Bonsoir Vietnam

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 9 Nov 2023

Bonsoir Vietnam

Hồ Đình Nghiêm

1.
Quán cà phê Mèo Đen. Cả bốn con mắt cùng nhìn thấy bảng hiệu. Xe gắn máy tấp sát lề đường, thắng đứng. Gã trung niên trả về số không, chống một chân xuống đất. Người đàn bà ngồi phía sau nhích mông rời ghế xe.

– Đứng yên chỗ này, đừng dời đổi.

– Bà chị yên tâm. Tôi vẫn để máy nổ?

– Ừa, cao tay chỉ mất năm phút là cùng.

Bà sửa lại khẩu trang, đeo xách ny lông ở nách, ngó trước trông sau và xăm xăm đi vào quán. Gã điều khiển xe nhìn theo. Nắng làm hoa mắt, ô cửa đen ngòm nuốt vội chiếc áo màu vàng của người đàn bà. Nhạc kích động ùa ra thềm. Chát chúa tiếng đàn tiếng trống. Buổi trưa mà quán cà phê không vắng. Chẳng phải cuối tuần mà có lắm kẻ ngồi tụ đàn đấu hót.
Phục vụ viên, lo phần tiếp khách đều là con gái. Áo quần hở hang theo quy định, “điện nước đầy đủ”, che bớt da thịt thì sẽ sập tiệm vì chẳng còn khách lai vãng. Mèo đen. Đứa nào đặt tên thật có ý nghĩa. Mèo ưa nũng nịu cạ thân vào, lim dim mắt khi được vuốt ve. Tuy đen nhưng người đàn bà vẫn nhìn ra mục tiêu. Vừa đi vừa thò tay vào túi ny lông. Con dao sản xuất ở Trung quốc mang theo hàn khí khi rời chỗ ẩn. Dao vung lên, lạnh lùng, tàn nhẫn.

– Con đĩ mẹ mày, tao chém cho mày biết đời là gì.

Nhiều tiếng rú cất lên. Tiếng ly tách rơi vỡ. Những bàn chân chạy, hoảng loạn. Máu đã đổ. Không một ai can thiệp. Tất cả đều đứng một góc, trương mắt ra ngó. Lực lưỡng có, ốm o có, tóc dài có, đầu trọc có. Tai đeo khoen có, mũi đục lỗ có, thun ba lỗ khoe mình đầy vết xâm cũng có. Nam nhi cả tá nhưng không hề là đại trượng phu.

– Mả cha mày. Chừa cái thói đi hại đời con gái nhà lành, nghe con.

Người đàn bà tuyên bố câu cuối cùng. Bà quay lưng, đi bước dài. Gã trung niên làm nghề chạy xe ôm vẫn đen đúa đội nắng chờ khách trở ra. Khách đeo khẩu trang nên chẳng trông được nhan sắc. Khách ôm eo. Đôi tay còn run.

– Thăng.

Chiếc xe phóng chạy theo mệnh lệnh.

– Về hướng ngoại ô nghen.

– Dạ được.

Người đàn bà ngó lui. Mọi thứ đều bình thường. Cây vẫn xanh lá. Đường vẫn lắm xe. Bụi bặm và khói xăng. Nóng bức và đứng gió. Chẳng có gì lạ.

– Anh hành nghề này đã bao lâu?

– Có hơn sáu năm nay.

– Ngon cơm không?

– Chị nói sao?

– Sống thong thả hay chật vật?

– Trời! Thong thả nghĩa là sao hở chị? Tôi và chiếc xe này giống nhau, lật đật chạy ngoài đường cả ngày. Bỏng khét, bá thở chỉ hòng nuôi hai miệng ăn qua bữa.

– Tới nghĩa trang thì anh quẹo phải.

Chiếc xe nấc lên, rùng mình mỗi khi sang số. Người đàn bà sẽ cạ thân vào lưng gã mỗi khi hắn đạp thắng. Nhưng nói chung, với sáu năm lèo lái, có thể nói hắn điệu nghệ. Lòn lách giỏi, biết chạy lắc léo, chưa từng bị ùn tắc khựng đứng. Đen đúa, bẩn thỉu như đa số bọn hành nghề chạy xe ôm.

– Nuôi hai miệng ăn? Nghĩa là chỉ hai vợ chồng đùm bọc? Con cái thì sao? Chúng tự lập thân?

– Không. Tôi chẳng có vợ con. Tôi nuôi mẹ già.

Hỏi, trả lời. Cả hai phải dụng sức gần như hét. Đường luôn chan tiếng động, ngay cả chiếc xe đang lao, máy nổ cũng rầm rộ góp tiếng. Tên lái xe la toáng lên:

– Chị đòi được nợ chưa?

– Rồi.

– Nó chồng đủ tiền hay sao mà mau dữ dậy?

– Chồng đủ.

– Má tôi thiệt thà, cho người bà con vay hai chỉ vàng, ngày một ngày hai nó lặn mất tiêu. Tôi chạy xe bay tóc trán tìm không ra tăm hơi đứa quỵt nợ. Khốn kiếp!

– Thôi, bỏ tôi xuống đây.

Xe thắng gần một bãi rác. Vắng người, vì chẳng còn gì để bới móc thu hoạch. Tan hoang. Kể cả ruồi, chúng cũng tìm nơi bốc mùi mà tụ họp, ở đây chả còn hương vị gì. Người đàn bà trả tiền cuốc xe.

– Đời có vay có trả, nó chạy không khỏi đâu. Tin tôi đi.

– Tôi cũng nói câu đó với má tôi. Chỉ nhằm an ủi bả.

Gã trung niên đếm những tờ giấy bạc, cất vào túi áo. Hình như có thừa một tờ năm ngàn nhưng gã không nói. Lặng yên quay xe trở ra.

2.
Người đàn bà cầm bó tiền được cột bằng sợi giây thun. Bà không đếm, như thể với trọng lượng đó, với bề dày đó, là đủ, chẳng thiếu. Hoặc giả bà tin cậy tới kẻ trao tiền. Bà nói:

– Tôi đi.

– Vội thế. Làm miếng nước đã.

Người đàn bà ngần ngừ, sau cùng ném cái khẩu trang xuống bàn gỗ và ngồi lên mặt ghế nhựa. Ly nước nằm trước mặt. Nước màu đen, có thể xá xị, có thể Coke, có thể là cà phê Trung nguyên. Bà ngó lên gã đàn ông. Đã lâu rồi, họ quen nhau ở chợ trời. Ông ta bán thuốc Tây, còn bà là kẻ chuyên đi đòi nợ. Một thứ nghề cần nhiều máu lạnh, vô cảm trước những than khóc đớn đau. Có lẽ ông ta cũng vậy, thuốc ông bán đa phần là trụ sinh, dùng để cứu người; đôi khi cũng có thể giết người. Trường hợp ngoài ý muốn. Ông ta sẽ nói thế. Và dong đôi tay lên trời, miệng chửi rủa: Mẹ kiếp, chúng nó trao thuốc giả, có thánh mới biết! Nó chết là bởi cái tuối thọ của nó chỉ trường tồn tới ngang đó thôi. Làm sao hơn?

Chuyện ngày xưa. Nó giống một trang sách liêu trai đã lật qua. Bây giờ khác, rất chí dị trong thay đổi và rõ nét nhất là ở người đàn ông. Chẳng biết hắn làm chuyện gì mà tiến bạc rủng rỉnh? Áo xống tử tế, diện mạo tươi nhuận, đỏ da thắm thịt. Hắn ngồi xuống ghế. Cách bề rộng của chiếc bàn, người đàn bà ngửi được mùi dầu thơm từ phiá kẻ đối diện lùa qua. Một thứ mùi dễ làm nhột mũi, ưa hắt hơi. Thoang thoảng chút gợi dục.

– Có lẽ tôi lại nhờ chị một lần nữa.

Người đàn bà đón lấy điếu thuốc. Hơi chồm người qua để dí mặt vào ngọn lửa vừa được thắp lên.

Khói thuốc thơm. Ai bảo thế? Nó hôi và độc hại. Biết vậy, nhưng đôi khi người ta cần nó. Để tính toan. Để cứng rắn. Để mơ mòng. Để hoài nghi. Để tỉnh thức. Mặt người đàn bà phủ màn ngờ vực. Bà từ tốn đưa ra câu hỏi, hơi e dè:

– Lại chém người?

– Không. Lần này nhờ chị dắt nó đi phá thai.

– Chuyện nhỏ.

– Tìm chỗ đáng tin cậy. Làm ăn vén khéo. Chớ quan hoài chuyện tiền bạc.

– Nó đã mang thai rồi sao? Chóng thế? Làm sao biết?

Người đàn ông cười. Tiếng cười khô, sặc; nghe tựa tiếng ho.

– Có những niềm riêng người ta dấu kín như thứ bí mật quốc phòng. Như mèo dấu cứt. Nhưng mang thai.
Trời, nó lộ liễu quá, chị không thấy sao?

Trên bàn chẳng có gạt tàn, người đàn bà ném điếu thuốc hút dở xuống đất rồi dí dép nhựa lên trên, đay nghiếng, chà đạp. Giọng người đàn ông tuôn đều đều, như tụng kinh:

– Phải làm sớm. Có thể dăm bữa nửa tháng nó sẽ đi mất đất sang Đài loan.

Uống hết ly nước. Người đàn bà đứng lên.

– Chị có gì để hỏi không?

Người đàn bà ngó quanh, bước tới mở vòi nước để rửa tay. Trên vách có treo tấm gương soi, bà nhìn vào đó và trông thấy mặt con mẹ nào thật lạ lẫm. Bà để những ngón ướt nước vuốt tóc con mẹ ấy. Nước mát lạnh thật dễ chịu, làm trán bớt cau có. Bất thần vuông gương hứng thêm khuôn mặt mày râu nhẵn nhụi của gã đàn ông.

– Cỡ như tôi muốn sang Đài loan đổi đời có dễ không?

Bà nói mà không quay mặt lại. Nhìn cái môi dầy trong gương nhóp nhép:

– Chị thật biết nói đùa.

– Sao?

– Con bé ấy mới có mười bảy tuổi. Nó mới thất thân lần đầu và tương lai sáng lạng hẳn còn rộng mở. Tụi đàn ông Đài loan không phải đứa nào cũng đui chột. Vả lại chị đi rồi tôi biết trông cậy vào ai? Rách việc mất.

Người đàn bà tắt vòi nước. Chùi hai tay vào vạt áo.

– Quan trọng vậy sao?

– Phải. Ngày mai nhé. Khoảng tám chín giờ cho đất trời mát mẻ. Tôi biểu nó chờ chị ở đây.

– Tôi đã già chưa?

– Chị phải biết điều đó hơn ai cả. Sao lại đè tôi mà hỏi?

– Giả như anh đè tôi ra giờ này chắc tôi sẽ không có phản ứng gì ráo.

– Là sao?

– Trên người tôi chẳng có thứ gì hấp dẫn cả, phải không?

– Đừng nói vậy. Đàn ông xứ này còn tệ hơn bọn Đài loan Hàn quốc nhiều. Không tin hả? Đêm hôm chị đi lơ ngơ một mình, chúng hiếp cho nát người ra.

– Thôi, tôi đi. Mất thì giờ!

– Vậy nhé. Trăm sự nhờ chị. Lo chuyện này xong, thưởng công, chúng ta tắm táp sạch sẽ cùng nhau ôm ấp làm việc đại sự. Để chứng minh: Với tôi, chị còn hấp dẫn chán. Tiền bạc không thành vấn đề, đúng không?

Người đàn bà bước qua ngạch cửa. Nhà hàng xóm có ai đốt vàng bạc, hứng trong thau nhôm, đặt ở sân đất. Khói mù mịt, che bít lối đi.

– Đéo mẹ!

Người đàn bà chửi vào khoảng không.

3.
– Tôi chạy xe ôm đã sáu năm. Có nghĩa là cô nên tin tôi. Tôi tựa như thổ địa vậy. Biết thổ địa là gì không? Là ma xó đó. Địa chỉ nào, đường phố nào, hẽm hóc nào mà tôi hổng rành!

– Có xa không chú?

– Cô sốt ruột rồi sao? Ngồi chưa nóng đít! Ừ, mà tôi hiểu. Ai cũng thế cả, tâm trạng chung. Ở phương xa về thăm lại quê cũ mà, ắt phải nóng lòng.

– Nhà cửa ngỗn ngang… Trước đây có đông đúc vậy không chú?

– Trước đây là bao giờ? Mà thời nào cũng thế, phố phường thì lúc nào cũng chộn rộn. Ở bển chắc dữ dằn hơn nhiều, phải không cô?

– Chú có thân nhân sống ở nước ngoài không?

– Làm gì có. Vô phước là ở chỗ đó. Tôi sống với mẹ già, mình bỏ trốn, lấy ai nuôi bả. Người có tình cảm thường cực thân. Không bì được với bọn vô tâm, chúng hơi bị vô tư thoải mái ở đời thường!

– Đời thường là gỉ?

– Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Chắc cô quên tiếng Việt đương đại đã bộn bề?

– Đương đại là gì?

Chú lái xe ôm đã không trả lời. Cô gái ngồi sau bấu cứng chéo áo nhìn cảnh vật hoang đường vất chạy lui sau. Xe gắn máy giã từ phố thị, chạy qua cầu xi măng, rẽ xuống đường đất, song song với con lạch cạn nước. Nước màu đen. Cắm xuống thân nó là những cọc gỗ xiêu vẹo, hứng đỡ bên trên thứ nhà cửa rách nát vá víu bằng nhiều tấm bià cứng. Mì ăn liền hiệu Mamy. Sữa đặc hiệu Hột xoàn… Xe chạy bên này và mùi hôi rượt đuổi bên kia. Mùi bùn, mùi rác và mùi quen thuộc của loài người: Cứt! Có người đang ngồi ỉa, đưa cái đít sần sùi ra và vật bị thải đang chực rơi xuống vũng bùn. Con lạch, cái mương, cái ao này trước đây hẳn nhiều cá? Uổng! Cá không còn mà quây quần đớp hít động đậy dưới chân bèo. Cá đã bỏ chốn cũ để ngơ ngác ra hoà nhập với sông hồ nước cao sóng lớn biển mặn dâng tràn tai ương.

– Chỗ này sao xác xơ vắng lặng vậy chú? Có đi nhầm nơi không?

– Không. Đến rồi. Xuống đi.

Xe dừng trước cái chòi lá nằm khuất sau bụi cây. Gã cúi mặt sửa lại vành nón tai bèo như không muốn cô gái nhận diện. Chân sang số, vặn tay ga. Xe gầm gừ quay một vòng, tìm đường cũ mà truy phong. Cô gái đứng một mình, gần như đồng không mông quạnh. Bụi cây ra hoa, ngầy ngật tỏa ngát hương thơm. Không. Hoa vô hương vô sắc. Mùi thơm kia vốn từ cơ thể cô mà phát sanh. Chanel hay Gucci? Làm sao biết được? Hương đồng cỏ nội đã cúi rạp mình mà say khướt trong gió thoảng ngất ngây. Cô nắm chặt sợi dây da ở cái xách đeo vai. Hoang mang, hối hận. Lạ! Sao chú kia lật đật quày quả đến nỗi quên nhận tiền cô trao. Thơ ngây! Cô không hề tưởng tượng được gã ấy đã run tay nhận nửa triệu trước khi sà tới đón cô ở cổng khách sạn. Túi cộm tiền. Im re và đứng cúi đầu. Đù má, mày cà chớn ông thịt bà già mày cú một. Hiểu không? Hiểu. Thà bất nhơn chứ chẳng thể bất hiếu. Gã rồ máy xe, ồn ào để khỏa lấp những lo toan. Và sau đó tuân thủ một cách đúng bài bản, phép tắc. Hợp quy định, đạt chỉ tiêu của mấy ổng đề ra. Vất cô gái xuống điểm X đánh dấu mực đỏ trên bản đồ bỏ túi.

Cô gái thò tay vào túi xách sờ nắn, lôi ra được cái điện thoại di động. Đã trễ. Hai thằng đàn ông đưa cả bốn tay bịt mồm ôm cứng cô ta. Mùi hương của cô, nước da trắng ngần không tì vết của cô vô tình trao cho chúng tất cả sức mạnh, vượt ngoài mức đòi hỏi khi muốn khống chế một kẻ chân yếu tay mềm. Hồ hỡi phấn khởi là thứ phương ngữ nghèo nàn, chẳng nói hết nổi mừng vui đại thắng của chúng.

Buổi chiều ở đấy thật êm ả. Hoàng hôn chưa về, mây trắng còn bay hững hờ trên nền trời xanh. Chẳng một cánh chim đảo qua. Tịch lặng. Nước mắt cô gái chảy đầy, ướt cả bàn tay hung bạo. Cho hay có khi, có nơi, ban ngày ban mặt mà quỉ dữ vẫn lộng hành!

4.
Người đàn ông đứng tần ngần, mặt lộ vẻ hốt hoảng pha chút phiền muộn, mệt mỏi. Chỗ ông đang đứng, thú thật chẳng mấy ai ưa đặt để đôi chân. Trụ sở ấy, tự bản thân, nó toát ra cái gì đấy, ngầm đe dọa. Nó là đường ranh mong manh chia cắt giữa nhất nhật và thiên thu. Tạm trú và thường trú. Nhà cửa và chấn song ngục tù.

– Vào đi.

Cánh cửa khép hờ. Tiếng nói từ bên trong vọng ra, nhắm tới ông. Ông xô cửa, mỏi gối chồn chân, đá cứng chân mềm. Nền gạch hoa đen trắng vuông tròn đánh lừa nhãn quang rối bời hai con mắt mông lung. Đồ vật trang trí trong phòng đa phần nhuộm sắc đỏ. Băng-rôn, biểu ngữ, cờ xí, huy hiệu, sơ đồ, biểu đồ ngành nghề thảy đều đồng phục. Nóng. Màu cách mạng. Ngộp thở.

– Ngồi đấy.

Ông ngó xuống chiếc ghế trống. Cái bàn gỗ tiệp màu và đàng sau gã công an mặt cau có vừa ban phát mệnh lệnh.

Ông ngồi. Ở một chiếc ghế kê sát vách, lùi sâu góc phòng có đứa con gái ôm mặt khóc nấc. Đầu tóc rối và lụa là nhăn nhàu, sắc diện áo quần thảy lấm lem bất thường.

– Ông là Trần văn đại Gia?

– Dạ phải.

– Hừ. Tên nghe oách nhỉ? Giấy chứng minh nhân dân đâu?

Người đàn ông trình tấm thẻ căn cước bọc nhựa, vói người đưa bằng cánh tay run.

– Quan hệ thế nào với cô Minh Đài?

– Thưa nó là cháu tôi, gọi bằng cậu.

– Là thế nào? Phải nói cho rõ.

– Là tôi có bà chị ruột. Lập gia đình rồi chỉ mang thai, chỉ đẻ ra đứa con gái duy nhất, đặt tên là Nguyễn thị Minh Đài. Tôi là cậu nó, là em má nó.

– Được. Lần gặp gỡ mới nhất của hai người?

– Dạ… dạ e đã có hơn mười năm. Má nó làm giấy tờ bảo lãnh, rồi thì biền biệt cách chia.

– Rườm lời! Có nghĩa là từ khi cô ấy về thăm lại quê hương giàu mạnh ông chưa hề gặp mặt?

– Chưa hề.

Người đàn ông nhìn tới hướng cô gái. Giọng ông òa vỡ cốt cho cô ấy nghe ra:

– Tại sao vậy cháu? Chớ tội tình chi mà cháu phải chịu đọa đày! Đột xuất. gây nên sự cố bất ngờ mà làm gì? Muốn cậu ngạc nhiên mà làm chi. Cậu đã già, tim mong manh lắm Đài à. Đường Yên Đỗ không bước lại nhắm chốn đoạn trường mà đi!

Ông ca cẩm, ông càm ràm mà như đang đọc thơ Kiều. Lời lẽ tuồng như oán trách số phận. Hồng nhan đa truân. Người bạn dân tỏ vẻ khó chịu khi nghe qua. Đưa tay ra dấu cho một tên công an còn trẻ lại gần:

– Sang phòng bên xem thử đã thu hoạch được gì?

Phòng bên cách ngăn bằng tường vôi viết đầy khẩu hiệu ca tụng sự chí công vô tư. Cửa gương mờ đục được mở ra.

– Chuyện gì?

– Anh Năm bảo diễn tiến vụ việc đến ngang đâu?

– Đấy. Cái túi xách của cô ta chứa đựng toàn những thứ linh tinh. Son phấn mỹ phẩm. Một cuốn sổ ghi địa chỉ, số điện thoại. Mười lăm ngàn tiền Việt nam kẹp bên trong. Hai thỏi kẹo cao su. Một đĩa CD. Một miếng băng dùng khi có tháng. Hết. Không có đô la, chẳng có tài liệu gì sất.

– CD à? Nghe thử chưa?

Dưới chân dung Hồ chủ tịch, dưới hàng chữ “Không có gì qúy hơn độc lập tự do”, ở trên cái tủ sắt sơn xám có đặt để chiếc máy màu đen. Một trong ba gã công an cầm dĩa nhạc tới, mở Power, bấm Play, sờ nút Volume: “… Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme…”

– Nhạc gì thế? Tiếng Mỹ hay tiếng Liên xô thế?

– Tiếng Đan mạch đấy. Việt kiều từ Đan mạch về mà lị.

– Ừ nhỉ. Đan mạch là chốn nao? Chúng mày biết nó rêu rao những gì bên trong?

– Im coi nào. Nó có nhắc tới Việt nam nữa cơ. Lại tuyên truyền cái gì đấy phỏng?

– Bố khỉ! Cơ quan mình có đồng chí nào am tường tiếng nước ngoài không?

Câu hỏi chẳng có trả lời. “…images de la guerre. Un film de Coppola, des helicopters…”

– Bực cả mình. Thu cất cái này làm tang chứng vật chứng. Có khi nhờ nó mà ta điều tra được cả một chuỗi âm mưu thâm độc chăng?

– Bắt buộc rồi. Thưa với anh Năm là bảo cô ấy nghiêm chỉnh viết bản tự khai, dịch minh bạch lời bài hát là rõ.

– Nhất trí.

5.
Người đàn bà chận gã mặc đồng phục bệnh viện ở hành lang thắp sáng dãy đèn xanh mướt.

– Sao rồi?

– Tiền bồi dưỡng đâu? Con bé đang nằm nghỉ. Khoảng nửa giờ thì có thể về nhà.

Người đàn bà bắt tay thằng đàn ông. Trong hai bàn tay nắm ơ hờ kia là khoảng tiền trà nước buộc phải có, bất thành văn tự. Cả hai bàn tay từng thấm nhiều máu. Bên chém người và bên cứu người, moi từ cửa mình chật hẹp ra cục máu chưa tượng hình. Rồi cái cửa mình lắm chuyện ấy sẽ rặn đẻ, vất ngoài cõi đời những đứa con lai Đài loan. Nhưng đó là chuyện mai hậu. Hiện tại, đứa con gái nhắm hờ đôi mắt, dang tay dạng chân nằm trên giường với nước da tái.

– Đau không?

Con bé mở bừng mắt ra. Mắt long lanh, mắt như biết cười khi nhìn thấy người đàn bà.

– Đau chớ. Thằng bác sĩ nó vọc rõ lâu. Nó còn đòi cạo lông cắt tỉa nghệ thuật cho em nữa cơ. Khiếp! Bàn tay nó nóng một cách lạ lùng. Bận sau lỡ có vào cô nhớ tìm cho em bà bác sĩ thì tốt hơn. Đàn bà với nhau… Cô hiểu không?

– Biết đau đớn ê chề thì tại sao còn nói tới bận sau?

– Bao lâu thì về hả cô? Chân đang còn run.

– Không gấp. Hồi nào cưng nghe khỏe hẳn tính.

– Mồm miệng đắng chát. Dắt em đi ăn tô phở cao cấp hả cô. Tự dưng sao thèm quá mạng!

Phòng có hai giường, ngăn chia bằng tấm màn vải màu xanh vấy bẩn ở đường biên. Chỗ vấy bẩn đang có bàn tay kéo nó sang bên. Tiếng những khoen sắt móc trên màn chạy xô về một phía nghe ê răng.

– Cậu đưa cháu về khách sạn đi. Cháu hãi chỗ này quá.

– Thì mình cũng nên làm đúng thủ tục. Xem kết quả vết thương có bị nhiễm trùng không đã. Bịnh ết, bịnh xi-đa, giang mai lậu mủ các thứ.

– Họ đòi bao nhiêu hở cậu?

– Trước mắt là ba triệu. Sau đó thì linh động gia giảm tùy theo mức độ khám nghiệm thuốc men.

– Gì mà dữ thế?

– Ai biểu cháu làm Việt kiều. Cháu nổi bật giữa đám đông mà cháu không hay biết. Người ta thèm khát, người ta ganh tị, người ta đố kị những thứ mà cháu có.

– Mai mốt cháu lấy vé máy bay. Cháu về lại bên ấy sớm. Cậu đừng buồn nhé. Chuyến đi thăm quê hương vỏn vẹn đúng ba ngày.

– Cậu không buồn. Cậu trách mình lúc nào cũng bó tay trước nghịch cảnh. Cậu bất lực, cháu đừng giận, xin thông cảm. Mình người Việt với nhau mà sao…

Người đàn ông bỏ lửng câu nói. Mắt đỏ hoe. Hai tay xoắn xít với nhau, bức rức, rối rắm.

– Chuyện gì đã xẩy ra?

Người đàn bà ngồi giường bên cạnh hỏi vọng sang.

– Chuyện đau buồn cá nhân giòng họ. Chị hỏi làm gì?

– Chỉ mặt thằng nào đã hại cô này. Tôi cam kết với ông là sẽ chém nó theo yêu cầu. Từ chết tới bị thương…

– Cám ơn tấm lòng nghĩa hiệp của chị. Lúc này đây người tôi đang bị bằm vụn ra. Tôi đang là kẻ u mê ám chướng. Nhưng mà chém, biết chém chừng nào mới thôi? Bọn gian ác lúc nào cũng hằng hà sa số. Chị không thấy mỏi tay sao?

Người đàn bà ngậm câm. In tuồng sát thủ đã nhìn ra chân lý, vỡ lẽ mọi căn nguyên.

– Cháu nằm xuống một tẹo, đắp chăn lên. Cậu ra ngoài tranh thủ hút điếu thuốc và gọi một chiếc taxi.

Người đàn ông kéo lại tấm màn vải. Bước ra hành lang, đi xiêu lạc. Ông xô cửa, bóng tối đổ ập xuống thành phố. Đèn đường bừng sáng và những con thiêu thân bắt đầu lao vào với tất cả sự mù lòa.

– Oan nghiệt!

Người đàn ông nói một mình. Ông đốt lửa điếu thuốc và hút nó với điệu bộ của một con nghiện đang lên cơn.

– Chị Sáu ơi! Đớn đau quá chị Sáu ơi! Ngày xưa vượt biển chị bị bọn hải tặc Thái lan hãm hiếp đến khờ khạo, giờ này đứa con duy nhất lá ngọc cành vàng của chị cũng bị bọn đầu trâu mặt ngựa Việt nam thay phiên làm nhục ở cố hương. Nó về thăm em mà làm gì? Thăm thằng cậu tật nguyền này mà được cái chi? Ta về ta tắm ao ta… Mả cha cuộc đời quá vô hậu!

Hồ Đình Nghiêm

* Viết, sau khi nghe bài hát chẳng hay “Bonjour Vietnam” của Marc Lavoine

Bỏ đi chữ L

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 9 Nov 2023

Bỏ đi chữ L

Hồ Đình Nghiêm

Người tài xế bước lên xe. Ông đi dọc theo lối hẹp có giữa hai hàng ghế, đếm đầu người ngồi không yên chỗ rồi đối chiếu với con số ghi trên danh sách ông nắm trong tay. “Bon”. Ông ta nói một mình khi trở lại, như một dấu chấm, một kết luận. Như xăng đổ đầy bình, đóng nắp và an tâm chạy suốt đoạn đường dài.

   Đó là một người đàn ông to lớn, nịt da thắt ở lưng quần xệ làm phóng đại chiếc bụng có khá nhiều mỡ. Tướng tá phục phịch của ông tương xứng với chiếc xe cồng kềnh mà lát nữa ông sẽ vật lộn với nó, đưa nó ra khỏi những con đường bé hẹp trong thành phố để nhập vào xa lộ thong dong, hun hút một phương trời chắn lối. Máy xe nổ êm, mười bánh lăn trên những đường sơn vàng kẻ ô vuông như bàn cờ và bên ngoài cửa xe thấp thoáng nhiều bàn tay dong cao vung vẫy. Không bao giờ, có lẽ suốt cả cuộc đời, tôi chẳng hề đón nhận sự bịn rịn của thứ nỗi niềm được tiễn đưa. Tôi luôn là kẻ lữ hành đơn độc. Và tôi thích được vậy. Hình bóng người ở lại, đứng cúi đầu giữa bến xe nhiều gió lộng sẽ làm hành lý mình thêm nặng; tựa thứ quang gánh chất lên hai vai và dưới chân đi là một cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó qua. “Quý vị nên rà soát lại lần cuối giấy tờ tùy thân của mình, cho chắc ăn”. Người tài xế nói vọng lui. Trong gương chiếu hậu đong đưa một khuôn mặt đỏ da thắm thịt. Phương phi và đầy thần sắc. Ông ta như đã ngủ qua một đêm chất đủ mộng lành, thứ giấc ngủ rất cần thiết trước mỗi một lên đường đa phần sẽ làm cơ thể hao hụt. Chưa ra khỏi biên giới tỉnh bang Québec nhưng ông đã xổ tiếng Anh với cách phát âm nặng nề của một kẻ lỡ uống nhiều nước sông St-Laurent. Có lắm người đã chê tôi nói thứ giọng Huế khó nghe, tôi cúi đầu làm thinh không dám đổ thừa cho dòng Hương êm ả muôn đời thầm lặng chảy ở cố quận tiêu điều.

   “Cầu Trường tiền sáu vài mười hai nhịp, anh qua không kịp tội lắm em ơi!” Không, anh sẽ qua. Anh sẽ tới kịp. Dòng nhắn tin của em chói chang đập vào mắt. Anh đã như cậu bé con tập đánh vần chữ quốc ngữ một cách khó nhọc trước cái e-mail không thể bỏ dấu của em. Anh cà lăm hay tại dòng chữ tật nguyền? Ngồi đối mặt với những hàng chữ ấy, bao giờ đầu óc anh cũng đều mọc lên sự liên tưởng: Nó tựa hình ảnh một kẻ bị lột truồng xiêm y. Và đáng phàn nàn là kẻ ấy, tên nạn nhân xấu số kia chẳng có được một thân hình đẹp mắt. Em đồng ý không? Sắc huyền hỏi ngã chính là áo xống lụa là. Nó là xương cốt chống đỡ hộ cho những mẫu tự a b c khỏi gãy đổ. Đôi vợ chồng thợ săn gửi e-mail cho nhau khoe kỳ tích: “Hom qua em moi giet mot con ac thu. Eo oi, long lon rung qua that la nhieu…” Nếu em đỏ mặt thì xin hãy bình tâm mà đổ thừa cho máy vi tính. Bà gửi điện thư kia lòng trong vắt không gợn đục một mảy may. Mà kể cũng vô duyên, lông lợn rừng nhiều là điều hiển nhiên, bà viết ra làm chi chuyện lãng xẹt ấy cho chồng lo sốt vó trong ngộ nhận? Vật lộn với con ác thú nào đến nỗi phải ra cớ sự kia?

   Cảnh sắc trôi chậm rãi lui sau. Có giàu tưởng tượng đến mức triệu phú cũng không thể ví von mình đang trên xe đò chạy suốt Sàigòn-Huế. Quốc lộ Một chẳng bao giờ mang cái vẻ ghẻ lạnh vô bờ như đường ra biên giới này. Trống trải quá, mênh mông quá, đồng không mông quạnh quá! Không đèo, không cây, không luôn cả sông hồ biển sóng. Chỉ trơ trụi một màu xanh tẻ nhạt của cỏ dại đang chết điếng với gió chướng cộm phồng giữa không gian lạ mặt. Tôi mở túi xách để lôi cuốn truyện Lolita ra. Nếp gấp đánh dấu nằm lưng chừng giữa bề dày có hơn năm trăm trang. Văn Vladimir Nabokov chẳng phải thuộc loại dễ đọc. Nó lê thê một cách chẳng đáng để dài dòng khiến mình dễ nản lòng không muốn ông ấy dắt đi tới cuối đường. Tuy vậy tôi vẫn mê cái mối tình khốc liệt ấy. Thích cách ví von của một người đàn ông khi nói về cô bé mình yêu: “… Lo-li-ta: le bout de la langue fait trois petits bonds le long du palais pour venir, a trois, cogner contre les dents. Lo.Li.Ta. Elle était Lo le matin, Lo tout court, un mètre quarante-huit en chaussettes, debout sur un seul pied. Elle était Lola en pantalon. Elle était Dolly à l’école. Elle était Dolorés sur le pointillé des formulaires. Mais dans mes bras, c’était toujours Lolita”.

   Một mối tình. Làm sao tôi có thể cắt nghĩa cho em thế nào là cao đẹp, thế nào là tội lỗi? Chuyện đôi ta, tôi chẳng an lòng khi nghe em phân trần: tại duyên phận. Tôi là đứa dốt nát, lòng tăm tối trước những điều Phật muốn khai nhãn. Vụng tu, không duyên số, đó chẳng qua là lối biện hộ của một người thiếu can đảm. Một cái cớ tự trấn an của kẻ bị thua cuộc. Ngày ấy hai ta đều cháy túi. Ván bài nọ đen đủi như một đường hầm chẳng có lối ra. Nhưng tôi không một lời than van. Vô vọng đã giúp tôi nhìn ngó sự vật bằng một nhãn quang tinh tế hơn. Tôi vẫn yêu em như ngày xưa. Loan tin không? Tôi vượt biên ngày hôm nay là một bằng chứng. Loan. Tên gọi cũng gần như Lolita. Bỏ đi chữ L, còn lại nỗi oan trái nằm lẫn khuất giữa hai đứa.

   Xe chạy chậm dần để sau cùng ngừng hẳn. “Đến biên giới rồi, xin mời quý vị xuống xe xuất trình giấy tờ”. Người tài xế nói khi tắt động cơ. Cửa mở, thấy thấp thoáng hàng chữ duty free treo trên một cửa hàng nằm đàng sau đồn bót phân định lãnh thổ của hai quốc gia. Tôi ở bên này, phương Bắc; và bên kia, hướng Nam có Loan định cư. Một mối tình không suông sẻ tự khởi đầu, và hiện tại giữa chúng ta đã có lằn ranh biên giới minh bạch. Xa mặt cách lòng, điều ấy chẳng ai có thể tranh cãi được. Rơm gần lửa lâu ngày cũng bén, chuyện đó ai nấy đều tán đồng…

   Đám hành khách lố nhố sắp hàng trước trạm kiểm soát có hai nhân viên mặc đồng phục ngồi làm việc đằng sau ô cửa gương mở hé. Lần lượt, luân phiên giải quyết từng cá nhân. Tôi đưa giấy tờ tùy thân cho một người đàn ông trung niên. Tấm căn cước bọc nhựa chứng nhận cái bộ mặt ngác ngơ nơi tấm ảnh đó là công dân của xứ Gia-nã-đại mùa thu lá bay. Coi ảnh, nhìn mặt, đọc thầm họ tên; sau cùng người ngồi cách một bệ chắn ngước mắt lên. Đôi mắt xám, gần tiệp với những sợi tóc màu tro cắt ngắn chiếu thẳng vào mặt tôi:

  – Bạn tính đi đâu?

   Rất ngạc nhiên, nhân viên công lực kia đã hỏi tôi bằng thứ tiếng Việt rõ ràng, chuẩn xác. Tôi ngó lá cờ Mỹ may ở tay áo ông ta, cảm thấy thú vị. Bên kia lằn sơn vàng cũng có lá cờ ấy treo cao đang reo cùng gió. Biên giới thoáng rộng, không hàng rào kẽm gai, chẳng có cột chắn ngang. Trời xanh, cỏ cũng xanh, độc đạo con lộ đen mun phơi thân giữa nắng đang muốn nhuộm vàng. Con đường thì chạy dài mãi miết chẳng đứt đoạn, chỉ có đôi chân con người đôi khi phải chịu dùng dằng nán bước.

  – Tôi đi Virginia.

  – Ở đó khoảng bao lâu?

  – Ba bốn ngày, cùng lắm là một tuần.

  – Mục đích của bạn là gì?

   Chắc không ai cảm thấy phiền hà nếu đứng đó đón nhận cả trăm câu hỏi dồn tới từ một người Mỹ nói tiếng Việt sành điệu thế kia. Phiền hà sẽ đến chừng nào ông ta đổi qua thứ tiếng mẹ đẻ. I DIE 4 U.

   Tôi nuốt nước miếng.

  – Tôi đi thăm nhà.

   Ngang đây thì kẻ phỏng vấn thoáng nhíu mày. Mặt ông ta có nét phảng phất như tài tử Clint Eastwood trong “In the Line of Fire”.

  – Thăm nhà?

  – Đúng thế. Bạn bè, gia đình tôi có những người cư ngụ ở vùng đó.

  – A. Gia đình. Family. Clint Eastwood reo lên, mừng như thể phát hiện ra tên sát thủ có mưu toan bắn hạ Tổng thống. Đi thăm gia đình, nói thế mới đúng chứ. Nhà thì ta gọi là house mất rồi.

   Mặt tôi chắc ửng đỏ, người tôi nóng ran. Tôi lúng túng với sự hổ thẹn vừa ùa tới. Nhân viên phụ trách an ninh cửa khẩu như phát hiện nét thảm hại bao quanh tôi, ông trả lại tấm căn cước với vẻ mặt hiu hiu gần như tự mãn.

  – Hồi trước tôi đóng quân ở Đà-nẵng. Tôi tham gia chiến tranh Việtnam những sáu năm.

   Tôi giật mình. Sáu năm. Đủ để thấy sự khác biệt giữa gia đình và cái nhà. Giỏi thật! Phần tôi, tôi ở đây hơn hai mươi năm nhưng tôi không thể bắt bẻ được một ai, kể cả những con bé cỡ tuổi bằng Lolita, chúng bóp còi và thò đầu trợn mắt với tôi: “You asshole!” Merde hay Chien thì cũng xêm xêm. Cứt với đái. Làm sao thanh minh, làm sao chứng minh sự khác biệt của mỗi từ khi chúng áp đặt không đúng chỗ?

  – Đi đường bình an. Chúc vui khi đến nhà, gặp lại người thân trong gia đình.

  – Cám ơn ông. Thank you, sir!

   Tôi lắp bắp, cảm động trước câu nói của “tên giặc Mỹ xâm lược”. Giờ này ở nước tôi, có lẽ chẳng còn mấy ai căm thù bọn đế quốc. Coi Mỹ xịn nhất thế giới là đằng khác. Nhưng thực sự đã có một thiểu số vẫn ngưỡng mộ Bin Laden, xem ông nhiều râu tựa bác Hồ ấy là anh hùng, dám “tẩn” thằng Mỹ một vố đau.

   Ông ta không kiểm soát hành lý của tôi, như thể sáu năm vào sinh ra tử ở chiến trường ‘Nam xa xôi  đã cho ông cái kinh nghiệm: Bọn da vàng mũi tẹt ấy chẳng đủ máu lạnh để chơi theo kiểu nhóm Hồi giáo quá khích.  Tôi trở lại xe đò, leo lên và ngồi vào chỗ của mình. Tôi nhớ tới Loan, nhớ tới thứ tình yêu ngày cũ đã có khi dằn vặt mình đến độ chán đời suýt đầu quân vào binh chủng Biệt động. Một con cọp nhe răng may bên tay áo trận, một khẩu AR-15 dễ bị trở ngại tác xạ và đôi chân xuôi ngược suốt 4 vùng chiến thuật. Tình yêu có thể mang người ta đến một thế giới an lành và ngược lại, nó cũng thừa sức dẫn ta mù lòa vào hỏa ngục. Tôi chưa xem hết cuốn truyện Lolita, nhưng tôi tin, cuối cùng nó sẽ kết thúc bằng một cái chết. Chồng Loan mất cách đây ba năm, bạn tôi hiện vẫn ở vậy nuôi đứa con mười tuổi. Trong những bức điện thư không có dấu, tôi đọc và đoán lờ mờ hình như bạn tôi đang cảm thấy cần một khuôn mặt đàn ông kề cận. Tôi yêu Loan và điều đó không nhất thiết phải là thứ Kim Kiều tái hợp. Hoặc giả, muốn hay không, trước tiên tôi phải nên xem xét thái độ của đứa bé gái mười tuổi kia. Dân chủ, mở cửa, và quan trọng nhất, trưng cầu dân ý; lắng nghe tiếng nói đến từ mọi phía.

 Loan trước mặt không hề là Loan trong trí tưởng tôi. Mái tóc thề đã cắt ngắn đi, khuôn mặt nhiều phấn son; và đã mất rồi, những đường cong gợi hình trên cơ thể. Như phù sa bồi đắp một rẻo đất thon. Như bản đồ một quốc gia đã nhượng cắt để hình thù phải bị hoán đổi đi. “Sông kia rày đã nên đồng!” Bao nhiêu năm rồi? Như một sáng soi gương tôi đã nhìn ra biết bao là sợi tóc bạc mọc tùy tiện trên đầu mình. Tôi nhìn Loan, lòng rưng rưng một nỗi niềm không cắt nghĩa được. Ôn cố tri tân là phương ngữ của kẻ thành công. Với tôi quá vãng là những lượng vàng ròng mà ngày tháng xê dịch đã lần lượt tướt đoạt ở chúng tôi quá nhiều thứ, trắng tay. Nó dẫn chúng tôi vào căn phòng chật, bày cho thấy một bức tranh hiện thực khổ lớn, ngổn ngang những đường dao nét cọ tàn bạo chồng lấp, phủ hoen ố tấm bố trắng tinh.

  – Loan đã lấy vé rồi, hai hôm nữa sẽ về thăm nhà.

  – Cái gì?

   Tôi ngạc nhiên. Trong tự điển Nhà là House đó cưng! Mình ơi! Bà xã ơi! Nhà tôi ơi!

  – Dắt con bé về thăm bà ngoại, lần đầu tiên cũng là lần sau cùng. Mạ Loan đau nặng, bệnh viện Huế từ chối. Tuổi cụ gần đất xa trời, chạy đi mô để tránh nắng đây? Họ nói như rứa đó!

   “Màu nắng hay là màu mắt em?” Mắt Loan vẫn đẹp như xưa. To, sâu, muộn phiền. Lại có chút thơ ngây lắng đọng ở trong. Rèm mi mở ra và nhốt đủ một phương trời viễn mộng. Phương trời xa lắc xa lơ một sớm mai thấy mình chợt bể tiếng.

   Ngó tôi ngồi bần thần trên ghế, Loan đi pha cho tôi một cốc cà phê. Pha thơm ngon, vừa miệng như kẻ từng đi guốc trong bụng mình.

  – Gửi gì về cho gia đình không? Loan hỏi.

   Đấng sinh thành của tôi giũ áo ra đi gần cả chục năm rồi. Hai tấm bia xi-măng chẳng trơn láng đặt không ngay ngắn trên hai gò đất vun đắp với nhiều sỏi đá. Bên kia đồi thông là lăng Tự-đức, con đường mòn vắng lặng nhiều lùm cây bụi cỏ có những cặp cháu ngoan bác Hồ buồn đời dắt tay vào làm tình làm tội nhau. Tiếng rên thống khoái có thể át tiếng gió mơn trớn trên đồi thông mọc nhiều nấm mộ. Dưới đồi là chỗ giữ xe của ông thương phế binh một chân một tay, lởn vởn hai ba tên hành nghề chụp ảnh đi loanh quanh nhìn trời ngó đất. “Nghiệp đoàn lao động” ấy sẽ trấn lột du khách không tường nội quy lỡ mang máy hình ra lăng xăng sửa thế làm vài bô kỷ niệm chốn Thần kinh. ” Có muốn chụp ảnh thì chóng cất máy hình đi. Gọi tui tới có gì khó nhọc? Mấy ôn chơi kiểu nớ là muốn đạp đổ nồi cơm của tụi ni chớ còn chi nữa?” Cảnh sắc không được ghi lên âm bản, ra về mạng không cho chắc chuyện. Đời thuở, luật lệ ngày nay chẳng biết ai ban hành? Nghĩ không ra! Bên kia đường là quán cà phê, sau căn nhà tranh xiêu đổ ấy có bày biện vài chiếc giường tre màn che khăn rủ, một số chị em ta không hiểu từ đâu chợt hiện hình, phục vụ vượt quá mức quy định mà giá bèo tới độ không tin. Sướng giàn trời mà tiền trao tay chỉ mua chừng chục ổi xá lị. Nghe ham! Con đường dẫn về thành phố có đoạn chưa trải nhựa, đất nhiều bụi đỏ khi nắng và lắm bùn vàng khi mưa. Toàn thể là bức tranh nhợt nhạt luôn trôi chậm trong đầu tôi mỗi một hồi ức. “Mai chị về em gửi gì không? Mai chị về nhớ má em hồng. Đường đi không gió lòng sao lạnh? Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong… Quê chị giờ xa tít dặm xa. Rừng thu chiều xao xác canh gà…” Thơ Quang Dũng bao giờ cũng gợn sóng ở trong lòng, loang ra đồng tâm một nỗi buồn nhẹ. “Buồn dâng đôi mi hàng lệ hàng”.

   Trước khi sang thăm Loan tôi có đổi được hai trăm đồng US. Chừng đó tiền gửi về, người nhận sẽ la toáng lên: “Trời đất ơi, đứa nào bỏ quên bạc lẻ ở trên bàn. Cầm ngần ấy trong tay thì tiêu thế chó nào được!”

   Tôi lắc đầu.

  – Mình bạc phước, chẳng còn ai để giúp và không một ai giúp mình.

   Mắt Loan to, sâu, đen, láng ướt, đọng chiếu nhiều dấu hỏi bên trong.

  – Thích gì không? Loan biết để mua làm quà mang sang.

   Nón bài thơ, mè xửng, hạt sen… đặc sản của Huế da diết nghèo. Làm sao tôi có thể thích hợp với thứ quà “mặn mà tình quê hương” đó? Em hãy dùng xe đạp, vào cửa Thượng-tứ, rẽ trái, bỏ băng Quốc tử giám, quẹo phải. Con đường ấy trồng nhiều cây mù u và sầu đông, nếu nó chung tình còn đứng đợi ở đấy. Dãy tường thành nhiều rong rêu, theo trí nhớ của tôi. Em sẽ chậm rãi đi vào cổng Hiển nhơn, có thể họ, những người ở bảo tồn bảo tàng sẽ thu ở em một ít tiền như kiểu bán vé cho khách tham quan tò mò xem nơi vua chúa triều Nguyễn từng ăn ở. Đừng vào sâu làm gì cho mất thời giờ. Ngọ môn lầu và điện Thái-hòa là chuyện thứ yếu, chẳng đáng quan tâm. Em sẽ thấy ngôi trường Cao đẳng mỹ thuật với lối kiến trúc thời thuộc địa Pháp. Cầu trời nó vẫn yên vị mà không bị dâu bể dời đổi chỗ khác! Cây bàng bề thế vặn mình núp sau cổng, chìa ra những chiếc lá to vân vi đầy màu sắc kỳ lạ. Xin em hãy đi quanh thân nó một vòng. Nhìn ngắm và sờ mó, thế nào em cũng sẽ phát hiện trên lớp vỏ sần sùi ấy còn chìm sâu một trái tim mưng mủ. Tôi học ban điêu khắc và bài thực tập đầu đời là mũi dao đã cạo vụng về, khắc lẩy bẩy vào thân cây hình thể một trái tim với chữ Loan phụ chú ở bên dưới. Hình ảnh rất “sến”. Em có thấy vậy không? Cải lương! Nhưng câu vọng cổ nào rơi xuống cũng mang theo nó ít nhiều cảm động. Mấy mươi năm rồi, trái tim xưa có thể đã méo mó. Chữ Loan có thể đã biến dạng, nhưng tôi tin niềm bí mật ấy sẽ chờ Loan về nhìn nhận rồi sau đó vết sẹo trên cây bàng thân yêu mới chịu liền da.

  Buổi tối Loan mang mền gối xuống cho tôi. Chiếc ghế ngồi có thể kéo ra thành giường và đối mặt nó là TV đang có chương trình hài hước. NBC, ABC hay CBS, mọi băng tầng phát hình đều thế cả. Người Mỹ cũng lạ, chuyện gì cũng khiến họ phá ra cười. Cười đến chảy nước mắt, ho khan và tắt tiếng. Họ thua Việt-nam cũng phải, cái dân tộc ấy người người đều là thi sĩ, mặt khó đăm đăm như nhà hiền triết, táo bón một nụ cười vì đi mãi vẫn chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm. “Nay ở trong thơ nên có thép, là nhà thơ cũng phải biết xung phong“. Đọc thơ ấy xong mà không phá ra cười là thua xa thằng Mỹ đấy!

   Sau lưng Loan, cô bé mười tuổi nép mình nhìn tôi với đôi mắt đong đầy ác cảm. Loan đã từng giải thích người ấy là bạn cũ của mom, chỉ ở tạm một vài hôm thôi. Người ấy như kẻ homeless, tội nghiệp. Sang đây chỉ để đưa tiễn mẹ con mình về thăm ngoại. You know? Loan khôi hài thêm, mượn lời nhạc của Alice Cooper: ” Hắn ta biết đánh răng nè, biết chải đầu nè, biết đi nhà thờ nè. Hắn đích thực là một nice guy!”. Nước đổ đầu vịt, chẳng đắc nhân tâm. Thủy chung con bé vẫn giữ lập trường, khoanh vùng, phân định giai cấp. Nếu tôi được là E.T, có lẽ nó sẽ đến gần lân la với nhiều thiện cảm, lộ vẻ ân cần: “E.T có muốn trở về nhà không?”

   Tôi tắt máy truyền hình, nằm nghe gió về xào xạc ngoài vườn khuya. Có tiếng còi xe cứu thương hú vọng từ xa, khu Seven corners hay ở hướng thương xá Eden? Tôi nhắm mắt, vẽ trong trí hình ảnh một bà mẹ nhắc nhở con đánh răng cẩn thận, hối thúc nó đi ngủ sớm. Thay vì ngồi bên giường đọc truyện cổ tích cho nó nghe, bà ta cẩn trọng pha chút thuốc ngủ trong ly nước suối: “Uống đi con, rồi sẽ bắt gặp mộng lành sau đó.” Chiếc áo ngủ lay động trên dáng đi rón rén, đôi chân trần nhón bước xuống những bậc cấp có lót thảm êm. Hơi thở nóng khô kề cận và sau đó là sự ướt át rịn ứa từ sâu thẳm. Trái tim thúc hối những nhịp đập hoảng loạn. “Chúng ta đã trót phung phí tuổi trẻ của mình một cách oan uổng, không đúng chỗ. Hai đêm còn lại ngắn ngủi này xin hãy rán sức đền bồi cho nhau. Chết bỏ bể bỏ…”

   Tôi thiếp đi. Lolita của Nabokov và Loan xưa của tôi thay phiên nằm đè lên thân thể tôi nặng nhọc. Tất cả chỉ là mộng mị. Tôi thực sự đã không có House, không luôn cả Family. Hỡi ông John, người cảnh sát biên phòng vừa thoáng gặp ngoài đồng không mông quạnh!

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 9 Nov 2023

Hoa kết trái

Đặng Chí Bình

Bài 42

Sau khi họp tổ dân phố về, người tôi hãy còn mệt, thì em Hoa kêu trong người thấy khác thường, tôi xuống nhà hỏi mẹ, em Hoa cũng mệt nhọc lần cầu thang xuống theo. Mẹ tôi quả đã có nhiều kinh nghiệm, người chỉ bắt mạch tay của Hoa, người đã nói: “Con vào xóm gọi xích – lô, rồi con sang báo cho bà Chức”., Tôi hộc tốc sang bên bà mẹ vợ, rồi vào xóm gọi xích- lô.

Trong xóm có ba người hành nghề xích – lô, tôi phải đến nhà người thứ hai là ông Nhân mới gặp. Tôi và bà già vợ chuẩn bị tíu tít những thứ cần thiết cho Hoa nở nhụy. Mẹ Hoa cùng ngồi xích – lô với Hoa, vào nhà thương Hùng Vương. Tôi đêm ấy, phải coi nhà bên mẹ vợ, vì chỉ có cô em út Kim Anh 12 tuổi ở nhà. Sáng sớm mai tôi phải, phóng sang Phú Nhuận để xin nghỉ “vợ đẻ”. Khoảng gần 10 giờ từ trên tổ mộc Thành Công phóng xe đạp về tới nhà, thì được biết bà Chức sáng sớm, đã về báo Hoa sinh con gái được 2 kg800 lúc gần sáng, “mẹ tròn con vuông”. Tôi chạy vội về nhà báo tin vui cho thầy mẹ của tôi, mẹ tôi miệng thì cười, nhưng lại phải lấy khăn lau nước mắt. Người cứ luôn miệng lẩm bẩm: “Cảm tạ Chúa và mẹ Maria”. Tôi trèo lên giường thầy tôi, thầy tôi đang nằm, nghe tôi nói Hoa đã đẻ con gái, thầy tôi bò dậy ôm lấy tôi, miệng người thì thào:

– Thầy vui… mãn nguyện….. lắm!

Tôi xuống bếp gầy vội nồi cơm cho thầy mẹ, rồi còn phải ra chợ mua một hộp sữa, do tiền mẹ tôi đưa, để đưa sang bà nhạc mang vào nhà thương cho mẹ con Hoa. Tôi nóng lòng muốn nhìn mặt con gái của tôi, khi nãy bà nhạc đã cười, bảo tôi:

– Anh đặt tên cho con gái, tí nữa mẹ vào báo cho nhà thương!

Như vậy tôi đã có con, tôi đã làm bố rồi, điều mà trước đây tôi có bao giờ nghĩ tới đâu? Tôi chạy sang bà mẹ vợ, tôi chạy về nhà, tôi chạy xuống bếp, tôi leo lên gác. Tôi chẳng biết chạy đi đâu! Và tôi chạy để làm gì? Tôi cũng không biết nữa? Tôi nghĩ đến thằng Lợi, thằng bạn thân thương nhất của tôi, con gái của nó tên là Linh, tôi cũng muốn đặt tên con gái của tôi là Linh nhưng phải khác một tí là Lynh. Tôi nhìn cây mai ở nhà, cây mai tươi tốt nhưng chưa một lần có hoa, mấy hôm trước lại có một cái nụ duy nhất. Cây mai, tôi đã đứng cạnh, để chiêm ngưỡng em Hoa lần đầu. Vậy tôi sẽ đặt tên con gái của tôi là Mai Lynh. Tôi chạy vội sang bà nhạc để nhờ mẹ vào nhà thương đặt tên cho con gái là Mai Lynh.

Tôi vừa bước chân về nhà, hôm nay tôi thấy lạ! Ngồi trong màn thầy tôi thò tay ra vẫy tôi vào, tôi trèo lên giường, trong nỗi vui vì con gái tôi, còn đầy ắp trong lòng. Thầy tôi rút trong người ra, đưa cho tôi một cái bútParker đút trong một cái túi nhung đen con. Chiếc bút mầu mận chín còn mới tinh, chưa có mực. Chiếc bút “Made in USA”. Không biết thầy tôi cất giấu từ bao giờ, nhưng chắc phải từ trước 30-4-1975. Tôi chỉ biết ôm lấy thầy, miệng hổn hển:

– Con xin cảm ơn thầy!

Lòng còn đang xốn xang với vợ và con gái trong nhà thương, nên tôi đã cất chiếc bút vào túi, tôi lại vào giường trong nói chuyện với mẹ tôi. Lòng tôi vẫn thấp thỏm băn khoăn với chiếc bút Parker 51 trong túi, cũng như lọ mực Waterman thầy tôi cho, hơn một tháng trước. Tôi vẫn không hiểu được ý của thầy tôi? Chẳng lẽ người muốn tôi đi học? Tôi đã 44- 45 tuổi rồi, còn đang chạy ăn từng bữa một thì học hành gì? Hay thầy tôi cho bút mực để viết kiểm điểm với các cơ quan của CA? Hỏi mẹ, hỏi vợ cũng không đoán ra, nên tôi đành cất đi? Tôi chợt nghĩ đến đứa con gái mới đẻ, tôi đã đặt tên rồi mà, bố vẫn chưa thấy mặt của con. Hay người cho bút mực để con gái của tôi đi học? Điều này thì tôi chưa thể xác định, điều trước nhất là hai giờ chiều nay, tôi phải lên tiểu ban Quản Lý Những Người Học Tập Được Về.

Hôm qua có giấy gọi tôi phải lên đúng hai giờ để biết rõ: Lệnh tạm trú ba tháng của tôi, sau khi làm kiểm điểm ba, bốn lần rồi! Có được lòng nhân đạo của Đảng cho gia hạn tạm trú, để phụng dưỡng bố mẹ mù lòa, lẩn thẩn hay phải đi vùng kinh tế mới? Rồi lá đơn xin Đảng và Nhà Nước mở vòng tay của người cùng một nước, cho tôi trở lại nhà tù? Tôi đã viết và nộp hơn ba tháng rồi? Bây giờ vợ lại đẻ! Bao nhiêu những gậy gộc, dao, búa chĩa vào tôi đe dọa. Cả hạt gạo, cũng trở thành hung dữ, ghét bỏ tôi, đe dọa cuộc sống của tôi.

Rã rời mệt mỏi, ngồi trên chiếc xe chân không muốn đạp, chiếc xe hình như cũng góp phần với gạo nước, củi lửa làm cho tôi càng mệt thêm, trên đường đến tiểu ban QLNNHTĐV. Tôi đã chuẩn bị những lời xin xỏ, chống đỡ, tai cũng sẵn sàng nghe những lời nạt nộ, quát tháo như mọi khi. Nhưng tôi đã ngỡ ngàng ngạc nhiên, cũng là tên trung úy Bội trước đây, hôm nay y ăn nói nhẹ nhàng, tình cảm. Hơn một năm tôi chưa hề thấy ở y, nhất là sau khi tôi báo là vợ tôi đẻ con gái ngày hôm qua, nhưng tôi cũng chưa được nhìn thấy. Y chúc mừng tôi, y khuyên tôi phải giữ đạo làm con đối với bố mẹ già yếu tàn tật. Y đã cho tôi nguồn sinh lực cụ thể, y nói rõ ràng:

– Y chấp nhận, tôi được tạm trú nhà bố mẹ thêm ba tháng nữa. Vài ngày nữa, đứa con có khai sinh, cầm giấy ra trại của tôi, giấy khai sinh của con, giấy chứng minh nhân dân của vợ, giấy hộ khẩu của bố mẹ, sang phòng lương thực của Quận. Y đã có ý kiến với bên đó, họ sẽ cấp tem, phiếu gạo và thực phẩm, như mọi người. Riêng về quản chế tôi vẫn như cũ. Nghĩa là vẫn hàng ngày, tôi phải trình diện CA khu vực. Sáng thứ Hai mỗi tuần, phải ra trình diện ở cơ quan Phường. Thành phố, tiểu ban và Quận cần sẽ có giấy gọi. Chấp hành mọi quy chế ở tổ phố, như cũ.

Tôi có cảm tưởng như trước đây hai lỗ mũi của tôi bị nút kín, chỉ còn cái miệng, thở được chút nào thì hay chút ấy, nghĩa là khó thở, nghẹt, hoặc không thở được trong cuộc sống, bây giờ tôi được tháo nút ra một bên mũi.

Tôi vẫn xin cảm tạ cuộc đời!

Chiếc xe đạp, lúc đi thì ngang bướng, lỳ lợm; khi về thì ngoan ngoãn dễ bảo, chỉ thấy một tí đã về đến nhà rồi. Cũng căn nhà của bố mẹ, mỗi ngày tôi đi lao động trở về nhìn nó xám, nó xỉn lại, nó khắc khổ, rũ rượi, thế mà hôm nay rõ ràng nó tươi tắn hẳn lên. Nó như mở to mắt mà còn cười đón tôi về. Tôi đã ôm lấy thầy tôi, ôm lấy mẹ tôi báo cho các người: Tôi và con gái đã có tem phiếu gạo, tôi chạy sang cả bên bà mẹ vợ để báo tin vui này. Hôm nay, tôi chạy ra chợ chiều muộn, để mua một bó rau đay và cua rốc. Đặc biệt thêm là mua cà ghém sống, món mà bố mẹ, Hoa và tôi thèm đã từ lâu, nhưng chỉ được ăn cà ghém nén, nhà bà Lân.

Cái món cua rốc mẹ tôi vẫn khao khát thèm, hôm nay tôi ra sức làm một bữa rau đay cua đồng, ăn với cà ghém chấm mắm tôm chanh. Tôi hì hục giã cua, lọc cua, chiếc cối là chiếc mũ sắt và chiếc chầy đã lâu ngày quên cả mùi cua rốc. Thành ra nó gật lấy, gật để vào những con cua liên hồi. Tiếng chầy giã cua nhịp nhàng, réo rắt như điệu “Rumba”. Chỉ một loáng đã nhuyễn, cái mùi cua rốc là cái mùi của ruộng đồng, của đất, của nước, của quê hương. Khi nó sôi lên, mùi đất nước, mùi quê hương ngạt ngào phả khắp dưới bếp, trên nhà. Mẹ tôi từ trong màn gọi vội ra:

– Con làm cho nước miếng của mẹ, ứa ra mấy lần rồi!

Nghe mẹ nói, lòng tôi mát rười rượi, có cần gì phải giầu sang, tiền bạc đưa cho mẹ? Chỉ cần một tấm lòng chân thật, với những thức ăn của ruộng đồng mộc mạc, giản dị của quê hương. Một bữa cơm đơn sơ, tràn ứ tình phụ mẫu, nghĩa phu thê về chiều. Cơm xong, tôi tranh thủ mang sổ đến nhà cô Ngọc Anh trình diện, về đến nhà, vội vàng dọn dẹp, rửa chén bát rồi lên gác đi ngủ sớm. Tôi đã có chủ định, sáng sớm mai, sẽ vào thăm em Hoa và nhìn mặt cô con gái Mai Lynh của tôi.

Nhưng nằm xuống, đâu có ngủ được, cô vợ và đứa con gái cứ thập thò đứng bên cạnh chuyện trò lúc rõ, lúc mờ. Hình ảnh tên Bội của tiểu ban QLNNHTĐV cũng mò vào, miên man, tôi chợt nhận ra lòng nhân đạo của Đảng đối với tôi. Sâu hiểm thật!

Một ông già lẩn thẩn gần tám chục tuổi, một bà cụ mù lòa là một gánh nặng cho xã hội. Một tên tù xác xơ, lại cho nó vào tù nữa, như một con vật phế thải, bỏ đi, để nó ở nhà nhưng đóng đai lại để nó lo lắng phục vụ bố mẹ già của nó, vừa làm cho những chòm xóm, thân bằng, gia đình nó thấy được độ lượng nhân ái thương dân của Đảng; lại vừa nhẹ gánh cho chính quyền địa phương. Chỉ cần quản lý nó chặt, lấy bớt một nút ở lỗ mũi của nó, cho nó dễ thở một chút, nó mới có sức làm công việc phục vụ hai ông bà già mù lòa, tàn tật này, không ai làm công việc này, tốt hơn nó.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 9 Nov 2023

 Định mệnh con người

Đặng Chí Bình

Bài 41

Chúng tôi năm anh chàng trong phe chiến bại, đang bị một cô gái trong phe chiến thắng “hành” ngày thứ Bẩy, Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa như mọi khi. Bỗng có tiếng ồn ào, quát tháo từ phía ngõ, khu Sơn Tây, chúng tôi đang quét và nhặt rác, thông những ống cống ở mấy con đường hẻm gần nhà thờ Nam Hòa, đều ngừng tay ngửng lên: Một cô gái tóc uốn, chừng 18 hay 19 tuổi, nước da trắng hồng, với bộ mặt tương đối khả ái. Toàn bộ thân hình của cô không hề có một mảnh vải, không phải cô gái nào cũng có một thân hình cân đối như cô. Cô rảo bước từ phía ngõ Sơn Tây đi đến, có mấy đứa trẻ con trai mươi, mười hai tuổi hò hét chạy theo nhìn, nhiều tiếng quát của người lớn là để gọi con cái họ, không được đi theo nhìn.

Tôi và mấy anh kia, cũng đều bàng hoàng đờ cả người ra. Quay lại phía cô công an Ngọc Anh, thì cô ả mặt đỏ như mai cua luộc, gục mãi đầu vào một cánh cửa sổ của một ngôi nhà. Tình thế bất ngờ!

Lẽ ra phía phụ nữ, những bà lớn tuổi, phải ra can thiệp, hoặc đưa vải hay khăn che cho cô ta. Nhưng chả có một ai ra giúp đỡ giữa khoảng 10- 12 giờ trưa, nếu ở gần nhà tôi, tôi sẽ gọi Hoa đưa tạm cái khăn, hay miếng nylon ra che cho cô ta. Tôi cũng không dám đến gần cô, để tìm hiểu vì sao lại có một sự việc “ngàn năm một thuở” như thế này?

Bố mẹ và nhà cô ở đâu? Khi đến dong nhà thờ, cô rẽ ra đường Bắc Hải để sang khu Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa cũ. Chúng tôi đang lao động có người chỉ huy, nên chả đi đâu được. Tuy chẳng một ai trong chúng tôi biết lý do, nguyên nhân, nhưng chắc bốn anh kia cũng như tôi, làm sao mà quên được:

Cái buổi “chết người” lao động ấy!

Ngàn năm chưa dễ đã ai………quên!

Nó độc lập với ý chí của con người, dù có muốn quên đi nhưng vẫn còn nhớ mãi. Tôi về kể chuyện lại cho Hoa, Hoa lại cười ré lên, như con gà tây gại ổ:

– Như vậy là anh vớ “bở” rồi!

Tôi chả biết đến “bở” hay “sượng” nhưng rõ ràng sự việc này, nó cũng luồn sâu bên trong là vấn đề xã hội. Từ sự việc này, nếu ai chịu suy nghĩ đều đã nhìn thấy, nhiều mặt của cái xã hội ấy.

Hôm nay đi làm về, vừa đến cửa Hoa đã chạy ra, mặt em tươi roi rói, em nói ríu rít:

– Vừa khi nãy có một anh chừng ba chục tuổi đi xe Honda vào, anh ta nói là anh em của một Biệt Kích nhẩy Bắc, muốn gặp anh? Tên anh ta là Vân.

Tất nhiên, tôi chả biết anh ta, vì tôi chưa gặp lần nào, có địa chỉ ở gần Cống Bà Xếp Hòa Hưng. Cứ để đấy, cuối tuần tôi sẽ đến thăm, xem sao? Không ngờ hôm sau gần 5 giờ anh ta lại đến. Tôi về đến nhà, ngoài cửa một chiếc Honda còn “láng coóng”, mới và đẹp hơn xe của chú Tuất, chồng em Xuân. Một cậu rất tư cách, tỏ là giới “lõi” của thành phố, cậu ta tự giới thiệu là Vân, em rể của Hoàng Văn Chương, một biệt kích ra Bắc 1968.

Cậu đã ra Bắc thăm Chương, cùng với cô Hoàng Thị Phúc, chị vợ. Cô Phúc cũng là em của Chương, như thế tôi hiểu: Hoàng Văn Chương, rồi cô Phúc và còn một người em gái nữa. Người em gái này là vợ của Trần Vân. Thái độ của Vân rất niềm nở, mới gặp mà như đã quen nhau lâu rồi. Ngay buổi chiều ấy Vân mời tôi cho bằng được ra một hiệu phở ở Ông Tạ, Vân mời cả Hoa, nhưng Hoa đã từ chối, phải ở nhà cơm nước, săn sóc ông bà cụ.

Nói chuyện với Vân, tôi biết nhiều điều mới của Sài Gòn dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Mấy ngày sau, Vân đã đèo tôi về nhà gặp vợ Vân. Vân ở mãi dưới Long An, nhưng thường xuyên đi về bà nhạc ở Hoà Hưng. Tôi cũng đã gặp cả cô Phúc là em của Chương, cô Phúc cũng đạt dào tình người. Tôi hiểu Trần Vân có một số khả năng, nhìn được một số kẽ hở của xã hội mới, nên cậu ta đã lách vào những kẽ trống đó để giải quyết cuộc sống của gia đình, mà còn thảnh thơi, thong dong.

Cậu ta chạy “mánh” thuốc lá, thuốc Tây; chơi thì có trọng điểm, theo cậu ta, màng lưới CA và quan thuế dầy đặc. Đã gọi là màng lưới, thì phải có mắt lưới và nút lưới, nút lưới là chỗ chốt của CA hay quan thuế. Vì thế, điều cần thiết là phải nhìn được ra đâu là mắt, đâu là nút, hơn nữa với những kỹ thuật thực hư, hư thực của CA và thuế quan, phải nắm vững chỗ nào, mắt trở thành nút và ngược lại. Thấy anh chàng Vân này tuy chưa có kinh qua về tình báo; chỉ do kiến thức thiên phú tự nhiên mà cũng tương đối sắc sảo, tôi khích lệ và bổ sung những chỗ tôi biết cho Vân.

Đi với Vân, tôi vừa học hỏi thêm kinh nghiệm lại có bồi dưỡng, bù đắp những ngày nắng hạn trước đây. Để thưởng thức một “pha” làm ăn của Vân, hôm đó sau khi trình diện xong, Vân và tôi ra Xa Cảng. Mối cũ của Vân, tôi ngồi sau xe Honda, ôm 900 bao thuốc lá ba số 5, trong một cái bao tải gạo cũ, luồn lách qua nhiều đường hẻm, đã đưa về nhà Vân an toàn. Theo Vân tiền lời của “cú” đó, có thể mua được một tạ rưỡi gạo.

Có lần cô Phúc một Honda, Vân đèo tôi trở lại thăm nhà hàng Thanh Thế, nơi 1962 tôi và bạn bè hay ra ngồi, vợ Vân bụng to; Hoa cũng bụng to nên phải ở nhà.

Đã mấy lần cô Phúc và Vân ca tụng một bà thầy tướng, ở một ngõ trong khu Đắc Lộ, nhã ý của hai người muốn mời tôi cùng đến xem một lần để thẩm định, tôi đều từ chối, phần vì tôi sống bằng sự nỗ lực, của chính bản thân tôi. Hơn nữa, mỗi lần xem giá 30 đồng cho một người, đành rằng do Vân và cô Phúc trả; nhưng tiền của ai thì cũng là tiền. Nếu có một chút ý thức tự trọng, thì tiền của người khác, cũng ý nghĩa như tiền của mình.

Tôi đã đánh giá Vân là người khá sắc sảo, bén nhậy, mà còn ca ngợi cô thầy tướng, nào là: không phải ngẫu nhiên mà nhiều người ở xa đến xem tướng phải nằm chực, nằm chờ vì vào nhưng giờ cô thầy không coi, hoặc vì đông quá v.v… Những người từ Lục Tỉnh lên, người từ Thanh Hóa, Nghệ An vào, anh cứ đi đến xem anh có “oversea” được không? Tôi đã từ chối nhiều lần, đưa ra nhiều lý do, không hiểu sao Vân và cô Phúc lại muốn tôi cùng đi xem?

Hơn một tuần sau, Vân cho biết, hôm qua cô Phúc và Vân đã đi xem rồi, bà thầy nói như người quen biết từ lâu với mình, biết rõ quá khứ, tương lai của một người. Một tuần có hai ngày bà không xem, dù trả gấp đôi hay gấp ba; đó là thứ Ba và thứ Bẩy. Tôi hỏi, thế Vân có hỏi tại sao bà thầy, lại không xem hai ngày ấy? Bà thầy đã nói: Bà cũng muốn coi, vì khách chờ lâu, nhưng bà nhìn được vận mệnh của người khác là do lộc, do ý của Thánh. Thánh đã dậy, bà chỉ biết tuyệt đối vâng lời!

Đến đây thì tôi đã hiểu Vân muốn tôi đi coi, một người đã đi tù hết cả tuổi xuân trong nhà tù, xem bà ta có biết không? Vả lại theo Vân, tôi cũng có những nhận xét tương đối về tướng số và bói toán. Thực sự tôi không hề biết về những món tướng số, tử vi, bói toán. Những năm tù ở trại trung ương, do tiếp xúc với một số thầy tướng, thầy ngải, thư, ếm bùa người dân tộc, người Kinh đều là loại danh tiếng, có cỡ Cộng Sản mới bắt vào tù. Tôi tiếp xúc với các vị, chẳng có một chủ trương gì, ngoài cái tính tò mò, và cũng tùy tiện, nghĩa là gặp chăng hay chớ, chứ chẳng để tâm làm gì.

Tôi lại chợt thoáng nhớ tới ngày 30-4-1975, những tờ báo Cộng Sản tha hồ huênh hoang nhiều chuyện, có một chuyện đăng ngay trên tờ Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân. Chúng còn ra rả đọc ở trên đài phát thanh, khi chúng vào tiếp quản Dinh Độc Lập, một tổ ba người (tôi không nhớ tên), được lệnh đặc biệt lục tìm những tư liệu mật và tài sản giấu đút của Nguyễn Văn Thiệu. Chúng đã thấy ngay ở đầu giường của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, có ba quyển sách quý: Một cuốn về tướng số của con người, hai cuốn kia là tử vi phong thổ, nổi tiếng của thế giới và miền Nam.

Ngay ở trong tù, anh em chúng tôi nghe đến đấy, đều ồ lên cười đùa? Nhiều anh em tù miền Bắc đã nói: “Chắc ông Thiệu không chịu nghiên cứu kỹ, nên đã phải chuồn đi từ ngày 16-4″. Hầu hết những biệt kích chúng tôi đều cúi xuống, để tránh mắt mọi người.

Về vấn đề tâm linh, tín ngưỡng nó cũng có những cái chung: Cuộc sống càng cơ cực, lầm than; thất bại tràn lan, mạng sống quay cuồng trong bão tố, thì con người càng tìm đến thần linh để cứu giúp, che chở. Ngược lại, cơm no, áo ấm thừa thãi, muốn cái gì cũng đạt theo ý mình, thì càng lửng lơ xa lìa thần thánh. Dưới chế độ Cộng Sản vô thần, chúng coi thần thánh là kẻ thù, chúng đả phá tiêu diệt. Nhưng người dân quá cơ cực đói khát, thiếu thốn lầm than nên họ càng tìm đến, với thần linh.

Nó trở thành mâu thuẫn đến vô lý, của hai hệ thống xã hội. Thế giới tư bản tự do, hữu thần: Người dân thờ ơ, coi thần linh tôn giáo như một hình thức trang trí, làm cảnh. Thế giới Cộng Sản độc tài vô thần: Người dân thành kính đến với thần linh, tôn giáo, coi thần linh, tôn giáo như một cứu tinh của đời họ. Tôi nhớ đến một chuyện tướng số, thời gian tôi ở tù: Có một giai đoạn, khoảng 1969- 1971 ở trại trung ương số 1 Lào Cai.

Giai đoạn này tôi mới lên trại, chưa có tay nghề mộc khá, để có thể có năng suất kiếm một vài đồng, mua thuốc hút. Một đêm tôi nghĩ ra một cách “ma giáo” để kiếm thuốc hút. Tôi hiểu con người ta có nhiều cái riêng, nhưng cũng có nhiều cái chung. Anh thấy cái đó đẹp, người khác cũng thấy cái đó đẹp, anh thấy ăn cái đó ngon, người khác cũng thấy ngon. Trong cuộc sống anh sợ hãi cái đó, người khác cũng sợ hãi cái đó vậy v.v. ..

Phải chấp nhận: muốn kiếm tiền, hay sống bằng nghề nghiệp gì cũng phải mất tâm trí, công sức về cái đó, ít hay nhiều tùy theo. Nghề bác sĩ thì phải mất nhiều tâm trí, công sức hơn (học nhiều hơn) nghề sửa xe đạp. Chuyện tôi chỉ cần kiếm điếu thuốc hút ở trong tù, nên chỉ cần suy nghĩ qua loa một chút: Tìm một số điểm chung của con người, mới thoáng nghe lại tưởng là cái riêng. Phải khoét sâu vào tâm lý, và cũng phải biết chế ngự, giới hạn.

Tôi nói chuyện với mấy bạn nằm bên cạnh: Ngày xưa, nhớ hồi còn học trung học (tất nhiên ở Sài Gòn), do tình cờ tôi đọc được một cuốn sách của Pháp nhan đề: Định mệnh con người (L’ homme et sa destinée), tôi thấy họ vẽ những bàn tay với những đường chỉ tay, của mỗi người khác nhau. Từ những đường, những điểm khác nhau này, để người này có cuộc đời khác với người kia (ai mà chẳng quan tâm đến ngày mai của cuộc đời mình). Cuốn sách này được giới thiệu là của “Hội nghiên cứu về số phận của con người do một nhóm giáo sư đại học biên soạn”.

Mấy anh ngồi cạnh đều xôn xao giơ tay, để xem cuộc đời mình ra sao? (ở tù thì đời anh nào chả bế tắc). Tôi lửng lơ, tỏ ra không muốn mất thì giờ, vào những chuyện vẩn vơ, để rồi tôi đưa ra điều kiện: Thôi bây giờ thế này, tôi thì không biết gì về tướng số, tôi nhìn tay bạn, nó giống như trong sách điểm nào thì tôi nói theo: Chuyện tương lai thì chẳng ai kiểm chứng được, vậy chỉ là sự việc đã qua và hiện tại. Nếu tôi nói ba điều, mà các bạn không thừa nhận là đúng, thì tôi không xem nữa. Ngược lại, nếu bạn thừa nhận là đúng thì tôi phải được thường một điếu thuốc lá, hoặc là ba điếu thuốc lào? Ai đồng ý thì tôi bắt đầu! Nhiều anh đưa tay lại tôi đồng ý.

Tôi cầm tay một anh, mặt tôi tỏ vẻ mô phạm, đăm chiêu, xoay ngang, xoay dọc, xem từng đường chỉ tay: Đường đời, đường học vấn, đường tình duyên, miệng lại nói tiếng Pháp như minh giải. Rồi nói như quyết đoán theo sách: “Bàn tay này nội tâm rất nặng!” Anh đó hơi ngơ ngác chưa xác định được; tôi nói thêm thí dụ: Bạn gặp một sự việc, một người quen mới, một chuyển đổi mới v.v. . . Người khác chỉ nghĩ đến một chút rồi quên đi, bạn thì cứ vẩn vương trong óc, có khi đến đêm còn nhớ lại, anh ta xác nhận là đúng!

Tâm lý bị đánh lạc, hay bị dụ, bị mê hoặc là sách của Pháp. Tỉnh táo sẽ thấy đây là cái chung, của mỗi người. Câu thứ hai: “Lạ thật! Bàn tay này nặng tình với người thân hơn, là người thân đối với mình”. Người thân có nghĩa là cha mẹ, anh em, vợ chồng, bạn bè v.v. . . Nghĩ một lúc rồi anh ta thừa nhận là đúng! (cái này có đo được đâu nên thế nào cũng đúng). Sau khi được thừa nhận hai câu là đúng, tôi lại ngó nghiêng bàn tay, thậm chí phải kéo ra chỗ sáng, rồi nói như quyết đoán: Cứ những gò “thiên chường”, rãnh “nguyệt đàm” của bàn tay này, thì sách nói là một người có ý chí mạnh, làm bất cứ việc gì đều quyết làm cho xong; chỉ bất đắc dĩ chứ không muốn nhờ vả ai cả.

Người thì tôi nói: “bàn tay này có một lần tường chết, nhưng lại hóa giải được”, vì có một âm hồn phù trợ. Anh này suy nghĩ cho kỹ, 30 – 40 tuổi ai mà chả một lần thoát chết? Kể cả lúc mới đẻ v v. Nhiều người cùng nghe, và tôi tiếp tục có thuốc hút, mà hút một cách không phải đi xin. Người này bảo người kia, sang cả những buồng bên cạnh. Tâm lý của người đời, khi muốn ca tụng, thì cứ mở thêm ra. Lúc đó tôi lại quy định giờ xem, vì tôi đã có đủ thuốc hút, không cần mấy nữa. Vả lại, phải tỏ ra kênh kiệu như thế, nó mới càng có giá, người ta càng tin.

Nếu tôi chủ trương để kiếm sống bằng nghề “Ma giáo” này, thì phải dày công nghiên cứu, sưu tra như một nghệ thuật, rồi nghề dậy nghề, do thời gian càng điêu luyện. Như tôi đã nói từ đầu, đây là do “ma giáo” của tôi, phần vì tôi đã kiếm được cách có thuốc hút, vì tay nghề (mộc) khá hơn nên có năng suất. Phần khác là chính tôi, không cho phép tôi làm những việc như vậy nên tôi đã dứt khoát, không xem cho ai nữa.

Thế mà giờ đây Vân, lại muốn tôi đi xem tướng cái cô ở Đắc Lộ. Nể tình của Vân, một hôm tôi đồng ý để chiều lòng người bạn trẻ, và cũng xem trình độ, của cô thầy tướng Đắc Lộ này cao đến đâu, để hiểu biết thêm. Thế là một buổi hẹn, Vân và tôi, phóng chiếc Honda đến khu Đắc Lộ để gặp cô “Thầy”. Tôi đã giao hẹn Vân “để tôi hoàn toàn tự do, không được nói một tí gì về tôi cả”. Vân đồng ý, vì Vân muốn tôi đi, Vân phải chịu điều kiện của tôi.

Vào một căn hẻm, đến nhà cô thầy, bên ngoài có 7- 8 chiếc Honda và Mobylette xếp dựng theo hàng, 4- 5 chiếc xe đạp ở một góc. Căn nhà lợp tôn, hai buồng xây gạch và một buồng nhỏ vách gỗ. Trong nhà phía gian nhà gỗ, đàn ông, đàn bà lố nhố hơn một chục người nằm, ngồi. Qua dáng dấp và vài hiện tượng kết hợp, tôi đã hiểu là những người khách chờ cô “thầy” xem tướng ở những nơi xa về. Có một bà hơn bốn chục tuổi ghi sổ sách và điều hành đám khách hàng chúng tôi, thay cho cô “thầy”.

Căn nhà cũng như những nhà khác trong xóm, không có một miếng giấy hay tấm bảng nào, ghi là chỗ hành nghề của cô thầy. Vân dựng xe xong, bước vào trong nhà. Chúng tôi phải đến ghi tên chỗ cái bàn con, theo bà điều hành nhắc nhở, rồi bà ta dẫn đến một buồng xây phía trái. Dù có một tấm liếp che, tôi vẫn nhìn thấp thoáng thấy những người phía bên căn nhà gỗ.

Chừng nửa giờ sau, có tiếng xôn xao của mấy bà bên ấy: “Cô thầy đã tới!”. Tôi, Vân đứng lên, ngó ra, một cô chừng 29-30, mặc chiếc áo khoác mầu xanh đậm, tóc quăn bồng cao phía trước. Đôi mắt sáng, sắc như dao cau, một đứa bé gái chừng 10 tuổi, ôm cái tráp đi phía sau, từ phía trái căn nhà gỗ đi ra. Ngay từ xa tôi đã thấy mắt cô ta như điện, đã nhìn sang khắp chúng tôi, nhưng khi đi gần tới, lại coi như chưa nhìn thấy chúng tôi. Trong lúc nhiều người đứng lên lễ phép trang trọng chào cô thầy, tôi thoáng thấy một tên “áo vàng” đã đứng tuổi, cũng từ phía sau căn nhà gỗ đi ra, rồi rẽ vào một hẻm khác.

Tôi chợt nghĩ như thế CA và cô “thầy” phải “ăn có” với nhau, thì mới có số người lạ, nằm đêm tụ tập mới ổn được. Đột nhiên cô “thầy” chen vào giữa mấy ông bà bên căn nhà gỗ, cô chỉ tay vào một ông mặc chiếc áo sơ mi mầu gụ có cầu vai, giọng của cô thầy sang sảng: “Chuyến này, ông không đi được! Nguy hiểm tính mạng! Hôm nay tôi không xem cho ông, sang năm trở lại đây!”. Nói rồi cô “thầy” đẩy cửa đi vào căn buồng giữa. ông sơ- mi mầu gụ mặt trắng bạch, chới với định hỏi gì, nhưng cô “thầy” đã đóng cửa rồi. Tôi và mấy người xô đến hỏi han: Được biết, ông đó từ Vĩnh Long lên chiều hôm qua, đến nhờ cô thầy xem chuyến này đi có trót lọt không?

Điều lạ kỳ là; ông ta chưa gặp cô “thầy” mà sao cô đã biết là ông định đi “vượt biên” và còn nói đi không được, nguy hiểm nữa? Càng bàn tán thì sự việc càng thấy ly kỳ hơn, uy tín của cô “thầy” càng được dàn rộng và càng ngấm thẩm vào bên trong số người này. Trong lúc bà quản lý gọi một số người trước vào buồng cô “thầy”. Vân cứ trừng trừng nhìn tôi, miệng mỉm mỉm như muốn nói: “Anh đã thấy cái tài “thần thông” của cô thầy chưa?”.

Tôi không thể có ý kiến trong trường hợp này, hơn nữa công sức và thời gian đâu, để chuyện trò tìm hiểu với cái ông áo “sơ-mi mầu gụ” để hỏi ông, từ hôm qua ở đây ông đã nói chuyện với bất cứ ai về chuyện ông định đến xem về chuyện ra đi của ông? Không kể lý do, giai đoạn này, nếu không nói là hầu hết thì cũng chiếm đa số, những người đến đây xem tướng số, đều phải tính đến ít nhiều, về chuyện vượt biên? Điều đáng để ý là tại sao cô “thầy” phải làm cái kiểu “muốn tỏ tài” “thần thông” trước nhiều người?”.

Đến lượt tôi được gọi vào, từ đầu Vân đã giới thiệu Vân với tôi là hai anh em ruột, Vân đã xem rồi, thấy hay, thấy đúng nên về đưa ông anh lại coi. Nhân dịp người anh là tôi, mới ở trên trại định cư Cái Sắn về Sài Gòn chơi, do đấy cả hai chúng tôi đều được vào căn buồng giữa.

Mở cửa đã thấy mùi hương nhang ngào ngạt. Hơi đặc biệt, một bàn thờ đơn giản có bát nhang khói bay nghi ngút, trên có hai tấm tranh thờ, một là đức Trần Hưng Đạo, và một là ông Quan Công ở bên Tầu. Cô “thầy” ngồi bên trong một chiếc bàn con, đôi mắt long lanh như hạt sương trong ánh đèn. Theo ý tôi, Vân dẫn tôi đến chào cô “thầy” giới thiệu: “Đây là anh trai mới xuống chơi” rồi sang cái chõng tre phía vách bên kia ngồi.

Từ lúc vào, tôi như người có bệnh kinh niên, tôi vẫn vịn vai Vân, dáng đi và cử chỉ tỏ mệt mỏi, chậm chạp. Cô có cái thước nhôm 1/ 2 hình tròn có phân, ly để đo những đường chỉ tay, mặc cô đo tôi cứ nói chậm rãi:

– Tôi bị té từ trên mái nhà, gãy một xương sườn, một bên lá lách vỡ nát, tường chết. Bạn bè tôi đều nói, chỉ ở ngoại quốc mới chữa được bệnh của tôi. Tôi liều sẽ đi “vượt biên” tôi nhờ cô xem, có đi được không? Chết thì tôi không sợ (bệnh này chết khỏi đau đớn), nhưng tôi sợ nhất là ở tù, cô chú ý xem cho, bàn tay này có phải ở tù hay không?

Tôi cứ thủng thẳng nói, trong lúc cô đo, cô xem tay tôi. Để hỗ trợ cho việc đánh lạc hướng, tâm lý cô “thầy”; tôi ngoái sang chỗ Vân, hỏi nhẹ:

– Chú Vân ơi? Có phải tôi té, từ tháng 7/1973 phải không? Tôi chẳng còn nhớ năm nào?

Tôi hỏi như vậy, có nghĩa năm 1973 tôi vẫn ở miền Nam. Cô “thầy” đã thấy tôi lo sợ nhất là ở tù, cuối cùng cô đã nhấn mạnh để tôi tin tưởng:

– Không phải ở tù, chuyến đi trót lọt! Tương lai sẽ gặp nhiều thuận tiện, đời tôi ăn về hậu vận v.v. . .

Để xác định rõ ràng, tôi nói to cho cả Vân cùng nghe:

– Thưa cô, cô xem kỹ lại, bàn tay này có bị ở tù không?

Cô nói khẳng quyết là “không”.

Tôi còn “láy” lại:

– Có nghĩa bàn tay này không bao giờ sợ phải vào tù?

Cô nhìn tôi một lúc, rồi gật đầu, tôi vui ra mặt, thấy tương lai của mình như sáng sủa ra.

Vân hôm nay ra về, nét hả hê đã dàn đầy trên khuôn mặt. Dắt Honda ra tới ngõ, Vân còn ngoái lại nhìn căn nhà của cô “thầy” rồi quay lại nhìn tôi. Đôi mắt của Vân hấp him lóa ra mầu hoàng kim, cái mầu chắc nịch của tâm hồn. Tôi chẳng hỏi, nhưng tôi nghĩ rằng Trần Vãn, chẳng còn trở lại để gặp cô “thầy” nữa.

Trên đường về Vân có nhã ý hỏi tôi: Muốn ăn bất cứ món gì Vân sẽ phải ăn theo. Để đáp lại tôi, đã chiều theo ý của Vân, vừa lúc ấy Honda đã về ngang Ông Tạ. Cái mùi chả “Chó” nó phả ra đầy đường, từ ngày về tôi chưa một lần thực hiện được một ý thơ, của một người bạn tù:

Đã là trai…đất Bắc

Phải biết…… lúc ………lắc ………với ………..chả cầy.

Một cái chồi “hứng” đã ngỏng lên trong lòng, tôi đã đồng ý vào một hiệu “Cây Còn” gần chéo Ngã Ba ông Tạ. Tôi và Vân cùng tương đắc cái món “nghiền” của dân nhậu Bắc Hà, nên đã thả lỏng lòng thưởng thức “Mộc Tồn”. Cái món mà nhiều thế hệ cha anh, đến chết còn phải băn khoăn:

Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó.

Chết xuống âm phủ, còn có hay không?

Hôm nay tôi hân hạnh gặp cụ Lưu Linh nữa, nhưng tôi chỉ dám tiếp “cụ” xã giao, vì tôi còn phải gặp cô Ngọc Anh 7 giờ, và còn phải họp tổ dân phố, 8 giờ tại nhà ông trùm Lộc.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by7y Sơn râu 9 Nov 2023

Ra khơi lần thứ hai

Đặng Chí Bình

Bài 40

Gặp lại nhau, thật là vui, nhưng cũng chỉ là ly nước mía, hay nước chanh là hết cỡ. Tôi cũng đã mời Tuấn Nguyệt lại nhà tôi, và tôi cũng đã lại thăm nhà, chào ông bố của Nguyệt. Đều tự hiểu là chẳng có cơm nước gì, dù chủ nhà có muốn mời cơm, cũng không có khả năng. Qua Tuấn Nguyệt tôi biết thêm một số anh em khác, cũng đã được tha như Mạc Lịch, Tâm Bột, Trần Thế Khải, Kiều Duy Vĩnh .. Từ đấy thỉnh thoảng Tuấn Nguyệt ghé lại nhà tôi chơi, cũng như một số anh em Biệt Kích vậy. Người này liên hệ thăm hỏi để biết người kia.

Sang đầu 1982, số Biệt Kích càng ngày càng được về nhiều. Ngay trong anh em BK hầu như không có ai trong hoàn cảnh và điều kiện như tôi. Họ không có bố mẹ già mù lòa, họ không bị ràng bố và phải trình diện mỗi ngày như tôi. Nhiều anh em BK được tha về, hầu như ai cũng phấn chấn ra mặt, riêng tôi hẩm hiu lại xin trở vào trong tù.

Hôm nay tôi đi làm về đến nhà, Hoa bảo sang mẹ gặp, buổi trưa cậu Tập đến gặp mẹ lâu lắm! Tôi vội sang bên bà nhạc, cậu Tập cho biết: tối nay, 8:00 tôi phải sang nhà cậu ngủ, để sáng sớm mai có xe đón ra Vũng Tầu. Tôi vội về lo toan chuẩn bị những thứ cần thiết. Tôi trèo vào mùng thầy tôi, thấy tôi vào, người lồm cồm bò dậy, tôi đã ôm lấy thầy tôi và thì thào:

– Xin thầy giữ gìn sức khỏe, thầy cầu nguyện cho con đi được trót lọt.

Tôi đã bước chân xuống giường, tôi chợt nghĩ: “có thể rồi đây thầy tôi chết, hay tôi chết chả còn gặp nhau nữa, tôi đành lỗi đạo làm con”. Tôi quay lại ôm lấy thầy tôi thật lâu, như muốn nói thầm với người như vậy.

Tôi lại vào giường mẹ tôi, mẹ tôi đã hiểu chuyện từ lúc tôi chưa đi làm về, mẹ tôi cầm tay tôi, vuốt tóc tôi, người nói trong nước mắt:

– Mẹ muốn con ở bên mẹ, nhưng mẹ lại cầu xin cho con đi bằng yên! Con phải thương vợ của con, nó cũng đứt ruột để chồng ra đi!

Tôi ngồi ôm mẹ, gục đầu vào vai mẹ im lặng cho nhiều nỗi niềm, chảy ra theo dòng nước mắt. Biết bao nhiêu chuyện phải nói, phải dặn dò mẹ, nhưng tôi chỉ nói được với mẹ, một lời:

– Tất cả mọi sự, con xin dâng và vâng theo thánh ý Chúa!

Cũng như với thầy tôi, sẽ chẳng còn hy vọng gặp lại mẹ nữa. Mẹ tôi thì già yếu, bất cứ lúc nào người ra đi, còn tôi thì trăm thứ bấp bênh trước mặt. Tôi đi trình diện rồi tôi và Hoa đèo nhau sang nhà cậu.

Tôi đã dặn kỹ mẹ và Hoa, từ sau 7 giờ chiều mai cho tới ngày hôm sau, nếu cô công an Ngọc Anh có đến hỏi tôi, thì đều nói: Khoảng 5:30 chiều, người cháu ở Hồng Ngự xuống báo bà Hai Công sắp chết. Nó vội vàng chạy đến cô để xin phép, nhưng nói là không gặp cô, nên nó đã đi ngay với người cháu. Đại cương là cứ nói lửng lơ, không xác định, diễn tiến tuỳ theo để mặc tôi giải quyết! Trong thực tế tôi đã đi từ sau lúc trình diện, ngày hôm qua.

Buổi tối ở nhà cậu mợ Tập, tôi đã minh định với cậu mợ Tập: “Vợ chồng cháu xin ghi lòng nhã ý của cậu mợ . Về chuyến đi này cháu xin nói rõ: Nếu cháu chết ở biển cả, xin Chúa trả đền cho cậu mợ, hoặc trong muôn một vợ con của cháu có điều kiện nào, trang trải món nợ này cho cậu mợ. Nếu cháu đi đến nơi, cháu sẽ thanh toán đủ số vàng, mà cậu đã đưa cho họ. Không may mà cháu bị bắt, là phần số của cháu, còn liên lạc được với cậu mợ, vả lại cháu luôn nghĩ rằng: Nếu lòng cậu mợ tính toán như cháu vừa thưa, chắc chắn cậu mợ đã không nhường, chuyến đi này cho cháu”

Đêm hôm ấy, tôi ngủ với em Hòa, còn Hoa ngủ với mấy con gái của cậu mợ. Bốn giờ sáng còn tối đất đã có người đến đón, xe đậu mãi gần chỗ chợ cá cũ (Trần Quốc Toàn), Hoa bịn rịn cứ quấn quít bên tôi, tôi đã đèo Hoa ra tận chỗ xe đậu.

Cả một đêm, Hoa không chợp mắt được một phút, tôi cho một tay lại sau, cầm tay Hoa. Lòng tôi như sóng biển trong cơn giông, dạt dào, gào thét thương vợ và đứa con chưa chào đời. Trên xe đàn ông, đàn bà, trai gái đã có hơn một chục người. Tôi chẳng muốn người khác chú ý mình, tôi ngừng xe ở một gốc cây bên này đường, Hoa và tôi đã ôm nhau một lúc thật lâu, để rồi ngực và vai tôi đã ướt cả. Tôi khẽ xoa và vỗ nhẹ bụng vợ tôi, như nói thầm:

– Con ở lại nhé! Bố đi sẽ đón con đi sau!

Tôi đã lên xe và xe đã chạy, tuy trời chưa sáng hẳn, nhưng tôi nhìn rõ Hoa đang gò lưng lại, đạp theo chiếc xe tôi đang ngồi, để cứ mờ dần, rồi mất hút vào phố phường. Tôi nói như tự nói với mình: “Em ơi ? Có mệt không em? Cái bụng to, tròn như thế mà đạp xe khỏe thật! “

Hơn 2 giờ trưa xe mới đến đồn Cỏ May, vì chiếc xe còn đón một vài người nữa ở chợ Cầu Ông Lãnh, lúc sáng nay. Xe đi qua đồn Cỏ May, mãi đến một con rạch thì chiếc xe rẽ vào. Xe ngừng trước một đám nhà tranh, tôn như một xóm nhỏ của làng quê Mười lăm, mười sáu người lục đục kéo xuống, lúc đó đã hơn 6 giờ chiều. Họ dẫn vào một căn nhà lợp tôn vách gỗ, trong nhà chỉ có vài chiếc giường ọp ẹp. Một cái bàn mộc đã loang lổ mực tím, với mấy chiếc ghế đã thứt thẹo, do gánh nặng thời gian. Chiếc bếp nhỏ lợp rạ vẫn le lói ánh lửa, có một bà mặc nâu sồng, khăn mỏ quạ đang cời than, tỏ là một gia đình người di cư nghèo từ 1954. Mỗi người còn đang nhớn nhác tìm chỗ đứng, ngồi thì cái bà tóc quăn, mặc áo cánh trắng khi sáng đôn đốc người lên xe vào nói, và chỉ tay sang cái nhà bên cạnh:

– Mời các ông, các bà 6 – 7 người sang bên kia, cho rộng chỗ nằm!

Ồn ào một lúc, một số người quen nhau đã sang căn nhà lợp rạ. Trời tối dần, phần tôi đi ra ngoài quan sát địa hình, cảnh vật. Theo bà tóc quăn thì đêm nay ngủ ở đây, chờ thuyền lớn vào theo con nước, có thể 2- 3 giờ sáng chưa biết chừng. Có một cậu chừng 25- 26 tuổi, da bánh mật, đầu húi “cua”, ngay từ trên xe, cậu ta gặp mắt tôi, mặt cậu tươi lên, miệng cậu vừa như cười, vừa như mấp máy, mặt của cậu toát ra là một người hiền lành, chân thật.

Như tôi đã có chủ trương từ trước, tôi không muốn tỏ ra một hiện tượng gì khác thường, để người chung quanh để ý. Vì thế, tôi muốn làm quen với cậu lấm, nhưng tôi vẫn giữ im lặng, giữ nét mặt tư lự hợp lý như mọi người, đều nghĩ về gia đình, người thân của mình. Bây giờ thấy cậu giở ra một miếng nylon đen đã cũ, tìm một góc nhà, định trải ra nằm. Lúc cậu gặp lại mắt tôi, tôi đã mỉm cười như chào, rồi tiến đến chỗ cậu. Cậu đã ngồi dịch lại một chút như ý “xin mời”. Tôi đã ngồi xuống bên cạnh và khẽ hỏi:

– Cậu đi có một mình?

Cậu gật đầu và khẽ “dạ”. Tôi đã biết cậu người Nam, và chúng tôi đã quen nhau, cậu tên là Chánh, bố là sĩ quan cấp tá đi “cải tạo” ngoài Bắc từ tháng 7/1975 . Phần vì chẳng nên vội vàng quen biết lúc này, phần khác ai còn tâm hồn đâu, mỗi người đang đầy ắp, mối ưu lo cho mình.

Trời đã tối, góc này chỗ kia đã có người móc đồ riêng ra nhai, ăn nhóp nhép. Khoảng 8 giờ, bà tóc quăn đi vào, theo sau có một bé gái chừng 12- 13 tuổi, bê một rổ cơm đi vào, còn đang bốc khói và một chồng bát con. Mùi cơm chắc làm nhiều người chảy nước miếng, vì chính tôi, từ trưa chỉ có hai quả chuối tiêu, ở Biên Hòa, gần chợ Đồn khi xe nghỉ máy. Bà tóc quăn nói: “bà con ăn tạm bát cơm với cá khô”, nói rồi bà ta ra ngay.

Đã có kinh nghiệm trong tình huống này, nhiều người còn nhìn nhau ngập ngừng. Phải thực thi lời dậy của cổ nhân: “ăn cỗ đi trước lội nước đi sau”. Tôi kéo tay cậu Chánh ra, lấy mỗi người một cái bát xúc cơm, gắp mấy con cá “cơm” khô, rồi về chỗ, dùng đũa “trời” mà ăn. Miệng nhai nhưng đầu tôi phảng phất nghĩ suy: Đây là một hình thức nhà “ếm” người. Để đêm thuyền vào đón, hoặc người đón dẫn đi ra thuyền, nhưng họ tương đối tử tế, những người không có đồ mang theo là đói.

Trời lại tối đen như mực, khoảng 10 giờ, cũng đã nghe một vài tiếng “gáy” khọt khẹt đây đó. Tôi chợt nghĩ “cẩn tắc, vô ưu; lo xa thì không gặp khó khăn gần”. Nếu như CA họ đã ngửi thấy hơi, mình chưa hiểu “bến, bãi” mua hay giao thiệp thế nào nằm một “rọ” thế này, đêm CA đến vây là bắt gọn. Tôi quay sang “lay” vai cậu Chánh, nói nhỏ, trao đổi với cậu nội dung như trên, và tôi đã nói với cậu như một quyết định. “Thà chúng ta chịu khổ cực một chút, nhưng an toàn hơn”:

– Anh em mình ra chỗ bờ dậu găng, chui vào trong bụi nằm tạm chờ, nghe ngóng. Nếu họ đến đón thì chúng ta vào nhập bọn, còn bộ đội CA đến, thì chúng ta rút, lủi chạy!

Cậu Chánh đã đồng ý, nên đêm hôm ấy làm sao tôi chợp mắt? Tôi ngồi nghe ngóng tiếng đêm thâu, của không gian vùng Chu Hải Bà Rịa. Ngoài những tiếng lá cây xào xạc, tiếng dạt dào của sông nước xa xa vọng về, thỉnh thoảng có tiếng chó cắn, tiếng gà gáy của những xóm làng quanh vùng vẳng đến. Một điều tôi hơi lạ lùng, rõ ràng tôi nghe thấy mấy hồi cú “rúc” như tiếng oan hồn đêm thâu gọi “tử thần” của vùng Vũng Tầu, Bà Rịa. Tôi cứ tưởng đồng bằng hay ven biển, thì làm gì có tiếng cú kêu?

Dòng tư tướng của tôi trong bụi găng giữa đêm thâu, đã nhiều lần nhẩy nhót về Sài Gòn. Về người mẹ hiền mù lòa, bệnh tật của tôi, về người bố lẫn trí. Tự nhiên, tôi nắn tay, sờ chân xương thịt của tôi là truyền nhân của người. Về người vợ trẻ thương yêu cùng giai cấp nghèo, như tôi và về đứa con ngọc quý hơn sáu tháng vẫn còn nằm trong bụng (không biết trai hay là gái). Do một vài ngôi sao đêm to nhất nhòm xuống và ánh của chiếc đèn biển, từ một chiếc cột cao trên chỏm, cái đồi trọc phía trước, tôi đã nhìn thấy lúc chiều. Cảnh vật, nhà cửa chỉ còn mờ mờ trong trí tưởng là chính. Cậu Chánh thỉnh thoảng cựa quậy và thở dài, tôi thông cảm với cậu.

Tôi đã phải hàng mấy năm, đêm ngày trong cùm, xích, xê dịch, nằm, ngồi, trở mình, ỉa đái khó khăn bao nhiêu. Như thế này thì đã thấm tháp gì. Hơn nữa, gió mát lồng lộng, khí hậu trong lành. Như vẫn thường ăn cơm muối rang, nay được ăn với thịt cá. Sướng như cưỡi ngựa ấy chứ! Tôi chỉ có nhớ và thương bố mẹ vợ con, lẫn với một chút niềm lắng lo CA, bộ đội đến vồ. Tôi hiểu mình đã xin đi tù, giờ đây có bắt thì cũng đi tù, nhưng ở hai tư thế khác nhau rõ rệt.

Có tội bị bắt vào tù và tự nguyện vào tù đã thấy khác hẳn nhau, ngay ở trong lòng mình rồi. Nó khác ngay trong con mắt của mình, khi nhìn những tên cán bộ của trại tù.

Do mắt không nhìn rõ cảnh vật, nên đôi tai đã phải tăng tần số, để nghe tiếng động. Quá nửa đêm, có lúc trời lặng gió, tôi nghe thấy cả những tiếng giun, tiếng dế nỉ non chuyện trò, tiếng mấy con cóc cọ kẹ, gại lưỡi gọi trời mưa. Để rồi vừng Đông rạng dần, còn tôi lại hư đốn, chợp luôn vào giấc Nam Kha. Có lẽ, cái tần số cảnh giác của thần kinh, tự thấy tạm an toàn, nên đã thổi còi hụ tan giờ “giới nghiêm”.

Đến khi cậu Chánh đã lay vai, tôi mới bò nhổm dậy. Nhìn đồng hồ 4:30 như thế tôi cũng chợp mắt, được gần một giờ. Thảo nào, người tôi thấy sảng khoái hẳn lên, tôi chui ra khỏi bụi găng, rồi vẫy tay cho cậu Chánh. Tôi khẽ lách, nhẩy qua một luống rau dền cơm, vào phía sau ngôi nhà hôm qua, mọi người còn đang ngủ yên ắng! Có thể đêm qua ai cũng thấp thỏm, nên giờ đây đều hãy còn ngủ trả.

Tôi rủ cậu Chánh làm vài động tác thể dục buổi sáng. Trời trong xanh, nhưng cũng thật nhiều mây trắng, có chỗ mây chồng lên nhau lổm ngổm như những trái núi mầu xám bạc. Phía dưới những tầng mây, chỗ thì xám, chỗ thì mầu sữa đặc, nhưng phía trên thì trắng toát, thậm chí, phát ra hào quang rừng rực, có lẽ mặt trời đã mò lên ở chân trời phía Đông!

Dưới này thì ánh sáng nhàn nhạt, nhưng nếu những máy bay nào đi lên trên mây, thì vẫn thấy mặt trời nắng chói. Bầu trời vẫn còn những khoảng trống, không có mây. Mầu xanh, cái mầu xanh êm như lụa, tôi không có khả năng để diễn tả hết được cái đẹp kỳ diệu, cái đẹp hùng vĩ của bầu trời lúc này. Hẳn các quý vị ai cũng đã hơn một lần đã chiêm ngưỡng, bầu trời xanh mây trắng buổi sớm mai như tôi!

Cái mầu hài hòa kỳ vĩ lộng lẫy này, tôi đã nhìn thấy ở đâu? À đúng rồi cái mầu xanh của áo khoác ngoài Đức Mẹ Maria đồng trinh với cái mầu trắng của áo dài phía trong. Mầu xanh càng làm nổi mầu trắng và ngược lại, như mầu xanh của da trời với mây trắng, nó hài hòa, nó bao dung, và linh thiêng mãi mãi.

Người tôi đờ đẫn ngắm trời xanh mây trắng như xuất hồn, một tiếng trong vắt kéo dài rồi rung lên như phím tơ: Tì…tì….te te . . . . .té té . . . . . . .của một con chim lạ đậu trên cây bưởi Biên Hòa phía trước cổng. Tôi tỉnh hẳn, quay lại cậu Chánh cũng đang dõi mắt về phía tiếng chim lạ. Không ngờ cũng có người say mê như mình, tôi kéo tay cậu len lén nép vào dậu găng. Mò gần đến cây bưởi, hình như con chim càng kêu hót nhiều kiểu, như ca ngợi bầu trời êm ả sớm mai, vùng Chu Hải Vũng Tầu?

Chả lẽ nó liếc nhìn thấy hai chúng tôi, đang lò dò đến gốc cây bưởi, nên biểu diễn thêm khúc nhạc mê hồn?

Tôi đã nhìn thấy rồi? Đúng là con chim lạ, tôi chưa hề nhìn thấy bao giờ, mỏ trắng, đầu và cổ đỏ chót, hai cái cánh mầu cánh chả ấp lấy cái thân mầu trắng, đặc biệt, cái đuôi tím sậm, dài ngoẳng. Mỗi lần cất tiếng hót….tí tí ..tẹ….tè…tè tè…thì cái đuôi lại quay ngang, rồi ưỡn lên một cái.

Tôi và cậu Chánh đều ngây ngất, không dám cả thở mạnh sợ động, nó bay đi, làm sao có điều kiện, hoàn cảnh để gặp lại con chim ấy lần thứ hai? Thoáng bóng cô bé bưng rổ cơm tối hôm qua, đi về phía chúng tôi, tôi đã định chạy lẹ ra kéo cô bé vào bóng cây găng, nhưng không còn kịp nữa, con chim khỏa cánh bay sâu vào vùng Hải Sơn. Nó bay đi, vẫn còn hát tiếp tẹ tẹ … tí tí…. tè tè…. Cô bé cũng thoáng thấy con chim bay đi, và chúng tôi vẫn còn ngoái nhìn theo. Cô bé cũng nhìn theo con chim, nhưng miệng thì lại hối hả:

– Các chú vào để chuẩn bị ra xe?

Nhìn đồng hồ mới 5: 15, tôi và cậu Chánh đều tự hiểu, là chuyến đi đã trục trặc không thành. Bà tóc quăn căn dặn: cứ hai hay ba người một toán đi cách xa nhau, lần lượt trở ra tỉnh lộ, tự túc đón xe trở về Sài Gòn. Chuyến đi không được hôm nay, bà ta không nói lý do, nếu có ai hỏi thì tùy theo mỗi người là ra thăm bạn bè, bà con ở Chu Hải hay Hải Sơn v.v. . .

Với tôi thì sự việc đã tương đối rõ, để khỏi những rắc rối bất ngờ. Tôi đeo chiếc tay nải cố hữu theo những hướng, đường tôi đã biết để trở về. Tôi định quay vào rủ cậu Chánh cùng về cho vui, nhưng khi tôi vào trong nhà, chả thấy cậu ta đâu. Một mình tôi trở về Sài Gòn, để sớm gặp lại bố me, vợ, và con (còn trong bụng).

Trong lúc ngồi xe trở lại thành Đô, tôi nhớ đến cậu Chánh, rất tiếc do những tình huống đặc biệt, nên tôi đã không hỏi để biết cậu ở đâu, và bố của cậu bị ra Bắc tên là gì? Với cái nhìn một vài thái độ của cậu, tôi hiểu là sáng hôm sau cậu cũng đã biết chuyến đi ấy, chẳng có tầu, thuyền gì cả. Nhưng hiện nay, là người tị nạn trên xứ người, do những đẩy xô của dòng đời sau 22 năm (1982- 2004) tôi đang ngồi lần giở lại một quãng đời trong hố thẳm của thời gian, không biết bây giờ cậu ở đâu? Như thế nào? Còn ở trong nước hay đã ở hải ngoại? Nếu cậu còn hiện hữu, chắc cậu cũng không thể quên được cái đêm hôm ấy, chúng ta trong bụi cây găng già và con chim lạ vùng Chu Hải, Bà Rịa?

Hai giờ chiều hôm ấy tôi đã trở về đến nhà, mẹ tôi cho biết cô Ngọc Anh 8 giờ tối qua đã đến đây tìm con, mẹ đã nói như lời con dặn, cô ấy dặn:

– Hôm nay con về phải đến cô ấy ngay.

Tôi tranh thủ tắm rửa, thay quần áo rồi phóng xe sang tổ mộc Thành Công, ông Huỳnh đã từng là đặc công của Sài Gòn, qua nhiều lần tôi trao đổi. Phần vì thực tế, từ sau khi miền Bắc đã chiếm được miền Nam cho tới nay, ông ta đã nhìn rõ một phần sự thật. Phần khác với những cái hiểu biết của tôi, ông ta thắc mắc, nghi hoặc chưa rõ điều gì; tôi chỉ cần trình bày sự thật, chính điều này, ông Huỳnh đã dần dà có thiện cảm với tôi. Đến nay, ông sẵn sàng giúp tôi trong điều kiện của ông. Tôi sang gặp ông, trình bầy tôi phải đi Hồng Ngự đột xuất thăm bà chị v.v . . . Đến nơi, bà chị đã gặp được bác sĩ ở bệnh viện Tam Nông giải quyết đúng phương pháp, và cho thuốc đúng bệnh nên đã khỏe lại chờ ngày cho trở về nhà v.v …

Tôi cũng xin ông cấp cho cái giấy xác nhận, tôi có đến xin ông nghỉ, để đi Hồng Ngự. ông Huỳnh còn giúp tôi là CA phường 7 Phú Nhuận, xác nhận trưa nay tôi đã về lao động tại tổ mộc. Có giấy này, thì dễ dàng nói chuyện với cô Ngọc Anh.

Trưởng CA phường 7 là bạn thân của ông, từ những ngày hoạt động trong nội thành. Tôi đã chuẩn bị những giấy tờ cần thiết, chuẩn bị cả tư tưởng cho một ngày thiếu trình diện, để đến gặp cô Ngọc Anh. Gặp cô, sau khi đưa hai tờ giấy của tổ mộc Thành Công và của trưởng CA phường 7 Phú Nhuận cho cô. Tôi tưởng sẽ phải trả lời những câu hỏi hạch sách và thái độ lôi đình của cô như mọi khi, nhưng cô đã không hỏi han, hay thốt một lời. Mắt của cô nhìn tôi vài giây như đọng lại, mi mắt của cô hơi hạ xuống, rồi lại từ từ giương lên như nhìn một bến sông chiều muộn, gần cửa biển lộng gió. Nhìn cô ký cho tôi cả ngày hôm qua, tự nhiên một nhánh tư tường ngông cuồng, của một người trai tạt ngang, tôi gọi khẽ:

– Cô Ngọc Anh!

Đôi mắt mầu lam nhạt quay, quét khắp người tôi, rồi đọng lại như đóng cọc nơi cổ tôi. Con ngươi của cô chuyển dần thành mầu nho chín, trong nắng chiều giữa hạ, tiếng nói thập thò như muốn lôi kéo, mùa thu về của tôi.

– Tôi muốn . . . . .bắt tay cô!

Con ngươi của cô tròn lại, rồi dẹp ra khép lại, tay cô như đầu con sẻ tơ, ngước mỏ lên, rồi tiến dần về phía tôi. Tôi đã đường hoàng nấm chặt lấy đầu con sẻ, như một lời cảm ơn. Tôi đứng dậy ra về, với một hơi thở ra thật dài.

Trên đường về, những ánh đèn trong những ngôi nhà lồi ra thụt vào, như những chiếc lưỡi trắng vàng, lè ra ngoài con đường hẻm. Cảnh vật mập mờ như dáng hình của mấy sơn nữ, vừa ngụp lặn trong dòng suối mơ, đang thay đồ bên triền dốc, một ngọn đồi có nhiều sim tím. Chân bước thấp, bước cao, có lúc nhẹ “hẫng” như vừa nhắp một men rượu lạ, chưa một lần hít hơi.

Nhưng một mùi hương ngọt ngào quen thuộc, đã xồng xộc chui vào khứu giác, làm cho tôi ngơ ngác đến lạ lùng. Càng bước tới, cái mùi ngọt ngào, ngây ngất đã nhiều lần kéo, lôi tôi vào động hoa vàng, càng đặc quánh lại. Để rồi hai cánh tay mềm tròn lẳn, đã vòng xiết chặt lấy cổ tôi. Mùi hoa thiên lý đang thì, của làn tóc huyền óng ả của em Hoa, đã vít chặt hai lỗ mũi của tôi. Lạ quá! Có bao giờ em ra đón tôi ở mãi ngoài này?

Bữa cơm hôm nay có mấy món lạ, chẳng hiểu em tôi xoay xở ở đâu, như một chút lòng của người vợ mừng đón người chồng của mình trở lại, và hẳn cô nàng cũng tự hiểu, sẽ có những giờ phút nắm tay nhau nhún nhẩy vào thăm động hoa vàng!

Một bát canh hoa bí đỏ nấu lẫn với mấy ngọn bầu, em xin ở nhà cô bạn trong xóm Nghĩa Hòa, một dĩa trứng vịt tráng, già lửa vàng ngậy thơm ngứa cả mũi, từ khi tôi bước vào nhà. Do Hoa lỉnh về nhà, xin mẹ được một quả trứng, bữa cơm hàn huyên đầy ắp nghĩa tình phụ mẫu, phu thê, tường rằng chuyến đi sẽ khó lòng gặp lai.

Đôi mắt em Hoa, nhìn như chà xát, như dội nước nóng vào cái tay cầm đũa của tôi. Có thể Hoa nhìn theo ý riêng của Hoa, nhưng tôi có cảm tường cái tay ấy rát ràn rạt, vì dám cầm vào tay của một cái vòi của con Hồng Tuộc? Tôi lên gân, nắm chặt cứng lại, như nắm chặt cái vòi, bắt nó co lại, rụt hẳn vào, để đợi ngày.

Con của tôi, chẳng có cái gì để bồi dưỡng, nhưng cứ mỗi ngày mỗi lớn, nó làm cho cái bụng của mẹ nó gồ cả vạt áo lên. Hôm nay lĩnh lương, tôi đã ghé đến hàng bà Thản, bán trứng vịt lộn Hiền Vương. Đã từ lâu, từ ngày có vợ tôi đến bà mua trứng “bồi dưỡng” thường là bốn hột. Hôm nay, tôi lại bảo bà lấy cho năm cái bà ngước mắt lên, quét ngang vào mặt tôi một cái, như đàn cò đêm, cả vào mặt chị Hằng. Tiếng nói rặt vùng Cai Lậy, của bà reng rẻng cất lên, như tiếng nồi cám heo sôi già:

– Bữa nay sông Bến Nghé nước chảy ngược dòng, cậu đòi những hai?

Chẳng muốn thanh minh với bà Thản, nên tôi chỉ mỉm cười để bà tự thưởng thức câu nói đùa vui của bà. Thẳng người, khoan thai cỡi lên “ông già” lắm mồm, để rong ruổi về Nam Hòa. “Ông” này đã kêu ca cọt kẹt hơn nửa tháng rồi, nhưng tôi vẫn khuyến khích” ông” hãy chịu đựng, tôi chưa có thời gian và cũng chưa có tiền mua bốn cái má “thắng” và lau dầu. Đã từ lâu tôi đã gọi là “ông” vì tuổi đời như tôi hoặc hơn, một “ông” có phí phách, dù cũng phải thiếu thốn ngược xuôi, tần tảo hết lên Quận, xuống Phường như tôi để trình diện với các cơ quan quản lý. Dù mưa dầm hay bão giật “ông” cũng lần mò đi trong nước bùn, cống rãnh ngập tràn, dù cho nắng rách vai, đỏ tóc “ông” vẫn cùng tôi đi đến nơi về đến chốn.

Đức tính đặc biệt nhất của “ông” là không tố cáo ai, đã hơn hẳn những người bệ vệ, kính trắng, xách cặp da nhưng xun xoe, luồn cúi, tố giác cả bạn bè, anh em để lấy thành tích, trèo lên chỗ ngồi cao, để lừa lọc đám dân đen. Dù bết bát, bệnh tật như thế nhiều lần “ông” vẫn sẵn sàng cõng thêm cả vợ tôi. Tiếng cọt kẹt của “ông” hôm nay nghe như “ông” hoan hô đồng tình với năm quả trứng vịt lộn, đang chễm chệ ở trên vai tôi tuy “ông” thấy tôi có tiền bồi dưỡng, mà lại không có tiền chữa bệnh cho “ông”?

Đã từ bữa bồi dưỡng lần trước, ông bà nội khuyến khích tôi; lần này phải bồi dưỡng cho đứa cháu “đích tôn” của ông bà, nghĩa là Hoa sẽ được, hai trứng vịt lộn.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 22

Sau bốn tháng làm việc trong văn phòng ở Rex, tôi được sở đổi qua làm cho Brink BOQ. Ông xếp ở Brink là một trung úy hải quân Mỹ trẻ tuổi, tên là Richard Satter. Ông Satter đã được học tiếng Việt trước khi sang Việt Nam, nên khi làm việc tại Brink ông quyết định nói tiếng Việt với hơn sáu chục nhân viên người Việt. Tiếng Việt của ông có tiếng bể, tiếng gãy, thiếu sót rất nhiều. Tôi nói với những người làm chung sở rằng có lẽ khi ngủ mơ ông cũng nói tiếng Việt. Nhân viên Việt Nam ít người hiểu ông, vì ông đã dùng sai chữ, lại phát âm không đúng, người ta không kiên nhẫn để tìm hiểu ông định nói gì. Khi nào phòng ăn vắng khách, ông tới trước quầy thu ngân để nhờ tôi dạy thêm tiếng Việt. Rồi tôi trở thành cô giáo của ông xếp.

Trung úy Satter là một học trò ngang bướng, lúc nào cũng thích ra lịnh, dù ông làm học trò. Học tiếng Việt và cai quản câu lạc bộ, đối với ông đều quan trọng như nhau. Là nhân viên của ông, lại nhỏ hơn ông một tuổi, nên tôi đành chịu lép vế. Vì vậy, làm cô giáo mà tôi chẳng có một chút quyền hành gì với học trò. Nhưng tôi cũng có một niềm vui, là ông “học trò” này rất thông minh và có khiếu về sinh ngữ, học tới đâu nhớ ngay tới đó. Ông thường tìm hiểu nguồn gốc của mỗi chữ, hay mỗi câu nói, hoặc tiếng địa phương. Chẳng hạn, tại sao có người nói là “về”, lại có người “dìa”. Tại sao có người nói “vâng”, lại có người “dạ”, tại sao “ “muỗng” lại là “thìa” v.v… Có lần tôi dậy bài học đi chợ, ông bắt tôi phải đi chợ với ông ngay. Tôi đành phải đưa ông đi chợ Sài Gòn, để ông thực hành bài vừa học. Đến khu bán cá, ông hùng hồn nói: “Tôi muốn mua thằng cả lóc”. Mọi người cười rộ lên. Người ta nhìn tôi chằm chặp, làm tôi mắc cỡ muốn độn thổ. Đâu có ai biết tôi là cô giáo của ông; tôi nghĩ người ta tưởng tôi là bạn gái của anh chàng lố bịch này. Tôi vội đứng xích ra xa, ông trung úy kêu tôi lại gần, để dạy ông cách trả giá. Chỉ tiếc tôi chưa kịp “hành nghề” cô giáo, bà già bán cá đã khen ông học trò của tôi là dễ thưong, và tặng không ông hai con cá. Ông Satter tức lắm, vì không được thi thố tài năng. Đến khi chúng tôi sắp ra khỏi chợ, ông bỗng gọi một người đang đi vô, để cho họ hai con cá, quay ngược trở lại hàng cá. Tôi không chịu theo ông, viện cớ ông đã nói giỏi tiếng Việt, có thể mua bán một mình. Tôi đợi ông ở ngoài cửa chợ. Nửa giờ sau, ông trở ra, mỗi tay xách một “thằng gà” và một “con gà”.

Không biết bỏ hai con gà này vô đâu, tôi đành đề nghị đem về nhà tôi cho dì giúp việc làm thịt. Nhưng về đến nhà tôi mới biết ý kiến này sai bét; vì ông đi theo tôi về nhà, khiến đám con nít hàng xóm bu lại nói chuyện với “ông Mỹ”.

Rồi từ đó ông Satter trở thành người bạn của gia đình tôi. Khi nào nhớ nhà, ông lại tới nhà tôi cho khuây khoả. Gia đình ông ở New Hampshire bên Mỹ, nên về cuối năm ông thường nhắc tuyết. Tuyết khắp mọi nơi: trên nóc nhà, trên đồi, trên sân cỏ, và cả những nơi ông truợt tuyết. Khi nhắc đến quê hương, mắt ông lại mơ màng nhìn vào xa xôi. Đôi khi tôi ngầm ganh tỵ với ông, khi tôi bằng ông cũng trạc tuổi tôi, mà sao ông có tuổi thơ tươi đẹp như vậy trong khi tôi lận đận đủ mọi bề. Tôi mơ ước được đi học lại, cũng như ông trung úy Mỹ mong cho hết nhiệm kỳ ở Việt Nam, để trở về New Hampshire tiếp tục học đại học.

Cuối năm 1966, Hải Quân bàn giao tất cả câu lạc bộ cho Lục Quân quản trị; ông xếp của tôi được về Mỹ. Tôi mất ông học trò, Brink BOQ cũng mất đi bầu không khí vui vẻ, sang trọng của Hải quân. Vào dịp đó, BOQ Splendid có chỗ trống, tôi liền xin đổi đến đó để được gần nhà hơn một chút.

Xếp mới của chúng tôi là một ông chuẩn uý chừng 45 tuổi. Ông làm việc không ngừng. Ông lại nghĩ là ông có bổn phận phải “chăn” đám nữ nhân viên trẻ chúng tôi. Ông cấm chúng tôi đi chơi với sĩ quan Mỹ. Ông nhắc nhở chúng tôi: đi với họ rồi hết hạn trở về Mỹ, các cô ở lại một mình. Lỡ có cô nào mang một “bầu tâm sự”, thì thật là một tai hoạ.

Ông cũng cấm nhân viên dưới quyền không được nhờ các sĩ quan mua hàng trong PX.

“Nếu các cô muốn gì trong PX cứ ra chợ trời là có hết”. Ông mỉa mai.

Nhân viên đều kính trọng và tuân lệnh của ông. Ông rất tử tế và thành thật với tất cả mọi người.

Tôi còn độc thân, lại khá tiếng Anh hơn những người cùng làm; ông xếp thay đổi giờ làm việc của tôi mấy lần, để đáp ứng nhu cầu của những người có gia đình, bận bịu con cái. Cuối cùng ông cho tôi làm supervisor của 5 cô giữ két.

Một trong những việc làm của tôi, là bán phiếu cho sĩ quan để họ dùng phiếu đó trả tiền ăn uống. Tất cả các câu lạc bộ Mỹ vào thời đó không xài tiền Mỹ kim, vì nạn chợ đen. Suốt hai tuần lễ liền, một đại uý Hải quân trẻ, ngày nào cũng ghé qua quầy tôi mua phiếu 10 Mỹ kim, đi thẳng vào bar uống rượu, rồi không thấy ông ghé phòng ăn bao giờ. Ngày qua ngày, ông đại uý ốm đi. Bộ đồ bay của ông mỗi ngày một rộng hơn. Tôi thắc mắc, ông không ăn, chỉ uống rượu thôi, làm sao có đủ sức khoẻ để bay.

Một hôm, ông lại mua một phiếu 10 đồng để uống rượu. Tôi cất 10 Mỹ kim vô tủ, nhưng không đưa phiếu cho ông, nói:

“Ông đi ăn trước đi, rồi tôi sẽ đưa phiếu cho ông đi uống rượu”.

Đôi mắt xanh như nước biển Thái Bình của ông nhìn vào mắt tôi, làm tôi choáng váng, vội nhìn xuống bàn. Ông nói:

“Tôi không thích ăn một mình”.

“Thì ông rủ mấy bạn nhậu của ông đi ăn với ông”.

“Ồ, mấy thằng đó xấu như ma. Nếu cô hứa mai đi ăn trưa với tôi, chiều nay tôi sẽ vào phòng ăn ngay cho cô vui”.

Ông vừa nói vừa nhìn chằm chặp vô mắt tôi, hai bàn tay gõ nhẹ lên bàn, như hối thúc tôi phải trả lời ngay. Tôi lúng túng đáp:

“Tôi không thể đi ăn với ông được”.

“Tại sao?”.

“Tôi không được phép đi ra đường với người Mỹ”.

“Lịnh của ai?”.

Vừa lúc đó, ông chuẩn uý Lugent, xếp của tôi, vô phòng ăn và đi lại bục cashier của tôi. Tôi chỉ ông, đáp:

“Lịnh của ông nầy”.

Ông đại uý bèn nhìn thẳng mặt ông Lugent, rồi đột ngột hỏi:

“Ngày mai, ông cho phép cô này đi ăn trưa với tôi nhen? Tôi hứa sẽ trả cổ về đây an toàn và nguyên vẹn”.

Ông Lugent cười, đưa tay sửa cặp kiếng cận thị dầy cui của ông, và có vẻ hơi lúng túng, đáp:

“Đại uý Krall cứ hỏi thẳng cô ấy coi!”.

Đại uý Krall trịnh trọng nói:

“Tôi thề sẽ nhịn đói cho tới khi cô chịu đi ăn với tôi. Bấy giờ, xin cô đưa phiếu cho tôi”.

Tôi lúng túng không biết nên phản ứng thế nào. Đại uý Krall vừa làm cho ông xếp của tôi khó chịu, lại vừa làm tôi sượng sùng. Giá lúc ấy có thể độn thổ được, tôi đã chui ngày xuống đất. Tôi lúng túng nói để ông đi cho khuất mắt:

“Sợ ông chết đói, tôi nhận lời đi ăn trưa với ông, ngày mai”.

Hôm sau, tôi đến sở sớm 2 tiếng, mặc cái áo đẹp hơn áo đi làm hàng ngày. Tôi vừa bước chân lên thềm của BOQ Splendid, Đại uý John Krall đã đứng khoanh tay dựa lưng ở cửa, một chân trên vách tường, một chân dưới đất. Ông nhanh nhẹn dẫn tôi lại chiếc xe Jeep mui trần đậu ngay trước cửa, gần chỗ người quân cảnh Mỹ đứng gác. Mặt tôi nóng hơn vỉa hè buổi trưa nắng đó. Tôi vừa bối rối, vừa vui vừa sợ, vừa tự trách mình đã nhận lời đi ăn với người lạ, ngang hơn cua. Rồi tôi thầm tự hỏi, tại sao lại mặc đẹp, trong khi người ta chỉ mặc bộ đồ phi công rộng thùng thình? Nhưng dù thế nào, tôi vẫn nghĩ đến cặp mắt xanh như Thái Bình Dương. Đôi mắt làm cho mặt ông sáng rỡ lạ kỳ.

Tôi ngồi trên xe Jeep mà cứ phấp phồng sợ người quen bắt gặp. Nhưng tôi lại nhớ ngay ra rằng, ở cái đất Sài Gòn này tôi có quen ai đâu mà sợ. Rồi tôi lại nghĩ tới các em tôi. Rủi Hải Vân trông thấy tôi ngồi cạnh một sĩ quan Mỹ thì sao? Có thể thằng nhỏ sẽ đòi hối lộ: “Chị biểu anh chàng sĩ quan Mỹ practice tiếng Anh với em đi”. “Không được, cưng ơi. Chị chỉ đi ăn trưa bữa nay thôi để cứu mạng anh ta, không có lần thứ hai đâu. Kiếm thằng Mỹ khác để practice tiếng Anh cưng nhe”. Đại uý John Krall vừa lái xe vừa bắt tay tôi, rồi từ giới thiệu:

“John, John Krall”.

Tôi đang ngầm nổi sùng, cũng không biết tại sao lại nổi sùng. Tôi cầm thẻ của sở Mỹ đưa lên cho John biết tên tôi. Ông liền nói:

“I already know your name. Cô Dung”.

Ông phát âm tên tôi thật đúng. Tôi liền hỏi:

“Tại sao ông nói tên tôi đúng quá vậy?”.

“Biết mà”. Ông trả lời bằng tiếng Việt lơ lớ.

Tôi nói một tràng tiếng Việt, vì nghĩ rằng ông cũng giỏi như người học trò cũ của tôi là Richard Satter trước kia. Nhưng John lắc đầu tỏ vẻ không hiểu. Ông đề nghị tôi gặp ông hàng ngày và dậy ông tiếng Việt. Tôi trả lời liền: “Không có chuyện đó ông ơi”. Nhưng ông không hiểu.

Xe vừa tới cổng Cercle Sportif thì tôi cảm thấy bực mình, vì tôi ghét cái gì có dính líu tới thằng Tây. Ở cái thủ đô Việt Nam này, hết chỗ ăn trưa sao, mà lại chui đầu vô tiệm của thằng Tây?. Nhưng ngay sau đó, tôi lại nghĩ rằng, thà chui đầu vô đây còn hơn là chạy dông dài ngoài đường phố. Tôi đã từng thấy nhiều cô gái Việt đi với Mỹ. Họ ngồi đầy trong các nhà hàng, như tiệm Đô Thành trên đường Hàm Nghi, hay tiệm Mỹ Cảnh bên bờ sông Sài Gòn.

Sau lần ăn trưa hôm đó, tình cảm của tôi đối với đại uý phi công John Krall đã thay đổi rất nhiều. Vì thế, tôi nghĩ rằng nếu John có mua hai ổ bánh mì thịt, rồi rủ nhau ra ngoài đồng cỏ ngồi ăn, tôi cũng sẽ đi theo ông hết ngày này qua ngày nọ.

Vào mùa thu năm 1967, Hải Vân bỗng trở thành phát ngôn viên của trái tim tôi. Nó tuyên bố:

“Chị Dung yêu rồi. Đừng có ai lo chị ế chồng nữa. Chị làm cách mạng, yêu một anh chàng Mỹ mắt xanh. Em ghét Mỹ lắm, nhưng cái anh chàng Mỹ này là phi công, nên cũng OK”.

Cho tới lúc này, John chỉ biết sơ về gia đình tôi, vì mỗi lần anh hỏi, tôi lại nói lảng sang chuyện khác. Nhưng tôi biết, đã đến lúc tôi phải, hoặc là nói thật về ba tôi, hoặc là tôi cắt đứt liên lạc với John. Đằng nào thì mối tình này cũng phải chết yểu. Có thể anh đại uý phi công Mỹ sẽ hết hồn, khi biết ba tôi là một cán bộ cộng sản. Không chừng anh xin về Mỹ sớm hơn thời hạn. Nhưng làm sao tôi có thể nói dối với người tôi yêu được. Thì thôi, đành phó mặc cho ông trời; tôi không nên ôm cái bí mật này nữa. Tôi quen với John cũng gần một năm rồi, chớ đâu phải mới hôm qua, hôm kia!

Hôm đó, tối thứ Sáu, John đến nhà rước tôi đi ăn ở nhà hàng La Cigale, trên đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Chúng tôi vui vẻ nói cười suốt buổi. John còn lên yêu cầu cô nhạc sĩ đàn violon cho tôi nghe bài Greensleave. Trong lúc chúng tôi ngồi chờ ăn tráng miệng, John nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói:

“Cô không bao giờ nói về ba cô cho tôi nghe?”.

Tim tôi thắt lại. Bây giờ phải nói gì đây? John vô cùng quan trọng đối với tôi. Nhưng tôi không trả lời anh ngay mà xin phép vô toilet rửa tay. Đóng cửa lại, tôi nhìn tôi trên kiếng, tìm một câu trả lời. Tôi nhớ, đã có lần một người trong gia đình cho là tôi “muốn chết”, vì tôi nhứt định không bao giờ chịu nói ba tôi chết, khi có ai hỏi tới Người. Các chị tôi nói “ba chết” một cách dễ dàng. Bây giờ, khoảng cách giữa tôi và câu trả lời đó chỉ có một bức tường. Chắc là tôi sẽ chết thiệt chớ không phải “muốn chết”, vì tôi không thể nói dối được với John.

Khi tôi trở về bàn, John đứng dậy kéo ghế cho tôi. Anh im lặng chờ tôi trả lời. Khi bão tố nổi lên trong lòng tôi, thì vẻ mặt anh vẫn tươi vui như đứa con nít trong ba ngày Tết. Tôi bối rối cầm ly rượu chát uống cạn, rồi vội vàng nói thật nhanh:

“Ba tôi hiện đang ở ngoài Hà Nội. Ông là đảng viên cao cấp Đảng Cộng Sản. Nếu anh không muốn gặp tôi nữa, tôi sẽ hiểu”.

Nhưng John bình tĩnh vừa cười vừa nói:

“Tại sao tôi lại muốn làm cái việc dại như vậy?”.

Rồi anh hôn lên ngón tay trỏ của anh, đặt ngón tay đó lên trán tôi. Đó là một cử chỉ quen thuộc anh vẫn thường làm, khi anh gặp tôi ở sở, trước mặt đông người.

Đám mây đen bao phủ thế giới nhỏ bé của tôi từ lâu, hôm nay bỗng tan biến nhanh chóng. Tôi say sưa nói về Ba tôi. Từ 1954 cho tới năm 1967, tôi không kể cho ai nghe về Ba tôi và anh Khôi. Nhưng tối nay, một đại uý phi công Mỹ có đôi mắt xanh như biển Thái Bình, phải ngồi im lặng nghe tôi nói! Thỉnh thoảng, trong khi kể, tôi ngừng lại, tìm trong mắt anh một tia nghi ngờ, nhưng không thấy. Anh chăm chú nghe như nghe một chuyện thần thoại, một chuyện khó tin nhưng có thật. Mà nghe thì cứ nghe, còn có dám chấp nhận không lại là chuyện khác. Chấp nhận, có nghĩa là tiếp tục đi bên cạnh tôi suốt cuộc đời này.

Với anh John, tôi có thể vui cười, nghiêm trang, bướng bỉnh, hay ngây thơ một cách tự nhiên. Bay giờ, ngoài An Ninh Quân Đội, chỉ có anh biết về gia đình tôi, mà tôi không sợ bị phán đoán hoặc nghi ngờ, hoặc bị vu oan cho cái tội làm tay sai cho Việt cộng, đặc công, nằm vùng.

Tôi chợt nhớ tới lời em trai tôi có lần đã nói: “Anh Mỹ kiểu này thông minh hơn em, chị ơi”. Thỉnh thoảng tôi thấy John kèm toán, lý, hoá cho nó. Thì ra hai người đã thích nhau nhưng tôi không biết. Có một lần, hai chị em đi chơi với John ở ngoại ô, Hải Vân hỏi mượn xe Jeep của John để “chạy thử một vòng”. Tôi biết em tôi chưa biết lái xe. Tôi nhìn nó, thì nó nói nó không biết lái xe cho nên nó mới mượn xe để học lái. Nửa tiếng đồng hồ sau, Hải Vân trở lại, mặt sáng trưng “em lái được rồi đó”. Chừng đó John mới hiểu, và mới hết hồn vì đã đưa xe của nhà binh cho thằng nhỏ chưa biết lái xe. Tôi không dám kể lại cho má chuyện này, mà Hải Vân cũng không méc tôi đi chơi với John.

Đêm đó, John và tôi là hai người khách cuối cùng của nhà hàng La Cigale. Vợ chồng ông Tây đi tới bàn chào chúng tôi để họ đóng cửa. John vội nâng ly, nói:

“Tôi sẽ không đi hỏi cưới ông bố cộng sản của cô, nhưng tôi rất muốn cưới con gái của ông. Làm ơn “dạ“ cho tôi nhờ”.

Tôi không rõ anh đã học được ở đâu cái câu nói đó.

Đêm hôm đó và nhiều đêm tiếp theo, tôi thức giấc khuya, rồi băn khoăn tự hỏi: “Đây là thật hay là mộng”. Rồi tôi từ trả lời: “Mà dù cho là mộng, rồi nó cũng sẽ biến thành sự thật ”. Tôi tin như vậy, vì nhiều mộng của tôi đã thành sự thật. Nhưng tôi là con người lệ thuộc gia đình rất nhiều, vì thế tôi không thể không hỏi ý kiến má, dù má lúc nào cũng sẵn sàng cho chúng tôi tự do quyết định cuộc đời chúng tôi.

Vào một buổi trưa nóng nực của mùa xuân Sài Gòn, má và tôi ngồi nói chuyện trên bậc thềm trước nhà, trong khi mọi người đang ngủ trưa. Hai mẹ con nói đủ mọi thứ chuyện, bắt đầu từ chuyện thời tiết, so sánh giữa Sài Gòn với Cần Thơ. Rồi chuyển sang chuyện chánh trị. Mà chánh trị là thể nào cũng có Ba tôi. Má nhắc lại lời của ông ngoại, cho rằng các cậu và Ba tôi bị Hồ Chí Minh và đàn em của ông ta lừa gạt. Các cậu và Ba đều là những người yêu nước, thật thà, chỉ biết chống Tây để giành độc lập cho nước nhà. Cũng theo ông ngoại, cộng sản phá vỡ nền tảng luân lý gia đình, rồi sẽ đưa Việt Nam đến suy tàn… Má cũng biết Hải Vân có ý định gia nhập Không quân. Khi tôi đang loay hoay tìm cách đổi hướng câu chuyện sang vấn đề hôn nhân giữa tôi và John, nói lòng vòng mà không nói được hết ý trong lòng mình, má tôi nhẹ nhàng nói:

“Tụi con lập gia đình với ai cũng được, miễn đừng có lấy chồng vì tiền, thì Ba không trách ai được”.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 21

Vốn liếng Anh văn của tôi chỉ đủ để coi phim câm của Mỹ. Vậy mà chị Kim, chị Cương của tôi cứ khuyên tôi, hay nói đúng hơn là ép tôi, phải xin việc ở một sở Mỹ. Thật ra, cả nhà sợ tôi ngồi không lâu thì chán Sài Gòn, rồi lại bỏ đi lần nữa. Mà đúng vậy, chỉ mới ở có mấy ngày, tôi đã bắt đầu chê Sài Gòn đủ thứ. Nào là nóng nực, nào là bụi bặm, nào là ồn ào quá… Người bán hàng ở chợ Sài Gòn dữ dằn quá, khiến tôi không dám đi chợ một mình, sợ không biết trả giá, sẽ mua lầm, hoặc trả giá thấp quá sẽ nghe chửi. Tôi không ưa Sài Gòn chút nào, nhưng tôi lại không muốn xa má tôi. Vì vậy, tôi đành phải kiếm việc làm.

Chị tôi giới thiệu cho tôi một lớp học Anh văn, học phí chừng 1,500$, thời gian học khoảng ba hay bốn tháng. Tôi liền cho chị biết: “Em không có 1,500$ đâu, mà cũng không có tới ba tháng để học”. Hai chị hứa sẽ cho tôi học phí, và khuyến khích tôi nên dành thì giờ để học, vì ba bốn tháng qua đi rất mau.

Vào thời gian đó, chị Kim có người bạn trai; đó là thầy Vũ Hoàng. Thầy Hoàng dậy Anh văn ở một trường trung học. Chị tôi nhờ thầy kèm thêm cho tôi và Hải Vân ở nhà. Vì chị Kim, thầy đồng ý dạy tôi sau giờ tan trường của thầy. Rồi thời gian học Anh văn qua mau. Thầy Hoàng là một giáo sư tuyệt vời; tôi tiến bộ rất nhanh. Chỉ tiếc rằng sau này, khi đi làm cho Mỹ, tôi mới biết giọng của thầy là giọng Anh, hơi khác chút ít với giọng Mỹ. Thật ra, sự khác biệt này cũng chẳng có gì quan trọng. Nếu tôi tìm không thấy WC, cứ vô đại Toilet hay Bathroom cũng xong. Nói cho ngay, tôi thích giọng Anh của thầy Hoàng hơn. Học Anh văn của thầy, tôi còn học được chút giọng Bắc kỳ của thầy nữa. Tôi không quên ơn thầy Hoàng, nên khi biến cố 30 tháng 4-1975 xảy ra, tôi đã đi kiếm thầy ở nhiều nơi như Guam, Wake, Phi Luật Tân, nhưng mãi cho đến bây giờ tôi vẫn chưa biết thầy ở đâu.

Sau bốn tháng học Anh văn, tôi theo chị Kim đến sở Mỹ xin việc làm. Chị dẫn tôi đến phòng nhân viên trong Chợ Lớn. Chị phải điền giùm tôi cả chục tờ giấy, trong khi tôi ngồi thừ ra như người ngoài cuộc. Làm đơn xong, chúng tôi phải tới nơi khác để lăn tay, để lập hồ sơ điều tra lý lịch. Tôi phải công nhận rằng chị Kim rất kiên nhẫn, nên tôi cứ phải xin lỗi chị đã mất quá nhiều thì giờ cho tôi, trong khi trong bụng tôi nguội ngắt, không hứng thú gì khi nghĩ tới đi làm sở Mỹ. Chắc chị vừa thông cảm cho một đứa em thất nghiệp, vừa muốn chiều một đứa em nhõng nhẽo, nên không phàn nàn, trách móc gì.

Sau khi lăn tay và nộp đơn, tôi được biết họ sẽ điều tra lý lịch rồi mới quyết định có mướn tôi hay không. Nhìn cô thơ ký nhận đơn, tôi đã thấy chán. Tôi nói với chị tôi là thế nào cô thơ ký cũng lấy đơn của tôi để lót ghế ngồi. Thơ ký gì mà vừa tiếp khách nhai kẹo cao su, vừa giũa móng tay dài đỏ chói.

Chị tôi cười:

“Cưng không mê đi làm sở Mỹ, nên chê nọ chê kia”.

Tôi liền đáp:

“Tại em tốn cả ngày trời lo làm đơn, thì ít nhứt con nhỏ cũng phải sốt sắng nhận đơn của em chớ”.

Chị tôi cười vị tha.

Nhưng nói vậy thì nói, tôi cũng phải lo đến chuyện điều tra lý lịch. Hồi đi làm cho Quân đoàn IV, tôi được Đại uý Nguyễn Đạt Thịnh nâng đỡ. Bây giờ tôi không quen một ai ở cái đất Sài Gòn này ngoài hai chị của tôi và thầy Hoàng. Làm sao tôi có thể qua mặt của tình báo Mỹ được? Tôi vụt nhớ tới Đại uý Trần Duy Bính, người đã giúp tôi giữ được việc ở phòng V. Nếu lý lịch của tôi được Đại uý Trần Duy Bính thông qua, chắc không một nhân viên tình báo Mỹ nào mà không chấp thuận. Tôi cũng còn nhớ, trước khi rời Cần Thơ, tôi có đến sở 4 chào từ biệt Đại uý Bính. Ông rất vui vẻ và tiếp đón tôi niềm nở. Ông còn cho tôi địa chỉ em trai ông là Trung úy Trần Duy Hinh, đang làm việc ở Sài Gòn. Ông dặn tôi nên liên lạc với Trung úy Hinh khi có chuyện cần. Nhớ tới đây, tôi lên tinh thần, vì tôi tin rằng lý lịch của tôi mà do anh em của Thiếu tá Bính cung cấp thì thằng Mỹ, thằng Tây nào cũng sẽ tin tôi là một công dân gương mẫu của Việt Nam Cộng Hoà.

Hôm sau, tôi đi taxi đến Cục An ninh Quân đội trên đường Trần Hưng Đạo để gặp Trung úy Hinh. Một người lính quân cảnh đưa tôi vào phòng đợi ở cạnh văn phòng của Trung úy. Chắc ông Hinh không bao giờ có khách, nên tất cả các ghế bằng nhựa màu cam trong phòng chờ đợi đều phủ một lớp bụi dầy.

Một người đàn ông, mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, vẻ nghiêm nghị, bước ra đón tiếp tôi. Vừa thấy nụ cười của ông, tôi biết ngay ông là em Đại úy Trần Duy Bính. Sau khi tôi tự giới thiệu, Trung úy Hinh mời tôi vô văn phòng, rồi hỏi tôi cần ông giúp việc gì? Tôi cho ông biết về chuyện điều tra lý lịch, vì tôi đang xin việc ở sở Mỹ. Tôi cũng nói thêm, rằng anh của ông ở Cần Thơ biết rất rõ về trường hợp của tôi. Nghe tôi nói xong, Trung úy Hinh không hỏi thêm chi tiết gì nữa, đưa cho tôi một tờ giấy, bảo tôi ghi tên tuổi tôi, và sở Mỹ mà tôi đang xin việc làm. Trước khi chia tay, ông cho biết ông sẽ gọi xuống Cần Thơ để nói chuyện với ông Bính, và nếu không có gì trục trặc, ông sẽ giúp tôi có đầy đủ giấy tờ điều tra lý lịch. Tôi đi về, nhớ giọng nói Bắc kỳ trầm ấm quyến rũ của ông trung úy, và hy vọng ông sẽ gọi anh của ông ở Cần Thơ cho tôi.

Ba tuần sau, tôi được biết cuộc điều tra lý lịch đã hoàn tất. Rồi tôi được phòng nhân viên của sở Mỹ gửi đến khách sạn Rex để phỏng vấn. Khách sạn Rex có một phòng là câu lạc bộ của sĩ quan Mỹ. Tại đây, tôi gặp ông Hiệp, người phỏng vấn tôi. Nhưng ông đã làm tôi thất vọng, vì ông cho biết hiện câu lạc bộ không tuyển người làm việc. Tôi rất ngạc nhiên, vì phòng nhân viên trong Chợ Lớn đã cho biết câu lạc bộ Rex đang cần một người làm cashier, và một người phụ văn phòng kế toán. Nhưng rồi mấy tuần sau đó, ông Hiệp gọi tôi lại, cho việc làm trong phòng kế toán.

Đúng là “ghét của nào trời trao của đó”. Tôi vốn dốt toán nên sợ toán, ghét toán. Khi còn đi học, đêm đêm, ác mộng của tôi là những bài toán. Bây giờ đi làm, tôi lại làm ngay nơi phải dùng đến toán. Hàng ngày, tôi ngồi bên cuốn sổ dầy cui, rồi cộng, trừ, nhơn, chia… Nào tiền lương của nhân viên, nào tiền thu vô, tiền chi ra… Những con số cứ nhảy loạn, cứ múa may trước mắt tôi. Chúng còn theo tôi vào cả những giấc ngủ ban đêm nữa. Nhưng nhờ có nó tôi mới được lãnh lương mỗi tháng hai lần.

Tôi nhớ, mỗi lần tôi than thở khi gặp khó khăn rắc tôi, ông ngoại tôi lại khuyến khích tôi bằng câu: “Làm người khó, làm chó dễ, cháu muốn làm gì?”. Vậy mà cũng có lần, vì làm biếng, sợ khó khăn, tôi đã liều nói với ông tôi: “Thôi, bữa nay ông cho cháu làm chó đi”. Ông nhìn tôi một lúc, tỏ vẻ thất vọng, rồi dịu dàng nói: “Hễ muốn làm chó, cháu phải đi bốn chưn, rồi được ăn, được ngủ, được vui chơi, khỏi học bài, khỏi làm việc trong nhà, được chị em và cả ông bà hầu hạ suốt ngày”. Tôi mắc cỡ không dám đòi làm chó nữa.

Nhớ lại lời ông ngoại, tôi không còn thắc mắc về chuyện đi làm khó khăn nữa. Tôi tự an ủi rằng đi làm sở Mỹ để sống, chớ không phải sống để đi làm cho Mỹ, rồi thứ sáu lãnh lương. Việc làm không có lý tưởng chút nào.

Năm 1966, má tôi 50 tuổi. Nhiều đêm, tôi xót xa nghĩ đến cảnh cô đơn của má. Tôi nhìn lại quãng đời của má, từ ngày ba má có anh Khôi cho tới ngày ba đi tập kết, tôi không nhớ má có bao giờ được vui trọn một ngày không? Rồi từ khi má đau, phải đi bệnh viện Cần Thơ, cho đến ngày cả gia đình chuyển hết lên Sài Gòn, tôi không thấy má vui như những người bạn của má. Vậy mà má không hề than thở một lời, hay oán trách hoàn cảnh, hay giận hờn ba. Thì thôi, chị em tôi cũng phải tế nhị, không trách móc ông già trước mặt má.

Sau nhiều năm chị em tôi sống xa cách nhau, nay mới được sum họp, chúng tôi muốn tận hưởng niềm vui ấm cúng của sự sum họp này. Cuối tuần, trước khi đi chơi với bạn, hai chị tôi dẫn tôi đi ăn sáng, rồi về nhà quây quần bên cạnh má. Không khí gia đình thật êm đềm.

Tôi tiếp tục đi làm sở Mỹ. Hải Vân mua được chiếc xe Honda, có tiền đóng học phí lớp Nhu đạo. Em học trường Bồ Đề. Bạn thân của em là mấy cậu nhỏ ở gần trường bên chùa Bà Lai. Ali là bạn thân nhứt của em. Ali thường chuyền từ nóc nhà này sang nóc nhà khác, trong đó có cả nóc chùa và rạp hát Kim Châu, để tới gặp Hải Vân.

Nhưng chỉ có tiếng cười, tiếng vui đùa của năm đứa con gái, tiếng đàn guitar của Hải Vân, làm cho má tôi vui thôi.

Bỏ bú

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Bỏ bú

Hồ Đình Nghiêm

 Anh đón nhận đứa bé với tất cả vẻ cẩn trọng. Như tư thế trước đây của Audi, anh ôm nó bằng hai vòng tay, để đứa bé tựa đầu vào vai anh, tiếp tục giấc ngủ, ngủ như một baby.

 Tóc hoe vàng, thưa thớt, mỏng mịn. Môi ướt, thỉnh thoảng cười chùng vụng dù đang chìm vào giấc sâu. Mụ bà dạy, họ bảo thế. Nếu môi kia mếu máo hẳn đang bị bà mụ quở trách. Và Audi dĩ nhiên sẽ chẳng biết được điều “mầu nhiệm” kia. Audi tin vào giấc mơ, mộng đẹp hoặc mộng chẳng lành. Anh ngờ vực, nhỏ nhít thế sao lại sớm tựu thành một cơn mê sảng?

 Da thịt đứa bé thơm ngọt mùi sữa mẹ, tựa hương một giống hoa luôn ngậm sương ở chốn khuất lấp. Mùi cỏ mới cắt nơi khoảng sân sau tuy nồng đậm nhưng chẳng phủ lấp được sự tinh khiết có nơi con bé. Trẻ nít luôn là trang giấy trắng, nếu đúng thế thì càng già cỗi con người sẽ bị bôi bẩn đường ngang nét dọc vết cào xướt. Ngày tháng dự phần nhỏ, tác hại phần lớn do bởi những tiếp xúc với đồng loại. Họ trao cho ta chút niềm vui và soán đổi bộn bề bao khổ lụy. Mưu toan là hóa chất phun tưới lên hoa quả, sum suê những độc hại nằm dấu mình. Và khi ấy, đứng bên kẻ gần đất xa trời, người ta nhận biết một điều, thân thể kia hôi hám ngập ngụa bụi trần!

 Audi trở ra bằng hai tách cà phê có ở đôi tay. Da trắng, mỏng, thấy những đường đi xanh thẩm ngoằn nghèo của động mạch chạy bên dưới, và trên là lớp lông măng như bụi phấn  che đậy bớt cái trần trụi. Hai mươi tám tuổi, một con, Audi mang nét phiền muộn của một gái đồng trinh tuổi bốn mươi. Tuy vậy anh chưa nhìn thấy sự bẳn gắt lộ hình ở Audi dẫu có khi anh bỡn cợt điều mất lòng. Cô thích đón nghe anh bông lơn, cô bảo những đứa ưa bày trò thường dễ chơi hơn những thằng người nghiêm nghị. Sự đạo mạo làm cô oải, boring. Anh từng cắc cớ: Người bạn có mấy vòng?  Ba, vòng một vòng hai vòng ba. Ngực, eo, mông. Vậy thì vòng số bốn nó trốn đi đâu? Há? What? Không phải là logo của Audi có bốn vòng sao? Bốn vòng đều đặn, rất hấp dẫn. Audi cười phá ra, chẳng sợ kinh động giấc ngủ con thơ và với đôi tay rắn rỏi cô đã kẹp cổ anh lại dúi đầu vào vòng số một. Khi đó mặt anh mát rượi, rít rát, anh nghĩ tới cốc cà phê pha sữa mẹ hiện bán rất đắt ở London. Lúc nhỏ anh bú sữa mẹ và đáng phàn nàn một điều, con nít ranh thường vô tâm, nó đã quên ráo trọi những hương mùi quyến rũ kia. Quên cho tới gần năm mươi mới được tiếp cận, phát hiện trong buồn tủi, kèm theo chút tiếc nuối.

Cà phê đen, chỉ muỗng đường, không thêm gì khác. Vào giấc trưa, thường thì chẳng hề là thứ nước uống thích hợp. Nhưng anh biết, trong tủ lạnh kê góc bếp nhà Audi chẳng còn thứ gì hợp khẩu vị. Nước suối, nước bưởi và bịch sữa 4 lít 2% chất béo. Chung đụng và sánh đôi là những lu hủ nhỏ nhắn chứa nhiều vitamin dành cho người chưa mọc răng đang ngủ yên trên vai anh. Đi lui tới khép nép dưới bóng dâm hà tiện, cuối cùng anh buộc lòng phải ngồi ké né xuống chiếc ghế mây. Đứa bé cựa mình thức dậy, nó mở mắt nhìn anh, sự ngơ ngác có trên gương mặt làm cảm động, làm anh muốn hôn nó, như thế một lời chào. Nó ngó quanh, mắt hơi nheo vì sân cỏ ngập vàng màu nắng. Một con sóc uốn cong thân để đùa cợt với những chiếc lá vừa rơi, động tác hệt như con mèo xuẩn ngốc cố bắt chụp chiếc đuôi luôn ngo ngoe của chính mình. Con sóc vụt chạy lên cây, và sau cùng thì con bé òa khóc. Ôi, tội nghiệp con chưa? Kẻ lạ nào đang ẳm con thế? Mẹ đây honey.

 Bầu vú căng sữa, tròn vin, trắng bóng. Xuất hiện và có khả năng nuốt ngay tiếng khóc. Đứa nhỏ chúi mũi chúi lái vào đó, mắt lim dim ngước nhìn anh biểu lộ niềm hạnh phúc như thể nó hiểu rằng mình nó là độc tôn, chẳng tài nào anh hưởng được.

 Anh nâng tách cà phê lên, uống chậm rãi. Không ngon miệng, nhạt mùi, đắng chát là đằng khác. Con sóc đã trở lại khoảng sân, nó nhón bước bộ tịch như chùng vụng, cúi đầu xuống đánh hơi chăm chỉ trên từng đoạn đã di chuyển qua để sau rốt cào lia bới lịa xuống đất rồi khum tay dâng tận miệng thứ hạt gì đấy mum mum nhai khới liên tu kỳ tận. Có thể là hạt đậu phụng, kích cỡ lớn bằng đầu vú Audi. Anh ngó hai mẹ con, ăn uống no say xong, người mẹ sẽ kéo áo xuống, vỗ lưng cho nó phát tiếng ựa, sẽ đặt nó nằm ngửa cởi miếng dán sột soạt và thay cho nó chiếc tã Pampers mới. Nó sẽ chới với đạp hai chân vào khoảng không, nó sẽ đút năm ngón tay bụ bẫm vào miệng và từ đó vỡ ra những tiếng trong trẻo, vui tai dù khó hiểu. Luôn luôn, trước khi nói được chữ mẹ, cha, “mụ bà” sẽ dạy nó thứ ngôn ngữ riêng, như thể tập sự uống lưỡi. Audi sẽ hôn vào người nó, chọc nhột và hai mẹ con sẽ là hai con sóc đùa nghịch nhau không biết chán. Anh thấy thừa thải, như con chó nhìn tới loài động vật kia với đôi mắt khoan dung. Mèo thì có thể tìm cách thư giãn bằng cách chạy tới chơi trò cút bắt, đốt cholesterol lưu thông kinh mạch, hạ huyết áp.

 Buổi trưa yên tĩnh, thiêm thiếp gió nhẹ di chuyển lặng lờ trên đám lá cây phong, tiếng nút sữa của đứa bé, và xa khuất thỉnh thoảng tai nghe động cơ gào rú có ở cái máy cưa đang làm gãy đổ những thân cành. Âm thanh len lỏi đi qua hàng dậu thưa, xao xác trên thảm cỏ vừa cắt và tất cả chừng ấy thứ làm mắt anh ríu lại. Anh ngồi xuống ghế, cưỡng chống cơn buồn ngủ bằng cách cố tìm kiếm có bao nhiêu hạt nốt ruồi đậu ở da thịt để trần của Audi. Khuôn mặt, cổ, phần bụng, bên eo và một phần cánh tay. Hình như trước đây anh có đếm chúng, tới số 12 thì buộc phải chấm dứt, chưa giải xong phép tính đơn giản kia. Lúc đó anh ngồi bên giường có Audi nằm nghẹo cổ nhìn suốt dãy hành lang trơn bóng và luôn chộn rộn ở bệnh viện, khu hộ sản. Cái ghế nhựa, anh tưởng sẽ ngồi chết cứng ở đó trong sự ngầy ngật của đợi chờ. Nhưng không, một bà y tá nói khi đẩy chiếc giường gắn bánh xe vào căn phòng vừa mở toang cửa: Có lẽ bà nhà cần sự hiện diện của ông. Ông có thể đứng phiá trên đầu nằm trong khi chúng tôi đở đẻ. Anh ngó xuống cái xanh xao tựa một kẻ chết đuối ám trên gương mặt Audi, tay cô vẫn bấu chặt và anh nghĩ cách hay hơn cả là đừng tháo gỡ niềm trông mong kia. Anh đã đi vào căn phòng lạnh toát và chói chang ấy. Một trong bốn người đứng sẵn ở đó đã trao cho anh chiếc áo thụng thịnh giống hệt họ, một khẩu trang và hai bao giấy dùng để bao bọc lấy đôi giày của anh. Anh răm rắp nghe theo những gì họ bảo, trong gương phản chiếu anh nhìn ra chẳng có sự khác biệt nào, ngoại trừ họ lần lượt đi rửa tay, lau khô rồi mang vào tay đôi găng cao su. Tay anh tuôn đầy mồ hôi, anh nắm chặt vào thanh sắt đầu giường khi bắt đầu nghe chân run, mỏi.

 Anh muốn nói điều gì đó cho Audi nghe nhưng chẳng biết tìm lời. Anh vụng về tựa một con gà mắc đẻ, dáo dác. Bà nhà rất giỏi chịu đựng, tôi nghĩ mọi thứ sẽ êm đẹp. Một người trấn an anh khi anh thử vén một ít tóc đi lạc xuống trán Audi, anh vuốt ngay ngắn những sợi lòa xòa rồi thu giữ chúng sau vành tai Audi. Người ta đã ngộ nhận, chả có thời giờ để han hỏi. Anh chưa hề đứng dưới đôi chân dang rộng của Audi nên anh chẳng thể là người đang gieo cho cô nỗi đớn đau kia. Mặt Audi tươm đầy mồ hôi khi hít hơi sâu và bặm môi rặn nhọc mệt cho lần vượt cạn. Anh không là cha của hài nhi nhưng anh cảm nhận rõ nỗi bất an tựa hồ chiếc ghe chở anh ngày cũ đang lướt qua những tảng đá ngầm, lườn ghe rung lên khi thần chết thăm dò bằng những móng vuốt sắc nhọn cào vào mảnh gỗ sắp mục nát. Ghe mang anh cùng 18 người tới bến bờ tự do như nỗi huyền nhiệm không có được sự giải thích. Và sau cùng thì tiếng khóc cất lên. Tại sao loài người khi mở mắt đón chào cuộc đời này không hề bằng tràn cười hoan lạc? Khóc vì phận người hay hoảng sợ niềm trống trải đang khiến cơ thể đỏ tím, tái run. Cắt cuống rốn, lau qua quít rồi họ đặt nó lên bụng Audi. Chúc mừng ông. Người bác sĩ nói. Chúc mừng em. Anh nói với Audi và nhìn theo đường lăn của giọt nước vừa thoát khỏi đôi mắt xanh. Nước ối, nước tiểu, máu đã phọt ra ở chỗ khác và hiện tại có người đang phụ trách việc lau chùi, bông băng nhém chặt tựa đập chắn ngăn thủy triều.

 Anh ngó chừng nó giùm chút, tôi đi vào phòng tắm dội qua miếng nước rồi hẵn đi. Audi nói. Đã mấy tháng rồi, hình như vòng bụng chưa kịp đàn hồi, và người đàn bà trong thời gian hậu sản sẽ chẳng thể làm cho có eo trở lại. Không phải nhìn bằng mắt để phát hiện, tắm xong, mặc vào người chiếc áo, Audi bước ra và nhờ anh kéo lại cái zipper chạy dọc sống lưng. Eo ôi, phải nín thở, phải tốn tiền tậu loạt áo mới rồi! Cô than. Rồi hỏi: Ngó được không? Anh thành thật: Cũng ok. Dầu sao nó còn biết nhường nhịn so với hai vòng còn lại. Qủi! Lúc nào cũng tìm cách hạ bệ người ta! Cô mắng yêu khi lùa những ngón tay vào tóc anh. Có thích tìm hiểu vòng số bốn không? Hả? What? Nếu thích, hãy kéo cái zipper xuống, hãy cởi từ tốn mọi vướng mắc, chậm rãi cẩn trọng bao giờ cũng thú vị hơn vội vàng hộc tốc. Và lúc này đây chúng ta tạm quên con bé đi, hãy chú tâm cho nhau mà tiếng khóc mè nheo của nó chẳng thể phân lìa chúng ta ra. Hơn ai hết, anh gây vào lòng tôi sự qúy mến. Ôm chặt lấy tôi. Anh xứng đáng là người tôi đặt hết niềm kỳ vọng.

* * *

 Với cuốn sổ nhỏ kẹp cây viết chì nắm trong bàn tay, người mặc sắc phục cảnh sát ngồi xuống chiếc ghế mây. Trưa âm u như tức giông, khoảng sân chôn cất sự lặng lẽ dưới đám cỏ mọc cao. Ông dùng cà phê nhé? Vâng, xin vui lòng. Người cảnh sát sửa lại dây nịt, dùi cui và súng ngắn lỉnh kỉnh luôn can dự vào thế ngồi, không thoải mái, cứng ngắt. Tóm lại, y phục và đồ nghề linh tinh kia tạo ra một vỏ bọc, nhìn ngó, khó có thiện cảm. Ngay cả nụ cười tươi của ông ta cũng khiến kẻ thưa chuyện phải ái ngại. Cuốn sổ mở ra, hàng chữ viết tháo: Người Việt, nam, 48 tuổi, độc thân. Kẻ mướn phòng, 750 đô một tháng…

 Ồ cám ơn. Người đàn bà mang tách cà phê tới với một tay kẹp nách đứa nhỏ. Đứa bé có đôi mắt to, không nháy khi ngó ông bạn dân. Làm phiền bà quá. Không sao. Bà là người phát hiện? Đúng vậy. Tôi gõ cửa rất lâu, sau cùng tôi tìm chìa khóa và mở nó ra. Ông biết đó, là người cho thuê phòng tôi phải thủ riêng cho mình một cái chìa. Bà tới đòi tiền thuê? Không, đã đầu tháng đâu. Hai hôm không nhìn thấy ông ấy… tôi muốn nhờ anh ta cắt cỏ giúp. Ông ấy từng làm việc đó? Phải, rất vui vẻ, tự nguyện. Từng sốt sắng chở hai mẹ con chúng tôi đi bệnh viện, chợ búa các thứ. Cuộc sống ông ấy ra sao? Khép kín, ít ra ngoài, dường như luôn cô đơn. Nói chung ông ta là hạng người mà tôi luôn an tâm khi kề cận.

 Người cảnh sát ghi một vài chữ vào cuốn sổ. Ông uống hết cà phê và đặt tách xuống mặt bàn nhỏ kê giữa hai ghế. Bà có thể cho tôi vào ngắm qua chỗ ông ấy ở? Ồ, dĩ nhiên. Ông đi lối này.

 Không có nắng, căn phòng giam chật bóng tối. Người đàn bà mở sáng ngọn đèn. Chẳng có gì lạ, những kẻ độc thân thường bất cẩn bày ra cái luộm thuộm như vậy. Chiếc giường nhỏ, gối chăn xộc xệch. Một kệ sách. Cái TV màn hình vừa phải, chẳng lớn. Bàn gỗ vuông, có thể dùng để dọn cơm và cũng có thể làm bàn viết. Cuốn vở khoảng hai trăm trang ghi chật chội những hàng chữ viết tay, mở lưng chừng, như thể đó là nhật ký hoặc bản thảo một cuốn truyện chưa hoàn tất. Người cảnh sát kiếm ra một cái bao ny-lông rồi dùng chiếc đũa gạt cuốn vở vào trong đó. Điều gì đập vào mắt bà trước tiên? Ông ấy nằm vắt nửa người trên giường, qụy chân dưới sàn nhà, miệng há rộng. Bà có đụng vào người không? Không, tôi linh cảm điều xấu, hốt hoảng chạy về nhà mình nhấc phone gọi 911.

 Bà có nói là ông ấy vui tính? Có tâm sự gì với bà không? Ý tôi muốn hỏi là bà biết nhân vật trong tấm ảnh đặt trên kệ sách ấy? À, tôi nghĩ bà đó là người vợ bất hạnh của ổng. Bà mất trong khi chuyển bụng sinh con. Ông ta cho biết là nếu sống ở đây thì chuyện ấy sẽ không thể xẩy ra. Mỗi khi ẳm con tôi, ông ta đều liên hệ, nhớ về ngày tháng cũ đau buồn ở quê nhà. Cám ơn sự hợp tác của bà. Bà tính làm gì với căn phòng này? Tôi chưa biết, thú thật là lúc này tôi chưa tỉnh trí. Ông ấy mất, tôi rất buồn đau.

 Người đàn bà bồng con không tiễn đưa ông cảnh sát. Bà đứng bên một thân cây nhìn ra con đường vắng. Yên lặng quá. Bên góc sân, chỗ khuất lấp, ló ra phần đuôi một khối sắt đen trầy trụa lớp sơn. Chiếc xe Audi đời 2001 nằm câm lặng và vĩnh viễn nó sẽ thôi gào rú từng hồi. Nhớ không con, nó từng hộc tốc chở mẹ đến nhà thương với bàn chân con quẫy đạp trong bụng mẹ. Mẹ đợi chờ con khôn lớn, muốn nhắc nhở con về tấm lòng của ông nhưng chúng ta đã chẳng còn cơ hội. Dẫu sao thì mẹ còn lưu giữ một tấm hình chụp ông ấy. Ông bế con và cả hai đều nở rộng nụ cười thật trong sáng. Có con sóc xù lông từ cao cúi đầu bò xuống chậm rãi, đứa bé vung tay và miệng chảy nước phát ra những tiếng ầu ơ.

 Trời tức giông. Trời sẽ đổ mưa. Mưa hỗn loạn giấc chiều hay mưa đằm thằm rãi đều trên cơn ngủ muộn? Cỏ mọc cao và vuông sân thiếu bóng ai lao động chuyên cần. Thôi, xin cho anh được làm mây trôi về cố hương. Dù chỉ là phù vân, anh nhé!

Hồ Đình Nghiêm

Bia không ôm

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Bia không ôm

Hồ Đình Nghiêm

 Con đường mang tên một vị thánh. Saint Nicholas. Thành phố này có không dưới ba mươi vị. Ông thánh, bà thánh nằm đó đây, cắt ngang nhau, chồng lên nhau, nối tiếp nhau và đa số quần tụ trên vùng đồi cao.

 Xe buýt nặng nề leo dốc, máy nổ lớn và cảnh vật bên ngoài trôi qua từ tốn, quen mặt. Những ngọn đèn luôn thắp sáng trước một tảng màu diêm dúa có treo hình cô gái khỏa thân đứng cheo leo trên mái che, những bậc cấp uốn lượn dẫn lên một dãy sân tennis có rào lưới chắn bên ngoài. Xe sẽ dừng ở trạm đổ, nơi ngã tư luôn tụ gió và cái bảng đường mang tên St-Nicholas đứng run chân dưới ụ đất vun nhiều cỏ dại với hoa vàng lưa thưa.

 Lữ đi lại trên lộ trình này không biết bao nhiêu lần. Mỏi mòn tới độ có thể ngồi ngủ gà ngủ gật một giấc ngắn để khi mở mắt ra, xe buýt vừa tấp sát vào lề, thả Lữ xuống đúng nơi chốn, cũ một lập trình. Lữ yêu cái màu xanh nhợt nhạt đong đưa bóng trải bị thu bé giữa hai hàng cây rậm lá, con số 40 nằm trên tấm bảng trắng nhằm lưu ý quý vị lái xe chớ nên đạp ga chạy vội mà làm chi. Cuối đường rồi cũng tới với nắng chan hoặc mưa vụng trút.

 Lữ đọc trên mặt báo địa phương một cột tin nhỏ: Thử nghiệm ở bến xe đò, cho phát thanh nhạc giao hưởng cổ điển để thế rock’n roll luôn gào thét, trong vòng tuần lễ, mức độ cướp giật và những hành vi phạm pháp gia giảm hẳn. Lữ kể lại cho Vân nghe khi cả hai ngồi bệt trên cỏ trong một buổi chiều yên ả và đứng gió. Nhà hàng xóm không còn gửi ra tiếng cười đùa của con trẻ, sợi dây căng phơi áo quần có máng tấm drap dài lết phết, dật dờ như cánh buồm nhác chơi của con thuyền lạc phương hướng giữa biển lặng. Trôi từ đâu lại mơ hồ tiếng dương cầm dìu dặt, vướng víu trên những bụi hoa cúi đầu bên hàng rào thấp. Những nốt nhạc rời đi, ẩn chứa thứ nỗi niềm khiến người nghe phải vọng tưởng ra nhiều điều.

 – Tại sao Lữ kể chuyện đó ra? Vì nghe được tiếng đàn rã rượi?

– Cũng có thể, nhưng sau hết nó mang chút liên quan. Những người trú ngụ trên con đường mang tên một vị thánh hình như có ảnh hưởng đôi phần. Hiền lành, ít nói và hơi khép kín.

– Đừng tưởng tượng.

– Ở quê nhà người ta sống bất an trên những địa danh Cách mạng tháng tám, Đồng khởi, Xô viết Nghệ tĩnh chưa đủ để chứng minh?

 Lữ ngưng nói, phân tâm vì tiếng đàn không dưng dừng lại, câm bặt. Những câu chuyện giữa Lữ và Vân đôi khi cũng tựa tiếng đàn khuất mặt ấy. Trỗi lên vu vơ, không đầu đuôi, gần mà xa, để ngưng đọng trong tẻ nhạt.

– Vân thích nhạc khích động không?

– Chẳng thích nhưng vẫn nghe. Người mình giống như bộ máy xe hơi vậy, chạy hoài ở một tốc độ tựa nhau là điều cần tránh, làm yếu bộ máy ấy đi. Chiều nào cũng nghe từ nhà hàng xóm vọng ra tiếng nhạc trầm buồn, thú thật Vân cũng hơi oải.

– Thử vào nhà mở một đĩa nhạc rậm rật lên xem không khí có thay đổi?

 Vân đứng lên, quay người đi tới cửa, chiếc váy màu vàng như vệt nắng cuối chiều rút vội vào khung đen án che. Lữ vén tay áo nhìn xuống mặt đồng hồ, thời gian luôn đi mau cho những đôi tình nhân, nó cũng vội vã không kém với riêng Lữ. Tấm bảng ấn định 40 cây số một giờ cắm ngoài kia vô tình đã là cái cớ để Vân ứng xử trong vận hành tình bạn giữa hai đứa. Song hành chậm chạp, không dẫm chạy trên đường biên, chưa đến lúc chúng ta phải gia tăng tốc độ. Người lái xe biết tuân thủ những biển báo quy định, kẻ ấy chẳng bao giờ gặp tai nạn?

 Vân trở ra, cô đi chân trần, tay cầm lon nước ngọt và cánh cửa mở đàng sau thủy chung vẫn tĩnh yên không một âm thanh khuấy động.

– Uống nước đi. Ba má Vân sắp về rồi.

Lữ chẳng đón nhận thức uống, Lữ đưa tay ra chỉ để bao phủ những ngón của Vân. Rờ rịt, rồi cảm nhận cái lạnh giá băng đang lan truyền. Có những đôi nhân tình không cần phải thốt bye, see you…một trong hai đứa sẽ tự hiểu thời điểm để quay lưng. Ba má sắp về là ảnh hình của cánh cửa sẽ đóng chặt, là lời chào tạm biệt không tiện nói ra.

 Lữ bước giữa lối mòn xuôi về bờ lề xi-măng, Lữ sững ngó tấm bảng đóng cọc trên bãi cỏ của một công ty địa ốc mua bán nhà cửa. Với Lữ, đó là bóng dáng chiếc xe xăm xăm chạy vào ngõ cụt và rồi thì nó chết máy liền khi.

 Lữ giật chuông làm hiệu khi xe buýt chạy qua hình vẽ sáng đèn cô gái tóc vàng khỏa thân. Lần này thì có một thay đổi nhỏ. Lữ đọc ra hàng chữ bóng lộn nhảy múa: “Hơn hai mươi vũ nữ trần truồng liên tục xuất hiện trên bục với vô vàn tiết mục đặc sắc. André kính mời”. Đường này mang tên gì hở ông André? Ông làm cách mạng và thay tên đường Lucifer rồi chăng? Hay đường Satan?

 Xe dừng để hoán đổi khách, kẻ lên người xuống. Những xác lá vàng không yên thân luôn xô giạt, trời sang mùa và Lữ co ro dẫm vào lối quen.

– Xin lỗi, có phải anh là người Việt?

Lữ quay mặt lại, người con gái luôn ngồi nhấp nhổm thắt thỏm hoang mang cũng đã xuống tới và đang chạy đuổi kịp Lữ.

– Anh biết đường Nicholas có nằm gần đây không?

– Là con đường chúng ta đang chôn chân.

Mặt cô gái ửng đỏ, nhưng mà Lữ biết là do thời tiết mang lại chứ chẳng phải ở nguyên nhân nào khác. Tay cô nắm một vuông giấy, không là bản đồ, nhưng thỉnh thoảng cô vẫn ngó vào đó.

– Ở đây có vẻ kín cổng cao tường. Anh biết nhà số 911 nằm ở đoạn nào không?

– Biết. Tôi đang đi tới con số khẩn cấp nằm lòng ấy.

– A, hay quá. Anh là gì của Vân?

Người con gái reo lên, vỡ ra thứ tiếng trẻ con ngồi trong cửa hàng McDonald’s cạo tấm vé trúng được cái hamburger free. Cô đi sát vào Lữ với sự cả tin rất hồn nhiên.

– Chỉ là bạn. Còn cô?

– Là láng giềng khi xưa ở Việt-nam. Tôi mới qua và Vân hứa sẽ tặng cho một đống đồ dư thừa.

 Lữ bước khoan thai, khác với lệ thường. Chậm chân cũng chỉ háo hức chờ nghe thêm những tin tức khác. Thứ tin thường lạ lẫm của người đang xào xạc chân khua vạn dặm khởi từ gốc gác của sự đến. Lữ nhớ tới những buổi uống bia cùng bè bạn diễn ra trong căn nhà trọ chôn thấp hơn mặt đường tựa một cái hầm tránh bom đạn. Khói thuốc đặc quánh, ngọn đèn vàng hiu hắt trên đầu, độ lượng cho thêm nhiều bóng đen ngồi quây quần xôm tụ: Mấy ông à, chỉ còn chờ đợi chuyện lạ đến từ những cô gái chân ướt chân ráo vừa ở quê nhà sang tới. Tình yêu, tui thấy đó là món hàng treo đàng sau cửa kính với giá tiền cao ngất ngưỡng trời ơi đất hỡi! Có đứa gằn giọng: Biết người ta ngu ngơ chưa kịp hoàn hồn thì bèn nhào tới chơi trò lợi dụng sao cha nội? Bất lương cũng vừa phải thôi chớ!

– Trời lạnh quá! Người con gái nói khi so vai rụt cổ.

– Chưa đâu. Lạnh này chỉ mới là lạnh nháp thôi, bữa nào nó mới thiệt tình bước tới, để có muốn than van cũng không xong khi cứng miệng chẳng mở lời được.

– Anh đang đe nẹt hù dọa đấy hở?

– Không, cô chưa nghe bài hát của dân tình chốn Québec này đó thôi. Mon pays c’est hiver. Mùa đông, trời ạ, bạc trắng cả tấc lòng trong sáu tháng nửa năm.

– Anh đã trải qua bao nhiêu cái bạc trắng nọ?

– Tôi chẳng nhớ chính xác. Hình như hai mươi sáu, hai bảy gì đó.

– Gia đình anh đều sang tuốt đây?

– Không. Tôi, chỉ một mình ên. Không rõ tôi may mắn hay bị chịu hình phạt lưu đày.

– Sao anh lại nói vậy? Tôi và Vân là hai đứa bạn thân, mỗi khi nhận được quà hoặc xem ảnh Vân gửi về, anh biết tôi đã từng ước nguyện điều gì không? Giá mà được gặp lại Vân, tôi sẽ chịu làm tôi mọi cho ai có công mang tôi đi.

– Và bây giờ? Người nào đã có được chức ông chủ diễm phúc kia?

Người con gái cười thành tiếng. Cô đã cởi bỏ được chút co ro trong bộ dạng.

– Tôi đi theo diện bảo lãnh. Tôi có ông anh trước kia du học ở đây. Vân chưa từng nói cho anh nghe về một người mang tên Bảo?

 Lữ lắc đầu. Bảo, cái tên nghe xa lạ nhưng cũng thật quen thuộc. Gọi dạ bảo vâng. Hay bão với dấu ngã, như đường ta đi nhiều giông bão quá.

 Khi bước hẳn khỏi lề đường, tiếng đàn dương cầm nhặt khoan xô tới. Bùi ngùi, Lữ nhấn chuông rồi nép người sau lưng cô gái, mái tóc dài rối ấy gây cho Lữ thứ cảm nhận mơ hồ về bàn chân đứng của mình chẳng thể thích hợp với nơi chốn. Váng vất chút lạc lõng, lúng túng hơn cả người vừa từ Việt-nam sang tới.

 Người mở ra cánh cửa dầy nặng là Vân. Lữ đọc được trong mắt Vân tràn đầy cả niềm vui, và nó chỉ phủ lấp tới người con gái. Hai người ôm nhau, òa vỡ những tiếng cười tròn trịa, và rồi thì xô đẩy nhau, tựa hạnh phúc quá thì ta chỉ có mỗi một động tác nọ để chia sẻ; chẳng biết làm gì hơn.

– Tao đâu ngờ nhà mày đẹp đến dường này, không có anh đây dắt lối dám tìm hoài chẳng ra.

– Anh Bảo có lại không?

– Dĩ nhiên rồi, biểu tao đến trước trò chuyện với mày, còn anh thì đi mướn chiếc xe van để tha đồ đoàn cho dễ.

 Vân nói Lữ đóng cửa kẻo gió lùa, lạnh. Tiếng đàn bị nhốt bên ngoài và trong nhà, Lữ nhìn ra nỗi trống vắng của những vật thể bị dời đổi. Mẹ của Vân từ nhà bếp đi lên, nhìn Lữ thăm dò rồi quay sang han hỏi người bạn của Vân. Qua đối đáp, Lữ biết ngoài tình láng giềng xưa cũ, hai gia đình họ vừa thắt chặt thêm mối liên hệ khác.

– Hồng, qua phòng bên này đi, tao đã lựa sẵn phần dành cho mày đây.

– Ừ, thích gì thì cứ lấy. Có dọn nhà mới thấy, đồ đoàn đâu mà lắm thứ. Còn cậu này thì sao?

 Câu nói đuổi sau lưng Vân, vọng dội trong phòng kín. Lữ đứng yên một đống ra đó, là món đồ đã buộc kín giây nhợ và nếu vất được thì có lẽ là thứ đáng dụt bỏ trước tiên. Vân sẽ dọn tới một khu vực khác, căn nhà này rộng quá so với gia đình Vân và nó vừa có người mua với giá cao. Bởi thế Vân ưa làm một buổi tiệc nhỏ gọi là tiếp nhận bạn mới tiện thể giã từ nơi chốn cũ. Một bữa tiệc mà kẻ đến sớm được tiếp đãi với ngộ nhận: Quét nhà ra rác, thích gì thứ cứ lấy. Nếu thích Vân tôi lấy có được không?

 Có thứ mùi lạ chờn vờn, nó cứu Lữ thoát khỏi sự bức rức khi mẹ Vân vội chạy tới nơi phát ra hương mùi. Thịt đút lò già lửa, nồi thịt hầm trào bọt, gà nướng khét? Dẫu là món gì thì khi nấu nướng ta cũng nên dọn lòng mà ân cần lân la với ông Táo, còn hơn phó mặc nó cho củi lửa để khoanh tay thẩm định tên thực khách đứng xớ rớ kia.

Còn lại một mình, Lữ bỏ ra ngoài trời với đôi chân thèm được sãi bước. Lữ bước xuống khỏi triền cỏ ẩm, trông xuôi ngó ngược con đường đang bắt đầu làm mặt lạ với Lữ, chẳng có lý do gì để mai này Lữ dẫm chân lên nó, giết qua những cuối tuần nhạt trôi, chẳng định hình. Một cô gái tóc nâu đang khom mình móc sợi dây dài vào cổ con chó đen. Người và chó tuồng như đang chuẩn bị một cuộc đi dạo. Chó luôn vẫy đuôi, còn người thì lần hồi gài kín những hạt nút áo. Lữ bước lại gần, rất đỗi buồn miệng:

– Hèn gì tôi không nghe được tiếng đàn. Cô chơi piano rất hay, ý tôi muốn nói, tiếng đàn như mang theo nó một cái gì đó, khó cắt nghĩa.

Người con gái ngước đầu lên, những sợi tóc mềm và màu mắt xanh đang như thẫm ánh chiều tà. Những ngón tay suông dài luôn xoa vào đầu con chó có bộ mặt hiền từ.

– Cám ơn. Sao ông biết tôi chơi đàn?

– Tôi cũng không biết, có lẽ do ở linh tính, tôi chưa một lần nhìn trộm qua cửa kính.

– Tôi cũng vậy. Biết láng giềng là người châu Á, nhưng chưa bao giờ tôi trông ra mặt ông.

 Cô gái nói tiếng Pháp chậm, rõ. Và Lữ, khi sử dụng ngoại ngữ anh dễ dàng dối gạt, láo khoét hơn là dùng tiếng mẹ đẻ. Buồn cười một điều là Lữ ít khi đỏ mặt nếu ba hoa bằng tiếng Tây.

– Tôi làm việc bù đầu, sáng đi chiều về và có thể cái thời khóa biểu ấy không trùng với sinh hoạt của cô. Tôi tên Lữ.

 Lữ cà khịa. Cố phát âm thật rõ một cái tên “đậm đà bản sắc dân tộc” khi nhìn xuống con chó. Ở bên nhà, ba anh có nuôi một con giống thế và đặt tên Lu.

– Tôi tên Christine. Hình như ông sắp phải dọn đi nơi khác?

– Đúng thế. Tôi sẽ lấy vợ và ba má tôi quyết định mua một căn nhà nhỏ hơn để ở, phải xa vùng đất dễ mến này rồi.

– Xin chia vui cùng ông.

– Điều ấy cũng có nghĩa là trong tương lai tôi sẽ phải chịu hy sinh, đánh đổi lấy cho mình một sự mất mác.

– Lấy vợ, đơn giản là làm phép cọng chứ ai lại làm toán trừ như ông nói.

– Tôi hết nghe thầm vụng tiếng đàn thánh thót của cô.

 Christine cười, bán diện được ánh sáng thoi thóp tô đường viền và hậu cảnh là khúc đường đang có lá rơi, thứ hình ảnh dường như chỉ có trên màn ảnh rộng, có nghĩa là mang đầy hư ảo.

– Cô chuẩn bị dắt chó đi dạo?

– Có rỗi việc thì đi cùng tôi, nếu ông muốn.

– Tôi có người anh. Ông ấy đã khiến lỗ tai tôi biết thẩm thấu, xiêu đổ bởi âm nhạc của Stravinsky. Le sacre du printemps. Tôi cũng mang cảm tình cho những đoạn của Brahms và chính cô là người nhắc nhớ tôi về những kỷ niệm cũ. Có phải vì thế mà tiếng đàn trở nên mê hoặc khi tình cờ mình được nghe?

– Có lẽ vậy, bởi vì tài nghệ của tôi chỉ tới ngang một âm vực nào đó thôi, vấp váp, chưa thoáng đạt. Hầu như tôi chưa hề đón nhận một lời khen, ngoại trừ ông.

– Ở xứ tôi có thành ngữ: Hát hay không bằng hay hát. Cô hiểu ý tôi không?

– Ông có thường đọc nhật báo hoặc theo dõi tin tức trên đài truyền hình?

– Loan tải về tin gì? Một cuộc thi thố tài năng piano?

– Không. Ông thấy căn nhà sơn màu xanh lục bên kia đường? Nửa tháng trước xảy ra án mạng ở trong đó.

 Lữ nhìn qua ngôi nhà, nó đang bị chôn bằng vô vàn xác lá chẳng ai vun quén. Những cánh cửa gỗ đóng kín, thân cành cây leo bám chằng chịt như muốn xâm thực toàn bộ mặt tiền vôi lở. Âm u và có khả năng nhốt chặt tất cả những hoài nghi.

– Mình quay về chưa?

– Ông thấy khó chịu phải không? Tôi đến thăm người bạn và đã tới nơi, ông về một mình nhé, cám ơn đã đi cùng tôi một đoạn đường.

 Lữ đốt một điếu thuốc, bởi chẳng còn ai để chuyện vãn. Điếu thuốc tàn lụn khi Lữ về đứng ngay lối vào. Lữ sẽ bước tới, sẽ ngồi xuống bàn tiệc, sẽ mang vụ án rùng rợn từ căn nhà màu lục về, thong thả kể tới cái chết của cô gái tuổi xuân xanh, thi thể trần truồng và cảnh sát tình nghi đó là hậu quả của mối tình tay ba. Mọi người sẽ tái mặt, sẽ nghi ngờ tên tường thuật. Có đứa sẽ hỏi, cớ sao anh kể chuyện ấy ra trong ngày vui này, bộ hết trò rồi sao, anh có hậu ý gì?

 Ô cửa gương nơi nhà bếp sáng đèn, nó tựa một cái TV màn ảnh nhỏ. Tuy không lớn nhưng nó đang tải khúc phim tình thật rõ nét, thật chi li và đoạn phim ấy buộc chân Lữ phải cắm đứng trên cỏ. Đôi trai gái ôm siết thân để hôn nhau sát bên tủ lạnh, bàn tay đứa con trai lùa sâu vào trong váy rộng của cô gái. Những con dao nằm gần, từ bé đến lớn thảy đều run rẩy, chớp sáng thứ màu lạnh ngọt của kim loại. Thằng con trai chắc tên Bảo, Lữ tin vậy, vì mặt nó rất giống cô em, mang tên Hồng. Còn đứa con gái thì nửa quen thuộc nửa xa lạ đối với Lữ. Không tin được là Vân, sao Vân lại đành lòng nhắm mắt táo tợn đánh rơi con tim luôn tính toan.

Lữ bước ra đường, đi một mạch tới ngã tư luôn tụ gió bốn hướng đổ về. Sau giờ hành chánh, vã lại cuối tuần, lịch trình những chuyến buýt sẽ chạy thưa ra. Buồng điện thoại công cọng sáng ngọn đèn xanh, tái mét. Lữ băng qua con lộ có vẻ vắng ngắt xe cộ, hun hút, thênh thang. Năm mươi xu và bảy con số lần lượt được nhấn vào. Chuông reo, tiếng chuông vọng vào tai đứt khoảng, rời rã. Kêu cho tới hồi chấm dứt sự thúc hối.

– A-lô…

– Tao, Lữ đây. Mày bận không?

– Có chuyện gì sao?

– Đếch có chuyện gì cả. Nếu không bận thì tới chỗ thằng André ngồi với tao.

– André nào?

– Hơn hai mươi vũ nữ trần truồng. Biết chốn ấy chăng?

– A. Thằng này có tiến bộ đó chớ. Được lắm.

– Mất bao lâu?

– Cúp máy là dọt ngay. Tới liền, tới liền.

 Đường tới chỗ đồi trụy xuôi đổ, ngược với xe buýt mỗi khi leo lên thảy đều gầm rú với khói đen. Nếu mọi lối đi đều buông xuôi đổ thân như thế này thì cơ thể nhẹ nhàng đỡ nhọc biết mấy mà kể.

Lữ đưa năm đồng cho tên mặc com-lê thắt nơ đen trịnh trọng đứng chực sau cửa. Hắn dềnh dàng đi dẫn lối, vai u thịt bắp lồ lộ dù không cần phải cởi quần áo ra minh chứng, chủ tiệm sẽ ngầy ngà. Ai cho mày khoe của chốn này, ưu tiên cho nữ quyền, biết không con? Cám ơn, chúc một đêm tốt lành. Hắn nói. Những cái răng trắng hếu lộ ra dưới ánh đèn ma mị. Thứ lân tinh phủ chụp để biến những động vật đi lại kia hóa kiếp thành đàn đom đóm lập lòe chợt sáng chợt tối. Nhạc kích động mở hết công suất làm những cái loa to dềnh dàng phải đàn hồi thì thụp 1000 W vỡ bờ, điếc con ráy. Một con đom đóm cái thơm nức mũi lượn tới, cọ quẹt vào người Lữ bằng thứ rung động tình cờ.

– Uống gì hả ông anh?

– Bia, xin vui lòng.

– Có tới hai mươi nhãn hiệu khác nhau…

– Thứ gì cũng trôi.

Lữ nói gần như hét bên đôi bông tai phát sinh mùi hương trần tục. Cô ở trần theo nội quy phải tuân và cô sở hữu cái báu vật đẹp trên mức trung bình. Cô có dáng đi mà nếu mang vào người hai bình nước không đậy nắp thì buộc lòng thủy sẽ hao, nước chảy khô dòng mới chịu thôi. Lữ nhớ lời bình phẩm của đứa bạn có tật ngứa tay ưa tìm hiểu người lạ chốn lạ: Chốn này thua bên mình ở một điểm. Bia mà không ôm. Vào đó thì xem như ngồi trên giếng mà khát nước, ông láng cháng cầm lòng không đậu để tháy máy tay chân thì nó quẳng xác ông ra ngoài đường ngay, đôi một cái rầm chẳng vị nể mình mẩy đui què mẻ sứt.

 Ở trên bục nhảy đặt giữa căn phòng có đứa con gái vừa lăn lộn vừa tháo bỏ miếng vải nhỏ, thua cả cái khăn mù-soa, nó ném cái vật che thân tối hậu kia vào mặt một thằng đàn ông đang hả miệng ra ngó. Nạn nhân cười khoái trá khi nhặt được, trùm vào đầu, cột ở cổ, lau ở mặt, hôn ở mũi và sau rốt ngồi thừ người ra, như thể bị chuốc bùa mê thuốc lú. Lữ mường tượng tới bàn tay của thằng Bảo khi lùa sâu vào chiếc váy Vân mặc. Lữ trả tiền chai bia vừa mang tới với bàn tay tự dưng run rẩy.

– Có bán bia ôm không?

Mái đầu cúi thấp, ngang tầm Lữ ngồi để lắng nghe rõ hơn. Ấm áp, thơm tho.

– Cái gì? Nhãn bia của nước nào? Chưa hề nghe qua.

 Lữ quay đầu, nhớn nhác. Đứa bạn vẫn chưa đến. Hắn từng nói, bia nội địa ở Việt-nam uống khá lắm. Hắn có vẻ thông hiểu nhiều chuyện. Tết này, cái thằng người rành đường đi nước bước kia lại có mặt tại Sài-gòn, hắn sẽ lò dò đi thăm thú những tụ điểm trá hình lành mạnh. Hắn sẽ… tới bến. Mẹ mày, có sung sướng thì cũng chừng mực nào đấy thôi. Hãy nhìn tao mà noi gương. Lữ sững mặt ngồi ngó những cánh bướm di động vây quanh. Hoang mang, chấp chới.

Hồ Đình Nghiêm

Bia đá

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Bia đá

Hồ Đình Nghiêm

 “Trăm năm bia đá cũng mòn

Bia chai cũng bể chỉ còn bia ôm”

Ca dao Việt-nam đương đại

 Mới sáu giờ, mặt trời đã rụng xuống sau chùa. Cây cao niên và tường rêu ngói ẩm như biết thu hút bóng tối. Tà dương dâng tràn. Những chân mây tím thẫm thôi bay, những bóng điện bắt đầu thắp sáng, lung linh phố phường phía bên kia sông. Sông là giãi lụa xanh uốn lượn ôm lấy chùa, đò trôi ngang thảng hoặc nhưng tuyệt chẳng một lần cập bến. Chùa đoạn lìa với mọi thứ, hoặc mọi vật đều chẳng muốn phá vỡ nỗi tịch lặng của chùa chiền. Buổi chiều, do đó, ngây dại một nỗi buồn. Trầm tịch bóng hoàng hôn xâm thực từ tốn cái khuôn viên luôn chôn chặt thứ không gian đầy u ẩn.

   Muốn xuống sông lấy nước, những chú tiểu phải bước đủ bốn mươi chín bậc cấp bằng đá. Gánh nước lên theo lộ trình cũ và con tim co thắt có khi đếm lộn, mệt mề dốc đứng vã mồ hôi. Những tảng đá trũng khuyết như minh chứng giùm: Đã có biết bao sư rời chùa với viên mãn một quá trình tu tập. Sông không bao giờ cạn, cũng như việc học vốn vô đáy, bởi thế chữ viên mãn chỉ là một cách nói đầy ước lệ. Ai cũng hiểu núi này cao thì ắt hẳn sẽ có núi khác cao hơn, trùng điệp.

  Khi dứt tiếng chuông chiều, nghe lời dặn ban sáng của sư trụ trì, chú tiểu An Lạc đi hết chiều dài khoảng sân cát hai bên nhờ nhợ từng bụi hoa trắng mọc cách khoảng như đứng chỉ đường. Một bóng đen ngồi trên tảng đá lớn, chẳng vọng động như người với đá chỉ là một, dính liền tựa hình khối một bức tượng. Ngồi đâu lưng nhưng biết nguồn cơn của làn gió nhẹ vừa xô tới. Nói mà chẳng quay đầu:

  – Con ngồi xuống, kề cận bên ta.

  – Dạ.

  – Con ở đây được mấy năm rồi?

 – Dạ, hơn mười năm.

  – Hai năm trước, vì cứu người thầy đã bơi qua dòng sông. Con còn nhớ không?

  – Con còn nhớ. Lúc ấy trời vừa sáng, và hình như đang mùa mưa lũ. Trời lạnh.

  – Ừ, đã hai năm. Sông nước ngoài kia vẫn thế mà sức khỏe thầy thì tuồng như hao hụt, xuống thấp, gần cạn kiệt. Nói dại miệng chứ giờ này nhác trông có ai sẩy chân vùng vẫy dưới sông e thầy bất lực chỉ có nước đứng hô hoán. Con có biết bơi không?

 – Dạ không. Hoặc đúng hơn con chưa thử qua. Sông chỉ đẹp ở bề mặt, phía dưới nó chứa đầy những hiểm nguy. Phải không, thưa thầy?

 – Giải thích thì phải dài dòng, phải lấy sở học mà minh chứng. Tạm thời, con hiểu như vậy cũng chẳng có gì sai trái. Bản thân của sự vật đều luôn có ở đó hai mặt. Sáng, tối. Đẹp, xấu. Hiền lành, dữ tợn…

 Sắc màu nhờ nhợ đã rút đi, bóng tối vây chặt lấy họ. Sông trôi dưới kia như con mãng xà đen đúa yên lặng trườn mình ngang qua. Biết chắc đó là sông vin nhờ vô con đò có thắp ngọn đèn dầu di động đốm lửa đỏ quạch chòng chành theo tay chèo ngược gió. Chú tiểu ngó theo, cho đến khi đốm sáng khuất lấp sau đám lau sậy mọc rậm tựa một tấm màn tre. Hai năm trước, sư trụ trì đã thất bại trong việc cứu người. Chẳng tường tận nguyên nhân, nhưng sau đó mọi người nhìn ông đóng cửa căn phòng hậu liêu để tự nhốt mình ngồi diện bích cả tháng trời. Tịnh khẩu, không nói năng. Sự im lặng như một sám hối, đồng thời khiến người ta nghĩ tới điều gì thật khúc mắc của nội tình. Nghĩ trong lòng nhưng chẳng một ai đưa ra câu hỏi.

  – Con đã qua phía bên kia sông lần nào chưa?

  – Dạ chưa.

 Chú tiểu trả lời. Thị trấn bên ấy như một thế giới khác, xa xăm. Giờ này thì nó lung linh đèn đuốc tựa một bức tranh nửa hiện thực nửa như ảo ảnh.

 – Thế mười năm loanh quanh ở đây con chưa hề một lần rời chùa?

  – Dạ có chứ. Nhưng chỉ đi xuống chợ phía dưới chân núi. Con theo mấy anh gánh rau quả đi đổi gạo muối. Mùa hè nào chùa mình cũng thu hoạch được nhiều hoa màu.

  – Ư, phải. Thế thì con lãnh hội được điều gì ở mỗi một lần xuống núi?

 – Con không hiểu ý thầy…

 – Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Tiếp xúc với người bên ngoài con thấy sao?

 – Hình như đa số họ chẳng mấy thiện cảm với bọn con. Ở chợ, con nghe họ nói những điều chướng tai, không hay.

  – Chuyện gì?

 – Họ bảo tất cả những cặp trai gái, những đôi vợ chồng lên đứng chụp ảnh với cảnh chùa thảy đều bị li tán chia lià đổ vỡ sau đó. Chùa mang điềm bất thường cho lứa đôi.

  – Thật sao? Họ còn ác khẩu điều gì khác?

 – Có người nói hoàng hôn nghe tiếng chuông chùa thì bỏ đũa chẳng buồn ăn cơm, đêm nằm trằn trọc những muốn nổi loạn đi làm chuyện xằng bậy Tiếng chuông vang dội đi xa, rót vào lòng người những thông điệp ám tối, xúi dục tựa ma qủi. Chùa từng là nơi ẩn náu an toàn cho bọn sinh viên tụ tập, lên Trường sơn, đi theo mặt trận giải phóng…

  – Mô Phật! Đất nước tuy yên tiếng súng nhưng lòng dạ con người giờ này tao loạn đến mức không tưởng nổi. Mạt pháp!

 – Còn chuyện này thầy cho phép con mới nói ra.

 – Ngần này tuổi, thầy đã trải qua biết bao điều gần như oan uổng. Thảy đều nghiệp chướng. Con chớ ngại ngần.

 – Họ đồn đãi với nhau thầy là nhà sư quốc doanh. Con không hiểu chữ quốc doanh, nhưng mơ hồ nhận ra đó là chữ chẳng mấy đẹp, đầy ác ý.

  Nhà sư cúi đầu, tay lần chuỗi hạt, giây lát sau thở dài:

  – Thầy yêu qúi vô cùng câu nói của Thích ca: “Cái cuộc đời mà mình luôn bất bình này chưa chắc đã hiện hữu, niềm đau khổ hằng dấy lên trong tâm cũng vì mộng tưởng mà ra!” Con hãy nhớ lấy một điều, có những lời mình phải trân trọng cất giữ trong hồn, cũng như có những lời mình phải biết bỏ ngoài tai, cố quên đi. Hôm nay đây thầy gặp riêng con để chỉ nhờ con giúp thầy một chuyện. Con là người nhỏ tuổi nhất trong chùa nhưng là người thầy đặt nhiều lòng tín nhiệm. Có những sự việc mà thành đạt được, căn nguyên là do ở tính hồn nhiên. Con có sẵn lòng giúp thầy không?

  – Thưa thầy, trong tất cả những bài học con gắng sức thông hiểu thì giúp người có lẽ là bài học đầu tiên. Xin thầy cho phép con được trả chút công ơn thầy từng cưu mang dưỡng dục.

 – Con xuống núi, đường đi khổ ải nhiều chông gai và cạm bẫy, con có sờn lòng không?

  – Đó là một cách thực hành những điều mình đã học. Qua đó con sẽ trưởng thành. Xin thầy hãy cho con cơ hội.

  – Tốt. Thầy không nhìn lầm người. Thầy đã viết sẵn một lá thư. Thầy đã vẽ sẵn một bức họa đồ. Cảnh vật, địa hình có thể sẽ đổi khác, cho nên để con dễ tiếp cận mục tiêu, thầy có ghi chú thêm những thông tin, những chi tiết. Bấy lâu dè xẻn được một số tiền, thầy sẽ trao hết cho con lận lưng làm hành trang ngày mai đi dọ hỏi giùm thầy tung tích một người thất lạc từ hơn hai mươi năm. Một tháng trời cả đi lẫn về, liệu thời gian ấy có đủ cho con không? Một tháng. Bởi thầy biết cơ thể của mình chẳng thể chịu đựng lâu hơn. Thầy tự gia hạn sự có mặt ở cõi trầm luân này đúng ba mươi mốt ngày. Thầy đợi chờ tin vui từ con. Gắng giúp thầy mở rộng nụ cười lần cuối.

  – Con xin gắng sức.

 – Thầy thật băn khoăn, bất an vì đã đặt lên vai con thứ trọng trách quá nặng nề. Thầy đặt tên cho con là An Lạc. Con hiểu hai chữ ấy không?

  – Dạ hiểu.

 – Không bao giờ con làm ta thất vọng cả. Con là người học trò yêu mến nhất mà ta có. Con muốn hỏi điều gì không, hở An Lạc?

 – Thưa thầy, điều duy nhất con muốn hỏi là mười năm trước, ai là người mang con đến gửi chùa này?

  – Con muốn truy tầm lí lịch? Ừ, thầy xin trả lời. Đó là một người đàn ông. Ông hứa sẽ trở lại nhưng mãi bặt tăm. Ông ấy là cha con, ông nhờ thầy chăm sóc bởi quanh ông chẳng còn ai. Ông đã khóc khi quay lưng rời chùa.

  – Ổng đi đâu?

  – Cha con là sĩ quan. Ông thua trận, ông lẫn trốn một thời gian và sau rốt ông quyết định đi trình diện chính quyền mới. Đã mười năm, thầy nghĩ cha con đã chết, bởi người ta, không ai có thể chịu đựng một bản án vô thời hạn ở chốn rừng thiên núi độc. Nếu điều đó sai thì còn tình phụ tử. Một kẻ làm cha… Con hiểu không? Có điều gì khuất tất mà mình chẳng thể ngờ được. Đau khổ lắm! Đoạn trường lắm! Thôi con chuẩn bị đi ngủ là vừa, lấy sức cho ngày mai.

   An Lạc mỗi ngày ăn hai bữa. Mỗi bữa một vắt cơm chấm mè rang muối. Trước khi ăn đọc một câu chú, một đoạn kinh và đưa tay rà soát cái ruột tượng mà thầy cẩn thận khâu vá cho đúng với số đo trên cơ thể An Lạc. Dấu kín trong người tựa một trang kinh huyền nhiệm. Chú lấy am miếu hoang tàn mà nghỉ ngơi, nương nhờ vô nghĩa trang vắng tẻ mà ngủ ngáy. Chú nguyện với Thổ địa, sẽ chịu  muôn vàn đớn đau trong chuyến xuất hành này miễn đánh đổi được một kết quả như lòng mong mỏi của thầy. Ngày thứ ba, theo bản đồ thầy vẽ, An Lạc đến được thị trấn Đông Tây. Chỗ này phát triển sầm uất, nhà cao cửa rộng, những bảng hiệu sáng đèn chớp nháy rậm rật và luôn sôi động cuốn hút đủ mọi âm thanh. Tiếng rao hàng, tiếng chửi rủa tru tréo, tiếng người lớn cười, tiếng con nít khóc, tiếng động cơ xe gắn máy nổ chát chúa… Ở chùa không khí trong lành, tịch lặng ngưng đọng; ở cõi ta bà này nhiều bụi bặm và quá loạn mùi đồ ăn hỗn tạp chiên xào củi lửa, khói dật dờ vây đầy lối đi xanh xám mù mờ. Người ở phố thị nên ăn vận có phần diêm dúa, bước ra từ tường cao cổng kín xiêm y màu mè toàn hàng độc tuồng muốn khoe của, lại có hạng khố rách áo ôm, vô gia cư, đàn đúm lại mà ăn ngủ vỉa hè coi cảnh màn trời chiếu đất là chuyện hẳn nhiên chẳng quan hoài tới nghịch cảnh, không để tâm tới số phần rớt mồng tơi. Cho nên bức tranh phồn hoa đô hội kia tuyệt đối không hài hòa, xấu xa sự cách biệt hố sâu giữa hai giai cấp. Nhìn vào biết ngay chân tướng ai là kẻ thắng đứa nào là kẻ xuội lơ đầu hàng. Áo màu lam hai ba chỗ vá, bụng chẳng bao giờ no cơm đạm bạc, An Lạc tự biết phận mình cũng gần như thành phần bị bóc lột, cho nên chú lẫn tránh những lối có đồn bót cửa quyền có cơ quan nhà nước bài trí sự hung hãn của họ qua sắc màu đỏ thắm. Chú sợ bạo lực, thậm chí những điều nhỏ nhặt cũng làm lòng chú hoang mang, tỉ như bắt gặp hình ảnh con chim hoảng loạn bị nhốt trong lồng chật, dáo dác tiếng kêu nghe ai oán, não lòng.

  Dò đúng với bản đồ, An Lạc dừng chân ngó người đàn ông ngồi thu lu bên cái tủ nhỏ bày bán những bao thuốc lá ngoại quốc. Sau lưng ông, căn nhà mở rộng cửa và đó là một tiệm ăn đang hồi đông khách.

  – Thưa chú cho con hỏi. An Lạc nhỏ nhẹ gióng tiếng dò chừng.

  – Muốn xin một chỗ ngồi bán vé số phải không?

 – Dạ không. Con chỉ xin hỏi cô Phạm thị Thuận Hóa có còn ở trong ngôi nhà ấy không?

  – Chẳng biết. Quán nhậu đó toàn cả bọn đàn ông ăn tục nói phét. Dường như chốn ấy không phải là nơi đàn bà lai vãng. Chủ tiệm tên Nguyễn Thần Kinh chứ nào có ai là Thuận Hóa? Có lộn chỗ không?

 An Lạc tần ngần, dõi trông, tỏ vẻ rối trí.

  – Không tin, có thể mạnh dạn vào trong ấy mà hỏi.

 – Thưa chú, họ đang ăn thứ gì vậy?

  – Có đi học không? Hay mù chữ? Chẳng thấy chữ viết to đùng bay bướm nơi tấm bảng ấy sao? “Cờ Tây. Ở đây chuyên trị Cầy tơ”.

  – Cầy tơ là giống gì?

 – Chú em người miền nào trôi sông lạc chợ tới đây? Người Kinh hay dân tộc thiểu số? Họ ăn nhậu thịt chó đấy. Cầy là tuất là khuyển là chien là dog là gâu gâu. Không chó thì là gì?

  – Tội lỗi! Chó mà cũng bị làm thịt nữa sao? Thật là bất nhân!

  – Thôi đi ông thánh. Nó ngon tới độ nhức răng. Ngon hết biết! Dân nhậu đang hoảng vì chúng khan hiếm dần. Người ta xực cho tới hồi chúng tuyệt chủng luôn.

  – Khi Phật rũ bỏ mọi thứ, ngồi tham thiền nhập định dưới gốc cây Bồ đề, trong muôn loài, chó là con vật đến bên Phật sớm nhất.

  – Thôi đi ông cụ non. Ý cụ nói gì chúng cháu đếch hiểu.

  – Có nghĩa là trong muôn loài, chó là con vật thiết thân nhất, có thiện cảm với loài người. Trung thành, một dạ thương yêu chủ có khi hơn cả người đối với người. Và con người thì đã thui chột cảm tính, đánh mất tánh bản thiện Tội lỗi!

  – Thưa tiá. Tiá ngôn ở đây thì chẳng sao, chớ bước lên ba bậc cấp của quán nhậu ấy mà ăn nói linh tinh kiểu đó chúng úynh cho bỏ mẹ. Đánh đến rách cái lai quần vẫn cứ hồ hỡi đánh. Có sáng mắt sáng lòng thì sớm đi cho con nhờ.

 Người đàn ông xua tay như đuổi tà trong khi có kẻ mặt đỏ từ trong quán bước ra:

 – Lấy cho tôi bao ba số đại ca.

 – Hôm nay bảnh vậy? Mua nguyên bao.

 – Ừ, của đút lót, mình hút thế chó nào được. Nghe qua tên Mắt Bò chưa?

 – Sao đây? Một thứ thực đơn hay bảng hiệu một tiệm nhậu?

  – Làm gì có. Mắt Bò, cái tay này tuổi trẻ tài cao, đang khuấy động võ lâm đây.

 – Ủa, sao ngồi hóng tin ở đây mà tôi lại chẳng hay biết.

  – Thằng này con vô thừa nhận, hồi trước nó ở viện dục anh, chẳng học hành, kiếm cơm bằng cách đi làm ở lò sát sanh. Ôi, chuyện này dài, kể hết cũng khô hơi luôn.

  – Cứ kể nghe chơi. Đánh đổi bằng điếu thuốc. Này, hút đi.

  – Ừ, tôi thích sòng phẳng. Anh biết lò sát sanh rồi chứ gì? Là nơi chuyên hạ heo bò, xẻo thịt bán cho chợ búa. Bò là con vật kỳ lạ, nó linh cảm biết trước cái chết đang gần kề và nó khóc anh ạ. Cái thằng mang hỗn danh Mắt Bò kia động lòng hay sao thì mình chẳng rõ, hễ thấy con bò nào khóc thì nó đưa tay ra chùi rồi lại dụi vào mắt mình. Cứ thế ròng rã lao động mười năm trong lò sát sanh, giờ này hai con mắt nó biết nhìn xuyên thấu qua thế giới khác.

 – Là sao? Chuyện hoang đường kỳ ảo thế?

  – Nó thấy sự chuyển dịch đi lại người của cõi âm. Tóm tắc, nó thấy ma như cơm bữa. Ngán chưa? Người đời không tin. Người đời trắc nghiệm và nó phán không sai trật một mảy may.

  – Chẳng hạn?

 – Chẳng hạn ông cố hoặc bà nội anh chết tự thuở nào. Anh chỉ còn giữ hình ảnh của tiền nhân ở trong mấy cuốn album, anh cắc cớ tìm nó, bảo mày có ngon tả hình dáng ông cố bà nội tao coi. Nó nhắm mắt trong phút giây rồi nói rành rọt tựa hồ nó từng xem mấy tấm ảnh cũ kỹ kia. Y phục cắt may kiểu cọ ra sao. Dấu vết dị hình trên mặt như thế nào. Chột, sẹo, nám, tàn nhan nốt ruồi, râu ria, tay chân mình mẩy nói ngọn ngành không chừa một phân ly. Đúng y bon.

  – Nó ờ đâu giờ này?

  – Giờ này nó ở trong ngôi nhà to nhất đường Hai tháng Chín. Đời nó phất và nó sắp thành đại gia. Và có lẽ nó sẽ mang cái tên khác. Mắt Bò thì nghe kinh, mấy em người mẫu chân dài nghe cũng thấy ớn.

  – Chuyện thấy ma qủi mà cũng mang lại sự sang giàu sao cha nội?

  – Sao không? Ngoài Hà-nội người ta có tiền đô từng va-ly, người ta vào tìm nó hỏi thăm con em họ trong chiến tranh chống Mỹ xác thân vùi dập chỗ nào? Ôi dào, kinh doanh kiểu đó phải thuê người hiền lành như chú em này ngồi đếm bạc giúp nó. Đếm mỏi tay.

   An Lạc hỏi:

 – Nếu tìm người thân thất lạc hai mươi năm mà người ấy chưa chết thì liệu ông Mắt Bò có biết cách chỉ đường không?

  – Em hỏi câu gì ngặt nghèo thế? Nó có phải công an đâu. Nó không chơi với người sống, nó mặn người chết hơn.

  Ông bán thuốc lá bình phẩm:

 – Trường hợp thằng Mắt Bò thuộc loại ngoại lệ. Nó đâu có mong mỏi cái ngày giàu sang này. Có nghĩa là nó chẳng rắp tâm lựa chọn, mặc cho cuộc đời đẩy đưa. Nếu được chọn lựa, tao lựa nước mắt con gì đó bôi vô mắt mình để chỉ mong có biệt nhãn nhìn xuyên thâu áo quần của chị em phụ nữ đi qua lại dập dìu trên con đường này.

  – Tội lỗi!

   Người bán thuốc cười ré lên.

 – Sao mày ưa xài chữ ấy thế? Xã hội này ai cũng mang tội ngập đầu, ai cũng xuống tới bảy tầng địa ngục. Ma qủi ngon cơm hơn bọn mình, bởi họ chết ở cái thời điểm thanh bình ngày xa xưa. Mày hiểu không? Mày mặc áo lam như kiểu gia đình Phật tử, vậy chớ mày biết câu đời là bể khổ tình là giây oan không?

 – Thôi, chào chú con đi.

  – Phải. Đi tìm thân nhân là vừa. Đứng láng cháng ở đây cả mày lẫn tao đứa nào cũng phải nực gà, nổi nóng.

 Trời xuống sắc, hoàng hôn chờ chực đàng sau những cao ốc, đợi những ngọn đèn đường sẽ đồng loạt cháy đỏ. Thành phố này quá lớn rộng và An Lạc thấy chúng sinh, thấy bản thân đều nhỏ bé, tựa giọt nước mắt rơi vào lòng biển cả, tựa hạt bụi xô giạt trong gió, tựa chiếc lá trong rừng thu đổi màu. Tung tích của Thuận Hóa cũng thế, là con cá nằm dưới một dòng sông mênh mông chảy chẳng bến bờ. Giờ này, chữ duyên trong nhà Phật là chữ có khả năng mang tới niềm tin cho An Lạc. Chú biết chắc cuối cùng chú sẽ đối diện với người mà chú hằng khấn nguyện xin được gặp mặt. Khi người ta trang bị một lòng thành để đi tìm, họ vượt qua những gian khó và họ sẽ nhìn thấy điều ẩn khuất chờ đợi. Đó là một sự trả công tất yếu.

 Ngày thứ năm, theo thông tin của một người đàn bà giặt chiếu bên sông, An Lạc lên đò trôi nổi tới thị trấn Bắc Nam. Chú đã rút từ ruột tượng tờ bạc thứ ba dùng để trang trải vào những việc chẳng thể dè xẻn, tằn tiện. So với những phố phường từng bỏ lại sau lưng, thị trấn này xô bồ, đông đúc và hỗn tạp hơn vạn lần. Người da trắng, người da màu, dân ngoại quốc tứ xứ cũng chen vai thích cánh đi đứng loạn xị giữa phố. Sành điệu và ma mãnh gấp trăm lần An Lạc. Trong đám đông nếu có ai muốn kiếm ra một đứa người nước ngoài, họ sẽ đồng loạt đưa tay chỉ vào bộ mặt ngơ ngác của An Lạc: Nó đấy. Nếu không đúng, hẳn nó vừa từ dưỡng trí viện trốn chạy ra. Nó hiện thân của thứ quá khứ mà ta muốn chôn vùi. Nhìn nó, ta buộc lòng phải hồi tưởng lại vết cắt thương đau của năm 75. Hoảng loạn, tả tơi. Mặt cắt không còn hột máu. Tán loạn, đổ vỡ, phân lìa, ly loạn. Trù dập, tù tội, cưỡng bức. Một vết thương không bao giờ thành sẹo. Đã bao nhiêu năm trôi qua, sao tự dưng giữa đời sống đương đại văn minh vật chất này lại lòi ra một thằng người “cũ kỹ” dường ấy?. Sao nó có thể sống sót? Sao nó có thể bắt kịp với thời đại? Ngôn ngữ nó dùng cũng thế. Nhỏ nhẹ, lễ độ, phép tắc. Những thứ mà chúng ta đã đánh rơi theo chiều dài lịch sử, từ đổi mới cho tới kinh tế thị trường.

  – Dạ thưa thím, cho con hỏi cô Thuận Hóa có phải thuê nhà ở đây không?

  – Dạ thưa bác, làm ơn chỉ giùm con lối nào để đến đường Cách mạng tháng Tám?

 – Dạ thưa anh, em nhận sự ủy thác của một người và em hứa chu toàn công chuyện để người ấy an lòng đi vào giấc ngủ ngàn thu.

  – Dạ thưa cô, để con gánh nước giúp cô. Con quen việc ấy rồi. Con không lấy tiền trả công đâu. Chi xin cô chỉ bày ngõ nào đến đường Nam kỳ khởi nghĩa.

 Ngày thứ tám, An Lạc đứng trước một cánh cửa đóng kín. Cửa đen đúa, chạng vạng làm nó thêm thẩm màu. Gõ đi, cửa sẽ mở. An Lạc nhớ, hình như câu đó nằm trong Thánh kinh. Ngay tình mà nói, kinh Phật hay kinh Koran, thảy đều có những điểm trùng hợp tựa thế. Đã là kinh sách, chẳng ai nhẫn tâm rao truyền xúi dục những điều sai lầm cho chúng sinh. Biên tập lại, hoàn chỉnh nốt những điều tốt lành, càng xa những điều hoang tưởng càng qúy. Người ta đọc, trí tuệ được khai mở và tùy nhân duyên phẩm hạnh đức độ của từng người, họ tiếp nhận chúng, thực hành và giúp bản tính ngày một hoàn thiện. Không nở bề ngang cũng mạnh bề dọc. An Lạc gõ. Từ nhẹ nhàng đến mạnh tay. Khoảng năm phút thì cửa mở. Phía ngoài tối, phía trong thắp sáng ngọn đèn néon dài tám tất, tô một đường viền rạng ngời quanh cơ thể người con gái. Người ấy tay còn nắm chốt cửa, cô vẫn đứng án lối chờ đợi tiếng xưng hô của người khách đường đột.

  – Dạ thưa chị cho em hỏi có cô Thuận Hóa ở nhà không?

  – Em là ai? Nhìn em, đoán chắc là kẻ vừa vượt ngàn dặm đến đây. Em tên chi?

  – Dạ thưa em tên An Lạc. Dạ đúng, em trú thân ở một nơi xa xôi, hẻo lánh.

  – Vậy chớ em tìm Thuận Hoá với mục đích chi? Duyên do đâu mà em biết có một người mang tên Thuận Hoá?

 – Có người nhờ cậy, có người bày đường, có người mong mỏi ngóng tin, có người viết thư cho cô Thuận Hoá. Xin chị giúp em, có cô Thuận Hoá đó không?

  – Chị là Thuận Hoá đây. Tên đó chị đã xoá sổ, tự khai tử, giờ này chị tên Mộng Hằng. Chị thật ngỡ ngàng khi đã quá lâu mới có người thốt lên hai chữ Thuận Hoá. Thuận Hoá tựa như Sài-gòn vậy, thay tên đổi họ mất rồi. Ấy chết, vào nhà hẳn nói.

   Người con gái đóng cửa. Nhà nhỏ, có vẻ như cô sống một mình. Đồ vật không nhiều, có vẻ như cô chẳng mấy khá giả. Ngọn đèn xanh lét trên trần soi xuống vóc vạc cô làm An Lạc chẳng dám quan sát lâu. Cảm nhận có điều gì bất an đứng chờn vờn đâu đó. Cô mặc đồ ngủ, mỏng như giấy quyến dùng vấn thuốc lá, chẳng có nội y

gì cả. Lơ đễnh hết biết. An Lạc nuốt nước miếng, người nóng như thể đứng sát lò nướng bánh mì. Sao chủ nhân không chảy mồ hôi, tỏ vẻ khó chịu. Quen với khí hậu bất thường đó ư?

 – Em có vẻ khát, để chị rót nước em uống. Em biết uống bia không?

  – Tội lỗi! Thưa chị, cho em ly nước lạnh thì em mang ơn.

 – Kỳ cục. Em xuất thân từ đâu mà ăn nói dường như khác thường.

  – Đây là lá thư em vượt ngàn dặm đường để mang tới cho chị đây. Vất vả khó nhọc như tảng đá trên vai giờ đây được trút bỏ xuống. Em rất hạnh phúc khi được đứng gần chị bởi cứ tưởng sẽ mất nhiều thời gian mới tìm gặp mặt. Chị hãy đọc lá thư phong kín này rồi chị sẽ thông rõ ngọn ngành, đầu giây mối nhợ.

 – Đưa đây. Chị sẽ đọc. Nhưng trước tiên chị có một đề nghị chẳng biết An Lạc có đồng tình không? Em nên lui nhà sau để tắm rửa kỳ cọ bụi đường, chị biết An Lạc đã kinh qua nhiều gian nan. Người ta nói: Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện, điều ấy không sai nhưng cần bổ túc thêm, là cơ thể đó cần phải sạch sẽ. Đúng không?

 – Dạ, đội ơn chị. Em tính bày tỏ nguyện vọng nhưng lại sợ chị mắng. Em xin phép được tắm táp.

 – Lui đây, chị chỉ chỗ. Cái khóa nước nằm kia, cái vòi sen trên ấy. Trước khi mở nước An Lạc nhớ kéo tấm màn ny-lông lại. Trong hộp nhựa đó có đựng cục xà phòng. Cái khăn lông này chị mới thay, sạch, đừng ngại. Chớ sợ tốn nước, cứ xài thoả thích. Chị lên đọc lá thư đây.

 An Lạc thực thi theo những điều chị Thuận Hoá bày vẽ. Lần đầu tiên, chú tiếp cận với những thứ lạ lùng. Ở chùa, khi tắm, chú lội xuống sông, sâu tới ngang thắt lưng. Đứng giặt áo quần, dùng nó để quất từng luồng nước vào cơ thể. Hoặc không thì sau sân chùa, gần cội mai già có giếng nước mát, múc từng gàu lên, nhắm mắt dội xuống cơ thể nẩy nở của thằng con trai vừa kịp vỡ tiếng.

  An Lạc mở hộp nhựa, trong đó cục xà phòng màu hồng có khắc nông hình dáng con chim bồ câu. Hương mùi nhẹ toả và khi chà xát vào da thịt nó trơn tuột nổi bong bóng những luồng gợi cảm khó giải thích. Mùi thơm của nó mang đầy sự tăm tối u mê, bắt chú phải mân mê hưởng thụ thứ thống khoái chợt ùa tới. Chú sờ dương vật mình và kinh hãi thấy nó thay đổi khác thường. Nó như hăm he muốn đòi hỏi, vượt thoát điều cấm kỵ trái khuấy. Tội lỗi! An Lạc lẩm bẩm. Chú phải tự đánh thắng lấy bản thân. Chú tắt nước và chú nguyện sẽ sớm rời khỏi chốn này, về chùa chóng ngày nào tốt ngày đó. Nơi đây đầy bất trắc, chú chẳng an tâm, sợ quá trình tu tập của mình sẽ chóng bị hủy diệt.

   Đêm ấy, khi thức trên giường, đầu An Lạc nhức đau như bị ai dùng gậy đánh lén vào trán. Cơ thể rã rời tựa hồ vừa bơi qua sông rộng. Giường nệm êm ái thơm tho và hiện tại nó nhăn nhàu xộc xệch tả tơi. Nó là tấm gương soi rọi, qua đó An Lạc nhận biết toàn thân chú đang trần truồng. Từ đỉnh đầu đến gót chân, thần kinh nối liền ngang dọc thảy bải hoải, mạch máu chạy tán loạn rần rần, chuyên chở thứ cảm giác nửa mệt mỏi nửa mê say thích thú. Đầu óc An Lạc mụ mị, chú thực không nhìn ra chân tướng của sự vật, của nguồn cơn, của tỉnh thức hay mộng ảo chiêm bao. Trên đầu giường có thắp ngọn đèn vàng bóng nhỏ yếu watts, luồng sáng ấy như biết đổi hướng tập trung soi rọi vào cơ thể Thuận Hoá. Cô từ nhà vệ sinh bước ra. Không một mảnh vải dính da và đích thị cô là nguyên nhân, làm dấy lên trận động đất khốc liệt thật hoang đường. An Lạc nằm bưng mặt, thổn thức. Chú biết người chú vừa bị tổn thương, cái giống vật biểu tượng cho con trai đã thực sự sức mẻ. Chú khóc, từ nhỏ tiếng cho đến òa vỡ chất ngất. Chiếc gối có thêu hàng chữ mộng đẹp đã sũng nước mắt người con trai mười bốn tuổi đương thì.

  – Sao lại khóc? Hãy nhớ cho mình đã vừa hoá thân thành thằng đàn ông rồi. Một thằng đàn ông, nó không có quyền nhỏ lệ trước mặt đàn bà. Em hiểu không?

  – Chị đã làm gì tôi?

  – Chị biết em mệt mỏi nên giúp em ngủ ngon bằng cách cho em uống thuốc ngủ.

  – Rồi sau đó? Chị biết tôi là người tu hành sao nở ra tay bức hại đời tôi?

  – Bức hại. Ai bảo thế? Đã không mang ơn người ta còn dở thói ăn quàng nói xiên. Muốn ngủ với gái trẻ đẹp như chị người ta phải tốn bao nhiêu em biết không? Em là An Lạc, hãy khai tử cái tên ấy đi, chị gọi em là Khoái Lạc. Đã sướng chưa?

 – Tội lỗi. Có lẽ khi về chùa tôi sẽ không dám xuống tắm sông, sợ xác thân này làm ô uế dòng sông thơ mộng kia mất.

  – Mô Phật. Em càng nói chị càng yêu mến em. Chi đọc truyện Liêu trai thấy ma nữ muốn trẻ mãi không già thì chỉ có cách tìm trai tân bắt về để hút lấy dương khí. Cũng như trong Tây du ký, ma nữ hồ ly tinh đều thèm khát được ăn thịt Đường tăng. Chúng nó bảo thịt da kẻ tu hành đều bổ dưỡng, ngon không bút mực nào tả xiết. Em là kẻ tu hành, chị rất muốn mình được là ma nữ. Cuộc đời này chẳng có gì vui thú, chúng ta sum vầy đêm bảy ngày ba thì có chết xuống địa ngục cũng cam lòng.

  – Giết người có nhiều cách, xin chị đừng giết tôi bằng kiểu lạ lùng kinh khủng ấy. Nếu còn sót chút từ bi trong lòng xin chị hãy cho tôi sớm về chùa. Viết cho thầy tôi một lá thư để chứng minh là tôi có tìm đúng người thầy ngóng tin. Tội lỗi. Cứu người hơn xây am, xin chị cho An Lạc này một lối đi.

 – Em biết ông sư trụ trì trên chùa ấy là ai không? Là bố chị đấy. Trong thư ông cũng dùng lời lẽ lâm ly y như em vậy. Một người cha vô trách nhiệm như thế không nên đón nhận sự hồi âm. Đừng tơ tưởng. Ông vất mẹ con chị bơ vơ giữa cuộc đời điên đảo này, muốn sinh tồn chị phải làm nghề bán bia ôm. Em hiểu chữ bia ôm là gì không? Sớm ngày mai em về chùa, hãy thoát y trước mặt ông ấy. Em chính là lá thư mà ta đã cào cấu ngang dọc vết xước trên da thịt tối nay. Là ẩn ngôn, là thông điệp mà khi xem qua ông sẽ ngộ. Đời có vay có trả, chị nguyện sẽ ở đây tới mãn đời đợi ngày trở lại của em. Muốn chém muốn giết muốn làm tình làm tội làm mưa làm gió tùy ý. Đời ta bất hạnh từ nhỏ, xác thân này nằm trong vòng tay của biết bao thằng đàn ông. Ta không cạo đầu xuống tóc nương thân vào cửa Phật cũng là chuyện lạ!

  Mất ba ngày di chuyển, An Lạc về lại đường xưa lối cũ. Cảnh vật vẫn thế chỉ có lòng người luôn đổi thay, biến tướng. Sông kia vẫn vậy, êm đềm chẳng gợn sóng chỉ có tâm người mãi vọng động những sân si vô thường. An Lạc đứng dưới bậc thềm lòng chưa quyết có nên tìm gặp thầy để loan tin. Khi sự hồn nhiên vuột mất tâm thức ta còn đó nỗi dằn vặt khôn nguôi, nghe chuông đổ lòng những thêm bấn loạn khó nắm giữ niềm an lạc thảnh thơi. Râu ria mọc lún phún dưới cằm, An Lạc trông già đi, đến độ khi soi bóng xuống nước, sông kia vốn hững hờ cũng phải cau có bề mặt, sóng đồng tâm loang ra. Không phải đâu. Sóng ấy có do bởi một người vừa xuống múc nước làm khuấy động đó thôi. Người ấy múc đầy hai thùng nước, quay đầu lại rồi đực mặt khi ngó thấy An Lạc:

  – Ủa, em đã về rồi ư?

  – Dạ phải. Em mới về.

  – Mất bao lâu? Trông em giờ này đã trưởng thành như một kẻ lạ, một người của phố phường.

  – Thầy vẫn khoẻ?

  – Ô hay. Anh thật sơ ý! Đáng trách, đáng trách! Em xuống núi hai hôm thì thầy trở bệnh. Mọi người cố giữ bình tĩnh để tìm ra hai phương án: Thứ nhất, khẩn cấp đưa thầy xuống bệnh viện tỉnh. Thứ hai, đánh điện kêu cứu Thượng tọa Đại đức. Lại phải biểu quyết lần nữa sau khi nghe nhà thương loan tin phải mang thầy vào bệnh viện chuyên khoa để mổ tim. Sau khi biểu quyết, mọi người thống nhất với ý kiến của Thượng tọa: Muốn đấu tranh với thần chết buộc lòng chúng ta phải cho thầy ăn nhiều thịt cá cùng chất bổ dưỡng. Thầy ngã mặn, điều ấy cần cho sức khoẻ. Cơ thể phải chứa nhiều vitamin mới có sức chống chọi với phẩu thuật, với bệnh tình.

– Và thầy đã phá giới?

 – Bắt buộc. Thực đơn nghe lâm ly bi đát, ngày hai bữa phải uống sữa ăn trứng gà cá saumon Alaska hấp với đậu Hòa-lan, thịt bò bíp-tết cùng khoai tây nghiền với bơ. Tráng miệng bánh kem caramel hoặc sữa chua. Đầu bếp do cái ông gì đó chuyên nấu cho khách sạn ba sao dưới phố. Cẩn thận và bí mật không nên để lộ ra bên ngoài. Đệ tử chúng mình tối tối gia tăng giờ trì chú tụng kinh mong thầy sớm bình phục. Chùa này thiếu mặt thầy thì chẳng còn gì để nói. Thôi, hãy theo anh lên chùa.

  – Em chưa lên được. Anh không thấy chuyện này kỳ cục sao?

 – Sao vậy? Kẻ tu hành chẳng nên chấp nê những điều nhỏ nhặt. Tùy hoàn cảnh, mình phải biết co giãn để đi cho hết con đường sạn đạo. Ông Lão Tử có nói:”Người sáng suốt nghe đạo thì gắng sức mà thi hành, người bình thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tăm tối nghe đạo thì cười rộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa?” Em đang nực cười hay sao đây?

  – Đạo ấy là đạo gì?

  – Đạo trường tồn. Nghệ thuật sống.

 – Anh giải thích chẳng được minh bạch. Em phải đi nhìn mặt thầy. Nhà thương nào hả anh?

  – Bệnh viện Trung ương.

 Trong ruột tượng còn sót chút tiền. Điều đó làm An Lạc chẳng ngần ngại, xẳng xái là đằng khác. Chú đi xuống núi như điệu bộ một cậu học trò vất sách vở xuống đất để đi săn đuổi những cánh bướm bay chập chờn trên đồi cỏ mượt. Lòng chú đã đổi, âm thầm chú nào hay. Nghe thầy ngã mặn thay vì lo âu, chú lại thấy sảng khoái. Chú đã ngủ với đàn bà, có thánh mới hiểu được cơ thể sung mãn giờ này đang thay da đổi thịt từng phút giây. Cứ nhắm mắt trong chốc lát, chú lại thấy rõ mười mươi đường nét có trên cơ thể Thuận Hoá. Tóc cô ta như rong rêu làm rối trí kẻ đang bơi. Ngực cô ta mềm mại, hạ thể cô ta ướt át; và toàn thể đó là thứ gì hoàn chỉnh nhất mà tạo hoá đã tốn công nhào nặn ra. Không có nước, cá chết. Không có đàn bà, có lẽ trái đất này sẽ hiu quạnh tựa như ngày tận thế.

  Giữa đường, có cặp tình nhân cho xe gắn máy chạy chậm lại. Người điều khiển xe thắng đứng, chống một chân, tắt máy và cả hai cùng rời khỏi nệm xe.

 – Này bạn hiền, chúng tôi nhờ tí việc.

 Người đàn ông nói với tay vẫy. Sau lưng, lấp ló một mặt hoa da phấn. Người đàn bà cười, nụ cười thân thiện. Nụ cười kéo bước chân An Lạc lại gần.

 Trong tay người đàn ông đong đưa chiếc máy ảnh:

  – Mái chùa cong vút đâm lên trời xanh. Có thấy không? Uy nghi thật. Em hãy đứng sát bên anh. Rồi, nhờ bạn chụp cho bọn tôi một tấm ảnh.

  – Hai ba pose càng tốt. Người đàn bà thêm thắt, tay ôm cứng một bên hông nhân tình.

  – Trước khi chụp tôi xin thành thật đưa ra lời cảnh báo.

 An Lạc ngó lên mái chùa, nương thân trong đó nhưng chưa một lần chú để tâm ngắm bóng dáng đồ sộ của nó, nhất là đứng ở vị thế của ngoại giới như lần này.

 – Xin nghiêng mình lắng nghe. Người đàn ông đùa cợt.

 – Chưa có lứa đôi nào hạnh phúc khi lên đây chụp ảnh. Họ trở về, gây gỗ, mắng nhiếc và chia tay. Anh chị nghĩ sao?

 – Cóc nghĩ gì cả. Cứ bấm máy đi. Nhớ hô một hai ba để bọn tôi chuẩn bị nụ cười.

 Ánh flash nháy lên.

 – Tuyệt vời. Cám ơn bạn hiền. Đừng quan ngại. Áp phe mười lăm ngàn thôi. Đám cưới giả. Bảo lãnh sang Mỹ thì đường ai nấy đi. Hạnh phúc là điều bọn chúng tôi sợ hãi nhất. Chùa có linh thiêng đừng bắt bọn tôi phải sống keo sơn như đôi uyên ương. Mẹ kiếp. Đám cưới giả! Ngực cô dâu cũng giả. Rốt cuộc thì cõi ta bà này cái gì cũng láo lếu khốn nạn!

 Tiếng xe gắn máy rú lên, phun khói lui sau rồi chạy vòng vo theo con đường độc đạo uốn lượn quanh sườn núi. Màu trắng của chiếc áo người đàn bà mặc phất phơ, ở xa trông tựa như tờ giấy vàng mã cúng người khuất mặt lặng lẽ bay trong chiều.

 Chuông chùa mệt mỏi gióng tiếng. Trầm, nặng, đục đuổi theo chân An Lạc đang sải bước.