Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 12 Nov 2023

Mẹ đã đi với thầy

Đặng Chí Bình

Bài 50

Sáng sớm hôm sau, xách hai gói mì, tôi chạy vào ngôi “biệt thự” giữa rừng hoang, của tôi. Trang trọng, nhóm lửa, ca nước sôi, vừa uống vừa ăn mì xong, tôi ghé ra dòng suối tiên rửa mặt, rửa tay, chải đầu, bấy giờ tôi mới nhẹ nhàng khe khẽ, bóc lá thư. Từng chữ ngọt ngào của vợ tôi như múa, như giẫy lên đành đạch trước mắt tôi.

Tôi nhắm mắt ngồi im, chỉ còn tiếng gió rừng thì thào, tiếng suối rỉ rả cười, khóc triền miên. Tôi lại mở mắt ra đọc lại lá thư lần nữa, cố coi như ấn tượng khi nãy chỉ là ảo giác. Người mẹ kính yêu của tôi đã về với thầy tôi’

Người đã mất 36 ngày rồi, lá thư Hoa đã viết ngày 8 tháng 5 1983, sau khi mẹ tôi đã mất đúng một tuần. Một ý tưởng dậy bảo của Đức Không Phu Tử, lấp ló trong đầu:

Phụ mẫu tại đường..-…bất khả viễn du..-…

(Cha mẹ già còn sống, con cái không được đi xa)

Tôi có lý do vững vàng, nhưng mắt tôi vẫn mờ đi. Hai giọt nước mắt đã rơi xuống đùi, chính mẹ tôi đã cho phép, và giục giã tôi ra đi. Cũng một ý tưởng khác chợt đến, làm cho mắt tôi sáng dần ra. Mẹ tôi sống ngày nào trong mù lòa tăm tối, xa chồng, xa con, càng mòn mỏi héo hon. Như vậy mẹ tôi về với thầy tôi sớm ngày nào, tôi phải vui lòng, tuy còn một chút co xoắn vặn vò: Tôi chưa đi hẳn tới bờ, nên mẹ tôi chưa hề được nếm thử một trái ngọt, hoa thơm, mà người đã bỏ công vun trồng.

Bù lại, trong lá thư tôi đã để lại một giọt máu nữa, trong Hoa. Không biết là trai hay gái, gần 7 tháng rồi, vợ tôi bụng chửa, con còn dại, giữa chợ đời khoai sắn, cũng không đầy bao tử.

Lá thư có mỗi một điều, làm cho bụng tôi cũng phải nở nụ cười, Hoa nói: “Cô Ngọc Anh CA khu vực đã trợn mắt nói với Hoa: Anh Bình vẫn nói: Còn người mẹ mù lòa, tầu có đến đón, cũng không đi.”. Thế mà đã biến rồi, ai ngờ được?

Tôi cười bụng, vì tôi đã lừa được chúng. Hai ngày sau, tôi đã được phái đoàn Mỹ chấp nhận. Họ hỏi tôi:

– Anh không có thân nhân nào ở Mỹ, vậy anh muốn đến tiểu bang nào?

Tôi đã trả lời rành rọt:

– Tôi xin ghi lòng, nhân dân Mỹ đã mở bàn tay nhân đạo, đón nhận tôi. Bất cứ nơi đâu trên thế giới này, không có mùi tanh hôi mủ máu của con Hồng Tuộc, là thiên đàng của tôi rồi.

Còn 13 ngày nữa, tôi sẽ được đi chuyển vào Galang II, là khu cho những đồng bào, đã được phái đoàn Mỹ chấp nhận. Già một nửa thuyền của tôi không được Mỹ đón nhận, họ đi Úc, Canada, v.v…

Đặc biệt có anh Trường, đại uý công an, không được đi Mỹ. Lại có dư luận về tới Việt Nam, là do tôi, có ý kiến với phái đoàn Mỹ.

Thân tôi cũng bèo bọt như những người tị nạn khác. Nếu tôi được làm theo ý, anh Trường là người được ưu tiên nhất đi Mỹ. Anh đã thực sự kinh tởm cái chế độ phi nhân tính, anh đã tẩy trừ được máu độc, bùa mê của con Hồng Tuộc trong con người của anh. Anh đáng được khích lệ, biểu dương hơn nhiều người của chúng ta, trong đó có tôi.

Một buổi trưa, tôi đang ngồi cặm cụi nhặt lưọm một số từ Anh Văn trong căn lều con giữa rừng thì có bóng một người thấp thoáng tiến vào. Cô Hoài! Cô là chị của Hằng, làm cho tôi đến ngỡ ngàng. Căn lều chỉ đủ chỗ cho hai người ngồi, vậy mà cô cố lách vào.

Điều chính yếu là cô muốn khoe với tôi, cô đã được phái đoàn Mỹ nhận và cô cũng sắp vào Galang II. Ngồi trong căn lều chật, hơi hướng của cô phả ra như mưa bụi, nhiều lúc tôi phải nín thở để đè ngọn lửa, cứ đòi phực lên trong lòng. Lẽ thông thường, mèo đi lùng sục tìm mỡ, nhưng hôm nay, do hoàn cảnh tị nạn đã đến được bờ tự do.

Lòng của ai, to nhỏ tùy theo đều mở, nên mỡ đã bò đến miệng một con mèo. Con mèo này cũng thèm lắm, nhưng có một sức mạnh vô hình áp đảo, nên đành dội cho tắt ngấm ngọn lửa ở trong lòng.

Hơn một giờ chuyện trò, có lúc cô đã rủ tôi ra bên dòng suối mơ, đứng nghe tiếng cười róc rách của những giọt đời khua khoắng. Sau khi tiễn cô ra, tôi lại mò mẫm vào căn lều, hãy còn đầy ắp hơi hướng của cô Hoài.

Từ ở Natuna, Kuku, cho đến Galang tôi chưa một lần nói chuyện hai người, kể cả những điện từ của đôi mắt với cô. Hẳn cô thấy từ 6, 7 tháng nay tôi và cô Hằng, không còn liên hệ gì với nhau? Thôi cứ để cho dòng đời tôi theo những nẻo riêng, của mỗi người. Tuy vậy, cô Hoài cũng đã khuấy rối lòng tôi, cả buổi chiều hôm ấy. Ngồi, nhìn những từ ngữ tôi đang cần thu nhặt, chúng cứ ngoáy lên chẳng chịu chui vào trong tiềm thức.

Nghe một tiếng chim kêu lạ, tôi chui ra khỏi lều, một con chim to như con thỏ non đến thì, có cái đuôi cánh chả dài như đuôi công. Đầu nó có một chùm lông, trông như một cái ngù vàng và đỏ, tưởng như nó đang đội một cái mũ cánh chuồn. Nó nhìn xuống dòng suối, rồi lại nhìn tôi, kêu:

Kê … tai … kê … tai … mà tôi nghe như kề tai …. .kề … tai … .Tôi định dướn lên hỏi nó: “Kề tai để làm gì? ” Nhưng tôi chợt kìm lại, làm sao nó hiểu được tiếng người? Tôi chưa hề trông thấy một con chim nào như vậy ở quê hương. Tôi đã ngẩn ngơ nghe nó kêu lâu lắm, cho đến khi nó cất cánh bay đi.

Nhớ lại, lúc nói chuyện với cô Hoài, tôi được biết vợ chồng Phạm Lộc, cả gia đình bác Lý Văn Bang, cả cậu Sinh vua trèo dừa, cũng sang Úc. Và cậu Sinh cũng sẽ là rể tương lai, của bác Bang. Ngay buổi chiều hôm ấy, tôi đã gặp vợ chồng Lộc. Vì người ân, và vì món nợ danh dự 3 cây vàng, Lộc+ Liên chưa có địa chỉ ở Úc. Tôi và Lộc đều lờ đi “cái quắc mắt lườm” hôm ấy. Có thể thấy tôi và Hằng như không còn liên hệ, nên vợ chồng Lộc lại vồn vã như xưa. Phái đoàn Mỹ đã cho tôi một cái địa chỉ ở Mỹ, để liên lạc thư từ.

Hội IRC

140 Boylston St.

MA. 02101.

Tôi chẳng biết nó ở đâu, tôi cứ đưa cho vợ chồng Lộc để sau này phòng hờ, liên lạc. Ngày 8 – 6 tôi được chuyển vào Galang II, cách Galang I chừng 3 cây số. Galang II lúc ấy có khoảng 4.000 đồng bào, cũng có một ban đại diện.

Từ hơn một tháng trước, do tình cờ tôi quen một anh đại úy pháo binh, tên là Đỗ Văn Thịnh. Cái lon Đại Úy của anh phải đeo hàng chục năm, chỉ vì anh là loại người đứng thẳng bằng đôi chân của mình, và đầu của anh cũng không biết cúi. Đấy cũng là điều tôi trọng quý anh.

Sau khi anh biết sơ lược về chuyện tù đày của tôi, và thấy tôi cứ hay vào rừng một mình. Anh khích lệ, là tôi cần phải hòa đồng với mọi người.

Anh đã trên 50, và anh lại là người từ chối, không đi Mỹ, dù anh đã đi tu nghiệp ở Mỹ gần 2 năm. Anh đã xin đi Úc. Cũng chính do anh giới thiệu, nên khi vào Galang II tôi đã đảm nhận phần việc Trưởng phòng tiếp liệu. Vì anh đã hiểu tôi, nhìn lợi và danh, như nhìn lá cây trong rừng.

Phòng tiếp liệu ở một trại tị nạn, cũng chẳng có gì. Tuy vậy, do buổi đầu nhiều khó khăn thiếu thốn, cũng đã làm cho nhiều người khúc mắc. Cụ thể, mấy ông trưởng phòng trước, cũng có một vài vấn đề. Cũng chẳng có gì: Mì gói, gạo, cá khô, xà phòng, trứng vịt, gà. Đôi khi có chăn màn, văn phòng phẩm v .v…do Cao ủy tị nạn cung cấp.

Tôi cũng đã đắn đo mấy ngày, dù chưa bao giờ có, nhưng danh và lợi đối với tôi vẫn bàng bạc như lá thu, còn cõng hè. Nhìn lại suốt 18 năm tù ngục, ở cả các trại tù trung ương. Nếu ham muốn, tôi cũng tạm đủ khả năng làm trật tự thi đua, buồng trưởng, đội hay toán trưởng. Nhưng cao nhất chỉ là tổ trưởng một tổ mộc kỹ thuật, về chuyên môn, đó cũng là chỗ đứng của tôi ở trong tù. Nếu không thì sẽ cũng như anh Luyện, “ăn đói nằm co, còn hơn ăn no, vác nặng”. Nhưng mà nằm “co” một chỗ thì làm sao hiểu, biết được những sự việc ở bên ngoài trại chung?

Huống chi ở đây là làm cho mình, cho những đồng bào tị nạn Cộng Sản như mình, nên tôi đã nhận lời.

Ban đại diện khi đó, do anh Vũ Minh làm trại trưởng, bác sĩ Vũ Linh Huy là tổng thư ký và có 4 phòng: Trật tự, giáo dục, thông tin và tiếp liệu.

Phòng tiếp liệu có 5 nhân viên phụ giúp, lương tượng trưng mỗi nhân viên 500 Rupias, trưởng phòng 800 Rupias. Tôi ở thuộc Zone D, mỗi Zone từ 5 đến 7 banack. Tôi nhớ Cao Xuân Huy cùng tầu khi ấy, cũng là Zone trưởng một Zone.

Galang II bắt đầu có chủ trương mới, mọi người được nhận vào Galang II để đi Mỹ, đều phải được khảo sát về trình độ Anh Ngữ. Tùy theo trình độ để phân bổ thành các lớp học từ 3 đến 5 tháng. Sau đó, phải học thêm nếp sống văn hóa của nước Mỹ. Như thế, lớp cao nhất là C.O (Cultural only), nghĩa là, chỉ cần học để có khái niệm, về nếp sống văn hóa ở xã hội Mỹ.

Tôi do may mắn, và cũng có thể do ấn tượng, trong lúc trao đổi khảo sát, của những giáo viên Anh Ngữ Indo. Khi họ biết tôi đã được CIA huấn luyện đào tạo, ở Sài Gòn (hơn 20 năm xưa), nên tôi chỉ phải tham dự lớp C.O. Họ chăm chú, tò mò hỏi những chuyện, một mình tôi dám xông vào bên trong bức màn sắt của Cộng Sản?

Trong một cái trại tị nạn Cộng Sản hơn 4000 người, thì hàng ngày có nhiều những sự việc, tình huống xẩy ra. Có một sự việc vẫn còn đeo mắc, trong lòng tôi đến ngày hôm nay. Hôm ấy là một ngày phát phần thưởng mãn khóa cho các lớp học Việt Ngữ, của các cháu nhỏ từ 7 đến 15 tuổi.

Hàng mấy trăm các em thiếu nhi, hàng nghìn phụ huynh và đồng bào trong trại, có quan khách Indo và Cao ủy tham dự. Ngoài sân trại ban đại diện, lá cờ vàng 3 sọc đỏ tươi roi rói, uốn éo sóng đôi với lá cờ Indo, mầu trắng đỏ, đứng bên cạnh.

Sau bài quốc ca chào cờ của Indo, đến khúc nhạc chuẩn bị chào Quốc Kỳ Việt Nam. Đứng trong hàng ban đại diện, tôi dõng dạc, hùng hồn cất cao lời ca, hòa đồng với hàng ngàn cái miệng, làm nóng sôi, râm ran bầu không khí của cả một vùng. Nhiều chỗ, tôi phải dựa vào chung quanh để gào, hát Quốc Ca từ hơn 20 năm không được dự hưởng.

Mắt tôi ngước nhìn lá cờ vàng, của Tổ Quốc giẫy dọn, như đang cuốn hồn dân tộc, khí thiêng của sông núi trong ánh hào quang của mặt trời, lòng tôi thổn thức rung rưng sung sướng. Nhiều người lên nói chuyện tôi đã quên rồi, nhưng ông Siu Năng Năng đại diện của Galang, nhìn xuống các em thiếu nhi Việt Nam, nhắc nhở:

– Rồi đây các em sẽ đến sống lập nghiệp ở một nước thứ ba (nước Mỹ). Các em hãy luôn luôn ghi nhớ mình là người Việt Nam, thì phải biết tiếng Việt Nam!

Bằng những âm sắc hơi là lạ của tiếng Anh, ông đã làm tôi xúc động đờ đẫn: “Một người Indo, lại quan tâm nhắc nhở con em của dân tộc tôi. Nhưng chính chúng tôi, những ai còn ý thức tự trọng mình là người Việt Nam? Tôi xin cảm ơn ông Siu Năng Năng mãi mãi “. Ông đã dậy cho tôi một bài học ý nghĩa.

Một thoáng chợt về gặp cụ Bàng Bá Lân:

Đừng lo đàn con dốt Anh Văn!

Mà sợ chúng quên gốc, quên nguồn, mà thôi.

Một buổi trưa, tôi đang ngồi làm tổng kết cho qúy hai, thoáng một bóng người lấp loáng, ngoài cửa văn phòng. Một anh chừng 4 chục tuổi, giọng Nam Trung nhẹ như ca, như hát:

-Ông là trưởng phòng hả? Vui lòng cho tôi xin một lọ corrector!

Sau khi được biết anh là Lý Tống, như thấy được món hàng tôi đang cần tìm. Dịp may đưa đến, tôi đã vồn vã, cả buổi chiều hôm ấy, anh và tôi đã say sưa đưa nhau ra hội trường vắng vẻ, đổi trao những chuyện quê hương và những chuyện đời. Khi đã là bạn bè, tôi đã trầm trồ muốn được đọc, xem cái kế hoạch tiêu diệt Cộng Sản anh đã nói với ông đại sứ Mỹ ở Thái Lan. Anh đã trả lời tôi là: “Anh quá nhiều sách vở, giấy tờ, bây giờ không biết để lẫn vào đâu? ” Anh hứa sẽ tìm. Những lần sau tôi hỏi đến, anh vẫn chưa tìm thấy.

Một kế hoạch thần kỳ như vậy, thật đáng tiếc cho quê hương, cho nhân loại!

Cho tới ngày sang Hoa Kỳ, khóa học trước, sau, mỗi người một hướng, trong cái bao la của nước Mỹ với vạn nẻo đường tị nạn quê người, chưa một lần nào Lý Tống và tôi gặp lại. Dù khi chia tay ở Galang Lý Tống đã viết vào cuốn sổ của tôi một địa chỉ ở đại học Harvard để liên lạc, khi đến Mỹ. Thậm chí 2002, tôi đã lên đài Sống Trên Đất Mỹ để ca tụng những chiến công có một không hai của anh ở Việt Nam, ở Cuba.

Một lần, đài Sống Trên Đất Mỹ đã mời hai diễn giả trong một buổi lễ kỷ niệm của đài, là Lý Tống và tôi. Nhưng thật không may ngày ấy, dù ông Vạn Võ đã gửi vé máy bay sang, một lý do bất khả kháng, tôi không đi được. Tôi đã tưởng buổi ấy, để Lý Tống biết được tác giả Thép Đen chính là người đã quen nhiều với Lý Tống ở Galang.

Đã có những chuyện ngộ nghĩnh như một anh đại úy Dù (quen ở Galang), đã mua hai cuốn l+ 2 Thép Đen, gửi cho tôi với lời đề tặng: “Đây là một tác phẩm đáng giá, anh cần phải đọc” (Tôi vẫn giữ để kỷ niệm).

Cũng thật là hiếm trong lĩnh vực văn chương, mua sách của tác giả, để tặng cho tác giả. Cho đến bây giờ anh bạn đại úy ấy, cả Lý Tống và nhiều người nữa, vẫn hiểu ĐCB và người quen biết cũ, là hai người.

Một buổi trưa, tôi ở phòng tiếp liệu trở về barrack, bà con kháo nhau là cái cô Hoài rất ăn diện. Đêm qua, có một anh trung úy hải quân đã từ buồng của cô trèo qua cửa sổ ngã, phải đi băng đầu gối. Tôi thấy chuyện như vậy là bình thường. Biết bao nhiêu cô gái thích ăn diện lại không có tiền, trong khi thoát khỏi sự kiềm tỏa của gia đình.

Tôi đã đau lòng với những cô gái Việt, sóng đôi, hoặc thậm thụt với cảnh sát Indo. Tràn lan những chuyện ngược xuôi não ruột, thậm chí có cô bụng chửa, có cô đẻ con. Những vấn nạn này, nguồn gốc do đâu?

Một ngày chủ nhật, tôi rủ cậu Công và cậu Ngọc Anh (tên giống cô công an khu vực) lần mò ra cái nghĩa địa ở một nơi hẻo lánh, giữa Galang I và II. Tôi và hai cậu cứ lang thang cả buổi, hết ngôi mộ này đến ngôi khác. Gần hai chục nấm mồ vô chủ, đã nằm lại nơi đất khách. Như một chút lòng của người cùng một nước, chúng tôi thăm viếng.

Hai cậu đều là nhân viên phòng tiếp liệu, do một sự tình cờ năm 2001, tôi gặp lại cậu Ngọc Anh ở một Super Market. Mãi tôi mới nhận ra, cậu đã có sự nghiệp, nhà cửa vợ con ở thành phố Milton, cùng tiểu bang MA.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 12 Nov 2023

Sướng khổ, không có tiêu chuẩn

 Đặng Chí Bình

Bài 49

Tôi làm được một cái chòi con ở giữa rừng, đủ để ngồi che mưa, nắng. Bên cạnh có một dòng suối con róc rách, cứ như Thiên Thai của cụ Văn Cao. Túi tôi thì rỗng, nhưng đầu tôi thì không còn chỗ chứa: tiếng chim hót, tiếng suối reo, gió mưa, cảnh vật không còn chỗ xếp. Tôi vào rừng như thế có 3 mục tiêu chính:

– Cần đi vơ vét nhặt nhạnh lại Anh ngữ trước đây đã rơi rụng gần hết.

– Giữ tâm hồn đi một con đường, tránh những dòng điện giật.

– Thưởng thức cái tự do cho cả cơ thể lẫn tinh thần và hoà nhập với thiên nhiên, thực hiện lời dạy của cụ Nguyễn: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ….”

Chính trong cái tĩnh lặng, thanh vắng, tư tưởng mới chui luồn sâu vào từng ngóc ngách của mỗi sự việc. Tôi hiểu, nếu trong cuộc sống, mình muốn cái gì cũng được thì cuộc đời đâu có còn ly kỳ, hấp dẫn nữa?

Cho nên sự khổ đau và hạnh phúc chỉ là sự tương đối, không có tiêu chuẩn nào cả. Có bao nhiêu của cải, nhà cửa, ruộng vườn là hạnh phúc? Còn đói khát, tù đày, mù loà, tàn tật thì khổ đau?

Đó là sự huyền diệu, kỳ bí tạo hoá đã ban cho loài người! Tôi nhớ một sự kiện nhỏ mà bản thân tôi đã trải qua:

Thời gian: khoảng cuối 1969 đầu 1970 sau khi HCM chết.

Không gian: phân trại E của trại trung ương số 1 phố Lu Lào Cai.

Khi ấy do Trung Úy Hoàng Thanh làm giám thị, trại ở vào một nơi hẻo lánh, giữa một khu rừng già, xa với người dân. Tù nhân trong trại khoảng trên dưới 350 người.

Thành phần: hầu hết là tù chính trị, gồm chừng 70 người dân tộc: Mường, Mán, Mèo, Nhắng, Núng, Thái, Thổ v.v…VC ghép chung cho cái tội là thổ phỉ, cướp rừng.

– Có khoảng 20 người là tu sĩ, chủng sinh (Đi tu ở chủng viện VC đóng cửa, bắt về nhà lấy vợ)

– Chừng 30 BK gián điệp trong Nam ra Bắc hoạt động chống VC, còn lại hơn 200 là người ở các tỉnh trên miền Bắc, VC ghép chung cho cái tội là, phản tuyên truyền, phản cách mạng.

Cũng như nhiều các trại tù của VC trên miền Bắc, ăn uống đói khổ: Ngô, khoai, sắn, bo bo độn vào gạo. Không biết vì lý do gì, bặt đi hàng tuần lễ không hề có tí gạo nào, chỉ có sắn và bo bo.

Đúng là không có tự do, mới thấy giá trị cần thiết, của tự do. Không có ánh nấng, mới thấy ánh nắng, là kỳ diệu tuyệt vời. Chúng tôi bắt đầu nhớ và thèm cơm, rồi đến tuần thứ 2, thứ 3 thì bất cứ lúc nào mệt ngủ đi, chứ không thì bất cứ ở đâu ngoài nương khoai, vườn sắn, hay trong rừng chặt tre, đốn gỗ, ở lán thủ công nơi tù lao động, lúc nào tâm tư, cũng như chuyện trò, ai cũng chỉ nghĩ và nói về cơm. Rồi tuần lễ thứ 4, thứ 5 thì trại bắt đầu đi kiết lỵ nhiều, mặt anh nào cũng tái ngắt, mắt trắng dã nhìn nhau.

Thương hại nhất là các bác già, răng đau hoặc không có, móm mém ăn bo bo không nhai vỡ hết nên, khi đại tiện ra còn nguyên hạt. Nhà xí, nhà cầu của trại cũng không còn hôi thối nữa. Ăn phải có mắm muối, hay ít cá thịt thì phân mới thối. Do đấy có những anh đói qua, tiếc rẻ của trời đã chui vào thùng phân, hót nhặt những hạt bo bo còn nguyên. Khi đi lao động ra suối rửa, rồi cho vào ống nứa, nấu lại mà ăn.

Qua bản thân, tôi xin thành thật mà nói: Giai đoạn này, bất cứ đêm hay ngày, cuộc đời, cha mẹ, họ hàng, anh em, miền Nam, cả tổ quốc, quê hương chẳng cần và không còn lúc nào tôi nghĩ tới nữa, mà chỉ nghĩ đến ăn, đến cơm, đến những bữa ăn tưởng tượng. Nếu khi mệt thiếp ngủ đi mà mơ, cũng mơ đến ăn mà thôi, ngày 2-3 người chết là thường.

Chả trách VC họ giữ ổn định vững vàng, chế độ của họ được là thế! Bất cứ người dân nào, từ cán bộ, công chức thợ thuyền v.v.. ai cũng chỉ đêm ngày, tính toán cho cuộc sống gia đình, không thiếu hụt, đói khát mà thôi. Có thể (tôi suy đoán), ban giám thị và cán bộ, thấy tình trạng này thì tụi tù, sẽ chết dần hết. Họ họp nhau, sau đó quyết định thứ Bẩy này, sẽ cho tụi tù ăn, một bữa cơm.

Tin còn bí mật, nhưng có thể một tên cán bộ nào đó chỉ nói riêng với một tên tù thân tín, như tổ trưởng, toán trưởng v.v. . . là chiều thứ Bẩy này, trại sẽ có một bữa cơm, nhớ chỉ một mình anh biết thôi! Tin quan trọng như vậy, mà bảo chỉ mình anh biết. Anh đó phải có người thân tín khác, cho nên chỉ ngày hôm sau, cả trại hơn 300 người ai cũng biết cả.

Còn một ngày nữa, mới tới cái bữa cơm chiều thứ Bẩy, mong chờ ấy. Thế mà tù nhân, gặp nhau bất cứ ở đâu, lúc nào, mắt cũng sáng long lanh như nhắc nhở: “Còn một ngày nữa thôi đấy nhé!”. Để rồi cho tới đêm hôm thứ Sáu. Qua tôi, tôi tin rằng, đêm ấy là cả một trời thơ mộng, cho chiều mai của mỗi người tù. Ngay sáng hôm sau, toàn trại tập họp để đi lao động như mọi ngày. Dù không cần nhìn cũng phải thấy, mặt mọi người tù, như có một khí thế khác thường. Mắt ai cũng như sáng hẳn ra, mấy bác già khó tính, miệng cũng hay nở nụ cười, bao dung với mọi người.

Và chiều hôm ấy, (thứ Bẩy tuyệt vời) chưa về tới trại, hãy còn lưng chừng, gần trại E thôi. Mùi cơm nồng nàn từ bếp thơm phức đã tỏa phì ra, để những anh chàng tù, ai cũng muốn cong mũi lên hà hít, rồi nhìn nhau mỉm cười.

Vào trại, nhìn cảnh tù ríu rít chạy như con thoi, người ta bảo “vui như ngày tết”! Cá biệt một vài anh không thể kìm hãm lòng mình được, khi còn đang cân cơm đổ vào từng bát ở ngoài sân, anh ta đã chộp lấy phần của anh, dù chia chưa xong, bốc lấy bốc để, mắt trợn ngược, mồm há hốc đút cơm vào rồi.

Một số những người trầm lắng, họ thong thả đường hoàng, đưa cơm về chỗ đậy lại. Nếu không thể chế ngự được cái háo hức trong lòng, để nuốt vào những giọt nước rãi thèm khát rỉ ra, thì chỉ nhón một vài hạt cơm, cho vào miệng, khe khẽ nhai mà thôi!

Cá biệt có vài anh, dứt khoát, cương quyết không động vào một hạt cơm, đợi cho cán bộ vào buồng điểm xong, bấy giờ về chỗ mới bỏ màn xuống. Không sáng lắm vì ánh điện yếu lại ở trong màn, thì chịu khó rờ rẫm cũng sẽ phân biệt, từng hạt cơm để mà hường thụ, để mà thường thức dần dần cho đã niềm thương nhớ, nỗi thèm thuồng của gần 2 tháng trời chứ có ít đâu!

Tạo hóa đã ban cho loài người, một kỳ vật cao quý như vậy, mà nhiều người lại coi thường. Ngay tôi, bây giờ ở bất cứ nơi đâu, dù cả ở xứ Cờ Hoa này, cơm, bánh, thực phẩm, loại đắt tiền nhất tràn lan, u hề chung quanh, làm sao tôi tìm lại được bữa ăn có cảm giác thèm khát háo hức ngon, như chiều thứ Bẩy ở phân trại E, tù ngày ấy?

Từ đấy, nhìn vào thực tế cuộc sống xã hội, những người chán đời tự tử, từ bỏ cuộc sống; không phải là những người bị mù lòa, tàn tật hiểm nghèo nhất. Cũng không phải là những người trong hoàn cảnh đói khổ, nghèo túng nhất. Chúng ta đều đã suy ra khổ đau và hạnh phúc trong cuộc đời, chỉ là một sự tương đối.

Điều quan trọng là phải biết ứng dụng; nâng cao ý chí chịu đựng và chuyển đổi hoàn cảnh của mình.

Có những buổi chiều tối, từ trong rừng trở về, tôi thường lang thang về một đường phố dài nhiều hàng quán, do người tị nạn tạo lập Những cửa hàng của người Tầu, người miền Nam, miền Bắc, miền Trung, đủ kiểu đủ loại. Tôi có cảm tưởng như chợ Đại Cống Thần của đồng bào Hà Nội tản cư, hồi trước 1954.

Có một cửa hàng trái cây của người Hoa, tôi cứ lượn qua, lượn lại nhiều buổi tối. Nhìn những quả táo, cam, chùm nho, những loại tôi đã nhìn thấy ở chợ Bến Thành trước khi chui vào miệng con Hồng Tuộc, tôi đã được biết mùi. Nhưng có một trái lạ, tôi đã hỏi những người cùng mua hàng, tôi được biết là trái lê, nhìn cái da của nó trắng nõn như ngà voi, tròn như trái táo.

Lục lại cái hố sâu của tâm tưởng, rõ ràng tôi chưa hề được nếm mới của lạ này, nó ra sao? Tôi nâng quyết tâm, dứt khoát mình phải được nếm, tôi băn khoăn, vấn vương nhiều buổi tối mỗi khi bước qua ngôi hàng này, chỉ vì cái túi của tôi, đã từ lâu thường dán chặt vào nhau.

Thậm chí mấy cái tem gửi thư, tờ giấy viết, đã làm cho tôi phải lao đao, vấn vít lẫn vào, tiếng suối reo, tiếng chim hót và cả tiếng ve sầu kêu ở trong rừng. Thế mà một buổi tối tôi trở về, mới bước vào cửa barrack đã có mấy người rối rít:

– Anh Bình có loa gọi lên ban đại diện nhận money order!

Như trong hầm tối, tìm thấy cửa hang, nhiều sợi tơ vàng quấn quanh giấc ngủ của đêm hôm ấy. Ông ân hay bà ân nào của bốn phương trời, lại ngó một mắt, đến nơi hẻo lánh xa xôi này

Không ngờ người đó, lại là Lầu Chí Chăn, một người “nhái” được về sau tôi, nhưng lại có hoàn cảnh đến bờ trước. Hai mươi dollars, nhưng làm sao định giá của nó được, trong cảnh đời của tôi lúc bấy giờ?

Tôi đã chạy như có người đuổi, về chỗ cô nàng “lê” có nước da ngà voi, được gói gọn trong cái giấy hồng lụa mềm, chỉ có 50 cents. Tôi đã ôm gọn cái tôi chưa biết mùi, chạy bay vào rừng, về căn lều đụp, và bên dòng suối Nghê Thường, không có chỗ nằm, tôi ngồi dựa vào một thân cây làm cột lều. Lôi tuột của lạ xuống, để ngay ra trước mặt, trước khi cắn, tôi nhìn kỹ lưỡng một lần nữa. Một làn hương chưa bao giờ ngửi thấy, đã đẩy tay tôi đưa áp vào mũi, phê qua, không chịu được nữa rồi.

Một con chim mầu xanh lam đầu đỏ chót, đứng trên một cành quen, chéo trước mặt nhìn tôi, cất tiếng hót: Hì … lá …..hì …….lá……cứ như đòi muốn chia phần. Tôi quắc mắt, lườm lại nó, rồi tôi đã cắn một miếng từ lúc nào, nghe cuống họng kêu rồn… rột. Tôi nhai ngấu nghiến, chỉ hơn hai phút, quả lê nõn nà đã mất tiêu vào cái vụng, cung cấp sự sống từ bao giờ. Con chim đầu đỏ đã bỏ đi từ, lúc tôi lườm.

Tiếng suối hôm nay nghe như một đám trẻ con đang cười đùa, đuổi nhau ở sân đình. Tôi đứng dậy thả bách bộ vào mãi chiếc đầm con, cạnh dòng suối. Miệng vẫn ngọt vì nước của trái lê còn dư vị.

Tư tường của tôi đã nhẩy phắt về quê nhà, thoáng thấy mẹ, vợ và con gái; lại vút về KuKu với con tầu đã nuốt sống 105 mạng người. Hẳn bây giờ chỉ còn xương rải rác đây đó dưới đáy biển, hay trong bụng những con . . .cá to. Còn một người vô thức nằm lại KuKu, nhìn chung quanh cảnh rùng im vắng, chợt một ý thơ lâu ngày của một cổ nhân: Trần Tử Ngang (651-702) đời nhà Đường xọc vào trí óc của tôi:

Nhìn phía trước người xưa vắng vẻ.

Ngoảnh về sau quạnh quẽ người sau

Ngẫm hay trời đất dài lâu

Rừng hoang sầu lắng ngậm ngùi mình tôi …

Một điều đáng được biểu dương, như một truyền thống tâm linh, của dân tộc. Đồng bào ở Pulau Galang đã dựng xây một ngôi chùa to lớn với những trang trí của hoàn cảnh tị nạn. Nơi tụ tập cử hành, những ngày lễ trang nghiêm tôn thờ Đức Phật Như Lai và Quan Thế âm Bồ Tát. Một nhà thờ cao ráo nằm dài, cạnh một đồi thông, tôn thờ Chúa Giê – Su Hài Đồng và Đức Mẹ Đồng Trinh. Vào những ngày Chủ Nhật, người công giáo đến tham dự lễ đông đúc khác thường. Cha Dominici, Ngài tận tụy tha thiết phụng vụ người tị nạn, như cho chính người.

Có thể mỗi người vừa trải qua những ngày gian truân, hiểm nguy sống và chết, lòng mộ đạo được củng cố phát triển lũy tiến.

Kỳ này trên khu Cao Ủy nhộn nhịp khác thường, nhiều phái đoàn của Canada, Úc Đại Lợi và nhất là của Mỹ mới được tăng cường. Tôi đã nhìn, nghe nhiều cảnh, nhiều tình huống cười ra nước mắt, nhưng cũng có lúc ngậm ngùi xót xa. Sáng hôm qua tôi vừa đến khu của phái đoàn JVA (Mỹ) thấy một đám đông nhốn nháo. Một ông hơn 40 tuổi là đội trưởng một đồn cảnh sát ở Nha Trang, không hiểu vì lý do gì, bị phái đoàn Mỹ từ chối, ông đã kéo theo đứa con gái 8 tuổi, nhẩy xuống chiếc giếng sâu, phía sau khu Cao Ủy.

Người ta hô hoán, cảnh sát Indo đã phải giòng dây leo xuống cứu. Cả hai bố con đều bất tỉnh nhân sự, ông bố bị gãy chân trái, đứa con gái vỡ đầu máu chảy lênh láng, đỏ cả chiếc áo. Họ cho lên một chiếc xe Indo, chở đi nhà thương cấp cứu, tôi chưa biết nhà thương ở đâu? Xa hay gần?

Từ hơn một tháng nay, hệ thống truyền thanh của trại thường nói về cuộc vượt thoát oai hùng, bằng đường bộ của Lý Tống. Anh ta đã bơi qua eo biển giữa Mã Lai và Singapore. Một cái eo biển được thế giới biết đến, vì có rất nhiều cá mập. Một vài tờ báo ở Mỹ đã gọi anh là “A man never seen”. Đài truyền thanh của trại, thường phát về chiều tối và buổi sáng sớm. Nhiều chi tiết tường thuật về anh, nhưng một chi tiết tôi để ý: “Theo đài khi anh vượt qua Campuchia đến Thái Lan, ông Đại sứ Mỹ ở Thái Lan đã đến thăm anh, với những thành tích vượt thoát nhiều lần trong nhà tù của Cộng Sản. Ông có hỏi Lý Tống:

– Anh có một phương sách gì hữu hiệu, để tiêu diệt chủ nghĩa Cộng Sản?

Lý Tống đã chỉ vào một tập giấy, viết tay ở đầu giường, trả lời:

– Tất cả đường lối, kế sách để triệt tiêu cái chế độ vô thần tàn ác Cộng Sản, đều nằm trong tập giấy này!

Tôi rất ngưỡng mộ, thèm muốn có một ngày nào đó được đọc, để học hỏi, những điều kỳ diệu ấy.

Rồi được biết anh Lý Tống cũng đã có mặt ở Galang này. Tấm lòng của anh cũng rất đặc biệt, do cái quỹ nào đó ở Mỹ đã tặng anh 500 dollars, anh đã tặng lại ngay phòng giáo dục trại, để mua sách vở cho các cháu thiếu nhi, ở trại Galang. Đã có một số anh em mới quen biết ở trại, nói với tôi:

-Ở trại tị nạn Galang này gần 2 chục ngàn người, có hai người đặc biệt: Lý Tống và anh là một điệp viên, đi tù 18 năm.

Lý Tống thì danh tiếng như cồn, còn anh như con gà giò, may mắn thoát khỏi mồm con lang, thì lại chui vào bụi rậm, nằm im thin thít! .

Tôi đã cười, chậm rãi nói với các anh:

– Một người đi trên máy bay gào mây, thét gió, một người thì lò dò lặn lội ven bờ ao. Cao và thấp đã rõ ràng!

Một buổi chiều muộn, tự nhiên thấy lòng cồn cào, lắt lay về Thành Đô yêu dấu. Tôi mò lang thang ra đầu một cái mỏm Galang, hướng về quê nhà. Trong dáng chiều nghệ non, rải rác đây đó hàng chục những cặp đầu xanh, lẫn đôi mái đầu tiêu nhiều muối ít, như dính chặt vào nhau, trong cái dạt dào, ồn ào của sóng biển.

Tâm hồn của họ đã biến đổi, từ khô cằn vàng úa, sang mầu xanh mượt mà, tương lai. Lòng nhiều người đã mở cửa, đón nhận hương sắc của đời. Da trời chuyển thành mầu tím ngắt, như cà ghém tím vào mùa. Tôi đăm chiêu rõi nhìn về phương trời xa, mờ mịt, rồi lặng lẽ trở gót, tôi quay về barrack. Mặc cho dòng đời, chênh vênh ngược xuôi, chìm nổi.

Ngày hôm sau, tôi len lỏi vào mãi phía trong sâu của mảnh đất nhiều sỏi đá, nhưng đã khắc dấu tự do vào tâm hồn nhiều người Việt. Xa xa một ven đồi nhiều đại thụ, rõ ràng một chiếc cổng sơ sài, mộc mạc bằng cây rừng. Một miếng gỗ dài, quét vôi trắng, viết chữ: Chiêu An Tự, mực Tầu, đen nhánh, treo trên một chiếc cổng thô sơ, như muốn lôi kéo lòng tọc mạch, của khách lãm du.

Quả thật, khi tôi gần đến nơi, đã thấy thấp thoáng bóng người. Qua những con đường lắt léo leo trèo, mùi hương trầm đã phảng phất, trộn vào mùi hăng hắc, ẩm mốc của cây rừng. Bước vào trong cổng, càng đi tôi càng ngạc nhiên, con đường nho nhỏ gập ghềnh, nhưng tỏ có bàn tay người săn sửa hằng ngày, dẫn vào một ngôi chùa nhỏ. Phải nói là một ngôi nhà gỗ lợp tôn fi-bro, đã mốc meo. Càng đến gần, mùi hương khói càng đặc sệt. Tiếng mõ đều đều, thong thả vọng ra: Cốc . . cốc . cốc

Hồn tôi như du vào cõi thinh không, một thoáng trở về gặp tiền bối Chu Mạnh Trinh:

Thoảng bên tai một tiếng chầy kình,

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Thấy tôi ngấp ngó nhìn vào trong điện, một vị sư chừng gần 5 chục tuổi, từ trong một cửa ngách đi ra. Như một cơ duyên của hai tâm hồn riêng biệt, tôi đã được đàm đạo với thượng tọa, gần hai tiếng đồng hồ về kiếp nhân sinh, về nhân quả, luân hồi của kiếp người. Tôi nhớ vị thượng tọa đó là Thích Thắng Hoang. Hơn 20 năm rồi, chẳng biết thượng tọa hiện nay, ở phương nào?

Chiều hôm đó tôi trở về barrck, được biết tôi có một lá thư Việt Nam, nhìn đồng hồ, chỉ còn 7 phút nữa BĐD đóng cửa. Tôi chạy hộc tốc lên ban đại diện, như đuổi theo một chuyến xe đò vừa bắt đầu lăn bánh. Đến nơi, cửa đang đóng cánh cuối cùng, thì tôi bước vào.

Cầm lá thư đầu tiên từ quê hương, sau hơn 5 tháng mờ mịt chân mây. Như một hành động vô thức, đôi tay tôi đưa lá thư lên tận mũi từ bao giờ. Tôi có cảm tướng lá thư còn hơi hướng của mẹ, của vợ, của con và còn cả cái mùi ngan ngát của quê nhà thương nhớ, của riêng tôi.

Tôi hiểu có nhiều điều bất ngờ lắm trong lá thư, nhưng tôi cương quyết không xem lúc này. Tôi đút lá thư vào trong ngực, chỗ trái tim tôi đang thổn thức vơi đầy. Tôi sẽ ôm lá thư ngủ một đêm, với bao nhiêu điều dật dờ, lơ lửng bất ngờ trong lá thư đầu, từ ngày xa những người thương yêu nhất, của đời tôi.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 11 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 28

Cửa toà đại sứ Mỹ đóng kín để giữ an ninh, nên công việc đi lại và liên lạc với nhân viên bên trong càng khó khăn cho John. Đã nhiều lần người lính Thủy Quân Lục Chiến gác cổng rất lịch sự phải mời anh đi chỗ khác, vì biết các nhân viên không muốn tiếp anh. Họ chỉ làm tròn nhiệm vụ của họ, nên John không giận. Nhưng anh phải vô được toà đại sứ thì mới hoàn thành nhiệm vụ… do tôi uỷ nhiệm. Một hôm, anh nghĩ ra một kế để có thể lọt vô bên trong. Anh ngồi chờ cho đến khi có một chiếc xe chở đầy người Mỹ chạy tới cổng. Những người nầy bước xuống đều có vẻ là nhân viên của toà đại sứ. Họ mặc bộ safari màu vàng, cũng xách cặp da như John. Thế là anh nhập với bọn họ vô toà đại sứ. Khi đã vô được bên trong, anh phải tỏ ra mình là người quen thuộc trong toà đại sứ. Anh tìm ngay ra được văn phòng của ban tình báo. Anh mới ló đâu vô, thì một nhân viên ngẩng đầu lên nhìn anh với một vẻ rất ngạc nhiên. John mạnh dạn bước vô, tự giới thiệu về mình. Khi nhân viên ngồi trong phòng chưa hết ngạc nhiên, anh nói:

“Ba vợ tôi là đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Moscow.

Câu tiết lộ nầy đã làm cho anh nhân viên tình báo tên Joe McBride chú ý. Thế là anh mời John ngồi xuống ghế để nói chuyện. John kể hết mọi chuyện liên quan đến gia đình tôi, bắt đầu từ cuộc điện đàm của tôi với người tên Jean Kaplan, cho đến công việc của anh tại Sài Gòn lúc nầy. Anh còn nói thêm cho biết, chỉ còn không tới 30 ngày nữa thì toà đại sứ Mỹ sẽ trở thành villa của quân Bắc Việt. Joe đồng ý với anh, nhưng ông nói nhỏ là toà đại sứ cấm nhân viên không được tiết lộ sự thật nầy. Ông vừa nghe vừa đánh máy ghi lại lời John, để báo cáo thẳng lên lầu cho xếp của ông. Sau mấy lần tới lui để bổ túc chi tiết về trường hợp của gia đình bên vợ, John được cấp trên của toà đại sứ mời vào để nói chuyện. Nhưng anh thất vọng, vì cả ông “xếp lớn” lẫn ông Shep Lowman là phó đại sứ đều không biết ông Đặng Quang Minh là đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Liên Xô. Như vậy, làm sao John có thể chứng minh má tôi “bà Trần Thị Phàm ” là vợ chính thức của ông Minh, và đã có 7 con với ông. Từ bao nhiêu năm nay, Mỹ đánh nhau với kẻ thù mà vẫn không biết rõ kẻ thù kể cũng lạ. Ông Lowman còn cảnh cáo John, không được tiết lộ cho dân Sài Gòn biết tin cộng sản Việt sẽ chiếm Sài Gòn trong một thời gian ngắn. Nếu không, họ có thể nổi loạn. Lời cảnh cáo nầy đã làm John ngỡ ngàng, vì toà đại sứ Mỹ cố tình lừa gạt người Việt Nam trong cơn hấp hối của Sài Gòn. Trong giờ phút nầy, người làm ngoại giao không còn chỗ đứng nữa; các nhân viên trong toà đại sứ chỉ chú trọng việc bảo vệ toà đại sứ.

Trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc Việt Nam, ai cũng nghĩ các nhân viên tình báo Mỹ CIA “đi trên nước, bước trên lửa”. Nhưng thiệt ra, họ là những kẻ mộng du, lúc nào cùng mơ mơ màng màng, không nắm vững tình hình thực tế. Họ không biết kẻ thù của họ là những ai.

Nhưng may quá, khi CIA ở Sài Gòn gửi điện về trung ương ở Langley, Virginia, tường trình cuộc gặp gỡ giữa họ với John, thì một sĩ quan cấp thấp, tên là Robert Hall, nhận ra ba tôi. Thế là việc đưa má và hai em tôi bắt đầu tiến nhanh hơn xe tăng của Bắc Việt tiến vào dinh Độc lập.

Sau nầy tôi mới biết, người sĩ quan CIA nầy đã nhiều năm liền nghiên cứu về hoạt động của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng rồi không biết vì lý do gì, ông chuyển sang mặt trận Lào. Khi nước nầy rơi vào tay cộng sản, ông về làm việc ở trung ương. Ông là người sĩ quan tình báo làm việc với tôi sau nầy.

Trong khi dân Sài Gòn nhốn nháo tìm đường chạy ra khỏi nước, thì John cũng không biết làm cách nào cho má và hai em tôi đi Mỹ được, dù đã được toà đại sứ chấp thuận. Tôi hay nói cho John biết, xứ sở tôi, người dân phải nghe lời đồn ở ngoài đường, rồi suy diễn để biết tin tức chính xác hơn. John nhớ lại lời tôi, nên bắt đầu la cà tại mấy cái bar hay quán rượu, nơi má các nhà báo, cả Việt lẫn Mỹ, cùng người dân ngồi lê đôi mách của Sài Gòn tung ra những tin nóng hổi và đặc biệt. Nhờ vậy, chỉ một thời gian ngắn, anh có đủ tin tức về việc bốc các nhân viên sở Mỹ và gia đình của họ, khi Sài Gòn bước vào giai đoạn nguy khốn.

John mang theo hai ngàn Mỹ kim, giấu kín trong giầy, nhưng anh biết rằng vào giai đoạn đó, số tiền nhỏ nhoi ấy không giúp được việc gì hết. Những ngày cuối cùng của Sài Gòn, người ta tiêu tiền như trong cơn mê loạn. Ai ai cũng sẵn sàng vung tiền ra để mua hai chữ “tự do”. Nỗi lo sợ hiện ra trên gương mặt người dân Sài Gòn. Cho đến nay, John vẫn không quên được những gương mặt lo sợ ấy.

Nhiều hôm, đứng từ balcon nhà má tôi, John để ý bên kia đường Nguyễn Văn Sâm, có một người đàn ông thường ngồi cái bàn đầu tiên của nhà hàng Hồng Mai, thỉnh thoảng nhìn lên nhà má tôi. John lo lắng nói cho má tôi biết. Má kể lại chuyện một cán bộ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, hồi tháng Ba đã lén gặp má tôi, mời bà đi theo hắn để nhận tin của ba tôi từ ngoài Bắc gởi vô. Má tôi không đi, chỉ nói nếu có tin gì thì hay nói cho bà biết. Cuối cùng, hắn khuyên má tôi không nên bỏ Sài Gòn đi, đừng lo sợ gì, vì hắn có trách nhiệm bảo vệ má tôi cho tới ngày ba tôi trở về. Người ngồi ở quán Hồng Mai chính là tên cán bộ cộng sản, đang làm nhiệm vụ canh gác của hắn.

Trong khi đó ở Mỹ, tôi xem TV, thấy người ta loan tin cộng sản có thể phá hệ thống dẫn nước của Sài Gòn. Tôi vội báo cho John hay, và đề nghị anh khuyên má tôi dùng hết nồi niêu xoong chảo, các thùng và các lu để chứa nước, phòng hờ bị phá hoại. Tôi vừa nói dứt lời, thì một người đàn bà trong tổng đài của Tiger bỗng lên tiếng, hỏi tin đó có chắc không? Thì ra bà ta nghe lén chuyện của chúng tôi. Tôi chắc hôm đó nhà bà ta cũng vội vàng tích trữ nước. Bấy giờ nhắc lại chuyện 34 năm cũ, chúng tôi còn cười.

Ông George Esper cho John xem những phân tích của hãng thông tấn. Hai người đồng ý về những biến chuyển sắp tới. Họ bắt tay nhau như để cũng thương tiếc trong im lặng một thành phố sẽ mất tên trong chớp nhoáng. Họ cũng thông cảm lẫn nhau, vì cả hai đều có một nhiệm vụ nặng nề. Ông Esper phải đưa tất cả vợ con và nhận viên, cả Việt lẫn Mỹ, ra khỏi Việt Nam. Trong khi đó, ông định ở lại để chứng kiến cái chết của Sài Gòn.

John thì vẫn đi tới đi lui toà đại sứ Mỹ để gặp ông Joe McBride. Trong khi anh như người ngồi trên đống lửa, thì nhân viên toà đại sứ lại lạnh lùng một cách quan liêu. Phải chăng đó là tính chung của những người làm ngoại giao nhà nghề? Rồi một hôm ông McBride đưa cho John số dĩện thoại của một người tên là Grant Ichikawa; ông nói nhỏ cho anh biết họ cùng làm việc chung cho một tổ chức. John liền liên lạc với ông Ichikawa và kể hết mọi chuyện gia đình tôi. Ichikawa hứa sẽ cho John biết những dự tính của họ.

Trong khi đó, ở Hawaii, ngày nào tôi cũng ngồi bên cạnh điện thoại để chờ nghe tin tức bên nhà. Đã mấy trăm lần tôi gọi cho má và hai em, thì cả mấy trăm lần đường dây bận. Rồi một hôm, vào khoảng nửa đêm, tôi đánh thức má tôi dậy. Nghe tiếng nói yếu ớt, xa xôi của má, tôi có cảm tưởng như má tôi ở một nơi xa xôi nào đó, và tôi sẽ không bao giờ được gặp má nữa. Má tôi nói: “Con ơi. John phải về bên đó với tụi con. Nó đã ráng hết sức rồi. Bây giờ ở đây không còn an ninh nữa. Nếu có chuyện gì xảy ra cho má và mấy em, ít nhứt con còn John và Lance”.

Đêm đó, John ngủ lại nhà má tôi, nên cả nhà đánh thức anh dậy để nói chuyện với tôi. Anh nhắn tôi một điều mà tôi đã chờ tôi ra lịnh cả mấy tuần nầy. Anh bảo tôi phải “sửa điện thoại”, nghĩa là đi gặp trung tướng Gaylor. Bấy giờ John không còn gì để giấu Hải Quân nữa, bởi vì toà đại sứ Mỹ và CIA đã biết sự rõ ràng về người sĩ quan Hải Quân và cái gia đình “không bình thường” của anh rồi. Chúng tôi cũng không biết ông trung tướng sẽ giúp gì được cho gia đình tôi, hay ông lại xé thây làm thịt người sĩ quan của ông, khi anh trở về Mỹ? Nhưng, thôi thì chuyện tới đâu cứ giải quyết tới đó. Lậy trời cho tôi sáng suốt để đối phó với thử thách, với khó khăn.

Trong những ngày tàn của một đồng minh của Mỹ trong Đông Nam Á, ông trung tướng Tổng tư lệnh Thái Bình Dương dĩ nhiên là một nhân vật quan trọng và bận rộn nhứt hơn hòn đảo thần tiên nầy. Sáu giờ sáng sớm hôm nay, tôi thấy ông họp báo tại Pearl Harbor. Theo ký giả của NBC, trung tướng đã mệt mỏi sau gần 17 tiếng đồng hồ theo dõi tình hình Việt Nam, cần về nhà nghỉ ngơi mấy tiếng, trước khi điều khiển cuộc di tản nhân viên Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tôi nghĩ tôi không nên gọi ông khi đang cần một giấc ngủ. Tôi biết người thiếu ngủ thường hay quạu quọ, như tôi chẳng hạn. Nhưng nếu tôi không liên lạc với ông đúng lúc ông vừa tỉnh táo, để ông trở lại căn cứ Hải Quân thì khó có dịp nói chuyện với ông. Tôi chợt nhớ tới bà Gaylor. Tôi đã từng nghe các bà vợ sĩ quan Hải Quân ở Hawaii ca tụng bà Gaylor rất dễ thương; bà quan tâm tới gia đình Hải Quân. Tôi hy vọng lời đồn đó sẽ là sự thật khi tôi quyết định gọi cho bà lúc 10 giờ sáng nầy.

Sau khi đưa Lance tại trường, tôi chạy vội về nhà, ngồi bên máy điện thoại. Tôi nhìn đồng hồ, đã 10:05. Tim tôi đập hơn, cổ tôi khô, khi tôi quay số tư gia của ông tướng. Người hầu cận là một thượng sĩ trả lời, giống của người Phi Luật Tân, hạ thấp giọng nói nhỏ:

“Ông tướng còn ngủ, tôi không dám đánh thức ông”.

Tôi xin được nói chuyện với phu nhân của trung tướng. Viên thượng sĩ cho biết phu nhân cũng đang bận. Tôi đành năn nỉ:

“Thưa ông, tôi cũng là vợ của sĩ quan Hải Quân. Tôi rất cần sự giúp đỡ của trung tướng. Tôi cũng biết trung tướng mới về nhà nghỉ ngơi sau một đêm không ngủ. Thì thôi, ông cứ cho tôi nói chuyện với bà Gaylor đi”.

Viên thượng sĩ ngập ngừng một lát, rồi tôi nghe tiếng của bà Gaylor bên kia đầu dây. Bà hỏi tôi có chuyện gì cần? Tôi biết vào giờ phút nầy không ai có thì giờ nghe tôi nói dông dài. Vì thế, đi thẳng vô vấn đề một cách đột ngột, với giọng nói hấp tấp, lủng củng:

“Tôi là con gái của một ông đại sứ tại Liên bang Xô Viết. Ba tôi ở Hà Nội”.

“Ba của bà là người nước nào?”.

“Ba tôi là người Việt Nam. Tôi biết bà sẽ ngạc nhiên lắm, nhưng tôi phải nói chuyện với trung tướng, cho ông biết một tin quan trọng liên quan tới Việt Nam, và tôi cũng cần ông cứu gia đình tôi”.

Ba Gaylor nói với giọng điềm tĩnh và ân cần:

“Hãy an tâm. Tôi sẽ đánh thức ông. Khi có chuyện quan trọng như thế nầy, ông phải thức dậy”.

Khi Trung tướng Gaylor tằng hắng, giọng khàn khàn trong điện thoại, tôi bỗng có cảm tưởng mình nằm mơ. Tôi lính quýnh xin lỗi vì đã đánh thức ông dậy. Ông vui vẻ nói dù sao ông cũng phải dậy để trở lại căn cứ ở Pearl Harbor, rồi hỏi tôi:

“Bà cho biết tôi có thể giúp bà được chuyện gì?”.

Tôi mừng quá khi nghe ông hỏi, vội vã đáp:

“Thưa trung tướng, ba tôi là đại sứ của Mặt trận Trận Giải Phóng Miền Nam tại Liên Xô, còn chồng tôi là một sĩ quan Hải Quân của trung tướng.

Rồi tôi nói tiếp ngay:

“Tôi nhận được tin là quân đội Bắc Việt sẽ chiếm miền Nam. Họ vô tới thì má tôi sẽ ở trong một hoàn cảnh rất ngặt nghèo”.

Sau hiệp định Paris, năm 1973, khi Hà Nội trao trả tù binh Mỹ, trung tướng Gaylor là người đầu tiên ra tận phi trường Honolulu chào đón tù binh. Tôi còn nhớ hôm đó là ngày đau buồn của dân tộc Mỹ. Như mọi người ông cũng không khỏi xúc động cùng cực khi nhìn bạn đồng ngũ của ông, lính và sĩ quan của ông, xơ xác trong bộ bà ba đen bước xuống máy bay. Người què phải chống nạng gỗ, người đi không nổi phải nằm trên băng ca. Tất cả tù binh đều được ghé Hawaii để khám sức khoẻ, rồi ai về nhà nấy với gia đình. Tôi nghĩ rằng khi nhắc đến Hà Nội, ông sẽ nhớ lại hình ảnh những người tù binh trở về từ Hà Nội Hilton, sẽ có phản ứng mạnh.

Trung tướng Gaylor vội ngắt lời tôi:

“Một trong những phụ tá của tôi sẽ liên lạc với bà nội trong hôm nay”.

Đúng như lời trung tướng hứa, chỉ trong vài giờ đồng hồ sau, Trung tá Dave Smith gọi tôi. Ông muốn tôi vào căn cứ Hải Quân ở Pearl Harbor để gặp ông. Nhưng khi nghe tôi nói tôi phải đi đón con cho chị tôi rồi mới có thể ghé qua văn phòng của ông, thì ông đổi ý, hẹn sẽ đến nhà tôi buổi chiều hôm đó.

Khi Trung tá Dave Smith nghe tôi kể đến cú điện thoại của Jean Kaplan thì bỗng ngồi thẳng người lên với vẻ chú ý, bởi vì lời báo trước của Jean Kaplan quá đúng. Miền Nam Việt Nam sẽ rơi vào tay cộng sản. Tôi nói tới đâu Trung tá Smith ghi nhanh vào một tập giấy mầu vàng tới đó. Ban đầu ông viết chữ thường, sau đó ông phải dùng tới tốc ký vì tôi càng đi sâu vô vấn đề càng nói mau hơn. Ông hứa là ông sẽ báo cáo tất cả với trung tướng Gaylor. Ông chưa biết trung tướng sẽ giúp tôi và gia đình tôi ở Sài Gòn bằng cách nào, nhưng ông tin rằng trung tướng sẽ có cách giúp chúng tôi.

Tôi tin là Trung tá Smith không hứa hão hứa huyền, bởi vì là vợ của một sĩ quan, tôi biết phụ tá của một ông tướng có trách nhiệm trong hành động và lời hứa. Nhưng lúc đó, tôi quá nóng lòng, chỉ mong có một lời hứa chắc chắn hơn. Tôi đánh liều, nói:

“Thưa Trung tá, tôi muốn má tôi thoát khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt! Tôi sẵn sàng hợp tác với chánh phủ Mỹ nếu chánh phủ cần”.

Trung tá Smith không giấu được sự ngạc nhiên, khi nghe lời tình nguyện hợp tác. Ông hứa sẽ báo cáo với trung tướng ngay.

Tôi đã đánh hết những lá bài có trong tay. Tôi không còn hồi hộp hay lo sợ nữa. Bây giờ ngồi chờ. Nếu má và các em tôi đi không được là do định mệnh ăn bài. Nghĩ như vậy, tôi đã ngủ được sau nhiều ngày lo lắng, ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi đánh một giấc dài không mộng mị. Nhưng đến gần sáng, Lance bỗng thức giấc vừa khóc vừa nói:

“Con thấy Việt cộng chạy lên tới lầu nhà bà ngoại rồi”.

Thế là tôi thức luôn tới sáng. Tôi gọi chị Cương để nói cho chị nghe về giấc mộng của Lance. Chị trấn an tôi:

“Tại cưng lo lắng quá làm con lo theo. Thằng nhỏ vừa thông minh, vừa nhiều tình cảm, nên bị ảnh hưởng mối lo của cưng. Đừng có tin mộng mị mà điên, cưng ơi”.

Khoảng hơn 24 tiếng đồng hồ sau khi tôi gặp Trung tá Dave Smith, một người đàn ông đến tìm tôi. Ông ta cho biết ông là người của ông Smith gởi tới. Ông đã trọng tuổi, người cao lớn, tóc bạc trắng, giọng nói đầy thiện cảm. Ông giới thiệu tên là Bob Jantzen. Bấy giờ nhớ lại, tôi thấy ông Jantzen có vẻ mặt và cao lớn như tổng thống Reagan. Ông không nói ông là sĩ quan CIA, nhưng hồi đó, tôi cứ nghĩ rằng đã ở trong quân đội mà không mặc quân phục, lại đến nói chuyện với tôi về cha mẹ tôi, thì phải là nhân viên của CIA. Ông Bob Janten cho biết, ông đã nghe “câu chuyện khá thích thú” của tôi. Ông cũng cho biết ông có trách nhiệm đưa má và hai em tôi đến nơi an toàn, chớ ông không quan tâm đến người cha cộng sản của tôi. Ông cần tên, ngày sanh và địa chỉ của má và hai em tôi.

Tôi liền cho ông biết là chồng tôi đã về Sài Gòn để tìm cách đưa gia đình tôi ra khỏi Việt Nam, và hiện giờ anh ấy vẫn còn ở đó. Điều hay nhứt là nhân viên của ông nên gặp chồng tôi để biết đầy đủ mọi chi tiết. Ông tỏ vẻ rất ngạc nhiên và bối rối khi tôi nói như vậy. Ông có vẻ lo lắng:

“Chắc bà biết là chồng bà mạo hiểm lắm mới dám đi Việt Nam trong lúc nầy?”.

Ông cũng biết, John không có cả sự vụ lịnh. Ông để tách trà xuống bàn, rồi nói tiếp:

“Tôi muốn bà biết là chúng tôi rất quan tâm đến sự an toàn của má bà. Chúng tôi sẽ làm hết sức để giúp má bà thoát khỏi Việt Nam”.

Giọng nói chắc nịch của ông khiến tôi tin tưởng ngay, nên an tâm. Tối hôm đó, nghĩ lại cuộc nói chuyện với ông Bob Jantzen tôi hơi thắc mắc một chút, vì ông không có vẻ phong trần của một sĩ quan Hải Quân. Ông có dáng dấp của một người có dia vị trong xã hội. Từ ngày lấy chồng cho tới lúc bấy giờ, Hải Quân đối với tôi là một đại gia đình, không lẽ nào trung tướng Gaylor lại gởi người tới mưu hại gia đình tôi.

Mấy tuần sau tôi mới biết rõ Bob Jantzen là ai, ông chính là “trùm” CIA, người điều khiển mạng lưới tình báo khắp Đông Nam Á, mà văn phòng thường trực đặt tại Honolulu, Hawaii. Tôi còn được biết, ông đang lo chuyện di tản những người làm việc cho CIA tại Việt Nam. Lào và Cao Miên. Trong cái nhìn hạn hẹp của tôi lúc bấy giờ, tôi nghĩ ai cũng sợ CIA, nhưng ai cũng muốn làm quen với CIA, và ai cũng… ghê tởm CIA. Riêng tôi, tôi không hối tiếc đã quen biết với nhân viên CIA, vì tôi đang cần họ. Tôi hiểu rằng, trên cõi đời nầy cái gì cũng có cái giá của nó. Tôi thầm tự nhủ sẽ tìm cách trả nợ cho CIA sau khi má và hai em tôi thoát nạn.

John đã liên lạc chặt chẽ với CIA ở Sài Gòn. Bấy giờ chỉ còn chờ ông Bob Jantzen ở Hawaii bật đèn xanh là công việc được tiến hành mau lẹ. Ông Grant Ichikawa đã quả quyết với John trong lần gặp mới đây:

“Khi có người được đưa ra khỏi Việt Nam, mẹ và em vợ anh cũng sẽ được đi”.

Không những thể, ông còn cho biết, hai vợ chồng ông sẽ đi cùng chuyến bay với má và hai em tôi. Vợ chồng ông còn mời John tới nhà riêng của họ ở gần Tân Sơn Nhứt dùng cơm. Sau nầy John kể lại, buổi tối hôm đó, ai cũng lo lắng cho tương lai miền Nam Việt Nam. Bà Ichikawa nhiều lần tỏ vẻ thương xót khi bà thắc mắc về số phận của những người bị kẹt ở lại. Sau bữa cơm tối đó, John mới an tâm, dù anh sẽ phải về Mỹ một mình trước.

Ngày hôm sau, thấy mọi việc kể như đâu vào đó, John đi một vòng để “nhìn Sài Gòn lần cuối”. Anh ghé qua Hotel Rex, trước đó là câu lạc bộ của sĩ quan Mỹ. Anh ăn trưa ở Continental rồi thong thả đi qua Brink trên đường Hai Bà Trưng, với ý định lên bar uống rượu và nghe thêm tin ngoài hành lang, nhưng bị hai người lính quân cảnh Mỹ chặn hỏi thẻ căn cước và sự vụ lịnh. Dĩ nhiên anh không có đủ giấy tờ để có thể vào nơi nầy. Anh chỉ mơ hồ nói với họ là anh tới Sài Gòn với công tác mật. Hai người lính quân cảnh bèn liên lạc với bộ chỉ huy của họ MACV. John nhận được lệnh phải trình diện với một trung tá quân cảnh ở đó. Ông trung tá nổi giận khi biết lý do có mặt ở Sài Gòn của anh. Ông ra lịnh cho anh phải rời khỏi Sài Gòn ngay ngày hôm sau. Ông còn cho biết ông đã báo cáo với Hải Quân những hành động bất hợp pháp của anh.

Sau nầy anh cho biết, lúc đó anh không sợ gì hết, nên không tuân lịnh của MACV. Dù thế nào anh cũng phải làm tròn nhiệm vụ rồi mới có thể rời Sài Gòn. Trong khi đó, ông trung tá một mực buộc anh phải rời Sài Gòn; nếu không tuân lịnh, ông sẽ biện pháp. Anh nói:

“Nếu ông bắt giam tôi, tôi sẽ trốn”.

Ông Trung tá lại ra lệnh:

“Phải rời Sài Gòn trong chuyến bay tới”.

Tám ngày sau, tức là ngày 10 tháng 4, 1975, John biết chắc khi toà đại sứ Mỹ bắt đầu di tản người Việt, má và hai em tôi sẽ có người đến tận nhà rước đi. Anh dặn má và hai em không được ra khỏi nhà, mà cũng không cho ai biết mình sẽ di tản, dù thân thiết. Ngoài ra, mỗi người chỉ được xách một valise nhỏ. Khi mọi chuyện đã sắp xếp đâu vào đó, anh nghĩ rằng anh có thể rời Sài Gòn trước ngày di tản, với ý định nhường chỗ của anh cho người khác trên một chuyến bay chạy trốn. Anh đi thẳng ra phi trường Tân Sơn Nhất, kiếm một chỗ ngồi trên một máy bay của Không Quân Mỹ, bay tới đâu cũng được, miễn là ra khỏi Sài Gòn.

Trước khi lên máy bay, John gọi cho văn phòng quân cảnh ở MACV để nhờ người nhắn lời với ông trung tá, là anh sắp bay về Mỹ trong vài phút nữa.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 11 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 27

Ngày 15 tháng Tư năm 1975, John lên đường về Sài Gòn tìm cách rước má và hai em tôi qua Mỹ. Sau nầy anh kể lại với tôi rằng dù anh lúc nào cũng lạc quan, đó là bản tánh của anh, thế mà khi máy bay cất cánh khỏi phi đạo Hickam, anh cũng nôn nao, hồi hộp, vì không đoán trước được chuyện gì xảy ra bên kia bờ đại dương, trên quê hương của vợ. Quân cộng sản sắp tràn vô Sài Gòn; biết anh có đủ thời gian và phương tiện đưa mẹ và hai cô em vợ ra khỏi vòng nguy hiểm không? Kinh nghiệm của một sĩ quan Hải Quân phi công có giúp anh được gì không? Dù sao, lái một chiếc máy bay mới sáng chế cũng đỡ nguy hiểm hơn xông vào lò lửa đầy bất trắc. Anh chỉ biết tin vào tài tháo vát của mình mà thôi.

Lộ trình của chuyến bay nầy sẽ ghé qua mấy nơi như Guam, căn cứ không quân Clark của Mỹ ở Phi Luật Tân, Sài Gòn và trạm cuối cùng là Bangkok.

Nhưng khi đến Guam, đáng lẽ chỉ nghỉ có một tiếng, lại kéo dài gấp ba, khiến John càng bồn chồn, nóng ruột, nhưng anh cũng chả biết làm thế nào hơn.

Khi mọi người trở lại máy bay và đã an vị, John thấy trong đám hành khách mới lên ở Guam có một ông tướng Hải Quân. Qua đồng phục, hai người nhận ra nhau ngay, họ cùng là phi công. John gật đầu chào ông tướng, nhưng anh không biết có nên nói chuyện với ông không, khi anh ghé Sài Gòn một cách bất hợp pháp. Nhưng chính ông tướng lại tới bắt tay John, và tự giới thiệu ông là trung tướng Oberg, một sĩ quan tham mưu của Lực lượng Thái Bình Dương. Thì ra hai người cùng đi Sài Gòn. Tướng Oberg hỏi anh sĩ quan trẻ có nhiệm vụ gì ở Sài Gòn. John bèn nói thật là đi rước gia đình vợ ra khỏi Việt Nam

Suy nghĩ hỏi lâu, ông Tướng lưu ý John là chỉ có những người có công vụ mới được qua Việt Nam. John cúi nhìn xuống đất, chỉ khẽ gật đầu mà không nói một lời. Từ đó hai người giữ im lặng.

Khi máy bay đáp xuống phi trường Clark ở Phi Luật Tân, ông Oberg nói với John:

“Tôi sẽ không nói cho ai biết hết, nhưng anh cần nhiều may mắn lắm đó!”

Ông còn cho John biết ở phi trường Clark, quân cảnh sẽ kiểm tra chặt chẽ. Hành khách phải xuống máy bay để hoàn tất thủ tục vô Sài Gòn.

Khi máy bay còn nằm trên trên phi đạo ở Clark, John bắt đầu lo lắng về các loại giấy tờ. Anh không có sự vụ lịnh, giấy chiếu khán nhập cảnh Việt Nam. Anh nghĩ sẵn những lý do thật sự và bịa đặt để thuyết phục quân cảnh. Nhưng anh biết, chẳng có lý do nào khả dĩ thuyết phục bất cứ ai. Vì thế, anh lo lắm, lo có thể bị quay trở lại Guam. Nhưng có một phép lạ đã cứu anh. Vì chuyến bay tới đã quá trễ sau khi ngừng ở Guam đến ba tiếng đồng hồ, nên tất cả hành khách xuống máy bay phải đứng chờ ở một góc được giữ an ninh trật tự, không ai được ra khỏi vùng đó, nên quân cảnh không mất nhiều thì giờ xét giấy tờ lần thứ hai. John thở một hơi dài như muốn trút ra khỏi lồng ngực tất cả sự lo âu. Tướng Oberg nheo mắt cười với anh, như muốn tỏ vẻ chúc mừng anh đã gặp may mắn. Máy bay cất cánh sau ba mươi phút ngừng đổ xăng. Bây giờ, giữa anh và Việt Nam không còn gì ngăn cách nữa. Chỉ có vài trăm dặm của biển Thái Bình phía trước.

Khi chỉ còn vài phút nữa là tới phi trường Tân Sơn Nhứt, anh vô phòng vệ sinh chật cứng thay quần áo. Anh xếp bộ đồng phục Hải Quân xuống tận đáy va ly. Anh mặc một bộ quần áo kaki, hoá trang thành một nhà báo dân sự, giống các nhà báo ở Sài Gòn. Sau khi máy bay đáp xuống, hành khách sửa soạn đi ra, John chưa nghĩ ra cái mẹo nào có thể qua mặt đám quân cảnh đang chờ xét giấy tờ ở phía dưới. Khi bước ra khỏi máy bay, còn đi trên cầu thang, anh chợt trông thấy tướng Oberg bước vào một chiếc xe mầu đen có bảng hiệu VIP, tài xế là một quân nhân. Khi chiếc xe lướt đi trong ánh nắng tháng Tư của Sài Gòn, anh chợt nảy ra một ý nghĩ táo bạo. Anh bỗng la lớn:

“Ê, họ lấy xe của tôi! Bắt họ ngừng lại!”.

Nhiều người nhìn anh rồi kéo nhau vô phòng trình giấy thông hành. Một người lính quân cảnh đứng dưới đất ngước nhìn anh với vẻ ngạc nhiên, rồi nhìn hút theo chiếc xe mầu đen đã chạy một khoảng xa. Người lính trẻ với gương mặt thật thà hỏi anh:

“Ông tướng Hải Quân lấy xe của ông?”.

John ra vẻ là một nhân vật quan trọng của toà đại sứ la lối om sòm, rồi anh bắt một người lính quân cảnh phải tìm cho anh một chiếc xe khác. Người lính hoảng sợ, chạy vô gọi DOD tìm xe cho “ông lớn”. Khi người lính vừa đi khuất, John vội lẻn qua giữa các building, đi bộ ra khỏi cổng phi trường và mất dạng trong đám đông của Sài Gòn. Khi biết chắc không còn ai bắt được mình nữa, anh đi taxi về khách sạn Brink ở đường Hai Bà Trưng. Xuống xe, anh kêu cyclo về nhà má tôi ở đường Nguyễn Văn Sâm. Cả nhà vừa mừng vừa sợ khi thấy John xuất hiện, dù tôi đã gọi điện thoại về báo trước, nhưng không nói chắc ngày nào anh về tới. Má và em tôi có cả ngàn thắc mắc để hỏi John về chị em, con cháu chúng tôi đang ở Mỹ. Người Sài Gòn lại hỏi người bên Mỹ về tình hình Sài Gòn. John chợt buồn vì thấy gia đình bên Sài Gòn không có đàn ông trong nhà. Má ở nhà nghe lóm tin tức với bạn bè hàng xóm. Một ông trung sĩ Không Quân là lính kiểng ở kế bên. Ông làm sao biết tình hình đất nước lúc bấy giờ, trong khi cả tuần ông chỉ ở trường đua Phú Thọ, và lê la trong các phòng trà về ban đêm. Em tôi còn nhỏ, sống ở Sài Gòn, được người lính Việt Nam Cộng Hoà bảo vệ, chưa nếm mùi giặc giã bao giờ. Tôi có hai em, một đứa đã đi làm, còn một đứa đang đi học.

John cho má và em tôi biết anh về để rước ba người đi Mỹ. Nghe nói vậy, mọi người giữ im lặng. Ai cũng muốn bám lấy Việt Nam theo những lý do riêng của họ, cùng mối tâm sự hoang mang mang. Má tôi thì nghĩ tới chuyện được gặp ba tôi và anh Khôi. Tôi nghĩ rằng có thể má cũng nghĩ đến một ngày được an hưởng tuổi già bên cạnh chồng con. Hoà Bình thì nhứt định đi Mỹ, Minh Tâm cũng vậy. Con Vân, người giúp việc của má, muốn đi theo. Má tôi vội viết thơ để lại cho anh Khôi. Trong khi đó, con Vân cũng đổi ý, muốn về Cần Thơ sống với má nó. Má tôi cho nó một số tiền đủ xài hai tháng và một số đồ đạc trong nhà, kể cả bàn máy may. Má cũng không quên ghi rõ trong thơ là cho anh Khôi căn nhà của má. Sở dĩ má cho Vân tiền đủ xài trong hai tháng, vì bà đoán rằng vào khoảng thời gian đó, ba tôi cũng đã vào Sài Gòn. Ngoài số tiền mặt, má cũng cho nó hầu hết đồ đạc trong nhà, chỉ dành lại cho anh Khôi có bộ chén kiểu Noritaki.

Tối hôm đó John gọi tôi, cho hay anh đã tới nơi và đang xúc tiến những chuyện cần thiết. Đoạn đường trước mặt còn gian nan hàng trăm ngàn lần đoạn đường từ Mỹ qua Việt Nam. Trong khi đó ở Mỹ tôi lo sợ từng giờ từng phút. Có lúc tôi lại hối hận đã để John dấn thân vào cho nguy hiểm, mà nơi đó người ta đang tìm đường trốn đi.

Kể từ ngày John đi Sài Gòn, tôi chầu chực bên cạnh điện thoại suốt ngày, trừ những giờ phải đưa Lance đi học và đón nó về. Mỗi lần điện thoại reo tôi lại giựt bắn người lên. Chị Cương ở cách tôi chừng 5, 7 miles, thấy tôi quá lo lắng, ban ngày tới nhà tôi chơi. Ban đêm, chị muốn tôi về nhà chị ngủ, nhưng tôi từ chối, ở nhà trông ngóng tin Sài Gòn.

Chị Cương và tôi đã tới sở ngoại kiều làm giấy bảo trợ má và hai em Hoà Bình và Minh Tâm. Tôi báo cho John biết số hồ sơ và những giấy tờ quan trọng cần cho việc đưa má và hai em ra khỏi Việt Nam.

Có một lúc John ngừng gọi cho tôi mấy ngày liền khiến tôi nóng ruột muốn phát điên lên. Tôi phải gọi ông Esper ở văn phòng Thông Tấn Xã The Associated Press. Nhưng tôi lại gặp xui, vì tổng đài của hãng thông tấn quá bận, nên tôi không liên lạc được với ông. Tôi phải chờ mất hơn ba tiếng đồng hồ mới nói chuyện được với ông. Như muốn trấn an tôi, ông cho biết sẽ gặp John, nhưng không có tin tức gì mới lạ. Ông cũng nói thêm rằng John sẽ làm đủ mọi cách để có thể đưa gia đình tôi sang Mỹ. Ông khuyên tôi cứ an tâm chờ đợi.

Vì lo lắng cho má, cho Sài Gòn, tôi mất ngủ, mất ăn. Một buổi sáng, tôi nhìn tôi trên kiếng, bỗng thấy tôi già hẳn đi, dù lúc đó tôi mới 29 tuổi đầu. Sài Gòn có thể mất trong nay mai. Người miền Nam sẽ đạp lên nhau mà chạy đi tìm tự do. Rồi đây, những đứa bé di cư từ miền Bắc năm 1954 sẽ lại phải dắt díu vợ con chạy trốn cộng sản một lần nữa. Người miền Nam sẽ phải chịu cảnh chia ly như người miền Bắc 20 năm trước. Trăm ngàn cái khổ, người dân của các nước tự do làm sao hiểu nổi. Nghĩ đến những nỗi buồn thảm trong tương lai, tôi thấy xót xa trong lòng nên không dám nghĩ tiếp nữa.

Tôi ngước nhìn lên cao, hỏi ông trời: “Không lẽ dân con cứ đau khổ triền miên mãi như vậy sao?”.

Tôi theo dõi tình hình miền Nam trên truyền hình từ sáng đến khuya. Lance đi học về đòi coi truyền hình, tôi phải tìm nhiều đồ chơi khác cho con chơi, nhưng cũng phải nhường TV cho nó khi có phim hoạt hoạ của Nhựt. Đó là hai phim Kikaida và Rainbow Man. Có lần Lance hỏi:

“Sao nhà mình không mua ba cái TV cho ba người, như nhà thằng Mark, thằng Zachery?”

Tôi phải trả lời khéo:

“Tại má muốn coi TV chung với Lance.

“Má thằng Mark coi movie hay lắm, con má coi tin tức chắc muốn chết!”

Tôi lại phải giải thích:

“Tại bà ngoại của thằng Mark ở Ohio, bình yên, không chiến tranh, chỉ cần tin thời tiết là đủ. Còn bà ngoại của Lance ở Việt Nam, giặc đánh tới nơi, má muốn biết tin tức bên Sài Gòn”.

“Giặc là ai?”. Lance hỏi

“Là VC”.

“Oh!”.

Lance đành xin qua nhà thằng Mark, thằng Zachary chơi. Đúng nửa tiếng đồng hồ sau, theo đúng như lời hứa thì Lance trở về, vì gần tới giờ Lance được coi phim hoạt hoạ.

Trong khi ngồi chờ TV, thình lình Lance hỏi:

“Sài Gòn không yên sao mà biểu Daddy đi tới đó?

Thông thường, câu hỏi vô tư của đứa bé năm tuổi không khó trả lời, nhưng câu hỏi nầy của con tôi làm tôi cứng họng. Tôi cảm thấy mình tội lỗi với John, với má của anh. Tôi quay mặt đi chỗ khác để lau nước mắt. Thật tình, chúng tôi nghĩ tới hiểm nguy cho má nhưng không nghĩ tới hiểm nguy cho tánh mạng của John. Chúng tôi chỉ nghĩ làm sao đưa má và hai em ra khỏi Việt Nam trước khi miền Nam mất vào tay cộng sản. Không biết tôi vô tình hay điếc không sợ súng, hay chúng tôi đang sống ở một nước bình yên, tự do, nên muốn người thân yêu của mình cũng được cuộc sống như mình? Cũng có thể là tất cả những lý do nầy.

Thấy tôi khóc, Lance lấy miếng Kleenex cho tôi chùi mắt, rồi hỏi:

“Má có sợ Việt cộng bắt bà ngoại không?”.

Tôi vội la cháu:

“Đừng có nói bậy!”.

“Chừng nào nào bà ngoại qua, Lance xin ngủ với bà ngoại được không?”

“Không, Lance lớn rồi, phải ngủ riêng”.

“Sao má nói Lance còn nhỏ, không được ra bờ biển một mình. Bây giờ má lại nói Lance lớn rồi, phải ngủ một mình? Người lớn không công bằng, lúc thì nói con nhỏ, lúc thì nói con lớn”.

Nói chuyện với thằng bé ngây thơ, tôi cũng bớt lo lắng phần nào.

Trong khi đó, ở Sài Gòn, John đã tìm đủ mọi cách để đưa má và hai đứa em tôi đi chánh thức. Anh đến Bộ Nội Vụ xin giấy xuất cảnh, nhưng ông chánh văn phòng bộ nầy nói không còn ai làm việc nữa, ai cũng bỏ trốn hết rồi. Ông còn đề nghị anh đưa gia đình ông đi cùng với má và hai em; ông sẽ trả tiền cho John. Nhưng anh từ chối.

Một hôm, John gọi về cho hay bữa nay anh số nói chuyện với người “sửa điện thoại” để biết còn cái gì hư hao nữa không. “Sửa điện thoại” là mật hiệu riêng giữa chúng tôi. John đi “sửa điện thoại”, có nghĩa là anh sẽ vào toà đại sứ Mỹ để gặp nhân viên CIA cho biết ba tôi là ai. Nếu John bảo tôi đi “sửa điện thoại”, là tôi phải đi gặp đại tướng Gaylor.

John cố tránh tại toà đại sứ Mỹ, vì anh là người đến Sài Gòn bất hợp pháp. Chỉ một cú điện thoại, là anh có thể bị lính Thuỷ Quân Lục Chiến ở toà đại sứ bắt, rồi đưa anh lên phi trường, đuổi về Hawaii ngay lập tức. Trước khi quyết định gặp nhân viên CIA, John gọi điện thoại cho đại tá Trần Duy Bính. Bây giờ là tới lúc John trả cái ơn của gia đình tôi cho đại tá Bình. Anh nói với đại tá Bính là anh biết chắc quân Bắc Việt sẽ vô Sài Gòn, nên đề nghị đại tá Bính chuẩn bị gấp cho ông và gia đình ông đi Mỹ. Anh sẵn sàng giúp đỡ mọi phương tiện. Nhưng đại tá Bính chỉ cảm ơn mà không có ý định bỏ chạy. Ông vẫn còn lạc quan, tin là chưa đến nỗi nào. Sau đó, John nhờ đại tá tìm cho một cây súng lục. Đại tá Bính đưa liền cho John một cây revolver. Anh thấy súng lớn quá, khó giấu trong người, nên xin một cây nhỏ hơn. Đại tá hứa sẽ tìm cho trong vòng vài ngày. Nhưng tình hình không cho phép “vài ngày”.

John tới cô nhi viện Minh Trí gặp sơ Nguyễn Thị Trọng. Sơ cho biết một số trẻ mà John và tôi đã gặp, chết vì bị bịnh hoạn. Một số khác còn sống, nhưng không khoẻ. Sơ cũng cho biết, nhiều người Mỹ muốn đưa trẻ mồ côi ra khỏi Việt Nam, chẳng hạn như ông Ed Dailey, chủ hãng máy bay World Airways. Ông xin phép toà đại sứ Mỹ cho ông dùng máy bay riêng của ông để đưa trẻ mồ côi đi Mỹ, nhứt là những đứa con lai. Nhưng toà đại sứ không cho phép.

Một hôm, John may mắn gặp bà Shirley Clark, nhân viên của tổ chức từ thiện Friends Service Cơmmittee. Ba khuyên John kiên nhẫn chờ đợi; trong vài ngày sắp tới có thể có tin vui với anh. Đúng như lời bà, hai ngày sau, ông Ed Dailey tổ chức một chuyến bay cho trẻ em mồ côi, mà không có phép của toà đại sứ Mỹ. Việc nầy làm cho nhân viên của toà đại sứ Mỹ tức giận. Họ gán cho ông Ed Dailey là người bắt cóc con nít, giống như giọng điệu của cộng sản Bắc Việt.

Nhưng sau đó, nhờ vận động khéo, ông Ed Dailey được đại sứ cho phép đưa con lai ra khỏi Việt Nam. Ông cấp tốc chuyển các trẻ mồ côi lên phi trường, trong đó có cả các em ở cô nhi viện Minh Trí.

Chuyến đầu tiên, gồm có 300 em ở cô nhi viện Minh Trí, tới Úc Đại Lợi. Các nhà báo Uc chê mấy em nầy dơ dáy, bịnh hoạn, thế mà vẫn có cả ngàn gia đình xin nhận nuôi. Mọi người đều mừng rỡ, vui vẻ.

Nhưng chuyến thứ hai không may mắn. Ở Mỹ, tôi xem TV, được biết chiếc máy bay C-5 chở 243 em và chừng 45 người lớn, cất cánh ở phi trường Tân Sơn Nhất bị rớt. Tôi lặng người đi, đau đớn đến tê dại, không khóc được.

TV cũng cho biết Đà Nẵng rơi vào tay cộng sản. Hàng vạn người tỵ nạn từ miền Trung đổ tới các tỉnh miền Nam. Già trẻ, lớn bé bồng bế nhau đi, dẫn theo cả súc vật. Họ gồng gánh một chút tài sản nhỏ nhoi. Họ cõng mẹ già, con thơ. Trông thật thê thảm đáng thương. Như vậy, rõ ràng trái với lời tuyên truyền láo của cộng sản là dân miền Nam hân hoan đón chờ cuộc “giải phóng” của họ. Tôi nhớ hồi 1954, có hơn 800.000 người từ miền Bắc di cư vào Nam. Trong khi đó, chỉ có khoảng 180.000 cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc.

John có thói quen từ ngày cưới, kêu tôi bằng “Nhà” (phát âm tiếng Việt). Anh cho biết anh thích chữ “Nhà”, vì nó có vẻ ấm cúng và bình an trong tâm hồn.

Một hôm, từ Sài Gòn, anh đến văn phòng của hãng thông tấn AP (Associated Press) để gọi điện thoại cho tôi. Với giọng mệt mỏi, anh cho biết không có tin gì hay. Nhưng muốn trấn an tôi, anh nói:

“Nhà ơi, anh sẽ làm tất cả những gì anh làm được”.

Nhưng anh đâu có biết rằng, nghe được tiếng anh lúc đó, là tin tốt rồi. Tôi an tâm vì biết chắc má tôi và hai đứa em không có mặt trên chiếc máy bay C-5 gẫy cánh mấy ngày trước đó, mà tất cả hành khách đều bị thiệt mạng. Nhưng tôi vẫn chưa hoàn toàn an tâm khi nghĩ đến những cảnh chạy loạn ở Việt Nam mà TV Mỹ chiếu hàng ngày. Dân miền Trung lếch thếch, bồng bế dắt díu nhau chạy trốn làn sóng tấn công của giặc Cộng. Từ đó, tôi liên tưởng đến má tôi và hai em. Vì vậy tôi nói với John, giọng năn nỉ:

“John ơi, đừng về Mỹ mà không có má và hai đứa nhỏ nhen”.

Nói xong, tôi nhận ra ngay là mình đã lỡ lời một cách ngu ngốc. Rất may là John hiểu rõ tâm trạng tôi lúc bấy giờ.

Chiếc áo mới

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Nov 2023

Chiếc áo mới

Hồ Đình Nghiêm

Ánh sáng không có nhiều trong nhà, có lẽ vì vườn cây đầy lá, vì mặt trời ngủ li bì suốt hai ba hôm. Tin tức khí tượng có loan là bão cấp 5 đang thổi qua vùng đất nào đó ở phiá bắc. Trời chẳng gió lộng chốn này, nhưng cau có âm u với từng đám mây chạy vội. Mùa xuân như bị cuốn hút lên cao, những tảng màu xám vung vẫy ở đó khiến chân dung thành phố gần như bị kéo về lại sự tiêu điều của mùa đông. Khi chạy xe thấy lạnh, ở tay cầm ghi-đông tê tái.

Hai bàn tay xoa vào nhau, hắn ngồi trên ghế kê sát cửa; để nhìn chừng chiếc xe, bồn chồn ngó trời ái ngại một cơn mưa dội xuống bất ngờ. Căn nhà tù mù, đã vậy chủ nhân cố làm ra vẻ thần bí ngồi dấu mặt ở đâu đó sau tấm màn vải đỏ rủ che. Tự khuất lấp nghe vọng ra tiếng nói:

– Bây giờ cô đi bứt vào cho tôi một chiếc lá.

– Dạ… hái lá cây?

– Ừ, tùy ý lựa chọn, miễn đừng lượm lá rụng dưới đất.

Tấm màn vải đỏ lay động, khuôn mặt người đàn bà ngó tới hắn với đôi lông mày thoáng nhíu, ngờ vực. Dáng người gầy yếu, đi nhẹ như sợ làm kinh động những đồ vật chung quanh. Băng qua chỗ hắn ngồi, làm thinh bước ra sân, định vị được mục tiêu, đi lại bụi cây thấp, rậm rạp, xum xuê, đưa tay ngắt một chiếc lá “định mệnh”. Những ngón tay đẹp, hiểu theo nghĩa là bàn tay ấy như chẳng bao giờ biết lao động nặng là gì. Bứt rời một chiếc lá, việc đó nhẹ nhàng biết bao, vậy mà hắn thấy sự nhọc nhằn hiện hữu. Cổ tay ẩn hiện chiếc vòng ngọc xanh, áo màu đen thêu công phu những đóa hoa vàng sẫm, ngỡ như hoa từ bụi cây đang dụi mặt vào ngực người đàn bà. Bà mang tên Cẩm Chướng đứng không lâu, nhưng đủ sáng rỡ một góc nhìn tẻ nhạt. Hoa cẩm chướng cầm chiếc lá không tên bước vô, và rồi tấm màn đỏ phủ lấp, chôn chặt điều khó hiểu. Hắn thấy ngột ngạt, bước khỏi thềm nhìn mông lung. Xa nhất là ngọn đồi, cắm không đều những bia mộ xám, rối rắm mọc giữa triền cỏ xanh. Dáng một hai người mãi khom lưng đào cuốc lao động mãi mê. Trồng trọt, thu hoạch hoa màu hay đang cố sức làm đẹp “căn nhà” thân nhân hồn đã về bên kia núi? Dưới chân đồi là những ô vuông sồi trụt của đám ruộng ngập nước. Từ đó khai mở con đường đất loanh quanh chạy tuốt ra ngoài quốc lộ. Mơ hồ tiếng động cơ rót vào, cách khoảng. Thứ tiếng nghe rã rời, mau chìm khuất, lặng buồn. Những ngày cuối năm, không gian thường có những phút im sững như vậy, cực lòng. Hôm qua, một người khách lạ mặt cầm cành mai chưa nở hoa từ chợ bước ra đã vẫy gọi hắn. Khi chở đến nhà, ông ấy trả tiền cuốc xe rồi chúc “Năm mới, thắng lợi mới”. Như ông ấy vừa tan một phiên họp kiểm điểm từ cơ quan, chưa tiêu hóa xong những khẩu ngữ dành cho loài vẹt. Thắng lợi? Chữ ấy thật lạ lùng, e suốt đời chẳng thích hợp với hắn. Dung dị, bình thường, thân mật, quen thuộc biết mấy nếu nói: Năm mới phát tài nghe bạn!

– Thôi mình về.

Người đàn bà đã trở ra.

– Xong xuôi rồi sao? Có tốt không chị?

Người đàn bà lặng yên bước lại bên chiếc xe còn phả miên man chút hơi nóng ở bộ máy đen đúa. Chiếc khăn nhỏ mãi vày vò ở lòng bàn tay làm như chiếc lá đã để lại trên da thịt những giọt mủ rít rát. Xe chạy ra quốc lộ, đường đất mấp mô ở đây chưa thể có một êm ái của mặt nhựa hắc ín rải xuống nên hắn đón nhận một vòng tay từ sau buộc lòng ôm giữ bụng hắn. Mây mù trên núi và con đường đất đỏ bắt đầu đón nhận thưa thớt những hạt mưa.

– Bẻ cho chị bẹ lá chuối để che nhé?

– Thôi đừng, mưa có lớn đâu?

– Một chiếc lá mà cũng mang theo nó điều hên xui cho người hái sao?

– Không biết.

– Bà ấy nói với chị những gì?

– Toàn cả chuyện không may.

– Chiếc lá mà chị hái chắc là bị sâu ăn.

Người đàn bà cười. Lưng hắn có vùng hơi ấm bò lan man, qua làn vải áo.

– Đôi khi mình phải nên tin vào những chuyện xét thấy kỳ cục. Người đàn bà nói. Nhất là trong cái lúc mà sự tuyệt vọng đã giăng bủa bốn bề.

Xe leo dốc, hắn sang số và hắn nghe rõ tiếng nấc, nỗi oán than của chiếc xe già tuổi.

– Lạnh không?

– Đã quen rồi.

– Thật không?

– Thật. Có hôm chở khách từ ga về dưới cơn mưa tầm tả rơi. Bong bóng vỡ ra trên mặt đường lớn bằng những chén đựng cơm.

– Chẳng có áo mưa?

– Có, nhưng nhường cho khách.

– Sao hôm nay khách chẳng được mặc?

– Cái áo ấy đã rách, đã vá đến chỗ không còn có thể cứu chữa.

Khi nói, hắn nhìn thấy một cái quán, hắn giảm tốc độ và cho xe đổ xuôi theo vệ đường, tìm tới.

– Chi vậy?

– Mưa nặng hạt rồi, chỉ sợ chị bị thấm ướt.

– Bà thầy bói phán “cô sẽ ốm một trận thập tử nhất sinh” nhưng phải hai ba năm nữa kia.

Mưa ào ạt trút nước, như pháo kích trên mái tôn. Nếu không sớm vào có lẽ giờ này cả hai đều như chuột lột. Đó cũng là điều thích thú. Và được ngồi ấm cúng như phút này cũng là niềm hạnh phúc khác. Anh chị dùng chi? Người con gái từ góc tối bưng cây đèn dầu khá lớn đặt trên bàn gỗ. Cô giải thích. Không có điện, chắc ảnh hưởng mưa bão chi đó. Bánh ướt thịt nướng? Hắn ngó Cẩm Chướng. Tôi mời chị bữa nay nghe. Đôi mắt người đàn bà nhỏ lại, những nếp nhăn chạy dài ở đuôi mắt khi cười, thế cho một ưng thuận. Dưới bàn là ngọn đèn dầu, nhưng trên vũng màu vàng đục ấy hắn thấy được khoảng sáng trưng ánh điện kỳ lạ. Cảm tưởng không thực này có phải do người đàn bà từ Sài-gòn mang lại? Đem theo thứ không khí khác, làm xáo trộn những ngày tiêu điều của hắn ở Huế. Kề cận để hít thở, hắn choáng ngộp thứ nỗi niềm rất mới, rất lạ mặt.

– Anh Khiêm bây giờ ở đâu?

– Đâu đó ngoài Bắc, chẳng thể biết đích xác, không chừng là nơi đang hứng chịu thiên tai bão tố.

– Anh ấy ra sao?

– Có lẽ vẫn còn sống.

– Chưa một lần được thăm nuôi?

– Chị thấy đó, biết bao những khó khăn. Làm sao hơn được?

Hắn nói trong cúi mặt. Hắn thấy những ngón tay run của người đàn bà đang chậm rãi xếp vuông vức chiếc khăn tay. Miếng vải có nhiều vết ố và có lẽ nó chẳng tài nào được giặt sạch, tẩy rửa vệt nhơ. Hắn không biết người anh có buồn giận và trách cứ hắn? Người vợ của anh đã sang tới Mỹ sau đúng một năm chờ đợi ông chồng “có nợ máu” kia. Và hôm nay, người bạn học cũ của anh đã nhắc nhớ tới kẻ xấu số mãi còn khiếm diện dài lâu. Hắn lái câu chuyện thoát khỏi những phút giây trì nặng:

– Hồi nào thì chị chính thức bỏ đi?

– Đi đâu?

– Còn đâu khác. Không lẽ chị từ ngàn dặm ra đây tìm thầy bói để chỉ hỏi chuyện tình duyên gia đạo vớ vẫn?

Người đàn bà nheo mắt ngó hắn:

– Thời buổi này coi bộ làm thầy bói là dễ nhất, đúng không?

– Lái xe ôm nữa. Chị cần đi đâu sẽ có người đèo cõng tới nơi tới chốn, chỉ tiếc là không ai đi xe được trên mặt biển!

– Hai anh em thật có nhiều điểm giống nhau.

Hắn nghe người đàn bà nhận xét, không chắc điều ấy đúng đâu, bởi một đứa yếu đuối, dở hơi, luôn mang ảo tưởng và sống với những điều không có thật; những thằng người “lạc hậu” như vậy sẽ chết chắc khi ngày đầu chịu thúc thủ bước chân vào trại cải tạo.

– Thời tiết như thế này chỉ sợ không ổn!

– Cái gì chị?

– Về chuyến đi đó, thêm thấy bà ấy nói sẽ có lắm trắc trở lươn lẹo.

– Chị tin sao? Bây giờ có ai được sống bình thường suông sẻ đâu. Phải thường trực đối đầu với những tai ương hoạn nạn. Đã bảo làm thầy bói không khó mà.

– Đổi nghề đi, và nhớ trấn an cho nhiều những kẻ nhẹ dạ. Mà này, Lâm đã có người yêu chưa?

– Tạm xem như chưa có, một đứa hành nghề chạy xe ôm, công việc đó chẳng nhằm hứa hẹn được điều gì cả. Ngay cả bản mệnh của chính hắn. Chị hiểu không?

– Mặc cảm à?

– Không, cô ấy là một con người mới, hiểu theo chữ dùng của họ. Đối tượng của cô ấy phải là một cán bộ công nhân viên nhà nước có lý lịch tốt… Sao chị hỏi tới chuyện đó?

– Để biết. Và biết rồi sẽ dễ rũ Lâm cùng đi. Tệ quá, chẳng có cách gì làm cho cô bạn ấy mở mắt ra sao?

– Thấy mỏi mệt và chẳng hứng thú gì cả. Trên căn bản đã có khoảng cách, bên đỏ bên vàng. Làm gì thêm cũng đều là miễn cưỡng. Nếu được đi, chị có đòi hỏi điều kiện gì không?

– Dĩ nhiên là có, một tuồng kịch hơi khó diễn xuất.

Hắn nhìn ra thềm mưa, mơ màng. Chiếc xe ấy bán cũng được chút ít… Người đàn bà chận đứng: Có cách nào để chuyển số tiền đó cho anh Khiêm là tốt hơn cả. Thêm một chỗ ngồi trên ghe đó không phải là vấn đề nan giải.

Thức ăn dọn ra, họ cùng ăn một món giống nhau. Tuy chưa đồng hội đồng thuyền, nhưng nhỡ có đau bụng thì họ sẽ cùng gặp Tào Tháo một lần. Hắn cảm thấy ngon miệng, không do bởi thực phẩm, bởi đã quá lâu hắn mãi gầm đầu nhai nuốt qua loa trong đơn độc, vị giác sẽ xơ cứng đi; nó sẽ hoàn hồn sống lại hồi nào nó có chung kẻ đối ẩm, đối thực, đối tác, đối diện. Do vui miệng, khi ăn, hắn kể cho người đàn bà nghe lần hắn chở một người đàn ông đứng tuổi đi len lỏi trong thành phố vào đêm mất điện, khó khăn khi lần ra đích tới. Ngồi sau, ông ta phát biểu: Cậu biết không, rằng tôi không hiểu nhà nước tiết kiệm được bao nhiêu tiền cho mỗi đêm cắt điện, trong khi ấy sẽ có hàng trăm ngàn cặp tình nhân vợ chồng đồng lòng làm chuyện ấy trong bóng tối và năm sau xuất hiện thêm trăm ngàn cái miệng ăn réo khóc. Nhà nước lại đi tiết kiệm trong cái đường hầm hun hút không cách nào tìm thấy ánh sáng.

Người đàn bà gát đũa, lau miệng:

– Ông chuyên gia kinh tế đó không góp chất xám cho nhà nước kể cũng phí!

Hắn rùn vai: Biết đâu ông ta là cán bộ chuyên điều tra về dân số?

– Mưa tạnh rồi phải không? Mình về.

Hắn nghe lời, dành trả tiền rồi mượn cô chủ quán miếng giẻ để chùi khô ghế xe. Chiếc xe như bảo vật, là tài sản đơn lẻ và cũng có thể ví là người bạn chung tình duy nhất mà hắn có. Nếu được ra đi, như vậy cuộc đời lại bày thêm nỗi chia lìa, buộc hắn phải cắt bỏ dần dà những kỷ vật tưởng đã khô héo mọi giây mơ rễ má. Máy xe nổ, tiếng động cơ nửa trấn an nửa làm hắn nản lòng. Hắn từng chở một kẻ gặp nạn trên đường, chẳng thu tiền để mang khuôn mặt nhàu nát tới được bệnh viện cấp cứu. Hắn từng chở một bà đi đánh ghen và suýt chút nữa chứng kiến kẻ ăn vụng bị thiến mất của quý. Hắn từng đón ở bến xe đò người đàn ông xác xơ bồn chồn cảnh đoàn tụ sau hơn sáu năm tù tội. Hắn từng đưa một thiếu nữ tới sân ga và cầm số tiền ngập nước mắt của cô câm lặng trao như thế lời vĩnh biệt. Tựu trung, sau yên xe hắn đã thồ đi biết bao những tình huống oan nghiệt, đã đón đưa bao phần số của một phận người. Để giờ này hắn chở một người và kẻ ấy sẽ quyết định một lối đi cho chính bổn mạng hắn. Người ấy hỏi:

– Lâm có sợ chết không?

– Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, nhưng sắp giã từ năm cũ tại sao lại đi nói tới chuyện không may kia?

– Vậy thì Lâm sợ giả chết không?

– Chết mà còn làm bộ nữa sao? Kịch sĩ hả?

– Ừ, nằm yên trong quan tài, tim vẫn đập, tai vẫn nghe tiếng khóc nhân gian rộn ràng bên ngoài áo quan.

– Chị có mặc áo tang u sầu tiếc thương đi theo tới cuối đường?

– Dĩ nhiên, và sẽ có nhiều những diễn viên nghiệp dư phụ diễn.

– Tên xe thồ được đóng vai chính?

– Nếu Lâm không ngại, chẳng sợ dị đoan.

– Hết cách rồi sao?

– Hết, họ nói giả làm đám cưới thì hơn một lần bị lộ tẩy. Hôn lễ cử hành xong, ghe chưa kịp tới thì cô dâu chú rể đồng loạt bị áp giải hưởng hai năm trăng mật ở trong tù.

Xe thắng đứng trước một căn nhà cửa sắt kéo đóng im lìm lạnh ngắt. Trên tường vôi, cái bảng hiệu ngày cũ bị quét phủ mờ lớp sơn. Số nhà, tên đường cũng chung số phận, khó đọc ra. Như hằng lâu nó muốn chết đi, từ chối sự có mặt để mong những bàn tay đường đột tới gõ cửa sẽ hoài nghi nản lòng bỏ đi. Người đàn bà rời yên xe:

– Cho một ngày để quyết định, đêm mai sẽ đợi Lâm ở đây, khoảng tám giờ.

– Không vào nhà với chị được sao?

– Đừng, những người bà con ở trong đó cũng thuộc loại diễn viên ưa giả chết. Giả chết ở hình thức khác, họ mong hưởng được chút an lành tối thiểu, hiểu không?

– Còn cái áo quan thì sao?

– Đừng lo, rất vừa chiều dài của Lâm và sẽ cố làm cho thật tiện nghi.

Hắn ho khan: Thiệt là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ! Người đàn bà đặt tay lên ghi-đông, phủ bao bàn tay lạnh giá của hắn và cười bằng đôi mắt chứa nhiều bóng tối. Hắn cảm nhận rõ hắn là một thây ma, thoi thóp được ít nhiều nhờ con mèo đen Cẩm Chướng vừa bất thần nhảy ngang qua thi thể.

– Lâm sẽ nằm trên một đống lương thực, hải bàn ống nhòm các thứ. Tóm lại là cái hòm kia sẽ ngụy trang sao cho người nằm trong không bị ngạt thở.

– Dracula của thế kỷ hiện đại hả? Bắt đầu thèm máu nóng rồi. Chị đi uống cà phê không?

– Chẳng dại cho Lâm hút máu đâu? Về ngủ đi.

– Quan tài nằm ở đâu mà biểu đi ngủ?

– Đồ quỷ!

– Chị không leo lại lên xe thì thằng tài tử đóng vai chính sẽ từ bỏ nhiệm sở.

– Biết dọa nữa à?

Người đàn bà véo vào tay hắn, vỡ ra những tiếng cười cố nén. Nghe theo lời, vòng tay ra trước bụng hắn để ôm. Vòng ngọc chạm vào hàng nút nhựa trên thân áo kêu vui tai.

– Lâm thấy liệu màn kịch đưa người về miền cực lạc đó có thành công không?

Hắn nghe rõ nhưng chẳng trả lời. Lòng hắn lúc ấy bừa bộn nhiều cảm xúc quá, chưa thu xếp được.

Đêm dịu dàng nhiều sắc xanh, có vẻ ngọt ngào sau cơn mưa. Hai hàng cây đứng rũ lá bên đường lao xao như một đầu tóc mới gội chờ hong khô. Ở trên đó có chiếc lá nào dành cho hắn sự may mắn? Hắn không việc gì phải tìm tới thầy bói bởi linh tính cho hắn hay, rồi mai đây hắn sẽ vĩnh viễn lìa xa thành phố này. Cái thành phố thân yêu đã lắm lúc cay nghiệt phản bội, gieo cho hắn một ý nghĩ đau lòng: Hắn chỉ là một kẻ trọ, qua đường, dừng chân. Và kẻ lữ thứ kia sẽ gầm đầu ra đi chẳng để lại một vấn vương. Tuyệt không vọng động!

Hồ Đình Nghiêm

Ba cha bố tía

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Nov 2023

Ba cha bố tía

Hồ Đình Nghiêm

Vợ chồng anh có được một cậu con trai. Nó chào đời ở bệnh viện L’Hôtel-Dieu.

Dạo đó vợ chồng anh vừa bỏ xứ sang tới. Đen đúa, xác xơ lấm bụi trần, hai đứa chưa học hỏi những điều khác biệt giữa văn minh và lạc hậu nhưng nhìn nhận ra ngay, đâu là thấm đẫm tình người phương này và đâu là ác đức bất nhân phương kia.

Khi vợ đau đẻ chuyển bụng, anh gọi taxi và cả hai chạy u vào nhà thương nhờ tài nghệ lòn lách cực giỏi của một ông già bạc tóc cầm lái. Đó là bệnh viện mà anh luôn hộ tống vợ đến để theo dõi tiến trình phát triển của thai nhi. Để nghe họ tận tuỵ bày vẽ mọi phương thức nhằm bảo vệ giọt máu đang tượng hình trong bụng bầu. Giải đáp chi li mọi thắc mắc với tấm lòng thành y như ruột thịt. Hơn cả bà con xa, hơn cả láng giềng gần, hơn vạn lần xã hội mà anh vừa từ bỏ.

Khác với dự đoán, thật bất ngờ, những người phụ trách ca đỡ đẻ hôm đó đã bắt tay anh, trấn an anh, rồi biểu anh thay đổi xiêm y cho giống họ: Ông nên đứng trên đầu giường trong khi chúng tôi giúp vợ anh mang cháu ra khỏi cửa mình. Anh phải trực tiếp theo dõi chứ chẳng thể lóng cóng ngồi nhấp nhổm trên ghế kê ngoài hành lang đón đợi “lộc trời ban”. Ô-kê?

Ngồi chờ rung sụng không được, buộc lòng anh lóng cóng theo họ vào căn phòng “khủng khiếp” hơn vạn lần phòng the. Ê-kíp đỡ đẻ cho vợ anh gồm có hai bác sĩ nam và ba cô y tá. Phòng lạnh toát, đèn sáng loà và mặt vợ anh xanh cắt không ra giọt máu. Diện mạo anh e cũng thế, như tàu lá chuối, vì tạng người yếu bóng vía, sợ nhìn cảnh máu đổ thịt rơi. Tuy không nói ra, những người “mát tay” kia như ngầm chuyển tới thông điệp: Mày phải chứng kiến cơn đau chẻ dọc người mà vợ mày đang hứng chịu. Nếu biết ca dao, họ sẽ ngâm nga: Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển lôi thôi hai người.

Thằng bé khóc rõ to khi thông báo cùng chư vị rằng tôi đang hiện diện. Cô y tá hát bè, giọng thính phòng: Mon Dieu, nó bô giai quá thể. Bác sĩ đồng thanh hợp xướng: Thuận buồm xuôi gió, xin chúc mừng ông bà nhé. Oe oe oe xong mới tới he he he. Khóc hay cười cũng đều là liều thuốc bổ.

Tàu nằm trong vịnh phẳng lặng không gió máy đúng bốn ngày, theo quy định phải nhổ neo về lại chốn giang hồ. Vô sản khi đi vô, trở ra lại giàu sụ vì cục vàng bề thế nặng hơn ba ký ngu ngoe trên tay ôm. Và giang hồ, chốn ấy nay đã đổi thay, nhà nước hàng tháng cứ đều đặn rót ngân lượng bồi dưỡng cho quý tử gọi là tiền sữa. Cho cháu “bú” mệt nghỉ tới tuổi 18 mới ngưng chi viện. Luật lệ gì đáng yêu quá thể, và người ký luật nhắn nhủ, chúng tôi rất hoan hỉ nếu bạn mặn chuyện đẻ. Đẻ như gà thì tiền sữa gửi tới nhiều như lá mùa thu. Eo ôi, chắc quý vị không biết, ở xứ tôi cho phép mỗi gia đình chỉ được đẻ ra hai mặt con thôi. Thế mới gọi là thiên đường xã hội chủ nghĩa chứ. Có ai như quý vị, lạc hậu, kém văn minh quá mạng!

Thằng bé lớn nhanh, năng động, ưa xông xáo. Nó ưa đá banh và biểu anh làm thủ môn cho nó phát huy sức mạnh chân cẳng. Nó ưa đạp xe cùng anh ra công viên, dọc theo con sông đào, rồi dần dà rất hứng thú đi khám phá những thành cổ nằm ở ngoại ô. Đó là khoảng thời gian còn ngồi ở bậc tiểu học, lên trung học cu cậu bắt đầu “chây lười lao động”. Tiếng Việt dần dà cà lăm cà cặp, đặt câu lộn xộn nhớ trước quên sau. Tâm sinh lý đổi thay, ít trửng giỡn, ít cười đùa, ít tâm sự. Ưa làm mặt nghiêm, ưa cố thủ trong phòng và vô tình, nó làm cho bố mẹ đẻ phải thắt thỏm âu lo đâm sợ nó. Sợ con buồn, sợ con đang phải lòng ai kia, sợ con xa lánh sách đèn, sợ con chưa đủ lông cánh đã bày đặt đòi bay xa.

Con chuẩn bị bay trong khi mẹ âm thầm nuôi dưỡng một cuộc cách mạng giết người không gươm dao. Cách mạng thành công, chị bỏ anh đột ngột, đành đoạn như một người xét thấy đã làm xong những bổn phận, đã chu toàn thứ hợp đồng chẳng liên hệ tới vấn đề tình cảm. Đó là lúc mà con anh đã xong đại học và tìm ra việc làm ở thành phố kề cận. Trống hoác ập tới giữa khúc đời ghẻ lạnh, anh chống đỡ tai ương khó hiểu bằng thái độ của đứa khánh kiệt dần chất lửa. Không dậm cẳng kêu trời, chẳng mồm năm miệng mười bù lu bù loa trách tình nhân thế. Chỉ biết co rúm người lại tịnh khẩu như bình. Chẳng hiểu sao “tiếng thơm” của anh lan truyền về tận cố quận, và thằng cháu bên đó đã gửi email sang kèm tấm ảnh chụp ấn tượng. Nó ngồi ngay ngắn ở bàn học, trên vách dán tấm bìa đỏ lổn ngổn hàng chữ vàng bắt mắt: “Sống chiến đấu, lao động, học tập KHÔNG theo gương chú Hồ nhỏ bé”. Thư chẳng ỉ ôi xin xỏ tiền bạc gì cả nhưng anh đã gửi về cho nó 100 đô với hàng phi lộ: Chút chút tượng trưng để cháu có mà ăn quà vặt nhằm nâng cấp chất xám. Tao rất yêu chất phản động mà mày dành cho ông chú tha phương.

Để phù hợp với hoàn cảnh mới, anh tìm thuê một căn hộ nhỏ như cái lỗ mũi mong sớm tối có chỗ ngã lưng. Cái vỏ của một con ốc sên thì đâu có gì to lớn kềnh càng, khiến nhọc thân? Thiền giả rút êm vào thạch động, bợn lòng chỉ thông báo cùng đứa con ruột rà và người bạn thân duy nhất. Người bạn này có gia đạo an vui, nhà êm cửa ấm nhưng không hiểu sao hắn luôn hứng chịu tiếng ong ve, bị liệt kê vào hội viên hội sợ vợ. Hắn nhún vai, thì đã sao, nhất vợ nhì trời. Mày có thể coi thường, không sợ ông bà Trời nhưng mày phải biết cách xử thế với nửa kia để tai qua nạn khỏi. Tao đồ chừng cái hậu quả mày đang hứng kia e do trước đây mày không biết “lễ độ” chăng? Bạn hỏi: Con mày thế nào rồi? Nó làm đồng minh phe mẹ hay sao? Nó có thường “đi đêm” với mày không? Anh phá ra cười với chữ dùng của bạn. Anh cám ơn những thăm hỏi, những chất vấn; và trong mọi tình huống cười trừ là cách thế nên biểu tỏ. Để chứng minh, dù sao đi nữa, bi thảm cách gì thì ta cũng nên vui sống. Có điều kiện để thụ hưởng của ngon vật lạ lại càng hoan nghênh. Bạn gật gù. Hai đứa con tao đôi khi ngó bắt nản, bởi chúng chúa “phân biệt chủng tộc”, mother’s day chúng mua quà hoành tráng mà tới father’s day thì chúng ì xèo nay tặng cái kềm mốt tặng cây búa. Mẹ nó chứ, làm cha thì thiếu gì thứ để ngứa tay vọc vào, sao cứ bắt làm thợ mộc làm thợ nề thợ dựng xây thợ cơ khí cố xá thế kia! Đừng đổ oan cho tớ là sợ vợ nhé, bảo tớ làm hội viên hội sợ con mới đúng, nhớ?

Thường thì cùng ra ngồi quán cà phê với nhau không được lâu. Điện thoại thông minh dấu trong túi áo bạn ré kêu giật thót, ba chừng bảy đỗi. Thôi tao dông, bả mới ký sứ vụ lệnh ở chợ Maxi’s bán sale giấy vệ sinh 16 cuốn chỉ 3 đồng 99, mười cái đùi gà mà có 2 đồng 99… Bạn dông thật, điệu bộ lật đật quờ quạng như gà nuốt giây thun. Quen rồi, nên câm lặng mà chẳng càm ràm than vắn thở dài khi cuộc chuyện trò chưa ngã ngũ, nói chưa sướng miệng. Anh ngồi một mình, nhâm nhi cho hết cốc cà phê đắng chát. Tiếng chuông reo mơ hồ, có vẻ không thực. Lần này thì nó phát ra từ máy anh. Ấp a ấp úng một lát anh mới lại thần hồn, bên kia đường truyền của sóng là tiếng nói người con. Bao giờ cũng vậy, trao đổi cùng con anh luôn mang nặng một hối tiếc, một ước ao, phải chi mà hai bố con đều nói được tiếng mẹ đẻ. Như thế, có phải dễ cho anh khi dốc lòng tâm sự cùng nó? Tiếng Anh tuy chẳng cà lăm nhưng anh cực lòng sử dụng để chuyện trò cùng con, nghe nó xa cách làm sao ấy!

Nó thông báo sẽ lái xe về thăm anh, cỡ sáu bảy giờ gì đó là có mặt. Nó mang anh đi nhà hàng ăn tối rồi trao quà đặc biệt cho anh. Biết không dad, hôm nay là Father’s day. Anh mường tượng ra trong đầu hình ảnh một anh chàng kỹ sư luôn diện đồ lớn, vét tông cà vạt đủ thứ. Tóc ướt cắt tỉa theo thời trang rối rắm một cách có chủ ý. Cạo râu hàng ngày để dưới da mặt xanh thẩm tượng hình một vùng quai nón. Có thứ nước hoa dịu ngọt ám đâu đó trên thân thể… Như đoạn phim chiếu ngược, chàng kỹ sư kia thời còn bé, với anh luôn là đôi bạn chân tình, khắng khít. Nhớ lúc mang nó về nhà, bệnh viện có cử cô y tá đến chăm nom chỉ bày cách săn sóc con hàng tuần. Cô bảo khi tắm bé, nên vọc con chim nó, nhẹ nhàng để kéo lớp da quy đầu lui. Tất cả như một giấc mộng, khởi đi từ lòng nhân ái của vùng đất mới cho tới sự lập thân vững chãi của đứa con anh.

Con anh thuê hotel vì chỗ anh ở không thể chứa chấp thêm ai khác. Đó thực sự là ổ chuột dưới mắt người con quen sống trong tiện nghi. Nó trao cho anh chiếc chìa khoá. Cái gì vậy? Anh hỏi. Con ở phòng 105, bố ở 107. Chỉ một đêm thôi. Đã gọi là ngày của cha thì buộc phải khác thường. Nó vỗ vai anh, vẻ như trấn an, như khích lệ, như dọn lòng đón đợi một bất ngờ. Đúng theo chương trình nó sắp xếp, một bữa ăn ở nhà hàng đình đám diễn ra. Tàn cuộc, nó chở anh về khách sạn, ở đó có người con gái chực sẵn. Quà của con đó, bố khui giờ này hay sao? Đây là Sylvie, đây là ông già tôi. Hai người nên thụ hưởng cuộc vui nhé.

Anh chẳng có phản ứng, anh rất vụng cư xử khi xét thấy mọi thứ đã lỡ làng, đã sắp đặt. Anh yên lặng để cho người con gái áng chừng ngoài đôi mươi nắm tay anh lôi đi, ân cần, âu yếm, quan hoài, tận tuỵ. Phòng 107 mở rộng, đèn bật cháy. Một chiếc giường, một cái TV là vật thể đập vào mắt anh trước tiên. Sau đó là áo xống được cởi ra, ném lên mặt nệm, dụt xuống tapis. Da lụa là trắng muốt, bầu ngực căng mọng với hai núm hồng. Phía dưới là rừng lá thấp, những tóc vàng sợi nhỏ. Và hơi thở nóng thơm mùi bạc hà. Có nói tôi mới tin, ông chẳng ra là bố của anh Mike rất mực hào hoa phong nhã kia. Anh Mike giao tôi một trọng trách, chìu chuộng ông rất mực suốt năm canh này. Chúc mừng ngày lễ của cha.

Anh nhắm mắt lại, sung sướng đón nhận một trọng lượng nồng ấm vừa phủ chụp xuống cơ thể mình. Đôi khi người ta đã dùng chữ lầm lạc, tại sao lại mừng khi trút bỏ được gánh nặng? Hãy đè xuống người anh bao lực nặng mà em có, để chứng minh sức mạnh ở em đã mang anh về lại thuở trung niên cường tráng. Sylvie, cho anh được gọi tên em là Huyền nhé, người vợ đã chối từ anh. Huyền, anh yêu em. Ít ra thì em đã cho anh một thằng con quý tử. Ôi, cuộc đời vẫn đẹp thay!

Hồ Đình Nghiêm
21 tháng 6. Tạ ơn Cha

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 11 Nov 2023

Võng lòng đu đưa

Đặng Chí Bình

Bài 48

Mãi 8 giờ chị Hằng mới mò lên chịu soi gương xem mặt mình. Nước triều lênh láng, gió dìu dịu như đèn cạn dần dầu. Tiếng quậy của một con cá ở dưới cầu, tôi ngoái lại, một làn hương lạ, quyện vào gió chiều. Tôi không tin được, trong bóng tối sáng lờ mờ, cô Hằng đang lò dò tiến ra cầu, dáng đi rụt rè vì sợ té hay vì ngại ngần? Vì cái gì, tôi cũng quay lại. Tôi đã cầm tay Hằng dẫn cô đi một đoạn cầu, không biết tay tôi run hay tay cô run, nhưng rõ ràng mát như lụa, mát như cái cảm giác ban đầu cô ngủ mê, gác chân lên ngực tôi.

Cái buổi ban đầu… lưu luyến ấy

Ngàn năm… chưa dễ … đã ai quên?

(ai quên hay quên đi tùy theo tâm trạng)

Chỉ một đoạn cầu, ý tưởng của bác Nguyễn Bính đã sồng sộc, xốc vào hồn tôi. Do mỗi người đều có lòng tự trọng nên tôi và Hằng đã ngồi cách xa nhau một cánh tay. Cô Hằng giọng ngọt như nước mưa đầu mùa:

– Chú …. hay ra đây ngồi một mình?

Nhìn làn tóc óng ả đen huyền, mềm như sóng lùng trong vụng, tôi nôn nao, thở nhè nhẹ, lẫn vào gió:

– Để.. nhìn về ….quê hương!

Hằng “hứ” lên một cái, nghe như tiếng con nai tơ “hực” lên mỗi khi gặp con dê mật, đang gãi sừng trong rừng thu. Nhìn vào hai đốm sáng, tôi hỏi đùa:

– Đã khi nào Hằng nhìn thấy ba mặt trăng một lúc chưa?

Giọng cười khèn khẹt như gà giò mới biết gọi trống:

– Thôi! “Đốt” chú đi!

Tôi định nói cho vui như nỗi niềm hơ hớ nhựa trong lòng: “đốt” tức là “nướng”, vậy Hằng định ăn hết hay một nửa? Nhưng khi nghe những tiếng cười khúc khích của mấy đôi, phía bên cầu barrack kia, tôi nói như giải lý nghiêm trang:

– Một chị Hằng ở trên trời, một chị ở dưới biển và một cô em Hằng ngồi trước mặt!

Trong barrack tự nhiên có tiếng đập vào cửa phành phạch liên hồi, như tiếng xe bình bịch nổ máy. Hằng đứng lên. Đưa Hằng trở vào rồi, tôi trở lại, ra cầu tiêu. Tôi đã chỉ cho Hằng một ngọn thông cao nhất, trong một khoảnh rừng non sát mé biển. Xa chừng 300 mét phía trong phố, để cho Hằng yên lòng, tôi nhấn mạnh rõ ràng: “Đúng 6 giờ chiều mai tôi đã có mặt ở đấy rồi”.

Hằng đã yên lặng gật đầu.

Thật sự cái đêm hôm ấy, tôi nằm mà cứ như đang bơi trong nước, hay bay trong mây. Tôi nằm để nghe, để cảm nhận từng ngóc ngách tâm trạng của một người có “hẹn hò” nó sẽ như thế nào? Mỗi ai hồi tướng lại, cái buổi “hẹn hò” đầu đời của mình, mới thấy cái rạo rực, run rẩy. Lúc thì rõ ràng quang đãng, như trời không mây; lúc lại lờ mờ, như sương mù tháng củ mật, của lòng tôi lúc này.

Chuyện riêng… ai chằng… một lần mím môi?

Ngỡ ngàng là … tiếng lòng tôi

Bâng khuâng là cả ….nẻo trời bâng khuâng.

Chiều hôm sau, tôi đã rời barrack ngay từ 5: 30, tôi len lỏi đến tận gốc thông già, và đã vặt những cành lá thì mới lớn, để chuẩn bị một chỗ ngồi. Tiếng dạt dào, xao xác của sóng biển vọng đến, lẫn với những tiếng re re của dế cơm, dế chũi. Mà cũng lạ, tiếng dế chiều của Indo, khác hẳn với tiếng dế của quê nhà. Tiếng dế của đồng nội quê hương mình nó ngọt, nó êm; nó không dằn dỗi tức tưởi, như tiếng dế ở đây.

Một chiếc lá rơi, một tiếng chim hắng dạng, cũng làm tôi quay lại, tướng như “người ấy” đã … thập thò.

Rồi một làn hơi lạ, thoang thoảng như mùi hoa móng rồng xoắn cuộn vào hơi lá cây rừng. Trong ánh lờ mờ, Hằng từ trong ấy rụt rè tiến ra, không một lời nói. Như có một lực hút của nam châm, tôi và Hằng đã ôm chặt, như không còn ôm được nữa. Hằng hổn hển áp mũi và mặt vào cổ tôi. Cái mùi hoa móng rồng, như cả chùm, úp chặt vào mũi tôi, tay của tôi tự nhiên như mất hết sức, rủn ra. Tôi tường như phải ngã đổ kềnh ra, thì một hồi trống cà rùng gióng lên, ngay phía bên ngoài.

Năm, sáu cậu thiếu niên 14- 15 tuổi đuổi nhau, chạy xổ vào trong đám rừng non. Các cậu mặc quần áo boy scout, hò hét tiếng Indo, tôi và Hằng chẳng hiểu gì. Như một thùng nước lạnh dội vào người đang ngủ, Hằng đã lủi ra đường, và tôi đờ đẫn nhìn mấy cậu Indo đùa dởn, như nhìn một chiếc thuyền câu, gió đổi chiều.

Tôi chưa muốn trở về barrack, tôi lang thang đi vào mấy phố lạ, trong bóng điện mập mờ chỗ sáng, chỗ tối. Tay này sờ lay kia, tôi sờ cổ, sờ má. Thậm chí, tôi sờ, tôi xoa cả bên ngoài chiếc áo sơ mi như tôi muốn tìm lại, một chút quen quen vừa mới đây. Cả cái mùi nhè nhẹ vương vấn, của móng rồng còn quấn, quẩn vào quần áo của tôi.

Đến một con đường hẹp, từ trong một ngõ hẻm, bóng một phụ nữ Indo, bế một đứa con nhỏ đi ra, tóc của người mẹ thật dài, đứa nhỏ cứ vơ lấy cuốn vào cổ nó. Cũng như có một lực hút ngầm, chân tôi đã quẹo đi theo hai mẹ con. Một luồng lực âm từ chui xộc vào tâm hồn, làm tôi quặn thắt lại. Em Hoa, người vợ tận tụy thủy chung của tôi, đang mòn mỏi ở quê nhà, tại sao tôi còn đu đưa tìm hương sắc lạ?

Tôi đã đi theo hai mẹ con cả một đường phố dài, cho đến khi họ rẽ. Tôi lững thững lần ra nơi có tiếng sóng gọi, mời. Tôi cứ bước những bước đi vô định, trên bãi cát lạ, vắng người. Tai nghe tiếng sóng gầm ghì dạt dào, như những lời oán trách, chửi bới của người mẹ mù lòa, và người vợ thơ dại trằn trọc trong những canh khuya. Người con, người chồng đã ra đi vào giông bão để cứu mình, cứu gia đình và may ra góp được một phần nhỏ bé, cứu quê hương?

Chân tôi đã mỏi dừ, mà lòng vẫn còn vặn vò khắc khoải. Tôi ngồi hẳn xuống một phiến đá lồi, dõi mất về hướng quê nhà. Tôi cứ nhìn mãi về phía xa xôi mờ mịt ấy, như muốn nguồn cơn với biển, với trời, chẳng lẽ con người của tôi lắt lay không có hướng như vậy?

Mới đến KuKu gần 10 ngày, đang chờ tầu cao ủy đến đón, đưa về nơi chính là trại Galang. Những buổi chiều muộn, buổi tối khuya từng cặp của cả hai barrack, ở trên cầu hay ngoài bãi. Không thể phủ nhận được một điều, sau một chuyến hãi hùng đi qua một cửa tử thần. Riêng tư, cá biệt không kể, hầu hết tâm tư của mỗi người đều mở rộng, như một kiếp đời mới để đón nhận, một cảnh đời nhiều mầu xanh phía trước. Nếu không nhìn rõ tâm trạng này, sẽ không thể thấu triệt, nhìn những sự việc khác thường, trong cảnh đời tị nạn nơi xứ người.

Tôi cứ ngồi mãi, để lòng tôi tâm tình, chuyện trò với sóng, với gió, với đất, với trời và với mây. Chẳng phải do những tiếng phành phạch đập cửa, càng không phải do những cái quắc mắt của vợ chồng Phạm Lộc. Những cái đó chỉ càng làm cho tôi chạy nhanh, chạy đường hoàng hơn tìm cái tôi muốn. Cái khác, cái không nhìn thấy nhưng lại có sức mạnh áp đảo là nhân cách, đạo đức của một người. Mấy tiếng đồng hồ, tôi ngồi một mình trong khu biển vắng, đã phân định rõ con đường phía trước, dù cho có nhiều chông gai, lầy lội cũng chẳng thể làm đổi hướng. Tôi chỉ nỗ lực vượt qua, như tôi đã vượt qua những hầm hố, những tử sinh của đời.

Tôi trở về đến barrack đã 11:30 đêm, để rồi sáng hôm sau, 6 giờ tôi đã ra khỏi barrack, lại trở ra vùng sóng gió, tôi cứ dọc theo ven bờ, tôi đi mãi để nhìn những cảnh vật chưa bao giờ thấy. Điều chính yếu, tôi nói với tôi, chưa đủ uy lực để chống đỡ với sóng điện từ, của một đôi mắt trong như nước giếng chùa Láng, giữa Thu.

Mãi chiều tối hôm ấy, tôi mới trở về, được tin sáng mai có tầu Cao ủy từ Galang, đến đón cả hai thuyền. Sáng sớm hôm sau, một chiếc tầu tương đối, ghé bến KuKu đón cả hai thuyền, thuyền buồm chúng tôi 53 người, và thuyền kia 61 người. Đó là ngày 30-01-1983.

Vì tôi thích gió, nên tôi ngồi ngay mũi của chiếc tầu, ngồi nhìn những lớp sóng bạc đầu đuổi nhau, tư tưởng của tôi bay nhẩy như một cánh bướm, trong một vườn hoa nhiều loại, nhiều mầu. Chợt một thoáng về con “tị nạn”, lại lang bang về bến bãi Chu Hải Vũng Tầu. Tầu đi cứ mỗi ngày mỗi to hơn, Natuna tới Kuku, rồi hôm nay từ Kuku đến Pulau Galang.

Nhìn những làn sóng cuồn cuộn đầu trắng như bông lại thấy thơ mộng, chẳng còn thấy hung dữ, bí hiểm như ở Chu Hải. Nhìn một đám mây vàng đang lướt thướt ở trên cao, cái đúng với lúc này, lại sai ở lúc khác. Chỉ mấy tháng trước, tôi thành khẩn làm đơn xin Đảng, và nhà nước mở rộng bàn tay nhân đạo, cho tôi trở lại nhà tù.

Nếu khi ấy Đảng lại chấp nhận lời xin xỏ của tôi, thì làm sao tâm hồn tôi lại la đà bay trên ngọn sóng, hôm nay? Cho nên ngay công lý không những phụ thuộc vào không gian, thời gian, mà còn phụ thuộc theo điều kiện, hoàn cảnh nữa.

Mới khoảng 3 giờ chiều, đã nhìn thấy ngọn cờ Cao Ủy Tị Nạn trắng nõn, dẫy dọn ở một khu có nhiều nhà. Mãi đầu mỏm Galang, lá cờ Indo đỏ trắng, cũng đang vẫy chào, như mời gọi những con người tha phương bất đắc dĩ, vì Tổ Quốc bị thằng con côn đồ, rình đâm lén, đang còn nằm dưỡng thương.

Tầu ghé bến Galang, lần lượt theo thuyền của mình, được dẫn đến một khu nhà gỗ lợp tôn, mỗi nhà dài 3 – 4 chục mét, cũng gọi là barrack. Nhìn trải dài chung quanh, có rất nhiều khu nhà barrack, như một thành phố trù phú dân cư. Thoáng chợt một cái gì gần gũi, nhưng quý trọng thiêng liêng, tôi có nhìn lầm không? Rõ ràng, lá cờ vàng 3 sọc đỗ, đang lắc lư xa xa phía trong, như Tổ Quốc kính yêu nhớ thương, biền biệt của tôi từ hơn 20 năm rồi.

Mặc kệ bà con sắp xếp tìm chỗ nằm, tôi kéo tay cậu Thiện rảo bước, hướng về lá cờ Tổ Quốc, xa chừng hơn nửa cây số. Lắt léo một số đường ngang dọc chắn ngang, tôi vượt hết, cậu Thiện cũng bở hơi tai chạy theo tôi. Tôi và cậu đã đến chân cột cờ. Đó là khu ban đại diện của cộng đồng Việt Galang. Thảo nào khi nãy, có một số ông niềm nở ra đón, và đưa chúng tôi vào barrack.

Nhưng lá cờ Tổ Quốc đã thu hết tâm hồn của tôi rồi! Tôi ngước nhìn lá cờ vàng rực rỡ, tôi khoanh tay cúi đầu như kính chào. Một đứa con lạc lõng bơ vơ, mấy chục năm dài trong hang rấn, tổ sài lang.

Nhìn lá cờ nhún nhẩy như nụ cười đôn hậu của tổ tiên, hồn thiêng của sông núi., tôi có cảm tường như biết bao nhiêu hồn thiêng, của đồng bào và chiến sĩ đang quắn quít, chung quanh lá cờ.

Tôi và Thiện khoanh tay và kính cẩn cúi đầu lần nữa, kính chào tạm biệt ông cha, chúng tôi chạy vội về barrack để lo chỗ ăn, chỗ nằm. Barrack của chúng tôi số 33 thuộc Zone hai . Tối hôm đó chúng tôi đã được biết sơ sơ:

Hiện nay, tổng số đồng bào tị nạn ở trại trên 14,000 người. Những người của chiếc thuyền buồm chúng tôi, đã có địa chỉ để liên lạc thư từ, với thân nhân ở ngoại quốc.

Boat: Đ N 2013 CA, INS 7881 34

Banack 33, Zone II Refugee Camp, Galang I

INDONESIA

Tôi xin thưa cùng quý vị:

Một phần tôi có những chi tiết thời gian, không gian và sự việc, do 1992 vợ tôi (Hoa) sang Mỹ đoàn tụ, đã mang theo những lá thư đầu tiên tôi đến Galang. Tôi gửi về cho mẹ tôi, cho Hoa qua những địa chỉ của chú Thương ở Pháp, bạn bè BK ở Mỹ, và những phái đoàn Caritas đến thăm trại tị nạn.

Hoa cũng đem theo:

– Những cuốn vở trình diện, hàng ngày của tôi.

– Giấy tạm trú nhà bố mẹ, 3 tháng một lần.

– Các giấy tờ tiểu ban QLNNHTĐV, công an Thành, Quận, Phường, khu vực nên có tên thật và chức vụ của họ.

– Giấy chứng nhận, của Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, (nơi tôi làm việc)

– Cả tờ giấy nháp tôi xin Đảng trở lại tù.

– Giấy kiểm điểm vắng nhà, hàng tuần lễ vượt biên, không thành v.v…

Thậm chí có cả một chiếc bí-tất dầy bằng những giẻ chùi trong cầu tiêu, để chống muỗi ở xà lim I Hỏa Lò. Cả một chiếc lược nhôm, tôi tự làm với Lê Sơn ở trại E, phố Lu Lào Cai 1968.

Galang do mưu sinh, nhiều người tạo lập những quán hàng, nên có một đường phố dài, nhà cửa chắp vá hai bên, để rồi có một rạp ciné, có nhà thờ, có chùa, có trường học cho các em nhỏ, và không thể thiếu có một đồn cảnh sát Indo dù ban đại diện cộng đồng đã có một tiểu tổ trật tự, để giải quyết những vụ việc tất nhiên, trong cộng đồng hơn chục vạn người, mà quyền tự do mỗi ngày mỗi tăng ở trong lòng mỗi người, một quần thể đông đúc, người cùng một quê hương , cùng chạy cộng sản trong giai đoạn này.

Riêng với tôi, vì nhiều lý do để tâm trạng của tôi, dần dần vón cục lại, dù 14 ngàn người này, đủ mọi thành phần xã hội. Khi tôi từ miệng con Hồng Tuộc trở về: Bố mẹ, em gái, bạn thân còn không nhận ra tôi, nên hầu như ở đây tôi không có ai là người quen biết.

– Tâm tư còn đặc sệt máu và mủ của quê nhà ngày đêm còn nặng mùi nên chẳng ai muốn gần ai.

– Những lo toan danh và lợi của mọi người làm cho tôi lạc lõng, cô đơn, quạnh hiu.

Tôi xin nói sơ về giá sinh hoạt khi ấy (đầu 1983) ở Galang để qúy vị có một chút khái niệm:

1 đồng Việt Nam = 12 Rupias (tiền Indo)

1 lượng vàng = 400,000 rupias.

Bó rau muống độ 20 ngọn giá 100 rupias; quả bầu 3kg giá 500 rupias; mướp 1 quả giá 200 rupias; bát phở giá 500 rupias; 1 vé ciné 500 rupias; 1 lon bia 600 rupias; ly cà-phê đá 200 rupias.

Tầu của tôi khi đó đến 80 phần trăm có thân nhân ngoại quốc gửi tiên cho bằng money order, money transfer cứ 100 Mỹ kim= 80,000 rupias.

Do hoàn cảnh riêng tôi chẳng để ý đến những thứ ấy. Ngoài những ngày phải đi interview, khai báo với các phái đoàn, sáng sớm dậy tôi đã ra khỏi barrach để đi vào một khu rừng non ở gần đấy tới khi trời tối mới trở về barrack. Khi đó Cao Ủy phát cho mỗi người hai gói mì khô mỗi ngày. Nhiều người, nhiều gia đình họ đem mì đổi gạo v.v.. xoay sở. Nhưng với tôi đã quá đủ rồi, hai gói mì: sáng một, chiều một.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 11 Nov 2023

Đất nước vạn dừa

Đặng Chí Bình

Bài 47

Một buổi, như mọi khi tôi và Thiện ra mãi vùng xa, cách nhà đến một cây số. Một ven biển dài khi thủy triều xuống, lè ra bao nhiêu bãi đất cát. Chăm chú, tôi chợt nhìn thấy như con ruồi trâu, nhúc nhích trên cát và đất. Tôi vẫy tay cho Thiện cùng ngồi xuống, yên lặng. Rõ ràng con ruồi nhồ lên, rồi lại chui xuống cát, tôi từ từ tiến đến, và bà con ơi! Là hai cái mắt của một con cua bể kềnh.

Chúng tôi chỉ cần ngồi im, quan sát, sẽ thấy những cái mắt cứ thò lên nhìn, rồi lại cụp xuống. Tôi chỉ việc lẹ làng bới cát, là một chú cua nằm đấy, căng phồng, vàng óng như lụa Hà Đông. Tôi suy đoán, những con cua này, vừa khôn lại vừa lười, nước triều xuống, việc gì phải chạy theo nước, rồi lại phải trở lại theo nước?

(Hình minh họa)

Tại sao, chỉ cần bới cát rồi đằm mình xuống đấy, vừa được nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng mơ màng, chỉ một lúc là nước lại lên như cũ, bấy giờ chỉ cần lách ra kiếm ăn như thường. Như thế, cái tốt, cái lợi chẳng phải lúc nào cũng dành cho cua khôn, cua lười!

Một việc chiều hôm qua, vẫn còn vấn vít hồn tôi cho đến bây giờ. Tôi ngồi ngoài một cái chái hồi phía sau cửa nhà bếp, tay mân mê xoa nắn ngón tay, vì hôm qua một con cua kẹp khá lâu hãy còn sưng tím. Cô Hoài, cô Hằng cùng với một cậu bé chừng 10,11 tuổi mặc quần đùi, ngập ngừng đến trước mặt. Cô Hằng giơ ra hai cái túi con, mầu lá mạ xinh xinh, mặt cô hồng lên như mới tăng thêm máu, giọng rụt rè:

– Chú … mang thử… có vừa không?

Bàng hoàng, tôi lúng túng ra mặt, mãi tôi quýnh quáng chưa xỏ buộc được. Cô Hằng đã ngồi xuống xỏ vào tay tôi. Nhìn đôi bàn tay “ngó cần”, mó máy, ngọ nguậy trước mặt, hồn tôi cứ thập thò định lỉnh ra ngoài.

Chẳng muốn, nhưng hình như, tôi cũng bị bơm máu lên, mặt tôi nóng bừng bừng. Cô đã thấy tay tôi run run, nên cô nhìn thẳng vào mắt tôi như đóng đinh, tay cô bóp nhẹ ngón tay trỏ của tôi. Tôi ngửng nhìn, hãy còn những hạt phấn vàng óng ánh vương vãi phía đuôi con mắt của cô.

Tôi không tìm được một lời nào để nói, nên tôi càng như đang bay trong mây, để rồi cả ba người đã kéo nhau đi, mà tôi vẫn ngồi yên. Tôi chợt, định với theo để cảm ơn, nhưng họ đã vào trong nhà rồi. Trở lại chỗ ngồi, khe khẽ, nhè nhẹ, tôi tụt hai cái túi ra gấp lại.

Hai cái túi như được hấp, được giầm trong làn hơi đặc quánh của búp sen 17, nó còn ngạt ngào, quyện quấn chung quanh. Tôi cứ ngồi bần thần để nghe tiếng đời xua động, và tiếng kẽo kẹt, của võng lòng đu đưa, thì em Hoa lù lù, một tay bế con gái Mai Lynh, một tay dắt mẹ tôi, tiến đến.

Như vỡ toang một giấc mộng ngày, tôi đứng lên, chậm chạp đi vào nhà, để rủ cậu Thiện đi làm nhiệm vụ cho cả thuyền.

(Hình minh họa)

Tôi với cậu Thiện vừa ra đến mom đảo, nghe nhiều tiếng kêu quen thuộc khu… oách, khu… oách. Một đàn hải âu, cánh vàng ửng dưới ánh chiều đại dương, chúng chao đảo, ngang dọc trên cái nền xanh “ái ân” của bầu trời. Cảm thấy khác thường với mọi khi, tôi ngửng lên cố tìm người bạn quen thuộc ngày ấy, nhưng đành chịu, con nào cũng như con nào. Một thoáng vấn vương trong lòng: Đã hơn một tháng rồi, chẳng biết con chim “tị nạn” bây giờ ở đâu? Nó có bạn mới chưa? Cuộc sống đã ổn định và gặp may mắn không? Tôi cứ đi trong huyễn tưởng, bất chợt giọng cậu Thiện đã giật tôi trở về:

– Anh Bình! Con chim của anh kìa?

Tay cậu đang chỉ về phía sát mí nước, sáu con hải âu, đang đứng như xếp hàng nhìn về phía chúng tôi, rõ ràng có con “tị nạn” thật! Làm sao tôi quên được vệt cháy xạm đen, trên cánh của nó.

Tôi đã bỏ cậu Thiện, để tiến đến đàn chim. Chúng nó như không biết sợ người, tôi ngồi hẳn xuống, năm con hơi giãn ra, nhưng con “tị nạn” vẫn đứng yên ngắc ngư cái mỏ, nhìn tôi. Không kìm được lòng, tôi ôm lấy con chim, nó mập và lông óng hẳn ra, đôi mắt mầu vàng bây giờ như có viền một chút mầu xanh tương lai.

Hai tay tôi ôm, ủ con “tị nạn” vào lòng, tôi đưa hẳn nó lên gần mắt, để nhìn cho rõ cái mặt và cái mắt đầy thoải mái, nhàn du, nhởn nhơ của nó. Tôi lại muốn hỏi nó:

– Mày là con trai hay con gái!

– Mày đã có bồ chưa?

Cũng như lần đầu gặp nó, tôi đành chịu và tự suy đoán. Điều chắc chắn tôi nhận thấy, là bây giờ nó đẹp và tươi hơn khi cứu nó trên ngọn cây cột buồm, trong một trận giận khùng của biển khơi. Tôi tự hiểu mỗi người, kể cả chim đều phải có trách nhiệm với cuộc sống của mình. Tôi phải đi với cậu Thiện để lo cho thuyền, và hẳn con tị nạn cũng phải giải quyết thích ứng với bạn bè của nó. Tôi mừng vui vì con chim có cuộc sống như ngày nay, có một phần nhỏ, góp công sức của mình.

Tôi đã đưa con chim lại chỗ đàn chim, để xuống bãi cát, tôi trở lại kéo tay Thiện xuống một cái hẻm, có nhiều hang cua. Trên trời vẫn những tiếng khu… oách…, khu… oách… níu chặt vào gió mặn, của đại dương.

Thật là hưng phấn cho cả con thuyền, tin của chúa đảo cho hay: “Cao Ủy tị nạn sẵn sàng đón nhận đồng bào đến Kuku, nhưng Cao Ủy không có phương tiện đón. Do đó trong thuyền tự đóng góp sao có 160. 000 Rupias, tương đương với 200 dollars giai đoạn ấy”.

Do tinh thần đùm bọc truyền thống của dân tộc, người có hoàn cảnh, người không. Người nhiều, người ít đều đóng góp, đã đủ số ngân khoản, mà chúa đảo yêu cầu.

Trong những ngày chờ đợi thuê tầu, cậu Sinh, một cậu chừng 24- 25 tuổi ở ngay vùng Chu Hải. Cậu cũng từng vật lộn nhiều với núi đồi, biển cả của Vũng Tầu, hôm nay cậu trổ tài leo lên một cây dừa cao ngất, hái về hàng mấy chùm dừa tươi. Tôi chợt nhớ đến anh Nguyễn Văn . . đã nằm lại đảo vì trèo dừa. Tôi đi theo sát cậu Sinh, để lượng định những điều có thể.

Cũng thật là thiên phú, đôi chân của cậu như một con vượn, thoăn thoắt leo tít lên mãi trên mây, cả tầu không ai làm được, mà ngay người Indo cũng lắc đầu, mở to mắt mà nhìn. Thành ra gần ngày đi, thức ăn đã có dừa kho, dừa ăn vã. Cái điều tôi băn khoăn là, tại sao từ hàng tháng trước, thức ăn chỉ có muối, Sinh không đi hái dừa cho bà con? Một hôm, tôi lựa lời hỏi thẳng, thì Sinh đã cười như ngỗng đòi ăn:

– Cua biển ăn mới ngon, dừa chỉ chống đói! Vả lại khi ấy, em hay bị đau bụng!

8: 00 giờ sáng mai, 21-01-1983 tất cả thuyền sẽ ra tầu về đảo Kuku, một điểm đón nhận người tị nạn của những năm đó. Mới 6 giờ tôi đã dậy, ra ngoài làm vài động tác hít thở, tôi vẫn duy trì từ ngày còn ở trong tù. Nhìn những miếng giấy vụn, manh chiếu rách, miếng giẻ đã hết thời, vất, ném đây đó. Tôi vào gặp bác Bang, anh Nghĩa và cả Phạm Lộc, tôi đề nghị:

– Để thể hiện lòng tự trọng dân tộc, chúng ta hãy hô hào bà con mỗi người một tay hãy dọn sạch sẽ khu vực chúng ta đã ăn ở hơn một tháng nay. Nếu không làm được sạch, đẹp, gọn ghẽ hơn, thì phải làm như khi chúng ta mới đến căn nhà này.

Bác Bang và tất cả đều đồng ý, bác hô hào bà con, và chính bác cũng đi nhặt từng cọng rác. Chỉ một giờ sau, căn nhà sàn rộng nhớp nhúa, bừa bộn đã sạch sẽ gọn gàng. Dù người khó tính nhất, cũng phải nở nụ cười.

Mọi người đã ôm đồm, bế bồng con cái ra xếp hàng dài phía trước cửa. Anh Nghĩa, chị Châu và Phạm Lộc dẫn đầu ra, về phía cầu tầu Trong lúc tôi đang lúi húi vơ vài chiếc quần áo cũ và mấy thứ lặt vặt, cho vào chiếc tay nải đã rách, thủng vài lỗ, cô Hằng lẹ đặt một cái túi xách bằng nhựa mầu xương rồng, trước mặt tôi. Mắt cô nhìn tôi như muốn “photocopy”, miệng ngập ngừng, khe khẽ:

– Chú… dùng đi!

Nói rồi, cô vội vàng lách vào trong góc nhà, tôi cũng chẳng cảm ơn được, như khi cô đưa hai chiếc túi tay. Không nói được lời nào nên đã gói lại, dồn sâu vào mãi trong cùng, chỗ trân quý nhất của tôi.

Chiếc tầu nhỏ mầu cánh cam đang nhấp nhô, thở khò khè ngoài bến bãi. Từ xa, tôi đã nhìn thấy ông chủ đảo và mấy người lính bên cạnh chiếc tầu. Phải nói là canot thì đúng hơn, nó chỉ nhỉnh hơn chiếc thuyền buồm của chúng tôi một ít.

Một đám người dân Indo quanh vùng, cả mấy đứa nhỏ, cũng ra tiễn hay tò mò, nhìn đám người bất hạnh, đã đánh mất quê hương? Ông chủ đảo đã vồn vã bắt tay từng người, cả những đứa nhỏ tí còn bế trên tay. Chúng tôi xin cảm tạ những người dân Indo anh em, các người đã dậy cho chúng tôi thế nào là tình nhân loại. Con tầu đã rời bến, nhìn về hòn đảo Natuna hiền hòa, như một dấu ấn khắc ghi, vào tâm hồn một đời, cho những ai lỡ đường ghé đến.

Hàng chục con hải âu trắng toát, vùng vẫy trong gió lộng, với những tiếng khu … oách , khu … oách , khu… oách, quyện vào tiếng sóng gào. Tôi cố dõi mắt nhìn từng con như muốn tìm, như băn khoăn thấp thỏm, vương vấn hồn vào đám mây trời trên cao. Mọi người đã xuống hết dưới khoang tầu, tôi vẫn còn ngồi phía sau chòi hoa tiêu, rõi nhìn hòn đảo Natuna mờ dần.

Tầu rời bến chừng mươi phút, rõ ràng, lẫn vào lớp sóng bạc đầu có hai chấm vàng sậm, rõ dần là hai con Hải Âu. Tôi đến ngỡ ngàng, mỗi con sà đến đậu vào một bên vai của tôi, cánh nó khỏa đập cả vào tai, vào đầu tôi. Ối giời ơi! Con “tị nạn” chiếc cánh bị cháy xém đã mờ, nó vừa thở vừa nhìn tôi, cái mỏ cứ cắp vào tai tôi như trách…  Sao đi mà không cho nó biết! Hay như xin lỗi… nó đến chậm? Tôi tự suy đoán. Còn con kia, đôi mắt hiền như bồ câu, hay sáo đá, có vẻ e ấp như một cô gái, lông má đã nhú dài.

Như vậy, đã cho tôi hiểu con chim “tị nạn” là một anh chàng. Vậy cái con ở lại Chu Hải Việt Nam là bồ hay là vợ? Tại sao không cùng đi oversea với chồng? Do con “tị nạn” đẩy lại, phải về nhà với con, hay cô ả “nhát” ở lại, hoặc lưỡng lự hai lòng?

Con “tị nạn” cắn mạnh vào tai tôi, rồi bay lên cùng với con kia. Hai con lượn một vòng quanh chiếc tầu, rồi sải cánh chui vào mây trời với những tiếng khu… oách, khu… oách rớt lại.

Thoáng một bóng người, trong phòng hoa tiêu lách ra, cao lớn mầu da bánh mật, chừng 4 chục. Y nói líu ríu cái gì nghe như: Khoét … loét … choét… Tôi chẳng hiểu gì cả. Chắc ông ta đã thấy nét mặt của tôi …. nên ông ta cũng là con cóc cố kêu được mấy tiếng: I . . .am . . . verry . . . surprised! Với đôi mất mở to nhiều lòng trắng. Tôi giơ tay “shake hand” rồi lí nhí kêu: Thank . . . You! Tôi mỉm cười với ông ta. Vội vàng tôi cũng mò xuống dưới khoang.

Chừng 4 giờ sau, tầu ghé bến Kuku. Nhìn ngay bến tầu, vóc dáng nhà cửa, tôi đã hiểu Kuku là một hòn đảo lớn hơn nhiều lần Natuna, thậm chí còn thấy xe đạp, mô tô chạy qua lại. Một số người lố nhố ở cửa bến tầu, lẫn mũ Kê-pi mầu đen trắng, với mũ mầu chiến trường.

Chúng tôi phải đi lên đảo hàng một, để họ điểm người.

Cũng chị Châu, anh Nghĩa và Phạm Lộc dẫn đầu để giao tế. Đoàn người rẽ phía phải vào một căn nhà, mọi người lần lượt đến một bàn giấy có 3 người Indo để khai tên tuổi.

Tôi nhìn hai bên cửa, có hai tấm bảng to phủ lưới thép, trong bảng có nhiều loại giấy tờ:

– Giấy chứng minh nhân dân.

– Giấy khai sinh.

– Giấy bệnh viện chợ Rẫy.

– Giấy thông hành.

– Giấy có những tấm hình v.v. . .

Trên bảng có ghi chữ to, bằng phấn trắng:

“Nếu ai biết những người có giấy tờ này, hãy báo tin cho gia đình, họ đã chết ở biển Indo”

Tôi đọc thoáng có những cô gái 20 tuổi ở đường Cô Giang Sài Gòn, một ông 40 tuổi ở Bến Tre, một bà 35 tuổi ở đường Lê Văn Duyệt Cầu Bông. Nhìn đọc những giấy tờ, lòng tôi trĩu nặng đầy vơi về kiếp người, về nỗi ai oán thương đau của dân tộc. Gia đình thân nhân có biết rằng những người này, chạy trốn cái vòi hút máu của con Hồng Tuộc, đi tìm tự do, nhưng đã không may chìm vào lòng biển cả, trong những trận bão hay cướp biển hãi hùng?

Đàn ông con trai vào một buồng, đàn bà con gái vào một buồng, được lệnh phải cởi hết quần áo, xếp hàng lần lượt đi qua một bàn giấy.

Phía đàn ông chúng tôi, có người ngượng ngùng chưa cởi những quần si- líp. Nhưng rồi mọi người đều phải cởi hết, có một tên Indo mặc áo blouse trắng, bắt chổng mông, nắn chim khám xét Tôi không biết phía bên phụ nữ đàn ông hay đàn bà khám?

Thôi thì những người mất quê hương, phải gánh chịu những niềm tủi nhục này, mỗi người mặc lại áo quần. Sau đấy tất cả được dồn vào một buồng rộng, lần lượt đến một bàn giấy rộng, có mấy người mũi lõ, mắt xanh để khai báo lý lịch, thân thế với đại diện Cao Ủy Tị Nạn.

Tôi nhớ đến lượt tôi, khi họ hỏi anh bị đi cải tạo mấy năm? Tôi nói bị tù 18 năm, cái ông Cao Ủy quắc mắt hỏi lại:

– Tại sao lại là “eight”?

Theo họ, người tù nhiều nhất khi đó cũng chỉ 7 năm, từ 1975-1982, tại sao tôi lại 8? Tôi đã trả lời:

– Không phải eight mà là eighteen!

Cả ba, bốn người đều mở to mắt, kể cả chị Châu ngồi đấy thông dịch cũng ngạc nhiên, để rồi tôi thành cái tên “ông tù 18 năm” độc nhất thời gian ấy, ở Indo.

Xong hết, chúng tôi được dẫn đến một khu có hàng rào thép gai, cách đấy 300 mét, trong này có hai căn nhà gỗ lợp tôn to, họ gọi là barrack. Trong barrack có những sàn gỗ, một vài vết tích, tôi đã hiểu trước đây có những đợt người vượt biên ở rồi. Đặc biệt bên cạnh có một nhà thờ con nho nhỏ, bụi bám đã lâu ngày.

Tôi và cậu Thiện đã kiếm được cái chổi cùn, quét dọn sơ sơ, cậu cũng theo đạo Thiên Chúa, nên chúng tôi đã quỳ gối cảm tạ Chúa, chúng tôi đã đến nơi này an toàn. Không ngờ, cũng có nhiều người khác trong tầu, vào quỳ dưới cây thánh giá, cả gia đình bác Bang, cậu Sinh, một số ông già, bà cả. Tôi rủ cậu Thiện ra ngoài lang thang đến một hẻm đồi, có cây thánh giá to, nơi đây có 7 ngôi mộ cỏ dại, lá khô đã phủ dầy. Hai cây thánh giá con thứt thẹo, ghi tên người Việt. Như vậy hẳn đây là những người bất hạnh, nhưng vẫn còn một chút thỏa lòng, được gửi xác trên mảnh đất tự do, ngoài nanh vuốt của con Hồng Tuộc.

Tôi và cậu Thiện đã cúi đầu, như chào, ngậm ngùi cảm thông với các vị nằm trong mộ. Thoáng có bóng người, làm cho tôi đến đờ đẫn bàng hoàng. Cô Hằng và cậu bé, cô thường dắt theo. Nét mặt hiền dịu “con Đức Mẹ” lấp loáng trong làn tóc huyền giẫy giọn, với gió chiều Kuku, đã làm cho nơi vắng lặng khô cằn, đìu hiu này, như nở một nụ cười rạng rỡ hẳn ra. Tôi đã đến bên xoa đầu em nhỏ, nói nhè nhẹ, như hỏi:

– Cô Hằng … cũng là công giáo?

Mặt cô lại tăng máu, cứ au lên, lí nhí:

– . . Cháu ….. không phải!

Ý tôi định cảm ơn cô, đã cho tôi túi xách và đôi túi tay, nhưng lại nói ra ý khác:

– Cảm ơn…Hằng … .đã đến thăm viếng… những người bất hạnh!

Môi cô như mím lại, dẹp ra, mắt hơi cau lại nhìn tôi, như muốn “ăn”, làm cho hai tay tôi như quờ quạng giơ lên, đẩy ra. Tôi đã kéo tay cậu Thiện lủi vội ra về. Cô Hằng và cậu nhỏ cũng theo ra. Có lẽ cô chẳng yên lòng đứng lại nơi cô tịch, với những người đã nằm yên?

Ngay chiều tối hôm ấy, dưới ánh trăng 18 của Kuku, tôi kéo vợ chồng Phạm Lộc ra chiếc cầu gỗ phía sau barrack. Ngồi nhìn chị Hằng Nga nhấp nháy, trong nước triều dâng mấp mé, tôi đã trang trọng nói với, cả hai vợ chồng Lộc:

– Dưới mặt trăng và trên chị Hằng (một chị Hằng dưới nước), tôi xin cúi đầu biết ơn Lộc + Liên, lời của một người tự trọng hàm ơn. Khi đến nước thứ ba, tôi sẽ nỗ lực với trí óc và đôi bàn tay, bằng mọi cách tôi sẽ thanh toán 3 cây vàng ân tình, ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống.

Cả hai vợ chồng đều cười rộ:

– Chúng em đã đòi đâu? Còn 6, 7 người nữa ở trong thuyền, nhưng anh là người nói đầu tiên, chúng em vui lòng rồi?

Khoảng 5 ngày sau, một đêm tôi đang mê mệt trong giấc ngủ nhiều mầu xanh dương, tôi giật mình thức giấc. Tiếng gào, tiếng rú của gió Kuku, xa xa nghe tiếng biển, sôi lên ùng ục. Gió réo vào mái, vào vách, mưa như đổ nước, căn barrack rung lên như động đất. Chiếc thuyền 61 người tối hôm qua ghé đến Kuku, đang ở barrack bên cạnh. Mấy ông bà chạy túa ra cửa nhìn nhớn nhác.

Barrack bên này cũng nhốn nháo dậy cả, dưới ngọn đèn 100 watts của cả khu, hai bên nhìn nhau bằng những đôi mắt chẳng có lòng đen. Chẳng ai nói một lời, nhưng hẳn tự thầm suýt soa nổi da gà: “Nếu thuyền mình còn ở ngoài khơi, chắc chẳng còn nhìn nhau bằng những đôi mắt thất thần?”. Gió hung hãn xoáy rồn rột như cây đổ, đá rơi.

Sáng sớm hôm sau, tin tức còn tối đất, do phòng kiểm thính Kuku, có một chiếc tầu chở 106 người đã chìm xuống đáy biển bên phải đảo Binkulu, cách Kuku 16 hải lý.

Xin cảm ơn những tâm hồn “đứng thẳng” của các vị Cao Ủy ở Indo. Mới tờ mờ sáng, một chiếc tầu của Cao Ủy với dáng dấp của mấy vị đã xét hỏi tôi mấy ngày trước, họ đã rẽ sóng tiến về Binkulu, may ra còn cứu vớt được người nào. Cả hai con thuyền 53 người và 61 người đều ra mé biển, ngóng về hướng con tầu đắm, cầu xin trời Phật hãy cứu giúp những kẻ khốn cùng.

Mãi gần buổi chiều, con tầu Cao Ủy mới trở lại, tôi làm sao quên được cái hình ảnh một đời. Cái ông Cao Ủy bụng to, bước lên bờ đầu tiên, tên ông là Bob người Canada, người đã đếm đốt ngón tay cười với tôi, khi biết tôi tù 18 năm: “Như thế cả tuổi trẻ của anh trong nhà tù? “.

Ông Bob hai tay cầm hai cái que gỗ dài, mỗi que xọc đeo hơn chục chiếc dép, guốc xanh đỏ, cả dép Thái Lan. Theo ông, tầu Cao Ủy đã cố công tìm kiếm phía sau đảo san hô Binkulu. Chỉ có hơn một chục xác chết đàn ông, đàn bà, con gái trẻ con dạt vào bãi, vài chục chiếc dép guốc rải rác đó đây, còn tất cả, cả con tầu đều biến mất, chỉ còn nước với trời.

Điều đặc biệt, tầu đã kiếm được một người duy nhất còn sống, anh ta nằm rúc đầu vào một tảng san hô. Khi lôi ra thì tim anh còn đập, nhưng không hề biết một điều gì, trong giấy tờ tên là Lý Minh, người Việt, gốc Tầu 34 tuổi. Cao Ủy đã đưa trước về phía bên kia Kuku, có bệnh xá.

Do tính sục sạo tò mò, ba ngày sau, tôi đã rủ cậu Thiện đi bộ hơn ba cây số, đến tận bệnh xá, để nhìn cái người duy nhất còn lại, của một chuyến tầu định mệnh 106 người. Sau một lúc tìm tòi thăm hỏi, chúng tôi đã đến chỗ giường nằm của cậu Lý Minh, mặt và mắt của cậu trắng bệch như không còn máu. Có thể quá hãi hùng nổi chìm trong nước, trong những cơn sóng thần sầu, để rồi thần biển đã nhét đầu cậu vào một tảng san hô.

Cả 106 người, chỉ còn một mình cậu sống sót, nhưng hồn vía cũng chẳng còn. Không biết bố mẹ cậu, vợ con cậu, anh chị em của cậu, có cùng đi chuyến tầu xóa sổ này không? Có chăng chỉ xin hỏi ông trời, nỗi uất nghẹn thương đau này vì đâu?

Tôi vừa về tới barrack thì cậu bé đã đến bên, ghé tai:

– Chú ơi! Chị Hằng mời chú, ra phố uống nước!

Ngạc nhiên, đắn đo, nhưng những chuyện khác thường vẫn có sức lôi cuốn lòng tôi, nghĩ thế tôi đã gật đầu với cậu bé. Cậu bé về một lúc, Hằng và cậu bé đi ra phố, tôi để cho Hằng đi một quãng, tôi đi theo.

Cô Hằng như có mắt phía sau, cô đi vòng đến gần một đồn cảnh sát, nơi có một số nhà, mấy cửa hiệu tạp hóa. Đặc biệt chỉ có một tiệm bán đồ giải khát, thấy cô và cậu bé ngồi mãi một cái bàn phía trong, tôi cứ tiến vào. Trước mặt cô và cậu bé, mỗi người có một lon Coca với cái ly, một lon và một ly để đối diện, cô đã giơ tay mời tôi ngồi.

Thực sự, tôi cũng chưa bao giờ nhìn thấy Coca, chứ đừng nói là thưởng thức, tôi cũng nói thực, tôi chưa hề uống cái loại này. Cô vừa mở, vừa rót vào ly cho tôi và cũng chân thành:

– Hằng… cũng mới uống một lần ở …. Sài Gòn!

Hôm nay Hằng lại xưng tên, tôi cũng ngập ngừng nhìn vào đôi mắt nhiều điện từ, hỏi thẳng:

– Làm sao … tôi được ngồi đây … hôm nay?

Hằng nhìn ra một khung trời, ngoài cửa sổ:

– Để mừng … chúng ta còn sống … và cảm tạ đất trời!

Tôi vẫn không rời đôi mắt, nhiều điện thế:

– Rồi sẽ đi … .một con đường thật dài!

Hằng đã biết ý lấp lửng, nên cằm cô hơi ưỡn ra một cái, một tí lười đỏ lè ra giữa cặp môi mím, giống hệt một nụ đào đầu xuân bất đầu hé. Tôi quờ quạng, vớ vào ly Coca đưa lên miệng, như muốn đè bớt nguồn rạo rực bốc lên hừng hực. Giữa lúc ấy, vợ chồng Phạm Lộc từ ngoài cửa bước vào. Đôi mắt của Lộc +Liên quắc lên như xì khói, nhìn Hằng và tôi, rồi quay ngoắt ra.

Cậu bé, tôi đã biết tên là Thành, gọi với theo: “Cô Liên ơi!”

Nhưng hai người như không nghe thấy, đi khuất vào đám đông.

Tôi đang dự định uống hết ly nước, rồi kiếu từ, nhưng thái độ của Lộc + Liên, tôi lại ngồi lại nữa. Nụ đào hơi nhếch lên như cười nhưng rèm mi hơi khép lại, nét mặt rắn cương ra. Hằng quay lại tôi, rành rọt:

– Chú … có thích thiên nhiên?

Câu này đáng lẽ tôi hỏi Hằng, nhưng tôi lại nói một câu không đâu:

– Trăng nước Kuku vừa dữ lại vừa hiền!

Hằng nhìn như muốn vẽ, vào miệng tôi:

– Chú có thể … .nói rõ với Hằng?

Cô này có trình độ, nên tôi cứ thực lòng:

– Tôi ngắm mãi nàng trăng tối hôm qua, nét mặt chất phác hiền hòa, nhưng tôi có một cảm giác không lành. Dù bộ mặt như “ma soeur” nhưng cứ nghĩ chuyến tầu 106 người, tôi lại thấy nàng trăng Kuku nhiều bí hiểm.

Đã hơn một giờ chuyện trò ngoài quán nước, tôi xin từ giã, vì có hẹn với cậu Thiện. Được biết cô Thu Hằng ở phía bên Tân Thuận, vì trục trặc hơn hai năm, nên bây giờ cô vẫn còn đang học lớp 11. Tôi cũng hơi ngạc nhiên về thái độ của vợ chồng Lộc+ Liên; định hôm nào thuận tiện, tôi sẽ hỏi thẳng.

Giống như tối hôm qua, lại một mình tôi mò ra phía cầu gỗ phía sau barrack, để nhìn nàng trăng lạ Kuku. Để nghe nước biển chuyện trò với gió lộng và để nhìn về phía quê hương, và có lúc lắng đọng để nghe lòng mình nhún nhẩy, đong đưa với cảnh đời mới.

Quê nhà đã vào tháng củ mật nên đêm thật dài, mới hơn 6 giờ chiều chim muông đã sải cánh về tổ ấm, gà qué đã ậm oẹ lên chuồng

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 11 Nov 2023

Ra khơi đến bờ

Đặng Chí Bình

Bài 46

Đã mấy ngày rồi, con chim và tôi đều như muốn tìm một chút hơi ấm của nhau, trong chiếc áo nhựa. Nó cứ rúc mãi vào sát bụng tôi, hồn tôi đang liu riu lững lờ vào giấc mộng bập bềnh, của con thuyền. Bỗng có tiếng xôn xao:

– Có ánh đèn!

Như một tiếng “phèng” trong đêm đen choảng vào con thuyền! Tôi và nhiều người nhớn nhác bò nhổm dậy, tôi nhào tới cửa, rúc lên sàn thuyền. Giữa cái thẫm đen mịt mù của trời và nước, rõ ràng có một vũng rạng ra, trắng như chiếc ngà voi, tưởng rằng có một ánh sao trong làn mây. Nhưng rồi như có một mảng mây dầy, chậm chạp che dần, rồi trở thành một mầu đen thẫm, như chung quanh.

Người ta kéo xuống hầm thuyền dần, tôi còn ngồi lại cố mong chờ trong chỗ mù mịt tối đen ấy, sẽ có một nguồn sáng để mang niềm hy vọng cho con thuyền. Phần vì mấy ngày nay giấc ngủ chông chênh, cứ khi nào mệt quá thì thiếp đi một lúc. Phầnkhác, có thể sức mòn vì thiếu ăn, vẫn chỗ ngồi dựa một góc khuất sau buồng hoa tiêu, tôi đã đi vào miền mất cảm giác lúc nào không hay.

Mãi tới khi như có người sờ vào cổ tôi gãi gãi, mở mắt đã thấy nước trời đổi thành mầu lá nhãn. Tôi đã nhìn thấy mầu trắng của những làn sóng bạc đầu. Con chim tị nạn đã chui ra khỏi bụng tôi từ bao giờ, nó đứng sát ngay mặt tôi, một chân trên vai, một trên ngực. Cái đầu nó cứ dụi vào cổ tôi, như muốn đánh thức tôi dậy, phía chân trời đã rạng hồng, rồi đỏ lên. Tôi đã ôm con chim vào lòng như một lời cảm ơn, gọi tôi dậy để tận hưởng ánh bình minh của đất trời. Nhưng rõ ràng, lẫn vào tiếng rì rào của sóng, có mấy tiếng kêu:

U oách… u… . .oách… khu… . .oách… khách … khách… Rồi bỗng nhiên, chính con tị nạn ở ngực, vai tôi cũng rối rít kêu khu… oách… khu … oách… Từ ngày tôi cứu nó, chưa bao giờ tôi thấy nó kêu. Nó làm cho tôi quên cả mệt, cả đói, tôi ngồi hẳn dậy. Một nửa cái nia đỏ như nhuộm máu bò, đã thò lên khỏi mặt nước, từ mặt biển phía Đông, làm đỏ hồng cả cánh buồm và con chim. Một đàn bảy con hải âu trắng toát đang bay lượn quanh con thuyền, miệng kêu: Khu … oách… khu . . . .oách… . Con tị nạn, mắt chớp lia lịa, lại giụi đầu vào cổ tôi, thái độ hưng phấn khác thường. Nó giang hẳn hai cánh ra vẫy vẫy, như đáp lại đàn hải âu đang bay lượn, nó ngửng hẳn cổ lên trời miệng lại kêu: Khu oách… . khu… . oách… .Tôi đờ hẳn người ra, chưa kịp phản ứng, con chim lại nhẩy lên vai tôi, rồi lại giụi đầu vào cổ tôi như khi nãy. Tôi chợt hiểu, nên tôi khẽ vuốt đầu nó, và tôi gật gật.

Nó sải cánh một cái rồi bay vụt lên theo đàn hải âu bay đi mất hút chỉ còn vẳng lại những tiếng khu… oách. . . ..khu … .oách… nhỏ dần. Tôi bần thần cả người, con chim đã bay đi rồi ư? Tôi ngồi xuống mạn thuyền, lắng đọng đăm chiêu: Như thế vừa rồi, tôi đã lầm, tôi tưởng con chim giụi đầu gọi tôi dậy, để ngắm ánh bình minh của đại dương? Nó gọi tôi dậy, chào tôi để ra đi với đồng loại, dù sao nó cũng có nghĩa, có tình, tôi bằng lòng. Một cánh tay đặt lên vai tôi, anh Nghĩa, giọng đứt quãng của anh quẩn vào gió mặn:

– Anh đã giúp nó toại nguyện! Tìm được khung trời tự do!

Nghĩa đã biết tôi ngồi suốt đêm qua, phía sau buồng lái, một ý thoáng đến, tôi vồ vào vai anh Nghĩa: “Gần đây phải có đảo hay đất liền! ” Nghĩa đã nắm chặt tay tôi, nói như gà gại ổ đẻ:

– Thấy đàn chim, từ sớm chúng tôi đã nghĩ như anh!

Như vậy họ đã biết trước tôi rồi! Cũng có nghĩa ánh đèn sáng mơ hồ đêm qua, không phải trong hồ mơ? Anh Nghĩa kéo tôi vào buồng lái, tôi gặp lại bác Bang, tôi mới hiểu bác và Nghĩa có họ hàng. Nghĩa lôi ở một cái hộc ra gói bánh ngọt, chính bác Bang cũng đang băn khoăn, theo bác phải hai ba ngày nữa mới tới Indo hoặc Mã Lai, nhưng khi thấy đàn chim thì đảo hay đất liền phải gần đây, dù sao cũng mang nhiều hy vọng.

Nhìn nét mặt cương nghị, từng trải của bác Bang, tôi rất mến mộ, bác cũng tỏ thiện cảm, bảo Nghĩa cầm lái. Bác kéo cái “phích” có cà phê nóng, bác rót một ly con đưa cho tôi, với thái độ “gió sương” không mời. Từ lúc Nghĩa chưa lôi gói bánh ngọt ra, cái mùi mê người của nó, đã luồn ra chọc tứ tung vào mũi tôi rồi, nên khi bác đẩy bọc bánh đến vẻ “khinh tài” thì sao tôi từ chối?

Bác thăm hỏi một số nét về tôi, tôi cũng sơ lược, đi tù về là phải từ giã quê hương ra đi v.v. . . Xuống hầm về chỗ nằm, nhìn thấy cái cóng con đựng gạo, không biết con tị nạn bây giờ đã đi đâu? Hẳn nó đã có một cảnh đời mới! Như cụ Nguyễn Công Trứ đã kết luận: Rút cuộc lại… … … mỗi người, riêng mỗi kiếp!

Gần trưa lại có tiếng ồn ào phía cuối thuyền, giọng một bà lanh lảnh:

– Có chiếc tầu to lắm!

Một số người xô nhau trèo lên sàn, tôi hơi mệt, nhưng cũng là những người đầu tiên mò lên sàn thuyền, chỉ chừng 8- 10 cây số, một chiếc tầu trắng toát, trông như một toa xe lửa, hay chiếc xe “buýt” dài ở gần. Không thể nhìn thấy cờ nên không biết là tầu nước nào. Bà con vui mừng hô hoán, có người nhẩy lên gào, vời, nhưng con tầu hình như bé dần lại.

Mấy người nhanh trí đã lấy giấy báo và giẻ cũ đốt lên, con tầu cứ mỗi lúc bé lại và mờ đi, để rồi lẫn vào những lớp sóng bạc đầu mất tiêu. Con tầu hình như không hề trông thấy con thuyền buồm đơn độc, như một chiếc lá tre khô trên dòng Cửu Long cuồn cuộn chảy. Hay lương tâm nhân loại, đã chuyển thành lá cây, của mùa Đông?

Con thuyền như gần lửa, sôi lên, nhưng một trận mưa rào đã làm ngọn lửa tắt rụi. Hôm nay đã là ngày thứ sáu, của con thuyền buồm, nhiều người đã tỏ ra mệt nhoài, ăn uống ngủ nghê thất thường, cộng với tinh thần căng thẳng lắng lo với công an cộng sản, cướp biển, bão tố v.v… Chưa nói nếu ai lại bị say sóng như tôi thì chỉ có nằm bệt. Còn hàng chục thứ khác giằng co, vò xé trong đầu của một người bỏ nước ra đi.

Mảnh mặt trời chiều đang chui dần xuống mặt nước, mầu gạch cua của da trời chuyển thành mầu lá mồng tơi già, phía Tây Nam lại rạng ra mầu nghệ non. Rõ ràng, không thể chệch vào đâu được nữa, tôi đã xô vào buồng lái gào, gọi bác Bang và anh Nghĩa:

– Bác và anh Nghĩa hãy coi kia!

Tay tôi chỉ về hướng có mấy ngọn đèn lẫn vào lớp sóng trắng đầu, lúc nhô lên, lúc lại mất đi. Bác Bang đã chuyển mũi hơi chếch về phía Tây Nam và những điểm sáng mỗi lúc càng sáng tỏ. Bà con chỉ có vài người mò lên, sợ cũng như những lần trước, thậm chí tôi đã trông thấy những bóng cây và cây tháp có bóng đèn, có lẽ là ngọn hải đăng của những vùng ven biển.

Lúc này thì bà con xô lên như vỡ đê; có lẽ ai cũng muốn chính mắt mình, phải nhìn thấy một lần cái bóng dáng tương lai có giống, ở trong đầu? Tôi vào gặp bác Bang, anh Nghĩa để biết ý kiến, không ngờ lại gặp cả Phạm Lộc, vì không một ai biết rõ đây là đâu?

– Thuyền của mình chưa, phải ở tình trạng cấp cứu.

Do đấy họ đều quyết định hãy bỏ neo ở bên ngoài đêm nay, sáng mai, nhìn rõ hãy cho thuyền tiến dần vào, rồi tùy theo để quyết định. Tôi thấy họ giải quyết như thế là có thận trọng và hợp lý. Tôi cũng thấy mệt quá rồi, bà con kéo lên đầy trên sàn chuyện trò bàn tán rôm rả, tôi lại mò xuống tìm một chỗ yên vắng nằm nghỉ một đêm cho lại sức. Tôi gặp cậu Thiện, lại có chăn ấm, thế là tôi nằm ngay cạnh cậu, vài câu chuyện đổi trao, rồi tôi vào giấc ngủ say, sau khi được một bữa bánh ngọt không mong mà có buổi sáng nay. Tôi ngủ mê man, như chưa được ngủ bao giờ.

Tôi cảm thấy ngực của tôi bị ai đè, thì ra một cái chân nặng chịch, vắt lên cổ và ngực tôi. Trong bóng đêm không nhìn được bàn tay, tôi đẩy cái chân xuống, không biết chân của ai, da thịt mềm như tơ, và mát như lụa Hà Đông, tôi đờ người ra. Sau khi đẩy cái chân ra rồi, nằm im, tôi không dám cựa quậy, tôi cố hé mắt nhìn để phân định là ai? Không thể nhìn được gì, tôi nằm chịu trận, óc phán đoán: “Trong cái chỗ đông đầy người, tâm tư căng thắng sống và chết, chắc là những người nằm gần chung quanh?”.

Do lòng háo hức, nên mới rạng sáng tôi đã bò dậy, định lên sàn, nhìn vào phía đất liền để phán đoán. Qua vị thế, tôi đã nhìn thấy người gác chân lên ngực tôi đêm qua, là một cô gái chừng 17 – 19, vẫn còn nằm mê mệt với mấy người phụ nữ khác.

Trong làn sương mỏng của buổi sớm, tôi đã nhìn thấy cây xanh và một số mái nhà mầu nâu nhạt. Bỗng một đàn hải âu từ hướng trái bay đến, chúng chao đảo, lượn vòng với những tiếng kêu quen thuộc:

Khu oách… . khu … . oách…

Không biết có con tị nạn không? Tôi nhìn lên thấy con nào cũng giống con nào? Liếc vào phòng hoa tiêu, loáng thoáng thấy bóng người, tôi đến ngó vào, 4 – 5 người, ngoài bác Bang và anh Nghĩa, có mấy người lạ. Họ định kéo buồm cho thuyền tiến dần vào, tùy theo, nếu thuận tiện thì làm tê liệt cái máy ngầm phòng hờ của thuyền, để họ thấy con thuyền chỉ chạy bằng buồm. Thực ra cái máy công suất rất nhỏ, chỉ đủ sức đẩy thuyền đi từ từ, chầm chậm, phòng hờ khi thuyền không có gió.

Chúng tôi đã nhìn rõ, đây đó có những căn nhà sàn gỗ lợp tôn, nhìn toàn bộ cảnh vật, mọi người vẫn không thể suy đoán ra nước nào phía cực Nam Châu Á? Nhưng chắc chấn không phải là Việt Nam.

Có một đám người lố nhố nhìn ra con thuyền, mấy đứa nhỏ chạy loăng quăng, thoáng trong đám người đó, có hai người mặc quần áo Ka Ki quân đội. Xôn xao, ồn ào, rối rít tiếng Anh, tiếng Việt và một thứ tiếng lạ, đan chéo vào nhau như mạng nhện. Dần dần hiểu ra, họ yêu cầu cử người xuống nói chuyện với họ, khi ấy tiếng Anh của mọi người như cóc ngồi trong hang, thỉnh thoảng thò cổ ra kêu ộc… ..ệch một tiếng lại rụt cổ vào, chắc chỉ có ông trời mới hiểu.

Rất may, trong thuyền giới thiệu một chị tên Châu, cử nhân Anh văn. Chị Châu chừng 30 – 35 tuổi, đã cùng với ba người đàn ông nữa, họ đỡ nhau lội xuống, nước trên đầu gối để lên bờ. Gần hai giờ sau, phái đoàn đi đàm phán trở về thuyền, chúng tôi được biết:

Đây là một hòn đảo NATUNA thuộc Indonesia, cách những đảo chính từ 50 đến 100 hải lý. Dân INDO ở đây chỉ có khoảng hơn 300 người. Đảo trưởng hay chúa đảo, có chừng hai trung đội binh sĩ giữ an ninh. Hơn một năm trước, cũng có một chiếc thuyền Việt Nam tị nạn vào đây, hơn sáu chục người. Họ phải tự túc lương thực, gần hai tháng sau mới đón được tầu rước đi, họ đói khát khổ cực lắm! Dân ở đảo hầu hết là đánh chài lưới. Chúa đảo không muốn nhận người lạ vào đảo nữa.

Có thể do chị Châu là phụ nữ, lại khéo ăn nói, nên chúa đảo chấp nhận, với điều kiện phải tuyệt đối chấp hành luật lệ của đảo và tự túc lương thực. Một số người trong thuyền có vẻ lưỡng lự, muốn ra đi tiếp về những đảo chính. Với tôi, phải đi từng bước, tạm thời ở đây mới có điều kiện liên lạc với Cao Ủy Tị Nạn. Riêng trường hợp của tôi và có thể ở một số người nữa, trong thuyền: Bất cứ nơi đâu, trên trái đất này, không có vòi con Hồng Tuộc đều là “Đất Hứa” cả.

Sau khi, hầu hết đều đồng ý, hãy lên đảo đã rồi chờ liên lạc với cao ủy. Lên đảo, nên phải đếm người. Trẻ con người lớn cả thuyền 53 người. Họ dẫn đoàn người vào giữa đảo rồi tiến vào một căn nhà sàn tương đối rộng cho 53 người. Một vài hiện tượng và hình vẽ ngược xuôi trên vách, chứng tỏ đã có người Việt ở đây và đã rời đi lâu ngày rồi. Già một nửa căn nhà trên mặt nước, tôi bước qua một cái cửa ngó sơ qua cái bếp, một số bà đang lúi húi đun nấu lại những thức ăn đã 6 – 7 ngày.

Bếp lạnh, tro tàn, lại không có củi, họ phải dùng nhữmg giấy gói đồ, nấu, đun lộn xộn. Ngay cạnh cửa sổ bếp, nhìn ra cái hẻm vịnh, thoáng bóng hai cô gái đang ngồi trên một cái bao tải áo quần.

Qua dáng dấp tôi đã biết cái cô trẻ hơn, có làn tóc dài óng mượt là người, ngủ đã gác chân lên ngực tôi. Tôi cũng muốn nhìn xem mặt cô như thế nào? Tôi còn đang loay hoay không biết làm cách nào để thực hiện lòng tò mò cửa mình một cách tự nhiên. Bỗng một bà có đứa con nhỏ, vẫn chơi với con chim “tị nạn”, và đã cho gạo, quay lại thấy tôi; bà hỏi một cách sôi nổi:

– Con chim của anh đâu rồi?

Câu hỏi bất ngờ, làm tôi ngắc ngư, niềm hưng phấn được đặt chân lên đất liền, còn quấn quít, tôi hỏi lại như đùa vui:

– Bà hỏi để làm gì?

Câu hỏi lại của tôi, một giây im lặng, mọi người đều đỏ mặt, chính ngay cái bà hỏi, hai má cũng au lên mầu mận chín. Hai cô gái đều quay lại, mặt cô trẻ hiền lành, thuỳ mị như con Đức Mẹ Đồng Trinh. Cái liếc 17 hơi cau lại lườm tôi, còn vương vãi mấy sợi tơ vàng trong khóe mắt. Hồn thập thò định bay đi, tôi nói một câu giải tỏa, mà không hiểu hết ý:

– Con chim đã bay theo đàn!

Bỗng xôn xao ngoài phía cửa, tôi chạy ra, hai người lính Indo đang khênh vào một bao tải gạo đặt ở giữa nhà. Chị Châu và nhiều người xô đến: ông chúa đảo có nhã ý tặng tám chục ký gạo. Đây là của gia đình ông!

Như một luồng sinh khí cho người suy nhược, cả thuyền vui như đón ngày mồng một Tết. Cả nhà kéo ra cửa, để tiễn hai người Indo, thay cho lời cảm ơn nồng nhiệt. Người lính gác cửa và giữ an ninh, đôi mắt sáng lên long lanh, như chìm vào nỗi hân hoan của con thuyền buồm.

Bác Bang kéo hai thanh niên vào đống đồ từ dưới thuyền chuyển lên, lôi ra hai cái nồi nhôm lớn. Mọi người quyết định, ngay chiều nay sẽ nấu hai nồi cơm, mỗi nồi 10 kg gạo, ăn để bù lại 6 – 7 ngày đói khát thất thường. Những cá nhân, hay gia đình còn chút đồ ăn nào, đều tự nguyện đóng góp. Người thì ít cá khô, người thì chút tôm kho, hay thịt muối v.v. . .

Một bữa cơm ngay tại sàn nhà, tôi nghĩ rằng khó tìm hay tạo được một bữa cơm, nhiều nghĩa tình, nhiều niềm hưng phấn, như bữa cơm hôm đó, trong tương lai đối với tất cả mọi người trong thuyền. Được biết họ chỉ cung cấp muối ăn, còn gạo, củi, con thuyền buồm tị nạn hãy lo lấy cho mình.

Tuy ngôn ngữ bất đồng, tiếng Anh tiếng U của cả những người lính gác, cũng như trong thuyền như cóc kêu, thỉnh thoảng khọt khẹt một vài tiếng. Chúng tôi cũng hiểu một chút giá sinh hoạt: một lượng vàng 400. 000 Rupias (tiền Indo) 12 đ ở đây ăn 1đ VN, 100 dollars là 80.000 rupias.

Cái mà tôi tò mò, băn khoăn đầu tiên: những cỏ, hoa, cây cối, cảnh vật có khác gì với quê hương của tôi không? Vì thế, ngay từ lúc đi theo hàng, lần lượt vào ngôi nhà sàn, tôi đã sà xuống mé cửa, lấy tay lặt, vuốt mấy ngọn cỏ dại để ngắm nhìn.

Những đám trẻ con, người lớn Indo, kéo đến nhìn chúng tôi. Họ thường có nước da mầu nâu nửa mạc, cũng lếch thếch, lôi thôi như trẻ con Việt Nam thường xử dụng, chân không giầy, dép. Để giải quyết vấn đề quan trọng bậc nhất cho cả con thuyền, mấy thanh niên và đàn ông, lật vài miếng ván phía sát vách của căn nhà sàn, che chắn, tạm một chỗ cho mọi người, nhất là các bà, các cô giải quyết tự do xuống dưới biển.

Cũng đôi lúc tôi không yên lòng, ra vào thỉnh thoảng, lại va chạm vào cái lườm 17 như có điện từ, tôi đã được biết tên cô là Hằng, và người chị là Hoài. Thuộc một gia đình công chức thương gia ngày xưa, quen biết về phía vợ chồng Phạm Lộc+Liên.

Một cái giếng rất to ở giữa một vườn dừa rộng. Dừa Indo thật là nhiều và cao lêu nghêu như những cây phướn ở quê nhà. Nhìn những chùm quả dừa, mầu nâu da bí ngô, mãi tít trên cao lộng gió, như nhìn mây bay ở trên trời. Chiếc giếng cách nhà khoảng 200 mét, hầu hết đàn ông, con trai tắm giặt ban ngày; đêm khuya dành cho đàn bà con gái.

Đến ngày thứ 5 thứ 6 thì hết gạo và thức ăn cũng chẳng còn. Những người có điều kiện gia đình còn cầm cự. Tôi và một số đông các cậu, ruột gan nóng rát vì ngày nào cũng sát muối. Nhìn xuống chỗ đi cầu, dưới làn nước biển trong xanh, những khi thủy triều xuống, lảng vảng có những con cua bể to nhỏ, đến tìm hơi của lạ.

Khó khăn đẻ ra sáng kiến, đó là lẽ sinh tồn của mọi sinh vật. Mấy cậu lần mò, hý hoáy dùng chỉ buộc vào một tép tôm khô, thả xuống. Mấy chú cua tranh nhau tìm của lạ. Các cậu, hò reo kéo con cua lên, nhưng cứ lưng chừng, lại rơi trở lại biển. Thấy thế tôi lấy một cái nón của các bà, thò xuống, một cậu lại kéo con cua lên, tôi lẹ làng hứng lấy trước khi con cua nhả mồi rơi xuống.

Hôm đó, bắt được 5- 6 con, các bà giã nát ra trộn muối rang thành một món ăn, làm mở to mắt, mỗi khi ai được nếm thử.

Tuy đói, tuy thiếu, nhưng nét mặt của mọi người luôn luôn hân hoan, hưng phấn. Điều này đã chứng tỏ hùng hồn: Thà đói, thiếu mà tự do, còn hơn ăn no mà phải làm nô lệ, mất hết mọi quyền tự do.

Sáng hôm nay, tôi và cậu Thiện đi lang thang ra khu vườn dừa. Do tính sục sạo, tò mò thích tìm những cảnh lạ của thiên nhiên, tôi rẽ xuống một cái hũng rậm rạp, toàn dừa non. Thoáng thấy một cây thánh giá đã gẫy cánh trái, bằng một thanh dừa khô, có hàng chữ Nguyễn V . . tôi suy đoán, có thể là Nguyễn Văn . . chẳng có ngày tháng.

Trở về hỏi những người lính gác an ninh, tôi được biết sơ sơ. Chuyến tầu trước, có một ông Việt Nam, đến đây gần một tháng bị té dừa chết, họ đã chôn ở dưới một cái hũng. Tôi hiểu cũng như hiện nay tâm trạng mọi người, hàng trăm thứ lo lắng nhét đầy trong óc, còn tâm hồn đâu nghĩ đến những chuyện không trực tiếp?

Ngày hôm sau, tôi lại rủ Thiện mò đến chỗ cây thánh giá gẫy một lần nữa. Như thể hiện một chút nghĩa tình, của người cùng một nước. Ông hay anh Nguyễn Văn. . . đã bỏ nước, bỏ nhà, bỏ người thân ra đi . . . để rồi đã nằm xuống nơi một hòn đảo hẻo lánh không người biết. Bố mẹ anh, vợ con, người thân của anh có biết không? Hay vẫn tháng năm mòn mỏi đợi chờ, tin tức người ấy trở về? Đau thương nghiệt ngã này do đâu?

Hôm nay những con cua bể, có thể đã khôn ra, hay chỗ đó chỉ có mấy con, mấy giờ đồng hồ mà chỉ câu được có một con. Mấy ngày sau, ông thiếu úy trưởng an ninh, mang lệnh của chúa đảo đến:

– Do sự phản đối của người dân đảo, và sự an ninh:

Từ nay: 11-12- 82, buổi sáng 2 giờ (từ 8:00 đến l0:00 giờ), nam nữ ra giếng tắm giặt, kiếm củi, sinh hoạt.

Buổi tối 1 giờ, (từ 8:00 đến 9:00 tối): Chỉ dành cho phụ nữ tắm giặt. Toàn thuyền phải chấp hành nghiêm chỉnh.

Từ hai ngày hôm trước, do đóng góp của toàn thuyền, đã nhờ được chúa đảo mua cho một tạ gạo, giá 80.000 Rupias. Tối hôm qua, tôi và cậu Thiện mò mẫm sang mãi phía Đông, chỗ có một chòm xóm, nơi có một cửa hàng tạp hóa duy nhất của đảo.

Cửa hàng vì không có bảng hiệu nên không thể phân biệt với nhà khác bên cạnh. Một căn nhà cửa mở, vào bên trong, giữa nhà có một số kẹo, bánh đựng trong những cái chĩnh sành, một ít khoai tây, rau v.v… để trên một cái sạp gỗ ở giữa nhà. Khách vào xem, chỉ có tôi và cậu Thiện, tôi có nửa cái nhẫn cưới cần gạ bán, để có tiền đóng góp mua gạo.

Rất may, người chủ hiệu có thằng con trai 17 tuổi, học ở một trường trung học bên BRUNEI về nhà, trong dịp nghỉ nửa tháng, cậu này cũng bập bẹ tiếng Anh bằng tôi. Lúc đầu phải ngoáy tay, nhắc đi nhắc lại một chữ nhiều lần, nhưng dần dần đã hiểu nhau.

Nói về tiếng Anh, tiếng U của tôi, nó cũng nổi trôi với cuộc đời của tôi nhiều chặng. Tôi nhớ khoảng 1957- 59, do từ người bạn Nguyễn Vĩnh Lý, tôi đã chơi bạn bè Pen- Pal Corresponding địa chỉ cái Club này ở Đan Mạch. Vì vậy, tôi đã có mấy người bạn ở Mỹ, Nhật, Anh.

Khi đó thì tôi miệt mài say mê, với thư từ chữ nghĩa, chứ chưa hề nói chuyện với một người Anh, người Mỹ nào. Mãi tới đầu 1960 do những kéo, đẩy của nghề nghiệp, tôi phải tiếp xúc với Brown, Dale, và Horry v.v. . . Rồi bị tuột tay, chìm nghỉm vào miệng con Hồng Tuộc.

Tôi tự xác định, không chết sớm thì cũng chết muộn, ở trong mồm của nó. Nên suốt 20 năm tôi đã buông rơi, nếu không nói là giũ, vẩy, gần sạch cái thứ “tiếng lai căng”, không phải của cha mẹ đẻ, cho nó nhẹ người. Cho nên, nếu còn sót tí nào, là nó bị kẹt, bị vướng lại, khi tôi giũ mà thôi. Tôi đâu có nghĩ có ngày tôi lại phải đi bòn mót, nhặt nhạnh nó trở lại để sinh tồn?

Cuối cùng tôi đã bán nửa cái nhẫn, được 20.000 Rupias. Một điều đã gây một ấn tượng hằn sâu, vào ký ức của tôi. Cũng buổi tối ấy, tôi đã đờ đẫn nhìn những hình ảnh trong chiếc ti vi mầu. Từ xưa suốt ở Sài Gòn, rồi tù đày ở miền Bắc, tôi chỉ nhìn hình ảnh trắng đen của truyền hình.

Tôi không thể tưởng tượng được, con người và cảnh vật ở ti vi mầu nó lại tươi đẹp, đến như vậy. Nhìn hình ảnh của ông tổng thống Shoharto, và đoàn tùy tùng của Nam Dương đẹp như những ông bà tiên, trong tưởng tượng. Tôi đứng ngây ngất ngắm nhìn Ti vi, tôi chẳng hiểu họ nói gì, tôi chỉ ngắm con người và cảnh vật, xe cộ của thành phố Jakarta.

Đầu óc tôi miên man nhớ lại trước thập niên 1970, tình hữu nghị của Hồ Chí Minh với Shokamo sôi nổi gắn bó. Đài Hà Nội khi ấy, ra rả ngày đêm ca ngợi Shokamo như một vị anh hùng, của những nước trung lập không liên kết. Tưởng như Mao Trạch Đông sẽ nhuộm đỏ Nam Dương đến nơi, không ngờ tướng Shoharto bất ngờ đem quân đội đè bẹp, tận diệt đám Tầu Cộng ở Nam Dương, mở ra nước Cộng Hòa như ngày nay.

Cả ngày hôm qua, 4- 5 cậu mà chỉ câu được có hai con cua. Năm mươi ba người hầu như chỉ còn muối, mà không có hơi cua. Tính sục sạo thích làm những việc ít hay chưa ai làm, đã thúc giục tôi. Tôi lách rồi chui xuống sàn, dùng tay để bắt những con cua có kinh nghiệm, đưa mồi đến miệng nhưng nhất định nó không cắn nữa.

Thủy triều càng cạn dần, tôi bảo các cậu buộc dây thả xuống cho tôi một cái thùng 20 lít vẫn đựng gạo. Say sưa mải mê, săn tìm những con cua trong những hốc đá, hay trong hang lỗ chỉ còn từng vụng nước nhỏ, nước chỉ tới đầu gối. Hơn hai giờ sau, tôi đã xách thùng về với hơn hai chục con cua, có những con to cả kí lô. Hẳn ai cũng biết cua bể của Thái Bình Dương, khác hẳn với cua bể Đại Tây Dương.

Cua Thái Bình Dương mầu xám xanh, hai gọng cái to và nhọn hoắt, rất nhanh và dữ. Chính những người lính Indo, cũng không tin ai dám dùng tay, để bắt những con cua bể ở dưới nước hay trong hang? Nhiều người lính Indo đã đi theo tôi, để nhìn tận mắt, và vì vậy, mỗi ngày khi nước thủy triều xuống, họ chỉ cho tôi và cậu Thiện xách thùng đi theo, được ra ngoài.

Dù tôi cũng có một chút kinh nghiệm, nhưng những con cua bể quá nhanh, quá dữ nên tay tôi cũng bị nhiều lần ra máu. Một lần tôi vẫn còn nhớ chi tiết: Một chiếc thuyền vỡ, cũ đã chìm ở một ven bờ, nước thủy triều xuống chỉ còn xăm xắp dưới đáy. Tôi biết bên dưới sẽ có nhiều hang cua, nước còn đến gần đầu gối. Tôi cúi xuống, luồn tay vào một cái hang, một con chộp cắp, vào hai ngón giữa và đeo nhẫn. Khi nó đã cắp, tay mà nhúc nhích nó càng nghiến chặt hơn, vậy chỉ còn cách chịu trận đứng yên rồi nghe, chờ thấy nó hơi nhẹ nghiến (vì nó cũng mỏi) giật mạnh tay ra. Nhưng con cua này, không biết to bao nhiêu, nó cắp tay trái của tôi rồi, lại cứ lôi sâu vào trong hang.

Người tôi thì cúi, hai chân chịu trận hàng mười phút, con cua lại cứ lôi tay tôi vào tiếp. Lưng mỏi, tay đau, lại không được nhúc nhích, tôi nổi máu liều, tay phải tôi xục xuống đất cát, lựa thọc vào phía trong hang, rồi xục tay lên. Mục đích để chặn không cho con cua kéo tay tôi, vào thêm nữa. Không ngờ, có một con khác, không hiểu vợ hay chồng của con đang cắp tay trái, nó cắp ngay ngón trỏ và ngón cái, tay phải vừa đau, hai chân mỏi quá, tôi phải khuỵu quỳ xuống nước. Hai tay chịu trận hai con cua cắp, mặt tôi cố ngửng lên để mũi không gục xuống nước.

Biết cậu Thiện đứng ở trên bờ, nhưng không ai cứu được tôi lúc này cả. Vả lại, cậu Thiện hay ai dám thò tay vào với cua bể? Tôi đã nhìn thấy máu loang ra nước nhưng vẫn phải cắn răng, không dám động đậy.

Hơn hai chục phút, tôi nghe ngóng con tay trái cắp mãi, chắc cũng đã mỏi, nó lơi lỏng, tôi giật mạnh tay ra. Lấy tay ra khỏi nước, mà máu vẫn rỉ chảy có giọt. Con tay phải hơi nhẹ nghiến tôi lại giật được ra, nhìn hai tay đều bị chảy máu, nhưng lòng tôi khó chịu lắm. Hai tay bị thương, mà hai con cua vẫn không bắt được Cậu Thiện ái ngại nhìn tôi, cản lại:

– Thôi anh ơi? Đi bắt con khác?

Tôi nhìn thoáng thấy một thanh gỗ con mục, dài đến 50 phân, tôi chạy đến, cởi phăng cái áo của tôi, dùng thanh gỗ giấn, chẹt lấy phía cuối hang cua. Áo cuốn tay, thò vào, sau vài phút, tôi đã lôi được cả hai con cua chồng vợ vào thùng. Hai con cua đang thời kỳ sung mãn, mẩy chắc nịch, mầu đất sét.

Khi về nhà cả thuyền vây đến coi. Giữa sàn, tôi bắt hai vợ chồng con cua, ra ngoài trình diện. Mấy cậu thanh niên đi ba ta, đi dép, lấy chân định đè nó xuống sàn, nhưng nó nhanh như cắt, đã chộp lấy dép, lấy ba ta, làm các cậu giật hất tung cả giầy, dép ra sàn. Các cậu và nhiều người, không nghĩ là nó dữ và nhanh, như thế. Đấy là ở trên bờ, khi nó đã bị bắt, chứ dưới nước như hổ ở trong rừng, là đất của nó, nó còn hống hách làm tàng, đến độ thế nào. Các bà, các cô và trẻ con chạy vón, dạt vào sát vách. Một cái tay phía sau để nhẹ vào vai tôi:

(Hình minh họa)

– Bình bạo gan thật!

À! Ra anh Trường!

Không ngờ có anh Trường trong thuyền, hôm nay tôi mới gặp. Tôi quay lại cầm tay anh vồn vã:

– Bạo gan làm sao bằng anh được? Có chị và các cháu không?

Mặt anh buồn rười rượi, lắc đầu, chúng tôi đã kéo nhau ra phía sau hàn huyên nỗi niềm. Đầu tôi luẩn quẩn một ý nghĩ xanh mầu trời: “Một người đã lách ra khỏi bùa mê, thuốc lú, độc dược, của con Hồng Tuộc”.

Hai tay của tôi máu vẫn còn rỉ ra, các bà đưa ra một sáng kiến, sẽ khâu cho tôi một cái túi tay, bằng vải dầy, đôi tay của tôi đã bị nhiều vết sứt sẹo do cua cắp. Có thể do máu của tôi lành, phần khác nước biển mặn, diệt trùng nên chỉ một vài ngày là khỏi.

Dù chưa khỏi sưng, khỏi đau, ngày nào nước thủy triều xuống tôi vẫn đi bắt cua. Tự nhiên tôi trở thành một người giải quyết thức ăn cho cả con thuyền. Nhiều cậu, nhiều bà thường đùa vui gọi tôi là “vua cua” rồi trở thành cái tên ở trong thuyền. Các bà, các cô làm đủ mọi kiểu: Rang muối, luộc, nướng, cắt ra từng miếng đập dập v.v… Lúc đầu còn háo hức, dần dần mọi người phát sợ, ngấy lên vì cua. Sáng ăn cua, chiều cua, hôm sau lại vẫn cua, nhất là tôi mới phát hiện ra một cái mánh bắt cua bể.