Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Tìm bạn đời

Đặng Chí Bình

Bài 34

Đặc biệt từ hôm qua, mẹ tôi đã sai tôi ra đường Bắc Hải, để mời mợ Út, cùng vào ăn cơm hôm nay. Tôi xin sơ lược về mợ Út của tôi: Mợ Út chỉ hơn tôi hai, ba tuổi, mợ là vợ của cậu Út, có bốn người con, mợ là họ hàng phía bên mẹ của tôi. Khi tôi đi tù về thì cậu Út đã chết từ khi nào, và mợ đã tái giá với một người khác mà chúng tôi thường gọi là chú Hiệp. Chú Hiệp và mợ Út, sống với bốn người con riêng của mợ Út ở đường Bắc Hải.

Từ ngày tôi về, thỉnh thoảng tôi vẫn ra thăm hỏi sức khỏe mợ Út và chú Hiệp, các em Quang, Tuấn, Thu và Phương (hiện nay mợ Út + chú Hiệp và các em đều đã ở Califomia, Mỹ). Mợ Út là người thành thị, từ Hà Nội cùng di cư vào Sài Gòn 1954, mợ giao thiệp rộng và ăn nói dễ vừa lòng người. Hôm nay, mẹ tôi sai tôi đi mời mợ, điều chính yếu là nhờ mợ mối lái tìm, cưới vợ cho tôi. Bữa cơm của đại gia đình hôm ấy, mọi người đều tán đồng và ủng hộ, việc tôi cưới vợ là đúng với ba lý do:

1) Tôi đã lớn tuổi rồi.

2) Tỏ với chính quyền VC, tôi an cư lạc nghiệp, chí thú làm ăn, sống với bố mẹ già.

3) Có người phụng dưỡng đỡ đần cha mẹ mù lòa, già yếu của tôi, nếu như một mai . . . ..? Tôi muôn vạn nẻo đường? Trong đó có cả một nẻo về lòng đất nữa!

Mợ Út, tên thực là Vân, rất sốt sắng sẽ đảm nhận việc tìm kiếm một người. Người đó sẽ đồng hành đi chung cuộc đời với tên bất tài, bất hạnh này, mợ Út căn dặn tôi: “cuối tuần ra mợ “.

Những cháu nhỏ, chưa có ý thức, thì không nói làm gì, các em Thu, cô chú Tuất, chị Hai Công hưng phấn ra mặt. Từ lâu, trong lòng của mỗi người, tuy không thể hiện ra ngoài; rất băn khoăn, thấp thỏm không yên, cảnh bố mẹ mù lòa già yếu, mà không có một ai sống bên cạnh để giúp đỡ, những khi “tối lửa, tắt đèn”. Những ngày “mưa tạnh, gió hòa” lại có những ngày “mưa giông, sét giật” thì làm sao?

Riêng cuộc đời của người em, người anh lận đận, may mắn sống sót từ trong cơn “lốc” của quê hương trở về. Tuy tuổi đã trên nửa đời, với nhiều “di chứng” của cơn “lốc” vẫn đang bị những cái vòi của con Hồng Tu ộc quấn chặt khấp người ngày đêm. Những chiếc vòi “vô hình” này đã thẩm hút cơ thể của tôi, chỉ còn da bọc xương.

Chị Hai Công, đã gọi riêng tôi xuống bếp, chị cầm tay tôi, nước mất đoanh tròng:

– Chị thương cậu lắm? Mười ngày nữa, chị sẽ xuống cho, tặng cậu một cây vàng? Không được nói cho các cô biết.

Tôi đã lên nhà chị ở Hồng Ngự, một căn nhà tranh vách đất nghèo nàn. Vậy mà chị lại có một cây vàng để cho tôi, tôi hiểu lúc này (1981), một cây vàng không phải là nhỏ trong cái lúc mà tình người đã bị con Hồng Tuộc làm cho cạn khô. Tôi đã ngồi xuống chiếc ghế con ở bếp, hai tay tôi ôm đầu, hàng giờ để thẩm nhận dần cái tình thương yêu lồng lộng của chị Công.

Cuối tuần đó, tôi mò ra mợ Út, chú Hiệp theo lời dặn. Mợ nhìn tôi rồi nói như thật, như đùa:

– Năm nay cháu đã 44 – 45 rồi, mợ nhìn cháu, chỉ ngoài 30 thôi!

Tôi hiểu, mợ tôi muốn cho tôi một liều thuốc, để yêu đời, tôi cười và cũng nói vui lại với mợ:

– Mợ lại cho cháu đi “trực thăng” rồi! Dù vậy, cháu cũng xin cảm ơn mợ!

Miệng trả lời mợ Út như vậy, nhưng trong lòng tôi cũng có những suy nghĩ chủ quan: Tôi luôn năng động thể dục, thể thao, bơi lội, lại có sáu năm nằm yên một chỗ thực hành phương pháp A (tập II Thép Đen) nên có phần trẻ lâu. Cụ thể đã có nhiều bạn bè nói đến, từ ý nghĩ chủ quan này tôi đã nói thắng với mợ Út nội dung:

– Với khả năng nhìn sâu, xét kỹ của mợ về con người, cháu tin nơi mợ lấm! Nhưng cháu cũng xin đưa ra những ý nghĩ của cháu về vấn đề này như sau. Thực sự cháu sẽ lập gia đình, nhưng chưa phải bây giờ, như bữa cơm ở nhà cháu: cháu phải lấy vợ. Vậy cháu đề nghị thế này: Vấn đề tiên quyết trong cuộc hôn nhân này: Cháu bị tù 18 năm, rõ ràng không phải chuyện riêng của cá nhân cháu, mà tù trong chế độ VC với cái tội ” Hoạt động, gián điệp ” thì hầu như không được tiếp xúc hay nhìn thấy ai.

Vậy cô nào, đối tượng bất cứ là ai, có đồng ý trừ cho cháu những tháng năm, cháu nằm trong nhà tù CS hay không, có như thế thì cháu mới bàn đến chuyện hôn nhân. Nếu “đối tượng” đồng ý trừ, thì cháu năm nay mới có hai mươi mấy, huống chi (tôi nửa đùa, nửa thật) cháu nói vui theo lối “hình dung”: ông trời ban cho loài người, phụ nữ cũng như nam giới, mỗi người một sợi “tơ đồng”, tượng trưng cho cái thời hoa mộng của mỗi người. Một người đàn ông 44- 45 tuổi ở ngoài đời, thông thường, cái dây tơ đồng của người ấy đã “gẩy” nhiều lần, nếu không nói là gẩy quá nhiều nên đã “rão” ra rồi. Bây giờ có đem ra gẩy thì nó kêu “bùng bục, rè rè” Ngược lại cái giây “tơ đồng” của cháu chưa hề gẩy lần nào, vậy nếu bây giờ có điều kiện gẩy, thì nó phải “thánh thót, lanh lảnh” như buổi ban đầu hoa mộng của mỗi người!”.

Mợ Út và chú Hiệp nghe tôi trình bày, đều cười như nắc nẻ, chú Hiệp còn nói đùa thêm:

– Cậu lý luận, hình dung kiểu này thì dù cho cô nào khó tính mấy, rồi cũng sẽ trừ cho cậu. Vì họ cũng cảm thấy, như có phần đóng góp cho cái đất nước, khổ đau của chúng ta, không may gặp phải con Hồng Tuộc. Trên thế giới, bất cứ một nước nào gặp phải con Hồng Tuộc, gặp nhiều thì dân khổ nhiều, gấp ít thì dân khổ ít.

Ngày Chủ Nhật, đã có hẹn với chú Hiệp, mợ Út; sau khi đi lễ về tôi phóng xe ra đường Bắc Hải.

Theo mợ Út ở ngoài đầu đường Bấc Hải, có cô Hoàng Thúy 37 tuổi, hiện là giáo viên cấp Hai trường Nguyễn Qúy Cáp, bố là “chef” một nhà ga xe lửa, ở Nha Trang đã chết trong chiến tranh. Hiện nay cô Thúy sống với mẹ già 65 tuổi và người em trai theo nghiệp bố, đang làm trong ngành hỏa xa của chế độ mới. Cũng theo mợ Út, nhà cô Thúy rất gia phong, nền nếp đạo đức cô và mẹ cô thường đi lễ nhà thờ Thánh Tâm. Mấy ngày trước mợ Út đã nói sơ về tôi với gia đình cô Thúy, hôm nay họ muốn tôi ra để chuyện trò, như để nhìn và ra mất buổi đầu.

Vì ngay ở đầu phố, nên tôi và mợ đều đi bộ đến nhà cô Thúy, ngôi nhà của cô Thúy hai lầu, cũng khá khang trang. Bà cụ và người em trai cô Thúy chừng 30 tuổi, tiếp đãi chúng tôi tỏ ra có văn hóa, lịch thiệp. Cậu Thành, em cô Thúy đã hỏi tôi rất nhiều chuyện ở trong tù, cậu tỏ ra rất thích thú những cảnh phản gián Hà Nội theo dõi v.v… Vì trước đây cậu đã đọc Z 28 của Người Thứ Tám. Khi cô Thúy đưa nước ra mời khách, mợ Út đã kéo lại ngồi với mợ để nói chuyện.

Bà cụ và cậu Thành tỏ ra một vài ý: Nếu cưới hỏi xong thì bà cụ sẽ lo cho vợ chồng “oversea” (Vượt biên) v.v. . . Chúng tôi nói chuyện khoảng hơn một giờ, thì xin phép ra về.

Buổi chiều mợ còn dẫn tôi ra đường Thoại Ngọc Hầu, đến nhà cô Mai, sinh viên Văn Khoa năm thứ 2, năm nay cô 23 tuổi. Trên đường về nhà, mợ Út đã hỏi ý kiến tôi về cô Hoàng Thúy, tôi cũng thưa với mợ vài nét có tính cách phiến diện: tỏ ra là một gia đình có học, có văn hóa. Họ tiếp đãi chuyện trò ân cần không kênh kiệu, khách sáo. Dù vậy, xin cứ để ít ngày nữa, vội gì.

Khi tôi về nhà, thầy tôi thì không để ý, nhưng mẹ tôi như nôn nóng đợi chờ, tôi mới bước vào nhà, mẹ tôi đã hỏi vọng ra từ trong màn:

– Làm sao con? Liệu có xong không?

Nghe mẹ tôi dồn dập hỏi tôi chỉ thấy lòng tôi như ăn mấy cục muối mặn. Hình dung, thương cảm cho nỗi niềm của mẹ tôi, nếu mắt người không bị lòa, thì đây là việc của người. Chính người sẽ đo lường thẩm định người con dâu của người, nhưng giờ đây chỉ ngồi một chỗ âm thầm trong bóng đêm để đợi, để nghe, để xin một sự “bố thí” của dòng đời cho người. Tâm tư của tôi như vậy, nên tôi đã trèo lên ngồi cạnh người, tường thuật tỉ mỉ, chi tiết sự việc cho mẹ tôi. Tôi hiểu đây là một cách, để nỗi “ẩn ức” trong lòng của người vơi đi được phần nào.

Buổi chiều, mợ Út không đi được xe đạp, nên tôi đã phải “đèo” mợ ở yên sau. Hai mợ cháu mò mẫm lách dòng người đến nhà của cô Mai. Ông bố và bà mẹ cô Mai là nhà giáo, dù là dậy các cháu ở bậc tiểu học trong xứ đạo (giáo làng). ông bà gốc gác ở Cẩm Thủy, Thanh Hóa, vì chúng tôi vào nhà bất chợt, nên cô Mai đang ngồi với mấy em nhỏ, ở cái bàn trong góc nhà. Ông bố tên là Thăng, khoảng trên năm chục tuổi. ông bà Thăng tỏ ra chất phác, cuộc đời của ông bà gắn bó nhiều với luỹ tre, với xóm làng. Chỉ một thoáng nhìn cô Mai nhưng cô đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Đôi mắt của cô tròn và đen như hai hột nhãn lồng, mái tóc cuối Xuân, đầu Hè như co, như duỗi trên chiếc áo sơ- mi mầu nâu non của cô. Đặc biệt, trong khi tôi và bà mợ ngồi tiếp chuyện với ông bà Thăng, tôi đã nhìn thấy hai cái hột nhãn lồng ấy nhiều lần, ở một cái khe cửa phía nhà trong.

Ông bà Thăng hỏi rất nhiều sự việc: tại sao ra ngoài Bắc? Họ hàng, thân nhân quê quán, và về bố mẹ của tôi v.v. . . Tôi cứ sự thật trình bày, cũng hơn một giờ, chúng tôi xin phép ông bà đi về. Ông bà Thăng vồn vã, như đã thân quen lâu ngày:

– Bây giờ anh đã biết nhà, khi nào có thời gian cứ xuống chơi với các em!

Trên đường về nhà, bà mợ lại hỏi như sau buổi đến nhà cô Hoàng Thúy. Lẽ ra, tôi chưa muốn nói về ý nghĩ của tôi, nhưng nghĩ đến tâm sức của bà mợ, đã mấy ngày nay vất vả vì tôi. Tôi dịu dàng nói chân thành với bà mợ:

– Mợ hỏi, cháu thấy khó nói, khó diễn tả, xin nói dễ hiểu thế này: “Cháu có thiện cảm với cô Mai hơn là cô Thúy”.

Mợ Út nói, còn hai đám nữa ở xứ Đắc Lộ và bên đường Hoàng Văn Thụ. Một người hẹn chiều thứ Bẩy tới, nhưng một người ở đường Hoàng Văn Thụ, thì ngay 8 giờ tối thứ ba này. Tôi không nghĩ mợ Út lại quen biết nhiều thế! Đã nhờ mợ, thì cứ phải đi theo mợ, và cũng là đi theo sự may rủi. Truy cho cùng của sự may rủi, là định mệnh của đời mình rồi còn gì. Vì cuộc đời kỳ diệu khôn lường.

Từ ngày trở về miền Nam, quá nhiều sự việc dồn dập, nhưng chính vì ngày đêm CA, không cho tôi thở nữa nên rất nhiều sự việc, tôi không còn tâm hồn nào mà nghĩ tới. Thời gian này, do những thúc bách như đã trình bày, nên tôi đi tìm vợ. Một hôm chợt từ trong hố sâu của đĩ vãng, váng vất nổi lên hình bóng một người của trước năm 1962. Đó là cô Thu Nga, con của một người bạn thân của mẹ tôi, ở khu Bàn Cờ mà dạo ấy, mẹ tôi đã tâm niệm Thu Nga sẽ là cô con “dâu” hiền của bà cụ.

Phải nói, nếu không vì ngày ấy lòng tôi quá nhiều sôi nổi với quê hương dân tộc, cộng với cái chí ngang dọc, vẫy vùng của người con trai còn đỏ thắm nên tôi đã gạt hết, gạt cả những hình bóng diễm kiều, của giai nhân sang bên cạnh. Để tôi bay theo gió, theo mây, để rồi đã rụng vào mồm của con Hồng Tuộc.

Tối hôm nay, ngoài chuyện phải trình bày, tường thuật tỉ mỉ sự việc đến nhà cô Mai, (dứt khoát không thể quên hai hột nhãn lồng) tôi sẽ hỏi mẹ tôi về cô Thu Nga ngày ấy, bây giờ ra sao? Tất nhiên sẽ cũng như cô T. T.KH: (tôi không thích gọi là bà).

Nếu biết rằng….tôi đã lấy ….chồng…

Trời ơi!….người ấy có…… … buồn không?

Có còn thương đến loài……hoa vỡ…

Tựa trái tim phai…..tựa…..máu hồng!

Thưa cô Thu Nga, thương thì vẫn thương! Nhớ thì vẫn nhớ! Nhưng tôi không buồn vì là . . . . . . tôi tự nguyện. Và chính lòng tôi muốn hỏi cô:

Nếu biết rằng … … …. tôi đã ở tù

Trời ơn Người ấy có …..buồn không?

Có còn thương nhớ người … … … năm… … cũ…

Vùng vẫy bên trong…. miệng ……..Tuộc Hồng?

Ngày thứ Ba, tôi lại đèo mợ Út sang bên khu Lăng Cha Cả, đường Hoàng Văn Thụ, cô này có một cái tên rất là “lai láng, dập dờn”: Thùy Trang. Bố cô là một Thiếu Tá trong binh chủng Thiên thần Mũ Đỏ, hiện ở trại tù Hà Nam Ninh, chưa biết ngày về. Ông có hai trai, hai gái, cô Thùy Trang là thứ nhì, 26 tuổi, người em Út cũng là gái 20 tuổi rồi, người anh trai cả hơn 30 tuổi đã có gia đình và một con nhỏ. Người anh trai này tên là Dương đang là sinh viên sĩ quan cửa Thủ Đức, được ba tháng thì đứt phim nên không phải đi tù.

Bà mẹ của cô Trang đã gần 60 tuổi, năm 1980 cả hai mẹ con đã mò mẫm ra trại Nam Hà, để thăm nuôi chồng và cha. Qua mợ Út tôi còn được biết, hai chị em cô Thùy Trang đã đi vượt biên hai lần rồi, nhưng không thoát, có lần bị bắt giam hơn bốn tháng, phải đút vàng mới được tha về.

Tóm lại đây là một gia đình của phe ta, cái phe đã không đứng bằng chính đôi chân của mình, mà hay đứng dựa, đứng vịn vào người khác, nên đã chiến bại. Và nó mới đẻ ra, những nông nỗi nhiều nhiều sau này, cho người cùng phe.

Bà mẹ và anh chàng Dương cũng tiếp đãi chúng tôi nồng hậu, anh Dương và bà cụ tỏ ra tương đối hiểu biết về những thủ đoạn gian ác, lật lọng của VC. Tôi hơi ngạc nhiên, sau tôi mới hiểu: gia đình gốc ở xã Lưu Phương Phát Diệm, Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. Phát Diệm khu tự trị đã một thời làm cho Hồ Chí Minh điên đầu.

Bà cụ và anh Dương có nhã ý mời chúng tôi ăn bữa cơm gia đình buổi chiều tối, vì đối với mợ Ut thì có thân quen. Phần vì 7 giờ tôi phải đi trình diện, phần khác tôi còn định ra Phường xin con dấu, để sáng mai lên quận xin gia hạn ba tháng tạm trú ở nhà bố mẹ. Tôi đã nói riêng với mợ Út, rồi tôi đưa luôn lý do trên ra để từ chối bữa ăn. Lúc này tôi thấy bà cụ hướng lên gác gọi to:

– Trang! Có chùm trái vải của chú Trung ở dưới vườn cho hôm qua, con đưa xuống đây để mời bà Vân (Út) và anh Bình ăn vải đầu mùa!

Tôi nghe tiếng “dạ” êm và ngọt, như mùi trái Lạc Tiên, ngày còn bé tôi và chị Hai Công hay ra vườn dâu để lục lọi, tìm kiếm. Rồi thoáng bóng một đôi chân, mềm mại đi xuống gác. Gặp mắt tôi, cô hơi cúi đầu như chào, đôi bàn tay rụt rè bầy những chùm vải ra một cái đĩa trên bàn.

Nhìn đôi bàn tay, tôi có ý nghĩ: Đôi bàn tay này chắc cũng đã làm phiền những giấc ngủ, của những anh chàng nào gặp chúng lúc ban ngày. Nhưng cái đầu và mặt của cô hơi một chút khuyết điểm, sống mũi của cô hơi gẫy lõm vào như hình chữ V gioãng. Cái cằm của cô hơi ngắn, thành ra nếu nhìn thoáng, tường rằng cô móm. Bộ mặt của người anh lại tương đối hoàn chỉnh, con trai đâu cần bộ mặt bằng con gái. Thế mà, ông trời cũng thường hay lắt léo chéo cẵng gà, có thể cô Thùy Trang cũng được “bù trừ”. Giọng nói của cô nhiều lúc nghe như tiếng khánh, tiếng ngọc chạm nhau, lý luận của cô cũng rất mạch lạc, vững chắc dễ thuyết phục người nghe.

Khi chúng tôi chào, bắt tay từ giã ra về, anh Dương và chính cô Thùy Trang, đã thỏ thẻ ngập ngừng:

– Có dịp mời bà và anh ghé sang chơi! Em rất thích nghe chuyện tù của anh Bình!

Tôi chỉ biết cám ơn toàn bộ gia đình đã niềm nở đón tiếp như người quen, lại được thưởng thức những trái vải đầu mùa, thực là may mắn! Trên đường về, tôi có nhận xét với mợ Út, gia đình này tuy ở Phát Diệm nhưng cháu thấy có vẻ hơi đài các, còn cô Thùy Trang, có thể cô phải va chạm cuộc sống nhiều nên tỏ ra khá sắc sảo, tinh nhanh.

Tôi vẫn tin vào sự kỳ diệu của đời, có những cái đúng bây giờ nhưng sau này lại không còn đúng nữa, hay ngược lại! Chính vì vậy tôi thường nghe nhiều ở cửa miệng người già là “vợ chồng là duyên số”. Để rồi, tôi sẽ cảm nghiệm trong những ngày tới.

Mợ Út và mẹ tôi, thấy đã đi đến ba đám, xem ý tôi vẫn: con cá vàng bơi lội trong hồ, nên cái “côn”, “gas” lúc đầu đã hạ dần xuống. Nghe mợ Út còn nói thứ Bẩy này đến một nhà ở khu Đắc Lộ, gần hồ bơi Cộng Hòa. Cô này tên Hương, mợ lại khen, ca ngợi là một cô gái được nết lại được người, rất đảm đang, đã có mấy lần đi buôn hàng chuyến cà phê đường Ban Mê Thuột với mợ Út. Thì tôi cứ đến gặp cô Hương đó đã, vội gì?

Chiều hôm qua, một việc làm cho tôi bần thần, thấp thỏm có lúc tự trách, nhưng có lúc lại thôi. Đi làm về, khi tôi mệt nhọc đạp xe về đến ngang cổng khu Tân Chí Linh, rõ ràng từ xa, qua dáng dấp là cô Mai đang đi gần lại, vì ngược chiều nhau. Đúng rồi, hai hột “nhãn lồng” nhưng cô không nhìn thấy tôi, sắp ngang qua tôi thì cái mũ mầu gạch non trên đầu của cô bị gió hất tung xuống đường. Tôi đã đạp xe qua hàng chục mét. Tôi ngừng xe ngoái lại chiếc mũ bay xuống mé đường, cô Mai cũng đã ngừng, dắt xe trở lại để lấy cái mũ. Tại sao tôi lại lưỡng lự không nhặt cái mũ cho cô Mai? Phải chăng khi ấy tôi chưa phân định kịp giữa lịch sự, lịch thiệp (galant) với “nịnh” để làm vừa lòng một đối tượng. Nếu ở cái sau, tôi cứ thấy thấp thoáng có chữ “hèn” nên tôi đã ngần ngại, nhặt chiếc mũ cho cô Mai?

Rồi cũng đến ngày thứ Bẩy, buổi sáng đó tôi lại phải đi Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa, trưa về cơm nước tắm rửa gần ba giờ, tôi đã xách xe ra mợ Út (vì mợ dặn trước). Lần này không hiểu sao mợ lại căn dặn tôi nhiều việc như: Cô Hương này rất quý trọng mợ Út, nên mợ cũng thương qúy cô Hương. Hôm nay, có cả người anh rể cô Hương cũng đến để tiếp, và cũng muốn xem cái anh chàng “đồng hao” của mình thế nào! Mợ vẫn nói “Cái mặt và dáng dấp của cháu, nhiều lắm là 35 tuổi, vậy cháu nhớ khi nói chuyện với gia đình cô Hương, cháu đừng nói đi tù 18 năm, mà nói đi tù 10 năm thôi. Chứ họ không tin, chả lẽ bị tù chính trị ra Bắc mới có 16-17 tuổi thì ai tin được?” (tôi suy đoán chắc mợ Út đã giới thiệu tôi 35 tuổi).

Hẹn 7:30 tới nhà cô Hương, vì 7 giờ tôi đem sổ cho cô Ngọc Anh ký, nên tôi đạp xe ra chở mợ Út, để đi luôn.

Trời đã cập quạng, chim đã bay về tổ, khách lữ hành cũng rảo cẫng, chúng tôi loay hoay tìm số nhà một lúc. Một trong những căn nhà mới xây cùng một kiểu cho công nhân viên chức mua, của chế độ cũ. Trong sân, dưới tàng cây trứng cá đã có hai chiếc xe Honda, một thanh niên chừng 26 – 27 mặc sơ- mi trắng quần đen, bỏ trong thùng. Anh ta tự giới thiệu khi bắt tay, là anh rể của cô Hương, đến đây để đón tiếp và chuyện trò với tôi. Anh ta kéo tôi ngồi xuống mấy chiếc ghế ở góc sân, anh đưa bao thuốc lá Samitt đầu lọc ra mời tôi. Tôi hiểu giai đoạn ấy thuốc lá đầu lọc là loại sang, ăn chơi. Trong khi bà mợ vào trong nhà, tỏ ra đã quen biết nhiều với gia chủ.

Những câu chuyện xã giao trao đổi với anh chàng “anh rể” làm cho tôi đã hơi ngại ngần trong cách xưng hô. Thôi thì cứ “anh, tôi”, dưới ánh điện từ trong. nhà chiếu ra mập mờ sáng tối, chẳng thể nhìn được nét ngượng ngùng trên nét mặt của tôi.

Đến khi trong nhà đã chuẩn bị xong, mợ Út thò mặt ra gọi niềm nở: “vào trong này cháu”.

Trong phòng khách, đèn sáng choang, một ông chừng 46 – 47 mặc bộ Pyjama đã sờn cổ. Qua cách tiếp đón, bắt tay chứng tỏ là chủ nhân của ngôi nhà. Ngay lúc này, tôi đã mất hết tự nhiên, đành rằng tôi gọi người đó là ông. Nhưng tôi lúng túng không biết xưng cháu, hay xưng con, chả lẽ xưng tôi khi định đến hỏi vợ là con gái của người ta? Vì vậy trong khi chuyện trò, tôi toàn là dùng những câu không có chủ từ. Ví dụ như khi ông ta hỏi:

– Anh đã được ra tù từ bao giờ?

– Dạ thưa ông, được gần 7 tháng rồi ạ!

– Ông bà cụ của anh có khoẻ không?

– Dạ . . . . .cám ơn Chúa, bố mẹ . . . . .khỏe ạ!

Nói chung, bao nhiêu cái chủ động tháo vát mọi khi của tôi, hôm nay chúng bỏ nhà đi chơi sạch. Mặt của tôi cứ nóng lên, nhất là khi một bà từ trong nhà đi ra, tươi cười cầm tay mợ tôi, trông bà chỉ trạc tuổi của tôi 44- 45 tuổi. Khi được ông giới thiệu: “Đây là nhà tôi”. Tôi cũng đứng dậy hơi cúi đầu, miệng lí nhí:

– Xin chào . . . . .bà ạ!

Tôi và mợ Út ngồi một ghế sofa, ông bà đó ngồi một sofa đối diện, một cái bàn kính thấp hình chữ nhật dài ở giữa, mặt nhìn mặt rõ mồn một. Ông bà ta cứ chằm chằm nhìn thẳng mặt tôi, ngược lại, tôi chưa dám nhìn xem bộ mặt của ông bà ta ra sao? Mặt tôi cứ nóng lên phừng phừng, lợi dụng lúc ông bà quay đi; tôi bấm lưng mợ Út nói nhỏ như cầu cứu:

– Về đi thôi! Mợ ơi!

Mợ coi như không nghe thấy lời “cầu cứu” của tôi, mợ vẫn say sưa bàn tán vào câu chuyện với bà . . . ..đó. Ông bà hỏi tôi rất nhiều chuyện, từ khi còn đi học ở trong Nam, cho tới khi ra Bắc và lại đi tù (tất nhiên 10 năm). Cảnh bố mẹ, anh chị em v.v… Tôi toàn bị động trả lời ngập ngọng, nhất là khi biết bà ấy còn kém tôi một tuổi. Trước bốn con mắt của ông bà ngồi đối diện, người tôi như ngồi trên nồi rang. Mục đích là đến hỏi con gái của người ta mà lại xưng “tôi” thì làm sao “ổn”, xưng “cháu” hay “con” thì cái miệng của tôi không thể thồt ra lời.

Tay tôi cầm chén nước trà từ lúc đầu; để che lấp những lúc mất tự nhiên, tôi lại đưa chén nước lên miệng nhấp, nước đã hết từ lâu. Cái chén đã nóng lên do “nhiệt” ở tay tôi chuyền vào, mà tôi vẫn chưa dám bỏ chén nước xuống bàn, cho tới khi bà ấy quay vào trong nhà gọi rất trìu mến:

– Hương ơi! Đưa nước thêm ra đây con!

Tôi nghe tiếng “dạ” êm như gió mộng trong nắng Xuân, từ trong bếp vọng ra, tôi biết cô Hương “đối tượng” của tôi sắp ra. Tôi cũng còn biết bốn con mắt như tia đèn bấm, đang chòng chọc quan sát mặt tôi, khi con gái của họ ra “trình làng”. Tôi đã được biết cô Hương năm đó 18 tuổi, tôi chỉ thoáng bóng dáng một giai nhân có bộ tóc dài óng ả, xuống quá dưới mông. Cho tới bây giờ tôi cũng chưa biết mặt mũi của cô ta ra sao? Tôi có dám nhìn lên mặt của cô ấy đâu!

Tôi chỉ được nhìn đôi bàn tay của cô, khi cô nhẹ nhàng rót thêm nước vào các chén, và tôi lại được liếc nhìn “suối tóc mơ” một lần nữa khi cô quay vào nhà trong. Cho tới khi tiễn chúng tôi ra cửa, ông bà còn vồn vã căn dặn:

– Bất cứ khi nào có thời gian, anh lại đây chơi với các em, chuyện trò như trong gia đình.

Cho tới khi ra sân, ra cổng bắt tay với người “anh rể hờ một giờ” lòng tôi còn xốn xang xúc động.

Từ hôm tôi có ý định cưới vợ, đây là đám thứ tư, đối tượng nhiều tuổi nhất là cô Hoàng Thúy 37 tuổi, đối tượng ít tuổi nhất là cô Hương “suối tóc mơ” 18 tuổi.

Tôi một người con trai đã 44-45 tuổi đời, bị dòng đời đẩy xô vào trận cuồng lưu, đến nay là một người tù, bị quản chế chặt chẽ ngày đêm. Bố mẹ thì mù lòa già yếu, cơm gạo thì bữa đói, bữa no. Không những “tay trắng” mà còn là những bàn tay “nhơ bẩn” có quá nhiều vết đen, trong chế độ này.

Ai cũng nhìn thấy vì sao, cả bốn đám đều nồng nhiệt đón nhận? Do tôi đẹp trai? Do tôi ăn nói hay, tán hươu, tán vượn giỏi? Dù một em bé mới lớn, mới hiểu biết cuộc đời cũng thấy là hoàn toàn không phải! Về phương diện này có khi còn ngược lại. Như vậy vì sao?

Đặt câu hỏi thì ai cũng thấy nguyên nhân sáng tỏ như ban ngày: Nó ẩn tàng, nó cuốn chặt, nó luồn lỏi vào bên trong sự việc. Tôi đi tìm vợ được người ta chấp nhận là: ý thức và tinh thần hoài . . .Ngô, hay hoài Quốc Gia của người dân.

Tôi hiểu: Muốn trong lòng người dân có cái tinh thần hoài…..này, phải mất nhiều xương máu, công sức của các bậc cha anh, máu xương của nhiều người đã nằm xuống. Khối óc và bàn tay của nhiều người, nhiều thế hệ để được lòng dân “hoài” này. Chế độ VC hiện nay càng hà khắc, độc tài, chà đạp tự do, dân chủ thì lòng dân càng “hoài” Quốc Gia. Cũng như cụ Nguyễn Du, cụ Nguyễn Khuyến, bà Huyện Thanh Quan v.v… thậm chí đã làm công chức, làm quan cho triều Nguyễn, mà tâm hồn vẫn còn hoài nhà Lê. Tôi xin cúi đầu cảm tạ công ơn của quý vị đã đóng góp cho Quốc Gia, để tôi được hướng thành quả ngày nay.

Trong những câu chuyện trao đổi ở nhà các cô, dù có nói về gia cảnh, về chuyện làm ăn – Là những phương diện, tôi không bằng ai – Nhưng phải nhận rằng, thân nhân của các cô, có thể ở cả các cô nữa, đều ít nhiều ấp ủ trong tâm tư lý tưởng quốc gia.

Sáng ngày Chủ Nhật tôi lại phóng xe sang nhà vợ chồng Lợi, tôi tường thuật sơ lược chuyện tôi đi hỏi vợ, cho vợ chồng nó nghe. Vợ chồng Lợi thích nhất là cái cảnh tôi “ngậm hột thị” ở nhà cô Hương 18 tuổi ở Đắc Lộ. Thằng Lợi vừa cười, vừa nói:

– Tao cứ hình dung cái mặt của mày lấm lét “đíu” dám nhìn mặt cô em. Mày càng “khổ” thì ông, càng “sướng”!

Buổi trưa tôi đạp xe về qua Hàng Xanh, đã nhiều lần lên nhà Lợi trở về, cứ đi qua ngã ba Hàng Xanh là tôi dẫn xe đạp lần mò đến trước cái tháp, người bán hàng đã xếp chồng những bia lon, thành một cái tháp hình tam giác. Tôi ngẩn ngơ hàng chục phút, ngắm nghía những lon Heineken, những lon Coca-cola, Budweiser của ngoại quốc. Đời tôi từ Nam chí Bắc chỉ mới được thường thức bia hơi, bây giờ đi tù về lại có cái loại bia lon của Mỹ, của Nhật, của Hòa Lan. Như vậy, không biết bên trong mùi vị, nó như thế nào? Có khác với bia hơi không

Chỉ vì khả năng trong túi không có đủ tiền, nên nhiều lần chỉ được đứng ngắm nhìn, tưởng tượng. Rồi dẫn xe đi, đầu còn ngoảnh lại nhìn cái tháp bia lon, như một loại hàng xa- xỉ không phải của mình. Nhưng hôm nay, tôi long trọng xin báo cho cái tháp tam giác ấy rõ, tôi đã có chủ trương! Chủ trương từ mấy ngày hôm trước rồi! Chị Hai Công khi trở về Hồng Ngự đã đút vào túi của tôi 50 đồng.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 18

Hai giờ sáng, trời không trăng, tối đen như mực. Nhờ ngọn đèn đường leo lét dọc đường Võ Tánh, tôi chạy hết con đường dài mà tìm không được một chiếc xe lôi nào. Tôi đành liều đập cửa nhà chú “Đức xe lôi” trong hẻm ông Cả Đài, để xin chú đưa má tôi vô nhà thương. Khi chú còn lui cui đi tìm đôi dép, tôi phải chạy bay về nhà, dặn dò chị Thuận nhớ cho hai đưa em ăn đúng giờ để kịp đi học. Sau cùng, tôi viết mấy chữ nhờ một học trò của má trông nom giùm khi má phải nằm nhà thương. Má tôi đau bụng, nhắm mắt, nằm rên khe khẽ, hai tay ôm chai nước nóng trên bụng, còn chai thuốc cốm trị bao tử cũng nằm lăn lóc trên giường.

Luật lệ nhà thương không cho “con nít” vô phòng khám. Tôi đành đứng chờ bên ngoài, trong bụng nóng như lửa đốt. Lần đầu tiên tôi giận ba tôi. Bây giờ ba ở đâu? Ba “chống Mỹ cứu nước”, bỏ mặc vợ con sống lây lất. Trong cơn nguy ngập, tôi ước gì có ba ở cạnh má, ba sẽ biết cách xoa dịu nỗi đau đớn của má. Tôi nhớ hồi năm tuổi, tôi chơi dao rồi bị đứt tay thật sâu, mỡ lòi ra, vậy mà tôi không khóc, chỉ vì ba xức thuốc đỏ lên vết thương, băng lại rồi hun lên ngón tay tôi một nụ hun dài. Nhờ nụ hun này, vết thương lành rất nhanh mà lại không có thẹo. Tôi nhớ hoài nụ hun đó. Sao bây giờ ba không ở bên cạnh má, để má khỏi cơn đau ngặt nghèo này?

Tôi đứng ngồi không yên ngoài hành lang, chỉ cách má tôi có một cái cửa, mà sao tôi thấy xa vời vợi như hai miền Nam-Bắc cách nhau con sông Bến Hải. Mỗi lần nghe tiếng má rên, tôi nôn nóng muốn nhào vô, bất chấp cả luật lệ nhà thương, nhưng tôi phải tự kiềm chế, không thôi người ta ghét lây qua bịnh nhân. Tôi phải đợi một hồi rất lâu; cửa phòng mở lớn, hai cô y tá đẩy một cái giường sát, má tôi nằm trên. Vừa thấy họ, tôi hoảng sợ, tưởng má tôi đã “làm sao”. Những khi định thần nhìn kỹ thấy tấm mền trắng chỉ đắp tới ngực, chớ không che kín mặt. Lúc đó tôi mới hoàn hồn, vội chạy theo má, nắm lấy tay bà, gọi khẽ:

“Má, con nè, má! Má có nghe tiếng con không?”.

Má tôi chỉ đáp lại bằng một tiếng rên khẽ. Hai cô y tá đưa má tôi tới một phòng khác, rồi chuyển má sang một chiếc giường nhỏ hơn, không có bánh xe. Trước khi bỏ đi, một người chỉ cái nút bấm trên tường, nói:

“Chỉ nhấn nút này chừng nào má đau dữ dội thôi nhen”.

Tôi tự hỏi: “Còn trận đau nào dữ dội như trận đau hồi khuya nữa sao”.” Tôi vái trời cho tôi khỏi phải dùng tới cái nút này. Họ tắt đèn, rồi đẩy cái giường cũ ra khỏi phòng.

Má tôi nằm thiêm thiếp, nhưng tay chân động đậy không yên, miệng thì nói mê sảng không thành tiếng. Tôi nắm tay má, rồi nói:

“Má, má còn đau lắm không?”.

Má vừa rên rỉ vừa nói:

“Má sợ quá, con ơi!”.

Trong giây phút đó, tôi tưởng như cái cột trụ cuối cùng của nhà tôi trở thành một đống gạch vụn. Từ ngày ba tôi ra đi, chị em chúng tôi hoàn toàn trông cậy vào má. Má là người can đảm, không bao giờ than thở, chẳng sợ bất cứ ai, vừa làm cha vừa làm mẹ, nuôi đám con thơ, cho ăn học nên người. Bây giờ má nằm nhà thương, đớn đau vì cơn bịnh, và lo sợ cho mạng của chính mình.

Má tôi nói, giọng khàn khàn yếu ớt:

“Con đánh dây thép cho chị Kim, chị Cương, Hải Vân hay má đau”.

Hai chị của tôi mới sang được căn phố trên lầu rạp hát Kim Châu. Bác Phạm Ngọc Thảo là đồng chí cũ của ba tôi, nên đã nhiệt tình giúp đỡ cho hai chị được nhận vào làm cho Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Việt cộng đã vỡ mộng về tôi, nên sau đó họ nhằm Hải Vân. Đã nhiều lần các cán bộ Việt cộng nửa khuyên, nửa bắt ép cho Hải Vân vô bưng đi học. “Để có một đứa con nối gót anh Quang”, họ nói như vậy. Nhưng má tôi phản ứng ngược lại. Mùa thu năm đó, má cho Hải Vân lên Sài gòn ở với hai chị Kim, Cương.

Tôi quỳ xuống đất, kề miệng, nói nhỏ bên tai má tôi:

“Má phải mạnh. Lát nữa con vô sở, xin lãnh lương sớm để thuốc thang cho má”.

Mắt nhắm nghiền, má đưa tay sờ soạng kiếm tay tôi, nắm chặt:

“Con phải coi sóc tiệm may, đừng để mấy chị học trò phải gánh vác hết, tội nghiệp người ta”.

“Má đừng lo cái tiệm, con biết coi trong coi ngoài; con săn sóc mấy đứa nhỏ nữa, má yên tâm”.

Lúc đó, tôi sẵn sàng hứa bất cứ cái gì cho má tôi yên lòng. Nhưng má tôi có đòi hỏi gì nhiều đâu.

Rồi cơn đau trở lại. Người má tôi cong lại, hai đầu gối co lên ngực. Nhưng má tôi cắn môi chịu đựng, không rên rỉ. Tôi bấm nút chuông nhiều lần; chừng năm phút sau, một cô y tá nhanh nhẹn nước vô. Cô bắt mạch, rồi chích cho má tôi một mũi thuốc. Trước khi ra khỏi phòng, cô khuyên tôi đừng quá lo; sáng bác sĩ sẽ vô coi bịnh cho má.

Chỉ mấy phút sau, má tôi ngủ thiếp đi, hơi thở điều hoà. Tôi đoán người ta vừa chích thuốc giảm đau cho má. Tôi thở ra nhẹ nhõm, ngồi dựa lưng vô vách tường cạnh chân giường. Tôi chợt nhớ lại những lời dặn dò của ông ngoại lúc ông còn sống: “Tụi cháu phải nghe lời má, phải săn sóc má thay ông”. Chị em tôi đã nhiều lần hứa với ông là chúng tôi sẽ vâng lời ông. Nhưng giờ tôi muốn nói lại với ông: “Ngoại ơi, bây giờ chỉ có ông trời mới giúp được nổi má cháu thôi!

Ngày xưa mỗi lần đi công tác xa, ba tôi dặn anh Khôi, chị Kim, chị Cương phải “săn sóc má cho tới ngày ba đi công tác về”. Bây giờ, chỉ có mình tôi với má, tôi biết làm sao đây?

Hừng sáng hôm sau, dưới đường Bã Đậu, tiếng xe cộ qua lại tấp nập, ồn ào; tiếng người vẳng lên cũng không đánh thức má tôi dậy được. Đến giờ làm việc, tôi phải xuống văn phòng làm tờ nhập viện cho má. Trước khi rời khỏi phòng, tôi cẩn thận đưa tay lên mũi má nghe ngóng. Tôi mừng khi thấy má thở đều. Tôi an tâm ra đi. Tôi không tới văn phòng bịnh viện ngay, vì tôi nhớ đến bà bạn học cũ của má tôi, hiện đang làm y tá ở đây. Trong khi đau ốm phải vào nhà thương, mà có bạn làm y tá, còn quý hơn có bạn làm tổng thống. Tôi đi thẳng tới nơi làm việc của cô Tám Quan, y tá trưởng. Khi biết má tôi mới nhập viện đêm qua, cô hứa lo hết mọi việc cho má tôi.

Tôi an tâm chạy ra bưu điện gởi điện tín cho hai chị tôi. Từ ngày các chị xa gia đình, tôi gởi điện tín hai lần, hai lần đều báo hung tin hết. Lần thứ nhứt, ông ngoại tôi qua đời. Lần thứ hai bà ngoại ốm nặng, sắp mất. Lần này là lần thứ ba, báo tin má tôi nằm bệnh viện. Chắc chắn sẽ làm hai chị lo lắm. Tôi viết: “Má đau nặng, tụi em cần hai chị về gấp”

Chị Kim, chị Cương và Hải Vân về tới Cần Thơ chiều hôm sau. Hai chị và em của tôi đâu có biết họ là vị cứu tinh của tôi trong mấy ngày đó. Mấy tháng trước, một người quen của má tôi bị xuất huyết trong bao tử, tưởng là không có gì quan trọng, ai dè hai tháng sau bà chết. Khi má tôi bị đau bao tử, cái chết của bà kia ám ảnh tôi hoài, suốt ngày đêm, nhưng tôi không dám cho ai biết, sợ bị quở là nghĩ bậy. Trong khi đó, Hoà Bình cứ đòi tôi dẫn nó và Minh Tâm vô thăm má, nhưng tôi sợ hai đứa còn nhỏ quá, thấy má đau lại vô tình nói những lời xui xẻo. Nhưng nếu tôi không cho vô, hai đứa lại càng nghi ngờ má đã chết rồi. Đáng lẽ làm chị, tôi phải bình tĩnh và can đảm để làm gương cho em; vậy mà tôi cũng lúng túng, yếu mềm như con mèo ướt. Trong hai ngày vừa qua, mỗi lần thấy hai đứa nhỏ khóc, tôi lại quay mặt đi chỗ khác để giấu nước mắt. Mỗi lần hai đứa nhỏ hỏi: “Má có chết không chị?”, tôi nghẹn ngào không biết trả lời ra sao vì chính câu hỏi đó cũng thỉnh thoảng hiện ra trong óc tôi. Hoà Bình khóc hoài, rồi không chịu đi học.

Khi hai chị tôi về, mọi việc được thu xếp tạm ổn định. Hoà Bình buông tôi ra mà đeo theo chị Kim, vì chị là thần tượng của nó thuở nhỏ. Chị Cương kiên nhẫn, dịu dàng với Minh Tâm, làm cho nó vui lên mà tạm quên má. Tối hôm đó, hai chị ở nhà với hai em, tôi vô nhà thương mướn cái ghế bố để ngủ cạnh má. Tôi không có kinh nghiệm gì về việc nuôi người bịnh, cách làm việc của bác sĩ và y tá trong nhà thương. Cô Tám Quan cho biết bác sĩ nghi má tôi có sạn ở mật. Họ cho má tôi uống thuốc giảm đau bao tử, thuốc trị bao tử, và đã lấy máu để thử nghiệm. Bao giờ có kết quả mới biết chắc bệnh gì. Có Tám Quan kề tai tôi nói nhỏ:

“Con cứ yên tâm. Có cô đây, người ta săn sóc má con chu đáo lắm. Má con có bề gì, khi ba con về ổng bắt thường cô thì cô chết!”.

Đêm thứ tư trong nhà thương, má tôi ngủ yên nhứt, không còn nghe tiếng rên rỉ nữa. Còn tôi thì cũng mệt quá nên ngủ như chết. Đến nửa đêm má tôi kéo áo đánh thức tôi dậy, rồi vừa cười vừa nói:

“Đức Mẹ nói mà sẽ hết bịnh con ơi. Đức Mẹ để tay lên bụng má, rồi chỗ đau biến mất”.

Má tôi chỉ tay lên tường, nơi có treo hình Đức Mẹ Maria, mà mấy hôm ay tôi không để ý. Tôi ngái ngủ, nói:

“Con mong chiêm bao của má thành thiệt”.

Má tôi có giọng tin tưởng, đáp:

“Thiệt con à. Không phải chiêm bao đâu”.

Sáng hôm sau, tôi không đi mà chạy xuống cầu thang, nhảy lên xe lôi, về nhà báo tin lành cho gia đình biết, đặc biệt là cho hai chị Kim, chị Cương, vì từ lâu hai chị đặt hết lòng tin vào Đức mẹ Maria. Khi tôi kể xong, hai chị liền quỳ xuống, làm dấu thánh và đọc kinh Kính Mừng.

Bác sĩ nói rằng má tôi hết bịnh là một sự “mầu nhiệm”, mà chính ông cũng không hiểu tại sao. Má tôi phải nằm thêm hai ngày nữa mới được về nhà. Trước khi rời phòng, má tôi bước tới vách tường để tay lên hình Đức Mẹ, rồi nói:

“Cảm ơn Đức Mẹ”.

Hai chị tôi đồng tình nhìn nhau.

Ao nước lã

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Ao nước lã

Hồ Đình Nghiêm

“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”- Ngạn ngữ.

1. 

Trước đây tôi là lính tác chiến. Cấp bậc cuối cùng: Đại úy. Tôi ở tù thiếu hai tháng là đủ bảy năm. Giờ này tôi là thường dân, nghề nghiệp không nhất định và sống một mình chẳng thân thiết với ai. Ông nói sao? Gia đình? Ba Má tôi mất sớm, tôi có hai đứa em, một gái một trai. Lập gia đình chưa? Tôi? Không phải đùa chứ những câu hỏi của ông làm tôi nhớ tới mấy tay cán bộ quá. Nghiêm chỉnh trả lời, thành thật báo cáo với ông là tôi đã lập gia đình rồi. Theo ông thì đời người nên lập gia đình bao nhiêu lần thì vừa đủ? Tôi giỡn chơi đó. Ông nhìn tôi là biết được cái vô sản mà tôi đang có, kể cả sức lực. Tóc tôi đã bạc quá nửa đầu và khi soi mặt xuống suối nước, tôi nghĩ đời mình nên lật qua một trang khác, ở cái trang mà phía dưới cùng có in chữ “Chung”. Tôi không bi quan, nếu bi quan tôi đã chết trong tù rồi. Một người sắp chết, những lời trăn trối của hắn ta dĩ nhiên phải thành thật, đúng không? Ông đã từng chứng kiến cảnh người bị xử bắn ngoài pháp trường chưa? Họ nhét giẻ vào mồm con vật khốn nạn kia bởi vì họ sợ những tay súng đang nhắm vào mục tiêu sẽ run lên khi nghe phải một sự thật từ phía nạn nhân kêu gào lần cuối. Không cần phải dõng dạc hoan hô phía này, đả đảo phía nọ, hắn ta chỉ than: “Em ơi!”. Có vậy thôi. Ông tưởng tượng đi, nghe có nát lòng không?

 Vợ tôi? Ông nóng lòng muốn biết? Thôi thì cũng nên kể ra, một lần cho nguôi ngoai. Xin thưa cùng ông là cô ấy nhỏ thua tôi sáu tuổi. Chúng tôi lấy nhau năm 74, khi ấy cô vừa ra trường và được bổ nhiệm dạy môn Vạn vật ở ngôi trường trung học nằm ngoài thành phố. Cho dù ông là kẻ có trí nhớ tồi tệ cách mấy hẳn ông cũng chẳng quên được năm 75. Phải thế không? Chúng tôi như hai diễn viên trong rạp xiếc đang đèo nhau đi trên giây mà không biết. Ngắn ngủi quá những tràng pháo tay. Chưa tới một năm. Sao kỳ vậy? Những lời chúc trăm năm hạnh phúc tuy là có gian dối thật nhưng tệ lắm nó phải kéo lê được một đoạn dài hơn là ba trăm hai mươi chín ngày chứ? Tôi có ngớ ngẩn không? Có ích kỷ không trong khi mọi người mặt cắt chẳng còn hột máu? Tan hàng. Đứt phim. Vợ tôi khóc. Chúng tôi tự lừa dối nhau để trấn an. Học tập đâu có lâu lắc gì, còn ngắn ngày hơn thời gian huấn luyện ở quân trường. Thôi về đi, anh đi… Và tôi đi, lầm lủi đi, câm lặng đi, bịt mắt mà đi. Đi lao lung, đi xuống từng bậc cấp của địa ngục… Ông xem phim “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” chưa? Ông thấy tên tài tử Anthony Quin khóc chưa? Đoàn tù tôi có nhiều đứa khóc còn “tới” hơn thế nhiều. Ông đừng nói là đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất nhé. Phản động đấy! Nước mắt có phải là lệ thủy không? Trời ơi! Chữ mút mùa lệ thủy sao mà đầy tính sang tạo thế! Sáng tạo và oan nghiệt…

 Thăm nuôi à? Có chứ. Cô ấy đi cả chục lần, tôi đoán vậy, nhưng chỉ chính thức gặp mặt nhau có hai lần. Một ở Hàm-tân, một ở tuốt ngoài Bắc. Ông hiểu cho, một cô gái thị thành, một cô giáo sư lớp đệ Lục mà phải thân cò lặn lội như vậy thì hết nước! Tôi đang mang thân tù tội mà khi nhìn cô ta, tôi lại có cảm tưởng ngược lại. Ai đày đọa ai đây? Lòng tôi tan hoang và miệng tôi như có ai khóa cứng, niềng lại… Thôi, tôi không nên nói nhiều. Tôi nghĩ là ông đã nghe nhàm quá rồi những trường hợp, những hoàn cảnh na ná như vậy. Nụ cười của Mona Lisa ai cũng khen đẹp khiến tôi nhìn riết thấy xấu. Tôi kể chuyện buồn của cá nhân tôi biết đâu lại mang tội với anh em, những người mà nỗi đau của họ viết tới ngàn trang cũng chưa đủ chạm đáy. Ông bảo sao? Vợ tôi giờ này ở đâu? Huế Nha-trang Đà-lạt Sài-gòn Cần-thơ… Ở đâu đó, tôi không biết đích xác. Tôi ra tù và chưa hề nghe thấy tin tức… Tình người? Có phải ông vừa nói tới hai chữ ấy? Ông hiểu gì về tình người? Để tôi kể cho ông nghe một hoạt cảnh. Ở ngoài Bắc về, đoàn tù chúng tôi là những con mắm chất vào mấy toa tàu nêm cứng. Tàu Thống nhất chạy chậm khi vào ga Truồi. Bình minh, ánh sáng chiếu từng đường sọc qua những khe hở. Trái với ma cà rồng, những khe sáng đó rất cần thiết đối với bọn tôi. Ngoài kia, sương đọng trên cỏ, ướt lai láng trên những bẹ lá chuối. Dọc theo một mô đất uốn lượn, tôi thấy có đôi nam nữ đi sánh vai nhau. Họ đang trò chuyện, trao đổi điều gì đó mà hai tay luôn vung vẫy để diễn tả thêm. Hình như họ là công nhân đang trên đường tới chỗ lao động. Họ ngước nhìn tới con tàu và bỗng chốc cả hai đồng loạt đứng sửng người lại. Ông đoán thử họ phát hiện được điều gì nghiêm trọng để khiến họ chùn bước? Không quá một phút cả hai đều đổ xô chạy hối hả tới sát bên toa tàu, họ vội vàng mở toang túi xách ra và bao nhiêu lương thực chứa trong đó thảy đều biến thành vũ lượng hải hà rơi vung vãi tới phía bọn tôi. Nắng sớm mai vỡ sáng trên gương mặt hân hoan của họ, đi đường viền hào quang trên thân thể họ, trên bộ áo quần có nhiều miếng vải vá. Và thú thật với ông, suốt cả cuộc đời tôi, chưa bao giờ tôi thấy có đôi nhân tình nào mang nét đẹp lạ thường như họ cả. Họ đói bụng trưa hôm ấy, năng suất lao động sẽ kém đi, nhưng ngược lại lòng họ no nê một thứ “thực phẩm” khác. Có đúng vậy không? Tình người. Chịu. Tôi không lý giải được. Tôi cảm thấy đau khổ, cảm thấy mình là đứa có tội và tôi bị hình ảnh của đôi nhân tình nọ dằn vặt suốt cả lộ trình xuôi về quê cũ.

 2.

Tôi tên An. Ông thấy đầu con hẻm kia có hàng chữ viết lên tường vôi không? Cái chỗ ấy luôn hôi khai và chữ cấm đái dường như càng lúc càng nhạt nhòa. Ba Má nào mà không thương con, họ đặt tên tôi và cầu mong mai này tôi hưởng được một cuộc sống an lành. Họ giống như chủ nhân căn nhà đầu ngõ, cắm cúi viết chữ cấm đái và hậu quả thì lại bất ưng. Mà có phải đêm tối gì cho cam, có buổi trưa tôi thấy một ông nội vừa huýt gió vừa uốn éo người để dùng cái vòi kia vẽ rồng vẽ rắn lên tường. Tôi là đàn bà, lý ra thằng chả phải biết mắc cỡ mà vội thu cái vật khó nhìn ấy đi ngay. A, không. Chả còn quay tới hướng tôi để mong cho tôi ngó thấy. Vậy đó, bây giờ người ta sống trân tráo và chữ liêm sĩ là gì, hỏi mấy đứa đang cắp sách đến trường xã hội chủ nghĩa chúng khó mà giải đáp cho vẹn toàn. Tôi nghĩ ông bà mình là những kẻ tiên tri đầy nhu nhược. Họ mơ mộng và sự kỳ vọng ấy cứ tiếp tục kế thừa cho đến giờ này. Không gián đoạn, chẳng ngơi nghỉ. Ở mấy nước Tây phương có ai đặt tên cho con bằng những chữ được tra cứu cẩn thận trong từ điển không? Hôm kia, con bạn tôi vừa đẻ thêm đứa thứ hai. Đứa đầu con trai, mang tên kẻ cựu thù: Nguyễn Mỹ Quốc. Nó bảo là tao ước ao sớm qua được bên nước Mỹ đoàn tụ với Bố mẹ. Lần này thì con gái, cháu có tên Nguyễn thị Hòa Bình. Ô hay, con này khéo đùa, đất nước ta chưa thật sự hòa bình hay sao?

 Ông nói gì? Tôi có con chớ. Tại sao không? Cháu đã được tám tuổi rồi. Tôi đặt tên cho nó là Vô Úy. Ông hiểu nghĩa chữ đó không? Chẳng có úy với tá tướng gì ráo, chỉ toàn một đoàn tù mà người này giống người kia như hai giọt nước. Ông bỏ qua nhé, tôi chỉ khôi hài đen thôi. Ông bảo sao? Phải, trước đây tôi từng là giáo sư trung học đệ nhất cấp, không phải dạy môn Việt văn đâu, tôi dạy Vạn vật. Nhưng mà tạm quên chuyện ấy đi, nói ra thêm hổ thẹn. Lý lịch một con mẹ bán bún bò ngồi đầu đường xó chợ như tôi đây mà có khi từng đứng trên bục để giảng dạy đám học trò đệ Lục thì nghe như chuyện thần thoại hoang đường. Giờ này tôi đã quên hết ráo sự cấu tạo của thân cây. Cái gì gọi là diệp lục tố. Tại sao cây luôn vươn mình về phía có ánh sáng? Vân vân và vân vân. Những thứ ấy nên quên đi là phải. Cái mà mình luôn trăn trở là tại sao nên ngồi ở ngã tư này thay vì đằng ngã ba kia. Vì sao mình cho thằng này thiếu nợ mà lại cạy mặt con mẹ kia ra. Phải tư duy động não nên biếu xén anh công an này điếu thuốc ba con 5, nên bỏ thêm nhiều thịt vào tô bún cho gã cán bộ nọ. Vậy đó. Quy luật sống của con người nó không giống như loài cỏ cây. Con người thì ưa chúi đầu về phiá bóng tối. Ông hiểu không? Những gì xẩy ra trong bóng tối cũng mang lại một kết quả như ý hơn là nó được diễn ra trần trụi dưới ánh sáng mặt trời. Trồng cây mười năm trồng người trăm năm. Đúng thế không? Khốn nạn thật! Nói ông tha lỗi cho, trồng làm gì cho chật đất. Ở xứ sở này họ đã từng bứng đi tận gốc rễ biết bao là tài năng…

 Ông ăn bún không? Tôi làm cho ông một tô hỉ? Mấy người ở trong xóm đằng kia luôn hoài nghi, chẳng biết dòng họ nhà tôi ba đời nấu bún hay tôi chỉ là tay nghiệp dư mới đổi đời. Có đứa lân la: Tui ngậm đắng nuốt cay đã lâu, nay ăn tô bún cô vào thấy giận hờn cuộc đời trôi đi đâu mất tiêu! Có nhiều cái ba xạo làm mình ghét, có những dối gạt làm mình mát lòng. Tỉ như những lời tán tỉnh của bọn đàn ông, biết tụi nó chẳng thật lòng mà sao con gái chóng chui đầu vào cạm bẫy thế! Ông đừng đùa, tôi làm gì có được ba thứ kinh nghiệm máu me đó. Tôi kể ông nghe chuyện này xem thử ông nghĩ sao về đàn bà con gái. Ngày xưa, có con mẹ đó lấy chồng đâu gần được một năm thì uyên ương gãy cánh. Ông chồng Đại úy họ còng đi học tập cải tạo mất đất. Con mẹ kia đầu tắt mặt tối giữa cái đời sống từ ngửa bị lật úp bất ngờ. Tôi không kể ông cũng biết là cái lon Đại úy của người chồng tác hại như thế nào trên đời sống mới của con mẹ kia. Nó bỏ thành phố cũ đi lưu lạc mười phương. Nó trốn kỷ niệm hay nó lánh phong ba thì cũng đồng một nghĩa. Đúng đắn hơn là nó phải tự bương chải để sống còn. Trôi nổi đâu được ba bốn năm như vậy, một hôm nó tình cờ gặp phải một thằng đàn ông. Lý ra tôi nên dông dài về cái nhân vật đặc biệt này cho ông rõ. Nhưng thôi, chỉ xin tạm vắn tắt ở đây những chi tiết quan trọng: Hắn ta là người đứng trong hàng ngũ phe chiến thắng. Hắn quen biết nhiều, có thế lực và lạ lùng thay khuôn mặt hắn mang những nét trùng hợp với ông chồng Đại úy. Đó có phải là lý do giản dị nhất để giải thích tại sao con mẹ này sớm gần gũi với tên đàn ông kia? Hay do bởi tên kia có biệt tài ăn nói? Hay do bởi một thiếu phụ xuân thì đã từ lâu quên bẵng mùi đàn ông? Con mẹ đáng thương đó có hai lần nổ lực đi thăm nuôi chồng. Tôi dùng chữ nổ lực là có hơi khiêm nhường. Ngày xa xưa, người ta lều chõng trèo đèo lội suối để về kinh thi Hương thi Hội quái qủy gì đó thì có thấm vào đâu so với đội ngũ đàn bà có chồng con tù tội ngày hôm nay. Chẳng có chi mang ra so sánh được cả. Rừng rú nếu có cọp beo thì chắc beo cọp kia cũng động lòng mà không nỡ giở thú tính ra để sát hại những kẻ bị trời đày nọ. Cuối cùng thì con mẹ kia vào gặp được chồng. Nói làm sao đủ phút giây đó? Thảm thương! Ông chồng thì thầm: Hãy quên anh đi, đừng tự đày đọa mình mà làm gì. Đừng cất công thất tha thất thểu lộn hồn lộn viá nữa, cố tìm một người đàn ông tử tế mà sống yên nửa đời còn lại… Họ có chính sách “nhân đạo” là dành ít thời gian cho những cặp vợ chồng được thỏa đáng chuyện xác thịt nhưng ông chồng Đại úy xem đó là hành động của bọn thú vật. “Mình đừng bôi mặt bôi mày diễn thêm những vở tuồng khôi hài cho bọn chúng xem”. Chấm hết. Con mẹ kia đi về, tả tơi trên sạn đạo xa ngái. Câu nói “xem như anh có lỗi với em và mong em tha thứ” chất đá trong lòng bả. Và sau này, sống với thằng đàn ông thứ hai, bả vơi mất dần những mặc cảm phạm tội. Bả tự tra vấn lấy mình để nghĩ rằng ở đời chẳng có gì toàn vẹn cả, nhất là tự dưng ông trời đã bù đắp cho bà một người đàn ông y hệt như ông chồng cũ. So với bạn bè cùng tham dự một trò chơi liều lĩnh, con mẹ đó tựa như một kẻ trúng số ở lô an ủi. Ngày qua tháng lại, bả có thai và bả đau chẻ người để sinh con. Mọi chuyện xẩy ra có vẻ bình thường, cho tới một hôm… cho tới một hôm… bả tình cờ biết được một sự thật điếng hồn. Ông còn nhớ chuyện kể về sự tích trầu cau không? Chuyện ra sao nhỉ, tôi đã khuấy quên những tình tiết. Hình như nó thảm sầu và nghiệt ngã quá lắm, phải không ông? Dẫn tới cái chết, đi vào kết thúc bằng biến thân thành cây này lá nọ và cục đá dị thường kia. Nói tới đá mới chợt nhớ ra, ông có biết là hiện nay ở đất nước giàu mạnh văn minh tiến bộ này đã thực sự biến mất vĩnh viễn cái gọi là “Hòn Vọng Phu”. Tụi làm nghề đục đá, đào đá, đẻo đá, bán đá đã ăn tươi nuốt sống nó rồi. Nó đã tiêu vong. Vọng phu, vọng phu. Buồn quá mạng! Ông nghĩ sao?

 Thôi, tôi thu dọn đồ đoàn để trở về kẻo thằng Vô Úy đợi, tội nghiệp. Giữa trần gian lớn rộng này đây tôi chỉ còn có mỗi mình nó. Nó cóc có sợ ai thì đó là điều tôi mãi mong. Nhưng tôi thì mãi sợ nó, mãi đợi chờ cái ngày nó sẽ tra khảo vặn vẹo: Má, má, chớ tiá tui đâu mà sao hổng thấy. Ổng còn sống hay ổng đã chết. Khai lý lịch thì nên để ổng ở về phiá nào, vàng hay đỏ?

3.

Tôi học ở Đại học Văn khoa Huế. Nghe bạn bè xúi bậy, bỏ tương lai, bỏ tuổi xuân, bỏ thành phố, theo mặt trận lên Trường sơn năm 68. Nhà tôi nghèo, cha mẹ mất sớm. Ông anh đầu là Sĩ quan của chế độ miền Nam. Bà chị kế lấy chồng lúc vừa đôi tám và hiện ở Mỹ, thủ đô tỵ nạn. Cơ quan tôi đang công tác là Ty thông tin văn hoá. Mấy năm gần đây tôi có viết vài ba cái truyện ngắn và đó là loạt truyện mà trên đánh giá chúng mang mầm phản động. Vì sao? Vì tôi thẳng ruột ngựa quá. Tôi không biết hư cấu, tôi dốt lòn lách. “Có sao nói dzậy người ơi” là thứ phương ngữ giết người. Xã hội ta không ưa những kẻ thật thà. Bộ mày tính bêu rếu chế độ à? Trắng mà nói cho ra đen, đó là tính ưu việt của nền văn hoá nước nhà, cứ an tâm đi dưới những tấm bảng chỉ đường của Đảng. Tôi sống rất chật vật, cũng may bà chị ở Mỹ còn đoái lòng ngó xuống, nghĩ tình ruột thịt để thương hại gửi tiền về “cứu trợ nạn lụt”. Bia đang uống này, thịt cá chất tươi đang cải thiện cuộc nhậu hôm nay cũng do mấy “đồng cứng” của bà chị tôi rãi mưa xuống sa mạc. Bia đổ vào mồm rồi, không nói phét được thì xin kể chuyện tiếu lâm mà nghe: “Có con nhím nọ cô đơn đi lang thang trong rừng, đang rượi buồn bất chợt ngó thấy có cái bàn chải thật lớn nằm lăn lóc xơ cứng bên triền cỏ mượt. Cậu ta mừng vui vô hạn, khẩn trương chạy tới để hồ hỡi leo vội lên trên. Loay hoay trèo lên trụt xuống một hồi liền đỏ mặt sau đó mà lí nhí: Chà, ở đời ai mà chẳng có khi nhầm tưởng!”

 Đang ngồi trước mặt ông hôm nay là một con nhím tua tủa những gai nhọn. Hắn nhầm lẫn đôi phen và lầm lỗi bộn lần. Làm hết chai bia này đi, lâu lắm rồi tôi chẳng có ai để thù tạc. Tôi đã sống một cuộc sống chẳng ra gì cả. Tôi vắt kiệt tuổi xanh của mình để đánh đổi những hoài nghi chẳng bao giờ đi đến cuối sự minh bạch. Tôi tự hỏi những diễn viên ở trên sân khấu khi chấm dứt vở tuồng, họ bước xuống lại đời thường họ sẽ đối xử với nhau ra sao? Họ có thật lòng với nhau hay cứ ngỡ đối phương đang đeo mặt nạ và điều đó buộc mình phải phòng thủ? Bia uống được quá phải không ông? Bia này thuộc loại xuất khẩu đấy. Nồng độ cao nhưng uống vào chẳng thấy đắng. Người ta bảo mật ngọt chết ruồi, bia không đắng dễ vật nguời ra. Ừ thì cũng đúng, nhưng chỉ phần nào thôi. Tôi biết quanh đây có những con ruồi chẳng bao giờ thấy đủ ngọt về cái hủ mật mà chúng đang chấm mút. Khi anh không chết vì bội thực dĩ nhiên cái bao tử anh cứ cảm thấy đói mãi. Tôi đang cưu mang nhiều ý tưởng để viết nên một cuốn truyện dài. Trong lúc này đây, tôi cho văn chương là một cứu cánh, là phương tiện. Nói một cách hồ đồ và kém thơ mộng, văn chương chính là cái thau hứng đầy mật đắng mỗi khi tôi nôn thốc tháo, hay chính nó là chung rượu lớn giúp tôi vùi đầu vào một cơn say? Tôi trả thù cuộc đời bằng chữ viết. Tôi làm bảng kiểm điểm tự khai bằng tiểu thuyết. Tôi chẳng cần độc giả, tôi ghi tên thật không dùng bút hiệu và tôi cầu mong cho anh chị tôi có dịp đọc lấy nó. Vậy là đủ. Ông nhớ cho điều này, có nhiều áng văn bất hủ mà khi ông này viết ra chỉ cốt gửi riêng mình bà kia đọc phải, thế thôi, chẳng nuôi mộng mị to lớn gì cả. Chẳng biết tôi có đủ sự tỉnh táo và can đảm viết nó ra mặt giấy không? Một cuốn tiểu thuyết đồi trụy, loạn luân… “âm mưu thâm độc do Mỹ ngụy cài lại”… Ôi! Sao cái đầu bỗng dưng nặng nề… Để đếm xem có bao nhiêu ngọn đèn… Ủa, nhậu đi chứ ông, đừng ái ngại là vách có tai, chúng tựa cá mè một lứa với chủ nhân, tất cả đều điếc đặc cả rồi, chúng lặng yên ở đó như đã từng, chẳng tội tình gì vác thân đi báo cáo cho ai kia. Trước đây tôi ghét câu nói “ác khẩu”: Cái cột điện nếu có chân cũng bỏ trốn. Giờ này ngẫm lại thấy thấm thiá. Địt mẹ mày, sao mày không bỏ ta mà đi, sao mày còn đứng đó dãi dầu nắng mưa? Mày chiếu làm gì thứ ánh sáng nhợt nhạt xuống mặt đường loang lỗ bóng tối và mày ngoan ngoãn để cho người ta tròng vào thân mày những khẩu hiệu vẽ vời chuyện giả tưởng…

 Người đàn ông đứng lên, những chai bia đồng loạt lăn quay trên chiếu lát. Hắn bước ra sân, chếnh choáng khi trạc quần đứng đái. Hắn cúi mặt nhìn xuống vũng nước sủi bọt. Đất nồng mùi. Hắn vác mặt ngó lên trời cao. Trời mùa hè, xứ nhiệt đới đầy sao không vẩn mây. Nóng rít rát, thăm thẳm đen. “Thiên địa ơi. Anh ơi. An ơi. Chớ tội tình chi mà tất cả chúng ta phải chịu đọa đày! Ngày xưa, giả như anh chiến thắng thì câu chuyện sẽ dẫn tới đâu? Có tốt đẹp hơn không? Còn An. Tại sao lại là An mà không vấp phải một người đàn bà nào khác? An hãy trở về cho tôi khấn đầu gọi là chị. Chị An ơi, chị hãy lộn lui và chính chị ra tay giải phóng em cho cốt truyện nó có hậu. Hãy cầm dao mà thiến đi cái vật dư thừa suốt đời mãi đeo lủng lẳng bên mình một thằng đàn ông hèn mạt. Thiến đi. Hãy chặt bỏ không nương tay những giây mơ rễ má luôn vướng viú để được thong dong, cho giản dị cuộc đời…”

 Hắn ngã vật xuống đất, nằm co quắp trên vũng nước đái đang ngấm rút mất dấu. Ở xứ sở này, đất quen thẩm thấu xương thịt, máu, nước mắt, nước đái và vô số những chất tạp nhạp khác. Đất hận thù. Đất đói khát.

AM   KHUẤT

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

AM   KHUẤT

Hồ Đình Nghiêm

Bóc đi một tờ lịch, giữa đêm hay đầu ngày, con người vò đi hai mươi bốn giờ mà trái tim đã đập qua, đã sống với. Quá khứ nhăn nhúm rơi vào sọt rác và hiện tiền đang tối đen hay ửng sáng? Theo trình tự, sau Tư sẽ là Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín… Bây giờ tháng mấy có khi được diễu nhại “bây giờ mấy tháng rồi hỡi em?”

 Một thai nhi sau chín tháng giam giữ sẽ được phóng sinh. Có khi “em bé” chui ra cửa mình sớm hơn thứ định kỳ nọ bởi vô vàn lý do. Tháng ba ấy, trong trùng trùng những lý do, trên đỉnh đèo Hải Vân, Công Huyền Tôn Nữ Lam Hồng chạy từ Huế vào Đà Nẵng đã đẻ rớt một cô bé bảy tháng tuổi. Mây mù, sương sa, khói xăng, tiếng động cơ, máu, nước mắt… Tất thảy tắc nghẽn, dồn cục trên con đường ngoằn nghèo xuôi đổ. Biển dưới vực sâu, chân đèo phía nam mang địa danh Nam Ô mà không là Nam Mô A Di Đà Phật.

 Hai ngày sau, Lam Hồng đặt được bàn chân run rẩy xuống bệnh viện Đà Nẵng. Bạc ác và lòng từ tâm của ai kia đã mang cô tới thứ bến bờ ngoài dự tưởng. Chết đi sống lại không hề là ngoa ngôn. Nước mắt chẳng còn để đổ ra không phải là thứ quá lời thêm mắm dặm muối. Và huyền nhiệm là thứ mà chúng sinh buộc phải sắc son tin, đắm đuối tưởng. Chúng sinh sống trải qua khổ nạn với ôm giữ duy một lòng thành: Hy vọng. Hy vọng chuyện gì? Tạm chưa tìm ra câu trả lời cho thứ vấn nạn quá tải kia. Huyền nhiệm Lam Hồng không chết, huyền nhiệm sơ sinh còn cất tiếng khóc giữa tai ương.

 Cô chọn tên cho cháu bé chưa? Bởi chúng tôi sẽ cấp cho cô tờ chứng nhận để làm giấy thế vì khai sinh. Tràng Hạt, đẻ tháng Ba năm Bảy lăm tại Hải Vân Đà Nẵng, chánh quán xứ Thần Kinh, cố đô Huế. Một nhân mạng hiện hữu giữa cõi ta bà với thứ sơ yếu lý lịch tạm bợ, khóc ằng ặc trong một thành phố tan tác cảnh chia lìa hoảng loạn trốn chạy. Có cần đào sâu đôi chút không? Mẹ đang ốm, thế bố Tràng Hạt đâu? Cha mang cấp bậc Thiếu úy, theo đơn vị ở phút dầu sôi lửa bỏng kẹt cứng ở biển Thuận An, cách nhà có nửa giờ lái xe Jeep nhưng vô phương xoay trở. Và cha bó tay làm hàng binh trước một thua cuộc chẳng tài nào lý giải.

 Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình. Bà ngoại của Tràng Hạt bế cháu, ru cháu bằng tiếng vỡ lòng nghe xót xa, bởi cháu là bướm, mai sau cháu nối gót bà, theo dấu mẹ, cháu cũng tái mặt máu mà rặn cục nợ ra. Lam Hồng ôm con thơ vọng trông hướng núi nhưng tin người cải tạo khuất mặt tù đày chẳng vọng gửi về biền biệt qua năm này tháng nọ. Thời điểm hiện tại mẹ bồng con chẳng thể hóa đá như truyền thuyết hòn vọng phu bởi thời buổi này người ta đục đá để kiếm miếng cơm. Ngũ hành sơn có thể biến dạng, sông kia rày đã nên đồng và Lam Hồng mang con liều mạng vượt biển, chui lắm lần nhưng mãi thất bại, đổ bể, lộ hàng. Huyền nhiệm hình như chỉ đến một lần trong đời. Và đời xác xơ dìm mẹ con Lam Hồng xuống tận nấc thang cuối. Thứ nấc thang mà người ta nhắm mắt hồ hởi tiến vững chắc, tiến vững mạnh lên xã hội chủ nghĩa. Người ta xếp hàng cả ngày và người ta cam lòng với sự đi lui rất đỗi lạ thường: Từ người rơi xuống vượn. Lông lá, mòn khuyết nhân tính. Khỉ chi sơ tánh bổn ác.

 Lam Hồng làm trăm công ngàn chuyện để nuôi mẹ nuôi mình nuôi con, một cô sinh viên tốt nghiệp sư phạm Anh văn chưa kịp đứng trên bục giảng ngác ngơ vào trường đời với đức tin khù khờ ông trời độ. Một con cá ở hồ nước ngọt bỗng dưng bị vất vào mênh mông biển mặn thì trầy vi tróc vảy là điều hiển nhiên. Nhan sắc rơi nhanh xuống tàn phai, gái một con trông quáng gà đôi mắt. Khi chồng được tha về, chồng cất công truy tầm gạn hỏi và đến lúc tương phùng, cả hai đều không nhận ra nhau, dù đối tượng kia là thứ ảnh hình mình luôn khắc ghi vào tâm khảm. Một thứ cường toan nào đã đổ xuống thân phận họ, tàn phá đi khiến họ bị lão hóa tựa họ sống một ngày có hai- mươi-bốn-ngàn-giờ và họ đã thiệt thòi hy sinh trong sáu năm, bao ức triệu giờ? Tràng Hạt sáu tuổi và con bé rất ghét kẻ lạ kia tự dưng vào sống chung nhà mình. Đoàn tụ là nỗi vui của ai kia, chứ tôi đang sống yên ổn vậy cớ chi anh vác xác vào soán đoạt mọi thứ tôi đang có? Sáu tuổi chưa ý thức về cái chết, nhưng biết mười mươi về cơn đói khi chén cơm vốn đang lưng nay chỉ còn một nhúm lổn ngổn không sống chung hòa bình với sắn khoai. Bé cũng chưa hiểu do đâu bé có mặt giữa đời này nên bé hoài nghi tới chữ cha. Cớ sao bắt tôi gọi thằng đàn ông tiều tụy rách rưới kia là Ba? Tôi chỉ yêu mẹ và thương bà ngoại thôi, ngoài ra tôi cóc có biết một ai khác. Đừng hòng. Đừng bóc lột kiểu như người ta lộng kiếng chân dung một ông già râu dài lưa thưa và bắt mọi người phải thương yêu lão. Vô lý cũng chừng mực nào đấy thôi. Tình cảm là thứ phát xuất tự đáy lòng, một dâng hiến tự nguyện, sao lại đi ép uổng người ta chứ! Tôi thích màu xanh sao anh kề đao vào cổ bảo phải yêu màu đỏ. Yêu giả mạo, yêu tạm bợ thì nào có sắc son mà trông mong?

 Ngoại qua đời khi Tràng Hạt bắt đầu có kinh, bắt đầu nghe rạo rực từ những biến đổi tự cơ thể thanh xuân đang nhú mầm âm thầm. Lời nói cuối rót bên tai, đứt ruột: Ngoại tiếc chẳng sống lâu để có khi nhìn nhận ra ngày vui của Hạt. Ngoại cho con chiếc nhẫn này có hơi sớm… những lúc túng quẫn nhất ngoại cũng chẳng thể đành lòng cầm cố hoặc bán nó đi, bởi nhẫn ấy là vật gia truyền, gia bảo. Con đeo nó để nghĩ là tiền nhân, ba bốn thế hệ trước họ cũng đã từng đeo và mọi thứ đều tai qua nạn khỏi. Nhẫn là nhẫn nại, nhìn nhượng. Chữ nhẫn ấy giúp con chút hạnh phúc khi sống bên chồng như ngoại từng hạnh phúc. Sống thì phải tự tạo ra niềm tin, con ạ… Bàn tay lạnh, ngón co quắp. Đôi mắt khép hờ, có giọt nước ứa chảy ra. Nó tựa thứ hiệu lệnh, để khi nhìn thấy Tràng Hạt đã đổ xuống không biết cơ man nào là suối lệ. Khi buồn đau, có lắm kẻ đưa ra lời khuyên: Hãy khóc đi, khóc cho nhiều vào, rồi bạn sẽ nguôi ngoai. Đứa cháu tội nghiệp kia hoàn toàn khác, bởi càng khóc Tràng Hạt càng ngập lụt nỗi khổ tâm, càng thấy sự bất hạnh luôn là thứ đồng minh không hề tháo chạy, ôm siết, thiết thân, giăng bủa lên mái gia cư thiếu thốn của mình.

 Có người không khi dễ hoàn cảnh kiệt quệ của Tràng Hạt, người con trai ấy vẫn chuyên cần mang tới cho cô bạn gái một bầu khí quyển riêng. Anh sống có vẻ sung túc, có vẻ như ra đời dưới một thứ lý lịch tốt, hồng chuyên các thứ. Anh luôn sẵn tiền và anh mang Tràng Hạt tới chạm mặt những ngày vui lạ, anh tựa một hình nhân đại diện cho luật bù trừ để làm cơn mưa rãi xuống sự hạn hán mà Tràng Hạt luôn gánh chịu. Anh chở xe máy lên mộ bà ngoại đáp ứng lời yêu cầu của Tràng Hạt để cả hai thắp nhang quỳ xuống vái lạy như cô tin sự sánh đôi này có điều diệu kỳ từ bà ngoại đã ban phát cho. Tràng Hạt không bắt anh bạn phải thề nguyền chuyện gì cả, cũng như cô chẳng hề giải thích tình yêu là gì. Tuổi trẻ cô đã chứng nghiệm rõ cái mong manh của một phận người, đừng quan hoài vì sao hôm qua bác đi chăn trâu mà hôm nay bác thành đại gia. Vì sao chữ trinh đáng giá ngàn vàng lại có khi người ta rao trên trang mạng: “Ai đổi không, tớ đang cần một cái iPhone 5”.

 Như đông rồi sẽ sang xuân, như hài kịch sẽ kết thúc bằng một hôn lễ. Sợi chỉ hồng luồn chiếc nhẫn bà ngoại cho luôn đeo trước ngực đã tới lúc hoán đổi vị trí. Tay Tràng Hạt sẽ có ngón chứng minh trước cuộc đời: Tôi đang hân hoan từ giã thời con gái muộn phiền nhiều ẩn ức. Ba mẹ cô vẫn khen anh ấy, ba mẹ cô sẵn lòng để cho anh ấy lấy cô đi khỏi “túp lều tranh”. Mọi thứ diễn ra êm ả, sắp in thiệp hồng thì ba mẹ cô đổi ý. Họ phát hiện bố anh ấy là người năm xưa, vào dịp Tết, đã đích thân xử “bọn ác ôn”. Chôn không gớm tay già trẻ lớn bé cá mè một lứa dưới huyệt nông có tên gọi Bãi Dâu. Họ dứt khoát không làm sui gia với “ôn nớ”. Họ lập luận thà mà bộ đội chính quy, chứ thành phần nhảy núi lên xanh thì tráo trở lật lọng ngán lắm. Ôn nớ là kẻ tội đồ đó con nờ, chớ dây dưa, có tắm cạn nước sông Hương cũng không sạch thứ máu me ấy mô. Con nhớ cho chính ba mẹ từng thót tim vượt thoát được “sáu chữ vàng”: Thà giết lầm hơn bỏ sót.

 Huế còn xuân mà khí trời như đang vào chảo rang để già lửa. Đường vắng ngắt bởi không ai muốn đội thần hỏa mà đi. Ba mươi tám năm, đủ để một đứa xa xứ về lại cố hương lộn hồn lộn vía lạc tâm lạc trí đi quàng đi xiên trên những lối mà ngày trước mướt xanh kỷ niệm. Nước sông Hương không trong như quá vãng và màu nắng thì đỏ rực hơn xưa. Chẳng còn nón bài thơ tóc thề áo dài trắng, điền thế vào những Ninja dị hợm hộc tốc phóng xe máy như bị ma đuổi. Khi vẻ đẹp bị che đậy kín bưng, kín đến nghẹt thở, tựa một xác ướp, Tây ba-lô ở Phạm Ngũ Lão cũng chắc lưỡi cho sự cố An nam lắm ngược đời.

Tôi đi xe ôm lên dốc Từ Đàm, máy xe bỏng khét khi tìm ra địa chỉ. Bác điều khiển xe nói, từ đây đi bộ vô trong nớ không có xa mô, mình không nên khuấy động sự yên tĩnh của người ta. Tôi nghe lời bởi tôi cảm thấy dễ chịu khi đứng dưới một vùng bóng dâm im mát. Khi về thăm, tôi cố gắng xóa bớt dấu vết hình tích một Việt kiều, tôi đang mặc bộ bà ba màu nâu, dung dị. Trả một trăm ngàn cho cuốc xe ôm, có lẽ tôi bị chặt chém vì lỡ lộ thân phận. Tôi bị hớ nhiều bận nhưng không hề đau ruột bởi tôi tự an ủi, đó cũng là cách giúp người, chẳng mấy rộng rãi.

 Am nhỏ, nằm khuất tất như chẳng muốn hiện hữu. Trú thân trong am có sư nữ mà nguyên tên gọi trần tục của sư cũng đã nhuốm mùi phật tánh: Tràng Hạt. Khi chưa đoạn lìa chốn hung hiểm dưới kia, cô đã trao thân cho người con trai không thể làm chồng như lời tạ từ vĩnh quyết. Cô có thai, cô sanh nở trước khi cắt mái tóc thề để tìm quên trong khổ hạnh từ bi với áo nâu sòng. Tôi không thể sinh con nên chuyến về thăm nhà năm trước cơ duyên nào run rủi đã nhận đứa bé bạc phước kia làm con. Cháu con trai, tôi đặt tên Vô Ưu và cháu hiện ở Canada. Khỏe mạnh, mặt sáng lạng giống mẹ nó. Tôi thăm Tràng Hạt, chỉ thuần để vấn an cô, tuyệt đối dấu kín những gì tôi đang cưu mang, chẳng muốn đánh động sự phiền não cô muốn đoạn tuyệt. Tôi bỏ năm trăm đô vào thùng phước sương những mong am này vơi bớt vẻ tiều tụy ám tối đang vây bọc và tôi thầm nguyện sẽ nuôi dưỡng Vô Ưu trở thành một người hữu dụng. Cháu sẽ lớn khôn, tôi sẽ chuyên cần dạy tiếng Việt cho cháu và tôi có tham vọng viết lại câu chuyện này cho cháu đọc, để hiểu thấu bao oan khuất mà tiền nhân cháu đã phải đầu hàng trước nghịch cảnh.

 Mô Phật, bà giàu lòng từ bi quá. Tràng Hạt cúi đầu nói nhỏ. Tôi ôm lấy hình hài ốm yếu của vị sư nữ như giữa chúng tôi chợt hiện lên mối tình chị em. Không, phải nói là một ràng buộc nào đó hơn cả một sự cảm thông. Hơn cả một sẻ chia. Hơn tất cả những định nghĩa nào khác.

 Ve trú thân trên cây cối bao che am vắng đồng loạt cất tiếng. Chưa bao giờ, tiếng ve của Huế mùa hạ nghe buồn lòng như hôm nay. Bản chất âm hưởng của loài ve sầu là vậy, không khi nào chúng làm người nghe tìm nhặt chút bình an.

Hồ Đình Nghiêm

30 tháng 4 năm 2013

“Xưa em gắp miếng thịt gà!”

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 6 Nov 2023

“Xưa em gắp miếng thịt gà!”

Đoàn Xuân Thu

Thưa bà con! Giống như người Tàu ở Hong Kong, ở Macau, người Tàu ở miền Nam Việt Nam mình, nhứt là ở Chợ Lớn, đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese), kế đến mới tới tiếng Triều Châu; chứ không nói tiếng Quan Thoại, (Mandarin), tiếng Phổ Thông, trừ ra những ai có đi học trường Tàu mới biết.

Dân Sài Gòn thường chê những người ưa nói Thánh nói Tướng; nói Trời nói Đất; nói không đâu vào đâu là: “Đồ nói Quảng nói Tiều!”

Bà con người Việt rặt ri mình vốn tánh xởi lởi, không xét nét nhỏ mọn, chi li: ai là người Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam hay Khách Gia (người Hẹ) gì hết ráo. Mà gọi chung là: Các Chú, Chệt hoặc Ba Tàu.

(Đất lành chim đậu mà! Đến đây thì ở lại đây… Bao giờ bén rễ xanh cây… hết về…)

Đàn ông thì mình gọi là Chú Ba; đàn bà thì mình gọi là Thiếm Xẩm. Chú Thiếm hết ráo coi như ai cũng bà con hết trơn hết trọi hè!

Thưa sau nầy lưu lạc tới những nước nói tiếng Anh, câu chào hỏi đầu tiên là về thời tiết như Good morning! Good afternoon! Good evening!

Úc (vua làm biếng) chỉ G’day (Good day) khỏi cần sáng trưa chiều gì cho nó mắc công!

Người Việt mình thì chú trọng về sức khỏe về tinh thần cũng như về vật chất nên gặp nhau thì: “Độ rày có phẻ hông?”

Phẻ nầy cũng nhiều nghĩa, phẻ là có đau bịnh gì không? Mà phẻ cũng có nghĩa là làm ăn có đồng vô đồng ra đều đều hay không?

Riêng người Tàu (đâu cũng vậy): “Ăn cơm chưa?”

Có thể suốt từ thời lập quốc tới giờ, người Tàu bị nạn đói cơm rách áo hoành hành nên bị ám ảnh triền miên về cái ăn hay chăng?

Và chắc cũng chính vì vậy mà người Tàu luôn để cái thú ẩm thực đứng hàng đầu, “số dzách” Nên mới có câu: “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh đẹp cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu).

Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông đó!

Như vậy người Quảng (Đông) là trùm về ăn uống. Vô Chợ Lớn ghé một tiệm ăn là: “Hầm bà lằng kỷ tố?” (Tất cả hết bao nhiêu?) (broken Cantonese!), là phổ ky nó biết mình xạo… Dốt mà bày đặt nói tiếng của ngộ nhe! He he!

Ôi nhớ xưa! Tía của người viết có lần trúng xổ số kiến thiết quốc gia (giúp đồng bào ta xây cửa xây nhà)… bèn dắt lóc nhóc một đám vợ cùng con đi ăn cơm Tàu trong Chợ Lớn.

Gọi là ăn cơm thố (chưng cách thủy gạo trong thố). Canh hàng chục loại khác nhau, chỉ khác rau cải, heo gà nhưng có cùng chung một loại nước súp cho nó tiện, gọn bân hè!

Sau nầy, qua Úc, biết bao lần đi ăn đám cưới, trong thực đơn bao giờ cũng có món cơm chiên Dương Châu cũng từ Quảng Đông.

Khởi thủy đây chỉ là đồ dư thừa của bữa tiệc hôm trước được gom vô, chiên lại.

Cơm là cơm nguội, thêm lạp xưởng, trứng chiên, đậu Hòa lan, hành lá… còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên!

Bà con người Việt mình cũng có cái tánh tằn tiện như người Quảng đó thôi. Sau đám cưới, đám giỗ quảy gì đó, thịt thà còn sót lại đổ hết vô một nồi gọi là xà bần… để dành ăn dần… cho tới Tết Congo… mới hết!

Thưa mới đây tui đọc báo thấy bài về Elizabeth Phu, cố vấn cho Tổng Thống Mỹ về An ninh Đông Á đã tháp tùng Barack Obama trở lại đất Sài Gòn mà 36 năm trước đã từng là một thuyền nhân mới lên 3 tuổi…

Phu mà có báo viết là Phú nên người viết tò mò muốn tìm hiểu thêm. Thì ra là Phù, viết tiếng Mỹ nên bị văng mất cái dấu huyền thành Phu! Mấy tay nhà báo bá xí ba tú thêm vô dấu sắc thành Phú!

Họ Phù gốc Đường Sơn trong lục địa Trung Quốc, rồi ra đảo Hải Nam, sống cũng không nỗi nên phải tha phương cầu thực qua nước Việt của mình và các nước khác trong vùng Đông Nam Á!

Họ Phù coi tên lót rất quan trọng; vì cho biết người ấy thuộc đời thứ mấy, vai lớn nhỏ, có tôn ti trật tự đàng hoàng trong giòng họ.

Tên lót hiện thời là Phù Khí hay Phù Thọ là đời thứ 32. Phù Chí hay Phù Quốc là đời thứ 33. Tức cả ngàn năm nữa mới tới đời thứ 66 là hết.

Sau đó nếu chưa tận thế thì bà con họ Phù họp lại tại bản thổ là Đường Sơn để làm thơ, đặt tiếp… Cái chuyện đó còn lâu mà!

Nhưng lý thú hơn là, người Hải Nam, họ Phù, có món cơm lừng danh trên chốn giang hồ từ Hải Nam tới Hong Kong, Ma Cau, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai cho tới tận Singapore (coi món cơm nầy là quốc bảo). Đó là cơm gà Hải Nam.

Dân Hải Nam thì mùng Hai và Mười Sáu âm lịch thường cúng gà, cúng bà La Sơn Thánh Mẫu. Không có thịt gà là không thành yến tiệc!

Cơm gà là phải có gà. Mà gà Văn Xương mới được, thả trên đồi cho ăn hạt cây, sâu bọ và cùi dừa! Sau 4 tháng thì bắt về nuôi trong chuồng thêm 2 tháng nữa để vỗ béo bằng bã đậu phọng, gạo và khoai nấu lẫn với nhau. Gà ú nu nhưng ít mỡ, ít cholesterol.

Gạo tám thơm vo sạch đổ vào nồi, sau đó cho thêm một ít mỡ gà, tỏi phi thơm vào khuấy đảo cho đều, rồi đổ nước luộc gà vào nấu, khi nấu chín hạt cơm săn chắc, bóng dầu, chớ không có nở tòe loe, thơm phức…

Nước chấm được pha chế với nấm đông cô, tỏi băm nhuyễn, gừng cà nhuyễn, gia vị thêm tiêu, ớt đường, dấm, các vị mặn, ngọt, chua tùy ý thích mà nêm nếm!

Dưa chua ăn dặm thêm cho đỡ ngán gồm su hào, đu đủ và dưa cải…

Cơm gà Hải Nam theo đầu bếp họ Phù cũng tha phương cầu thực! (Bán cơm để có cơm mà ăn!). Đến mỗi nơi đổi một chút cho hợp với khẩu vị của người địa phương!

Đến Sài Gòn, vào Chợ Lớn, Cơm gà Siu Siu Hải Nam cũng danh trấn giang hồ trên đường Nguyễn Duy Dương (tức Thiên hộ Dương, một đầu lĩnh nghĩa quân kháng Pháp ở Đồng Tháp Mười) gần Chợ An Đông.

Những dĩa thịt gà vàng óng, những dĩa cơm gà nóng bốc khói, một dĩa đùi gà thêm vài ba cái phao câu và một dĩa gồm gan, mề, lòng, mươi quả trứng non bé bé xinh xinh màu vàng ngậy!

Thực khách (hơi có tiền một chút) uống lave đầu con cọp hay bia 33 là cha thiên hạ rồi!

Nghề chặt thịt, ông chủ tiệm kiêm đầu bếp tiệm cơm đã quen tay, coi giống như là ông đang múa võ; còn hay hơn là Vương Vũ hay Khương Đại Vệ, Địch Long, Trần Tinh hay Sơn Điền Bảo Chiêu múa mã tấu Tàu hay kiếm Nhựt trong phim kiếm hiệp Hong Kong thuở ấy.

Con gà bóng mỡ nằm ngửa trên thớt. Một nhát dao chặt cái bụp trên bụng, phân hai. Rồi phập phập! Hai cái đùi gà văng ra. Bốn đầu ngón tay trái chặn cái đùi gà! Rồi Phập! Phập! Bốn ngón tay lùi tới đâu con dao phập sát tới đó. Phập! Phập! Phập! Xong!

Xúc bằng yếm dao những miếng gà đều đặn, sắp hàng gọn ghẽ lên một chiếc đĩa trắng, rắc một ít hành lá lên trên cùng với những chén cơm gà nóng vàng ngậy, bốc khói, thêm hai thứ nước chấm: một chén xì dầu có những lát ớt đỏ và một chén gừng băm trộn dấm.

(Nghề chặt thịt siêu đến nổi có thằng nhỏ bị tật nói lắp, tức cà lăm, đến: “Bán… cho tui… ui… một dĩa cơm gà… à…! Phập phập. Thằng nhỏ chưa dứt câu là mấy cái đùi gà đã xếp hàng ngay ngắn như lính sắp hàng chờ duyệt binh trên dĩa cơm còn bốc khói “Xong rồi Tửng! Hà cái lầy rinh về cho Tía mầy nhậu đi!”

Thưa bà con! Ông bà mình thường nói nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh! Bất cứ nghề nào mà giỏi là giàu có mấy hồi. Nhất là nghề ẩm thực. Chỉ cần vốn ít, ngày nào cũng xoay xong một vòng hết ráo. Sáng mua, bán tới chiều. Tối gom tiền lại, gấp 2, 3… hồi sáng!

Nên xin đừng nghĩ kiểu xưa là: “Sĩ, Nông, Công, Thương”. Anh thương mãi bao giờ cũng đứng chót mà trật bàn đạp…

Người Tàu tha hương giờ đi khắp thế giới nhiều đến nỗi bà con mình thường nói: “Đâu có khói là nơi đó có người Tàu!” Khói là từ bếp của một tiệm ăn nào đó của họ, vươn lên trời xanh mời gọi khách đường xa trong một buổi chiều đói bụng quá ta!

Ghé một tiệm cơm gà Hải Nam trên dọc đường gió bụi, ăn một mình. Gọi dĩa cơm, kèm theo một chai bia! Ăn xong, no bụng rồi mới xực nhớ là em yêu ở nhà phải ăn cơm với nước mắm kho quẹt quanh năm suốt tháng mà cảm thấy lương tâm mình cắn rứt! Nỡ lòng nào: Hột muối chia hai; mà cục đường anh lủm hết vậy cà? Làm ăn chí thú, nên dầu chiến tranh ì ì như vậy mà ông chủ tiệm cơm gà Hải Nam Siu Siu nầy phất lên thấy rõ.

Từ một cái quán nhỏ tí teo như trái dưa leo giờ ông hết nghèo, chơi trèo, mua một hơi 3 căn nhà sát nhau trong một dẫy phố đường Nguyễn Duy Dương thành một nhà hàng bán cơm gà Hải Nam thật lớn.

Khá rồi nhưng vẫn không phụ nghĩa tình xưa, cái quán cơm Siu Siu thuở đầu hẻm, bàn ghế phải bày ở hàng hiên, vẫn còn nơi mà những khách quen từng lui tới biết chỗ để tìm về kỷ niệm, dắt em yêu hay má bầy trẻ cùng sắp nhỏ đi ăn thuở ấy.

Theo như người biết chuyện, nhà văn Nguyễn Tường Thiết (con trai út của nhà văn Nhất Linh) vốn là hàng xóm sát vách với tiệm cơm Siu Siu, bùi ngùi kể lại! Cho đến khi CS vào chiếm Sài Gòn, Chợ Lớn. Đánh tư sản mại bản hai, ba đợt. Những quán cơm gà của một đời cần lao, tay làm hàm nhai bỗng bay vào tay bọn cướp.

Tháng Sáu, năm 1978, ông chủ quán cơm gà Hải Nam Siu Siu và toàn gia đình vợ con đành đứt ruột bỏ tất cả để ra đi.

Ra khơi, tàu chìm. Gần trăm người trên tàu không một ai còn sống; chỉ sót một mình ông Siu Siu, bám vào một tấm ván theo sóng biển bập bềnh trôi, tấp vào bãi biển Bến Tre.

Ông Siu Siu sau đó nghĩ quẩn riết rồi… thành người mất trí. Không còn vợ con; không còn nhà cửa; không còn quán cơm Siu Siu ngày cũ.

Xưa ông bán cơm để làm người ta ăn no. Giờ cay nghiệt thay ông lại đói!

Phải ngửa tay xin từ gói xôi, gói bắp của những người qua đường để sống lây lất trước hàng hiên của chính căn nhà mình năm cũ.

Mất Sài Gòn là ông Siu Siu mất hết; là chết!

Quán cơm gà Hải Nam Siu Siu gần Chợ An Đông ngày xưa đã không còn nữa nhưng trong kỷ niệm của người Sài Gòn, của người viết đây, vẫn còn sống riết, bám chặt vào tâm tưởng!

Nhớ ngày nào đôi ta còn rất trẻ, mới quen nhau, anh dắt em yêu ra quán cơm Siu Siu (ngày cũ). Em yêu khẽ khàng vén nhè nhè tay áo dài, gắp miếng thịt gà vàng ươm từ trên dĩa, chấm miếng nước mắm gừng bỏ vào chén cho anh.

(Dẫu bây giờ sau biết bao năm mặn nồng hương lửa, giờ em chỉ gắp cho em. Còn anh? Anh đành gắp cho anh vậy!)

Nhưng kỷ niệm thời mới yêu nhau tràn về như sóng làm anh độ lượng mà tha thứ cho cái tật bỏ bê tình cũ của em yêu!

“Xưa em gắp miếng thịt gà. Gừng cay muối mặn tình già cũng (hổng quên!)” Hu hu!

đoàn xuân thu

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Lòng Mẹ

Đặng Chí Bình

Bài 33

Mặc tiếng nói của anh, giấc mơ của anh chạy vào tai tôi lộn xộn. Mắt tôi đang mải ngắm nhìn cái yên sau, chiếc xe đạp của anh. Bằng năm que gỗ loại ba phân vuông, dài một mét, anh khéo đóng ba miếng dọc, hai miếng ngang, trông như cái phên. Anh lựa buộc chặt vào trên cái yên sau, anh có thể chở đi lủng lẳng và chồng lên trên hơn hai chục bình nhựa sữa tươi. Mới đầu tôi không nhận được ra anh, tưởng một người đang đạp chiếc xe lôi thồ. Tôi chợt nhớ đến chuyện CIA gần hai tháng trước, tôi hỏi nhỏ anh:

– Anh còn gặp tên xích-lô ngày ấy không?

Anh Bưởi lắc đầu, cũng khe khẽ nói:

– Nghe Bình nói như vậy, tôi sợ quá! Có mấy lần gặp tên đó, nhưng tôi cố tránh.

Sờ tay vào túi, thấy gói thuốc nhức đầu của mẹ, tôi từ giã anh Bưởi, hẹn gặp lại sau! Mỗi người một cảnh đời, đều phải tất bật lo toan!

Về tới nhà, thấy yên ắng! Thầy mẹ tôi đều ở trong mùng. Tôi vén màn, nhìn mẹ tôi đang ôm đầu rên rỉ: “Mẹ không muốn sống nữa, con ơi?”. Lòng tôi càng muốn đứt ra từng khúc! Nước mắt đã làm mờ, hình dáng tiều tụy của mẹ tôi. Tôi chạy xuống bếp, mở vung nồi cơm thầy tôi nấu khi nãy. Nồi cơm vẫn còn nguyên, nhưng nhão như bánh đúc, có lẽ thầy tôi đổ nước hơi nhiều nên nát quá! Nhìn vào trong chạn, chỉ có thố cà ghém muối của cô Thu đưa sang hai ngày trước, chưa ăn hết. Trong chạn không còn mắm, muối gì. Tôi dọn cơm vội vàng cho thầy mẹ tôi, chính tôi sáng sớm mới chỉ có một củ khoai lang luộc, để đi làm. Tôi mang bát đũa của thầy mẹ, nồi cơm lên nhà, sắp xếp sẵn trên chiếc bàn con, như mọi khi. Tôi tranh thủ xúc vội một bát cơm, với ba quả cà xuống bếp, ăn lẹ để còn kịp đi làm chiều.

Tôi mở từng mùng, thầy mẹ tôi vẫn nằm yên, tôi khẽ khóa cửa rồi phóng xe ra phường, làm bổn phận một người mất quyền công dân với tổ mành trúc. Tay tôi nhịp nhàng, từ từ đưa từng cây trúc vào chiếc máy cưa con. Nhìn những đoạn trúc đều nhau, bắn rơi xuống chiếc rổ, tôi chợt nhớ đến một ước mơ những ngày tôi còn ở xà lim Hỏa Lò.

Tâm lý của con người, có nhiều khi, chính mình đôi khi cũng không hiểu bản thân mình. Ngày ấy, biết bao nhiêu lần đêm ngày nhớ thương về người mẹ, như đói thèm ăn, khát thèm uống. Tôi đã hình dung suy đoán, cái thịt ở rốn của mình là cái thịt cắt với cuống nhau của mẹ. Để phần nào coi như là đã được sờ thấy, cầm tận tay của mẹ; nên tôi đã sờ rốn của tôi nhiều lần, bất kể ngày đêm mỗi khi tôi nhớ tới mẹ tôi. Một ước mơ khi ấy như một đặc ân của Trời, của Chúa mà tôi không thể có, là được gục mặt vào đôi tay của mẹ mình, rồi có từ giã cõi đời lòng tôi vẫn thỏa mãn với cuộc đời.

Thế mà từ ngày về được gặp cha mẹ, chưa bao giờ tôi thực hiện, dù cũng đã có lần gục vào vai, vào tay mẹ, nhưng chưa lần nào có ý niệm là tôi đang thực hiện được giấc mơ ngày ấy ở trong tù! Tôi vẫn chưa thấy đầy đủ giá trị, những điều tôi đang có. Dứt khoát, chiều nay đi làm về, tôi sẽ thực hiện được cái ước mơ cao quý đó. Chỉ mới có ý định, chủ trương, còn hơn hai giờ nữa mới đến giờ về, mà tôi nhìn mọi người trong tổ mành trúc hôm nay, ai cũng dễ thương, ai cũng như có thêm nguồn sinh lực mới, của cuộc đời.

Tôi lửng thửng đạp xe về nhà, ngay từ xa, nhìn ngôi nhà tôi cũng cảm thấy hôm nay, tôi thương yêu ngôi nhà hơn. Mở cửa, thầy tôi đang lom khom chuẩn bị hút điếu thuốc lào, cũng như mọi khi tôi vừa dựng chiếc xe đạp, vừa lễ phép:

– Thưa thầy con về! Thầy lại hút thuốc! Thầy có nhớ đây là điếu thứ mấy trong ngày hôm nay, không ạ?

Thầy tôi quay lại nhìn tôi, như có vẻ lạ lùng, rồi người thủng thẳng:

– Điếu thứ hai!

Thấy thầy tôi có vẻ tỉnh táo, tôi hỏi luôn:

– Thầy ơi? Có bao giờ thầy nghĩ đến bỏ thuốc, không hút nữa không?

Thầy tôi đã bắt đầu rít thuốc, tôi vẫn thấy thầy tôi vẫn duy trì một ngày hút ba điếu, chỉ có thuốc lào là người không lẫn lộn.

Tôi vào trong, định vào chào mẹ tôi, lại nghe tiếng lách cách bát đĩa ở ngoài chiếc sân con, nhà bếp. Mẹ tôi đang mò mẫm rửa chén bát! Tôi đã định chào người như mọi khi đi làm về, nhưng hôm nay tôi muốn đứng yên, để ngắm nhìn người rửa chén đũa. Mẹ tôi ngồi trên chiếc ghế con, (chiếc ghế tôi đóng tạm bợ khi tôi mới về cho mẹ tôi) người đang xát xà bông từng cái bát, cái thìa, đôi đũa. Tuy chậm, nhưng người làm rất kỹ, từng những động tác nhỏ nhặt, hộp xà bông, miếng giẻ, vòi nước, cái rổ con úp bát, cho đến cái thau con. Tuy chỉ có ba bốn cái bát, mấy cái thìa, mấy đôi đũa, người lại chỉ sờ soạng và suy đoán. Bất cứ vật gì trong nhà phải để đúng chỗ cũ. Đã từ hơn một chục năm nay, các cô Xuân, Cô Thu, hai người con gái cứ thay nhau một tuần, đến tắm cho mẹ tôi một lần.

Hút thuốc xong, thầy tôi đã vào mùng đi nằm, tôi kiên nhẫn chờ cho mẹ tôi rửa vừa xong chiếc thìa cuối cùng. Mẹ tôi một tay sờ chiếc rổ, một tay cầm chiếc thìa từ từ đặt vào rổ. Tôi không thể kìm hãm được nữa, tôi đã bước đến nhẹ ôm lấy mẹ. Mẹ tôi tươi hằn mặt, ngửng quay lại như muốn nhìn tôi, nhưng đôi mắt của người đã hoắm vào, làm sao người nhìn thấy đứa con trai của người, bây giờ ra sao? Tôi kéo tay người vào vòi nước, rửa từng kẽ ngón tay. Đôi tay này ngày xưa, đã bao lần tắm rửa cho tôi, đã bế ẵm, ôm ấp tôi bao nhiêu đêm ngày. Thậm chí, cứt đái, mủ máu hôi thối cũng do bàn tay này, đã rửa ráy săn sóc cho tôi. Mẹ ơi!

Tôi đã dẫn mẹ tôi vào trong giường của người, tôi ra dọn dẹp hết những phần việc còn lại. Liếc nhìn chiếc chạn, thố cà muối vơi đi một nửa, như vậy các người chỉ ăn cà với cơm nhão. Nhớ kỳ này cô Thu đã không kịp mua cho, lọ mắm tôm như mọi khi. Mắm tôm chưng là món dễ ăn nhất, nhưng tôi chợt nghĩ, cô Thu cũng đang quằn quại với mấy đứa con nhỏ, chồng còn nằm trong Chí Hòa, những cảnh sống, trong xã hội dưới chế độ này, chẳng nên ai trách buồn ai. Mẹ tôi đang dò dẫm ra bàn uống nước, tôi đưa người trở lại giường, để người ngồi.

Mẹ tôi đang định tụt dép, để cho cả hai chân lên giường.. Không thể chờ được nữa, tôi định tối nay sau khi ăn cơm tối xong, tôi sẽ biến hóa giấc mơ ngày ấy, ở trong tù thành hiện thực. Tôi đã tiến đến cầm đôi tay cao quý của mẹ tôi, lật ngửa để trên hai đầu gối của người. Tôi nhẹ quỳ xuống nền, rồi gục đầu mũi tôi hà, hít mãi cái hơi thương nhớ, ngọt ngào, ruột thịt. Bàn tay mớm cơm, đút cháo nâng niu, ẵm bế tôi, ngay khi tôi mới lọt lòng ra chào đời. Tôi đang được hưởng ân sủng của người, tôi đang sướng vui nhưng sao nước mắt của tôi lại trào ra làm ướt cả tay. Để rồi mẹ tôi đã rút một tay ra, xoa đầu của tôi, lo lắng hỏi:

– Làm sao mà con khóc?

Trái tim của tôi đang bị dúm dó, vặn vò do những cái vòi của con Hồng Tuộc (Từ ngàn xưa biển cả có giống Bạch Tuộc, hay gọi là qủy trắng. Nó có hàng trăm cái vòi, chuyên hút máu loài hải sản. Thế kỷ 20, thế giới mới sản sinh ra một giống Hồng Tuộc “quỷ đỏ”. Nó ác độc và thâm hiểm, gấp nghìn lần hơn Bạch Tuộc. Giống Hồng Tuộc có hàng triệu cái vòi vô hình để chuyên hút máu người. …dân).

Mẹ tôi làm sao nhìn được, trái tim đang rỉ máu của tôi, nên người cười. Ôi! nụ cười! Nụ cười độc nhất từ ngày tôi gặp lại người. Tiếc rằng mắt mẹ tôi đã lòa, với nụ cười ấy, nếu mắt người còn, hẳn sẽ long lanh như những hạt kim cương, môi người vẫn còn cười như hoa nở mùa Xuân, người nói thong thả:

– Nghe mẹ? Con hãy lấy vợ đi!

Một câu nói làm thay đổi cuộc đời của tôi. Bất chợt, làm cho tôi bàng hoàng, nhưng để làm vui lòng mẹ, không còn nhìn được tôi, tôi đã nói như khẳng định:

– Con sẽ làm theo lời của mẹ!

Bẩy giờ tối, tôi mang cả lá đơn theo, để trình diện CA khu vực. Cô CA Ngọc Anh sau khi ký vào sổ trình diện hàng ngày của tôi; cô nhắc tôi thứ Bẩy này nhớ đi lao động XHCN. Tôi rút lá đơn “xin đi tù” nhờ cô thông qua, rồi ký vào. Cô đọc xong, quay lại, mở to mắt nhìn tôi, cô nhìn tôi như một người cô chưa hề gặp lần nào. Cô không hỏi han gì cả, cô ký vào rồi đưa lại cho tôi. Thái độ của cô hôm nay, cũng bần thần khác thường.

Sáng hôm sau, trước khi vào tổ mành trúc, tôi đưa lá đơn vào phường. Tên Trung úy Mậu, mặt vênh vênh chuẩn bị ra oai, y tưởng tôi đưa nộp tờ kiểm điểm. Y cắm cúi đọc, tôi có cảm tướng cái khí thế giương oai khi nãy, như đang xì dần ra phía dưới hậu môn của y. Y ngửng lên nhìn tôi, mắt y thu nhỏ lại, như con cua rốc bất chợt gặp con ếch “cồ”. Y lại cúi xuống đọc lần nữa, y nhìn tôi như không tin chính là tôi. Y nói dịu dàng như nói với người anh, hay người bạn, của y:

– Sao anh lại có ý nghĩ lạ lùng thế! Anh không nên giận ông bà cụ, ông bà cụ già rồi sẽ chết!

Trong bụng của tôi đang nghĩ: “Tôi kính yêu thầy mẹ của tôi như trời biển ấy chứ! Tôi chỉ thù ghét con Hồng Tuộc mà thôi!”

Tuy vậy, tôi vẫn nghiêm mặt, nói rành mạch:

– Tôi nhờ ông ký rồi chuyển lên, theo hệ thống cơ quan, tôi đã ghi.

Hôm nay sao y lại có vẻ ân cần, lịch sự như thế! Khi tôi cúi đầu chào y để sang tổ mành trúc, y còn đứng dậy đi ra theo đến cửa, cứ như đưa tiễn một người bạn, đến nhà y chơi.

Sáng thứ Bẩy LĐXHCN cũng như mọi khi, cả năm người chúng tôi, phải quét dọn chung quanh khu chợ Nam Hòa và cả mấy con đường ngang cái cổng, trước chợ. Ngoài những đống rác rưởi hôi thối, lại có mấy cái cuộn băng vệ sinh của phụ nữ, còn bê bết máu, đỏ lòm, ruồi nhặng bâu đầy. Có một tồ băng quấn, vướng chặt vào mấy song sắt của lỗ cống, máu trên tồ băng đã thẫm đen, không một anh nào chịu cho tay vào kéo tồ băng ra. Ai cũng rụt cổ, lắc đầu trước những con mắt của bà con đi chợ.

Các anh đều chung ý kiến, thà bốc đất cát, hay khuân vác nặng nhọc, các anh không nề hà, nhưng cái này, đều giừa cho nhau. Đã mấy anh dùng cào, que, gậy chọc nhưng cái băng cứ quấn chặt. Cô ả Ngọc Anh, đã thấy rõ từ đầu, dù ả đứng từ xa hàng chục mét.

Tôi liên tưởng đến giai đoạn tôi ở xà- lim “án chém” Hỏa Lò, để chống muỗi của cả khu 14 buồng xà-lim bâu vào cắn tôi. Các buồng khác ai cũng có thân nhân nên có màn cá nhân. Tôi từ Sài Gòn ra, đất nước chia đôi, nên chả có gia đình thân nhân. Để khắc phục cái khó khăn này, tôi đã có sáng kiến, kết hợp với sự kiên trì công sức của mình, để có kim, có chỉ và những mảnh giẻ chùi trong nhà cầu, Xà – Lim I dành cho cán bộ. Vì là nơi sâu kín, nên đa số là cán bộ phụ nữ hay đi vào, vì thế trong thùng giấy, giẻ chùi, ngoài cứt đái, còn có những băng vệ sinh của các bà.

Tôi không có tiếp tế nên làm sao có xà phòng! Dù cứt hay máu, chỉ tranh thủ cho vào vòi nước vò vội, lén giắt vào cạp quần mang về, buồng của mình (rửa ráy, cọ bô trong 5 phút). Vì sự sống và chết, làm sao tin có ngày về? Ý niệm bẩn hay sạch đã gạt ra ngoài, để có những cái túi chui đầu vào chống muỗi, túi tay, túi chân ban đêm trong sáu năm dài.

Vậy hôm nay, tôi làm hay không làm, chứ tôi còn ra vẻ kiêng bẩn, sạch, mỗi khi cuộc sống bắt buộc, phải đối diện, là giả dối. Vì thế, cho tới bây giờ, tôi vẫn thường đùa bỡn với bạn bè: Tôi là loại người, từ trong bãi rác đi ra, chứ chẳng cao sang

Thấy anh em ngại ngần, lúng túng, tôi đã dùng tay giải quyết dễ dàng, nhanh gọn. Không có gì sạch bằng nước và xà phòng!

Đêm hôm qua, ý tưởng lấy vợ cứ vấn vít lòng của tôi mãi. Chỉ vì cuộc sống “du” vào một hoàn cảnh cùng cực, tiền không có, bố mẹ mù lòa, già yếu, thân thì bị o- p ràng bố đêm ngày, nên chẳng bao giờ tôi nghĩ tới. Huống chi, trong cái thế này, trước sau tôi cũng phải ra đi, dù có phải chết cũng sẽ ra đi! Điều làm cho lòng tôi vơi đầy, như nước thủy triều là bố mẹ già của tôi, bao nhiêu giằng co, ngắc ngư, lưỡng lự. Đành rằng hai mươi năm trước đã bỏ cha mẹ ra đi biền biệt, nhưng khi ấy còn em trai, em gái, bố mẹ còn trẻ.

Hơn nữa, trước mắt, tôi vừa làm lá đơn xin trở lại nhà tù và đã nộp, hãy chờ con đường định mệnh của mình, ít ngày nữa rồi sẽ tính. Tối hôm qua sinh hoạt tổ của khu phố tại nhà ông Trùm Lộc, như mọi khi sau khi tôi đọc báo (Nhân Dân) xong, bà con chuyện trò, nghe tôi phàn nàn làm ở tổ mành trúc, hơn sáu tháng mà không có một đồng tiền lương nào, mà gạo cũng không. Họ mách tôi, sao không đi xin làm mộc ở các tổ mộc Phường, Quận, khi tôi có nghề mộc khá?

Ngày hôm sau tôi ra Phường gặp tên Mậu, đề bạt ý kiến với y. Lần này y lại mềm mỏng chuyện trò với tôi. Y tỏ ra rất thông cảm với hoàn cảnh sống của tôi. Y đã khuyến khích tôi, đi tìm những cơ sở làm mộc ở quanh vùng. Tôi cũng thăm dò y xem là tôi đã sắp được chấp nhận trở lại nhà tù chưa? Y cho biết lá đơn của tôi đã lên Quận rồi, được chấp nhận hay không phải hàng tuần, hàng tháng, trước mắt hãy đi tìm một công việc mà làm, rồi chờ. Sau mấy ngày dò dẫm, tìm tòi tôi đã được một tổ mộc thu nhận.

Tổ mộc Thành Công ở bên Chi Lăng Gia Định, do ông Huỳnh trên 50 tuổi làm tổ trưởng. Đặc biệt, ông Huỳnh có bàn tay phải bị ba ngón cụt: ngón giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út. Bàn tay chỉ còn ngón cái và ngón trỏ, nhìn ông ta cầm bút như cái càng của con cua bể, đang cắp một con giun đất. Ông ta đã từng là một tổ trưởng, một tổ đặc công nội thành hàng chục năm trước đây.

Tổ mộc Thành Công, thường nhận hàng gia công của các cơ quan như: giường, bàn, tủ, ghế. Ông Huỳnh có một chiếc Mobylette cũ, chuyên chạy đi quan hệ, giao thiệp các nơi. Tổ có chừng gần mười người thợ ở các khâu. Tôi nhận mức khoán đóng bàn, làm việc nếu chịu khó năng nổ lao động thì đủ ăn, và còn có điếu thuốc phì phèo. Tên trung úy Mậu ở phường, yêu cầu tôi phải có giấy ký nhận hàng ngày, làm ở tổ mộc. Và cứ 7 giờ tối phải trình diện công an khu vực mỗi ngày, như mọi khi.

Từ đấy, tôi cứ sáng đi, chiều về. Có một việc mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn còn thấy lòng nở hoa. Làm việc ở tổ mộc Thành Công được hơn một tuần, hôm ấy tôi lĩnh lương được hơn ba chục bạc, những đồng tiền đầu tiên tôi kiếm được, sau khi ra tù. Đạp xe về qua một bà hàng bán trứng vịt lộn, để thầy mẹ tôi và tôi đều được thường thức, được hướng cái đồng tiền đầu tiên này, tôi quyết định mua ba quả trứng vịt lộn, có đủ muối tiêu và rau răm.

Trên đường đạp xe về nhà, tay ôm túi giấy gói ba quả trứng còn nóng hổi, tôi có cảm tường như ôm niềm vui, niềm hưng phấn của thầy mẹ tôi, và của tôi trộn lẫn. Chiếc xe đạp của tôi, như nó cũng vui lây với tôi, nó chạy, nó đi một cách “phởn phơ” như muốn nhẩy cẫng lên ở ngoài đường. Khí hậu của Sài Gòn chiều tàn, cũng thật mát dịu. Lạ lùng là ngay tiếng chiếc chìa khóa mở cửa nhà, hôm nay nghe nó cũng ngọt ngào khác thường.

Thầy mẹ tôi vẫn còn nằm yên trong màn, các người không biết rằng, hôm nay con trai của các người đã kiếm được đồng tiền đầu tiên sau gần hai mươi năm bị tàn phế, bị cái vòi của con Hồng Tuộc, nó cuốn chặt cổ và hút máu ở tim. Cũng như mọi ngày, tôi nhẹ nhàng dọn cơm nước chuẩn bị sẵn sàng ra bàn. Tôi khe khẽ đỡ thầy tôi dậy để chuẩn bị ăn cơm, tôi lại vào đỡ mẹ tôi dậy. Tôi phải công nhận, hình như mẹ tôi có một cái linh cảm đặc biệt, mặt của người hôm nay thật tươi, người hỏi tôi:

– Hôm nay có cái gì, làm con vui thế?

Tôi quay lại nhìn kỹ, vào hai hố mắt sâu của mẹ tôi, cứ như mẹ tôi nhìn thấy nét vui của tôi thể hiện ra mặt, vẫn là đôi mắt nhắm nghiền, hõm sâu vào. Tôi đã định nói, nhưng tôi đã kìm lại nuốt xuống. Tôi muốn để các người ăn cơm xong rồi, mới thưa cái nguồn vui đó với các người. Cơm hôm nay ngoài món mắm tôm chưng cố hữu, còn có rau muống luộc tôi đã mua từ hôm qua.

Tôi đợi thầy mẹ tôi vừa bỏ bát đũa xuống, từ lúc về tôi đã vùi gói giấy ciment có ba quả trứng vào tro nóng, để nó duy trì cái ấm êm của thầy mẹ tôi và của tôi sắp tận hưởng. Tôi để nhẹ một tay lên vai mẹ tôi, và trang trọng:

– Thưa thầy mẹ, hôm nay con muốn thầy mẹ cùng hưởng với con cái đồng tiền đầu tiên, con kiếm được sau khi tù về.

Thầy tôi vồ vập hỏi:

– Con kiếm được……… ở đâu?

Tôi hiểu thầy tôi không tỉnh táo hoàn toàn, nhưng tôi vẫn thưa rõ ràng:

– Con đi làm ở tổ mộc, bên Gia Định, tuần đầu con lĩnh lương!

Mẹ tôi thì hiểu, nên mẹ tôi ngửng mặt lên cười, kỳ này mẹ tôi lại hay cười, đó là nguồn vui chính, lớn lao của tôi. Chắc tâm tư của người đã chuyển đổi tư duy, cách nhìn. Tôi nhớ đến một ý của Trần Trung Đạo. Tôi xin đổi hai chữ “thiên thu”: Đổi cả ngàn năm…tiếng mẹ cười! Tôi chạy lẹ xuống bếp lấy gói trứng lên, tôi lấy một quả lau sạch sẽ, với cái thìa con đưa cho thầy tôi. Tay thầy tôi run rẩy cầm lấy, tôi biết thầy tôi sẽ tự ăn được. Phần mẹ, tôi lấy một quả, tôi phải đập một đầu quả trứng rồi bóc ra đưa cho mẹ tôi húp. Mùi trứng thơm lừng căn buồng, nước trứng nóng hôi hổi.

Thầy mẹ tôi, xì xụp húp, tôi nghe cả thầy mẹ tôi đều hừ. . . .hừ khi các người nuốt cái nước thơm ngọt ấy xuống dạ dầy. Phần tôi từ ngày về tù, tuy đã có mấy lần được các cô chú ấy cho ăn bồi dưỡng, nhưng người tôi vẫn thấy thiếu đói. Vì thế, khi tôi phục dịch thầy mẹ tôi, tôi nghe rõ trong bụng tôi nó đòi, nó kêu ọ . . . . . . .ọ . . . .ọ . . . .liên hồi. Nhưng tôi đã ra lệnh cho chúng . . . ..”Hãy yên lặng, phải biết điều! Tao là chủ nhân chúng bay, nhưng tao còn phải phụng dưỡng thầy mẹ tao đã! Hãy nằm yên!” Chúng nó đã nghe lời tôi răm rắp!

Bây giờ, tôi mới ra lệnh cho chúng há hết cả miệng ra! Và tôi bắt đầu húp, bắt đầu rót cái nước tuyệt vời, xuống từng cái miệng bé xíu của chúng, tôi nghe rõ chúng đồng loạt kêu:

– Trời ơi! Sướng! sướng quá!

Biết chúng nó sướng lắm, vì chính tôi là chủ của chúng cũng đang sướng “rủn” hết, người ra đây này. Cho hay “trời cũng chiều người!” Cả ba quả trứng vịt lộn, “con” lớn cũng vừa phải, vì thế cái “nước” và trứng nó cũng đã ngon hết cỡ của nó. Bây giờ bắt đầu tôi ăn, miệng tôi nhai, tai tôi nghe ở dưới bụng những tiếng rầm rập, rõ ràng hình như tất cả con tì, con vị, trong con người của tôi, chúng nó rủ nhau ra hết. Chúng nó đang nhảy múa như ngày vào hội của đình làng, vừa đánh trống, vừa thổi kèn làm rung rinh cả người tôi.

Không thể để cho chúng nó vô trật tự, làm loạn. Tôi ra một cái lệnh tối khẩn:

– Đồng bào có nghe tôi nói rõ không? – Cùng một loạt trả lời “rõ “. Tôi nói tiếp: “đồng bào” ở trong bụng của tôi yêu quí, tuy trên danh nghĩa là tôi phục vụ, nhưng “đồng bào” ở trong bụng tôi, thực sự tôi là chủ. Vậy đây là miếng trứng vịt cuối cùng, toàn “dân” phải tập trung, lắng nghe lệnh của tôi. Tôi bảo đi là đi, bảo đứng là đứng, bảo nằm là tất cả đều phải nằm. Khi tôi bảo “sướng” thì tất cả đều “sướng” nó mới có tác động qua lại, cộng hướng để cho cái “sướng” bay lên chỗ cao nhất của nó.

Miếng trứng vịt cuối cùng, tôi vét và dốc ngược hết cả vào miệng, trước khi nuốt, tôi liếc nhìn thầy mẹ của tôi. Thầy mẹ tôi cũng dốc ngược cả cái, cả nước vào miệng, các người cứ ư ử ư ử rên rỉ. Mặc các người!

Tôi phải giải quyết với đám “đồng bào” của tôi đã. Lưỡi của tôi đã cứng “đơ” ra rồi, nhưng tôi còn kịp quát một tiếng thật to: “Sướng!” Tai tôi nghe có tiếng sáo cao vút của Thiên Thai và hàng bầy tiên nữ rủ nhau nhẩy múa khúc “Nghê Thường”. Thầy mẹ tôi, mỗi người đều chui vào mùng của mỗi người. Tôi cũng để mặc cho đĩa bát ở đấy, tôi lần từng bậc thang lên gác, rồi cũng chui vào mùng của tôi.

Năm giờ rưỡi chiều hôm sau, tôi đạp xe về đến nhà, từ xa tôi thấy bóng một phụ nữ thập thò trước cửa. Tôi đoán là em Xuân hay em Thu thăm thầy mẹ tôi, nhưng là chị Hai Công và thằng cháu Hoài Khanh trên Hồng Ngự xuống thăm thầy mẹ tôi. Chị em, bác cháu gặp nhau thật là mừng rỡ.

Đặc biệt lần này, chị Hai cứ hay nhìn tôi rồi mỉm cười, thấy chị cười thì tôi cũng cười để đáp lại, chứ tôi không hiểu hết ý nghĩa đôi mắt trìu mến, và nụ cười thương yêu của chị. Thì ra ở nhà chị và mẹ tôi đã chuyện trò bàn tán nhiều, về việc lấy vợ của tôi. Hai thím cháu đã quyết định, chiều mai sẽ có một bữa cơm đại gia đình, của chúng tôi. Ngay buổi tối đó, thằng Khanh phải sang báo cho cô Thu và cô Tuất chiều mai đến ông bà.

Phần tôi, vì là làm khoán, nên tôi đã xin ông Huỳnh về từ 3 giờ chiều mai (lúc khác làm bù). Hôm sau, buổi chiều nhà tôi ồn ào đông vui như một ngày Tết. Các em, các cháu chật một căn nhà, để chuẩn bị một bữa cơm sum họp của cả gia đình. Chỉ còn thiếu thím Lý và bốn cháu nhỏ mãi trên Hồng Ngự (nhưng đã có thằng Khanh, đại diện cho gia đình chú Lý). Chú Tuất làm ở xưởng Ba Son, 5 giờ chiều mới về tới, các cô chú đã mua hẳn một con gà trống hai ký để thịt, chứ có phải thường đâu! Phải nói từ ngày tôi về, ngoài những bữa các cô chú mời tôi đi ăn bồi dưỡng ở tiệm ăn, thì cũng chỉ hai, ba người là cùng

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Làm đơn xin đảng vào tù

Đặng Chí Bình

Bài 32

Mãi 8 giờ tối, tôi mới về đến Sài Gòn. Chưa dám về nhà, tôi thuê xích lô đạp về nhà em Xuân, bên Lăng Cha Cả hết 4 đồng. Nếu chân tôi không đau, thì tôi đi bộ dù năm mười cây số. Tôi lặc lè bước vào nhà, các cháu không nhìn ra tôi, tóc tai, râu ria bùm sum, quần áo lếch thếch lôi thôi. Em Xuân ở dưới bếp bước lên, nhìn tôi rồi miệng mếu xệu ôm chầm lấy, nói trong nước mắt:

– Anh ơi! Sao anh khốn khổ thế này?

Chú Tuất đi làm đêm, ở nhà chỉ có mấy mẹ con, một đứa lấy xe đạp sang báo cho ông bà. Tôi căn dặn nói cho ông bà, chưa để cho hàng xóm biết. Tôi mệt quá và thiếu ngủ, cô Xuân đun một thau nước nóng cho tôi ngâm rửa chân, vì buốt nhói quá! Tôi lên gác nằm ngủ cho lại sức, ngày mai còn đối ứng với CA phường, khu vực.

Sáng hôm sau, cô Thu đã đến sớm, cứ ôm tôi khóc sướt mướt như trẻ con ngày nào. Mắt em Thu sáng, nên đã khêu lấy ra được, ba cái gai chà-nà, ở hai bàn chân tôi. Tôi đã mang chúng mấy ngày trời, từ dưới khu rừng ở ghềnh Hào, Minh Hải về Sài Gòn. Cả một buổi sáng, cô chú Tuất và cô Thu, các cháu ríu rít mua bán đồ ăn, để gọi là bồi dưỡng cho tôi, sau 10 ngày trăn trở, quặt quẹo với chuyến vượt biên không thành. Gần chiều, tôi phải trở về bên bố mẹ và còn phải đi trình diện CA khu vực, lúc 7 giờ tối.

Sau khi thăm hỏi và chào thầy tôi, tôi vào trong mùng với mẹ tôi. Hai mẹ con không nói ra được một lời nào, chỉ ôm nhau hàng giờ, để cho những dòng lệ vàng đục, từ những cõi lòng dúm dó, quặt quẹo chảy ra. Cuối cùng mẹ tôi lần tay sờ lên đầu tôi thều thào:

– Con hãy dâng hết niềm khốn khó, nỗi khổ đau cho Chúa và mẹ Maria.

Gần 7 giờ tối, tôi mò đến nhà cô Ngọc Anh, thoáng thấy tôi bước vào buồng, cô trợn mắt nhìn tôi. Cái bánh “xèo” của cô hôm nay nhăn nhúm, mắt của cô càng trắng ra, gằn giọng:

– Sao anh không đi luôn, về đây làm gì nữa?

Mặt tôi xìu xuống, chảy dài ra, chậm chạp ngồi vào chiếc ghế bên cạnh, thiểu não:

– Cô hãy nhìn con người tôi cô đã rõ. Gần năm tháng nay, ngày nào tôi cũng đi làm, không có tiền mà cũng không có một hạt gạo nào. Chẳng lẽ tôi chỉ uống nước lã rồi đi làm? 43 – 44 tuổi rồi, mà còn ăn bám bố mẹ mù lòa già yếu. Cô là CA, người đại diện của Đảng và chính quyền của khu vực này, xin cô hãy xét cho điều kiện và hoàn cảnh sống, của tôi.

Theo lệnh của phường, tôi phải làm một bản kiểm điểm: Mười ngày đã bỏ đi đâu? Tại sao đi? Đi những chỗ nào? Viết chi tiết đưa cho CA khu vực ký, rồi đưa ra phường!

– Vẫn đi làm tổ mành trúc như mọi khi!

– Viết kiểm điểm vào buổi tối và sáng sớm!

– Phải nộp bản kiểm điểm trong ngày thứ sáu (hôm nay là thứ ba).

Họ không cho tôi ăn, mà còn không cho tôi thở nữa. Thôi! Mình là kẻ chiến bại, thì hãy nhắm mắt lại, cho kẻ thắng nó hành, nó đầy đọa.

Tôi cố gắng chắt lựa thời gian, ngày hôm sau, (thứ tư) tôi phóng miết xe lên nhà thằng Lợi. Không ngờ cháu Mỹ Linh và cháu Hữu Lực còn bị giữ lại ở đồn Cỏ May. Đêm hôm đó (ở bến bãi) lộn xộn thằng Lợi đưa con lên bờ. Ra ngoài mà đi đông nguy hiểm, nó chia làm hai. Nó chỉ một đường cho các cháu lớn ra đón xe về Sài Gòn, còn Lợi dẫn hai cháu nhỏ đón một chuyến xe khác để tránh CA nghi ngờ.

Các cháu lớn có mang theo một chiếc va-li đựng quần áo, một số hình ảnh, thư từ mang đi (vượt biên) để làm kỷ niệm. Chẳng hiểu CA khám xe hỏi, chúng nghi ngờ, chúng tách hai chị em ra hỏi, truy nên phải ra sự thật: Đi không được nên quay về v.v… Cũng may các cháu không nói gì tới bố, nên chúng còn để ở đồn Cỏ May, chờ bố mẹ đến lãnh (một hình thức xoay tiền).

Cháu Thủy và cháu Thắng, con của vợ chồng Đạt thì vẫn còn bị giam ở trại Gáo Dừa, ruột gan của tôi lại càng bị vặn vò thêm. Đành rằng tôi không có lỗi trực tiếp, nhưng có lỗi trong gián tiếp. Vì thế, mỗi khi có điều kiện tôi lại đạp xe lên vợ chồng thằng Lợi, vợ chồng Đạt thăm hỏi như một sự chia xẻ. Như tôi đã nhiều lần thố lộ ở trên, tôi không có khả năng, tài cán gì mà lại còn gián tiếp làm thiệt hại đến bạn bè. Tôi hiểu vợ chồng thằng Lợi, ruột còn đang rối như tơ vò, nên tôi cũng chưa dám nói gì, về chuyện phía bên kia, còn định thanh toán thằng Lợi. Nó sẽ càng buồn bực thêm, mà lại không thể giải quyết, trong hoàn cảnh này.

Nội dung bản viết kiểm điểm của tôi, chỉ quanh quẩn mấy ý chính: Là một đứa con đã 43- 44 tuổi rồi, bố mẹ mù lòa già yếu đã không hề giúp đỡ đấm bóp, cơm nước hầu hạ; lại còn ăn bám vào tiêu chuẩn gạo của bố mẹ, để rồi các người phải ăn cháo, bữa đói bữa no. Dù thương con nhưng khó khăn não nề quá, nên có lúc các người đã chửi mắng tôi. Tôi biết bố mẹ tôi là đúng, tôi là sai. Biết mình sai nhưng tôi không biết và không có khả năng để sửa sai, cho nên tôi phẫn uất lấm! Tôi muốn bỏ nhà ra đi, dù có khổ cực hay đói khát mà chết, tôi cũng xin bằng lòng. Ở với bố mẹ tôi vừa buồn …..vừa đau xót…..vừa nhục!

Đến ngày, tôi đem nộp lên phường, tên Mậu xem xong, xé ngay trước mặt tôi, bắt tôi về viết lại. Y nói:

– Viết những điều lăng nhăng, mà chưa thấy cái sai của mình. Nếu không viết đúng sự thật, y sẽ có biện pháp!

Tôi lại lủi thủi đi về, tranh thủ tối khuya ngồi viết lại. Tôi cũng chỉ có bằng ấy lý do chính, như tờ kiểm điểm trước. Ba ngày sau tôi lại phải lấy chữ ký của CA khu vực, của tổ khu phố, rồi mới đem lên phường nộp. Tên Mậu lại đập bàn, quát tháo là tôi viết lảm nhảm chưa thấy cái sai cái lỗi của bản thân, nó lại bắt tôi về viết lại nữa. Y bảo cho tới khi nào tôi thấy được cái sai, cái lỗi của mình mới thôi!.

Suốt ngày đi làm, ăn uống thì rau, mắm mà cũng không đủ no, tối về lại cặm cụi viết kiểm điểm. Đêm qua vừa buồn vừa mệt, tôi cứ trằn trọc đến 12 giờ, vẫn chưa chợp mắt được một chút nào. Đến khi vừa chợp ngủ được thì bất chợt, tôi nghe tiếng của thầy tôi la to:

– Giời ơi? Các ông phá nhà tôi à?

Mẹ tôi thì khóc nức nở kêu la:

-Ối trời cao, đất dầy ơi! Tôi có làm cái gì đâu, mà các ông lục lọi nhà tôi như vậy?

Tôi choàng ngồi dậy, có tiếng giầy đi lên gác, hai ba người đèn pin loang loáng. Tiếng giầy đi nặng trên gác, sàn gỗ làm rung rinh cả căn nhà, một tiếng nghe lạ hoắc:

– Tên Bình đâu?

Tôi hất màn chui ra, ngơ ngác, tên đó lại hỏi tiếp:

– Có người lạ trong nhà không?

Tôi cảm thấy nản lòng và phẫn uất quá rồi, nên tôi trả lời không cần văn hóa nữa:

– Các ông đang lục lọi trong nhà thì các ông biết, tôi làm sao biết!

Cả hai tên chiếu ngay đèn bấm, vào thẳng mặt tôi. Tôi đứng yên nhìn lại chúng mấy giây, rồi tôi đi xuống dưới nhà xem thầy mẹ tôi thế nào. Cả hai cái mùng của thầy mẹ tôi, chúng đều vắt lên, một tên sục xuống bếp, mở cả bể nước mưa ở ngoài sân. Chúng cầm một cái gậy dài chừng 1m50 chọc, khùa vào bể nước, làm đục ngầu, chúng hạch sách sổ hộ khẩu, một tên nhìn vào bàn thờ rồi hỏi trống không:

– Cả nhà theo đạo Chúa à?

Thầy mẹ tôi ngồi yên, tôi không còn kìm được nữa, muốn thế nào cũng mặc, tôi cũng không trả lời, tôi đã định nói: “Các ông nhìn bàn thờ mà các ông không biết gì, nên mới phải hỏi” nhưng tôi đành “nín thở qua cầu”.

Thầy mẹ tôi, mỗi người gục ở một góc giường, gần một giờ sau, chúng mới chịu đi ra, không một lời chào chủ nhà. Nhìn bộ điệu của cả năm tên, hai tên đeo súng ngắn, nhưng cả hai cũng không đeo lon nên chả biết là CA nào? Quận hay Thành? Tên nào tôi cũng chưa hề nhìn thấy bao giờ. Tôi đóng cửa rồi bỏ mùng xuống cho thầy tôi, một ông cụ già 77 tuổi rồi, còn lẩn thẩn nữa. Tôi cũng vào đỡ mẹ tôi nằm ra, và bỏ mùng lại cho cụ. Bà cụ mù lòa cũng không được nằm ngủ yên, tôi chỉ hiểu vì tôi, vì đứa con bất hạnh, bất tài này nên các cụ cũng phải khổ lây Từ đấy cho tới sáng, vừa hận vừa buồn nên tôi không tài nào ngủ lại được nữa, thỉnh thoảng nghe những tiếng thở dài não ruột của thầy, của mẹ tôi vẳng lên.

Sáng hôm sau, tôi vẫn phải dậy sớm để chuẩn bị ra phường đi làm. Tôi quá mệt nhọc, thấy cuộc sống của tôi được gần bố mẹ già, nhưng bị ràng bố cả ngày lẫn đêm, tôi nghĩ đến giai đoạn được ra tù. Khi ấy (năm ngoái) từ cán bộ, cho đến tù nhân đều được tương đối thoải mái hơn trước đây. Cụ thể, các cán bộ lén lút khoán chúng tôi làm đồ tư, chúng tôi có trà, thuốc lá, gạo thành ra không sợ đói khổ, như những năm trước đó.

Tôi chợt thấy, ở nhà bên bố mẹ già nhưng cũng không có thời gian để phụng dưỡng, đỡ đần các người, còn làm các người khổ lây như đêm qua. Bản thân tôi còn cực nhọc, đói thiếu hơn thời gian, tôi ở trong tù vừa qua. Một ý tường lóe lên trong đầu: Tại sao không xin trở lại tù? ở trong tù còn được cái thú “tự tôi xin vào tù” không còn phải đêm ngày lo lắng CA đe dọa, sẽ bắt vào tù Nghĩ như thế, tôi mần mò để viết một lá đơn có tình có lý, xin trở lại tù.

Nếu được CA chấp nhận, thì mình đã đạt điều mình mong muốn! Nếu CA không chấp nhận, thì họ đỡ hành mình, đỡ hơi một tí, họ lại đe dọa bất trở lại tù, (tôi nghĩ lúc ấy họ đe dọa sẽ không bắt mình đi tù còn sợ hơn). Sau mấy ngày suy nghĩ, tôi đã viết được một lá đơn xin đi tù. Nội dung lá đơn xin trở lại trại giam đi tù như sau:

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độc lập tự do hạnh phúc

Kính gửi:

Cục Lao Cải (lao động cải tạo) trực thuộc Bộ Nội Vụ.

Thông qua:

– Sở CA thành phố Hồ Chí Minh

– Tiểu Ban Quản Lý Những Người Học Tập Cải Tạo Được Về.

– Công An quận Tân Bình

– Công An Phường 6.

– Công An khu vực thuộc Phường 6.

Tôi là Đặng Chí Bình hiện được tạm trú ở nhà bố mẹ tôi là ông Đặng Chí Phúc và bà Nguyễn thị …..tại số 12/ 34/18 phường 6, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Xin quý ông cứu xét chấp nhận sự thỉnh cầu của tôi:

Tôi nghĩ không một ai ở một nước nào, lại muốn vào trong nhà tù cả, đây là hoàn cảnh và điều kiện sống của tôi.

Đầu 1962, tôi có nhận một nhiệm vụ của cục tình báo VNCH, ra Hà Nội để chống phá cách mạng. Nhưng tôi đã không làm gì, khi đến Hà Nội CM đã đưa tôi ra Tòa án Nhân Dân Thành PhốNội ngày 30- 12- 1967 xử phạt 18 năm tù giam và 5 năm mất quyền công dân.

1980 tôi đã được ra tù, tôi trang trọng cảm tạ ơn trời biển của Đảng và chính phủ. Khi tôi về tới miền Nam thì bố tôi đã 77 tuổi, lẫn lộn trí nhớ, hay yếu đau. Mẹ tôi 73 tuổi, đã lòa cả hai mắt 16 năm rồi. Bố mẹ tôi còn sống là do sự đùm bọc, giúp đỡ của bà con xóm giềng: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước hãy thương nhau cùng “.

Về địa phương, tôi đã thi hành mọi điều khoản được quy định với chính quyền, của một người tù được tha về. Bản án còn 5 năm mất quyền công dân của tôi. ở phường 6 hiện có gần năm chục quân cán của chính quyền VNCH cũ đi cải tạo được về. Hầu hết họ phải đi trình diện CA phường một tháng một lần, gần 10 người trình diện tuần một lần, một mình tôi duy nhất phải trình diện ngày một lần.

Gần 20 năm đi tù tôi đã tự hiểu, tuy cùng mất quyền công dân, cùng đi tù nhưng chính sách của CM đã đối xử với từng người hoàn toàn khác nhau. Như tôi đã đi tù: ở 6 năm một mình trong buồng kín, 4 mét vuông của xà- lim Hỏa Lò Hà Nội. Bị cùm ba năm rưỡi, lúc cả hai chân, lúc một chân trong cái cùm của thời thực dân Pháp.

Hiện nay, hàng ngày tôi phải đi làm ở tổ mành trúc 19/5, tám giờ mỗi ngày. Tôi đã làm hơn sáu tháng nay, không có tiền lương, cũng không có gạo. Tôi phải ăn bám vào bố mẹ mù lòa già yếu. Cuộc sống già yếu tật nguyền của bố mẹ không còn yên ổn vì tôi. Tôi tha thiết tự nguyện xin trở lại trong tù cho tới chết, tôi và bố mẹ tôi xin đội ơn hải hà của Đảng và chính phủ đã cưu mang tôi một lần nữa.

Thành kính

Ký tên,

ĐCB

Trưa hôm qua, tôi đi làm về, thầy tôi đang hì hục chẻ củi, nấu cơm ở dưới bếp, mẹ tôi ngồi ở trong màn đang ôm đầu. Mọi khi thì thầy mẹ tôi đã ăn rồi, tôi vội vàng nhấc mùng, trèo lên ngồi bên mẹ, ôm lấy mẹ tha thiết:

– Mẹ làm sao thế? Thầy mẹ chưa ăn cơm ạ?

Mẹ tôi bị đau đầu từ sáng đến giờ, nhưng hết thuốc rồi, thầy tôi chống gậy ra nhà ông lang Cảnh ở Ông Tạ từ 9 giờ sáng. Mãi 12 giờ mới nghe tiếng lọc cọc, thầy tôi chống gậy đi về, vẫn chưa mua được thuốc. Tôi không kịp xuống bếp xem thầy tôi loay hoay thế nào, tôi cũng chả thiết gì ăn với uống, tôi phóng xe vội vàng ra ngã ba Ông Tạ, để mua một liều thuốc nhức đầu cho mẹ tôi trước đã.

Lúc về, tôi gần rẽ vào đường Bắc Hải, rõ ràng tôi nhìn thấy anh Bưởi đang gò lưng đạp chiếc xe, kiểu mới tự chế: Theo anh Bưởi, chiếc xe Farovite hơn một chục năm, đã sơn lại hai lần, một người quen đã bán lại cho anh 70 đồng, trả góp hàng tuần 10 đồng.

Anh nhận được một công việc, đi giao sữa tươi cho các gia đình, đã đặt mua mỗi buổi sáng. Đi cất sữa, đi giao sữa bận bịu tối ngày, anh tằn tiện ăn cơm độn bo bo, với mắm cáy (món sở thích của anh). Mỗi ngày anh có thể để ra được 1 đồng 70. Sau khi kể cho tôi nghe thành tích, mặt anh Bưởi tươi hơn lên, đôi mất long lanh dưới chiếc riềm mũ vải, mầu xỉn hạt mít:

– Mỗi tuần tôi còn gần hai đồng để “vi vu” thuốc rê với đời, chỉ hơn một tháng nữa, chiếc xe này đã hoàn toàn là của tôi!

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Nỗ lực để sinh tồn

Đặng Chí Bình

Bài 31

Tính toán, cân nhắc rồi tôi âm thầm chuẩn bị, đôi dép không cần thiết, tôi bỏ vào một góc khuất, cởi chiếc quần “jean” rách, đã bạc màu, thắt chặt hai ống lên cổ. Cái giấy ra trại, cái nhẫn chị Lợi đưa, chiếc đồng hồ Seiko 5 của thầy tôi cho, tất cả tôi túm lại trong một cái túi nylon, đút gọn vào trong một cái túi con khâu ngầm trong quần đùi, rồi cài kim băng.

Nghĩ đến đôi dép để đấy không tiện, sau này CA khám thấy đôi dép, chúng nghi ngờ có người trốn, tôi đi đôi dép đàng hoàng. Trời đã cập quạng tối, tôi đến rủ mấy cậu Bạch, Thâu và Triết có theo tôi bơi vào bờ ngay từ còn ngoài biển v.v…? Cả ba cậu thấy tôi chuẩn bị, bằng những con mắt sợ sệt, e ngại, cuối cùng các cậu đều nói:

– Thôi! Anh ơi! Bị bắt một, hai năm về, tính chuyến khác, bây giờ xuống biển đêm, chả biết thế nào. Nguy hiểm lắm!

Tôi thật ngạc nhiên: Cậu Thâu và Triết đều gốc chài lưới, mà cũng rụt rè, sợ sệt như vậy. Tôi đã thấy một điểm sáng, từ trong chỗ đen ngòm lóe lên, như thế sắp tới đất liền rồi. Rồi ánh đèn bấm từ thuyền trước cũng lóe lên, biển lúc này tuy có động, sóng to, gió lớn hơn, lại có trận mưa đêm nữa, như vậy là càng tốt cho kế hoạch của tôi. Tôi phỏng đoán cách bờ chỉ khoảng một cây số hay một cây số rưỡi là cùng, tôi lại bơi bỏ xa chỗ đèn pin lóe lên, thì cho đến hai cây là hết cỡ. Tôi đã được ăn một bát cơm và một gói mì khô. Có nguy hiểm, nhưng xét cơ thể của tôi, có thể chịu đựng được cái lạnh ở dưới biển.

Tôi hỏi lại các cậu lần nữa, các cậu vẫn e ngại lắc đầu. Không thể chần chờ, bắt tay các cậu, tôi xuống vào chỗ người ta vẫn đi cầu phía khoang cuối. Xác định phương hướng, tôi tụt xuống biển, trừ ba cậu, cả thuyền không ai hay. Chìm nghỉm, sóng to gió lớn, tôi sải bơi theo sóng, áng chừng nửa giờ, tôi lặn sâu xuống, sờ chân xem có thấy đất chưa. Lặn đã hết cả hơi, chân tôi không hề chạm vào một vật gì. Tôi nhổm lên, nhìn vào phía trong, vẫn một mầu đen kịt, tôi cũng chẳng nhìn thấy hai con thuyền đâu, chỉ thấy sóng biển trắng đầu nhấp nhô.

Cứ xác định hướng ấy, bơi nữa (nếu không xác định đúng, mà lại bơi trở ra biển, thì tôi chẳng còn ngồi viết những dòng này). Tôi lại bơi nữa, cũng áng chừng nửa giờ, bỗng có một loạt súng AK 47 pằng. . . . . .pằng. . . pằng. . . ..vang réo vào tiếng gào của sóng. Tôi lặn vội xuống biển, tôi tưởng trong bờ CA đang nhằm bắn tôi, nhưng thấy yên. Tôi cũng thấy mệt quá rồi, vì sự sống, tôi cố bơi nữa, tay chân của tôi đã rã rời, tôi tưởng phen này đành buông xuôi tay chân cho hết một kiếp người nhiều cực nhọc.

Giữa lúc tôi nghĩ đến mẹ tôi mù lòa, bố tôi lẩn thẩn thì chân của tôi chạm đất, tôi đã đứng được lên, nhưng người yếu quá! Một cơn sóng đánh tôi đổ nằm ra, bây giờ cả tay tôi cũng đã chống sờ thấy đất cát, tôi cố lết vào thêm để có thể nằm ra được mà không có nước. Tay tôi vừa chạm vào mấy cành lá con con, tôi hiểu là loại “đước” con thường mọc ở bờ biển. Hai tiếng súng pằng . . . . . pằng . . . . . . . Lần này là của CKC réo vào không khí, từ ở phía phải.

Tôi suy đoán là lúc này cả thuyền đã bị bắt, sau khi CA tra xét biết là có người trốn, nên chúng tản ra các bờ để truy lùng. Vì nghĩ như thế, nên tôi vẫn cứ phải nằm ngâm trong nước biển lạnh hàng giờ nữa. Người tôi rét run, hai hàm răng đánh vào nhau cằm cặp, lúc này tôi mới chợt thấy cái quần jean buộc ở cổ đã gửi nó trong lòng biển, cả đôi dép cũng không còn. Quần đùi, chân không giầy, dép với một cái sơ mi mầu “gụ” đã sờn vai. Tuy tôi ở miền Nam từ 1954, nhưng chỉ ở Sài Gòn. Có một lần xuống Hồng Ngự thăm mộ người em mới đây, chỉ ở một đêm sáng hôm sau đã trở về. Nói chung ở những tỉnh khác của miền lục tỉnh, tôi chưa hề đặt chân.

Tôi có cảm tưởng như từ thuyền đổ bộ, xâm nhập vào để hoạt động tình báo, chống CS của 1981. So với đầu 1962 tôi đổ bộ vào Hà Tĩnh của miền Bắc, nhưng lần này khó khăn hơn vì không được trang bị quần áo, và lương thực.

Một điều tôi không ngờ, và chưa bao giờ thấy, đó là muỗi. Muỗi như những đàn ong, vo vo quấn lấy mặt, lấy cổ, lấy tay và lấy chân của tôi. Vỗ, đập, đuổi, người cứ phải giẫy lên khoa chân múa tay, để xua đuổi muỗi. Đứng cũng không yên, cứ như tập võ, múa Mai Hoa Quyền. Tôi chợt nhìn mấy cành đước, tôi bẻ hai cành, mỗi tay một cành, đập và xua đuổi muỗi. Tuy có khá hơn, đỡ mệt hơn là làm bằng hai bàn tay, tôi đành chịu trận để chờ trời sáng. Thật là may, khi mặt trời bắt đầu thò lên, thì những con muỗi cũng đi đâu mất tiêu. Miền Bạc Liêu, Minh Hải, tôi đáng ghi nhớ nhất là muỗi.

Vừa quan sát, vừa nghe ngóng tôi cứ tiến dần vào phía trong, vì có một chút kinh nghiệm hoạt động nên lòng tôi cũng có phần tự tin, khi vào miền đất lạ. Tôi suy đoán, trong vùng vì có người trốn vượt biên, nên ở các chặng đường có thể có CA để ý người lạ, nhưng chắc rằng chả quan trọng như tù trốn, tuy vậy, tôi vẫn luôn luôn để ý mọi hiện tượng trên đường đi. Thực sự, tôi cũng chẳng biết đi về đâu? Chỗ nào cũng sông ngòi hay rừng non. Mãi gần trưa, chân tay đã mỏi rời, tôi đã đến một con sông to, nước phù sa cuồn cuộn chảy, có chỗ rộng năm sáu chục mét, rải rác hai bên bờ có những chiếc vó rất to.

Tôi cứ theo bờ sông, đã có lúc tôi định bơi sang bên kia bờ, nhưng chưa biết hướng ấy đi về đâu? Điều cần là tôi phải gặp người, để lựa lời thăm hỏi. Nhìn phía trước có một căn nhà tranh con con ở mé sông, từ xa tôi thoáng thấy bóng một người đi vào. Đến gần, nhìn cái cửa phên tre khép hờ, căn nhà trơ vơ bên một bờ sông trống trơn, không có nhà cửa cây cối. Sát phía bên trong, là những ruộng bắp đã thu hoạch, sâu vào trong nữa là những cây rừng non. Chung quanh thật vắng vẻ, cạnh cái nhà nhỏ chỉ có một cái am con để một bát hương, nhưng đã tàn lạnh. Tôi chậm chạp lê chân tiến đến cánh liếp khép hờ, tôi lên tiếng cũng rề rà lửng thửng, tay đẩy cánh cửa liếp:

– Có ai …….không?

Thoáng nhìn thấy khẩu CKC dựng mé vách, một người mặc chiếc quần ka-ki xám, cởi trần chừng 35- 36 tuổi, tay đang cầm cuốn sách: “Thép Đã Tôi Thế Đấy” tôi hơi chột dạ, nhưng đã vào thì phải tiến tới.

– Chào anh! Nằm đây . . . . đọc sách là số “dách”!

Anh ta định cho chân xuống dép, với tay lấy cái áo sơ- mi nâu có cầu vai, tôi ngồi ghệ xuống chiếc giường tre, tay lắc lắc:

– Anh cứ nằm đi! Tôi xin ngụm nước uống thôi!

Anh ta vẫn đứng lên, vào góc buồng cầm cái ấm nhôm, rót ra cái chén ở chiếc bàn con. Anh ta nhìn tôi từ đầu đến chân, chỉ qua ánh mắt tôi đã thấy anh ta đã đặt vấn đề. Đúng như vậy! Anh ta nhìn ra phía sông, nói một câu:

– Đêm qua, được báo có người vượt biên trốn!

Hơi điếng người, nhưng tôi vờ như chuyện đó, không có liên quan. Tôi cầm chén uống nước, rồi cũng nhìn ra phía sông, như nói với mình:

– Ồ! Chuyện ấy, bây giờ cũng bình thường thôi! Hôm qua họp rồi uống say quá, sáng nay một đồng chí chở tôi trên chiếc Mobylette, chết máy còn đang nằm với xe ngoài lộ. Chân đau tôi bỏ cả dép lại, khát nước và buồn ngủ quá, tôi mò vào đây. Đồng chí có biết sửa xe máy dầu không?

Anh ta quay lại nhìn tôi cười nửa miệng:

– Chắc anh hai đói, và buồn ngủ lắm?

Không gọi tôi là đồng chí, cũng không trả lời câu tôi hỏi, tôi vờ uể oải dựa vào vách, mắt lim dim nói rời rạc:

– Hôm qua . . . . . . .say . . . . . nôn hết . . . . .vừa đói . . . .vừa buồn ngủ!

Anh ta đẩy cửa buồng, không quên cầm khẩu CKC đi vào, nói vọng ra:

– Còn chút bánh canh, tôi mần nóng cho anh hai!

Tôi nói như ngái ngủ:

– Ờ, ờ , xin cảm ơn….đồng chí!

Nói rồi tôi ngả ngay xuống giường nhắm mắt, chừng bẩy, tám phút. Nghe tiếng cánh cửa buồng mở, tôi vẫn nằm yên, mũi thoáng có mùi rượu, rồi đập tay vào chân tôi, anh ta giục:

– Dậy! Anh hai . . . . . . . ăn cho nóng!

Tôi mệt nhọc chống tay bò dậy, có một chén rượu trắng và một tô bánh canh đang khói nghi ngút trên chiếc bàn con. Anh ta đã mặc quần áo chỉnh tề và đeo súng vào vai. Tôi như sáng mắt ra, nhìn tô bánh canh đang nóng, tôi cười với anh ta, rồi cầm chén rượu như đưa lên miệng định uống. Thực ra, để ngửi mùi rượu. Nhà quê trong lúc bất chợt làm gì ra thuốc mê? Nhưng tôi tỏ ý như chợt nhớ ra, để chén rượu ra mé bàn và cầm đũa:

– Hôm qua tại rượu, nôn hết, hôm nay không uống nữa!

Tôi ăn vồ vập, anh ta ngồi nhìn tôi ăn, rồi lại nhìn ra ngoài, về phía trái. Để cho bầu không khí bớt căng, nặng, tôi hỏi như quan tâm:

– Vụ bắp vừa qua, xã nhà thu hoạch, có năng suất không?

Anh ta thủng thẳng:

– Cũng được thôi!

– Miền Nam ta vẫn nổi tiếng cả nước, về thiên nhiên tôm cá. Trữ lượng thủy sản của con ngòi này, tôi vẫn nghe là cao nhất vùng này?

Anh ngồi nhìn tôi vừa ăn vừa hỏi, cái nhìn hơi nhíu nhíu con mắt của anh, như muốn nói với tôi: “Hãy lo thân anh bây giờ đi! Đừng hỏi vớ vẩn nữa!”

Nhưng anh ta vẫn tỏ ra như người hiếu khách:

– Con ghềnh Hào này, cũng như các con ghềnh khác vùng này thôi! Cuối nguồn phía Hộ Phòng, cao hơn phía trên này.

Để phòng hờ lạc hướng, tôi hất hàm ra sông:

– Thế bên kia là xã gì?

Tôi mừng, nắm được biết đây là ghềnh Hào, còn Hộ Phòng ở phía dưới là phía nào? Nhưng chưa tiện hỏi. ăn xong, bát bánh canh nóng, thật là ngon, sau này dù cả ở Mỹ cũng không có bát bánh canh nào ngon bằng (vì trong người đã có đủ chất). Tôi chậm chạp đưa bát đũa ngâm vào chậu nước có bát đĩa ở mé hè, rồi lặc lè lê bước đến mé vách cầm ấm nước, trở lại bàn rót nước uống. Tôi biết anh chẳng bỏ sót một cử chỉ nào của tôi, nhưng tôi vờ như không biết. Tôi cứ lẩm bẩm trong miệng: Ngon quá! Tuyệt quá! Xin cảm ơn. . …đồng chí!

Rồi tôi nằm vật ra tiếp tục ngủ. Chừng năm phút, anh ta đứng dậy nhìn tôi mê mệt gáy gỗ. Anh ta đến khóa cửa buồng, rồi đẩy cửa liếp ra ngoài. Ra ngoài chừng hai ba phút, anh ta lại trở lại, đứng bên ngoài nhìn qua cửa bếp vào chỗ tôi nằm, năm mười giây rồi mới vội vàng ra đi về phía trái.

Tôi bò dậy ngay, nhìn theo, phải chừng 7- 800 mét có một căn nhà con như cái điếm canh, lúc sáng tôi đã đi qua. Khi anh ta đi chừng 500 mét, tôi đẩy cửa liếp đi ra ngoài quan sát. Con sông nước đang lên to, nên có chỗ rộng bẩy, tám chục mét. Nước lên là từ ngoài biển vào, vậy phía dưới Hộ Phòng là phía phải, ngược với chỗ điếm canh. Tôi ra hẳn ngoài nhìn cho kỹ! Chung quanh tất cả trống trơn, sát phía phải bờ sông, có một cái am con, chỉ cao đến cổ người đứng, mỗi bề chừng khoảng tám, chín mươi phân. Từ trên bờ xuống mép nước dốc ngược đến 45 độ, bờ sông toàn sỏi, đá cuội và cát.

Phía trong, có những ruộng bắp (đã thu hoạch), trong nữa là rừng non, từ căn nhà tôi đang đứng vào đến chỗ rừng non cũng hơn 100 mét. Thoáng bóng tên đó từ điếm canh đeo súng đi ra, bóng hai tên nữa ra bắt tay rồi lại vào, tên đeo súng dáng vội vàng trở về căn nhà có tôi.

Tôi suy nghĩ: Từ sau vụ 1978 người Hoa ra đi bán chính thức (nộp vàng, kim cương, tiền). Miền lục tỉnh, CA hiểu những người vượt biên, thường có vàng hay kim cương hoặc dollars. Trước đây chúng bắt được vượt biên, năm, mười tháng hay một năm, tùy theo đút lót chúng sẽ tha. Bây giờ 1979- 80- 81, CA hay du kích tính ăn “mảnh”.

Nếu trường hợp nào đó, chúng vớ được vượt biên, bắt giong về đồn, vừa mất công lại chả được cái gì, nên chúng thường cho đi “mò tôm”, sông rạch miền Nam thiếu gì? Khi đó người vượt biên nộp vàng, nộp tiền chúng cũng giết. Nộp vàng xong, chúng vẫn giết, để khám của giấu đút trong người, và khỏi tố chúng sau này. Không có của đưa cho chúng, cũng bị thủ tiêu để chúng khám trong người (người vượt biên hay giấu của kỹ lắm). Chúng vừa khỏi mất công giong về đồn, chỉ cấp trên hưởng, chứ chúng có chăng chỉ một tờ giấy khen, giải quyết gì?

Tên đeo súng đã về gần tới nơi, tôi nhìn khắp không có chỗ nào ẩn nấp, dù bơi sang bên kia cũng không kịp. Tôi chạy ngay ra chỗ chiếc am, nơi mé sông: nhìn vào chiếc am con, có cái bệ ở giữa, để mỗi bát nhang. Nhang cắm năm, bẩy cái, nhưng đều đã từ lâu, hương tàn khói lạnh. Một người không thể chui vừa vào trong am.

Trời nắng chang chang, khoảng 1- 2 giờ trưa. Tên đeo súng, đẩy cửa liếp vào nhà, chừng 30 giây, chắc nó tưởng tôi chui rúc trong nhà nên sục sạo. Y xô, dập mạnh cánh cửa liếp chạy ra ngoài, ngơ ngác nhìn khắp chung quanh. Y đoán với thời gian, tôi không thể bơi sang sông, dù vậy y cũng chạy ra nhìn dọc theo dòng nước mênh mông, đang chảy cuồn cuộn. Chỉ có một cái am con độc nhất ở mé sông, y cũng chạy ra nhìn, rồi thò cổ ngó phía sau am, cũng không có. Y lại chạy ra phía bên kia nhìn cả ra sau chiếc am, cũng không người.

Chẳng lẽ một người có thể biến? Cho nên y chắc, chỉ còn một cách duy nhất, là đã chạy vào trong rừng! Vì đinh ninh như thế, y chạy vội về điếm canh, thổi còi để báo anh em (trước đây định ăn riêng, ăn mảnh). Y cũng quỷ quái, cứ chạy được một tí, y lại quay người lại. Nhưng nếu y biết được rằng, một người muốn quay đầu lại thì cái lưng, cái vai đã báo trước rồi. Vì thế y quay lại nhiều lần không thấy gì, cũng như khi nãy rõ ràng y đã nhìn bên này cái am, lại chạy ra nhìn phía kia cái am, mà cũng không thấy ai.

Ai đã từng khi bé chơi “ú tim” trốn tìm mà phải nhanh như máy thì, đều hiểu. Cái chính là bất ngờ, và chủ quan coi thường đối tượng, chứ nếu y cứ chạy hết cả chung quanh cái am, thì tôi sẽ lòi mặt chuột ra thôi. Lúc ấy tôi phải có “vỏ bọc” tại sao ra đấy làm gì? Thừa sức để trả lời: như cầu khấn, lễ bái hay tìm chỗ giải quyết đại tiện, sau khi ăn v.v. . . Tóm lại thời gian y về gọi mấy tên du kích, thì tôi đã lẻn vào rừng non, dù y có biết cũng không đuổi kịp. Y nhanh, tôi cũng nhanh, mà tôi lại chạy trước y hàng chục phút.

Trước khi mấy tên đuổi vào rừng, cũng ra vẻ áp đảo tinh thần người chạy trốn, chúng bắn hai phát CKC vào rừng. Nhưng như tôi đã nói ở trên, tôi đã có một chút kinh nghiệm lặn lội ngoài Bắc với những bậc thầy của chúng rồi, nên làm sao chúng tìm được? Có chăng, là sự may rủi trong cuộc đời này, mà thôi!

Ngoài Bắc là phòng phản gián, những người đã được đào tạo có nghiệp vụ, những đồng chí du kích thì làm gì đã có nghiệp vụ? Chỉ là cái tinh khôn của tự nhiên mỗi người. Qua suy đoán, tên du kích đã đọc “Thép Đã Tôi Thế Đấy” và vài hiện tượng, chắc y cũng là một cấp chỉ huy của du kích? Y cũng không phải là không quái, khi nãy tôi đã cố ý đánh lạc hướng hỏi thăm cái xã bên kia sông. Vậy mà y cứ chú ý vào khu rừng non, nhưng ít ra y cũng đánh giá tôi chậm chạp, hơi lù đù v.v. . .

Phải nói tôi cũng rất vất vả chạy bán sống bán chết, ở trong rừng có nhiều chà-nà, chân tôi bị gai đâm mấy lần. Những cái nào rút ra được thì thôi, cái gai nào gẫy bên trong thì đành để vậy. Tôi hiểu cái kiếp sống của con người, chỉ cần sai chuyển một chút, thì cuộc đời đã hoàn toàn khác hẳn trong tương lai. Chỉ một vài giây thế này, thế kia đã thay đổi hẳn cả cuộc đời.

Đêm khuya hôm ấy tôi đã về đến Hộ Phòng, là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Minh Hải, mỗi ngày chỉ có một chuyến ca – nô chạy khách về thị xã Bạc Liêu do nước triều. Về tới Hộ Phòng vừa mệt vừa đói, tôi vào một hàng cơm, chân vẫn đau đi lặc lè vì gai (bây giờ lặc lè thật). Gọi một đĩa cơm thịt bò, ăn một tí đã sạch đĩa.

Tôi gọi một đĩa nữa, cô bé chừng 14 – 15 tuổi cứ nhìn tôi mãi, tôi ngạc nhiên với cái nhìn của cô, nhưng khi cô ta vào trong gặp bà má ở dưới bếp, thì tôi đã hiểu. Con người của tôi lúc đó vừa xanh xao, lôi thôi, lếch thếch, quần ngắn không giầy dép, mà lại ăn khác thường. Cô bé sợ là dân đói rách, ăn mày, ăn xin không có tiền trả, gọi đĩa cơm đầu cô ta đã ngần ngại rồi.

Tôi ăn như máy, lại gọi nữa thì làm sao cô ta không nghi ngờ? Tôi hiểu vậy, nên tôi lặc lè tiến xuống bếp gặp luôn bà má. Tôi nhã nhặn:

– Thưa chị Hai, tôi bị lỡ độ đường! Tôi bị lừa, hiện nay giá vàng bao nhiêu? Tôi có cái nhẫn hai chỉ?

Chị đó chừng 45 tuổi, ngẩng lên nhìn tôi chắc để thẩm định. Mắt của chị như được tráng lên một cái mầu xanh nâu, cái mầu của tha nhân, hòa hợp nghĩa tình, chị nói như chia xẻ:

– Bây giờ họ lừa lọc nhiều lắm? Những tháng trước nhiều người mất hết cả tiền, lang thang ngoài bến bãi! Vàng hôm nay 400 một lượng.

Chị vừa nói vừa cầm chiếc nhẫn tôi đưa, vừa hất hàm cho cô con gái làm đĩa cơm tiếp. Tôi hỏi chị ngay, thích ứng kịp thời:

– Một đĩa cơm mấy đồng hả chị Hai?

Chị đã nói liền là “hai đồng”.

Như thế, tôi chả phải rụt rè với cái bụng nữa. Khi cô bé đem đĩa cơm đến, tôi nhìn cô, mắt tôi hơi nhay nháy như muốn nói với cô bé: “Đừng thấy bộ quần áo đẹp mà ham!”

Chẳng hiểu cô có hiểu ý tôi không, cô lại đỏ mặt lên ngượng nghịu! Để thưởng công đã thoát được một “ca” may mắn! Tôi quay lại vẫy cô bé, nói nho nhỏ:

– Cho tôi một ly nước chanh đá!

Trước khi đi, cô bé còn quay lại nhìn tôi vài giây, như muốn bảo: “Lại còn dám gọi cả nước chanh nữa!”

Tôi chỉ mỉm cười, rồi gật gật. Khi chị Hai ra tính tiền, để tôi rời quán, chị đưa cho tôi 75 đồng. Tôi ngạc nhiên:

– Sao chị lại đưa nhiều thế?

Chị cười nói:

– Tôi trả cậu như ngoài tiệm, mà không phải trả tiền công nhẫn.

Chị đã đeo chiếc nhẫn vừa vào ngón giữa. Ngoài ra, tôi còn hỏi chị được nhiều điều, về những chặng đường, từ Hộ Phòng về Sài Gòn.

Đến Bạc Liêu, phải đi xe lôi đến bến xe đi Cần Thơ, rồi về Bắc Mỹ Thuận. Trên đường đi cũng nhiều cảnh, nhiều người và cũng nhiều tình huống, nhưng xin quý độc giả cho qua.

Tới Bắc Mỹ Thuận trời đã bốn năm giờ chiều, trước đây chỉ nhìn thấy trên bản đồ, bây giờ dòng sông Cửu, đã ở ngay trước mặt tôi. Tôi có ngờ đâu, nó lai rộng như thế, tôi cứ hình dung tường cũng như con sông Đáy, của dòng sông Hồng Hà ngoài Bắc, mà tôi đã quen thuộc.

Đúng là trên bến dưới phà, thật là tấp nập, người thì đông. Nhìn những anh chàng mặc đồng phục xanh, các cậu khoác trên cánh tay chiếc băng đỏ, chạy lăng xăng miệng nhai nhồm nhoàm, khách ngược xuôi trên xe dưới đường, hầu hết đều đăm chiêu, tư lự. Những cảnh bán mua, những tấm mía hoặc trái cây, cá biệt có con gà, con vịt thì lấm lét chụp giựt, nói lên những cảnh sống lam lũ, chạy vạy tơi tả ngược xuôi của miền trù phú nổi tiếng. Một cái vựa lúa khổng lồ của Đông Nam Châu Á. Không hiểu trước đây, khi VC chưa cướp trắng trợn được miền Nam, thì có cảnh như thế này không?

Có chăng chỉ có trời thì vẫn chẳng hề đổi thay. Đứng từ chiếc phà giữa dòng nước đục ngầu, mang những mầu mỡ từ Tây Tạng, Trung Quốc, Lào và chút ít của Cao Miên, về vun đắp cho miền đồng bằng này thêm phì nhiêu. Đã từ lâu tôi vẫn có ấn tượng trời là một chiếc vung khổng lồ, mầu xanh lam úp xuống trái đất này. Vì vậy, có lần nhìn những đám mây trắng nõn nà đây đó một vài cụm, tôi đã tưởng, nếu tôi ở gần tôi sẽ nhặt nốt mấy búi bông con con đó, cho cái mầu xanh “ái ân” ấy, nó đã đầy và cho thiên hạ cũng đã đầy, mà mình có mất cái quái gì đâu.

Hơi đặc biệt hôm nay, nắng chiều đã xiên khoai, đứng trên tầng phà cao, trời lặng gió. Nhìn những làn sóng lăn tăn, từ mãi phía bờ tây xa tắp. Nước nhấp nháy, lóng lánh do ánh chiều, tưởng như những chiếc vảy bạc, của cổ một con rồng khổng lồ, có chín cái đầu.

Tôi cứ mẩn mê quê hương với rồng tiên, phà đã sang bờ lúc nào. Chân đã bước lên bờ, mà đầu tôi còn ngoảnh lại, tiếc nuối nhìn một cái cảnh mà rồi đây, tôi không còn thể nhìn thấy nữa. Một câu hát lê thê, nỉ non rúc vào tai tôi, làm cho tôi đờ cả người ra:

 Nếu con không về….chắc mẹ…..buồn lắm…..!

Một tiếng hát khác nữa, ở trong đáy tâm tưởng của tôi, tự bật lại:

 Nhưng nếu con ……. về … …chắc mẹ …….còn buồn hơn…..!

Tôi chen lấn đám đông, dõi theo tiếng hát lúc này đã khè khè, như chiếc bễ lò rèn hết hơi. Kia rồi! Tôi không tin ở con mắt của tôi! Một anh mặc chiếc áo “treillis” đã cũ rách, đội chiếc mũ nồi mầu đỏ, đã trở thành nâu sậm, cả đôi chân của anh bị cụt sát háng. Anh nằm sấp trên một miếng gỗ, phía dưới lồi ra mấy cục. Hai tay của anh có hai miếng da trâu khô, anh di chuyển bằng hai cánh tay đó.

Anh chừng 42- 43 tuổi, khuôn mặt khắc khổ, cái môi dưới của anh bị mất một miếng, thành ra tiếng hát của anh tưởng rằng hết hơi. Anh chẳng xin ai, mọi người qua lại như không nhìn thấy anh. Thỉnh thoảng anh ngừng di chuyển, rồi cái giọng bi ai hổn hển lại cất lên được mấy câu:

Anh ra ….đi ……..trong một chiều … …sương ….âm …u…. !

Tôi cứ theo anh, nhìn anh xoay xở, tâm tư của tôi cởi ra, rồi lại buộc vào, với những tiếng thở dài không nín được. Tôi nhìn xuống đôi chân đất khập khiễng, vì đau và chiếc quần đùi mầu nâu non, đã phai và bẩn thành mầu bí ngô chín nửa chừng của tôi Tôi thò tay vào túi cố lựa ở trước quán cơm. Anh lại ngửng lên nhìn tôi, đôi con ngươi của anh, nắng nhạt buổi chiều làm xám lại như mầu hạt dẻ, cái mầu của nhiều đêm ngày vặn vò cắn xé trái tim anh. Tôi hỏi vội một câu, không cần lắm câu trả lời:

– Chân anh bị cụt lâu chưa?

– Em ở tiểu đoàn I dù, bị thương ở Cổ Thành Quảng Trị 72.

Choáng người, tôi lại hỏi vội một câu nữa:

– Có biết Đỗ Văn Tân không?

– Ở khóa 10 Thủ Đức, em ở khóa 26.

Anh lơ xe đã vời gọi khách, xe chuyển bánh, tôi rút ở túi quần còn 54 đồng rưỡi. Tôi không có gan đưa hết cho anh, tôi chia đôi, tôi lấy 27 đồng, đút cả vào chiếc gáo vỡ, bắt lẹ được tay anh! Tôi nói được một câu cuối:

– Cố gắng chịu đựng!

Tôi vội lên xe đò dù nhiều lúc phải nghiến răng vì cái chân bị nhói buốt! Tới lúc xe đò đã chạy, tôi mới trách mình sao lại không hỏi tên? . . . . . . . .Nhưng tôi lại nghĩ: hỏi để làm gì? Chính mình còn đang quay cuồng trong gió bão của quê hương, biết lúc nào rụng rơi?

Chuyện Xóm Tôi

Đỗ Trường 

01/07/2019

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Ảnh mang tính minh họa

Phần 1: Cuộc Gặp Bất Ngờ.

Trung tuần tháng sáu, cái nắng đã kéo nhiệt độ ngoài trời lên đến gần ba mươi độ. Praha như được dát vàng một màu, dưới bầu trời cao xanh thăm thẳm. Họa sỹ Quốc Việt mới từ Việt Nam sang nhìn hàn thử biểu giữa Quảng trường Con ngựa, cười tươi, hỏi bâng quơ: Kỳ lạ, ba mươi độ đi bộ giữa trời, mà gió cứ mát rười rượi ấy nhỉ? Đứng cạnh, nhưng tôi không trả lời, để anh tự cảm nhận. Rồi đưa anh một vòng quanh trung tâm thành phố. Trời đã về chiều, ánh nắng vẫn còn hắt ngược lên từ phía bên kia của con sông Vltava. Mới có mấy ngày, vậy mà dường như họa sĩ Quốc Việt đã nhớ đến quê nhà. Do vậy, sau khi tự xoa gối, bóp chân, anh bảo: Mình kiếm chỗ nào có không khí Việt, nhấc lên nhấc xuống tí ti cho khí thế. Vậy thì, chỉ có vào chợ Sapa thôi. Tôi trả lời anh như vậy. Quốc Việt đứng thẳng dậy, dù chân còn chút khập khiễng, vẫn: Nào ta đi.

Tôi không khoái lắm cái món ồn ào nơi đông người, nên rất ít khi vào khu chợ người Việt. Quốc Việt cũng không phải là người của rượu bia, có lẽ muốn vào cho đỡ nhớ quê, món ăn quê và để biết vậy thôi. Chả trách, mấy năm trước đây ông bạn bác sĩ Viên Văn Đoan, Trưởng khoa khám bệnh, Bệnh viện Bạch Mai, và vợ chồng Nguyễn Lân Việt, Hiệu trưởng Đại học Y khoa Hà Nội sang München dự hội nghị tim mạch thế giới có mấy ngày thôi. Vậy mà bố nào bố nấy Vali đầy mì tôm, cùng đồ ăn mắm muối tỏi hành. Như thể gói cả hương hồn Việt mang theo vậy. Cũng may, cạnh khách sạn có cái quán cơm phở mở từ sáng cho đến đêm của vợ chồng Dũng Yến, cũng bạn tôi. Vậy là, các bác sĩ, hội nghị viên không phải dùng đến cái khoản mì tôm. Hôm tôi sang, các bố chất cả mì tôm vào cốp xe của tôi, bảo: Ngon, quí lắm đấy, mang về ăn dần nhé…Khổ cái thân tôi mang về cũng dở, vứt đi thì tiếc. Bởi, cái món này, tôi cứ động vào là bị lão Tào rượt đuổi. Do vậy, cái tâm trạng của họa sĩ Quốc Việt có thể hiểu, và cảm thông. Bởi, cũng giống như mấy gã bác sĩ đi dự hội nghị, hay tâm lý ngày đầu đến Đức của tôi, từ trên ba chục năm trước vậy. Nên tôi chiều anh.

Chợ Sapa chiều tối, quán, nhà hàng, người ngồi ăn nhậu khá đông. Không khí y hệt nơi quê nhà làm Quốc Việt hứng khởi. Giữa trời Âu mà có không gian này, thật là tuyệt vời, Quốc Việt cứ lẩm bẩm, lẩm bẩm. Tôi ghé tai, sống lâu ở nơi đây, bác sẽ chán ngấy cái không khí này thôi. Quốc Việt im lặng. Anh không uống được nhiều. Tôi phải lái xe, nên chỉ giật cầm chừng vài vại nhỏ, rồi chuyển sang bia không độ cồn. Chán phè, tôi giục Quốc Việt cạn nhanh, rồi đi tìm mua mấy cái quần shorts để thay, bởi quần dài, áo hộp bí bức qúa rồi.

Tôi đang lúi húi ướm thử quần, bởi dường như nhãn mác, số cỡ dán đều đểu cả, chợt gã bán hàng gọi như reo lên: Anh Trường…Trường Độ. (Độ tên mẹ tôi)

Giữa trời tây, có kẻ réo đúng tên cúng cơm làm tôi giật cả mình, ngẩng đầu lên. Nhìn hắn một lúc, tôi cũng thốt lên: Tiến…Tiến Vân (Vân tên mẹ Tiến). Hắn ôm chặt lấy tôi, vậy là ba mươi mấy năm rồi, anh em mình vẫn còn nhận ra nhau. Tiến bằng tuổi em gái út tôi. Khi tôi sang Đức hắn và em tôi đang học cùng Trường cấp ba Lê Qúi Đôn ở Xã Đàn. Nhà tôi số 124 Đê La Thành (Ô Chợ Dừa) bên kia mặt đê là nhà Tiến…

Nhớ trước hôm sang Đức mấy tháng, tôi vừa chở một mớ đầu máy khâu từ Hải Phòng về, nghe tiếng bà Vân quát mắng Tiến ầm ĩ… Xóm Trại Tóc, với Trại Nhãn đồng nát, ve chai này, đánh chửi, đâm chém nhau là chuyện thường. Nếu có can ngăn, thì can ngăn cả ngày. Nhưng Tiến lớn lên và cùng học với em tôi, nên tôi lò dò sang. Thấy tôi, bà Vân ngừng chửi. Tiến nằm úp mặt vào tường. Tôi mấy lần lay hỏi, hắn vẫn không trả lời. Tiếng bà Vân rít lên trong kẽ chân răng:

– Cháu xem, nó có chịu học hành gì đâu, đến trường toàn tụ tập đánh nhau. Nhà trường gọi cô đến, thông báo sẽ đuổi học đấy.

– Sẽ đuổi, tức là chưa có quyết định đuổi phải không ạ?

– Vậy là người ta đuổi rồi chứ còn gì nữa hả cháu.

– Thôi cô cứ bình tĩnh, đừng mắng chửi nó nữa. Cháu vào trường hỏi xem thế nào đã.

Tôi quen cô Hạnh từ gã bạn Viên Văn Đoan, bác sĩ ở Bệnh viện Bạch Mai. Cô Hạnh ở Láng, dạy văn ở Trường trung học Lê Qúi Đôn. Năm ấy, cô cũng gần đến tuổi về hưu. Từ cô, tôi cũng quen nhiều thày cô ở trường Lê Qúi Đôn. Bởi, với đồng lương chết đói, ngày đó, ai cũng phải tìm thêm việc làm. Nghề may gia công thích hợp với mọi gia đình, nhất là các thày cô giáo. Do vậy, các thày cô hay nhờ tôi mua bán, sửa chữa máy khâu khi cần. Hơn nữa, các thày cô ở trường quí và thân thiết với tôi, bởi cái gã buôn lậu máy khâu như tôi, động đến văn học sử, cái chó gì cũng biết. Khi hứng lên, chuyện trò, hoặc tranh luận, đôi lúc các thày cô bị hạt bí, cười kết thúc bằng câu: Thằng ranh ma.

Khi tôi đến, cô Hạnh đang lững thững dắt xe ra cổng. Nhìn thấy tôi, cô cười, sao hôm nay rảnh rỗi thế này? Tôi hỏi cô về sự việc của Tiến. Cô trả lời, không chủ nhiệm lớp Tiến, nên không biết cụ thể thế nào. Tuy nhiên, cô dẫn tôi vào phòng giáo vụ. Cũng may, mấy thày cô ở đó, đều dính vào may hàng gia công, liên quan đến máy khâu, chỗ tôi quen cả, nên vui vẻ cho biết: Vụ việc không nghiêm trọng, nhưng xảy ra nhiều lần, từ mâu thuẫn của các khu, nhóm học sinh. Nhà trường nhiều lần nhắc nhở, cảnh cáo, song không hề chuyển biến. Tôi nhắc lại hoàn cảnh khó khăn của gia đình Tiến, mong các thày cô giúp em được tiếp tục học hành. Nghe bùi tai, các thày cô hứa sẽ giúp… Lúc tôi ra về, các thày bảo, Tiến và gia đình nên làm bản cam đoan, không để sự việc tiếp diễn, để nhà trường có cơ sở xử lý, kỷ luật. Và nhắc Tiến cứ đi học bình thường.

Tôi về, nói lại với Tiến và bà Vân. Bà mừng lắm: Thế cháu viết giúp cho cô và em bản cam kết nhé!

Tôi chuồn sang Đức được mấy năm, mẹ tôi chuyển về ở đường Tàu Bay. Hơn ba chục năm lưu lạc trời Âu, tôi chỉ về nước khi mẹ mất, và lúc sang cát. Và lần gần đây nhất, năm 2015 về Hà Nội được hơn một tuần, tôi buộc phải rời khỏi Việt Nam. Do vậy, tôi không có thời gian trở về cái xóm đồng nát, ve chai, dù ngôi nhà của chúng tôi chưa hề đổi chủ. Cái xóm, nghe tên, tưởng chừng ai cũng phải kinh sợ ấy, gắn liền với một phần tuổi thơ, và sự trưởng thành của tôi thực sự rất ấm tình người. Trải qua bao biến động, với những mở đường, qui hoạch bát nháo, vô tội vạ, song rất may mắn xóm tôi, người xóm tôi vẫn còn đó…

Tiếng hỏi của khách mua hàng cắt ngang dòng hồi tưởng của Tiến và tôi. Chọn được chiếc quần vừa khít cho họa sĩ Quốc Việt, tôi bảo Tiến: Cứ việc chăm sóc khách hàng. Anh phải đưa Quốc Việt về khách sạn, rồi sẽ quay lại ngay. Bởi, sáng mai anh Quốc Việt đi Wien sớm. Tiến cười khà khà, kiểu gì em cũng chờ anh.

Khi tôi quay lại, thành phố đã lên đèn. Các quầy hàng hầu như đã đóng cửa. Chỉ các quán ăn vẫn còn khí thế, tưng bừng. Tiến đứng chờ tôi ở ngay cửa kho. Vừa xuống xe, hắn đã kéo tôi vào một nhà hàng ngay trước mặt, khá đông khách và ồn ào. Tôi bảo, tuổi này ăn uống cũng phải nhìn trước ngó sau rồi, tốt nhất em kiếm chỗ nào yên tĩnh một chút, anh em mình còn chuyện trò được. Tiến vòng ra sau, đưa tôi vào Hồ Sen Quán. Ngoài balkon khá đông khách, nhưng bên trong Hồ Sen Quán còn một khu có khoảng không khá tĩnh lặng. Ngồi vào bàn, chợt làm tôi nhớ đến mấy năm trước. Cũng nơi này, rượu bia đã tưng tửng, nhà thơ Trần Mạnh Hảo (Saigon) và nhà văn Trần Ngọc Tuấn (Praha) đọc thơ cứ như lên đồng vậy. Các thính giả sồn sồn nhập tâm, khoái cười cứ phe phé. Còn các cháu ú ớ tiếng Việt thụt ra, thụt vào ở cửa sau, cứ ngỡ hai bác đang lên cơn động kinh. Tôi ngồi nghe, quả thực, phục trí nhớ của hai ông nhà thơ, nhà văn này.

Vừa ngồi, chưa kịp gọi đồ nhậu, Tiến đã ực liền tù tì mấy ly rượu mạnh kèm bia. Nhìn kiểu uống, tôi biết tửu lượng hắn vào dạng cao thủ. Tôi bảo, chơi kiểu này, chút nữa làm sao về. Hắn cười: Không được, thì Taxi thôi. Mấy khi anh em mình có dịp như thế này.

Rượu vào lời ra, nhắc lại với nhau những kỷ niệm về gia đình, xóm giềng, làm cho tôi, một kẻ đường trở về nhà, về quê cứ còn xa vời vợi, càng thêm buồn, đành phải cắt ngang câu chuyện:

-Này Tiến, em có gian hàng ở chợ Sapa này từ khi nào vậy?

Tiến cười:

-Trước đây là của em. Nhưng từ ngày lấy bà vợ hai, và chuyển về Decín vùng biên Séc – Đức, em cho vợ chồng cháu gái đầu anh ạ.

-Đường tơ của thằng em giăng cũng dầy ra phết đấy nhỉ! Thế thì bà vợ cả đâu? Tôi cười đùa, ngạc nhiên và hỏi.

-Bị bệnh mất lâu rồi. Hạ (tên vợ em) mất được mấy năm, em mới lấy vợ khác. Tuần này, vợ chồng cháu đi nghỉ hè, em về trông hàng giúp nó thôi.

-Em có mấy cháu với Hạ?

Tiến ngập ngừng, hai mắt chớp chớp, nhìn ra khoảng trống trước mặt:

-Thật ra, cháu gái đầu không phải con ruột của em. Với Hạ, em chỉ có một cháu trai, hiện đang học năm cuối Đại học kỹ thuật Praha.

– Nghĩa là trước em, Hạ đã có một đời chồng?

Không trả lời tôi ngay, mặt hắn chùng xuống, cục yết hầu căng lên, lăn đi lăn lại. Hắn lắc lắc cái đầu cho xuôi cục nước, dường như đang chẹn ngang họng:

-Không phải! Chúng em quen, yêu nhau từ thuở trung học. Hạ là em họ bên vợ của Nguyễn Đức Thịnh cảnh sát khu vực, thuộc tổ khối nhà mình. Sau vụ ôm thằng giựt lựu đạn liều chết trong xóm, Thịnh được phong anh hùng, lên Trưởng công an phường Ô Chợ Dừa. Mấy năm sau, không rõ dính vào vụ gì, Thịnh bị tước quân tịch đuổi về địa phương. Chắc anh còn nhớ?

-Nguyễn Đức Thịnh thì nhớ. Còn sự việc Hạ thế nào, em có thể nói rõ hơn chăng?

-Quá khứ, và nỗi đau đã chôn vùi từ mấy chục năm trước. Nếu anh muốn biết, thì sự việc phải khơi lại từ đầu…

Qúa nửa đêm, máy bay đáp xuống phi trường Moscow. Nhóm người vượt biên dưới danh nghĩa tham dự Hội chợ nông nghiệp đang ngáo ngơ nơi cửa ra, chiếc xe thùng từ đâu trờ tới. Một gã trung niên dáng vẻ trí thức, cử chỉ nhã nhặn mở cửa xe, mời mọi người lên. Xe quay đầu, lao nhanh về phía ngoại ô. Tháng 4, trời chớm bước sang hạ. Cỏ cây cựa mình thức dậy, trải một màu xanh ngút tầm mắt người. Con đường cứ thấy dài hun hút, gục đầu vào vai Tiến, bất chợt nghĩ đến căn nhà bố mẹ thế chấp, đặt cược cho chuyến đi làm Hạ rùng mình.

Xe dừng lại trước cửa căn nhà cuối cùng của ngôi làng nhỏ. Nơi đây khá đẹp và yên tĩnh. Có lẽ, nghe tiếng xe, người đàn bà tập tễnh ra mở cửa. Căn nhà cũ, nhưng khá sạch sẽ. Trước khi vào nhà, gã đàn ông thu tất cả hộ chiếu và bảo:

-Công đoạn và trách nhiệm đưa người sang đến Nga của chúng tôi đã xong. Còn đến Ukraine và Slowakia thuộc đường dây khác. Tất nhiên, chúng tôi sẽ lo ăn uống, nhà cửa đến khi nào có xe đến đón mọi người.

Đêm đầu, chẳng ai ngủ được, quây quần cả bên chị cụt chân. Trò chuyện mới biết chị tên Dung quê ở Thanh Hóa. Đất đai, ruộng vườn nhà chị bị thu hồi để làm nhà máy xi măng, hay phân bón gì đó. Tiền đền bù rẻ như bèo, việc làm không có, chị đành tạm biệt chồng con tìm đường xuất ngoại. Chị ngập ngừng kể trong nước nước mắt. Chị sang Nga vào mùa đông. Một mùa đông có thể rét nhất châu Âu từ mấy chục năm qua. Con đường vượt qua rừng tuyết, suối tuyết, rồi đến những đồng tuyết từ Ukraine sang biên giới Slowakia kéo dài đến mấy tuần. Lạnh đến nỗi chân chị không còn cảm giác. Vậy mà, vào đến biên giới Slowakia, bị lính biên phòng phát hiện, truy đuổi. Chị và một số người bị bắt. Khi đưa chị đi khám, bác sĩ mới phát hiện một bàn chân của chị đã bị đóng đá. Họ buộc phải lập tức cắt bỏ. Ở bệnh viện nghỉ ngơi, an dưỡng, tập đi một thời gian, chị bị trục xuất trở lại Ukraine, rồi về đến Nga. Con đường chết chị đã tìm đến, nhưng không hiểu sao chị vẫn sống. Đang lúc nửa sống, nửa chết như vậy, chị gặp được một người cùng làng, cựu du học sinh. Gã tận tình giúp, và gửi chị cho đường dây quen biết này. Công việc của chị nấu nướng, giặt giũ, vệ sinh dọn dẹp và tập luyện phục chờ đến hè nắng ấm. Tiệp, Đức vẫn là nơi đến của chị…

Mấy chục con người được lùa vào chiếc xe thùng kín mít. Ngày cũng như đêm xe chạy không ngừng nghỉ. Khi đến được vùng biên Ukraine và Slowakia, to khỏe như Tiến mà mặt cũng xanh như đít nhái, cắt không ra giọt máu. Phụ nữ trên xe dường như chỉ còn thoi thóp thở. Sức khỏe có thể hồi phục sau vài ngày nghỉ ngơi. Nhưng điều kinh sợ hơn đối với những thân phận khốn khổ đang trốn chạy trước sự đểu cáng, tàn nhẫn của kẻ dẫn đường có cùng chung một giống nòi và quê hương. Đã được chị Dung cụt, và những người đi trước cảnh báo sự nguy hiểm của chặng đường này. Do vậy, cũng như những người đồng hành, Tiến và Hạ luôn trong tâm trạng phập phồng, lo sợ.

Tháng 5, màn đêm buông xuống dường như chậm hơn. Giữa rừng già, trời không khô nóng như ở nơi quê nhà, song mấy chục con người lèn trong một căn nhà, thì quả thực vô cùng ngột ngạt. Đàn ông, con trai nằm tràn cả ra hành lang và khoảng sân trước cửa. Gần sáng, trời dịu mát, tất cả chìm sâu vào trong giấc ngủ… Bất chợt, tiếng kêu thét của Hạ, và mấy cô gái trẻ làm cho Tiến mọi người giật mình, bật dậy. Trời còn tối, loang loáng dưới ánh đèn Pin, Tiến nhìn thấy, cửa sau đã bị bật mở. Bốn, năm thằng đang ghì kéo Hạ và hai cô gái bên cạnh.

-Các ông làm gì thế này? Tiếng ai đó giật hỏi.

– Đưa đi phục vụ sếp.

– Các ông là người dẫn đường, hay kẻ cướp hiếp dâm?

Nói hết câu, Tiến trườn lên, giật Hạ ra khỏi tay gã cầm đèn Pin. Gã xoay người đạp mạnh. Bị trúng bụng Tiến ngã đè lên mấy người nằm phía sau. Chưa cảm thấy đau, Tiến vùng dậy, lao thẳng vào. Gã cầm đèn bị ngã bổ ngửa ra phía sau, làm chiếc đèn Pin văng trúng vào mặt tên đứng bên cạnh. Bị đau, hắn vội thả tay cô gái, ôm mặt, ngồi thụp xuống. Gã cầm đèn bò dậy, vừa rút súng trong bụng, Tiến cua được cái then gài cửa quật đúng vào tay. Súng rơi xuống đất. Ba, bốn tên đồng bọn đều rút súng chĩa thẳng vào Tiến, và mấy người đứng cạnh. Thấy vậy, mọi người đều bỏ chạy ra rừng, chỉ còn lại Hạ và hai cô gái. Tiến không bị bắn chết, nhưng gẫy mất mấy cái xương sườn, sau một trận trả thù hội đồng, trong tiếng khóc van xin của Hạ…

Trời sáng hẳn, mọi người mới quay trở về. Trong nhà chỉ còn mình Tiến nằm bất động ở cửa sau. Được mọi người chăm sóc, lúc sau Tiến đã tỉnh lại. Với những vết thương này, Tiến không thể bình phục trong vài ba tháng tới. Vậy là con đường đi của Tiến càng kéo dài thêm. Tuy nhiên, với Tiến lúc này, không phải sức khỏe của mình, mà thân thể bị giày vò, tâm hồn đau đớn của Hạ mới là quan trọng nhất.

Đến trưa, chúng chở thực phẩm cùng Hạ và hai cô gái về. Nhìn các cô tơi tả, rũ như tàu lá, ai cũng thương cảm. Và như không có việc gì xảy ra, lũ đầu trâu mặt ngựa thảy mấy hộp thuốc giảm đau vào người Tiến:

-Mày chưa chết được đâu. Uống đi cho mau lành, nhắm mắt lại, đừng làm những chuyện bao đồng, dại dột nữa. Gia đình đang trông ngóng mày đấy…

Hạ buộc phải ở lại phục vụ bọn đầu trâu mặt ngựa, và chăm sóc Tiến. Để vượt qua được nỗi đau, sự tủi nhục ấy, quả thật nhiều lúc tưởng như quá sức chịu đựng của họ. Khi khỏe trở lại, Tiến có ý định trả thù, song đều bị Hạ can ngăn. Mùa thu năm ấy, Hạ và Tiến được bọn chúng bố trí vượt vào Slowakei, rồi đến Praha trót lọt.

Tiến không bất ngờ, khi bác sĩ thông báo Hạ đã mang thai. Và cái thai quá lớn không thể nạo bỏ. Không loại bỏ được mầm sống này, nghĩa là nỗi đau, nỗi ám ánh mãi mãi không thể cắt bỏ trong lòng Tiến cũng như Hạ.

Ra đi, hay ở lại với Hạ? Tuy không nói ra, song sự mâu thuẫn luôn day dứt trong lòng Tiến. Rồi tiếng trống tựu trường, với những kỷ niệm thuở học trò hồn nhiên và bao dung đã kéo Tiến ở lại với Hạ.

Mấy chục năm từ làm thuê cho đến tự hàng nghề, Tiến và Hạ mới có cơ ngơi như ngày nay…

Hồ Sen Quán dường như đã đến giờ đóng cửa, tôi buộc cắt ngang dòng suy nghĩ của Tiến:

-Anh phục tấm lòng độ lượng, bao dung của thằng em!

Tiến nói như thể phân bua:

-Cũng không hẳn như vậy đâu. Khi Hạ đột ngột bị bệnh mất, em mới nhận ra, quyết định của mình là đúng. Và sự bao dung, yêu mến hết lòng của em với cháu đầu, chỉ từ khi Hạ mất. Trước đây, mỗi lần chỉ cần va chạm nhỏ với Hạ, nhìn thấy cháu, trong lòng em lại nhói lên, chỉ muốn đạp đổ tất cả, rồi ra đi anh ạ…

Đêm muộn, vậy mà ngoài kia trời vẫn còn sáng đục. Dường như, có một vệt nắng cuối ngày không chịu tắt, còn nằm vắt qua bầu trời. Như một sự đồng cảm, tôi đứng dậy, bóp nhẹ vào vai Tiến để ra xe:

-Anh tin, những mâu thuẫn trong nội tâm của em về người đàn bà mà mình yêu thương. Đó là suy nghĩ rất thực của mỗi một con người, trong một cái xã hội đầy rẫy những bon chen, tính toán và lọc lừa này. Anh nghĩ, có rất ít thằng đàn ông vượt qua được những định kiến, rào cản, để làm được như em.

Leipzig ngày 30-6-2019

Đỗ trường

Cái Bẫy

Đỗ Trường

08/08/2019

Post by Sơn trâu 5 Nov 2023

Cái Bẫy

Đỗ Trường

08/08/2019

Đã lâu lắm rồi, châu Âu mới có một mùa hè nắng và nóng đến vậy. Trời đã vào đêm, vậy mà dường như, hơi nước bốc lên từ con đường Beton vẫn còn những vệt mờ mờ xuyên qua khung cửa kính trước mặt. Cửa ra của sân bay Leipzig đã vắng người. Nguyễn Bình An có vẻ sốt ruột, kiễng chân, nhoài người, nhòm vào phía trong, văng tục:

-Thằng bỏ mẹ này, có lẽ mang hàng lậu, tiền bẩn bị Hải quan, Công an tóm cổ lại thật rồi.

Từ phía sau, tôi nói vọng lên trấn an:

-Nếu quả vậy, thì nó đã bị tóm ở phi trường Paris, London, chứ đâu đến lượt cái sân bay tỉnh lẻ này. Cái loại quái thai, quyền lực nghiêng ngả, lắm của, nhiều tiền như nó, thiếu gì kẻ đóng thay chết thế. Tội gì, nó phải làm như vậy.

An quay lại, ngồi xuống cạnh tôi lẩm bẩm:

-Thằng này, đâu chỉ có mấy cái tội đó. Những mưu mô, cạm bẫy, bè phái tranh giành quyền lực, bòn rút ngân khố, dẫn đến kẻ thù của nó ở khắp mọi nơi. Nhiều khi biển khơi sóng lớn vô can, nhưng lại chết ngay ở cái ao tù nhỏ bé đấy. Và sự quả báo cũng muôn hình vạn trạng, sớm muộn khác nhau mà thôi.

Gã bạn này của An chức tước không lớn lắm, tên tuổi cứ khuất lẫn ở đâu đó, nhưng ở vị trí đắc địa, có quyền sinh sát. Do vậy, uy thế vây cánh chìm nổi rải khắp nước, dẫn đến bổng lộc, múc máy được nhiều. Nếu An không bị thu giấy phép lái xe mấy tháng, vì can tội bia rượu, thì có lẽ hắn không nhờ tôi lái xe ra sân bay. Bởi, hắn biết, tôi rất kỵ những thành phần này.

Ngước mắt nhìn, thấy An tần ngần định nói tiếp, tôi bảo:

-Thành phần này, ông nghĩ làm quái gì cho nhức đầu. Thằng nào bị bắt, bị làm thịt thì sạch sẽ xã hội chừng đó.

An trừng mắt nhìn tôi, rồi đột nhiên giọng chùng xuống:

-Dù nó đã trở thành kẻ nào đi chăng nữa, thì tình bạn của tôi vẫn vậy. Tuổi thơ của chúng tôi cùng trải qua những ngày đánh bi, đánh đáo. Rồi lớn lên với những tháng năm đói khát ở Trường An Ninh. Có lẽ, tình bạn của tôi vẫn ở lại với nó bởi những hoài niệm ấy…

***

Nguyễn Bình An sống tình cảm, có tính hòa đồng cảm thông, do vậy dường như ngành an ninh, cảnh sát không hợp với hắn. Vào năm 1983, An được làm tổ trưởng liên ngành đi tịch thu tài sản của người dân ở Hà Nội, theo cái chỉ thị quái đản Z30. Lúc đầu hắn rất hăm hở. Mấy ngày sau, thấy sự chán chường hiện trên khuôn mặt, và hắn còn cho đó là sự sỉ nhục. Buổi tối cuối tuần, An đã ngắc ngư ở đâu đó, rồi thất thểu đi bộ tìm tôi. Thấy lạ, tôi hỏi: Xe pháo đâu, mà rũ rượi như thế này? Hắn không trả lời, ngoắc tay, rủ đi uống tiếp.

An không phải là đệ tử lưu linh, song chẳng hiểu thế quái nào, hôm nay rượu gạo hắn cứ liên tục nhát một. Sợ hắn đổ kềnh kếnh cang, tôi liền úp cốc, hỏi:

-Việc chó gì, mà tâm trạng bất ổn thế này?

Hắn hất tay tôi, rồi ngửa cốc định rót tiếp:

-Có nói, ông cũng đếch hiểu tâm trạng lúc đó của tôi đâu.

Tôi úp tay vào miệng cốc:

-Khoan rót. Chưa nói, làm sao ông biết, tôi không hiểu. Và dù hiểu, hay không hiểu, thì ông cứ tuôn mẹ nó hết ra, có phải nhẹ nhõm, thanh thản hơn không.

An đặt chai rượu xuống, nhìn tôi với đôi mắt ngân ngấn như có nước, rồi rỉ rả kể:

Sáng hôm qua, tổ tôi nhận lệnh sục vào một quán cà phê ở Quan Thánh. Như có linh cảm, tôi lùi lại đứng vòng ngoài, để thằng tổ phó dẫn quân sục sạo. Lúc sau, nghe có tiếng phụ nữ vật vã van xin: Các anh thông cảm, bao cà phê này là tài sản, vốn liếng cuộc sống của cả gia đình. Các anh lấy đi, chắc chắn mẹ em sẽ chết, bởi không còn tiền thuốc thang…

Lúc đầu, tôi không định vào. Nhưng tiếp đó, nghe tiếng rên rỉ, van xin trong tiếng nấc, tiếng ho của bà cụ, tôi (bị xúc động) chịu không nổi, nên đi vào.

Thật ra, quán cà phê là hiên nhà, thông với phòng khách của gia đình. Trông (bô nhếch) không khác gì quán chè chén của mấy bà bán vỉa hè. Ngách phòng khách có một căn phòng nhỏ tạm bợ, dường như mới được cơi nới. Nơi đó, có một chiếc giường duy nhất dành cho bà cụ đang cơn thập tử nhất sinh. Và bao cà phê hạt chừng bốn chục cân được kéo ra từ gầm giường ấy. Không hiểu sức lực từ đâu, khi tôi vào, thấy bà cụ đang xoay người giơ tay quờ quạng, như muốn túm, níu lại, dù khoảng cách với bao cà phê còn rất xa. Dưới đất, người phụ nữ run rẩy, ngồi chặn trước cửa, mặt cúi gằm xuống. Thằng tổ phó, thấy tôi, hắn lắp bắp gì đó, làm người phụ nữ ngẩng đầu lên, và quay lại. Tôi giật mình, quyển sổ trên tay rơi tuột xuống đất. Lùi lại mấy bước, tôi kêu: Cô Ngọc, cô Ngọc…Rồi như vô thức, tôi quay đầu, định bỏ chạy. Cô Ngọc sững lại một giây, rồi hỏi: An… An đúng không? Em làm gì ở đây? Lúc này, tôi đang muốn tìm cái lỗ nào đó để chui xuống, nên không còn tâm trạng trả lời. Từ xám ngắt, khuôn mặt Cô Ngọc chuyển sang đỏ ửng, và một chút bối rối, rồi đứng phắt dậy: Em đang làm nhiệm vụ phải không? Tôi ấp úng, đứng trước cô vẫn như đứa học trò mắc lỗi bị phạt năm nào.

Cô Ngọc là giáo viên chủ nhiệm mấy năm học cấp 3 ở trường dân tộc nội trú của tôi. Khi chúng tôi sắp đến kỳ thi tốt nghiệp, cô được chuyển về Hà Nội, dạy ở một trường trung học, thuộc ngoại ô thành phố. Tuy là người Hà Nội, song cô rất yêu thương, tận tình dạy bảo và bao dung những thằng học sinh miền núi, tỉnh lẻ như chúng tôi. Khi về Hà Nội học, tôi đã mấy lần đi tìm cô, nhưng do nhầm lẫn địa chỉ, nên không tìm được. Rồi không ngờ bảy năm sau, không tìm mà gặp, trong cái hoàn cảnh cô và trò đều muốn độn thổ này.

Thấy tôi đứng như trời trồng, cô bảo: An cứ tiếp tục làm nhiệm vụ của mình đi. Tôi càng bối rối. Chưa biết xử trí thế nào, thì thằng tổ phó kéo thốc tôi ra ngoài, rỉ tai:

-Hoàn cảnh cô giáo của ông quả thực khó khăn, do vậy, tịch thu (không nỡ), không được, không tịch thu thì càng không được. Bởi, ở đây không chỉ có ông và tôi. Và ngoài kia nữa, còn rất nhiều tai mắt đang rình mò chúng ta. Bây giờ, có lẽ ông không nghĩ được gì đâu. Theo tôi, chỉ còn cách duy nhất, tạm tịch thu nửa bao, gọi là có tang vật. Về gặp sếp, hoặc bằng cách nào đó, ông xin lại, trả cho cô giáo.

Không còn cách nào khác, tôi trở vào nhà, nói với cô Ngọc hướng giải quyết như vậy. Cô cười. Tiếng cười mềm nhũn, như xát muối vào lòng tôi, khi cô cứ xuýt xoa: Làm vậy, có ảnh hưởng gì đến em không…ảnh hưởng gì đến em không… Tôi trả lời: Không, một cách vô thức. Có lẽ, câu trả lời này, cho tôi và cô đỡ ngượng ngùng thôi. Chứ quả thật, tôi chưa biết sự việc sẽ diễn ra như thế nào.

Đầu giờ chiều, dường như sếp vừa ăn nhậu ở đâu đó về, mặt mũi có vẻ tưng bừng lắm. Biết lúc này, tính nết của sếp dễ dãi, mát mẻ nhất, tôi lựa lời trình bày sự việc. Lúc đầu, sếp cứ tưởng chuyện trăng hoa ong bướm, nên cứ gật đầu lia lịa. Khi đến đoạn xin lại tang vật, trả cho khổ chủ sếp giật mình, tỉnh rượu ngay, mắt nhìn tôi trừng trừng: Không được. Việc này, đâu chỉ có ngành an ninh cảnh sát quyết định được. Cái chỉ thị Z 30, nó không chỉ cắt đầu mày, mà nó còn thiến cả đầu của tao nữa đấy. Đừng đùa với lửa trong lúc này.

Rất ngán ngẩm, tôi rời phòng sếp. Nhưng nghĩ đến hoàn cảnh cô giáo Ngọc, và giữ lời hứa của mình, chiều nay, tôi mang chiếc xe đạp (tài sản đáng giá nhất) cắm ở ngoài chợ giời. Cảnh giác, quan sát chắc chắn không có kẻ rình mò, tôi mới dám vào nhà cô Ngọc. Đưa cho cô, tôi bảo đó là tiền bán cà phê.

Tôi ngắt lời An:

-Ông hơi bị nhanh nhẩu đoảng. Bởi, cô Ngọc khó có thể tin đó là tiền bán cà phê.

-Tất nhiên, cô Ngọc không tin. Bởi, cô biết tài sản, tiền bạc đã bị nuốt rồi, thì làm sao mà nhả ra được. Nếu có xin xỏ được, thì làm chó gì nhanh như vậy. Nên cô trả lại tiền. Tuy nhiên, tôi vẫn để lại, rồi chuồn đi uống rượu cho đến bây giờ. Quả thực, nếu tôi không mang tiền đến thì bà cụ nhà cô Ngọc chỉ có con đường chết. Bởi, sau khi khám nhà, tịch thu tài sản, quán cà phê không thể hoạt động. Và nếu có hoạt động, thì khách nào dám đến…

Một tuần sau bữa nhậu chán chường ấy, An không đến tìm tôi. Thấy lạ, tôi đến đơn vị hắn hỏi. Đồng đội của hắn bảo: An bị bệnh đau đầu, chóng mặt cả tuần nay, nhưng bác sĩ chưa tìm ra căn nguyên, hiện đang nằm ở Bệnh viện 198. Nghe xong, bất chợt, tôi bật cười, suýt nữa phát ra thành tiếng: Thằng cha này đóng kịch giỏi. Tiếng cười vô duyên làm gã đồng đội của hắn ngớ cả người, tưởng tôi lên cơn điên. Có lẽ, chẳng phải riêng tôi mong cho hắn nằm viện đâu, mà còn rất nhiều thằng mong như vậy, nhưng với mục đích, chủ ý khác nhau mà thôi. Bởi, cái chức tổ trưởng liên ngành, quyền hành ngang ngửa với những ông đội cải cách ruộng đất ngày xưa. Oai phong béo bở, thơm như mít như vậy, thằng nào chẳng khoái, chẳng nhòm ngó, đang xếp hàng chờ đến lượt…

Thấy tôi thiu thiu gà gật, miệng còn tủm tỉm cười, An huých cùi chỏ vào mạng sườn:

-Ngủ rồi, còn cười cái chó gì nữa.

-Chẳng hiểu thế quái nào, cái thời ông cầm đầu bọn liên ngành đi cướp bóc người dân, trở về luồn vào quấy phá giấc ngủ bù của tôi.

-Tôi cũng đang muốn quên cái thời bi thương và khốn nạn ấy. Tuy nhiên, cũng cần phải cảm ơn nó đã giúp tôi đủ can đảm từ bỏ tất cả, để chuồn sang Đức cày thuê cuốc mướn. Mà này, thằng bỏ mẹ ấy, hình như bây giờ mới bò ra kia…

Nhìn theo hướng tay An chỉ, sau cửa kính thấy một gã thấp đậm, bụng to như đàn bà chửa, làm cho đôi chân ngắn tũn lại, Từ xa nhìn đôi chân khuỳnh khuỳnh chữ bát của hắn đang vạt đi, vạt lại, tôi cứ ngỡ một con cua đang bò.

Tay bắt mặt mừng, vẫn chất giọng sếp từ Việt Nam sang, cứ oang oang như chốn không người. An cười cười bảo tôi: Đây là Trần Văn Tân tức Tân Cháy, nguyên Phó cục trưởng thanh tra thuộc…Tân Cháy xua tay, không để An nói hết: Thôi ông cắt mẹ cái chương trình ấy đi. Rồi Tân Cháy quay sang tôi: Trường, Đỗ Trường phải không? Đã nghe, đã đọc ông. Trông cũng còn ngon ra phết nhỉ.

An hỏi làm gì, mà bây giờ mới mò ra. Tân Cháy bảo, Vali bị thất lạc. Phải trình báo, họ đã tìm thấy. Ngày mai mới đến nơi, họ sẽ chở thẳng đến nhà ông. Mấy thằng Hàng không Đức quả là nhanh và nhiệt tình. Trong lúc làm việc, chúng cứ xin lỗi, cảm ơn liên mồm. Ở Việt Nam ít được nghe, sang đây nghe nhiều những cảm từ này thấy lạ, đôi khi, thấy rách việc ông ạ.

Vừa bước chân lên xe, Tân Cháy đã hỏi:

-Dạo này làm cái quái gì cũng nhọ. Các ông xem có chỗ nào giải đen không?

Tưởng gã hỏi về vấn đề ăn uống kiêng kỵ, đen đỏ, nên tôi trả lời:

-Ở đây làm quái gì có thịt chó mà giải đen.

Gã cười:

-Chó mèo gì, ông nỡm, cái khoản kia kìa!

An bảo:

-Ông không bao giờ bỏ được cái tật ấy. Bây giờ đưa ông đến Nhà Đỏ nhé!

-Nhà Đỏ thì nói làm gì. Phải là những bạch kim, mắt xanh, da trắng ở độ trăng tròn mới đỉnh. Đạn dược không thành vấn đề.

-Thế thì ông về Việt Nam nhé! Ở đây không có. Nếu có, trước sau cảnh sát nó xích cổ ông lại.

-Chả lẽ, ở đây không có hoa tiêu, dẫn mối và bảo kê?

-Tôi không biết, và cũng chưa nghe.

Tân Cháy thở dài:

-Thế thì cuộc sống buồn chết đi được. Cả triệu Euro trong tài khoản của tôi mang sang đây định mua bất động sản, thành lập công ty, để hợp thức hóa việc ở lại Đức, theo sự hướng dẫn của văn phòng luật ở Berlin, có lẽ phải suy nghĩ lại. Nếu ở Đức buồn tẻ như vậy.

Tôi hơi bị khó chịu, dù câu nói của Tân Cháy có thể là thật tình:

-Nhiều tiền như vậy, ông tìm đường sang Đức làm chó gì?

-Nếu ở Việt Nam mà bình yên, dù có phải mai danh, ẩn tích thì tôi cũng chẳng lọ mọ sang đây làm quái gì. Ông không biết chúng đang xây lò đốt nhau hừng hực đấy sao. Chẳng biết khi nào mình phải chui vào cái lò bát quái đó. Thôi cứ chuồn trước là thượng sách.

An quay sang gã:

-Già rồi, ông bỏ bớt cái thú tính ấy đi. Cái bả hồi ở Trường An Ninh vẫn chưa tởn sao?

Tân Cháy im lặng. Nhìn sang, tôi thấy mắt gã mở trừng trừng dội ngược lên trần xe. Vỗ vai, tôi đùa hỏi gã:

-Tên Trần Văn Tân đang ngon lành, làm thế quái nào ông có cái Spitzname Tân Cháy. Nghe có vẻ bà con, họ hàng với ông Hỏa, bà Hỏa thế nhỉ?

Tân Cháy chớp chớp mắt, rồi co người ngồi thẳng lại:

-Cái tên cúng cơm này, chẳng hề liên quan gì đến ông bà Hỏa cả. Nhưng nó cũng là một giai thoại đấy, và có ngay từ thuở tôi và Nguyễn Bình An đang là sinh viên Trường An Ninh. Này, ông An hãy kể lại thật vô tư, và chính xác, có khi cho Đỗ Trường hứng thú viết được cả cái truyện ngắn chứ chẳng đùa.

An cười:

– Tên Tân Cháy, nó gắn liền với cái bẫy tình, sau này là bẫy người của các ông. Những mưu mô quái quỷ, dẫm đạp lên nhau ấy, đã kể thì phải nói toạc ra hết. Ông có đủ can đảm nghe lại không?

Chẳng biết, trên máy bay, hay lúc chờ làm thủ tục vali thất lạc Tân Cháy đã khật khừ bia, rượu hay chưa, nhưng giọng có vẻ cứng cỏi, khí thế lắm:

-Chuyện thường xảy ra ở huyện nhé! Tôi đã hạ cánh an toàn, chẳng ngại bố con thằng nào cả. Cái xã hội từ trên xuống dưới lọc lừa nhau, chứ chẳng riêng thằng chó nào. Thằng nào nhiều mưu, đủ mạnh thì thắng vậy thôi. Ông cứ việc kể tuốt tuồn tuột ra…

***

Cái đói cứ xoắn lấy Tân. Có lẽ, chưa bao giờ gã phải chịu những cơn đói triền miên, đói hoa mày chóng mặt, đói quên cả học hành. Khi còn ở trên quê, hay ở trường nội trú tỉnh cũng đói, song gã còn có thể vào rừng kiếm một thứ gì đó ấn vô bụng. Chứ ở Trường An Ninh, giữa phố phường Thủ Đô, làm chó gì có rừng để gã vào tìm rau, tìm củ. Do vậy, gã buộc phải chui vào chuồng lợn, chuồng heo để tìm cơm cháy, của nhà bếp vừa thải xuống đó. Và cũng từ cái chuồng heo này, kết cho gã một mối tình, có thể nói đi vào “giai thoại“ truyền miệng trong giới sinh viên.

Thật ra, Cao Hồng Hạnh không xấu đến nỗi… như các sinh viên đàn anh thường lấy ra gán ghép, trêu đùa. Nhưng Hạnh mắc phải chứng bệnh hở van dạ dày, dẫn đến mồm miệng và hơi thở có mùi rất khó chịu. Do vậy, dù làm công việc quản lý dạ dày của sinh viên, và là cháu ruột của một sĩ quan cấp cao, quyền uy ngoài Bộ, song chàng sinh viên nào đến với Hạnh chỉ được một thời gian ngắn, rồi không đủ can đảm quay trở lại. Tuy chưa đến cái tuổi các cụ cho là quá lứa lỡ thì, nhưng nhìn Hạnh ngày càng khô cằn. Tân quen Hạnh đang ở hoàn cảnh như vậy, và trong một lần xuống nhà bếp sinh viên rình lấy cơm cháy.

Chỉ có vài lần, Hạnh dành riêng phần cơm và những rá cơm cháy cuối ngày cho Tân cùng bạn bè, vậy mà không rõ bọn thối mồm, độc miệng nào đã đồn thổi, gã khoái cỡi máy bay bà già. Ban đầu có một chút mặc cảm, mấy ngày gã không dám gặp Hạnh. Dù nàng cứ kè kè cái cặp lồng cơm thịt thơm phưng phức đi tìm gã khắp nơi. Có vài ngày như vậy, mà cái dạ dày cứ réo lên ùng ục, dường như gã không còn sức lực, tinh thần để theo kịp giáo trình học hành và luyện tập. Có thể nói, cũng là kẻ chịu khó đọc Marx, đôi lúc gã cũng nhận ra sự mâu thuẫn, và cảm thấy phân vân, dao động. Nhưng có câu này của Marx, gã khoái: “Vật chất quyết định ý thức“. Nó điểm đúng vào tâm lý, thực tế làm cho gã thức tỉnh, đảo lại ý nghĩ, nhận thức của mình trước những quan niệm cũ rích. Do vậy, với gã lúc này, cái dạ dày quan trọng hơn, tiếng tăm, và sự đồn thổi của bọn rách việc. Từ đó, quan hệ có tính hai chiều giữa gã và Hạnh ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng. Vậy là, cái tên cúng cơm Tân Cháy, vận vào gã từ đó.

Buổi tối cuối tuần, sân trường vắng vẻ. Sau bát mì khuya, Hạnh kéo Tân Cháy ra góc tối đằng sau nhà ăn đứng chuyện trò, tâm sự. Trời oi nồng, cũng như mọi khi, Tân Cháy vô tư cởi phanh cúc áo. Hạnh ngả đầu vào vai gã, tay cầm tờ báo quạt phành phạch: Trời có lẽ sắp mưa anh ạ. Gã chưa kịp trả lời, không hiểu từ đâu ánh đèn pin rọi thẳng vào mặt. Dường như, Hạnh bị giật mình, làm rớt tờ báo xuống đất, hai tay ôm chặt lấy gã. Tân Cháy chưa kịp định thần, đã thấy mấy tay bảo vệ vây xung quanh, và quát:

– Hai người đứng yên, giữ nguyên hiện trường. Học viên an ninh gì mà có lối sống buông thả thế này.

Tân Cháy lùi lại, đẩy Hạnh ra xa:

-Chúng tôi đứng chơi, có làm gì đâu.

Đèn pin rọi sang Hạnh, áo quần xộc xệch. Nút áo tuột đâu mấy chiếc, dưới quần khóa chưa kịp cài:

-Quần áo thế này, bảo chưa làm gì hử? Về văn phòng lập biên bản.

Mặc cho Hạnh và gã giải thích, xin xỏ, song cái biên bản quan hệ trai gái buông thả, ảnh hưởng nghiêm trọng hình ảnh người học viên an ninh nhân dân vẫn được lập ra.

Tân Cháy chưa kịp hoàn hồn, mấy ngày sau Phòng tổ chức và Phòng giáo vụ gọi lên. Sau khi đe nẹt, rồi xoa nắn, gã có hai con đường để chọn lựa. Nếu là sự chơi bời, buông thả, có thể bị đình chỉ học, trả về địa phương. Song nếu là quan hệ yêu đương nghiêm túc, đi đến hôn nhân, sẽ chỉ nhận mức độ kiểm điểm, cảnh cáo trước phòng, khoa mà thôi.

Dù biết đó là cái bả, một kịch bản tồi, song con đường thứ hai, buộc Tân Cháy phải chọn. Và đám cưới của gã với Cao Hồng Hạnh diễn ra một cách chóng vánh, làm cho bạn bè, đồng đội của gã không khỏi ngạc nhiên. Thôi thì cũng mừng cho gã. Từ nay, gã cứ việc cơm no bò cỡi. Bạn bè gã bảo vậy. Mà chẳng mừng sao được, khi ra trường bạn bè cùng khóa, người lên rừng, kẻ phải xuống biển, gã được bắn một phát về Bộ. Tuy nhiên, không có ai có thể hiểu được nỗi hận trong lòng gã.

Mười mấy năm trong ngành dù sau lưng có ông chú vợ, gã cũng không làm nên công trạng gì. Tước thì có chức thì không, nên gã đâm chán nản. Nhân ông chú vợ được chuyển ra Văn phòng chính phủ, gã cũng xin chuyển ngành, làm Trưởng phòng ở Cục thanh tra thuộc một Bộ gã đã từng theo dõi mảng an ninh. Từ đây, gã có quan hệ chặt chẽ với các Giám đốc, Tổng giám đốc trên khắp cả nước, nhất là từ khi Mỹ bỏ cấm vận. Tiền bạc, đất cát từ đâu rót về cứ đều đều làm cho gã đổi tính, đổi nết. Mưu mô, cạm bẫy của gã giăng ra đố con mồi nào chạy thoát. Những kịch bản gã đã dựng không thể ai bắt bẻ, hoặc chọc khe. Khi gã thành công nhử Tổng giám đốc ở phía Bắc sập bẫy, đi nghỉ mát dài hạn, để đồng bọn một Tổng giám đốc ở phương Nam có cơ hội trèo lên chiếc ghế Thứ trưởng, thì ngay sau đó gã có quyết định lên Phó cục trưởng thanh tra. Một chức vụ có thể nói, không lớn cũng không hề nhỏ, song ở vị trí đắc địa, ngứa mắt chọc thằng nào, thằng ấy đi điếu. Chẳng vậy, trong một lần khật khừ với mấy thằng bạn thời trẻ trâu, gã rỉ tai: Tao thừa tài lực để ngồi vào cái ghế cục trưởng, thứ trưởng, nếu muốn. Nhưng những thứ đó ở cái Bộ này chỉ là hư danh, chết thế mà thôi. Cái tao cần là quyền lực, bởi ở đất nước đang lộn tùng phèo, không biết thằng bé sợ thằng to, hay thằng ngồi trên sợ thằng ngồi dưới. Thằng nào cũng có cái Thóp để bóp cả. Nên, tao chỉ làm cục phó cho đến khi giải nghệ…

Xe đã về tới trước cửa nhà, câu chuyện Nguyễn Bình An kể về Tân Cháy phải dừng lại, dù chưa đến hồi kết. Tuy vậy, Tân Cháy vẫn cười ha hả, khen An có trí nhớ tuyệt vời.

Lê Thu Đông vợ An là bạn học thời trẻ trâu, và cũng là đồng nghiệp của An và Tân Cháy sau này, vẫn còn chờ cơm. Trời đã về sáng bữa nhậu vẫn chưa tàn. Song tôi vẫn phải tạm biệt vợ chồng An- Đông và Tân Cháy quay về Leipzig cho kịp giờ làm việc. Xe sắp chuyển bánh, thấy Tân Cháy chân trần chạy ra giựt cửa xe, ghé tai thì thầm:

-Nếu có hứng thú viết lách gì đó, đề nghị Đỗ Trường nhớ đổi cho cái tên nhé.

– Tỉnh rượu rồi hay sao, mà lại co rúm người vào như vậy.

-Một phần như vậy, nhưng cái chính canh bạc chưa đến hồi kết.

Tôi đùa:

-Ông cẩn thận, không lại bị xích cổ về như Trịnh Xuân Thanh, thì đi mò tôm đấy.

Gã cười:

-Vụ thằng Thanh cũng là một kịch bản. An ninh, mật vụ Đức, họ thừa biết, nhưng mắt nhắm mắt mở để các bố diễn xuất thôi. Do vậy, vụ án này không bao giờ có hồi kết, rồi sẽ đi vào quên lãng.

Nhận định, này của Tân Cháy dường như cho tôi một sự đồng cảm. Tôi gật đầu, và cũng chúc gã công việc xuôi chèo mát mái cùng với Công ty luật ở Berlin vào tuần tới.

Leipzig ngày 8-8-2019

Đỗ Trường