bao giờ nên người, nhưng làm sao chúng có thể nên người được ! Nhìn coi chúng nó và những đấng bậc cha mẹ đã đưa chúng nó ra đời! Tôi thành thực ước mong rằng tôi không còn phải nhìn cái bản mặt của bà một lần nữa.
Mẹ tôi dẫn chúng tôi trở vào nhà, đóng sầm cánh cửa lại. Dì Đặng đi theo chúng tôi. Ông trưởng phường và đám công an vẫn đứng ở ngoài khu vườn nhà bác tôi. Ông ta lấy lại bình tĩnh và thét lên phía đằng sau mẹ tôi để ra oai:
– Cô Khuôn. Sáng mai hãy ra trình diện tại văn phòng của tôi.
Quay về phía chúng tôi, mẹ tôi bây giờ mới nhận ra khuôn mặt bệnh hoạn của em gái tôi. Bà hỏi :
– Con thấy thế nào, cưng?
Bé Ti rên rỉ:
– Cho con ăn…!
Mẹ tôi kêu lên :
– Ồ, dĩ nhiên… lu bu quá… Mẹ đang nghĩ gì nhỉ? Ờ… Tụi mình đi ra quán mì ăn nghe. Chị Đặng ơi, chị đi với tụi tôi nhé?

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 21

Từ ngôi chợ tới nhà chị Loan, đi cũng không lâu lắm. Tôi đã không quên đường mặc dù lần cuối cùng tôi ở trong căn nhà tính cho tới nay cũng đã hơn ba năm rồi. Thành phố thì cũng gần y như trước, chỉ có căn nhà là thay đổi quá nhiều. Chứng tích cuả đám cưới vừa qua vẫn còn xót lại với những thứ trang trí treo lên hàng rào hay các mảnh giấy đỏ cuả xác pháo còn vương vấn trên mặt đất. Căn nhà, chẳng còn cái mầu vôi vỏ trứng mà mẹ tôi ưa thích, nay đã quét thành mầu xanh lơ. Cưả sổ và cửa ra vào cũ hay bể nay được thay thế bằng những cái mới. Ở tầng trên cùng nhìn ra phố, nơi đã từng treo cái biển mang tên gia đình tôi nay có treo một lá quốc kỳ.
   Khu vườn đã tươi tốt trở lại với nhiều giống cây cảnh quí trồng trong những cái chậu loại đồ cổ, đắt tiền. Hoa nở tốt tươi như đang trêu choc. chúng tôi với cái ảo tưởng rằng đằng sau cánh cổng cao lớn là đời sống thảnh thơi, vô tư lự. Tuy nhiên, cái hồ bơi thì đã cạn nước, nằm giữa khu vườn như một tỳ vết. Tôi cảm thấy mình đang đóng vai trò như một kẻ ngoại cuộc dòm vào căn nhà, y như những đứa trẻ dơ dáy mà trong những ngày xa xưa kia, mẹ tôi đã dạy tôi phải khinh bỉ. Lòng nặng trĩu tôi laị gần cánh cửa để nhấn chuông.
   Chỉ trong giây lát, chị Loan đã xuất hiên. với cái tạp dề cuốn quanh bụng và đôi đũa trên tay. Vừa thấy chúng tôi, chị đã giơ tay bưng lấy mặt như không thể tin ở mắt mình. Đôi đũa rớt xuống đất. Jimmy và tôi vui mừng réo ầm ĩ tên chị lên. Tuy nhiên sự nồng nhiệt cuả tôi đã tắt ngóm ngay khi chúng tôi thoáng thấy bóng cuả gã Trần từ phía sau cánh cửa lưới. Hắn ta bước ra ngoài, tiến lại cạnh chị Loan và cau mày nhìn chúng tôi. Rồi hắn hỏi chị Loan một cách cáu kỉnh:
  – Sao chúng nó lại tới đây?
   Chị Loan chaỵ xuống bậc thềm đáp:
  – Tôi không biết, con nít mà đi lang thang, chắc có gì không lành xảy ra.
  – Vào nhà ngay. Tôi cần nói chuyện với cô. Vô!
   Hắn ta biến mất sau cánh cửa chính. Chị Loan ép măt. vào sát những song cánh cổng và nhìn chúng tôi, thì thào:
  – Làm thế nào các em tới được đây? Mẹ đâu?
   Chị nhướng mày tiếp:
  – Yên đã, trả lời chị sau. Các em còn nhớ cái cửa sau không? Năm phút nữa chị sẽ ra gặp các em ở đấy nhé. Ông Trần không muốn cho hàng xóm dòm ngó mọi chuyện từ phiá bên này nhà. Các em có hiểu không?
   Chúng tôi gật đầu và chị Loan vội vã quay vào.
   Nửa giờ đã trôi qua, chúng tôi vẫn ngồi chờ chị dưới giàn Tử Đinh Hương. Mặt đất ướt và bẩn? Chẳng thấy bóng dáng cuả chị Loan đâu. Bên kia đường là một quán hàng nước miá, bà bán hàng vừa bật cái máy ép miá lên để ép những cây mía dài. Tiếng động cơ ồn ào và mùi thơm cuả nước miá bốc ra khuấy động cồn cào những cái dạ dầy lép kẹp cuả chúng tôi. Em gái tôi chúi đầu vào cái gối mốc meo cuả nó và lặng lẽ sụt sùi.
   Có tiếng lá sột soạt ở phiá sau làm Jimmy và tôi giật mình đứng dậy. Chị Loan xuất hiện phiá ngoaì bếp, tay giữ cánh cửa cho mở ra và nói với Jimmy:
  – Để con chó ở ngoài.
   Khi chúng tôi vào bên trong, chị nhận. ra những vết bầm trên má cuả tôi, liền hỏi:
  – Chuyện gì đã xảy ra vậy? Mẹ đâu? Bả vẫn bình yên chứ?
   Tôi không biết bắt đầu kể cho chị nghe từ đâu, chỉ bật lên tiếng khóc. Thế là cả mấy đứa chúng tôi đều bật lên nức nở trong vòng tay cuả chị. Một lát sau, chị gỡ tay ra và đứng lên:
  – Chị đang nấu bếp thì có chuông reo. Để chị don. cơm cho các em ăn. Coi kìa, tội nghiệp quá, chắc là các em đói meo lên rồi.
   Tôi ngồi trên sàn, gần cái lò nóng, tuy mệt lả mà thấy mãn nguyện. Nhưng trước khi chị Loan kịp mở cái chạn ra thì tên Trần đã ập vào trong bếp. Hai bàn tay của hắn co lại thành nắm đấm dưới tay áo sơ mi. Chẳng thèm nhìn chúng tôi, hắn tiến thẳng lại phía vợ. Chị Loan đứng chết trân ngay từ khi nhìn thấy chồng. Vừa túm lấy cánh tay cuả chị keó ra phía ngoài, hắn vừa ngoái cổ lại ra lệnh cho chúng tôi:
  – Chúng mày ngồi yên đó, cấm nhúc nhích.
   Một lát không lâu sau, chị Loan quay trở vào. Chị đứng ở cửa bếp và gậm nhấm móng tay tới cả mấy phút. Đang ngồi trên sàn, tôi đứng dâỵ hỏi:
  – Chị Loan, chuyên. gì vậy?
   Đôi mắt cuả chị đỏ lên và đẫm lệ. Tôi lại hỏi:
  – Chị nói đi, chị Loan. Chị có sao không?
   Chị vuốt nhẹ lên tóc tôi như chị đã từng làm như hồi tôi còn bé, rồi nói:
  – Kiên, em có nhớ chị nói với em rằng chị muốn các em tới thăm chị không?
  – Vâng, em nhớ.
   Chị nói qua tiếng nức nở:
  – Chị rất lấy làm tiếc, đáng lẽ chị không nên nói với em như thế mặc dù lòng chị rất muốn. Nhưng bây giờ thì cả em và mấy đứa nhỏ cũng không thể ở laị đây được. Chị không biết là các em đã gặp chuyện rắc rối gì hay vì sao các em laị tới đây. Nhưng chị không thể giúp gì được. Chị không được phép dính líu vào.
   Tôi nhìn vào mặt chị dể thăm dò:
  – Taị sao vậy? Chị nói không được phép có nghiã là gì? Có phải là ông Trần muốn đuổi chúng em không?
   Chị hỏi:
  – Em có nhớ những lá thư mà chị gởi cho em mà em không bao giờ nhận được không?
   Tôi gật đầu: 
  – Chị định. nói chuyện gì thế? 
  – Đáng lẽ ông Trần phải trao những lá thư ấy cho em.
   Tôi chơt. hiểu ra:
  – Nhưng ông ấy đã không trao.
   Chị Loan run rẩy thấy rõ. Chị nói:
  – Ngày nào mà chị còn sống trong căn nhà cuả ông ta, thì ngày đó chị không được phép giúp gia đình em.
   Mỗi lời nói cuả chị lại cứa vào lòng tôi một vết thương mới. Tôi lạnh lùng:
  – Thôi được, chị yên tâm. Chúng em đi khỏi ngay bây giờ.
  – Để chị dẫn các em ra cổng. Chị xin lỗi các em. Chị ước mong có thể giúp các em được nhiều hơn.
  – Thôi không sao. Để em sửa soạn cho mấy đứa nhỏ đã.
  – Em sẽ đi đâu vậy?
  – Về nhà.
   Tôi dựng bé Ti lên. Jimmy ra chỗ hàng rào tháo dây cột con chó. Chị Loan quay về phía tôi hỏi:
  – Chị có thể làm được cái gì cho các em?
   Mùi nước miá vẫn còn lảng vảng trong không khí. Tôi nói:
  – Chúng em có thể được một ly đá lạnh ở cái quán đằng kia chăng, nếu nó không quá gây rắc rối cho chị.
    Một lần nữa, chúng tôi lại dò theo con phố cũ để quay lại ngôi chợ. Trên tay mỗi đứa cầm một túi plastic đựng đầy nước mía và đá cục. Những ngụm nước ngọt mát làm cho cơ thể cuả tôi bừng lên một nguồn sinh lực mới. Chẳng cần quay lại, tôi cũng cảm thấy được hình bóng chị Loan đứng một mình cô đơn ở giữa đường cái, dõi mắt nhìn theo chúng tôi.
   Tại một cái thùng rác gần khu hàng cá, có hai thằng nhỏ tóc vàng lúi húi bới rác. Chúng ngước mắt nhìn chúng tôi một cách hầm hè như sợ chúng tôi xâm phạm lãnh địa cuả chúng. Một đứa bị chột một bên mắt. Con mắt còn laị mầu xanh biếc, nhấp nháy. Miệng nó ngoác ra, phô bày những chiếc răng tí hon như răng chuột đe dọa chúng tôi, đồng thời lục lọi trong đống đá lổn nhổn gần đó để tìm kiếm một món gì làm vũ khí. Còn thằng kia thì đưa vội lên mồm nhai ngấu nghiến một vật gì đó mà nó vừa tìm được trong thùng rác. Một chất nhờn nhờn mầu tím nhễu ra nhếch nhách trên khuôn mặt nó.
   Jimmy hỏi:
  – Chúng mình bây giờ làm gì hả anh Kiên?
   Tôi gợi ý:
  – Chúng mình có thể đi ăn mày xin cơm.
   Jimmy rên lên một cách yếu ớt.
  – Đừng làm vậy.
  – Thế mày có cách nào khác không?
   Chúng tôi tiếp tục. đi sâu vô chợ. Ở đây đông nghet. những người đi mua sắm chen lấn nhau tới tấp. Chúng tôi phaỉ đeo dính lấy nhau để chống đỡ những đơt. sóng người qua lại, cho khỏi lạc. Tôi phải gào to lên để át tiếng chung quanh:
  – Nào, haỹ sẵn sàng để xin ăn đi.
  – Đừng, anh Kiên ơi. Em không muốn di ăn mày. Mình có thể quay về nhà đem bán cái gì đi.
  – Có cái gì bán đươc? Vả lại, liêụ có ai muốn mua đồ cuả bọn nhóc con chúng mình không?
  Đôi mắt Jimmy trở nên đẫm lệ:
  – Mình có thể bán con Lu cho ông đồ tể.
  – Mày điên hả. Ổng sẽ thịt con chó cuả mày.
  – Không đâu, nếu mình năn nỉ ổng hứa với mình là sẽ giữ con chó trong hai ngày. Đến khi mẹ về thì mình mua laị con Lu, thêm cho họ tiền lời.
  – Nếu mẹ không bao giờ trở về nữa thì tính làm sao?
   Những giọt nước mắt chaỷ dài trên khuôn mặt cuả nó.
  – Đừng nói ác như vậy chứ. Mẹ sẽ trở về mà.
   Tôi nâng em gái lên và con chó theo tôi tiến về phía trước:
  – Ừ, cứ giả thử mày tính đúng và mẹ sẽ trở về, nhưng chắc gì ông đồ tể đã giữ mạng con chó cuả mày trong hai ngày.
   Nó đuổi theo tôi giọng hăm hở:
  – Ông ta sẽ mà, em biết. Ông còn nợ em một điều. Nếu anh nhắc laị thì ông ta sẽ phải đồng ý như thế.
   Tôi dừng laị ở ngay giữa lối đi đầy bùn, tay vẫn ôm em bé Ti:
  – Tao à? Tại sao tao phải nhắc nhở ông ta? Có phải mày muốn tao đi điều đình thay cho mày đấy không?
  – Anh biết là em không thể nào bán con chó cuả chính em đươc. Làm sao em có thể làm chuyện đó?
  – Vậy thật tình mày muốn tao làm chuyện đó?
   Nó nhìn đứa em gái tôi lúc ấy đang oằn ngả người trong tay tôi như một con búp bê dơ bẩn với nước da ngả mầu trái chanh và hấp nóng khi đặt tay lên, rồi Jimmy buồn bã gật đầu.
   Tôi thở dài:
  – Thôi đươc. Vâỵ nói cho tao nghe mày đã làm điều gì tốt lành cho ông ta để tao nhắc laị cho ông ta biết.
   Jimmy bắt đầu kể, hơi lúng túng:
  – Thế này nhé, hãy trở lại một chút. Có một buổi tối, em đang chơi đi trốn đi tìm với lũ anh em nhà thằng Duy ở ngoaì đường thì bà vợ ông đồ tể tiến laị gần. Bà nhờ chúng em tìm giúp chồng bà ta đi uống rượu với bác trai từ buổi xế trưa hôm đó mà chưa về. Lúc đang giở trò chơi thì chúng em thấy bác trai trở về, say khướt, đi qua sân cỏ phía trước mà không thấy ông hàng thịt đâu. Dĩ nhiên là bà vợ ông ta hết hồn khi nghe tin này.
   Cái chợ vừa khuất phía đằng sau thì khu đồi xoải xuống quốc lộ mở rộng trước mắt chúng tôi. Xa hơn nữa là quang cảnh thiên nhiên mênh mông, hoang dã và cô quanh.
   Chúng tôi từ từ đi xuống quốc lộ trong khi Jimmy vẫn tiếp tục kể câu chuyện cuả nó:
  – Thấy vậy, em bèn trấn an bà ta là em có thể tìm ra ổng. Em biết cái chỗ nhâụ đó, đường đi hơi rắc rối. Sau đó cả ba đứa chúng em, Duy và thằng Rồi, em nó, đi băng qua ruộng lúa để đi tới cái xóm kế bên. Tối hôm ấy ở đó lại bị cúp điện nên trời tối thui. Tụi này chẳng nhìn rõ đường nên cứ xụp hố hoài. Đã thế chúng nó lại cứ kể chuyện ma và dọa nhau nữa chứ.
  – Jimmy, nói vào đề đi!
  – Ờ, anh có còn nhớ con rach. chaỷ qua khu đất nhà ông ba Quì hay không? Nó dùng để tưới ruộng nhà ông ta, ngay cả trong mùa nắng hạn mà ai cũng phải cầu mưa nữa.
  – Nói vào đề đi!
  – Đươc. rồi em sẽ kể tiếp. Khi tuị em tới gần con suối thì nghe tiếng ai rên rỉ như là tiếng ma than vãn vâỵ. Thằng rồi tính bỏ chạỵ, em cũng thế. Nhưng Duy cản lại. Tuị em mới rón rén tới gần thì thấy ông đồ tể đang đứng dựa vào gốc cây, còn mắt thì laị nhìn xuống rạch. Ông ta khóc thảm thiết, vừa nhìn xuống đũng quần vừa nói: ” Lạy trời, lạy phật, con có làm gì nên tội mà sinh ra thế này, nếu mà nó không ngưng thì chắc con chết “. Tụi em mới tiến laị gần. Rồi em nói “Chào ông, ông đang bị cái gì thế? ” Ông ta ngẩng đầu lên. Dưới ánh trăng mờ mờ, măt. ông ta đầm đìa nước mắt. Ông đáp: “Tao đang sắp chết đây này”. Em mới nói: “Không chết đâu, ông chỉ đang say quá đấy thôi. “Ông ấy nói: “Suốt trong ba tiếng đồng hồ vừa qua, tao chỉ có tồ ra mà không ngừng đươc. Chắc là tao tháo mãi cho đến lúc chết thôi.” Em mới nói: “Không sao đâu. Ông đâu có đái. Chỉ là tiếng nước suối chảy đó thôi. Ông phải đi về cùng với chúng cháu.” Thế là tụi em keó zíp quần cuả ông ta lên và dẫn ông về nhà an toàn.
   Bất kể tất cả mọi chuyên, tôi phá lên cười.
  – Trên đường về, ông ta rất cảm kích là tụi em đã cứu mạng ông. Nên một ngày kia ổng hứa là sẽ trả ơn lại cho tụi em.
   Jimmy ngừng nói để uống nốt bịch nước mía cuả nó, rồi laị tiếp tuc:
  – Vâỵ anh nhắc laị chuyện này với ông và vợ ông. Phải bắt họ đồng ý với những điều kiện cuả mình trước khi bán con Lu cho họ. Nếu không, thì đừng có bán.
  – Được rồi, anh hứa.
   Nó thở dài và nói:
  – Vâỵ được rồi.
   Nó cõng em bé gái lên lưng. Con bé đặt cái gối nhớp nhúa lên gáy cuả Jimmy và tựa đầu vào đó. Như thường lệ, con Lu nhâng nháo chạy trước chúng tôi vài bước và hít quanh mặt đất trong khi chúng tôi đi. Jimmy bỗng quay laị phía tôi, nói môt. cách lo lắng:
  – Anh Kiên à.
  – Cái gì vậy?
  – Nếu mẹ không về thì sao?
  – Tao tưởng là mày không muốn nói về chuyên. đó mà.
  – Em không muốn. Nhưng cũng đề phòng, lỡ xảy ra. Vâỵ khi đó mình sẽ làm gì?
  – Tao cũng không biết nữa.
   Nó hỏi:
  – Anh đừng có bỏ rơi tụi em, nghe anh?
   Tôi nhìn đứa em tôi. Mới chín tuổỉ đầu mà nó trông như một người lớn tuổi, kiệt sức và thở hổn hển với những giọt mồ hôi đọng trên mái tóc. Tôi lắc đầu đáp:
  – Sẽ không bao giờ anh rời tụi em, sống chết gì thây kệ, mấy đứa chúng mình sẽ ở bên canh. nhau mãi mãi.

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 25 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Kỳ cuối – Từ áo giáp đến tử thần trên không

TTO – Đêm 8-12-2012, biệt đội SEAL số 6 do đội trưởng Nicolas Checque chỉ huy đột kích giải cứu bác sĩ dân sự Dilip Joseph người Mỹ đang bị Taliban bắt giữ làm con tin ở tỉnh Laghman (Afghanistan).

Bản vẽ áo giáp TALOS được giới thiệu tại Tampa vào tháng 5-2014 – Ảnh: AP

Lính canh phát hiện, báo động. Checque biết đã bị lộ và lo ngại Taliban sát hại con tin nên lao qua cửa nổ súng. Con tin được giải cứu nhưng Checque bị loạt đạn tầm gần bắn chết.

Phải đổi mới vì phải có khả năng gây bất ngờ cho đối phương… Cần có khả năng di chuyển không tiếng động, liên lạc không để bị chèn sóng, nhìn thấy đối phương trước khi họ thấy chúng ta.

Phó đô đốc LAURENT ISNARD (nguyên tư lệnh Bộ chỉ huy Các chiến dịch đặc biệt Pháp)

Vũ khí độc chiêu của đặc nhiệm Mỹ

Cái chết của Checque đã thúc đẩy quân đội Mỹ nghiên cứu bộ áo giáp dành riêng cho đặc nhiệm. Năm 2013, lần đầu Bộ chỉ huy Các chiến dịch đặc biệt Mỹ (SOCOM) đã trình làng bộ áo giáp thử nghiệm mang tên “bộ trang phục tác chiến nhẹ tấn công chiến thuật” (TALOS). 

Trung tá Tim Hawkins – người phát ngôn SOCOM – giải thích: “Thiết bị bảo vệ cá nhân cho các đặc nhiệm không thay đổi đáng kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Chắc chắn điều này đã thôi thúc SOCOM tìm cách cung cấp cho đặc nhiệm khả năng bảo vệ tránh đạn toàn diện. Không chỉ vậy, chúng tôi còn mong muốn qua đó nâng cao khả năng chiến thuật và hiệu quả chiến lược của họ”.

Tham vọng của SOCOM là người lính đặc nhiệm mặc bộ áo giáp TALOS sẽ có khả năng chịu được hỏa lực bắn trực tiếp từ vũ khí hạng nhẹ. 

Tuy nhiên khi kết quả nghiên cứu suốt năm năm trời về bộ giáp TALOS được công bố tại hội nghị công nghiệp các lực lượng tác chiến đặc biệt ở Tampa (bang Florida) vào tháng 5-2019, sản phẩm cuối cùng vẫn chưa đạt yêu cầu này.

Dù vậy trong quá trình nghiên cứu dự án TALOS, khoảng 10 ứng dụng phụ khác chắc chắn có khả năng áp dụng thực tế, ví dụ như áo chống đạn làm từ nhựa polyethylene phân tử lượng siêu cao, một chất nhẹ hơn và bền hơn áo chống đạn tiêu chuẩn. Lực lượng tác chiến đặc biệt (SOF) Mỹ đang thử nghiệm loại giáp này trên thực địa.

Ngoài ra, theo tạp chí Forbes, SOCOM có thể đã sở hữu máy bay không người lái loại nhỏ được phóng bằng tay dùng để đánh chặn và quấy rối thiết bị điện tử của đối phương trong khuôn khổ dự án Hornet của Bộ Quốc phòng Mỹ. 

Trước đó, SOCOM đã đưa vào sử dụng máy bay không người lái loại nhỏ có chức năng thu thập tin tình báo và máy bay không người lái cảm tử xách tay Switchblade (còn được gọi là đạn cơ động).

Tên lửa chống tăng Javelin nặng 20kg có thể bắn trúng mục tiêu cách xa 4km. Switchblade còn hiện đại hơn, nặng chỉ 2,5kg nhưng tầm bắn lên đến 10km. 

Switchblade được phóng đi bằng ống phóng như Javelin nhưng thay vì bay như tên lửa, nó hoạt động như máy bay không người lái với đôi cánh lật ra sau khi phóng và cánh quạt điện đẩy nó bay tới với vận tốc 100km/h cho chuyến bay kéo dài 15 phút. 

Nhờ hai camera quang học và nhiệt hồng ngoại lắp trên thân Switchblade, lính đặc nhiệm dùng máy tính xách tay sẽ chọn và khóa mục tiêu. Ngay sau đó, Switchblade tăng tốc lao tới với vận tốc 160km/h và tự động đuổi theo nếu mục tiêu tìm cách né tránh.

Nhà phân tích Nick Reynolds ở Viện Các quân chủng thống nhất hoàng gia Anh (RUSI) giải thích với đầu đạn cỡ trái lựu đạn, máy bay không người lái cảm tử Switchblade được dùng để đánh xe không bọc thép và binh lính hoặc đánh các khẩu đội pháo. 

Người điều khiển có thể hủy vụ tấn công và thu hồi Switchblade. Đây là một lợi thế so với máy bay không người lái mang tên lửa Bayraktar TB2 của Thổ Nhĩ Kỳ. Bayraktar TB2 lớn như máy bay hạng nhẹ cần cơ sở hạ tầng hỗ trợ như đường băng và cơ sở tiếp nhiên liệu. 

Ngược lại, có thể xếp một chiếc Switchblade trong balô vì nó chỉ nhỏ như chiếc bánh mì baguette và lại rẻ tiền hơn, chỉ cần hướng dẫn sơ là có thể sử dụng được.

Các lực lượng đặc nhiệm Hy Lạp, Mỹ, Israel tham gia cuộc diễn tập Orion 22 tại Athens (Hy Lạp) ngày 14-4-2022 – Ảnh mod.mil.gr

Gia tăng khả năng sống sót và sát thương

Tạp chí Quốc phòng (Pháp) đánh giá lực lượng đặc nhiệm luôn được xem là phòng thí nghiệm cho các đơn vị khác trong quân đội trong lĩnh vực đổi mới công nghệ vì các đội đặc nhiệm ít người, do đó luôn tìm cách khai thác tối đa trang thiết bị để chiếm ưu thế tác chiến. 

Chuyên trang công nghệ quốc phòng Armada International (Thái Lan) nhận xét trang thiết bị đặc thù của SOF có chức năng giúp lính đặc nhiệm “thấy chính mình, thấy môi trường xung quanh và thấy mối đe dọa”. 

Các trang thiết bị đặc thù phải gia tăng khả năng sống sót, khả năng sát thương chính xác, giúp nhận thức tốt tình huống và khả năng tương tác của các đội đặc nhiệm.

– C4ISTAR: C4ISTAR là các từ viết tắt của các hoạt động chỉ huy, kiểm soát, máy tính, thông tin liên lạc, tình báo, giám sát, thu thập mục tiêu và trinh sát. 

Mục tiêu cải tiến công nghệ trong lĩnh vực này là nâng cao khả năng tìm và cố định mục tiêu mà không phụ thuộc vào không quân. Bộ đàm phải có khả năng tránh bị phát hiện, gây nhiễu và chèn sóng, phải thiết lập đa kênh cho phép có thể sử dụng cùng lúc thoại và dữ liệu, băng thông rộng, có thể kết nối hiệu quả trong không gian kín. 

Ngoài ra, các bộ phận chỉ huy SOF còn phải phát triển công nghệ đạn cơ động như máy bay không người lái Switchblade nêu trên thay tên lửa chống tăng có dẫn đường.

Khả năng sống sót:

Các toán SOF đang dùng mũ chiến đấu liên lạc tích hợp môđun (MICH) có khả năng tích hợp với tai nghe và nhiều thiết bị chiến thuật bổ sung đồng thời cung cấp mức độ bảo vệ cao đối với người sử dụng. 

SOCOM đang nghiên cứu thế hệ mũ chiến đấu mới theo công nghệ FTHS. Đây là loại mũ chiến đấu được gia cố nhằm tăng mức bảo vệ đối với vũ khí hạng nhẹ và mảnh đạn, có thể sử dụng tốt khi rơi tự do và bơi chiến đấu.

Hai công ty Saab (Thụy Điển) và Fibrotex (Israel) tiếp tục cung cấp cho SOF của Mỹ các thiết bị mang trên người được thiết kế tránh bị phát hiện từ nhiều nguồn như nhiệt, rađa, thị giác và hồng ngoại. 

Mục đích nhằm cung cấp hệ thống ngụy trang cho phép hoạt động tàng hình trong môi trường thù địch. Các toán đặc nhiệm không còn lo ngại bị nhận dạng bằng các thiết bị nhìn ban đêm và cảm biến nhiệt.

Khả năng sát thương:

Tháng 8-2018, SOCOM đã ký hợp đồng với Công ty Sig Sauer (Đức) về cung cấp bộ phận giảm thanh SURG cho súng trường M4A1 5,56mm. Hợp đồng trị giá 48 triệu USD dự kiến có hiệu lực đến tháng 7-2023. 

Súng được nâng cấp với bộ giảm thanh mới chuyên dành cho các toán SOF tác chiến trong đô thị. Tháng 1-2020, SOCOM đã ký với Công ty L3 Technologies (Mỹ) hợp đồng trị giá 26,3 triệu USD cung cấp hệ thống ngắm quang học thu nhỏ MAS-D. 

Hệ thống ngắm mới cung cấp tầm nhìn ba chiều và tăng thêm độ phóng đại. MAS-D hỗ trợ cho nhiều loại súng, bao gồm các loại súng bắn tỉa mà đặc nhiệm Mỹ đang sử dụng.

Ngoài ra, các loại vũ khí hạng nhẹ cũng được cải tiến nhằm bảo đảm cho các toán SOF bắn chính xác, dễ cơ động và có thể vô hiệu hóa mục tiêu trong không gian kín. Ví dụ như súng trường MCX Rattler của Sig Sauer.

Đặc nhiệm trong tương lai

Trong tài liệu với tiêu đề “Tầm nhìn và chiến lược của lực lượng tác chiến đặc biệt” được công bố vào tháng 4-2022, tướng Richard D. Clarke – tư lệnh SOCOM – xác định trong 10 năm tới, SOF phải biến chuyển trở thành “một đơn vị linh hoạt có khả năng tiến hành các chiến dịch đặc biệt tích hợp trong mọi lĩnh vực”.

Trước đó tại hội nghị công nghiệp các lực lượng tác chiến đặc biệt ở Tampa (bang Florida) hồi tháng 5-2021, ông nhấn mạnh cạnh tranh trong tương lai sẽ diễn ra trong không gian mạng, trên vũ trụ và trong không gian thông tin, đặc biệt cạnh tranh trong không gian thông tin sẽ tác động đến mọi lĩnh vực chiến tranh.

Tại Pháp, báo cáo “Tầm nhìn chiến lược” của tướng Thierry Burkhard – tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp – cũng đặc biệt nhấn mạnh lực lượng đặc biệt Pháp cần thay đổi cho phù hợp với các phương thức hoạt động hỗn hợp trong “vùng xám quân sự hóa” (gây bất ổn như tấn công mạng, chiến tranh thông tin, phá hoại kinh tế và hoạt động bán quân sự).

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 24 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Kỳ 7 – Tử thần từ xa – đặc nhiệm bắn tỉa

TTO – Tháng 6-2017, quân đội Canada xác nhận một binh sĩ thuộc lực lượng tác chiến liên quân số 2 (lực lượng đặc nhiệm Canada) đã bắn chết một tay súng tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) ở khoảng cách 3.540m tại Nineveh (Iraq).

Tổ bắn tỉa Pháp tham gia chiến dịch Barkhane ở miền bắc Mali – Ảnh: Quân đội Pháp

Danh tính binh sĩ bắn tỉa và thời điểm xảy ra sự việc được quân đội Canada giữ kín vì lý do an toàn. Chỉ biết binh sĩ nọ sử dụng khẩu súng bắn tỉa McMillan Tac-50 khai hỏa từ một tòa nhà cao tầng. Đến nay chưa ai vượt qua kỷ lục bắn tỉa chết người này.

Nhiệm vụ chính là thu thập tin tình báo

Lính bắn tỉa hay còn gọi là xạ thủ bắn tỉa tầm xa là các binh sĩ có khả năng bắn với mức chính xác cao ở khoảng cách rất xa nhằm vô hiệu hóa mục tiêu. Theo tạp chí Defense Zone (Pháp), quân đội Pháp phân biệt có khác nhau giữa lính bắn tỉa tầm xa với lính bắn tỉa chính xác. 

Sự khác nhau chủ yếu do cách thức hoạt động. Xạ thủ bắn chính xác là binh sĩ bình thường trực thuộc các đơn vị bộ binh, hải quân hoặc không quân. Trong khi đó, xạ thủ bắn tỉa tầm xa nằm trong tổ bắn tỉa riêng trong bộ binh, hải quân hoặc không quân.

Bộ binh Pháp có khoảng 900 xạ thủ bắn tỉa tầm xa và xạ thủ bắn tỉa chính xác, trong đó có hơn 500 lính bắn tỉa tầm xa. Mỗi trung đoàn bộ binh đều có tổ bắn tỉa tầm xa. Từ năm 2001, các xạ thủ bắn tỉa tầm xa được đưa vào các toán thám sát và yểm trợ. 

Trong các đơn vị đặc nhiệm thuộc ba binh chủng bộ binh, hải quân và không quân Pháp đều có các tổ bắn tỉa. Họ được triển khai cho các nhiệm vụ rất đặc biệt trên chiến trường, thường sử dụng súng bắn tỉa tầm xa PGM Hécate II cỡ 12,7mm, có khả năng bắn trúng mục tiêu cá nhân cách xa 1.500m và mục tiêu như xe hạng nhẹ cách xa 1.800m.

Xạ thủ bắn tỉa tầm xa không thực thi nhiệm vụ một mình mà thường hoạt động theo tổ hai người gồm một xạ thủ và một binh sĩ phát hiện mục tiêu hoặc tổ ba người (thêm tổ trưởng). Binh sĩ phát hiện mục tiêu giữ vai trò rất quan trọng, bảo đảm 70% thành công. 

Chuyên gia vũ khí Francis Langlois tại Diễn đàn Rauul-Dandurand thuộc Đại học Québec (Canada) giải thích: “Người phát hiện mục tiêu là người quan sát các điều kiện bắn bằng ống nhòm cực mạnh và cung cấp thông tin cần thiết để xạ thủ hiệu chỉnh các yếu tố bắn và cuối cùng bắn trúng mục tiêu bất kể khoảng cách xa”.

Có binh sĩ phát hiện mục tiêu giúp sức, lính bắn tỉa tầm xa sẽ tính toán đường đạn bằng cách hiệu chỉnh các yếu tố ngắm. Các hiệu chỉnh phụ thuộc nhiều thứ như tốc độ gió, sức gió, hướng gió, độ cong của Trái đất, nhiệt độ, áp suất khí quyển. Xạ thủ bắn tỉa có thể quan sát suốt 36 tiếng tại cùng một vị trí, vì vậy khi mệt mỏi đã có binh sĩ phát hiện mục tiêu thay thế vì binh sĩ này thường đã từng nhiều năm làm lính bắn tỉa.

Lính bắn tỉa tầm xa ở Pháp đã được triển khai đến nhiều khu vực xung đột như Sahel ở châu Phi (chiến dịch Barkhane) và Trung Đông (chiến dịch Chammal). Trong xung đột, họ có thể rời khỏi đại đội để hoạt động độc lập. Nhiệm vụ của họ có thể kéo dài từ vài tiếng đến vài ngày. Thật ra bắn tỉa để tiêu diệt mục tiêu chỉ chiếm từ 10-20% công việc, nhiệm vụ chính của tổ bắn tỉa là quan sát, thu thập tin tình báo và chuyển thông tin về cho bộ chỉ huy.

Khi làm nhiệm vụ, trước tiên họ phải tìm vị trí bắn lý tưởng bảo đảm góc bắn rộng, tầm nhìn bao quát khu vực tác chiến, không lọt vào tầm ngắm của kẻ thù và phải có vị trí khác dự bị để sẵn sàng rút về khi cần. 

Để tránh bị phát hiện, họ phải bò trên mặt đất trong trang phục ngụy trang và càng ít cử động càng tốt. Họ còn phải bảo đảm tư thế ngắm bắn sao cho người này có thể bảo vệ được người còn lại trong tổ chứ không để “hở lưng”. Trời tối hoặc sương mù là lợi thế trong hoạt động vì khó bị phát hiện. 

Cách chọn vị trí ngắm bắn phụ thuộc vào khoảng thời gian hành động. Lính bắn tỉa phải tính toán vị trí ẩn núp so với mặt trời để không bị chói nắng và ưu tiên phục kích trên các điểm cao.

Tổ bắn tỉa ngụy trang trong quá trình thu thập thông tin tình báo – Ảnh: Eric Thiebaut

Các tố chất của xạ thủ bắn tỉa tầm xa

Nói chung để trở thành xạ thủ bắn tỉa tầm xa, trước hết binh sĩ phải có vài năm làm xạ thủ bắn tỉa chính xác trong trung đoàn và phải thể hiện mình thuộc nhóm những người bắn giỏi nhất. Đầu tiên đại đội sẽ phát hiện binh sĩ bắn giỏi để huấn luyện trở thành xạ thủ bắn chính xác. 

Binh sĩ này phải bảo đảm các phẩm chất cần thiết như khả năng thích ứng với môi trường và cuộc sống tại vị trí tác chiến. Ứng viên được chọn phải hoàn thành khóa đào tạo xạ thủ bắn tỉa chính xác trong tám tuần.

Sau đó, nếu muốn trở thành xạ thủ bắn tỉa tầm xa, binh sĩ bắn chính xác đề đạt nguyện vọng để chỉ huy kiểm tra. Chỉ các xạ thủ bắn tỉa chính xác tốt nhất trong trung đoàn mới được tuyển chọn tham gia khóa huấn luyện trở thành xạ thủ bắn tỉa tầm xa. 

Họ phải là người tự nguyện, năng động, có ý chí phấn đấu, biết làm việc theo nhóm, biết định hướng ban ngày lẫn ban đêm và làm chủ bản thân. Khóa huấn luyện bao gồm nhiều cấp học như xạ thủ, tổ trưởng, trưởng nhóm.

Sau khi vượt qua bài kiểm tra, thời gian huấn luyện kéo dài từ 4-8 tuần. Học viên học cách bắn chính xác, địa hình, kỹ thuật ngụy trang, sơ cứu, quan sát để cung cấp thông tin. Mỗi ngày họ đều rèn luyện thể lực, mang vác khoảng 40kg trang thiết bị hành quân từ 8-10km.

Chuyên gia vũ khí Francis Langlois nhận xét để trở thành xạ thủ bắn tỉa tầm xa, bắn giỏi chưa đủ mà còn cần nhiều tố chất khác. Họ phải dày dạn kinh nghiệm, có kiến thức vững chắc về địa hình, biết sử dụng thành thạo vũ khí bắn tầm xa, biết cách đánh giá các thông số bên ngoài, biết cách thay đổi vị trí sau mỗi lần bắn, ngoài ra còn phải kín đáo, nhẫn nại, điềm tĩnh, khả năng tập trung cao và có tinh thần trách nhiệm.

Xạ thủ bắn tỉa tầm xa phải có thị lực hoàn hảo và thể chất tốt vì thường phải mang vác đến 60kg thiết bị trong điều kiện trời rất nóng hoặc rất lạnh để vượt địa hình vài chục kilômet. Lính bắn tỉa hoạt động độc lập, do đó cần phải mang theo đồ ăn, thức uống, túi ngủ, áo giáp, vật dụng ngụy trang, đạn dược và nhiều khẩu súng.

Tháng 4-2018, lần đầu tiên Bộ Quốc phòng Pháp quyết định vén màn bí mật về lính bắn tỉa. Họ thường mang theo một khẩu súng ngắn và một súng trường tấn công (Famas hoặc HK 416) với tầm bắn 300m. Trong túi xách của họ, ngoài các loại đạn dành cho nhiều cỡ nòng (9mm, 5,56mm, 7,62mm và 12,7mm), họ còn thủ sẵn một khẩu súng bắn tỉa (FRF2 hoặc HK 417) để bắn ở cự ly dưới 1.000m và một khẩu PGM 17kg để bắn tỉa dành cho mục tiêu tầm xa đến 1.800m.

Cuối tháng 3-2022, Hãng tin AFP xác định cựu quân nhân bắn tỉa Olivier Lavigne-Ortiz người Canada (mang bí danh Wali, theo tiếng Ả Rập có nghĩa là “người bảo vệ”) không bị một nữ xạ thủ bắn tỉa Nga tiêu diệt tại Ukraine như nhiều trang Facebook đồn thổi.

Bản thân Wali cũng lên tiếng phủ nhận tin đồn Wali là “xạ thủ bắn tỉa giỏi nhất thế giới” trong cuộc trả lời phỏng vấn Đài phát thanh CBC (Canada) hôm 22-3. Theo AFP, có nhầm lẫn giữa Wali với binh sĩ người Canada đang giữ kỷ lục bắn tỉa chết người ở tầm xa 3.540m tại Iraq.

Sau cái chết của một đội trưởng đặc nhiệm trong phi vụ giải cứu con tin, quân đội Mỹ đã nghiên cứu loại áo giáp có khả năng chống đạn. Còn nhiều nghiên cứu khác như máy bay không người lái cảm tử, mũ chiến đấu, bộ phận giảm thanh…

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 23 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Kỳ 6 – Diều hâu tiếp tục gãy cánh

TTO – Lực lượng tác chiến đặc biệt của Mỹ và Israel nằm trong top các lực lượng đặc nhiệm giỏi nhất thế giới, thế nhưng không phải lúc nào chiến dịch cũng thành công và nhiều đặc nhiệm đã phải hy sinh mạng sống.

Đưa thi hài binh sĩ đặc nhiệm Mỹ chết ở Niger về nước – Ảnh: Không quân Mỹ

Tôi rất đau buồn vì biết rằng các đồng đội của tôi bị thương do công tác lập kế hoạch quá kém.

ANDREA N. GOLDSTEIN

Trả giá máu cho tin tình báo thiếu sót

Năm 2013, nữ sĩ quan tình báo Andrea N. Goldstein còn làm việc trong một đơn vị đặc nhiệm Mỹ đóng tại bán đảo Ả Rập. Một số đồng đội của cô được điều động chi viện trong khuôn khổ chiến dịch Oaken Sonnet. 

Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Mỹ tại châu Phi đóng ở Stuttgart (Đức), các đặc nhiệm được giao nhiệm vụ sơ tán công dân Mỹ khỏi khu nhà của Liên Hiệp Quốc (LHQ) ở Bor (Nam Sudan) vì nội chiến đẫm máu mới bùng nổ mấy hôm trước.

Các đội tình báo ở Djibouti và Stuttgart đều khẳng định địa bàn thực thi nhiệm vụ có cấp độ rủi ro thấp. 

Thế nhưng, ngày 21-12-2013 ba máy bay CV-22 Ospreys chở đội đặc nhiệm Mỹ đã bị một nhóm vũ trang Nam Sudan tấn công bên ngoài khu nhà. Bốn người trên máy bay bị thương, trong đó có một người bị thương rất nặng (người này sống sót nhưng cuối cùng phải mất một chân).

Sau khi sơ tán đến nơi an toàn, trưởng toán đặc nhiệm gọi điện báo cáo tình hình. Andrea kể lại trên báo New York Times Magazine, cô và một nữ đồng nghiệp từ tốn lắng nghe trưởng toán mô tả những gì đã nghe đã thấy để viết báo cáo tình báo. 

Theo trưởng toán, ba máy bay bị bắn khi chưa hạ cánh. Sau khi bốn binh sĩ bị thương, các máy bay bay vòng trở lại, nhận tiếp tế nhiên liệu trên không rồi tiếp tục bay 800km về Entebbe (Uganda). 

Tại đây, những người bị thương được máy bay vận tải đưa đến Kenya rồi chuyển về Đức. Hôm sau, các công dân Mỹ cần giải cứu ở Nam Sudan mới được máy bay của LHQ và máy bay dân sự đưa đi sơ tán.

Sau khi gửi báo cáo ban đầu, Andrea đã trào dâng cảm xúc vốn đã bị kìm nén nhiều giờ trước. Cô rất đau buồn khi biết các đồng đội của cô bị thương do công tác lập kế hoạch quá kém. Tin tình báo đã không tính đến phương án bị tấn công. Kế hoạch sơ tán y tế cũng không có.

Thất bại trong chiến dịch Oaken Sonnet được đăng báo, nhưng quân đội Mỹ đã không nghiên cứu các sai lầm mắc phải. Máy bay hư hỏng không được kiểm tra. 

Không ai điều tra vụ phục kích ở Nam Sudan. Không có báo cáo nào phân tích vì sao kế hoạch giải cứu lại quá sơ sài như vậy. Mọi chuyện chỉ tập trung vào các phi công dũng cảm lái chiếc máy bay lỗ chỗ vết đạn trở về  an toàn.

Chính vì sai lầm bị bỏ qua mà bốn năm sau, bốn binh sĩ đặc nhiệm Mỹ đã thiệt mạng tại Niger. Theo điều tra của quân đội Mỹ, toán trưởng đặc nhiệm đã từ chối làm nhiệm vụ với lý do trang thiết bị và tin tình báo không đầy đủ nhưng sĩ quan chỉ huy phớt lờ. 

Rốt cuộc hôm 4-10-2017, họ đã bị phiến quân có liên hệ với tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) phục kích ở làng Tongo Tongo (Niger). Bốn đặc nhiệm Mỹ, bốn binh sĩ Niger và một người phiên dịch thiệt mạng.

Sau khi Lầu Năm Góc thông báo cái chết của bốn đặc nhiệm Mỹ ở Niger, điện thoại của Andrea nhận được tin nhắn từ nữ đồng nghiệp đã cùng cô lập báo cáo về vụ phục kích máy bay ở Nam Sudan năm 2013. 

Tin nhắn có vỏn vẹn hai từ: “Oaken Sonnet”. Andrea cho biết đây là lần đầu tiên cô khóc vì những người không quen biết. Các binh sĩ vẫn có thể bị phản bội nếu công tác lập kế hoạch sơ sài, tin tình báo thiếu sót và khả năng lãnh đạo quá yếu kém.

Andrea N. Goldstein nay là thiếu tá tình báo, trợ lý giám đốc lực lượng phục hồi Bộ Hải quân Mỹ. Cô nhận định nguyên nhân thất bại trong hai phi vụ kể trên là nguyên tắc quân sự “bất khả xâm phạm” đã bị bỏ qua. 

Đó là các sĩ quan chỉ huy điều quân đi thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm cần phải cẩn trọng đánh giá mọi rủi ro và phải chuẩn bị đầy đủ để hỗ trợ lực lượng trên chiến trường.

Chiếc xe Volkswagen của Israel bị không quân phá hủy – Ảnh: AFP

Đặc nhiệm khét tiếng Israel lọt ổ phục kích

Năm 2018, một đội đặc nhiệm Sayeret Matkal (đơn vị trinh sát tinh nhuệ của Bộ Tổng tham mưu Israel) gồm tám binh sĩ đã xâm nhập vào Khan Yunis ở dải Gaza đế cài đặt thiết bị theo dõi hệ thống viễn thông của Lữ đoàn Al-Qassam (cánh quân sự của Phong trào Hamas) như Palestine cáo buộc. Nhiệm vụ bất thành.

Trang web nghiên cứu Silah Report (Mỹ) tường thuật vào đầu giờ tối chủ nhật 11-11-2018, chỉ huy Nour Barakeh của Lữ đoàn Al-Qassam đã nghi ngờ một xe buýt nhỏ Volkswagen màu xanh nên chỉ thị cho sĩ quan tình báo địa bàn chặn xe kiểm tra. 

Sĩ quan tình báo nọ đi cùng các tay súng Palestine chặn xe. Điện thoại của những người trên xe đều giống hệt nhau về hình dạng, màu sắc và phần lớn nội dung lưu trữ. Giấy tờ mang tên cư dân thường trú ở Dải Gaza. 

Xe bị khám xét, những người trên xe bị tách ra thẩm vấn riêng. Ban đầu ai cũng khai như nhau. Sau đó, vài người bắt đầu khai mâu thuẫn. Người này nói đi thăm người nằm viện, người khác lại nói làm việc cho tổ chức quốc tế Humedica, còn người thứ ba khai đi cùng người thân sống gần đó.

Cuộc thẩm vấn kéo dài gần 40 phút. Trong nhóm đi trên xe có một người đàn ông chống nạng giả vờ bị khuyết tật và hai phụ nữ. Trong quá trình khám xét, một túi phụ nữ rơi xuống, bên trong là các bản in kinh Coran để giữa đống quần áo phụ nữ. 

Điều này càng làm cho lực lượng Al-Qassam thêm nghi ngờ nên khám xét kỹ hơn và tìm thấy nhiều phong bì với số sêri và số tiền mặt giống nhau có ghi tên và địa chỉ của nhiều người ở Dải Gaza.

Sĩ quan tình báo địa bàn báo cáo lại với chỉ huy Nour Barakeh. Nour ra lệnh áp giải về để thẩm vấn sâu hơn. Đến lúc này, những người đi trên xe lộ diện là đội đặc nhiệm Israel. 

Họ lấy súng ngắn giấu trong xe bắt đầu nã đạn, bắn chết Nour và một người khác tại chỗ và làm bị thương hai người. Một người trong đội đặc nhiệm bị bắn trúng ngực, sau này mới biết người bị bắn chết là “trung tá M.” – chỉ huy đội đặc nhiệm. Biệt đội tháo lui. Cuộc truy đuổi bắt đầu.

8h48 tối, chỉ huy tiểu đoàn Khan Yunis ở khu đông nhận được thông báo về vụ đấu súng và một chiếc xe đang đào tẩu về hướng đông. Chỉ huy ra lệnh phong tỏa đường, lập chốt và tổ chức bao vây. 

Đội đặc nhiệm Israel nhận thấy khó lòng rút quân theo đường bộ về hướng biên giới nên án binh bất động trong một trang trại chờ hỗ trợ đường không.

Không quân Israel đã điều động máy bay lập vành đai hỏa lực giữa lực lượng Al-Qassam và đội đặc nhiệm Israel. 

Cùng lúc đó, một trực thăng vận tải Yas’ur 2000 phụ trách giải cứu bay thấp từ hướng đông với hai trực thăng Apache yểm trợ. Song song theo đó, Israel can thiệp vào đường dây liên lạc vô tuyến trong khu vực phát thông báo giả có một máy bay bị bắn rơi trên biển và ra lệnh cho các lực lượng đi về hướng tây.

Mẹo này không đánh lừa được phía Palestine. Lữ đoàn Al-Qassam tiếp tục yêu cầu các đơn vị tiếp tục thực hiện hướng dẫn trước đó. Cuối cùng, quân đội Israel cũng đã giải cứu thành công đội đặc nhiệm ra khỏi khu vực thù địch.

Trong vụ giải cứu đội đặc nhiệm, quân đội Israel đã bắn chết chỉ huy tiểu đoàn Khan Yunis và 6 tay súng Lữ đoàn Al-Qassam bằng súng hãm thanh Glock-17, và 5 người khác thiệt mạng trong lúc không quân Israel lập vành đai hỏa lực. Sau đó, không quân Israel đã cố tiêu hủy những gì đội đặc nhiệm bỏ lại nhưng Lữ đoàn Al-Qassam đã kịp tịch thu một số tài liệu và máy móc trên xe.

Các đơn vị đặc nhiệm của bộ binh, không quân và hải quân của Pháp đều có lính bắn tỉa. Nhiệm vụ chính của lính bắn tỉa là quan sát và thu thập tin tình báo. Xạ thủ bắn tỉa không chỉ bắn giỏi mà còn cần nhiều tố chất khác.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Khám Trại

Đặng Chí Bình

Bài 21

Hồn tôi còn đang chảy dài xuống hố sâu của thời gian thăm thẳm đã qua, thì mắt tôi thoáng thấy một đoàn cán bộ vừa công an vũ trang đeo súng dài và cán bộ quản giáo, đến gần hai chục tên đang từ phía cổng xồng xộc đi vào trại. Tôi còn đang ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì thì đã thấy nhiều đồng phạm nhớn nhác, vội vàng hấp tấp mang bát đĩa đi vào buồng. Đồng thời tiếng kẻng mất dạy lại rống lên từng tiếng một ở phía cổng. Đến giờ tập họp đi lao động như mọi khi. Thấy anh Đồng vơ vội túi bát đi vào buồng, tôi cũng chạy theo, chỉ kịp hớt hãi hỏi anh:

– Chuyện gì thế?

Anh Đồng vừa chạy vừa trả lời đứt quãng:

– Khám trại!

Trong buồng, sàn trên, sàn dưới; mọi người đang hùng hục lấy những chăn màn, quần áo, cuốn chiếu bụi mù. Ai ai cũng khẩn trương sớn sác. Mãi lúc này, một lũ cán bộ đã đứng trước cửa buồng, một tên cán bộ dõng dạc tuyên bố:

– Lệnh của ban giám thị, hôm nay sẽ làm tổng vệ sinh toàn trại. Mỗi anh, công, tư trang có cái gì phải khẩn trương mang hết ra sân. Thứ tự tổ nào vào toán ấy, do cán bộ chỉ định từng khu vực. Bất cứ cái gì còn lại trong buồng đều sẽ bị tịch thu.

Rõ ràng, bây giờ cán bộ mới tuyên bố khám trại, vậy mà các anh, các bác tỏ ra đã có kinh nghiệm. Ngay khi đoàn cán bộ mới vào tới cổng, các anh các bác đã rối rít vào buồng chuẩn bị rồi. Sau này tôi mới hiểu. Do những nhu cầu của cuộc sống tù, hàng ngày, hàng năm mỗi người đều phải lo toan cho mình những thứ tối thiểu: cái gô, cái cóng đun nước, cái lược, con dao con để xử dụng. Đôi khi mua, bán đổi chác lén lút được gói trà, nắm gạo v.v… Những thứ này đều vi phạm nội quy, cán bộ thấy sẽ tịch thu. Vì vậy ai cũng tớn tác lo cho mình làm sao giấu, đút qua mặt được cán bộ khi bị khám bất ngờ. Muốn vậy phải lanh lẹ chạy vào lo toan trước, chứ chậm, muộn thì còn làm sao giấu đút được nữa.

Tôi vừa vơ chăn màn, quần áo, rổ rá, đĩa và những đồ linh tinh, tôi vừa nghĩ: mình chả có cái quái gì cả. Có cái quan trọng nhất là chì mật thì ngay từ những tháng trước, tôi đã luồn chắn chắn vào gấu chiếc quần đùi cũ. Chiếc quần đùi này, tôi không mặc, vẫn để lẫn trong túi quần áo. Tôi vẫn tin tưởng rằng: dù cho cán bộ hay bất cứ ai có trông thấy cái mẩu chì này thì cũng chả hiểu được giá trị của nó. Vì vậy tôi vẫn yên tâm. Tôi theo Vân ôm đồ ra khỏi buồng.

Ngoài sân, la liệt khắp kín cả sân trại. Từ trên đầu nhà kỷ luật cho đến sát hàng rào giếng, phía cuối sân, đầy tù và chăn màn quần áo. Tổ nào toán nấy đều có 3 tên cán bộ áo vàng, nghiêm trang đứng đưa những đôi mắt cú vọ, soi mói quan sát mọi người.

Tôi khệ nệ ôm gói chăn màn, quần áo đến chỗ tổ vernie đã có Quý Cụt và Lê Sơn ở một góc phía đầu hội trường, thuộc về khu vực toán hai. Nhìn về buồng số II, bốn tên cán bộ vũ trang. Mỗi tên trên tay cầm một chiếc đèn pin đang lục lọi các ngóc ngách, sàn trên, sàn dưới. Một bác già vẫn làm vệ sinh trại, đem vào buồng một sọt lớn, đặt ở giữa nhà, để đựng những thứ tù bỏ sót lại hoặc các tên cán bộ đi khám, moi móc được những thứ tù cất, giấu.

Tôi để ý thấy tụi cán bộ lục soát thật kỹ càng. Từ trên mái nhà, dưới gầm sàn, chúng bới móc mọi nơi, mọi chỗ mà chúng khả nghi tù có thể giấu diếm những đồ nội quy, quốc cấm. Tôi còn đang liếc nhìn những ánh đèn pin le lói, loang loáng phía trong buồng thì một vật cưng cứng, đột nhiên chạm nhẹ vào phía sau lưng tôi, trong khi tên công an vũ trang đứng ngay trước mặt, chỉ cách tôi hơn một mét. Tên này cũng đang đưa mắt nhìn về phía một tên cán bộ ở chỗ toán 3 đương quát tháo:

– Tất cả các anh nghe đây: anh nào ngồi chỗ nào, ngồi yên chỗ ấy. Tuyệt đối không ai được di chuyển, đi lại lộn xộn. Anh nào đã được khám xong, ôm đồ đạc của mình vào trong hội trường gấp gáp.

Mồm y nói, mắt y quắc sáng, tay chỉ vào trong hội trường cũng đã có một tên cán bộ đứng coi. Tôi lẹ đưa tay về phía sau, thì ra là một chiếc lược nhôm mới, rất bóng của Lê Sơn luồn cho tôi. Tôi chợt nhớ đến con dao nhỏ làm bằng lưỡi cưa con, dài hơn một ngón tay của tôi. Tôi vẫn dùng trong những công việc vặt, sinh hoạt của đời tù. Chỉ một thoáng suy nghĩ, tôi đã tìm ra một phương thế hữu hiệu. Ngay trên chiếc chiếu con tôi đang để chăn màn quần áo của tôi. Tôi lựa, lách lưỡi dao vào kẽ những sợi cói. Dùng sức, tôi giúi ngập ngay xuồng nền đất của sân. Thế là ổn! Quý Cụt và Lê Sơn ngồi ngay bên cạnh tôi cũng không hề biết.

Bây giờ những tên cán chịu trách nhiệm từng toán bắt đầu lần lượt khám, lục xét vuốt nắn từng người và công tư trang của họ. Lắm anh có lẽ vì không cất dấu kịp nên bị tịch thu cũng nhiều. Nhìn chiếc sọt đựng đồ thu của mỗi toán. Tôi thấy nào ống bơ, lược, dao, nõ điếu nhôm, giấy má thư từ, hộp gỗ con v.v… vất lưng một sọt.

Lê Sơn bị tịch thu 2 chiếc lược nhôm kiểu con rồng, mới bóng và hai gói trà. Sau đó tôi được biết: sáng đó Lê Sơn có gần một chục cái lược và một tá gói trà, nhưng anh đã khôn  khéo tẩu tán, gửi gấm, giấu diếm gần hết.

Đến lượt tôi, tên công an vuốt nách, vuốt tay chân, lục túi rồi giũ từng cái chăn, cái quần, cái áo. Chả có cái cóc khô gì cả. Chỉ có một cái lược sừng và một cái lược nhôm của Lê Sơn vừa đưa. Theo nội quy, mỗi người chỉ được dùng một cái lược, ngoài ra bị tịch thu hết. Tên công an cầm hai cái lược hỏi tôi:

– Cho anh tùy ý giữ lại một cái.

Lòng tôi đang có sự giằng co lựa chọn. Tuy cái lược nhôm thật đẹp, giá trị gấp mấy lần cái lược sừng nhỏ của tôi. Nhưng cái lược sừng này là vật duy nhất của tôi, từ ở trong Nam. Nó đã theo tôi suốt dài những năm tháng tái tê trong xà lim, Hỏa Lò. Dù cái lược nhôm, hay bất cứ cái lược gì khác có quý đến nhiều lần hơn thế, thì tôi vẫn chọn chiếc lược sừng nhỏ, tuy xấu, cũ đã gãy 1 răng, nhưng nó như là một người bạn thân thiết của tôi. Ngày trước, khi tôi tự tử ở buồng số 6, xà lim I, của hơn 4 năm trước tôi cũng đã rũ rượi xin chào từ giã nó. Nhưng cái lược nhôm lại là của Lê Sơn vừa gởi.

Anh đã đối xử với tôi đầy ân tình. Tôi nhớ đến một hành động cao đẹp của anh, chiếc đĩa nhôm mà tôi đang dùng và những suất sắn sáng anh đã giúp tôi một cách hào hiệp, lúc khó khăn buổi ban đầu mới lên trại của tôi. Hơn nữa Lê Sơn là một người có lý tưởng chống Cộng sâu sắc, kiên định. Tôi làm sao có thể để một người như thế, mất hay giảm lòng tin tôi. Tôi lúng túng đến nỗi mặt tôi nóng lên rần rật. Hết liếc nhìn Lê Sơn, rồi lại nhìn Quý Cụt ngay trước mặt tên cán bộ. Không thể có một cử chỉ, một nháy mắt ra hiệu được cho nhau. Cuối cùng, đành vậy, tôi giơ tay ngập ngừng, rụt rè cầm chiếc lược nhôm, để chốc nữa trả lại cho Lê Sơn. Tôi đành để mất chiếc lược sừng kỷ niệm, thân thương từ đấy; tuy trong lòng không khỏi xót xa, luyến tiếc.

Mãi gần trưa mới khám xong toàn trại và được lệnh các toán mang chăn chiếu vào buồng! Lòng buồn rười rượi, tôi nhìn Phan Thanh Vân đang gấp lại quần áo bên cạnh. Mặt Vân cũng đanh đỏ gay, tôi khẽ hỏi:

– Có mất gì không?

Vân trả lời trong hưu hắt:

– Vài thứ lặt vặt không đáng kể, nhưng có mấy tấm ảnh của bà chị ở Pháp gửi cho đã lâu, họ cũng không cho giữ.

Ngừng một lúc rồi Vân lại nói lầu bầu:

– Tôi sẽ làm đơn ra ông Toán, vì chính ông đã mang thư và ảnh đó từ trại chính vào cho tôi cơ mà.

Tôi chưa biết nói sao, nên chỉ biết khích lệ và an ủi Vân:

– Đúng đấy, Vân phải làm đơn đi. Ảnh gia đình, thân nhân của người ta mà cũng thu.

Ngay sau khi tôi xếp chăn màn, quần áo của tôi tạm ổn. Trèo lên sàn trên chỗ Lê Sơn, tôi rút chiếc lược nhôm ở túi ra gửi lại anh. Lê Sơn nhìn tôi đăm đăm rồi cười, anh đẩy tay tôi lại:

– Tôi tặng anh để làm kỷ niệm đấy!

Biết rằng, không thể nói cho anh hiểu được, tôi còn quý cái lược sừng của tôi hơn nhiều lần cái lược nhôm này. Vì anh và tất cả người khác không thể tin được. Cũng chính vì điểm này, tôi càng không thể nhận chiếc lược của anh tặng. Bởi vậy, tôi nói với anh bằng thái độ dứt khoát:

– Không được. Tôi cảm ơn nhã ý của anh, nhưng tôi nhất quyết không lấy chiếc lược này đâu. Để mai kia ra lán, anh cho tôi ít nhôm rồi anh chỉ cho tôi cách nấu và pha chế. Tôi muốn, chính tay tôi sẽ làm lấy một cái lược để tôi dùng.

 Nói rồi tôi đặt cái lược lên đùi anh và trèo xuống, về chỗ.

Buổi trưa, tôi đang nằm liu riu. Một mắt ngủ, một mắt thức thì thấy xôn xao, ồn ào ngoài sân. Trong buồng cũng có một số người ngồi dậy đi ra. Tôi cũng tung chăn bò dậy. Ra tới cửa buồng, gặp cậu Hoàng Mạnh Hùng, tôi hất hàm ra phía sân, hỏi khẽ:

– Cái gì thế em?

Hùng ghé vào tai tôi thì thào:

– Họ thả những anh em bị kỷ luật, cho ra ngoài ăn Tết.

Gợi trí tò mò, tôi nhẹ đập vào tay Hùng tỏ ý cùng ra đó xem sao. Ngay trên đầu nhà số III, đã có gần chục các anh và các bác đang đứng túm tụm trên đầu hè, nhìn về phía nhà kỷ luật. Tên Cẩn, cán bộ trực trại cũng đứng gần chỗ nhóm nứa trước nhà kỷ luật. Tay y cầm chùm chìa khóa cứ rung, lắc reng rẻng. Sát phía đầu hồi nhà kỷ luật, tên trật tự Tân đang kéo tay một anh nằm dài dưới đất, miệng y léo nhéo:

– Cố đứng dậy mà đi! Ban giám thị khoan hồng cho ra ăn Tết lại không mừng sao?

Phía trong, chỗ hiên sau nhà kỷ luật, lố nhố có gần chục người. Người thì đang vịn vách lò dò bước ra, người thì bò lết dưới nền đất. Nhìn cảnh đó mà lòng tôi đờ dại ra. Một nỗi xót xa của những kiếp con người dâng ngập lòng tôi. Người già, người trẻ, mắt ai cũng trắng dã; tay chân khẳng khiu, gầy guộc như những cái càng của con cua rốc. Hai thái dương và hai má đều lõm vào, thành ra nhìn ai mặt cũng gồ ghề, toàn xương.

Một mùi khăn khẳn, ngai ngái, tanh tanh từ những đám người kỷ luật phả ra chung quanh. Thỉnh thoảng, tên Cẩn lại quay mặt ra phía đầu gió, gần hàng rào trại, xì khô mũi của y mấy cái. Cái mùi làm cho tôi nhớ lại, cái mùi của những con chuột chù, ngày còn bé tôi thường bắt chơi, ngửi thấy.

Thoáng thấy bóng anh Khải, tôi đến ngỡ ngàng nên cứ nhìn anh mãi. Mới có hơn một tuần lê, mà tôi đã không nhận được ra anh nữa. Ông Nguyễn Tứ Hải, cha anh. Một tay ông ôm chiếc chăn ẩm, một tay ông đỡ nách anh Khải. Hai cha con chậm chạp, bước từng bước run rẩy về phía buồng số II. Mỗi người đều có những bạn bè dìu, nâng, đang lê từng bước về buồng.

Riêng có một anh chừng 35 tuổi, dáng đã nhỏ con, lại chỉ còn xương với da. Nếu không nhìn thấy mấy sợi tóc bạc và những nếp nhăn nheo trên trán anh, thì tôi lại tưởng là một đứa trẻ con. Anh mệt nhọc ôm chiếc chăn tã, nhiều chỗ toàn bụi đất. Anh cứ lê, bò đi vài thước, lại đặt cái chăn xuống nền sân đất, rồi gục đầu lên đó nằm yên một lúc, lại ngẩng đầu dậy bò tiếp. Nhìn anh, tôi liên tưởng đến cái ngày khốn khổ, tôi ở cachot, Hỏa Lò bò ra năm xưa. Ruột tôi vặn vò không yên được; khẽ động vào tay Hùng tôi nói như thúc hối:

– Em hãy ra giúp anh ta về buồng, dù có bị liên quan, em cũng cứ làm đi!

Chắc Hùng cũng đang xúc động, thấy mắt cậu đỏ lên. Hùng chỉ khẽ nói:

– Anh Hải Sơn toán 2 đấy!

Nói rồi, Hùng tiến ra đỡ anh Hải Sơn đứng dậy trước con mắt gườm gườm, lạnh lùng của tên Cẩn và những con mắt mở to của mọi người. Mấy hôm, sau ngày Tết, tôi được anh Đồng cho biết: anh Hải Sơn là người của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Anh ta bị bắt 11 năm rồi.

Khi về buồng, nghe mấy anh xì xèo bán tán với Nguyễn Huy Lân buồng trưởng tôi mới hiểu: trong nhà kỷ luật lúc ấy có tất cả 9 người, đều được thả cho ra ăn Tết. Duy có bác Lê Tài Chương thì không được ra, chẳng một ai hiểu vì sao?

Những người đi kỷ luật về, đều được về toán của mình nằm cho lại sức. Chưa ai rửa ráy, tắm giặt gì được. Chiều hôm ấy cũng chưa ai được ăn cơm, tất cả đều phải ăn cháo, vì sợ thủng dạ dầy. Ba người của toán 2 là Nguyễn Khải, Hải Sơn và một anh nữa là Trần Hiển. Khi ra lán thủ công lao động buổi chiều, Quý Cụt đã cho tôi biết: Trần Hiển là một tu sĩ công giáo. Án tập trung cải tạo 3 năm, nhưng đã ở tù thành 9 năm rồi.

Hôm nay là ngày giáp Tết. Buổi sáng nay là buổi lao động cuối cùng của một năm. Theo như chương trình nghỉ Tết và gọi là vui Xuân (?) của trại sẽ diễn tiến như sau:

Hai giờ chiều, toàn trại tập họp ra hội trường để nghe ban giám thị nói chuyện và tổng kết những thành tích lao động sản xuất một năm của trại. Tuyên bố kết quả những toán và những cá nhân xuất sắc sau khi ban giám thị đã duyệt xét. Cuối cùng sẽ tuyên bố chương trình vui Xuân của trại gồm có thi đấu bóng bàn và cờ tướng.

Về bóng bàn:

Giải nhất – 1 bánh chưng, 1 gói trà và 1 bao thuốc lá.

Giải nhì – 1 bánh chưng và ½ bao thuốc lá.

Thi đấu cờ tướng:

Giải nhất – 2 bánh chưng, 1 gói trà  và 1 bao thuốc lá.

Giải nhì – 1 bánh chưng, 1 gói trà và ½ bao thuốc lá.

Phần vì tôi cũng biết chơi ít nhiều cờ tướng ngay từ khi còn nhỏ. Sau này vào Nam, ở trại học sinh di cư Phú Thọ, tôi lại tiếp tục chơi những khi có điều kiện. Phần khác, sau nhiều năm ngồi tù đơn độc trong xà lim ở Hỏa Lò, tình cảm tâm tư bị nén buộc, tôi muốn nhân dịp này gặp gỡ được nhiều người ở những toán khác. Bởi vậy, tôi cũng ghi tên tranh giải cờ tướng của trại. Phan Thanh Vân dù chỉ nhìn đời bằng một con mắt, anh cũng ghi tên tranh giải bóng bàn.

Vì thời gian chỉ có hạn, chỉ trong vòng có hai ngày rưỡi nên ban tổ chức vui Xuân quyết định: sẽ đấu vòng loại ngay sau khi ban giám thị nói chuyện tổng kết ở hội trường. Riêng về cờ tướng, ngay khi hết hạn ghi danh lúc 5 giờ chiều hôm qua (ngày 29), tôi đã biết có 52 người ghi tên thi đấu của toàn phân trại.

Phải nói sáng hôm nay không khí của trại cũng khác thường, mặt anh nào cũng rạng rỡ hẳn ra. Như mỗi người đêm qua đều được uống một ly đường Cuba pha đậm vậy. Thực thế, rõ ràng mắt mọi người như mới được quét thêm cái mầu tình nghĩa và nụ cười đã trở lại ở trên môi nhiều người.

Khi cái toán xuất trại đi lao động, do sự chỉ định của cán bộ giáo dục: toán 2 phải để lại 4 người vẽ và làm lỗ cho bàn cờ tướng của trại.

Bàn gỗ bóng bàn, do nhóm kỹ thuật của Đinh Sơn đã làm xong từ gần một tuần trước. Hôm nay cũng được khênh về, lắp ráp ở trong cổng trại, chỗ gần bụi nứa cuối hội trường. Về cờ tướng,để thêm phần hào hứng cho mọi người tù, ban giáo dục cho vẽ bàn cờ lớn ngay ở sân chính của trại, trước nhà số I. Bàn cờ chiếm gần nửa cái sân. Quân cờ bằng những miếng gỗ hình chữ nhật, một bề 15 phân và một bề 20 phân, được sơn xanh và đỏ. Trên quân cờ viết chữ bằng sơn trắng để phân biệt quân của hai bên. Mỗi quân cờ được đóng vào một thanh gỗ, vuông 3 phân, dài chừng 70 phân để làm chân.

Vì thế, bàn cờ phải có lỗ để cắm quân. Những lỗ này chỉ cần cưa một đoạn đầu mặt của một ống nứa nhỏ, dài chừng 10 phân, rồi cứ việc đóng cho bằng xuống nền đất là thành một cái lỗ để cắm quân cờ.

Khoảng 10 giờ sáng, ngay khi toán còn ở ngoài lán thủ công lao động đã nghe thấy tiếng lợn kêu eng éc, từ nhà bếp cơ quan và nhà bếp của trại văng vẳng vọng ra. Tiếng lợn kêu, làm cho mắt ai cũng sáng lên long lanh. Anh nọ nhìn anh kia như có ý nói: đấy…nghe thấy không bạn ơi! Cho đến trưa, khi toán về đến trại thì nỗi vui mừng, niềm hân hoan trên mặt mọi người đều bị phì ra tứ tung. Từ lời chào hỏi, xen lẫn ánh mắt dịu dàng nhìn nhau, cho đến dáng đi, nước bước đều như được chứa chất nỗi hưng phấn, đong đưa của một kiếp người.

Một mùi ngòn ngọt, ngây ngất thơm tho từ trong nhà bếp xông bừa ra phủ kín cả trại E. Để, dù cho xuống giếng rửa ráy, tắm giặt hay vào buồng nằm nghỉ; đâu đâu ai cũng ngửi, cũng hít thấy cái mùi mê ly, say đắm đến suội hồn ra ấy. Tác dụng của nó đã làm cho mọi người hôm nay đối xử với nhau đậm đà, cởi mở hơn, nhã nhặn dễ dãi hơn.

Tuy chẳng nói ra, nhưng ai cũng tự hiểu: bữa cơm trưa nay thì vẫn cơm ngô xay, muối rang như mọi ngày. Nhưng bữa chiều nay thì phải biết, phải tự mỗi người hãy suy nghĩ lấy…Có trời mà đoán được nó hạnh phúc như thế nào? Chính vì vậy, chính vì cái hạnh phúc đang đến thường thường lại hơn hẳn cái hạnh phúc đã đến rồi.

Một điều nữa, cũng chẳng ai nói ra nhưng ai cũng hiểu như nhau: bắt đầu từ lúc này, không phải gò lưng để kéo xẻ, không phải è cổ gánh phân, vác gỗ, không phải  vẹo người đế quai búa tạ v.v… Được xả hơi thong dong, nhàn du, dài những 2 ngày rưỡi cơ mà; cho nên niềm vui, nguồn thanh thản, thênh thang càng được nâng cao rõ rệt.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Những kỷ niệm buổi đầu đời

 Đặng Chí Bình

Bài 20

Tết càng gần, nét Tết càng rõ trên mặt mọi người. Lòng mong Tết của người tù cũng như trẻ con mong Tết để được mừng tuổi. Để được mặc quần áo mới và để được chơi bời thỏa thích với bạn bè. Cả một năm lao động khổ sai, đói rét, cùng khổ, chìm đắm trong kiếp đời nhục nhằn lầm than. Tết đến, không những được nghỉ vài ngày, mà còn được ăn bánh chưng, được ăn thịt, được ăn cơm không độn nữa. Những thứ ưu việt cao quý nhất của loài người mà cả một năm không có. Thử hỏi ai mà không mong, không vui sao được?

Sáng hôm nay là 28 tháng chạp rồi. Mới sáng sớm, mọi người còn đang ríu rít chia sắn sáng thì tên Thái y tá kiêm phụ trách nhà tiếp tế của trại đã đến buống số 2. Tay y cầm mấy miếng giấy rơm mầu lá vàng khô. Ngay còn khi ở ngoài sân, lúc y vừa ở buồng số 1 ra. Nhiều con mắt, tuy chẳng ai bảo ai, thế mà đều quay lại nhìn y với ánh mắt đợi chờ, nghe ngóng cho tới khi y bước vào buồng số 2 thì nhiều người đã chạy xô vào, chằm chặp nhìn những tờ giấy vàng ở tay y, mặt hóng lên niềm hy vọng.

Cái tâm trạng này thật cũng đáng buồn cười. Những người có gia đình, thân nhân tiếp tế hồi hộp, nghe ngóng, đợi chờ đã đành. Cả đến những người chả có thân nhân, hoặc đã lâu năm không ai tiếp tế cũng thập thò, nhấp nhổm, dâng lên niềm mơ ước hy vọng như mây chiều trong gió lộng. Thậm chí ngay cả tôi. Tôi đã biết rõ, chẳng có ai là thân nhân tiếp tế cho tôi cả. Suốt đời tù, chả viết thư cho ai, mà cũng chả có ai viết thư cho tôi. Vậy mà cũng thấy lòng động đậy, xốn xang nhìn về tên Thái.

Cái tâm trạng của những người cùng khổ, nó kỳ dị như một người nghèo chả bao giờ có tiền mua xổ số cả, mà lại mong trúng số độc đắc. Mộng ước những chuyện tự nhiên ở trên trời rơi xuống hoàn toàn không tưởng; không hề có một cơ sở thực tế nào. Vậy mà lòng vẫn cứ mong, vẫn cứ ước mơ.

Cuối cùng tên Thái đã đọc tên 5 người của buồng số 2. Những người này xin phép cán bộ toán ở nhà để ra gặp thân nhân, nhận đồ tiếp tế:

– Nguyễn Tứ Hải, toán 3.

– Nguyễn Khải, toán 2 (bị đi kỷ luật hơn 10 ngày trước, chưa được tha).

– Lù Chằn Páng, toán 2.

– Lồ Cao Dưu, Lồ Cao Chính, toán 3.

Bao nhiêu con mắt nhìn về những người vừa được gọi tên. Họ thấy những người này, hôm nay khác hẳn với mọi ngày. Quan trọng hơn, giá trị hơn, Họ đã bước lên một giai cấp khác. Giai cấp có tiền, có thể trong cái xã hội nhà tù nhỏ bé này. Trong khi ấy thì mặt những người vừa được gọi tên đang đờ đẫn với bao nhiêu những nỗi niềm nguồn cơn về gia đình và cuộc đời; xốn xang chuẩn bị tinh thần để gặp gia đình và người thân.

Tôi quay lại nhìn anh Đồng ngồi ngay cạnh tôi. Mặt anh buồn rười rượi, đôi mắt áng lên mầu nâu xám như lắng đọng, chất chứa một nỗi sầu xa vắng. Tôi khẽ đặt một tay lên vai anh:

– Xin lỗi, hàng năm anh có nhận được tiếp tế của gia đình không?

Câu hỏi như khơi dậy, cho nỗi buồn thầm kín của anh chảy dài. Những vết hằn trên trán của anh càng nhăn nhúm lại, như trong lòng anh đang bị quặn thắt, xót xa. Anh nói như chia xẻ bầu tâm sự:

– Tôi chỉ còn một bà mẹ già, năm nay đã gần 70 tuổi. Năm năm trước, mẹ tôi đã mò mẫm, lặn lội lên đây thăm tôi một lần. Khi về, phần vì tuổi già, phần vì lam sơn chướng khí của miền đèo heo hút gió này đã quật bà cụ một trận ốm tơi bời hơn hai tháng. Từ đấy, mẹ tôi bị liệt một chân, phải đi nạng. Lá thư năm ngoái mẹ tôi gởi lên đã làm tôi nhiều đêm không ngủ. Hình ảnh của một người mẹ già sống lam lũ, thiếu thốn, cô đơn, heo hút trong căn nhà tranh xiêu vẹo phía cuối làng hoang vắng vẫn đêm đêm hướng về người con trai trong ngục tù biền biệt xa vời, cứ giằng xé, gậm nhấm hồn tôi. Nỗi đau, nỗi hận tôi đã kìm hãm, đè chặt trong tim; vậy mà nhiều lần vẫn ứ ra theo giòng nước mắt trong những đêm dài không ngủ.

Hai mẹ con côi, tôi là đứa con trai duy nhất của người. Bố tôi đã bị giết ngay từ 1955, đợt đầu của cuộc cải cách ruộng đất ở quê tôi. Hiện nay, mẹ tôi sống lần hồi rau cháo, hàng ngày quét dọn vệ sinh cho một hợp tác xã thủ công ở địa phương.

Ngồi nghe anh thổ lộ, tôi cũng thấy lòng se lại trước cảnh tình thương đau của anh. Tôi chợt muốn biết sơ qua về tội lỗi của anh, vì thế đợi anh ngừng tôi mới hỏi:

– Thế anh tội gì và án hay tập trung?

Anh ngửng lên nhìn tôi như đắn đo một lúc rồi ngập ngừng:

– Tội vượt tuyến, án tôi chung thân.

Tôi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, nên đầy thắc mắc:

– Vượt tuyến gì mà lại án chung thân?

Mặt hơi nhăn lại, mắt anh quắc sáng nhìn về phía chiếc cửa sổ phía đối diện như còn chất chứa một nỗi u uất tràn ắp trong lòng:

– Tôi và một người bạn nữa, bị vây bắt ở biên giới Lào và Việt thuộc Nghệ An. Trong thế cùng chúng tôi đã chống trả quyết liệt để thoát thân. Chúng tôi đã giết chết một tên bộ đội biên phòng. Cuối cùng người bạn của tôi bị bắn chết ngay tại chỗ và họ đã bắt được tôi. Chúng đã đánh tôi một trận đòn thù tưởng không thể sống được. Vết thương ở đầu làm tôi mê man gục xuống. Chúng tưởng tôi đã chết rồi. Mãi 3 tháng sau vết thương tôi mới tạm lành.

Nói đến đây, anh cúi đầu xuống, giơ một tay vạch tóc phía trên gáy cho tôi nhìn một vết sẹo gồ ghề, ngòng ngoèo, chỗ trắng, chỗ còn tím xậm dài đến 5 phân. Chẳng hiểu vì nỗi xúc động bừng dậy hay vì cái đau ẩn uất của tâm hồn; mặt anh tái hẳn lại. Anh đứng dậy ra khỏi buồng.

Còn nhiều điều nữa tôi muốn hỏi về anh, nhưng thấy thái độ của anh như vậy. Tôi chậm chạp tiến lại chỗ chiếc điếu cày, hút một điếu cho hồn vấn vít chảy vào khói mây với những bồng bềnh ngổn ngang, ngược xuôi của những kiếp người.

Ra lán thủ công lao động được một lúc, khi tôi ra chỗ nhà cầu để đi tiểu, thì anh Đồng từ dưới toán mộc cũng ra theo. Tôi có cảm tưởng như anh đã để ý chờ tôi từ sớm. Vừa đi tiểu anh vừa nhìn tôi dáng băn khoăn rồi nói như dặn dò:

– Hầu như tất cả đồng phạm ở đây không ai biết rõ về sự việc của tôi. Nhưng tôi đã thổ lộ với anh, chỉ vì tôi tin chắc, anh là người có ý thức, có tâm hồn, không làm thiệt hại gì đến tôi về sau.

Khẽ đặt tay lên vai Đồng, tôi nói giọng thân tình khắng khít:

– Cám ơn anh, chắc rằng lòng tin tưởng của anh không sai đâu.

Buổi trưa, toán và trại đang ồn ào, rối rít chia cơm canh ở sân thì một tốp đến gần chục người buổi sáng đi gặp thân nhân và nhận quà tiếp tế, từ ngoài cổng trại đi vào, làm mọi người đều ngoái lại nhìn ra. Phía bên ngoài cổng trại. Tên cán bộ Cẩn trực trại và tên Tân trật tự đang lúi húi vuốt, nắn từng anh, và những gói quà tiếp tế trước khi cho vào trại. Mỗi người, tay xách chiếc túi vải con, mặt anh nào cũng rầu rầu. Có anh mắt hãy còn đỏ hoe, hẳn vừa trải qua những giây phút xúc động não lòng. Tôi chợt thấy anh Đồng đứng trong một góc khuất phía cuối hội trường. Mặt anh đờ đẫn chảy dài, cũng đang nhìn ra phía cổng. Tôi bước lên, tiến lên chỗ anh đứng. Gần 1 phút đứng bên anh, nhưng anh vẫn bần thần như xuất hồn, để rồi anh phải bàng hoàng giật mình khi thấy tôi đứng ngay bên cạnh. Để lấp cái ngỡ ngàng, ngượng ngập của anh, đưa hiệu mắt nhìn ra đám người đang xách những gói đồ tiếp tế tôi hỏi:

– Hàng năm, mới gặp gia đình nhận quà tiếp tế một lần, sao chỉ có một túi con vậy?

Anh quay lại, giọng rời rạc,heo hút:

– Anh tính đã 14 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa rồi. Gia đình nào cũng kiệt quệ, phải chạy ăn từng ngày. Những năm đầu, do tình thương yêu máu mủ nồng nàn, gắn bó giữa người thân yêu ruột thịt. Còn vài tháng hay 1 năm tiếp tế một lần. Sau dần dần, nhiều gia đình đành bỏ luôn. Nhất là người thân lại phải chuyển lên núi rừng xa xôi như thế này nữa. Vả lại, khi kinh tế gia đình khánh kiệt dần thì tình nghĩa cũng tàn rụi theo. Mặc dù anh nhìn thấy đấy, những đồ tiếp tế quanh quẩn chung chung thường là một ký đường cát, hoặc đường phên, ít muối vừng, ít bánh mì khô hoặc mấy con cá hay tôm khô. Một hai cái bánh chưng, đôi gói thuốc lá hay thuốc lào. Tất cả chừng 4 – 5 ký là nhiều.

Buổi chiều khi toán đi làm về, anh Nguyễn Huy Lân, buồng trưởng đứng ở giữa nhà, tay cầm một tờ giấy nói to:

– Như thường lệ hàng năm.Các anh em quân, cán tập kết hãy ghi tên vào danh sách này để chiều nay tôi nộp cán bộ giáo dục.

Trong khi anh Phạm Tấn Tích đến nhận tờ giấy từ tay anh Lân; tôi hỏi Phan Thanh Vân đang ngồi bên cạnh:

– Tại sao làm danh sách quân, cán tập kết để làm gì?

Vân vừa lục đục lấy túi bát đĩa ở trên kệ vừa thủng thẳng trả lời:

– Những anh cán bộ hay bộ đội tập kết từ trong Nam ra Bắc năm 1954 theo hội nghị Genève. Bây giờ bị bắt vì nhiều tội khác nhau như: xét lại, hủ hóa, ương ngạnh, chống đối hay phản tuyên truyền v.v…Cứ cuối năm, gần Tết thì được mời riêng ra, để cán bộ nói chuyện.

Tôi chưa hiểu trọn ý của Vân nói, nên cũng cầm rổ, đĩa ra ngoài sân theo Vân để lấy cơm và hỏi tiếp:

– Mục đích, gọi họ ra như vậy để làm gì? Và có được ăn uống gì không?

Vân quay lại cười và nói nhẹ như thì thầm:

– Chỉ được uống nước trà và hút thuốc lá. Của đâu mà ăn!

Mục đích để động viên tinh thần, làm khỏa lấp nỗi nhớ nhà của họ mà thôi. Tuy vậy, hàng năm họ được đặc biệt thêm mỗi người một chiếc bánh chưng của trại.

Thấy nói đến bánh chưng của trại. Hơi thắc mắc nên tôi hỏi tiếp:

– Bánh chưng của trại là tiêu chuẩn chung của phạm nhân sao lại phát thêm cho họ? Sao không là bánh chưng của ban giám thị?

Vân kéo tôi lùi xa chỗ đám chia cơm, lấm lét nói nhỏ:

– Năm ngoái đã có 2 người đi cùm chỉ vì thắc mắc về bánh chưng của quân, cán như Bình.

Rồi Vân dặn dò:

– Đừng đem ý kiến này nói với ai, nhớ đấy!

Tôi hiểu rằng Vân đã thân tình với tôi hơn, nên lại hỏi tiếp:

– Quân cán ở trại này có đông không?

Vân hơi cau mày như để nhẩm tính:

– Buồng mình 8 người, toàn phân trại E này khoảng 22 – 23 người.

Cơm đã chia xong, nên tôi trở về phía mâm cơm. Sáng hôm sau, trời rét lạnh, hanh khô. Ánh nắng dịu ngọt làm vàng ửng những ngọn nứa già, cao lêu nghêu phía cuối hội trường. Góc phương trời phía Nam, vài vạt mây trắng hồng nằm gác dài trên rừng nứa xa xa. Đất trời như muốn báo cho nhân thế, nàng Xuân sắp về. Toàn trại vừa ồn ào, nhộn nhịp ngoài sân chia sắn sáng xong. Đây đó, rải rác chỗ từng tụm, chỗ dăm ba người đang ngồi nhai vội vàng mấy đoạn sắn luộc để kịp giờ đi lao động của một ngày. Tôi ngồi ghế phía đầu chiếc ghế dài bên cạnh anh Đồng ở hội trường. Vừa nhai sắn, mắt tôi dõi nhìn hai con chim sẻ đang đứng dựa vào nhau, trên nóc nhà số một, cheo chéo phía trước mặt. Thỉnh thoảng chúng quay lại nhìn nhau, chí chóe chuyện trò. Nắng sớm, làm cho cánh và đầu chúng sáng hồng lên trên mầu trời xanh nhạt. Nhiều lúc cả 2 con, cánh chúng đều vung lên như giận dữ. Chúng lùi xa nhau ra, rồi lại tiến sát gần vào nhau, cùng nhìn xuống đám tù đang ngồi nhai sắn ở dưới sân.

Chẳng hiểu chúng là vợ chồng hay đang còn trong thời kỳ yêu nhau của buổi ban đầu? Nhưng tôi cứ nghĩ chúng chỉ là đôi bạn rủ nhau đi chơi sớm, nhân một ngày đẹp trời. Vì vậy dòng liên tưởng của tôi, đã đẩy tôi trở về một quãng đời ấu thơ rất xa xưa ở quê nhà. Khi ấy tôi khoảng độ 7 – 8 tuổi. Tôi có 2 người bạn rất thân cũng xấp xỉ tuổi tôi. Nhà chúng tôi rất gần nhau, và cùng ở phố huyện. Một cậu tên là Kim, bố mẹ nó mở hàng bán thịt chó duy nhất ở phố huyện, chỉ cách nhà tôi một cái chợ làng. Tôi nhớ nó nhiều nhất, vì mỗi lần đến bên, người nó toát ra một cái mùi khăn khẳn của thịt chó thui.

Một cậu nữa có cái tên rất là đặc biệt: Chũm Đế. Để mỗi khi tôi với Kim tức tên gọi là “Chũm Chọe” nó là con một ông Lý Cựu ở trong làng. Thế giới đối với chúng tôi lúc đó là phố huyện và xã hội, cuộc đời là chỉ gồm có 3 chúng tôi. Ngoài ra chúng tôi không hoặc chưa biết một chuyện gì khác của cuộc đời rộng lớn đầy phức tạp này.

Ôi thôi, khung cảnh ấy và giai đoạn tuổi đời này, chứng tôi có rất nhiều kỷ niệm không quên. Nhưng lúc này tôi chỉ nhớ nhất đến một việc khi nhìn đôi chim sẻ trên nóc nhà.

Một chuyện thật ngây thơ đến độ buồn cười. Chẳng hiểu do từ đâu và bắt đầu có từ bao giờ, để trở thành một quy định thế này giữa 3 chúng tôi: mỗi khi vì lý do nào đó tôi và Kim giận Chũm, không muốn chới với Chũm nữa. Sáng sớm, chúng tôi ra đống đá của lục lộ đang làm đường. Mỗi đứa lấy hai hòn đá bằng nắm tay, đến ngồi trước ngõ nhà thằng Chũm. Cứ đập hai hòn đá vào nhau: cạch cạch… hàng giờ. Như vậy là báo cho Chũm, chúng tôi không chơi với nó nữa. Vậy nếu có gặp nhau thì đừng hỏi han gì cả, chúng tôi sẽ không trả lời đâu.

Có khi một người lại giận cả hai người. Buổi sáng đến gõ đá trước nhà hai người. Nếu ngày sau còn giận tiếp thì lại đến đập đá nữa. Bởi vì nếu buổi sáng không đến đập đá, có nghĩa là đã hết giận rồi. Đôi khi cả 3 người đều giận nhau. Trường hợp này phải đi đập đá lung tung.

Một lần tôi không nhớ rõ là chuyện gì mà cả Kim lẫn Chũm đều giận tôi. Mỗi sáng dậy tôi đã nghe tiếng cành cạch phía ngoài đường. Trong nhà nhìn ra, cả Kim và Chũm đang ngồi đập đá liên hồi. Lòng tôi vừa buồn vừa tức. Buồn tức cả ngày, đêm đi ngủ hay cả lúc ăn cơm cũng hãy còn buồn.

Sáng hôm sau, tôi chờ mãi không thấy chúng nó đến đập đá nữa. Như vậy chúng nó đã hết giận tôi rồi. Nhưng tức vì chúng nó đã làm tôi buồn mất mấy ngày, nên tôi lại lấy đá đến nhà chúng để đập v.v…