Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 16 Oct 2023

Phỉnh phờ, dụ dỗ

Đặng Chí Bình

Bài 17

Đã từ mấy ngày nay, tôi vẫn nhớ một cậu có nét mặt trẻ măng, vẫn nhìn tôi bắng ánh mắt tràn đầy thiện cảm. Chính một lần cậu ta đã nhắc nhở tôi phải coi chừng Toàn. Qua Châu, tôi đã biết cậu ta cũng ở trong Nam và cùng ở trong toán biệt kích của Shè Khửu Sáng. Hiện nay, cậu ta ở toán 3 (xẻ), nằm trong góc, sàn trên phía trước. Tôi cũng hơi ngập ngừng khi định trèo lên thăm hỏi, chuyện trò với cậu ta. Chỉ vì, ngay ở toán mộc, còn nhiều người; họ hoặc tôi chưa dám tiếp xúc với nhau, huống chi cậu ta lại ở toán 3.

Nhưng từ bản tính thích tìm hiểu những điều mới lạ, lại cùng một buồng thăm hỏi thì có sao đâu. Nghĩ thế, tôi đã trèo lên sàn chỗ cậu ta. Thấy tôi nhô đầu lên, cậu ta vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, lại vừa mừng, vồn vã ân cần tiếp chuyện tôi.

Khi biết tên cậu là Hùng, Hoàng Mạnh Hùng, tôi chợt liên tưởng tới anh Hoàng Hùng, tiểu đoàn phó “một chiến sĩ của Điện Biên” năm xưa, đã dẫn đại đội của mình, cắm lá cờ đầu tiên lên nóc hầm của tướng De Castrie. Tôi đã nằm với anh ở buồng số 2, xà lim II của khách sạn Hilton Hà Nội. Một thoáng chạnh lòng, ngậm ngùi nghĩ đến anh. Chẳng biết anh còn sống hay đã chết, trong cái đêm oan nghiệt của đời anh?

Tôi còn đang ngỡ ngàng khi biết Hoàng Mạnh Hùng là người Thổ, dân tộc thiểu số, mới có 23 tuổi đời mà đã bị bắt 3 năm rồi, thì đã thấy Shè Khửu Sáng từ sàn dưới trèo lên. Sau khi ngồi yên chỗ, Sáng nói như thì thầm:

– Khi biết anh cũng ở trong Nam ra, chúng em đã nhiều lần muốn đến thăm anh mà chưa dám.

Tôi cứ nhìn con mắt của cậu Sáng. Con mắt trái hoằm sâu vào, một dòng nước nhờn trắng đục như rỉ, đang sùi ra một cục. Mặt cậu thật hiền hòa, toát ra một nét chất phác của tuổi đời 26. Rồi tôi lại nhìn Hùng, nước da trắng trẻo, mặt như còn hơi sữa. Lòng tôi dâng lên niềm dạt dào mến thương các cậu. Một sự gần gũi ân tình anh em, chiến hữu cùng trong một cảnh ngộ đã sưởi ấm hồn nhau.

Do buổi tối này, anh em bên nhau thì thầm, nhỏ to trò chuyện, tôi đã biết sơ lược về toán của các cậu như sau:

Toán gồm tất cả 7 người. Vào lúc 2 giờ, một đêm cuối tháng 4/1965, toán đã nhẩy xuống một vùng rừng già thuộc tỉnh Cao Bằng. Toán trưởng là Nông Quốc Hải, 26 tuổi (1965) người dân tộc Thổ. Toán có nhiệm vụ lúc đầu là bắt mối, liên lạc với địa phương, gây một cơ sở đầu cầu cho những toán kế tiếp. Sau đó, thâu tập một số tin tức tình báo thuộc địa bàn hoạt động. Nhưng khi toán nhẩy xuống điểm đã được quy định, chỉ 2 giờ sau đã bị bao vây. Trong lúc đêm tối, hỗn loạn chiến đấu, người chết, người bị thuơng tán loạn chẳng ai biết rõ về ai. Cho tới khi bị bắt về trại giam thì chỉ có 5 người. Trong số đó có Nông Quốc Hải, toán trưởng bị đạn xuyên qua đùi, nhưng không gẫy xương. Shè Khửu Sáng bị một viên đạn lồi hẳn con ngươi ra ngoài. Còn 2 người nữa, không biết rõ là mất tích hay bị chết, cho đến nay (1968) chưa hề nghe tin tức gì về họ cả.

Năm người bị bắt, sau hơn một năm bị hành hạ khai thác ở Cao Bằng, cũng chẳng được đưa ra tòa xử mà bị nhận lệnh tập trung cải tạo, rồi chuyển về trại E này. Hiện nay cả 5 người đều ở buồng II. Hai người ở toán xẻ gỗ (toán 3) là Nông Quốc Hải, toán trưởng, 29 tuổi (1968); Hoàng Mạnh Hùng.

Ba người ở toán 2 (mộc) là: Shè Khửu Sáng – 26 tuổi, người Nhắng. Nguyễn Văn Châu – 25 tuổi, người Kinh; La Văn Thịnh – 23 tuổi, người Thổ.

Tất cả 7 cậu đều ở Tùng Nghĩa, Lâm Đồng. Khi các cậu được tuyển mộ vào ngành biệt kích, tuổi đời đều trên dưới 20. Trước đây, đôi lúc tôi cũng băn khoăn, nhớ khi bị bắt tuổi đời tôi mới 24, nhưng bây giờ nhìn về toán biệt kích này, tôi càng không khỏi bùi ngùi, khi vào tù các cậu chỉ mới ở tuổi đôi mươi. Câu chuyện của các cậu, dù tôi chưa biết được tỉ mỉ, chi tiết, nhưng cứ chập chờn len lỏi vào hồn tôi lúc rõ, lúc mờ trong giấc ngủ muộn.

Sáng hôm sau, thứ Hai. Điểm xong, khi ra khỏi cửa buồng, tôi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, khi nhìn thấy sương mù. Chưa bao giờ tôi thấy nhiều sương mù như vậy. Cả một bầu trời trắng đục, ngay cái hội trường chỉ cách gần 2 chục mét trước mặt mà cũng mờ mờ trong sương. Nhìn xuống phía dưới sân trại, những bóng người nhấp nhô, ngược xuôi thấp thoáng, di chuyển như trong một đám khói dầy. Tôi vừa chạy trong sương xuống phía giếng nước, vừa ngẫm nghĩ: chẳng biết ở những miền rừng núi thường có sương mù như thế, hay chỉ trong khu vực Hoàng Liên Sơn này?

Lúc tôi chạy trở về gần ngang buồng, cứ nhìn những bóng người thấp thoáng trong sương mờ, hồn tôi lại lắc lư, bồng bềnh liên tưởng về một ngày xưa xa lắm. Khi ấy, tôi còn rất bé, nhìn một bức tranh địa ngục với những bóng ma, quỷ tội đồ, xiềng xích. Họ làm việc khổ hình cũng trong khói sương thuộc quyền của Diêm Vương. Mập mờ, thoáng thấy bóng anh Lân và Lý A Chén cùng một số người đang ồn ào bàn tán. Thì ra hôm nay, toán trang trọng cử tự giác Chén ra đồng, sang toán 5 lĩnh lá cải bắp già về bồi dưỡng cho toán.

Ngay từ hôm thứ Bẩy, anh Lân đã vận động với ông cán bộ toán, liên hệ với cán bộ toán 5; sau khi anh Lân đã đến riêng với anh Xuân Tảo, toán trưởng toán 5. Theo anh Lân, anh đã phải vận dụng hết khả năng ngoại giao, mở cả một chiến dịch chạy chọt hai, ba nơi. Phải nêu những thành tích sản xuất vượt bực của toán 2, nói sùi cả bọt mép v.v… Bởi vì, theo kế hoạch phân phối đã từ lâu của trại thì những lá già của các loại rau xanh, chỉ dành riêng cho bên khu chăn nuôi của cơ quan và trại giam mà thôi. Nếu toán 3 xin riêng được, thì toán khác cũng xin được. Như vậy, còn gì cho trại và cho chăn nuôi? Chưa hết, anh Lân lại còn phải lấy giấy giới thiệu của ông Kích, cán bộ toán để đến ông cán bộ nhà bếp xin 3 lạng muối nữa!

Một nguồn tin còn quan trọng gấp nhiều lần hơn tin bác Hồ trở lại thăm hang Pắc Pó. Nó làm cho khí thế lao động của toán 2 hôm nay, được nâng cao rõ rệt. Mặt anh nào cũng tươi rói, chào hỏi nhau, vồn vã khác thường.

Khi trò chuyện trong lúc kẻ khẩu hiệu với Lê Sơn sáng nay, tôi đã lựa lời hỏi về anh Khải bị đi kỷ luật tuần trước. Không ngờ, anh Khải còn một người bố nữa là Nguyễn Từ Hải, cũng đang ở toán 3 xẻ. Hai bố con cùng một tội phản tuyên truyền trong phong trào “trăm hoa đua nở” và “nhân dân giai phẩm”. Hai bố con cùng ở Hà Nội, anh Khải là con trai cả, 28 tuổi, chưa lập gia đình. Cả hai bố con đã từ gần 10 năm rồi với cái lệnh tập trung cải tạo 3 năm.

Nghe Lê Sơn nói như vậy, tự nhiên tôi muốn biết cái cảnh cùm kỷ luật ở trại ra sao nên hỏi anh. Lê Sơn đang cắm cúi, nắn nót kẻ một đường kỷ hà trên tấm khẩu hiệu:

Chiến dịch Đông Xuân: Bộ đội đổ máu nơi chiến trường. Nông dân đổ mồ hôi trên đồng ruộng.

Nghe thấy tôi hỏi. Anh đứng giật dậy, quay hẳn lại phía tôi sôi nổi:

– Bình chưa biết cái cùm ở đây đâu. Một tác phẩm vĩ đại của Hoàng Thanh.

Trong khi tôi mở to mắt, đăm đăm nhìn. Tay Lê Sơn đang cầm chiếc bút vẽ cứ hất vung ra, mỗi khi anh giằn giọng. Mặt anh còn toát ra sự uất hận nén đầy; làm cho Quý Cụt từ mãi trong góc nhà cũng quay ra nghe chuyện:

– Nó bằng 2 súc gỗ lim to tướng, đóng thành một cái hộp, mà mọi người gọi là “cái cùm hộp”. Đã bị cùm thì chân không còn nhúc nhích. Ai mà bị cùm chỉ một tuần hay nửa tháng, lúc được thả ra đều phải bò về buồng. Nhiều người đã bị thối chân ra vì cái loại cùm này rồi.

Thấy tôi cau mày, hơi vẻ bàng hoàng. Quý Cụt hất hàm về phía Lê Sơn, rồi cũng lên tiếng như thể thừa nhận:

– Lần trước, cách đây mấy tháng. Lê Sơn khỏe như thế, chỉ bị cùm gần một tháng, khi ra phải hai người giúp, khênh về buồng, người chỉ còn xương với da. Sơn, nó cũng mới lại người đấy!

Đến đây, mắt Quý sáng lên, môi dưới hơi dề xuống ngọ nguậy nói tiếp:

– Lê Sơn mới xoay được tiền để mua chuột bồi dưỡng, nếu người khác thì đừng hòng!

Tôi chặc lưỡi, càng tỏ vẻ trầm trồ. Lê Sơn lại gằn giọng phẫn uất:

– Thằng Hitler bây giờ có sống lại, cũng phải quỳ xuống vái tụi này là tổ sư!

Thấy Lê Sơn phát biểu mạnh quá, làm tôi cũng hơi khớp. Khớp về sự kiện Sơn đưa ra thì ít, mà vì ngỡ ngàng thấy không khí riêng tư của buồng vernie này khác hẳn với bên ngoài trại. Tôi liếc mãi nhìn khoảng cách dưới lán mộc với nhà vernie, rồi chuyển hướng câu chuyện:

– Thế Hoàng Thanh là ai?

– Rồi Bình sẽ gặp, ông ta là trung úy giám thị phân trại E này.

Quý vừa nói xong, thoáng thấy bóng Nguyễn Huy Lân từ dưới lán mộc đi lên, cả 3 người lại cúi xuống làm việc. Lên đến hè, nhìn tôi, Lân nghiêm nghị:

– Bình lên gặp ban giám thị!

Quý Cụt và Lê Sơn đều quay lại nhìn tôi đầy nét dò hỏi. Phần tôi, cũng bắt đầu lo lắng. Tôi chậm chạp đi theo anh Lân. Thấy Lân dẫn sang phía toán 3, đi sát lại, tôi hỏi khẽ:

– Ông Hoàng Thanh à?

Anh Lân chỉ lắc đầu, tôi chẳng hiểu là anh không biết, hay không muốn nói? Thái độ của anh Lân lạnh lùng, khác hẳn với sự cười cợt thân mật mọi khi. Anh dẫn tôi đến trước căn nhà con của cán bộ toán 3. Chỉ vào cánh cửa gỗ đang khép hờ, anh nói nhẹ:

– Bình vào trong ấy!

Nói rồi, anh trở về lán mộc ngay. Hơi đắn đo, rồi tôi bước lên những bậc đất, đến trước cánh cửa khép. Một giọng Bắc, ngai ngái miền Bắc Ninh rất nhẹ phía trong:

– Anh cứ đẩy cửa vào đi!

Một người chừng 50 tuổi, hơi nhỏ con, tóc đã muối tiêu, đặc biệt có cặp lông mày thật rậm; đã ngồi sẵn phía sau chiếc bàn con để mộc. Hai bên ve áo, có hai chiếc lon hình chữ nhật lệch đỏ chóe. Trên mỗi chiếc lon có 4 ngôi sao và một chiếc vạch mầu vàng ươm, phía dưới. Tôi bước vào, hơi nghiêng người tỏ vẻ chào ông ta. Hơi hất hàm ra phía cửa, rồi ông ta nhìn xuống chiếc ghế đẩu, đang để chơ vơ phía trước bàn:

– Đóng cửa lại, rồi ngồi đây!

Một giây im lặng, ông ta cất tiếng nhè nhẹ như chuyện trò thăm hỏi:

– Hơn một tuần nay, lên đây rồi, anh thấy khung cảnh trại thế nào? Anh phát biểu tôi nghe!

Qua giọng nói nhỏ nhẹ, nhất là đôi mắt của ông ta dìu dịu như le lói, chút ít tình người. Tuy vậy tôi vẫn dè dặt:

– Dạ, thưa ông, tôi thấy tinh thần lao động của mọi người rất hăng say, tích cực.

Ông ta gật gật đầu nhưng miệng lại hỏi:

– Ngoài vấn đề lao động ra, tôi muốn anh phát biểu về những lảnh vực khác.

– Thưa ông, tôi mới nhập trại nên chưa biết gì.

Tôi đã hơi hiểu ý ông ta muốn những cái gì rồi, nhưng tôi vẫn trả lời như trên. Có lẽ thấy tôi ngập ngừng dè dặt, ông ta bắt đầu, hơi gằn giọng:

– Tôi biết tư tưởng anh chưa ổn định. Anh cón nhiều hoang mang, giao động khi phải chuyển đến một nơi chưa biết.

Ngưng lại một lúc, thấy tôi vẫn cúi đầu ngồi yên, ông ta lại tiếp:

– Chính vì thế, lẽ ra tôi chưa muốn gặp anh. Nhưng một cái cây, mới đem trồng vào đất khác; nếu nó nghiêng, có khi rồi nó sẽ đổ gục; hoặc nó sẽ cứ nghiêng mãi. Tôi muốn cái cây ấy mọc thẳng đứng ngay từ đầu.

Ngồi nghe ông ta nói, tuy chưa biết rõ ý đồ, mục đích của ông ta gặp tôi để làm gì, trong lòng tôi cũng nhiều lần tự hỏi, tên này tuy là đại úy nhưng chưa biết y ở cương vị nào. Xem vẻ y rất mềm mỏng, muốn đi sâu vào tâm hồn của đối tượng. Lạt mềm thì buộc chặt, loại này càng phải cảnh giác, thận trọng khi tiếp xúc, quan hệ. Thực ra trong lòng tôi, vẫn luôn luôn mang sẵn một quả bom nổ chậm. Chưa thể nói là đã lấy được hết ngòi nổ ra. Tuy rằng sau gần 6 năm khai thác, cuối cùng chúng đã đưa tôi ra tòa xử án, Nhưng dưới chế độ cộng sản, thực tế đã cho mọi người đều hiểu: xử án xong không có nghĩa là vụ án đã kết thúc. Bởi vậy, từ chuyện Z5 Hoàng Đình Thọ, đến tài liệu “M” v.v…luôn luôn làm tôi phải ngấp nghé, phập phòng mỗi khi phải gặp một tên cán bộ lạ.

Tôi vẫn cúi đầu nhìn xuống mép bàn, để lòng chảy về những năm tháng cũ ở Hỏa Lò thì ông ta đằng hắng:

– Anh Bình, anh phát biểu ý kiến của anh đi! Anh hoang mang à?

Thấy ông ta nói vậy, để cho xuôi và hợp lý, tôi phát biểu:

– Thưa ông, tôi xin nói thành thật là trước khi đến trại này tôi có hoang mang, vì tôi chưa từng ở một trại giam xa xôi thế này. Nhưng sau năm, sáu ngày ở đây, qua những sinh hoạt ăn ngủ, lao động, tôi đã tin tưởng vào đường lối chính sách cải tạo, giáo dục của đảng và nhà nước. Tôi không còn hoang mang nữa.

Ông ta gật đầu rồi nói đều đều như nhắn nhủ, như nhắc nhở:

– Tôi tin vào cái nhìn sâu, sát của anh. Vì vậy anh phải thực hiện thật tốt 4 tiêu chuẩn cải tạo mà nhà nước đã đề ra. Trong đó không những anh phải phấn đấu lao động, cải tạo tư tưởng cho bản thân mà còn có trách nhiệm phải giúp đỡ mọi người khác cùng tiến bộ. Đó cũng là cách tích cực nhất, anh đã tự mở con đường cải tạo thênh thang cho chính anh. Ngoài ra, tổng quan tình hình của trại, thấy những vấn đề gì làm trở ngại cho bước đi lên, anh cứ mạnh bạo đề xuất sáng kiến. Tôi sẽ gặp anh sau! Ông ta vừa nói, vừa đứng dậy.

Sau khi chào ông ta, tôi đã quay đi ra đến cửa, thì ông ta đến bên, nói như thân tình:

– Bất cứ khi nào anh cần gặp tôi, hãy đề bạt với ông cán bộ toán.

Tôi phải chào y lần nữa và bước ra khỏi cửa. Trên đường về lán mộc, lòng tôi thấy nhè nhẹ vơi hẳn cái lắng lo khi sớm. Nhưng tôi cũng mờ mờ cảm thấy, ông ta muốn tôi làm một con chó săn cho ông ta. Cá to thì phải câu cần to; cá nhỏ thì câu cần nhỏ. Cá nào cũng câu, chỉ còn tùy thuộc vào từng con cá, có cắn câu hay không. Đó là chủ trương của những người cộng sản giam giữ tù.

Đành rằng, ngay trong 4 tiêu chuẩn cải tạo đã có câu: “phát hiện và tố giác mọi phần tử xấu chung quanh, từ lời nói cũng như hành động”. Nhưng tới đây, tôi cũng mới chỉ mơ hồ nhận thấy những phương pháp: ngăn cách, ly gián, hư thực, thực hư…; lấy cái đói khổ (cái dạ dầy) sự khích lệ, tâng bốc, phỉnh phờ, kết hợp với áp lực của vũ khí. Nhào lộn nhuần nhuyễn để tùy theo áp dụng với từng người, sao cho đạt mục đích tối hậu là mọi phạm nhân trong trại, sẽ yên định như những chiếc nêm cối xay lúa. Nghĩa là, không thể nhúc nhích, yên lành sống, ngoan ngoãn trong cảnh tù đày; như không có chuyện gì xảy ra cả. Còn nhiều điều, nhiều khâu, tôi chưa nhìn được rõ ràng. Phải đợi những ngày tới, qua những tình huống và sự việc cụ thể, bằng người thực, việc thực mới giúp tôi nhìn sáng tỏ vấn đề này hơn.

Khi về qua chỗ cầu bào của Lân, anh gật đầu gọi tôi lại. Anh nhìn tôi chằm chặp rồi ngập ngừng:

– Có chuyện gì thế?

Để khỏi phải dài dòng, tôi thủng thẳng:

– Ông ta hỏi cảm tưởng mấy ngày ở trại và một vài sự việc trong vụ án của tôi.

Tôi hỏi lại anh Lân, ông ta tên gì và làm việc ở đâu, thì được biết ông ta tên Chuân, Nguyễn Chuân, giám thị ở trại chính. Tôi sắp từ giã, thì anh Lân ghé gần tai nói nhỏ:

– Hãy cẩn thận thằng Quý Cụt. Trước đây nó tiến bộ lắm, tố cáo lung tung mọi người, nhưng kỳ này bớt rồi. Tuy vậy “cẩn tắc, vô ưu”.

Rời chỗ Lân để trở lên nhà vernie, tôi vừa đi vừa suy nghĩ: mấy người, trong năm ngày nay tôi hay chuyện trò, anh này bảo cảnh giác anh kia, như vậy người ta có thể nghi ngờ hết cả mọi người, kể cả tôi. Như thế là đúng như dụng ý của kẻ coi tù rồi! Tuy thế, chỉ có Lê Sơn thì chưa có một ai bảo tôi phải cảnh giác cả.

Lúc về đến nhà vernie, tôi cũng hỏi Lê Sơn và Quý Cụt như đã nói với anh Lân về chuyện gặp ông Chuân. Qua Lê Sơn, tôi còn được biết rõ hơn về Nguyễn Chuân. Giám thị của toàn trại Trung Ương số 1, gồm 5 phân trại là ông Toán, thiếu tá. Nhưng bí thư Đảng ủy lại là ông Chuân. Tuy chỉ là đại úy, nhưng quyết định mọi việc lớn của trại, đều do ông Chuân, đại diện của Đảng. Tôi cũng được biết là ông Chuân ít khi vào trại này và cũng năm thì, mười họa mới gặp phạm nhân mà thôi. Hơn một năm trước, có một lần ông ta vào gặp Vân và một lần gặp ông Hinh Mù, người mà đã một lần tôi trông thấy đang lần bước trên hè nhà số 1. Ông có thân hình to, cao như Lê Văn Kinh, ông chừng 55 tới 60 tuổi rồi.

Buổi trưa ở trong trại, sau bữa cơm ngô vội vàng, tôi đang nằm liu riu, mơ màng bên cạnh Vân để chờ giờ đi lao động buổi chiều, thì thoáng nghe tiếng rủng rẻng của chùm chìa khóa ở phía cửa, làm tôi mở choàng mắt ra. Tên Cẩn, trực trại và tên Phạm Huy Tân, trật tự đang đứng ở giữa nhà. Tên Cẩn đang chỉ chỏ lên sàn trên, phía trước của toán 3. Một bác chừng 50 tuổi ngoài, dáng hom hem, mảnh khảnh đang lúng túng cuộn chăn chiếu, lò rò trèo xuống. Tôi còn đang ngơ ngác, thì Vân cũng đã mở mắt rồi, nói khẽ:

– Ông Chương, Lê Tài Chương đi kỷ luật.

Hơi bàng hoàng, tôi hỏi lại Vân:

– Làm sao mà đi kỷ luật?

Vân vẫn nằm, nói nhỏ:

– Bình chưa hiểu được đâu, những người bị đi kỷ luật, chỉ đôi khi mọi người mới biết lý do. Còn thông thường chỉ có người nào bị đi, thì họ mới được biết mà thôi. Thế mà nhiều khi, ngay bản thân người phải đi kỷ luật, cũng không biết tại sao nữa. Thậm chí, như anh Đồng, hai tháng trước bị đi kỷ luật, cùm một tuần. Cho tới khi được tha, anh ta cũng chưa biết vì sao mà anh ta phải đi kỷ luật.

Nghe Vân nói thế, lòng tôi hoang mang cực độ. Vân nhìn thái độ của tôi một lúc, rồi anh vừa chùm chăn lên mặt, vừa nói:

– Tội tư tưởng, thì ai mà biết được!

Tôi nằm nhắm mắt, mà lòng ngổn ngang xôi động đầy vơi. Nỗi lắng lo về ngày mai, cứ dâng đầy, bủa kín hồn tôi. Óc tôi vất vưởng, chợt nhớ tới ông Chương. Phải rồi, ông Chương, chủ tịch đảng Tân Phong mà có lần Quý Cụt nói đến. Tôi vẫn có ý định đến gặp ông ta, để học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức. Thế mà bề bộn nhiều sự việc lan man, tôi đã quên khuấy không tìm dịp gặp ông ta.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 16 Oct 2023

Điệp vụ C47

Đặng Chí Bình

Bài 16

Buổi trưa nay, sau khi cơm nước xong, tuy không mưa nhưng vẫn không có mặt trời. Vẫn thỉnh thoảng có những đợt gió mạnh rào rào chui vào trong trại nên đã có nhiều người đi nằm đắp chăn. Hàng tuần lễ nay có gió mùa Đông Bắc nên tôi không tắm được, thấy ngứa ngáy, khó chịu. Tôi rủ Toàn xách gầu xuống dưới giếng, dù không tắm được thì cũng phải lau người.

Hai anh em dùng chiếc khăn vải nhúng nước, rồi cứ mặc quần áo, cho khăn ướt vào lau trong người. Thế mà hàm răng anh nào cũng đập vào nhau cành cạch. Còn quần áo, tuy cũng thấy dơ bẩn nhưng xin cho miễn, đợi có dịp nào cũng vào ngày Chủ Nhật mà trời lại nắng hãy hay. Hơn nữa, tôi với Vân đã có hẹn nhau trong lúc lao động xã hội chủ nghĩa, chiều nay sẽ ra hội trường nói chuyện. Khi tôi trở về đến buồng, tuy mới khoảng 2 giờ chiều nhưng nhiều người hãy còn nằm im trong chăn. Thấy Vân vẫn ngồi khoác chăn cuộn thuốc lá, tôi nói như đùa:

– Sao, Vân không tắm à?

Ngửng lên, ánh mắt của Vân như cười, nhỏ nhẻ:

– Tháng trước mình vừa tắm rồi!

Nói xong, Vân vừa đưa tôi điếu thuốc vừa hỏi lại:

– Bây giờ Bình có ngủ không? Mình ra hội trường nói chuyện cho thoải mái he?

Tuy tôi chỉ gật đầu, nhưng Vân cũng hiểu là tôi gật đầu cho ý sau, chứ không phải ý trước trong câu hỏi của Vân. Vì thế, Vân vội thu dọn lỉnh kỉnh những đồ nghề ra tiếp tục cuộn thuốc, vừa ngập ngừng, dè dặt hỏi tôi:

– Bình là công giáo à?

Nhìn Vân đăm đăm, tôi khẽ gật đầu nhưng mắt tôi như muốn hỏi lại “có sao không”? Nhưng Vân vẫn không có thái độ gì khác, vẫn cắm cúi cuộn thuốc. Sau vài câu chuyện không đâu, Vân nhìn tôi, ra dáng băn khoăn:

– Bình biết về tôi ra sao, và vì sao Bình lại biết?

Dù rằng đã trao đổi, chuyện trò với Vân trong mấy ngày qua chưa nhiều, chưa đủ. Rồi lại qua lời Toàn dặn dò phải coi chừng Phan Thanh Vân. Nhưng qua từng điệu bộ, dáng đi, cách nhìn, cách nói của Vân thể hiện trong khi chuyện trò, tôi vẫn cảm thấy Vân là người chân thành, dù anh vẫn còn ít nhiều dè dặt. Vả lại quan điểm của tôi: mình muốn người ta đối xử với mình ra sao thì mình hãy đối xử với người ta thế vậy, trước đã.. Vì vậy tôi đã chân thành nói thật hết, nội dung:

Từ một ngày Chủ Nhật 24/6/1962, tôi bị bắt vào Hỏa Lò, nhìn thấy Vân ngồi ở gốc cây bàng. Rồi khi còn ở trong Nam, một buổi nghe đài miền Bắc ở Cấp (Vũng Tầu) cho tới khi ra Hà Nội mua và đọc cuốn C47. Cũng như thời gian ở xà lim II, một buổi tối nghe Vân đọc lời kêu gọi anh em trong binh chủng không quân hãy lái máy bay vào vùng giải phóng v.v… Tóm lại, tôi đã nói hết những sự việc tôi đã biết về Vân.

Khi nghe tôi kể chuyện lại, ánh mắt của Vân đã giảm hẳn sự dè dặt, dọ dẫm, nhường cho sự gần gũi, thân mật, tin tưởng hơn. Tôi tin tưởng mãnh liệt rằng, sự thật bao giờ cũng có hồn, sẽ có sức truyền cảm mạnh đến người nghe. Cứ cần sự thật dủ cách nói của mình có kém, có lúng túng không diễn đạt hết được ý, nhưng rồi người nghe cũng tin mình.

Vân rất ngạc nhiên và băn khoăn không biết được rằng điệp vụ C47 của anh, cộng sản đã xuất bản thành sách. Băn khoăn vì Vân không biết cộng sản đã nói những gì về anh. Thấy Vân nóng nảy muốn biết một vài khía cạnh nói về Vân trong nội dung tập sách, nhất là khi Vân nghe tôi nói: hầu như cuốn sách đã tường thuật lại đầy đủ về phiên toà và nội dung vụ án mà còn có nhiều tấm ảnh tài liệu. Thậm chí chúng chụp cả bản khai cung của từng người như Vân, Phạm Văn Đăng (thợ máy), Đinh Như Khoa (gián điệp) v.v…

Một phần, cả tập sách điệp vụ C47 dầy gần 300 trang với bao nhiêu sự việc, lại nằm trong mục đích tuyên truyền, làm sao tôi nhớ và kể hết được. Phần khác, trong lòng tôi cũng nôn nóng. Tôi đã nghe đài cộng sản nói về Vân. Tôi cũng đã đọc sách của cộng sản nói về điệp vụ C47 của Phan Thanh Vân. Bây giờ do điều kiện và hoàn cảnh đặt, đưa tôi lại gặp Phan Thanh Vân. Vậy tôi muốn biết những tình tiết thực tế của sự việc, để so với những điều tôi đã đọc trên sách.

Vì vậy tôi đề nghị Vân: hãy kể lại sơ lược sự việc từ đầu, diễn tiến ra sao. Tùy theo đấy tôi sẽ có những câu hỏi, hoặc cho Vân biết là trong sách đã có sự khác biệt, khi cùng nói về một sự việc. Tay Vân đang quấn thuốc, như ngập ngừng, rời rạc. Mắt Vân lắng đọng đăm chiêu. Hẳn là Vân đang lần giở lại những trang đời nhiều mây gió, chồng chất những dáng hình, sự kiện trong hố sâu ngóc ngách của tâm tưởng. Anh hơi ngửng đầu lên. Mắt anh rõi nhìn về những ngọn nứa già đang lắc lư phía bên ngoài trại. Giọng anh chậm rãi đều đều với nội dung:

– Ngay từ hồi niên thiếu cắp sách tới trường, đôi khi tôi đã say mê đờ đẫn, nhìn theo những chiếc máy bay ì ầm, vi vút trên nền trời quê hương. Tôi đã có những ước mơ như một hoài bão: sau này tôi sẽ tập trung mọi nỗ lực để thực hiện một mục đích, là trở thành một phi công cho thỏa chí ngao du hồ hải.

Cuối cùng sau bao nhiêu những cố gắng miệt mài, tôi đã được tuyển mộ đi học lớp phi công ở Marrakech. Tôi tốt nghiệp, trở về nước với những lời ngợi khen là một phi công ưu tú của các huấn luyện viên người Pháp trong trường. Lúc này, thực sự tôi chẳng hề có một chính kiến, dù chỉ là khái niệm về chính trị, đối với quê hương dân tộc. Ngoài những giờ bay nhiệm vụ, cũng như tập tành, huấn luyện, tôi vẫn buông lỏng tâm hồn, đắm chìm vào những thú rong chơi; lả lướt với những hương sắc của cuộc đời. Thậm chí, với những bối cảnh đẩy đưa cho mãi tới khi tình nguyện nhận lái chuyến bay định mệnh này, tôi vẫn chưa ý thức được đầy đủ về cộng sản, cũng như mức độ hiểm nguy thực sự của chuyến bay. Một chuyến bay, một công tác nguy hiểm, đầy cam go, có thể một đi rồi sẽ…..không trở về.

Tâm tư tôi bảng lảng, lơ là nhìn chuyến đi như nhìn một khẩu hiệu, một tấm bảng ghi một chỗ; “nguy hiểm chết người”. Nhiều lúc tôi cũng cảm thấy đôi phút ớn lạnh, rùng rợn như đang nhìn thấy một người giết một người. Lòng vẫn mơ hồ lăng đăng, người bị giết đó không phải là mình. Rồi cứ tiến bước trên con đường mình đã chọn.

Tuy vậy, khi chuyến bay vượt qua vĩ tuyến 17, bắt đầu xâm nhập vào bầu trời của miền Bắc, dù còn ở ngoài khơi biển Đông, cả 9 người chúng tôi trên chuyến bay đều bắt đầu căng thẳng thần kinh. Thỉnh thoảng người này liếc đôi mắt lắng lo nhìn người kia, chứ không ai nói với ai một lời. Đôi lúc thân chiếc C47 rung giật lên. Dù đó chỉ là hiện tượng bình thường của những chuyến bay đêm, cũng làm cho bầu không khí ngột ngạt, nặng nề thêm. Tôi nhìn nết mặt đăm chiêu của anh Tiêu Huỳnh Yên, điều hành viên, đang ngồi giữa tôi và anh Thích, phi công phụ. Rồi tôi ngoái lại, nhìn Đăng, cơ khí viên cũng đang ngồi trên đống bao lô dụng cụ quân trang. Tay anh đang chống cằm dáng mỏi mệt, dựa lưng vào thành chiếc cửa thông lên buồng máy. Đăng cũng đang chầm chập nhìn tôi thì anh Yên cao giọng nhắc nhở: “đã sắp đến điểm chuẩn, quẹo trái, chếch 40 độ vào hướng đất liền”.

Tôi nhớ rõ. Khi máy bay vào sâu nội địa, ở độ cao ba ngàn thước, chỉ chừng 20 phút thôi. Bầu trời như bức màn đen, không một mảnh trăng sao, lúc đó khoảng một giờ 20 đêm. Đột nhiên tôi thấy nháng lên như ánh chớp mầu da cam, ngay trước mặt. Máy bay rung mạnh, không hề nghe thấy một tiếng nổ bay bất cứ một âm thanh gì, mắt tôi còn thoáng thấy anh Yên và anh Thích ôm chầm lấy nhau. Rồi tôi không còn biết gì nữa.

Mãi khi thấy lạnh run, tôi mở mắt ra, nhưng vẫn đen kịt. Người tưởng như vỡ nát ra, tôi không cử động được chân tay nữa. Hồn lãng đãng lửng lơ, tôi tưởng tôi đã chết rồi hay đang…chết. Sau đó, một lúc, tôi mới thấy đau nhừ khắp cả người, chỗ nào cũng đau. Tay chân tôi vẫn chưa hề cử động được. Tôi đã mở mắt ra nhiều lần, nhưng vẫn không nhìn thấy gì. Đầu tôi như có ai đang cầm chiếc gậy cứ đập cứ đập vào đều đều.

Nói tới đây thì Vân ngừng lại. Tôi nghĩ là Vân muốn lấy hơi, vì nói đã hơi dài. Nhưng khi tôi nhìn con mắt của Vân trắng bạch ra lơ láo như hãy còn toát ra nỗi kinh hoàng, hãi hùng của giây phút rùng rợn gần 7 năm xưa. Tôi không dám lên tiếng, tôn trọng cái phút xuất hồn của Vân. Tôi vẫn im lặng, đưa mắt nhìn mấy bông bách hợp đang đong đưa, chờ Vân tiếp tục.

Một lúc, rồi anh lại thẫn thờ nói tiếp, giọng nao nao, da diết:

– Tôi mê man, trong đầu như có một khoảng rỗng im lìm. Chẳng còn một ý niệm gì về thời gian, không gian, rồi tôi lại không biết gì nữa.

Tôi cũng chẳng biết là cho đến bao lâu. Mãi khi tai tôi chợt nghe văng vẳng trong gió lao xao, loáng thoáng có tiếng người. Chợt lờ mờ có ý niệm về chiếc C47 tôi đang lái đã bị bắn và tôi đã rơi xuống đất. Tôi lại mờ choàng mắt ra, lúc này đã nhìn lơ mơ thấy khung cảnh đồng ruộng. Đầu đau nhức như có người lấy dao nạo vào óc tôi. Tai tôi đã nghe rõ tiếng người hò hét xa xa. Một ý thức bừng dậy thành phản xạ của sự sống còn, ập đến như một đòn bẩy giúp tôi đã nhấc được đôi tay. Mắt tôi đã nhìn thấy mờ mờ mầu đỏ loang lổ của máu nhầy nhụa lẫn vào đất bùn. Cả một nửa người tôi đã ngập sâu dưới bùn. Tai vẫn nghe tiếng léo nhéo, quát tháo vẳng vào trong gió. Cố vùng vẫy, kéo người lên khỏi đám xình lầy, nhưng tôi bất lực. Tôi tưởng phải nằm chịu trận, phó mặc cho cuộc đời. Nhưng rồi, đột nhiên như có một nguồn sức mạnh ở đâu đến trợ giúp, tôi đã ngoi và rút cả người lên mặt ruộng. Mắt tôi đã nhìn thấy những đám cói lưa thưa và tôi đã hiểu đây là một cánh đồng cói. Những tiếng quát càng lúc càng gần, lẫn lộn của đàn ông, phụ nữ:

– Chỗ này có một cánh tay!

– Chỗ này có một chiếc giầy!

– Có đứa còn sống. Các đồng chí cẩn thận!

Tôi run người lên, nhìn về phía trái có một đám cói rậm, mọc cao cách xa tôi chừng hơn 10 mét. Tôi cố nhoài, cố lê, rồi tôi cũng chui được vào đám cói rậm ấy. Những tiếng người hò hét như đã gần bên tôi. Phần vì khắp người đau như dầnl; phần khác, quá khiếp sợ, óc tôi tê đi. Vả lại, còn bao nhiêu sức cuối cùng vì sự sống còn tôi đã dùng hết để bò vào tới đây. Cho nên khi đã nghe thấy cả những bước chân lội bì bõm, tôi cũng đành nằm im, bất động; không còn một hơi sức nào để tự bảo vệ nữa. Cho đến lúc họ đã quát tháo ầm ầm ngay bên tai mà tôi vẫn nằm như một xác chết. Họ hò nhau, túm lấy chân tôi, kéo ra khỏi lùm cói rậm.

Lúc này, trời đã sáng rõ. Bao nhiêu là người, đàn ông, đàn bà lố nhố vây quanh tôi. Súng ống, gậy gộc. Họ hầm hè như muốn nhai xương, ăn thịt tôi. Đau đớn, sức tàn, sợ hãi, tôi lại nhắm mắt lại. Những tiếng quát, tiếng chửi vẫn ập, ngoáy vào tai tôi:

– Nó hãy còn sống!

– Đập chết nó đi!

– Nó là biệt kích của Mỹ Diệm!

Có một tiếng quát to, dõng dạc như ra lệnh:

– Không ai được đánh chết nó. Hãy lấy cáng khênh nó về cơ quan!

Nghe Vân kể đến đây, mặt Vân vừa tỏ ra mệt, vừa buồn rười rượi. Hơn nữa, trời cũng đã chiều gần tàn, sắp đến giờ cơm, nên tôi khẽ đặt tay vào vai Vân, nói nhè nhẹ:

– Xin cảm ơn Vân, lòng tôi cũng xúc động, cảm thông với những giây phút kinh hoàng gần 7 năm xưa Vân đã trải qua. Còn một điều tôi muốn nói nữa: có lẽ đó là những hình ảnh hãi hùng, khiếp đảm lớn nhất, đã hằn sâu nét vào tâm hồn, nên Vân vẫn còn nhớ đầy đủ những chi tiết tỉ mĩ đáng ngưỡng mộ.

Vân nhìn tôi đầy thiện cảm, ánh lên mầu tin tưởng, tuy mắt Vân vẩn còn vướng vít một nỗi buồn mênh mông. Vân nhếch môi cười gượng gạo, nói nhát gừng:

– Những phút đầu và những ngày đầu thì vẫn cứ như in trong óc, nhưng những ngày tháng sau này thì tôi chẳng còn nhớ gì cả, ngoài những sự việc chính.

Phía buồng II, đã có một số các anh, các bác đem cân và bát, đĩa ra hè. Quay lại, tôi bảo Vân:

– Chắc cũng sắp kẻng cơm rồi! Ăn cơm xong, tối nay mình sẽ nói chuyện tiếp.

– Không được! Không tiện, để dịp khác, còn nhiều ngày.

Vân vừa lắc đầu, vừa nói, vừa đứng dậy mang túi thuốc lá về buồng. Tối nay, sau khi điểm xong, cửa buồng đã khóa, tiếng loa lại léo nhéo, rì rầm nhỏ to như mọi khi. Tôi đã hiểu, một tuần chỉ có mỗi ngày Chủ Nhật là không sinh hoạt buổi tối mà thôi. Tôi có ý định chờ cán bộ trực trại vào điểm xong sẽ hỏi tiếp Vân một số điều. Câu chuyện lúc chiều với Vân còn đang dang dở, nhưng đã thấy Vân chuẩn bị chăn đi nằm. Có thể câu chuyện lúc chiều đã gợi lại cho Vân nhiều nỗi niềm ngược xuôi, vơi đầy của cuộc đời. Vả lại, tôi chợt nhớ, ngay buổi chiều, khi còn ở hội trường Vân đã nói trước, không muốn nói những chuyện như vậy ở trong buồng.

Mùa Giáng Sinh ngày ấy!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Tháng Mười hai lại về! Đường phố Melbourne, (nơi tỵ nạn đời tui, xui làm sao, tấp vào; rồi mắc kẹt mấy mươi năm chưa tìm được đường về quê cũ), đã giăng đèn kết hoa, biểu cảm mùa vui của Giáng Sinh! Mùa bán buôn nhộn nhịp nhất trong năm!

Mùa Giáng Sinh với những món quà dưới gốc cây thông, đèn trong cửa sổ, thiệp Giáng sinh, bữa ăn tối đoàn tụ gia đình, bạn bè thân thiết… với gà Tây đút lò!

Bên Mỹ, bên Canada, tuyết Đông rơi lã chã trắng trời ngoài sân. Bên Úc, đang Hè, nên chỉ có tuyết rơi trên màn ảnh truyền hình… để cho mấy thằng Úc, gốc Ăng Lê, nhớ tới bà cố tổ của mình!

Con nít Úc treo vớ dưới cây thông trong phòng khách. Cháu nội tui, cũng Úc; nhưng Úc vàng mũi tẹt, cũng bắt chước theo… Làm ông Nội của tụi nó là tui, buộc lòng móc xỉa. Hu hu! Hao xu quá!

Lễ Giáng Sinh, không chỉ dành cho hàng tỉ người có đạo Thiên Chúa mà hầu như tất cả mọi người dù tôn giáo có khác, ai cũng đều gửi đến nhau lời chúc “Merry Christmas”! Chúc bạn một mùa Giáng sinh vui vẻ và hạnh phúc, khi lái xe qua mặt tui cái vù trên phố thị!

Giáng Sinh có thể là một mùa vui lớn với ai kia; chớ mấy thầy Phú lít của nước Úc lại buồn vì quá ư là bận rộn!

Nhà tù Úc chật chội vì tù nhân đông lúc nhúc; nên vịn vào thời điểm Giáng Sinh để đặc xá, mở cửa xả cảng, thả bớt, (mà không sợ dân nó càm ràm), cho cái đám bán trời không mời thiên lôi nầy được về nhà đoàn tụ gia đình!

Ra tù, ai hỏi sao lâu hỏng thấy cái “bản mặt” hè? Thì trả lời đi “holiday”, (bên Mỹ là “vacation”) mới về!

Đi holiday về và “bộng”… Cần gấp tiền xài; nên ngựa quen đường cũ!

Thằng nào lì lợm và bặm trợn thì vác búa vô mấy cây xăng, mấy tiệm bán rượu về đêm, đe dọa mấy anh Bảy Cà ri Chà đang đứng bán, để gom tiền, thuốc lá và rượu; dông về để ăn “reveillon” với bè đảng cướp.

Thằng nào nhát gan hơn thì rủ thêm một “đồng chí”, ăn cắp một chiếc xe, rồi de “đít” vô, đụng cái rầm, sập “cha” luôn cái cửa cuốn. Nhào vô, hốt đầy vài thùng mắt kiếng, loại đắt tiền (tổng cộng khoảng 300 ngàn đô Úc) như vừa xảy ra ở chợ Footscray nầy đó thôi! Xong dông trước khi lính tới…

Mắt kiếng mùa hè Úc nầy bán chạy lắm! Đem ra chợ Trời thứ Bảy ở Laverton! Bán nửa giá, mua một tặng một, là chúng sẽ có một mùa Giáng Sinh xa hoa như tỉ phú Donald Trump bên Mỹ vậy!

Đám hơi “bị” buồn thứ hai là Bưu điện Úc!

Trước cái thời email, facebook nầy, Giáng Sinh là mùa Bưu điện Úc hốt tiền, ôi vô thiên lủng, vì bán thiệp, bao thơ, tem cho thiên hạ gởi tùm lum tà la chúc mừng “Merry Christmas and Happy New Year”

Giờ thì thiên hạ chỉ chơi e-card, có kèm theo nhạc, bấm con chuột cái cốc là bay cái vù tới em yêu tận phương trời nào, dẫu xa lơ xa lắc, chỉ trong vòng tích tắc! Ôi người xưa của tui, em Mà rí à (Maria), hằng đã bao năm, tình cũ không rủ cũng nhớ… Mùa Giáng Sinh nào em cũng gởi lời “Merry Christmas” tới tui!

Cuối lời chúc, em không dám đề tên; vì sợ con Sư tử Hà Đông của tui ở nhà biết được là tui sẽ chết tức, chết tối; chết không kịp trối… vàng cây vàng miếng “diếm” ở đâu?

Em chỉ ký bằng ba chữ “XXX” nghĩa là “kiss, kiss và kiss”. “Hun, hun và hun!”

Tui, cũng lén con sư Tử Hà Đông, lịch sự gởi lại em xưa, trên Facebook, là “Merry Christmas” nhưng tới 6 chữ X nghĩa là hun em gấp đôi, tới 6 lần lận!

Bấm chuột gởi xong; soi gương xem dung nhan đó bây giờ ra sao? Thì thấy cái lỗ mũi của tui vẹo đeo, quặt hẳn qua một bên. Ai kêu chú mầy khoái hun cho lắm nhé!

Ôi lại nhớ xưa! Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời độ ấy, tui ở đường Hai Bà Trưng gần Nhà thờ Tân Định.

Nói không phải khoe với bà con chớ hồi nhỏ tui rất đẹp trai! Cỡ danh hài Tùng Lâm, vốn ở cuối cái hẻm, từ đường Đinh Công Tráng đâm ra đường Trần Văn Thạch gần rạp chiếu bóng Mô Đẹc, Tân Định.

Nhờ đẹp trai thấy “ớn chè đậu” như thế; nên tui mới bắp non mà nướng lửa lò; đố ai cò được con gà giò đó nhe? Con gà giò, (ghệ nhí), của tui ngày đó là nữ sinh chuyên mặc áo đầm màu hồng, trường Thiên Phước gần nhà thờ Tân Định.

Em học trường đạo tất nhiên là có đạo. Mùa Giáng sinh năm nào tui cũng tò tò, anh tan trường về; anh theo em về… dọc đường Hai Bà Trưng, cà rề cà rà xem người ta bán thiệp Giáng Sinh!

Chắc em cũng tính quen chơi; rồi sau tính “ưng” tui thiệt… Nên em chịu khó cắt nghĩa cho tui ý nghĩa ngày Giáng Sinh như thế nào?

Bởi theo lệ, cưới một người em xóm đạo là mình phải học đạo rồi theo đạo của em!

Thưa bà con tui có cái tật hơi ngồ ngộ, không giống ai, là: thầy cô dạy gì thì tui quên hết ráo. Nhưng mèo (cụt đuôi) hay vợ dạy cái gì là tui luôn ghi nhớ trong lòng… để mà cãi lại!

Hơn nửa thế kỷ rồi đó, mà lời dạy của em xưa về ý nghĩa của mùa Giáng Sinh vẫn còn vang vọng đâu đây.

Ngày ấy, em dắt tui vào sân nhà thờ Tân Định để xem hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng Chúa Hài Đồng, tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, tượng Ba Vua và một số thiên thần. Em cắt nghĩa rằng: “Tại Bethlehem, thuộc tỉnh Judea, nước Do Thái, dưới quyền thống trị của Đế quốc La Mã, Chúa sinh ra đời trong hang đá nơi máng lừa!

Chúa vừa giáng sinh thì xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy. Từ các vùng phía đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có Ba vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao dẫn đường để đến được thành Bethelem và mang theo ba món quà quý giá: vàng, trầm hương và mộc dược để bày tỏ sự thành kính của mình.

Đó anh thấy hông? Trên nóc hang đá có treo cái ngôi sao năm cánh đủ màu sắc sáng rực như ngọn hải đăng, dành cho những con chiên còn lạc bầy như anh, biết chỗ để trở về. Vì là con chiên, đi một mình nguy hiểm lắm!

Chúa phán: “Ta sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho con nào đau được mạnh.”

Và em trang trọng thêm rằng: “Tất cả chúng ta đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy. Nếu Chúa không đến cứu chúng ta, không người nào có thể tìm được đường về nhà Cha!”

Xong, tui dắt em ra quán cà phê Thu Hương, cách nhà thờ Tân Định chừng mười thước, để em uống chanh rum, có chút rượu rum cho bốc, hầu giữ giọng; vì em đêm nay, trong vai thiên thần, em được ca đoàn trưởng chọn làm lĩnh xướng!

Tui uống cà phê phin đen không đường, ra vẻ là người lớn, đời đắng thế nào cũng không có ngán, lim dim ngồi thả khói thuốc Capstan mù mịt như ống khói tàu!

Em ôn ca từ bằng cách hát nho nhỏ, đủ để tui… và cả quán cùng nghe. “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời/ Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa/ Trong hang Bethlehem ánh sáng tỏa lan tưng bừng/ Nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng/

Đàn hát réo rắt tiếng hát, xướng ca dư âm vang xa/ Đây Chúa Thiên tòa Giáng Sinh vì ta? Người hỡi hãy kịp bước tới, đến xem nơi hang Bethlehem / Ôi Chúa Giáng Sinh khó khăn thấp hèn?

Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn nhân trần/ Người đem ân phúc xuống cho muôn dân lầm than/ Nơi hang Bethlehem thiên thần xướng ca/ Thiên Chúa vinh danh chúng dân an hòa.

Ngày nay Thiên Chúa giáng sinh ra chốn gian trần/ Người đem ân phúc xuống cho muôn dân lầm than/ Nơi hang Bethlehem chiên lừa thở hơi/ Tan giá đêm đông ấm thân con người!”

Xong, em còn ngân nga rằng: “Sáng danh Thiên Chúa trên trời! Bình an dưới thế cho người thiện tâm!”

Nhưng vài năm sau mùa Lễ Giáng Sinh êm đềm năm ấy, tui vào lính và lên đường ra mặt trận. Thuộc lực lượng Tổng trừ bị, nên tiểu đoàn lội ra tuốt ngoài Quảng Trị, Thừa Thiên.

Cuộc chiến tranh càng lúc càng ác liệt. Đổ vỡ điêu tàn khắp nơi nơi. Ngay cả những ngôi giáo đường hòa bình, như nhà thờ Đức Mẹ La Vang, cũng cùng chung số phận!

“Con đã qua bao giáo đường đổ nát/ Duy chỉ còn ngơ ngác gác lầu chuông,

Chuông gọi hồn ai? chiều thôi óng ả/ Chúa gục đầu, nhỏ máu, khóc tang thương!”

Rồi tháng Ba gãy súng! Những cuộc di tản chiến thuật liên miên (mà không biết tại làm sao?!) Cuối cùng, tui về lại được Sài Gòn. Về lại cái đất Tân Định, đi lại con đường xưa, giờ trong cơn hoảng hốt! Tìm em nhưng không còn gặp em được nữa. Em đã theo bố mẹ, anh chị em di tản khỏi Sài Gòn, trên chiếc vận tải cơ C130, từ Phi trường Tân Sơn Nhứt bay thẳng tới Guam, chừng mười ngày trước khi miền Nam sụp đổ. Tui kẹt lại, bị bắt đi tù cải tạo!

Những đêm Giáng Sinh, bụng đói meo, nằm lạnh lẽo trong trại tù, đêm tui lại mơ về ngày cũ!

Tiếng nhạc Jingle Bells rộn rã! Hình ảnh Ông già Nô-en cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà, leo qua ống khói để bỏ quà vào những chiếc vớ treo lủng lẳng dưới cây thông Giáng Sinh chợt trở về trong tiềm thức!.

Tui cũng thầm mong ông già Noel ghé qua, hãy bỏ vào chiếc vớ tui treo dưới cành cây Giáng Sinh tưởng tượng trong tù, mối tình tui và em của những đêm Đông, nồng ấm yêu nhau ngày ấy.

Ra tù, về lại Sài Gòn, ngóng tin hoài từ bên Mỹ, nhưng em vẫn bặt tăm hơi! Nghe nói em đã có chồng. Mà chồng em chắc không bao giờ hài lòng… nếu biết vợ mình đã từng có một thời yêu thằng khác!

Nên vì lẽ đó em muốn chôn chặt tình tui vào mồ chôn dĩ vãng rồi chăng? Thôi phần số mà! Nên tui chẳng trách gì em!

“Nếu biết rằng em đã có chồng! Tui về lấy vợ thế là xong!

Vợ tui không đẹp bằng em lắm! Tui lấy cho tui đỡ lạnh lòng!”

Vâng! Tình tui đã đứt phim theo vận nước… buồn hắt hiu như thế đó!

Nên đã bao mùa Giáng Sinh về, thiên hạ ai vui thì cứ vui… Còn tui, tui buồn thì kệ Tía tui!

 đoàn xuân thu

melbourne

Mùa Giáng Sinh lưu lạc!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Nhà Thờ Tân Định Sài Gòn.

Thưa quý độc giả thân mến!

Lụi hụi là sắp hết một năm rồi! Cái lốc lịch ngày nào dày cui; giờ chỉ còn le hoe vài tấm. Tháng Chạp, mùa Giáng Sinh lại về, mùa đoàn tụ.

Nhưng nếu quý bà con nào có con cái đi làm ăn xa, xuyên tiểu bang hay phải ra tận nước ngoài, muốn tụi nó mùa Giáng Sinh nầy cả bọn ùa nhau về thăm cho mình đở nhớ mấy đứa cháu nội, ngoại… (mà mình lại móc bọc, nghèo không có tiền mua vé máy bay cho tụi nó) thì nên áp dụng cái ‘mánh’ nầy người viết học ‘lóm’ của người ta thấy hay hay nên ‘xì’ ra cho bà con mình bắt chước, cam đoan hiệu nghiệm 100%.

Một ông già Việt Nam gọi điện thoại cho thằng con trai tên Tèo trước lễ Giáng sinh một tuần: “Tía không muốn phá bĩnh ngày vui Giáng Sinh của vợ chồng con nhưng buộc lòng phải báo cho tụi con biết một tin động trời, động đất rằng: “Tía Má sẽ đưa nhau ra Tòa ly dị. Sống trong sự kèm kẹp dã man của Má con suốt 40 năm trời; giờ Tía thấy là quá đủ. Tía sẽ từ giả Má con mà đi theo tiếng gọi của tình yêu phía bên kia biễn.

Chốn ấy quê nhà! Quá đã!”

Tèo thảng thốt kêu lên: “Tía! Tía nói cái gì vậy?”

“Tía chịu hết nỗi rồi con ơi! Ghen tuông bậy bạ, ghen bóng; ghen gió! Đồ ăn thì sáng mì gói, trưa gói mì và chiều mì gói! Nói làm sao cho hết nỗi đắng cay chớ?! Tụi con có mang đôi giày của Tía đâu mà tụi con biết! Thử một lần đi, sẽ thấy nó chật và đau lắm! Đời con, may mắn, đẻ bọc điều, gặp con vợ dịu hiền, dễ chịu… dễ thương! Con đi nhậu không ai cản, con thỉnh thoảng cười tình với mấy em khác không ai rầy…Đời con giống như mang dép Nhựt thoải mái, ngón cái ngoáy đâu thì ngoáy… làm sao con hiểu cho đặng nỗi lòng của Tía. Hãy báo tin nầy cho em gái của con biết dùm Tía! Thôi Tía dứt áo đi đây!”

Một lúc sau, Tèo hét lên với Đẹt, em gái mình, trong điện thoại: “Đẹt ơi! Tía Má thôi nhau đấy” “Đâu có được nè! Em sẽ làm ra lẽ chuyện nầy mới được!”

Đẹt đang theo chồng nuôi trừu ở đảo Kangaroo, Nam Úc, bốc phôn gọi ngay về cho Tía! “Không được! Con và anh Tèo sẽ bay về ngay! Xin Tía, Má đừng manh động mà hư bột hư đường hết trơn hết trọi!”

Gác điện thoại lên, Tía Tèo híp mắt cười hí hí, nói với vợ mình: “Thấy ‘mánh’ của Khổng Minh Gia Cát Lượng chưa! Mùa Giáng Sinh nầy cả nhà đoàn tụ, vui hé! Chịu khó ra chợ mua một con gà Tây về đút lò cho mấy đứa cháu tui ăn! Tụi nó sẽ bay về ăn mừng Giáng Sinh với gia đình mà mình hỏng tốn cắc nào tiền vé máy bay cho chúng như năm rồi! (Hao quá!)”

Thưa quý độc giả thân mến!

Hồi mới qua, thôi không còn mơ công danh sự nghiệp gì nữa, cày như trâu, rán cái mua cái nhà thiệt bự cho con cái ở chung. Lúc tụi nó có vợ có chồng thì mình nhường phòng lại, de ra ‘garage’ mà ở. Vậy mà tụi nó đâu chịu, bồng túm nhau đi hết ráo! Hu hu! Giờ già cô đơn, nghỉ cày, nằm nhơi cỏ, dư được chút đỉnh tiền hưu, có người ta sợ chết hỏng hưởng được phước, bèn lẹ lẹ đi du lịch đó đây…kẻo không còn kịp nữa! Còn vợ chồng mình già, ở nhà hủ hỉ, rủ rỉ, rù rì rau cháo có nhau! Dư được cắc nào là lo mua quà Sinh Nhựt, quà Giáng Sinh cho con cháu nó vui! Thiệt lòng Mẹ bao la như biễn Thái Bình dạt dào. Biễn Thái Bình chứa toàn nước nó kêu dạt dào là phải lắm. Còn tình gia đình mình dạt dào là phải đào ra tiền mới được… bằng không thì…

Chuyện rằng: ‘Nội thấy năm nào mua quà Giáng Sinh cho một đám cháu mà phải là quà đúng ý, tụi nó mới hài lòng… Thiệt khó! Nên năm nay Nội quyết định rằng sẽ gởi cho mỗi đứa một tấm ngân phiếu.

Thiệp Giáng Sinh, Nội viết: “Chúc tụi con một mùa Giáng Sinh vui vẻ. Tái bút: Hãy tự mua quà cho mình nhé!”

Sau đó, ngạc nhiên thay, không nghe đứa nào gọi điện chúc mừng lại hay trả lời trả vốn gì ráo trọi?! Một hôm, sau Tết Tây, lục trong chồng sách vở, Nội hiểu tại sao rồi. Vì Nội chỉ gởi thiệp Giáng Sinh mà quên gởi đi những tấm ngân phiếu của mình cho chúng nó! Già rồi hay quên trước quên sau là vậy đó!

Còn bạc còn tiền còn đệ tử! Hết cơm hết gạo hết ông tôi! Đời là thế! Hỏng có ngân phiếu thì không Nội Ngoại gì cho nó mệt!

Nội đến cái đất nước nầy từ một vùng quê mà ‘Xứ nào như xứ Cạnh Đền. Muỗi kêu như sáo thổi; đỉa lội lền như bánh canh vậy!’ Chỉ có muỗi và đỉa, còn Ông Già Noel và Giáng Sinh làm sao có?! Thế nên ai bao năm từng lê gót nơi quê người, Nội vẫn còn cảm thấy: Giáng Sinh là khoảng thời gian rất lạ! Là lúc đám con nít ríu rít ngồi trước một cành cây thông đã chết… Rồi lấy kẹo bánh từ trong đôi vớ của mình ra mà nhấm nháp! Thiệt ở dơ hết biết nhe!

Nội cũng không tin có Ông Già Noel nào cho quà bánh gì đâu! Hôm qua, Nội thấy Ba Má tụi bây đi siêu thị mang kình kình về cả đống, rồi dấu trong tủ, chờ đến lúc nửa đêm ra treo trên một cành thông đèn nhấp nháy. Tốn điện cho Bà Nội bây la làng chói lói nhá!

Mùa Giáng Sinh là mùa chia sẻ giữa kẻ ăn không hết; người lần không ra, bây giờ đã bị thương mại hóa, là mùa làm ăn ì xèo của mấy thương vụ, năm chỉ có một lần hốt tiền thiên hạ! Tuy nhiên đi mua sắm xin đừng đi sớm quá như câu chuyện sau đây:

Gần tới Giáng Sinh, ông Tòa ngồi xử án nhưng trong lòng cũng hơi ‘bị’ vui vẻ vì không khí tưng bừng nhã nhạc, hỏi một bị cáo: “Nè! Bị cáo bị truy tố về tội gì?” “Dạ thưa quan Tòa! Tội đi sắm Giáng Sinh hơi sớm ạ!” “Như vậy thì có tội gì đâu hè?! Nhưng bị cáo nói hơi sớm là nghĩa ra làm sao? “Là cửa hàng chưa mở cửa ạ!”

Đời đâu cũng vậy mà thôi! Có tiền là có quyền mua sắm…Mà muốn có tiền là phải cày sâu cuốc bẫm. Ở nước Úc nầy hay bất cứ nước nào trên thế giới, không có gì là miễn phí đâu em! Nên nhớ lấy điều nầy! Làm gì có chuyện tự nhiên trên trời rơi xuống?! Vậy mà có chú nầy lại tin chớ. Chuông cửa reo đêm Giáng Sinh tại ngôi nhà quan chức cở to ở Hà Nội. Ông già Noel xuất hiện. “Ta cho con ba điều ước!” “Dạ! Con muốn một chiếc Mercedes “xì-po” đời 2014. Một căn nhà có hồ bơi sau vườn, rộng như sân tơ nít, để cho bồ nhí của con tập lặn, tập lội. Và 10 triệu đô trong tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ! “OK! Nhưng cho ta hỏi con được bao nhiêu tuổi rồi?” “Dạ! Con được 40 cái xuân xanh” “Trời đất! Bốn chục tuổi đầu mà vẫn tin là có Ông Già Noel sao chú?”

Thưa quý độc giả thân mến!

Đó là chuyện Giáng Sinh của người Việt mến yêu mình; còn đây là chuyện Giáng Sinh của mấy thằng Tây! Người viết xin kể ra để quý độc giả thân mến mua vui mùa ‘lễ… lạc!’ Đọc, vui nhưng xin đừng có tin…như tin chuyện Ông Già Noel! Xin đừng ‘giành’ tin với đám con nít nhe bà con!

Mùa Giáng Sinh, đi siêu thị, thấy ai cũng có Ba, có Má mà mình hỏng có Ba; nên Tony hỏi:” Ai là Ba của con vậy hả Má?” “Ông Già Noel!” Sao là Ông Già Noel cho được?” “Ngay cả Má cũng chẳng rõ … Đến phát quà một lần rồi đi… mà không một lời giã biệt!” Ôi tình ta một thoáng mà thành thiên thu!

Ba là ông Già Noel cuối năm về phát quà cho Má chỉ một lần nên Tony đi học là phải lo toan một mình kẻo bị mấy thằng bự con trong lớp nó “bú li’ (bully) (ăn hiếp)

Tony đi học về méc Má: “Má ơi! Sam ở trường đánh con!” Má nói: “Được rồi! Để Má đi nói chuyện phải quấy với Ba Má nó!” “Mà Sam là đứa nào vậy?” “Dạ! Sam là Thầy giáo dạy toán ạ!”

Rồi chiều áp Lễ Giáng Sinh, Thầy giáo Sam đang đi bộ trên đường bổng để ý thấy Tony đang cố gắng nhón chân để bấm chuông căn nhà phía bên kia đường. Tony phải nhón chân nhưng vẫn không với tới nút chuông vì chủ nhà thiết kế cao quá mà chú lại lùn tịt. Sau khi thấy Tony rán mấy lần đều thất bại nên Thầy Sam cũng tội nghiệp cho đứa học trò nhỏ của mình nên vội băng ngang qua giúp đở; dùng tay mình bấm một hồi chuông dài kêu inh ỏi, rồi hỏi: “Được rồi! giờ chúng ta làm gì đây hởi Tony?” “Dạ! Giờ thì Thầy trò mình… chạy cho nó lẹ ạ!”

Thưa quý độc giả thân mến!

Mùa vui của thiên hạ, mình cũng muốn lấy đó làm vui ‘ké’… Chớ trong lòng người viết từ độ xa quê, mùa Giáng Sinh đã chết tự lâu rồi! Ôi buồn như một câu vọng cổ Út Trà Ôn!

Nhớ xưa, gần Giáng Sinh, ở Sài gòn, mỗi chiều tan học, hai anh em chở nhau trên chiếc xe đạp cà tàng từ Ngả Bảy Cộng Hòa qua bùng binh, xuôi đường Hồng Thập Tự tới ngả ba Hai Bà Trưng, quẹo trái để đổ dốc về Cầu Kiệu, Tân Định. Đạp xe đổ dốc rề rề qua Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi, phía trái là Nhà Thờ Tân Định với hồi chuông chiều óng ả.

Mùa Giáng Sinh, hang đá Chúa Hài Đồng, những cành thông, những thiệp Giáng Sinh bày bán dọc theo vỉa hè trước nhà thờ kéo dài cho đến Chợ Tân Định. Ôi còn đâu những ngày vui!

Tía Má ơi! Con đã mang những hồi chuông óng ả trong tâm thức buổi chiều quê nhà đến tận quê người. Quê người không còn nghe tiếng chuông giáo đường rơi rơi như ở quê mình nữa. Thiếu vắng cái gì đâu! Sao tha thiết nhớ!

Rồi lớn lên: Cuộc chiến cuốn con đi! ‘Con đã qua bao giáo đường đổ nát! Duy chỉ còn sót lại gác lầu chuông! Chuông gọi hồn ai chiều thôi óng ả! Chúa gục đầu nhỏ máu khóc tang thương!’

Mùa Giáng Sinh lại về thưa bà con cô bác!

Xin chúc mừng ‘Merry Christmas!’ Và chúng ta cùng hát bài Jingle Bells, tưởng tượng đến tuyết lả chả rơi trắng trời… mặc dù mùa Hè nước Úc nóng như cái lò bánh mì ở cái xóm Footscray!

Thưa bà con cô bác!

Mùa Giáng Sinh về, thêm một mùa lưu lạc, người viết lại nhớ những ngày se se lạnh ở Sài Gòn! Em quàng chiếc áo ấm làm duyên giữa Vương Cung Thánh Đường năm ấy! (Xin kiểm duyệt câu nầy kẻo Má nó hay!)

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Bài 20

Jimmy ngước nhìn tôi ngac. nhiên:
  – Chị Loan à? Nhưng chị ấy ở xa đây mà. Mình làm gì có tiền đi xe đò.
  – thì mình cuốc bộ.
   Jimmy nhìn tôi hoài nghi:
  – Anh có chắc là còn đi bộ nổỉ không?
   Tôi gật đầu:
  – Đươc.. Mình hết cách rồi. Có chết tao cũng không chết ở đây. Để anh nghỉ môt. chút rồi nếu mày ẵm con bé Ti thì anh có thể lết đươc..
  – Không sao , em bế nó cho.
   Chúng tôi rời nhà vào khoảng mười giờ sáng, băng ngang cổng chính. Vài cái đầu lấp ló trong nhà bác theo qua những khung cưả sổ. Cơn tê bạị ở phần dưới cuả tôi đã dần dần tan, nhường chỗ cho cái đau nhọn hoắt như có những móng tay dàì thoc sâu vào lưng tôi mỗi khi tôi bước. Jimmy cõng bé Ti trên lưng, cũng đang lê phía trước tôi vài bước, con Lu đi bên canh.. Lâu lâu nó và con Lu quay laị dòm chừng tôi, bốn con mắt tròn xoe, đen thuì.
   Khi chúng tôi ra tới ngã rẽ đầu tiên thì Jimmy ngừng laị. Khuôn mặt đầy vẻ lo âu:
  – Anh có biết lối đến nhà chị ấy không?
   Tôi đoan chắc với nó
  – Dĩ nhiên rồi! Không khó lắm đâu. Ra tới quốc lộ môt. mình cứ đi thẳng miết là tới chợ. Mày còn nhớ cái chợ ấy không? Nhà chị Loan không cách xa đấy lắm  đâu.
   Nó hỏi:
  – Nhà ấy là nhà mình hồi trước, phải không? 
   Tôi sửa lại:
  – Bây giờ là nhà cuả người ta rồi. Đừng nói như thế trước măt. chị ấy, kẻo chị buồn.
   Trời càng về trưa càng nóng. Khi chúng tôi đặt chân lên quốc lộ thì nhưạ dường đã bốc hơi lên ngùn ngụt và chẩy nhão ra, dính vào dép cuả chúng tôi như có keo dán. Bầu không khí nóng làm cho quang cảnh trước mắt chúng tôi như rung rinh mờ mit.. Phía trước măt, bên kia đường là những cánh đồng nối daì nhau đến mênh mông vô tân.. Con đường quốc lộ cũng chaỵ daì cho đến khi mờ đi thành môt. cái nấm nhoè ở cuối tầm mắt. Sự tĩnh mich. cuả cuả muà hè bao trùm lên măt. đất như môt. tấm mền vô hình bốc lên môt. muì khét let. cuả cao su bị cháy. Jimmy nói nhỏ với tôi:
  – Anh có chắc là mình phaỉ đi như vâỵ không? Còn bao xa nữa, anh Kiên?
  – Tao không biết, có thể độ năm hay sáu cây số nữa. Nếu mình muốn có cái ăn thì phaỉ đi tìm chị Loan. Trừ phi mày có ý kiến nào hay hơn.
   Chân tôi vẫn bước tới và biết rằng nó sẽ đi theo tôi. 
   Rồi tới môt. lúc , tôi không còn biết mình đã đi đươc. bao xa và phải đi trong bao lâu nữa, chỉ có một điều mà tôi thấy rõ là mình đã đi quá xa để có thể quay trở lại. Đằng trước, chẳng có một dấu hiêụ nào cho cuộc hành trình này sẽ có lúc chấm dứt. Tôi cứ tiếp tục bước vì sợ rằng nếu chúng tôi ngừng laị để nghỉ ngơi thì sẽ chẳng còn hơi sức đâu mà tiếp tục đi nữa.
   Cổ họng tôi khô cháy. Đầu lưỡi ngọ nguâỵ như một con cá ở trong mồm. Bên cạnh tôi , thằng em tôi lếch thếch trên đường nhưạ, cõng theo em bé Ti trên lưng, tay bé kéo chiếc gối bẩn thỉu lõng thõng trên măt. đường đầy buị bậm? Môi cuả chúng nó cũng bắt đầu rộp lên. Cuối cùng, nó dừng laị, đứng ỳ ở ngay giữa lộ. Tôi nhìn ra xung quanh, mơ hồ thấy chúng tôi hoàn toàn lac. lõng cô đơn trên con đường hoang vắng. Không thấy có lấy một chiếc xe , một bóng người, chỉ có chúng tôi giữa cái mênh mông cuả đồng luá. Phía trước vài bước, con chó cuả Jimmy quay laị dòm chừng chúng tôi, cái lưỡi đỏ ké cuả nó thòng xuống một bên mép đang sùi bọt.. Jimmy đặt em bé xuống đất. Bé Ti nhìn chúng tôi rồi oà lên khóc. Cơ thể nó bốc lên một mùi tanh tưởi như cá ươn. Thằng em tôi lắc đầu:
  – Em hết đi nổi rồi anh Kiên, em cần phải kiếm cái gì để uống cho đỡ khát.
   Tôi quát lên:
  – Cứ đi đi. Mình sẽ uống khi nào tới nơi. Không thể ngừng ngay bây giờ đươc..
   Nó chẳng nghe lời tôi mà nhìn quanh coi có cái bóng mát nào để ngồi nghỉ. Còn em gái tôi thì gào lên to hơn, hai chân dãy đành đạch..
   Tôi quơ lấy thân mình tong teo cuả nó rồi hét lên:
  – Nín ! Có câm môm` đi không. Để cho tao được yên. Tao đâu có mắc nợ gì mà mày báo tao? Tao chẳng có bổn phận phải lo cái ăn cho mày. Tao chẳng có bổn phận phải trông nom mày. Tao chẳng phaỉ làm cái quái gì hết. Nghe rõ chưa? mày muốn chết hả? Bộ mày muốn thế hả?
   Tôi cứ hét lên như thế mà không thể ngừng đươc.. Măt. tôi dí sát vào mặt nó, tay tôi đăt. lên cổ cuả nó:
  – Để tao giúp mày môt. tay. Để tao giúp mày thoát khoỉ caí nỗi khốn khổ này.
   Rồi tôi tát vào măt. nó liên hồi, giằng tóc nó, keó lê nó vòng quanh và cuối cùng tôi dằn nó úp mặt xuống giữa đường lộ. Giong. cuả tôi khản đi khi tay tôi xiết chăt. lấy cái cổ gầy đét cuả nó:
  – Mày nói gì, tao không nghe thấy! Mày có muốn chết không?
   Bé Ti chớp hai con mắt, săc. suạ, cố gỡ mấy ngón tay siết chặt cứng cuả tôi ra khỏi cổ nó, cái gối vẫn còn bám trên tay. Nó gào lên:
  – Đừng. Đừng.
  – Vâỵ mày có chiụ đi hay không? Hay là tao bỏ mặc. mày ở đây cho xe nó cán.
   Mắt nó trắng dã, nhìn dán vào tôi. Tôi buông nó ra, loạng choạng lui lại vài bước. Bé Ti vẫn nằm ở giữa đường. Trong lòng tôi, sự căm ghét con bé dâng lên mãnh liêt.. Thâm tâm tôi cầu mong cho cái xe nào cán lên nó cho rồi. Nó mà chết thì tôi sẽ được thảnh thơi.
   Từ trên con lộ trống trải, em gái tôi bò laị phía tôi bằng chân tay xương xẩu cuả nó. Mặt nó lem luốc đầy nước mắt và buị bậm?. Nó van nài tôi bế nó. Kiệt sức, tôi ngồi bệt xuống cạnh em trai tôi và ngửa măt. lên trời thở dốc. Sau cùng thì Jimmy góp ý là nên tiếp tục cuôc. hành trình. Chúng tôi cố gượng đứng dâỵ một cách khó khăn, lòng ngần ngại vì phải rời bỏ chỗ có bóng mát, chúng tôi cùng tiến về phía trước, bé Ti đã chật vật đi theo sau, cách vài bước.
   Bỗng môt. ý tưởng chợt lóe trong đầu tôi. Tôi nói với Jimmy:
  – Mình xuống ruộng đi. Nếu người ta có trồng luá thì phải tưới nước. Vâỵ mình đi kiếm nước uống đi.
   Jimmy không nghe tôi nói. Nó đang nghiêng cái đầu, có vẻ như đang tập trung chú ý. Rồi nó quay lại tôi, hỏi:
  – Anh có nghe thấy gì không?
   Tôi hỏi:
  – Nghe thấy gì?
   Nó đăt. ngón tay lêm môi như bảo tôi yên lăng, rồi nói:
  – Nghe này!
   Đôt. nhiên tôi cũng nghe thấy. Từ phía trên một ngọn đồi, có tiếng rì rầm vẳng lại qua bầu không khí trống rỗng, nghe như tiếng ồn ào cuả một đám đông. Chúng tôi nhìn nhau mà không thốt lên một lời nào. Rồi với một hình ảnh cuả ngôi chợ hiện ra trong đầu, chúng tôi vừa chaỵ lên đồi vừa la hét ầm ĩ. Mở ra trước măt. chúng tôi, y như thể một trang chuyện thần tiên, là cái chợ trải dài xuống tận chân đồi. Phía sau chợ là tỉnh lỵ hiện ra sáng ngời dưới ánh mặt trời mầu cam, đẹp tuyệt vời!

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Bài 19

Đêm hôm ấy, sau bữa cơm, cả gia đình quây quần tại phòng ông bà ngoại tôi để nghe chị Loan kể về những chuyện đã xaỷ ra với chị trong thời gian gần đây. Mặc dầu đoàn thanh niên xung phong không phải là một ngành trong quân đội, nhưng chị Loan cũng được huấn luyện như kiểu nhà binh, từ cách tháo ráp súng ống đến các ứng dụng những chiến thuật và ngay cả học cách giết kẻ địch khi cần thiết. Tuy nhiên nhiệm vụ của chị là thanh lọc đất nước, từ bài trừ những tên cực đoan đến việc chống chủ nghĩa tư bản và trừng trị những kẻ bất hợp tác với chế độ mới.

Ba năm trời phục vụ, chị cho rằng mình đã chứng kiến những vụ việc hỗn độn. Đến kỳ triển han. công tác, chị đã từ chối đăng ký. Thời gian phục vụ của chị cũng đã khá dài, đủ để đảm bảo cho chị có được một vị trí tương đối dễ chịu. Khi chị kể xong, tôi lên tiếng hỏi:

– Chị sẽ ở lại với chúng em chứ?

Chị trả lời, nét mặt buồn bã:

– Không đâu, Kiên. Hôm nay chị tới là để từ gĩa mọi người.

Không ai có vẻ ngạc nhiên về điều này cả. Với sự ” tiến bộ CM ” của chị, việc liên hệ với những thành phần phản động như gia đình chúng tôi chỉ kéo trì chị xuống. Ông tôi hỏi:

– Vậy con sẽ đi đâu?

Chị thở hắt ra:

– Con sắp lấy chồng, bác Oai ạ.

Chị tránh ánh mắt của ông tôi và tiếp:

– Tuần sau là đám cưới rồi.

Ông tôi kêu lên:

– Con quyết định thế là hay lắm rôì. Bác rất vui mừng. Mà đứa nào có may mắn thế? Có phải con gặp nó trong đoàn Thanh Niên Xung Phong không? 

Chị Loan trả lời, giọng yếu ớt:

– Thưa bác, không phải ạ.

Chị thở dài, ngực ưỡn lên sau lớp đồng phục đã bạc mầu:

– Người ấy thì bác cũng đã biết rồi. Hồi trước anh làm vườn cho nhà ta.

Nụ cười tắt ngóm trên môi ông ngoại và ông chớp lia mắt như thể không tin ở tai mình :

– Là cái ông Trần ấy à?

– Dạ vâng!

Ông tôi quay đi hai tay bưng lấy mặt. Chị Loan cố nói cho hết cái tin lấy chồng của mình:

– Anh ấy bốn mươi và chưa lập gia đình bao giờ. Theo tiêu chuẩn của xã hội mới thì anh ấy khá lắm đấy. Trong mấy năm vừa qua, ảnh đã tận tình săn sóc con. Khi con vào thanh niên xung phong, xa nhà, chính anh ấy đã tới thăm con thường xuyên, dù con di chuyển tới chỗ này chỗ kia. Ảnh đã chia sẻ với con những lúc con gặp khó khăn nhất. Và điều quan trọng nhất là anh đã hưá rằng không còn gây khó dễ gì đến bất cứ ai trong gia đình nhà ta nữa. Như thế, con đã cảm thấy con nợ ảnh bằng cả một cuộc đời của con rồi.

Ông tôi xuống giọng:

– Con đừng vì gia đình bác mà hủy hoại cuộc đời mình. Hắn ta không thể làm khó gia đình này được nữa đâu.

– Dĩ nhiên là không rồi, thưa bác. Nhưng con chọn anh ấy cũng là vì tương lai của con. Con muốn tìm một nơi an toàn và yên ổn để nương tựa. Nếu có vì sự an toàn của bác cũng chỉ là thêm thắt vào mà thôi. Con mong bác, cũng như tất cả mọi người hiểu được điều đó.

Ông tôi gật đầu:

– Con nghĩ cũng phải, bác hiểu, và bác nghĩ là con quyết định đúng. Bác mừng cho con, Loan ạ. Nếu con đến đây chỉ báo tin đó thì bác xin cầu chúc cho con được hạnh phúc. Còn nếu con tới đây vì những chuyện khác nữa, thì bác xin kiếu, vì bác thấy mệt rồi, tuổi già nó thế đấy.

Chị Loan nói với vẻ ngần ngại:

– Đúng ra thì cũng có chuyên khác nữa. Đây là vấn đề của chị Khuôn. Sau đám cưới, con sẽ dọn vô ở chung với anh Trần trong biệt thự họ Nguyễn. Anh ấy nghĩ rằng muốn được làm chủ căn nhà ấy phải lập gia đình và có con cái. Hy vọng một ngày nào đó hai bác và chị sẽ hiểu và tha thứ cho con. Nay thì mọi người đã biết chỗ ở của con, vậy bất cứ lúc nào có ai cần bất cứ điều gì, xin cứ tới tìm con. Đó là con nói ra tự đáy lòng, xin đừng từ chối.

Rồi chị quay sang tôi:

– Nhất là em đó, Kiên. Thỉnh thoảng em tới thăm chị nhé.

Cuối cùng thì mẹ tôi cũng lên tiếng:

– Chuyện giữa em và ông Trần chẳng phải là cái tin sửng sốt gì. Tôi đã thấy cái cách ông ta lăm le em từ nhiều năm nay rồi. Tôi biết là trước sau gì em cũng thuộc về ông ta, vấn đề chỉ còn là thời gian mà thôi.

Chị Loan kiếu từ và đi ra khỏi nhà. Đứng tựa vào khung cưả sổ, tôi nhìn chị trong bộ quân phục mầu xanh lao động. Chị vác chiếc ba lô lên vai rồi rẽ xuống đường phố.


Vài ngày sau đó, bà ngoại tôi phát hiện ra một vết sước ở bên gót chân bên phải. Bà tôi không biết tại sao lại có vết ấy. Mẹ tôi thì cho là bà bị cái cạnh sắc của đôi dép mà bà vẫn dùng đi trong nhà cứa phải. Vết sước không lành mà càng ngày càng lở loét to hơn.

Một buổi sáng sớm, tiếng ngoai rền rĩ đánh thức tôi dậy. Ngoại nằm trên giường, quây chung quanh là ông ngoại tôi, mẹ tôi và hai người anh chị họ. Tất cả đang quan sát chân của bà, bây giờ sưng vù lên nom như một con heo sữa quay và cũng bóng nhẫy như vậy. Lớp da chân bị phồng lên, căng quá mức, nom đỏ au và như muốn vỡ toang ra. Mẹ tôi dùng mũi dao chọc vào đó, hy vọng làm mủ chảy ra. Nhưng thay vì mủ lại có cả máu bầm lẫn lộn những sợi thịt rữa rỉ ra, giỏ từng giọt xuống cái khay bằng đồng để ở dưới giường. Mùi hôi thối xông lên tràn ngập không khí.

Chúng tôi đưa bà vào nhà thương lớn ở Nha Trang, tại đó, các bác sĩ cột chân bà bất động trên một cái băng ca đặc biệt có bánh xe trong lúc tiến hành thử nghiệm. Được vài ngày, vì gia đình tôi không có tiền trả phí tổn nhà thương, và cũng vì các bác sĩ không thể đồng ý với nhau về lý do đã khiến cho bà tôi đến nông nỗi này, bà tôi được cho về nhà với lời chẩn bệnh là bị ung thư.

Tại nhà, mẹ tôi đã nhờ tới một ông lang có tiếng trong thành phố. Sau một vài lần chữa trị, cơn sốt có dịu đi nhưng chỗ chân sưng vẫn chẳng thuyên giảm.

Trong khi đó, việc mua bán của mẹ tôi đã trở nên khó khăn hơn. Chiến thuật mới nhất của nhà nước để triệt tiêu việc tư nhân buôn bán ở miền nam là bằng cách ban giấy phép buôn bán, nhưng lại chỉ cấp cho một vài tổ hợp được lựa chọn. Còn những ai chưa được cấp giấy thì được khuyến khích ” tình nguyện ” bỏ nghề buôn bán. Để đảm bảo việc thực thi chính sách cho có hiệu lực, hằng ngày công an sục sạo khắp chợ để hỏi giấy phép của bạn hàng. Kẻ nào bị bắt gặp buôn bán mà không có giấy phép thì đều bị coi là bất hợp pháp và bị bắt lao động cải tạo trong vài tuần lễ.

Một hôm, ngay sau khi ông lang ra về và mẹ tôi đang thay băng cho chỗ đau của bà thì dì Đặng đến thăm. Giống như hoàn cảnh mẹ tôi, dì bị chính phủ ngược đãi cũng vì có lý lịch xấu. Gia tài dì chẳng còn gì ngoại trừ một vài bộ quần áo, một chỗ ở thuê chật hẹp đối diện với khu chợ và cái quá khứ vàng son của mình. Dì đi thẳng đến chỗ mẹ tôi mà không màng đến mùi hôi thối quá sức bay ra từ vết thương, nói:

– Khuôn à, nghe mình nói cái này nhé. Mình có cách cho chị và mình kiếm sống rồi.

Mẹ tôi trả lời:

– Nói đi, tôi đang nghe đây.

– Chị cũng biết là chúng mình không thể buôn bán chui. Sớm muộn rồi cũng bị công an nó tóm thôi. Tôi có giao thiệp với một vài người đã có giấy phép đàng hoàng. Họ cần có mối để Sài Gòn chuyển vải vóc và hàng hoá ra cho họ.

Mẹ tôi ngừng cuốn cái băng chung quanh mắt cá chân của bà tôi rồi hỏi:

– Nghĩa là sao? 

– Thì chúng mình vô Sài Gòn lấy hàng hóa chứ sao. 

Mẹ tôi quay đi.

– Mình làm được mà, Khuôn. Bây giờ hết chiến tranh rồi, đâu còn luật nào cấm mình đi đây đi đó nữa. Mình lại có thẻ chứng minh nhân dân. Chúng nó không còn bắt mình bê sổ hộ khẩu đi từ thành phố này qua thành phố kia nữa.

Dì Đặng ngừng một lúc để cho lời lẽ mình thêm thấm thía rồi tiếp:

– Vậy chị tính sao ? có đi Sài Gòn với tôi không?

Mẹ tôi lắc đầu. Dì tiếp:

– Thôi nào, Khuôn. Chị nghĩ tôi tính có đúng không?

– Tôi cũng chả biết nữa. Nhưng sao nghe phức tạp qúa. Ngoài ra, mẹ tôi đang ở trong tình trạng như thế này, chưa nói gì đến lũ nhỏ, chị thấy tôi đi làm sao được ? Rồi, còn ở phường, nếu họ không cho mình giấy thông hành thì mình đi làm sao đây?

Dì Đặng nắm lấy cổ tay mẹ tôi:

– Chị còn con đường nào khác không? Nếu chị không làm vụ này thì chẳng lẽ cứ tiếp tục sống cuộc sống bấp bênh theo kiểu buôn bán chui hoài này sao ? Hay là cứ ru rú trong nhà để cho chết đói cả đám hay sao? 

Mẹ tôi biết là mình đuối lý, nên hỏi:

– Vậy thì đi trong bao lâu? Và mình cần vốn khởi đầu là bao nhiêu?

– Tôi tính rằng vốn liếng cả hai chắc phải cần khoảng hai ngàn đồng, còn đi thì cũng mất năm ngày. Trừ tất cả chi phí, mỗi đứa cũng kiếm được ít nhất vài trăm đồng mỗi chuyến đi.

Mẹ tôi kêu lên nho nhỏ:

– Mỗi người phải cần tới một ngàn đồng kia à? Tôi làm gì ra có nhiều như vậy. Tôi biết đào ở đâu ra?

Dì Đặng trả lời thản nhiên:

– Hãy làm như tôi, bán đồ đạc đi. Ngày mốt mình nên khởi hành. Tôi muốn chị hứa một tiếng là sẽ đi cùng với tôi.

Ở phòng kế bên, em bé gái của tôi thức dậy từ giấc ngủ trưa và cất tiếng khóc. Đã hai tuổi rưỡi rồi mà cả thể xác cũng như tinh thần, nó chỉ như đứa bé lên một, mắc miú trong một thân hình bạc nhược và nhăn nhúm mà lúc nào cũng mọc đầy mụn đau đớn, nhất là ở đầu và cổ. Nó tập đi và tập nói cực kỳ khó khăn. Đa phần, nó chỉ muốn bò trên sàn nhà thay vì đi và khóc thay vì xin đồ ăn. Mặt nó nom già khằn mà giọng thì lại nhỏ xíu y như một con mèo con mới đẻ.

Tiếng khóc của em tôi làm cho mẹ tôi giật mình, ngưng việc chăm sóc vết thương của bà tôi và quát lên giận dữ:

– Kiên, bắt nó nín đi. Tao còn đang bận với dì Đặng đây này. 

Tôi bế em tôi lên và đung đưa nó trong khi nó cố bám chặt lấy cái gối rách ở trước ngực. Mặc dù đã gần mục và bốc mùi hôi thối vì rớt rãi của nó, nhưng cái gối vẫn là đồ chơi duy nhất của nó. Nằm trong lòng tôi, Bé Ti nhìn tôi ngây ngô với đôi mắt mầu nâu to, lồi, và cười với tôi bằng nụ cười chẳng có cái răng nào. Những răng sữa của nó đã rụng hết mà răng khôn thì chưa kịp mọc để thay thế.

Kế bên, mẹ tôi hỏi ý kiến bà Ngoại về đề nghị của dì Đặng. Tôi nghe thấy tiếng bà tôi yếu ớt góp ý:

– Mẹ nghĩ là con nên đi Sài Gòn. Đừng bận tâm gì đến cả nhà. Mẹ đã có ba trông nom, còn thằng Kiên sẽ săn sóc hai đứa nhỏ. Dù con có ở nhà thì cũng chẳng hơn được gì.

Hai ngày sau, với món tiền bán chiếc máy may, mẹ tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi. Bà dúi vào tay tôi tờ giấy năm mươi đồng. Bà đoán chắc với tôi số tiền này sẽ đủ cho cả nhà trong năm ngày sắp tới, rồi bà từ biệt mọi người để lên đường.

Cùng ngày hôm đó, ở trường tôi có buổi diễn hành đánh dấu ngày cuối cùng của học kỳ. Dẫn đầu toán diễn hành là Đoàn Thiếu niên Cộng sản Hồ Chí Minh, phân biệt với những học sinh khác bằng chiếc khăn quàng quanh cổ. Anh chàng phó trưởng lớp của tôi đã đi tiên phong, hãnh diện vói cây cờ đu đưa trên tay. Họ đi diễu qua các đường phố, hát bài quốc ca và hô những khẩu hiệu tuyên truyền Công sản trước đám đông nồng nhiệt.

Tôi ở lại trong lớp để tránh buổi hội lễ. Sợ tôi buồn, Duy ở lại với tôi. Nó đứng cạnh cửa sổ xem đoàn diễn hành từ xa. Lúc ấy vào khoảng mười hai rưỡi trưa, mùa hạ mới chớm mà đã nóng nực phát khiếp. Có mùi phân bò thoảng lại hoà lẫn với mùi ngọt ngào của lúa chín từ những cánh đồng gần đó. Tất cả tạo nên một sự êm dịu và tôi buồn ngủ đến ríu cả mắt.

Duy hỏi tôi:

– Mày có nghe tin về cô San chưa?

Tôi choàng tỉnh, sự tò mò thay thế cơn buồn ngủ:

– Không, mày biết tin gì thì nói đi.

Duy nói với giọng đôi chút xúc động:

– Tao nghe nói cô đã vượt biên từ mấy hôm trước đây, nhưng tầu của cô có kẻ phản bội. Cô đã bị bắn. Chẳng có ai là được coi biết rõ cả. Công an đã báo cáo với ông gíam hiệu. Họ nói là cô đã chết.

Như có tiếng bom nổ ngang tai, đầu óc tôi ù lên:

– Ôi trời ơi!..

– Vậy đó kinh khủng quá phải không? mà cũng chả có đám ma nữa. Họ không cho tuị học trò tưởng niệm cô.

Nó nhìn tôi chăm chú rồi tiếp:

– Nếu còn cô San ở đây, chắc chắn cô sẽ đấu tranh để giữ mày trong cuộc diễn hành.

Ông gíam hiệu nói là tao không xứng đáng được cái vinh dự ấy. Tao cũng không nghĩ rằng ông ta sẽ cho là cô San xứng đáng có một buổi tưởng niệm. Không phải là vấn đề cá nhân ở đây. Mà chỉ vì sự đời là thế!

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted 20 may 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Ehud Barak (hàng đứng, người thứ ba từ trái sang) chỉ huy đội Sayeret Matkal – Ảnh: haaretz.com

Kỳ 3 – ‘Đơn vị’ Sayeret Matkal của Israel

TTO – Sayeret Matkal trực thuộc Tổng cục Tình báo quân sự của Israel thường được gọi tắt là ‘Đơn vị’. Biệt đội Sayeret Matkal chuyên thu thập tin tình báo, trinh sát thọc sâu, giải cứu con tin và chống khủng bố.

Ngày 7-3-1988, các tay súng Ả Rập chặn một xe buýt chở công nhân làm việc cho Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Negev của Israel và bắt giữ 11 con tin. Đơn vị đặc nhiệm Yamam thuộc cảnh sát biên phòng Israel xông lên xe buýt giết chết ba tay súng. Ba nữ công nhân thiệt mạng. 

Ngay sau đó, cơ quan tình báo Mossad của Israel khẳng định người đứng sau vụ này chính là Abu Jihad.

Soạn thảo kế hoạch ám sát

Abu Jihad tên thật là Khalil Ibrahim al-Wazir, chỉ huy tác chiến của tổ chức Al Fatah của người Palestine chuyên đấu tranh chống Israel. Israel đã săn lùng Jihad suốt 20 năm nhưng mọi kế hoạch ám sát đều thất bại.

Bộ trưởng Quốc phòng Israel lúc bấy giờ là Yitzhak Rabin được giao trách nhiệm tìm cách loại bỏ Jihad. Mossad đã lần ra dấu vết Jihad tại Tunisia (Bắc Phi) cách Israel đến hơn 2.400km. Jihad sống trong một ngôi biệt thự ven biển tọa lạc trong khu vực sang trọng ở thủ đô Tunis.

Bốn ngày sau vụ tấn công xe buýt, Bộ trưởng Rabin thúc giục Mossad trình kế hoạch ám sát Jihad. Ban đầu Mossad tự tin có thể tự mình thực hiện kế hoạch ám sát trong vòng 30 ngày. Tuy nhiên dù kế hoạch ám sát rất thiết thực, Rabin vẫn bác bỏ.

Ông muốn có bằng chứng chắc chắn về cái chết của Jihad và cách duy nhất là ám sát Jihad tại nhà riêng. Điều này cực kỳ khó khăn bởi khoảng cách đến mục tiêu quá xa. Rabin biết chỉ có một biệt đội tinh nhuệ hơn các sát thủ Mossad, đó chính là lực lượng đặc biệt Sayeret Matkal.

Sayeret Matkal trực thuộc Tổng cục Tình báo quân sự thường được gọi tắt là “Đơn vị”. Đây là đơn vị đặc nhiệm hàng đầu của Israel hoạt động tương tự biệt đội Delta của Mỹ và lực lượng đặc biệt không quân (SAS) của Anh về chiến thuật, nhiệm vụ và kỹ thuật. Sayeret Matkal chuyên thu thập tin tình báo, trinh sát thọc sâu, giải cứu con tin và chống khủng bố.

Người chỉ huy Sayeret Matkal vào thời điểm đó là Ehud Barak (sau này trở thành thủ tướng). Theo yêu cầu của Barak, các đặc vụ Mossad được cài cắm ở Tunis đã vẽ được sơ đồ biệt thự và nắm hết mọi sinh hoạt thường nhật của Jihad. Barak bắt đầu chuẩn bị kế hoạch. Ông quyết định một toán nhỏ 10 đặc nhiệm sẽ lợi dụng đêm tối xông vào biệt thự của Jihad.

Sayeret Matkal đã cẩn thận lập mô hình biệt thự thu nhỏ để thực tập tác chiến.

Sau khi kế hoạch tấn công cụ thể được soạn thảo, mô hình biệt thự với kích thước thực được xây dựng. Đội đặc nhiệm tập đi tập lại nhiều lần đến mức dù mắt bịt kín vẫn có thể biết đường. Cuối cùng họ tập luyện tấn công trong một ngôi nhà ở Israel được thiết kế tương tự như biệt thự của Jihad.

Nahum Lev – chỉ huy phó lực lượng Sayaret Matkal – được chỉ định làm đội trưởng đội đặc nhiệm. Hải quân Israel có trách nhiệm đưa đội đặc nhiệm đổ bộ vào gần Tunis. Không quân Israel sẵn sàng ứng phó trong trường hợp cần thu quân khẩn cấp. Bãi biển gần nhất nơi đội đặc nhiệm đổ bộ cách biệt thự của Jihad 4km.

Trong khi đó, các đặc vụ Mossad ở Tunis sẽ tổ chức nghi binh ở bên kia thành phố để đánh lạc hướng cảnh sát địa phương, từ đó đội đặc nhiệm Sayeret Matkal có thêm thời gian hoạt động. Sau đó, các đặc vụ sẽ đón đội đặc nhiệm bằng ôtô thuê và lái đến cách mục tiêu vài dãy nhà. 

Trong lúc đi bộ áp sát biệt thự của Jihad, đội đặc nhiệm sẽ ăn mặc cải trang như du khách đến từ Lebanon để dân địa phương khỏi chú ý.

Đội đặc nhiệm Shayetet 13 – Ảnh: reddit.com

Cú điện thoại giả trước giờ hành sự

Hôm trước ngày N thực hiện chiến dịch “Biểu dương lực lượng”, một máy bay Boeing 747 cất cánh từ Tel-Aviv (Israel). Máy bay đã được chuyển đổi thành trung tâm chỉ huy chiến dịch với trang thiết bị điện tử hiện đại theo dõi từ trên không. Ehud Barak điều khiển chiến dịch từ trên máy bay.

Khi các đặc vụ Mossad đã có mặt đứng đợi trên xe ôtô cạnh bờ biển Tunis, đội đặc nhiệm nhận được chỉ thị thi hành nhiệm vụ. Lực lượng Shayetet 13 của hải quân Israel đưa đội đặc nhiệm vào bờ. 

0h30 giữa khuya, họ gặp các đặc vụ Mossad và thay đồ cải trang. Lúc đó họ đã được cảnh báo một vấn đề mới phát sinh. Một cú điện thoại gọi tới biệt thự của Jihad bị nghe lén cho thấy có vẻ như một cơ quan tình báo châu Âu đã biết kế hoạch của Israel.

Barak ra lệnh cho đội đặc nhiệm Sayeret Matkal tiếp tục triển khai đến biệt thự. Xe ô tô chở tám đặc nhiệm đến trước nhà Jihad. Các thành viên đội đặc nhiệm trao đổi với nhau bằng từ ngữ đã mã hóa và nói tiếng Anh thay vì tiếng Israel. Họ cảm thấy hưng phấn trong lúc ngồi chờ.

Barak vẫn chưa thể phát lệnh tấn công khi chưa chắc chắn 100% Jihad có mặt trong biệt thự trong khi các đặc vụ Mossad lại không thể biết điều này.

Để kiểm tra, Barak đã cho sử dụng một đường dây điện thoại đặc biệt giả một cuộc gọi từ Ý gọi đến biệt thự báo tin một người thân của Jihad ở dải Gaza bị bắt. Sau đó, ba chuyên gia về ngôn ngữ Ả Rập có chuyên môn về nhận dạng giọng nói phân tích câu trả lời từ nhà Jihad. 

Sau khi các chuyên gia xác nhận giọng nói ở đầu dây bên kia chính xác 100% là Abu Jihad, Barak phát lệnh bắt đầu tấn công.

Đội trưởng Nahum Lev và một đặc nhiệm ăn mặc như phụ nữ đi bộ qua những con phố sầm uất tiếp cận biệt thự và hạ thủ vệ sĩ canh gác trước nhà. Các đặc nhiệm còn lại tiến vào từ cửa sau. Khi toàn bộ các vệ sĩ đều đã bị giết, toàn đội bước lên tầng hai.

Họ nhận ra Jihad đứng ở đầu cầu thang cầm súng bên tay phải. Chỉ trong tích tắc, tổng cộng 70 viên đạn được bắn ra ghim vào người Jihad. Cánh tay phải cầm súng của Jihad gần như bị cắt cụt. Người vợ của Jihad đột ngột xuất hiện và hét lên yêu cầu họ dừng lại: “Mấy người không thấy anh ấy đã chết rồi sao?”. 

Lev ra lệnh cho người vợ quay mặt vào tường khi cả đội rút lui.

Sau khi xác nhận Jihad đã chết, toàn đội vội vã lên xe trở lại bãi biển và được toán Shayetet 13 đưa trở lại tàu hải quân. Sáng hôm sau, cảnh sát Tunis vào cuộc điều tra. Tất cả những gì họ tìm thấy là mấy chiếc xe bị bỏ lại và nhiều dấu chân trên bãi cát dẫn ra biển. 

Sau 25 năm “ngậm tăm không khẳng định hay phủ nhận đã giết Abu Jihad, đến tháng 11-2012 Israel mới lên tiếng thừa nhận sự việc.

Theo chuyên trang specialops.org, Israel không có một lực lượng tác chiến đặc biệt tập trung như các nước khác. Mọi đơn vị quân đội đều được huấn luyện về chiến tranh không quy ước.

Năng lực tác chiến đặc biệt của quân đội Israel rất phát triển do có nhiều đơn vị cùng làm công tác đặc nhiệm và chi phí quân sự lớn. Có thể chia các đơn vị đặc nhiệm Israel làm hai loại gồm đơn vị trinh sát (Sayeret) và đơn vị chống khủng bố (Mista’arvim).

. Lữ đoàn biệt kích do lục quân chỉ huy gồm các đơn vị tác chiến đặc biệt như Duvdevan (đơn vị 217) chuyên chống khủng bố ở Judea và Samaria; Maglan (đơn vị 212) chuyên hoạt động sau chiến tuyến, thám sát và thu thập tin tình báo; Egoz (đơn vị 621) tập trung chống Hezbollah.

. Các đơn vị tác chiến gồm Sayeret Matkal; Shayetet 13 chuyên hoạt động trên biển và cũng có thể hoạt động trên bộ và trên không; đơn vị quân khuyển Oketz phụ trách chống khủng bố; đơn vị 669 phụ trách tìm kiếm và cứu nạn trên không cũng như giải cứu phi công.

. Các đơn vị đặc biệt khác gồm có Shaldag (không quân), đơn vị YALTAM (hải quân), đơn vị chuyên tác chiến trên núi, đơn vị Yahalom (công binh), các đơn vị Skylark & Moran (lục quân) chuyên về máy bay không người lái và công nghệ tên lửa.

Lực lượng đặc nhiệm Spetsnaz luôn được điều động đầu tiên trong các hoạt động chống khủng bố và giải cứu con tin. Nhiều lời đồn đoán dẫn đến thông tin sai lệch về lực lượng này.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Một buổi lao động xã hội chủ nghĩa ngày chủ nhật

Đặng Chí Bình

Bài 15

Hai con chim cánh thật trắng từ hướng Nam đang soải cánh chống với gió ngược, lao về phía Bắc xa vời. Mấy ngọn nứa già phía cuối hội trường đang nghiêng ngả, rũ rượi, gật gù như cảm thông với nỗi đắng niềm cay của kiếp người. Mươi chiếc lá khô từ mãi phía góc nhà kỷ luật, quyện đuổi theo nhau chạy đến gần buồng số II rồi cuộn xoay lại, quay tít.

Lần lượt nhiều người đứng dậy, cuộn chiếu vào trong buồng. Không bảo nhau, nhưng hình như cùng cảm thấy cái rã rời nằng nặng của cõi lòng ứa ra, rải khắp đâu đây, cả Lân, Vân và tôi đều đứng dậy, chậm chạp bước vào trong buồng.

Vào buồng, chưa ngồi nóng chỗ thì phía ngoài cửa đã có tiếng xôn xao. Thấy anh Lân chạy ra, tôi cũng bước theo. Ngay mé hè, anh Lý A Chén đã mang về một đống cuốc, xẻng và một cái hòm dụng cụ đồ mộc với mấy cái cưa tay. Và kia rồi, từ phía dưới sân lớn của trại, có 3 anh của toán làm sân đang è vai vác 3 bó nứa tươi to tướng, đốt thật dài. Mầu nứa tươi xanh mát cả mắt, lần đầu tiên tôi thấy, nên cứ nhìn mãi. Ở miền xuôi trước đây, tôi chỉ nhìn thấy nứa khô mà thôi. Tôi cứ luẩn quẩn, loanh quoanh bên 3 bó nứa mãi, nếu không có một anh tự giác khác lễ mễ gánh đến một gánh gần hai chục túm những cây hoa con. Một niềm háo hức yêu hoa đã đẩy tôi rảo bước chạy lại. Những cây hoa nhỏ nhiều loại, với những cánh hoa nhiều mầu sặc sỡ làm nhiều người túm hụm vây đến.

Cây to, cây nhỏ, cây đã có hoa, cây chưa ra nụ. Trong hàng chục loại hoa này tôi chỉ biết được mấy cây: thược dược, mười giờ, cúc đại đóa và hoa…..hồng. Do nhiều các anh, các bác đang đứng chỉ chỏ bình phẩm, nên các cô nàng e ấp cứ cúi mặt che giấu thân thế, đành ngập ngừng khai rõ họ tên: vọng ư thảo, vạn thiên kim, bách hợp, đinh tử hương, bóng nước, tư lự với tóc tiên. Cô nào cũng mơn mởn đào tơ, lả lướt chuẩn bị để đón chúa Xuân sắp trở về.

Ngay từ khi còn dưới Hỏa Lò, “khách sạn Hilton Hà Nội”, đã nhiều lần tôi băn khoăn tự hỏi: tại sao trong chỗ thâm u, mờ mịt thê lương của ngục tù, chỉ có cùm, xích với những tiếng rên xiết, quằn quại, đắng cay thì người ta lại trồng nhiều hoa? Vì hoa là biểu tượng của hạnh phúc ấm êm, của ngọt bùi tươi sáng trong cuộc đời? Khi đó tôi đã tưởng, phải chăng đây chỉ là ý thích của tên Võ già, chánh giám thị của Hỏa Lò, người miền Nam. Nhưng lúc này, một trại giam, hẻo lánh xa xôi nơi đây, cũng đang được lệnh trồng hoa. Như vậy, phải chăng đây là một chủ trương của cục Lào Cai?

Lòng tôi còn đang bồng bềnh lẫn lộn giữa những hương sắc ngọt, bùi hạnh phúc của cuộc đời với những nỗi đắng cay tủi nhục, lầm than của kiếp tú, thì kẻng tập họp đã gióng lên đập tan nguồn suy nghĩ lãng đãng, vẩn vơ của tôi.

Chỉ nửa giờ sau, khi các tên cán bộ đã dặn dò, phân công với những anh toán trưởng từng toán. Tổ nào, toán nấy năng nổ, hùng hục làm việc khắp nơi, khắp chỗ trong trại. Chỗ cưa, chỗ đục, chỗ quét dọn râm ran tiếng chuyện trò, tiếng í ới gọi nhau. Tôi vừa kéo dây, cầm thước cho Đinh Sơn và anh Lân cắm cọc, phân luống trước nhà số II và III, vừa nhìn cái cảnh huyên náo, tấp nập làm việc của mọi người, mọi toán. Một khí thế lao động như giục giã, lôi, thúc người khác. Lòng tôi dâng lên một mối thẫn thờ hoang mang, xen nhiều nỗi ấm ức không hiểu được. Đói khát, khốn cùng, thương đau tràn lối mà mọi người vẫn hăng say, thi đua làm việc quên mình là vì sao?

Tôi mới mờ mờ cảm nhận thấy cái khả năng của cộng sản: phỉnh phờ, dụ dỗ khích lệ, nhử mồi  như cách mạng, yêu nước, yêu nhân dân, công bằng, ấm no, hạnh phúc ngày mai v.v… Kết hợp nhuần nhuyễn với súng, dao và cái dạ dầy đã gây ra ao áp lực ngầm, để mọi người tù dù không còn cả muốn sống nữa mà vẫn phải bóc xương, bó tủy ra làm hết sức của mình. Thật là đáng kính nể những tên cáo già trong bộ chính trị của lũ cộng đỏ.

Hôm nay làm việc trong trại nên tôi có điều kiện chạy chỗ này, chỗ kia đây đó để nhìn các toán làm việc. Riêng toán 5, toán rau xanh do anh Xuân Tảo làm toán trưởng. Do anh Đồng, tôi đã biết anh là một nhà tư sản ở Hải Phòng. Người anh cũng mập như anh Lân, cũng nước da mai mái khô cằn, chừng 45 tuổi. Anh ăn nói nhã nhặn, điềm đạm, nên tôi cũng muốn có dịp làm quen với anh. Toán của anh có trách nhiệm nhặt cỏ và dọn lá cây khô phía trong hàng rào cấm, dọc theo chung quanh của hàng rào trại.

Đến đây tôi đã có khái niệm về hình thể phân trại E. Trại hình chữ nhật dài, nằm quay mặt về phía Đông Nam. Chiều dài chừng 150 mét, rộng chừng 80 mét. Hàng rào làm bằng những cây nứa, cao 8 – 9 mét. Nứa được chôn sâu xuống đất 40 phân gồm 2 lượt, kên sát vào nhau. Lượt ngoài chôn nghiêng 10 độ phía này, lượt trong nghiêng 10 độ phía kia. Ghép liền, kên chặt bằng 3 lượt đà tre nằm ngang với lạt và dây rừng. Trong cũng như ngoài cứ 4 mét, lại chôn một cái cọc gỗ to, vót nhọn đầu, đường kính từ 15 đến 20 phân, cao 2 mét. Nó to và chắc chắn như một chiếc cột, buộc ghì chặt vào hàng rào. Như vậy, hàng rào dầy đến 15 – 16 phân, kín mít không còn một khe hở. Tuy chỉ bằng gỗ và tre nứa nhưng thật là kiên cố, vững chãi; vừa ngăn tù trốn lại vừa chống với gió bão hàng năm của đất trời.

Phía bên trong, dọc theo hàng rào chính; cách hàng rào chính một mét là hàng rào cấm. Hàng rào này chỉ cao chừng 1 mét 20. Bốn góc trại có 4 chòi gác bằng gỗ, lợp nứa cao 9 – 10 mét, cao hơn cả hàng rào chính để công an vũ trang ngồi gác, có thể quan sát hết phía trong đến bên ngoài trại.

Riêng cổng trại ra vào là một chiếc cổng to 2 tầng, cũng lợp bằng những tấm phên nứa. Tầng trên, công an vũ trang ngồi gác cổng, trên đó treo một chiếc vỏ quả bom 50kg dùng làm kẻng. Tên bộ đội gác ở cổng này, ngoài nhiệm vụ gác cổng, phải chú ý giờ giấc để đánh kẻng trong những giờ đã quy định.

Nhân số toàn phân trại E lúc này khoảng 310 người. Hầu hết là chính trị phạm với những thành phần: khoảng hơn hai chục người là biệt kích, gián điệp, người nhái (Biệt Hải) từ trong Nam ra Bắc hoạt động. Chừng trên dưới 100 người là dân tộc thiểu số: Mường, Mán, Mèo, Thổ, Nùng, Thái, v.v… bị cộng sản ghép cho cái tội là làm “phi”. Số còn lại linh tinh gồm: đảng phái, tu sĩ, tư sản, quân cán tập kết, vượt tuyến v.v… bị ghép chung một tội là phản cách mạng, phản tuyên truyền.

Khoảng 11 giờ 30, tên Cẩn trực trại vào đi kiểm tra khắp nơi những kết quả của từng phần việc được giao từng toán trong buổi lao động xã hội chủ nghĩa, để lấy điểm thi đua.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Cái “mánh”của tên trực trại

Đặng Chí Bình

Bài 14

Hôm nay hơi đặc biệt. Kẻng cấm rồi mà đây đó, từ những chiếc điếu cầy đủ kiểu cứ thi nhau ré lên liên hồi như những chú dế cồ và những nàng dế đang thi gọi nhau, hẹn hò trao đổi ân tình trong đêm khuya.

Buổi sáng, cho tới khi tôi theo toán ra ngoài lán làm việc rồi mà lòng vẫn băn khoăn không dứt về một sự việc sáng sớm hôm nay khi tên trực trại Cẩn vào buồng điểm tù. Điểm buồng xong, y dừng lại trước chỗ anh Phạm Tấn Tích đang ngồi, cất giọng Cao Bằng lây lứt:

– Hôm qua, anh Tích phát biểu hay và khá lắm!

Thoáng qua, nghe như một câu khen ngợi bình thường, nhưng đã làm cho cả buồng ngơ ngác, đờ đẫn, nhất là tôi. Óc tôi lướt nhanh, tổng hợp mọi hiện tượng và sự việc. Đêm qua, toán 2 sinh hoạt từ 6 giờ đển 9 giờ, kẻng cấm. Bên ngoài trời mưa bay dầy hạt, gió lộng lạnh thấu xương. Bao nhiêu câu hỏi cứ vấn vít, quẩn quanh trong đầu tôi:

– Chẳng lẽ y chịu lạnh, đứng rình nghe bên ngoài vách để theo dõi buổi sinh hoạt của toán?

– Hay có đường dây báo cáo nào của toán 2?

– Tại sao sáng sớm hôm nay vào điểm buồng, y cố ý nói cho toàn buồng nghe để làm gì?

– Tại sao y lại chỉ rình nghe của toán 2 mà không ở các toán khác nữa? Hay có sự trùng hợp lúc Tích phát biểu thì y mới đến?

– Thực ra, bất cứ buổi sinh hoạt của toán nào đều có ghi biên bản. Như vậy, ai phát biểu ra sao thì trong biên bản đã ghi rồi. Tại sao y còn vào rình nghe?

– Chỉ là một tên trực trại, tại sao y lại theo dõi về tư tưởng? Theo như anh Đồng, lúc cùng ngồi ăn sắn sáng nay với tôi thì tư tưởng thuộc về cán bộ giáo dục. Trực trại chỉ bao quát về nội quy. Trách nhiệm chính yếu của trực trại vẫn là nắm vững nhân số phạm toàn trại, từng buồng và từng toán.

Quá nhiều câu hỏi mà chưa có lời giải đáp thỏa. Trong lúc làm việc với Lê Sơn, tôi đã lựa lời, lựa lúc hỏi Sơn thì được biết thêm: hồi trước, ban đêm tên Cẩn thường hay vào trại đi bên ngoài các buồng để rình nghe như vậy.

Lấy điểm này, cọ sát với điểm kia, loại bỏ những vô lý hoặc những vô lý hoặc mâu thuẫn thì chỉ có thể như sau:

– Dù ở khía nào thì tên Cấn cũng là một tên cán bộ mẫn cán. Phục vụ và tin theo hết lòng cái chế độ mà y đang làm việc.

– Y chỉ muốn tỏ cái tài, cái uy riêng của y với tù.

Để thực hiện cái ý trên, thỉnh thoảng y bỏ công, bất ngờ vào rình, dò xét một vài sự việc. Rồi từ những sự việc y đã biết rõ, lấy đó làm ông “ba bị” để hù lát mọi người tù. Tưởng như làm cho mọi người tù đều nghĩ và tin rằng; y có nhiều tai mắt ở khắp nơi, khắp chỗ. Ai làm cái gì, nói gì y đều biết.

Nếu y tưởng như vậy là y lầm, mà y lầm thì cũng không có gì lạ. Bởi vì với mớ kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm đóng hẹp trong cái nhãn quan truyền thống giòng tộc của y; đối với bên ngoài, tưởng mình đang đứng ở vị thế cao nhất. Hơn nữa, trong lòng y lại đang dạt dào, say mê tin tưởng tự hào, đang phục vụ cho, hoặc y cũng là một nhân tố trong cái đảng “vĩ đại, uyên bác cao siêu nhất” của loài người.

Thực ra với chủ trương ấy, y cũng là một con “ngáo ộp” được với một số người kém hiểu biết hoặc lười suy nghĩ. Chứ không thể có tác dụng với những người như anh Phạm Tấn Tích chẳng hạn. Khi anh phát biểu có người ghi biên bản thì cá cái ban nghiên cứu của giám thị sẽ đều biết. Bởi thế, bất kể ai đứng rình nghe hay theo dõi thì có nhằm nhè gì với anh?

Buổi trưa, lúc ngồi ăn cơm ở hội trường, tôi dõi mắt nhìn theo một bác người cũng thật to lớn như Lê Văn Kinh. Tay bác xách một cái bị bằng vải sô cũ, một tay cầm chiếc gậy đang rờ rẫm, chậm chạp đi trên hè buồng số III gần bếp, hướng ra sân chính của trại. Đầu óc tôi còn đang dập dờn về một kiếp người đã mất cả đôi mắt rồi mà vẫn chưa yên, thì thấp thoáng thấy màu áo vàng ở sân A, một tên cán bộ tôi chưa nhìn thấy bao giờ. Người y nhỏ con, da trắng trẻo, nếu không nói là có dáng dấp thư sinh, chừng tuổi 35. Y không đeo lon nên tôi không biết y ở cấp bực gì. Hai tay vắt chéo sau lưng, y chậm chạp thả bước nhàn du, lang thang trong trại. Thỉnh thoảng đầu y nghiêng ngó, nhìn phía này, phía kia hoặc gật gật mỗi khi gặp một anh tù lễ phép cúi đầu chào y. Thái độ y vừa lạnh lúng, vừa lơ đãng.

Tôi cứ cảm thấy y là một tên tạch tạch sè (tiểu tư sản) chứ không quê đặc một cục, như tên Chu Huy Cẩn. Tôi thấy cậu Toàn đang ngồi lúi húi vá chiếc áo choàng bằng dạ, máu cứt ngựa ở mãi trong góc nhà ăn. Hẳn chiếc áo đã được sinh ra từ thời Tây, vì đã đụp nhiều tầng. Lách qua mấy chiếc bàn tôi đến bên, ra ý cho Toàn nhìn về tên cán bộ hãy còn đang lững thững gần cụm nứa phía dưới nhà ăn:

– Này ông cán bộ kia là ai đấy?

Toàn nhìn ra rồi quay lại ra vẻ hơi quan trọng, thì thầm:

– Đấy là ông Đức, Thiếu úy, trưởng ban giáo dục trại này đó!

Tôi chỉ trả lời hai tiếng “thảo nào” rồi tôi mang chiếc rổ và cái đĩa nhôm đi vào buồng. Vừa đi tôi vừa nghĩ, làm sao mấy ngày tới, kiếm đâu được miếng vải khâu cái túi đựng bát, đĩa mới được. Ngay buổi chiều nay, một chiều thứ Bẩy không mưa rơi. Sau khi đi lao động ở lán về, anh Lân đã phổ biến cho toán, sáng mai Chủ Nhật toàn trại đi lao động xã hội chủ nghĩa. Mục đích là dọn dẹp, sắp xếp làm vệ sinh toàn trại để chuẩn bị ăn Tết.

Toán 2 là toán có tay nghề, nên được phân công sang sửa, làm hai luống hoa dài trước nhà số một và số hai. Buổi tối, mới điểm xong, anh Lân đã lại vẫy tay gọi tôi sang chỗ anh. Chẳng hiểu vì nguyên cớ nào, tôi cảm thấy anh Lân dành cho tôi một sự gần gũi, thân thiện như đã quen biết nhau từ lâu. Anh mở choàng chiếc chăn anh đang ngồi khoác ra để tôi cùng vào ngồi. Choàng chung một chiếc chăn ngồi nói chuyện cho ấm.

Phần do lòng thiện cảm mến người của anh; phần khác do những cái ngỡ ngàng của buổi ban đầu giữa một nơi còn nhiều cái tôi chưa biết; lại nhìn thấy bao nhiêu hiện tượng làm cho tôi chưa được yên lòng nên khi anh gọi, tôi vẫn đến với anh. Tôi nghĩ rằng, mình thân mật, thường chuyện trò với anh toán trưởng sẽ ít lo lắng cho những ngày sau. Vả lại, khi mới chuyển đến một môi trường mới, một vị trí mới trong cái mặt trận không dao, không súng này, không gì bằng hãy tìm một chỗ nấp tốt; một chỗ đứng tương đối an toàn, để quan sát, nghe ngóng đã chứ! Cho nên, dù có thân mật, chuyện trò với ai thì tôi vẫn chả hay chưa thổ lộ hoặc nói một điều gì ngược lại với xu hướng tiến bộ chung hiện nay.

Khi anh biết tôi chỉ là một học sinh trong Nam, chưa vợ con gì, anh càng trêu đùa và cứ gọi tôi bằng “mày” xưng “tao”. Lúc này tôi cũng đã biết nhiều anh em gọi lén anh là “Lân Lợn”, có lẽ vì con người sồ sề của anh. Ngay buổi tối đó, qua anh Lân, tôi được rõ thêm về lao động xã hội chủ nghĩa. Cứ một Chủ Nhật đi làm, thì một Chủ Nhật được nghỉ. Như vậy mỗi tháng có 4 tuần thì 2 tuần phải mất đi buổi sáng Chủ Nhật.

Một tuần lễ có 7 ngày, thì đi lạo động 6 ngày rưỡi. Lao động thì cực nhọc như trâu, bò. Dù bất cứ ở ngoài đồng, trong rừng hay trong lán đều phải dốc hết sức mình ra làm việc. Quấn áo dơ dáy, mủn rách phải đụp vá, giặt giũ, còn tắm rửa. Với bao nhiêu việc khác nữa cho một cá nhân mà chỉ có nửa ngày. Con người bị coi như một cái máy. Bắt máy chạy liên tục mà chỉ đổ rất ít dầu, lại chỉ là dầu cặn, dầu thô như lời anh Khải đã phát biểu.

Đêm hôm ấy, lòng tôi cứ ngổn ngang với bao nhiêu khắc khoải cho cảnh đời trước mặt, nhất là lại nghe tin anh Khâm nào đó mà tôi chưa hề biết mặt, mắc bệnh lao của toán 2 đã chết ngay, trong đêm. Thế là toán 2 cũng chưa kịp cử người thăm hỏi, như đề nghị của bác Chánh trong buổi sinh hoạt tối hôm qua.

Mấy đêm nay, đêm nào giấc ngủ cũng không yên, tôi cứ trằn trọc thấp thỏm mệt mỏi rã rời cả thể xác, lẫn tinh thần; tôi chìm đắm vào cơn ngủ muộn xen lẫn những tiếng thở dài.

Sáng hôm nay, tôi đã mở mắt rồi mà chưa thấy kẻng báo thức. Liếc nhìn đây đó trong buồng, vẫn màn mắc vây kín mít. Không chịu được mãi nỗi băn khoăn trong lòng, tôi cố liếc nhìn qua khe hở của tấm vách liếp. Bên ngoài, trời đã hơi mờ mờ sáng, rõ ràng đã muộn hơn mọi khi. Tôi nghiêng người nhìn qua màn Vân. Thấy dáng Vân vẫn nằm dài, không biết thức hay ngủ. Tôi còn đang nhấp nhổm chưa yên thì hình như Vân cũng đã đoán được nỗi bần thần của tôi. Khi thấy tôi cứ xoay trở lục đục, Vân nhỏ nhẻ như tiếng gió:

– Cứ ngủ nữa đi. Chủ Nhật, sáu giờ ba mươi mới kẻng báo thức.

À ra thế! Bụng tôi nghĩ vậy, rồi tôi mơ màng để hồn lãng đãng cho thân xác bập bềnh chìm nổi trong giấc ngủ tiếp mập mờ. Hồn tôi đang lơ lửng với gió mây thì tiếng kẻng đã khua vang núi đồi. Những chiếc máy người lại bắt đầu khơi động cho công việc một ngày.

Qua những lúc chuyện trò ngắn ngủi với Vân, mãi đến hôm nay, tôi mới biết Vân không hút thuốc lào. Mặc dù những năm trước đây, anh đã hút khi mới bị bắt vào. Bây giờ anh đang cố xoay sở, móc nối với những anh tự giác của toán rua, để mua được những lá thuốc khô (một loại thuốc lá, khác với cây thuốc lào) do chính họ tranh thủ ngoài giờ, trồng được trong khu vực của toán họ. Vì không có công sức và thời gian chăm bón, nên mỗi anh chỉ trồng được vài chục cây. Do đó, khi các anh lén lút đưa thuốc được vào trong trại, thì bán hơi đắt. Chỉ những ai có nhiều tiền mới hút được.

Như vậy, tôi đã hiểu về giờ giấc ngày Chủ Nhật lao động xã hội chủ nghĩa. Bảy giờ ba mươi mới kẻng tập họp để tám giờ thì bắt tay vào lao động, đến mười hai giờ trưa mới nghỉ. Những điều ấy tôi chưa hỏi anh Lân tối hôm qua.

Khoảng bảy giờ, anh Lân, Vân và tôi ngồi nhai sắn sáng, trên chiếc chiếu con trải trên hè nhà, ngay cạnh cửa ra vào. Trời sáng nay không một vẩn mây, tuy thỉnh thoảng những đợt gió mùa Đông Bắc vẫn ào ào, luồn cái rét ngọt vào cơ thể mọi người. Nhưng ai cũng cảm thấy dể chịu hơn là có thêm mưa. Bởi vậy, trên hè, tuy bằng đất nện, nhưng khô ráo sạch sẽ nên cũng lố nhố nhiều người. Cả toán ba lẫn toán hai đang ngồi ngồm ngoàm những củ sắn để chờ giờ đi lao động.

Từ dưới sân chính phía nhà bếp, thoáng thấy bóng tên trực trại đi lên. Khi tới ngang buồng hai, y ngoặt vào, bước lên hè, làm nhiều người râm ran lên tiếng:

– Chào cán bộ ạ!

Y bước vào trong buồng một mình, nên anh Lân buồng trưởng phải đứng lên vào theo. Bên ngoài này, tôi và hẳn còn nhiều người đều nghĩ, y lại sắp đem ai đi cùm, nên những chiếc mồm đang nhai sắn đều ngập ngừng, lắng nghe chờ đợi.

Một lúc sau, từ trong buồng y trở ra tới cửa, tôi và Vân vẫn cúi đầu chậm chạp, ngoạm nốt suất sắn sáng đang ăn dở. Thoáng bóng một bàn chân dép râu với chiếc ống quần mầu vàng, vừa để lên bậu cửa buồng, chếch ngay phía sau lưng tôi. Như vậy, y đang đứng nhìn Vân và tôi. Một giây sau, y cất tiếng hỏi đột ngột:

– Anh Bình, đêm qua anh nói mơ hay nói thật? Anh nói gì anh còn nhớ không?

Tôi quay lại, vì hơi bất ngờ nên làm tôi cũng hơi ngỡ ngàng. Tuy thế, chợt nhớ tới sự việc của y với anh Phạm Tấn Tích sáng hôm qua, nên tôi đã bình thản hỏi lại y:

– Thưa ông tôi đã nói mơ gì ạ?

Một vài giây, y ngập ngừng, trong khi có nhiều bộ mặt chung quanh, kể cả anh Lân đang lo lắng nhìn tôi. Hơi sừng sộ, y lớn tiếng:

– Anh thường nghĩ về cái gì, thì anh nói cái đó!

Hơi nhếch mép nhưng không cười, tôi trả lời:

– Nếu vậy, hẳn rằng tôi lại nói về cái ăn rồi. Vì suốt ngày, lúc nào tôi cũng chỉ nghĩ đến cái ăn mà thôi.

Hơi nặng chân, y bước hẳn ra ngoài, xuống sân. Ngoay ngoảy đi về hướng nhà bếp, hẳn rằng trong lòng y đang mang một nỗi hậm hực. Tôi nghĩ thầm: thật là may, câu trả lời của y đã mở cho tôi một lối thoát để trả lời. Bởi vì, tuy từ nhỏ tới giờ tôi chưa hề bao giờ nghe thấy ai bảo tôi ngủ nói mơ, dù rằng tôi thường nằm chung đụng với nhiều người khi còn ở trại sinh Phú Thọ cũng như trong tù hiện nay. Song le ai dám chắc chắn, khẳng định hiện nay và sau này mình không bao giờ nói mơ, nói sảng? Chứ còn ngủ mơ thì ai mà chả. Nếu không thì làm sao lại vẫn có câu ca dao lơ lẳng: “đố ai nằm ngủ không mơ…”

Y đã đi rồi, cũng chẳng một ai hỏi han tôi về sự việc này, kể cả anh Lân và Vân ngồi ngay cạnh tôi. Đưa mắt nhìn lên mấy tảng mây trắng đang lững lờ bay, tôi nói một câu trống không:

– Hôm nay trời rét ngọt!

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Một buổi sinh hoạt cuối tuần

Đặng Chí Bình

Bài 13

Hôm nay khi cán bộ trực trại vào điểm xong, sau khi cửa đóng, anh Lân cất cao giọng nói với toán hai:

– Mười lăm phút, các anh toán hai hút thuốc, đi giải rồi ta vào sinh hoạt toán.

Không thấy tiếng đài léo nhéo như hôm qua. Tôi hỏi Vân thì được biết, hôm nay thứ Sáu, không có đài, để cho các toán, các buồng sinh hoạt hàng tuần. Vân móc túi mời tôi điếu thuốc cuộn, rồi nhẹ nhàng nói:

– Tôi nghe Bình được vào làm ở tổ vernie, may đấy. Công việc mộc nặng lắm!

Ngưng một lúc, đốt điếu thuốc, Vân lại hỏi:

– Thế nào, cảm tưởng Bình ra sao sau một ngày đi lao động?

Nhiều ý tôi định nói, nhưng tôi trả lời lập lờ, sau khi mồi xong điếu thuốc Vân đưa:

– Mình là tù thì chỉ biết cố gắng.

Nói rồi, tôi hỏi tiếp Vân, giọng hơi thắc mắc:

– Này, sao tôi thấy sau lưng nhiều người có số tù. Nhiều anh lại chỉ có chữ “cải tạo”?

Vân cũng nhìn tôi như cái nhìn của anh Đồng, khi tôi hỏi về hai người bị phạt đứng ở cổng trại lúc chiều, rồi chậm rãi nói nhỏ:

– Điều này chẳng ai hiểu được. Tập trung hay người ta thường gọi là “tắc bọp” thì không có án đã đành. Nhưng nhiều người có án cũng không có số. Như tôi đây chẳng hạn.

Vân nói đến đây thì anh Lân ngồi ở sàn phía trước, ngay cạnh cửa ra vào, vẫy tay ra ý muốn gọi tôi sang. Vừa đến nơi, Lân kéo tay tôi ngồi xuống cạnh, rồi ghé tai tôi nói nhỏ:

– Tao đề nghị, và nói mãi với cán bộ để mày về tổ vernie đấy!

Thấy cử chỉ của anh tỏ ra đầy thiện cảm, qua ánh mắt của anh cũng không thấy gì phải dè dặt, tôi cũng thân mật:

– Trong Nam anh ở đâu? Gia đình ấy!

– Vợ con tao ở Nghĩa Hòa, Ông Tạ, Sài Gòn. Thế còn mày?

Anh vồn vả hỏi lại tôi. Mừng ra mặt, tôi cũng niềm nở:

– Cũng ở gần anh, cuối đường Bắc Hải, Lê Văn Duyệt, và cũng Ông Tạ.

Anh rối rít đập vào tay tôi:

– Thế à, thế sao tao không trông thấy mày bao giờ?

Tôi thấy buồn cười, rồi cũng trả lời anh:

– Thế mà tôi lại…cũng không trông thấy anh bao giờ.

Anh cười như nắc nẻ thành tiếng. Tôi cảm thấy anh cũng không có gì sâu, hiểm. Người anh, tuy da vẫn còn tai tái như mọi người tù khác, nhưng anh vẫn mập so với nhiều người. Tôi đang nghĩ ngợi về anh, thì anh lại đập vào tay tôi như thúc giục:

– Thôi về sinh hoạt đã, mai nói chuyện tiếp.

Nói dứt, anh đứng lên, đi ra giữa nhà cất tiếng dõng dạc:

– Anh em toán hai ở sàn trên xuống hết dưới này. Toán hai ngồi gọn tập trung sinh hoạt ở phía đầu này. Còn toán ba sinh hoạt ở sàn trên, phía đầu kia để không bị ảnh hưởng lẫn nhau. Anh vừa nói, tay anh vừa khoắng ra hai phía của căn nhà.

Trong buồng rầm rập, người trèo lên, người trèo xuống. Một vài tiếng í ới lớn tiếng của toán ba nhắc một người vào nhà xí, lấy chiếc đèn trong đó ra để sinh hoạt. Một anh toán hai trèo lên sàn trên với, tháo chiếc đèn bão đang treo giữa nhà xuống. Chỉ hai phút sau, căn buồng lại trở về im lặng. Trong góc phía sàn dưới, toán hai gồm năm mươi người quây quần, tụm lại một đám thành một vòng tròn. Ngay ở giữa, để một khoảng trống hơn một mét vuông. Lù lù ở một mé khoảng trống, đặt ngay trước mặt Phan Thanh Vân được Lân chỉ định làm thư ký ghi biên bản buổi sinh hoạt là một chiếc rương bằng gỗ, quét mực tím đã phai màu. Trên mặt rương, một góc là chiếc đèn bão, chính giữa là mấy tờ giấy trắng. Cái bút và lọ mực cũng mầu tím. Anh Nguyễn Huy Lân, toán trưởng chủ trì cuộc họp đang ngồi cạnh Phan Thanh Vân. Tôi ngồi trong một góc phía sau, cạnh Bùi Tâm Đồng với cậu Châu.

Ánh sáng của chiếc đèn bão hắt ra, làm cho những khuôn mặt ngồi xa phía sau thành đen thẫm. Lấp loáng những đốm mắt trắng đục lờ đờ, đăm chiêu đều nhìn vào chiếc đèn. Thoang thoảng một vài tiếng thì thào, rì rầm trong yên lặng. Nguyễn Huy Lân hơi dướn người lên, mắt lướt nhẹ một vòng qua các khuôn mặt, khèn khẹc vài tiếng, gãi cục đờm thuốc lào trong cuống họng. Anh cất tiếng, giọng vẫn còn rè:

– Lệnh và chỉ thị của ông cán bộ toán cho chúng ta sinh hoạt hôm nay nhấn mạnh. Toán ta phải đào sâu, cọ kỹ, mổ xẻ cụ thể về vấn đề tư tưởng. Toán chúng ta đã có truyền thống lao động hăng say, ít vi phạm nội quy của trại, triệt để áp dụng nếp sống văn hóa mới, thực hiện nghiêm chỉnh bốn tiêu chuẩn cải tạo, sản xuất thường vượt mức kế hoạch. Vậy mà chưa năm nào khi bình bầu, toán ta được là toán xuất sắc. Như vậy là vì sao? Chính là vì vấn đề tư tưởng. Chúng ta phải thừa nhận rằng thành phần của toán chúng ta thật phức tạp. Nhiều cặn bã, mầu sắc, khuynh hướng được buộc chặt, gói kín. Nhưng thỉnh thoảng vẫn lấp ló ra trong lời nói hay hành động.

Chúng ta đều biết, hiện nay trong nhà kỷ luật có 6 người của toàn trại mà riêng toán ta đã chiếm 3 người. Tóm lại, chúng ta không thể phủ nhận là toán ta rất nặng về khâu tư tưởng. Bởi vậy, tôi đề nghị các anh hãy thành khẩn, tự nguyện trình bầy những khúc mắc trong lòng mình cho mọi người cùng đóng góp qua lại lẫn nhau, xây dựng giúp cho nhau cùng tiến bộ.

Anh Lân đã ngừng lời, cục hầu ở cổ anh cứ động đậy nhô lên, thụt xuống; chẳng hiểu vì muốn lấy hơi hay nuốt nước bọt? Láo liêng con mắt, anh nhìn khắp một lượt, đợi chờ.

Một phút, rồi hai phút, vẫn im lặng, nặng nề; nghe rõ cả một anh đang gãi bụng sồn sột. Một số cái đầu hơi cúi thấp xuống như muốn tráng ánh đèn. Bầu không khí đã bắt đầu hơi ngột ngạt, mặt tôi cũng dần dần nóng lên. Có lẽ anh Lân cũng thấy cái tắc nghẽn của sự im lặng, vì vậy anh lại rổn rang cất tiếng để tháo nút:

– Bây giờ trước hết từng tổ lần lượt phát biểu trình bầy những vướng mắc và những sự việc chính của tổ mình trong tuần qua.

Anh Lân vừa dứt lời thì đã có hai người giơ tay xin phát biểu. Cả hai anh tôi đều chưa biết tên, anh Lân chỉ một anh có cái đầu nhọn hoắt, cái môi dưới thưỡn ra như môi cá ngão, anh nói sôi nổi như cổ vũ:

– Hoan nghênh anh Dũng tổ 4. Xin mời anh phát biểu!

Anh có cái tên Dũng, lấy tay hất mạnh mái tóc đang phủ xuống mặt như đuôi con gà trống lên; mắt đăm đăm nhìn ngọn đèn:

– Tổ tôi gồm có 9 người, hiện nay chúng tôi nhận thi công 10 chiếc giường đôi của toán. Nói chung về khía lao động thì mọi người đều nổ lực làm đều tay. Còn về tư tưởng của mỗi người thì tôi không thể biết được. Tuy vậy, chỉ có anh Lù Chằn Păng, trong giờ lao động, anh hay lén lút làm đồ tư. Cụ thể tôi đã đưa một chiếc hộp con anh đã làm bằng gỗ Mỡ, báo cáo với cán bộ toán. Mặt khác, những buổi trưa hay chiều, anh Páng thường lẩn ra phía sau hội trường để liên lạc, quan hệ thì thầm to nhỏ với nhiều người dân tộc khác. Hiện tượng này, trong tổ chúng tôi đã nhiều lần giúp đỡ, nhưng anh vẫn cứ chứng nào tật ấy. Chưa hết, chiều Chủ Nhật vừa qua, anh Páng đã đem 4 con tem thư để đổi lấy con chuột nướng của anh Thiềng tự giác toán 6.

Thấy y phát biểu cứ giật đùng đùng như người ta đánh trống ngũ liên; tôi hỏi nhỏ cậu Châu ngồi bên cạnh. Tôi đã biết Châu là một trong nhóm 4 người mà Shè Khửu Sáng đã nói với tôi:

– Này em, Dũng, y tội gì?

Châu ghé sát vào tai tôi thì thào:

– Thằng này tiến bộ lắm! Nó thuộc đảng phái trong nhóm của Phạm Huy Tân. Nó là Lê Khắc Dũng, anh em vẫn gọi nó là Dũng Khoằm. Anh có nhìn thấy cái mũi của nó khoằm xuống như mỏ con vẹt không?

Trong khi Châu đang thì thầm với tôi thì anh Lân đã hướng về anh thứ hai, đã giơ tay lúc nãy:

– Bây giờ xin mời anh Đinh Sơn, tổ kỹ thuật phát biểu.

Nghe anh Lân gọi là Đinh Sơn, tôi cứ chằm chặp nhìn anh ta mãi. Óc tôi đang lục tìm những cái tên trong toán Boone biệt kích đã ra đầu hàng. Phải rồi Đinh Sơn, Lân, Thú, Công Thành v.v… Hôm qua tôi đã nhìn thấy anh này nhiều lần ngoài lán mộc. Dáng anh cao cao, nhưng cái lưng lại hơi cong về phía trước. Tóc anh cắt ngắn ngủn, đôi mắt to và sâu, làn lông mày thật thưa. Nét mặt luôn đăm chiêu, chưa thấy lúc nào anh ta cười.

Trong khi tôi đang thả hồn nghĩ ngợi về anh và toán Boone thì anh đang chậm rãi, nhỏ nhẻ phát biểu:

– Tổ chúng tôi chỉ có 3 người, thường sản xuất mặt hàng làm kỹ, riêng cho cán bộ và ban giám thị nên không có định mức. Tuy vậy, trong phong trào thi đua một người làm việc bằng hai để góp phần chống Mỹ cứu nước, tổ chúng tôi luôn luôn cố gắng thao tác tay nghề thành thực; nâng cao kỹ thuật để đạt hiệu suất cao. Hàng ngày chúng tôi thường động viên, giúp đỡ nhau trong ý thức tập thể vươn lên; triệt để hưởng ứng phong trào thi đua chung của trại.

Tuy lời phát biểu không có gì đặc biệt, nhưng anh nói từ tốn, trầm trầm thể hiện sự điềm đạm, sống nhiều về nội tâm. Tôi đang nhìn chiếc lưng dài, cũng hơi cong cong của Phan Thanh Vân đang ngồi khòm xuống ghi biên bản thì anh Lân lại hướng về một anh nhắc nhở:

– Còn tổ 3 của anh Phạm Tấn Tích nữa. Tổ vernie của anh Quý phát biểu đi chứ!

Một anh chắc là Tích, tuy còn trẻ nhưng dáng lùn tịt. Từ sớm, anh vẫn ngồi im lặng nhìn xuống khoảng chiếu trước mặt. Chiếc cằm của anh lẹm ngắn cũn cỡn; hàm răng trên lại hơi hô, nên nhìn thoáng, cứ tưởng như anh không có cằm. Anh ngẩng lên nhìn về phía chiếc đèn; cũng khọt khẹc gại giọng rồi anh nói ẽo ợt, giọng đặc Bến Tre:

– Tổ chúng tôi gồm 10 người, hiện đang nhận đóng 5 chiếc tủ áo hai ngăn của trại. Trong ý thức thi đua thực hiện tốt 4 tiêu chuẩn cải tạo, chúng tôi luôn nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, nâng cao tay nghề, nỗ lực lao động sản xuất để đạt năng suất cao. Về nội quy, tổ chúng tôi không vi phạm. Tuy vậy, tôi xin đề bạt một ý kiến trong thực tế mà chúng ta lại không ai nói đến. Nói đến đây, anh Tích ngừng lại, a hèm mấy cái. Chắc bị vướng mấy tảng đờm trong cuống họng, vừa như anh cố ý để cho mọi người sốt ruột rồi mới nói tiếp:

– Trong phong trào thi đua một người làm việc bằng hai góp phần vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước với nhân dân. Hầu hết chúng ta ai ai cũng ra sức cải tạo, lao động không tiếc thân mình. Nhưng thực tế trong những buổi lao động, mọi người hùng hục hăng say thao tác chỉ được một giờ đầu, rồi sau đó rã rời uể oải dần. Tay cưa, tay đục, tay bào; thậm chí anh nào cũng hoa mày chóng mặt. Trong khí thế cả nước, quân cũng như dân đang dốc toàn lực cho sản xuất và chiến đấu, chúng ta không được quyền đòi hỏi ăn nhiều. Chúng ta chỉ xin ăn tạm đủ để có sức mà lao động sản xuất. Hơn nữa trong vụ giáp hạt của trại ta vừa qua: gạo chúng ta không có đã đành, nhưng sắn cũng không đủ, nhất là rau. Phương ngôn của dân tộc ta vẫn có câu: cơm không có rau, như đau không có thuốc. Chúng ta thiếu rau trầm trọng. Ăn muối rang nhiều bữa, nhiều người trong toán đã đi ngoài ra máu, trong đó có tôi. Toán chúng ta lại chỉ quanh quẩn làm trong lán thủ công…..

Anh Tích phát biểu đến đây, chừng như mệt ngừng lại để lấy hơi. Mọi người đều dướn người nhìn về phía anh. Da mặt ai hình như cũng được giãn ra, nên hơi sáng lên. Anh Tích lại tiếp tục:

– Tôi được biết toán rau đang thu hoạch toàn bộ 5 sào cải bắp cho cơ quan. Tuy những lá già được thu hoạch về phân phối một phần cho trại ta, một phần cho chăn nuôi của cơ quan. Nhưng anh em toán rau cho biết, vẫn còn nhiều rơi rớt, lãng phí. Do đấy, tôi đề nghị anh toán trưởng hãy mạnh dạn đề bạt với cán bộ toán quan hệ với ông Toàn cán bộ toán 5 cho anh Chén nhặt nhạnh và xin một ít lá cải bắp già về luộc cải thiện cho toán.

Đến đây thì mọi người nhao nhao lên tán đồng, ủng hộ ý kiến của anh Tích. Ngay cả tôi, mới vào có mấy ngày, cũng sót ruột như bào vì bữa cơm chỉ có sắn mà không có rau. Trong toán vẫn còn râm ran, ồn ào cả lên. Anh Lân phải cao giọng hai lần:

– Các anh trật tự, im lặng để sinh hoạt tiếp.

Rồi anh qua sang Phan Thanh Vân:

– Bây giờ đến tổ anh Vân cho ý kiến.

Từ đầu Vân vẫn cắm cúi ghi chép. Bỏ bút, anh hơi ưỡn người, chắc cho đỡ mỏi. Vì anh ngồi sát chiếc đèn, tôi nhìn rõ cái mắt chột phía trái của anh. Nó hoắm sâu vào như cái lỗ đáo, một vệt nước ướt vàng nhờn nhợt đang rỉ ra. Một cái sẹo dài ngòng ngèo, có một miếng thịt gồ lên ở dưới má. Mấy nốt sần sùi gần ngang miệng càng làm cho bộ mặt hơi to của anh thêm dữ tợn. Bù lại, anh có giọng nói nhỏ nhẻ và ấm cúng với chiếc miệng lúc nào cũng như cười, đã làm giảm hẳn cái nét dữ trên khuôn mặt. Một mắt anh liên láo nhìn mọi người một lúc, rồi cất giọng nói từ từ, thong thả:

– Tổ chúng tôi gồm 10 người. Chúng tôi đang nhận kế hoạch thi công 50 cái giường cá nhân. Sau nhiều lần bàn cãi, trao đổi, tổ chúng tôi đã cùng nhau hạ quyết tâm sẽ vượt mức ấn định 3 ngày, để lấy thành tích chào mừng quân và dân ta đã hạ 2000 máy bay của giặc Mỹ xâm lược. Nhưng hiện nay, chúng tôi hơi gặp khó khăn: anh Khải bị đi kỷ luật sáng hôm nay, do đấy, hẳn rằng chúng tôi sẽ không thể thực hiện được mức đã giao kết. Ngoài ra, sáng hôm nay có sự hiểu lầm để đến chỗ tranh chấp nhau về gỗ lạt với tổ anh Tích. Tôi thấy rằng tổ anh Tích đã sai. Những tấm ván đó, chúng tôi đã mất công lục lọi, bới tìm từ trong đống gỗ của lán chọn ra. Như thế, những tấm ván mà anh Lân toán trưởng phân cho tổ anh Tích là những tấm ván khác. Hoặc, chính anh Lân đã chưa biết những tấm ván ấy là của chúng tôi đã chọn ra nên đã phân bổ cho tổ anh Tích.

Sau khi Vân phát biểu xong, đến Quý Cụt tổ vernie của tôi cũng phát biểu, nhưng không có gì mới. Đến đây, anh Lân lại nhìn khắp lượt cả toán rồi dè dặt thăm dò:

– Sau khi chúng ta đã nghe các tổ đã lần lượt trình bầy, bây giờ xin anh em trong toán phát biểu.

Anh Lân chưa dứt lời đã có 3 – 4 cánh tay giơ xin có ý kiến. Trong 4 người này thì tôi đã biết 2 là Lù Chằn Páng và bác Đặng Minh Chánh. Anh Lân chỉ bác Chánh nói trước. Với giọng miền Nam khàn khàn, nhưng bác nói thật to và mạch lạc:

– Tôi phản đối ý kiến của anh Lân toán trưởng khi nãy, cho là toán hai khâu tư tưởng quá nặng nề. Tư tưởng là trừu tượng! Bản thân của tư tưởng thì không ai nhìn thấy nên không thể ai đánh giá được là xấu hay tốt. Vậy chỉ có thể đánh giá được khi nó thể hiện ra lời nói, cử chỉ hay việc làm. Bởi tư tưởng là thống soái, là bộ tổng tư lệnh chỉ huy mọi việc làm, cử chỉ cũng như lời nói của một người. Toán 2 chúng ta như các tổ đã trình bầy, hầu hết là hăng say, tích cực lao động. Lao động có hiệu suất cao, vượt nhiều chỉ tiêu kế hoạch, làm lợi cho công quỹ của trại. Thực hiện nghiêm chỉnh 12 điều nếp sống văn hóa mới, 10 điều nội quy và 4 tiêu chuẩn cải tạo. Như thế, nếu bảo tư tưởng không tốt, tư tưởng nặng nề thì làm sao đạt được những thành tích tốt đẹp như vậy? Làm sao mà hầu hết những công trình chính, những việc trọng yếu trong trại gần như đều do toán 2 thi công, thực hiện? Do đấy, những anh em bị đi kỷ luật là những cái riêng biệt cá nhân của mỗi người. Không thể nào chỉ nhìn vào vài cá nhân này mà đánh giá cả toán 2. Phần nữa, hiện nay anh Khâm của toán ta bị bệnh lao, đang nằm ở bệnh xá. Hôm qua tôi được biết, do thời tiết quá lạnh và do thiếu… à bệnh tình của anh khá nặng nên hai ngày nay anh đã lịm đi, ngay nước cháo cũng không ăn được nữa. Có thể đêm nay, hoặc ngày mai sẽ từ giã chúng ta. Tôi đề nghị, ngày mai nếu anh còn sống, toán ta cứ lấy hai người đại diện. Tuy chúng ta cũng chẳng có gì để giúp mình, nhưng gọi là nghĩa tình cùng một tầu ngựa, thăm hỏi, an ủi nhau bằng một vài lời cho ấm lòng kẻ ra đi.

Ông già nói hùng hồn, nói phòi cả bọt mép ra. Cứ mỗi lần, ông nhấn mạnh, tay của ông lại vẩy ra một cái, như có con sâu róm đậu vào tay; như phụt ra được một ấm ức đã ủ nên từ lâu. Anh Lân lại chỉ tiếp một anh khi nãy đã giơ tay xin phát biểu. Anh này người thật to lớn khác thường, còn cao hơn cả Phan Thanh Vân. Anh là người cao, to nhất toán, có khi nhất trại. Cũng cái đầu cắt cao như Đinh Sơn, anh có làn da bánh mật. Những ngón tay của anh to như những quả chuối tiêu xanh luộc rồi, vừa dài, vừa xam xám. Nhưng anh lại có một bộ mặt nhìn thật hiền. Tò mò tôi lại ghé sang Châu thì được biết anh là Lê Văn Kinh, người nhái bị bắt trong vụ nổ, phá một chiếc tầu trên sông Gianh năm 1962. Khi phát biểu, tôi mới biết anh là người miền Nam. Anh nói giật giọng không đầu, không gẫy gọn, sáng tỏ ý. Chứng tỏ rằng anh không phải là người quen ăn nói, tranh cãi trước đám đông. Nội dung anh phát biểu cũng chẳng có gì khác lạ; không ngoài mấy vấn đề sinh hoạt, lao động trong tổ, trong toán. Nghe anh phát biểu, tôi có cảm tưởng anh chỉ muốn chúng tỏ là một người cải tạo tiến bộ, có tinh thần đóng góp với tổ, với toán mà thôi.

Lần này thì anh Lân chỉ tiếp đến Lù Chằn Páng. Anh này, da trắng trẻo như con gái. Người tầm thước, hay mặc chiếc áo bóng xanh mầu da trời, nhiều chỗ bạc phếch với nhiều miếng vá loang lỗ. Tuy tiếng Việt nói không rõ lắm về âm sắc; chỉ thô kệch, mộc mạc, nhưng mặt anh đỏ lên trong khi phát biểu. Những lời nói của anh như được xì ra từ một nỗi căm tức, uất ức trong lòng:

– Tôi xin có ý kiến với anh em là anh Dũng tổ trưởng của tôi không có tốt. Anh ta cậy mình là tổ trưởng, áp chế tôi không biết ăn nói, là người dân tộc. Từ lâu, tôi có một miếng xà phòng của gia đình tiếp tế. Anh muốn xin một nửa, tôi không cho. Tôi để dành, để thỉnh thoảng gội đầu. Rồi anh ta ghét tôi. Anh ta giữ nội quy cũng không có tốt. Hôm nọ, buổi trưa, tôi thấy anh ta vào phòng trật tự của anh Tân cùng vụ với anh, giấu đem về buồng củ sắn nướng. Tôi nằm gần, thấy anh bỏ màn, lén lút lấy ra ăn. Anh Dũng không có cải tạo tốt đâu!

Một vài tiếng cười rúc rích khi nghe anh Páng phát biểu. Tôi cũng thấy rung rung trong bụng, không phải vì nội dung lời phát biểu của anh, nhưng là cử chỉ, thái độ tức bực, phẫn nộ của anh. Tuy ai cũng cảm thấy là anh đã nói thật.

Còn một người có ý kiến nữa là anh Lương Yên. Người quét dọn vỏ bào, làm vệ sinh ngoài lán thủ công của toán. Tuy anh chỉ khoảng 45 – 46 tuổi nhưng mồm anh chỉ còn cái răng, nên má hóp vào thành móm sều. Anh đề nghị mọi người trong toán khi lao động ở ngoài lán thủ công hãy tiết kiệm nước uống. Các cán bộ vũ trang, từ nay chỉ dẫn anh vào giếng trại lấy nước có một lần vào tiết lao động sáng. Bởi vậy, chỉ có một gánh nước nên buổi sáng một thùng và chiều một thùng, thay vì hai gánh sáng, chiều như trước đây.

Vì không có đài, nên cũng chả biết lúc này là mấy giờ. Nhìn qua khe cửa sổ ra bên ngoài, trời đen kịt một mầu. Tuy ngồi trong buồng, cạnh bao nhiêu người mà tôi vẫn lạnh run. Nhiều người đã ra chiều mỏi mệt, ít nhất cũng gần 3 tiếng đồng hồ rồi. Tư tưởng tôi đang bồng bềnh băn khoăn, vấn vít vào những tình huống của cảnh đời mới thì tiếng anh Lân dội lên:

– Cuối cùng xin anh Bình phát biểu cảm tưởng sau một ngày đi lao động.

Không hề nghĩ là anh Lân muốn tôi phát biểu hôm nay, vì tôi đã biết gì đâu? Bất ngờ nên hơi khớp, tuy vậy sau một giây lấy lại tinh thần tôi chậm chạp nói:

– Thưa các anh, sau một ngày theo các anh đi lao động ở lán. Nó cũng là ngày đầu tiên đi lao động trong cuộc đời cải tạo của tôi. Rồi tối nay lại được dự một buổi sinh hoạt chung với toán. Cảm tưởng của tôi thì nhiều, nhưng cảm tưởng nào cũng còn nhiều ngỡ ngàng chưa rõ, chưa chính xác. Có một điều đã rõ nhất là tôi được an lòng hơn so với khi chưa nhập trại.

Anh Lân thấy tôi ngừng lời, anh quay sang phía Vân:

– Đề nghị anh thư ký đọc lại biên bản cho toàn toán nghe như thường lệ.

Phan Thanh Vân đọc lại biên bản chưa xong, tuy đã gần hết thì kẻng cấm đã gióng giả từng tiếng một, lanh lảnh vang lên như khua đập vào óc. Trong buồng lại ồn ào như tan hát. Chỗ thì chen chúc nhau vào nhà cầu, chỗ thì túm hụm chung quanh những chiếc điếu cầy, trong khi Vân và Lân đang vội vàng ký vào những tờ biên bản.