Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 10 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 26

John thường phải công tác xa nhà cả mấy tháng trời. Tôi phải ở nhà một mình với đứa con nhỏ. Mỗi tháng có tới chín mười ngày không có chồng, không có má, không người thân thuộc, chỉ có gia đình Hải Quân, với các bà vợ sĩ quan của cùng phi đoàn. Có mấy lần John đi vắng tới sáu tháng: anh đưa mẹ con tôi về Sài Gòn với má.

Tôi không giỏi như các bà vợ trong phi đoàn VP-4 của anh. Mỗi lần anh đi vắng, tôi sợ ma, sợ kẻ gian; nên đêm cứ để đèn sáng trưng chung quanh nhà. Cây súng PPK nạp sẵn 6 viên đạn tôi giấu dưới nệm giường ngủ.

Tôi thích đọc tiểu thuyết Việt Nam. Đối với tôi, đó là cách về thăm Việt Nam mà không tốn tiền. Cuốn sách tôi đang đọc là cuốn “Tôi Nhìn Tôi Trên Vách” của Tuý Hồng “. Nhờ sách Việt Nam, tôi có thể đi qua mấy chục nơi trong thành phố Sài Gòn, nhận ra những hình dáng quen thuộc, những con đường, các đại lộ trong trí nhớ. Trời ơi, không gì sung sướng bằng được về nhà.

Một hôm, tôi vừa định đi rước Lance ở lớp mẫu giáo, điện thoại bỗng reo. Một người đàn bà tổng đài hỏi tôi có nhận điện thoại collect của một người đàn ông tên là Jean Kaplan ở Paris không? Cái tên Kaplan lạ hoắc đối với tôi, nên tôi không ngần ngại từ chối. Nhưng chỉ mấy giây sau, điện thoại lại reo. Một người đàn ông nói tiếng Anh giọng Pháp. Câu nói đầu tiên của ông làm tôi kinh ngạc:

“Mỹ Dung, tôi là bạn của ba cô. Tôi muốn có phải lắng nghe tôi nói. Rất quan trọng”.

Tay tôi run rẩy, cố nắm chặc cái điện thoại khi nghe người đàn ông gọi tôi là Mỹ Dung, cái tên chỉ có ba tôi gọi thôi. Mười chín năm trước, tôi đã bỏ tên nầy, nên không còn ai nhắc tới nữa. Tiếng người đàn ông lại vang lên trong máy:

“Tôi muốn cô phải thu xếp gấp cho má và các em cô rời khỏi Sài Gòn ngay lập tức!”.

Tôi ấp úng nói:

“Từ lâu tôi cũng muốn mà”.

Ông Kaplan cắt lời tôi, giọng ông càng có vẻ gấp rút hơn:

“Cô phải đưa má có ra khỏi Sài Gòn ngay. Chiến tranh sẽ bùng nổ bất cứ lúc nào”.

Dù rất ngạc nhiên vì cái tên cũ, tôi vẫn tự cảnh giác, cho rằng đây là lối làm tiền của người lạ. Cách đây mấy năm, tôi về Việt Nam xin cho một đứa cháu tôi đi Mỹ. Tôi đến bộ Nội Vụ để xin xuất cảnh. Một nhân viên cao cấp của bộ nầy đã đòi tôi phải chi tiền cho ông và một vài người trong bộ. Có lẽ họ nghĩ rằng tôi từ Mỹ về, không có thì giờ tố cáo họ.

Vì nghĩ như vậy, tôi nói với người đàn ông trong điện thoại:

“Chiến tranh đã có mặt ở Việt Nam kể từ ngày thằng Tây của ông đặt bàn chân lông lá lên quê hương của tôi. Tây về Tây rồi, nhưng chiến tranh vẫn không chấm dứt sau trận Điện Biên Phủ, ông à!”.

“Cô nghe đây!”. Ông bỗng nói lớn hơn “Tánh mạng của má cô đang bị đe doạ. Cô phải đem má cô ra khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt!”.

Tôi đáp ngay:

” Xin cám ơn ông, nhưng tôi không có 50.000 đồng để mua giấy xuất cảnh cho má tôi đâu”.

“Những người bạn của ba cô sẽ tới Sài Gòn trong nay mai. Như vậy má cô và các em cô sẽ không được an toàn. Cô có hiểu không?”.

Ông ta nhấn mạnh từng tiếng. Câu cuối cùng có giọng gắt gỏng.

Vậy mà tôi vẫn cố cãi:

“Tôi hiểu, nhưng nếu họ là bạn của ba tôi thì làm sao gia đình tôi lâm nguy khi họ vào Sài Gòn?”.

Ông ta vẫn kiên nhẫn nói:

” Đừng giả bộ ngây ngô với tôi! Cô phải tin tôi. Hãy đem má và các em cô qua Mỹ hay qua Pháp cũng được. Họ phải đi khỏi Việt Nam”.

“Ông chỉ cách làm sao tôi có thể đem má tôi ra khỏi Việt Nam. Bây giờ đâu có ai được phép xuất ngoại”. Tôi nói.

” Bảo chồng có tới gặp ông đại tướng Hải Quân Gaylor. Ông là Tổng Tư Lệnh Hải Quân ở vùng Thái Bình Dương. Ông ta mới là người có thể giúp cô việc nầy. Nghe tôi không Mỹ Dung?”.

Bây giờ thì tôi biết ông ta nói thiệt và đứng đắn. Thế là tôi bắt đầu lo. Tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vô cửa. Hai lòng bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi, tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực như muốn nhảy ra ngoài. Bỗng tiếng điện thoại lại reo vang. Tôi vội chụp lấy máy nghe. Lần nầy, tôi nghe giọng nói vòi vĩnh của thằng con tôi ở đầu dây bên kia:

“Mom, sao không tới rước con? Con đói bụng rồi!”.

Tôi giựt mình nhớ đến việc tôi phải làm lúc nầy. Tôi rước Lance ở trường mẫu giáo. Thế là đã trễ năm phút.

Sau khi dỗ cho Lance ngủ trưa, tôi lục hộc tủ để thơ và nhựt ký, cố tìm cho ra một cái gì có liên hệ tới tông tích ông Kaplan. Bỗng tôi thoáng thấy một bao thơ mầu vàng dầy cộm trong ngăn kéo bàn viết của tôi. Bao thơ dán tem và đóng dấu Paris. Tênngười gởi là Jean Kaplan, nhưng lại không có địa chỉ. Tôi không biết ông ta, chỉ nhớ rằng ba năm trước ông đã gởi bao thơ nầy cho tôi. Trong bao thơ, có hình của năm người: ba tôi, anh Khôi, chị Thu Vân, anh Trung và một người con gái lạ cỡ tuổi tôi. Hình chụp vào một mùa đông trước điện Cẩm Linh đầy tuyết phủ, dưới nền trời mầu xám ngắt, xám như mầu quần áo của những người trong hình. Ngoài ra, còn có cả hình ba tôi cưỡi ngựa ở Mông Cổ, hình ba tôi uống trà với Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, và nhiều người khác đứng sau lưng họ mà không biết là ai. Khi được những tấm hình nầy, tôi vừa mừng, vừa thất vọng, vì người gởi không viết một chữ nào; cũng không có cả địa chỉ người gởi nữa. Hồi đó tôi nghĩ rằng không có địa chỉ người gởi là may, vì khỏi phải liên lạc với người xa lạ. Bây giờ tôi lại nghĩ khác, thất vọng vì không biết liên lạc cách nào để có thể hỏi thêm về gia đình tôi. Suy nghĩ thêm về lời nói của Jean Kaplan, tôi bắt đầu quan tâm đến tình hình chiến sự ở Việt Nam. Đêm đêm, tôi chờ Lance ngủ, rồi nhón gót ra khỏi phòng, xuống nhà bếp ngồi một mình ôm mối lo sợ. Tôi muốn biết tình hình Việt Nam qua báo chí Mỹ, nhưng tôi lại biết các ký giả Mỹ nông nổi, hời hợt, nên không tin tưởng ở họ. Từ đầu năm 1975, tình hình Nam Việt Nam mỗi ngày một tồi tệ. Đầu tiên là việc mất Ban Mê Thuột, rồi cuộc rút quân từ Pleiku ra biển theo lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, bỏ ngỏ miền cao nguyên. Cuộc triệt thoái nầy gây tổn thất trầm trọng cho cả quân lẫn dân miền Nam. Từ đó tình hình miền Nam mỗi ngày thêm suy sụp. Rồi quân Bắc Việt tràn qua Bến Hải, chiếm Quảng Trị.

Trong khi tôi lo lắng về tình hình Việt Nam, John được nghỉ phép. Anh về nhà đã mười ngày, mà tôi không dám đả động tới cú điện thoại của Jean Kaplan. Nhưng tôi vẫn tìm cách cho anh biết những tin tức liên quan đến Sài Gòn. Thế rồi, một buổi tối tôi tâm sự với anh về sự sống còn của miền Nam. Tôi chỉ dám nói nho nhỏ với anh:

” Em nghĩ mình sẽ mất miền Nam”.

John ngạc nhiên nói:

“Cưng ơi, lúc nào cưng cũng ca tụng người lính Việt Nam Cộng Hoà, mà sao bây giờ lại nói miền Nam sắp mất? Như vậy là cưng coi thường họ quá. Cưng phải tin tưởng họ, vì chính anh biết họ là những chiến sĩ can cường”.

Tôi bật khóc. Hai bên cằm tôi đau nhức, tim tôi tan nát khi phải nói thật với John:

” Mất miền Nam là một chuyện vô cùng đau khổ, những nó sẽ xảy ra. Chưa bao giờ, kể từ ngày ba em bỏ đi Bắc, em tin miền Nam lại lọt vào tay cộng sản. Nhưng mà bây giờ em phải tin. Em không biết nói sao và cắt nghĩa thế nào cho anh hiểu. Em cũng tin là các chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà đánh giặc rất giỏi, nhưng họ chỉ giỏi khi được cấp trên cho phép đánh. Bây giờ họ bị trói tay rồi. Mình sẽ mất Sài Gòn vì ông Thiệu không cho phép họ đánh, vì mấy người Mỹ của anh xỏ lá, chơi trò chính trị. Làm sao lính có thể xông pha diệt dịch, khi mà tướng và tổng thống của họ ra lịnh rút lui? Hãy coi tin tức trong TV thì rõ. Bản đồ miền Nam mỗi ngày nhuộm thêm mầu đỏ.

Tôi nói một hơi dài, khiến John trố mắt nhìn tôi đầy vẻ kinh ngạc. Anh lẳng lặng đi rót một ly rượu. Chờ anh trở lại, tôi định đề cập tới cú phôn của Jean Kaplan. Nhưng tôi chợt nghĩ rằng nếu anh có tin thì tin lời tôi chớ không tin lời người xa lạ. Tôi rụt rè nói:

“John, anh cố tìm cách đưa má và hai đứa em rời khỏi Sài Gòn nhen”.

John liền nắm lấy tay tôi, bắt tôi nhìn thẳng vào mắt nói:

” Má và hai em của em cũng là má và hai em của anh. Anh sẽ lo chuyện nầy”.

” Cám ơn John! ” Tôi vừa mừng vừa cảm động, nên chỉ nghẹn ngào nói được có bấy nhiêu thôi.

John nói tiếp:

” Em có điên mới nghĩ rằng anh ngồi đây mà bỏ mặc má và hai em nhỏ bên đó khi miền Nam lọt vô tay cộng sản. Bổn phận của anh là bảo vệ em, mà bảo vệ em tức là bảo vệ gia đình em. Em lấy chồng khôn, chứ không lấy phải thằng ngu đâu. Chỉ đứa ngu mới để gia đình em kẹt lại Việt Nam. Sẽ không ai sống nổi với em, nếu má và hai em không qua Mỹ được”.

Tôi cười ra nước mắt.

Lần đầu tiên, kể từ sau ngày nhận được cú điện thoại Jean Kaplan, tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong người, như muốn bay bổng. Như vậy là tôi an tâm rồi.

Sau đó, vừa làm bếp tôi vừa nghĩ đến Jean Kaplan. Phải chăng ông ta là một gián điệp? Ông muốn nhờ John đưa tin cho Bộ tư lệnh Hải Quân Mỹ? Nếu đúng, John nên báo cho ông tướng Gaylor, Tổng tư lệnh Hải Quân ở Thái Bình Dương.

Nghĩ vậy, trong bữa ăn, tôi đột ngột nói:

“Em muốn cho anh biết một chuyện mà em giấu mấy ngày nay”.

John liền đoán:

“Em có bầu?”.

“Không phải. Em ước gì em có bầu, sanh năm, sanh ba gì cũng được, em không sợ. Nhưng chuyện nầy mới đáng sợ”.

John lại đoán mò:

“Em lại bị ticket chạy quá tốc độ trong trại, phải không?”.

Tôi lắc đầu, ra hiệu cho anh lắng nghe, rồi tôi từ từ kể lại cú điện thoại của người đàn ông bên Pháp. John bỏ dao, bỏ nĩa xuống bàn, chú ý lắng tai nghe, rồi tỏ vẻ bực mình tại sao tôi lại giấu kín một tin động trời như vậy.

Quả thật, tôi đã giấu kín chuyện nầy. Ngay cả chị Cương ở nhà chỉ cách có 5, 7 miles, tôi cũng không cho biết. Anh Wray, chồng chị phục vụ bên Lục Quân, trên đảo Hawaii nầy. Chị Cương giấu chồng về ba tôi. Theo lại yêu cầu của chị, John không bao giờ cho người anh cột chèo biết sự thật về ông già vợ.

John thắc mắc, tại sao bạn của ba tôi lại báo tin cuộc tấn công miền Nam? Nếu ba tôi trở về, lại sao phải đưa má tôi ra đi khi hai người đã sống xa nhau 19 năm trời? Tuy thắc mắc như vậy, nhưng anh không tin là quân cộng sản Bắc Việt có thể chiếm miền Nam, vì anh rất tin tưởng ở người lính Việt Nam Cộng Hoà.

Trong những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4, chúng tôi theo dõi sát tình hình chiến sự Việt Nam. Rồi càng ngày càng thất vọng. Khi tổng thống Thiệu ra lệnh rút khỏi vùng cao nguyên, quân dân bỏ chạy hỗn loạn. Khi quân cộng sản Bắc Việt tràn qua sông Bến Hải mà không gặp một phản ứng nào của quân đội Việt Nam Cộng Hoà thì chúng tôi biết rằng tình hình đã tuyệt vọng. Lúc đó John mới vội vã tìm đường về Việt Nam đón má tôi và hai em.

John vào sở, trong căn cứ Hải Quân ở Pearl Harbor để xin 30 ngày nghỉ phép. Việc xin phép không có gì khó khăn, nhưng viên trung sĩ đánh máy cho biết Hải Quân vừa có lệnh không cho ai đi Việt Nam, kể từ hạ sĩ quan trở lên, nếu không có sự vụ lịnh. John hối thúc anh ta cứ đánh máy cho xong giấy phép. Anh ta vâng lời. Thế là John về nhà với tấm giấy phép còn bỏ trống nơi đi nghỉ.

Khi đã có giấy phép trong tay, John bắt đầu gọi điện thoại tới cứ Không Quân Hickam hỏi các chuyến bay đi Thái Lan, Phi Luật Tân và Việt Nam. Anh sẽ quá giang máy bay quân sự. Tôi thì gọi cho toà lãnh sự Việt Nam ở San Francisco để hỏi thủ tục xin nhập cảnh. Nhân viên toà lãnh sự cho biết người có quốc tịch Mỹ phải có giấy nhập cảnh nếu muốn ở Sài Gòn từ ba ngày trở lên, và phải đợi chừng ba tuần sẽ được cấp visa. Nếu phải đợi tới ba tuần thì nước mất rồi. Chúng tôi phải tính xem con đường nào có thể vô Sài Gòn mà không cần giấy nhập cảnh. Chúng tôi nghĩ rằng bấy giờ người đi ra thì khó, chớ có ai lại dám vô Sài Gòn nữa. Chắc lúc nầy hỗn quân hỗn quan, ai mà đi xét coi John có ở quá hạn 3 ngày không. Chúng tôi nghĩ như vậy cho tạm an tâm để lo việc khác. Việc khác đó là tìm chỗ trên máy bay nhà binh để bay về Sài Gòn.

Trưa hôm đó, John trở lại phi trường của Không Quân Hickam để thăm dò các chuyến bay một lần nữa. Anh được biết chuyến bay thường xuyên hàng tuần cho nhân viên của toà đại sứ Mỹ sẽ cất cánh ngày hôm sau, nhưng có thể không còn chỗ, vì tình hình biến chuyển ở Việt Nam mà nhiều dân sự lẫn quân sự phải bay qua Sài Gòn để chuẩn bị. John chợt nhớ đến ông thượng sĩ Hải Quân. Ai cùng biết rằng ông thượng sĩ của Hải Quân nào cũng tháo vát, sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi mắc kẹt. May mắn là ở đơn vị của Military Airlift Cơmmand ở căn cứ Hickam có một ông thượng sĩ của Hải Quân. John vội tới gặy ông ta. Anh ghé tai thân mật nói nhỏ, anh cần đi Việt Nam gấp để đem gia đình vợ ra khỏi Sài Gòn. Vừa nói anh vừa đưa giấy phép cho ông ta coi.

Ông thượng sĩ bèn đứng thẳng người lên, lấy giọng nghiêm trang nói:

“Tôi tin là Thiếu tá có đủ giấy tờ cần thiết để trình cho bên kia. Chỉ ai có công vụ mới được ưu tiên qua Sài Gòn trong lúc nầy”.

Dù biết John chẳng có giấy tờ gì, ông cũng cho anh một chỗ trong chuyến bay ngày hôm sau; ông còn chỉ cho anh nơi lấy chỗ ngồi trong máy bay.

Người lính Không Quân ngồi ở quầy xét vé chau mày khi xem giấy đi đường của John, và giấy mầu đỏ mà ông thượng sĩ Hải Quân vừa phát cho John. Nhưng anh không nói gì, chỉ im lặng. Trong khi đó, John nhịp 8 ngón tay lên mặt quầy. Đó là thói quen cố hữu của anh. Hồi nhỏ anh chơi kèn clarinet nên bây giờ quen tay, hễ rảnh là bấm kèn. Có lẽ anh lính bị tiếng nhịp đều đều đó làm khó chịu, nhưng không dám nói gì, chỉ vội vàng trao giấy tờ cho John.

Đêm đó John mới bắt đầu sửa soạn tinh thần cho chuyến đi mà chúng tôi không biết đặt cho nó cái tên gì? Anh nôn nao và mong cho mau sáng để lên đường. Trước khi rồi khỏi nhà, anh nói với tôi:

“Họ có thể đẩy anh trở lại máy bay khi tới phi trường Tân Sơn Nhất; nhưng nếu vô thẳng Sài Gòn không được, anh sẽ bay sang Bangkok xin visa. Thế nào chồng của em cũng sẽ có mặt ở Sài Gòn tuần nầy”.

Bỗng John có vẻ đăm chiêu, rồi nghiêm giọng nói:

“Anh cần biết hai địa chỉ: một là đại tá Trần Duy Bính; và cô nhi viện Minh Trí. Anh sẽ nhờ đại tá Bính cung cấp cho một xe Jeep, một khẩu súng và một người giúp anh khi cần”.

Tôi giựt mình hỏi:

“Chi vậy? Tại sao lại đến cô nhi viện?”.

Anh vui vẻ hỏi lại:

“Bộ em không muốn mấy đứa con nít mồ côi được đi ra nước ngoài nếu có dịp?”.

Tôi nhớ lại mấy năm về trước, lúc John được biệt phái qua Iran hơn sáu tháng, anh đưa hai mẹ con tôi về Sài Gòn ở với má tôi. Khi rảnh rỗi tôi thường đến viện mồ côi để giúp đỡ. Cô nhi viện Minh Trí là nói tôi đã tới nhiều lần, đã đem tiền của các bà vợ sĩ quan trong phi đoàn của John để mua giường ngủ, thuốc men, gạo, sữa, và cất vườn chơi cho các em. Ở đây có hơn 300 em. Bây giờ nghe anh nhắc tới viện mồ côi, tôi rất xúc động. Tôi không ngờ anh lại nghĩ tới trẻ mồ côi trong giờ phút hiểm nguy nầy. Tôi không biết nói gì hơn là cảm ơn anh rối rít. Anh nói:

“Đừng có cám ơn. Hãy lấy giấy bút ghi địa chỉ cho anh đi, lẹ lên!”

John có thói quen của một phi công, là làm việc gì cũng đúng giờ. Vì thế, anh luôn luôn có một cuốn sổ tay để ghi những việc phải làm theo thự tự thời gian. Tôi vội lấy giấy ra ghi số điện thoại của đại tá Trần Duy Bính. Không những thế, tôi ghi luôn cả số điện thoại của bạn tôi, George Esper, hiện đang làm cho Thông tấn xã Asssociated Press. Sau đó chúng tôi đồng ý với nhau là sẽ dùng văn phòng của AP làm nơi liên lạc bằng điện thoại. Hơn nữa. John sẽ phải tới nhà báo thường xuyên để nghe tin tức thời sự. Tôi cũng cho anh địa chỉ của bà sơ Nguyễn Thị Trọng, người quản trị cô nhi viện Minh Trí lúc bấy giờ.

John cất cuốn sổ tay vào một cái cặp dẹp bằng da đựng tài liệu, rồi đưa cho tôi hai tờ giấy, biểu tôi viết bằng chữ Việt như sau:

“Tên tôi là John Krall. Tôi về đây để che chở cho gia đình của vợ tôi, chờ ngày ông Đặng Quang Minh tức Đặng Văn Quang từ Hà Nội về. Ông Minh là ba vợ của tôi. Các ông nên kiểm tra với đại tá Nguyễn Hoàng Phát, hay với gia đình bên vợ tôi là ông Trần Văn Diệp, Trần Văn Thùy. Họ cũng sẽ từ Hà Nội về. Tôi sẽ không nói chuyện hay thương lượng với bất cứ ai ngoài người kể trên”.

John tin đây có thể coi như một cái bùa hộ thân, phòng khi anh bị cộng sản bắt. Viết xong mấy chữ trên, tôi bỗng rùng mình lo sợ. Nếu anh bị bắt thì chuyện gì sẽ xảy ra? Mảnh giấy viết tay nầy có được kí lô nào không? Chúng sẽ làm gì anh, nếu chúng không tin? Trong lúc hỗn quân hỗn quan, chúng nó cứ làm liều bắn chết anh thì sao? Vì lo lắng như vậy, tôi không muốn anh đi Việt Nam nữa. Tôi ngỏ ý đó với anh, nhưng anh trấn an tôi. Anh nói anh chỉ đề phòng thôi; anh không tin sẽ có chuyện gì xảy ra cho anh, vì anh cố gắng giải quyết mọi việc trước khi cộng sản tấn công Sài Gòn.

Tôi đành tin lời anh, nhưng vẫn không yên tâm. Mọi việc bây giờ trông vào sự may rủi và tài tháo vát của anh thôi. Tôi không quên thầm vái van những người khuất mặt khuất mày trong gia đình, xin phù hộ cho John, để anh rước được má và hai em tôi qua Mỹ.

Để tinh thần bớt căng thẳng, tôi đưa cháu Lance đi bộ ra biển ngay trước cửa nhà. Trời đêm nay không trăng không sao, tối đen. Xa xa, bờ bên kia là hải cảng Pearl Harbor, đèn sáng trưng. Tôi nắm bàn tay nhỏ bé của thằng con. Hình như nó biết được nỗi lo sợ của tôi, nên tối nay nó nắm tay tôi thật chặt, mà không đòi chạy đua với tôi trên bãi cát.

“Má sợ hả má?”. Bỗng Lance hỏi.

“Không, má không có sợ”. Tôi cố lấy giọng bình tĩnh để trả lời một cách yếu xìu.

“Ba nói mình phải can đảm, sợ quá mình sẽ thành ngu!”.

Thằng nhỏ năm tuổi thích dùng chữ “ngu”. Cái gì cũng “ngu”, món ăn dở cũng “ngu”, chó sủa làm nó sợ, con chó cũng “ngu”. Nhưng nếu tôi quá sợ, chắc sẽ thành ngu thiệt. Tôi nắm tay con đi trên bờ biển, nhìn lên bầu trời tối đen. Vừa đi tôi vừa khấn thầm:

“Hải Vân ơi, chị cần cưng lắm. Cưng đi theo để phò hộ anh John rước được má và hai em Hoà Bình, Minh Tâm sang Mỹ với chị. Cưng bảo vệ má như hồi cưng còn sống nhen, Hải Vân”.

Năm 1954, khi ba tôi tập kết ra Bắc, tôi mới chín tuổi. Bây giờ năm 1975, con trai tôi năm tuổi, ba nó phải liều mình về Việt Nam để cứu bà ngoại nó chạy qua Mỹ, vì ông ngoại nó và cộng sản Hà Nội sắp xâm chiếm miền Nam. Làm sao nó hiểu được mà cắt nghĩa bây giờ. Rồi con tôi sẽ hiểu Cộng sản qua đời sống của gia đình nầy. Tôi không sợ con tôi lạc đường, lạc lối khi trưởng thành đâu.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 10 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 25

Những ngày đầu của tôi trên đất Mỹ như đi qua trong sương mù dầy đặc, dưới bầu trời không trăng không sao, như những ngày cuối cùng tôi ở Việt Nam. Tôi không còn nhớ gì nhiều quãng thời gian ngắn ngủi ở nhà chị Cương ở Monterey, California. Hai chị Kim, Cương dẫn tôi đi mua áo cưới ở Carmel. Các chị cho biết đây là một nơi nên thơ, tình tứ, cho các cô dâu tương lai đi sắm áo cưới. Tôi chỉ lẳng lặng đi theo hai chị, vì sợ nói lỡ lời, các chị lại tưởng tôi không yêu John. Tôi yêu John lắm chớ! Có yêu mới liều bỏ quê hương, bỏ má và ba đứa em mà bay sang xứ sở xa lạ nầy, xa hơn mười ngàn dặm! Nhưng ngày đầu ở Mỹ, tôi cứ bị câu hát ru em ám ảnh:

“Con chim đa đa đậu nhánh đa đa,
không lấy chồng gần mà lấy chồng xa,
một mai cha yếu, mẹ già,
chén cơm đôi đũa, bộ ký trà ai dưng”.

Trong khi đó, chị Cương cứ nhắc đi nhắc lại:

“Cánh cửa nầy chỉ mở một lần, cưng không bước vô, nó đóng lại để tới lượt người khác”.

Nghe chị tôi nói hoài, tôi bèn nói chơi:

“Đứa nào muốn vô phải bước qua cái xác của em”.

Chị Kim dẫn tôi đi nhiều tiệm bán áo cưới lắm, nhưng tôi chỉ nhớ có một tiệm. Tôi không nhớ thử áo cưới nào, chỉ nhớ chị tôi nói áo quá dài phải lên lai, về siết eo cho nhỏ. Tôi cũng không nhớ ai trả tiền áo cho tôi. Chị tôi vui khi đi sắm sửa cho em đi lấy chồng, còn tôi thì như cái xác không hồn, đi mà miễn cưỡng, đi ở Carmel mà nhớ nắng Việt Nam, nhớ má, nhớ ba đứa em. Tỉnh Carmel nhiều cảnh đẹp, nhà đẹp, có biết bao nhiêu là du khách tôi cũng không ngắm. Chị tôi hơi bực mình vì cử chỉ thờ ơ và tôi. Tôi chỉ nhớ, khi đem áo cưới về nhà, tôi đứng trước gương cho các chị ngắm nghía, rồi việc cắt xén các chị làm, tôi cũng không có ý kiến.

Tôi không gởi thiệp hồng mời ai dự đám cưới, vì tôi không có một người bạn nào ở Mỹ cả. Bạn tôi đều ở Cần Thơ, người nào cũng đã có gia đình, sống êm đềm trong hạnh phúc. Chỉ có một mình tôi dám mạo hiểm đi lấy chồng xa.

Bạn của hai chị tôi phần đông là các anh các chị người Việt ở trường sinh ngữ Monterey Presidio và các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa du học ở trường Naval Postgraduate School. Bạn của John là những phi công Hải Quân và Người Nhái Mỹ. Họ cùng vợ con ở những phi đoàn xa tới dự. Rể phụ là David Goldstein, một bác sĩ quân y. Anh là bạn thân của John từ ngày họ còn tung hoành bay nhảy ở các căn cứ trong vùng Đông Nam Á..

Ngày cưới của tôi không có ba má chứng kiến. Cái cảnh ba tôi vui vẻ bắt tay chú rể và má tôi rưng rưng nước mắt sung sướng cho con, chỉ là mộng mơ của tôi thôi. Tôi nói với chị Kim “Không có ba má chứng kiến đám cưới, biết vậy em theo trai cho rồi”. Tôi bị hai bà chị lườm trách móc. John và hai chị tôi cứ giới thiệu với tôi từng người khách, mà tôi đâu có biết ai là ai, ngoài tên, tay bắt mặt mừng, đi qua rồi, họ chỉ là một người lạ nữa.

Cha Fritzpatrick của nhà thờ trường Monterey Postgraduate School bắt chúng tôi quỳ suốt hai tiếng đồng hồ để nghe lời giảng về hạnh phúc gia đình, đạo làm người, trách nhiệm với bạn bè, với đất nước và với Thiên Chúa. Sau đó, rể phụ, người Do Thái, nửa đùa nửa thật, nói với chúng tôi là từ đây anh không làm rể phụ cho đám cưới của người Thiên Chúa giáo nữa, nếu ông Cha là người Ái Nhĩ Lan. Hôm đó, Cha uống rượu hơi nhiều với một Cha từ Trung Quốc sang thăm. 40 năm trước, họ là hai đứa nhỏ giúp lễ ở một nhà thờ nhỏ ở Trung Quốc; hôm nay nhân ngày đoàn tụ, hai Cha đã chúc tụng nhau qua nhiều chai rượu lễ.

John đã sắp xếp trước: anh nghỉ phép một tháng, để chúng tôi vừa hưởng tuần trăng mật vừa cho tôi biết quê hương anh. Chia tay với hai chị của tôi ở Monterey, California xong là bắt đầu cuộc hành trình bằng xe từ California đến Minnesota thăm bên chồng, rồi từ đó lái về Johnsville, Pensylvania, nơi căn cứ Hải Quân của John. Chúng tôi đã tới nhiều nơi trên đất Mỹ, đã viếng danh lam thắng cảnh, mà John hãnh diện cho tôi thấy cảnh thanh bình, trù phú của quê hương anh, nhưng lúc nào trong lòng tôi cùng hướng về quê hương ngàn trùng xa cách, nói có má và các em tôi. Nơi ấy, khói lửa đang ngập trời. Nhưng tôi cũng cố làm tròn bổn phận làm vợ của tôi. Hai chữ “làm vợ” thật xa lạ với tôi, xa lạ như đất Mỹ mênh mông nầy.

Nước Mỹ thật bao la; ánh sáng văn minh chói loà khắp nơi, nhưng không chói loà đối với tôi. Tôi không biết John có thất vọng vì tôi dửng dưng mọi thứ? Đối với tôi lúc bấy giờ, chỉ có một thứ hấp dẫn tôi, đó là hệ thống giao thông tuyệt vời, và đêm như ngày không nghe tiếng bom đạn. Những lần cắm trại trong rừng; đêm chỉ có trăng sao, tiếng côn trùng hoà nhịp, không nghe một tiếng súng. Không có lính chận đường hỏi thẻ căn cước. Đường sá không có một ổ gà nào; tất nhiên không có đắp mô hay đào hố. Sao ông trời cho xứ nầy nhiều quá, mà quên không nghĩ đến xứ sở của tôi! Hồi đó, xăng dư thừa, giá rẻ rề, các cây xăng phải cạnh tranh nhau, tặng quà cho khách. Cứ mỗi lần cần xăng, ghé qua cây xăng Shell đổ, thì chọn được một cái dĩa, cái tô, hay cái tách uống cafe; cứ như vậy, từ California tới Pensylvania, chúng tôi có được một bộ chén dĩa.

Chúng tôi về thăm má của John và bà con giòng họ của anh ở tỉnh Ely nhỏ bé của tiểu bang Minnesota. Ở Ely, ngày nào bà con của John cũng tổ chức ăn uống, picnic, đi hái trái cây, câu cá, săn nai, tắm ở các hồ lạnh như nước đá. Tôi có dịp gặp bạn bè, thầy cô của John từ lớp 1 cho tới lớp 12. Ai cũng dặn dò John “take good care of this young lady”, làm tôi rất cảm động. Không biết người ta thương tôi vì tôi chỉ có một thân một mình nơi xứ lạ quê người? Hay là sau tuần trăng mật, tôi sẽ biết nước Mỹ lạnh lùng, cô đơn hơn nữa. Những ngày ở Ely, đêm nào tôi cũng khóc bên cạnh người chồng nằm ngủ ngon lành như một đứa nhỏ vô tư. Chúng tôi ở đó mười ngày, rồi từ giã mọi người, với lời hứa sẽ trở lại vào mùa câu cá tháng 5 tới.

Tháng 9 năm 1968, chúng tôi tới Johnsville, Pensylvania, một căn cứ Hải Quân trong một tỉnh nhỏ. Nơi đây, nhiệm vụ là John là lái thử những chiếc máy bay F-8 với những dụng cụ mới ra lò.

Mỗi tuần tôi viết ba, bốn lá thơ về nhà cho má, cho mấy em, dì Dẻ, con Vân, con Sang. Thơ nào tôi cùng cho gia đình biết tôi vui, tôi hạnh phúc lắm, và đang học hỏi về đời sống ở Mỹ để sớm hội nhập. Nhưng thật ra, đó chỉ là những lời không thật, hoàn toàn không thật, để làm yên lòng gia đình. Tôi đang buồn vô cùng, buồn như con chó đi ngoài xa lộ ồn ào, buồn hơn con chó Nô lúc chúng tôi rời Cảng Chú Hàng đi nơi khác. Tôi ngủ với những chiêm bao, mộng mị, cứ thấy mình ở Việt Nam, về Sàigòn. Có đêm tôi nghe tiếng nhạc Việt Nam trong giấc ngủ. Lại có nhiều đêm tôi gặp ác mộng, thấy Việt cộng âm mưu phá vỡ hạnh phúc của John và tôi. Có đêm chợt thức giấc giữa khuya, tôi nghe có mùi thức ăn Việt Nam quen thuộc. Nhưng khi tỉnh dậy, chỉ thấy tuyết trắng rơi ngoài cửa sổ. John đã đi làm từ sáng sớm. Tôi ôm cái gối, rồi ngồi khóc. Vì ở nhà một mình, không sợ ai biết, không làm phiền ai, mới đầu tôi còn khóc nho nhỏ, sau khóc lớn lên, nức nở. Khóc tới mệt, rồi ngủ lại hồi nào không biết. Chiêm bao như vậy hết đêm nầy đến đêm khác. John không biết, má và các em bên nhà cũng không biết.

Một hôm, tôi gọi chị Cương:

“Em nhớ má, cho em về Việt Nam đi, chị”.

Tôi nói bằng một giọng năn nỉ như hồi nhỏ tôi đòi chị cho tôi đi theo lên Sài Gòn.

Chị liền an ủi:

“Chị thông cảm cưng. Hồi trước qua Mỹ, dù có anh Wray và Tina chị cũng nhớ má, nhớ tụi cưng muốn bịnh luôn. Nhưng…ráng đi cưng. Lớn rồi, mình phải lập gia đình cho má vui. Cưng may mắn là được John thương cưng. Nhớ kỹ điều nầy: Có thằng điên nào mà quý cưng như vàng, khen cưng không tiếc lời, nào thông minh, nào can đảm… Có anh chàng sĩ quan ngoại quốc nào dám lấy cưng khi cưng nói thiệt cho họ biết ba mình là ai không? Hai đứa gặp nhau là cười, là vui như hội. Trời cho thì nhận, rồi ráng gìn giữ hạnh phúc, nghe cưng. Cưng mà trở về Việt Nam bây giờ là mất hết. Cưng phải ơn Thượng đế nếu cưng trở về Việt Nam bấy giờ”.

Chị tôi tha thiết khuyên tôi. Tôi lắng nghe để chị khỏi buồn. Nhưng những lời của chị không thuyết phục nổi tôi, vì tôi vẫn nghĩ tôi sẽ rủ John về Việt Nam với tôi.

“Em về thì má vui hơn”. Tôi cãi.

“Má vui khi thấy mặt cưng, nhưng rồi má sẽ buồn lắm khi biết con của má yếu tinh thần. Má sẽ trách má, vì chắp cánh cho chim bay, mà chim bay không nổi”. Chị tôi nói bằng một giọng vừa năn nỉ, vừa đe doạ.

Tôi vẫn ngoan cố:

“Em bay tới đây là xa lắm rồi. Em biết bay xa như vầy đủ rồi. Em tuổi con chó chớ không phải tuổi con chim, mà bắt em bay luôn”.

Chị kiên nhẫn nói tiếp:

“Cưng đừng nghĩ vậy. Hồi đó, má cũng thương ông ngoại bà ngoại mình lắm, vậy mà má cũng theo ba vô trong bưng, chịu cực khổ, nhọc nhằn, làm cho ông bà xót xa thương má lắm. Khi má biết tụi mình ở bên nầy hạnh phúc má vui lắm, má không đòi hỏi mình lấy chồng giầu nuôi má, mà má chỉ mong cho mình hạnh phúc. Cưng trả ơn má, là cưng phải sống hạnh phúc cho mình. Sau nầy chị em mình sẽ tìm cách rước má với mấy em qua sống với chị em mình”.

Nghe nói đến chuyện bảo lãnh má và các em qua Mỹ sống, tôi chợt thấy một chân trời mới, có tia hy vọng sáng ngời. Lời chị Cương có một sức mạnh khiến tôi ra khỏi trạng thái buồn bã. Tôi tính ngay trong bụng: một đàng tôi về với má và các em, một đàng má và các em sang Mỹ với tôi, đang nào hay hơn? Tôi cười và đồng ý với chị Cương. Nếu sang Mỹ được, má tôi sẽ thoát ra khỏi tầm tay của Việt cộng. Lúc đó má sẽ không còn hát: “Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê bên bên lũy tre. Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè, cười đón người về”.

Một hôm, John đi công tác ở Bermuda, tôi lại chiêm bao thấy mình đi trên những con đường quen thuộc ở Sài Gòn, ghé qua tiệm sách trên đường Lê Lợi, rồi mở cửa nhà hàng Kim Hoa nhìn vào. Trông thấy anh Nguyễn Đạt Ihịnh, ông Thái nhà in, ông Nguyễn Thanh Hoàng (báo Văn Nghệ Tiền Phong), anh Đặng Trần Huân và mấy ông nhà văn bạn nhậu của anh. Tôi trở ra, tiếp tục đi, tai nghe tiếng ồn ào quen thuộc của Sài Gòn, tiếng người nói, có cả mùi đốt rác phảng phất đâu đây. Tôi giựt mình thức giấc, thấy mình vẫn đang ở trong căn nhà mới lạ. Tôi soi gương, lại thấy mình đổi khác. Đứa con gái tinh nghịch, ranh mãnh, thông minh biến đâu mất. Trong im lặng, tôi nghe như chính tôi cũng tự trách mình đã bỏ bê mình. Từ mấy tháng nay, tánh nết của tôi đã thay đổi nhiều. Tôi đang từ một con người chăm chỉ, thích tự lập và cứng rắn, đã trở nên lười biếng, yếu đuối, vô trách nhiệm. Tôi tự nhủ phải cố gắng vươn lên, để trở lại con người bình thường cũ. Nếu cứ tiếp tục sống trong ươn hèn, yếu đuối, tôi sẽ bị John coi thường. Hồi chúng tôi mới quen nhau, John hãnh diện về tôi, vì anh tin là trong bất cứ hoàn cảnh nào tôi cũng đối phó được, dù phải sống xa anh. Nghĩ vậy, tôi quyết định phải trở về với bản tính cũ của tôi; không thể uỷ mị, yếu hèn được. Đã chấp nhận xa gia đình, lìa bỏ quê hương để xây dựng tương lai, hạnh phúc thì phải đi trọn con đường mình đã chọn.

o O o

Vào đầu mùa thu năm 1970, chúng tôi nhận được một tin mừng. Hải Vân sẽ được đi Mỹ học lái máy bay. Em sẽ học tại Lackland, tiểu bang Texas, và sau đó sẽ đi trường khác để học lái trực thăng.

Em đã miệt mài học ngày học đêm để thi vào Không Quân. Giấc mơ của em là lái trực thăng, và được ở căn cứ Biên Hoà. Có lần tôi hỏi em sao không về Cần Thơ, quê hương mình? Em cho biết Cần Thơ không phải là đất lành, nên chim không đậu được. Tôi mới nhớ rằng gia đình tôi cũng đã tìm cành khác mà đậu, và Cần Thơ cũng không còn là “đất lành” nữa.

Vào trường huấn luyện, Hải Vân tiếp tục được bằng “xuất sắc” suốt thời gian em học. Em làm bản sao những giấy khen nầy để gởi cho chị Kim, chị Cương và tôi. Bản chánh gởi về cho má. Hải Vân là người thông minh, học giỏi. Hồi còn học ở trường Nam Tiểu học Cần Thơ, em cũng mang nhiều giấy ban khen về cho má coi, sau đó má gởi bản chánh về cho ông ngoại giữ. Tôi nhớ có lần ông ngoại tôi mở ngăn tủ bàn thờ, nơi ông cất những giấy tờ quan trọng, và giấy khen của anh Quốc và Hải Vân, rồi ông nói:

“Học trong vùng quốc gia, không giúp được nước cũng giúp được nhà. Tụi bây mà học theo đồ “chó đẻ” ngoài Bắc thì học làm cộng sản; nó chờ con nít có xương có thịt lớn lên một chút, thì cho học giết người, cướp của cho thằng Hồ. Nhớ ăn cây nào rào cây nấy. Đừng có nghe đám lớn trong nhà nầy; cả lũ vừa đi vừa hát trong họng “Ơn cách mạng bằng trời bằng bể, công Cụ Hồ phải kể bao năm”. Ơn cháu mang là ơn của má cháu, công cũng là công của má cháu, chớ không phải của thằng già chó đẻ kia đâu, nhớ không”.

Sau khi Hải Vân nhập ngũ, tháng 5 năm 1969, tôi rước má và Minh Tâm qua Mỹ thăm chúng tôi, với hy vọng là má sẽ thích nước Mỹ rồi ở lại: sau đó chúng tôi sẽ bảo trợ Hoà Bình. Hải Vân thì đã yên thân vào Không Quân. Má không còn lo thức khuya dậy sớm chờ em đi chơi về nữa. Bây giờ tới lượt trung tâm huấn luyện canh giờ “giới nghiêm” của nó thay má tôi.

Má và Minh Tâm sang Mỹ chỉ một vài tháng thì có tin Hải Vân cũng tới Mỹ. Chúng tôi ra gặp em. Không Quân cho gia đình nhận em ra đi chơi nửa ngày. Chúng tôi dẫn em đi Knock Berry Farms gần đó để tiện việc trở về đúng giờ với nhóm lính của em.

Vừa đi, hai chị em vừa líu lo chia xẻ niềm vui của mình. Tôi cho Hải Vân hay, khoảng tháng 12 em được lên chức làm cậu. Nó rất mừng, câu cổ tôi mà xúc động vô cùng. Em dặn: “Suốt đời chị lo cho má và tụi em. Bây giờ có chồng có con, mình lo mình đi nhen”.

Rồi Hải Vân lên đường tiếp tục bay qua Lackland, Texas. Mấy tuần sau, nó viết thơ không có nói gì nhiều về trường huấn luyện, mà nói đàn anh tử tế, chỉ huy trưởng rất tốt với mấy con “ma mới”. Dặn gia đình đừng lo, nó đang ở thiên đàng. Rồi em nhắc đến những cô con gái Mỹ tóc vàng, tóc đỏ, mắt xanh nó gặp trong bữa tiệc, trong những buổi đi picnic do nhà thờ bảo trợ. Sinh viên Việt Nam được đưa đến các tư gia để biết đời sống gia đình Mỹ. Em tôi lọt vô mắt xanh của cô con gái ông mục sư. Thằng nhỏ phải đi nhà thờ mỗi chúa nhựt để sau lễ được về nhà ông mục sư gặp cô con gái. Em vừa cười vừa khoe:

“Con nhỏ mê em quá rồi!”.

Tôi nửa đùa nửa thật hỏi:

“Cưng có muốn cưới nó rồi ở lại Mỹ luôn không?

Hình minh họa

Em liền trách tôi:

“Em chưa đánh giặc ngày nào, đừng có xúi bậy. Chị đi lính không được, em đi thế cho chị nè. Được con gái mê thì cũng thích, cái tôi lớn hơn một chút cho vui, chớ ai lại để con gái làm hư đời mình!”.

Hải Vân nóng lòng đem những gì học được sau mấy tháng huấn luyện về phục vụ đất nước. Tôi thì khoe rằng cái thai trong bụng tôi khoẻ lắm, đạp tôi liên hồi. Chắc thằng nhỏ sau nầy thành một cầu thủ tài ba.

Từ Lackland, Texas, lớp của Hải Vân được chuyển qua Hunter Airfield ở Savannah, Georgia, để thực tập lái Huey. John và tôi rất vui mừng và hãnh diện khi Hải Vân ra trường hạng nhất. Lớp của em có nhiều sinh viên các nước, như Canada, Úc, Đại Hàn… Trung tướng giám đốc trường viết thơ riêng cho má tôi. Ông khen má tôi có thằng con học giỏi. Má tôi đã quen với những giấy khen của các thầy, cô giáo, mà lần nào má cũng vui và thưởng Hải Vân. Nhưng kỳ nầy, nhận được giấy khen của Trung tướng Không Quân Mỹ, má tôi lại không nhắc gì đến nó trong những lá thơ viết cho tôi hàng tuần. Khi tôi hỏi thì má tôi viết: “Khó cho má vui được, khi nhận được cái giấy khen nầy. Em của con lớn lẹ quá!. Trong khi đó, ba và anh Khôi con ở ngoài kia. Mà thôi, Hải Vân nó chọn con đường đó, là mình chánh thức cho mấy người ngoài kia biết mình không có theo họ. Tụi con chửi cộng sản hoài đâu có ai nghe; Hải Vân đăng vô Không Quân, là tiếng đồn chắc ra tận ngoài Bắc rồi”.

Ngày 9 tháng 12, 1970, con tôi chào đời ở nhà thương Ford Ord, một căn cứ Lục Quân. Nơi nầy giáp với tỉnh Monterey, California. John đặt tên nó là Lance David Krall. Lance là tên một người bạn thân trong đội bơi lội hồi học trung học. David là tên chú rể phụ David Goldstein.

Giáng sinh năm đó Hải Vân được đi phép, tôi rủ em đến California gặp mặt thằng cháu mới ra đời. Nhưng Hải Vân biết chị Kim tả Washington, D.C, đẹp quá, hấp dẫn quá, em phải qua thăm vì chỉ có dịp nầy thôi. Hải Vân còn hẹn gặp tôi và cháu Lance vào dịp Tết sắp tới ở Việt Nam. Tôi thất vọng, vì chắc còn phải lâu lắm tôi mới có thể bồng con về Việt Nam thăm gia đình

Những nỗi thất vọng ấy chỉ là một mối buồn nhỏ, không đáng kể so với cái tin khủng khiếp tôi nhận được sau Giáng Sinh năm đó. Hải Vân tử nạn! Ngày 11 tháng Giêng, năm 1971, chị Kim gọi từ Washington D.C, cho biết chiếc Huey do Hải Vân lái bị rớt trong một trận bão tuyết hiếm có ở Savannah, tiểu bang Georgia. Chị tôi và tôi, mỗi người một nơi, cùng ôm cái điện thoại mà không nói được lời nào nữa. Chúng tôi như chết nửa thân người, tâm hồn tê dại đến độ không sao khóc được.

Chị tôi chờ niên trưởng của Hải Vân gọi lại. Tôi phải đưa Lance cho John bồng, vì lúc đó tôi không dám ôm nó trong lòng, mà tôi cũng không muốn gần ai trong giờ phút đó.

Mấy tiếng đồng hồ sau, chị tôi gọi lại. Không Quân chánh thức xác nhận em tôi và một phi công khác tên là Nguyễn Văn Bé đã tử nạn.

Tôi nghe như có tiếng la hét trong đầu tôi: “Không, không phải em tôi chết đâu. Không phải Hải Vân chết đâu. Người ta lộn người rồi. Em tôi mới 21 tuổi, chỉ mơ ước được về nước đánh giặc. Giấc mộng chưa thành, em không thể chết được”.

Tôi ngồi co quắp dưới chân giường, cầu xin Trời, Phật, van nài Chúa Jesus cho em tôi được sống, tôi sẵn sàng chết thế, sẵn sàng dâng hiến cả cuộc đời tôi cho em. Tôi đã sống trên đời nầy nhiều rồi, đã từng cay đắng, gian truân, từng lao đao, cực khổ, từng nếm mùi ngon ngọt của hạnh phúc; tôi đã yêu và đã được yêu, tôi sẵn sàng từ bỏ hết để em tôi được sống. Tôi xin cho em lá gan, lá phổi, cánh tay, cái chân, con mắt để em được sống. Tôi tới một ngôi nhà thờ nhỏ trong khuôn viên trường Monterey Postgraduate School, nơi chúng tôi đã làm hôn lễ, để cầu xin Thượng đế hãy cho biết tôi phải làm gì bấy giờ. Tôi có nên về Việt Nam với má trước khi Không Quân đưa xác em về không? Hỏi Chúa, Chúa không trả lời. Tôi chạy tới ngôi nhà thờ lớn hơn ở Pacific Grove xin Cha cho tôi một người hướng dẫn, vì tinh thần tôi đang sa sút, bấn loạn. Từ khi nhận được hung tin, tôi chẳng biết làm gì, cứ ngồi trong xe chạy loanh quanh, lúc thì dạt vào bãi đậu, lúc thì chạy ngoài đường tìm nhà thờ, tìm chùa, mà không về nhà. Tôi mới sanh con có 32 ngày, tôi sợ tôi phát điên mất. Đã có lần, vì đau đớn quá, tôi đã có ý tưởng điên rồ là má và tôi cùng chết một lượt để tránh mối đau thương nầy. Nhưng tôi lại nhận ra chết như vậy là vô trách nhiệm, là hèn nhát, là tàn nhẫn với tất cả mọi người trong gia đình. Để gạt bỏ những ý nghĩ điên rồ, tôi vô nhà thờ dung thân.

Cha trả lời tôi một câu thật ngắn gọn. Dường như ông đã biết hết nỗi lòng của tôi, biết rõ mọi chuyện trong gia đình tôi và cũng hình như ông đã nghe Đức Chúa Trời phán hồi tối hôm qua:

“Thượng đế đã chọn em của con, một đứa con xứng đáng để phục vụ Ngài”.

Đã nhiều lần tôi tìm tới Chúa, tôi mong mỏi được gần Chúa, muốn đem Thiên Chúa vào đời sống của tôi, vì má tôi đã khuyên rằng muốn cho gia đình có hạnh phúc, vợ chồng nên theo cùng một đạo. John chắc không bỏ đạo Thiên Chúa, thì tôi nên theo đạo của anh cho gia đình được hoà thuận. Tôi đã vâng lời má tôi. Bây giờ cần tới Chúa, tôi cảm thấy mình lạc lõng hơn! Không biết Cha nói có đúng như vậy không? Có phải Chúa chọn đứa con xứng đáng, hay là Cha chỉ muốn an ủi tôi? Có thật là Chúa đã chọn Hải Vân không? Nếu thật, Chúa đâu có quyền bóp chết linh hồn của gia đình tôi, của má tôi. Chúa toàn năng thì lẽ nào Chúa cho rồi nửa chừng lấy lại. Má tôi là người phàm, mà khi cho rồi, má cho luôn làm hành trang vào đời để sống, má có đòi lại cái gì đâu!

Nếu trong đời, má tôi cần tới con cái và gia đình, thì bây giờ là lúc má tôi cần nhứt. Nỗi đau tôi mang trong lòng, không làm sao sánh được với nỗi đau của má tôi. Tôi muốn về với má và ba đứa em, nhưng tôi không về được. Visa nhập cảnh Mỹ chỉ có một lần. Về Việt Nam rồi trở qua sẽ không được vô Mỹ nữa. Ngay cả xuất cảnh khỏi Việt Nam lần thứ nhì cũng không được. Trường hợp của chị Kim tôi cũng vậy. Chị em tôi còn mang quốc tịch Việt Nam.

May mắn là anh Wray, chồng chị Cương, đang phục vụ cho Lục Quân Mỹ ở Thái Lan, nên chị về được, và chị đã cho hay chị sẽ về với má và các em. Chị Kim sẽ đi Savannah nhìn Hải Vân lần cuối, và trường của em sẽ làm lễ truy điệu trước khi đưa em về cho má.

Thời gian như đọng lại. Thế giới bên ngoài gia đình tôi dường như đã tan biến hết. Bây giờ tất cả chỉ có cái chết của em tôi. Chúng tôi chờ tin Không Quân cho biết ngày nào sẽ đưa xác Hải Vân về Việt Nam. Chờ để làm gì? Để thấy má tôi ôm cái quan tài khóc cho thằng con chết yểu? Chờ để biết rằng vận mạng không may đã chôn vùi tương lai của một thằng con trai đức hạnh, thông minh, yêu nước, yêu gia đình? Chờ để biết rằng ước mơ của gia đình tôi đã bị chôn vùi, chôn tiếng cười, tiếng nói, tiếng đàn guitar của em; và một phần đời của chúng tôi cũng sẽ chôn theo em. Bảy ngày chờ đợi dài vô tận. Nhưng rồi cũng đến ngày người ta đưa quan tài của em về Việt Nam.

Tim tôi tan vỡ. Tôi quá cô đơn, thấy mình yếu đuối, bé nhỏ trong tay định mệnh. Cho tới ngày nay, đã 39 năm qua, tôi vẫn còn giận khi nhớ tới lời nói của ông linh mục, vẫn còn thương nhớ em tôi mỗi lần nghĩ tới nó. Tôi đoán, ở bên kia thế giới, em cũng giận, cũng tiếc, vì chưa một ngày nào được phục vụ đất nước. Em tôi chết rồi, mà cộng sản còn lợi dụng cái chết của nó để tuyên truyền. Chúng báo cho ba tôi biết là CIA đã giết Hải Vân vì họ biết em là con của ba tôi. Tôi giận sôi gan, vì ba tôi tin lời tuyên truyền đó, tin cho tới ngày ông lìa khỏi cuộc đời.

Tôi thất vọng, vì ba tôi nhìn đàn con lớn lên qua lăng kính của cộng sản. Vì vậy, ông không thấy được rằng ngoài người con trai kỹ sư tên lửa, ông còn một thằng con trai khác nữa, thông minh, lanh lợi không kém anh nó.

Cuộc điều tra tai nạn máy bay của Hải Vân đã diễn ra rất chu đáo. Không có gì đáng nghi cả. Sau nầy chồng tôi được đổi về Ngũ Giác Đài, làm việc cho cơ quan tình báo của Hải Quân. Anh được xem bản kết quả của cuộc điều tra. Hải Vân bay quá thấp, tới khi bão đến, muốn bay cao hơn không kịp nữa, nên bị đụng dây điện trong rừng thông.

Phải nói là em tôi bất hạnh, gia đình tôi bất hạnh, nhưng tôi chúng tôi không phải là nạn nhân của bất cứ ai.

Cẩu xực

 Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 10 Nov 2023

Cẩu xực

 Hồ Đình Nghiêm

Sợi dây căng thẳng có khi chùng. Con chó như dẫn người đàn bà đi không giới hạn vào buồn vui vận tốc. Nó thích gầm đầu hôn hít bậy bạ, bờ hoa bụi cỏ rồi tìm gốc cây như thể ưa chơi trò trốn tìm. Ồ, hoá ra là chó mà cũng biết cả thẹn. Nghe nói ở bên mình, người ta bú mồm nhau thì lôi vào chỗ um tùm kín đáo còn thường khi việc tiểu tiện thì cứ vạch quần chu mõ huýt sáo mà đái giữa chốn thông thoáng thanh thiên bạch nhật. Sảng khoái cầm vòi vẽ rồng vẽ rắn vào tường vôi chưa đủ đậm mùi hôi khai.
Khi vật đứng ba chân sè sè nắm đất bên đàng, hai tay khổ chủ chỉ còn một, năm ngón tự động lôi từ túi áo ra cái bao ny-lông vệ sinh chốn công cộng, làm chủ tập thể, thể hiện nếp sống văn minh. Gần mực thì đen gần đèn thì sáng. Sông có khúc người có lúc. Lúc này tự dưng đâm yêu thú vật, mà nói nào ngay con cún này nó tình nghĩa với mình không bút mực nào tả xiết. Xẻ ruột đẻ ra đứa con chưa chắc nó “trả hiếu” bằng Lu nhà ta. Đi làm về nó chực sẵn sau cửa, cuống quýt tha dép tới cho mình thay giày. Nó bu sau mông đít mình mà thổ lộ nỗi nhớ mong, phụ giúp mình chuyện tha rác ra bỏ ngoài đường lộ. Thương hết biết!

Dắt chó đi dạo chẳng qua là nó muốn đi ngoài. Sợi dây căng, gượm đã, chờ tao hốt phân. Chốn đây kỳ khôi những sắp hạng: Trẻ con phụ nữ mèo chó mới tới kỳ cùng phàm phu tục tử. Giờ này ổng ngồi nhà chat chit với thằng em cách một đại dương, thi thoảng nghe má đứng hình trải lòng dặn dò, lập một danh sách dài toàn nhu yếu phẩm mang về kính lão đắc thọ. Má lóng rày coi bộ đã nhác chơi. Quê mình con Hương tội nghiệp bị uống nhằm thuốc giả, 13 tuổi vừa có kinh, xong biến thành tuổi nghi bất hoặc, không dưng tóc úa màu đành xem như quá độ tuổi thanh xuân, ai nào ngờ. Bởi vậy bà Quê gần 60 mà vẫn còn trinh, nói ra chẳng ai nghe còn trách bả “chảnh”. Pilot trẻ trong xóm chả có ma nào ham lái máy bay bà già! Khổ thế! Người còn vậy huống chi hoa quả, trái mít đang xanh lè chích một liều hoá chất thành vàng lườm, mủ thôi rít tay và thơm ngọt đúng quy trình. Mãi chung đụng thứ này sớm có ngày phủi chân “leo lên nóc tủ ngắm gà khoả thân”.

Bị chẳng ai trông con và chăm cún nên đành xốn lòng để ổng về mình ên. Em à chuyện bất đắc dĩ thôi mà. Bản thân anh rất ngại đường xa, dắt con Lu đi loanh quanh đã nghe oải huống hồ ngồi chết cứng gần ngày trời trên máy bay. Bả sắp xuống lỗ rồi, chuyến này về có thể nhìn nhau một lần cuối. Khi xưa học thuộc lòng câu: “Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Giờ này khôn dại chưa tường nhưng là thời điểm phải ở nhà với mẹ. Chỉ một tháng thôi em à, 30 ngày phù du, một chợp mắt.

Lão vác hành lý ra đi, kêu taxi, bộ tịch xẳng xái. Con Lu đứng nhìn chả thèm vẫy đuôi. Thằng con mới có 12 tuổi, phát ngôn như trong phim bộ: Mom thiệt dại khờ khi thả hổ về rừng. Con nghe bạn học “say”: Ở bển có tiền mua tiên dễ như ăn cháo, tha hồ húp, nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Người đóng vai mom hát thầm nhạc vàng boléro “một mai xa cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, ta lại về bên nhau”. Mệt mày quá, tao dắt con Lu ra công viên hít thở khí trời cho điều hoà kinh mạch.

Thằng em chở lão trên xe gắn máy dềnh dàng. Như giao hẹn, thổ công đã chí tình dắt ông anh khúc ruột ngàn dặm đi thư giãn tới bến. Đã quá mày! Về đây tao nghe như vừa trẻ lại 10 tuổi. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, sợ mình không lắm bổi thôi chứ tam cung lục viện có cả tỉ món đồi truỵ. Mày đừng vui miệng kẻo bà già nghe được thì thêm giảm thọ. Chưa kể bả mét cho con vợ tao hay thêm bù lu bù loa rách hết chuyện đại sự. Nàng bế môn toả cảng, nàng đóng cửa không cho bận sau ló mặt đi giao lưu linh tinh.

Xe tấp vào một quán nhậu, khói thịt nướng thơm điếc cả mũi. Bia ngoại mang ra cùng món đặc sản. Cậu em cụng bia: Chúc sức khoẻ, mừng anh thôi xa quê hương nhớ mẹ hiền. Mày gọi món này ngon a! Thịt con gì thơm quá mạng? Đứa em vốn không quen nói ra sự thật, hắn lấp liếm: Là thịt heo sữa đấy, chúng được tẩm hương liệu của Trung quốc nên thơm ngon là chuyện ắt phải có. Kêu thêm đĩa giả cầy nữa nhé? Ừ, mày cứ vô tư đi mà. Đồ nhắm quán này ngon nhức răng. Ông Việt kiều ham ăn nhậu, ham dòm cô phục vụ viên ăn vận thông thoáng nên không thấy đằng sau tủ kính treo lủng lẳng cả chục con chó co quắp hình hài khi thịt bị thui, bị nướng, bị quay, bị nung lửa…

Chỗ hai anh em ngồi nhậu, đồng hồ điểm 10 giờ đêm. Nhưng nơi công viên xứ lạ lại là 10 giờ sáng. Sợi dây trong tay người đàn bà bị vuột khỏi năm ngón, con Lu phóng rượt theo một trái banh từ cú sút sai mục tiêu của một đứa mơ làm cầu thủ. Trái bóng bay khỏi sân cỏ dội thình thịch xuống đường nhựa. Tiếng đạp thắng gấp rút của một chiếc xe vừa vụt ngang, chấm dứt hai tiếng kêu cùng lần: Chó và người đàn bà lạc giọng. Máu từ tốn chảy, mặt đất từ tốn hút lấy. Nước mắt người đàn bà đổ ra, hoen mờ, thác lũ. Hai tròng con Lu không nhắm, nó nhìn lên người đàn bà với thứ nỗi niềm câm lặng. Chẳng mấy lâu, từ hố mắt thăm thẳm kia ứa ra một giọt lệ. Người đàn bà ngồi bệt xuống đường, cong lưng phủ che lên xác chó thân thương. Bà gào lên: Lu. Lu ơi… Lu ơi! Bà khóc thành tiếng, nước mắt nóng hổi rơi vào, đọng trong đôi mắt trừng mở. Lu, Lu ơi. Bà đưa tay vuốt mắt.

Cẩm Lệ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 10 Nov 2023

Cẩm Lệ

Hồ Đình Nghiêm

Lý lịch Phan Thị Cẩm Lệ thoạt đầu sơ sài, giản đơn.

Mở mắt chào đời vào mùa xuân có vạn người vui có triệu người buồn.

Sinh quán: Hoà Vang, Quảng Nam.

Ba: Cầm súng cho Nguỵ quyền.

Mẹ: Nội trợ, sau đổi qua mua bán phế liệu, ve chai đồng nát.

Học lực: Xong tiểu học.

Không cần tới thầy bói, nếu cứ “sao y bản chánh” như thế mà luận thì đời con gái của Cẩm Lệ e mãi lầm lạc đi trong đường hầm chẳng bao giờ nhìn ra ánh sáng. Bóng tối là thứ gì rất đỗi quen thuộc, hiện thực; bao trùm mọi hoàn cảnh chứ nào chừa cho một ai cá biệt. Không có lê nên cứ vui với lựu, ánh trăng nhợt nhạt nên vẫn thuỷ chung nương cậy vào đốm sáng đèn dầu. Bình địa, chẳng có núi để leo lên đứng trông vời núi khác. Không có nhà ngói nên đành thiệt thòi trú ẩn vào nhà tranh. Voi không thấy đi qua nên chẳng đơm mộng ước được ngó ra tiên. Đời bày ra khẩu quyết “ai sao ta vậy” và khó khăn làm bức tử một sự phân bì, so đo, hơn thiệt. Thoát ra khỏi vùng đất chôn nhau cắt rốn này thì hoạ may…

Năm Cẩm Lệ lên sáu thì cha được người ta thả về. Phút đầu gặp nhau Lệ rất hãi sợ khi ngó thấy một ông già còm cõi lạ hoắc lạ huơ dang tay đòi bế đòi bồng đòi hôn đòi hít. Khi nào Lệ chướng đều nghe mẹ doạ: Mi mà còn khóc la thì ông kẹ đứng rình ngoài cửa sẽ bước vô. Bây chừ thì mình có gây lỗi lầm gì đâu mà tự dưng ông kẹ xuất hiện “ăn dầm ở dề’ trong căn nhà xiêu vẹo vì “xuân này ba vắng nhà, không người sửa sang”.

Khi bắt đầu quen hơi, khi dần bỏ rơi bao chướng ngại, khi tiếng đầu đời biết gọi chữ cha thì ông Phan Văn Được hạnh phúc một sớm vác cuốc đi làm rẫy, ham lấn đất sao đó cong lưng cuốc phải một quả mìn. Tin đâu sét đánh ngang tai, Được không chết khi ngày cũ theo Sư đoàn 2 xung trận, không bỏ thây trong trại tù cải tạo, Được “may phước” được chết trong thời bình ngay trên cuộc đất máu thịt của cha ông. Một người trong xã khi thuật chuyện đã lấy làm tiếc nuối: Có điều kiện như xưa kia, chở ảnh vào bệnh viện thì đâu đến nỗi. Tội nghiệp!

Lật giở lại vài trang quá khứ, trong khi tạo hoá trêu ngươi xúi người chồng đi trình diện cải tạo với bản án vô thời hạn, không hẹn ngày về, thì người vợ lủi thủi cô quạnh của Được có một anh chàng ngụ ở Hoà Khánh ngắm nghía chùng vụng tìm cớ lân la rù quến tranh thủ chở đi ăn chè ăn cháo, mang bộ mặt ba phần lấm le bảy phần lấm lét. Mèo (dấu cứt ngoài) mả gà đồng là chuyện cực chẳng đã, chồng bất ngờ trở về, cuộc diện chưa có bề ngã ngũ thì con tạo lại khéo xoay vần lần nữa. Đùng một cái chồng vắn số phủi chân lên bàn thờ ngồi và cỏ vừa xanh trên nấm mồ còi cọc cả sạn cát thì “trai đơn gái chiếc” đồng tình vượt rào lấn qua phương án hai rất chi là danh chính ngôn thuận. Ảnh nói: Gái một con trông mòn con mắt thì cũng chừng mực nào đó thôi, bông ở trong chậu không có ai tưới nước thì ắt sẽ héo úa tàn tạ, nói hồ đồ thì em bỏ lỗi chứ gái mà thiếu hơi trai thì nhác chơi sinh đổ bệnh, tiếc nuối xuân sắc đang đổ dốc vùn vụt chạy tìm về cái nhăn nhó già cỗi một sớm một chiều.

Anh này quả có khiếu ăn nói dù ảnh làm thợ mộc chính hiệu chuyên bào cưa xẻ đục, trong nhà lúc nào cũng có sẵn một hai cái quan tài mới cáu dựng nắp đậy một bên chờ người có phúc phận đến rước đi. Siêng đóng hòm nên coi vậy mà ảnh luôn có đồng ra đồng vào, chốt lại là việc nuôi hai mẹ con em nào thành vấn đề, chuyện nhỏ, anh dư sức qua cầu đầy đủ tơi nón nhằm che nắng mưa cho cả ba nhân mạng. Cẩm Lệ đôi phen được mẹ dẫn đi “thực tế” đến giang sơn người dượng tương lai, Lệ thử chui vào nằm trong áo quan. Ui chu choa, nó mát đến sảng hồn sảng vía. Mùi diêm bào, mạt cưa, mùi thịt gỗ của thân cây to vừa bị đốn hạ ướt át nồng nàn thơm đến mụ mị; được ngủ một giấc thì cái oi ả của hạ nồng đang chụp lửa ngoài trời cũng chẳng thể can dự tới, cứ riu riu cứ mơ màng cho đến hồi mẹ xớn xác gọi lớn tiếng: Lệ mô rồi? Lệ, chơ răng mi ngẳng nghịch rứa con tê! Bộ hết cách chơi rồi à? Ông bạn trai của mẹ cười hề hề: Em chớ rầy rà con, biết đâu nhờ vào hơi hám của Lệ vướng mắc mà sinh ra việc buôn đắc bán chạy cũng không chừng.

Sau đó chừng vài ba niên, Cẩm Lệ đột ngột biến mất. Dì Ba chấm dứt tâm sự. Dì thòng thêm phụ chú: Tui bán buôn lặt vặt ở chợ Cồn, Đà Nẵng. Sáng sớm đi, tối mịt bắt xe ôm về. Tiếng là dì cháu nhưng thú thiệt cũng xa cách, bị cuộc sống nó bắt mình phải điên đảo thần hồn, ít kiếm ra cơ hội hỏi han biểu lộ tình cảm cho nhau. Dịp Tết thì cho nó chiếc áo mới, mua tặng cháu bộ nội y, chỉ chừng đó thôi. Hỏi: Cẩm Lệ thương ai nhất nhà? Nó trả lời: Thì mỗi mình dì chớ ai khác. Biết còn làm bộ hỏi! Nó đi, chẳng để lại một câu giã từ. Nhưng không biết do đâu, người nhà, nhất là ông bạn trai của mẹ cứ khẳng định, vẫn tin chắc là số nó chẳng thể chết bụi chết bờ được, nó vẫn thích chui vào ngủ trong quan tài mà. Cứ đơm một ý nghĩ, nó thử giang hồ xuôi Nam đặng mong cầu tìm gặp một cuộc sống mới, khả dĩ thông thoáng hơn. Số nó coi bộ không hợp với mẹ nó…

Lý lịch Cẩm Lệ tới ngang đó thôi. Chỉ “nửa chừng xuân”, hơi bị trong sạch, hơi bị nhân thân tốt. Dì Ba đâu ngờ tới một hôm trở trời gây đột biến, Cẩm Lệ bị số phận han hỏi làm tình làm tội khiến đứa cháu dại khờ của dì Ba buộc phải đi bụi chẳng buồn báo cáo sự tình. Nguồn cơn phát sinh ban đầu là bữa nọ nghe trong người trống trải, ma đưa lối quỷ dẫn đường, buồn chân Cẩm Lệ lang thang ra ngoài khu chợ tân lập nhóm bên kia con sông cạn nước. Người ta đang bu lại bãi đất trống đầy rác thải hiếu kỳ xem có con khỉ biết mặc áo quần, tay cầm dù đỏ, nhỏ nhắn, biết làm trò cười nhảy nhót lung tung, y như khúc dạo đầu cho tuồng mãi võ Sơn Đông. Có một ông mình trần nằm dưới đất chờ một bà điệu bộ nhanh lẹ đặt hai cục gạch lên trên bụng, xong rồi bà ta nhổ nước miếng vào hai tay, kế đến cầm lên thanh sắt nhắm hai cục gạch mà đánh xuống, cật lực. Bà con la lên “bộ tính giết người không gươm đao hả”? Cục gạch vỡ làm đôi, làm ba, làm tư nhưng người kia ngồi dậy mặt tỉnh như ruồi kiểu như gãi chưa đã ngứa. Ui, cha nội này mà được vô đoàn lực sĩ nước nhà đi dự thế vận hội thì cầm chắc rinh về cái huy chương đồng. Hiện tại thì cha nội đang gào lên: Nhức đầu sỗ mũi cảm mạo ho hen trở ngại đường ruột đau lưng mỏi gối bệnh trĩ hoặc mồng gà hoa liễu giang mai mau nóng chóng nguội hoặc sớm xuất tinh chúng tôi đều có bài thuốc trừ khử hiệu nghiệm chóng lấy lại phong độ. Mại dô mại dô trong uống ngoài thoa ngày làm ba cử thì xuyên tâm liên nghe thế phải hổ thẹn cúi đầu, mua một tặng một dịp may hiếm có…

Đang há miệng theo dõi, Cẩm Lệ nghe tiếng nói thật gần, vẳng bên tai: Cưng muốn sở hữu hai triệu đồng thì đi theo chị. Êm ru bà rù, việc nhàn nhã, khoẻ re. Chắc rằng cưng đang thắc mắc, tạm thời mình lại đằng quán kia ngồi uống nước, chị sẽ lần lượt giải đáp ngọn ngành cho cưng nghe. Chị vừa lĩnh hai triệu đây, vào quán chị sẽ dành phần chiêu đãi. Người đàn bà mở ví cho Cẩm Lệ thấy cả đống tiền xanh đỏ nằm cộm trong đó, bà rút ra một chiếc khăn tay và thoáng chốc Cẩm Lệ không còn nhận biết đôi chân đang đặt ở đâu, người lâng lâng chẳng biết trời cao đất rộng là thứ gì, lòng tự nhiên thấy vui như mở hội. Ở nhà, có thể Cẩm Lệ biết cự cãi lại mẹ nhưng đang ở chốn mờ ảo này, người đàn bà ấy nói gì nhất nhất Cẩm Lệ đều nghe theo. Ở quán nước có người đàn ông chực sẵn, ông đứng lên theo hiệu lệnh của “bà chị”, liền bước ra và khởi động máy nổ chiếc xe gắn máy. Ông hối hả chở “kiện hàng trinh nữ” đi tới một nhà nghỉ, hối hả lột bỏ áo quần Cẩm Lệ, phô bày da thịt trong ngọc trắng ngà, chân chất hương đồng cỏ nội, mùi gái quê thuần khiết không pha tạp. Hôn hít rồi đi sâu vào người nó ắt sẽ khiến điều hoà kinh mạch, làm ăn hanh thông, vận hên luôn tới và tuổi thọ có thể kéo dài thêm đôi ba năm.

Gần một giờ đồng hồ sau, Cẩm Lệ thực sự tỉnh thức. Chiếc gối đẫm đầy nước mắt, tay chân nhừ mỏi, cửa mình đau rát và một cõi lòng đầy cả sợ hãi, nát tan. Một tuần trước, ở thành phố khác, báo có thuật chuyện theo lời kể của chủ nhân tiệm bán vàng: Đúng ngọ, trời nắng gắt, một bà bước vào hỏi mua vàng, tự nhiên người tôi như say nắng, hoa cả mắt, bà ấy chỉ thứ gì nằm trong tủ kính tôi đều lấy ra, xong cái bả biến đi hồi nào tôi chẳng hay. Khi đã lại thần hồn thì chỉ biết đứng chết điếng, nói không ai tin, tôi vừa mất đi tới bảy lượng vàng, êm ru bà rù.

Cẩm Lệ vừa bị chúng cướp đi cái ngàn vàng, nhưng may phước là bọn ác ôn còn tử tế, không nhẫn tâm, qua việc chúng có để lại một triệu đồng giữa chăn chiếu tơi tả. So ra bà bán vàng kia quả là vô phước hơn. Cẩm Lệ ngó thứ tài sản quá lớn vừa từ trên trời rơi xuống. Cẩm Lệ dòm tờ lịch: 13 tháng 3. Làm tính đố cộng trừ một chốc, hay ra đó là ngày sinh nhật mình tròn 15 tuổi. Không ai hơi sức đâu để tâm tới chuyện lặt vặt ấy, chỉ có bọn giàu có mới bày đặt trưởng giả học làm sang mượn cớ ngày sinh tháng đẻ để gầy tiệc tùng bù khú ăn nhậu. Cẩm Lệ ra chợ mua bộ áo quần mới rồi tìm về tiệm đóng hòm của ông “dượng”, nói mà chẳng cần tới sự đồng ý của gia chủ: Cho tui vào tắm một phát nhen, nóng chết cha mệ nội luôn. Ủa, có sao đâu, bữa rày còn làm bộ khách sáo! Ông nói thêm: Mới sai thằng Quới đi ra quán cơm bụi mua mấy dĩa sườn bì chả, có gì nán lại ngồi ăn chung một thể. Ăn ba hột cũng được, cốt lấy thảo.

Quới trạc tuổi với Cẩm Lệ, nó dưới quê ngác ngơ lên đây được “dượng” nuôi cơm để học nghề thợ mộc. Học thì ít mà bị sai vặt là nhiều. Chỉ mình Quới phụ việc, hô đâu chạy đó. Nó có sứ mạng phải đi, nên “giang sơn” chuyên cung cấp “bộ đồ lớn” cho người chết chui vào chỉ còn duy một mình ông chủ tiệm. Và chủ tiệm cũng vừa nghỉ tay thôi bào thôi đục, sẵn ngồi không nên khi nghe tiếng nước đổ rào rào trong phòng tắm có dựng tấm tồn ngăn che mong manh thì không ngăn nổi sự tò mò thọc mạch. Lóng rày nó trổ mã dù thiếu hơi trai, nói theo giọng thằng Quới thì là “điện nước đầy đủ”. Dượng nhón chân nín thở đi lại chỗ đáng để đặt mắt vô thăm dò. Thót tim. Tóc tai nó dày rậm e hơn cả mẹ nó, thiệt là con hơn mẹ thì nhà có phúc. Gỗ thì có không dưới ba loại thuộc hàng quý, giá đắt phỏng tay, cưa khoan cắt đục phải bở hơi tai mới đoạn lìa thân cứng. Và do méo mó nghề nghiệp, “dượng” nghĩ chùng vụng, thân thể con Cẩm Lệ nhễ nhại ướt át trơn láng đó coi bộ săn chắc bên tám lạng bên nửa cân so với loài thảo mộc đang dần khan hiếm trong rừng rậm.

Cẩm Lệ đã tắm xong, đã dội nước kỳ cọ tẩy rửa vùng miền bị xâm hại, ô uế. Không có khăn để lau mình lau mẩy, cứ thế mà tròng bộ đồ mới mua vào người. Hơi rộng chút đỉnh, nhưng chẳng hề gì, mang đi giặt qua một lần thì hàng vải nội hoá này sẽ tự khắc bó lấy thân, khít khao. Dượng giả bộ ngó lơ mà chẳng đặng, vải áo in hoa hoè hoa sói kiểu gì mà bắt con mắt quá. Người ta quen nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” thì chỉ đúng có nửa phần. Bộ y phục con Cẩm Lệ đang mặc thì rõ là vừa tốt gỗ mà nước sơn cũng tốt không khoan nhượng. Tiệm hòm dù không mở hai bóng đèn néon dài tám tấc cũng nào có tối tăm gì, tự nhiên có luồng ánh sáng chiếu rọi một cách lạ thường do bởi có Cẩm Lệ đứng đó. Dượng nuốt nước bọt, nó vừa tắm xong, nó như một cây cà-rem có ai vừa chăm chỉ mút, chảy mềm, hẳn là ngọt ngào hết biết, hẳn là mật ngọt chết ruồi, hẳn là giết người không gươm đao.

Bao lâu thì thằng Quới trở về? Nó đi đã lâu chưa? Cẩm Lệ gióng tiếng. Dượng nhìn ra con đường: Hỏi chi vậy? Thằng này có tật ưa la cà, như gà sổng chuồng, đôi lúc sai việc mà thiên lôi cứ vác búa chạy rông. Cẩm Lệ dùng tay thử độ co giãn ở thắt lưng quần. Một là nó hơi rộng, hai là do bởi bụng đói ăn. Cẩm Lệ nói với cúi mặt, tóc rủ che: Có việc này không nên để cho người thứ ba biết… Dượng đến khép bớt một cánh cửa, phía trống trải. Bên kia đã có cái quan tài kê trên đòn, án lối. Có nghĩa là sao? Chuyện bí mật thì bao giờ cũng nóng lòng muốn nghe qua. Cẩm Lệ ngắt lời: Có sẵn tiền đó không? Đưa tui hai triệu, xong cái leo lên bộ phản gỗ kia tui lột đồ nằm ngữa muốn làm gì thì làm. Bảo đảm là cuộc mua bán này chỉ có người trong cuộc biết thôi…

Dượng ngó chăm vô người Cẩm Lệ. Sao lại đột xuất thế? Sao bữa nay nó đưa ra lời đề nghị táo tợn như rứa? Nghe mà khí huyết đảo lộn, người nóng ran, dễ nhồi máu cơ tim, dễ chui vô áo quan ra đi không lời từ giã quá. Dượng nuốt nước bọt: Hai triệu đâu phải nhỏ, muốn có hoạ may phải đợi tới chiều mai. Thứ nữa là thằng Quới hắn đường đột dẫn xác về thì chết một cửa tử. Phải lên phương án hành động nhằm tránh sơ suất, cụ thể là tính toan vẹn toàn xong, chiều mai dượng chốt cửa ngồi trong bóng tối đợi Lệ chui vô. Cẩm lệ nhìn ra vuông nắng chiều xắn một khoảng nơi bậu cửa: Nước đến chân mà không chịu nhảy, phải đợi tới mai thì không sợ tui đổi ý sao. Một là tối nay hai là mãi mãi chẳng còn cơ hội. Ui, sao ưa chơi kiểu thắt họng thế? Vậy thì khi thằng Quới mua cơm về cứ ngồi ăn với nó, dượng đi chạy tiền xong tìm cách tống khứ nó ra khỏi nhà đặng tụi mình làm việc bí mật với nhau.

Chiếc xe tay ga được chủ nhân dắt ra, vụng về quờ quạng một lát mới điều khiển nó vặn vẹo chạy thoát khỏi cơ sở chuyên bán hòm. Chứng tỏ là ổng thành thật, không đủ số tiền mà đối tượng ra giá, đòi hỏi. Hai triệu cũng chả nhiều nhặng gì, nhưng tình ngay lóng rày bà con cứ sống mạt máu, lặt lìa vướng trăm thứ bệnh rề rà mà chẳng ai chịu chết cả, việc kinh doanh vì thế đâm hơi bị ế. Dượng mà ngồi ngáp vặt thì sự thiệt hại đó lại kéo theo một bộ phận không nhỏ khác đói cơm, đó là mấy ông thầy tụng, mấy bà rành phong thuỷ, các vị thầy bói, tập đoàn phu phen đào huyệt và công ty chuyên sản xuất bia mộ khắc tên tuổi kẻ vừa về nơi chín suối.

Cẩm Lệ mó tay vô công tắc đèn khi thằng Quới tay xách bịch ny-lông rõ to lần khân bước qua ngạch cửa. Hắn chỉ la đúng một chữ “Ủa”, mặt tái đi như kiểu trông thấy ma. Con ma nọ nửa quen mặt nửa lạ lùng. Cỡ tuổi Quới bắt đầu biết ngánh biết nghía biết nghễ biết nhìn đểu con gái. Mặt nổi mụn, thanh quản có cục gì mắc kẹt lộ hình làm phải đổi giọng, bể tiếng. Con ma dễ thương ấy chưa biết tới áo nịt vú nên chi cái thứ trốn đằng sau cứ thế mà lên xuống phập phồng. Đã đoạn tuyệt với quả cau nho nhỏ cái vỏ vân vân, bây giờ là cam thì mai kia mốt nọ sẽ là bưởi, mà cực đoan làm trái với quy định thì hổng chừng mà biến đổi thân phận thành trái dừa. Ai cầu dừa đủ xoài thì mặc họ chớ bản thân thằng Quới có ưa nếm lê nếm cam thì hoàn cảnh nào có cho phép mà thử qua. Ngoài chợ chỉ bán thuốc trừ sâu diệt chuột chứ nào có thuốc liều, gan ai to chứ gan thằng Quới này nhỏ có chút xíu hà. Phải mà được làm giáo viên cho cam, cứ mang chiến thuật đổi điểm lấy tình mệt nghỉ.

Thế ông chủ đi đâu hổng thấy. Dượng mới sai tui đi mua thức ăn đó mà… Mua hai phần chứ gì? Mày với tao cứ thế mà ăn vô tư. Ổng đi lo công chuyện rồi? Quới quẹt mồ hôi mặt: Mới có người vừa qua đời à? Hay việc gì quan trọng xúi phải khẩn trương? Ừ, có thể. Lo ăn lia ăn lịa đi, bởi không chừng ổng về lại giao sứ mạng cho mày đi giải quyết. Quới kéo lê chiếc ghế: Ngoài chợ dạo ni nổi lên nhiều nguồn thông tin lạ lắm nghen. Quới nói trong khi bày hai phần cơm ra trên nắp quan tài dùng thế mặt bàn. Mày chăm đi hóng tin hèn gì ổng la cái thằng thiên lôi vác búa chạy không, đi đâu đi lâu dữ! Quới ngó một hạt nút nằm trên áo Cẩm Lệ, có thể do trời nóng nực nên nút phải bung ra cho gió lọt vô, mát chút đỉnh. Làm con gái thật khổ, riêng cái khoản không được ở trần thông thoáng như hắn. Đang mặc sơ-mi thấy nóng: Cởi. Áo thun ba lỗ vẫn nực: Cởi. Tuy chẳng vai u thịt bắp nhưng muốn mát mẻ thì dứt khoát phải khoe thân, ruồi bu kiến đậu muỗi cắn chỉ là chuyện nhỏ. Quới rưới nước mắm lên mặt cơm:

Biết ông Thôn không?

Thôn nào?

Thôn chạy xe ôm. Thôn Bù đó.

Tại răng kêu ổng là Thôn Bù?

Bị ổng lúc nào cũng ngợi ca vẻ đẹp giòng sông Thu Bồn chảy qua quê ổng. Tán mà hổng ai nghe thì bù trất. Thu Bồn chẳng Thôn Bù thì biết kêu chữ gì khác?

Thôn Bù chạy xe thồ, rồi sao nữa?

Tối hôm qua ổng trúng mánh lớn, chở được một ông Việt kiều về thăm quê, cuốc xe chừng có mười cây số chứ xa xôi gì mà khoắm được tiền công tới ba triệu. Mừng húm. Tới khi trở xe ra đường lộ, dưới ngọn đèn đường sáng moi cọc tiền ra đếm lại cẩn tắc vô ưu mới phát hiện tiền giả. Mặt bác Hồ đàng hoàng, giống y chang nhưng tiếc cái là hổng có chòm râu. Ba triệu đồng cộng hoà xã hội chủ nghĩa độc lập tự do hạnh phúc đó ngoài chợ kêu bằng tiền âm phủ.

Chết mẹ. Loạn quá! Bọn tiêu thụ bạc giả chơi kiểu đó rõ là không khoan nhượng coi khinh tới nền công đạo nhà nước rồi.

Biết bà Tôn không?

Hết ông Thôn xong tới bà Tôn. Lập ngôn xong tới bán trôn. Tôn nào?

Bà Tôn Lò chủ cà phê đèn mờ trên đường Đồng Khởi đó.

Khi không sao thêm chữ Lò vào tên bả? Thôn Bù cho cố xá lại đến lượt Tôn Lò, kỳ cục!

Đâu biết, ai bảo sao mình nghe vậy. Bả kể là người ta vừa triệt phá đường dây tội phạm chuyên đi vào vùng quê hẻo lánh để mua người.

Cái gì? Trộm chó hoặc mua heo gà bò trâu, xưa nay vẫn thế, người mô phải là súc vật mà nói tới chuyện bán mua?

Nghe đồn là bọn Đài Loan khuyến mãi tiếp thị gì đó, giá một cô trinh nữ được trả là 5 tới 8 ngàn đô la Mỹ. Làm vợ xong cái vô luôn quốc tịch xứ người. Khoẻ re.

Cẩm Lệ nuốt không trôi cục cơm, nhai nhằm một vụn xương sườn heo thiếu đường mẻ răng, đau như cắn phải lưỡi. Phun ra. Quới nhìn: Ưa nghe thêm chuyện bùa chú mang về từ Thái từ Cam không? Mấy “em” dấu dưới lưỡi đợi Tây ba-lô bú mồm xong cái thì tối tăm mặt mũi bủn rủn tay chân giao trứng cho ác liền khi. Nhưng mà đôi lúc đâu phải nương nhờ tới việc yểm bùa, ai mà hôn Cẩm Lệ đứa đó cũng phải bổ nhào say lăn quay. Mày nói vậy là có ý gì? Thuốc lá Cẩm Lệ đó, tui thử hút rồi, đi mây về gió lâng lâng goắt cần câu. Nếu trong cơm còn cát sạn hoặc xương xóc hoặc gặp phải ớt cay nuốt không xuống thì cứ việc phun vô miệng tui chứ phun cơm xuống đất thêm mang tội với trời. Mồ tổ mày nghe Quới, bị không có mặt dượng đây nên mày ưa làm tới đòi trèo cao sao? Quới phát tiếng he he he. Đừng nổi sùng, thầy bói nói sau này ai mà lấy được chú em thì cô ấy sướng lắm lận, nào khác gì được quới nhơn phù hộ độ trì. Mày quới đản thì có, không dám đâu.

Quới cất tiếng cười. Rõ là quái đản, cười mà nghe nào khác tiếng dê kêu. Mình trần tươm đổ mồ hôi láng lườm, phía dưới thì quần xà-lỏn nhăn nhàu bèo nhèo thu dấu một bộ phận rất chi là cà chớn. Lớn bao dường mà đòi hăm he muốn khoe hàng? Cẩm Lệ thôi nhá cơm: Sức vóc mày trai tráng nên ăn hết phần này đi, lại rót cho tao ly nước coi. Chuyện nhỏ. Quới nói. Không phải đặt điều chứ Cẩm Lệ sai việc gì tui cũng vui trong bụng, còn nghe dượng ấy chỉ việc tui hổng thích chút nào, lao động tắt quạt mà mô có vói tới được vinh quang. Mày thề bán mạng thì tao tin, giả như mai này tao làm chuyến đi bụi xa khỏi chốn heo hút cùn mằn này thì mày có dám làm bạn đường với tao không? Mắt Quới lại đặt để vô hạt nút áo, hay đúng hơn là nhìn cái chữ V vén mở thứ màu da ăn nắng. Hắn nói: Hai đứa đang ngồi quanh với mấy cái quan tài, thằng Quới đây xin thề thốt nguyện bỏ theo Lệ dù trôi sông lạc chợ tới chốn sơn cùng thuỷ tận cũng không sờn lòng, nói láo sẽ chết dấm chết dúi bờ cây bụi cỏ chẳng có hòm che thân. Đã được chưa? Hắn xuống giọng: Tui nghe chữ bú mồm hơi bị lạ, Lệ cho tui thử một miếng. Đồ qủi, sao không nói sớm? Biết vậy hồi nãy đã mớm cơm thừa cá cặn cho mày nhai.

Dượng về, tiếng máy nổ của chiếc xe coi bộ dòn dã hơn lúc đầu hậm hực gầm rú chạy ra đường. Tiếng động cơ đôi khi cũng chất chứa tâm trạng chứ không đùa, nó ngầm bảo chứng rằng như thế trong túi quần dượng đã xoay đủ hai triệu đồng. Công đoạn tiếp là tìm cách tống khứ thằng đệ tử Quới cản mũi kỳ đà sớm chừng nào tốt chừng đó, khỏi gai con mắt. Có mặt thằng du kích thêm rách việc, khó hoàn thành công cuộc giải phóng minh bạch đời đứa con gái thịt thơm từng xúi thế lực dượng vắt tay lên trán nuôi kế hoạch mười năm ngỗn ngang cả mộng mị. Treo tòng ten ở tay lái là cái túi ny-lông chứa đựng một chai lít chất lỏng gì đó. Chắc hẳn không phải là dự trữ xăng dầu vì sợ thị trường đang thay phiên lên giá vượt mức quy định. Khớp với hoàn cảnh thì e rằng đó là rượu ngâm ngũ xà, hoặc nhân sâm Hàn quốc nhập lậu, hoặc ngâm thai nhi Trung quốc xuất xưởng, hoặc đậm đà bản sắc dân tộc là toa thuốc Minh Mạng lục giao sinh ngũ tử. Tóm tắc là dược liệu ông uống bà khen hay, hoặc một thứ cường dương bổ thận hoàn chơi cho xứng đồng tiền bát gạo.

Cẩm Lệ đứng vòng tay quan sát, đã cùi thì nào sợ hủi, chim bị thương một lần thấy ná giương lên thì giật bắn nhưng đã là phận con người thì phải can trường hơn chim chóc. Cẩm Lệ làm bài toán cộng rất mực đơn giản: Một triệu máu đổ gộp với hai triệu nước mắt vị chi là ba triệu đời hoa chưa thể bỏ cuộc, vùi dập, tàn héo. Ôm ba triệu, kiểm tra bạc ông Hồ có râu đàng hoàng để tránh đồ hàng nhái, xong cái hú thằng Quới mần chuyến xuôi Nam. Quới à, mày thề rồi đó và mày phải nên tin tao, đường ra trận mùa này đẹp lắm dù trời đất cực đoan thay phiên nổi cơn gió bụi lấm lem.

Hồ Đình Nghiêm

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 10 Nov 2023

Ra khơi lần thứ ba

Đặng Chí Bình

Bài 45

Vì Hoa muốn đưa tới nơi, họ đón tôi ở Nguyễn Huỳnh Đức, nên từ hôm qua Hoa đã nói trước với mẹ Hoa giữ dùm cháu ngoại Mai Lynh. Hoa đã dẫn xe đạp ra ngoài cửa đứng chờ, mà tôi còn ôm mẹ tôi, chưa muốn rời tay. Tôi ngoái nhìn mọi đồ vật trong nhà một lần nữa, vừa bước ra tới cửa, lại nghe tiếng mẹ gọi giật lại:

– Bình, con ơi! Cho mẹ cắn con một cái!

Quay vào, mặt mẹ tôi tươi roi rói hấng mãi ra, nhưng mẹ có nhìn thấy tôi đâu? Mắt tôi đã mờ đi vì nước mắt lại dàn ra, tôi đã ôm chặt cổ mẹ, và áp má vào mặt mẹ. Mẹ đã ghì chặt tôi hơn và người cắn vào má tôi. Tôi đau nhưng lòng rủn ra, tim tôi như bị ép lại, người tôi như muốn xiêu đổ. Để rồi Hoa phải quay vào, cũng nước mắt dầm dề, kéo tay tôi đi ra. Đã ngồi lên xe đạp, tay tôi còn sờ má, chỗ mẹ vừa cắn, lòng tôi vẫn còn hổn hển chưa thở được bình thường.

Tôi đã đèo Hoa ra Ông Tạ, đến một tiệm vàng, chiếc nhẫn trơn duy nhất một chỉ vàng, đã từ lâu tôi vẫn cất ở trong bóp. Chiếc nhẫn này, từ một cây vàng do chị Hai Công cho, tôi còn cất giấu. Tôi phòng hờ, bị công an hay du kích bắt, đút cho nó mà chạy, từ chuyến vượt biên lần thứ hai không thành.

Tôi đã giữ chiếc nhẫn, như giữ bàn tay của tôi. Nhưng hôm nay, trong cảnh này, vợ dại con thơ, mẹ mù lòa còn ở lại, tôi đã đưa cho Hoa, phòng để cứu chết. Hoa đã gục đầu vào lòng tôi, nước mắt vơi đầy, đầu lắc quầy quậy. Hoa nói trong nức nở không rõ lời:

– Anh ơi! Anh đi đầy nguy hiểm, như chuyến anh Lợi, cả tầu bị bắt, anh lấy cái gì để xoay xở? Anh hãy cầm đi!

Tôi hiểu, chỉ vì lòng thương tôi, nên Hoa đã quên cả thân mình, quên luôn cả người mẹ mù lòa và đứa con 7 tháng rưỡi. Là một người chồng, một người cha và một người con trí thiển, tài hèn, nhưng tôi cũng không đờ đẫn đến nỗi quên, cả trách nhiệm và bổn phận.

Hai bên cứ khăng khăng từ chối cũng chỉ vì nghĩa, vì tình. Cuối cùng chỉ còn một giải pháp dung hòa, đó là lý do tôi dẫn Hoa đến một tiệm vàng ở Ông Tạ. Tôi đã nhờ người thợ, cắt chiếc nhẫn ra làm hai. Sau khi cắt, Hoa đã chộp lấy một phần non, phần của tôi đưa lên cân là 5 phân 3, như thế phần của Hoa là 4 phân 7, mỗi bên đều giữ kỹ ở trong người. ông thợ cám cảnh của một đôi vợ chồng nghèo, ông đã dõng dạc:

– Tôi không lấy tiền công, của anh chị!

Mới gần 2 giờ, trời còn nắng chang chang mà xe cộ ngược xuôi trên đường Thoại Ngọc Hầu, vẫn còn nườm nượp người đi. Một đám mây hồng rừng rục đỏ, đang đùn lên từ phía đường Trương Minh Giảng. Hai chú ngỗng trời trắng toát, vươn mãi hai chiếc cổ dài kêu oét . . .oét, sà thấp như đuổi theo Hoa và tôi quẹo vào Nguyễn Huỳnh Đức, để rồi chính Hoa đã vỗ vào lưng tôi, nói nhẹ:

– Hai con chim như nó bay theo mình. . . . .anh kìa!

Từ sớm, tôi lơ mơ cứ tưởng do ảo xúc của tôi, nhưng giờ tôi đã hiểu, đó là thật! Tôi còn ngửng hẳn đầu lên nhìn hai con ngỗng trời, miệng lẩm bẩm:

– Xin chào và cảm ơn các bạn!

Đến chỗ hẹn vẫn còn sớm gần hai chục phút, nơi đó cũng chả xa nhà thằng Đạt. Để Hoa đứng tại chỗ chờ, tôi vội vàng 5 phút ghé nhà Đạt, nếu gặp thì thay cho lời chào. Vợ chồng anh chị Đạt đều đi chạy chợ, chỉ có cháu Thủy và mấy đứa em nhỏ. Không ngờ, gặp lại cháu Thu Thủy từ chuyến đi bị bắt cả tầu. Thủy là con gái mới được tha gần một tháng, sau khi bị giữ 8 tháng ở trại Gáo Dừa Minh Hải. Cháu Nguyễn Đức Thắng là con trai (dù 16 tuổi) vẫn còn bị giam giữ, với nhiều người khác ở cùng tầu. Cháu Thủy mới từ trại tù ra, nghe tôi chào để ra đi, cháu đã rối rít đòi đi theo nữa.

Do lòng háo hức ra đi như một con chim non, chưa mọc cánh mà đã đòi bay. Muốn đi phải hẹn trước, hàng tháng, ngay đến vợ con của tôi, mà cũng đành bỏ lại. Nhưng việc này, tôi không quên được cháu Thủy, chỉ vì cháu lại đề nghị:

– Chú ơi! Chú hãy đổi cái áo với bố cháu, thì có thể lại thành công?

Lưỡng lự, không tin lắm, nhưng tôi đã chiều theo ý cháu Thủy, nói vội vàng:

– Chú cần chiếc áo càng cũ, rách càng tốt!

Tôi đã hấp tấp vừa cài cúc, vừa phóng xe trở lại điểm hẹn, cũng vừa lúc chiếc xe đò đông người, chờ bắt đầu chuyển bánh. Tôi chỉ còn kịp bỏ ông bạn thủy chung của tôi lại, cho Hoa và ôm chặt Hoa, để còn kịp trèo lên xe với nhiều tiếng giục giã:

– Lên đi! Cho kịp giờ, đón người khác!

– Chúng tôi đã chờ 5 phút rồi!

Tôi chỉ biết xin lỗi, vì một việc ngoài ý muốn! Xe đi đón hai người nữa rồi, một mạch phóng ra phía Vũng Tầu.

Trên xe đã có 16 người, không kể bác tài, một anh hơn 30 tuổi tên là Tuyến, bên ngành sư phạm, là bạn của Phạm Lộc, đón khách ở đường giây này. Từ lúc lên xe, có một cậu mặt mũi sáng sủa, nhìn tôi trong ánh trao đưa nhiều thiện cảm, một luồng lãng tử giao cảm của mắt tôi, đã trở thành gần gũi, cậu là Bùi Thiện, một chủng sinh trở về đời. Qua đồn Cỏ May xét hỏi giấy tờ xong, xe hướng về vùng Chu Hải. Đến một trũng của một rẻo đước già, xe ngừng lại. Theo sự dẫn đường của một ông hơn bốn chục, cao và gầy. Trong đoàn có vài người phụ nữ, cứ lếch thếch lầm lũi đi sâu xuống cái trũng.

Mặt trời đã chui dần xuống đám cây xanh ở phía Tây, càng đi cây rừng càng rậm rạp, không còn phân biệt được phương hướng. Đến một cái lũng thưa cây, ông cao gầy căn dặn:

– Các vị ngồi nghỉ nơi đây, chờ bắt với đường dây khác. Phải chờ, cho tới khi tôi trở lại!

Tôi kéo cậu Thiện đến một gốc cây to đổ, nằm nghiêng. Được biết bây giờ là lúc thủy triều xuống, triều lên thì vùng này ngập cả. Chừng một giờ sau ông Cao gầy trở lại, dẫn theo một đoàn cũng hơn chục người. Đã 8 – 9 giờ tối, cả đoàn người lại theo ông cao gầy đi tiếp, người này theo người kia, trượt ngã oành oạch, tiếng í. ..óe của mấy cô gái và đàn bà ré lên đây đó, rồi lại chìm nghỉm vào màn đêm. Ngoài cậu Thiện, tôi chẳng phân biệt ai với ai? Lạ thật! Trời lại rạng dần, à ra cô Hằng 16 đã lấp ló nhìn chúng tôi qua những cành lá, mặt của cô tròn vành vạnh (trăng 16 tròn hơn trăng rằm) và mát rượi, đăm đăm nhìn chúng tôi di chuyển.

Ông “cao gầy” lên tiếng từ phía người đi đầu, rồi người này truyền đến người kia: “Hãy rảo chân, đến một khu đất cao, còn gần một cây số nữa, nước triều đã bắt đầu lên!”. Càng rảo chân thì càng mệt, tiếng ót . . . oét của phụ nữ lại càng oét . . . .ót hơn. Đúng là lên như nước thủy triều, vừa chạy qua thì nước đã ngập lên rồi. Lo chạy nước thủy triều, quên béng cái rình rập, chặn bắt của CA hay du kích địa phương. Mãi tới khi đến một mảnh đất trồi lên như một con bơn, cây cối rậm rạp um tùm.

Theo ông cao gầy, thì đây là chỗ nằm nghỉ, để liên lạc đón thuyền. Chỉ qua một vài hiện tượng đưa, đón, liên lạc, tôi đã cảm thấy người tổ chức chuyến đi này có khá nhiều kinh nghiệm, nhất là lại vào một đêm trăng tỏ.

Thông thường những chuyến oversea tổ chức vào những đêm tối trời. Người này đã làm trái với những quy luật thường tình. Ngay cả hải quan, CA hay du kích thường rình mò, nằm ếm chỉ chú ý vào những đêm tối, đầu hay cuối tháng. Những đêm rằm sáng tỏ là lúc chúng nghỉ ngơi, đi tìm những hưởng thụ.

Mỗi người, mỗi nhóm tự tìm lấy chỗ nằm thích hợp cho mình. Qua tôi và Thiện, tôi tin rằng tuy nằm nhắm mắt, nhưng chắc chẳng một ai ngủ được. Tôi không hề nghe thấy một tiếng ngáy có chăng chỉ là những tiếng thì thào của lá rừng, tiếng tỉ tê, róc rách của sông nước chuyện trò. Đôi khi, một tiếng cú rúc dài, như tù và cầm canh ở một điếm chòi, xa xa vọng đến.

Cô Hằng đã về sớm, để hẹn hò với bồ bịch, da trời đã đổi mầu, từ tím đen sang mầu nước biển về chiều. Tôi đã nhìn rõ những lá rừng to, nhỏ vẫy tay chào nhau buổi sáng. Tôi còn đang gửi hồn vào mông lung, thì mấy cậu thanh niên đã hớt hãi chạy đến, tôi cũng choáng người bò nhổm dậy. Ba, bốn cậu choai choai 15-17 rối rít chỉ trỏ, vào mãi phía trong rừng:

– Ong vò vẽ, chúng cháu chạy thoát thân, hàng đàn ong đuổi đốt chúng cháu, gần đến đây!

Cậu thì giơ tay, giơ mặt sưng đỏ lên như những quả táo dầm, tôi buồn cười vì các cậu cũng như tôi hồi nhỏ. Tò mò, sục sạo, lại đi trêu vào những tổ ong, để mặt mũi sưng tếu. Ông cha mình vẫn nhắc nhở, như cảnh giác đàn con: “Muốn béo (mập) thì ghẹo ong bầu”. Như một luồng điện tín: “Nơi đây có tổ ong, cũng có nghĩa vắng người! không có tụi áo vàng hay lui tới, rình rập”. Tôi hỏi một cậu:

– Có gần đây không? Tổ ong có to không?

Hai, ba cậu đều rối rít:

– Gần đây thôi, chú ơi!

– Tổ to lắm, trong một bụi mây rừng!

Trải qua những lần mặt bị sưng tím khi còn nhỏ, tôi lục trong tay nải, xé mấy miếng giẻ rách, đút túi quần, rồi theo các cậu đi sâu vào rừng. Lội qua mấy dòng chảy, vì nước đã lên, lách vào một khu toàn mây và song rừng.

Còn bé, tôi nhớ một lần, có một tổ ong rất to lủng lẳng trên một cành đa già, chùa làng bên. Cành đa nằm dài, sà xuống ao chùa, tôi và một thằng bạn, công trình nối buộc hai cành hóp dài đến 4 mét, lấy hai chiếc áo cũ trùm kín mặt, mò mẫm khẽ trèo lên cành đa.

Tổ ong vàng to như một quả mít hai ký, ong vàng đai đen (vò vẽ) bâu kín cái tổ như lông nhím. Từ xa tôi và thằng bạn, nhẹ nhàng lách thò chiếc que tới, định đẩy đứt cái cuống tổ, cho nó rơi xuống ao chùa. Nhưng trời ơi! Đàn ong bị động, chúng ùa ra theo chiếc que, túm vào tay, vào cổ tôi đốt. Người tôi nhói, buốt, tê cứng ra, nên rớt xuống ao chùa, cao hàng chục mét.

Tôi chìm nghỉm, hàng chục con ong vẫn bay trên mặt nước, chờ tôi. Tôi vừa ngoi đầu lên mặt nước để thở, chúng túm lại châm, đốt, tôi lại phải lặn xuống nước. Nhưng rồi lại phải nhô đầu lên, vì không thể nín hơi được nữa, trong khi chúng vẫn là là trên mặt nước. Mấy ông sư trong chùa chạy ra quát ầm ầm:

– Lặn xuống? Lặn xuống!

Cả thằng bạn của tôi cũng đang trối chết như tôi ở trong ao, đàn ong đuổi cả các ông sư, để châm đốt. Các ông sư cũng chạy thoát thân vào trong chùa đóng cửa lại. Tôi vừa mệt, người lại nhức buốt, cứ phải lặn dưới nước thì sẽ chết. Trong lúc ý chí tự tồn của con người trỗi dậy, tôi chợt nghĩ ra một cách, trước khi nhô đầu lên, hai tay tôi hất tung nước lên túi bụi. Ong có cánh bị ướt rơi xuống nước ngay, mà rơi xuống nước thì chết, không thì cũng làm mồi cho cá.

Trước khi chết, ong giẫy dọn vùng vẫy như chiếc mồi nhử, cá đớp liền. Đàn ong trên mặt ao, còn con nào cũng tháo chạy, bay về tổ. Ngay từ lúc thấy nước hữu hiệu, tôi đã gào gọi bạn tôi làm như tôi. Tóm lại nước đã cứu chúng tôi, ong đốt chỗ nào, thì nhúng nước ngay, nó sẽ giảm sưng, giảm buốt, nếu nhiều con đốt sẽ làm sốt, nóng lạnh.

Bốn cậu dẫn tôi đến một chỗ, đều đứng lại, chỉ trỏ vào mãi phía trong, giữa đám mây già:

– Tổ ong ở trong đó!

Tôi hiểu các cậu vẫn còn chờn, sợ ong. Nhìn còn xa hàng 7- 8 chục mét, tôi quay tìm một cành cây thon, dài gần 3 mét, một mình tôi lầm lũi tiến vào. Quẹo mãi tới một bụi mây già rậm rạp, to um tùm, tôi khẽ len lỏi tiến vào. Từ 5 – 6 mét, tôi đã nhìn thấy tổ ong, hình nó như cái loa kèn, đầu nhọn, ở dưới loe ra, những con ong vàng, chen chúc nhau bâu kín. Nhẹ nhàng, tôi rút mấy miếng giẻ trong túi, quấn chặt vào đầu chiếc cành mang theo.

Ong kỵ nhất là khói và lửa, tôi bật quẹt đốt đầu giẻ, khi lửa cháy, có khói, tôi từ từ thò vào phía dưới tổ ong, tôi đưa dần, đưa sát, ong như vỡ tổ, bay toán loạn, tôi huơ khói và lửa. Còn dăm mười con cố thủ chịu trận liều chết, không muốn bỏ đám con ở trong tổ. Nhưng ong làm sao khôn bằng người, nên cuối cùng đã bay chạy hết. Tôi lần mò, kiễng chân với lấy tổ ong, tổ ong nặng chịch, to như cái bát chiết yêu, đầy nhóc những con nhộng ong. Tôi đường hoàng cầm tổ ong to đi ra, trước những con mắt mở to của các cậu.

Cậu Thiện lúc này cũng đã mò đến, tôi hỏi các cậu có muốn thường thức, món nhộng ong không? Khó có chất tăng lực nào bằng, cậu Thiện lắc đầu, sợ không dám ăn, bốn cậu kia mừng ra mặt. Còn một chút giẻ, tôi bẻ mấy cành khô, đã có một ngọn lửa nhỏ, đủ hơ chín cả tổ ong, tôi xé cho bốn cậu một nửa, còn phần tôi một nửa. Món này tôi vẫn thích từ nhỏ, bây giờ tôi lại đang cần bồi dưỡng, để chuẩn bị với những trận say sóng, cố hữu của tôi.

Chuyến đi này cũng có một điềm lạ, tôi đã được bồi dưỡng một tổ ong, ngay ở chỗ nằm ếm, trước khi khởi hành. Mặt trời đã lên đến một con sào, ông “cao gầy” mới dóng dả mọi người theo ông, đi ra thuyền.

Xa xa ở một vụng bãi, một con thuyền to với cánh buồm nâu tươi nhọn hoắt đang nhấp nhô, lắc lư như đầu một chiếc bút lông đang vẽ, viết lên nền trời xanh lam. Con thuyền buồm duy nhất, nhấp nhô một mình trong bến vắng. Đoàn người, lần lượt lên thuyền, hơi ngạc nhiên, tôi ghé hỏi nhỏ ông cao gầy:

– Thuyền có máy không vậy ông?

Ông cười nhẹ, rồi lườm tôi, xong cũng nói nhỏ:

– Tình báo mà phải hỏi!

Tôi quay lại, nhìn ông, mí mắt trái tôi cũng hơi động đậy. Ông này là ai, mà đã biết về tôi? Tôi cũng hiểu luôn, ông này đã đánh giá về tôi sai lầm. ông tưởng tôi đã biết, nhưng thực sự tôi chưa hề biết gì cả, nếu có chăng chỉ là một chút phản xạ tức thời. Thuyền có máy! Qua cách ông hỏi và ông lườm tôi, nếu ông bình thường, tôi phải hỏi người khác nữa hay người chủ tầu.

Mặt trời như một bóng đèn pha cực mạnh, thỉnh thoảng lại ló mặt ra nhòm, sau những tảng bông gòn lổn nhổn, hỗn độn. Đoàn người lần lượt chui xuống hầm thuyền, mỗi người, mỗi gia đình tùy theo tìm một chỗ cho mình, một tiếng khàn khàn dõng dạc phía mũi thuyền:

– Hãy căng buồm lên? Tiến?

Đã biết nhược điểm của mình. . ., ngay những giờ đầu phải quan sát cảnh vật. . . ..được ít nào, sóng lùng của sông nước sẽ đè tôi nằm bẹp. Nghĩ thế, tôi bò ra sát chiếc cửa sổ con, ở mé thuyền.

Một đôi chim hải âu trắng toát từ phía bên kia bờ, xoải cánh đến đậu ngay trên đầu chiếc cột buồm, kêu en….ét, như chào, như tiễn biệt con thuyền viễn xứ. Buồm căng gió, con thuyền tiến dần, rồi rẽ nước tiến chui về phía trước. Tiếng bì bạch của sóng nước, vỗ vào mạn thuyền, nghe mơ hồ như dư âm của bài Thuyền Trăng vương vãi, vào gió mặn:

Gió đưa…..con thuyền dạo chơi……xứ thơ…….

……

Thuyền hỡi……….nhớ về cùng bến… …..mong chờ.

Thuyền lướt theo gió chừng nửa giờ, bỗng một tiếng phì dài nghe như tiếng xì hơi của xe lửa Thống Nhất, làm nhiều người đều ngửng đầu nhơ ngác. Có tiếng nói nhỏ phía cuối thuyền, rót vào trong gió:

– Cá voi!

Tôi thò đầu, ngoái hẳn ra ngoài: phía bên kia chừng hơn 100 mét, hai đuôi con cá voi to như hai chiếc quạt giấy khổng lồ, mầu trắng xám dựng ngược, đang chìm dần xuống mặt nước. Những tiếng phì phì phun ra những luồng hơi nước trắng xóa trên sóng nước. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy, có một cụ già giọng khào khào:

– Đấy là điềm may!

Tiếng phì phì cứ đeo đẳng, hình như mấy con cá voi đang nô đùa đuổi nhau, theo con thuyền. Bóng ông cao gầy từ sàn trên đi xuống, nhiều người đều hướng mắt về ông; có lẽ ông thấy sự băn khoăn của mọi người, ông nói nhè nhẹ:

– Đàn cá voi con! Thuyền đã ra cửa biển!

Đột nhiên có hai phát súng từ phía xa réo lên, làm xanh mắt mọi người. Ông cao gầy chạy vội lên sàn, đóng cửa, tôi liếc nhanh phía bên ngoài, một chiếc ca- nô từ góc xa bên kia, đang chĩa mũi tiến về phía con thuyền. Nhiều tiếng quát tháo ở sàn trên:

– Bỏ lưới ra!

– Kẻo càng cản ra!

– Hạ lưới xuống!

Chiếc ca nô đã đến gần, chỉ còn khoảng gần 200 mét, mặt ai cũng trắng bạch ra, tôi chuẩn bị tư thế làm lại như chuyến trước! Ở đây chỉ cách bờ hơn trăm mét! Chiếc ca- nô chỉ còn chừng hai, ba chục mét, tôi đã trông rõ 7- 8 tên CA biên phòng, đeo súng ống lố nhố.

Giữa cái phút giây ranh giới tù đày và tự do này, thì phía xa bên kia bờ sông, có một chiếc thuyền đang lao vút ra phía cửa biển. Mấy tên trên chiếc ca- nô chỉ trỏ về phía chiếc thuyền lạ, rồi chúng quay mũi ca nô về chiếc thuyền lạ phía xa, khi chiếc ca-nô quay mũi, thì chỉ cách thuyền buồm còn hơn chục mét, tôi đã nhìn rõ hai ngôi sao trên một vạch vàng, của một tên mặt bèn bẹt như lưỡi xẻng, xúc phân heo.

Hẳn chúng đã nhìn rõ chiếc thuyền buồm đánh cá, nếu có thời gian thì chúng cũng lên hoạnh họe hỏi giấy tờ. Vòi, moi, tí chút cà phê, thuốc lá, nhưng lại có con thuyền đang vùn vụt chạy máy ra khơi, chúng phải bỏ cái “bóng” để bắt cái “mồi”. Hiểu chuyện, thì cả chiếc thuyền buồm phải cúi đầu tạ ơn chiếc thuyền lạ “cứu tinh”.

Tôi vẫn tin đời là kỳ diệu!

Khi chiếc ca-nô chạy xa chừng hơn 100 mét, thì những giọng quát tháo, hò hét lẫn lộn luồn vào trong gió lộng.

– Căng buồm theo gió!

– Kéo cản và lưới lên!

Ông cao gầy lại mò xuống sàn dưới, lần này ông đến gần khu giữa, cúi xuống nhấc một cánh cửa mở ra, ông thò đầu xuống hô

– Mở máy lên!

Con thuyền như rùng mình, rồi vùn vụt tiến ra khơi! Thật là nhịp nhàng kết hợp giữa nghệ thuật, nỗ lực của con người với sự giúp đỡ thần bí của đất trời. Tôi chợt thấy, nếu vì lý do gì bị chết máy, như lần trước, thì cánh buồm vẫn chậm chạp đưa thuyền đến bến. Một ý nghĩ phảng phất: Con thuyền này thân với thằng Lợi, biết đâu chả có ý kiến của nó, cho chuyện cánh buồm này?

Gió biển khơi càng lộng, buồm càng căng phồng ôm gió mặn, tiếng máy rù rì lẫn vào sóng nước, như một bản cộng hướng giữa khoa học và thiên nhiên, giữa cánh buồm và công suất của máy, con thuyền rẽ sóng đi vùn vụt. Mấy người ở sàn trên chuyện trò, bàn tán đã rắc lọt qua những kẽ hở, xuống dưới hầm:

– Chẳng một tầu CA nào, đuổi kịp chiếc thuyền này!

Phần vì đã tạm yên lòng, phần vì các bà thần sóng đã bắt đầu hành tôi. Người tôi nôn nao, chẳng cần biết nước, trời ra sao nữa, tôi nằm vật vào một góc thuyền mê man. Đã chuẩn bị sẵn, nên tôi không dám ăn uống hàng giờ, trước khi lên thuyền. Hai chiếc túi giấy, luôn để sẵn trong tay nải, thế mà tôi vẫn nôn thốc, nôn tháo, mật xanh, mật vàng vào túi giấy hết, tôi chẳng còn ý niệm giờ giấc, ngày và đêm. Tôi nằm lịm đi chẳng biết là bao lâu, mở mắt ra, người nằm mà cứ lắc lư như đua võng. Tiếng gió, tiếng sóng và tiếng máy thuyền rì rì, chả hiểu con thuyền đã đi được bao lâu?

Đã có những bài học từ những lần say sóng trước, tôi lục tay nải lấy hộp sữa đặc, tôi mút một ít sữa lấy lại sức. Sàn thuyền nằm la liệt đầy người. Tôi mút thêm tí sữa nữa, quấn gọn chiếc tay nải, rồi tôi mò lên sàn trên, bầu trời đêm tím ngắt như hoa sim đầu mùa Thu. Đồng hồ chỉ hơn hai giờ, gió biển lạnh thốc vào mặt, làm tôi tỉnh ra hơn. Buộc chặt chiếc tay nải vào người, tôi trèo hẳn lên sàn thuyền, sóng bạc đầu trắng xóa, đột nhiên một đàn cá đen xì, to như những con trâu mộng cứ nhào lộn đuổi theo con thuyền, một cảm giác huyền bí lạnh xương sống xâm chiếm hồn tôi. Tôi tưởng như những con quỷ biển đang đuổi theo để bắt, để nuốt những sinh mạng trong con thuyền nhỏ bé giữa đại dương bao la, bí hiểm.

Hàng chục con, vật lộn với những lớp sóng bạc đầu, gần đuổi kịp con thuyền. Có một con đen trũi, to như con voi “ma-mút” nhào tới sát đuôi con thuyền kêu en ét….hồng hộc, kéo dài như còi tầu hỏa: Nghe như tiếng rú gào của quỷ biển, đòi “nộp mạng”. Một luồng gió lạnh rót vào xương sống, làm người tôi nổi gai ốc! Thật lạ lùng, cảm giác của tôi giống như đã có lần, trong chuyến đi thuyền thằng Lợi, gần hai năm trước. Tôi đinh ninh tất cả những sinh mạng trong con thuyền, đã đến giờ phút chôn vùi, trong lòng đại dương huyền bí này.

Cảm giác tâm lý của con người, cũng kỳ diệu! Cũng những con cá này, nhìn chúng ở Aquarium, ở những hồ bơi trong thành phố, chúng như một món hàng ngộ nghĩnh, hiền lành, để ta đùa vui chiêm ngưỡng. Nhưng trong lúc này, thấy chúng huyền bí, có nhiều quyền lực linh thiêng làm chúng ta chết và sống! Tôi vẫn coi thường sự hiểm nguy coi cái chết là “hòa”, vì có còn biết gì đâu mà sợ? Thế mà lại lạnh xương sống, nổi da gà trong lúc này?

Trong ánh sáng mập mờ của biển khơi, của trời rộng, rõ ràng, tôi nhìn thấy một con chim đứng co ro trên cái chạng ngang, đầu cột buồm. Có phải con chim không? Tôi không tin ở mắt mình! Chung quanh chỉ có nước với trời, làm gì có con chim nào, lại đậu ở trên thuyền?

Như một luồng điện nhoáng lên trong óc tôi! Đúng rồi! Nó là một trong hai con hải âu ở vùng Chu Hải Vũng Tầu, đã đến chào tiễn biệt con thuyền viễn xứ này mà? Vậy còn một con nữa ở đâu? Không biết cho đến giờ đã mấy ngày đêm rồi? Rõ ràng nó chẳng có cái gì ăn, uống, chẳng được nằm, cứ đứng chịu lạnh trong gió lộng suốt đêm ngày. Lòng thương cảm giàn ra, tôi muốn gọi nó xuống, tôi sẽ vào hỏi bà con trong thuyền kiếm cho nó chút lương thực, nhưng tôi loay hoay không biết cách nào để nói chuyện với nó. Sao nó lại không biết đây là một con thuyền vượt đại dương? Có phải nó đến chào con thuyền? Một người bạn nữa đã đi đâu? Hàng chục điều, tôi muốn hỏi nó mà đành câm nín.

Người tôi vẫn lao đao, cồn cào với con thuyền lắc lư, nhưng vì tình thương con chim, nó còn đang phải chịu đựng những cái khó khăn, mà chính tôi không thể gánh chịu được. Chính vì niềm lắt lay với con chim, bệnh say sóng của tôi đã giảm đi rõ rệt.

Tôi nhìn, ở mãi góc gần buồng hoa tiêu, có một cái thang nhỏ chừng hai mét. Lảo đảo tôi mò đến, tháo cái thang. Khi dựng vào cạnh cột buồm, con thuyền cứ nghiêng ngả, ngay cái thang không, cũng còn không đứng vững, nếu trèo lên thì sẽ đổ ngã.

Đổ ngã ở đây là xuống biển chơi với mấy con cá đang đợi chờ. Hơn nữa với con mắt ước lượng, dù có trèo lên thang thì cũng không tới con chim, vì lòng cảm xúc với con chim đang gặp cái khó khăn nghiệt ngã, nên tôi cứ định trèo lên để cứu nó.

Tôi đã lướt qua, không lượng định hết những điều, tôi không thể làm được:

– Không thể trèo được, trong khi con thuyền nghiêng ngả.

– Có trèo được, cũng không với tay tới.

– Nó có đồng ý để tay tôi, cầm vào người nó hay không?

Từ nãy, tâm trí của tôi để hết vào chuyện con chim. Một người từ sớm, trong phòng hoa tiêu đã theo dõi mọi hành động của tôi. Anh ta đã lách ra từ phòng hoa tiêu, cầm theo một thanh gỗ dài gần hai mét, lom khom đến gần tôi, chỗ cột buồm. Chính là cái anh chàng cao gầy đã lườm tôi một lần, khi tôi hỏi “thuyền có máy không?”. Gió bắt đầu lộng thêm, rồi có mấy tia chớp lằng nhằng, vạch ngang dọc ở một góc trời (tôi chả còn biết là hướng nào). Những tiếng nổ gầm ghì, rung rinh cả biển, lẫn trời.

Lộp độp những hạt mưa to tướng gõ vào sàn thuyền, như đàn gà mổ thóc trên cái nia. Trời như bị rách, rạn ra, do sấm chớp, nước đổ xuống ào ào, mưa như trút nước, tôi chưa thấy mưa nhiều và to hạt như vậy trên đất liền. Con thuyền càng chồm lên, ngả nghiêng, nhưng anh chàng cao gầy vẫn đặt cái thang vào cột buồm, rồi ghì đè chặt, tiếng anh quẩn vào hạt mưa:

– Tôi giữ, anh trèo lên đi!

Lại có một người nữa không ngại mưa gió như mình, tôi đã cầm lấy thanh gỗ và nhìn xuyên mưa, vào mắt anh. Tôi không nói ra lời, nhưng tôi tin anh đã hiểu, tôi muốn nói qua ánh mắt: “mưa gió không cản trở chúng ta được”. Bản thân tôi cũng không ngờ, mưa và gió đã làm cái bệnh say sóng của tôi, từ từ giã biệt tôi

Con chim càng giúi đầu vào cái khe cánh buồm, ướt như chiếc giẻ dúng vào thau nước, nó đờ đẫn mê dại không còn cái rụt rè sợ sệt, của một con chim. Lúc đầu tôi đưa thanh gỗ đến, nó không hiểu, nên như muốn tránh, có thể sau nó đã hiểu ra, hoặc “cu cậu” chả còn cách nào khác nên đã ngoan ngoãn bấu chặt vào đầu thanh gỗ tôi đưa đến. Tôi đã ôm nó vào người, như muốn sưởi ấm cho nó, nhưng tôi quên mất là người tôi cũng ướt chẳng khác gì nó.

Tôi và con chim, đã theo anh cao gầy vào phòng hoa tiêu. Trong phòng, có một bác gần sáu mươi tuổi, qua ánh mắt và đôi cánh tay đang điều khiển con thuyền, đã nói lên phong độ con người của bác, và một thanh niên trẻ gần hai mươi, là con trai của bác. Tôi lạnh và con chim cũng lạnh ướt, anh cao gầy cũng ướt át dẫn tôi xuống hầm máy, để sưởi và thay quần áo. Ngoài trời biển vẫn sấm chớp mưa rơi tầm tã, nửa giờ sau con chim đã tỉnh dần, cu cậu thoáng nhìn cái cóng gạo tôi đưa đến, đã mổ lấy mổ để, chẳng cần đợi tôi mời. Tôi muốn hỏi nó:

– Mày là con trai hay con gái?

– Ở vùng Chu Hải chúng mày muốn đến chào tiễn chúng tao đi hay chính chúng mày cũng muốn vượt biên?

– Người bạn của mày, vì sao bỏ lại mày một mình?

Còn nhiều câu hỏi nữa, nhưng tôi đành chịu chết, tự suy đoán mà hiểu.

Bây giờ thì tôi đã biết, con thuyền đã đi được hai đêm với một ngày rưỡi, với sức máy và cánh buồm kết hợp, qua anh cao gầy, con thuyền có thể đi hàng chục hải lý một giờ. Khi sưởi ấm ở cạnh máy thuyền, tôi được biết anh cao gầy là Trần Ngọc Nghĩa, anh là đại úy, binh chủng mũ đỏ, với mầu mũ này anh đã vùng vẫy ngang dọc trên khắp bốn vùng chiến thuật. Đơn vị của anh là mũi dùi cởi vòng vây An Lộc, anh đã bị thương nhẹ một lần, và anh cũng nằm ấp hơn sáu năm. Điều lý thú là anh cũng đã từng ở trại T 52 Hà Sơn Bình, anh mới được ra tù đầu 1982. Lúc đầu gặp anh, ở khu vực nằm ếm Chu Hải, tôi và anh lạnh lùng, tưởng không ưa nhau. Nhưng chính do con chim hải âu vượt biên, là một giây nối, để rồi có điều kiện cùng sưởi quần áo, trong hầm máy với nhau. Anh đã thân quen với vợ chồng Phạm Lộc+ Liên, nên hẳn anh đã biết một chút về tôi như Phạm Lộc. Vậy với những điều Phạm Lộc biết về tôi, để nói chuyện với Nghĩa. Một điều lý thú nữa, Nghĩa ở trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức ra, tôi vội hỏi, ra trường năm nào và học khóa nào? Nghĩa nói với vẻ mặt tự hào, hơi một thoáng đăm chiêu:

– Tôi ra trường cuối 1963, học khoá 12.

Tôi không thể ngờ Nghĩa lại ở khóa sát tôi, ít ra cũng cùng một mái trường, dù tôi chỉ hơn một tuần lễ, nhưng tôi đã không hề đề cập vấn đề này với Nghĩa.

Chỉ ngày hôm sau, con chim đã quen với người. Có người cho nó ăn, cái này, cái khác. Thậm chí mấy đứa nhỏ cho nó ăn cả kẹo, con chim mến người, có lúc nó lên cả sàn thuyền, nhưng nó vẫn không bay đi! Tôi chợt nghĩ: Nếu nó có muốn bay, thì bay đi đâu? Chỉ có trời với nước, hơn nữa ở lại, có đủ thức ăn cho nó sống. Còn một điều nữa: “Tôi nghĩ thầm” Đã cùng là người tỵ nạn trên một con thuyền, phải gắn bó sống chết với thuyền, như mọi người.

Một buổi trưa, tôi chìm vào một giấc ngủ bù mê mệt, chẳng biết bao lâu, có người lay tay tôi dậy. À con chim! Chiếc mỏ mầu lá mai già cứ ngậm vào ngón tay cái của tôi, cắn nhẹ rồi lại cắn liên tục, nó như có ý muốn ngả nằm cạnh tôi. Tôi dịch lại, và nó đã nằm sát ngay bụng của tôi, một hơi ấm lăn tăn chuyền qua giữa chim và người.

Mắt nó vẫn mở trừng trừng như đeo kính, con ngươi của nó mầu hồng hơi hung đỏ, giữa một vòng mầu vàng bắp chín không động đậy. Tôi cũng chưa biết hải âu ngủ có nhắm mắt không? Mắt tôi dìu xuống, lơ mơ, dòng tư tưởng của tôi vẩn vơ về con chim, cứ cho là nó cũng có ý vượt biên đi ra ngoại quốc như chúng tôi.

Chúng tôi rõ ràng là vì chính kiến ngược chiều với lũ cầm quyền, vậy nó thì vì sao? Tôi không thể tìm ra một lý do nào khác, ngoài vấn đề kinh tế, một xã hội quá đói khổ, con người còn vật lộn tìm cái ăn, còn đâu có thừa thãi cho chim? Một ý tường chợt lóe lên, nó cũng vì chính trị nên đã vượt chạy ra nước ngoài.

Khi người dân thiếu đói, nếu thấy chim, hay bất cứ con vật gì đều tìm cách bắt hay bẫy, ráo riết hơn, cuộc sống của chúng nó cũng không yên lành. Tôi mở mắt ra nhìn con chim, mắt nó vẫn thao láo không động đậy, nhưng cái nhìn của tôi bây giờ là nhìn một sinh vật đồng cảnh tị nạn, khác với những ngày trước. Tôi chợt nhìn xuống lưng phía cánh phải của nó, bị cháy xém đen một đám. Tôi bò giựt dậy, làm con chim cũng thức đậy đứng lên.

Tôi nhìn quanh, không hiểu ai đã làm con chim bị cháy thế này? Nhiều người nhìn tôi, có hai cậu thanh niên, lách người tiến đến, một cậu nhìn chỗ cháy xem của con chim, rồi quay lại tôi:

– Chúng em xin lỗi, khi nãy vô tình vất một cái tàn thuốc lên lưng nó, nằm góc kia. Khi có khói, chúng em dập ngay, chỉ xém mấy cái lông, người nó không sao!

Tôi vạch chỗ đó, thì quả như vậy, hơi buồn, nhưng tôi đã ca ngợi các cậu là những người có lòng tự trọng, có bản lĩnh, dám nhận cái lỗi, dù nhỏ của mình.

Tôi ôm con chim mò lên sàn thuyền, mặt trời đã ố vàng ngả dần xuống mặt nước về hướng Tây. Trên sàn lúc này cũng có nhiều người, có thể con thuyền đã đi được 4 – 5 ngày, đã nằm ngoài hải phận Quốc Tế, không sợ tầu Hải quân cộng sản nữa.

Niềm hy vọng đã thập thò, le lói ra từng khóe mắt của mỗi người. Đã có những gia đình, mang cả bạt, cả chiếu trải ra để nằm, ngắm trời, mây, gió, nước, nhất là từ chiều, gió giảm nhẹ dần.

Cánh buồm hơi đói gió, chỉ còn một mình sức máy vừa đủ, đẩy con thuyền đi từ từ. Mặt trời còn cách mặt nước chừng hai con sào, thì gió lộng dần, sóng bắt đầu nhổm dậy cuồn cuộn, trắng cả đầu. Cột buồm hình như gù xuống, bụng phình to ra, một vài tiếng gầm ghì của sấm rền mãi chân trời, phía dưới nước. Con thuyền tôi có cảm tưởng, như một người khách bộ hành, khi sớm đang thả bước nhàn du, ngắm trời, nước, ngắm thiên nhiên; nhưng trời đã chiều, nhà còn xa, nên rảo bước nhanh hơn. Một thoáng lòng tôi chạnh nhớ đến Bà Huyện Thanh Quan, trong đoản thơ Hoàng Hôn Nhớ Nhà 2, vần “ôn”.

Trời chiều bảng lảng …….bóng hoàng hôn.

Tiếng sấm xa nghe………lẫn sóng dồn.

Gác mái ngư ông ……về viễn phố.

Gõ sừng mục tử…..lại cố thôn.

…….

Kẻ chốn trang đài………người lữ thứ…..

Lấy ai…..mà kể…….nỗi……hàn ôn.

Bây giờ thì người khách bộ hành, đã ba chân bốn cẳng chạy như điên, người ta sợ gió lộng, và có thể mưa nên đã kéo nhau dần hết xuống dưới sàn. Cái người ta sợ, người ta không thích thì tôi lại ưa, tôi quàng cái áo của thằng Lợi phế thải, từ mấy tháng trước để đi làm ở Biên Hòa. Tôi ủ con chim vào bên trong, mò ra một góc khuất phía sau buồng hoa tiêu phía cuối thuyền. Một chỗ ngồi lý tưởng để nghe gió lộng, để nhìn những núi sóng cuồn cuộn gào rú và để cảm nhận cái thú “một thuở ngàn năm” ngắm mảnh mặt trời chiều, chui xuống biển.

Từ sớm tôi đã lách vào phòng hoa tiêu (do anh Nghĩa tôi đã quen), hỏi bác thuyền trướng nhiều kinh nghiệm, là thuyền đi về hướng nước nào? Bác là Lý Văn Bang, đã dè dặt cho biết: “Do ba ngày trước, khi ra khỏi Côn Sơn, gặp một đoàn thuyền đánh cá; bác biết là từ đảo Phú Quốc, bác đã chạy tránh, nên hơi bị sai lệch tọa độ. Vì thế, bác không thể xác định 100 phần trăm, chỉ biết gần đúng! Thuyền có thể đến Mã Lai hoặc Indo, và cũng không biết chắc, là từ 3 hoặc 5 ngày nữa “.

Tôi đang ngồi lắng đọng thả hồn vào tiếng sóng dào dạt, réo gọi gió, tôi giật mình, có ai bẹo, chí vào bụng tôi. Ối giời ơi! Con chim chó chết! Tôi thông cảm cùng cảnh ngộ, nên ủ vào người cho cu cậu (hay cô nàng) yên ấm. Không ngờ, “cu cậu” lại dùng mỏ “bẹo, chí” bụng của tôi. Tôi thò một tay vào nắm nhẹ đầu nó, hơi ve vuốt, thế là cu cậu lại ngoan ngoãn nằm yên.

Con chim đã làm cho ruột gan tôi như quấn, cuộn lại với nỗi nhớ thương người mẹ mù lòa của tôi, không biết bây giờ người ra sao? Nhưng tôi biết rõ, và tin như thể tin tôi, là mẹ tôi vẫn ngày đêm dõi theo bóng dáng người con trai này của mẹ; ruổi rong sống và chết trong biết bao nhiêu tình huống người không thể biết. Vì thế, chắc chắn người vẫn cầu khấn Chúa và Đức Mẹ, cho người con trai này. Một nỗi nhớ cồn cào về người mẹ kính yêu, lẫn vào trong tiếng sóng, tiếng gió tôi nghe rõ những lời của bài “Lòng Mẹ” của Y Vân:

Lòng mẹ bao la như biển… … Thái Bình…. dạt dào.

Tình mẹ tha thiết như dòng…. suối hiền…. ngọt ngào

Lời mẹ êm ái…. . như đồng lúa chiều …. . rì rào… …

… ….

Thương con…. thao thức bao đêm trường

Con đã yên giấc mẹ hiền….. vui sướng biết bao

Thương con khuya sớm….. bao tháng ngày

Lặn lội gieo neo….. nuôi con tới ngày lớn khôn

Dù cho mưa gió…. không quản thân gầy….. mẹ hiền

Một sương hai nắng…. cho bạc mái đầu buồn phiền

Ngày đêm sớm tối vui cùng….. con nhỏ một niềm

Tiếng ru êm đềm…. mẹ hiền năm tháng….. triền miên

Bao năm nước mắt…. như suốí nguồn

Chảy vào tim con, mái tóc chót….. đành đẫm sương

… ….

Dù cho phai…. nắng nhưng lòng thương chẳng lạt màu

Vẫn mong quay về….. vui vầy dưới bóng….. mẹ yêu.

Tôi đã nhắm mắt lại, và lịm đi cho hồn tôi ngâm giầm vào lời ca, tiếng nhạc. Rồi cũng chính con hải âu đang nằm trong bụng tôi lại ngó ngoáy, cựa quậy để cho hồn tôi lại chảy dài về với người vợ thương yêu và đứa con gái yêu của tôi. Con tôi còn nhỏ quá chưa biết gì, nhưng chắc chắn em Hoa yêu thương của anh cũng nát lòng, dù cho em có là người được trời phú cho dễ ngủ.

Anh vẫn tin chắc, em đã có những trận cuồng phong, bão tố ở trong lòng. Có thể người chồng của mình ra đi sẽ:

– Gặp cướp biển

– Bị hải quân tuần tiễu của lũ cộng đuổi bắt!

– Cuồng phong, bão tố của biển khơi, đã nhận chìm xuống lòng biển!

– Đến nơi, đến bờ nhưng đã thay lòng, đi với người khác?

Nghĩa là, người chồng ấy đến 90 phần trăm là ra đi không trở lại. Một mình lẻ bóng, ôm đứa con thơ với người mẹ mù lòa, giữa chợ đời đói khổ!

Nhìn về phía Đông Bắc tím thẫm trong dáng chiều, mấy vạt mây đen nằm trải dài sát mặt nước. Tôi hiểu, nơi ấy là quê hương, tổ quốc của tôi, có mồ mả ông cha, tổ tiên, có người mẹ mù, người vợ trẻ và đứa con thơ của tôi. Ruột tôi như cuộn vò lại, em Hoa ơi!

Để lòng anh phần nào đỡ nẫu, nát trong nhớ thương, anh nhớ khi chúng ta nên đôi chồng vợ, có một lần anh hát tặng em bài ca Hoa Biển. Chỉ vì bài ấy có cái tên là “hoa”. Giọng của anh như cơm nguội, ăn với nước dưa chua.

Bây giờ, trong hoàng hôn lộng gió giữa biển khơi, trên con thuyền vô định, anh sẽ dùng tiếng gào của sóng biển thay tiếng đàn, và tiếng gió quất đập của cánh buồm, thay nhịp trống. Một mình, anh hét, hò giữa trời, nước mênh mông, không sợ ai nghe:

Ngày xưa … … …em anh hay hờn dỗi!

Giận anh khi anh chưa kịp tới…

…

Trùng khơi…….nổi gió lênh đênh triền sóng…..thấy lung linh rừng hoa.

Mầu hoa …………….thật trắng, ôi hoa nở thắm…….ngất ngây lòng thêm…….

Vượt bao hải lý……chưa nghe vừa ý…….lắc lư con thuyền đi,

Chỉ thấy bọt nước, tan theo ngọn sóng…….dáng hoa kia mịt mùng……

Em ơi………buồn phiền…….xin như hoa sóng…. tan trong đại dương

(Hoa Biển của Anh Thy)

Mặt trời đã chìm xuống lòng biển từ lâu, phía trái một mảnh trăng gầy đúng một nửa, như con mắt của dạ thần đang lườm nguýt, con thuyền đơn độc giữa đại dương. Nhìn mảnh trăng sầu, tôi nhớ đến một ý thơ, đã trở thành ca dao phổ cập:

Vừng trăng… …ai xẻ làm đôi?

Nửa in gối chiếc……nửa soi …….dặm trường. . …

Một làn hơi lạnh ngóm luồn vào trong gió, lách vào cổ, vào tai làm cho tôi rùng mình. Hẳn đã 9 – 10 giờ đêm, tôi mò xuống sàn về chỗ nằm. Tôi lục cái tay nải, tìm cái túi gạo con con, tôi đã xin được của một gia đình. Tôi bốc ra một nắm để vào cái cóng sữa bò. Chỉ một bóng đèn dầu treo mãi phía vách thuyền gần ca- bin, ánh sáng le lói một vài tia mờ mờ vươn tới; thế mà con chim vẫn mò mẫm ăn cho bằng hết chỗ gạo.

Tôi cố gắng lảo đảo đem chiếc cóng lại bồn nước lấy đầy cho nó. Tôi loay hoay tìm chỗ ngả lưng, quay laị con chim đã mò uống hết cả nước rồi. Phần tôi đã 4-5 ngày với hộp sữa Ông Thọ khi nào quá mệt tôi lại mút một ít. Hôm nay đã cạn rồi, tôi mượn cái mở hộp của một bà có con nhỏ, tôi xin ít nước sôi cho vào khoắng uống hết. Tôi lại ôm con chim vào lòng, nằm kềnh ra để nghe tiếng nhạc kẽo kẹt của con thuyền, lướt về phương trời mờ mịt.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 10 Nov 2023

Thăm mộ cụ Ngô lần hai

Đặng Chí Bình

Bài 44

Lộc sẽ liên lạc, báo trước cho tôi hàng tuần, để tôi chuẩn bị. Qua một số hiện tượng, tôi hiểu đây là chuyến đi thực sự chứ không như chuyến thứ hai, tôi mất công thấp thỏm một đêm trong bụi cây găng già. Vì đã đi hụt hai chuyến, nên tâm tư của tôi vẫn lặng lờ như đất trời, có thể nắng và cũng có thể mưa, nhất là thời gian ấy, chẳng phải chuyến đi nào cũng đến bờ.

Tuy vậy với Hoa, người vợ hiền thương yêu của tôi, do điều kiện ngặt nghèo tôi không thể đưa được vợ con đi, để nếu có làm mồi cho cá thì cũng vui lòng cùng nhau. Ngược lại, thành công thì cùng được thở hít bầu không khí tự do, đúng với kiếp sống của con người.

Đã phải nhiều đêm, nhiều lúc tâm tình, khích lệ, động viên, trang bị tư tưởng cứng rắn chịu đựng cho Hoa. Dù trong hoàn cảnh nào, cũng phải can trường đứng thẳng, bằng chính đôi chân của mình. Cũng do hoàn cảnh đẩy xô của dòng đời, và bối cảnh đau thương của dân tộc, đời tôi đã lăn lóc trong bãi rác và bùn lầy, nên tôi muốn con gái của tôi, cũng phải có ý chí nhẫn nại, chịu đựng những bão tố của cuộc đời. Từ những tâm ý này, những lần tôi chơi đùa với con gái 5 tháng tuổi, tôi đã tập dần, tung con tôi lên cao, rồi bắt lấy như một quả bóng. Mẹ nó nhìn thấy, đã nhiều lần hết hồn, kêu thét lên. Từ ăn, ngủ hay chơi bời đều với tâm ý rèn luyện của tôi. Thâm tâm tôi, mong muốn sau này con tôi, dù có được bọc trong nhung lụa, nếu cần nằm đất, bờ cát, cũng là chuyện bình thường.

Quan điểm của tôi vẫn muốn, ít nhất là những người thân của tôi: “Là hạ sĩ hay sĩ quan nhưng phong cách, hành xử là người lính”. Tôi rất đả phá lối “người lính tính quan”.

Còn người mẹ khốn khổ mù loà, nhưng tôi càng kính yêu người hơn. Đã nhiều lúc, nhiều đêm tôi ngồi ôm mẹ tôi hàng giờ, có những lúc để dòng nước mắt rỉ chảy vào tim, nhưng cũng có nhiều lúc giàn cả ra mặt. Nhìn đôi mắt của người hoắm sâu vào, tôi đã thấy tôi bé nhỏ lại, như ngày còn thơ ấu. Tôi nhớ tôi đã có cảm giác: Ngôn ngữ trên thế gian này không còn, hay không có một từ nào đủ để nói được cái bao la, êm dịu, lồng lộng nhân từ thương yêu của đôi mắt người mẹ.

Nhưng bây giờ, người phải chịu đựng khổ đau biết chừng nào, không làm sao nhìn được con trai vì thương khóc nó nên bị mù. Qua ánh điện chiếu vào màn, nhìn mẹ tôi gục đầu thiểu não, một nỗi xót xa héo hắt từ trái tim bầm tím của tôi rỉ chảy ra, tôi đã ôm lấy cổ mẹ rên rỉ:

– Mẹ có biết con thương mẹ nhiều lắm không mẹ? Con thương mẹ hơn là thương đời con!

Người xoa đầu tôi như ngày tôi còn bé, nhưng người không nói một lời. Tôi đã thong thả thưa với người chi tiết buổi nói chuyện với Phạm Lộc.

Người nghe tôi trình bày chuyến đi sắp tới với Phạm Lộc, người đã nói với tôi những lời mà tới nay và cho tới khi tôi lìa đời tôi vẫn không quên:

“Mẹ mù loà, cô đơn, cần con lắm! Vợ dại, con thơ của con cần con lắm! Nhưng con phải đi, ở dưới nhà nước này, con chỉ là con trâu, con ngựa.”

Con xin kính vâng theo lời mẹ! Con rất tự hào, trong huyết quản của mẹ có truyền thống trinh liệt của bà Trưng, bà Triệu. Con quỳ xuống kính cẩn lạy mẹ!

Đã từ lâu, từ cái ngày tôi đến kính viếng thăm mộ Cụ Ngô và ông Nhu ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi đã hơn một năm rồi, tôi đã có ý định khi có thời gian tôi sẽ đến thăm các người một lần nữa. Nhưng con Hồng Tuộc nó quần thảo tôi như chong chóng, chả còn thời gian nào. Kỳ này lỗ mũi của tôi đã được tháo ra một bên, mỗi tuần trình diện có một lần nên cuộc sống đã thong dong, thoải mái đôi phần.

Tối khuya hôm qua, đạp xe từ ga (xe lửa Biên Hoà đi Sàigòn) về tới nhà, em Hoa vẫn chờ tôi ở cửa như mọi khi. Hoa nói ngay:

– Thứ tư, anh Tuấn Nguyệt dẫn một anh là Mạc Lịch lại thăm anh. Có chào mẹ và bế Mai Lynh.

Thật là vui. Mạc Lịch là dân sport, dân “thổ công” của Hà Nội, cũng đã được ra chiếc lồng to, bây giờ lại ở Sàigon nữa. Tôi định hôm nào có thời gian, sẽ lại thăm anh. Tôi và Lịch có nhiều kỷ niệm ở trong tù. Nhưng, ngày mai thứ bẩy không lao động XHCN, tôi đã có chủ trương sẽ lên nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi viếng Cụ Ngô.

Lần này, tôi muốn mang cả vợ lẫn con gái của tôi đến chào và thăm viếng hai vị. Tôi đã dặn Hoa: Chúng ta không có điều kiện, vậy chỉ cần mua hai cái hoa hồng, hai cây nến và hai cây nhang là đủ rồi. Các vị cần tấm lòng chứ đâu cần lễ vật?

Đã chuẩn bị từ hôm trước, sáng thứ bẩy, với “ông” bạn già thủy chung, mẹ con Hoa ngồi ở yên sau, hướng về nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, tôi “giấn” bàn đạp. Trên đường đi nghe con gái í óe phía sau với mẹ nó, tôi có cảm tưởng, dù tôi là kẻ chiến bại, không còn một cuộc sống bình thường như mọi người; tôi vẫn gồng gánh bảo bọc được cho vợ con tôi, một gia đình nhỏ bé trong cuộc đời này.

Trời hôm nay hơi đùng đục mầu sữa đặc, cổng nghĩa trang còn mờ mờ trong sương sớm. Sau khi gửi xe, tôi ôm con gái, Hoa ôm nhang, nến và mấy cánh hoa hồng còn trong bọc giấy. Một đàn sáo đá năm, sáu con đang ríu rít trên cổng, đều cúi xuống hót toen toét như một điệu kèn mở màn cho ngày hội, khi chúng tôi bước vào. Nhìn những ngôi mộ to, nhỏ xây cao thấp mập mờ trong làn sương mỏng, tôi nhớ đến một ý thơ:

….Ở đây sương khói mờ …. nhân ảnh……

Lòng tôi cũng nao nao về kiếp nhân sinh, trong cõi thế tình. Mặt trời đã thức dậy, những ngọn cây vàng ửng lung linh, lắc lư, cả khu nghĩa trang như được lọc hết những sương mờ. Hơn hai chục con sếu cổ dài, từ hướng Đông bay đến ngọn cây thông đầu đàn, kêu quàng quác, như đội quân cảnh đang điều hành giữ an ninh trật tự, cho ngày hội. Trời cũng trong xanh hẳn lại. Phía Tây Nam từng đống mây trắng, đang đùn lên như một đám cháy rừng.

Đã có ý niệm từ lần trước, tôi dẫn vợ con tôi ngoằn ngoèo tiến về phía hai ngôi mộ. Khí hậu êm ả trong làn gió nhẹ, đột nhiên ồn ào như tiếng thác chảy đầu ghềnh, một đàn cò trắng đến hơn ba chục con, tranh nhau đậu xuống hai cây muỗm già, ở phía đầu hai ngôi mộ. Chẳng biết chúng bàn tán gì mà cứ kêu: Cò … cò… cò… inh ỏi. Cây muồng đã đội cái xuân nửa chừng, phía bên trái cũng có đám con chèo bẻo ở đâu mới mò đến. Cái loại chèo bẻo này, lúc nào cũng ra vẻ chính nhân, trông mặt thì mô phạm, nghiêm trang nhưng trong lòng, thì chứa nhiều uế khí.

Trong khi Hoa đang cắm bông, đốt nến, thắp nhang ở hai ngôi mộ, tôi đặt con gái của tôi lên chiếc nắp bằng, ngôi mộ cụ Ngô, để mặc cho nó lân la, bò trên ấy. Tôi đi vặt những nhánh cỏ may, mọc trườm ra, hết mộ cụ Ngô lại sang mồ ông cố vấn. Tôi ôm con gái của tôi, đứng bên cạnh vợ, bắt đầu làm dấu thánh giá, nguyện kinh, theo thủ tục tôn giáo.

Thật là lạ kỳ, một đàn năm con bồ câu từ mãi phía mặt trời mọc, sà đến cây bằng lăng, ngay đầu ngôi mộ. Chúng rúc mỏ vào cánh của nhau, rồi cùng nhìn xuống chúng tôi, đầu chúng cứ gật gù, miệng kêu: hù hù . . . . .lù . . . . . . hì, nghe như nốt nhạc mở đầu của một bài ca “Tôi yêu”:

Tôi yêu ……..quê tôi … ……..yêu mãi ………bây giờ càng yêu.
Yêu chim bay qua……mang đến tin mừng thái hòa.
Yêu anh, yêu em, yêu nước, yêu trời gần xa
Và yêu mối tình nở hoa….ngàn năm không hề phai nhòa

Chẳng hiểu từ một nguồn cảm thầm kín nào, tôi nghe chim câu gù, lại ra bài ca của Trịnh Hưng, từ ngày còn cụ Ngô. Rồi óc tôi nhớ, mắt tôi nhìn rành rọt một buổi cụ Ngô và đoàn tùy tùng, đến đặt vòng hoa trước đài chiến sĩ trận vong năm 1956. Tôi nhớ nguyên văn lời cụ Ngô:

“Chúng ta thành kính, nghiêng mình trước anh linh các chiến sĩ quân dân chính, đã bỏ mình vì chính nghĩa, để kiện toàn cuộc cách mạng giải phóng con người.

Ngô Đình Diệm”

Hôm nay tôi cũng thành kính, nghiêng mình trước anh linh của cụ và ông cố vấn. Tôi là người có tội với dân tộc, xin cụ và dân tộc tha tội! Nếu rồi đây tôi có chui vào lòng biển cả, xin cụ và ông cố vấn để một con mắt, đến vợ con và người mẹ mù lòa, của tôi.

Hoa quay lại tôi, giọng đẩy thắc mắc:

– Sao ở đây, có nhiều chim thế hở anh?

Tôi định nói: “Anh cũng thấy lạ!” nhưng tôi lại nói như giải thích:

– Trong nghĩa địa nhiều cây, lại yên vắng nên chim thường hay đến nghỉ ngơi, chuyện trò.

Hai con bướm trắng xanh, như hai bông hoa nhài thời con gái, từ đám cỏ úa vàng phía sau mấy ngôi mộ lớn, bay đến. Chúng khỏa cánh dập dờn quanh chúng tôi, rồi một con đậu vào cái lẵng đựng đồ của mẹ con Hoa, đang để dựa vào thành mộ cụ Ngô. Một con khỏa một vòng nữa, rồi đậu ngay vào đầu bé Mai Lynh. Đôi cánh thong thả mở ra, khép vào như một bàn tay vỗ về con gái tôi. Nhìn Hoa đang mở to mắt, ngắm con bướm trên đầu Mai Lynh, lòng tôi bỗng co lại lượn lờ vào cõi siêu hình.

Tôi ôm Mai Lynh, không dám cả thở mạnh, vì con bướm chỉ cách mặt tôi, chừng hơn gang tay. Tôi nhìn rõ hai chấm vàng và đỏ cạch, hai bên cánh, một mùi hương hoa thiên lý vung lên rắc đều, trộn lẫn với khói nhang, thành một cái hương vừa thần bí, vừa man mác thanh cao. Con Lynh hình như cũng cảm nhận, thấy có cái gì ở trên đầu, nó rút bàn tay bé xíu ở túi áo ngực của tôi, ngọ ngoạy giơ tay lên đầu. Tôi muốn bảo con tôi, bỏ tay xuống, nhưng mãi cũng không thể phát ra lời. Hai con bướm đã như hẹn, cùng bay lên, theo nhau đảo một vòng về phía chúng tôi, rồi cùng bay trở về đám cỏ vàng, phía mấy ngôi mộ lớn, như những chiếc đền, chiếc miếu con.

Mặt trời đã lên gần đỉnh đầu, một tay bế con, một tay kéo sát Hoa lại và hướng vào hai ngôi mộ, đều cúi đầu nói to:

– Chúng tôi kính chào hai vị!

Hoa đã nhắc từ lúc đi, khi về phải ghé vào nhà ông Cả Nhưỡng mua thuốc đánh răng, vì đã hết hai ngày rồi. Loại thuốc ông tự pha chế, giữa xà phòng và vôi bột, cứ hai đồng một lọ sành con.

Từ ngày tôi về, cũng chả quen biết gì chuyện đánh răng, vì đã quên béng từ dạo trong tù. Nhưng từ ngày đón Hoa về, cô nàng bắt ra nhà ông Cả Nhưỡng, mua loại thuốc vôi với xà phòng phát minh trong nhân dân này. Tôi phải ngoan ngoãn chấp hành sự điều hành của “nội tướng”. Nàng còn khoe, chiều nay sang bà Cần lấy hai kí mì vụn xuất khẩu, nàng đã mánh mung móc ngoặc từ hàng tuần lễ trước. Tôi chỉ nghe, thực tế tôi chưa được thưởng thức cái món mì xuất khẩu, nó ra làm sao. Thế mà chiều nay tôi sẽ được đã đầy … mà ngây ngất, dù là vụn vẫn còn hơn là không biết gì.

Chưa có ăn, nhưng viễn tưởng đã như một ngọn “thu phong” cuối hè ùa vào lòng. Mới tới cửa nhà, Hoa đã nhẩy xuống đưa con cho tôi, rồi nàng ghé sang nhà bà Cần ngay. Tôi ôm con vào trước đưa cho bà, rồi ra dắt “ông” bạn đứng dựa tường từ nãy đi vào.

Chỉ thoáng nghe tiếng ọ ẹ của cháu, mẹ tôi đã vén màn, mặt người tươi roi rói, người vội vàng lấy chiếc khẩu trang đeo vào. Đã từ hơn một tháng trước, Hoa phải đạp xe sang bệnh viện Hồng Bàng, để hỏi bác sĩ chuyên môn: “Mẹ tôi bị bệnh lao phổi, người quá thèm khát bế cháu, có cách gì giải quyết được, không bị lây nhiễm cho cháu?”. Ông bác sĩ chuyên môn, dặn chỉ cần rất đơn giản: “Trước khi bế cháu phải rửa tay xà bông, và đeo khẩu trang! Tuy vậy cố gắng hạn chế “bế cháu”.

Từ dạo ấy, mẹ tôi đã giải quyết nỗi bức xúc của người, mặt của mẹ tôi có sinh khí hẳn lên. Hoa cũng rất băn khoăn về vấn đề này, nhưng tôi khích lệ và xoa dịu:

– Em thông cảm với mẹ, người chả còn sống được bao lâu nữa!

Thậm chí, tôi đã nói thầm cả với con gái của tôi: “Con chịu khó làm vui lòng bà, Chúa sẽ ân thưởng cho con sau này”.

Khi tôi đã dựa “ông” bạn vàng vào phía trong cửa sổ, quay lại, thì một tay người bế cháu, một tay người móc túi đưa cho tôi một lá thư, ngoại quốc. Lá thư từ Cali (Mỹ), do một bà bạn của mẹ tôi, tên là Lưu.

Đọc lá thư giản dị vài dòng, nhưng đã làm cho lòng tôi bồi hồi xúc động. Như vậy tình người, tình quê hương hãy còn thấm đượm như thế ư? Một bà vợ của một ông trung tá, di tản từ 1975. Bà này là khách hàng quen biết của mẹ tôi, từ ngày mắt của mẹ tôi còn sáng, bán hàng tấm ở chợ Nam Hòa, rồi cho tới khi mẹ tôi bị lòa, vì nhiều đêm ngày khóc thương đứa con trai cả đi… đi mãi không về với mẹ.

Người bạn đó, vẫn một lòng, đến từng nhà thương thăm hỏi, cho tới khi mẹ tôi bị mù hẳn ở nhà. Bà ấy đã nhờ chồng, lái xe đến nhà để thăm hỏi, giúp đỡ mẹ tôi, những tháng năm còn dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Bây giờ nơi xứ người, hẳn sau những tháng năm ngơ ngác tảo tần đã tạm thời ổn định, bà vẫn chưa quên người bạn lòa ở quê nhà. Bà ấy gửi về một chút quà, để nói lên phần nào tấm lòng của bà ấy với người bạn bất hạnh này. Chừng nửa tháng sau, có giấy báo từ Cục Hải Quan Tân Sơn Nhất, để mẹ tôi ra lãnh đồ. Lần đầu tiên từ ngày đất nước sang trang, mẹ tôi có quà ở ngoại quốc gửi về.

Trước ngày tôi đi nhận quà, nhà hết gạo, củi, con không có tiền mua sữa hộp. Cứ mỗi tuần con tôi uống một hộp sữa đặc “Ông Thọ” để bồi dưỡng, theo yêu cầu của chuyên môn. Con gái tôi bị suy dinh dưỡng cấp 2.

Bấn quá! Tôi đã lục lọi nhiều thứ, cái gì có thể đổi thành gạo, thành củi ở trong nhà. Hoa đã phải nhặt nhạnh dần, đưa ra chợ trời Tân Bình, từ cái búa, cái kìm, vài cái bát, cái nồi, phích nước. Hôm nay còn cái áo “veste” của thầy tôi, người đã cho tôi khi còn sinh thời, như một gửi gấm cho đứa con trai, còn lại trên cõi đời.

Chính vì tôi thấu hiểu ý nghĩa tấm lòng của người, nên dù tôi thiếu đói, cũng quyết giữ lại như một di vật của tình phụ tử. Nhưng giờ đây, con gái tôi thiếu thuốc, không sữa trong suy nhược, tôi làm sao duy trì được sự quyết tâm trước đây? Đã mấy đêm trăn trở giằng co với chiếc áo, tôi chưa mặc một lần, để rồi sáng hôm nay, tôi phải đưa cho Hoa, ra chợ Tân Bình.

Hai bố con ôm nhau, với căn nhà rỗng không còn gì để bán và hai cái bụng cũng rỗng, như căn nhà. Phải nói là ba cái, hẳn người mẹ lòa của tôi, cũng chẳng khác gì bố con tôi, và cả người mang chiếc áo đi! Tôi thương Hoa quá! Vì đẻ con nên đã bỏ việc, vì người mẹ mù lòa, bệnh tật và vì anh chồng không có tài xoay xở. Anh chồng đó lại bị con Hồng Tuộc quấn chặt trong vòi của nó, nên cũng đã buộc chặt cả đời Hoa.

Khoảng quá trưa, mãi gần 2 giờ Hoa mới về. Tâm trạng của tôi ngồi ôm con chờ Hoa, nỗi khắc khoải chờ mong thấp thỏm, như ngày tôi còn bé nơi quê nhà, ngoài miền Bắc mong mẹ của tôi về chợ. Thoáng một tiếng động cửa, một bóng người thoáng qua, cánh cửa sổ dưới nhà, một nguồn nóng ấm lại trào ra trong cõi lòng heo hút vắng lạnh. Đời trai ngang dọc, để rồi giờ đây ngồi ôm con bất lực, than vãn ư? Nỗi niềm vơi đầy cứ gậm nhấm đay nghiến, dằn vặt, vò xé trái tim đã rỉ máu, của tôi.

Một chiếc áo vét, thầy tôi mới mặc một lần, Hoa mang đi, chiều Hoa mang về 1 kí 5 gạo, và một hộp sữa Ông Thọ, không còn đủ tiền mua thuốc an thần cho mẹ. Dù gì cũng cảm ơn Hoa, một cô nữ sinh lớp 11, bây giờ phải ngắc ngoải đứng ở chợ trời. Càng ghi nhớ công ơn những tay chân của ông già không vợ, nhưng nhiều con rơi, đã vào “giải phóng” cho đồng bào ruột thịt miền Nam, đói khổ.

Trưa hôm nay, tôi từ bên khu Thanh Đa chỗ vợ chồng Lợi, đạp xe về, thấy một chiếc xe đạp lạ dựng bên ngoài cửa. Vào nhà tôi còn nghi ngờ cả mắt tôi. Lầu Chí Chăn to lớn (người nhái) đang ôm đứa con gái sáu tháng của tôi. Như thế Chăn đã được về do áp lực của Quốc Tế. Gia đình Chăn, đã bồi dưỡng u hề cho Chăn, bên Chợ Lớn gần hai tháng rồi, mặt của Chăn hây hây hưng phấn như con hổ, vừa thoát ra khỏi chuồng.

Chăn chỉ còn mẹ và các anh ở cây da sà Chợ Lớn. Một điều hơi đặc biệt, Chăn ghé tai tôi nói nhỏ: “Chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã trả tiền tử tuất, nhưng gia đình Chăn do khá giả nên còn giữ nguyên vẹn cho tới ngày bất chợt, Chăn được trở về”. Chăn rất thương cảm con gái nheo nhóc của tôi, và hẳn từ sớm, Chăn đã thăm hỏi mẹ tôi, Hoa và cũng đã nhìn rõ cảnh sống nhiều ngõ hẹp của tôi.

Hoa cũng thật tài ba đảm đang xoay xở, nàng đã chạy vạy ở đâu ra hai quả trứng vịt, để có một bữa trứng tráng già lửa, thơm phức cả nhà. Trong bữa cơm duy nhất, chào mừng người bạn tù mới xổ lồng. Ngoài trứng chỉ có món mắm tôm chưng cố hữu, món ăn phù hợp với bà đẻ ăn kiêng, mẹ tôi bệnh phổi, mù lòa cũng phải ăn kiêng và tôi lại cũng thích ăn kiêng trường kỳ.

Cảnh đời của tôi, đã nhiều đêm ngày đẩy đưa tâm tư của tôi trở về, cảnh đời của “chị Dậu”, bà phó Đoan, cô Loan, anh Vọi và cậu Điệp v. v … Chả trách gần đây, tướng Trần Độ, ông Phạm Quế Dương, Trần Dũng Tiến phản kháng bộ chính trị và trung ương đảng Cộng Sản đòi cho bằng được: Để người dân được sống, được hưởng như cảnh đời của người dân, dưới thời thực dân Pháp thuộc, cách đây gần một thế kỷ?

Chăn đã làm tôi ngạc nhiên, lúc ra về, Chăn đã rút túi lấy tiền, đút vào tay đứa con gái sáu tháng của tôi, một tờ giấy bạc to nhất mới ra, của nhà nước: 100 đồng. Để thấy giá trị của 100 đồng lúc ấy: Cái áo vét còn mới của thầy tôi, ra chợ Tân Bình chỉ được 17 đồng, đủ mua hộp sữa và lkg 5 gạo. Tôi đã dứt khoát từ chối, dù là tôi không có tiền, nhưng Chăn đã nói rõ ràng:

– Tôi không đưa tiền cho anh chị! Đây là tiền của một ông chú, cho đứa cháu gái! Anh chị không có quyền từ chối! Chỉ có nó, nhưng nó đang cầm, với đôi mắt long lanh vui mừng!

Nhìn tờ giấy 100 đồng con Mai Lynh đang mân mê cầm, tôi liên tưởng đến hình ảnh Lầu chí Chăn, chui vào kho vẹc-ni múc ra một ống bương veni, gần hai lít, ở trại trung ương số 1 Lào Cai. Và gần nhất, Chăn đã khênh cả một bao tải lạc (đậu phụng) trong kho, của trại Thanh phong, Thanh Hóa.

Ăn cướp chứ không cắp, trộm lèm nhèm! Hai hôm sau, tôi đi lĩnh được một hộp quà, của bà bạn mẹ tôi, ở Tân sơn Nhất, gồm hai chục mét vải “soa” đen may quần, hai chục mét vải popeline trắng để may sơ-mi, hai lọ thuốc lao phổi. Đặc biệt có một “tuýp” thuốc đánh răng Colgate, loại kem đánh răng quý báu, có thể chữa được chứng đau bụng “khan “, nghĩa là không phải đau bụng đi ngoài (lỏng).

Rất nhiều anh em, kể cả những anh chàng tu sĩ, chủng sinh, người dân tộc, khi bị đau bụng bất thường, trại không có thuốc, bấn quá đã lấy thuốc Colgate uống, mà lại khỏi. Và rồi sau đấy, cứ đau bụng nhiều người uống khỏi, để trở thành thuốc đau bụng thần diệu, ở trong tù.

Cho nên trong cuộc sống chuyện gì cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Người ta vẫn nói: “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí “, nhưng kỳ này, tự nhiên Lầu Chí Chăn mang đến cho 100 đồng, rồi người bạn của mẹ, từ mãi bên Mỹ lại gửi cho quà.

Tôi chạy ra nhìn bông hoa mai Tứ Quý đỏ chót, đang lắc lư, rung rinh với gió. Một ý tướng mơ hồ, lảng vảng vào tâm hồn tôi: “Có còn niềm vui, niềm may mắn nào nữa không? Xin thỉnh cầu!” Kỳ này, chúng tôi mua được một số thuốc cho mẹ, trước đây không đủ tiền mua, cháu Lynh cũng thế, sữa hộp được tăng cường lên hai hộp một tuần. Em Hoa và tôi cũng “bốc” với hương đời một tí, cho nên chúng tôi dám thưởng thức những con cá chiên nóng đòn, những quả cật, qủa tim, lòng heo còn tươi rói.

Bữa cơm, nhìn mẹ tôi ăn những miếng thịt kho tầu mà hằng năm, người không nghĩ đến, ruột tôi nở ra từng khúc. Trông nét mặt người hân hoan, lòng tôi mát dịu như được đón nhận làn gió sớm mùa xuân, dù rằng số tiền bán mấy chục mét vải cũng chả được bao nhiêu.

Vả lại, “tiền vào nhà khó, như gió vào nhà trống” nhưng trong cảnh mẹ, con và vợ như những cây rừng, lâu ngày nắng hạn, cằn cỗi, tại sao có chút nước, lại cất đi, để dành?

Chỉ hơn một tuần sau, tôi nhìn mẹ tôi, nhìn con, nhìn vợ tôi và ngay tôi đã có khí sắc như mọi người. Cảnh sống bươn chải cực khổ, lầm than thì gia đình nào cũng vón cục lai, kể cả anh em, ruột thịt, bạn bè, ai cũng phải tự lo để tồn tại.

Một buổi chiều tối vợ chồng Phạm Lộc đến báo cho tôi biết, chuyến đi sẽ vào ngày 26-11-1982. Đúng 2 giờ chiều sẽ đón tôi tại một địa điểm, trên đường Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận. Chỉ còn hai ngày nữa để chuẩn bị. Theo yêu cầu của mẹ tôi, và cũng là ý định của tôi, ngày mai tôi sẽ dẫn mẹ tôi, vợ con tôi ra thăm mộ và đọc kinh, cho thầy tôi.

Hôm sau Hoa cũng phải lo mua một cây nến, ba nén nhang và một bông hoa hồng. Chẳng biết ý tưởng của tôi thế nào, tự nhiên tôi vào bếp lấy con dao ra, tôi chọn, tìm một cành mai đưa ra cho thầy tôi. Có thể khi ấy, tôi nghĩ tới những ngày người còn ở với mẹ con tôi, cả tới khi tôi đã cưới vợ. Tôi thường thấy thầy tôi đứng ngắm nghĩa cây mai thật lâu, sau mỗi lần người làm một điếu thuốc lào. Tôi đã chọn một cành mai, tôi ưng ý nhất, cắt mang ra mộ, gọi là thể hiện tình người con trai hẩm hiu, đối với phụ thân trước khi ra đi vào đại dương nhiều bão tố, và nhiều những sự việc không biết trước.

Hoa bế con, một tay tôi xách chiếc lẵng có cành mai, nến, nhang và một đóa hồng tươi duy nhất. Giống như thăm mộ cụ Ngô và ông cố vấn. Một tay tôi dắt người mẹ bất hạnh của tôi, chúng tôi bồng bế, dắt díu nhau lần mò ra nghĩa địa Nam Hòa. Mới có hơn ba tháng, từ ngày xây mộ, thế mà hôm nay, cỏ đã mọc um tùm. Tôi để mẹ tôi ngồi ghé trên mộ, tôi dọn sạch cỏ chung quanh, cả mấy ngôi mộ bên cạnh, hàng xóm của thầy tôi. Hoa vừa bế con, vừa thắp nhang đốt nến, mùi nhang lẫn vào cỏ tươi vừa mới vặt, tôi có cảm tưởng là mùi của thầy tôi, sau mỗi lần người hút thuốc lào.

Một điều cũng hơi một chút lạ, tôi thấy như có sự trùng hợp, khi chúng tôi râm ran đọc kinh, theo nghi thức tôn giáo. Một con bướm trắng có hai cái lông mào trên đầu, đỏ như cái mầu bông mai Tứ Quý ở nhà, con bướm cứ lượn lờ đến mấy vòng quanh ngôi mộ. Hai chiếc cánh trắng như đôi mắt con nai rừng, cứ nhắm vào rồi lại mở ra nhìn tôi trừng trừng. Tôi đã ôm lấy mẹ tôi, tay người lần hạt, miệng người vẫn mấp máy đọc kinh, nhưng hai dòng lệ lại giàn chảy ra, từ đôi mắt hoắm sâu của người.

Tim tôi như muốn ngừng lại, niềm xúc động cuồn cuộn tràn ứ, làm mờ cả mắt tôi. Tôi nói hết làm sao được lòng thương yêu, của tôi với người. Người sẽ phải vĩnh viễn, sống trong đêm tối! Âm thanh càng đào, càng khoét, càng quấy, chọc trái tim quắt queo, như chiếc lá môn khô già, đang thối rữa của người. Mẹ ơi! Con thương mẹ lắm! Óc của tôi ngắc ngoải tiếng gọi đó, nhưng miệng của tôi không phát được ra thành lời.

Hôm nay, không những tôi kính chào, từ biệt thầy tôi nằm dưới mộ, tôi cũng kính chào từ biệt người mẹ mù lòa, tôi hiểu tôi ra đi trái tim của người càng tàn lụi, thối rữa thêm vì nhớ thương. Nhưng mẹ tôi đã thể hiện quyết tâm rồi, người còn đủ sáng suốt để phân định, giữa nghĩa nước và tình nhà.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 10 Nov 2023

Thầy về với tổ tiên

Đặng Chí Bình

Bài 43

Rồi tôi chui tuột vào trong giấc ngủ Nam Kha lúc nào không hay, bỗng nghe có tiếng gọi giật gọng của mẹ tôi:

– Bình! Bình! Bình ơi!

Mắt nhắm, mắt mở, tôi chồm xuống thang, lật màn mẹ, thì mẹ tôi đã nói như thúc giục:

– Con xem thầy con thế nào?

Tôi quay vội sang màn thầy! Thầy tôi nằm xoay ngang ra cái giường, người đang khò khè lúc to, lúc nhỏ, tôi vội ôm thầy tôi, đặt nằm ngay ngắn, gối đầu cho người cẩn thận. Tôi hướng sang màn mẹ tôi, nói khẽ:

– Con đã đặt thầy, nằm thẳng lại rồi.

Nói rồi tôi mò lên gác vì mệt và buồn ngủ quá! Chừng hơn một giờ sau, tôi còn đang chập chờn ngao du vào xứ mộng, thì mẹ tôi lại gọi nữa:

– Bình ơi! Con, con xuống xem thầy ra sao? Mẹ thấy khác thường lắm!

Tôi cũng thấy trong lòng một cảm giác lạ thường, vừa nóng, vừa lạnh như trong mùa Đông không đủ áo. Tôi hấp tấp leo xuống thang, nhìn vào màn thầy, thầy tôi vẫn nằm trong tư thế khi nãy, tôi cầm tay thầy tôi gọi khẽ:

– Thầy ơi! Thầy!

Không còn có tiếng khò khè lúc trước, tôi gọi to hơn:

– Thầy, Thầy ơi!

Tôi để một ngón tay vào mũi người, người không còn thở nữa, tôi quay sang màn mẹ tôi, nói trong nước mắt:

– Mẹ ơi! Thầy đã chết rồi!

Mẹ tôi gào lên:

-Ối ông ơi! ông bỏ tôi… ông đi!

Mẹ tôi vật vã, gào thét, tôi vào ôm lấy mẹ tôi, cổ tôi nghẹn lại không nói ra lời, nhưng nước mắt của tôi cứ cuồn cuộn giàn ra. Bà Chức đã chạy sang, tôi chỉ kịp quay lại nói:

– Mẹ trông nhà giùm con, con sang nhà cô chú Tuất, con về ngay.

Sang tới nhà cô Xuân bên Lăng Cha Cả, tôi đập cửa, mới 5 giờ sáng, tôi chỉ kịp nói với em Xuân: “Thầy chết khoảng 4 giờ sáng!”. Vội vàng, tôi dặn thêm:

– Em cho các cháu đi báo cho cô Thu, mợ Út, họ hàng. Em bảo con Lan hay thằng Cường lên Hồng Ngự báo cho chị Hai và các cháu nhà thím Lý.

Tôi phóng vội về nhà vì nhà không có một ai. Về đến nhà thì đã đầy người, bà con, hàng xóm, không biết ai báo. Cô Thu đang ôm mẹ tôi ở trên giường, người cứ vật vã, khóc không còn ra tiếng nữa. Chỉ là những tiếng khào khào, như tiếng con ngan đực gọi vợ, gọi con, gọi đất trời!

Càng về trưa, nhà tôi đông nghẹt các ông, các bà, không có trầu mà cũng chả có nước uống, nhưng tất cả mọi người đều thông cảm cho cảnh huống neo đơn của gia đình tôi. Nhìn đám đông các ông bà già cả, trẻ con, người lớn, xúc động, tôi thấy được nghĩa tình của xóm phố, luồn sâu vào trong đó có cả cái nghĩa của người cùng một nước.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương.

Người trong một nước, phải thương nhau cùng.

Một mặt khác, cũng phải có một sợi tơ tình nhỏ bé là trước đây cuộc sống của bố mẹ tôi đối với xóm giềng cũng phải có tình, có nghĩa, có thủy, có chung.

Những anh em biệt kích và những bạn tù địa phương ngoài Bắc của tôi, như Tuấn Nguyệt, Mạc Lịch v.v… cũng đến viếng xác thầy tôi. Chắc anh này báo cho anh kia, tôi không thể báo được cho ai. Điều này cho tôi càng thấy rõ: Trong cuộc sống tiền tài, vật chất thật là quan trọng, nhưng xuyên suốt toàn bộ, tình và nghĩa là quan trọng nhất, là Kim Chỉ Nam của kiếp sống con người.

Do cuộc sống quá cực khổ, lầm than dưới nanh vuốt của con Hồng Tuộc, hầu hết người dân thấy tiền là trên hết:

Tiền là Tiên….là Phật…là sức bật…v.v…

Nó chỉ đúng 80 – 90 phần trăm, chứ dứt khoát không phải tất cả Trước đây ông bà mình có câu: “Có tiền….mua tiên cũng được!”

Nhưng chắc chắn không thể mua được lòng Trời, dù cho có bao nhiêu tiền, chúng ta dù ai, cũng phải thừa nhận: Có những sự việc, những loại không phải có tiền mà mua được! Có những loại tình, loại nghĩa không thể mua được bằng tiền. Sự già, sự trẻ, chết và sống v.v. . . Đầy dẫy những thứ không phải từ đồng tiền.

Do những tấm lòng của thân nhân, họ hàng, bạn bè và bà con xóm giềng, có cả Cha Bình, Cha làm phép cưới cho tôi và Hoa, Cha vào làm phép xác tại nhà. Ba ngày sau đưa thầy tôi ra nghĩa địa ở Nam Hòa. Đi theo đám, ngoài mẹ tôi (có cháu Lan dìu), các em, các cháu, họ hàng và bà con thân thuộc. Tôi là người con trai duy nhất chống gậy, đội mũ rơm đi sau quan tài.

Có một số điều kỳ diệu:

– Thầy tôi cố chờ tôi tròn 20 năm (1962- 1982)

– Cháu đích tôn của người vừa ra đời ngày hôm trước, thì người vào cõi vĩnh hằng, ngày hôm sau.

Như thế sau này, cứ ngày sinh nhật của cháu Mai Lynh, hôm sau là ngày giỗ của ông nội.

Cũng thật là một sự việc khó quên, hai mẹ con Hoa ở nhà thương về phải ở bên bà nhạc. Thậm chí khi đưa đám thầy tôi rồi, mà mẹ tôi dứt khoát chưa cho mẹ con Hoa về nhà, vì người không muốn bà đẻ có hơi hướng tử khí. Người muốn phải để một vài ngày, cho không còn hơi hướng và phải rẩy nước phép cả trên gác dưới nhà. Tôi hiểu không hợp lý tình lắm giữa tâm linh và khoa học. Tốt nhất là tôi phải vâng theo ý của người, nhưng chắc chả ai cấm được cái chân và khóa được trái tim của tôi, với vợ và con gái yêu của tôi. Thành ra trong ba ngày tôi phải phục tang, hễ khi nào nghỉ ngơi, ăn uống là tôi thay quần áo tang, để chạy vội sang chuyện trò với vợ con, một ngày chả biết mấy lần.

Con gái cưng của tôi nó như con chó con, cái mũi tí hon, cái tay bé tí, đôi mắt của nó nhỏ xíu, long lanh như hai hạt kim cương, cứ trừng trừng nhìn tôi. Con ngươi của nó, chuyển hết từ mầu hồng sang mầu xanh, rồi chuyển lại mầu hồng như muốn nói:

– Con đã biết, bố là bố của con rồi nhé!

Tôi cúi xuống thường cho nó một cái hôn nồng nhiệt, con gái của bố mới có bốn, năm ngày mà đã thông minh thế!

Một lần tôi bế nó trong lòng, nó dám run rẩy giơ bàn tay “ngọc” lên cằm sờ râu của tôi (mấy ngày lo đám ma, không cạo). Tôi tức mình “quắc”mắt lên “lườm” nó, như muốn cho nó biết “oai” :

– “Cô nương” dám sờ râu “cọp” à?

Lườm thì lườm, nhưng tôi vẫn hôn lấy, hôn để, cái mùi thơm từ khi lớn lên tới giờ, tôi chưa bao giờ được ngửi mùi thơm kỳ diệu, nó như. . . . . .tôi chịu, tôi phải nhờ những nhà văn nào có tài, may ra mới lột tả được! Tôi chỉ thấy nó. . ..tuyệt vời lắm, như hơi của “tiên nga” vậy.(Tôi đã được hôn đâu, mà biết?).

Sau đám tang của thầy tôi chừng một tháng, một hôm thằng Lợi mách và bầy mưu cho tôi:

– Tao có quen một bác tên là Nhiên, bác thầu nhiều công trình để tu sửa, bác là người của chế độ cũ, nên bác trả lương cho người công nhân, rất “biết điều”. Hiện nay bác đang thầu sửa chữa bệnh viện tâm thần ở Biên Hòa, tao có nói chuyện về mày, bác sẵn sàng giúp đỡ mày! Bác sẽ cấp cho mày cái giấy, nhận mày vào làm công nhân sửa chữa. Mày có giấy này, mày làm đơn xin với công an xem nó có cho mày đi một tuần. Cứ một tuần về trình diện một lần, có giấy chứng nhận mày làm việc, ở bệnh viện tâm thần Biên Hòa!

Tôi đã làm một lá đơn, đầy đủ tình lý lên Tiểu Ban Quản Lý Những Người Học Tập Được Về, rồi ra Phường, lên Quận, xuống CA khu vực, cả chữ ký của ông trùm Lộc (khu phố), lại lên Thành gần một tháng trời, đi về. Cuối cùng, tôi được chấp nhận cho trình diện mỗi tuần, với điều kiện phải có giấy xác nhận của Bệnh Viện Tâm Thần Biên Hòa, hàng tuần.

Đúng là đường đi của tôi từ chỗ lội bì bõm bùn lầy đã lên đường đi, dù là đường đất nhưng không còn chỗ lầy lội. Tôi đã được gặp bác Nhiên, bác chừng 60 tuổi, bác đang ở tạm tại nhà của một đại úy công an, trong khu Tam Hiệp gần bệnh viện tâm thần Biên Hòa. Tôi cũng được quen biết vợ chồng Phạm Lộc là con của bác Nhiên. Vợ của Lộc là cô Liên, cả hai vợ chồng đã lên nhà tôi chơi nhiều lần ở Ông Tạ. Để tiện công việc làm ăn, tôi cũng được ăn ngủ ở nhà anh đại úy CA, với bác Nhiên.

Anh đại úy CA này tên là Trường, người Lái Thiêu, vợ của anh là chị Hiền, là con gái của một ông Giám Đốc hay Thứ Trưởng Bộ Y Tế thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. (Được biết, ông này ngoại giao giỏi, nên ngoại quốc giúp đỡ thuốc men nhiều, vì thế CS vẫn dùng để ông này xin thuốc). Cuộc tình giữa con gái của một thế gia, với một đại úy CA, hẳn cũng có nhiều vấn đề xã hội. Anh chị Trường + Hiền ở một căn nhà to có vườn cây chung quanh, anh chị đã có hai đứa con bốn năm tuổi.

Hàng ngày, tôi đi làm với bác Nhiên, bác phụ trách một đội công nhân tu sửa bệnh viện, chừng gần hai chục người. Anh Trường và tôi thường hay tâm tình, anh thường vui vẻ nói đùa: “Anh (chỉ tôi) 18 năm tù, còn tôi cũng suốt 18 năm đi phục vụ Cách Mạng, sống heo hút trong núi rừng “.

Anh Trường có cái thú uống trà và hút thuốc lá ba số 5, ở một phòng khách nhìn ra vườn cây. Những ngày mưa dầm, những đêm trăng tỏ, tôi và anh đổi trao hai mảnh đời ở hai chiến hào đối nghịch. Và hiện nay, anh ở phía chiến thắng có tiền, có quyền, có vợ đẹp con khôn. Tôi ở phía chiến bại, không tiền, mất quyền công dân, hàng ngày đi làm cu- li, nắng mưa trèo leo, chui rúc để kiếm miếng cơm cho mình, cho mẹ già và vợ dại con thơ. Cứ chiều thứ Sáu, cùng với “ông” xe đạp ra tầu, đi về với vợ con để chiều Chủ Nhật, trở lại bệnh viện làm cu- li.

Những buổi sáng, những buổi trưa, ngồi nhâm nhi ly trà hoặc cà phê “vị đời” trong những quán nước trước cổng bệnh viện chờ giờ mở cửa. Đủ mọi thành phần công nhân, chuyên môn, cán bộ, từng nhóm ồn ào hay trầm lắng. Do những “vi ba” của sóng mắt, tôi quen biết một cậu tên là Lê Hiệp. Cậu có nước da bánh mật, chừng 29- 30 tuổi, đôi mắt cậu “lắng đọng” trầm ngâm, hay dõi nhìn những đám mây trời đen trắng.

Để rồi tôi được biết cậu là bác sĩ chuyên về não bộ, cậu còn là bí thư chi đoàn thanh niên Cộng Sản của bệnh viện. Cậu là con một điền chủ, của một cơ sở cách mạng thuộc tỉnh Cần Thơ. Cậu đã có ba năm y khoa dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mấy năm cuối và ra trường dưới chế độ này. Như tôi đã trình bày quan điểm từ trước: Nếu muốn tiếp xúc với cuộc đời bằng những bàn tay xòe mở rộng, thì sẽ gặp những bàn tay mở rộng, xòe cả năm ngón. Ngược lại bằng những bàn tay nấm chặt khư khư, thì cũng sẽ có những nắm đấm đối xử lại. Gieo bắp thì thu lượm bắp, gieo lạc thì sẽ thu hái lạc.

Sau khi cậu biết tôi từ trong hang tối chui ra, cậu lại rất quý mến, nhiều buổi cậu đã bỏ những đám bác sĩ, y tá áo trắng đồng nghiệp để, đến bàn một anh chàng cu- li, người chẳng giống ai để tâm tình, trò chuyện. Qua nhiều những dò dẫm, lòng ướm thử lòng, cậu đã nói rõ:

– Anh tìm được đường nào “oversea”, anh báo, gọi em sẽ theo anh. Ngược lại, nếu em có “mối” có “đầu”anh sẽ đi với em !

Nhiều những ước định hẹn hò thỏa thuận, nếu như mưa thuận, gió hòa, gặp thời cơ thì sẽ nẩy mầm sinh hoa, kết trái cho đời. Cậu là một người trí thức đã đắm mình trong lò máu mê và độc dược, của con Hồng Tuộc. Điều cậu băn khoăn khắc khoải nhất là: Hiện nay dân tình lầm than đói khổ, xã hội bị khóa chặt trong một căn nhà. Người dân bị bịt mồm, bịt mắt, thuần phong, đạo lý bị đảo lộn, tình người như nắng hạn kinh niên.

Vậy tại sao cái chế độ phản dân chủ đó vẫn tồn tại? Tôi hiểu đây là một vấn đề lớn của đất nước, và của thời đại, không thể vội vàng hồ đồ thiếu sàng lọc cân nhắc! Vì thế tôi xin hẹn cậu một bữa khác, sẽ cho cậu biết cái chủ quan hạn hẹp của tôi.

Ở giữa mảnh vườn rộng, nhà đại úy công an Trường có một căn nhà con, chắc xưa kia là nhà để hạt giống và dụng cụ làm vườn. Vì tôi thích thoải mái, phóng khoáng nên tôi đề nghị với anh Trường và chị Hiền, tôi dọn dẹp và sửa chữa căn nhà đó, kê được một cái giường và một số đồ lặt vặt. Tôi sẽ ra đó ở và ngủ đêm, để nghe chim hót, côn trùng ca nhạc và những tiếng thì thầm, trong đêm thâu của cây vườn.

Đã hơn ba tháng, căn nhà với tôi đã hít thở, đánh hơi nhau như người nhà, như bạn bè gần gũi thân quen. Một đêm vào khoảng 2 giờ sáng, tôi còn mê mệt sau một ngày leo trèo trên mái nhà, để đảo ngói (vì dột) một căn nhà rộng, thuộc khu da liễu của bệnh viện. Bỗng có nhiều tiếng huỳnh huỵch của bước chân, tiếng lách cách của sắt thép, rồi tiếng hô giật giọng, của một người giọng Bắc rặt:

– Bò dậy và giơ tay lên!

Tôi choàng ngồi dậy, ánh đèn bấm loang loáng, hai người đứng đầu và cuối giường, lăm lăm chĩa hai khẩu AK 45 vào tôi. Hai người nữa đeo súng ngắn, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí, chúng bắt tôi đưa giấy tờ, tôi chẳng có một giấy tờ gì, ngoài cái giấy ra trại của bộ nội vụ. Thấp thoáng phía bên ngoài còn hai tên nữa, cũng lăm lăm hai khẩu CKC thập thò ngoài cửa. Hai tên đeo súng ngắn, đeo lon thiếu úy và trung úy, chúi đầu xem tờ giấy ra trại rồi chúng nhìn nhau. Bốn mắt chúng vừa như vui mừng, vừa như ngơ ngác nhìn một con thú lạ, mà chúng chưa xác định được, là loại gì?

Chúng bật hẳn đèn điện lên, dù ngọn đèn chỉ có 25 watts cũng đủ để thấy rõ mắt của hai tên cầm giấy càng trắng ra, như không tin vào đôi mắt của mình. Tên trung úy cầm giấy, còn chiếu đèn bấm vào cái giấy ra trại, của tôi xem lại. Tôi suy đoán qua thái độ của hai tên chỉ huy, giấy này là của bộ nội vụ, nghĩa là từ trung ương Hà Nội. Mười tám năm tù giam từ 1962, từ khi chúng còn là một cậu bé 9 – 10 tuổi, cái tội gián điệp, chỉ cái từ này hình như đã “dị ứng” với chúng ở giai đoạn ấy.

Mấy ngày nay, anh Đại úy Trường CA đi công tác xa không có nhà, hai tên đeo súng ngắn thì thào với nhau một lúc, rồi chúng yêu cầu tôi theo chúng về đồn. Hai tên mang CKC đi trước, hai tên cầm hai khẩu AK theo phía sau. Khi trở về sân nhà, chị Hiền và bác Nhiên nhìn tôi đi giữa 6 người súng ống, mặt lầm lì. Bác Nhiên và chị Hiền nhớn nhác lo sợ. Tôi bình thản nói với chị Hiền và bác Nhiên:

– Chị và bác giúp tôi, cho người về Sài Gòn báo cho vợ tôi biết nhé! Và cứ yên tâm!

Chúng dẫn tôi đến một chiếc xe đò Đồng Nai, đã xỉn mờ đi hai ba chữ, đậu khuất nẻo trong một khóm tre đầu ngõ. Thái độ của chúng đẩy tôi lên xe, súng ống bố trí trước sau, cứ sợ như tôi chạy trốn, tôi đã định ghé vào tai tên Trung úy người Bắc nói cho y rõ: “Tôi đã làm đơn trở lại nhà tù từ 7- 8 tháng nay rồi, tại sao tôi lại chạy? “.

Tuy vậy, tôi cũng thấy lóe ra một vấn đề của anh Đại úy Trường, đang đêm súng ống vào nhà một Đại úy CA để bắt người, lại bắt vào lúc anh không có ở nhà, kết hợp với những đổi trao tâm tình nhiều lần giữa anh và tôi. Chúng dùng một tên người Bắc chỉ huy vụ bắt bớ này, rõ ràng chúng đã không còn tin tường hoàn toàn vào anh Trường! Anh vẫn có, vẫn còn cái tính bộc trực thắng thắn của người miền Nam. Anh lại lấy con gái của một công chức cao cấp của chính quyền “ngụy” thì hẳn những quan hệ, những giao tế sớm muộn dần dà đã nẩy sinh tự nhiên trong cơ thể của anh một số chất “miễn nhiễm” đối với những nọc độc, thuốc lú, thuốc mê của chủ nghĩa CS bịp bợm.

Về tới đồn CA mới gần 4 giờ sáng, trời hãy còn tối đất nên chúng giam tôi vào một cái buồng con bằng tre, nứa phía sau đồn. Nhìn những phên nứa, nhìn những dây lạt buộc những thanh tre của cửa và vách. Tôi tự nghĩ nhà giam tôi lúc này, không phải là căn buồng này, mà là cái đầu của tôi thôi.

Cho tới trưa ngày hôm sau, chẳng có ai hỏi han gì đến tôi, thoáng mấy tên CA đi lại từ xa, tôi gào gọi để hỏi, thì tên nào cũng trả lời không biết! Cũng chẳng có cơm nước gì! Mãi tới chiều mới có tên tù hình sự, đưa vào cho tôi một bát cơm gạo hẩm, với miếng cá khô. Đói khổ đã quen, nên không trở thành vấn đề lấm! Chỉ cần ngày một bát cơm như thế thì tôi chịu được.

Đúng như rằng, ngày hôm sau, cũng chẳng hỏi han đến và cũng chỉ một bát cơm hẩm như vậy. Nhưng tôi tin rằng với những phương tiện liên lạc có thể như điện tín, hay xe cộ v.v. . . chúng đã hỏi hay báo về Biên Hòa; có khi về tới Sài Gòn rồi.

Sáng hôm sau nữa, khoảng 10 giờ, một tên CA vào mở buồng, giọng Biên Hòa rổn rãng:

– Anh mang hết đồ đi ra ngoài!

Ra đến sân đồn, y dẫn tôi vào một văn phòng, cậu Tập đang ngồi với một tên Trung úy CA, quay ra cười với tôi. Tên Trung úy CA, cầm tờ giấy ra trại của tôi, y cười rồi đưa trả lại tôi. Cậu Tập đứng lên bắt tay với y, rồi ra hiệu cho tôi theo cậu ra sân. Tôi cũng chẳng cần chào tên Trung úy, bốn năm tên CA nữa thập thò phía trong, cậu Tập dẫn tôi đến một chiếc Honda dựng ở một góc sân. Ý của cậu Tập là đưa ngay tôi về Sài Gòn vì bà cụ (mẹ tôi), vợ tôi đang nóng lòng mong đợi tôi ở nhà.

Tôi đề nghị cậu Tập, đưa tôi vào Tam Hiệp đến nhà chị Hiền đã, và cái tôi cần giải quyết đầu tiên, khi nhìn thấy một quán nước bên đường. Tôi đã ăn hết một cái bánh tét và ba quả chuối tiêu to. Tất cả 1 đồng 20.

Bác Nhiên và anh Trường không có nhà, chỉ có chị Hiền và mấy đứa nhỏ, nội dung sự việc:

Đã từ lâu CA Biên Hòa đã rình để bắt Cao Xuân Huy (hiện ở Califomia, viết “Tháng Ba Gãy Súng”). Được báo Huy là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, đang bí mật tổ chức vượt biên, chúng dò được Huy vẫn lén lút đi về ẩn náu trong nhà của Đại úy CA Trường. Anh Trường lại là phó phòng ngoại vụ, của sở CA Biên Hòa, nhưng đã có nhiều biểu hiện tiêu cực, nên chúng để lại như một hình thức; mà không còn thực quyền. Chính vì những mâu thuẫn lằng nhằng này nên chúng đã vồ “hụt” Cao Xuân Huy, nhưng lại vớ được tôi, một tên gián điệp do CIA đào tạo, đã ở tù 18 năm ngoài Bắc. Giấy còn ghi rõ, không có quyền công dân trong 5 năm.

Ngay ngày hôm chúng bắt tôi, bác Nhiên đã mang giấy chứng nhận của bệnh viện tâm thần Biên Hòa: “Tôi là công nhân hàng ngày làm việc, trong đội sửa chữa của bệnh viện”. Anh Trường về đã giận dữ phản đối. Tóm lại với giấy tờ thật của bộ nội vụ, và sự xác nhận của bệnh viện Biên Hòa, chúng đã biết bị lầm. Nhưng từ xưa những việc chuyên chính với thành phần đối kháng, thì lầm cũng không bao giờ có lỗi.

Cậu Tập, là ủy viên tài chánh của một phường, ở Sài Gòn lên lĩnh cháu về. Dù sao tôi cũng biết ơn cậu Tập, đã có công lên đón tôi về, đã nói lên tấm lòng của cậu mợ, quan tâm đến đứa cháu rể.

Sau này nói chuyện lại, lúc đầu bác Nhiên, chị Hiền và cả anh Trường tưởng tôi bị bắt, vì do tôi bí mật hoạt động gì đó, nên mọi người đều xanh mắt lo lắng. Khi biết rõ là lầm, bác Nhiên mới lo giấy tờ xác nhận của bệnh viện, anh Trường mới nổi nóng phản đối, vào nhà anh, một đại úy CA để bắt tội phạm. Điều này cũng đã nói lên nhiều vấn đề.

Tôi lại tiếp tục hàng tuần đi làm việc ở bệnh viện tâm thần Biên Hòa. Một buổi sáng, tôi và mấy người lúi húi sửa tường và mái của một căn nhà kho, trong một cái hẻm của bệnh viện, thoáng một bóng trắng từ khu nhà thí nghiệm len lỏi vào chỗ chúng tôi đang thi công. Từ xa tôi đã biết là bác sĩ Hiệp, tôi tiến ra, cậu đã vồ lấy tay tôi, như gặp lại một người thân lâu ngày xa cách:

– Anh làm em mấy đêm không ngủ, em lo cho anh quá!

Giọng miền Nam của cậu đã được giao thoa, trong cộng đồng dân tộc, nghe như mưa rào cuối xuân của Đà Lạt. Mai là ngày nghỉ của cậu, cậu có nhã ý muốn tôi đến chỗ cậu ở trong đêm nay, trưa mai cậu sẽ đưa tôi trở lại bệnh viện để làm việc.

Cái chính là, những lần trao đổi tâm tình với cậu, tôi tỏ ra là người rất say đắm thiên nhiên, cậu cũng đồng quan điểm thưởng ngoạn như tôi. Theo cậu, nơi cậu ở hiện nay, phong cảnh rất có nghĩa tình với cậu, nên cậu muốn tôi cùng thẩm nhận với cậu, như cùng khao khát một món ăn của tinh thần.

Tôi biết ngoài những công việc chuyên môn bận rộn, lại ôm một trọng trách là bí thư, của chi đoàn thanh niên CS của cả bệnh viện, phải là một người đỏ cả chân tay, mặt mũi, nếu không (ít ra con Hồng Tuộc đã tin) cơ thể, tim, óc của cậu đã được ướp ngâm, dầm trong rãi, rớt đầy nọc độc, mê, lú của nó, như đã được cấy “sinh tử phù “.

Bác Nhiên đang có mặt ở trong nhà kho, tôi vào tỏ ý xin nghỉ buổi sáng mai, bác sắp sếp người thay tôi. Bác Nhiên đã nhìn thấy bác sĩ Hiệp, đứng nói chuyện với tôi, Hiệp lại là thành phần lãnh đạo của bệnh viện, nên bác vừa gật đầu, vừa chớp con mắt, đang nhiều lòng trắng của bác, như một dấu “hỏi” to tướng và đen ngòm. Tôi lại trở ra với Hiệp, ngay sau buổi làm chiều hôm ấy, tôi gửi “ông “xe già của tôi ở một buồng quen.

Tôi và Hiệp rong ruổi trên chiếc Honda, trở về xã Bình Trước Biên Hòa. Không ngờ chỗ Hiệp ở, gần rẻo một nhánh của sông nước Đồng Nai, những cây trái và những ngọn dừa, cành lá rung rinh xào xạc như reo vui, mừng đón chúng tôi về. Mới nhìn thấy cảnh mà lòng tôi đã lâng lâng dạt dào cảm xúc, chả trách Hiệp đã ngẩn ngơ ca tụng, với tôi mấy lần. Nhà Hiệp mướn là một căn nhà nhỏ, xinh xinh ở cách gần 100 mét, một xóm quần tụ gần hai chục căn, lẫn lộn nhà gỗ và nhà gạch. Ở giữa khu xóm là một căn nhà cao, có lá cờ đã ngâm trong máu, đã ướp nhiều độc dược và thuốc mê. Nhìn lá cờ đang ngoe nguẩy giẫy dọn trên mấy ngọn dừa, tôi có cảm tường nó đang rắc những phấn độc, phấn lú để mọi người không thể nhìn rõ được thân hình, tim gan của nó.

Trong nhà của Hiệp chỉ có sách vở và treo những hình ảnh của Marx, Engel và Lénine to tướng ở trên cao, phía dưới lúc nhúc 7- 8 tấm hình nhỏ hơn, của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam trong đó có ông già không có gia đình, nhưng lại có nhiều vợ nhiều bồ và con rơi. Một chiếc tủ con hầu hết là sách vở chuyên môn y khoa của Liên Sô, Tiệp, Đức v.v. . . Một chiếc tủ to, nhiều tầng đầy sách đã phì hơi của chúng ra đầy phòng, mùi tanh của máu và súng đạn, thoáng có cả cuốn Tư Bản Luận, và cuốn Lénine Toàn Tập.

Hiệp xuống bếp vào buồng, lo chuyện của chủ nhà, khi ra nhìn thấy tôi đang tần ngần ngắm nhìn những tấm hình, Hiệp tiến lại gần hạ giọng:

– Chiếc áo choàng của em đấy mà!

Tôi quay lại, lắc đầu, dịu dàng nhìn cậu:

– Hiệp không cần thanh minh! Bây giờ, anh em mình định ăn món gì?

– Vì không định trước, chỉ có cá lóc kho và có ít sò huyết hôm qua.

– Tôi hỏi vậy thôi? Món ăn “tinh thần “ngoài kia, còn nhiều quá! Vậy “vật chất” chỉ cần qua loa, ăn ít cái này thì mới ăn nhiều cái kia được!

Tôi xắn tay, chạy xuống bếp cùng với Hiệp loay hoay làm một bữa cơm “nhẹ chất, nặng tình”. Nhìn một rổ sò huyết, tôi không tin Hiệp lại tìm mua những thứ này. Nó không biện chứng, hợp lý với một người chỉ cặm cụi vào học hành, sách vở lại còn yêu thiên nhiên? Nghĩ thế tôi hỏi thử sự suy đoán của mình:

– Hiệp cũng chịu khó, tìm được món sò huyết rất quý!

Hiệp đang thái hành, ngẩng lên nhìn tôi đăm đăm, như xét đoán cách nói và thái độ, của tôi là thực hay đùa? Rồi Hiệp chậm rãi:

– Có bao giờ em lại đi mua những thứ này! Họ biếu, họ tặng nhiều thứ lắm! Em đã đẩy ra từ chối nhiều lần, nhưng không phải lần nào cũng theo ý mình. Anh quên, em là bí thư chi bộ?

Trời tháng Bẩy, cứ đòi “nhẩy” lên giường, vừa mới cơm nước xong, bên ngoài trời đã cập quạng, gà đã lên chuồng. Hai anh em dọn dẹp, chén bát xong, đom đóm đã lập lòe ngoài phên dậu.

Một điều thú vị nữa, là Hiệp với tôi lại cùng có một sở thích lạ đời “thích bóng tối “không phải để làm những chuyện mờ ám. Bóng tối thường có sự tĩnh lặng đi cùng. Mỗi khi trong cuộc sống gặp những sự việc khó khăn trở ngại, đêm thâu, tôi thích ngồi một mình, ngâm, dầm trong bóng đêm, để nghe những nỗi niềm da diết đầy vơi của nỗi buồn trong lòng, để suy nghĩ tìm một phương hướng chống đỡ, chuyển đổi những khó khăn vây quanh.

Hôm nay tôi thích đi trong đêm tối, bắt những con đom đóm để tìm lại một chút hơi hướng ngày “thơ” của tôi. Tôi đề nghị với Hiệp, trong ánh sáng của ngọn đèn 40 watts lủng lẳng giữa nhà, mắt của Hiệp long lanh như hai vì sao nhỏ, miệng cười khìn khịt:

– Em đang định rủ anh ra ngoài!

Đi với một anh đít đầu đều đỏ choét, như mặc chiếc “áo giáp” thật dầy, chống cả “lam sơn, chướng khí “. Hiệp và tôi đã đuổi bắt được mỗi người 5, 6 con đom đóm trong tiếng gió lướt thướt, dứt day với những cành lá của cây vườn. Đây đó trong bóng đêm, một vài chùm sáng lóe lên từ những ngôi nhà như những miếng bạc, miếng thiếc trong chậu mực Tầu. Một lần Hiệp đuổi vồ được một con đom đóm, xô vào một gốc cây, Hiệp cười ré lên, kéo tôi ra một đường làng, nói văng vào luồng gió:

– Em không nghĩ tâm hồn của anh còn “ngây thơ” thế?

Tôi cũng “quẳng” vào tiếng xạc xào của lá cành:

– Bù trừ kỳ diệu của cuộc đời, mà Hiệp!

Dưới ánh sao mờ, bốn người từ trong một đường giong tiến ra, đèn bấm lóe lên:

– Thủ trưởng đi thực tế tình hình!

Bốn người lại tiến vào một giọng khác! Qua dáng dấp và thập thò khẩu súng trên vai, tôi đã đoán ra rồi, nhưng Hiệp vẫn nói:

– Du kích xã này, họ đều là đoàn viên.

Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm, mới 5 giờ, trời còn tối, vừa là thói quen, vừa muốn thăm cảnh lạ, nhìn Hiệp vẫn say sưa với những chạy nhẩy của tối hôm qua, tôi lẹ làng lách ra ngoài, không gây một âm thanh. Tôi muốn gặp cây vườn để hít thở cái khí hậu mát rượi trong lành, của buổi sớm mai. Một tiếng còi tầu nhớn nhác te…..te……..cù……cú……..cu từ trong xóm, luồn vào luồng gió sớm vọng về, như gọi vừng Đông trở dậy.

Nhìn một con đường nhỏ, nhiều lá khô dẫn đến một cây đa già, cành lá xum xuê, to cao nhất vùng, tôi rảo bước tiến về phía cây đại thụ. Cây đa gốc rễ rườm rà ôm cả một khoảnh đất rộng. Một cái am quét vôi trắng, như chiếc rương con trong một cái hốc của gốc cây, có một bát nhang đã hương tàn khói lạnh. Trời êm ả dần, tôi nghe thấy cả tiếng thỏ thẻ của một đôi chim sớm, đang âu yếm dựa nhau trong một khóm lá, thập thò liếc nhìn tôi.

Phía Đông đã rạng ra, rồi đỏ dần lên rừng rực, làm vàng ửng cả lá lẫn cành đa. Một vệ đất thoai thoải dài xuống một con rạch cạn, vì nước triều đang xuống dần, tôi ngồi xuống một gốc soan, nằm nghiêng dài bên cây mít mật, đeo lủng lẳng những trái. Tôi ngồi đăm chiêu, nghe tiếng lá khô, khẽ thì thào với gió nhẹ, để chờ mảnh mặt trời ban mai bò dậy.

Tiếng con dế mèn ré lên ro ro cao vút, ở dưới gốc cây soan tôi đang ngồi, như ru hồn tôi vào cõi mộng. Một bàn tay êm ái đặt nhẹ vào vai tôi. Cậu Hiệp đã ngồi bên tôi từ lúc nào, đã làm tôi tỉnh hẳn, Hiệp nói như trách, như hờn:

– Sao anh không gọi em dậy?

– Nếu gọi Hiệp dậy, thì làm sao tôi nghe được tiếng hờn trách lúc này? Cũng như ông mặt trời hôm nay, biết là có người đợi, nên ông ở lỳ, không chịu “nhò” mặt ra.

Tôi đứng dậy kéo tay Hiệp:

– Trời còn sớm, anh em mình xuống dưới con rạch, nhìn mấy con cáy ra ràng!

Hai anh em lần theo mép nước mé rạch, tôi kéo vội Hiệp nấp vào một bụi si dại, tôi chỉ cho Hiệp một con cò trắng đang lom khom bắt mồi dưới một dòng nước cạn. Chúng tôi nín thở, lách gần đến chỗ con cò, để xem nó bắt mồi. Không phải cò mà là con hạc, hai cái chân cao lêu khêu và cái cổ dài ngoẳng.

Nó không hề biết, có hai anh chàng đang theo dõi, ngắm nhìn dung nhan của nó, rõ ràng hai cái chân của nó run lên bần bật trong nước. Tôi lại trách ngầm nó: “Anh chàng hay cô nàng, ra đây kiếm ăn sớm làm gì cho lạnh?” Nhưng tôi chợt nhận ra, không phải’ nó run. Mỗi lần cái chân phải run bần bật, cái mỏ vàng nhọn hoắt, dài đến hai ngón tay lại chộp lấy, chộp để trên mặt nước. Thì ra cái chân phải của nó giậm xuống bùn cát, để xục những con mồi chạy tóe lên mặt nước, cho cái mỏ nó chộp.

Tôi chợt nhớ, ngày tôi còn 7- 8 tuổi, có lần đi học về trên con đường làng, dọc theo con sông đào, đầy bèo bồng. Tôi đã mải mê theo ông đánh giậm hàng giờ, chân của ông cũng giậm giậm cái càng tre như con hạc bây giờ.

Hiệp ngửng lên nhìn tôi, đôi mắt lấp lánh trầm trồ:

– Lần đầu tiên em nhìn thấy!

-Ở tù mất nhiều năm, nên tôi cũng là lần đầu!

Hiệp nói, chỉ hơn 100 mét nữa là ra sông Đồng Nai, vì đây là cửa của con rạch. Trên đường đi, có lẽ hình ảnh con hạc vẫn còn chen chúc trong óc của Hiệp, nên quay sang hỏi tôi:

– Có phải hạc làm chân nến, ở đền thờ phải không anh?

– Đúng! Vì chân dài, cổ cao, hơn nữa dáng của hạc sang và đài các hơn là cò.

Con sông Đồng Nai đã nằm ngửa, phơi mình phía trước mặt, làn gió hè vẫn nhè nhẹ phe phẩy lá cành. Dòng sông rộng, nhìn bờ bên kia hãy còn mờ mờ trong sương sớm, tôi chỉ mặt nước chỗ gần bờ, phía đầu gió hỏi Hiệp:

– Hiệp nhìn mặt nước chỗ này, hình dung và cảm tưởng ra sao?

– Như một tấm gương để ngửa, đến nỗi chỉ nhìn mặt nước, em thấy hai con cuốc đen, đang dài cổ đuổi nhau sang bên kia bờ.

Thấy cảm xúc của Hiệp có dồi dào, tôi chỉ tay ra phía gần giữa sông, đầu làn gió mới tạt đến mặt sông, hỏi tiếp:

– Còn chỗ kia?

Nét mặt đăm đăm rồi sáng hẳn ra, nhìn tôi:

– Em thấy nó hơi nhăn nhăn như da trái bưởi, đến mùa thu hoạch.

Vồ vập chỉ mặt nước sát phía bờ bên kia cuối gió, tôi hỏi tiếp:

– Chỗ kia Hiệp hình dung giống cái gì?

Không do dự, Hiệp vừa cười vừa nói, nghe như đậu sào giá:

– Theo em, trông nó như chiếc bánh tráng (đa), nướng già than.

Tuyệt vời! Tôi quên béng, nên vỗ tay đôm đốp. Vừa đúng lúc một chiếc thuyền từ đầu nguồn đi sát ngay gần bờ. Trên thuyền, phía đầu mũi có một ông cụ già và một cô gái, tường tôi vỗ tay gọi vào, hay trêu cô gái đẹp? Ông cụ giơ tay khoắng lên như hỏi, làm cho cả tôi và Hiệp đều giơ tay lắc lia lịa, rồi quay lại nhìn nhau cười, như ngỗng hét gọi sao.

Thấy cảm giác phong phú sinh động khác thường của Hiệp, một nhà khoa học rõ ràng, tôi đâm ra băn khoăn suy nghĩ nghề nghiệp có thể khác nhau do cuộc sống, nhưng tâm hồn có thể “cùng ngồi một chỗ, cùng đi một chiều”. Tò mò, tôi thử đi sâu hơn tí nữa, tôi quay lại Hiệp thành thật:

– Tôi thừa nhận óc tường tượng của Hiệp thật là phong phú, có khi nào Hiệp hình dung ngay chỗ Hiệp và tôi, đang đứng. Trước đây, hàng trăm, hàng nghìn năm xưa đã có nhiều người đặt chân đến, qua lại? Của nhiều thời đại, nhiều thế hệ? Từ đấy suy ra: có khi ở giữa rừng sâu, hẻo lánh hay ở giữa thành phố tráng lệ, do những biến thiên, loài người xã hội, chuyển đổi có khi lại là ngược lại với nhau, tang thương vũng thành đồi?

Thấy tôi lan man đi vào những lãnh vực không cần thiết, nên Hiệp đã kéo tay tôi quay về. Mặt trời đã cao hơn một con sào!

Chuyến đến thăm nhà cậu Hiệp, chỉ ngủ có một đêm, nhưng đã làm cho lòng tôi ghi nhớ mãi. Chuyến đi đã làm cho tôi và cậu hiểu thêm nhau, và tin tướng nhau hơn.

Đã từ hàng tuần lễ trước, sắp sửa đến ngày kỷ niệm 100 ngày của thầy tôi, do chủ trương ấp ủ trong lòng, mỗi khi hai mẹ con ngồi bên nhau trong bóng đêm. Từ ngày thầy tôi chết, mẹ tôi gầy hẳn đi, người ít nói hẳn. Sáng tối người ở lại ngoài nhà thờ lâu hơn. Trước đây là hai ông bà chậm chạp lầm lũi, dẫn nhau đi nhà thờ. Buổi lễ sáng sớm cũng như buổi chầu chiều muộn, bây giờ có khi do tôi, do Hoa, có khi bà Chức. Cũng có ngày do một vài cô gái trẻ 16-17 trong ca đoàn dẫn mẹ tôi đi, hoặc dẫn về.

Để phần nào thể hiện bổn phận làm con của tôi đối với thầy tôi, và an ủi mẹ tôi phần nào, tôi sẽ xây mộ cho thầy tôi, trong dịp tròn 100 ngày. Mẹ tôi rất vui, một buổi người dúi vào tay tôi cái nhẫn hai chỉ, tôi bán được gần 100 đồng, cô Tuất góp 60 đồng, cô Thu 45 đồng, đặc biệt cháu Thanh Lan cũng góp 10 đồng để xây mộ cho ông.

Tôi và cậu Quang (cháu của Hoàng Ngọc Chính) đã đi mua gạch, cát và ciment. Tôi và Quang chẳng biết gì về thợ nề, nhưng đã có anh Tuấn Nguyệt, anh đã làm thợ nề và làm đội trưởng xây dựng nhiều năm, ở trong tù. Tuấn Nguyệt và Quang đã nồng nhiệt tích cực cùng với tôi, cuối tuần này sẽ xây mộ cho thầy tôi.

Chỉ hai ngày, thứ Bẩy và Chủ Nhật, ba chúng tôi đã xây xong ngôi mộ của thầy tôi, tương đối là hoàn hảo, so với những ngôi mộ khác chung quanh. Mẹ tôi muốn ra tận nơi, để người được sờ tận tay, ngôi mộ mới của thầy tôi, tôi đã làm vừa lòng người.

Một điều cũng thật là kỳ diệu! Cây mai, từ ngày anh Tuấn Nguyệt cho, Tuấn Nguyệt đã nói:

– Từ khi anh đi tù về, đã có cây mai này ở nhà, đã mấy năm rồi, chẳng bao giờ có hoa.

Nhà ông cụ của anh, có nhiều loại cây cảnh. Tôi đã đèo chậu mai từ trên Hạnh Thông Tây về, và nó là cây duy nhất trong ngôi nhà khô cằn nhựa sống, của thầy mẹ tôi. Cũng đã hơn một năm, tôi thay chậu, bón phân chăm sóc, mỗi ngày mỗi tốt tươi, nhưng cũng chẳng có hoa bao giờ. Đã có một lần nó ra một chiếc nụ, rồi rụng đi.

Tháng ngày trôi, cháu Mai Lynh ra đời, thầy tôi giã biệt cuộc đời. Hôm nay sau khi xây mộ cho thầy tôi 100 ngày, một buổi sáng, cây mai nở ra một chiếc hoa to đỏ chót. Tôi mới biết nó là loại Mai Tứ Quý.

Cây mai đã “xấn” vào đời tôi nhiều dấu mốc, tôi đã đứng cạnh cây mai này, để buổi đầu nối duyên đời với em Hoa, vợ tôi và cũng cây mai này, đã có tên Mai Lynh con gái cưng của tôi Bây giờ lại nở một bông hoa đỏ chót như chào đón tôi, như tươi cười hân hoan run rẩy trong làn gió nhẹ, mỗi khi tôi đến gần.

Một buổi sáng chủ Nhật, tôi đã bế con gái tôi xuống đến sát bà “Mai bốn quý”. Tôi đã cho phép tôi ghé mũi đặt chiếc hôn đầu, lên cánh hoa đang thì mới lớn, có một mùi hương ngầy ngậy, làm rạo rực lòng tôi. Và tôi cũng đưa dần chiếc bàn tay thiên thần nhỏ xíu, của Mai Lynh sờ nhẹ vào cánh “bích mai” đang hơ hớ trong nắng sớm, của một ngày.

Vào một ngày thứ Bẩy, sắp hết giờ Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa, tôi và mấy bạn thuộc phe chiến bại đang cắm cúi quét rác và móc lỗ cống, trước chợ Nam Hòa. Bỗng có tiếng Honda từ ngoài Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa đường Bắc Hải đi vào. Một anh chàng đang ngơ ngác thăm hỏi mấy người đi đường, tôi có nhìn lầm không? Rõ ràng là anh chàng Lê Hiệp, làm sao tôi có thể tin được, vì chẳng bao giờ, tôi nghĩ tới. Tôi đã chạy xô đến, để hỏi

– Hiệp vào đây để làm gì?

Hiệp nhìn thấy tôi, như tìm thấy một món đồ cậu đã đánh rơi, cậu vồ vập, dựng xe vội vàng rồi ôm chầm lấy tôi:

– – Em đang . . . đi tìm anh? Em hỏi thăm đến ba, bốn người rồi!

Tôi cũng bấn loạn dồn dập:

– Có ngờ đâu Hiệp lại mò đến đây! Làm sao biết tôi ở khu vực này?

– Em hỏi bác Nhiên và phải đến Phạm Lộc mới biết, hoàn cảnh sống của anh, vì thế em quyết định một buổi phải đến thăm bà cụ và đứa con gái “rượu “của anh. Hơn nữa em phải gặp anh để lấy một món nợ…………

Tôi vẫn chưa nghĩ ra, tôi còn thiếu Hiệp món nợ gì…?.. thì Hiệp đã hạ giọng:

– Món nợ ân tình. . .ở cổng Bệnh Viện Tâm Thần..anh đã khất em . . . . một bữa khác . . . . ấy mà?

Mắt trái của Hiệp hơi khép lại hai cái, tôi đã chợt hiểu và lòng thấy một niềm hân hoan nở rộ lên. Điều này đã nói rõ nỗi khắc khoải thực sự, của một anh chàng trí thức, với quê hương dân tộc.

Từ nãy, mấy anh cùng phe “chiến bại” và cả cô nàng Ngọc Anh trong phe “chiến thắng” cũng đang thô lố mắt, nhìn cảnh tôi và Hiệp gặp nhau. Chỉ còn nửa giờ nữa thì mãn giờ lao động, tôi đã dẫn Hiệp đến cô Ngọc Anh, vừa là giới thiệu, vừa là nhân chứng xin cho nghỉ vì có bạn ở xa tới bất ngờ. Hiệp và Ngọc Anh đã nhỏ to trao đổi, và chắc Ngọc Anh đã minh định được, một bác sĩ trẻ cùng phe với cô nàng, chứng cớ cô nàng đã giục tôi:

– Anh Bình hãy nghỉ tay, cũng sắp hết giờ rồi!

Tôi cảm ơn và chào mấy anh bạn của tôi, tôi dẫn Hiệp về trước. Hiệp đã ân cần thăm hỏi sức khỏe của mẹ tôi, con gái bốn tháng của tôi, Hiệp đã chuẩn bị từ trước, có một số thuốc cho mẹ tôi và con gái của tôi. Tôi đã bế con gái, để Hoa lo một bữa cơm giản dị, cho cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa tôi và Hiệp.

Tôi thấy Hoa đã chạy ra, chạy vào, ra chợ rồi sang cả nhà mẹ, ôm về một bó củi. Tôi chợt nhớ, củi đã hết từ hôm qua, Hoa tất tả ngược xuôi, nhưng bữa cơm cũng chỉ có hai món: Một đĩa tôm rang và một đĩa đậu rán. Qua thái độ và ánh mắt, Hiệp lại tỏ ra càng đồng cảm, trong cảnh sống của tôi. Hiệp đã chậm chạp, tâm sự:

– Em rất thương bà cụ! Một mẹ già mù lòa vì đứa con trai ra đi biền biệt, gần hai chục năm. Nay trở về, nhưng cũng không nhìn thấy mặt con, lại mang bệnh lao phổi nặng, thương yêu cháu mà không dám bế cháu của mình!

Chiều hôm ấy Hoa đã bế con về bên mẹ, cho cháu chơi với bà ngoại. Tôi và Hiệp lên căn gác hẹp, cũng có một ấm trà với bao thuốc lá Hoa Mai.

Đã từ lâu, tôi đã xác định, càng thêm thời gian thì càng được thẩm thấu, như một phương châm hành xử: “Cả cái tuổi thanh xuân của một đời người, tôi còn coi nhẹ, huống chi bây giờ bất kể một việc gì, nếu việc đó có góp phần lớn, nhỏ cho dân tộc tôi, cho quê hương tôi được tự do ấm no thực sự, thì tôi sẵn sàng kể cả mạng sống”.

Tôi chỉ ân hận một điều: Tài tôi hèn, trí tôi thiển, không đóng góp được bao nhiêu, trong phương châm hành xử của tôi. Hôm nay nằm bên Hiệp, một trí thức trẻ, một mầm non đang lớn của con “Hồng Tuộc” của thời đại, khắc khoải, băn khoăn về sự lầm than, quằn quại của người dân, dù tôi không đủ kiến thức quán triệt, thì cứ làm được đến đâu, hay đến đấy. Chả lẽ phải đợi cho đủ, cho chín mới làm? Tôi vẫn thấy thà còn thiếu vẫn hơn là không làm. Tôi cũng nói rõ cho Hiệp hiểu như vậy, còn nguy hiểm thực sự tôi không hề nghĩ đến.

Cứ cho là Hiệp sẽ báo cáo, đầy đủ tư tưởng của tôi với lãnh đạo của Hiệp, thì tôi vẫn cứ làm. Hai điều xấu là bị bắt vào ngục tù trở lại, điều này tôi đã làm đơn xin trở lại rồi. Điều thứ hai là bị bắn chết, hay giết chết. Ngay từ 1962 khi tôi xông vào bức màn sắt, tôi đã xác quyết chết đối với tôi là “hòa” vì tôi có biết cái quái gì nữa đâu. Điều mà Hiệp băn khoăn nhiều đêm ngày là tại sao chế độ Cộng Sản bị toàn dân (đa số) chán ghét đả phá, mà nó vẫn tồn tại, hết năm này lại đến năm khác?

Để nói về vấn đề nóng hổi, lớn lao này phải nói nhiều, diễn giải nhiều, hay viết hàng vài trăm trang giấy mới lý giải, minh chứng được cốt lõi. Vậy tôi chỉ đưa ra một vài nét cơ bản, rồi chính cái đầu của Hiệp, sẽ dần dần “đục đẽo” hết nó ra.

Từ cái mâu thuẫn nội tại là tâm lý và tư tưởng của con người, càng no đủ càng tự do dân chủ, thì mâu thuẫn này càng hằn rõ. Mâu thuẫn nội tại, là đã nằm sẵn, như một chất hữu cơ, có tự do, dân quyền thì phải có cái đó:

– Tính đố kỵ tự nhiên của con người.

– Cái tôi to lớn, ai cũng tự cho mình là một trung tâm, “mục hạ vô nhân”.

– Thờ ơ, không quan tâm những nguyên nhân xa, mà chỉ chú ý những điều sát sườn, trực tiếp: Hết gạo thì ra sức chạy gạo, mà không chịu tìm hiểu nguyên nhân vì đâu:

– Có gạo ăn no đủ.

– Cùng cực, lầm than, đói khổ.

Riêng ở Việt Nam của chúng ta hiện nay (1982) ở trong nước: Một số ít người do đặc quyền, đặc lợi thì không kể, hầu hết mọi tầng lớp người dân, đều phải sống trong cảnh lầm than đói khổ, khẩu súng và nhà tù đã khóa miệng, bịt mắt mọi người dân. Họ đều mong muốn đổi thay cái chế độ tàn bạo, vô nhân tính này.

Ở ngoài nước (Việt Kiều) , những người đã di tản, vượt biên chạy trốn cái chế độ phi nhơn, vô thần này. Đương nhiên họ muốn lật đổ, thay đổi cái chế độ hiện hành. Dù cho Cộng Sản là con “kỳ nhông” luôn đổi mầu, đổi sắc để tồn tại. Như vậy cái câu dậy bảo của tổ tiên, ông cha từ ngàn xưa: ý dân là ý trời, đã không đúng nữa hay sao?

Tôi xin tạm thời dùng hình tượng, giả dụ như sau: Tất cả những người dân Việt đều quần tụ sinh sống trong một cái khu hẻo lánh, chung quanh có núi cao, hào sâu, chỉ có một hướng cửa mở duy nhất, để mọi người ra vào, sinh hoạt, một hòn đá to lớn như một chướng ngại chặn ngang lối ra vào. Mọi người trong khu, bất kể thành phần nào, ra vào đều phải vất vả, cực nhọc trèo qua hòn đá này. Lúc đầu vì chưa hiểu rõ, hoặc vì những quyền lợi cá nhân nên những người lãnh đạo trong khu, ra sức lắt léo thuyết phục mọi người: Hòn đá to lớn chắn ngang càng làm cho khu ở chúng ta thêm đẹp, thêm hùng tráng. Không những che chắn, gió độc, gió chướng mà còn ngăn cản cướp trộm, giữ gìn an ninh, cho mọi người trong khu v.v . . .

Nhưng cũng đã từ lâu, trải qua thực tế, hầu hết mọi người trong khu, đều thấy hòn đá bất tiện, gây nhiều trở ngại cho cuộc sống, nhất là với giới gánh gồng, kéo xe. Ngay cả một số người lãnh đạo trong khu, cũng đã thấy những trở ngại của hòn đá. Mọi người đều muốn lật hòn đá ra chỗ khác. Cũng đã có một số người, một số đoàn này, đội kia định xô đẩy hòn đá xuống hồ, xuống biển. Nhưng hòn đá to qúa, không thể làm gì được.

Đã qua và hiện nay, là như thế. Muốn nhấc hòn đá, xô đẩy lật nhào nó xuống biển, thì tất cả mọi người dân trong khu đều phải ra mó tay vào hòn đá. Chưa hết, khi đã hô hào được mọi người trong khu ra cùng mó tay vào hòn đá, nhưng không cùng một lúc; khi người này nhấc, thì người kia không, hay ngược lại thì hòn đá ấy vẫn nằm đấy. Phải có một người, một tổ chức có uy tín, có thực lòng (đa số chỉ có ở miệng, không phải ở tim) mọi người trong khu đã thấy, đã tin tướng. Người đó, tổ chức đó yêu cầu mọi người trong khu ra đều mó tay vào hòn đá, rồi hô một hiệu lệnh thống nhất: Một, hai, ba: Mọi người đều hất, đều xô thì hòn đá sẽ lăn xuống biển, xuống hồ.

Hòn đá ấy là chủ nghĩa Cộng Sản, là cái bộ chính trị, là những tên lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay.

Hiệp đã đứng hẳn lên, đến ôm lấy cổ tôi, hổn hển:

– Em cảm ơn anh!

Khi ấy đã 10 giờ! Đêm hôm đó, mẹ con Hoa ở bên bà ngoại, Hiệp vẫn không muốn nằm chiếc giường duy nhất, anh chị Hiền cho mượn trong dịp cưới. Hiệp thích tôi trải chiếu xuống sàn gác, để cùng thường thức cảnh đời của giai cấp vô sản. Trước khi ngủ Hiệp còn thì thầm như nói với chính mình:

– Chuyến đi đáng đồng tiền bát gạo!

Hơn một tuần sau, vợ chồng Lộc+ Liên xuống chơi. Lộc cho biết, qua sự giới thiệu của Nguyễn Hữu Lợi, biết là tôi muốn “oversea”. Hiện nay, Phạm Lộc kết hợp với một vài người nữa, bí mật tổ chức một chuyến đi cho chính mình. Lộc đã biết điều kiện, hoàn cảnh nghẹt thở của tôi, chỉ riêng một mình tôi, nếu đồng ý đi thì chuẩn bị. Nếu đắm tầu, hay cướp biển chết cả, thì có gì để nói, nếu thoát ra tới ngoại quốc phải thanh toán, cho vợ chồng Lộc + Liên ba cây vàng.

Nếu tôi chưa được tiếp xúc trước đây với Lộc+ Liên, đã hiểu lòng tự trọng và danh dự của nhau, và nếu không có sự giới thiệu của Lợi, chẳng bao giờ có sự thỏa hiệp với một điều kiện lý tưởng như thế ở giai đoạn ấy. Chẳng nói thì ai cũng biết là tôi đã gật đầu đồng ý, đến “sái” cả cổ. Hôm nay tâm tình bằng những bàn tay “xòe” nên tôi được biết Phạm Lộc, không phải là con trai của bác Nhiên. Do bối cảnh loạn ly của đất nước, Cao Xuân Huy là anh cùng mẹ khác cha với Phạm Lộc. Vì vậy, chuyến đi sẽ có cả Cao Xuân Huy, dự trù vào cuối năm 1982.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 9 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 24

Mấy tháng sau Tết Mậu Thân, Hải Vân thường vắng nhà, và lúc nào cũng có vẻ suy tư. Mỗi lần tôi thắc mắc hỏi nó đang lo nghĩ chuyện gì, nó nói:

“Em lo chuyện tương lai của em, chớ em không nhớ tới con đào nào đâu, đừng có tò mò lộn xộn”

Thằng nhỏ trả lời cộc lốc mỗi lần tôi hỏi:

” Cưng nghĩ cái gì?”.

Em tôi còn hăm he trước, là nó sẽ không để cho gia đình ngăn trở những quyết định quan trọng sắp tới của nó. Một vài lần má có hỏi, có phải Hải Vân là con trai duy nhứt trong gia đình, Hải Vân có thể được miễn quân dịch nếu nó tiếp tục đi học không? Hải Vân hậm hực trả lời:

“Không có ai được miễn phục vụ gia đình, thì làm sao mình được miễn phục vụ đất nước?”.

Dù Hải Vân là con, là em trong gia đình, nhưng em được mọi người kính nể vì Hải Vân xứng đáng được như vậy.

Có lần nó tâm sự với tôi:

“Trước khúc quanh của đời người, hoàn cảnh không những thay đổi con người mình, mà còn ảnh hưởng tới tình của mình với cha mẹ. Chị đã quyết định cho cuộc đời chị, bây giờ chị phải giúp em. Chị tiếp em thuyết phục má, để mà tin là em thương má, mà em cũng thương em”.

Tội nghiệp em tôi quá! Nó bị giằng co giữa bổn phận làm con của má và bổn phận người trai yêu nước trong thời loạn ly. Một lần nó nói:

“Trong đời, em đã có nhiều lần làm cho má vui, má hãnh diện về thằng con của má. Nhưng em chỉ có một dịp làm tròn bổn phận của người trai thôi. Bây giờ, là dịp đó tới với em rồi đó”.

Hải Vân đã quyết định gia nhập Không Quân. Tôi không ngạc nhiên, vì đã nhiều lần tôi nghe em nói chuyện với John về lái máy bay. Em tôi ít nhắc tới người đi xa; vậy mà trong thời gian gần đây nó nghĩ hoài tới ba và anh Khôi. Có lần em nói với tôi:

“Chừng em bay được rồi, em sẽ bỏ bom hết mấy thằng Việt cộng bò từ ngoài Bắc vô đây. Vái trời cho bom của em đừng trúng ba với anh Khôi”.

Khi Hải Vân đang dự lớp huấn luyện Quang Trung thì được tin em được gia nhập Không Quân nhưng không được bay. Cũng như má, con của má tôi không người nào chịu thua hay bỏ cuộc nửa chừng. Hải Vân đi tìm con của cậu Hai Định, đại tá Không Quân Nguyễn Hồng Tuyền. Chúng tôi có một điều lo ngại, là chỉ sợ anh Ba không thèm nhìn chúng tôi, vì chúng tôi nhỏ bé, trong khi anh là một “ông lớn” trong Không Quân. Nhưng má tôi rầy, là chúng tôi chỉ lo sợ vẩn vơ. Má nói, anh Ba có đi tới đâu cũng không quên bà con gia đình. Má hỏi Hải Vân, có chắc chắn là muốn đi bay không, chớ đừng bồng bột, rồi mai mốt đổi ý thì không được. Hải Vân nói giấc mơ làm phi công mạnh đến độ chiêm bao thấy được làm phi công, chớ không phải đó là giây phút bồng bột. Đêm đêm, nó mơ thấy nó được lái trực thăng. Nó rất thích trực thăng, nên nghiên cứu nhiều về loại máy bay. Nghe tiếng động cơ trên trời, nó có thể đoán biết loại trực thăng nào đang bay. Nó thích được làm phi công lái Huey.

Hình minh họa

Tôi khuyên Hải Vân đừng vội thất vọng, vì chính tôi cũng đã từng bị cơ quan tình báo làm khó làm dễ. Thôi thì đành làm sĩ quan Không Quân “bò” cũng được, không sợ chết sớm. Em không chịu, nhất quyết phải được bay.

Biết không thể lay chuyển nổi ý muốn của Hải Vân, tôi khuyên nó nên đi tìm anh Ba Tuyền để biết nguyên nhân tại sao nó không được vô trường bay. Anh Ba Tuyền cho biết hồ sơ của Hải Vân bị An Ninh Quân Đội giữ lại. Anh hứa anh sẽ đi gặp Đại tá Nguyễn Ngọc Loan. Là con nít ke từ Cần Thơ lên, chị em tôi nào có biết ông Nguyễn Ngọc Loan là ai, nên nghe lời anh Ba. Nhắc tới An Ninh Quân Đội, chúng tôi liền nghĩ ngay tới Đại uý Trần Duy Bính. Nhưng không biết ông đã lên chức gì, và đổi đi đâu sau một thời gian lâu; chúng tôi dọn lên Sài Gòn, rồi không có dịp gặp lại ông. Con của người tập kết, làm gì dám gặp ông An Ninh Quân Đội, nếu không có chuyện dính líu tới an ninh mình.

“Ông Bính có lên đến chức…ông Trời, chị cũng phải giúp em gặp ổng”.

Sau khi dò hỏi, chúng tôi biết ông vẫn còn ở Cần Thơ, và lên chức Trung tá. Hải Vân vội về Cần Thơ đi tìm Trung tá Bính. Một lần nữa, Trung tá Bính kiên nhẫn nghe em tôi trình bày trường hợp của em, rồi một lần nữa, ông lại giúp con của má tôi lọt khỏi cái vòng lẩn quẩn của An Ninh Quân Đội.

Hải Vân được vào Không Quân, được vào trường bay. Mộng của em đã thành. Cả nhà hãnh diện vui lây với em, mà quên hết những hiểm nguy của người phi công trong thời chiến.

Chuyện nước, chuyện nhà đi xong, bấy giờ đến chuyện của tôi. Ngày 20 tháng 3 năm 1968, John sẽ hết nhiệm kỳ 18 tháng ở Việt Nam. Anh muốn làm đám cưới với tôi trước khi về Mỹ. Sau nhiều đêm suy nghĩ, chuyện nầy nó không giản dị như chuyện những người con gái khác đi lấy chồng, vì cưới xong tôi sẽ phải theo anh về Mỹ. Lúc đó, tôi sẽ phải xa má và các em; xa nửa vòng trái đất. Đêm nằm, tôi hát nho nhỏ bài ru em xa lắc xa lơ: “Hò ơi, con chim đa đa đậu nhánh đa đa, chồng gần không lấy, mà đi lấy chồng xa. Một mai cha yếu, mẹ già… Chén cơm đôi đũa, bộ ký trà ai dưng”. Hồi xưa, hát ru em như con két hát. Nhưng bây giờ nghe lại, thật là đau xót trong lòng. Rồi ai săn sóc má; hai đứa em con nhỏ quá!

Tôi đã chứng kiến cảnh chia lìa của ba má. Má can đảm chịu đựng nuôi chúng tôi thành người. Tôi đã không rời má suốt bao nhiêu năm trời vui buồn, đầy đủ, thiếu thốn có nhau. Bây giờ tôi bỏ má lại, để đi theo một người đàn ông khác họ, khác nòi giống, khác hết, mà đi xa cả 10 ngàn dặm. Tình có đậm, có nồng, thì cũng vừa thôi, chớ làm gì bỏ má mình đi. Đâu có người đàn ông trên đời nầy xứng để cho tôi bỏ má tôi đi xa như vậy! Anh hết nhiệm kỳ thì về Mỹ, còn tôi, tình tôi đối với má, với gia đình, đâu có nhiệm kỳ nào hết. Nó là tình bất diệt mà.

Má thì khuyên, lớn lên ai cũng đi lấy chồng, sống gần hay xa gia đình không phải là điều quan trọng để quyết định cuộc hôn nhân, mà có thương nhau đủ để dám đi xa với chồng không, mới là suy nghĩ đúng.

Cuối cùng, tôi khuyên John nên đi trước, vì vấn đề lý lịch của tôi vẫn còn rắc rối. Tôi không còn mặt mũi nào mà cầu viện Trung tá Bính nữa. Theo tôi đoán trước, nếu John cưới tôi trước khi trở về Mỹ, anh có thể bị rắc rối với Hải quân; nhẹ cũng vĩnh viễn không được bay, mà nặng thì có thể mất chức hay bị giải ngũ vì lấy con gái của cán bộ Cộng sản. Giải pháp hay nhất, John trở về Mỹ, tôi sẽ tìm cách sang sau, và hẹn sẽ gặp anh ở California vì hai chị của tôi đang ở Monterey, California.

Chắc có bàn tay sắp đặt của ông Trời, chớ làm sao mà hai người từ hai phương trời xa lạ, bỗng gặp nhau rồi hợp tánh hợp tình, gắn bó với nhau, rồi nên duyên chồng vợ.

Má khuyên tôi nên bắt đầu lo giấy tờ xuất ngoại. Đáng lẽ tôi phải mừng lắm, nhưng tôi cảm thấy mình tội lỗi vì toan tính bỏ má khi gia đình mới thoát khỏi những khó khăn, vừa mới được chút thoải mái. Hay vì đứng trước sự rộng lượng vô biên của má, lòng can đảm của má khiến tôi mủi lòng? Tôi quyết định viết thơ cho John, huỷ bỏ cuộc hôn nhân. Tôi chỉ viết vài câu vắn tắt để anh hiểu, là tôi không thể bỏ má tôi ở lại một mình được. Tôi cảm ơn anh đã cho tôi biết tình yêu, cho tôi yêu, và cho tôi được yêu. Nếu có chết tôi cũng mãn nguyện, nhưng tôi chưa có chết đâu, vì tôi cần phải sống cho má tôi và em tôi. Tôi mong anh thông cảm, cố gắng hiểu giùm phong tục của gia đình tôi, là quá gần gũi với mẹ mình bởi vì mẹ đã sống cô đơn với chúng tôi.

Nhưng viết thơ xong, tôi để vô hộc tủ, không gởi đi. Rồi khóc suốt một tuần. Khi có ai trong gia đình hỏi tại sao khóc, tôi còn khóc dữ hơn nữa. Một buổi tối, đi làm về, tôi không ăn cơm như mỗi bữa, chui ngay lên giường ngủ. Má dựng tôi dậy để nói chuyện. Tôi khai ra đủ các thứ bịnh, má đều không tin. Cuối cùng tôi phải theo má xuống bếp để nói chuyện. Má tôi nói một câu, mà tôi tan nát cả cõi lòng:

” Con à, cách đây mấy năm, một người bạn học của má nói là má có bông mà không có bình để chưng bông; nhớ câu nói đó má buồn lắm. Mấy lần con có bạn, tụi nó biết ba con đi tập kết nó sợ thấy bà. Thằng John nó khôn, nó hiểu, nó không sợ. Lấy chồng khôn, đừng lấy chồng dại, khổ thân con lắm”.

Tôi ôm mặt khóc vì má tôi nói trúng tim đen của tôi. Hai lần có bạn trai, vừa nghe tôi nói ba tôi đi tập kết, một anh cắn môi suy nghĩ, anh khác thì khuyên đừng nhắc tới ba với anh ấy…

“Nếu con biết thằng John là người tốt, thì lấy nó đi con. Con được hạnh phúc, má mừng, má biết má làm tròn bổn phận của một người mẹ!”

Rồi ngày ra đi chờ tôi bên ngạch cửa. Hàng xóm tới chúc tôi “thượng lộ bình an”. Mấy ông Tàu Đài Loan chận đường chúc tôi may mắn. Ngay cả chú Hai đạp xích lô cho tôi đi làm hàng ngày cũng nhắn nhủ: “Cô Hai đi Mỹ đừng quên tui nhen!”. Làm sao tôi quên được người chở tôi đi làm khi tôi dậy trễ. Chú phải chạy như bay cho tôi đến sở đúng giờ. Chị Mùi bán bánh mì thịt ở nhà tôi cũng nói: “Cô Hai đi Mỹ đừng quên bánh mì xá xiếu của em nhen”. Tôi làm sao quên được, bánh mì xá xiếu ngon nhứt đường Nguyễn Văn Sâm của chị.

Lúc ấy tôi như cái xác không hồn. Cho đến nay, tôi không còn nhớ phút chia tay với má ra sao. Mỗi lần nghĩ lại buổi tiễn biệt ấy, tôi chỉ còn giữ lại được hình ảnh má bịn rịn nâng chéo áo lên quẹt mắt, rồi vội vã chạy lên lầu. Tôi cũng chỉ nhớ em tôi ngồi taxi với tôi, mà không nhớ có ai nói gì không. Bây giờ, hồi tưởng lại, chuyến ra đi ấy như một cuốn phim quay thật lẹ, không còn đủ chi tiết. Trên máy bay, tôi ngồi bên cạnh cửa sổ, âm thầm khóc cho đến lúc mệt thì ngủ thiếp đi, khi bên ngoài trời đã tối đen như mực. Khi thức dậy, tôi ngỡ ngàng thấy trời sáng, mà máy bay vẫn còn bay trên những cụm mây trắng. Tôi hốt hoảng nhận ra rằng tôi đã xa má và các em tôi đúng nửa vòng trái đất.

Hồi tôi còn nhỏ, ít có chuyện gì làm tôi sợ, trừ sợ ma, vì ba tôi kể chuyện ma hay lắm. Mỗi lần ông kể, nhiều cán bộ trẻ còn sợ, nói chi tôi, một đứa con nít. Có anh phải đốt đuốc để về cơ quan, có anh nhát quá, xin ngủ lại qua đêm. Rắn rít quanh nhà, ai cũng sợ, chỉ có tôi là không. Có lần tôi đã một mình đập chết một con, vì nó nuốt con gà của dì Bảy. Vậy mà tôi rất sợ cô đơn. Giờ đây, tôi đã xa tất cả mọi người trong gia đình. Tôi xa những gì tôi đã biết, đã quen, trìu mến, yêu thương, gắn liền với đời tôi 23 năm qua. Tôi nhìn qua vai, cố hình dung lại những kỷ niệm đã qua mà tôi đã bỏ lại đằng sau bên kia bờ đại dương, nơi đó có gia đình tôi, có dân tộc Việt Nam mến yêu, và có nơi chôn rau cắt rún của tôi. Rồi tôi thầm tự hỏi, không biết “người con gái nhà quê lên tỉnh” nầy sẽ sống thế nào ở một nước mà hầu hết bà con giòng họ của tôi gọi nó là kẻ thù của dân tộc?

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 23

Tết năm nay là năm tuổi của chị Thuận. Chị cầm tinh con khỉ, tuổi Thân. Tôi thường chọc chị là “Tuổi thân Con khỉ ở hiền, trèo qua trèo lại té ùm xuống sông”. Ước gì chị chưa có chồng để được tự do lên Sài Gòn sắm Tết. Nhưng, cuộc đời chị đã đi vào một khúc quẹo buồn thương. Từ ngày lấy chồng, chị gặp những phản ứng của cả hai bên gia đình. Phía bên gia đình tôi, dì Bảy và mấy chị con cậu Tư không nhìn chị nữa, vì chồng chị sinh trưởng trong gia đình “cường hào ác bá”. Trong khi đó, bên chồng chị, người ta ghét chị, vì gia đình chị theo Việt cộng. Chị không phải là người họ coi là “môn đăng hộ đối”. Vì vậy, vợ chồng chị và đứa con gái sống trong sự ghẻ lạnh của cả hai phía, rất nghèo, nghèo cả tình thương lẫn vật chất.

Tết năm nay gia đình tôi cũng có nhiều thay đổi. Mấy tháng trước, chị Cương theo chồng con đi Mỹ. Rồi đến lượt chị Kim cũng đi Mỹ luôn. Chị dậy tiếng Việt cho quân đội trong Bộ quốc phòng Mỹ. Gia đình tôi còn má, ba đứa em và tôi. Chúng tôi sống cheo leo trên đất Sài Gòn, không một người bà con ruột thịt. Cho đỡ cô đơn, chị em chúng tôi tính ăn Tết thật lớn, như chưa bao giờ ăn Tết. Hải Vân mua pháo. Tôi đi chợ bông Nguyễn Huệ ở Sài Gòn với má, không nhớ là mấy lần, bánh mứt đầy bàn; từ dưới bếp đi lên nhà trên, ở đâu cũng có mặt của Tết. Tôi và má rinh về nhà hai cây mai để hai bên cửa, để được may mắn suốt năm. Hải Vân đòi dĩ Dẻ và con Vân, con Sang làm dưa củ kiệu và phải nhớ mua tôm khô cho nó. Hải Vân mua bia, nhưng giấu má. Chờ má ngủ, chị em tôi xuống bếp khoá cửa lại, uống bia, ăn củ kiệu và tôm khô.

Con Vân, con Sang ngồi cắt một thau củ kiệu, khiến tay nhăn nheo và đỏ rát vì nước phèn chua. Nhưng, làm cho anh Hải Vân ăn, thì có lở bàn tay, hai đứa “’học trò” của Hải Vân cũng bằng lòng. Hải Vân bắt hai đứa giúp việc nhà phải biết đọc, tập viết, biết tính toán. Con Vân hiếu học, còn con Sáng thì thường viện cớ phải làm công chuyện để trốn học. Nào là “cô Tám kêu em”, nào là “em phải ủi quần áo cho mấy chị”, v.v… Con Vân rất giỏi toán; con Sang thì vươn cổ cọp bài của bạn. Có khi nó còn nhờ cô Tám làm bài giùm. Có lần, Hải Vân la con Sang: “Mù chữ thì con trai biết chữ không thèm ngó tới”. Con Sang cứng đầu nói nhỏ: “Vậy em lấy thằng mù chữ cũng được”. Hải Vân bèn doạ: “Má không gả mầy cho mấy thằng mù chữ đâu”. Dì Dẻ không biết chữ, nhưng dì là em bà con có cậu ruột của má, nên Hải Vân kính nể, không dám bắt dì học.

Năm nay,Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho dân chúng đốt pháo mấy ngày Tết. Hải Vân và tôi thích nhứt là không có giới nghiêm. Tết này, chúng tôi có nhiều bạn bè tới họp mặt rất vui vẻ. Lại có cả John tới nữa. Đây là lần đầu tiên anh ăn Tết Việt Nam.

Kể từ ngày ba tôi đi tập kết, đây là cái Tết đầu tiên tôi không nhìn ra cửa với tia hy vọng, như tôi đã từng làm cả chục năm qua. Nhắm mắt lại vài giây, mở ra sẽ thấy ba đứng ngoài cửa sổ. Nhưng tôi đâu có ngờ, ba tôi về trong một hình thức khác.

Mười một giờ khuya, John và tôi phải đưa Hạnh, một người bạn tôi, về Hoà Hưng để kịp có mặt ở nhà trước giờ giao thừa. Bạn của Hải Vân cũng từ từ ra về hết, chỉ còn một mình cậu bạn Ali uống hết nửa chai bia, say nằm trên divan. Vì Hạnh thích đi xe mui trần, John gỡ cái mui xe Jeep xuống. Trên đường đi, chúng tôi nói cười vui vẻ. Tôi nghe lòng rộn rã mỗi khi tiếng pháo nổ ran ở chung quanh. Tôi bỗng thấy yêu đời, vì được tự do đi trong đêm khuya, không có giới nghiêm. Tôi thầm tự hỏi, phải chăng đất nước từ đây sẽ thanh bình, và người dân sẽ được sống trong hạnh phúc, bình an?

Khi chúng tôi tới Hoà Hưng, Hạnh chỉ đường cho John chạy tới hẻm nhà Hạnh. Nhưng chúng tôi không vô hẻm được, vì ở ngay đầu hẻm, trước mũi xe có đám con nít và vài người lớn vây quanh một toán lính mặc đồng phục kaki. Họ chận đường hẻm và chận đường trước mặt chúng tôi nữa. Lúc đầu, tôi tưởng đám đông là người trong xóm ra đường đốt pháo. Khi nhìn kỹ, tôi thấy mấy người lính đeo súng AK và đội nón cối. Hình ảnh người bộ đội của tiểu đoàn 307 hiện ra trước mắt tôi. Tôi rùng mình. Hạnh và tôi kêu trời, rồi nó nhảy vội xuống xe, cúi gầm mặt chạy biến vô hẻm. Trong khi đó, toán lính đeo AK chặn đầu xe, khiến John phải bấm kèn inh ỏi, rồi cho xe chạy từ từ. Toán lính và bọn con nít phải dạt sang hai bên, để nhường lối cho xe đi qua. Riêng tôi, lúc đó tôi nhắm mắt, vì tưởng sẽ bị lính Bắc Việt ria cho vài tràng súng. Nhưng rồi tôi mở mắt, run quá, tôi đánh hò cạp hỏi John:

“Có phải hai đứa mình thấy… “.

“Đúng là tụi nó rồi cưng ơi!”.

Anh từ từ lái chiếc xe Jeep ra khỏi đám đông. Khi chúng tôi đã ra tới đường cái, anh cho xe chạy như bay trong bóng đêm.

Trên đường về nhà ở đường Nguyễn Văn Sâm, chúng tôi giữ im lặng. Tôi thì bối rối tựr hỏi làm sao bộ đội Bắc Việt đã vào tới trung tâm Sài Gòn mà không có một tiếng súng nổ? John thì im lặng, vẻ mặt lo lắng, căng thẳng. Khi tới nhà, anh dắt tay tôi chạy lên lầu, dặn tôi khoá cửa thật kỹ và đừng đốt pháo, đừng ra đường. Trước khi từ biệt, anh còn chúc: “Happy Tết!”. Tôi ra balcon để nhìn hút theo anh khuất ở ngã tư Lê Công Kiều. Cầu mong cho anh trở về BOQ bình yên.

Bạn bè về nhà hết, đem theo cả tiếng nói tiếng cười. Nhà chỉ còn Ali nằm ngủ trên divan. Má ngồi với Hải Vân ở dưới bếp, nhìn nó ăn chè đậu xanh cho giã rượu. Tôi cũng cố đi cho thẳng thớm để má không biết tôi cũng say như hai thằng nhỏ kia. Thói quen trong gia đình, là khi nói tới Việt cộng, chúng tôi thấp giọng xuống. Tôi ngồi xuống cạnh má, rồi nói thật nhỏ, chỉ đủ để má và Hải Vân nghe thôi:

“Con không có nói xàm, nói bậy, nhen. Hồi nãy tụi con thấy lính Bắc Việt đứng trước hẻm vô nhà con Hạnh”.

Má, Hải Vân cùng nhìn tôi bằng đôi mắt nghi ngờ. Trong khi má đưa cho tôi một chén chè đậu xanh, “mày cũng cần chén chè này nữa, con gái mà uống rượu, tao buồn hai đứa bây lắm!”

Hải Vân nói:

“Chị giầu tưởng tượng quá!”.

Tôi khoát tay, nói với má:

“Con không có say như mấy thằng này. Để dành chè cho tụi nó. Thiệt mà má, con thấy lính Bắc Việt bận đồ kaki rõ ràng; đồ lính này giống y như đồ của Bộ Đội hồi xưa vậy đó!

Hải Vân ngước đầu lên, mắt lim dim:

“Chị tưởng tượng rồi!”.

“Không tin, mai hỏi John đi. Ảnh cũng điếng hồn luôn”. Tôi trả lời.

Hải Vân ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

“Trời đất ơi, em nhớ rồi. Tháng trước chị Thảo lên đây, chị báo trước là sẽ có một biến cố lớn trong dịp Tết này, nhớ chưa? Chỉ dặn tụi mình đừng đi đâu xa ba ngày Tết, về Cần Thơ cũng không được, ai ở nhà nấy, đừng ra ngoài đường. Chỉ dặn tích trữ đồ ăn để phòng hờ, nhớ chưa?”.

Bấy giờ má và tôi mới nhớ ra, hôm chị Thảo lên Sài Gòn để đi bác sĩ khám mắt. Chị dặn dò nhiều lắm, nhưng bọn tôi nghe rồi bỏ qua, vì gia đình này cũng “không nghe những gì cộng sản nói”, mà còn nghĩ chị Thảo nghe lời Việt cộng, gây lo sợ, hoang mang trong lòng người dân đang sống trong sự bình yên.

Bất thình lình, một tiếng nổ long trời ngay gần đâu đây, rồi tiếp theo là những tràng súng liên thanh, át cả những tiếng pháo Tết đì đẹt. Như đã được huấn luyện trước, chúng tôi vội nằm sấp xuống sàn nhà. Con Vân bò quýnh quáng tôi ôm má tôi, run sợ khóc:

“Dì Tám ơi, đừng để con chết không thấy mặt má con, dì Tám ơi!”.

Tôi nói lớn:

“Bây giờ tin tui thấy lính Bắc Việt chưa?”.

Hải Vân lên tiếng:

“Mà tại sao mấy thằng lính Bắc Việt nhìn chị mà không làm gì hết? Mà, sao nó không bắn anh John?

Chắc tụi nó còn chờ chỉ thị. Thầy nó bắt chết là phải chết, cho sống mới được sống. Chị có nghe tụi nó bị xiềng vô trong xe thiết giáp, đánh tới hơi thở cuối cùng không? Biết đâu số mạng anh phi công của chị được sống lâu hơn một chút, là nhờ kỷ luật của ba mình. Chờ cho hết trận này, rồi chị coi xem, em đoán có đúng không nhen”.

Vừa nói Hải Vân vừa lấy tô chè đậu xanh ăn tiếp tục.

Má tôi chạy lên nhà trên, vì hai đứa em đang ở nhà trên. Bà ra dấu cho tụi tôi giữ im lặng để nghe tiếng súng gần xa từ hướng nào bắn tới. Tiếng súng máy bắn bên kia đường Lê Công Kiều. Tiếng pháo kích rền trời, không một ai biết đâu là đâu mà có biết súng bắn từ đâu, cũng phải nằm sát đất, cũng phải chun dưới bàn, dưới ghế lánh nạn. Tôi thấy mình bất lực, thấy mình nhỏ nhoi như con kiến, khi nằm dưới sàn, giữa lằn tên mũi đạn.

“Rủi tao chết vì pháo kích, mầy phải bắt chị Thảo thường nhen”. Tôi nói nhỏ với Hải Vân.

Má liền nạt tôi, khiến đám con nít cười khúc khích.

Dì Mận nói:

“Miệng ăn mắm ăn muối nói bậy, không nên Dung à”.

Tôi vì sợ quá nên nói bậy nói bạ cho quên sợ. Tôi lại khều Hải Vân: “Tụi mình đi thay quần lót mới đi, rủi có chết, vô nhà xác người ta không cười mình”.

Dì Dẻ giận cái miệng mắm ăn muối của tôi lắm.

Các em tôi khóc thút thít, trong khi Hải Vân và tôi cứ nói liền miệng cho đỡ sợ. Bỗng một tiếng nổ dữ dội phát ra từ bên trái của khu phố nhà tôi, cạnh rạp hát Kim Châu. Hải Vân liền bò ra ban công để quan sát. Má nắm áo nó lôi lại, nhưng không kịp. Khi chạy trở lại, nó nói lớn:

“Chưa sập hotel”.

Cách nhà tôi chừng 400 thước có cái hotel đang xây cất. Hotel này cất để cho Mỹ mướn làm BEQ cho hạ sĩ quan Mỹ.

Người hàng xóm của chúng tôi, một ông thượng sĩ không quân, tới nhà, căn dặn chúng tôi đừng ra đường, vừa có lịnh giới nghiêm. Ali nóng lòng muốn về chùa Bà Lai. Nó nói rằng giới nghiêm hay không nó cũng phải về để ba má nó khỏi lo. Ông hàng xóm còn nói thêm, là không phải đảo chánh, mà Việt cộng tấn công.

Hải Vân liền vọt miệng nói:

“Đảo chánh sướng hơn!”.

“Cái nào cũng chết dân hết, cháu ơi!”. Ông hàng xóm than.

Hải Vân nói nhỏ đủ cho tôi nghe:

“Đảo chánh mình còn tự do, Việt cộng mà thắng thì mình chết”.

Tiếng súng thưa dần khi mặt trời ló dạng. Dưới đường, tiếng xe, tiếng người kêu réo nhau inh ỏi. Hàng xóm của chúng tôi phần đông là người Bắc, người Hong Kong, người Đài Loan, nhốn nháo nhưng không ai biết đi đâu, về đâu, hay lánh nạn gì? Họ là những người sống trên cái lầu này, đi làm ở các nhà ngân hàng trên đường Hàm Nghi, Chợ Cũ, bến Chương Dương. Họ là những người sống trên đất Sài Gòn mà chiến tranh hay chánh trị không bao giờ bén mảng tới thềm nhà của họ. Họ sống trong hoà bình dưới sự che chở của người lính Việt Nam Cộng hoà. Họ là những người có tiền gởi con trai ở tuổi lính đi Hong Kong, đi Đài Loan để trốn quân dịch. Họ là những người có tiền đi lính kiểng. Và họ cũng là những người đã một lần bỏ chạy vô Nam lánh nạn cộng sản.

Khi tiếng súng thưa dần, có mấy người ở lầu 1 lên, chạy tới hỏi em tôi:

“Cậu Vân ơi, chuyện gì xảy ra vậy? Lại đảo chánh, phải không?”.

Hải Vân cho biết là Việt cộng đã xâm nhập trung tâm thành phố. Ai nấy đều sợ hãi, chạy vội về nhà, đóng kín cửa.

Má tôi sang nhà kế bên, nhà của bà Tơ và ông Trọng để hỏi tin tức. Cả nhà tôi tám người, kéo nhau đi theo má, vì không ai dám ở nhà một mình. Má quay lại nhìn cái đuôi dài, nở nụ cười khoan dung, rồi má cho theo má. Nhà bà Tơ chật cứng con nít. Có đứa sợ cắn vạt áo, có đứa ôm bình sữa khóc tức tưởi, lại có đứa cười khúc khích với Hải Vân.

Đến gần 7 giờ sáng, phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ lên đài phát thanh báo cho dân chúng biết cộng sản đã tấn công vô thành phố Sài Gòn. Chúng tôi trở về nhà quây quần bên má. Chúng tôi dồn dập hỏi má:

“Bây giờ mình phải làm cái gì?”.

“Rủi Việt cộng chun vô nhà mình thì làm sao?”.

“Đóng kín cửa, khoá chặt lại, và cứ bình tĩnh”.

Má tôi dặn đi dặn lại.

Một lần có tiếng dài bác vọng tới, cái tủ kiếng rừng rinh. Con chim cúc-cu trong cái đồng hồ chui ra kêu cúc-cu, rồi lại chun trở về.

Thấy tình hình có mòi quan trọng, má tôi thu dọn mấy thứ quý giá cất vô cái túi bằng nhung xanh. Hình cháu Christina, con chị Cương, hình ông bà ngoại tôi và cậu Năm Sắc trên bàn thờ, hình má tôi chụp chung với anh Khôi, chị Kim, chị Cương để gửi ra Côn Đảo cho ba tôi vào những năm 1940 đến 1945, đó là những kỷ vật quý báu của má tôi. Ai cũng lo, cũng sợ mà quên hết những điều quan trọng cần thiết trong đời sống. Hải Vân là người nghĩ tới việc dự trữ nước và đồ ăn. Vì chúng tôi ở lầu nhì, mỗi ngày người giữ máy nước phải bơm mấy tiếng đồng hồ mới đủ cho mọi người trên lầu một và lầu hai có nước xài. Hải Vân vội đi tìm bà Hai bơm nước, nhưng bà không đi làm được. Hải Vân phải lấy cưa để cưa ống khoá mới mở máy bơm được. Sau đó, nó chạy lên cả hai lầu, khuyên mọi nhà nên trữ nước. Mọi người mừng rỡ, cảm ơn “Chú Vân”.

Việt cộng tưởng kế hoạch tấn công trong ba ngày Tết sẽ làm tê liệt Sài Gòn, nhưng dân Sài Gòn giỏi tháo vát, nên lướt qua được những khó khăn mà chúng gây nên vào mấy ngày Tết. Riêng gia đình tôi, nhờ bọn chúng tôi đòi ăn Tết lớn, nên đồ ăn trong nhà còn nhiều. Nguyên món dưa hấu, chúng tôi có 20 trái. Ngoài ra, nào bánh ít, bánh tét, bánh chưng, thịt heo kho, thịt bò kho, ca thu kho… còn nguyên vẹn cả nồi. Bốn con gà chưa cắt cổ, còn nhốt trong lồng. Nếu Việt cộng chun dưới ống cống của thành phố cả nửa tháng, dân Sài Gòn vẫn chẳng có ai chết đói.

Chúng tôi ngồi quây quần bên nhau, bình tĩnh vui đùa. Hải Vân trêu má tôi, hỏi:

“Việt cộng làm tiêu cái Tết của mình, như vậy có phải suốt năm mình bị tiêu tùng hả má?”.

Má tôi cười buồn:

“Họ làm mình tiêu tùng 14 năm nay, chớ đâu đợi mùng một Tết Mậu Thân, con”.

Tôi sực nhớ là tôi phải đi làm ca chiều, từ 1 giờ rưỡi tới 9 giờ rưỡi tối. Nhưng, vừa giới nghiêm vừa đạn bay súng nổ không biết có cô thâu ngân nào dám đến sở làm sáng nay không? Cả những người làm bếp, hầu bàn, quét dọn… chắc cũng kẹt ở nhà luôn. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ mình có trách nhiệm với sở, với chủ, với khách hàng. Tôi nhớ lại hồi khách sạn Brink bị Việt cộng đặt mìn, có những dân sự người Mỹ không biết tuỳ cơ ứng biến, họ cứ tưởng rằng mặt trời mọc riêng cho họ. Dưới lầu toà nhà bị mìn, người ta chưa quét dọn xong, mà khách đã bắt tôi phải cho họ gặp ông chủ, để trách là cầu thang máy chạy chậm, máy lạnh ở phòng ăn không đủ lạnh, nên họ vừa ăn vừa toát mồ hôi. Tôi không dám nói thẳng với họ, chỉ quay qua người bạn làm chung, nói nhỏ: “Biểu Mỹ đánh tan Việt cộng đi, máy lạnh sẽ chạy lạnh hơn”. Không biết hôm nay mấy người Mỹ ấy sẽ nghĩ sao, khi thấy cái chết gần kề?

Lúc này này muốn liên lạc với bên ngoài, chỉ có điện thoại. Má tôi không cho chúng tôi có điện thoại, vì má nói nhà mình không cần điện thoại, chỉ có con gái của má cần điện thoại để nói chuyện với con trai thôi. Rốt cuộc, nhà không có điện thoại khi thật là cần.

Trước cửa rạp hát Kim Châu có nhà hàng Hồng Mai. Tiệm ăn này có điện thoại. Tôi ra balcon nhìn sang nhà hàng, chờ ông chủ người Tàu nhìn lên. Ông hay nhìn lên balcon nhà tôi, vì nhà nầy có đông con gái. Rồi khi ông vừa ngước nhìn lên, tôi liền hỏi to:

“Ông chủ ơi! Điện thoại của ông xài được hông?”. Tôi vừa nói vừa ra dấu.

Ông gật đầu, vui vẻ đáp với giọng lo lắng:

“Giới nghiêm cô Hai à. Đi qua lộ người ta cấm mà!”.

Tôi vội thay quần áo, rồi phóng qua bên kia đường. Tôi muốn hỏi ông xếp có cần tôi không? Nếu có, làm sao tôi có thể đến sở trong giờ giới nghiêm này? Đi khơi khơi giữa đường, Quốc Gia không bắn thì Việt cộng cũng cho phơi thây. Nếu tôi bị Việt cộng chấm dứt cuộc đời son trẻ, chị Thảo sẽ khóc và kể là tôi đã chết cho Cách Mạng. Trời ơi! Nếu tôi chết, thì tôi chỉ chết vì miếng cơm manh áo cho gia đình, vì tinh thần trách nhiệm đối với sở làm, mà đó là sở Mỹ, chớ tôi không phải đặc công hay nằm vùng gì ráo!

Tôi liện lạc được với ông Lugent. Ông cho biết cả 150 nhân viên Việt Nam không có ai vô sở. Hiện ông và ba ông thượng sĩ Mỹ đang ở trong bếp để nấu cho tất cả các sĩ quan đang ở trong Splendid. Rồi sau đó họ sẽ làm đồ ăn gởi tới một vài nơi khác. Tôi liền đề nghị ông cho MP đến đón tôi, tôi sẵn sàng giúp một tay. Mới đầu ông tỏ vẻ ngần ngại, nhưng rồi ông đổi ý.

Hoà Bình, em tôi, còn đi học, chỉ làm thâu ngân viên bán thời gian trong sở tôi. Tôi hỏi em có dám đi làm với chị không? Em đáp:

“Má cho thì em theo chị!”.

Hai chị em tôi cho má biết chúng tôi sẽ đi làm. Lúc đầu má không bằng lòng, nhưng chúng tôi đã thuyết phục được má. Chúng tôi nói rằng tất cả 150 nhân viên người Việt không đến làm việc. Má đã dạy chị em tôi có tinh thần trách nhiệm. Chúng tôi đã học bài học ăn cây nào rào cây nấy. Chắc chắn người ta có đủ phương tiện an ninh bảo vệ cho mình. Má tuy không hài lòng mấy, nhưng cuối cùng má cho hai chị em tôi đi làm

Khi hai người lính quân cảnh Mỹ đậu xe Jeep trước cửa rạp hát Kim Châu, người nào cũng mặc áo giáp và mang súng M-16, má tôi buồn lắm, miễn cưỡng xuống bếp lấy cho chị em tôi 4 cái bánh ít, rồi dặn dò nếu thấy “không êm” phải xin quân cảnh cho về liền. Tôi hứa sẽ về thăm nhà, nội trong ngày hôm đó. Lính quân cảnh đưa cho chúng tôi hai cái nón sắt, và bắt chúng tôi phải cúi thật thấp, dù xe đã kéo mui kín mít. Xe phòng nhanh trên những con đường vắng như nghĩa địa. Khoảng 10 phút, chúng tôi tới sở làm. Trước cửa sở, những bao cát chất cao từ đất lên gần tới nóc nhà, bên ngoài lại có thêm mấy vòng giây kẽm gai giữ an ninh cho căn cứ. Cửa ra vào có hai quân cảnh đứng gác, ngoài súng M-16, họ đều đeo súng lục và giắt lựu đạn trên dây nịt. Trước khi vô trong, hai chị em tôi trả nón sắt cho quân cảnh.

Ông xếp giao việc giữ két cho em tôi, còn tôi phải lao đầu vào bếp để lo việc nấu ăn. Khoảng 4 giờ chiều, ông Lugent sực nhớ đến việc mở cửa cái bar, vì có nhiều sĩ quan uống rượu trước giờ cơm. Ông đẩy tôi ra bán rượu. Mà tôi có biết chai rượu nào là chai rượu nào đâu mà bán. Đi ngang qua chỗ Hoà Bình ngồi giữ cash, tôi vừa cười vừa nói với em tôi:

“Bấy giờ tao đi bán bar”.

Hai chị em tôi cười rũ rượi.

Khi ông Lugent mở cửa bar, mấy chục sĩ quan mừng lắm, vỗ tay vang dội, rồi tràn vô. Nhưng tôi thì lúng túng, vì tôi đâu biết pha rượu. Ông Lugent phải chỉ dẫn giúp tôi chừng 15 phút đầu tiên. Sau đó, một mình tôi phải tự lo lấy. Để công việc trôi chạy nhanh chóng mà các sĩ quan không phải chờ đợi lâu, tôi cho biết tôi chỉ có thể bán bia, rượu rhum pha với coke, Gin và Tonic, rượu Whisky và rượu chát. Tôi yêu cầu khách hãy thật thà tự động bỏ tiền vô một cái hộp cho tôi, vì tôi không có thì giờ thu tiền. Ngoài việc pha rượu tôi còn phải vô kho lấy thêm rượu, và lấy thêm chanh, muối, nước đá… Hai chị em tôi làm việc liên miên quên cả ăn trưa; đến chiều thì bắt đầu mệt mỏi rã rời. Trong khi đó trong nhà bếp, chỉ có 4 người, mà làm công việc của 50 nhân viên.

Buổi tối, sau khi phòng ăn đóng cửa, đáng lẽ quân cảnh lại đưa tôi về nhà thăm má để má yên tâm, rồi sáng hôm sau đến đón chúng tôi, nhưng chúng tôi thấy việc đi về trong tình hình này rất nguy hiểm, như giỡn mặt với tử thần, nên chúng tôi xin phép má cho chúng tôi ở lại sở làm; khi tình hình bớt nguy hiểm, chúng tôi sẽ về thăm nhà. Nói vậy thì nói, chúng tôi cũng nhớ Hải Vân. Minh Tâm lắm, nhứt là trong lúc loạn lạc này. Vì vậy, mỗi khi có dịp, chúng tôi lại nhờ mấy ông quân cảnh đưa chúng tôi về thăm nhà. Họ cùng chiều chị em tôi, nên sẵn sàng đưa đi. Khi về thăm nhà lần thứ ba, chúng tôi kêu quân cảnh chạy chậm để chúng tôi có thể quan sát hai bên đường. Thật là ghê gớm, không thể tưởng tượng được! Trên đường Công Lý, từ góc Lê Lợi tới Hàm Nghi, có nhiều nhà bị trúng đạn và người chết nằm rải rác trên lề đường. Hàng cây me cũng bị đạn, có cây đổ nghiêng, có cây gẫy nhiều cành. Nhưng chúng tôi chú ý nhất đến cái chết của hai cha con người dân Long An tỵ nạn lên Sài Gòn từ mấy tuần trước. Sau cuộc chiến Long An, gia đình này gồm ba người, hai vợ chồng và đứa con gái, chạy lên Sài Gòn. Cả ba đều bị thương nên phải vô bệnh viện Sài Gòn, trước chợ Bến Thành, để chữa trị. Người chồng và đứa con gái bị thương nhẹ nên được xuất viện sớm. Hai cha con không có họ hàng thân thích gì ở Sài Gòn phải dựng một túp lều bên hàng rào của một biệt thự dưới giàn bông giấy mầu tím trên đường Công Lý, giữa Hàm Nghi và Lê Lợi. Thấy họ quá nghèo khổ, mỗi khi đi làm, chúng tôi đều ghé thăm để giúp đỡ, lúc thì tiền bạc, lúc thì đồ ăn. Khi cuộc Tết Mậu Thân bùng nổ, họ không biết trốn đi đâu, nên đành cứ ở đó chịu trận. Xác của hai cha con bị văng tứ tung trước cổng biệt thự. Cái chân đang bị bó bột bắn ra giữa đường. Xác đứa con gái nằm úp mặt trên vũng máu khô. Trong khi đó, Sài Gòn vẫn còn ì ầm tiếng súng, lúc gần lúc xa; thần chết vẫn còn đang rình rập nơi đây. Tôi bấm bàn tay để coi đây là mộng hay đây là thật.

Đây là thật. Tôi đi giữa đổ nát và chết chóc. Tôi trách ông trời sao không bảo vệ được người ta. Nhưng cũng không quên cám ơn ông trời, cho gia đình tôi được bình yên.

Chỉ mới có một đêm không về nhà, không được ăn cơm nhà, vừa nhớ nhà vừa thèm mấy món ăn của ngày Tết. Nào là thịt kho nước dừa ăn với dưa cải; cá lóc kho tiêu kiểu của dì Dẻ, vừa mặn vừa ngọt, có tiêu sọ nguyên hột, dì kho đặc kẹo. Không ai kho cá lóc ngon bằng dì Dẻ… Tôi thầm tự hỏi, nếu sau này đi Mỹ, không có nước mắm, không có những món ăn Việt Nam, làm gì tôi sống nổi đây?

Về nhà, hai chị em tôi không những ăn cho đã thèm, mà còn trấn an được má. Suốt từ lúc chúng tôi rời khỏi nhà, má đứng ngồi không yên. Má thuật lại, là trước đó một ngày, lúc 9 giờ sáng, không còn giới nghiêm nữa, Hải Vân liền chạy ra chùa Bà Lai gặp Ali, rồi hai đứa đi giúp đỡ người dân bị nạn. Lúc về, Hải Vân có vẻ căm thù cộng sản lắm. Nó tuyên bố nhứt định vào không quân, để đi diệt cộng. Nó cho biết, chưa bao giờ nó thấy Việt cộng tàn ác như bây giờ. Nó thấy người chết dưới nhiều hình thức, chớ không phải chết vì súng đạn.

Vì giờ giới nghiêm đã giảm bớt, dân chúng bắt đầu đi lại, mặc dù tiếng súng của hai bên vẫn còn át cả tiếng xe cộ ồn ào trong thành phố. Kể từ lúc Hải Vân quyết định vô Không Quân, má có vẻ buồn, nhưng không nói một lời. Tháy má buồn, chúng tôi cũng không vui, nên bàn nhau không ngủ lại sở làm nữa. Tết chưa kịp đến, mà mấy ngày đầu năm đã có nhiều lộn xộn, không một chút hứa hẹn một năm mới được “An khang thịnh vượng”.

Cầm chĩnh đỗ

Hồ Đình Nghiêm 

Post by Sơn râu 9 Nov 2023

Cầm chĩnh đỗ

Hồ Đình Nghiêm 

Thông thường, mùa này trời không chóng tối. Trái khuấy do cuồng phong từ phương xa đã đùn mây đen, xua đuổi nắng, trám màu chì trĩu nặng trên vuông trời xuống thấp. Gió mặn miền duyên hải thổi về, xác xơ trên hai hàng cây cắm ngoài liên tỉnh lộ; luông tuồng run rẩy, tượng hình nỗi đe dọa, rằng sẽ có điềm báo một chia xa. Vật vã một nhắc nhở không gián đoạn. 

Người đàn bà ăn không hết chén cơm lưng, bỏ đũa. Em đi thay quần áo. Ừ, để anh dọn dẹp cho. Anh nói với: Đừng mang nhiều thứ quá, một túi nhỏ thôi. Khuất sau cánh cửa, người đàn bà gửi ra thứ tiếng động của lục soạn, những hộc tủ kéo, đóng. Thứ tiếng nghe bồn chồn, của đôi tay mất sự tập trung. 

Người đàn ông đi lại bên ngạch cửa, những giọt nước lưa thưa bắt đầu làm đen bậc tam cấp loang lỗ màu xi-măng. Sự thẩm thấu chậm rãi nhưng dần dà mọi vật sẽ chịu một đổi thay. Anh nên gọi về nhà một tiếng để thông báo. Người đàn bà đặt cái túi vải lên ghế, một tay vịn mép bàn. Da mặt xanh, giọng nói yếu, những cử động chậm; nguyên cớ do bởi cô đang mang thai. Bụng đã lớn và nó khiến cô khó khăn che dấu những biểu hiện. Như cảnh quang một ngày xấu trời, sáng tối bất chợt, cau có trần mây thấp. Người đàn ông moi từ túi quần ra chiếc điện thoại di động trong lúc vợ anh để mắt tới những hạt mưa rơi ngoài thềm, mỗi lúc chúng có vẻ như đan kín, hối hả hơn trước. 

– Tụi em sẽ ra bến xe. Chắc đến khoảng sáu giờ chiều… Không chị, Nhàn đi trước, em lo một vài việc, xong sẽ có mặt dưới đó, chậm lắm là hai ngày… Vậy à? Ở đây trời đang chuyển đổi, mưa to gió lớn… Em có xem ti-vi, chỗ chị ở không bị ảnh hưởng cơn bão… 

Người đàn bà dùng tay thoa nhẹ vào bụng, chậm rãi đến bên cửa sổ ngó hàng cây thưa đang run thân dầm mưa. Lá như bị vặt bớt đi. Trong màn nước, cảnh sắc thường ủ dột, chán tẻ, đơn điệu. Đi chưa anh, mưa mỗi lúc như nặng hạt hơn. 

Người đàn ông phụ vợ khi cô mặc chiếc áo mưa sột soạt vướng víu vào thân. Anh đeo túi vải của vợ trước khi trùm kín chiếc poncho thụng thịnh. Mưa đâm ngoài tai lục bục thứ tiếng đục làm át giọng người vợ khi anh dắt xe gắn máy ra sân. Khởi động máy nổ, anh nói gần như hét lên: Chỉ hai hôm thôi, anh cố xong việc sớm. Không, em chỉ hỏi là chị Thanh sẽ đón em ở bến xe hay em phải dùng xích lô? Nếu không đón được chị sẽ biểu thằng Quảng đi thế, em đừng ngại. 

Chiếc poncho làm người anh ấm, nhưng ngược lại anh cũng đón nhận sự châm chích của mưa đi dọc theo sống lưng, nhột nhạt. Áo đã cũ và dẫu lành lặn, nó không tài nào giúp ta khô ráo khi đứng dưới thứ vũ lượng này. Nó lùng bùng trên đầu anh nãy giờ cũng chỉ ngầm thông báo chuyện giản đơn ấy. Anh ngó tới vợ mình để hiểu rằng rồi cô cũng bị thấm ướt, chiếc áo che mưa kia chẳng tài nào bảo vệ được cái bụng trương lớn của cô. Anh khoá kín cửa để người vợ hiểu đã đến lúc leo lên ngồi trên yên có vẻ trơn láng. Cô ôm siết lấy người chồng. Anh quay đầu:
Được không? Anh sẽ cố chạy chậm.
Được. Người vợ nói chỉ một chữ. 

Xe chạy trên những khúc đường vắng. Khi người ta chờ đợi cao xanh gieo hiểm hoạ đến, người ta trú thân vào chỗ xét thấy vững chãi nhất. Chạy ngoài đường cũng là cách đi tìm một nơi để nương thân. Vợ anh chẳng thích di chuyển dưới gió mưa nhưng vì mang thai, gần ngày lâm bồn nên cô buộc lòng phải nghe chồng thuyết phục, rằng bão tố thì dễ dẫn tới tình trạng mất điện, và nhà hộ sinh dưới kia đầy đủ tiện nghi hơn, chưa kể sẽ có hai ba người trong gia đình bỏ công tới chăm sóc, trông nom. So ra, đó là sự tính toán không thể làm tốt hơn, dù tạm rời xa, dù anh thực bụng chẳng muốn cô ấy đi biển mồ côi một mình. 

Bến xe đông người hơn anh tưởng. Anh chạy vạy được một chỗ ngồi tốt trên xe cho vợ, anh thành khẩn nói với người đàn bà đứng tuổi ngồi ghế kế cận, xin hãy giúp đỡ một người đang mang thai, sẽ sanh con so, đầu lòng.
Anh xuống khỏi lòng xe chật, đội mưa, bồn chồn đứng cho tới hồi chiếc xe đò mang biển số chín nút rời bến. Anh không thấy vợ, cửa kính bên thành xe mù mờ, ẩm đục. Và rồi mọi thứ trôi đi, vất anh lại giữa khoảng sân rộng phập phồng gió.
Anh ngó thấy một vuông cửa mở, qua màn mưa mờ che nó vẫn hiển lộ rõ cái hấp lực của sự ấm cúng. Một cốc cà phê, trong lúc này đây xét thấy chẳng có gì quan trọng hơn. Người anh sẽ ấm lại, áo quần sẽ khô ráo. Và như vậy anh đỡ cực lòng nếu đón nhận điều thất thường.
Quán mọc bên hông bến xe nên nó giản lược đến cuối cái đơn sơ. Chỉ có ghế và bàn, chỉ có ly và tách, chỉ có hương cà phê và mùi khói thuốc. Nó từng xiêu vẹo nên giông bão có đi ngang qua nó nguyện sẽ hiến thân cho thần gió, mặc tình muốn trấn lột thứ gì thì cứ tháo gỡ. Và chủ quán biểu lộ cái dửng dưng, ngay cả khi đón khách. Không nhăn nhó, chẳng vui thú. Ông chậm rãi thực thi những đòi hỏi. Ông quen với sự cam chịu, có lẽ vậy. Thái độ ấy, không chắc ai cũng học được. Thường thì người ta bẳn gắt làu bàu chứ chẳng câm lặng như thế.
Cà phê ngon không ngờ tới, điếu thuốc đầu ngày cũng vậy, đậm đà. Khi bắt đầu loay hoay tìm được chút tiện nghi, anh moi chiếc điện thoại thông minh ra.
Mình ngồi uống cà phê bên bến xe… Ừ, đã vừa đưa bả đi… Nghỉ làm à… Vậy mình đợi ở đây hay sao?… Cũng được, tụi mình sẽ ăn ở chỗ đó cũng tiện.
Anh lại dầm mưa khi thân nhiệt chưa kịp ấm lại. Thực ra thì có đôi kẻ xem việc đi trong mưa tựa một hành động dầm dề thứ hạnh phúc nó có. Tuổi trẻ anh từng chứng nghiệm điều ấy, đó là thời gian đầu khi anh ngỏ lời yêu cô. Đi sát vào nhau, che dù và lội bộ không mỏi mệt trên tất cả những con đường chợt thu ngắn lại. Dĩ nhiên, nếu hoán đổi bằng một ngày nắng, con tim lúc đó sẽ không lấp đầy thứ ân sủng dịu dàng choáng ngợp kia. Những đứa ca tụng về màu nắng e lòng chẳng yếu mềm như đứa ngợi ca những cơn mưa. Và mưa hôm nay trở về để mang cô đi ra khỏi thành phố, mưa ngập một nỗi niềm đang vây khổn anh.
Anh đến đúng hẹn. Có nghĩa là người anh cần gặp cũng vừa dựng đứng chiếc xe máy trước quán mang bảng tiếng Tây: Dèja Vu. Không rõ bên Pháp, ngoại quốc nói chung, khi biết bão đang kéo tới, họ còn lòng dạ để dắt nhau đi kéo ghế?
Anh kéo ghế cho người ấy được thong dong ngồi xuống. Những lọn tóc ướt như chôn ở đó một hương mùi khiến anh bần thần. Tinh dầu của giống hoa gì mà mang sức quyến rũ nhường ấy? Vợ anh dường như theo tự nhiên chủ nghĩa, cô không màng tới những mỹ phẩm và có khi anh đã dốc lòng để cổ xuý việc ấy. Anh thích vùi mặt mình vào người vợ, và da thịt trinh nguyên của em tự thân đã là kho hương liệu chất ngất thuỷ chung đậm một thứ mùi khó trùng lẫn, riêng em và riêng của anh.
Chúng ta ăn cái gì dằn bụng trước, hay anh muốn đón nhận tin tức trước. Xin thực lòng để nói: tôi muốn chia buồn cùng anh. Người ấy nhập đề, khuôn mặt dễ nhìn, tươi mát; như thề đoạn đường cô vừa trải qua mưa đã tắm gội hộ những điều mà người ta gọi là phiền muộn. Một cành hoa vừa được tưới nước cũng chỉ tươi mươi có ngần ấy. Và đã là hoa thì kẻ ngắm nhìn khó lòng nhận biết cái già cỗi nó ủ ấp. Một vẻ đẹp chẳng tuổi tác khi hiện hữu.

Anh ít có dịp để gặp cô, phần vì ai nấy đều có việc để lo toan, để mưu sinh với lủ khủ công ăn chuyện làm; phần khác anh đã có gia đình và song phương vẫn ái ngại một ngộ nhận đến từ tha nhân. Gặng hỏi, chất vấn, ghen tuông sẽ cướp mất thứ sinh khí mà người ta cần bảo vệ để sống thở. Hôm nay thì khác, một ngày đang chờ chực giông bão, từ thiên nhiên cũng như từ hệ huỵ chính con người nhiễu sự tạo nên.
Như chẳng dằn lòng, người ấy cúi đầu đưa tay lục soạn vào cái túi xách vẫn nằm trên đùi cô. Thu mình trong xách nhưng khi thoát thân, tờ giấy tuồng như bị cảm lạnh, èo uột rơi xuống bàn. Góc giấy in tên và địa chỉ cơ quan cô ấy làm việc, phòng thí nghiệm và phân chất trực thuộc bệnh viện trung ương. Tên họ anh, ngày tháng năm sinh, phái tính, loại máu, nước tiểu, tinh trùng, vân vân và vân vân, bla bla bla để cuối củng là theo kết quả khám nghiệm: “Vô sinh”. Chữ ấy nằm trong vòng tròn mực đỏ có ai buồn tay tô đậm nét.
Vô sinh. Anh đọc lên, khá to, như một thực khách vừa chọn xong món ăn in trên tờ bìa tấm thực đơn. Tôi không thể hiểu. Là sao? Có nhầm hổ sơ của một cha nội nào khác không?
Người ấy thay vì khoanh hai tay trước ngực, cô dùng một cánh tay với năm ngón chống cằm hứng đỡ một dung nhan bắt đầu đọng nhiều bóng tối. Ca này do chính tay tôi xét nghiệm và với mười hai năm kinh nghiệm trong lab… Tôi thực chẳng biết nói gì hơn, tôi hiểu được cái trạng thái anh đang phải chịu đựng. Tôi đã dùng tới chữ xin chia buồn, tôi lập lại. Bởi nỗi buồn này nó to tát quá…
Anh nghĩ tới người vợ đang ngồi trên xe đò chạy băng trong gió mưa ở quốc lộ luôn cài đặt những khúc quành chết người. Tài xế ngủ gật, xe lạc tay tái đâm đầu xuống sông hồ, hỏng chân thắng để tạo tai nạn liên hoàn. Hằng ngày những thứ tin không đáng có cứ phải truyền đi trên mặt báo, trên truyền hình. Nhưng tuyệt không ai đào sâu về gốc gác một thai nhi nằm ẩn khuất trong bụng mẹ. Này con, chứ ba con là ai?
Tự dưng trong trí anh sắp hàng một dãy khuôn mặt bạn bè. Những thằng đã có vợ hoặc những đứa độc thân. Những hình ảnh như biết trò luân vũ có mưa gội xoá nhoè nhoẹt mà anh, một mình chịu hứng đỡ giữa trung tâm cơn bão càn, nhọc mệt bao tai ương.
Sao rồi? Đâu còn lòng dạ để nuốt trôi thức ăn, đúng không? Anh ngó sâu vào đôi mắt người ấy. Người vừa thảy ra một dấu hỏi khiến anh quặn ruột. Đôi mắt sâu đen có kẻ đường chì xám trên mí. Dù gió mưa, bất luận với khung cảnh nào, khi ra đường cô ta cũng mất chút ít thời gian để sửa soạn điệu đàng. Cô đã nhọc công đến và anh phải đền bồi tấm thạnh tình kia. Trước sau, cô vẫn là người bạn tốt. Những người sẵn lòng dội gáo nước lạnh vào mặt ta thường mang sự chí tình khi muốn ta tỉnh thức. Vô cớ giận lẫy thì nông cạn quá. Và anh luôn coi thường mấy đứa giận cá chém thớt.
Bạn gọi thức ăn đi chứ. Bạn ăn gì mình ăn tựa thế, hai phần giống nhau. Bão sẽ ập về, chợ búa tiêu điều, vật giá leo thang, củi lửa khan hiếm, ăn thật no lúc này là quyết định sáng suốt. Anh nói. Hình như đôi mắt không nháy kia có thu giữ khuôn mặt tựa gà nuốt giây thun của anh. Một tấm gương thần biết đọc ra nỗi niềm của kẻ vừa săm soi.
Người ấy vẫy tay ra hiệu và gọi một món ăn đặc sản của nhà hàng, hai tô lớn. Tôi uống cà phê sữa nóng còn anh này thì một chai bia, hiệu gì cũng được, miễn là bia ướp lạnh.
Môi có thoa son đỏ và không phai nhạt thứ hương hoa đã bám vào người cô. Cách một vuông bàn, anh ngửi ra trọn vẹn cái mùi nồng đậm, dằn vặt đến độ buồn rầu vô cớ. Trên trung bình mọi thứ, công việc ổn định nhưng tại sao người ấy vẫn ở không? Vẫn một mình trong căn hộ tiện nghi thuê ngay trung tâm thành phố. Đã nhiều lần anh dìm xuống nỗi hoài nghi, anh tuyệt chằng muốn đón nghe một giãi bày từ phía cô. Anh vẫn đứng yên trong lằn mức anh tự vẽ đường phấn giới hạn, bước ra khỏi nó là hành động của kẻ đi xâm phạm làm vấy bẩn tình bạn. Chắc cô quý anh do bởi cô đồng tình về chuyện đó. Cả hai đều đồng thuận thứ lề luật đèn nhà ai nấy sáng.

Nhưng giờ đây, cực lòng quá, anh phải vượt rào. Anh không rót bia ra ly, anh tu từ miệng chai vừa khui mở. Người anh nóng ran. Bạn cho mình một lời khuyên, bởi bạn đang sáng suốt, mình sẽ phải làm gì ở những ngày tới?
Người ấy xâm phạm biên giới, đưa cánh tay sang khoảng cách mặt bàn và lùa năm ngón vào đầu tóc anh. Anh sẽ không làm gì cả, tốt nhất là bình thường hoá sự việc cho tới ngày chị ấy sinh con. Hãy nhìn mặt đưa bé, hãy chứng tỏ mình là một người cha bình thường tới độ tầm thường như tất cả những người đàn ông khác, lăng xăng cuốn quýt vụng về khi vợ vừa đẻ đau.
Nên nhớ cho cây kim nằm trong túi lâu ngày cũng sẽ lòi đầu ra. Một đáp án ngay lúc này cũng chẳng mang anh thoát ra khỏi sự quẫn trí. Hãy nuôi giữ sự sáng suốt. Đừng làm nhiều người thất vọng.
Nhiều thực khách từ bỏ chỗ ngồi ấm cúng rời khỏi quán với bộ điệu vội vã. Có người nói họ thử sử dụng điện thoại nhưng bị mất sóng. Màn ảnh máy truyền hình nhập nhoà đường nét, vằn vện những đường ngang dọc.
Chúng ta về. Người ấy nói. Nếu muốn, hãy ghé lại đằng chỗ tôi trước, xem tình hình ra sao rồi hẳn tính.
Cây lá vật vã trên đường lớn. Đôi ba bộ hành đi khom thân bên kia lề, bước chân như có ai trì kéo. Người ấy níu lấy chiếc poncho anh mặc, tấm bảng hiệu “Nhà Nghỉ Hạnh Phúc” rời khỏi nơi máng treo bay vụt đi như một cánh diều đứt dây. Anh ôm siết lấy thân người cao ngang cằm bởi anh sợ cái mong manh của cô sẽ bị gió cướp đi.
Chẳng toan tính, không hò hẹn, chẳng nói năng, không cù rũ, cả hai tự động dắt xe băng qua mặt lộ trống trải để ẩn thân vào nhà nghỉ đã bay mất chữ hạnh phúc. Mọi con đường khác đều quá xa xăm, đều bất ổn.
Khi người ấy đứng làm thủ tục nhận phòng với nhân viên nhà nghỉ, đồng hồ máng trên vách chỉ đúng vào con số 3. Vào giờ đó, bình thường xe đò chở người bụng mang dạ chửa sẽ tới bến. Anh lấy điện thoại ra nhưng màn hình không lưu giữ một tin nhắn nào cả, tựa như nó hấp hối đã lâu và lạnh tanh với cái chết vừa đến.
Mưa ngoài hiên vẫn rầm rộ trút. Thịnh nộ. Anh nói thầm. Trong bốn năm sống đời chồng vợ khắn khít, anh có gây ra một lỗi lầm nào cho em không? Một vết nhơ khó thứ tha? Một sự bội phản?
Người ấy đến kéo tay anh, cô nói: Hãy vào nằm nghỉ một lát cho lại sức, chúng ta đã trải qua nửa ngày trời quá mức chịu đựng.
Nhân viên mặc đồng phục quan sát anh, tay trái anh có đeo nhẫn. Chúc ông bà tìm gặp giấc ngủ an lành, thức giấc có khi lại trời quang mây tạnh chẳng chừng.
Em yêu, anh sẽ cố ngủ giữa phong ba. Trong mê thiếp, em hiện ra, vẹn toàn một hình ảnh cũ, dung nhan thuỳ mị của một người vợ thuỷ chung.