Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Tình mẫu tử xoắn vò

Đặng Chí Bình

Bài 39

Trong tình trạng đen tối như thế của giai đoạn ấy, thì chuyện cậu mợ Tập nhường chuyến đi lại cho tôi, là một cơ hội của đời tôi. Hơn nhiều người đã hiểu, đã biết: Trong đời của một người, cơ duyên (duyên may) chỉ đến một hay hai lần, nếu người đó không biết nắm lấy, để nó vuột đi, đôi khi lại có tác dụng ngược. Nghĩa là cái cơ duyên đó lại làm cho đời người ấy khốn đốn tơi bời.

Vì đời là kỳ diệu!

Như vậy, ai cũng đã thấy, nếu tôi không nhận, mới là chuyện “trái khoáy” của cuộc đời. Theo ý cậu mợ Tập, nếu tôi đồng ý ra đi, thì một buổi hai vợ chồng tôi xuống gặp cậu mợ bên đường Trần Quốc Toản, sau này là đường 3 tháng 2. Chúng tôi đã nhờ mẹ, cho cậu biết và xin một ngày chúng tôi sang thăm cậu mợ.

Đêm ấy hai vợ chồng tôi cũng biết bao nhiêu tâm tư chồng chéo trong lòng.

Trong cuộc sống biết bao nhiêu chuyện không theo ý của mình, mà phải theo một cái khuôn thước hoàn cảnh và điều kiện khách quan. Chẳng một ai mới cưới một người vợ trẻ đã bỏ vợ lại để ra đi, và càng chẳng một ai, người con gái mới lấy chồng lại muốn để cho người chồng của mình ra đi. Ra đi vượt biên ở những giai đoạn ấy có hàng chục tình huống xẩy ra, tù đày, xuống lòng biển, cướp biển bắt v.v. . . Còn một cái có thể ở cả những trường hợp đi thoát, đi được, nhưng người ra đi đã ôm cầm thuyền khác, điều này lại không phải là cá biệt.

Như vậy tâm trạng của Hoa, vợ thương yêu của tôi, sẽ trăn trở như thế nào? Nhất là trong bụng đã có mầm mống của tôi hai ba tháng, kẻ ở người đi: “chia đàn, xẻ lứa”? Tôi phải hiểu để cảm thông với những trận giông bão trong lòng của Hoa. Chồng mới cưới, mới bén mùi thương yêu đã ra đi với hàng chục tình huống. Hầu như ra đi, không có ngày trở lại, bụng mang dạ chửa, tay làm hàm nhai (Tay trắng như chưa bao giờ trắng thế?). Chồng ra đi, còn để lại một trách nhiệm ý thức liên đới, cha mẹ già yếu, mù lòa. Hoa ơi! Nghĩ đến đây, anh chỉ biết xin cúi đầu lắng nhận cái lồng lộng của tình em, sự chịu đựng truyền thống, em đã được thừa hướng, của người phụ nữ Việt Nam. Con xin cảm tạ Trời, Chúa đã ban cho con một người vợ là Hoa.

Một buổi chiều, sau một ngày lao động căng thẳng, tôi uể oải nhấn chiếc bàn đạp của chiếc xe, cũng mắc nhiều bệnh, vì tuổi nó cũng đã về chiều. Mở khóa vào nhà, cũng như mọi khi, thoáng bóng thầy tôi nằm trong màn, dù thức hay ngủ tôi vẫn lên tiếng chào: “Thưa thầy, con về”, rồi vào gian trong chào mẹ, nhưng mẹ tôi không có ở nhà. Loáng lên, tôi thấy có vấn đề, lại không thấy em Hoa. Nhớn nhác, tôi xuống bếp, bếp cũng lạnh vắng như “chùa bà Đanh”, vừa quay lên nhà, tai thoáng có tiếng động trên sàn gác, tôi giồ lên, thì cũng là lúc có đôi bàn chân mềm, của em Hoa thò đi xuống. Tôi được biết từ sáng, Hoa đã đưa mẹ vào nhà thương Hồng Bàng.

Khoảng 9: 30 (sáng) thầy tôi mở cửa, gào to với hàng xóm:

– Các ông, các…… bà …..ơi!

Bà Chức và một vài người chạy sang. Mẹ tôi đã nôn ra nhiều máu, người đang xỉu trên giường, mỗi người một tay, nắn cổ, xoa dầu, đỡ bà cụ ngồi dậy.

Bà Chức, nhanh nhẹn chạy sang tổ ngòi bút Đức Thành gọi Hoa; rồi bà Chức và Hoa đã thuê chiếc xích-lô đạp, chở bà cụ vào nhà thương Hồng Bàng cấp cứu.

Hoa đã mệt nhọc từ sáng với bà cụ trong nhà thương, mới về hơn một tiếng, quá mệt lả, nên chả thiết làm hay ăn uống gì. Tôi tranh thủ gầy nồi cơm, rồi chuẩn bị cùng với Hoa trở lại nhà thương, mãi bên Chợ Lớn. Dưới đất, trên giường đây đó còn những vệt máu của mẹ tôi, chưa dọn lau sạch, tuy tôi cũng mệt, nhưng bụng chả thiết uống, ăn gì. Vả lại, có muốn ăn cũng chả có gì mà ăn.

Nghĩ đến mẹ tôi đang rờ rẫm một mình trong một căn buồng nhiều người lao bệnh khác, như tôi vừa nhai xong một nhúm muối rang. Tôi muốn phóng xe ngay, sang nhà thương Hồng Bàng, nhưng nhìn Hoa đang chậm chạp đi xuống bếp, để giải quyết vệ sinh, tôi lưỡng lự vài giây. Tôi đã vậy, nhưng còn Hoa, người vợ thương yêu của tôi đã có bầu? Mệt nhọc từ sáng với mẹ tôi, nếu không tỉnh táo giải quyết lần lượt sự việc, có nhiều khi sự việc lại kéo dài thêm ra, trầm trọng thêm. Nếu quá sức, người mẹ đã vậy còn đứa con trong bụng?

Nồi cơm đã ghế, đảo 5-10 phút nữa chín, Hoa phải ăn một bát cơm nóng. Tôi đổ thêm một ít mắm cáy của mẹ Hoa mới cho hôm qua, thêm lẫn vào chiếc soong con mắm tôm chưng, hai loại mắm đảo lộn với nhau. Chưng nóng sôi lên thành một món ăn ít người được thưởng thức. Vừa xong thì cơm cũng đủ chín, Hoa cũng từ nhà cầu ra, hai chúng tôi mỗi người một tay, một chân, lấy sẵn bát đũa, thìa lên bàn cho thầy tôi, rồi mỗi người xới lẹ một bát cơm thưởng thức vội, với món ăn tôi vừa sáng chế.

Hai vợ chồng vừa nhìn nhau, vừa nhồm nhoàm nhai miếng cơm với mắm, tôi chợt nghĩ đến một ý:

Dù nghèo mà vui…..Hỏi ai không hé môi cười… …

….

Tôi yêu ….quê tôi, yêu lũy tre dài… …đẹp xinh …

Rồi miệng nhai, tai tôi nghe rõ mồn một bài hát “Tôi Yêu ” hình như của ông Trịnh Hưng sáng tác thì phải, từ trong hố sâu của ký ức. Tiếng hát đu đưa réo lên ở một chiếc loa phóng thanh, trong khu chợ Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn một buổi chiều muộn nắng nhạt, khi nhiều gia đình đã quây quần bên mâm cơm năm 1958.

Tôi yêu …..quê tôi…..yêu mãi ….bây giờ càng yêu… …

Yêu con sông xanh……dâng cát …..hoe vàng bên đình……

Yêu trăng buông lơi…..trên má cô nàng…..dệt tơ….

Và yêu cánh đồng vời xa… ….. ngàn tay dâng mùa thái hòa

Yêu anh, yêu em……. Yêu nước…..yêu trời gần xa

Và yêu….mối tình nở hoa….ngàn năm …..không hề phai nhòa.

Tôi mắm môi, mẩm lợi đèo Hoa sang Chợ Lớn cho kịp trước giờ nhà thương đóng cửa. Đến cổng cũng là lúc ông già gác cổng đang đẩy cánh cổng khép lại để khóa. Tôi hộc tốc cùng Hoa xông vào, ông già nhìn tôi và Hoa đang chạy phía sau với vẻ mặt của con ngan vừa “tè”, ông nói như tiếng mưa rơi mùa hè :

– Đã đến giờ rồi, anh ơi!

Vừa thở hổn hển, mặt tôi vừa dài ra, nhăn nhúm lại:

– Thưa bác, tôi vừa đi làm về tới nhà, mẹ tôi bị ngất đưa vào đây, xin bác thông cảm cho đứa con trai nghèo thăm người mẹ.

Ông già ngừng tay đóng cổng, mặt của ông tỏ vẻ ái ngại:

– Tôi thông cảm cho anh, còn cháu thì không được!

Tôi biết ông ta lầm, nên nhã nhặn nài nỉ:

– Thưa bác đây là vợ của tôi… cũng đã mang bầu…..

Ông mở cổng rộng ra, nhưng mắt của ông cũng mở to, tưởng chỉ còn lòng trắng, để nhìn hai chúng tôi như một chuyện không bình thường của quê hương nhiều máu lửa. Khi tôi đi qua cổng, ông già đã để tay lên tay tôi, trên ghi dông xe như muốn kéo lại để ông cởi cái nút băn khoăn trong lòng của ông về một đôi vợ chồng, mà ông lại tưởng là cha và con.

Nhưng rồi ông lại nở một nụ cười hiền hòa, đẩy tôi đi, như đã tự tìm được câu giải đáp: Trong một đất nước không may gặp phải cái nạn “hồng tuộc” để gây ra một cuộc chiến tranh dai dẳng ác liệt suốt một giải Trung Nam Bắc liên tục 30 năm. Hết chống thực dân xâm lược, lại làm nồi da để nấu, hầm thịt của mình. Cho nên nó đã đẻ ra nhiều chuyện không bình thường, mà đây là một. Khi đã có quá nhiều chuyện không bình thường, thì đương nhiên nó trở thành chuyện bình thường. Có nghĩa chuyện của vợ chồng tôi, cũng chỉ là, một câu chuyện bình thường của quê hương nhiều súng đạn, lửa, bom của chúng ta.

Tôi đã hình dung từ trước, nhưng khi nhìn thấy mẹ tôi, tôi đã không nhìn rõ người, vì nước mắt của tôi giàn ra mà tôi đã không kìm giữ được. Họ đã cắt tóc mẹ tôi chỉ còn hơn một phân. Người nằm, mắt người lúc nào cũng nhắm, không thể biết được người thức hay ngủ, nếu người không động đậy tay, hoặc chân. Cái mặt của người khắc khổ càng bé choắt lại.

Ngày xưa, mẹ tôi là người đẫy đà, tầm thước duyên dáng đã được nhiều bạn hàng và họ hàng trêu đùa, ca ngợi, nhất là đôi mắt. Đôi mắt mà thầy tôi vẫn bông đùa với chúng tôi, mỗi lần nàng Xuân của dân tộc ghé thăm gia đình tôi: “Mẹ chúng mày có đôi mắt thu hồn người”, thế mà giờ đây, một tấm thân khô gầy, tiều tụy chỉ vì những tai ương của cuộc đời đã dập vùi, dầy vò mẹ tôi.

Cái tai ương mở đầu, lại chính đứa con trai cả, yêu quý của người gieo. Người con trai ấy đã bất ngờ bỏ ra đi, không một lời từ giã mẹ mình, để lại cho người những đêm dài thấp thỏm, khắc khoải nhiều nước mắt.

Người con trai khi đó do bầu nhiệt huyết, tâm hồn trắng trong của tuổi trẻ, thẩm thấu cái nhân sinh quan của cụ Nguyễn Công Trứ: Chí trai ngang tàng vẫy vùng ngang dọc bốn phương trời. Không những cụ có tài về quân sự mà còn uyên bác về kinh tế, xã hội. Trong văn học sử nước nhà, khó tìm được một người: Tri, ngôn, hành hợp nhất. Vì thế ngay khi còn niên thiếu, học trung học đệ II cấp, tôi đã thuộc làu nhiều thơ văn của cụ. Chỉ nghĩ và làm những điều mình muốn, ở những phương trời có lửa và có máu. Chàng trai ấy, đâu nghĩ đến cái nỗi lòng của người mẹ, chờ con:

Chờ con lúc canh khuya……

Người con ….đã ra đi ….. vì ….nước!

…..

Để rồi …….. biền biệt ……… mất tiêu.

Tôi hơi một chút se lòng, lắt lay trong đạo lý làm con, mập mờ, sáng tối giữa hiếu và trung. Mẹ tôi đã khóc thương con nhiều, nên người đã lòa cả đôi mắt từ 1964. Còn thằng con trai thứ hai lớn lên, cũng đi vào quân đội để cứu nước, cuối cùng đã bị một tên du kích hạ sát để trả thù, lúc đang ngủ ở giữa cánh đồng, trên Hồng Ngự năm 1976 để lại một đàn con sáu đứa côi cút và người mẹ cũng đã bước sang thuyền khác. Người có hai đứa con trai, thì cả hai đứa đều bỏ người lại, để ra đi không trở về.

Cuộc đời của người và gia đình càng chìm sâu vào vũng lầy trong hang tối, để đến bây giờ từ lao tâm, người đã trở thành lao phổi, trầm trọng mà không có thuốc men để chữa chạy. Tôi cứ ngồi yên nhìn mẹ tôi nằm, dòng suy tường của tôi cứ cuồn cuộn vặn vò trong đầu, nó đã vắt kiệt và đẩy dần nước ra ngoài mắt tôi

Đặt một tay lên bàn tay gầy của người. Tôi chỉ nói được một tiếng “mẹ”, bao nhiêu nỗi niềm như đút chặt cổ họng, làm tôi không nói ra lời. Mẹ tôi tuy nằm, nhưng người không có ngủ, như “thần giao cách cảm” người biết ngay là tôi. Nước mắt của người đã giàn ra, môi của người mím lại rồi thốt ra, cũng chỉ có một tiếng “con”. Tay của người xoay lên cầm nhẹ tay tôi, người vẫn nằm yên, nhưng trong hai hố mắt của người nước càng giàn ra nhiều hơn. Tôi phải lấy khăn lau mắt cho người và cũng chiếc khăn ấy, lau cả cho tôi. Nhìn lên Hoa, mắt cũng đỏ hoe, tôi chợt nhớ đã đến giờ về để trình diện.

Hoa ở lại với mẹ, 5 giờ sáng mai tôi đưa cơm nước sang, hẹn Hoa ở ngoài cổng nhà thương, vì giờ đó chưa mở.

Tôi sẽ dậy từ 4 giờ, nấu cơm, để kịp chuẩn bị đưa sang nhà thương, rồi phóng xe sang tổ mộc Thành Công, bên Phú nhuận. Tôi còn phải sang bà mẹ vợ, nhờ mẹ đến tổ ngòi bút Đức Thành, xin cho Hoa nghỉ để chăm lo mẹ lòa, trong bệnh viện.

Sau khi tôi đi trình diện về, ở nhà tối hôm nay chỉ có hai bố con tôi, nhìn đôi mắt chậm chạp lờ đờ của thầy tôi, tình phụ tử từ dưới đáy con tim của tôi đã trỗi dậy. Mới 7: 30, tôi chạy vội ra cửa hàng bà Lân để mua thêm hai hào cà ghém nén, món cà tuy mặn, nhưng thầy tôi vẫn thích từ ngày xưa.

Sau khi bà xúc cho gần một chục quả cà, tôi nhìn mấy con cá khô, tôi biết thầy tôi cũng thích mà tôi cũng thèm, nhưng tôi cứ ngần ngừ. Bốc đồng, tôi định bảo bà ấy bán cho hai con, chợt nhớ Hoa đã dặn gom cho đủ 12 đồng để đong thêm 7 kg gạo thiếu. Vì đã đổi bo bo để lấy gạo, vừa không muốn ăn bo bo lại vừa thích ăn cá kèo, thì làm sao mà đạt? Năm hào cà nén, đã là phóng tay rồi. Tôi bước ra tới cửa thì bà Lân lại gọi giật vào:

– Cậu cứ cầm lấy hai con cá về mà ăn! Tôi không lấy tiền đâu!

Tôi đã trợn mắt nhìn bà Lân “bà này đọc được tâm tư của tôi ư?”. Nghèo, nhưng lòng tự trọng của tôi vẫn trỗi lên:

– Cám ơn bà, tôi đủ rồi!

Bà ấy cầm luôn hai con cá, gói vào miếng giấy báo đưa vào tay tôi:

– Cậu cứ cầm về đi, tôi còn mang ơn bà cụ nhiều lắm!

Sau này, tôi nhớ lại, có lần tôi hỏi mẹ tôi thì được biết: Khi mắt của mẹ tôi còn sáng bán vải ở chợ, người giữ (làm chủ) nhiều bát “hụi”, không những rộng rãi, nhân nhượng với bà Lân, mẹ tôi còn là người đỡ đầu cho con trai của bà ấy.

Sáng hôm nay, cũng như mọi khi, tôi dậy từ 3: 30, để lo cơm nước đưa sang cho mẹ và em Hoa. Đặc biệt hôm nay, có chừng nửa lạng bột sắn dây, loại này giai đoạn ấy rất quý và hiếm của bà Cần trước cửa nhà, đưa cho tôi chiều qua, dặn đưa vào cho bà cụ. Thứ này rất mát, rất tác dụng với bệnh lao phổi.

Ngoài ra, chiều qua tôi có mua được một bó rau lang, tôi đã luộc để lại cho thầy tôi mươi ngọn, tôi ăn mươi ngọn, còn gói đem sang cho Hoa và mẹ. Ở nhà thương mẹ uống thuốc bị nóng, thiếu rau tươi, Hoa cũng cần vì bụng chửa, tôi cũng cần “bồi dưỡng” cho con tôi đã 4- 5 tháng rồi. Chả biết con trai hay con gái, kinh nghiệm của cô Thu, cô Xuân và mấy bà hàng xóm, bụng chửa tròn như quả dưa hấu, đứt đuôi là con gái. Nhưng theo mợ Út và ông lang Diệm phía trước nhà thờ, bụng óng lên như mít Tố Nữ thì có chạy đi đằng trời, cũng là thằng cu tí! Tôi chẳng biết nghe ai, con trai hay con gái, cũng là của quý như ngọc, như vàng của tôi. Bây giờ tôi cứ phải bồi dưỡng cho con tôi đã. Con thông cảm cho bố nhé! Bố không có tài, lại đang bị con Hồng Tuộc nó ràng bố, nên bố chỉ có rau lang, để bồi dưỡng cho con thôi.

Vừa đạp xe, đầu óc mông lung, vừa nghĩ đến bồi dưỡng, mà đã nhìn thấy cổng bệnh viện Hồng Bàng rồi. Mới 4: 45, còn 15 phút nữa, mới tới giờ Hoa ra cổng.

Nhìn chéo phía bên kia cổng, một mảnh vườn con, với chiếc ghế để không, tôi vòng sang đấy ngồi chờ. Mới còn tinh mơ, đã có hai chú bướm trắng đậu vào hai bông Thược Dược. Hai cánh “khỏa” chậm chạp như một ông tiên, đang phe phẩy chiếc quạt lông ngỗng. Tôi khẽ nhón bước, lách vào bụi râm bụt, tiến lại gần hai anh chàng hay cô nàng bướm. Thôi, cứ cho một chàng và một nàng đi, cho họ hạnh phúc mà mình có thiệt hại gì đâu?

Một con phía cuối cánh, gần đuôi có mầu xanh nước biển, một con cũng phía cuối, lại có mầu vàng nghệ, tôi cứ cho con vàng nghệ là một anh chàng đi. Anh chàng thò mãi cái vòi như sợi chỉ nâu, chọc vào hết chẽ này, lại chẽ khác của nàng Thược Dược mới nở. Hai chiếc cánh cứ ấp vào rồi lại mở ra, thỉnh thoảng cái bụng con, cong cong của con bướm có điểm chút màu xanh biển, cũng có vẻ tham lam lắm. Chiếc vòi của nàng ngoặt ngoẹo lách vào chẽ này, lại quặt sang chẽ khác của bông hoa. Hai chiếc râu con phía trên đầu, cứ lắc lắc mở dài ra, rồi lại cuộn vào cứ như đang bơm bánh xe đạp bị hết hơi. Cánh của cô nàng cũng từ từ mở ra khép vào giống như anh chàng mầu nghệ, có thể anh chàng và cô nàng đã chắc dạ, nên lại lẳng lơ vờn đuổi nhau sang mãi bên kia vườn.

Cũng kỳ khôi, từ nãy tâm trí của tôi chỉ chú ý đến đôi bướm trắng mà không để ý đến một khóm huệ, phía sau chiếc ghế tôi ngồi, có hai con chuồn chuồn nâu gắn vào nhau! Nhìn thoáng, tôi có cảm tường là một chiếc trực thăng thu nhỏ. Chúng không biết có tôi ngồi ngay đấy, tôi khẽ xoay người đầu cúi thấp, mò gần lại xem chúng làm gì mà lạ vậy? Thảo nào, mới khi vào ngồi ghế, lẫn vào mùi thược dược rõ ràng có một mùi lạ. Bây giờ tôi mới hiểu, đó là mùi đài các qúy tộc của huệ trắng, thứ hoa thường để dâng hiến Đức Mẹ và Phật Bà Quan Âm. Nó vừa trâm anh, thế phiệt lại vừa hòa nhã, khiêm tốn, đạo đức, thế mà mấy chú chuồn chuồn mới bảnh mắt, đã rủ nhau đến làm trò.

Rất là lạ, đuôi của một con phía dưới lại cong tớn lên, gắn vào phía sau đầu của một con, ôm phía trên. Con phía trên quay ngược đầu lại, thò mãi cái đuôi dài xuống phía dưới, gắn vào bụng của con phía dưới: Chẳng biết chúng làm cái trò gì mà rắc rối vậy? Tôi đã giơ tay lên định chộp cả đôi, để nhìn cho rõ, nhưng tôi chợt nghĩ, dù là một sinh vật nó cũng có buồn, vui, sướng khổ, tôi không có quyền làm gián đoạn hay phá quấy, cuộc sống của chúng nó.

Nghĩ thế, tôi đã hạ tay xuống để cho cái mũi, tự do hà hít cái hơi thiên kim của nàng huệ trắng, đang phì ra cái hơi ngát, ngây ngất của tiểu thư. Làm cho tôi quên béng là phải đứng yên và thở nhẹ, để ngắm nhìn đôi chuồn chuồn. Tôi đã đứng thẳng người lên, làm cho hai chú chuồn chuồn đang ôm nhau, cất cánh sang mảnh vườn bên cạnh. Lúc chúng ôm nhau bay đi, lại càng giống một cái trực thăng bà già, mà tôi đã nhìn thấy nhiều lần.

Tôi đang định dẫn xe đạp theo sang mảnh vườn bên ấy, thì đã thoáng thấy bóng em Hoa trong cổng bệnh viện, phía bên kia đường đang vẫy. Như chợt tỉnh một cơn mê, của anh chàng Từ Thức :

Rằng xưa…..có gã …..từ quan …… ….. lên non

Tìm động …….hoa vàng …… với …..tiên!

Tôi vội dẫn xe đưa các thứ sang cho em Hoa, đến nơi, chưa kịp hỏi thăm mẹ, em Hoa đã hỏi tôi rồi:

– Anh làm gì . . . . . . mà em gọi . . . . . . em vời mãi?

– Xin lỗi em! Đêm qua anh ít ngủ, nên hơi mệt? Mẹ …. đêm qua, có ngủ được không em? Cả em nữa?

Chợt nghĩ đến con của tôi, như có một sinh khí luồn vào người, tôi tươi mặt:

– Thế còn con của anh, nó có ngủ yên không?

Hoa đỏ mặt rồi ứ. . . .ứ, tay cầm các thứ đi vào, chẳng trả lời một câu hỏi nào của tôi. Tôi cũng đã đến giờ phóng xe sang Phú Nhuận.

Buổi chiều, tôi lúi húi vo gạo, đặt nồi cơm để chuẩn bị sang với mẹ. Đã hơn một tuần, mẹ tôi đã đỡ nên ngày mai nhà thương sẽ cho mẹ tôi về nhà, uống thuốc Bắc. Mấy hôm trước, một ông bác sĩ trẻ trưởng khoa, hỏi tôi và Hoa có một loại thuốc trị vi trùng lao của Tiệp rất hữu hiệu, chúng tôi có đủ tiền lo cho bà cụ không? Với giá tiền ấy, chẳng khi nào chúng tôi nghĩ tới, chứ đừng nói là chúng tôi có, nhà chạy gạo, chạy củi từng ngày làm gì có tiền mua loại thuốc như vậy.

Có thể Chúa và ông Trời đã thương gia đình chúng tôi hay sao, vài ngày sau, mẹ tôi lại tỉnh táo, như có một phép lạ tiếp sức, hàng ngày nhà thương cũng cho mẹ uống thuốc lá Đông y là chính.

Buổi tối, tôi đi trình diện về, vừa bước vào nhà, thầy tôi chỉ chiếc ghế như bảo tôi ngồi. Tôi ngồi đưa đôi mắt ngạc nhiên nhìn thầy tôi, hôm nay người có những thái độ khác thường. Người mở tủ, trịnh trọng lôi ra một chiếc hộp con đánh vẹc- ni đã cũ, từ mãi góc trong cùng của chiếc tủ cũng xấp xỉ tuổi đời với thầy tôi. Người mang chiếc hộp ra chiếc bàn con, nhà vẫn ăn cơm. Chiếc hộp chỉ có cái móc, không có khóa, người ngồi xuống mở hộp, tôi đoán chắc người có món gì quý người cho tôi đây? Người cầm ra một cái lọ con mầu tím xanh, người đưa cho tôi mặt người tươi lên, nói dịu dàng:

– Con giữ lấy . . . . . . mà dùng?

Tay tôi cầm, nỗi ngạc nhiên của tôi càng lớn hơn, rõ ràng là lọ mực Wateman của thời trước 1975. Lọ mực còn đầy nguyên chưa mở, vậy người đưa cho tôi để làm gì? Dù tôi biết là thầy tôi đã hơi lẫn trí, nhưng tôi vẫn băn khoăn. Để thầy tôi vui lòng, tôi nhận và cũng trịnh trọng:

– Con cám ơn . . ..thầy!

Thầy cho mực để đi học? Rõ ràng tôi đã bốn mươi mấy tuổi, lại đang là phó thường dân, chạy ăn từng bữa, còn đang làm đơn xin vào nơi địa ngục của đời, thì còn học hành cái gì? Vậy người cho lọ mực để tôi bán lấy một hai đồng? Hợp lý và rốt lý nhất là tinh thần của người không còn sáng suốt, nên người đã làm như vậy!

Tuy thế, chiều ngày hôm sau, mẹ tôi và em Hoa ở nhà thương về, ngoài những chuyện khác, tôi vẫn còn đưa chuyện lọ mực Waterman ra hỏi ý kiến Hoa và mẹ. Hoa và mẹ cũng ngẩn người ra chịu chết, cuối cùng cũng chỉ còn cho là thầy đưa lọ mực trong một lúc mà óc thầy không còn sáng suốt.

Phần tôi đã nhiều lúc tôi định hỏi thẳng thầy tôi, nhưng tuy thầy tôi đã lẫn trí, nhưng người vẫn còn cái uy với tôi. Cái uy nó đã có từ những ngày tôi còn bé, còn niên thiếu, những ngày khổ cực tập luyện võ nghệ, đấm đá cây chuối, đấm đá cột nhà, bao cát. Khổ luyện về mùa Đông cũng như mùa Hè hàng chục năm, từ ba bốn tuổi đã phải đứng Trung bình tấn, Đinh tấn, Xà tấn, Chảo mã tấn.. trong những bài quyền thuật, hay có binh khí cho mãi tới 14-15 tuổi. Rồi những trận đòn nên thân của thầy, nên tôi cứ rụt rè không dám hỏi, vả lại tôi đã đinh ninh là một việc làm của một người không còn bình thường, nên tôi đã bỏ qua.

Tôi nhớ lại hôm kia, tôi đang gò lưng đạp chiếc xe già trên đường Trương Minh Giảng, thì gặp Tuấn Nguyệt. Cũng như năm ngoái gặp Lộc Vàng, những người của Hà Nội, của miền Bắc, giờ đây lại gặp ở Sài Gòn. Tuấn Nguyệt bị ghép cái tội phản tuyên truyền, phản cách mạng, chẳng có án ung gì mà chỉ “tắc bọp”. Loại tù tập trung ba năm ở miền Bắc XHCN hầu như ở đại đa số người tù, người thì ba lệnh, bốn lệnh, năm lệnh v.v…

Mỗi lệnh là ba năm, rất ít người được cái may mắn là một hay hai lệnh, thì được về.

Tuấn Nguyệt cũng ở cái lệnh thứ ba, tại phân trại A, trại trung ương số 2 Phong Quang ( Yên Bái ), thời gian này, (cuối 1974) tôi đã gặp Tuấn Nguyệt. Anh có bố di cư vào miền Nam 1954, ông đã già, không di tản, Tuấn Nguyệt liên lạc lại được với bố. Năm 1976 Nguyệt được tha đã về sống với bố, Nguyệt lấy vợ, cả hai vợ chồng cũng vất vả ngược xuôi để kiếm miếng ăn. Hiện nay Nguyệt cũng chả có công việc gì làm; lông bông thỉnh thoảng ăn bám ông bố già, Nguyệt cũng khoảng tuổi của tôi, hiện nay cảnh sống cũng tương tự như tôi, chỉ có khác là người tù địa phương (những người ở miền Bắc đi tù như Trần Nhu, Nguyễn Chí Thiện, Lý Cà Sa, Vũ Thư Hiên). Chứ không phải như tôi, của chính quyền miền Nam ra Bắc, anh không bị mất quyền công dân và quản chế như tôi.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Chuyển đổi tư duy

Đặng Chí Bình

Bài 38

Dẫn xe ra khỏi tổ mộc Thành Công, phố phường, cảnh vật hôm nay tươi ra roi rói, như trong lòng tôi lúc này, vợ và cháu gái đến tìm tôi! Đã mấy chục năm nay có ai hỏi tìm, thăm tôi đâu? Hôm nay cảm giác của tôi khác thường. Như vậy tôi cũng là một người như mọi người! Và tôi cũng có hạnh phúc giống người khác, điều mà đã mặc nhiên từ lúc nào, tôi không còn dính dáng gì đến cái hạnh phúc của cuộc đời này.

Tôi nhớ lại, cái tâm trạng đó, rõ nét nhất là cái buổi sáng hôm ấy, sau sáu năm ở trong buồng kín, tên cảnh sát khoá tay dẫn tôi sang toà án nhân dân Hà Nội để xử. Tôi nhìn đường phố Hoả Lò, tôi nhìn phố Hàng Bông Ruộm, dòng người và xe cộ ngược xuôi. Nhiều người ngước lên hoặc ngoái lại nhìn tôi, một tên tù gầy gò xanh tái bị khoá hai tay, do một tên cảnh sát đeo súng, lầm lì giong phía sau. Phía người dân, họ chẳng còn lạ gì với cảnh cùm khoá này, trong cái xã hội Cộng Sản. Nhưng phía tôi, tâm trạng của tôi: Tôi có cảm tưởng như nhìn một loài người khác, một xã hội khác, tôi không còn dính dáng, liên quan gì với họ.

Nhưng hôm nay, vợ tôi và cháu Lan đã lấy lại cho tôi cái cảm giác tôi còn dính dáng, còn liên quan đến cái xã hội này, những người đang ngược xuôi trên đường phố là đồng bào ruột thịt của tôi. Tôi nhìn em Hoa và cháu Thanh Lan cứ ríu rit cười đùa nhởn nhơ, tôi như muốn nói: “Em yêu và cháu thương có biết rằng em và cháu vừa chuyển đổi tư duy của một người đấy!” Tôi xin cảm ơn em thương yêu và cháu ngoan với tư cách một người Việt Nam.

Một ngày khác thường, một ngày vui như thế này, nếu tôi có điều kiện, tôi sẽ đưa em và cháu vào một nhà hàng nào đó, như thể hiện một tấm lòng với một tấm lòng.

Sờ vào túi, nhớ lại chỉ có 3 đồng rưỡi từ hôm kia còn lại, tôi đã định tối hôm nay sẽ bàn với em Hoa, hai vợ chồng sẽ chuẩn bị nấu một bữa cà ghém có thịt ba rọi, xào cháy cạnh với đủ mùi gia vị: ngổ hương và lá tía tô. Món tủ, món sở thích của mẹ.

Mặt của tôi ngẩn ra, đã cho tay vào túi lại đành rút ra. Đi qua một xe nước mía, tôi chợt nghĩ: Nếu uống nước mía loại 2 thì được, loại nhiều đá, ít mía chỉ ba hào (cắc), loại 1 những 5 hào cơ. Nhìn trán cháu Lan lấm tấm mồ hôi tôi ghé sang, hơi kéo “ghi-đông” xe về phía xe nước mía. Tôi hỏi cháu Lan có mệt để cho bác đèo bác gái? Nhưng cháu muốn tỏ nhã ý nói: “Bác đã yếu, phải làm mộc cả ngày, ăn uống lại không đủ chất, hơn nữa cháu còn có ý định ghé thăm ông bà ngoại.”

Cơm nước xong, từ cửa sổ trên gác, nhìn em Hoa đang loay hoay rửa chén bát, tôi nghĩ đến nguồn vui hôm nay, chả có cái gì liên hoan chào mừng. Mỗi người mới có một ly nước mía loại 2! Tôi quay lại lấy chiếc quần đùi, lẹ làng xuống dưới nhà. Nhìn làn tóc huyền óng ả, thấp thoáng, che chiếc cổ trắng ngần, tôi cúi xuống, nhẹ áp mũi tôi vào hít hà cái mùi ngọt ngào à nói khẽ vào tai em Hoa:

– Hôm nay vợ chồng mình lại đánh cờ!

Mặt em đỏ như gấc chín, quay lại đắm đuối nhìn tôi. Em đã tự hiểu như một thói quen ngất ngây êm ả mà Thượng Đế đã ban cho một đôi vợ chồng. Tôi vào đi tắm trước, và em sẽ tắm sau để chuẩn bị cho “cuộc cờ”.

Công việc chồng chất vây quanh, quấn chặt vào người, ăn uống, cũng chỉ có rau, mắm rồi lại cà tương. Đôi khi, bữa cơm cũng có con tôm, con cá, miếng thịt, thì từ thầy mẹ đến chúng tôi, đều hí hửng như có chất tươi ở trong tù. Đó là cảnh sống hiện nay của chúng tôi, nhưng từ lâu đã trở thành một thói quen. Hãy gạt hết qua một bên, mọi trở ngại khó khăn vây quanh, chú trọng hưởng cái trước mặt! Cuộc sống đã cho tôi hiểu: “Không biết trân quý những cái mình đang có, thì mình sẽ không được tận hưởng cái tuyệt vời của nó”.

Đã trở thành nền nếp hơn một tháng nay rồi, từ ngày tôi và Hoa cùng trẻo lên chung một chiếc “thuyền đời”, mỗi một lần đánh cờ thì tôi được bồi dưỡng một quả trứng gà tươi của cửa hàng bà Khản trước cửa chợ Nam Hoà. Lên gác, mảnh mặt trời chiều đã chìm hẳn từ lâu, chéo phía Đông một mảnh trăng gầy đang nhìn vào cửa sổ. Tắt đèn đi, trong căn gác trống, ánh sáng mơ hồ mập mờ, càng tạo cho “cuộc cờ” thêm hương vị. Chẳng cần quay lại, tôi đã biết em thương của tôi đã lên gác, cái mùi ngọt ngào ngan ngát nhè nhẹ quên thuộc, đã phả kín căn buồng.

Bỗng cái mùi ngầy ngầy ấy sực đậm hơn, đôi vai của tôi bị một cái gì vừa mềm, vừa cứng đè trĩu xuống, rồi hai thỏi ngọc ngà của đôi cánh tay đã quấn chặt cổ, làm tôi tưởng không thở được. Tôi đâu có chịu thua, tôi sẽ cho cô nàng biết sức mạnh của chiếc dây đàn từ bé tôi mới được “gảy” vói cô hơn một tháng nay. Tuy tôi ít “gảy” nhưng khi tôi đã “gảy” thì trời “long” đất “lở”, cho tả tơi gỗ đá, cho rung chuyển cả căn nhà, để rồi chỉ có chắp tay mà lạy….xin tha!

Khi người “anh hùng” vùng vẫy chiến đấu đã ngã ngựa, em Hoa mới ghé sát tai thỏ thẻ:

– Anh có biết tối hôm qua, mẹ gọi em vào mùng, hỏi em cái gì không?

Tôi biết “tỏng” Hoa nói như vậy để tôi sẽ vồ vập hỏi Hoa là mẹ hỏi gì? Nhưng đừng “hòng! Tỉnh bơ tôi thong thả nói:

– Anh đã biết rồi! Mẹ cũng hỏi anh!

Hoa cuống quít hỏi:

– Mẹ hỏi sao?

– Em đưa ra ý kiến trước, thì em nói trước; anh sẽ nói sau!

Hoa ngồi hẳn dậy, nói ngập ngừng:

– Mẹ hỏi em: “Đã một tháng rưỡi, gần hai tháng… có thấy người khác thường không?”

Em trả lời mẹ là “em không thấy gì cả”!

Tôi nhìn Hoa với đôi mắt thương yêu nhiều hơn vì em của tôi, vợ của tôi thật “ngây thơ và hiền”. Tôi nhớ câu: Hạnh phúc cho những ai lấy được vợ hiền, lòng tôi cũng nhen nhúm lên một niềm thích thú: Mình thua cuộc đời, về nhà chỉ bắt nạt được “vợ”. Nhưng tôi lại chợt nhớ, khi còn ở các trại tù chung, các bác giả thường nói: Khi vợ có con, vợ bắt “nạt” lại mình, càng nhiều con càng bị “nạt” nhiều.

Tôi nghĩ đến mẹ tôi, hẳn người mong ngóng lắm để tôi sớm có con, vì tôi đã lớn tuổi rồi. Tôi lại lan man nghĩ, có thể gần hai chục năm, tôi ăn uống đói khát, dơ bẩn, hầu hết là bo bo, ngô, khoai, sắn, cả nấm độc, đến lá cây rừng …cho nên tôi không còn bình thường nữa chăng? Tôi trở mình, kéo em Hoa lại gần:

– Rồi mẹ bảo sao hở em?

Thái độ của Hoa như được hưng phấn, sôi nổi, khoe một thành tích:

– Mẹ dặn em ra gặp bà Ngôn bán thịt, đặt mua một quả cật heo, đem về xẻ đôi lấy hết cái trăng trắng bên trong, nó rất hôi. Rồi ướp hành, tỏi với muối và đem nướng khô cho anh ăn. Buổi chiều, em đã đặt rồi, sáng mai anh sẽ có ăn.

Chẳng biết thế nào, tôi chỉ được ăn năm, sáu lần cật heo. Nửa tháng sau, em Hoa cứ nôn oẹ sáng chiều, để rồi mẹ tôi cười tủm tỉm lẩm bẩm: nó đã “có” rồi!

Ngày hôm sau, sáng nào cũng vậy, Hoa dậy sớm nấu cơm. Sau khi nắm cho tôi một nắm cơm với ít mắm tôi chưng, Hoa chuẩn bị cơm nước cho thầy mẹ xong, tôi và Hoa bắt đầu đi làm mỗi người mỗi ngả, chỉ có buổi chiều là bữa cơm sum họp gia đình.

Hôm nay, sau khi cơm nước xong, Hoa và tôi chuẩn bị: Thầy tôi một ly nước vối nóng, mẹ tôi một ly nước lá thuốc cho bệnh phổi của mẹ, dáng mặt khắc khổ, mẹ tôi chậm rãi:

– Các con ngồi xuống đây, mẹ muốn nói chuyện với các con.

Thấy thái độ của mẹ hơi khác thường, chúng tôi kéo nhau ngồi lại. Thầy tôi, sau khi kéo điếu thuốc lào, cũng đến ngồi một ghế. Tôi đứng lên, đến bên mẹ, nhẹ vuốt bàn tay nhăn nheo của mẹ, thì thào:

– Có chuyện gì thế hả mẹ?

Mẹ không nói gì, nhưng hai dòng nước từ đôi mắt lòa từ từ chảy xuống má. Miệng người méo xẹo đi, nói ngập ngừng thổn thức:

– Mẹ đã kêu van Chúa và mẹ Maria nhiều đêm ngày, cho mẹ được nhìn thấy con trai của mẹ bây giờ ra sao một lần. Mẹ khao khát, thèm ước đêm ngày. Vợ chồng con lam lũ cực nhọc, mẹ đứt ra từng khúc ruột. Phải chi, Chúa không bắt tội mẹ, thì các con đâu có khổ cực như bây giờ!

Nhìn đôi mắt hõm sâu, còn ướt của mẹ, má mẹ hóp lũm vào, càng làm giồ đôi xương quai hàm, hằn rõ từng chiếc xương dưới làn da nhăn nheo, Bệnh lao phổi đã hút hết thịt, làm cho mặt mẹ teo lại. Tôi hình dung lại bộ mặt của mẹ 19 năm xưa, ngày tôi về gặp mẹ buổi chiều cuối cùng trước khi lên đường vào đất địch trong ngôi nhà thờ Nam Hòa.

Dạo ấy nhà thờ còn là tôn là gỗ, tôi cũng đã cầm đôi bàn tay mềm mại của mẹ, đôi mắt của người nhìn tôi, khi ấy tôi đã có cảm nghĩ: “Trên thế gian này không có một ngôn từ nào nói hết được cái đẹp, cái bao la lồng lộng của đôi mắt người mẹ”. ….Nghĩ đến đây, tôi không muốn, nhưng nước mắt của tôi đã giàn ra, làm cho em Hoa cũng nước mắt vòng quanh. Kéo ghế sát lại gần mẹ, tôi cầm tay mẹ áp vào má, tôi nức nở:

– Mẹ ơi! Con nghe nói khoa học ngày nay, có thể đổi thay được mắt. Trước bàn thờ Chúa linh thiêng, con xin tự nguyện kính biếu một mắt cho mẹ, để mẹ nhìn thấy con và con cũng nhìn thấy mẹ cho đến trọn đời.

Mẹ vuốt đầu tôi, như ngày tôi còn bé, mặt người có sắc tươi hơn lên, miệng người nói mà như cười:

– Mẹ sắp về với Chúa rồi! Con còn phải kiếm gạo để nuôi cháu của mẹ.

Thầy tôi thở dài, rồi lụ khụ đứng lên, lần vào giường, tôi cũng đỡ mẹ tôi đến giường của người, trong khi Hoa ra rửa chén bát. Tôi lấy cuốn vở để chuẩn bị đi trình diện CA khu vực. Hôm nay, là tối thứ Năm còn phải đến sinh hoạt tổ khu phố tại nhà ông Trùm Lộc, lúc 8 giờ tối hàng tuần.

Hôm nay tôi đi làm về, Hoa đã vẫy tay nói nhỏ:

– Mẹ bên nhà, bảo anh sang, mẹ nói cái gì ấy!

Chúng tôi sắp xếp vội vàng cho gọn ghẽ công việc nhà, rồi cùng xin phép thầy mẹ để sang nhà ông bà nhạc, một lúc rồi về ngay.

Chúng tôi đã được gặp mẹ của Hoa, nội dung, mẹ Hoa cho biết: Bên nhà cậu mợ Tập (em ruột của mẹ Hoa), trước đây, có một tổ chức vượt biên quen biết cậu. Họ lấy khách chỉ là quen biết để an toàn kín đáo. Khi đó cậu mợ có ý định cho người con trai tên là Hòa (em họ của Hoa), mỗi người đi phải đóng ba cây vàng. Là chỗ thân quen nên ai cũng đã đóng vàng rồi, để họ có sở phí lo cho chuyến đi.

Bốn tháng trước, cậu Hòa đã đi một lần, nhưng trục trặc nên chưa đi được, nay cậu Hoà quen biết một cô gái nhà nền nếp, cậu thay đổi ý kiến là sẽ cưới vợ, rồi sẽ đi sau.

Cậu mợ Tập cũng là loại có tiền, lại quen biết giao tế với chính quyền mới, thấy người cháu rể mới là tôi, trong hoàn cảnh ngặt nghèo về quản lý của chính quyền. Nhã ý của cậu mợ Tập là sẽ nhường lại suất đi cho tôi, theo cậu mợ, người cần đi đích đáng là tôi, đích đáng hơn là con của cậu. Mẹ của Hoa hỏi ý kiến tôi, để bà còn sang nói chuyện với em trai và em dâu là cậu mợ Tập.

Trong đám cưới của tôi, đã nhiều lần tôi tiếp chuyện với cậu mợ Tập, sau chuyến đi không thành do người bạn thân Nguyễn Hữu Lợi khổ công tổ chức. Di hại của chuyến đi là hầu hết người đi còn đang ở trại giam Gáo Dừa. Ngay hai đứa con của vợ chồng Lợi, ở đồn Cỏ May còn chưa lo xong cho chúng về, vợ chồng Lợi còn đang liểng xiểng về chuyến tổ chức cho tôi đi. Tôi tự hiểu, trong hoàn cảnh của tôi, không còn một hy vọng gì để ra đi nữa. Tôi đã được nghe, được biết nhiều chuyện vượt biên trầy trật, đầy cam go. Ngay ở Ngã Ba ông Tạ, có ông bà chủ một hiệu vàng lớn, từ ngày mất nước đã lo vượt biên, chạy trốn Cộng Sản nhiều lần. Nhiều lần bị bắt phải lo vàng chuộc, đút lót, tốn phí cũng phải vào tù hai ba lần.

Đến nay (cuối 1981) hết cả tiền, ông ta như người ngớ ngẩn lang thang dật dờ trong những nhà họ hàng, quen biết. Trong dân chúng, sau sáu năm trong bàn tay sắt bọc nhung của Cộng Sản đã hiểu, đã thấm, mức độ khác nhau. Hầu hết ai cũng muốn ra đi. Tôi có cảm nghĩ: Nếu được đi tự do, mấy con chó, mèo, gà vịt, trâu bò cũng ra đi. Nghĩa là con vật cũng muốn ra đi, huống chi con người? Nên nó mới đẻ ra nhiều những tổ chức thật, giả, lừa lọc Phía Cộng Sản cũng có nhiều phương pháp công khai, bí mật ngăn chặn và để xoay tiền và vàng.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Hợp duyên đời

Đặng Chí Bình

Bài 37

Ngày Chủ Nhật, mợ Út và tôi đã sang nhà ông bà Chức, tôi đã được gặp ông Chức từ trên Phương Lâm về. Tôi cũng đã được gặp một số anh chị em của cô Hoa, cuối cùng đám cưới sẽ được cử hành vào ngày 28 tháng 9, như thế chỉ còn hơn hai tháng nữa.

Phải nói, do tình thương yêu đùm bọc của bà con bạn bè, nên đám cưới được chuẩn bị dù giản dị, trong điều kiện và hoàn cảnh của giai đoạn ấy, nhưng cũng tạm đủ những truyền thống, tập tục của quê hương. Tôi cũng cật lực, chạy ngược xuôi với các ban ngành của địa phương, từ thành xuống đến công an khu vực. Tôi không thể quên được nghĩa tình của họ hàng, bà con, bạn bè:

– Anh chị Hiền ( anh họ của tôi ) đã cho mượn một cái giường đôi một tháng.
– Mẹ của anh Mai Văn Học (một biệt kích nhẩy toán ra Bắc mới được tha), nhận sẽ mua cau tươi cho đám cưới.
– Cô Thu và cháu Thanh Lan, đi lo đặt mua một số bánh phu thê (xu xê) và bánh cốm.
– Cô Oanh, bạn của cháu Thanh Lan đã cho mượn một bộ quần áo, và giầy của người anh trai mới cưới vợ.
– Con trai (Hùng), con gái, con rể (Vợ chồng Uy+ Lý) của anh Nguyễn Huy Lân (toán trướng toán Boone chưa được về) đến chuẩn bị nhà cửa, giúp đỡ tôi trong đám cưới.

Để xác định rõ ràng, tôi ra phường hỏi rõ ông Nguyễn Quốc Văn chủ tịch phường và ông trung úy Mậu trưởng CA, về lá đơn tôi xin trở lại tù, bây giờ ra sao? Đã được chấp nhận chưa? Theo ông Văn và ông Mậu, lá đơn của tôi đã chuyển lên Thành rồi, được chấp nhận hay không, các ông ấy cũng không biết. Tôi định lên hẳn đường Trần Hưng Đạo, CA thành để hỏi cho ra sự việc. Tôi tin rằng, tôi chỉ mất công thăm hỏi với sự nhã nhặn đúng mức, thì rồi tôi sẽ tìm ra được diễn tiến của sự việc, nhưng tôi chẳng còn một thời gian nào cả, để kiếm miếng cơm hàng ngày, tôi đã làm việc cật lực. Kỳ này điện thành phố bị tắt thường xuyên (thành phố thiếu điện) vì thế tôi lao động bất kể ngày đêm, kể cả thứ Bẩy, Chủ Nhật, cứ khi nào có điện, tôi lại lao vào cưa, bào, đục, xẻ.

Mệt nhọc và căng thẳng tinh thần; tôi đâm ì mặc cho ra sao! Thế nào cũng chấp nhận. Tôi đã hình dung chuẩn bị tư tưởng, nếu đang đám cưới mà có lệnh đưa tôi trở lại tù, tôi cũng sẵn sàng ra đi, vì tôi đã tự nguyện. Trước mắt tôi cứ gạt điều đó ra một bên, để tâm trí vào việc chuẩn bị lo cho đám cưới. Dù gì cũng phải tôn trọng cô Hoa nữa, mới chạm vào đời tôi một chút, mà đã để cho cô phải lao đao với tôi?

Theo ý của các cô Thu, Xuân và chị Công, đám cưới dứt khoát phải chụp hình, ít nhất là ở nhà thờ. Giai đoạn này chụp hình hãy còn nhiều khó khăn, nhất là hình màu thì thật là tốn phí, ai cũng nói, nó là những tấm hình kỷ niệm của một đời người.

Tôi cũng hiểu như vậy, chỉ vì hoàn cảnh và túi tiền, cuối cùng tôi quyết định chỉ chụp bốn tấm hình màu ở nhà thờ với cha Bình (đầu người bạc trắng, dù người còn trẻ) giá 100 đồng, là tiền công của tôi làm mộc 10 ngày cật lực, ở tổ mộc Thành Công thuộc phường 7 Quận Phú Nhuận. Tôi đã nhẩm tính, dự trù một số người tôi sẽ mời tham dự đám cưới trong thời gian quản chế, mất quyền công dân, rồi tôi làm một lá đơn xin phép ngày tổ chức đám cưới tại nhà vào khoảng bốn chục người. Lá đơn xin phép không những ra Phường, mà còn phải ra tiểu ban QLNNHTĐV và quận Tân Bình.

Khi vào gặp tên Bội, trong tiểu ban QLNNHTĐV, y lấy bút đỏ gạc con số 40 mà viết số 20, y nói:

– Sao đám cưới lại đông thế?

Tôi nghĩ ngay anh em họ hàng trong nhà cũng đã hai chụcngười rồi, vậy y không cho mời khách ư? Người tôi lại ngứa ngáy, tôi định nói những lời phản đối. Y lại nói tiếp:

– Những người không phải anh em ruột thịt đều là khách, chỉ giới hạn hai mươi người, nếu anh không chấp hành, anh sẽ phảichịu trách nhiệm.

Tôi nhìn y trừng trừng, miệng tôi không cười, nhưng tôi cườibằng mắt, như muốn nói với y: “Tôi đã làm đơn chịu trách nhiệm rồi, tôi còn coi ra gì cái trách nhiệm này”, thấy y có vẻ không hiểu cái cười mắt có lồng ý của tôi, nên tôi nói thẳng:

– Thưa ông hơn hai tháng trước, tôi đã làm đơn xin tự nguyện trở vào tù rồi mà?

Y cau mặt, quay ra hỏi tôi:

– Anh làm đơn khi nào?

Tôi chợt ngạc nhiên, nên nói mà như hỏi:

– Hơn hai tháng trước! ở dưới phường ông Văn nói đã nộp lên quận, lên thành rồi?

Đầu y hơi nhúc nhích như lắc, miệng y hỏi tiếp như không tin:

– Tại sao anh làm đơn, xin trở vào tù?

Nhìn y chừng hơn bốn chục tuổi, không đeo lon nên tôi không xác định được. Giọng Nghệ An của y nghe như giã gạo; nhưng từ tốn hơn khi nãy, nên tôi điềm đạm nói sơ lược lý do:

– Thưa ông, từ ngày tôi đi tù về, tôi đã tích cực chấp hành mọi quy định với địa phương: tôi đã lên thành, và tiểu ban quận trình diện nhiều lần. Hàng tuần mỗi thứ Hai ra trình diện tại phường, mỗi ngày tôi trình diện CA khu vực để xin chữ ký, hàng ngày tôi phải lao động tại tổ mành trúc 19/5 bên cạnh phường 6. Hơn bảy tháng tôi không có gạo, không có lương, bố mẹ của tôi già yếu, mù lòa. Tôi phải ăn bám vào các người, làm cho các người càng thiếu đói, khổ cực. Tôi đã nỗ lực làm lại cuộc đời nhưng cho tới nay, tôi không còn muốn sống nữa. Mẹ tôi 74 tuổi mù lòa từ 17 năm, nay người lại mắc thêm bệnh phổi thường nôn ra máu, tôi đã phải đưa người vào bệnh viện Hồng Bàng mấy lần. Không còn một lối nào để tôi sống, nên tôi đã làm đơn xin Đảng và nhà nước, cho tôi được trở lại nhà tù, tôi xin tự nguyện ở tù cho tới hết đời.

Y ngồi nghe tôi từ tốn trình bày, mặt y nhợt trắng ra, không xám đen như lúc đầu, y hỏi như băn khoăn thắc mắc:

– Thế, sao bây giờ anh còn lấy vợ?

Tôi trả lời ngắn gọn:

– Để nếu được Đảng và chính phủ ra ân cho tôi vào tù, thì có người đỡ đần bố mẹ tôi!

Y đứng dậy, hơi hất hàm nói nhẹ nhàng:

– Thôi, anh về đi, lo cho ông bà già! Đừng bi quan quá!

Tôi cầm tờ giấy cho phép tổ chức đám cưới ra về mà lòng nặng trĩu. Đi qua rạp ciné Đại Lợi cũ, cạnh đấy là một building to lớn, nay đã trở thành nhà tù. Một thoáng tôi liên tưởng về miền Bắc: Nhà tù đã mọc lên khắp nơi, cả những nơi vui chơi, du hí của quần chúng cũng trở thành một trại giam. Có bao giờ những người đi làm cuộc Cách Mạng Tháng Tám, đánh đuổi thực dân Pháp, ngồi suy ngẫm: Để lôi kéo toàn dân đứng dậy, với hai khẩu hiệu chính:

– Người cày có ruộng.
– Phá nhà tù để xây trường học.

Bây giờ thực tế nhìn vào xã hội, đã đảo ngược hai khẩu hiệu trên.

– Người có ruộng trở thành làm thuê.
– Phá trường học để xây nhà tù.

Hẳn các quý vị đã nhìn thấy những cái lắt léo, lật lọng của những người chủ trương. Còn lý do thì vô vàn: Ngược thành xuôi, ngang thành dọc, phải thành trái:

Mất mùa là tại thiên tai.
Được mùa là tại thiên tài Đảng ta.

Sau nhiều những chuẩn bị lo toan, và sự giúp đỡ của bà con, họ hàng và bạn bè, ngày cưới cũng đã đến và đi qua. Tôi cũng đã thực hiện được bốn tấm hình mầu, ở nhà thờ Nam Hòa với cha Bình, cùng bạn bè thân thuộc.

Đã chấp nhận trở lại nhà tù, nên tôi chẳng cần phải mời một ai trong chính quyền. Duy nhất có ông Trùm Lộc, mời ông ấy không phải vì ông ấy là tổ trưởng của khu phố, mà là vì thân tình xóm giềng hàng mấy chục năm với bố mẹ tôi. Thế mà trong lúc đám cưới đang ăn uống, tên công an khu vực Ngọc Anh cũng mò đến cửa, làm cho nhiều bạn bè, bà con nhớn nhác nhìn ra, tôi coi như “pha”.

Nhưng con người phải có văn hóa, tôi đã nhã nhặn ra mời y thị, vào chung vui ngày cưới của tôi. Y thị không nói một lời, nhìn tôi một lúc bằng đôi mắt mầu nâu già, rồi lặng lẽ bỏ đi.

Cuối cùng thì cũng như mọi người:

Cái đêm hôm ấy, đêm gì….. ?
Bóng dương lồng đóa trà mi….chập chùng!

Một điều làm tôi đắn đo, nhưng rồi tôi không thể không nói đến, dù bạn bè đã cố nài kéo tôi phải gặp lại cụ Lưu Linh, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn giữ một chủ trương. Tối nửa khuya, sau khi khách khứa ra về hết, tranh thủ lúc chị Công, cô Xuân, cô Thu và Hoa (giai nhân của ngày hôm nay) đang loay hoay dưới bếp, tôi lên gác một mình, ngồi vào chiếc giường duy nhất anh chị Hiền cho mượn. Tôi ngồi im lặng năm phút nhắm mắt, để gọi là một chút nào, nhớ về cô Thanh Vân người năm cũ, cô đã bước lên xe hoa từ cuối 1969, đến nay đã 12 năm rồi. Lòng tôi chẳng trách cô, mà còn mừng cho cô:

Đừng trách nhau…..Đừng ái ngại nhau….
Thuyền yêu không ghé….bến sầu….
Như đêm thiếu phụ…….trên lầu …..không trăng.
Hãy như chiếc sao băng….băng mãi.
Để lòng buồn …..buồn mãi … ….không thôi.

Dù sao tôi vẫn biết ơn cô suốt đời.

Phải thừa nhận, khi cùng một giai cấp, thì có nhiều những cảm nghĩ tương đồng, tôi và Hoa:

Tôi nghèo, mà Hoa cũng nghèo.
Chúng tôi vẫn nguyện như keo suốt đời

Sau ngày cưới, chúng tôi vẫn không giảm đi niềm khó khăn, nỗi chật vật. Tôi vẫn ngày ngày gò lưng đạp xe sang Phú Nhuận làm ở tổ mộc. Hoa cũng vẫn ngày ngày đi làm ở tổ ngòi bút Đức Thành. Nghe Hoa nói tổ ngòi bút có chừng hơn bốn chục nhân công, hầu hết là đàn bà con gái. Tôi cũng như Hoa đều năng nổ, cố gắng làm việc, cũng chỉ đủ để nuôi bản thân mình.

Một buổi chiều như mọi khi tôi đi làm về, thoáng qua cánhcửa sổ khép hờ, dưới bếp Hoa đang tắm rửa và gội đầu cho mẹ tôi. Tôi đã đứng như dán chân xuống ở cửa, trái tim của tôi như to dần lên, giãn nở ra, miệng tôi lẩm bẩm: “Con xin cảm tạ Chúa và mẹ Maria đã ban cho con một người vợ, biết thương yêu, đỡ đần bố mẹ mù lòa già yếu của con”. Buổi tối hôm đó ở trên gác tôi cũng không quên cảm ơn Hoa, đã vì tôi. Có những buổi tối khuya tôi và Hoa, trên căn gác trống ngồi bên cửa sổ, ngắm nhìn chị Hằng hàng giờ. Chúng tôi nghèo, và ý thức trách nhiệm với bố mẹ già, nên chúng tôi trang trải “Honey Moon” của chúng tôi, bằng những đêm khuya, dựa lưng vào nhau cùng nhìn và tâm sự với chị Hằng. Hoặc với những anh chàng mây và những cô nàng gió thỉnh thoảng đi qua. Đôi khi có những đêm chúng tôi bàn tán chỉ cho nhau, chị sao Mai và chàng sao Hôm, còn hàng chục vì sao nữa do chúng tôi đặt tên, mà chúng tôi thường gặp, đã trở thành bạn bè.

Có một điều khác thường, từ ngày cưới Hoa về, tối nào lúc 9 giờ, thầy mẹ tôi, tôi và Hoa đều ngồi đọc kinh chung buổi tối. Một điều mà trước đấy, thầy tôi một giường, mẹ tôi một giường, còn tôi thì nằm trên sàn gác một mình, đều tự đọc kinh riêng rồi đi ngủ.

Vào một buổi chiều, sau khi cơm nước xong, tôi và Hoa ở trên gác đang bàn bạc, về một số khó khăn của ngày mai, thì nghe có tiếng một cô gái réo gọi ở dưới nhà:

– Chị Hoa có nhà không?

Tiếng của mẹ tôi, dõng dạc rõ ràng:

– Cô hỏi ai?

– Cháu muốn hỏi, là chị Hoa có nhà không ạ?

Mẹ tôi có vẻ hơi bực dọc:

– Ở đây không có ai tên là Hoa cả!

Hoa đang định chạy xuống dưới nhà, nhưng tôi đã kéo tay lại. Tôi đã hiểu mẹ tôi, người vẫn duy trì cái lễ giáo, gia phong ngày trước. Cô gái cũng chắc đã chợt hiểu như tôi, nên cô ta đã lại lên tiếng:

– Cháu muốn hỏi chị Bình ạ?

– Cô chờ một chút nhé! Chị ấy có nhà đấy!

Rồi tiếng mẹ tôi gọi vọng lên gác:

– Chị Bình ơi! Xuống có ai gọi chị đây này!

Từ đây, tôi và Hoa đã hiểu ý của mẹ tôi, tôi và Hoa đã đồng một quan điểm từ ngày nên nghĩa vợ chồng: Thầy già lại lẫn lộn, tâm trí của thầy không còn bình thường, mẹ thì mù cả đôi mắt, bây giờ lại mắc thêm bệnh phổi, sớm muộn lúc nào đó, Chúa sẽ gọi về. Chúng ta bổn phận là con cái, bất cứ ngày đêm, tâm niệm làm sao cho các người vui, chúng tôi cũng tự nguyện nhắc nhở nhau, giữ trọn đạo làm con.

Một buổi chiều, tôi đang cắm cúi thẳm một cái vai bàn gỗ trò, anh Vinh thư ký của tổ mộc chạy vào nhìn tôi, nói như trêu đùa:

– Có hai giai nhân đang tìm anh Bình kìa!

Mấy người trong tổ đang thao tác cũng ngừng tay, cười rẻ lên. Biết là anh Vinh đùa vui, vừa thở, tôi vừa nói:

– Nhân với nho gì? Có con bò trắng răng năng . . .

Ông Huỳnh ở ngoài sân bước vào, cắt ngang câu nói, ông nghiêm mặt nhìn tôi:

– Có hai cô gái nào, tìm anh Bình!

Tưởng đùa hóa ra thật, tôi chạy vội ra sân. Tôi thật ngỡ ngàng, Hoa và cháu Thanh Lan, hai bác cháu đèo nhau xe đạp, mò mẫm mãi sang đây. Vừa ngạc nhiên vừa vui, hết luôn cả mệt. Tôi hỏi như “phè” niềm vui trong lòng ra ngoài:

– Làm sao, em và cháu lại biết anh ở đây? Anh có nói cho em biết địa chỉ này đâu?

Hai bác cháu cười rúc rích, như gà giò đuổi nhau:

-Ở đâu mà không tìm được!

Dù còn gần một giờ nữa, mới tới giờ nghỉ, tôi vào văn phòng nhã nhặn xin cho về sớm, vì nhà có chuyện. Tôi vẫy cả hai bác cháu vào chào ông Huỳnh và người trong tổ. Tôi cũng giới thiệu với ông Huỳnh, vợ và cháu của tôi.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 20

Nhà thờ Đức Bà ở Sài gòn là nơi tôi hay đến, tìm một nơi vắng lặng để suy nghĩ. Tôi không phải là một tín đồ Công giáo mà cũng không phải là một Phật tử. Tôi chẳng có một tín ngưỡng nào, trong khi hàng ngày phải đối diện với biết bao nhiêu thực tế phũ phàng, nào chiến tranh, nào chết chóc, luôn luôn ám ảnh mọi người, nên cũng không biết đặt niềm tin tôn giáo vào đâu. Dù không có một lòng tin như những tín đồ Thiên Chúa giáo, mỗi lần bước vô ngôi nhà thiêng liêng này, tôi bỗng cảm thấy an tâm rất nhiều. Nơi đây, tôi có thể nói ra và nghe được hết những gì chất chứa trong lòng tôi: những mong ước, tình thương yêu cho gia đình, cho đất nước.

Đôi khi tôi giận cả ông Trời, vì ông đã ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau thương, cực khổ của người dân Việt Nam. Thỉnh thoảng, tôi nhìn lên tượng Chúa Jesus trên cây thánh giá mà thầm khấn:

“Xin Chúa bảo vệ ba và anh Khôi con…”.

Không bao giờ tôi cầu xin Chúa cho hoà bình trở lại, hay đưa ba tôi về gia đình, vì ông ngoại tôi đã nhiều lần nhắc nhở: “Trời Đất hiền lành lắm, không có xía vô việc chánh trị vì chánh trị là tàn ác, lừa dối, xảo trá”.

Một chiều thứ sáu, tôi đến nhà thờ Đức Bà, thấy các con chiên ngoan đạo đang đứng sắp hàng chờ xưng tội. Tôi không có tội gì để xưng, mà chỉ muốn xin Chúa cho tôi có đủ can đảm và sức mạnh quyết định một việc có thể làm phật lòng má tôi và cả gia đình. Tôi biết tôi đã làm má tôi buồn lòng nhiều lần như hồi tôi còn đi học,. Vào những đêm trăng sáng chị Thuận về tôi lén chui khỏi mừng khi mọi người đã ngủ yên. Chúng tôi ra sân ngồi nói chuyện với con Mai Bắc Kỳ, con Lệ và thằng Tiểng ở cùng xóm, rồi còn bắc ghế cho Tiểng bẻ mận của nhà hàng xóm. Có lần Mai và tôi dám đổi ổi để lấy vú sữa trên bàn thờ của bà nội Tiểng. Nhưng đó chỉ là những chuyện con ranh nghịch ngợm, bỏ qua được. Bấy giờ là chuyện người lớn, chuyện làm ăn đàng hoàng.

Từ ngày lên Sài gòn, tôi thấy cuộc sống thành thị khó khăn hơn sức của tôi. Thành đô náo nhiệt, ồn quá, tôi không chịu được, nên muốn trở về Cần Thơ để đi làm cho Phòng V. Chị tôi đã xin cho tôi vào làm nhà in Đông Nam Á, lương thấp không đủ chung phần với các chị trong “công ty” của gia đình. Đã vậy, tôi lại không thích làm việc dưới quyền ông già quan liêu, khó tánh. Sau nhiều lần tìm việc khác không được, tôi đã ngỏ ý muốn trở về Cần Thơ, nhưng má tôi không yên tâm cho tôi ra khỏi nhà một mình. Tôi năn nỉ:

“Cần Thơ là đất của mình; nếu ở đó không yên, thì còn chỗ nào yên ổn hơn được?”.

Hai chị tôi hậm hực cho biết, nếu tôi trở về Cần Thơ là phụ lòng hai chị. Nhưng nếu vì hai chị mà tôi ở lại Sài gòn, thì tôi sẽ sống trong buồn bực, và lúc nào cũng bị mặc cảm, vì làm lương không đủ phụ với gia đình. Tôi quen sống nơi tỉnh nhỏ không ồn ào náo nhiệt, không thích ứng được với đời sống nơi đô thị ồn ào, chụp giựt. Thế nào tôi cũng phải trở lại Cần Thơ. Dù sao tôi hiểu rõ Cần Thơ hơn Sài gòn. Đời sống ở Sài gòn có muôn hình vạn trạng. Kể giầu người nghèo quá chênh lệch. Có những nhà sang trọng, cao chót vót. Trong khi đó, không thiếu những cái chòi cất tạm của những người nghèo từ dưới tỉnh chạy loạn lên. Dân Sài gòn ăn hối lộ như cơm bữa. Kiếm được việc phải mất tháng lương đầu tiên cho người giới thiệu … Biết không thể sống được ở cái đất Sài gòn đây dối trá, lưu manh, tôi quyết định trở về Cần Thơ, rồi mỗi tháng lãnh lương, sẽ gởi về cho gia đình. Tôi đã sống nhiều năm bên má để giúp đỡ má phần nào, bây giờ tới phiền hai chị tôi lo cho má.

Tôi rời nhà thờ Đức Bà, ghé mua hai chục hột vịt lộn đem về nhà “ăn lấy hên”. Trong bữa cơm, tôi nói với má và hai chị:

“Hồi chiều, đi làm về, con tới nhà thờ Đức Bà…”.

Mới nghe tới đây, hai chị tôi mắt sáng lên, vì tưởng tôi nghe lời hai chị mà vô đạo. Tôi mỉm cười nói tiếp:

“Con hỏi Chúa về quyết định của con và Chúa đã phán ‘Con cứ làm theo ý muốn của con.’ Vì vậy, con sẽ trở về Cần Thơ”.

Má và các chị đều giữ im lặng trước giọng nói cương quyết của tôi. Mấy ngày sau đó, má tôi đi chợ mua thức ăn để làm một bữa cơm tiễn đưa tôi. Hôm ấy có đủ mặt chị em trong nhà, nhưng thiếu tiếng cười, tiếng giỡn của mọi người.

Hôm tôi chia tay với mọi người, con chó của Hải Vân bỗng tru lên, khiến ai cũng ngạc nhiên.

Về đến Cần Thơ, tôi gặp may mắn liền, vì được đại uý Chánh cho tôi trở lại làm việc ở Phòng V. Sợ ông đổi ý, sáng hôm sau, tôi đi làm liền. Nhưng tôi lại gặp khó khăn trong việc tìm chỗ ở. Má muốn tôi ở nhà chị Yến và chị Hồng Nga trên đường Ngô Quyền. Tôi không muốn ở đó, vì tôi biết chị Hồng Nga là Việt Cộng. Chị là con gái thứ ba của cậu Tư. Người yêu của chị là anh Tảo, cũng là một cán bộ Việt Cộng, chết cách đây 5 năm. Chị không nghĩ đến chuyện chồng con nữa, mà dành hết cuộc đời cho tổ chức. Trong gia đình tôi, chị em bà con rất thương yêu nhau nên tôi biết chị Hồng Nga sẵn sàng cho tôi ở với chị. Các chị không từ bỏ đứa em nào, dù cho đứa đó không theo Việt Cộng mà còn đi làm việc cho Quốc gia. Tình máu mủ trước sau như một. Chỉ có dì Bảy là người không tha thứ, không chấp nhận đứa cháu nào từ chối phục vụ cho Mặt Trận. Hồi tôi còn nhỏ, chị Hồng Nga đã dạy tôi thêu thùa, làm thủ công, khi tôi học lớp nữ công gia chánh ở trường Đoàn Thị Điểm. Nhưng làm sao tôi có thể ở với chị được, khi tôi làm việc cho quân đội Việt Nam Cộng hoà, còn chị “Chống Mỹ cứu nước”.

Lúc còn đi học, Mai Bắc Kỳ và tôi bị bạn bè trong lớp đặt tên “Trưởng ban lục lạo”. Các thầy cô mới từ Sài gòn hay tỉnh khác đổi về muốn tìm nhà trọ, đều phải nhờ hai đứa tôi. Ngay đến các sĩ quan, hay lính tráng cũng vậy. Bây giờ trở về Cần Thơ, tôi nhớ ngay tới một nhà trọ ở gần sân banh. Mới đầu, bà vợ không nhận cho tôi ở trọ, viện cớ bà chỉ cho mấy ông sĩ quan thuê thôi; “nam nữ thọ thọ bất thân”. Bà Năm suy nghĩ như vậy, nhưng tôi hứa sẽ khoá cửa kỹ lưỡng, sẽ nhìn trước ngó sau trước khi vào phòng của tôi. Vả lại, tôi chỉ là đứa con nít, ai mà để ý. Con gái của bà Năm nói: “Em ơi, em chưa biết mấy ông đàn ông xa nhà”. Nhưng chị thuyết phục ba má chị cho tôi ở, rồi biểu hết nhà trông chừng giùm tôi.

Bà Năm chủ nhà trọ trạc ngoài 60, tướng cao ráo, có dáng đi thong thả, phong luu. Bà mang kiếng gọng đen, tóc muối tiêu. Tiếng cười của bà trong vắt và trẻ trung như tiếng cười của một người con gái. Bà ăn trầu, nhổ nước cốt trầu vào một cái ống nhổ bằng đồng. Ông Năm hơi thấp hơn bà một chút, và lớn hơn bà Năm ba tuổi. Ông mạnh khoẻ, tráng kiện; mỗi bước đi của ông chắc nịch, đi như có mục đích. Ông Năm hút thuốc liền tay. Lúc bận sửa xe, ông để điếu thuốc ở gần, thỉnh thoảng ngưng tay, kéo một hai dài, rồi nheo mắt tận hưởng khói thuốc.

Gia đình ông bà Năm ở trong một nhà Tây lớn, có garage sửa xe. Những căn cho thuê, là nhà cao cẳng mới cất thêm ở phía sau. Dưới những căn nhà này có vườn rau, và sân sau có cả mấy chục sợi dây phơi quần áo. Bà Năm chỉ cho tôi nhà tắm của người ở trọ, nhưng chị Hai con gái của bà kêu tôi đừng xài những nhà tắm đó, mà xài nhà tắm của gia đình. Chị chỉ cho tôi chỗ giặt quần áo và cái bếp khổng lồ. Tôi có thể hình dung ra được cảnh tấp nập vào buổi chiều. Cái bếp đó làm cơm cho hai chục người, gồm mười bốn dân ở trọ và sáu người của gia đình ông bà Năm. Ở chung với ông bà có vợ chồng người con gái, người rể và hai đứa cháu ngoại.

Bà Năm cho tôi ở căn phòng ngay đầu cầu thang, bà cho biết không ai chịu ở phòng này, vì người ta đi lên đi xuống đều đi ngang qua đó. Bà lại nói như để an ủi tôi:

“Phòng này “chắc ăn nhứt” vì ở ngay phía ngoài, không ai dám chọc ghẹo con”.

Nhưng bà đâu biết, tôi tuy là gái Cần Thơ mà cũng dữ như sư tử Hà Đông; ai mà dám chọc ghẹo tôi. Phòng tôi nhỏ xíu, vuông vắn chừng 4 thước; cửa sổ nhìn xuống vườn rau. Giường nằm nhỏ như cái băng-ca, thể nào cũng có đêm tôi sẽ lọt xuống sàn nhà. Cái bàn viết chân cao chân thấp rung rinh. Cái tủ để quần áo cao hơn đầu tôi, nên tôi chỉ dùng hai ngăn dưới cùng. Tôi miễn cưỡng nhận căn phòng này làm nhà.

Tôi ngả lưng xuống chiếc “băng ca”, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết, cho đến khi chị làm bếp gõ cửa cho hay đã tới giờ cơm chiều. Tỉnh dậy, trong khoảnh khắc tôi không biết mình đang ở đâu.

Người Mỹ có câu danh ngôn: “You can’t go home again”. Câu này thật đúng cho hoàn cảnh tôi lúc này. Tôi trở lại Cần Thơ trong buồn bã, trơ trọi, vì bạn bè đã đi hết. Thằng Tiểng đi lính. Hai người em bà con của tôi là Hàn Quang Truyền và Hàn Quang Thoạt, lên Sài gòn làm việc cho nhà thương Cơ Đốc. Lê Thị Bạch Tuyết lấy chồng Không quân, cũng đã lên Sài gòn rồi.

Cô giáo Thái Lan được đổi về Sài gòn, nên cả gia đình con Mai Bắc kỳ cũng dọn đi luôn. Chị Thuận về làm dâu nhà Huỳnh Võ. Chị lấy Thanh, con trai thứ năm của gia đình này. Bây giờ tôi phải kêu “thằng nhỏ” này bằng anh rể. Thế là “thằng nhỏ” lên “chức”, có phước lấy được chị tôi rất hiền lành, chung thuỷ. Chỉ có một điều là cộng sản luôn luôn có thành kiến với thành phần tư sản, nên dì Bảy của tôi không chấp nhận cuộc hôn nhân này. Ngày chị tôi về nhà chồng không có xe hoa, không có cả bà con hai họ.

Tôi rất buồn, khi trở về Cần Thơ mới biết tin này, vì sau ngày vu quy, chị bị dì Bảy ruồng bỏ, chị Thảo của chị muốn gặp em thì lén lút dì Bảy. Lúc mới về, tôi cũng không biết chị ở đâu. Còn chị Thảo, chị của chị Thuận, lại quyết tâm theo gót cha, đem hết tuổi thanh xuân dâng cho cách mạng.

Hồi đi học, tôi nuôi mộng trở thành một tráng sĩ, hoặc một nhà văn. Còn mong ước của chị Thuận rất khiêm nhường và giản dị. Chị chỉ muốn làm một người vợ hiền, một người mẹ hết lòng vì con. Hồi còn đi học, chị hay giành ủi những cái áo cưới màu hồng, mầu đỏ trong tiệm may của má, rồi chị mơ ước ngày đám cưới của chị, má tôi sẽ là người may áo cưới. Nhưng rồi Việt Cộng làm tan vỡ mộng ước của người con gái mồ côi cả cha lẫn mẹ này.

Nằm trong căn phòng nhỏ xíu, yên lặng, tôi nghe tiếng con thằn lằn chắc lưỡi. Tôi ghét thằn lằn cũng vì cái tiếng chắc lưỡi thở than buồn đứt ruột của nó, lại thêm những cục cứt tí tẹo, đen thùi mà nó rải vung vãi trên giường. Tôi lấy sợi dây thun bắn lên trần nhà, con thằn lằn rớt xuống đất một cái “độp”. Tôi không dám nhìn kỹ nó, chỉ lấy miếng giấy túm nó liệng ra cửa sổ.

Chiều thứ sáu, nằm một mình ở đây, tôi nhớ gia đình trên Sài gòn, Nhà tôi ở trên lầu, cạnh rạp hát Kim Châu trên đường Nguyễn Văn Sâm. Chắc giờ này má và Minh Tâm ra đứng ngoài balcon nhìn xuống đường xem người đi coi hát qua lại dập dìu.

Từ ngày ba tôi đi tập kết, má tôi khép mình không tiệc tùng, không ăn tiệc cưới, không đi coi hát. Má chỉ ở nhà chờ ba về, nên khi ở Sài gòn, má tôi hay đứng ngoài balcon nhìn người đi kẻ lại má cùng đủ vui rồi. Chắc giờ này, hai chị của tôi đi chơi với bạn trai. Tôi không biết Hoà Bình đang làm gì, nhưng tôi biết Hải Vân đang tập tạ. Tôi biết em lúc nào cũng mơ ước hai việc: học giỏi và có một thân mình tráng kiện. Nhà không nhiều tiền, nhưng Hải Vân được đi học Nhu đạo, được đi học vẽ. Vào buổi chiều thứ sáu quạnh hiu này, tôi cũng nhớ đến ba và anh Khôi. Nhưng tôi không hình dung được cái thế giới xa vời, sâu thẳm đó. Chúng tôi không những cách nhau vì con sông Bến Hải, mà còn khác biệt cả về tư tưởng lẫn đời sống. Có một điều tôi biết rõ về ba tôi: ông là một người yêu nước thương nòi, và lãng mạn. Lòng chung thuỷ của ông với má tôi không thua lòng trung thành của ông với Hồ Chí Minh. Ba tôi chưa bao giờ ra lịnh hay khuyên nhủ con cái làm điều gì, nhưng ông lúc nào cũng nêu gương sáng của một người đàn ông yêu nước. Ông quyến rũ không biết bao nhiêu thanh thiếu niên đi vào con đường của xã hội chủ nghĩa. Có lần tôi đến thăm bác Chín của tôi, người anh cùng cha khác mẹ của ba tôi. Trên giường bịnh, bác Chín cho tôi cho biết con nhà họ Đặng chúng tôi ai cũng yêu quê hương xứ sở, và tha thiết với gia đình. Anh em nhà họ Đặng khắng khít yêu thương nhau. Bác cũng cho rằng bác yêu và quý người “em Việt Minh” của bác lắm. Tuy nhiên, bác không chấp nhận sự lựa chọn của người em yêu quý này, sau khi em bác theo Cộng sản. Rồi bác nắm tay tôi và khuyên: “Bác không biết con theo bên nào, những con phải để tình phụ tử trên hết. Có như vậy, con mới nhận thức được sự khác biệt rắc rối trong gia tộc của mình”.

Một buổi trưa thứ Bảy, năm tháng sau ngày đến ở trọ nhà ông bà Năm, tôi ra sân sau phơi quần áo, bất ngờ thấy bà Năm nằm bất tỉnh dưới đất. Lúc đó ông Năm đi vắng, chị Tư nấu cơm vừa mới đi ra chợ Tham Tướng. Vì là ngày thứ Bảy, nhà vắng vẻ, các ông sĩ quan ở trọ đều về Sài gòn thăm gia đình, chỉ còn lại bà Năm và tôi. Có muốn cầu cứu cũng chẳng kêu ai lúc này, tôi đành luồn tay ôm lấy bà, bồng thẳng ra đường. Rất may là bên đường, dưới bóng cây xơ-ri, một ông già ngồi ngủ trên chiếc xe lôi. Đến lúc đó, tôi bỗng thấm mệt và mỏi tay, đành phải đặt bà Năm xuống, rồi kêu xe lôi inh ỏi. Ông già lái xe ôm tỉnh giấc, vội chạy về phía chúng tôi, ông giúp tôi bồng bà Năm lên xe.

Bà Năm bị đứt gân máu. Kết quả là bà bị bán thân bất toại và bị á khẩu. Không có bà quản lý, ông Năm quyết định định đóng cửa nhà trọ. Nhưng ông và con của ông vẫn muốn tôi ở lại. Họ coi tôi như người ơn của gia đình, nên không nhận tiền cơm tháng cũng như tiền trọ. Tôi cảm thấy áy náy không yên, về phòng ngồi và nghĩ miên man, chợt nhớ tới má tôi. Tánh đặc biệt của má, là không làm phiền hay nhờ vả ai. Người thích tự lập và rất sòng phẳng. Nếu mà biết tôi ăn và ở nhà ông bà Năm mà khỏi trả tiền, bà không bằng lòng. Tôi xuống nhà gặp ông Năm để cảm ơn và từ chối lời đề nghị của ông.

Nhưng tạm thời tôi vẫn ở đó, chờ tìm một nơi trọ khác. Mỗi chiều đi làm về, tôi vào thăm bà Năm. Tôi có cảm tưởng như bà vẫn chờ. Tôi thầm tự hỏi, không biết bà chờ đợi cái gì? Chờ đợi một phép lạ làm cho cơ thể bà phục hồi như xưa? Hay bà chờ đợi tử thần đưa bà đi, để bà thoát khỏi cái kiếp tàn phế buồn tủi. Đôi lúc tôi lại tự hỏi, nếu trưa thứ bảy ấy tôi không ra phải phơi quần áo ở sân sau, bà Năm có chết không? Cuộc đời của một con người sao mong manh quá! Bà đã gục ngã khi không có một người ruột thịt nào ở gần. Rồi tôi nghĩ đến má tôi. Người cũng đã lớn tuổi, đau ốm bất thường. Tôi nhớ tới cái đêm má tôi đau phải vô nhà thương Cần Thơ. Bất cứ lúc nào má cũng có thể bị lại. Rủi chị tôi không có nhà, em tôi đi học… thì ai sẽ lo cho má đây. Những cái “rủi” ấy làm tôi lo sợ. Thế là tôi quyết định trở về sống bên má.

Hôm sau, tôi cho Phòng V biết trước một tháng, là tôi lên Sài gòn. Tôi nói cho ông Năm biết tại sao tôi về Sài gòn.

Ông Năm cảm thông mà nói:

“Con đi thì ông nhớ; con về ở với má con là phải”.

Rồi tới ngày tôi thu xếp để về với gia đình ở Sài gòn. Một buổi tối, tôi bỗng có linh cảm rằng tôi sẽ không bao giờ trở lại Cần Thơ nữa. Tôi không giải thích được tại sao tôi lại có linh cảm như vậy. Nếu không trở lại Cần Thơ, chắc tôi cũng vĩnh viễn phải xa Bang Thạch. Suốt đêm hôm đó, tôi trằn trọc, bồi hồi nhớ mảnh vườn của ông bà ngoại tôi.

Tôi phải về Bang Thạch một lần nữa, trước khi lên Sài gòn với gia đình. Rủi mai này xa cách ngàn trùng, tôi cũng còn giữ được những kỷ niệm ấm áp của quê cha đất tổ trong tâm hồn. Tôi phải về thăm mả của ông bà ngoại, của cậu Năm Sắc, cậu Út Thế. Sẽ phải leo lên cây ổi gần mả của bà Mười một lần nữa coi có còn bị ma chó cắn không? Lần nào treo lên cây ổi đó cũng bị ma chó cắn bầm hai cái đùi; cả trăm lần như vậy. Tôi không tin cộng sản có thể bắt hồn tôi được, nhưng tôi lại tin có ma chó cắn chân tôi.

Sau khi chia tay với các nhân viên Phòng V, tôi lên đường đi Bang Thạch bằng xe đò. Đến bót 18, tôi xuống xe. Cảnh quen thuộc đầu tiên mà tôi gặp, là cây cầu ván dẫn vô chợ Bang Thạch. Cái chợ quen thuộc trong trí nhớ. Hồi nhỏ, mỗi lần về thăm bà ngoại, chị em chúng tôi đều chơi trò của tôi. Tôi bắt chị Thuận hay chị Thảo lấy khăn bịt mắt tôi lại trước khi bước lên cầu. Rồi chị nắm tay tôi dẫn đi trong chợ. Tôi nghe được những tiếng nói, mùi hương quen thuộc. Trong chợ có ba tiệm hàng xén, nhưng tiệm của ông Sáu Èm có mùi đường thẻ nặc nồng, và mùi cá mặn nghe mà chảy nước miếng. Hai tiệm kia thì cá mặn để phía trong, đi ngang không nghe mùi cá. Chị Thảo dẫn tôi tới một ngôi nhà mà tôi nhận ra ngay, vì sờ vô vách, tay liền đụng mấy lỗ mắt cao; đó là Nhà Việc, nơi cậu Hai Trứ làm xã trưởng. Chị Thảo bắt tôi mở khăn ra, rồi cả đám con nít vô Nhà Việc chào cậu Hai.

Tôi ghé qua tiệm ông Sáu Èm mua gói đường cát cho dì Bảy. Có mấy người trong tiệm nhận ra tôi là con gái cô Tám Phàm. Ai cũng đon đả hỏi thăm sức khoẻ má tôi. Ông Sáu Èm chờ khách hàng ra khỏi tiệm mới hạ giọng hỏi nhỏ: “Có tin gì của ba không cháu?”. Câu trả lời của tôi làm ông chau mày thất vọng.

Khi vừa bước khỏi chợ Bang Thạch, tôi có cảm tưởng như nửa khung trời vừa sụp đổ trước tôi. Cây cầu ván bắc từ chợ qua đồn 18 không còn nữa. Bây giờ chỉ có cây cầu khỉ lắc lơ với ba khúc tre nối đuôi nhau làm tay vịn. Cái đồn kiên cố đã bị đập vỡ tan tành, không còn người lính gác cầu, gác chợ như trước kia. Tôi nín thở đi qua cây cầu khỉ. Bên dưới nước ròng, nên tôi không thấy được bóng tôi, vừa đi vừa sợ té xuống sình. Hai bên đường đất trước kia cây cối xanh tươi, bây giờ cây khô trụi lá, cỏ mầu vàng. Chiến tranh đã lan rộng khắp nước, nhưng có bao giờ người ở thành phố biết được chiến tranh đã tàn phá xóm làng của mình như thế nào không?

Trời ơi! Bang Thạch trong điêu tàn khiến lòng tôi tan nát. Còn đâu những vườn trái cây xanh mướt, ngọt ngào! Bang Thạch của thời thơ ấu nay còn đâu.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 19

Chị Kim, chị Cương ở lại Cần Thơ một tuần để săn sóc má. Hai chị tôi biết má đang ở trong tình cảnh đơn chiếc, nhưng má lại muốn các chị lên Sài gòn làm việc để lo cho tương lai, hơn là ở với má; má không muốn hai chị nối nghiệp nghề thợ may của má. Hai chị về ở lâu mới hiểu rõ cuộc sinh hoạt của gia đình, thấy tận mắt má cực khổ, gian lao như thế nào, để trông nom tiệm may và lớp dạy may. Má giao cho tôi việc tìm thêm học trò, giao hàng, lấy hàng và cung cấp kim chỉ, vải vóc, dụng cụ cho tiệm may…

Trong một buổi cơm vào ngày Chúa Nhựt, ngày mà học trò của má về quê thăm nhà, hai chị tôi bàn với má, là cả nhà dọn lên Sài gòn. Ba chị em đi làm, tiền lương cộng lại, tài chánh sẽ rộng rãi hơn;, má nên nghỉ nghề may. Suốt ngày hôm đó, mọi người đều nói đến “lên Sài gòn” nhiều lần.

Lòng tôi náo nức không yên khi nghĩ đến chuyện bỏ Cần Thơ lên ở hẳn trên Sài gòn. Dù cho chuyện đó là chuyện rất hay, nên làm, để má tôi được nghỉ ngơi, nhưng tôi vẫn quyến luyến Cần Thơ, nơi chôn nhau cắt rún. Tôi vẫn nghĩ rằng Cần Thơ là của tôi hay ngược lại, tôi là của Cần Thơ. Đã vậy, tôi đang có việc làm mà tôi yêu thích đến độ thỉnh thoảng lại tự hỏi đây là thệt hay mộng?. Việc làm rất vừa ý tôi; lương lại cao hơn một cô giáo. Phải công nhận rằng tôi đã được người Quốc Gia tin tưởng, điều mà tôi mong mỏi, cố gắng để đạt được trong xã hội nầy. Không phải vì đồng lương không, mà nó là một sự lựa chọn lý tưởng, để bà con của tôi biết, tôi chọn đứng về phía Quốc Gia. Nhưng nghĩ đi thì như vậy, nghĩ lại thì một mình tôi và lý tưởng không đủ để gánh vác nổi gia đình. Không lẽ để má tôi vất vả cực nhọc hoài. Cả nhà bàn đi tán lại mà chưa đi đến một quyết định nào. Má tôi hứa với hai chị là sẽ suy nghĩ kỹ.

Ông bà không còn, về thăm lăng mộ ông bà cũng không dám về vì tối thì Việt Cộng chiếm, sáng thì Quốc Gia đi bố; má tôi thôi buồn nên má tôi quyết định dọn lên Sài gòn ở với hai chị.

Trước khi từ biệt nơi chôn nhau cắt rún, tôi đi qua tất cả những con đường của Cần Thơ để nhìn nó lần cuối. Tôi cũng muốn về thăm mộ ông bà ngoại, để hưởng lại chút hơi ấm từ mảnh vườn đã nuôi sống má và chị em tôi khi chúng tôi mới từ trong bưng biền trở về vùng quốc gia. Nhưng dì Bảy đã cấm không cho tôi về, khi dì biết tôi làm cho Phòng V Quân Đoàn IV và đã hiến máu cho một thương binh quốc gia.

Hồi mới về Bang Thạch với ông bà ngoại, mỗi lần nhớ ba và anh Khôi, tôi lại nhắc tới những vùng đã sống trong bưng biền như: Ong Vèo, Ba Ngọn, Kim Qui, Cảng Chú Hàng… Thấy tôi nhắc hoài tới những địa danh đó, ông ngoại tôi khuyên tôi không nên sống trong dĩ vãng, mà hãy để dĩ vãng sống trong lòng mình. Sau này tôi mới hiểu lời khuyên đó. Nhờ vậy mà tôi thấy mình may mắn; tôi nhớ chuyện đã qua, nhưng không tiếc nuối những gì đã đánh mất trong đời. Tôi nghĩ mình không có mất cái gì hết, ngược lại, dĩ vãng đó làm cho đời sống của mình thêm phong phú.

Tôi gặp đám bạn trước khi chia tay. Họ tặng tôi một món quà trong hộp thiếc bọc giấy đỏ. Bạn tôi ai cũng biết tôi thích màu đỏ. Tôi thích mặc áo mầu đỏ; tập vở phải có bìa đỏ; ngay cả thước trong cặp tôi cũng sơn màu đỏ. Họ trêu tôi là “Việt Cộng” vì màu đỏ, nhưng họ biết ý nghĩa màu đỏ của tôi. Sở dĩ tôi thích mặc áo mầu đỏ là vì tôi tưởng niệm mấy người bạn trai cùng trường chết trận. Rồi từ đó, mầu đỏ đối với tôi có ý nghĩa những giòng máu chảy trên quê hương của người lính Việt Nam Cộng hoà.

Về nhà, tôi mở hộp thiếc, mới biết các bạn tôi tặng tôi hộp đất lấy ở liếp vườn bông mà hồi học đệ thất chúng tôi vun xới.

Bệnh đàn ông

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 7 Nov 2023


Bệnh đàn ông

Hồ Đình Nghiêm

Lệ Hoa biểu anh cởi quần. Quần tụt xuống lưng chừng ở đầu gối, vướng víu. Ô hay, cởi tuốt luốt luôn cả quần lót nữa chứ lị. Giọng sắc, đầy quyền uy, vang vọng trong bốn bức tường nhỏ. Mức độ gây nhiễu sóng phải vượt khỏi 80 decibel, nó át đi tiếng còi xe cứu thương hay xe cứu hoả vừa ré kêu vừa chạy vụt ngang bên ngoài toà cao ốc.

Mang vào tay đôi găng cao su mỏng manh, người sở hữu cái tên nghe như của một đào hát đẩy anh nằm sấp xuống tấm nệm nhỏ có trải tờ giấy trắng nhăn nhàu, sột soạt. Đó không hẳn là chiếc giường thông thường, nó lạ mặt trông như miếng đệm mà ở nhà bạn lôi nó ra dùng để ủi áo quần. Trước khi “ủi” anh, Lệ Hoa dùng đầu gối của bà để banh hai chân anh mở rộng ra. Bà mặc chiếc váy ngắn và qua xúc giác, anh cảm nhận rằng da thịt bà rất mát, mát hơn cả ống kem bà vừa nhặt lấy để bôi chất nhớt nhát rít ráy kia vào mông anh. Với chút thô bạo, có thể nói vậy, chẳng từ tốn chút nào, bà đã thọc một hoặc hai ngón tay vào hậu môn. Cơn đau thốn như đâm lên tới tận ngực bởi sự thăm thú kỳ lạ ấy. Hình như khi đi ở tù, ma mới sẽ được ma cũ tiếp đón nồng hậu bằng phương cách nọ. Trên bầu trời mênh mông người ta luôn sợ hãi một cái lỗ đen bất thần hiện ra, nhưng những cái lỗ đen nhỏ nhít khác luôn có sức quyến rũ, dằn vặt người ta, ám ảnh và xúi đầu óc mụ mị tìm đủ mọi cách để xâm phạm lấy, chiếm đoạt nó. Ở 63 tỉnh thành của xứ sở này hằng ngày vẫn có đôi ba kẻ hăm hở đi ở tù vì can tội hãm hiếp. Đàn bà cũng song hành vào bóc lịch vì căm hận, lỡ xuống tay thiến đi cái bu-gi từng gây máu lửa kia. Không có lửa làm sao có khói? Người ta rầu rỉ tự biện hộ.

Khói lửa đến với anh khoảng mươi bữa trước khi cùng lũ bạn cũ kéo nhau đi nhậu nhẹt ăn mừng đoàn viên bốn mươi năm tình cũ. Anh cứ phải đi giải thuỷ miết, thấy không ổn chút nào bởi cái lê thân lắc nhắc nọ một thằng bạn đã phán: Mẹ! Vậy là mày dính chấu rồi. Nó rộng lòng bày đường chỉ lối, cái mà mày băn khoăn duy nhất, đó là cái phong bì ngó sao cho tử tế. Nhập gia tuỳ tục, qua lễ nghi, giờ này anh lọt thân được ngồi trong cái clinique hiện đại này.

Không nói năng, Lệ Hoa ra hiệu và dùng tay lật người anh nằm ngửa ra, bà ngó chăm vào dương vật rồi khởi sự dùng tay mân mê nó. Anh nhắm nghiền đôi mắt, cảm giác khó cắt nghĩa đang phủ chụp xuống người. Đó không hẳn là một sự hổ thẹn, người anh bắt đầu nóng, râm ran, châm chích. Năm ngón thay đổi vị trí, ngũ chỉ thần công đang bò xuống nựng nịu hai hòn dái hổ ngươi trốn trong cái bìu èo uột. Cố ngăn chận những ý nghĩ ám tối, anh thử nhớ lại thời điểm làm tình gần đây nhất, dọn lòng để đón đợi những câu hỏi gay cấn nhưng Lệ Hoa chẳng màng đá động tới. Bà không phải là bác sĩ phụ trách giải đáp tâm tư cho những đôi vợ chồng hiếm muộn con cái. Đi đái có dễ không? Anh thưa: Cũng không mấy khó, có lúc buồn tiểu tới nơi lại phải đứng đợi khá lâu mới được thông nòng. Một đêm đi đái mấy lần? Dạ, khoảng ba lần. Khoảng cách mỗi lần? Độ chừng hai ba giờ. Được, kéo quần lên đi. Có từng nghe qua chữ Prostate lần nào chưa? Dạ chưa. Nôm na đó là tiền liệt tuyến, là bệnh của đàn ông, hiểu không? Đại trượng phu vượt qua ngũ thập đa phần đều mắc phải, đều bị nó đón đầu. Tôi nghĩ ông nên đi xét nghiệm MRI rồi làm biopsy một lần cho rõ trắng đen. Trước mắt, tôi giới thiệu ông đi thử máu, tuần sau chúng ta gặp lại nhau.

Anh nắm lấy bàn tay phải mà Lệ Hoa vừa đưa ra, bắt chặc trước một tạm biệt kiểu cách. Tay thôi mang găng nhưng nó chẳng nuột nà mềm mại như vẫn có trên đôi tay của một nữ nhân. Trước khi bước vào phòng khám anh đã chuẩn bị tinh thần để đón nhận bao xấu xa tồi tệ về sức khoẻ anh đang rước phải, cái anh thiếu trang bị là anh không tưởng được vị bác sĩ chẩn bệnh lại là một người nữ. Một madame nhan sắc khá mặn mòi, ngoài bốn chục mà eo thon ngực nở, và… mát tay. Có thể do phần hành công việc buộc phải táy máy sờ soạn lung tung khiến bà hơi bẳn gắt chút đỉnh. Một người suốt ngày cứ ngắm chim cò thiên hạ biểu sao khiến họ vui thú được, nhất là chim cò nọ đang có vấn đề, mang cùng vẻ mặt xìu xìu ển ển tựa nhau. Cá mè một lứa, phải ướp muối chứ không tươi để vặn mình vặn mẩy sừng sộ nhảy đành đạch một cách thất thế.

Anh bước xuống đường ăn khớp với tiếng chuông reo phát ra từ cái điện thoại thông minh ẩn kín trước ngực. Anh về nước không lâu, đâu khoảng nửa tháng nhưng cái iPhone 6 này anh mới tậu ba hôm trước đây. Vật bất ly thân ban đầu thì đãng trí để một anh quái xế chạy xẹt ngang giật mất tiêu khi vừa mới nói được vỏn vẹn hai âm: A-lô. Bên kia đường truyền của sóng là ai? Chả biết. Chỉ biết ba hồn bảy vía đã lộn lui để khỏi hoa mắt nhìn thằng diệu thủ thư sinh nhăn răng cười khi nó ngoái đầu trông con mồi lạc hậu đứng chôn chân không phản ứng như một kẻ ngoài hành tinh.

Lần này thì rõ là có kinh nghiệm xương máu, nói a-lô khi đã dựa thân áp sát người bên một thân cây vững vàng chưa bị đốn hạ trên con đường nhiều bóng nắng. Chú xong rồi chưa ạ? Cháu mang xe lại đón. Sao lại là cháu? Thế ba đâu? Ông già nhậu oắt cần câu biểu cháu làm Lê Lai liều mình cứu chúa. Sau câu pha trò là tràng cười khúc khích nghe rất đỗi êm tai. Loan thích cười và môi miệng kia luôn đẩy ra ngoài cái cung bậc dòn dã đầy sức sống đè lên và át mất sự hợp âm bát nháo giữa hiện trường một quán ăn, một cuộc nhậu thường không dưới mười chiến hữu tranh nhau ăn nói. Anh từng nhận xét và Loan nói không suy tính, tại sự có mặt đường đột của chú khiến vậy, bình thường Loan ít cười, quanh đây có gì vui thú đâu mà cười?

Không quá mười lăm phút, Loan cỡi chiếc xe gắn máy nhiều phân khối thắng đứng bên thân cây. Biết vậy thì chú gọi chiếc taxi e tiện cho Loan hơn. Chú sợ điều gì? Đừng khi dễ, cháu chạy xe xịn lắm à nghen. Vừa nói Loan vừa trao cho anh cái nón bảo vệ đầu. Leo lên đi, chỉ cần ôm cháu cho thật chặt thì sẽ an toàn xa lộ. Loan không ốm chẳng mập nhưng người tròn trịa đầy nữ tính. Lưng áo thun có chỗ mồ hôi ngấm chưa kịp bốc hơi, anh áp mặt vào đó rồi không dưng nói ra cái ước muốn vừa hình thành: Giá mà chạy xe một lèo ra tuốt ngoài Vũng Tàu, thèm vọc nước biển quá. Thèm thật không? Ngoài biển, chú thèm gì khác? Thèm một thứ cảm giác căng thẳng, thèm gây án chẳng hạn. Ví dụ? Nếu Loan chạy xe ngon lành hãy đi sát vào một đối tượng nào đó để chú giật giây chuyền hoặc đồng hồ hoặc máy tính bảng các thứ… Khó tin quá, một Việt kiều lợi dụng vỏ bọc ngon cơm để đi trộm cướp lẻ tẻ đã bị sa lưới vào tay các an ninh phòng chống tội phạm. Báo chí giật tít như vậy, nghe không sướng, không đẳng cấp. Anh mơ màng: Thế nào là đẳng cấp hơn?

Người Loan thơm, cơ thể tự phát tiết ra hương mùi chớ không do mỹ phẩm tác động. Gió trên đường có can dự vào để bào mòn đi nhưng dẫu sao thì mũi anh đang cắm sâu cái khứu giác ở một vị trí quá đỗi thuận lợi. Ngất ngây một hương đồng cỏ nội mà đi tơ tưởng tới miệt biển mặn muối để dầm mình thì quả là hư đốn, đáng bị khiển trách. Chú đói bụng không? Thích ăn những gì? Chưa thấy đói, hai ba tiếng nữa hẳn tính cái bỏ bụng. Vẫn nuôi ý định đi săn lùng một cảm giác lạ? Vẫn, nhưng hoang mang sợ bị phát hiện bể ổ. Quên hỏi chú về bệnh tình. Bác sĩ bảo sao? Cũng tạm, qua hạng tuổi năm chục, con người không mắc thứ này cũng bị yếu đi đôi ba bộ phận trên người lỏng lẻo. Đố Loan, có biết bệnh đàn ông là gì không? Trả lời đúng thì chú tính sao? Phần thưởng là gì? Câu trả lời vắn tắc là ưa dòm gái, càng hở hang càng chú mục vào. Ưa có bồ nhí, ưa thói trăng hoa, ưa chung chạ dù biết người ấy đã có chồng, ưa hẹn hò, ưa ngủ chung, ưa ngoại tình. Xưa nay đàn ông đều duy có mỗi chứng bệnh ấy. Sai, sai hoàn toàn. Tuần sau chú sẽ đi xét nghiệm máu, sẽ chui vào nằm trong cái máy hệt như một cỗ quan tài. Kết quả nó đưa ra: Có phải bạn đang mắc căn bệnh đàn ông. Loan có hay đi giải thuỷ lắc nhắc không, năm canh trường mà lục đục dậy những ba bốn lần. Nếu y bon thì xem như Loan dính phải bệnh đàn bà. Hai vợ chồng cùng mang chung một căn bệnh thì loan phượng kia chỉ có đứa hy sinh chịu vất vả chút đỉnh: Em có dậy đi tiểu thì cho anh biết để gửi ké với. Chú nói tầm bậy gì đâu không. Bệnh đàn bà chỉ tập trung vào hai nơi: Ung thư vú hoặc ung thư tử cung. Hai thôi cũng đủ nát ngọc tan hoa rồi. Phải chi trần thế xúi con người giản lược bớt rắc rối, chỉ Sinh rồi tới Lão rồi chấm dứt bằng Tử có phải sướng thây không? Có chữ Bệnh chen chân vào sao nghe u ám cuộc đời vô hậu!

Xe chạy tới khách sạn nơi anh mướn ngụ thì thắng đứng. Loan nói, không riêng chú, cũng có người muốn thử cảm giác mạnh. Buông cháu ra, bước xuống đợi cháu đi gửi xe. Nghe chú nói sao tự nhiên buồn tiểu muốn chết. Nhân viên phục vụ trong khách sạn 3 sao này đã quen mặt Loan những lần cô đi cùng mấy ông bạn già tới kêu anh đi nhậu. Trong trí họ thằng chả Việt kiều nọ vừa tìm ra được cô cháu gái thất lạc đã lâu và cảnh đoàn tụ nào cũng khiến người ta cảm động. Chả xa xứ hồi còn trai tơ, cháu gái hậu phương chưa có cơ duyên chào đời; giờ chả về tóc đã đổi màu phong sương và con bé xa mặt cách lòng bi chừ đã ngồn ngộn điện nước đầy đủ. Nó lanh lợi soi đường chỉ lối, nó can trường làm hướng dẫn viên du lịch dắt thằng chả đi dã ngoại lia chia, mỏi gối chồn chân thì về đây mà tắm rửa nghỉ ngơi đặng tính toan tới phương án khác. Tình chú cháu thì ngàn đời êm ả như thủ túc, đùm bọc quyết không cho môi hở răng lạnh vậy!

Khi lên tới phòng Loan lật đật đi đái thật. Giải thuỷ xong sẵn trớn thoát y, lăng ba vi bộ có ba bước là sang bồn tắm. Tiếng những móc khoen nơi tấm màn ny lông xô động kêu lãnh lót khi được kéo căng ra, ngăn chia làm hai lãnh thổ một bên khô ráo và bên kia tuôn ra từ vòi sen xào xạc tiếng mưa rơi ào ạt úng thuỷ dầm dề. Mưa ngoài trời làm người ta hoá thân thành con chuột lột vắt ra nước nhưng mưa trong phòng tắm khiến thân người ta chóng khô như thể muôn đời thuỷ chẳng tài nào cứu hoả. Loan bước ra, ngùn ngụt ngọn lửa thắp cháy quanh người, đi tới đâu bỏng rát tới đó. Chẳng phải vô cớ mà những thằng thanh niên Tây tà ngọng nghịu nói không tròn lời: Oh! So hot baby…

Bác sĩ khám xong có biểu chú mua thuốc uống không? Không, ừ nhỉ, sao bà ấy không chịu ghi toa cho con bệnh cà? Bà chứ không phải ông à? Ừ, lại đẹp gái, lại chưa già. Kỳ cục vậy, thế bả bỏ băng qua giai đoạn kiểm tra súng ống của chú à? Có chứ, làm như đàn bà thì phải mắc cở ấy, bả lạnh lùng sờ soạn, mân mê, nắn gân đủ kiểu. Bả phê bình hay khuyên nhủ điều gì không? Không, thiệt hú hồn!

Loan tới sát bên giường, từ tư thế ngồi anh bị Loan xô té nhào xuống mặt nệm. Tuy không mấy lớn nhưng rõ ràng đó là một cái giường hẳn hoi, chẳng kiểu cọ thay đổi dáng như đằng phòng khám bệnh. Điều này đồng nghĩa với việc Loan sẽ không “ủi” được anh, Loan chỉ toàn quyền “hấp, tẩy, nhuộm” hoặc xâu chỉ luồn kim. Anh bị lột truồng ra. Tủi hổ thật, trên năm mươi người ta có rất nhiều thứ cần che dấu. Người ta bỏ lại tuổi trẻ bên nẻo đường khuất xa, tiếc nuối thời oanh liệt mình trần trai tráng ưỡn ngực phóng người xuống sông vùng vẫy thoả thích với vai u thịt bắp. Người ta đã chẳng thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông.

Loan trút bỏ chiếc khăn tắm lớn khỏi thân để khỏi vướng víu khi năng nổ lao động sờ mó y như bà bác sĩ Lệ Hoa vừa làm. Hình như chú hơi bị thiếu vitamin Đê. Là sao? Đê là mẫu tự viết tắc cho động từ ấy, lý ra bà ta nên ghi toa cho chú mua vài viên Viagra. Lần anh thì anh thôi nhắm trít mắt lại, anh quan sát Loan và phát hiện mái tóc bên dưới của cô cháu có cắt tỉa gọn gàng trông rất nghệ thuật. Một loại nghệ thuật ấn tượng, rất hiện đại, rất bắt mắt. Khi người ta bỏ công trau chuốt tới vật thể gì, hiển nhiên người ta sẽ kiếm cách phô bày nó cho người dưng thưởng ngoạn. Bây giờ chú giả làm bác sĩ đi và cháu là bệnh nhân có vấn đề ở cửa mình. Loan rên lên, hãy khám cháu đi, hãy sờ soạn thăm dò cháu đi, bằng tất cả những gì chú có, mắt mũi môi miệng lưỡi tay…Đừng vội vã, hãy thong dong. Điện thoại di động của chú đâu? Chi vậy? Chú không muốn ghi lại hình ảnh này sao?

Chỉ đột ngột nói ra thế thôi, cả hai tuyệt chẳng muốn rời bỏ một hiện trường đang vấy sẵn những nhàu nát trên tấm khăn trải nệm. Lời đề nghị ấy nên quên đi, bởi vô tình nó gieo vào đầu óc một hình ảnh tồi tệ: Sẽ dùng thước phim nọ để làm tiền làm tội nhau trước khi hai đứa tách rời đi ngược hướng. Thuỷ chung Loan vẫn ngồi trên người anh, cô chủ động dắt anh vào cuộc lữ mụ mị thần sắc của ta bà thế giới. Loan hướng dẫn anh nhập cuộc vào chuyến hành hương mà muốn lên tới đỉnh ta buộc phải đánh rơi bao toan tính đắn đo bên triền vực tăm tối. Chú có yêu Loan không? Anh nói: Yêu. Anh thở hắt ra và cơ thể Loan từ tốn đóng lại những miệng núi lửa. Cô hỏi: Chú sướng không? Anh nói: Sướng. Lát nữa mình đi ăn, đúng không? Đúng. Ăn xong chú tính làm gì? Không biết. Loan thì sao? Cháu sẽ lấy của chú một triệu. Lại đi shopping à? Không, đi tới chỗ xăm hình nhờ họ trổ cái tên chú ở chỗ này. Loan chỉ vùng bình nguyên mượt mà nằm dưới lỗ rốn khá xa. Có nên không? Anh hỏi với chút ngần ngại. Tommy, đâu ai hay biết đó là cha căng chú kiết nào mà lo. Chú cũng lạ kỳ, qua xứ người thiếu gì tên gọi hay ho khi không đè Tommy mà chọn, phát âm làm liên tưởng tới nhãn hiệu mì ăn liền hiệu con tôm. Loan cười, vẫn là thứ âm thanh rộn rã của những hòn ngọc va chạm nhau. Đôi khi đói lòng, mì con tôm cũng nên liệt vào danh sách những món ăn ngon miệng. Cám ơn con tôm bé nhỏ của cháu. Loan hôn anh và dùng tay nghịch lấy cái biểu tượng của giống đực. Ngày hôm nay, chẳng hiểu sao nó phải trần thân hứng chịu biết bao trận đụng độ, đi qua dưới bao hòn tên mũi đạn, chui sâu vào địa đạo Loan mà chưa nghe ai ca ngợi nó là anh hùng chính hiệu. Mỉa mai thay, mai hậu khi xét nghiệm về căn bệnh đàn ông, chính nó sẽ khạc ra máu, công bằng như đàn bà khi có tháng. Kinh nguyệt Loan có vận hành suông sẻ không? Sao chú hỏi câu nghe lãng xẹt? Tháng tới nếu nó đình công bãi thị thì đích thị là cháu mang thai. Chú ngán không?

Dẫu biết siêng đi đái một cách vô cớ anh vẫn thèm khát một cốc nước ngọt mát lạnh để uống một hơi cho lại thần hồn. Tự dưng trong đầu anh mường tượng ra hình ảnh một phi cảng chộn rộn tiếng động, chuyến bay dài xuyên lục địa mang anh về lại chốn nương náu quen thuộc, ở đó anh còn chống chọi cuộc đời thêm những 15 năm mới hết xí quách, mới bất lực, mới ăn tiền già, mới lui cui sân trước vườn sau. Một bức tranh ảm đạm hiện tới. Một toàn cảnh nhiều sắc xám can dự. Nhưng khi ẩn mình vào đó, người ta ý thức được cái vận hành đầy an toàn. Không rụng một sợi lông. An toàn tuyệt đối. Anh sẽ ngồi ngắm biết bao cơ man là gái đẹp tóc vàng sợi nhỏ diễu hành ngang qua. Mê man. Anh là thành viên trong khối NATO. No Action Talk Only. Bó tay chẳng hành động được gì. Xin chớ trách móc thằng cha già dịch. Ấy, bệnh đàn ông mà. Thấy gái đẹp không dòm cũng phí.

Dậy mặc áo quần đi ăn chú. Loan nói. Ăn xong, xâm mình xong, lần này cho chú nằm trên. Hãy chơi cháu đi, cho bỏ những ngày cơ cực. Loan pha sự dâm đãng nhuộm kín trơn tru từng con chữ. Anh vật Loan xuống, anh thầm thì: Anh yêu em.

Bá tánh

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Bá tánh

Hồ Đình Nghiêm

Trung úy Hùng không cao nhưng thuộc hạng người vạm vỡ. Qua bộ đồng phục cảnh sát có độn áo chống đạn bên trong, mắt kẻ phàm tục cũng hiểu thằng chả từng qua nhiều lớp tu luyện kung-fu. Dĩ nhiên, Hùng là người Việt. Ổng nói giọng Nam, mặt khá điển trai, chừng ngoài 30.

 Trước khi làm việc, ông tâm sự: Tôi rất nản khi cấp trên giao cho tôi phải hoàn thành vụ nầy. Vì sao nản? Vì tôi không thích đón nhận những tai tiếng xấu xa do người đồng hương gây ra. Tôi từng bắn cụt giò một tên tội phạm và tôi đã dằn vặt nhiều ngày vì thằng con trai ấy là người Việt. Trước, tôi chỉ huy đồn 36 ở phía Đông thành phố, nơi đa phần là dân da màu cư ngụ, sau này họ điều tôi về đây chỉ vì một lý do: Khu vực nầy mỗi lúc một đông người Việt, và như thế chúng ta có thể nói chuyện trực tiếp không cần qua miệng một thông ngôn. Anh hiểu không? Theo kinh nghiệm, tôi cho là khi người ta tâm sự, dẫu vụn vặt, những dốc lòng đó chẳng xa sự thật bao nhiêu, nhất là nó không bị hàng rào khác biệt ngôn ngữ quấy phá. Nói suông sẻ chứ không nói ấp úng bởi mãi tìm từ tiếng Tây tiếng u.

 Anh hút thuốc phải không? Thường thì nghiêm cấm bởi phòng hỏi cung này quá chật, không cửa sổ, nói chung là bí, nhưng tôi phá lệ để cho anh tìm được chút thoải mái. Hãy thư giản. Nếu muốn, tôi sẽ xuống cafeteria mua cho anh một ly… Trung úy Hùng sửa lại khẩu súng ngắn, đen đủi dị hình máng ở thắt lưng trước khi ngồi trên một góc bàn. Phòng kê độc chiếc ghế nhựa và chiếc ghế ấy muôn đời không phải là nơi cho vị cảnh sát tọa mông. Hùng ngó xuống thằng thanh niên ngồi cứng nhắc trên ghế. Như bao thằng khác, hắn đặt hai cánh tay trên bàn, ngón xoắn lại với nhau, thảng hoặc cúi mặt tẳn mẳn moi đất đen bám sau móng tay. Một, để cố giữ bình tĩnh. Hai, đang bận suy nghĩ lao lung. Ông bạn dân ho khan, đằng hắng: Tấm ảnh này chụp đã lâu, có ghi ngày tháng. Để xem, vậy là bảy tháng trước. Bảy tháng, dung mạo chẳng thay đổi nhiều ngoại trừ dao kéo của thẩm mỹ viện can dự vào làm cho biến dạng đi. Và đây là ảnh mới nhất, lưu trữ trong cái iphone 4 của cô ấy. Anh nhận diện rồi nói cho tôi biết tên của cô ta.

 Một. Tôi là Nguyễn văn Một. Tôi không biết cô này là ai cả. Tấm ảnh cũ thì xem có hơi ngờ ngợ, hơi quen quen, dù không nhớ đã thấy qua một lần ở đâu đó. Anh Hùng, à Trung úy Hùng, Trung úy biết đó, tôi làm việc trong một tiệm disco, phục vụ bán rượu, mỗi tối, nhất là cuối tuần, tôi phải chạm mặt cả ngàn cô gái đủ mọi sắc tộc. Ánh đèn mờ ở quầy rượu không giúp gì cho trí nhớ tôi, ngoại trừ những cô tóc vàng mang vào người một cái gì thật ấn tượng. Trung úy Hùng cắt ngang, đưa tay phủi sạch một vệt dơ bám vào quần. Anh Một hình như là dân vượt biển, phải không? Một làm thinh, kéo tấm ảnh lại gần. Hình này, xem nào… Ồ, không chừng là Thị. Tôi chẳng xác tín được bởi thời gian đi mau quá. Cái gì? Cô gái mang tên Thị à? Dạ phải, Thị, như câu “hu thị thị rớt bị ăn mày” ấy. Tựa một loại trái có mùi rất thơm. Nói tiếp đi, những gì còn nhớ. Dạ, năm ấy, trước khi Hồng-kông bàng giao lại cho Trung quốc, tôi ở trại tị nạn khu vực Cửu-long, lúc ấy, một chủ nhật xấu trời có mưa sa, tôi co ro chứng kiến một hình ảnh lạ, phải nói là kì cục, một đoàn xe sang trọng bóp còi inh ỏi từ ngoài cổng trại có giăng kẽm gai chạy thẳng vào, băng qua khoảng sân đọng vũng bùn lầy và dừng lại có thứ lớp trước một vuông cửa tối đen bẩn thỉu của dãy nhà A-4. Một chú rể bản xứ với sự trợ giúp của đám bạn ồn ào tiếng Quảng-đông đã vào tận hang ổ để rước về một cành hoa lưu lạc made in Duỵt-nàm. Cô dâu là Thị. Cô khoảng 18 tuổi, người Bắc, nghe đâu nằm ở trại tị nạn đã 3 năm mà không được một phái đoàn nào tiếp kiến phỏng vấn. Ở chỗ giặt giũ áo quần tôi nghe cô nói: Đéo mẹ, ngay cả bọn Đan Mạch cũng đéo thích bà. Chúng xem bà như mụ già nằm chai người, ế chảy. Cơ khổ! Lầm to lầm to. Bà ngon hơn chúng mày tưởng… Tôi để ý tới cô ta vì thứ ngôn ngữ nghe thật lạ tai, cô ưa dùng những chữ mà bọn chúng tôi gọi là tiếng Đan Mạch. Đéo, đếch, cái hĩm nhà bà đây nầy, được có mỗi con buồi chứ đâu có cái đếch gì khác… Đại khái là vậy, nói không ngượng miệng. Thứ nữa, Thị sở hữu một thân hình đẹp, phải gọi là rất xếch-xi. Chỉ có thế, tôi ngỡ cô định cư ở Hồng-kông. Trung úy có tin người giống người không? Một sự trùng hợp, nhầm lẫn ngoài ý muốn.

 Tôi là Trần văn Hai. Tôi đứng bếp cho một tiệm phở bên Vancouver, nâng cao tay nghề xong tôi “mu” về đây tự mình mở quán. Người trong ảnh này có thời gian đến xin việc, thẻ an sinh xã hội mang tên Tràng An, 27 tuổi. Cô khai, thời còn bên nhà cô nấu phở rất ngon, tôi thử cho cô thi thố tài năng và quả tình cô không man khai. Quán tôi đông khách từ ngày có Tràng An. Cô ta đòi lên lương 20 đồng một giờ, tôi đồng ý. Vì công việc, chúng tôi sớm tối gần gũi nhau và xin thưa thật chúng tôi đã quan hệ với nhau. Vụng trộm chưa được một năm thì vợ tôi phát hiện, giải pháp êm đẹp nhất là cô cuốn gói ra đi với 25 ngàn tiền mặt nằm trong xách tay. Tôi không biết tin tức Tràng An từ dạo đó, hai năm trước. Giờ đây, thỉnh thoảng nhớ vu vơ. Chuyện gì đã xảy tới cho cô ấy. Mất tích, tù tội hay án mạng?

 Trung úy Hùng kéo ghế. Tuy làm bằng nhựa, chân ghế cũng phát tiếng nghe ê răng khi bị kéo lê trên nền xi-măng. Ngồi xuống đi. Phạm văn Ba phải không? Dạ. Thằng đeo khoen tai tóc dựng đứng ké né ngồi vào chỗ chỉ định.

Hắn buông thỏng hai tay thu cất dưới bàn. Y phục tuyền màu đen, từ trên xuống dưới, ngoại trừ một đốm màu đỏ tươi dính chặt ở bắp tay. Phạm văn Ba chắc tốn bộn tiền để xâm vào da thịt hình một trái tim rướm máu bởi vô số gai nhọn ràng buột, bức bối. Cái ví da đựng giấy tờ tùy thân của Ba nằm sau túi quần được nối với thắt lưng bằng một sợi dây xích, lủng lẳng, rối rắm và… ngó gai con mắt. Da dẻ Ba xanh tái tựa hồ Ba là truyền nhân của bá tước Dracula, sợ quang minh chính đạo. Hắn không dám ngó mặt Trung úy Hùng như thể ở trán ông quan hai cảnh sát có xâm hình một chiếc thánh giá. Nói tóm, bao bọc quanh thân Phạm văn Ba là thứ gì đó mà phát hiện đầu tiên của mắt nhìn là sự thiếu thiện cảm. Một thằng punk đi lạc chốn, cô đơn cùng cực. Trung úy Hùng ngắm con mồi, hắn đẹp trai quá, sáng láng, có vẻ con nhà giàu học giỏi. Trung úy Hùng, theo thói quen, ngồi lên góc bàn, ra vẻ thị uy. Và nhập đề: Ba biết tiệm cho thuê DVD “4U” chứ? Dạ biết. Khách quen? Dạ, quen biết gì đâu, thường ghé xem có gì mới lạ. Biết tên chủ nhân không? Dạ biết, nghe bà vợ anh ấy gọi là Mình. Tầm bậy. Minh, không có dấu huyền. Minh cũng có thể gọi vợ là mình ơi vậy. Qua đây lâu mau? Dạ, hai mươi năm rồi. Có nghĩa là má ẳm qua hả? Dạ không, dì bế qua, má em mất khi đẻ ra em. Nói tiếng Việt giỏi hé? Dạ, bị dì em siêng dắt tới chùa trau dồi tiếng Diệt. Thôi được, tôi có ghé tiệm anh Minh cách đây hai hôm. Tôi biểu Minh nên hợp tác với cảnh sát và cậu ấy cho tôi xem danh sách của ba người Việt thường đến thuê phim. Tôi gạt hai đối tượng kia ra vì họ đứng tuổi, chả có gì đặt nghi vấn. Phạm văn Ba là kẻ còn lại, tôi ghi được tất cả những phim Ba đã mướn, kể cả ngày tháng. Khiếp, bạn giải trí với mức độ chóng mặt, gần như chỉ cách khoảng đôi ba hôm. Và điều đáng nói là bạn chỉ xem phim bạo động hoặc phim đen 3X. Trong danh mục phim người lớn mà bạn mượn tôi để ý tới phim “Hãy đi sâu vào và làm tôi khóc”. Vì sao? Vì cái poster in hình cô gái đó rất giống với tấm hình này. Tôi nói nãy giờ Ba có hiểu không? Cần xổ ngoại ngữ không? Dạ hiểu. Dạ không cần.

 Trung úy Hùng thảy xuống bàn hai tấm ảnh cũ. Một của Thị, một của Tràng An. Có thể tuy hai mà một. Ba biết ai đó không? Dạ biết, dì dắt đi ăn phở để tìm hương vị quê hương nơi xứ lạnh tình nồng và em đã thấy cổ. Em kêu chị, cổ nói đừng gọi thế đéo sướng. Chị khen em đẹp giai, chị ghi cho em số phone rồi nói, nhớ gọi em nhé, anh giai… Rồi sao nữa. Rồi em muốn tìm hiểu. Rồi hai đứa hẹn nhau. Hỏi tên, chị bảo, gọi là Honey đi, cho mùi. Rồi Honey xúi em đi thuê phim để thêm hưng phấn. Khoan, khoan… Trung úy Hùng ngắt lời. Cô ấy tự nguyện hay Ba phải chi trả mỗi lần lên giường. Phải trả tiền chứ chú, à Trung úy. Cô nói lý ra không nên dây tới tiền bạc, đếch lãng mạn, nhưng cô hiện đang thất nghiệp. Cô nấu phở ngon lắm chú, à Trung úy. Thế Ba tốn bao nhiêu? Tùy thuộc vào sự buồn vui của Honey. Khi thì 250, có lúc cô đòi 300. Nói chung là chẳng có giá nhất định, Honey bảo cô không hề là một cô điếm. Mà sao Trung úy hỏi em kỹ thế? Có chuyện gì xẩy ra cho Honey sao? Tiền đâu mà Ba sẵn thế? Ông cậu em hiện là đại gia quy hoạch đất đai ở Việt-nam. Cậu thương em mồ côi mẹ sớm nên gửi cho ngàn đô hằng tháng. Đại gia là gì hả Trung úy? Có phải là Thiếu úy xong tới Trung úy xong tới Đại gia? No. Fuck. Đại là to, gia là nhà. Chỉ biết ngần ấy thôi, ngoài ra tớ bù trất, chả đủ chất xám để thông hiểu. Thôi, Ba về đi, buổi nói chuyện của chúng ta coi như chấm dứt. Thay mặt đồn cảnh sát 42 cám ơn sự hợp tác sốt sắng của Phạm văn Ba.

 Trung úy Hùng đứng bấm chuông. Hôm nay ông mặc đồ dân sự, xuềnh xoàng giản dị lè phè. Có vậy mới thấy cái vỏ bọc luôn quan trọng, hèn gì người ta ưa bình phẩm: Cha chả, thằng này diện bộ đồ ăn nói trông thiệt le lói! Cởi bỏ đồ ăn nói ra, Hùng bình thường và tầm thường như vạn thằng đàn ông khác. Chuông gióng hồi thứ ba thì cửa mở, đứa con trai nheo mắt vì ánh sáng bẳn gắt của trưa hè đang dội ngập sân, chôn vùi hình thù chậu hoa lớn trong biển nắng. Mày còn nướng người trên giường sao? Chủ nhật mà anh, sinh hoạt phải thay đổi chớ. Mày đã nghe cuốn băng thu âm chưa? Đã. Vì thế mà trăn trở suốt đêm. Anh thấy sao? Tao thấy mày hên. Chả có đứa nào biết rõ thân phận con bé. Chỉ biết có mỗi việc là nó ưa dây tới chuyện xác thịt. Vụ nó bị xây xát phải nằm bệnh viện thì sao? Tao đã đóng hồ sơ với thứ kết luận: sau khi điều tra, đương sự bị đánh ghen và đương sự chẳng có ý định thưa gửi kiện cáo gì ráo. Nhắm dễ ăn không anh? Tao đã dằn mặt thằng côn đồ kia, bảo nó thăng khỏi thành phố, chớ héo lánh. Bắt chúng nó cũng dễ, chỉ sợ phải dẫn về đồn lập biên bản, như vậy câu chuyện thêm phức tạp, dấu đầu lòi đuôi. Bao lâu nó xuất viện? Tối nay em đến rước nó. Mày cũng tìm cách biến khỏi chốn này đi, cùng nó ém vào thị trấn xa khuất nào đó. Tình hình lắng dịu, tao hú mày về.

Trung úy Hùng đến mở tủ lạnh, khui bia ngữa cổ tu hơi dài. Em để tiền trong cái phong bì dấu dưới đám rau quả ấy. Con bé giao dịch với bọn trồng cỏ hơn hai năm, ký gửi trong sổ tiết kiệm được sáu chục ngàn. Phong bì ấy đựng tiền mặt. Em đếm rồi, cả thảy hơn hai chục xấp.

 Hùng đóng cửa tủ lạnh, nhét cái bao thư màu vàng sau lưng quần, gần chỗ khẩu súng ngắn ẩn mình. Mày nhớ những gì tao từng căn dặn chưa? Có việc nan giải gọi tao ở cái cell phone. Tao đề nghị mày lái xe về chốn cũ rồi hẳn lấy vé máy bay sau, cho mặt con bé nhạt bớt vết trầy trụa. Đừng sử dụng phương tiện xe hỏa hoặc xe đò. Tao tạt về sở một chút.

 Mở cửa, Hùng đứng ở tam cấp đeo kính rayban vào mắt, vặn vẹo thân hình qua lại. Buổi trưa, hai đầu đường vắng ngắt, êm thắm.

 Thủ tục xuất viện rất đơn giản, vả lại, nạn nhân Huỳnh thị Trinh Nữ chỉ ê ẩm ba sườn, chợt da cùi chỏ và hai mũi kim khâu bên trên mày trái. Mắt bớt sưng, đi lại bình thường, bắt đầu buồn miệng: Xong cả rồi anh? Xong tất. Yên ổn từ nay về sau? Ừ, yên hàn vô sự. Mẹ kiếp, thằng ấy có võ anh ạ và phường vũ phu, ra tay tàn độc đau đéo chịu được. May mà mồm em to, em rống lên và dân tình chộn rộn, có thằng Tây con mặt bô giai chạy tới giải hạn, nó xốc ngực em đứng dậy, ma đàm sao rồi, ma đàm có ô-kê không? Ma đàm con bà mày, tao còn xuân thì mày xốc nách tao mày không cảm nhận gì sao?

 Thằng đàn em Trung úy Hùng dìu Trinh Nữ tới chỗ đậu xe. Thương em thật lòng không? Hỏi lãng xẹt, không thương cớ sao cùng vào sinh ra tử với cưng? Khi nằm trên giường bệnh, em nghĩ tới anh, cầu mong sao anh là bến đỗ an toàn, sau chót của em. Đếch dám tơ tưởng gì hơn. 

Xe gài số, lùi lại, xém đụng phải thằng thanh niên đang khởi động máy nổ chiếc xe gắn máy trông bụi bặm. Hắn mặc tuyền một màu đen, vừa càm ràm vừa bước tới cửa xe. Ủa, Honey, lâu ngày không gặp, em mới mướn được cuốn phim nóng thuộc hàng siêu khủng. Phim ảnh làm đéo gì giờ nầy? Có thấy người ta đang tàn tạ hay không? Honey honey! Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu, hở Trinh Nữ!

Hồ Đình Nghiêm 

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Cái áo nhân dân

Đặng Chí Bình

Bài 36

Sau buổi nói chuyện với cô Hoa, tôi đã về trình bày chi tiết lại với thầy mẹ tôi. Mẹ tôi mừng ra mặt, người tươi như có một nguồn sinh lực mới, người sai tôi đi mời mợ Út vào để người nói chuyện.

Mợ Út vừa vui, vừa ngạc nhiên: Vui vì tôi đã chịu lập gia đình, lớn tuổi mà còn lận đận, long đong mãi. Ngạc nhiên vì so với bốn đám kia thì tôi có điều kiện để bay, nhẩy sau này nhiều hơn, nhưng một khi đã nói: Đời là kỳ diệu, vợ chồng là duyên số thì xin ngừng lại đây.

Chuyện lấy vợ của tôi cũng không đơn giản, bình thường. Tôi còn bị mất quyền công dân năm năm, cho nên tôi phải chạy lên Thành, xuống Quận; ra Ủy Ban Quản Lý Những Người Học Tập Được Về, vào Phường còn phải đến báo cáo cả cô Ngọc Anh, công an khu vực nữa. Không phải một lần mà xong, chúng bắt tôi chạy đi, chạy về nhiều lần. Hạch hỏi, cả những điều tôi không hề nghĩ tới, như:

– Anh quen với cô Hoa này do đường dây nào?

– Anh có chủ trương gì với cô Hoa sau này?

Tôi nóng cả người lên, tôi đã định trả lời theo cái ngang bướng cố hữu khi bị ép đè là: “Tôi có chủ trương sẽ đẻ con với cô Hoa! Và sẽ phong cho cô ấy, chức Nội Tướng sau này”.

Nhưng thôi, phải nín thở qua đò, thì mới có thể làm được những việc mình muốn, nên tôi đã trả lời, ngoan ngoãn ngây thơ:

– Thưa ông, chủ trương nào cơ? Tôi chỉ muốn lấy cô ấy làm vợ thôi!

Chỉ có cô Ngọc Anh làm cho tôi ngạc nhiên. Một buổi tối, tôi đến trình diện xin chữ ký của cô mỗi ngày, hôm nay sau khi làm những điều thường nhật xong, tôi nói luôn:

– Thưa cô, tôi và cô . . . . . . Hoa sẽ chuẩn bị tiến đến hôn nhân, vợ chồng!

Con ngươi của cô đang là mầu xanh lam hình bầu dục, cô ngửng lên nhìn tôi. Con ngươi của cô mở to dần thành tròn, rồi ưỡn ra, chuyển thành mầu nâu. Không nói một lời, cô quay ngoắt vào trong.

Thấy vậy, tôi đứng lên, khẽ chào, rồi tôi ra về. Mợ Út đã vào nhà tôi nhiều lần, cùng với mẹ tôi, có cả bà Chức. Các bà đều đã chuẩn bị sấp xếp vào ngày Chủ Nhật này, có cả ông Chức từ trên Phương Lâm về. Như một ngày chính thức dạm hỏi, để rồi ấn định ngày cưới, ngày vào Cha cho một lễ cưới đơn giản theo điều kiện và hoàn cảnh của gia đình đôi bên ở giai đoạn ấy. Vợ chồng Lợi và Đạt hoan nghênh tích cực, chuẩn bị cho đám cưới của tôi.

Mấy ngày sau, chị Hai Công ở Hồng Ngự đã xuống và chị đã thực hiện lời chị nói là, cho tôi một cây vàng lá Kim Thành. “Tiền vào nhà khó, như gió vào nhà trống”. Phải thừa nhận lạng vàng của chị Hai, đã giải quyết những khó khăn chính, trong giai đoạn này của tôi.

Tôi nhớ có một bữa cơm họp mặt mấy bạn bè trên nhà thằng Lợi trước ngày đám cưới của tôi. Bữa cơm hôm ấy có năm sáu người bạn hoặc liên quan họ hàng: Anh Trần Đình Lộc(anh rể của Lợi) Đạt, Lợi, tôi, ông Long và anh Bùi Văn Đệ. Bữa cơm họp bạn bè giữa năm 1981, đã hằn vào tiềm thức của tôi.

Những ai ở Sài Gòn trong giai đoạn này, đều đã thấy: Hầu hết cuộc đời của mỗi người, đều không biết ngày mai sẽ ra sao? Đầy trăn trở, lắng lo; đầy thấp thỏm ngơ ngác nhìn ngày mai với những khó khăn, chất chồng trước mặt. Vì thế bữa cơm này, dù tâm trạng mỗi người khác nhau, nhưng đều muốn uống mà không cần kìm giữ. Trong sáu người này, người nhiều tuổi nhất có lẽ là ông Long, ông đã từng là một người điều hành kỹ thuật, của một cơ xường mộc xuất khẩu của Sài Gòn trước và cả sau 1975.

Trong khi người nào cụ Lưu Linh cũng đã đến thăm, có nhiều chuyện được đề cập. Tôi hiểu tuy là bạn bè nhưng mỗi người đều có những nỗi niềm riêng, tôi cũng có niềm riêng. Tôi còn có một cái tôi tin rằng, khác với năm người kia. Tôi có muốn gặp cụ Lưu Linh, nhưng cái túi nó đã ngăn tôi lại, hôm nay có điều kiện, nên tôi đã nói chuyện với cụ hơi lâu, hơi nhiều. Bỗng nghe thằng Đạt nói như sừng sộ:

“Ông Hồ có tên trong tự điển Larousse”.

Rồi tiếng ông Long cũng sôi nổi:

“Ông Hồ Chí Minh tuy có một số điểm sai, nhưng chúng ta phải thừa nhận, ông ta đã cả một cuộc đời yêu quê hương dân tộc”

Anh Đệ ngồi mãi phía cuối bàn, cũng khàn khàn lên tiếng:

“Rất tiếc, nếu ông Hồ còn sống, thì người dân không khổ cực như bây giờ “.

Tôi nghe, và tôi cũng không hiểu tại vì sao các bạn lại đưa cái đề tài HCM ra, để tranh luận? Nghĩ thế, nhưng tôi vẫn ngồi im, cho hồn đưa võng với cụ Lưu Linh. Tôi hiểu mấy người bạn của tôi, đều là người Bắc di cư. Cùng ở dưới chế độ VNCH và đều đã là công chức dưới chế độ đó, đều không ưa gì CS, mà còn nhận định về Hồ Chí Minh như vậy, thì còn nói chi đến người dân khác!

Nghe như vậy, nhưng lòng tôi còn rối rắm nhiều sự việc, sáng mai phải đưa bản kiểm điểm lên tiểu ban Quản Lý Những Người Học Tập Được Về. Họ có tha thứ, chấp nhận cho tôi được gia hạn ba tháng, tạm trú nhà bố mẹ của tôi không đây? Tuần trước, tiểu ban QLNNHTCTĐV gửi giấy gọi lên, bắt tôi làm kiểm điểm đã vi phạm thời gian tạm trú. Lý do, khi tôi lên Thành CA, sáu tháng trước trình diện. Tôi có xin gia hạn tạm trú, nhưng CA Thành đã bảo vấn đề tạm trú, đã giao về địa phương. Tôi hiểu địa phương là phường 6; phường của tôi ở, và CA khu vực, mà hai nơi này thì hàng ngày tôi đều có mặt trình diện rồi.

Đầu tôi đang cúi gầm, tâm sự với cụ Lưu Linh thì ông Long đã gọi tên tôi:

– Anh Bình đã ra Bắc, tù nhiều năm, cho chúng tôi nghe ý kiến của anh đi!

Cả cái thằng chó chết Đạt cũng thúc vào:

Anh Bình có đồng ý ông Hồ có công với dân tộc, với đất nước không?

Tôi đã ngất ngưỡng rồi, nhưng bạn bè muốn tôi có ý kiến, vậy thì cứ nói thật, những suy nghĩ trong lòng:

– Tôi đã say, nhưng các bạn muốn tôi có ý kiến, xin các bạn thông cảm, tôi không có khả năng lý luận và ăn nói. Do đấy, tôi chỉ nói những cảm nghĩ và sự việc bản thân đã trải qua:

Khi tôi còn nhỏ ở trong vùng Việt Minh, nên tôi đã là nhi đồng cứu quốc. Tôi đã chơi đùa nhiều với các anh bộ đội của “Bác Hồ” suốt những năm 1945 đến 1950. Năm 1950 tôi ra Hà Nội, 1954 vào Nam, rồi 1962 ra miền Bắc. Do những bối cảnh của quê hương, do những thúc đẩy của dòng đời, tôi đã nhận một nhiệm vụ nhỏ bé ra Hà Nội để chống Cộng Sản.

Dù tôi đã được nghe, được diễn giải chủ nghĩa Cộng Sản từ đệ I, II, III IV Quốc Tế diễn tiến cho tới Tito của Nam Tư (thời gian ở lớp học số 2 Jean Jacques Rousseau).

Một mình tôi xông vào bức màn sắt, mò về Hà Nội để đi thực tế. Trong đáy con tim của tôi vẫn còn dành một góc nhỏ, lòng mến mộ HCM. Thật là một điều mâu thuẫn, nhưng đấy là sự thật! Rồi tôi bị bắt.

Sáu năm trong xà- lim, cũng là thời gian tôi có điều kiện soi rọi lại những sự kiện của cuộc đời, và của quê hương. Ở các trại trung ương, là thời gian tôi vừa tiếp xúc với nhiều những thành phần đối lập, với chế độ Cộng Sản, lại vừa có điều kiện, đọc những sách triết, lý luận của Cộng Sản (do chính CS xuất bản), cái món ăn tinh thần, tôi vẫn ngán ngẩm, và lười đọc trước đây. Như một món ăn mình không thích, nhưng đói và cái thế phải ăn mãi thành quen, rồi thành thích.

Vậy mà mãi tới năm 1978 – 1979 Việt Nam đánh sang Căm-pu-Chia; Trung Cộng dạy cho Việt Nam một bài học. Nhiều đêm tôi mần mò trăn trở, khắp các nước Cộng Sản, rồi về. đến cá nhân Hồ Chí Minh.

Đất nước ta bị thực dân Pháp đô hộ chính thức từ 1858. Dân trí tiến lên theo cái đà chung của toàn thế giới. Vì thế, từ 1900 đến 1925 biết bao nhiêu thanh niên Việt Nam, đều thấy cái nhục mất nước, mong ra nước ngoài tìm được một giải pháp cứu nước. Họ, tùy theo điều kiện, người thì sang Tầu, sang Nhật, Anh, Pháp v.v. . . Nơi nào có những manh mối đường hướng, chủ trương, phương pháp hay tốt . Để từ đấy hy vọng đuổi được thực dân Pháp đi.

Biết bao nhiêu phong trào, đoàn thể, đảng phái đi khắp nơi trên thế giới: Như cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Cường Để, Nguyễn Văn Tiến, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Thế Truyền v.v…- trong đó có Hồ chí Minh.

Tất cả những người thanh niên yêu nước, thương nòi đầy nhiệt tâm này đã bôn ba nhiều nước, tiếp xúc với nhiều phong trào tiến bộ ở bất cứ một nước nào, hy vọng giải phóng được đất nước của mình. Việc làm của các thanh niên này phải được hoan nghênh, toàn dân Việt chúng ta; cho tới các thế hệ sau này vẫn ghi ơn các vị.

Thời gian và sự việc đã cho chúng ta thấy, do cái trào lưu tiến bộ của loài người, đã đến lúc các loại thực dân kể cả Anh, Pháp, Bồ, Nhật v.v…… trước sau đều phải từ bỏ tham vọng Đế Quốc, Thực Dân của mình (Mỹ tiến bộ, đi đầu tiên) Hẳn các bạn cũng đã nhìn thấy, ngay những nước láng giềng chung quanh của ta. Nói như vậy, có nghĩa các vị thanh niên của ta không cần phải bôn ba, cực nhọc đi tìm phương cứu nước, thì nước ta cũng sẽ được độc lập. Và như thế, chúng ta đã không biết ơn các vị thanh niên đó hay sao?

Không! Việc làm của các vị vẫn đúng, vẫn được chúng ta, những thế hệ sau biết ơn. Như trên tôi đã nói là do cái trào lưu tiến bộ của loài người. Ngay những tên thực dân sừng sỏ, cũng không thể biết trước được, huống chi các vị thanh niên ấy.

Nhận xét một con người, ta phải nhìn từ nhiều mặt, nhìn với con mắt khoa học, biện chứng. Một người có lòng tự trọng, có nghĩa trọng người khác, thì không thể lừa dối bạn bè, lừa dối người thân, không thể làm được một công việc hèn hạ, đáng khinh. Một người miệng và lòng khác nhau, coi quyền lợi cá nhân trên tập thể, trên cả dân tộc. Sẵn sàng lậy van quy lụy kẻ thù, chỉ cần đạt được mục đích, bất chấp phương pháp thủ đoạn.

Do thời gian đã dài, ngày nay nhiều tài liệu mật của Liên Xô (cũ) của thực dân Pháp đã được bạch hóa, báo chí Pháp và thế giới đã trình bày. Khi HCM đến Pháp (1911) đã làm đơn xin theo học Trường Thuộc Địa, để sẽ trở thành một người phục vụ trung thành, cho mẫu quốc nhưng đã bị Bộ Thuộc Địa Pháp từ chối. Anh ta đi thăm hỏi, tìm tòi, nghe ngóng khắp nơi. Ngày nay ở đâu nước nào có một cái đường hướng tạo lập được một lực lượng quần chúng như phong trào Đông Du (Nhật), Tam Dân (Tôn Dật Tiên), Mặt Trận Bình Dân, hay Cộng Hoà v.v. . . Anh chàng tên Minh thấy, sau này dù có đuổi được thực dân Pháp, thì người lãnh đạo cũng chỉ có một nhiệm kỳ 4 hoặc 5 năm mà thôi. Rồi chàng thanh niên đó đã gặp chủ nghĩa Marx kết hợp với của Lénine. Anh ta say sưa học tập và nghiên cứu.

Tuy anh ta hiểu, đi theo con đường của đệ III của Marx+Lénine, người dân sẽ nghèo khổ, nhưng mục đích của anh ta đã đạt Nếu đuổi được thực dân, hoặc lật đổ được một chế độ, thì anh ta sẽ ngồi ở cái ghế đứng đầu ở trong nước, mãi mãi. Một hình thức của một ông vua, một ông Hoàng Đế tuy không thể làm ngai vàng. Nhưng chỉ khi nào chết mới thôi, như ở Âu Châu: Lénine; Staline; Caucescu; Honoker; Fidel Castro. Á Châu: Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh. Đặc biệt Kim Nhật Thành còn truyền ngôi lại cho con trai nữa.

Đến đây, ai cũng đã thấy: Những lãnh tụ CS là những người có chủ nghĩa cá nhân cao nhất, núp sau cái bình phong tập thế, là nhân dân.

Điều này cũng lý giải Cộng Sản phải thanh toán gián tiếp hay trực tiếp, tất cả những cá nhân hay đoàn thể, không phải là Cộng Sản. Cũng đã lý giải, ngay từ khi còn chính phủ liên hiệp, cho đến ngày nay biết bao nhiêu cá nhân bị hạ sát, bị thủ tiêu.

Với cái hiểu biết hạn hẹp của cá nhân tôi: HCM là một người không có tim, không có tình cảm, đầy thủ đoạn. Một con người bằng gỗ, bằng đá. Cụ thể: Bất cứ một bài báo, một bài viết nào của HCM, không bao giờ nhắc đến, hay nói đến:

– Cha mẹ, anh chị em (Ai mà chả có cha mẹ?).

– Bạn bè. Dù là một tên trộm cướp, một tên vô lại cũng có bạn bè!

– Vợ con, người tình. Ngày nay không những ở trong nước, thế giới bên ngoài đều rõ: Không những HCM có vợ, mà còn có nhiều vợ, nhiều người tình.

Còn nữa, có lẽ trên thế giới này, là độc nhất, vô nhị. Tự mình lấy một cái tên giả để viết ca tụng đạo đức, tài ba của chính mình. Như tên T. Lan, rồi Trần Dân Tiên. Các anh có thấy nực cười không? Trần Dân Tiên (tức HCM) viết: ” . . . .Tôi hồi hộp, sung sướng, bồn chồn khi được bác Hồ cho gặp, bác tiếp chuyện tôi (Chế Lan Viên đã nói trong hội nhà văn năm 1978. Trần Dân Tiên là chính bác Hồ). Đến đây, nếu chịu suy nghĩ một chút, thì ai cũng hiểu.

Một người như thế thì có thể làm bất cứ điều xấu xa nào. Lừa lọc, lật lọng trắng trợn, giết người; nếu cần giết cả vợ con, bố mẹ, anh em để đạt cái mục đích thâm sâu của mình. Mà quan điểm của tôi:

– Một người bất cứ ở thành phần nào, tuổi tác nào chỉ một lòng vì dân, vì nước kể cả mạng sống của mình, tôi xin tôn trọng kính nể, chết thì tôi tôn thờ.

– Một người cũng bất cứ ở thành phần nào, tuổi tác nào, coi mình là trên, Tổ Quốc quê hương bên dưới, làm hại đồng bào, bán nước, bán đất cầu vinh. Sống tôi gọi là “tên”, là “thằng”. Chết, ‘tôi phỉ nhổ đến muôn đời. Và từ đấy, tôi đã gọi HCM là “tên”, là “thằng”. Dù cho y mấy trăm tuổi, muôn đời như “tên” Trần ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v. . .

Xin trở lại bữa cơm họp bạn ở nhà Nguyễn Hữu Lợi, gồm 6 người của năm 1981. Hiện nay 2005, trừ ô. Nguyễn Phan Long còn ở VN. Năm người kia thì 3 ở Hoa Kỳ là Trần Đình Lộc, Bùi Văn Đệ và tôi. Hai người ở Australia là Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Hữu Lợi. Bằng phương tiện khác nhau, thời gian khác nhau nhưng đều đã ở hải ngoại. Điều này đã nói rõ: Đời là kỳ diệu!

Sau bữa cơm, tôi đã rủ, mời cụ Lưu Linh cùng về. Chiếc cầu Kinh chiều nay trắng quá! Tôi ngừng lại, ghé ra thành cầu. Sao lạ lùng thế! Từ trên cao của thành cầu nhìn xuống, hôm nay nước xanh ngắt một mầu lam mát mắt. Tôi nhìn thấy cả mặt một anh chàng “ngố ‘ cũng đang nhìn tôi. Tôi cứ ngạc nhiên ngắm nhìn anh ta mãi. Trông mặt mũi anh ta, tôi cũng thấy cảm tình, gần gũi dễ mến. Cho tới khi tôi tỉnh dần, rồi tỉnh hẳn, để biết anh chàng “ngố” đó cũng chính là tôi.

Trời trong xanh, không một làn gió, cảnh vật yên ắng của một buổi chiều êm ả. Một vài tiếng quang quác như tiếng chào hỏi của một đàn vạc vừa bay ngang, làm tôi phải ngửng đầu lên nhìn theo. À . . .thì ra bầu trời hôm nay không có một vẩn mây. Cái mầu lam xanh yêu đương ấy, đã nhuộm cả mặt nước dưới chân cầu.

Tôi đã ghệ chiếc xe đạp vào thành cầu, rồi đứng lên, kiễng chân. Tôi đã thấy nhiều mây trắng lắm dưới chân trời. Tôi có cảm tưởng cái vung xanh kỳ vĩ của bầu trời, đã lắc lư rúng động sao đó. Bao nhiêu những miếng bông gòn trắng rải rác, đã tụt hết xuống riềm chiếc vung, thành từng đống.

Con sông Thanh Đa nằm phơi mình ưỡn ẹo, hai bên bờ cây lá xanh um trườn ra, như những vết mực đen loang lổ. Cụ Lưu Linh cũng đã từ giã tôi, để đi về một phương trời. Tôi cũng nhấn mạnh bàn đạp, để kịp giờ trình diện của ngày hôm nay, với CA.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Mộng đời nở hoa

Đặng Chí Bình

Bài 35

Hôm nay tôi quyết định, mua một lon Heineken và một điếu thuốc lá lẻ đầu lọc. Tôi sẽ lên căn gác vắng, để tự hưởng một mình để bù lại những tháng năm, nằm trong miệng của con Hồng Tuộc của thời đại.

Tôi nhẹ nhàng đút cẩn thận lon Heineken vào trong chiếc túi “rết” phía sau lưng, chiếc túi hàng ngày nó vẫn ngồi trên lưng tôi đi lao động ở tổ mộc Thành Công Trong khi tôi nắn nót quấn cái khăn chung quanh lon bia để đút vào túi, tôi nhìn cái túi “rết” mầu núi mùa Đông, như muốn hỏi nó: “Cậu có thấy hãnh diện, từ ngày về với tôi, hôm nay “đặc trách” cậu được mang một thứ nước tuyệt vời để phục vụ “hạnh phúc” của chủ nhân?”

Cô bé bán thuốc lá lẻ hôm nay cũng đặc biệt: bao thuốc lá Dunhill còn ba điếu, cô lấy lại một điếu rồi đưa cho tôi cả bao. Xin cảm ơn cô bé nhé! Trang trọng nhẹ nhàng đút bao thuốc vào túi ngực, áo sơ-mi.

Đẩy chiếc xe đạp ra đường, tôi thấy mọi người nhìn tôi bằng con mắt khắc thường. Mặc! Tôi nhẩy “phắt” lên chiếc yên xe rồi nghênh ngang, dõng dạc thẳng lưng, nhấn bàn đạp. Đi qua Cầu Bông, rất đông người đang chen chúc nhìn xuống dưới triền sông.

Tôi thấy họ lạ thật, họ lạnh lùng thờ ơ thật! Họ không biết rằng trong chiếc túi “rết” ở trên lưng tôi, có một lon Heineken! Trong túi áo sơ-mi trước ngực của tôi, có một bao thuốc lá Dunhill nổi tiếng của Anh, còn những hai điếu. Phố phường, bà con có biết không?

Tôi muốn mọi người chung quanh phải chia xẻ với “hạnh phúc” niềm vui của tôi. Ngay mảnh mặt trời, đã ngả về Tây còn như muốn đẩy lưng tôi, để tôi mau về tới nhà mà “hưởng thụ”. Trước mặt, hai vẩng mây trắng, trông như đôi bàn tay nõn nà của cô Thùy Trang đang vời . . . vẫy. Ghét ơi . . . là ghét! Tôi chẳng . . . Tôi lại cúi gầm xuống, chân nhấn mạnh bàn đạp.

Về tới nhà mới gần ba giờ. Nhà vắng lặng, chắc thầy mẹ của tôi đang nghỉ trưa! Tôi cố cẩn thận không gây một tiếng động, tôn trọng giấc ngủ của các người. Tôi cứ thong thả, đường hoàng chuẩn bị, cho cái phút giây hạnh phúc của tôi. Tôi chợt nghĩ:

“Tại sao không tắm một cái?”

Đã hai ngày rồi, mà chỉ 15 phút thôi, người sẽ sảng khoái, tỉnh táo, để đón nhận cái “thú vị” từ trước đến giờ chưa nếm mùi. Nghĩ thế là tôi làm liền!

Sau khi tắm rửa sạch sẽ chuẩn bị xong. Khe khẽ tôi ôm lon bia và bao thuốc lên gác. Khi đi qua màn thầy mẹ, tôi đã liếc nhìn vào từng màn, các người vẫn nằm yên ắng. Tôi mở to hai cánh cửa sổ, chiếc cửa sổ duy nhất nhìn sang phía nhà bà Tường, qua một cái ngõ hẹp, rộng chừng hai mét. Ngồi đây vừa thoáng mát, lại vừa được ngắm một miếng vuông phía Tây Nam, của mảnh mặt trời chiều. Tôi khẽ khàng trang trọng, đặt lon bia Heineken và bao thuốc Dunhill gần sát cửa sổ.

Tôi ngồi xếp chân bằng tròn, mắt tôi cứ đăm đăm nhìn lon bia, và bao thuốc. Óc tôi lần dở lại những trang đời xa cũ: Thuốc lá Dunhill, trước 1962 tôi đã từng hút nhiều lần. Nhưng bây giờ cảm nhận lại, mắt tôi nhắm nghiền vài giây. Tôi quên tiệt mùi vị của nó đi rồi! Được hãy chờ đấy, đừng có hấp tấp mất hết cả ý nghĩa. Tôi liên tưởng đến một ý, tôi đã quên mất xuất xứ: “Anh không biết trân quý những cái anh đang có, thì anh không được hưởng cái tuyệt vời của nó”.

Ngay từ lúc mua ở Hàng Xanh, tôi đã đọc, nhìn nhiều lần chữ Heineken rồi. Bây giờ tôi vẫn thèm đọc nữa. Bia hơi thì tôi đã được thưởng thức. Thưởng thức ngay từ những ngày trước khi đi vào vùng bão tố. Những bia lon, lại là bia của ngoại quốc, bia của Hòa Lan thì làm sao mà tôi hình dung, tưởng tượng được?

Cũng xin chờ một chút! Hôm nay tôi sẽ cho phép cơ thể của tôi được thưởng thức cái mùi vị đặc biệt, từ bé đến giờ chưa một lần được biết mùi.

Bất chợt tôi đập hai tay vào 2 đầu gối của tôi một cái mạnh. Tôi giật thót người, quay lại nhìn xuống gác! Tư tưởng của tôi cứ đắm chìm vào bia, vào thuốc từ nãy, khi chợt nhớ ra đã không lấy cái hộp diêm quẹt, hút thuốc ở dưới nhà lên.

Như choàng tỉnh, nên đã vỗ vào đầu gối, rồi lại chợt nhớ thầy mẹ đang ngủ, mà mình vỗ mạnh tay quá. Thành ra cứ luẩn quẩn, loanh quanh, luýnh quýnh, như sắp được nếm của lạ!

Thôi hôm nay tạm tha cho cái tính lẩn thẩn, lính quýnh, loáng quáng này một lần. Lần nữa thì không tha mà còn bắt viết kiểm điểm. Ta sẽ xé nhiều lần trước mặt, bắt viết lại, và còn bắt trình diện hàng ngày nữa. Là chủ nhân, ta sẽ hành cho mi mê tơi, ta có trăm nghìn cách, bắt mi phải phục tùng làm nô lệ trâu ngựa, suốt đời cho ta.

Mới chỉ nhìn, chưa uống và cũng chưa hút mà đã say! Ghét bia và thuốc quá đi thôi!

Đã ngâm nga từ nãy, không chịu được nữa rồi. Tôi cầm lon bia khẽ bật cái móc: Một tiếng xịt dài làm tôi nhớ ngay đến con voi ở sở thú năm 1958.

Hôm đó tôi và thằng em trai Công Lý vào sở thú xem voi và hổ. Bỗng một tiếng xịt dài ở hậu môn con voi làm nhiều người quay lại. Rồi một mùi ung ủng của thịt thiu xông ra, làm cho mọi người phải bịt mũi. Nhưng tiếng xịt hôm nay nghe thì giống, nhưng cái mùi của nó thì đê mê làm ngất ngây lòng tôi. Tôi không thể giữ được tay tôi ngừng lại, tay tôi đã đưa lon bia vào miệng rồi, ừng ực mấy hơi liền. Sau khi đã ngất ngưỡng được trên nửa lon, bấy giờ tôi mới sờ đến cô nàng Dunhill. Ngày xưa tiền bối Vũ Hoàng Chương, gặp cụ Lưu Linh thế nào tôi không biết, nhưng hôm nay tôi đã hân hạnh gặp cụ. Cụ Lưu Linh vẫn trẻ mãi không già, như nàng Xuân mới lớn.

Mùi bia, mùi thuốc đầy ắp căn gác trống, hồn của tôi đã thập thò mấy lần định lẩn ra ngoài, nhưng tôi đã kìm lại. Nhìn làn khói xoay tròn, rồi ngoằn ngoèo bò ra ngoài cửa sổ, mầu khói thuốc đã lẫn lộn vào mấy tảng mây trời. Khói lắt léo giẫy dọn, mây thì nằm yên nhưng đều bị ánh hoàng hôn nhuộm vàng hết. Mặt trời muộn, đã nhuộm vàng cả mấy mái tôn, mái ngói; cả một nửa cây điệp to tướng, trong khu nhà thờ Nam Hòa.

Mắt tôi lơ mơ thoáng một bóng trắng, dưới chiếc giếng giữa nhà bà Tường và nhà tôi, tôi tưởng là hoa mất. Tôi ghé sát ra song cửa nhìn xuống, đúng là một cô gái, mái tóc đen huyền buông xõa xuống bờ vai. Đôi tay của nàng, đang kéo gầu nước đổ vào chiếc thau nhôm, có mấy cái khăn đen trắng. Giữa khe hở của hai lọn tóc phía sau lưng cô, là chiếc cổ trắng ngần. Cô chừng 22- 23 tuổi, không hiểu cô là con cái nhà ai ở trong xóm này? Tôi chưa hề trông thấy bao giờ, từ khi đi tù về”

Động óc tò mò, nên tôi tỉnh hẳn, nghĩ đến hàng rào sắt có cây mai tốt tươi (chưa một lần nở hoa) ngay sát chiếc giếng, chỉ cách khoảng 1 mét 50.

Tôi lẹ làng xuống dưới nhà, liếc vào gương, vuốt lại mái tóc, rồi ra sân bếp bên cạnh cây mai, hàng rào sắt chỉ cách chiếc lưng của cô hơn một mét. Tôi đã nhìn rõ! Thừa nhận da của cô thật trắng, nhưng chỉ nhìn thấy phía sau lưng. Tôi suy đoán, chắc chắn khi xong, cô phải đứng lên, quay vào nhà.

Hai tay chống nạnh hai sườn, ngực tôi hơi ưỡn ra, trong thâm tâm, một sợi chỉ nhỏ lờ mờ, tự nhủ: Bốn đám mình đã đến nhà; dù không trâm anh thế phiệt, cũng là loại nghiêng nước, nghiêng thùng mà cũng đều đã chấp nhận. Vậy thử xem cô nàng này, mặt mũi ra sao?

Kiên nhẫn đứng chờ, tôi đinh ninh, cô này khi ngửng lên, nhìn thấy một chàng trai (hai con mắt) đứng lừng lững ngay phía sau lưng, cô ả sẽ đỏ mặt, rồi lúng túng. Tôi đã vận dụng con mắt của nghề nghiệp, chỉ không, chứ cô đã nhìn, dù nhìn ngang (nhìn bằng trường của con ngươi) cũng không thể qua mắt tôi được.

Nhưng, cho tới lúc cô ả đứng dậy, xách gầu, mang thau đi vào một cái cửa sau, của một ngôi nhà quay mặt ra phía xóm nhà thờ, cô không hề liếc nhìn, mặt nghiêm trang, dù cô đã quay cả ra phía sau lưng. Một luồng hơi anh ách dồn lên ngực tôi, tôi quay vào nhà định tiếp tục lên gác. Thấy mẹ tôi đã ngồi dậy trong mùng, cái luồng anh ách hãy còn nóng trong lồng ngực. Tôi sà vào màn mẹ, hỏi ngay:

– Mẹ ơi! Mẹ có biết phía sau nhà, có một cô gái chừng 22- 23 tuổi có nước da thật là trắng, mẹ có biết con cái nhà ai không mẹ?

Bà cụ hơi ngạc nhiên, vì đã hàng nửa tháng nay, tôi đi tìm vợ hết đám này đến đám kia, tôi chẳng nói năng gì. Bây giờ, lại hỏi về một người con gái, ngay phía sau nhà? Bà cụ ngồi im, đăm chiêu một lúc, rồi mặt người tươi lên, mỉm cười:

– Đấy là con của bà Chức, vẫn sang với mẹ, mà con đã gặp. Tại sao, con lại hỏi mẹ thế?

Con bà Chức! Cái bà đã hai lần chuyện trò với tôi, vẫn gọi thầy mẹ tôi là ông bà cụ, và bà đã xưng em khi nói chuyện với tôi? Tôi nhớ lại, chính cái bà đã đi xe đạp sang nhà em Xuân, báo cho biết là buổi sáng hôm ấy, tôi đã về. Mẹ tôi quay lại, còn cười nữa:

– Con có thích, mẹ sẽ nói cho?

Để đường hoàng, nhìn xem mặt cô này, tôi nói với mẹ tôi:

– Con thường không có nhà, khi nào bà ấy sang, mẹ cứ nói dạm thử, con sẽ sang nhà bà ấy chơi, mẹ nhé!

Chừng bốn năm ngày sau, một buổi tôi đi làm về, mẹ tôi từ trong màn nói vọng ra:

– Bà Chức nói, hôm nào con ghé sang nhà bà chơi!

Trong khi hôm kia, hôm qua phía nhà cô Thùy Trang và cô Hương nhắn mợ Út: “Sao không thấy anh ấy xuống chơi! ” .

Một buổi chiều, còn mươi mười lăm phút nữa, tôi mang sổ trình diện đến nhà cô Ngọc Anh, tôi lúi húi sửa lại cái xích xe đạp, chuẩn bị cho ngày mai đi làm. Một tiếng rao hàng quen thuộc, khàn khàn như tiếng con ngạn đực gào, gọi vợ con:

– Lạc rang ……..nóng…….. dòn…….. đây……

Tiếng rao cất lên đã phá tan cái tĩnh lặng của một xóm chiều, nhiều tần tảo sở xoay với hai bữa cơm độn bo bo của mỗi ngày. Dạ dầy, sau một ngày lao động cực nhọc nó đã vặn vò, không còn một chút nguồn sống, nên chỉ nghe tiếng rao, mũi đã đánh hơi thấy mùi lạc rang thơm lừng. Lòng vừa muốn được thưởng thức những hột lạc dòn ngậy ấy, vừa muốn giúp đỡ phần nào ông già bán lạc, còn khốn cùng hơn tôi. Nhưng cái túi của tôi đã ngăn lại, một cách hữu hiệu. Tôi đành phải theo nó, dù vậy tôi vẫn mở cửa bước ra ngó ông già. Một tay ôm thùng lạc, một tay chống chiếc gậy tre, vót nhọn.

Nhìn chiếc lưng gầy đeo chiếc áo lính mầu xám, đã trở thành mầu lá úa, vá chằng chịt. Áo đụp miếng nâu, miếng đen, như nó đang đeo theo nỗi vơi đầy của người dân đen, quằn quại trong nanh vuốt của nhà nước chuyên chính vô sản có nhiều tài bịp bợm.

Tiếng rao mất hút dần về phía cuối chợ Nam Hòa. Con đường hẻm rộng rãi, tráng xi – măng nhiều rác bẩn, lá bánh, giấy vụn, vỏ chuối, giẻ rách, lá khô thối rữa, gió vun rải rác từng đống to nhỏ. Những căn nhà hai bên lớn, bé, hai lầu, ba lầu, những mái bằng, mái ngói, cửa lớn, cửa nhỏ, nhưng đều đóng im ỉm như nhà của bố mẹ tôi. Trên những ban công, những chiếc chuồng to, nhỏ đóng ghép bằng tôn, bằng gỗ thùng và bằng các- tông nhặt nhạnh để nuôi gà, thỏ, vịt thậm chí cả heo. Cứt gà, cứt heo văng vấy lên những bức tường, mầu sơn tươi còn sót lại, những áo, quần, màn, chăng vắt phơi đây đó. Tôi hình dung đường thời gian của con hẻm này:

Trước 1962 tôi đi ra ngoài Bắc, đường hẻm này là đất, cát. Nhà gỗ, nhà tôn, nhà xây lẫn lộn, to, nhỏ, lồi ra, thụt vào, có nhiều cây trứng cá. Những buổi chiều tôi hay nằm trên chiếc phản đầu hè, để học hay đọc sách. Nắng, mưa hai mùa, sớm chiều, những nàng gió vào lả lơi, với những chàng trứng cá. Những anh chàng và những cô nàng có xức nước hoa hay không, nhưng thực sự con ngõ này, nếu không có mùi hương của các chàng trai và những cô nàng, thì là những cái mùi, nhè nhẹ trong lành của thiên nhiên như mùi của cây, của cỏ, của đá và của đất.

Nhưng bây giờ, cũng con ngõ này, lẫn vào trong không khí, nếu không là mùi của phân heo, gà, vịt, thì là mùi của lá thối, hay mùi ủng của cống rãnh.

Cuối 1980 tôi trở về, nhà hai ba tầng xây san sát, đã nói lên một thời phồn thịnh còn vang bóng. Nhìn con ngõ, tôi hình dung như một người gặp thời làm ăn phát đạt sung túc, mặt tươi roi rói như hoa mùa xuân. Bây giờ gặp phải thời mạt vận, buôn thua, bán lỗ, thất cơ, lỡ vận, suốt đêm ngày vật lộn với cái dạ dầy, nên mặt nhăn nhúm, lúc nào cũng buồn rười rượi, mà còn phì ra những cái hơi, vừa chua vừa thủm nữa.

Chiều hôm qua, sau khi cơm nước, rửa chén bát xong, tôi đã trèo vào mùng với mẹ để chuyện trò nỉ non. Tôi đã nói với mẹ, hôm nào bà Chức sang; hay khi mẹ đi chầu, gặp ở nhà thờ, mẹ hãy nói dùm con chiều thứ Bẩy này, con sẽ sang để thăm gia đình.

Mẹ tôi đã gặp bà Chức ở nhà thờ, và bà đã đồng ý chiều thứ Bẩy. Cái buổi chiều thứ Bẩy hôm ấy, tôi cũng chuẩn bị quần áo sạch sẽ, để sang thăm nhà cô nàng, và để nhìn rõ cái mặt, của cô nàng; dám coi thường đấng “mày râu”

Nhà nàng cứ tưởng… …..ở đâu?

Cạnh ngay cái giếng ……..phía sau….nhà mình.

Cũng giống cô nàng của bác Nguyễn Bính ngày ấy:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi…..

Cách nhau cái giậu mồng tơi…….. xanh rờn.

Dù đứng ở sân bếp, cạnh cây mai tôi cũng nhìn thấy cái cửa xanh xanh phía sau nhà nàng. Tôi vẫn đường hoàng cuốc bộ vòng ra phía nhà thờ, để vào phía trước nhà.

Bà Chức đang ngồi khâu vá ở một cái bàn, bà bỏ giỏ khâu vào phía trong, rồi niềm nở; sau khi tôi hơi cúi đầu nhã nhặn chào bà:

– Chào anh! Anh sang chơi!

– Không ngờ nhà bà lại ở ngay phía sau, từ ngày về, hôm nay mới sang thăm gia đình.

Bà Chức cầm cuộn chỉ đút vào chiếc giỏ, quay lại:

– Tôi vẫn sang bên ông bà luôn, hàng xóm, láng giềng.

Đã chuyển đổi hơi khác đi rồi, tôi nói đã không có chủ từ, bà Chức đã xưng “tôi” không còn xưng “em” như mọi khi, và đã gọi bố mẹ tôi là ông bà, thay vì thường gọi ông bà cụ. Điều này là tự nhiên, tự hiểu của cuộc đời. Chắc bà ấy và mẹ tôi đã bàn thảo, trao đổi; nhất là từ ngày tôi về có bao giờ lại sang nhà hàng xóm? Đi trình diện với CA và lo ăn tối ngày, tâm hồn nào để ý đến hàng xóm?

Trong câu chuyện với bà Chức, điều chính yếu là cám ơn bà ấy và xóm giềng đã giúp đỡ bố mẹ mù lòa, già yếu của tôi, trong khi tôi không có ở nhà. Bà Chức cười vui, không khí cởi mở, bà quay xuống bếp gọi:

– Hoa ơi! Đem nước mời “anh” con!

Đúng cô nàng hôm múc nước ở giếng rồi, cô nàng chỉ e lệ cúi đầu, chứ không có lời chào, đứng rót nước, rồi xuống bếp.

Như tôi vẫn biết và vẫn tin: “Đời sống kỳ diệu, khôn lường!” Không một ai biết được ngày mai của mỗi người. Ngay một người tử tội, ngày mai sẽ bị bắn ở pháp trường, có trường hợp vẫn sống, mà còn sống lâu nữa! Có rất nhiều sự việc không thể lý giải. Đã bốn đám tôi và mợ Út đi đến, họ cũng nồng nhiệt đón nhận anh chàng thất cơ, lỡ vận, phó thường dân xác xơ nghèo, nhưng nó không thấy thân quen, gần gũi. Họ còn có nhã ý sẽ lo cho cả hai vợ chồng “vượt biên” khi đã là con cái của họ rồi. Bà Chức bỗng đứng dậy nói:

– Anh ở nhà chờ tôi một chút, tôi ra đây có tí việc.

Nói rồi, bà quay xuống bếp cao giọng:

– Hoa ơi! Con lên nói chuyện với “anh”, mẹ ra đây một tí!

Cô Hoa lên nhà, lần này không dám nhìn tôi; thái độ lúng túng, rụt rè, khác hẳn với khi nãy. Tôi đứng dậy, nhìn vào một chiếc ghế đối diện, nói nhẹ nhàng:

– Mời cô . . . . .ngồi nói chuyện!

Câu đầu tiên tôi hỏi cô Hoa là: “ông đâu, đi vắng hay ở đâu?”

Trong suốt câu chuyện, tôi được biết: Ba (tức ông bố) ở trên Phương Lâm, ba người con trai là em của cô, có nhà làm ruộng, làm vườn ở trên ấy. Cô học vừa hết lớp 11 thì mất nước, khi ấy cô 18 tuổi, cô đã phải đi thủy lợi hai lần, mỗi lần một tuần, đã nếm mùi đoàn thể của Việt Cộng.

Hiện nay cô đi làm cho tổ ngòi bút Đức Thành. Điều làm cho tôi “mềm” lòng nhất, là đã có mấy lần, cô ấy đã dẫn mẹ tôi từ nhà thờ về nhà. Để biết được ý của cô, đồng thời muốn biết một vài quan điểm của cô về xã hội, về đất nước và cuộc sống v.v. . . tôi đề nghị một buổi chiều, ra bờ sông Sài Gòn nói chuyện, cô đã trả lời rất là hợp lý:

– Em đồng ý lắm, nhưng phải hỏi ý kiến của mẹ em đã.

Cũng vừa lúc ấy thì bà Chức trở về, tôi cũng đã thưa thẳng ý kiến trên với bà. Bà tỏ vẻ rất vui và bà đã nói một câu, tôi vẫn còn ghi nhớ tới bây giờ:

– Em nó đi với anh, tôi không có ngại ngần gì?!

Để cho mát, tôi xin hẹn 7 giờ 15 chiều. Sau giờ trình diện, tôi đã đèo Hoa ra bờ sông. Buổi đi chơi này, tôi và Hoa đã trao đổi, thẩm định nhiều lãnh vực, để hiểu tương đối về nhau.

Tôi muốn có một chút khái niệm, về ngành giáo dục của miền Nam trước 30-4-1975, nên tôi đã hỏi cô Hoa học trường nào? Cô đã theo học một cái trường rất lạ: Trường Nhân Chủ, tôi hiểu dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì có rất nhiều trường tư. Trường Nhân Chủ ở đường Nguyễn Văn Thoại, sau Việt Cộng đổi lại là trường Nguyễn Thái Bình.

Giai đoạn tên Nguyễn Thái Bình bị bắn chết, ở ngoài Bắc khi ấy VC có dư luận (cán bộ) cũng không ưa tên NTB này. Nhưng ở trong Nam, Việt Cộng cần lấy chính trị, nghĩa là nó cần mua những người nhẹ dạ khác, cho nên chúng ra vẻ ghi công như trường hợp Nguyễn Văn Trỗi.

Giữa Quốc Gia và Cộng Sản về lĩnh vực này khác nhau rõ rệt:

– Quốc Gia: Bất cứ ai đã đem lại lợi ích, cho quê hương dân tộc ở bất cứ lãnh vực gì, chúng ta đều ghi ơn tôn kính như một danh nhân của dân tộc.

– Cộng Sản: Bất cứ lãnh vực gì, chính trị phải đặt lên hàng đầu: Phải có tính Đảng, tính giai cấp, cho nên chúng có đặt tên phố hay một công trình nào đó, hoặc đề cao một cá nhân là để mua, để đánh lừa những người nhẹ dạ, trong nước cũng như ngoại quốc. Chứ người đó, chưa hẳn đã làm lợi cho dân, cho nước.

Sau khi thấy có thể cùng đi một đường, cùng nhìn về một hướng, tôi cởi cái bọc “anh ách” hãy còn nóng hổi ở trong lòng, với cô Hoa. Tôi đã cầm tay Hoa, nhẹ nhàng hỏi:

– Thế cái buổi chiều hôm ấy, ngoài giếng em không nhìn thấy anh ư?

Hoa hơi bóp ngón tay tôi, rồi nói nhẹ như gió xuân đầu mùa:

– Em không nhìn, nhưng em biết!

Ngạc nhiên, tôi hỏi cho bằng thỏa, để rồi em Hoa phải thú thật là đã để ý đến tôi, từ mấy tháng trước.

Một buổi họp liên tổ Dân Phòng, bà Vinh với bà Chức (mẹ Hoa) đi họp về nói chuyện tên Long to lớn, thường ngang tàng hống hách trong xóm. Y mượn của anh Bình cái kính, dùng xong rồi đút vào túi, coi như quên. Anh Bình đường hoàng đến rút cái kính, rồi về chỗ ngồi, không nói năng gì. Bà Vinh còn nói: “Con ông bà cụ ít nói, nhưng không dễ bắt nạt.” Em ngồi học, nghe được, rồi em cứ nghĩ đến anh.

Tôi đã cảm ơn em Hoa, cho tôi biết một sự thật.

Mắt tôi lơ đãng dõi theo hai con thiên nga, đang sóng đôi bay về phương trời. Tâm tư của tôi lại chạy ngược về buổi chiều, gặp cụ Lưu Linh hôm ấy, tôi kéo đầu Hoa lại gần. Nói với Hoa, mà mắt tôi vẫn ôm chặt đôi thiên nga, đã mờ dần xa vút:

– Nếu hôm ấy, em không nhìn anh bằng một giác quan đặc biệt, thì đã không có buổi hẹn hò hôm nay. Và em có đồng ý với anh rằng: Đời là kỳ diệu?

Hoa đã bóp chặt tay tôi hơn, rồi gục đầu vào tay tôi, thầm thì:

– Em đồng ý!

Và cũng trong buổi tối hôm ấy, chúng tôi quyết định, tiến tới hôn nhân.