Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 38

Ngày ba tôi rời Paris, Thái và tôi đưa ông đến phi trường Orly. Trong khi Thái còn chạy kiếm chỗ đâu xe, ba tôi và tôi đi vô để trình vé ở quầy của hãng máy bay Aeroflot. Tôi không hiểu gì hết, khi ba tôi nói tiếng Nga với người đàn bà Nga ở sau quầy. Thái muốn ba tôi đi máy bay của hãng Air France, nhưng ba tôi không chịu, chỉ muốn Aeroflot thôi. Điều nầy khiến tôi nhớ lời dặn của Rob, là tôi chỉ nên đi máy bay Mỹ thôi.

Chúng tôi ngồi chơi với ba tôi ở phòng đợi cho đến khi ông lên đường. Khi nhân viên hàng hàng không kêu tên ba tôi, ông không nhúc nhích mà nắm chặt tay tôi như không muốn rời.

Ông nhắc lại:

“Con săn sóc má giùm ba”.

Chúng tôi cùng đứng lên, rồi ông ôm tôi thật lâu trước khi bắt tay Thái để lên máy bay.

Tôi thấy mình như đứa trẻ mồ côi. Tôi đứng bên cửa sổ nhìn chiếc máy bay sắp sửa đưa ba tôi đi mất. Thái đứng cách tôi vài thước để chờ tôi. Trên đường về, tôi không biết nói gì với Thái.

Trước khi tôi rời Paris, Phan Thanh Nam đưa tôi đến gặp ông Võ văn Sung, đại sứ của Hà Nội ở Paris. Nam dặn tôi kêu ông đại sứ là “Chú”. Càng tốt, có chú làm đại sứ của Cộng sản, cháu mặc tình mà lấy tin tức cho CIA.

Chúng tôi uống trà trong một phòng ấm cúng của toà đại sứ, và tôi lắng nghe tất cả những câu hỏi của ông đại sứ. “Chồng cháu có phải là người Mỹ tốt không?”. (Đối với Cộng sản, một người Mỹ “tốt” là người chống chiến tranh). “Anh ấy làm nghề gì?” (Công việc tốt đối với Cộng sản là không làm gì hại đến họ). Tôi có thể nói dối với họ, nhưng tôi quan niệm là không nên nói dối; nếu không nói thật được, thì đừng nói; không ai đánh mà khai.

Tôi trả lời ông đại sứ:

“Thưa chú, chồng cháu yêu nước của ảnh như cháu yêu nước Việt Nam. Điều an ủi là cháu biết anh ấy thông cảm, buồn cho đất nước mình”.

Võ Văn Sung và Nam có vẻ phấn khởi khi biết chồng tôi là một nhà khí tượng học, và đang làm việc cho đài khí tượng ở Honolulu. Đại sứ Sung nói:

“Một ngày nào đó, chồng cháu có thể giúp ba cháu khi ông cần”.

Đại sứ Võ Văn Sung không để mất thì giờ nói chuyện quanh co, mà đi thẳng vô vấn đề. Ông hỏi tôi đã có bao giờ tham gia hoạt động của Mặt Trận chưa? Cũng như đối với mọi người, tôi cho ông biết cả gia đình tôi ở miền Nam đều hoạt động cho Mặt Trận. Mặt Trận đã từng lấy đất của ông bà tôi làm căn cứ hoạt động, và vì thế người anh bà con rất trẻ của tôi đã bị giết. Tôi biết rằng những mất mát nầy chẳng có nghĩa lý gì đối với ông đại sứ. Có chăng, là máu của tôi hoà với máu của kẻ thù của Cộng sản và trở thành thương binh một giò đứng trước mặt ông, thì may ra tôi mới là người có công với “Cách Mạng”. Nhưng ông cũng tạm cho tôi một dịp nữa, là cho tôi bắt đầu đóng góp. Ông nói:

“Chú có một người bạn rất tốt ở Mỹ. Ông ta sống ở San Francisco. Chú muốn cháu gặp ông ta ngay khi cháu về Mỹ”.

Tôi tự hỏi, không biết các viên chức cao cấp của chính phủ Hà Nội có xem bản đồ của nước thù địch của họ không? Ông có biết khoảng cách từ Hawaii đến San Francisco là bao xa không? Tuy vậy, tôi vẫn hỏi địa chỉ của người bạn tốt đó, và ghi vào sổ tay. Tôi còn xin ông đại sứ viết mấy chữ vô sau danh thiệp của ông để giới thiệu tôi với người “bạn tốt”. Ông viết ngay. Thế là tôi có đủ mọi thứ cần thiết để có thể liên lạc với mạng lưới của Cộng sản ở nước Mỹ.

Người bạn mà ông đại sứ muốn tôi gặp ở San Francisco chính là người thành lập và là chủ tịch của “Hội Việt Kiều Yêu Nước” ở Mỹ. Một năm sau, tôi bay qua San Francisco gặp ông và thâm nhập vào hội nầy. Tôi còn hỏi ông đại sứ có “bạn nào tốt” ở Honolulu muốn tôi gặp không?. Ông hãnh diện trả lời:

“Có thể mình cũng có nhiều người ở Honolulu, nhưng hoạt động bí mật nên chú không rõ”.

Tôi rời Paris về Hawaii với sự tin tưởng rằng tôi sẽ vẫn được cộng đồng người Việt thân Cộng tại Paris đón tiếp nồng hậu. Và chắc chắn sẽ có nhiều cuộc gặp gỡ Nam, Thái. Tôi không hứa hẹn gì trước khi từ biệt, nhưng tôi biết, Nam tin rằng tôi đã lọt vô màng lưới hoạt động của ông. Hôm tôi đến chào ông để về Mỹ, Nam nói:

“Chú biết rằng sự đóng góp sau nầy của cháu cho Cách Mạng sẽ được những người có trách nhiệm trong nước biết. Điều nầy sẽ làm cho ba cháu vui lắm đó!”.

o O o

Mấy tháng sau khi tôi trở về Hawaii, CIA thương lượng với Hải Quân, cho John đổi về Ngũ Giác Đài. Sau đó, CIA cho tôi bay sang Paris theo lời mời của ông chủ tịch của Hội Việt Kiều Yêu Nước, Huỳnh Trung Đồng. Trước đó, Thái cố vấn tôi nên gọi ông chủ tịch bằng “anh”. Thế là tôi tới trụ sở gặp anh Huỳnh Trung Đồng.

Đồng là một người cô đơn, trầm lắng, dáng người khắc khổ. Mỗi lần gặp anh, tôi có cảm tưởng như thân của anh ở đó, mà tâm của anh ở một nơi nào, đố ai biết. Anh như một người lính chán chiến tranh, một người hết nghị lực. Anh còn có cái tật nói nhỏ, thì thầm như sợ có ai rình nghe.

Vào một buổi sáng tôi đến gặp anh Đồng, anh cho tôi xem tờ báo “Đoàn kết” do hội của anh xuất bản. Báo phát hành hai tuần một lần. Anh xin địa chỉ của tôi để anh gởi báo cho tôi sau đó. Tôi đề nghị anh gởi về hộp thơ của tôi ở Washington, D.C, cho tiện.

Như sực nhớ một điều gì quan trọng, anh lục lọi trong hồ sơ “USA”, cho đến lúc tìm ra một danh thiệp có đánh dấu ở một góc, lẩm bẩm đọc mấy chữ trên đó, rồi hỏi tôi có biết một người đàn bà tên Nguyễn Thị Ngọc Thoa không? Ba Thoa hiện sống ở Washington. D.C. Tôi trả lời rằng tôi mới dọn tới đó, nên chưa biết ai hết. Anh đọc tấm thiệp một lần nữa, rồi cho tôi biết sơ về bà Thoa:

“Bà nầy có chồng Mỹ, nhưng ông ấy là bạn của chúng ta. Bà tham dự phong trào chống chiến tranh rất sớm, vào đầu thập niên 70”.

Tôi giả bộ khờ khạo nói:

“Vào những năm đó, em còn ngủ kỹ, không có làm gì hết”.

Đồng nói:

“Tôi muốn cô gặp chị Thoa, kết bạn với chị ấy trước cái đã”.

Tôi không mấy thích chuyện bắt con cá, nhử con tôm, nhưng nhớ lời dặn của Thái là phải kiên nhẫn, nên tôi gật đầu và giữ im lặng.

Trong buổi thăm viếng đó, anh Đồng đưa tôi đến trụ sở của hội. Đó là một thư viện ở tầng dưới hầm, chứa đầy sách về “Nghiên cứu chủ nghĩa Cộng sản”, và một nhóm thanh niên nghe một người đàn bà diễn thuyết. Nữ diễn giả dùng những từ Cộng sản đầy mầu mè nhưng vô nghĩa, để giảng giải về một cuốn sách mà mọi người đã đọc.

Trong một tủ kiếng gần lối ra vào của một phòng lớn lầu chánh, Đồng hãnh diện khoe với tôi “cây viết đã từng dùng để ký hiệp định Paris”. Sau đó, anh cầm một miếng kim loại mầu trắng đưa cho tôi xem. Trên miếng kim loại đó có vẽ hình một nữ chiến sĩ, quần xắn lên tới đầu gối, vai mặt đeo một khẩu súng máy, vai bên trái có một sợi dây kéo một vật phía sau. Đồng giải thích:

“Đây là xác máy bay B-52 của Mỹ”.

Ông đưa cho tôi mảnh kim loại đó để xem cho rõ hơn, nhưng tôi bỗng thấy hơi run run, nên không đưa tay ra đón nhận. Tôi chợt nghĩ tới các phi công Mỹ và những chiến binh khác. Tôi giận mình, vì không thể nói gì thay cho sự hy sinh của họ, cho đất nước Việt Nam của mình.

Anh Đồng đưa cho tôi nhiều tài liệu để đem về Mỹ, đa số là sách báo tuyên truyền của Cộng sản bằng Anh ngữ và Việt ngữ. Tôi cám ơn ông về những tài liệu nầy, và nghĩ ngay rằng tôi sẽ trao hết cho CIA cùng với địa chỉ của bà Nguyễn Thị Ngọc Thoa, một người hoạt động cho phong trào phản chiến ở vùng Hoa Thịnh Đốn.

Ba tuần lễ tôi tiếp xúc với Cộng sản và người Việt thân Cộng ở Paris, là thời gian xa nhà dài nhứt của tôi. Không một ngày nào là tôi không gặp gỡ, chung đụng, chuyện trò, ăn uống với Cộng sản. Tôi học ăn, học nói, hành động như một người thân Cộng.

Qua chung trà, tách nước, tôi được tiếp xúc với người Việt tỵ nạn Cộng sản, và những người trước kia đã nhiệt tâm ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng sau 75 họ đã biết sự thật phũ phàng, thì trở lại giúp đỡ những người tỵ nạn còn chân ướt chân ráo.

o O o

Trở về Washington, D.C, tôi cho Rob biết là chúng tôi nên liên lạc với những người mà ông chủ tịch của Việt Kiều Yêu Nước ở Paris giới thiệu, vì đây là những điệp viên của Cộng sản Hà Nội hoạt động tại Mỹ, đặc biệt là Nguyễn Thị Ngọc Thoa. Nhưng Rob cực lực phản đối. Ông nói:

“Phản gián không phải là việc của chúng ta. CIA không có trách nhiệm về chuyện nầy”.

Tôi không đồng ý với Rob vì hai lý do. Một là, ông đại sứ Võ Văn Sung và chủ tịch Huỳnh Trung Đồng đã giới thiệu họ cho tôi. Thứ hai, họ là cái chìa khoá để mở những cửa ra vào những nơi mà CIA và tôi muốn thâm nhập. Nếu tôi không gặp những người nầy, thì khi trở lại Paris gặp họ, tôi đâu có đề tài gì để trao đổi với mấy ông Cộng sản nầy. Rob thì nghĩ khác, anh nói chừng đó tính sau, tuỳ cơ ứng biến.

“Phản gián là việc của FBI, không phải chuyện của mình”.

Tôi nói:

“Rác sau nhà mình, nếu mình không quét, thì việc làm của mình có lợi ích gì cho nước Mỹ, khi mình cứ chạy hết cái địa cầu nầy để săn tin của địch?”.

Nhưng ông lại nói:

“CIA không được phép tuyển dụng người Mỹ để hoạt động trên đất Mỹ, nếu không được phép đặc biệt của Bộ tư pháp!”.

Thì ra CIA đã làm trái luật khi tuyển dụng tôi, một công dân Mỹ, và hoạt động tại nước Mỹ. Luật của người lập ra khác hẳn luật thiên nhiên; bởi vì người lập ra, thì người có thể thay đổi, để thích ứng với hoàn cảnh. Tôi cho Rob biết ý nghĩ của tôi, và khuyên anh nên bàn lại với thượng cấp của anh, để họ thương lượng với Bộ Tư Pháp.

Rob hứa sẽ suy nghĩ về đề nghị của tôi, và dặn tôi cứ theo đúng nguyên tắc. Có thể tôi vẫn phải nghe lời ông, nhưng tôi muốn ông hiểu tầm quan trọng của vấn đề. Vì vậy, tôi nói:

“Nếu anh không báo cho FBI biết về người đàn bà Việt Nam đó, tôi sẽ báo. Nếu không được, tôi sẽ nhờ chồng tôi chuyển tin tức nầy đến cho FBI”.

Có lẽ như vậy dễ dàng hơn, vì John đang làm cho cơ quan tình báo Hải Quân, dưới quyền đô đốc Bobby Inman. Rob liền phản ứng:

“Nếu cô làm như vậy, tôi sẽ đuổi cô”.

Ông nói bằng một giọng cứng rắn. Tôi liền phá lên cười, đáp:

“Trước hết, anh phải chánh thức mướn tôi, rồi mới có thể đuổi tôi được”.

Trên thực tế, dù đã làm việc cho CIA và cung cấp nhiều tin tức giá trị, tôi vẫn chỉ là một nhân viên không lương, căn bản là tự nguyện. Làm gián điệp không phải là cái nghề để tìm kế sinh nhai. Có thể lời nói thẳng của tôi đã làm Rob chột dạ, nên ông đáp:

“OK, có lẽ cô và tôi nên ngồi xuống để nói chuyện về việc làm của cô”.

“Có như vậy anh mới có quyền đuổi tôi khi công việc không xuôi chèo mát mái. Nghề tình báo không phải lúc nào cũng suôn sẻ, êm ru như ba tuần vừa qua đâu. Tôi có thể vui vẻ làm với anh, nhưng tôi cũng là một con chồn hôi khi bị ăn hiếp đó! Anh nên nhớ cái tánh xấu nầy của tôi”.

o O o

Hải Quân chuyển chồng tôi về Hoa Thịnh Đốn. Anh làm tại Ngũ Giác Đài dưới sự lãnh đạo của đô đốc Bobby Inman, ông trùm tình báo của Hải Quân Mỹ. Ở Hoa Thịnh Đốn, tôi và Rob Hall thường gặp nhau ít nhứt mỗi tuần một lần, khi thì ở tiệm ăn Marco Polo, trong vùng Vienna để ăn trưa, khi thì tới Springfield ăn điểm tâm ở McDonald; lại có khi chỉ gặp ở bãi đậu xe của một trung tâm buôn bán thuộc quận Fairfax để trao đổi với nhau một vài tin tức.

Chúng tôi thảo luận về việc đối phó với Phan Thanh Nam, Huỳnh Trung Đồng và Phạm Gia Thái ở Paris cùng những người khác, để chuẩn bị cho những công tác tương lai. Chúng tôi nghiên cứu một kế hoạch lợi dụng chỗ quen biết với Huỳnh Trung Đồng, như một cây cầu để gặp ngoại trưởng Hà Nội Nguyễn Duy Trinh và thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi hai ông sắp tới Paris. Cuộc viếng thăm nầy có thể quan trọng đối với chánh phủ Hà Nội, vì họ muốn tái lập mối quan hệ với nước Pháp. Tất nhiên, CIA cũng quan tâm đến chuyện nầy.

Trong một buổi gặp gỡ, tôi nhắc lại chuyện “dọn dẹp rác rưởi” bằng cách báo cho FBI biết mấy cán bộ Cộng sản nằm vùng tại Mỹ. Có thể Rob đã suy nghĩ kỹ về vấn đề nầy, nên ông trả lời ngay rằng ông không đồng ý với tôi, dù đây là một vấn đề quan trọng.

Tôi không thể dễ dàng chấp nhận một chuyện như vậy được. Gián điệp của Cộng sản và nhóm “Việt Kiều Yêu Nước” chính là hậu thuẫn của phong trào phản chiến trong những năm 1960. Ngay cả bây giờ đã hoà bình, họ vẫn có thể tuyển dụng người Mỹ cộng tác với họ trên danh nghĩa “Phục Vụ Hoà Bình Qua Tình Hữu Nghị”. Họ có thể đánh cắp những bí mật quốc gia, kể cả về kỹ nghệ lẫn kỹ thuật mới. Họ cũng có thể xâm nhập vào ngành tình báo, phản gián, và Bộ Quốc Phòng. Một chiến thuật khác của họ là tung những tin vịt trong ngành báo chí, để gây hoang mang và hiểu lầm trong các cộng đồng thiểu số, tạo nên sự căng thẳng giữa các chủng tộc. Cao hơn nữa, họ có thể gây nên rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa các nước đồng minh với nhau, nếu họ biết được những mật mã trong sự liên lạc. Chiến tranh có thể bùng nổ giữa hai nước bạn.

Tối hôm đó, tôi thảo luận với chồng tôi về mối lo nầy. Tôi nói với John rằng tôi thông cảm với Rob về ý nghĩ của ông, khi cho rằng FBI chỉ là “bọn cảnh sát”, nhưng tôi thực sự muốn có ý kiến của một chuyên gia khác về vấn đề nầy. Tôi muốn biết đô đốc Bobby Inman, một “siêu gián điệp”, nghĩ gì về chuyện nầy. Riêng John thì anh cũng nghĩ rằng ngành phản gián phải biết rõ những gián điệp địch đang hoạt động trên đất Mỹ.

Hôm sau, John gặp ngay Đô Đốc Bobby Inman. Ông cho biết ông sẽ tìm hiểu tình trạng nầy. Nhưng chỉ mấy ngày sau, John cho biết “họ không quan tâm” đến chuyện nầy. Tôi không thể tin như vậy được. Tôi nghĩ rằng nước Mỹ đang sai lầm trầm trọng, mà tôi có bổn phận phải kiếm cách giúp đỡ để sửa đổi. Tôi vật lộn với những ý nghĩ ấy, rồi tôi lại xin chồng tôi tiếp tôi một tay. Tôi muốn anh dàn xếp cho tôi được gặp riêng Đô Đốc Bobby Inman, biết đâu người phương Tây học được cái khôn của người phương Đông và tôi tin rằng tôi có thể trình bày thẳng với ông một cách rõ ràng hơn. John chiều ý tôi, và hai vợ chồng tôi đã được gặp đô đốc tại Ngũ Giác Đài. Đô đốc Bobby Inman ngồi lắng nghe cẩn thận lời trình bày của tôi về hoạt động của Cộng sản trên đất Mỹ. Ông hứa sẽ trình bày chuyện nầy với ông giám đốc FBI Clarence Kelley. Hai ngày sau, John lại chở tôi vô Ngũ Giác Đài để được yết kiến giám đốc của FBI.

Cuộc gặp gỡ nầy chỉ có tôi và ông giám đốc của FBI trong một phòng hội nghị có cái bàn thật dài và hơn 10 cái ghế chung quanh bàn đó. Tôi bắt đầu kể lại cho ông Kelley cũng như tôi đã trình bày với đô đốc Bobby Inman. Ông chăm chú nghe, cuối cùng, ông bắt tay tôi với hai bàn tay của ông, tỏ ý hài lòng về cuộc gặp gỡ nầy.

Tôi không biết rõ sau đó chuyện gì đã xảy ra giữa FBI và CIA, nhưng chỉ mấy ngày sau, Rob loan báo:

“Bây giờ thì cô hợp pháp rồi!”.

Rob Hall cho biết “hợp pháp có nghĩa là tôi đã được Bộ Tư Pháp cho phép CIA và tôi hoạt động ngay trên đất Mỹ. Rồi tôi sẽ được gặp một ông nhân viên của FBI. Ông là người tôi sẽ tiếp xúc thường xuyên trong những hoạt động tay ba: là FBI, CIA và tôi.

Ông cho tôi biết tôi sẽ phải qua một lớp huấn luyện đặc biệt, và sẽ phải làm việc với một nhân viên CIA mới. Tôi giựt mình, vì với một người khác thì tôi lại mất biết bao nhiêu thì giờ dậy ông ta về Việt Cộng nữa, như tôi đã mất biết bao nhiêu thì giờ huấn luyện Rob Hall. Tôi ngao ngán vô cùng. Tôi hỏi Rob Hall tại sao tôi phải làm việc với một người khác, ông chua chát trả lời:

“Cô muốn gặp nhân viên FBI, thì cô sẽ gặp, sẽ toại nguyện. Cô còn đòi hỏi gì nữa?”.

Vì sẽ cộng tác với FBI, Rob Hall không được làm việc với tôi. Điều nầy, tôi hoàn toàn không hiểu lý do bên trong của CIA, nhưng tôi chủ trương là không hỏi, khi tôi nghi là câu trả lời sẽ không được thành thật. Thà không biết, hơn là biết tin không đúng. Rob cũng có vẻ ngạc nhiên, tại sao tôi không hỏi anh câu nói đó, mà chỉ chấp nhận làm việc với người khác. Tôi hỏi ông về người mới, thì ông cho biết người nầy không hiểu gì mấy về Viễn Đông, và ông ta đang chờ đợi được cử sang Bangkok làm việc.

Mấy hôm sau, tôi gặp nhân viên mới của CIA. Ông tên là Bill Reardon, tuổi chừng bốn mươi. Ông lịch sự, dịu dàng, ít nói. Ông không hề hỏi tôi một điều gì trong những buổi gặp gỡ. Thật ra ông đâu có quan tâm đến những hoạt động của tôi. Ông nói thẳng tôi biết là ông đang chờ đợi sự vụ lịnh đổi qua Bangkok. Được đổi đi Bangkok hai năm trước khi về hưu, là một cái post lý tưởng, còn hơn là được cơ quan thưởng tiền. Có một vài lần ông đã ngủ gục, khi tôi đọc cho ông nghe những lá thơ tôi mới nhận được từ Paris và giải nghĩa cho ông hiểu.

Tôi không muốn mất thì giờ với một người chỉ tạm thời làm với tôi: thân của ông ở đây, mà tâm ở Thái Lan. Tôi cũng có cảm tình với ông, vì ông yêu gia đình. Tôi tin rằng nếu ông thực lo cho dự án của tôi, ông sẽ là một người cộng tác đắc lực. Chúng tôi vẫn gặp nhau để ăn trưa và trao đổi ít rau tươi trong vườn chúng tôi trồng. Chỉ có vậy thôi.

Một buổi trưa nóng nực tháng 6 năm 1976, tôi được gặp một nhân viên đặc biệt của FBI tên là William Fleshman. Ông còn trẻ, trạc tuổi tôi, trầm tánh, dáng thư sinh, lịch sự. Đôi lúc trong ông có dáng dấp của tài tử màn ảnh Robert Redford, nhưng mỗi lần gặp ông, tôi lại nhớ tới một ông giáo sư dậy Sử. Khi đã hiểu ông, tôi rất quý ông, một con người ngay thẳng, chính trực, có tinh thần hợp tác và dễ chấp nhận các đề nghị. Ông còn là một người chân thành hiếm có, sẵn sàng thú nhận mình không biết gì hết, và ông không ngại học hỏi rèn nghề. Ông có vẻ dịu dàng và hơi lệ thuộc vào sách vở, vào kỷ luật của FBI, nhưng theo tôi, ông đúng là một nhân viên FBI chuyên nghiệp.

Bill Fleshman là một người kiên nhẫn, hiểu biết và nhạy cảm. Chúng tôi cùng quan điểm cho rằng công tác tình báo thực sự cần nhiều thời giờ để đối phó với những nghiên cứu, điều tra khô khan không thú vị, từ ngày nầy qua tháng khác. Nó chẳng có vẻ vui nhộn như trong ciné. Nó không có kết quả trong vòng hai tiếng đồng hồ như James Bond 007, và cũng không có gì vui, hay hấp dẫn. Có hồi hộp, có cô đơn, lương tâm có bị dày vò.

Cuộc liên lạc đầu tiên của tôi với các cán bộ nằm vùng của Việt Cộng trên đất Mỹ là việc tôi gặp Nguyễn Thị Ngọc Thoa, người phụ nữ ở Washington, D.C, mà Huỳnh Trung Đồng đã chú tâm đến rất nhiều. Tôi yêu cầu FBI bảo vệ tôi khi tôi đến chỗ hẹn gặp chị ấy, vì tôi chưa hề đến vùng nầy ở Washington D.C, cũng như chưa bao giờ nghe đến tên Nguyễn Thị Ngọc Thoa.

o O o

Cầm lá thơ giới thiệu của anh Huỳnh Trung Đồng, tôi tới gặp Nguyễn Thị Ngọc Thoa tại địa chỉ 1300 đường 18, ở lầu 2, khu Tây Bắc Washington. D.C. Lúc tôi tới, có một người đàn ông Việt Nam đang ngồi nói chuyện với chị. Những khi thấy tôi, chị tiễn ông ta ra cửa và với vẻ e ngại, dò xét, mời tôi vô nhà . Chị cho biết ông khách vừa rồi là một người tỵ nạn muốn nhờ chị tìm việc giùm.

Chị Thoa người rất nhỏ, không son phấn, ăn mặc đơn sơ, ít nói và tỏ vẻ dè dặt với tôi. Tôi ráng tỏ ra thân mật với chị, nên nói rằng đáng lẽ tôi phải đến thăm chị từ lâu, nhưng bận dọn nhà. Lúc đầu chị chẳng nói năng gì, làm cho bầu không khí thật khó chịu, chị lẳng lặng nhìn tôi từ đầu xuống thân. Cuối cùng, chị nói:

“Có nhiều người tới đây nói với tôi là họ cùng phe với mình, nhưng chỉ ít lâu sau chúng tôi khám phá ra họ là những tên phản động”.

Tôi nói:

“Tôi hiểu chị muốn nói gì. Chị muốn biết tôi thật hay giả, phải như vậy không?”.

Chị nói, trong khi vẫn nhìn tôi chằm chặp:

“Tôi lấy làm tiếc phải cẩn thận như vậy”.

Tôi ra giọng người trên khen người dưới:

“Tôi rất hài lòng khi thấy chị cẩn thận như vậy. Tôi tin rằng chúng ta sẽ cộng tác với nhau rất dễ dàng”.

Vừa nói tôi vừa mở bóp lấy lá bài tủ: là thư giới thiệu của anh đưa cho chị. Thư nầy đã được nhân viên FBI chụp làm bản lưu trong hồ sơ của chị. Đọc hết lá thơ, chị để lại vô bao, bỏ vô túi áo, rồi bắt tay tôi với một vẻ hài lòng.

Trong buổi đầu gặp gỡ nầy, chúng tôi không nói chuyện nhiều. Tôi nói với chị là tôi thường sang Paris và sẵn sàng giúp bất cứ việc gì nếu có thể. Chị ngỏ lời cảm ơn và cho biết có thể sẽ nhờ tôi “mang mấy thứ” qua Paris.

Lần thứ hai hẹn gặp chị, chị đề nghị đi ăn trưa. Chị hẹn tôi ở tiệm Old Stein, một nhà hàng Mỹ ở gần khu chị ở. Tôi báo cho FBI biết để họ cho người tới canh chừng khi chị và tôi ngồi ăn trưa.

Chị cho tôi xem tờ nguyệt san “Người Việt đoàn kết”. Thực ra đó không phải là một tờ báo theo đúng nghĩa của nó, mà chỉ là những bản tin lấy từ những tờ báo của Cộng sản ở Hà Nội, được cắt dán in lại rất công phu. Tôi tự hỏi chị lấy tiền đâu để in và gởi cho gần 5.000 người, vì đó là tờ báo biếu. Chị không nói cho tôi biết về nguồn tài chánh, nhưng chị lại đề cập tới sự giúp đỡ của một linh mục, cha Trần Tam Tỉnh ở Canada. Chị nói thỉnh thoảng chị qua Canada thăm vị linh mục thân Cộng đó.

Chị tin tưởng hoàn toàn vào chánh phủ của Mặt Trận Giải Phóng và hãnh diện đã tham gia vào những hoạt động của Mặt Trận trong suốt thời kỳ chiến tranh. Chị không hề quan tâm tới những tiện nghi vật chất. Chị làm việc, ăn, ngủ và hoạt động chính trị trong căn phòng nhỏ xíu đó. Tấm đệm chị ngủ để ngay trên mặt sàn nhà. Căn phòng thiếu ánh sáng, bàn ghế ọp ẹp, lung lay. Cái bàn chị viết rung rinh, chị lấy hai chân kẹp lại cho vững khi chị viết. Quần áo thì chị cho biết toàn là đồ mua ở các tiệm bán quần áo cũ. Tất cả những thứ xa xỉ không làm chị bận tâm, miễn là có đủ sức khoẻ và cơ hội để phục vụ Mặt Trận Giải Phóng.

Khi tôi mô tả chị một cách trung thực, có ý phục sự đắc lực, kiên tâm của chị, có vài người trong cơ quan FBI chau mày. Bill hỏi tại sao tôi khen ngợi “VC ”. Tôi nghĩ rằng tôi không thể làm ngơ trước một con người xuất sắc, dù người đó ở một chiến tuyến khác.

Thoa không thích nói chuyện lâu qua điện thoại. Sau khi chúng tôi đã quen biết nhau, mỗi lần gọi tôi, chị kín đáo và ngắn gọn. Chẳng hạn như: “Nè, tôi đây. Ngày mai mình có thể gặp nhau vào giờ mọi khi và ở chỗ cũ không?”. Giờ mọi khi là 10 sáng và chỗ cũ là quán ăn Old Stein. Cứ gặp nhau hoài ở nơi nầy, tôi quen dần và thích đồ ăn của người Do Thái. Tôi cũng hiểu tâm trạng chị Thoa hơn. Chị hoạt động cho cách mạng trong thời kỳ phản chiến ở Mỹ; bây giờ chị có cảm tưởng bị cách mạng bỏ rơi. Tôi là sợi dây liên lạc giữa chị với những người đại diện cho chánh phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở Paris và cả ở Việt Nam nữa. Chị nhờ tôi nói cho Huỳnh Trung Đồng ý nghĩ và cảm tưởng của chị. Nhưng chị Thoa đâu biết là Huỳnh Trung Đồng cũng ở trong hoàn cảnh của chị, nghĩa là sau khi MTGPMN giúp cho Hà Nội cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, thì trái chanh chỉ còn có cái vỏ. Bây giờ là tới lúc Hà Nội ngồi thưởng thức nước chanh; MTGPMN chỉ là một đống vỏ chanh thôi.

Theo tục lệ Việt Nam, tôi có thể không lịch sự với chị Thoa nếu tôi không mời chị về nhà chơi, trong khi tôi vẫn đi ăn tiệm với chị. Nhưng cả hai chúng tôi cũng không muốn dây dưa đến đời tư của nhau. Về tôi, chị chỉ biết số điện thoại của tôi, và sự kiện quan trọng: ba tôi là một nhân vật trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Không bao giờ tôi hỏi chị về chồng con, vì tôi không muốn chị hỏi về chồng con tôi. Những người đồng chí của chị ở Paris đã cho tôi biết về hoàn cảnh riêng tư của chị rồi. Họ còn nói: chồng chị là một “người Mỹ tốt”. Chồng tôi chắc không được các cán bộ Cộng sản đánh giá là “tốt”.

Sau nhiều lần nói chuyện với chị, tôi biết khá nhiều về những phần tử thân cộng ở nước Mỹ. Tổ chức của họ rất hạn chế, nhưng họ mạnh, nhiệt tình và đa số có học. Nhiều người trong tổ chức là những sinh viên trốn động viên dưới thời tổng thống Thiệu bằng cách không về nước sau khi đã tốt nghiệp đại học, và những sinh viên được học bổng rồi kẹt lại sau 30 tháng 4 năm 1975. Hầu hết những người nầy tham dự phong trào chống chiến tranh vào những thập niên 60 và 70.

Thoa giới thiệu với tôi một người trong nhóm sinh viên đó, tên là Trương Đình Hùng. Chị cho biết, anh là con của luật sư Trương Đình Dzu. Ở Việt Nam, ông Trương Đình Dzu là một người có tiếng tăm, giầu có và năm 1967 đã từng tranh cử tổng thống với ông Thiệu. Cuộc tranh cử nầy khiến ông gặp tai hoạ: ông Thiệu đã ra lệnh bắt giam ông, vì ông dám chống lại ông Thiệu. Một hôm, chúng tôi tình cờ gặp nhau ở cầu thang trong khu nhà của chị Thoa. Chị liền giới thiệu chúng tôi với nhau. Lúc đầu Trương Đình Hùng không thèm nhìn tôi, nhưng khi chị nói: “Chị Mỹ Dung là người do anh Huỳnh Trung Đồng ở Paris giới thiệu”. Trương Đình Hùng bỗng rối rít bắt tay chào tôi.

Mùa thu năm ấy, CIA lại cử tôi sang Paris lần nữa. Một tuần trước khi lên đường, tôi báo cho Thoa biết. Chị muốn nhờ tôi đem mấy thứ sang Pháp giùm chị. Nhưng chị không trao cho tôi ngay những thứ đó, mà hẹn tôi cận ngày đi ghé lấy. Tôi đành phải nghe lời chị dù rằng CIA và FBI đều cũng muốn biết vật đó là vật gì. Tôi tin rằng hai cơ quan tình báo và phản gián nầy có dư khả năng đối phó với mọi hoàn cảnh, cho nên tôi không hối thúc chị Thoa đưa đồ cho tôi sớm hơn.

Hai ngày trước khi rời Washington, D.C. tôi tới gặp Thoa để lấy mấy “món đồ”. Thường thường, Hùng không bao giờ có mặt khi tôi gặp chị, nhưng lần nầy, anh đợi tôi ở đó. Tôi đậu xe ngày trước cửa, rồi chạy lên căn phòng chị ở trên lầu hai. Tôi hết hồn khi trông thấy món đồ chị nhờ tôi đem sang Paris. Đó là hai thùng lớn và rất nặng, toàn những giấy tờ, gồm bản tường trình các buổi họp của quốc hội và mấy chục cuốn sách bìa cứng về chính trị và kỹ thuật: có một quyển “Jimmy Who?”. Năm đó là năm Jimmy Carter ra tranh cử tổng thống. Quyển sách viết về ứng cử viên Jimmy Carter. Trước khi tôi ra về, Hùng đưa cho tôi một bao thơ dán kín. Tuy ngoài bao thơ đề tên người nhận là ông Nguyễn Ngọc Giao, nhưng Hùng bảo tôi đưa cho anh Đồng. “Đừng đưa cho anh Giao”.

Hai tiếng đồng hồ sau, các nhân viên FBI và CIA đến nhà tôi xem xét hai thùng đồ của Thoa. Họ ghi lại tên các cuốn sách, nhưng họ không mở thơ dán kín của Hùng, vì họ chưa được phép của Bộ Tư Pháp để mở thơ của Thoa hay Hùng. Đó là thủ tục của con rùa hành chánh và cũng là luật lệ của một xã hội có nhân quyền. Tôi đành phải trao cho anh Đồng lá thơ nguyên vẹn.

Tháng 4 năm 1976, tôi viết thơ cho ông Nguyễn Văn Lũy, chủ tịch Hội Người Việt Yêu Nước ở Hoa Kỳ, người mà ông ông đại sứ Võ Văn Sung của Hà Nội muốn tôi gặp. Ông Lũy ngỏ ý mời tôi sang San Francisco gặp ông và các hội viên điều hành tổ chức Việt Kiều Yêu Nước do ông làm chủ tịch. Không những vậy, ông còn đề nghị tôi tới Christianburg, tiểu bang Virginia bí mật gặp hai “hội viên rất tích cực”, đang là sinh viên trường Đại học Virginia Tech. Tôi biết Lũy điều hành tổ chức của Cộng sản dưới quyền điều khiển trực tiếp của ông bộ trưởng Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Do đó tôi muốn dồn hết nỗ lực vô việc nầy, và cần có người chỉ dẫn tích cực hơn Bill Reardon, người chỉ mơ đến chuyện đi Bangkok.

Tôi định thử thời vận, nên liều gọi cho cấp trên của Rob, ông Roger McCarthy, xin được gặp ông. Ông đồng ý gặp tôi ở tiệm McDonald, ở Vienna, Virginia để ăn sáng. Khi gặp ông, tôi đề nghị ông cho Rob thay Bill Reardon, dù Rob và tôi nhiều lần bất đồng với nhau về cách làm việc, cũng như về ai làm chủ tình hình, nhưng Rob rành việc, như anh rành lòng bàn tay mình.

Ông Roger mỉm cười và chỉ đầu hói của mình nói:

“Rob là nguyên nhân làm cho tôi rụng gần hết tóc rồi!”

Tôi cười theo ông.

Thế là Rob trở lại làm việc với tôi. Công việc của tôi trôi chảy hữu hiệu hơn.

o O o

Tháng Chạp năm đó là tôi bù đầu với cái việc của người làm gián điệp, Cứ mỗi Thứ Sáu, tôi lại phải gặp hai nhân viên FBI và CIA để báo cáo về hoạt động của tôi với mấy người Việt Nam thân cộng trong vùng Virginia và Washington, D.C. Từ ngày John là một sĩ quan tuỳ viên liên lạc quốc tế, chúng tôi thường được mời đến các toà đại sứ để dự tiếp tân, kể cả các toà đại sứ của các nước như Liên Xô, Úc, Ấn Độ, Thái Lan, Thuỵ Điển, Triều Tiên, Nam Phi, Nam Tư và Phi Luật Tân.

Trong khi đó, ở nhà, tôi phải sửa soạn tổ chức hai buổi kỷ niệm quan trọng. Thứ nhứt, là mừng sinh Lance lên sáu tuổi, vào ngày 9. Lance đòi rủ tất cả bạn trong lớp; có tất cả hai mươi hai đứa con nít học lớp Một. Tôi thầm nghĩ, một đứa con nít học lớp Một mà có khi chạy theo nó không kịp, thì hai mươi hai đứa, không biết có làm xuể không? Nhưng việc gì cũng bắt đầu bằng lần thứ nhứt mới rút tỉa được kinh nghiệm. Kế đó, buổi kỷ niệm lớn nhứt là mừng lục tuần của má tôi. Em tôi phụ lập một danh sách gồm những người được mời, gồm có các bà mẹ của các bạn tỵ nạn của chúng tôi trong vùng Washington và một cô hàng xóm sát vách của chúng tôi hồi còn ở Sài gòn. Chúng tôi âm thầm tổ chức và giữ hết sức bí mật. Đến ngày 16 tháng Chạp, đại lễ. Má tôi vừa ngạc nhiên, vừa ngỡ ngàng trước đông đảo bạn bè cũ từ Sài gòn và con cháu đến chúc thọ bà.

Đến tuần lễ đầu tiên của tháng Giêng, tôi mệt mỏi quá, nên dặn các em tôi: nếu “Việt Cộng gian ác” kêu, thì cho họ biết tôi đang nghỉ ngơi, không họp hành gì trong tháng nầy.

Nhưng sự nghỉ ngơi nầy cũng không thể thực hiện được, vì tôi mới nghe đồn rằng có một bà tên là Thu Novax đi hỏi loanh quanh tìm “một người con gái của ông đại sứ Việt Cộng ở Mạc Tư Khoa”. Vào thời gian đó, ngay cả những người bạn thân của tôi cũng không biết gì về ba tôi. Tôi gọi điện thoại cho Trương Đình Hùng, hỏi anh có biết ai tên là Thu Novax không? Hùng biết rất nhiều. Anh khuyên tôi không nên giao du với “hạng người ấy”. Anh và chị Thoa còn nói rằng Thu Novax lợi dụng sự liên hệ thân mật với đại sứ của Hà Nội tại Liên Hiệp Quốc là Đinh Bá Thi, để khoe khoang là chị thân Cộng. Cả hai còn e ngại rằng Thu Novax có thể làm những người trong tổ chức của Việt Kiều Yêu Nước bị tai tiếng. Tôi nói với Hùng rằng tôi muốn gặp Thu Novax, để tìm cách ngăn cản bà ta tiết lộ bí mật riêng của tôi. Lúc đó Hùng mới cho biết, Thu Novax là một thành viên trong Hội Người Việt Yêu Nước mà Nguyễn Văn Lũy là chủ tịch. Tôi gọi ông Lũy, xin ông số điện thoại của bà ta.

Tôi gọi Novax và tự nhận tôi là người bà đang kiếm, thì bà vô cùng mừng rỡ. Bà cho biết bà vừa gặp ông Đinh Bá Thi, đại sứ của Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc; chính ông Thi yêu cầu kiếm “con gái của ông đại sứ Minh”. Ông tin rằng con gái ông đại sứ thế nào cũng hợp tác, hoạt động với những người theo phe Cộng sản. Tôi yêu cầu bà từ nay đừng nhắc tới tên tôi với bất cứ ai, vì “tôi muốn ẩn danh”. Tôi không chấp nhận hay phủ nhận là tôi có hoạt động trong tổ chức của Việt Kiều Yêu Nước hay không.

Bà ngỏ ý muốn gặp tôi, vì bà tin rằng tôi có thể dạy bà về xã hội chủ nghĩa. Không biết những người thân cộng có hiểu chủ nghĩa Cộng sản không là một bịnh di truyền, mà là một bịnh của xã hội? Sau khi nói chuyện với bà Novax, tôi nói với nhân viên phụ trách, là tôi có thể xâm nhập phái đoàn Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Rob tỏ ý không thích tôi làm việc nhiều cho FBI. Trong khi đó, tất nhiên FBI cho đó là một ý kiến rất hay. Tôi đề nghị để tôi điện thoại với ông Đinh Bá Thi xem ý ông ấy ra sao, rồi mình sẽ tính nên làm gì sau đó.

Khi tôi gọi ông đại sứ Thi ở New York và kêu bằng “ông” thì ông sửa ngay:

“Kêu bằng chú đi, vì chú là bạn của ba cháu”.

Ông cho biết ông mới về Việt Nam và nghe các nhân viên trong Bộ ngoại giao nói chuyện về “gia đình đồng chí Đặng Quang Minh hiện ở Mỹ”. Ông đề nghị tôi đến thăm phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc. Ông nói:

“Cháu có thể tới càng sớm càng tốt. Tất cả các nhân viên ở đây đều biết ba cháu, là đồng chí của ba cháu. Không những vậy, chúng ta là người đồng hương”.

Tôi nghĩ rằng tất cả các cơ quan tình báo Mỹ đều muốn nắm lấy cơ hội nầy, để biết xem các phái đoàn Cộng sản hợp tác với nhau như thế nào. Nhưng một lần nữa, CIA không muốn tôi dính vô vụ nầy. Rob doạ sẽ “đuổi” tôi nếu tôi đi New York. Nhưng ông miễn cưỡng cho phép tôi nói chuyện với Bill Fleshman về lời mời của đại sứ Đinh Bá Thi. Tôi nói với Bill là sự xung đột giữa hai cơ quan tình báo, nên tìm cách giải quyết cho ổn thoả, đó là sự ganh ghét của hai bên có từ ngày hai cơ quan mới ra đời, không dính líu gì tới tôi, nhưng đừng để chuyện cắn đắng giữa cặp vợ chồng không xứng đôi vừa lứa nầy, mà cản trở việc làm của tôi. Cuối cùng, Bộ Tư Pháp bật đèn xanh cho tôi đi New York. Nhưng tôi tin rằng hai cơ quan đã có một cuộc tranh cãi gay go, mà tôi không được tham dự.

Tôi muốn gặp đại sứ Thi để phục vụ cho chánh phủ Mỹ. Ngoài ra, tôi cũng muốn gặp một nhân vật đã từng tham dự hoà đàm Paris, người mà Thái và Mimi, vợ chưa cưới của Thái, kể cả những người thân cộng ở Pháp nữa, rất hâm mộ. Tôi cũng muốn gặp các cán bộ Cộng sản khác ngoài Phan Thanh Nam và Huỳnh Trung Đồng. Có lẽ tôi đang kiếm một tia sáng trong bóng tối dầy đặc, một chút nhân tánh trong đám độc tài thiển cận ấy.

Trước khi đem tầu ra biển đánh cá, tôi muốn biết thêm về con cá mà tôi tính đánh trong mẻ lưới tới, nên tôi gọi cho Trương Đình Hùng, hỏi anh ta có muốn tôi mang gì cho phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc không? Anh trả lời có. Anh muốn nhờ tôi đem một lá thơ khẩn cho ông đại sứ. Tôi lái xe ra Washington D.C, để gặp Hùng bên ngoài một tiệm ăn trên đường Connecticut; tất nhiên là tôi đã báo trước với CIA và FBI. Chủ trương của tôi là không một hành động nào giữa tôi và phe Cộng sản, thân Cộng, mến Cộng, mà không báo cho hai cơ quan nầy, để tránh mọi hiểu lầm, và để được bảo vệ an ninh cho cá nhân và gia đình tôi.

Sau đó, tôi điện thoại cho ông đại sứ để báo tin tôi sẽ bay lên New York ngày 19 tháng Giêng, và muốn gặp ông ngay ngày đó. Ông đề nghị tôi không nên ở hotel; mỗi ngày phải vô ra trụ sở của ông, thì sẽ bị tình báo Mỹ theo dõi. Ông mời tôi cứ đến ở trọ trong nhà khách của cơ quan. Tôi vẽ ra dự tính của tôi với Bill Fleshman và Rob Hall: trong ba ngày làm khách ông Đình Bá Thi, tôi sẽ không gọi điện thoại cho hai cơ quan tình báo của Mỹ, nhưng tôi sẽ liên lạc với gia đình tôi bằng điện thoại. Nếu trong ba ngày mà tôi không kêu cho gia đình được, thì cả FBI lẫn CIA phải biết là đã có chuyện gì không hay xảy ra cho tôi.

Tôi mong rằng sẽ không có trục trặc gì khi tôi đến thăm phái đoàn. Chỉ có năm người làm việc tại trụ sở nầy: ông đại sứ, ông phụ tá Phạm Ngạc, người đã từng cộng tác với ông đại sứ ở Pháp và Thuỵ Sĩ. Người thứ ba là ông Phạm Dương, chuyện viên kinh tế. Rồi đến ông Hùng, quản gia kiêm đầu bếp. Người cuối cùng ông Văn, tài xế kiêm vệ sĩ của ông đại sứ.

Hai ông Hùng và Văn chắc chắn không phải là nhà ngoại giao. Ông Hùng không bao giờ một mình dám ra khỏi nhà với bất cứ lý do nào, trừ khi ông đi cùng với nhân viên trong phái đoàn. Ông không biết tiếng Anh và ông thù ghét Mỹ. Ông sợ mùa đông ở New York lắm, ghét xem quảng cáo thương mại trên truyền hình, và ghét luôn cả những tiệm bán tạp hoá lớn. Còn ông tài xế Văn là một người hình như pha trộn cả chất Á đông với một nông dân người Anh. Ông hút thuốc xì-gà, ăn uống và lái xe đều đội một cái nón chỉ có vành chung quanh và lưỡi trai ở phía trước, như một người đang ngồi sau tay lái một chiếc xe thể thao. Ông huênh hoang khoe “ông thích New York hơn Moscow, vì lái xe ở New York là cả một vấn đề đầy thử thách”.

Ngay ngày đầu tiên tôi tới thăm, tất cả chúng tôi cùng ăn trưa, rồi mọi người biến mất để đánh một giấc ngủ trưa. Qua lời đại sứ Đinh Bá Thi, tôi tưởng là cơ quan có phòng cho khách trọ, nhưng ông Văn phải nhường phòng của ông cho tôi, chuyển đồ đac sang phòng ông Hùng để ngủ. Dù phòng yên tĩnh và tôi hai tiếng để ngủ trưa, mà tôi cũng không chợp mắt được. Lâu quá rồi, tôi đã mất đi cái hạnh phúc được ngủ trưa từ ngày “Đế quốc Mỹ” sang Việt Nam. Họ thay đổi giờ làm việc của hành chánh nên ai ai cũng phải thức với người Mỹ. Tôi đành ngồi đọc tờ New Yorker cho qua giờ. Ông đại sứ Thi, sau khi ngủ trưa sang phòng gặp tôi. Ông mang theo một cái ghế để ngồi nói chuyện.

Ông mở đầu:

“Chẳng mấy khi chú có thể hỏi thăm đến má cháu. Má hồi nầy thế nào?”.

Tôi đáp:

“Sức khoẻ của má cháu tốt lắm, nhưng hoàn cảnh của ba má cháu thật éo le. Má cháu nhớ ba cháu và anh Khôi vô cùng. Nhưng má cháu biết rằng nếu bà về Việt Nam cũng sẽ gặp nhiều thử thách lắm”.

Tôi không hiểu sao tôi lại thành thật với ông. Có thể giác quan thứ sáu của tôi rất nhạy, khi tôi ngồi trước mặt người đàn ông nầy với vẻ mặt đầy thiện cảm. Ông nói:

“Đây là giữa chú Thi và cháu thôi nhé. Má cháu đã làm đúng, khi không trở về Việt Nam. Không đâu có thể bình yên bằng Hoa Kỳ được. Cho tới nay, người ta vẫn bất bình với má cháu và các cháu”.

“Có phải vì mấy chị em cháu lấy chồng người Mỹ không?”.

“Cả chuyện đó nữa, những đó chỉ là việc phụ”.

Dù ông không nói ra, nhưng tôi hiểu rằng việc má tôi bỏ Sài gòn chạy đi Mỹ trước khi quân giải phóng vô, đã khiến chánh phủ Việt Nam mất mặt.

Sau giờ ngủ trưa, ông đại sứ đưa tôi đi thăm trụ sở Liên Hiệp Quốc. Khi đi qua gian hàng bán các quà lưu niệm của nhiều nước, tôi buồn vô cùng, vì sản phẩm của các nước bày la liệt mà không có một món đồ nào của Việt Nam, ngoài mấy cái nón lá, búp bê mặc áo dài, đội nón lá, vài tấm tranh sơn mài nhỏ. Nếu nhà Thanh Lễ thấy tranh nầy, chắc động lòng mà bố thí cho họ tranh của Thành Lễ, may ra để đẹp mặt cho ngành sơn mài của Việt Nam. Tôi hỏi ông:

“Chừng nào thì nước mình có thể trở lại bình thường như trước hả chú?”.

Ông nhìn tôi, rồi vội quay mặt đi mà không trả lời.

Hôm sau, mọi người đi làm hết, nhưng khoảng 11 giờ, Phạm Ngạc trở về, và chúng tôi nói chuyện về cộng đồng người Việt ở Mỹ, những người tỵ nạn lẫn những kẻ thân Cộng. Anh đưa cho tôi một xấp hình của người tỵ nạn ở khắp mọi nơi trên nước Mỹ; hình người ta sắp hàng đi biểu tình chống Cộng; hình bà con đứng chờ ở các văn phòng bảo trợ tỵ nạn như USCC, IRC, v.v… Anh nhờ tôi cố gắng nhận diện những người nầy. Tôi nhìn hết hàng trăm tấm hình, nhìn để biết những người Cộng sản nầy len lỏi trong cộng đồng người Việt tỵ nạn sâu bao nhiêu. Hình do chính những người tỵ nạn và hội viên của Việt Kiều Yêu Nước chụp, cung cấp cho phái đoàn. Tôi hỏi Phạm Ngạc mục đích của công tác nầy, thì anh ta cho biết đây là “kho tàng” của họ, vì qua tấm hình nầy ở hải ngoại, họ sẽ tìm tới những người tỵ nạn đó, vì ai cũng có bà con thân nhân bên nhà. Hình sẽ được gửi về Việt Nam để điều tra ai có thân nhân ở Mỹ.

“Đây là một kho tàng của Bộ Nội Vụ của chúng tôi chị à!”. Tôi thầm chửi thề trong bụng: “Thằng Bắc Kỳ, nó là nhân viên của Bộ ngoại giao Hà Nội, đi chụp hình người tỵ nạn Cộng sản, đưa về cho ‘Bộ nội vụ của chúng tôi’”.

Tôi kiên nhẫn xem từng tấm hình mà trong bụng buồn, ngao ngán vô cùng, vì tôi biết đây rồi người tỵ nạn cũng bị chia rẽ phân hoá, sẽ nghi ngờ nhau. Kẻ hèn sẽ theo Việt Cộng. Người có trí tuệ sẽ đứng riêng biệt ra, rồi đánh nhau. Ông ngoại tôi đã phân tích hồi chúng tôi còn nhỏ. Ông nói: “Thằng Tây nó tốn xương, tốn máu làm chi cho uổng, để Việt Nam mình đánh nhau vài trăm năm là mất Việt Nam, rồi ung dung vô đây mà hưởng”.

Phạm Ngạc cho biết, ông có một người bạn làm cây cầu liên lạc cho phái đoàn ngoài giới hạn 25 dặm theo luật của Liên Hiệp Quốc. Nhân viên của phái đoàn trong Liên Hiệp Quốc không được hoạt động quá 25 dặm ngoài thành phố New York. Vì vậy, ông cần có người liên lạc ngoài giới hạn đó, kể cả những người trong hội “Việt Kiều Yêu Nước”. Ông khoe ông có một bà bạn người Mỹ. Ông cho biết:

“Bà ta rất tốt với chúng tôi. Bà không những là một người trí thức, mà còn có tinh thần phóng khoáng. Bạn của bà có nhiều người là triệu phú, trong đó có một ông là chủ nhiều tiệm bán quần áo đàn bà, trong hệ thống dây chuyền trên toàn quốc”.

Ngạc cầm một lá thơ, rồi hỏi tôi về Peter Arnett, phóng viên của hãng thông tấn AP. Ông nầy muốn được phép đi qua Việt Nam. Tôi cười mà cho ông biết rằng các nhà báo Mỹ, cũng như các chính khách Mỹ rất thích những đề tài không bình thường vậy. Vì nếu ký giả Arnett ủng hộ cuộc chiến tranh Việt Nam, thì độc giả phản chiến không thèm đọc. Tôi biết ông nầy đã từng ở Sài gòn mấy năm để lấy tin chiến tranh. Ngạc hỏi:

“Như vậy hắn phải biết rất rõ về Việt Nam, phải không?”.

Tôi trả lời ngay:

“Làm sao ổng có thể hiểu rõ về Việt Nam được, khi ổng qua Việt Nam cỡi ngựa xem hoa, đi giầy Tây, mặc đồ ký giả. Đa số đám ký giả Mỹ chỉ muốn tìm hiểu xem tiền người dân Mỹ được tiêu xài như thế nào, để đăng báo. Cũng có người muốn đề cập tới những nỗi đau khổ trong cuộc chiến. Cũng có những ký giả muốn cho người đọc của họ biết về cuộc chiến hấp dẫn kỳ lạ, những đau khổ mà người Việt Nam nghèo đói phải chịu đựng. Đa số dân Mỹ chỉ biết Việt Nam một cách hời hợt, qua mấy ông bà ký giả nầy. Nhiều người còn tưởng Việt Nam toàn rừng rú, đầy bệnh tật, ruồi muỗi, sình lầy, nơi nào cũng có mìn, cũng có bàn chông. Và họ nghĩ rằng dân Việt Nam đều là hành khất, rách rưới, đĩ điếm; con nít thì đánh giầy, đàn ông thì làm cò mồi cho Việt Cộng. Những nông dân thiệt thà, chất phác đều ở trong vùng giải phóng và tất cả là Việt Cộng, chỉ muốn được bình yên.

Rồi tôi kết luận:

“Anh không cần biết lập trường chánh trị của Peter Arnett, vì khi nhận được thẻ nhà báo, thì nó phải quên đi lập trường riêng của nó rồi”.

Ngạc nhận xét:

“Chị không ưa nhà báo, phải không?”.

o O o

Vào ngày thứ hai của cuộc viếng thăm, trong khi mọi người ngủ trưa, ông đại sứ Thi lại đến nói chuyện với tôi vì tôi không ngủ trưa. Tôi rất mừng được dịp nầy. Tôi muốn biết ông thật tình nghĩ gì về chánh phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và vị trí của ông trong chánh phủ đó. Tôi và ông Thi nói chuyện về những mơ ước thầm kín của chúng tôi về tương lai nước Việt Nam. Ông tâm sự:

“Chú đã sống xa vợ con cả nửa cuộc đời. Giấc mơ của chú là một căn nhà nho nhỏ có vườn để trồng rau và nuôi gà… và có thể nuôi cả heo nữa”.

Tôi hỏi:

“Chú thích ở đâu?

“Thủ Đức, cháu à. Chú đã đi nhiều nơi xem phong cảnh đẹp ở khắp miền Nam. Cuối cùng chú mê Thủ Đức vì con sông Đồng Nai. Bao giờ xây được căn nhà trong mộng tưởng ấy, chú có thể ngắm những con gà tranh nhau ăn. Các con chú buổi chiều tan sở của Sài gòn sẽ về nhà bằng những chiếc xe gắn máy mới và cùng chú ngắm mặt trời lên trên bờ sông ngay trước nhà”.

Ông say sưa nói với nụ cười trên môi, nhưng hai mắt đỏ hoe. Tôi cũng không giấu được tình cảm của tôi, nên tôi đặt tay tôi lên tay ông mà nói:

“Chú Thi, cháu hy vọng giấc mơ của chú sớm thành sự thật”.

“Chú cũng mong được như vậy trước khi quá trễ. Thím không được khoẻ, và chú đã xin phép chánh phủ cho thím sang bên nầy để tìm bác sĩ chữa trị cho thím”.

“Bao giờ thì thím sang?”.

Ông lắc đầu:

“Đơn của chú đã tới nơi cao nhứt trong chánh phủ rồi, nhưng chú chưa nhận được trả lời. Nước nào thì cũng có sai lầm trong hệ thống quản trị của một chánh phủ. Nhưng ở nước ta, điều tệ hại nhứt là không tin nhau. Vợ không bao giờ được đi theo chồng khi chồng công tác ở hải ngoại”.

Tôi nhận xét:

“Không riêng gì Việt Nam mình đâu, chú. Cháu thấy cả các nhà ngoại giao Nga lẫn các nước cộng sản đều như vậy”.

Ông cất tiếng cười, rồi hỏi:

“Cháu có hình dung được rằng một người ở trong địa vị của ba cháu, lại có thể bỏ trốn theo tư bản khi ba được cử làm việc ở nước ngoài, mà chánh phủ cho anh cháu đi theo không”.

Ông vừa cười vừa lắc đầu, như cho đó là một chuyện không bao giờ xảy ra, nhưng nhà nước của chú thì lúc nào cũng sợ bị phản bội.

Lời nói của ông khiến tôi nảy ra một ý nghĩ, nên liền hỏi ông:

“Má cháu có thể xin phép được gặp anh Khôi của cháu ở hải ngoại không chú?”.

“Cháu cứ thử nói với má cháu viết thư cho ông Tổng bí thư Lê Duẩn xem sao; chú sẽ chuyển thư giùm má cháu”.

Tôi buồn bã nói:

“Một người mẹ phải xa con trai tới hai mươi năm, đó là một thời gian dài quá chú à”.

Ông sốt sắng nói:

“Nếu chánh phủ ta không đáp ứng được một nhu cầu tầm thường như vậy, thì cũng không thể thực hiện được những giấc mơ của người dân trong nước. Cháu nói với má cháu là chú sẽ hết lòng giúp má cháu”.

Thực sự cảm động trước tấm lòng của ông, tôi nói:

“Bây giờ thì cháu hiểu tại sao những người cháu gặp ở Paris đều khen chú là một người đặc biệt, có tình, không như những người khác trong họ ngoại giao.

Nhưng ông nói như để cảnh cáo tôi:

“Cháu đừng có nghi ngờ lòng trung thành của chú với đất nước Việt Nam và con đường chú đã chọn để phục vụ tổ quốc. Nhưng, chủ nghĩa xã hội hay cộng sản đều không ngăn cấm chúng ta đem hạnh phúc lại cho dân tộc, và đưa tổ quốc tới một tương lai rực rỡ. Chú đã thoát ly gia đình để phục vụ tổ quốc. Nay, nếu sự hy sinh đó không đem lại hạnh phúc cho dân tộc, thì chắc chắn phải có sự sai lầm nào trong hệ thống mà chú đang phục vụ”.

Tôi nói:

“Chú Phan Thanh Nam giải thích về đảng khác với chú”.

“Cháu nói Nam trong phái đoàn của Mặt Trận Giải phóng ở Paris?”.

“Dạ”.

Chú Thi lắc đầu tỏ vẻ chán nản, nói:

“Chú Nam cũng là người miền Nam. Loại người theo khuôn khổ, kỷ luật, không cấp tiến trong quân đội. Chú ấy vừa được chuyển sang công tác mới nên hăng hái lắm!”.

“Cháu đã có dịp nói chuyện với chú Nam chung quanh việc “làm cái gì cho Việt Nam”. Có hai lần ông đề nghị cháu kêu chồng cháu ăn cắp những tài liệu giá trị của chánh phủ Mỹ. Ông còn nói là nếu cháu còn muốn gặp ba cháu nữa, thì cháu phải chứng tỏ cháu trung thành với Việt Nam. Chú Nam hứa sẽ báo cáo cấp trên ở Việt Nam là cháu đang làm việc cho chú ấy”.

Vẻ mặt bình tĩnh của đại sứ Thi biến mất. Ông hít một hơi dài rồi nói:

“Có thể má cháu biết ông Đỗ Mười, những chú chắc cháu thì không, vì hồi đó cháu còn nhỏ quá. Ông Đỗ Mười là bạn chí thân của ba cháu. Chú tin rằng ông không bằng lòng khi biết cháu liên lạc với Phan Thanh Nam”.

Ông nói tiếp:

“Mỹ Dung, nghe chú nói đây. Cháu là con gái của ba cháu. Việt Nam là quê hương của cháu. Cháu không cần phải làm việc cho chú Nam để được cấp giấy thông hành về Việt Nam. Nếu chú ấy lại nhắc đến chuyện đó nữa, cho chú biết ngay. Chú Nam làm việc giỏi, nhưng đôi lúc cũng tàn nhẫn lắm”.

Tôi thay đổi đề tài, để tìm hiểu thêm về những liên lạc của ông trong giới người Việt ở Mỹ:

“Chú đã gặp anh Trương Đình Hùng ở Washington chưa?”.

“Hùng và bạn của anh ta là chị Thoa, là hai người đã tiếp đón chú khi chú tới Washington. Có việc gì vậy?”.

“Cháu nghĩ anh Hùng hiện đang hoạt động cho chú Phan Thanh Nam. Thỉnh thoảng cháu có gặp anh ấy”.

Tôi định nói, Thoa thì không còn được Hà Nội trọng dụng như trước nữa, vì đối với Cộng sản Hà Nội, chị chỉ là dụng cụ “chống Mỹ cứu nước”, chớ không phải là người được theo Cộng sản. Khi còn chiến tranh, Mặt Trận Giải Phóng và Cộng sản Bắc Việt len lỏi lợi dụng tất cả mọi người, tất cả các hội đoàn, đảng phái chánh trị, sinh viên, Phật giáo, Công giáo hay bất cứ ai. Bây giờ chiến tranh đã chấm dứt và họ đã thắng trận; họ thanh lọc để chỉ còn bè phái băng đảng của họ thôi. Chị Thoa là một nhân vật quan trọng trong phong trào phản chiến, nhưng bây giờ Hà Nội chỉ thích loại người như ông Lũy, đứng đầu hội Việt Kiều Yêu Nước. Lũy có tiền, có sự nghiệp, có nhà ngoài bờ biển San Francisco. Ông từng là điệp viên của Cộng sản từ thập niên 1950. Thoa tận tuỵ “chống Mỹ cứu nước” với hai bàn tay trắng và tấm lòng. Những quý giá nầy không xây được nhà lầu, không tạo nên sự nghiệp, thì hết chiến tranh rồi, nó trở thành vô dụng, vô duyên trước mắt Cộng sản. Lũy và Thoa đã từng tranh chấp quyền hành và Thoa đã thua. Anh Đồng ở Paris khuyên chị nên gia nhập tổ chức của ông Lũy như một đoàn viên mới. Đã vậy, anh còn viết thơ cho tôi, nhờ tôi khuyên chị Thoa nên đi học lại để xây dựng một cuộc đời mới. Đó cũng là một hình thức chia tay nhân đạo của người Cộng sản.

Ông đại sứ Thi nói bằng một giọng trầm tĩnh:

“Chú biết Hùng. Anh ta là người có nhiều tham vọng và sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì để đạt tới mục đích của anh. Hùng là người tình nguyện hợp tác với cơ quan của chú. Cháu không cần phải làm gì hết, nếu cháu không muốn. Khi nào cháu gặp Hùng thì biểu hắn cứ tiếp tục gởi những thứ đó lên trên nầy”.

Tôi hỏi:

“Liệu anh có hiểu “những thứ đó” là cái gì không?”.

Ông Thi nhìn tôi mỉm cười gật đầu. Tôi để yên câu hỏi đó cho thời gian trả lời.

Ngày cuối cùng ở New York, tôi mời ông đi ăn tối và đi xem vũ Ballet, vì hai ngày trước tôi nghe ông Thi nhắc vũ Ballet ở Pháp, và ông rất thích môn giải trí nầy. Dù tôi không thích, nhưng cũng nhận lời. Tôi gọi cho một tiệm ăn Pháp để giữ chỗ. Tôi biết, tôi có thể mua vé xem vũ Ballet qua điện thoại, nhưng tôi muốn có dịp đi ra ngoài, để kêu cho văn phòng FBI ở New York, báo cho họ biết chương trình tối nay của tôi. Vì vậy, tôi nói với Thi, tôi phải đi lấy vé.

Nhưng khi tôi đã sắp sửa ra đi, ông đại sứ tới phòng tôi cho biết ông rất lấy làm tiếc không thể đi ăn tôi và xem vũ Ballet với tôi được. Ông nói:

“Ông Dương nghĩ rằng chú cháu mình không nên đi riêng một mình tối nay”.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

“Tại sao lại không thể đi được chú Thi? Tiệm ăn nầy đâu có vượt quá hạn đã định?”.

Ông đáp:

“Tụi CIA và FBI sẽ chụp hình chúng ta, rồi báo chí đồn ầm lên rằng đại sứ Đinh Bá Thi đi ăn, đi uống với một người đàn bà Việt Nam ở New York”.

Vừa nói, ông vừa đưa một tờ báo lên cao, chỉ vô hàng tít lớn. Tôi liền đề nghị:

“Thế thì tất cả mọi người cùng đi cho vui”.

Ông đáp ngay:

“Như vậy thì tốn nhiều tiền lắm. Không nên”.

Ông đề nghị, ông Hùng và tôi đi xuống phố Tàu để mua thức ăn về nhà làm cơm ăn chung với tất cả mọi người. Thế là ông đầu bếp và tôi cùng đi với ông tài xế Văn. Tôi nhờ ông Hùng chọn mua những thứ để làm những món ăn mà ông Thi ưa thích. Ngoài ra, tôi cũng đề nghị ông mua những thức ăn khô cần thiết để dự trữ như nấm đông cô, gạo, mì, bún, bánh tráng, nước mắm, tất cả những đồ gia vị. Ông Hùng ngần ngại, những tôi nói tôi sẽ trả tiền.

Cuộc sống của phái đoàn ở thành phố New York nhộn nhịp nầy thu gọn trong cái nhà cao ốc, mọi người bảo vệ nhau, gìn giữ nhau, kiểm soát nhau. Tôi có cảm tưởng như họ không bỏ được những thói quen ở Hà Nội; hay là họ không được tự do để thích ứng với đời sống ở một xã hội tự do.

Đại sứ Thi nói, ngân khoản của phái đoàn rất eo hẹp; vì vậy cho nên mọi người nhịn ăn sáng. Còn bữa trưa và tối thì quá nghèo nàn, nhưng theo ông, vẫn đủ chất bổ dưỡng.

Nếu có ai yêu cầu tôi sáng tác một bản nhạc mô tả bầu không khí sinh hoạt trong căn nhà của năm người đàn ông nầy đang sống, tôi sẽ gom góp lại tất cả những âm thanh của ba máy truyền hình và ba cái radio cùng mở một lúc liên tục cả ngày, cộng với đó tiếng rào rạt của mấy tờ báo được lật qua lật lại trong nhà. Đó là âm thanh của căn nhà ấy.

Thời gian hấp dẫn nhứt đối với họ, là giờ tin tức sáng, trưa, tối. Đổi đài radio và TV theo giờ; giờ tin tức là công tác quan trọng của mấy ông Hùng, Văn và Phạm Ngạc. Họ thu vô băng cả những tin tức, rồi chuyển về nước.

Họ không có thì giờ để giải trí. Trong nhà không có một bộ bài, hay một bàn cờ tướng. Ông Thi giải thích:

“Những thứ giải trí ấy là xa xỉ. Chúng tôi phải làm việc vì chánh phủ gởi chúng tôi sang đây để làm việc”.

Hầu như không bao giờ họ ra khỏi trụ sở của phái đoàn, ngoài việc đi từ nhà đến trụ sở Liền Hiệp Quốc, đi phố Tàu mua sắm. Vì vậy, những nhận xét của họ về nước Mỹ được gởi Việt Nam chỉ là những nhận xét bị đóng khung trong một căn nhà nhỏ hẹp, với những kỷ luật khắt khe. Họ xét đoán “đế quốc Mỹ” theo những gì họ thấy trong truyền hình. Họ đã làm đúng theo cương vị của các nhân viên trong một phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Tôi nhớ, năm 1954, khi hoà ước Geneve đẻ ra Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến ở Việt Nam, ông ngoại tôi đã nhận xét: “Tụi nầy chỉ làm được một chuyện, là cho giá mướn nhà và tiền mướn đầy tớ ở Sài gòn tăng vọt lên thôi”. Còn ông cậu tôi thì cho rằng: “Đám Uỷ hội nầy không làm được đách gì hết”.

Dù tôi không có ý nghĩ hay ho nào về phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc, nhưng tôi vẫn kính phục đại sứ Đinh Bá Thi. Trước khi được nói chuyện riêng với ông, tôi đã cố gắng tìm hiểu ông, để xem có thể vạch đường cho ông đào thoát không? Nhưng sau buổi nói chuyện đó, tôi cảm thấy mắc cỡ với chính tôi, vì đã có ý nghĩ đó. Tôi biết chắc rằng, với bất cứ giá nào, không ai có thể mua chuộc được ông, cũng như không ai mua chuộc được ba tôi. Vì vậy, tôi thành thực cầu chúc ông thực hiện được giấc mộng của ông, là xây dựng một căn nhà ở Thủ Đức, bên bờ sông Đồng Nai, để sống yên ổn với gia đình. Ông nhận lời chúc mừng, với một nụ cười trong mắt ông.

Nhưng, khi ông trở về Việt Nam, thì những ngày cuối cùng của ông khác với giấc mộng ông hằng ấp ủ.

Đã mười năm nay, đã có nhiều giai thoại về đại sứ Đinh Bá Thi. Tôi chỉ biết chắc chắn một điều về ông, là ông đúng là một nhà ái quốc như ba tôi. Chỉ khác hơn ba tôi, là ông dám phê bình đảng. Chỉ có người ra lịnh giết ông mới biết nguyên do cái chết của ông thôi.

o O o

Từ ngày tôi làm việc cho CIA, đã nhiều lần Rob muốn tôi trắc nghiệm với máy dò sự thật. Tôi không hiểu tại sao ông ta muốn vậy. Tôi không nghĩ rằng CIA có một chút nghi ngờ gì về tôi. Họ biết rõ tôi là ai, và tại sao tôi cộng tác với họ. Ngoài ra, tôi không tin cái máy với những dây điện tử có thể hiểu rõ tôi hơn nhân viên chỉ huy tôi, vì ông đã cùng đi xa với tôi nhiều lần, làm việc sát cánh với tôi, rồi cùng thảo luận với nhau hàng trăm tiếng đồng hồ trong nhiều trường hợp. Rob luôn luôn nói với tôi rằng điều đó có thể làm cho sự liên lạc giữa ông và tôi dễ dàng hơn, nhưng nếu tôi không muốn làm trắc nghiệm cũng không sao. Tôi thì cực lực phản đối cách thức tìm hiểu sự trung thực của một cộng tác viên theo phương pháp đó.

Nhưng rồi việc phải đến đã đến. Việc thử máy nói thật trở nên bắt buộc khi tôi từ New York trở về với những bản báo cáo cuộc viếng thăm đại sứ Đinh Bá Thi của tôi. Rob nói rõ phải thử máy nói thật, nếu không thì không ai có thể chấp sự kiện tôi thản nhiên ca ngợi “kẻ thù” như vậy. Theo tôi, các cơ quan tình báo không sao hiểu được rằng tôi có thể tách rời con người ra khỏi ý thức hệ và chánh phủ của họ.

Vài ngày sau khi tôi từ New York về, Rob và tôi ăn trưa với Bill Fleshman để thảo luận về bản báo cáo của tôi cho FBI. Bill thì nghĩ khác. Theo anh, những nhận xét trung thực của tôi với đại sứ Đinh Bá Thi giúp cho tình báo Mỹ biết cá tánh của ông đại sứ và từng người trong phái đoàn. Nhưng, ngay sau khi Bill vừa đi khỏi bãi đậu xe, Rob đã nhắc tới việc thứ máy nói thiệt. Ông nói: “Hàng năm tôi phải làm cái việc nầy một lần” với ngụ ý rằng tôi không thể ra ngoài lệ thường.

Tôi giận dữ nói một cách bướng bỉnh:

“Một năm anh làm hai lần cũng kệ anh, không mắc mớ gì tới tôi. Tôi biết tôi, nhưng có thể anh không biết anh; thì với anh, việc làm trắc nghiệm cho chắc, là phải”.

Khi tôi đã vô ngồi trong xe, Rob còn giữ cửa mở, nói:

“Nè nhỏ, hãy biết điều một chút! Tôi muốn cô coi việc nầy một cách nghiêm chỉnh hơn. Với loại tin tức như của cô, ngay cả ông lớn nhứt trong “công ty” cũng phải thử máy nói thiệt”.

Tôi vẫn không chịu, nói lớn:

“Dù có cả chục ngàn người làm như vậy, cũng không có nghĩa là điều đó đúng”.

Trong đời tôi, tôi chưa nhìn thấy có bộ mặt nào để lộ nỗi thất vọng to lớn bằng một ông Rob lúc nầy.

Nhưng chuyện nầy không dễ dàng bỏ qua. Sau nhiều tuần cãi cọ, tôi bắt đầu phải nhượng bộ. Tôi nghĩ rằng đây là cái lệ bắt buộc của sở; đến ngay ông xếp lớn và các nhân viên trong sở đều phải làm, thì tôi cũng phải tuân theo cho đúng lề luật. Tôi nói với Rob:

“Thôi được, nếu cần, ông cứ nói chuyên viên lấy dây mà trói tôi lại”.

Nghe tôi nói vậy, Rob tỏ vẻ mừng như muốn nhảy một vòng tango.

Nhưng nói cho ngay, trắc nghiệm cũng không có gì là ghê đối với tôi hay với các nhân viên CIA dù tôi đã làm cho họ hoảng sợ. Trong các câu hỏi ngớ ngẩn, có một câu đáng chú ý là: “Ngoài CIA, tôi còn làm việc cho cơ quan tình báo hay tổ chức phản gián khác không?”. Tôi trả lời: “Có!”. Thế là Rob và nhân viên điều khiển máy cũng hoảng sợ.

Tôi phì cười, nói tiếp: “Tôi còn làm việc cho FBI nữa!”

Nhìn vẻ mặt hai người, tôi không rõ họ có coi FBI là cơ quan bạn hay không. Nhưng hai người nhìn nhau thở phào nhẹ nhõm. Chuyên viên đặt lại câu hỏi:

“Ngoài CIA và FBI, cô còn làm việc cho cơ quan tình báo hay tổ chức nào không?”.

Tôi đáp ngay:

“Không, tôi không làm việc cho ai hết”.

Rồi từ đó, CIA không còn nghi tôi vừa làm việc cho họ vừa lén lút hoạt động cho nhóm khác, như KGB hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cũng như cho chánh phủ Hà Nội. Có thể họ đã biết như vậy từ trước, nhưng họ vẫn muốn bắt tôi phải làm trắc nghiệm cho chắc.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 37

Cửa sổ phòng khách sạn Sheraton của tôi trông ra nghĩa trang Montparnasse. Sau khi tắm cho sạch hết những dơ bẩn của toà đại sứ, tôi đứng bên cửa sổ, đem tâm trở về với cái thân mệt mỏi nầy. Một ý nghĩ vui vui hiện lên trong óc tôi. Trong nghĩa địa kia có người lính nào tử trận Điện Biên Phủ nằm không? Nghĩ đến cuộc chiến tranh của thực dân Pháp trên quê hương, tôi lại ghét thằng Tây nhiều nữa. Ác cảm của tôi với nước Pháp mỗi ngày một tăng, trong thời gian tôi ở đây. Cho tới cái tay vịn cầu thang bằng đồng cũng làm tôi nhỏ đến đạn đồng, bom đạn mà quân đội viễn chinh Pháp trút lên quê hương tôi.

Tôi lắc đầu để cố quên đi dĩ vãng, rồi đi ăn trưa và nghiên cứu bản đồ xe điện ngầm, tìm đường tới biệt thự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thăm ba má tôi. Khi ra khỏi trạm xe điện ở vùng ngoài ô Paris, tôi mở cửa một xe Taxi, đưa cho tài xế địa chỉ của biệt thự tại 49 đường Cambaceres.

Ông tài xế liền hỏi tôi:

“Bà định đến cơ quan của Việt cộng?”.

Khi tôi xác nhận bằng tiếng Anh, ông ta hỏi tôi có biết Pháp không. Tôi phải thú thật là tôi không biết. Ông bèn vén tay áo thun lên để cho tôi thấy hai chữ “Việt Nam” xâm trên vai. Ông cũng cho biết ông đã từng ở Việt Nam năm 1952 và 1953

Advertisement

Tôi hỏi ông có biết tiếng Anh không thì ông lấy tay ra hiệu “Biết chút chút”. Tôi liền hỏi:

“À, Việt Minh đuổi ông xuống tầu?”.

“Bà là Việt cộng?”.

“Không, tôi là người Quốc Gia”.

Ông vui vẻ nói:

“Tốt! Tốt!”.

Rồi ông bắt đầu cho xe chạy. Khi đến nơi, ông cựu lính viễn chinh không chịu thối tiền cho tôi, viện cớ không có tiền lẻ. Tôi tức giận định la ông, thì chợt trông thấy ba má tôi đứng trên bao lơn biệt thự nhìn xuống. Cảnh êm đềm hiếm có ấy làm tôi nguôi giận. Tôi vội vàng mở của xe bước ra.

Má tôi đi vào phòng. Cảnh nầy làm tôi nhớ lại thời chúng tôi ở tầng lầu hai, chung cư trên đường Nguyễn Văn Sâm, Sài Gòn. Má tôi thường đứng trên bao lơn đợi chúng tôi đi làm về. Khi thấy bóng chúng tôi, bà vội vào nhà để mở cửa cho con.

Một ông già, hình như là một người giúp việc, đón tôi ở cửa, và nói bằng một giọng chân tình:

“Rất vui mừng được đón tiếp cô ở đây”.

Tôi chắp tay, cúi đầu chào ông theo kiểu Việt Nam. Ông cũng cúi khom lưng để đáp lễ. Tôi kêu ông bằng “ông Các”. Nhưng sau đó ba tôi dặn tôi kêu là “bác Các” cho thân mật.

Trời tháng 9 của Paris có thể dễ chịu với người Pháp, nhưng lại lạnh đối với một người Việt Nam như má tôi. Bà đã quen khí hậu nóng ở Việt Nam và Hawaii. Bà đứng cạnh một bồn bông súng, mặc cái áo len dầy và trùm kín đầu bằng một khăn quàng màu đỏ. Trong khi đó, ba tôi chỉ mặc một chiếc áo sơ mi tay dài. Bác Các đưa chúng tôi vào một phòng khách và mang trà nóng ra. Sau đó, bác xuống nhà bếp để sửa soạn bữa ăn tối cho chúng tôi. Bác cho biết đây là một dịp đặc biệt, nên bác tự tay nấu nướng, dù bác nấu cũng không ngon lắm. Để tăng cường cho bác, sứ quán gọi hai người đàn bà tới phụ. Họ là hội viên của Việt Kiều Yêu Nước.

Sau khi bác ra khỏi phòng, má tôi và tôi nhìn nhau, không nói một lời, nhưng đều có ý không thích những người nầy ở gần chúng tôi. Má tôi chỉ muốn được ở bên ba tôi mà không bị ai nhòm ngó, rình rập. Má tôi muốn tìm hiểu ba tôi hơn, sau hai mươi năm xa cách. Má tôi cũng muốn biết ba tôi nghĩ gì về cuộc “giải phóng” tại quê nhà.

Lợi dụng khi ba tôi ra khỏi phòng mấy phút, tôi hỏi má tôi thấy thế nào khi được gặp lại ba tôi. Má tôi khóc, bà nói:

“Má muốn cho con biết để con yên lòng, là ba con muốn má về Việt Nam với ba. Còn họ, tụi Nga muốn má về, nên đã làm ầm ĩ chuyện nầy để tuyên truyền. Ba con chưa dám nói thiệt với má, nhưng má đã biết hết rồi”.

Tôi xác nhận:

“Má à, con nói chuyện với chú Nam, thì ra ý đồ của họ là như vậy. Con không quan tâm về chuyện tuyên truyền của họ; con chỉ muốn biết, khi má trở về Việt Nam, mà có được ăn toàn không?

Má tôi nghẹn ngào nói:

“Thằng John đã liều mạng, không kể hiểm nguy cho nghề nghiệp, để cứu má và hai đứa nhỏ. Không có một lý do nào, mà má phụ hết công lao do của vợ chồng con”.

Tôi vội lắc đầu lia lịa, nói:

“Đó là bổn phận của tụi con trong giờ phút đó. Quên công lao đó đi. Đó là chuyện quá khứ. Con nói chuyện bây giờ nè. Má về Việt Nam với ba không?

Bà chưa kịp trả lời thì ba tôi trở vào phòng. Ông ngỏ ý muốn đưa tôi đi xem quanh nhà, mà ông kêu là “biệt thự lịch sử”. Ông tỏ ra hãnh diện về ngôi nhà nầy. Thật ra thì cũng đáng hãnh diện vì đây là nơi trú ngụ của các lãnh tụ nổi tiếng trong khi dự hoà đàm Paris. Đó là ông Lê Đức Thọ và bà Nguyễn Thị Bình và nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa. Cũng chẳng có gì nhiều để coi vì nhà đang sửa lại, đồ đạc chất đống trong một căn phòng Nhưng tôi phải tỏ ra thích thú và thán phục khi đi vòng quanh nhà, cho ba tôi vui.

Ngay cả khi chúng tôi nói chuyện về ngôi nhà, tôi thấy ba má tôi có vẻ buồn trong ánh mắt. Tôi thấy mình bất lực. Dù sao tôi cũng là người ngoài cuộc: chỉ có ba má tôi mới giải quyết chuyện riêng của hai người. Khi chúng tôi còn sống ở Sài Gòn chị em tôi thường kêu tôi là người có “ba đầu sáu tay”, vì tôi có khả năng giải quyết nhiều chuyện khó khăn trong gia đình. Bây giờ mà có 6 đầu 18 tay cũng bất lực, vì đây là chuyện chỉ có thể giải quyết giữa hai trái tim.

Ba tôi vui lắm bên vợ con, dù hoàn cảnh quá mong manh:

“Ba à, con mơ ước ngày đoàn tụ của mình lâu quá rồi!

Ba tôi vui vẻ nói:

“Ba phải công nhận rằng con rất có công trong việc nầy. Con đã thu xếp cho má sang đây với ba, ngồi cùng một phòng nói chuyện với ba.

Má tôi nói:

“Con không thể nào chạy nửa vòng trái đất để được gặp ba con vài ngày, vài tuần, sau lưng đảng của ba con. Tới lúc con phải hiểu, những điều kiện nào hai cha con mới được gặp nhau?”.

Trời ơi, má tôi đi guốc trong bụng Cộng Sản, mới hiểu mà thắc mắc vấn đề nầy. Chắc má tôi nghĩ rằng, tôi đã phải tuân theo những điều kiện của Cộng Sản, để được gặp ba tôi. Ba tôi nhắc nhở má tôi:

“Chuyện riêng tư thì từ từ giải quyết!”.

Má tôi có giọng bất mãn:

“Ở Nhựt, ông đã không dám cho “đồng chí” của ông biết nó là con gái ông. Tôi không thích như vậy!”.

Tôi nháy mắt ra dấu cho má tôi hay giữ bình tĩnh, và đừng vì tôi mà trách móc ba tôi. Thật ra, hồi ở Nhựt tôi đau lắm, nhưng tôi cho rằng đó là điều cần thiết, để ba tôi giữ uy tín với các cán bộ Cộng Sản, khi được chút tự do ra khỏi nước. Nếu Cộng Sản biết được rằng các con của ba tôi hiện sống ở Mỹ, vẫn tìm cách liên lạc với ông, thì chắc chắn họ sẽ không cho ông được hưởng chút tự do nào nữa.

Bữa ăn tối rất ngon, với nhiều món đặc biệt và thuần tuý Việt Nam. Tôi ăn như người bị đói, đến nỗi ba má tôi hỏi tôi có ăn trưa không?

Khi bác Các và hai người đàn bà dọn cơm xong, họ đóng cửa đi xuống nhà bếp; chúng tôi nói chuyện gia đình, nhắc tới những ngày xa xưa. Ba má tôi nói tới con cái, cả những tánh tốt lẫn điều xấu. Khi má tôi khen tôi – rất hiếm khi tôi được khen như vậy – bà cho biết các con đã tận tình săn sóc bà. Khi phê bình tôi, bà nói:

“Con nhỏ nầy làm tôi bạc đầu, cho tới khi nó đi lấy chồng. Nó đúng là con gái của anh”.

Ba tôi cười và khen má tôi đã dạy dỗ chúng tôi nên người. Khi ba tôi nói tới Hoà Bình thì hai mắt của ông sáng lên. Ông vừa nói vừa nhìn tôi:

“Ba nhớ Hoà Bình… hồi ở Kim Qui trời đẹp, mình hay ăn bên ngoài cái sân nước trước nhà. Nó cứ nhảy xuống sông, con mau mau nhảy theo vớt nó; ngày nào nó cũng làm vậy, và lần nào con cũng nhanh nhẹn nhảy theo vớt nó lên. Ba nhớ con chó của mình, nó hay nằm giữ Hoà Bình lắm”.

Tôi hỏi:

“Ba có nhớ có lần ba làm thử nước mắm không?”.

Ba tôi chưa kịp nói gì, thì má tôi đã xen vô:

“Tôi khổ vì hai cái thùng nước mắm thúi quắc đó”.

Chúng tôi cười phá lên vui vẻ. Sau đó, ba tôi hỏi má tôi làm gì hai thùng nước măm của ông? Bà đáp:

“Anh không tin đâu, có một gia đình tới hỏi mua hai thùng nước mắm đó. Chắc họ muốn nuôi ruồi sau hè”.

Ba tôi vui vẻ nói:

“Nước mắm của anh làm ngon hơn nước mắm em mua ngoài tiệm”.

“Đúng!”. Má tôi vừa cười vừa nói bằng một giọng trêu ba tôi “Tằm của anh nuôi kéo nhiều tơ hơn tằm của người ta. Còn con của anh thì khôn hơn con của người ta vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dưa leo anh trồng lớn hơn dưa leo của anh Mười Cừ. Mía của anh cũng ngọt hơn mía của người khác trồng”.

Ước gì có chị em cũng chia sẻ những giây phút thần tiên đó.

Hôm đó, có một người đàn ông ghé qua villa trong Verrieres-la-Buisson gặp ba tôi. Trong khi người tài xế của ông ngồi đợi trong xe, ông và ba tôi vào phòng khách để nói chuyện. Vì phòng nầy đang được sửa sang, nên không có bàn ghế gì hết, hai người phải đứng bên cửa sổ thì thầm.

Má tôi về phòng nằm nghỉ. Nhận lúc vắng vẻ, tôi lên lầu hai để xem xét, thăm dò. Trong một văn phòng sát phòng ngủ của ba má tôi, tôi thấy có nhiều ngăn đựng giấy tờ, có cả những ngăn chứa toàn hồ sơ cũ, giấy đã ngả sang mầu vàng. Tôi vuốt nhẹ tay những tờ giấy vàng đó, và nghĩ rằng những hồ sơ nầy có nhiều giá trị đối với chánh phủ Hoa Kỳ, mà tôi nên đọc qua, hoặc định chụp hình để đưa cho Rob. Nhưng phòng nầy không đủ ánh sáng nên máy hình của tôi không chụp được. Tôi đóng cửa phòng rồi bắt đầu quan sát. Tôi không dám bật đèn, vì sợ người tài xế xe Mercedes từ dưới nhìn lên có thể thấy rõ. Tôi mở một ngăn và đọc sơ qua một vài trang giấy, thì mới biết cái bàn giấy nầy là của bà Nguyễn Thi Bình, bộ trưởng ngoại giao của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam . Tôi kéo ghế ngồi xuống. Tôi đọc lướt qua một vài tờ giấy nữa, rồi cảm thấy mắc cỡ vì bà ta cũng là một phụ nữ Việt Nam, mà lại phục vụ cho một tà đạo.

Trong ngăn kéo, có một lá thơ của một người đàn bà Mỹ chúc bà Bình gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp trong hội nghị hoà đàm Paris. Người đàn bà nầy ca tụng bà Bình là một con người có bản chất yêu chuộng hoà bình. Đoạn cuối của bức thơ, ba yêu cầu bà Bình và chánh phủ Hà Nội cũng như chánh phủ lâm thời miền Nam hãy thả các tù binh Mỹ. Bà cho biết, cháu bà đã bị ép buộc phải chiến đấu cho chánh phủ bù nhìn Nam Việt Nam và đã bị bắt làm tù binh.

Bà Bình đã phê vô cuối lá thư: “Bà nầy điên khùng quá, không trả lời”.

Lá thơ thứ hai của bà mẹ một anh lính trẻ đang chiến đấu ở Việt Nam. Bà tự nhận là một người “phản chiến”. Bà khẩn khoản xin bà Bình và Chánh phủ Hà Nội cố gắng chấm dứt chiến tranh, và hỏi bà có thể làm gì, để giúp Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sớm chấm dứt chiến tranh.

Tôi tin rằng em trai tôi sẽ không bao giờ cho phép má tôi đi van xin kẻ thù chấm dứt chiến tranh, để nó được về nhà với má.

Bà Bình viết vào lá thơ cho thơ ký trả lời: “Bà nầy có thể khuyên con trai đòi bồi thường khi nó về Mỹ, nhưng đừng viết vào thư trả lời. Bảo bà ấy hãy vận động và liên kết với hàng xóm giềng, chống chính sách của chính phủ về chiến tranh tại Việt Nam. Đồng ý với bà ấy là con bà phải được ở cạnh bà, chớ không phải ở Việt Nam”.

Lá thơ thứ ba của một cô gái Mỹ, bầy tỏ lòng ngưỡng mộ bà Bình và “những cố gắng của bà để tiến tới hoà bình trên tổ quốc của bà. Tôi hổ thẹn làm công dân Mỹ trong giai đoạn nầy, vì Việt Nam là nước duy nhứt bầy tỏ lòng yêu chuộng hoà bình”. Lá thơ còn tỏ ra thiếu dè dặt khi cô gái viết: “Tôi mong rằng nhờ bà và dân tộc Việt Nam mà chúng tôi có thể thấy lại được ánh sáng cho nước tôi, sau những ngày đen tối. Hơn thế nữa nước Mỹ hiểu rằng, dù là một cường quốc cũng phải tôn trọng hoà bình”.

Bà Bình viết cho thơ ký: “Tiếp tục gửi tài liệu cho cô gái nầy và cho người của chúng ta tiếp xúc với cô ấy. Đây là một nhân vật có thể xài được”.

Tôi định đọc tiếp, thì nghe tiếng ba tôi kêu. Tôi ngó qua lỗ khoá, thấy ông đang đứng giữa nhà nhìn dáo dác tìm tôi. Tôi mở cửa, lẻn ra, và rón rén bước xuống cầu thang ra vườn, rồi mới vào nhà trở lại; tránh cho ba tôi thấy tôi trở ra từ văn phòng bà Bình.

Tôi ghẹo ba tôi:

“Việt cộng gian ác tới gặp ba chi vậy?”.

Ba tôi cười nụ cười héo hắt, trả lời:

“Đó là nhân viên toà đại sứ đến lấy giấy tờ của má để xin chiếu khán cho má về Việt Nam, qua ngả Mạc Tư Khoa”.

Tôi không hiểu ba tôi có biết tôi cất giấy tờ của má tôi trong tủ sắt trong khách sạn không? Ba tôi cho nhân viên toà đại sứ biết rằng, má tôi còn cần suy nghĩ thêm một thời gian nữa. Tôi thấy đây là một chuyện rất khó khăn cho ba má tôi, khi phải chạm mặt với thực tế. Nó có thể làm tan vỡ ảo tưởng về sự sum họp tại ngôi biệt thự nầy. Ba tôi có vẻ lo lắng trong khi má tôi lại tỏ ra chán nản. Tôi nhìn bà, định nói một câu gì, nhưng bà đã lên tiếng trước:

“Tui không thích bị dồn vô cái thế nầy… đừng có để ai ép buộc tui”.

“Ai ép má?”. Tôi hỏi.

Ba tôi liền đi ra khỏi phòng, mà không nói một lời nào. Tôi im lặng nhìn theo ba tôi, rồi đến ngồi lên mép giường má đang nằm. Bà nói:

“Họ tới cho ba con biết họ đã giữ chỗ cho ba má trên chuyến bay đi Mạc Tư Khoa, rồi về Hà Nội vào cuối tuần nầy”.

Tại sao người ta lại sắp xếp ngày giờ cho ba má tôi đi? Hai người muốn đi chừng nào thì cho họ biết, chớ tại sao họ lại cho ba má tôi biết chừng nào phải đi theo chỉ thị của họ? Hồi đó tới giờ, chưa có ai biểu má tôi đi thì đi, ở thì ở bao giờ.

Chuyện nầy làm tôi nhớ lại một câu chuyện cổ tích đọc hồi nhỏ. Người ta tin có thiên đàng và địa ngục. Sứ giả của địa ngục là bọn quỷ sứ thường đi đón người sắp chết để về “dưới đó”. Một hôm, quỷ sứ đến gặp một bà già đang bịnh nặng: “Mời bà đi. Đã đến lượt bà rồi”. Bà già cố ngồi gượng dậy và quát lớn: “Cút đi! Đến lượt nhà ngươi chớ không phải của ta,. Ta đợi con trai của ta còn đi đánh giặc chưa về. Con của ta sẽ trở về sau cuộc chiến tranh để lấy vợ và sanh cho ta lũ cháu nội!”.

Ba tôi để hai mẹ con tôi ngồi nói chuyện, rồi lên giường nằm ngủ.

Lại sợ “vách có tai”, nên má nắm tay tôi dẫn ra ngoài sân nói chuyện.

Bà kể, bà đã hỏi ba tôi nửa đùa nửa thật:

“Khi tôi về bên nhà, tụi “cán ngố” nó làm gì tôi hả anh?”.

Ba tôi nhăn mặt:

“Sao em dùng danh từ không hay chi vậy em?”.

“Thì người người trong Nam của tui nói sao, tui nói vậy!”.

“Anh nợ em nhiều lắm, không làm sao trả hết, vì vậy, anh phải nói thật với em để sau nầy em không trách anh. Em về, các anh sẽ mời em lên nói chuyện. Có thể em sẽ đi họp vài ngày rồi thôi, em về với anh”.

Má tôi nói lại rằng bà vừa tội nghiệp, vừa thương ba tôi, khi nghĩ rằng ông đã lấy hết can đảm, hết tình chồng vợ mà trút hết sự thật với má tôi, nhưng bà cũng la lên:

“Vác cái mặt lên cho mấy thằng đó mắng chưởi chớ gì!”.

“Không có ai dám xúc phạm em, nhưng đi học tập ít ngày rồi về!”

“Tôi khôn hơn ông Hồ Chí Minh của anh, thương dân thương nước hơn anh Ba Duẩn của anh, thì ai mà dạy tôi để mà học với tập! Thôi, tôi không về, cho đẹp lòng hai bên”.

Má tôi kể lại. Bà nói, ba tôi không nói, mà im lặng cả buổi trưa.

Tôi thầm nửa mừng, nửa xót xa khi biết má tôi đã từ chối không về Sài Gòn. Tôi can má dùng giận ba tôi, vì đó không phải là ý của ông. Công bằng mà nói, cả tuần nầy ba tôi chìu má, nhượng bộ hết.

o O o

Tôi gọi cho Rob nhiều lần, khi tôi đã trở về khách sạn vào 9 giờ tối, nhưng không gặp ông. Rỗi rảnh quá, tôi ngồi lại viết báo cáo về cuộc viếng thăm ngôi biệt thự. Nó hơi dài, tôi thiếu loại giấy đặc biệt mà ông cho tôi hôm trước, nên tạm xài thêm giấy viết thơ.

Tôi mong Rob đến lấy bản báo cáo ngay tối hôm đó, vì tôi không muốn để nó trong phòng tôi, lỡ bị an ninh Pháp, hoặc gián điệp Nga KGB lén vô phòng tìm thấy thì rất phiền phức. Tôi tìm quanh phòng để kiếm một chỗ an toàn, tạm giấu bản báo cáo nầy trong đêm nay. Mấy bức tường thì cứng ngắc, còn thảm thì đóng chặt trên sàn. Trong chỗ máng quần áo có một giàn để máng áo phía chót của cái giàn bằng sắt tròn, có cái nắp bằng cao su đậy cái lỗ của thanh sắt, tôi gỡ cái nắp cao su đó, quấn tròn mấy trang báo cáo lại, rồi bỏ vô thanh sắt, đậy nắp lại. Xong xuôi, tôi rửa mặt, súc miệng, lên giường ngủ, ngủ ngon như một em bé.

Khoảng mười giờ sáng Rob tới gặp tôi. Trao ngay cho ông bản báo cáo xong, tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong người. Ông có vẻ ngạc nhiên, vì không ngờ lại có bản báo cáo sớm như vậy. Cũng có thể, tối hôm qua ông đi chơi khuya, chưa sẵn sàng làm việc sáng nay. Ông gấp bản báo cáo lại, rồi cất vào túi trong áo jacket.Tôi nửa đùa nửa thật nói:

“Nếu ông bị cướp hỏi thăm, thì cho chúng nó cái Rolex và thẻ đi metro, đừng cho nó lấy bản báo cáo của tôi nhen”.

Rob cũng mê tín dị đoan, nên nhăn mặt mà nói:

“Cái miệng của bà linh lắm, đừng nói vậy chớ”.

Khi tôi kể lại cuộc “thám hiểm” của tôi trong văn phòng bà Bình, Rob hơi giựt mình, và khuyên tôi không nên trở lại đó nữa. Không phải là vì an ninh của tôi mà ông khuyên tôi như vậy. Mãi sau nầy tôi mới biết rằng CIA không còn quan tâm, không muốn đả động đến đám phản chiến. Từ ngày chiến tranh chấm dứt, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã bị lu mờ và Cộng Sản Hà Nội đã nắm hết. Bây giờ CIA chỉ nhắm vào Phan Thanh Nam vì Nam đã đốt nhịp cầu của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam , sau khi bước qua với chánh quyền Hà Nội. Họ không để cho cái bóng ma của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời nhát họ nữa.

Một buổi sáng, tôi đi xe điện ngầm từ Gaite tới St. Michel, rồi đi bộ trên lề đường để xem các quầy bán sách vở. Trong một thoáng, tôi có cảm tưởng tôi đang đi trên đường Lê Lợi ở Sài Gòn. Tôi thấy vui vui. Chung quanh tôi, người ta toàn nói tiếng Pháp. Sau khi ăn điểm tâm tại một tiệm cà phê đối diện với nhà thờ Notre Dame (Đức Bà), tôi quyết định gọi Thái. Anh ở nhà vợ chưa cưới ở Meudon, ngoại ô Paris. Bà mẹ vợ chưa cưới của anh cho biết, anh hiện đang làm việc ở toà đại sứ của Hà Nội. Thế là tôi biết Thái không phải chỉ là sinh viên, mà còn là một nhân viên tại của toà đại sứ.

Tôi nghĩ rằng nếu tôi cho bà ta biết tôi là ai, thì tôi có thể biết thêm được một số tin tức khác. Tôi liền xưng danh, và nói rằng tôi đang ở Paris để thăm viếng ba tôi là ông Đặng Quang Minh. Bà liền vui vẻ reo lên:

“Tôi biết anh Minh. Gia đình tôi rất quý anh. Cảm ơn cháu đã cho biết cháu là con gái anh Minh!”

Tôi hơi có mặc cảm tội lỗi khi nghe giọng thân mật của bà. Vì thế tôi không biết nói gì hơn nữa, chỉ xin bà cho anh Thái biết tôi đã gọi. Bà liền cho tôi số điện thoại của toà đại sứ Hà Nội và đề nghị tôi gọi cho Thái để cùng đi ăn trưa. Tôi nói tôi không muốn phiền anh khi anh đang làm việc. Nhưng bà nói thêm:

“Cháu cứ kêu Thái đi. Anh ấy chắc chắn rất vui được gặp cháu. Cũng có thể Thái sẽ đưa cháu đến Hội Người Việt và giới thiệu với ông chủ tịch hội.

Hội Người Việt này là hội của những Việt kiều theo Cộng Sản. Làm sao tôi có thể bỏ qua cơ hội đẹp như vậy? Tôi vội ghi số điện thoại toà đại sứ Hà Nội, và cám ơn bà rối rít. Tôi không có ý định kêu ngay cho toà đại sứ, vì không biết có bị an ninh chìm của Pháp hay của ai khác theo dõi không? Do đó, tôi nghĩ rằng phải hết sức cẩn thận. Tôi theo đám đông các du khách để đi thăm nhà thờ Đức Bà.

Trong một tiệm buôn lớn trên đường Haussman, tôi dùng điện thoại công cộng để gọi cho toà đại sứ Hà Nội. Người trả lời điện thoại cho biết Thái đang họp với ông đại sứ, nếu tôi có việc khẩn cấp cấp, thì ông ta sẽ mời Thái ra ngay. Như vậy là thêm một chi tiết quan trọng về Thái. Anh làm việc trực tiếp với ông đại sứ. Có thể những điều anh nói với tôi là ý kiến của ông đại sứ. Như vậy, giao thiệp với anh rất có lợi. Tôi cảm ơn người trả lời điện thoại và hẹn sẽ gọi lại.

Tôi cảm thấy tôi đang gặp may. Nhưng khi tôi đi dạo xem phố phường, chợt nhớ tới ba má tôi và hoàn cảnh hiện tại của ông bà, thì mây đen kéo đến che phủ nền trời trong sáng. Không còn hứng đi chơi nữa, tôi đi xe điện ngầm về và gọi điện thoại ngay cho ba tôi. Ông tỏ ra vui vẻ và muốn tôi cũng vui như ông. Tôi đề nghị ông đưa má tôi vào Paris để cả ba cùng đi chơi, mua sắm lặt vặt. Nhưng ông cho biết, ông đi đâu cũng phải đi với một người trong toà đại sứ; đó là hộ vệ viên của ông. Nhưng ông hứa, ngày mai ông có thể đi cùng với Thái để cùng má tôi và tôi đi mua sắm.

Tôi viết một bản báo cáo về những điều mới khám phá liên quan tới Thái, để trao cho Rob khi ông tới gặp tôi vào buổi chiều. Ông tỏ vẻ vui thích về khám phá này. Chúng tôi đồng ý là tôi cần đến Meudon gặp Mimi, vợ chưa cưới của Thái và gia đình cô ta. Có thể có nhiều tin tức mới lạ.. Nhưng tôi cần chờ đợi người ta mời, hơn là tự tiện đến. Rob cho rằng tôi nên giữ thế thụ động để Thái tìm cách chỉ bảo tôi về thế giới của xã hội chủ nghĩa.

Rob cho biết sẽ gửi bản báo cáo của tôi về Langley ngay tối nay. Sau đó, Rob mời tôi đi ăn tối, để mừng công việc có chút tiến bộ. Chúng tôi sẽ đến một tiệm mà ông thích. Nhưng chúng tôi cẩn thận đi riêng, chỉ gặp nhau trạm xe điện ngầm St. Francois-Xavier. Tối hôm đó chúng tôi được ăn một bữa thật ngon, và tôi đã uống rượu hơi nhiều.

Khi tôi trở về khách sạn, người làm việc ngoài quầy tiếp khách đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ trong hộc để chìa khoá phòng thì tôi biết Thái kêu tôi khi tôi đi vắng.

o O o

Khi Thái kêu và cho biết anh cùng ba má lời đang đợi ở dưới nhà, tôi vội vã chạy xuống ngay. Chúng tôi tới nhiều tiệm để coi hàng hóa. Ba tôi mua một máy quay phim. Nhưng khi má tôi đề nghị đến một tiệm bán quần áo đàn ông để mua cho ba tôi mấy sơ mi, thì ba tôi tỏ vẻ không thích. Ba tôi nói:

“Anh có đầy đủ rồi”.

Theo tôi biết, nếu một người đàn ông chỉ cần có bốn áo sơ mi thì có thể coi như ba tôi có đủ cả rồi. Má tôi năn nỉ nhiều lần, ông mới chịu mua mấy cái áo, nhưng nhất định không chịu mua quần. Ông chỉ mua thêm hai áo, và một vài quần lót cho anh Khôi thôi. Thấy vậy, tôi cũng đành đồng ý, dù trong lòng tôi hơi ghen với anh. Dù đã lớn, anhvẫn được ba tôi cưng chiều. Trong một thoáng, tôi nghĩ rằng nếu tôi ngưng hát những bài ca chống cộng bên tai ông, thì có lẽ tôi cũng được cưng chiều như anh Khôi. Thôi lớn rồi, biết ba má thương yêu nhau, đời cưng chiều tôi đến mức này là lý tưởng vô cùng rồi.

Trong chuyến đi mua sắm đó, vào một lúc vắng vẻ chỉ có hai mẹ con, má tôi cho biết bà đã có quyết định về tương lai của hai người rồi. Ba má tôi đã thảo luận rất lâu, và đã đi đến một kết luận, là má tôi nên trở về Mỹ với các con. Lúc đó, tôi không tiện hỏi lý do vì sợ Thái có thể nghe được. Tôi rất mừng là ba má tôi đã có một quyết định chung, dù quyết định đó có thể làm cả hai đau lòng lắm.

Khi mua sắm xong, bất ngờ Thái cho biết Phan Thanh Nam muốn gặp má tôi và tôi tới toà đại sứ Việt Cộng. Chúng tôi không muốn gặp Nam chút nào, nhưng lại không dám từ chối, vì Thái là người lái xe, mà chúng tôi lại không muốn tỏ thái độ thật của chúng tôi cho anh ta biết.

Khi chúng tôi tới toà đại sứ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thái độ của Nam đã thay đổi hẳn, không còn niềm nở như lần đầu gặp chúng tôi nữa. Ông tỏ vẻ lạnh nhạt đối với má tôi; không cười, dù chỉ là một nụ cười xã giao. Tôi đoán ông đã mất bình tĩnh khi phải chờ đợi quá lâu quyết định của má tôi. Ông chào đón má tôi song vẻ mặt lạnh lùng, nặng như chì.

Ngay khi chúng tôi vừa tới nơi, bà Như Phi, vợ một khoa học người Pháp, mời ba tôi lên văn phòng của bà ở lầu hai, để hỏi ý kiến ông về cách đối phó với Chánh phủ Gia Nã Đại về một chiếc tầu mới tới Gia Nã Đại sau khi miền Nam sụp đổ. Tàu đó chở đầy đồ cổ quý giá của miền Nam, mà chính quyền mới ở Sài gòn muốn lấy lại.

Thanh, bác “tài xế”, cũng đã ngồi ở phòng khách với Nam khi má tôi và tôi vào ngồi trong đó. Nhìn mặt má tôi, tôi biết bà không muốn nói chuyện với “thằng lùn” (biệt danh mà má tôi đặt cho Nam), nhưng bà im lặng chờ đợi. Sau khi Nam và Thanh đưa mắt nhìn nhau, Nam tằng hắng theo thói quen, rồi hỏi má tôi đã quyết định trở về Việt Nam chưa?

Má tôi đáp:

“Tôi quyết định rồi, chú Nam à”.

Bà dùng chữ “chú” để tỏ ra mình là người trên đối với kẻ ít tuổi hơn.

Thanh và Nam đưa mắt nhìn nhau tỏ vẻ vui mừng. Như cái máy, cả hai chồm tới để nghe má tôi nói, rồi cùng nhìn má tôi chờ đợi. Bà bình tĩnh nói:

“Tôi sẽ rời Paris thật sớm, nhưng tôi không về Sài gòn”.

Cả hai cùng tỏ vẻ kinh ngạc, ngồi bất động và giữ im lặng rất lâu. Cuối cùng, Nam lên tiếng bằng một giọng yếu ớt:

“Tôi không hiểu chị nói gì”.

Má tôi nói:

“Để tôi giải thích cho hai chú hiểu. Ba nó và tôi cùng phục vụ tổ quốc bằng hai đường khác nhau. Ảnh đi làm cách mạng, còn tôi nuôi dậy con cái. Không ai thay thế cho ai được. Cũng không thể lơ là bổn phận nặng nề của mình”.

Thanh ngắt lời má tôi:

“Nhưng các con chị đã trưởng thành và hoà bình đã tái lập trên quê hương ta”.

“Chú Thanh, chú cho tôi nói hết đã. Tôi còn hai đứa nhỏ. Đành rằng Việt Nam bây giờ không còn đánh nhau nữa, nhưng ba nó và chánh phủ mới còn nhiều việc phải làm lắm. Tôi lớn tuổi hơn hai chú, tôi đã trải qua chiến tranh, rồi hoà bình, rồi chiến tranh, nên tôi biết, mấy tháng mấy năm sắp tới không dễ như hai chú tưởng đâu”.

Hai nhà ngoại giao ngồi nín thở nghe người đàn bà Cần Thơ giản dị trình bày.

Ngưng một chút, bà tiếp:

“Không có tôi, ba nó có nhiều thì giờ rảnh rỗi để lo việc quốc gia đại sự. Trong khi đó, hai đứa con nhỏ của tôi sẽ được tôi che chở, săn sóc nơi xứ lạ quê người. Tôi xin hai chú trình bày ước vọng của tôi cho cấp trên ở Hà Nội biết”.

Hai nhân viên cộng sản ngồi im lặng, cố gắng vừa nghe má tôi nói chuyện, vừa nuốt trái đắng. Tôi nhìn lên tường có bức in chân dung của Hồ Chí Minh và câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tôi nghĩ rằng “Bác Hồ” chắc phải thích má tôi lắm, bà lúc nào cũng tỏ ra có tinh thần độc lập và đang thực hành lời nói lãnh tụ để được hưởng tự do.

Má tôi quay lại nói với tôi:

“Con à, mình làm mất thì giờ của chú Nam nhiều quá rồi!”.

Tôi biết hai chú không muốn gì hơn là “mất nhiều thì giờ” cho má tôi. Vì họ đã mất thì giờ tính toán kỹ càng chiến lược của họ để sắp xếp cho “vấn đề” của bá. Trong khi hai người đang lúng túng, tôi bỏ ra khỏi phòng, để lại một mình má tôi và hai ông Cộng Sản. Tôi chạy lên lầu xem ba tôi đã nói chuyện với ba Như Phi xong chưa. Bà cho biết ba tôi hiện ở trong phòng trọ của khách. Tôi vội tới đó, thấy ba tôi đang đứng bên cửa sổ, ngắm nhìn bầu trời tháng 9 của Paris.

Tôi đến bên ông và quàng tay ôm lấy lưng ông, rồi nhìn ra ngoài. Cây hạt dẻ trước toà đại sứ đã đổi sang mầu nâu, lá rung rinh mỗi khi có gió lướt qua, và lác đác rụng xuống lối đi. Tôi hỏi nhỏ:

“Ba nghĩ gì vậy, ba?”.

“Ba đang nhớ tới mùa thu ở quê mình. Ba nhớ tới mùa gặt trên cánh đồng của ông nội khi ba còn nhỏ”.

Trong khi ông nói, tôi nhận thấy nụ cười buồn man mác trên môi ông, một nụ cười của người đang nhớ nhà. Tôi nói:

“Ba ơi, con có thể nhắm mắt để nhớ lại cánh đồng ngập lúa vàng của bà ngoại vào mùa gặt”.

Ông vuốt nhẹ mái tóc tôi, rồi nói:

“Ba đã về thăm cô của con khi ba từ Hà Nội vào Nam. Một buổi sáng, ba đi thăm ruộng. Không khí mát mẻ, ngọt ngào; ba nghe như có tiếng chuông reo trong gió. Lá cây lấp lánh ánh nắng bình minh. Ba không ngờ ba lại còn có may mắn được trở lại nơi chôn nhau cắt rún. Ba bốc một nắm đất cầm chặt trong tay, rồi mơ ước được hưởng cảnh thanh bình này với gia đình ba”.

Ba tôi nhìn vào xa xăm. Quê hương và người và sắp đi xa. Tôi nói:

“Lạ lắm ba, mỗi lần con nghe mùi lá cháy ngoài đồng là ruột gan con xao xuyến. Có biết bao nhiêu kỷ niệm trở lại trong đầu óc con; kỷ niệm vui buồn, rối beng như tơ vò, mà con chỉ biết khóc thôi. Ba à, sao yêu mà đau đớn quá vậy ba?”.

Ba tôi lắc đầu:

“Ba cũng không biết trả lời câu hỏi đó!”.

“Hồi con nhỏ, mỗi lần buồn chuyện gì, con khóc. Nếu khóc nhiều, con chỉ thấy đau ở quai hàm. Vậy mà sao người ta vẫn kêu là đau trong tim, nên thường có chữ “tan nát trái tim”. Con thắc mắc về chuyện này hoài mà không biết hỏi ai”.

Ông biết, tôi có ý nói lúc tôi lớn lên ông không ở gần để trả lời những câu hỏi của tôi. Vì vậy, ông nói:

“Ba tiếc đã bỏ lỡ một thời tuyệt đẹp trong đời của ba. Đó là thời mà các con đang lớn lên. Ba không được chia sẻ với các con những nỗi đau buồn, những niềm hạnh phúc, những hy vọng và những thất vọng, để có thể trả lời các con những điều thắc mắc”.

“Ngày xưa ba với ông nội có thạn mật với nhau không?”.

Ba tôi vui vẻ đáp ngay:

“Ông nội yêu ba hơn cả yêu chính bản thân ông. Nhưng giữa ba với ông nội có tính cách nghiêm trang theo lễ nghi. Ba gọi ông bằng Thầy. Nhưng bà nội lại không giống những người đàn bà Việt Nam khác. Bà công khai bày tỏ tình thương, âu yếm con cái, ngay cả với ông nội nữa, không một chút e thẹn.

“Ba có biết, con đã rất buồn một thời gian dài, khi phải mang họ Trần, để được yên thân với công an dưới thời của ông Diệm không”.

“Con là con của ba, về máu huyết lẫn tâm hồn, con à. Không có ai có thể chối bỏ được điều đó”. Ba tôi mỉm cười.

“Không có ai chối bỏ được, kể cả điện Cẩm Linh. Con muốn ba biết chắc như vậy”.

Ba tôi cười đồng loã với tôi:

“Kể cả điện Cẩm Linh, ai cũng phải công nhận con là con của ba”.

Rồi ba tôi đổi giọng nghiêm trang:

“Con săn sóc má giùm ba, nghe con”.

“Dạ, con xin hứa chắc với ba điều đó”.

“Còn về phần ba, ba cũng hứa cố gắng hết sức để đem lại hoà bình và thịnh vượng cho toàn dân, vì ba biết điều đó quan trọng lắm đối với con”.

Tôi biết rằng một cuộc chia ly khác đã bắt đầu trong đời chúng tôi một lần nữa và lần này sẽ kéo dài không biết bao lâu. Tôi siết mạnh tay ba tôi, rồi nói:

“Con rất muốn có một ngày con với ba đi dạo trên cánh đồng của ông nội, để mình nghe tiếng chuông reo trong gió, để nếm hương vị ngọt ngào trong bầu không khí trên miếng đất của ông bà nội con”..

“Ba sẽ chờ con về”.

Tôi liền nói:

“Đau lắm ba ai. Tối hôm qua, con so sánh tâm trạng của con lúc này với tâm trạng của ba khi thực dân Pháp cai trị Việt Nam, con mới biết tội nghiệp cho ba hồi đó lắm…”.

Nói đến đây, tôi vội ngưng lại, vì nhớ ra rằng “rừng có mạch, vách có tai”. Tôi đang đứng trong sào huyệt của Việt Cộng, và người ta có thể lén đặt máy nghe khắp nơi. Tôi không thể nói thật ý nghĩ của tôi được nữa.

Ba má tôi và tôi được mời ăn tối cũng ông đại sứ Võ Văn Sung và phu nhân tại toà đại sứ Hà Nội. Nhưng sau khi má tôi cho Phan Thanh Nam biết sẽ không về Việt Nam, thì bà không muốn gặp các nhân vật của Hà Nội nữa. Khi Nam cho biết bữa tiệc tối nay là để ăn mừng ngày sum họp của ba má tôi, thì bà càng thấy cuộc gặp gỡ càng không hợp tình hợp lý nữa. Nam miễn cưỡng không muốn là người báo tin xấu với ông đại sứ. Ông nói thêm ông bà Sung muốn gặp má tôi và tôi lắm.

Nhưng má tôi đã quyết định khước từ. Phan Thanh Nam chịu thua.

o O o

Chiều hôm đó, Thái lái xe đưa ba má tôi trở về biệt thự ở Verrières-le-Buisson và đề nghị tôi đi cùng. Tất nhiên là tôi chịu liền, vì tôi biết rằng cơ hội được gần ba má tôi sắp sửa không còn nữa. Tôi phải tận hưởng những giây phút tuyệt vời này càng lâu càng tốt.

Tuy nhiên, trong chuyến đi này, chúng tôi không thể tự do nói chuyện riêng tư, vì Thái lắng tai nghe hết. Chúng tôi chỉ nói đến chuyến đi chợ hồi sáng đó. Chúng tôi đã tới tiệm Lafayette và nhớ tới cuốn catalog đã được xem từ nhiều năm trước ở quê nhà. Trong thời Pháp thuộc, có nhiều người giầu có ở Việt Nam đã gởi mua hàng của tiệm Lafayette này.

Trên đường đi ra ngoại ô, tôi trông thấy một bảng tên đường mầu xanh chữ trắng, nên nói với ba má tôi là bảng tên làm tôi nhớ đến Sài gòn. Thế là Thái thao thao nói về việc “giải phóng” sẽ thay đổi bộ mặt Sài gòn bằng cách bỏ tên Sài gòn và thay tên đường. Tôi hối hận đã nhắc đến Sài gòn vì theo đà nói như cái máy. Thái say mê nói đến “cách mạng”:

“Chúng ta sẽ xoá hết vết tích của thời Pháp thuốc và thời đế quốc Mỹ dày xéo quê hương ta”.

Tôi hỏi Thái có biết người ta sẽ làm gì với toà đại sứ Hoa Kỳ ở Sài gòn không? Thái nhanh nhẩu trả lời:

“Toà đại sứ Mỹ sẽ là nơi trưng bày hình ảnh tội ác của đế quốc Mỹ trên quê hương chúng ta. Đó cũng là nơi cho thế giới biết các chiến thắng oai hùng của nhân dân ta trước sức mạnh của một siêu cường”.

Thái liên tục đả kích “đế quốc Mỹ” và ca ngợi Phong trào Giải phóng. Lúc đó, mới chỉ năm tháng sau khi Sài gòn sụp đổ, anh ta đã nói tới chương trình “thống nhứt” hai miền Nam Bắc mà anh cho rằng càng sớm càng tốt.

Tôi nhận thấy ba tôi giữ im lặng trước những lời huênh hoang của Thái. Trước đây vài hôm, khi nói chuyện riêng với ba má tôi, thì theo ba tôi, chương trình tái thống nhứt đất nước không phải là một ưu tiên của ông. Ba tôi nói rằng miền Nam cần có thời gian để tái thiết và mạnh hơn, trước khi thống nhứt. Ông cho rằng thống nhứt đất nước là việc của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam chớ không phải việc của Chánh phủ Hà Nội.

Khi nghe Thái huênh hoang khoe người Bắc tự ý giải quyết mọi việc, tôi nghĩ tới lúc ba tôi trở lại làm việc, và một lần nữa chạm mặt với thất vọng tràn trề. Lần này không phải vì vợ và đám con “đi lạc đường”, mà vì cái chánh phủ ông hằng tin tưởng, và cái đảng ông đã phục vụ suốt đời.

Ngay sau khi cho biết sẽ không về Việt Nam, má tôi ngỏ ý muốn trở lại Mỹ càng sớm càng tốt. Thế là không khí trở nên căng thẳng giữa ba và má tôi. Má tôi thấy có một người lạ mặt nhưng không vô nhà gặp ba tôi; chỉ vô cổng, xuống nhà bếp, nhà xe, rồi đi. Bà e ngại có thể Chánh phủ Hà Nội ép bà phải về Việt Nam để Hà Nội khỏi bị mắt mặt.

Một ngày trước khi má tôi lên đường như đã định, tôi đến biệt thự lấy đồ đạc của bà đem về khách sạn. Khi tôi sắp sửa ra xe, bà muốn đi với tôi luôn, chớ không muốn chờ đến ngày mai.

Má tôi bay qua Atlanta để ở với vợ chồng chị Kim của tôi một thời gian.

Ba tôi lưu lại Paris thêm vài ngày với tôi. Ông không ở biệt thự nữa, mà về toà đại sứ của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời.

Ba má tôi mất nhau vì ý thức hệ. Đây là lần đầu tiên trong đời một đảng viên Cộng Sản ở địa vị của ba tôi được tự do. Tự do chấp nhận, và tự do để cho một cá nhân chọn lựa giữa Xã Hội Chủ Nghĩa và Dân Chủ.

Sau nầy, má tôi mới kể lại cho tôi biết: khi bà hỏi ba tôi, nếu bà về Việt Nam thì chánh phủ sẽ làm gì bà, ba tôi nói, ba sẽ phải gặp một vài người có trách nhiệm để giải thích về trường hợp của bà. Trường hợp của má tôi là “cho phép” con gái kết hôn với người Mỹ, và việc má tôi bị Mỹ “bắt cóc”.

Má tôi buồn lắm, nhưng bà duyên dáng kể rằng, khi ba tôi nhắc đến những thằng rể Mỹ, má tôi nói: “Tôi cho đồng chí biết, mấy thằng Mỹ đó là cha của cháu ngoại anh chớ không ai xa lạ!”.

Thời gian là một liều thuốc mầu nhiệm. Má tôi là người biết rộng. Bà không nhìn lại, không nuối tiếc về sự quyết định của bà, nhưng bà không ngừng tìm cách cho anh Hai tôi vượt biên đi tìm tự do.

Sau đó, thỉnh thoảng má tôi nhận được thơ của ba tôi; thơ viết từ “người chị yêu thương em, yêu thương con cái của em”. Thơ cám ơn người em đã chung thuỷ với gia đình, với bổn phận, làm vợ, làm mẹ, làm người con hiếu thảo.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long hải

Posted 14 tháng Hai 2015

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Sau tết, rục rịch “biên chế”

(danh từ Việt Cộng đấy), có nghĩa là sẽ có người được tha hay chuyển trại

Bài 6

Một số sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy được chuyển đi. Sau nầy thì biết rằng họ đi Phước Long. Số người nầy, một vài năm sau, số đông được tha, một số chuyển trại, tiếp tục “học tập” trong trại tù của Công An.

Những người ở trại Phước Long không được tha sớm, sau nầy một số chuyển về trại Xuân Lộc (Long Khánh). Hôm họ chuyển vô trại, anh em chúng tôi bị nhốt sau hàng rào, đứng ngó ra, thấy Khả Năng mang xắc “ma-re” nặng. Chúng tôi mừng lắm, gọi tên anh rối rít, mặc dù chỉ biết anh, không quen biết gì!

Khi nghe tin chuyển trại, có người hy vọng được tha, Phan Hải cũng mong anh sẽ được về. Đến khi “không thấy gì hết”, không hy vọng về sớm, lại tự ái vì con “ông lớn Việt Cộng” mà không được về sớm, anh ấy bệnh liền tù tì mấy ngày, ai cũng ái ngại.

Hết bệnh, anh chàng “Hoảng nôm hay cãi” Phan Hải thẳng thắn nói: “Tui tưởng tui được về, nhưng chưa về.” Nói xong, anh ta lại nằm xuống, quay mặt vào tường. Không phải là mình, anh em cũng ngậm ngùi cho Phan Hải.

Ít lâu sau, tổ tôi nhận thêm 2 người, cũng cấp bậc đại úy (Tổ tôi hầu hết cấp bậc đại úy, ngoại trừ Phan Hải là trung úy). Hai người mới là đại úy Thành. Ông nầy “có công với cách mạng” vì hôm 30 tháng Tư, thiên hạ chạy cả. Ông là trưởng kho đạn ở Long Thành nên ở lại giữ kho đạn, không chịu “di tản”.

Bỏ kho đạn mà chạy, lỡ bọn du côn, du đảng, cướp bóc vào “chôm” lựu đạn, chất nổ thì nguy hiểm cho dân chúng lắm. Vì vậy, ông gồng mình canh kho một mình, cầm súng đi tới đi lui, chờ khi “bộ đội” vô tới nơi, bàn giao kho đạn cho họ xong ông mới ra về.

Việt Cộng cho rằng ông có “tinh thần cao” nên cấp cho một tờ giấy. Tin vào tờ giấy ấy, đại úy Thành hy vọng về sớm.

Người thứ hai là Hải quân Đại úy Tôn Thất Phú Sĩ, quê ở Hàng Đường, Huế. Vợ anh đang đi dạy, hiện sống ở gần cầu Trương Minh Giảng.

Tôn Thất Phú Sĩ kể:

“Gần tới ngày “giải phóng” thằng em tui là Tôn Thất Mạnh Lương bỗng xuất hiện ở đơn vị tôi tại Cần Thơ, khuyến dụ tôi ra đầu hàng “cách mạng” để được khoan hồng. Tui đuổi nó: “Mày đi đi! Tao không nghe lời mày được, chắc nó giận tui lắm. Vậy nên bây giờ cũng khó về sớm.”

Sinh viên, học sinh Huế nhiều người biết Tôn Thất Mạnh Lương. Năm 1963, biểu tình chống Ngô Triều, anh ta và Thái Thị Kim Lan đang học lớp Đệ Nhứt, ở trường Quốc Học, tham gia đấu tranh tích cực lắm, bị Cảnh Sát Diệm Nhu bắt bỏ tù cả hai.

Khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, người ta coi anh như “người hùng”, khi đấu tranh cũng “dữ” mà vô tù cũng “dữ”. Ra tù, anh ta học đại học, nhưng có làm gì nữa không, tôi không rõ.

Sau cuộc chỉnh lý ngày 31 tháng 1 năm 1964, Trung tướng Thủ tướng Nguyễn Khánh cầm quyền. Đám đấu tranh cũng có người nhờ công trạng “đấu tranh” mà đời lên hương.

Mặt khác, để “khóa miệng” các “công thần” sinh viên nầy, một số không ít được Nguyễn Khánh cho đi du học. Người ta gọi mỉa là “đấm mõm” bằng một cái học bỗng:

Cao Huy Thuần đi Pháp, Thái thị Kim Lan đi Đức, Lê đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến đi Mỹ.

Số nầy, không biết có ai bị (hay được) Xịa móc nối để làm tình báo cho Mỹ không?

30 tháng Tư, hình như Mỹ bốc cả gia đình Đỗ Ngọc Yến rời Saigon trước khi Dương Văn Minh đầu hàng đấy! Còn tấm hình chụp Đỗ Ngọc Yến họp với Nguyễn Tấn Dũng là photoshop hay thực sự như thế? Vì ai mà ông Yến gặp anh chàng “cựu y tá bộ đội địa phương” nầy? Ai mà biết!!!!

Không hiểu sao Tôn Thất Mạnh Lương không du học mà lại đi vô rừng theo Việt Cộng. Bấy giờ y lại xuất hiện ở Cần Thơ, dụ khị thằng anh trốn theo Việt Cộng. Việc không thành.

Chuyện Tôn Thất Phú Sĩ, Phật tử chính hiệu, cưới được bà vợ theo đạo Thiên Chúa, cũng là chuyện “trời thần đất lỡ” đấy, nhưng là chuyện riêng nên không viết vào đây.

Hồi đó, tôi đâu có biết anh ta có tài làm thơ!

Buổi sáng trước khi chuẩn bị “bồng gọn nhẹ” (danh từ Việt Cộng nữa đấy, tức là lo “hành trang”), tôi với Nguyễn Văn Bê ra chỗ trồng rau của tổ. Bê nói: “hái cho hết đem về ăn, để lại làm chi!”

Trong khi tôi và Bê đang lui cui hái rau, có môt “chú bộ đội” đi ngang, dừng lại hỏi thăm:

“Mấy anh biên chế phải không?” Tôi trả lời “Vâng”. “Chú bô đội nói: “Các anh đi mạnh khỏe, học tập tốt thì về thôi!”

            Khi anh ấy đã đi xa một quãng, tôi hỏi Bê:

            – “Thằng nầy hôm trước anh tập cho nó ca cải lương phải không?”

            Bê nói “Phải”.

            Khoảng gần tết, Bê trồng rau ở đám rau của tổ chúng tôi tại khoảnh đất gần kho đạn, kế hàng rào phi trường. Ở đó có môt cái chòi canh, “bộ đội” chỉ cắt cử vệ binh gác vào buổi tối mà thôi.

            Bê có cái thú ưa ca cải lương. Anh ca cũng khá hay. Lúc đó trời cũng đã chiều rồi, đang trồng rau, Bê bắt chước Út Trà-Ôn trong bản “Sầu Vương Biên Ải”:

“Nhìn trời hiu quạnh, màn đêm sương giá lạnh, chốn quê nghèo thêm chạnh nỗi niềm riêng, muôn dặm cách xa…”

Chú bộ đội hồi nãy sắp lên ca gác, đi ngang, nghe ca cải lương, bèn dừng lại, hỏi chuyện Bê, rồi nhờ Bê tập ca bài đó cho. Tập vài lần như thế thì anh ta ca được. Sau đó, cũng một lần trồng rau với Bê ở chỗ cũ, tôi lại nghe anh ta ngồi trong chòi canh, hát nho nhỏ: “Đón giao thừa một phiên gác đêm, chào mừng xuân…”

Nói về con người thì ai cũng như ai, đều có tình cảm cả, cũng thương, cũng nhớ, và cũng… hoài hương. Sau mới biết thêm, anh ta quê ở Bắc Ninh.

Nghe nói quê ở Bắc Ninh, một đêm nào đó, tôi đọc cho mấy bạn tù nghe hai câu thơ của Xuân Diệu, trong bài thơ “Việt Nam Độc Lập”. Tôi không nhớ hết bài:

                        Cô gái Việt gánh gồng xinh xinh,

                        Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh. 

            Về địa lý và lịch sử, Bắc Ninh có hai đặc điểm. Con gái Bắc Ninh nổi tiếng đẹp và nơi nầy là “quê hương quan họ”. Ỷ Lan phu nhân và bà mẹ ông Lý Công Uẩn cùng quê ơ Bắc Ninh.

            Hiền hỏi:

            – “Ông” có biết chi về quan họ không?”

            – “Không! Tui không biết.” Tôi nói. “Tui có nghe Phạm Duy soạn “Con đường cái quan”, nhưng tui ham theo “Đường giây 1 C” (1) nên không có thì giờ để biết con đường dân ca Phạm Duy đang soạn. Phải chi cứ ở thành phố, đánh giặc mồm CTCT thì có thì giờ “vui chơi ba ngày xuân 365 ngày”. (2)

            Dung nói:

            – “Thằng nầy quê quan họ, có máu “dzăng nghệ dzăng gừng” nên ưa ca cải lương cũng phải.”

            Bỗng “cóc” (3) Phan Hải lên tiếng:

            – “Cách mạng chủ trương dẹp bỏ cải lương, cho là ủy mỵ, ảnh hưởng tinh thần chiến đấu. Mấy ông đừng nói ra, tới tai cấp chỉ huy là thằng ấy bị kỷ luật đấy.”

            – “Ưa ca cải lương mà cũng khổ. Nhiều khổ quá sống sao nỗi.” Ai đó lên tiếng.

            – “Ủ my là không được, anh Hải có nhớ vụ Lê Hoàng Long không?” Phan Hải nói.

            – “Nhớ chớ!” Tôi trả lời.

            Sau khi học 10 bài, một hôm toàn bộ  “cải tạo viên lên lớp” ở hội trường, Trung úy Dziệt Cộng Chính trị viên tên Thảo của “Tiểu đoàn” đem tên hai người ra phê phán. Một là ông Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, gọi ông ta là “tên ác ôn”, và Lê Hoàng Long, làm thứ trưởng Bộ Chiêu Hồi, tên phản động văn nghệ.

Tôi từng hát nghêu ngao “Rồi mai lênh đênh trên sông Hương…” biết ông Lê Hoàng Long là tác giả bài “Gợi Giấc Mơ Xưa” nầy vào những năm tôi còn học ở Quốc Học; còn sau nầy ông ta làm gì, tôi mãi miết “lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm, sương trắng rơi…” của “Sương Trắng Miền Quê Ngoại”, đâu có về Saigon để mà biết tới những việc ấy.

Nhưng tôi vẫn cứ thắc mắc: Việc Việt Cộng lên án ông chuẩn tướng thì dễ hiểu, còn ai là “người trong cuộc” để tố cáo Lê Hoàng Long là tên “Biệt kích văn nghệ” vậy cà?

&

Chẳng bao lâu sau chúng tôi chuyển trại. Tổ tôi đi hết, ngoại trừ hai người mới chuyển tới và Phan Hải.

Dĩ nhiên, chúng tôi nghĩ rằng án tù những người bị chuyển trại nặng hơn người được ở lại.

(1)-Tôi có kể trong “Hương Tràm Trà Tiên”

(2)-Trước 1975, nhiều người gọi đùa những người phục vụ  ở bộ phận CTCT là “Cứ Thế, Cứ Thế” hay “Đánh Giặc Mồm”. Có những sĩ quan CTCT, khai rằng mình không trực tiếp chiến đấu, làm CTCT cho “nhẹ tôi với Cách mạng”. Trong khi đó, Việt Cộng đánh giá họ ngang tầm với Chính Ủy hay Chính Trị Viên, “nguy hiểm” hơn những người cầm súng chiến đấu ở mặt trận.

(3)-Phan Hải ít tham gia những buổi nói chuyện như chúng tôi, nên mỗi khi anh ấy lên tiếng, tôi gọi đùa là “Cóc mở miệng”.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Posted 7 Feb 2015

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Bài 5

Tết tù

Tết nguyên đán Bính Thìn nhằm ngày thứ Bảy, 31 tháng 1 năm 1976. Đó là cái tết đầu tiên chúng tôi ở trong tù tại L3-T3 trại Trảng Lớn, Tây Ninh.

Trước tết mấy tháng, bộ đội ra lệnh mỗi khối nuôi hai con heo để chuẩn bị ăn tết. Nghe tin đó, ai ai cũng rầu. Tưởng học xong 10 thì về, đâu có ai nghĩ phải ăn tết trong tù. Vậy là thông cáo “10 ngày học tập cải tạo”, coi như mây khói. Thế là xong lời hứa của “cách mạng”. Ai nghĩ “Cách mạng” hứa Cuội?

Trong khi học tập, cán bộ có giảng giải, yêu cầu “An tâm học tập cải tạo”, nói trắng ra, có nghĩa là không được, không nên trốn trại.

Một tối, anh em nằm với nhau chờ giấc ngủ như thường lệ, Lê Quang Dung cằn nhằn: “Cứ bảo an tâm học tập cải tạo” mà không biết ngày nào học xong để về thì an tâm làm sao được.”

Phạm Quang Chiểu, nằm gần cuối vách trong, kế bên Trần Phú Trắc, “giải đáp”:

“An tâm như Vương Cấu vậy.”

Nghe Chiểu nói, tôi nhớ một đoạn trong Tam Quốc, (1), vừa lặp lại câu của Tào Tháo nói với Vương Cấu vừa cười khúc khích với Phạm Xuân Lý nằm bên cạnh:

– “Thôi nhà ngươi hãy an tâm mà chết đi…”

Dung, nóng tính:

– “An tâm mà chết thì an tâm chó thế nào được!”

Thấy Dung nóng nảy, chúng tôi đều cười.

Phạm Ngọc Hiền, nằm phía vách sát cửa vào, chưa ngủ, còn đong đưa cái võng, nói đùa:

– “An tâm mà chờ… ăn thịt heo.”

Khối 1 của tôi có làm một cái chuồng heo phía ngoài sân bóng chuyền, chỗ Lê (?) Văn Cư hay chơi bóng. Phó khối tên là Hợp, quê Quảng Ngãi, mỗi ngày yêu cầu tổ nào tới phiên nấu cơm, sau khi phát cơm rồi, phần cơm cháy còn lại, không  được ăn, để trộn với rau muống cho heo ăn.

Heo cũng đói như người. Những hai con heo mà mỗi ngày chỉ có hai miếng cháy, có khi bị “ai đó” gỡ bớt, còn chút lõm.

Một hôm, Hợp họp các tổ trưởng lại, bàn cách “khắc phục”, làm sao cho heo ăn no. Trắc, đại diện tổ 1 của chúng tôi, đi họp.

Vốn tính hay đùa, mới vào họp một chốc, Trắc nói:

– “Khối phó ơi! Heo đói kêu “hợp hợp” kìa!”

Trắc chơi chữ, “hợp” cũng là tên khối phó.

Hợp tức giận, nói:

– “Anh về anh nói với cha anh vậy đi.”

Trắc bị chưởi cha, tức quá, bỏ về, không họp nữa, than phiền với chúng tôi. Nghe chuyện, ai cũng cười.

Hiền nói:

– “Dù ông lớn tuổi, nhưng đi “học tập” thì cũng còn là học trò. Học trò kêu cha mẹ ra chưởi là thường.”

Câu Hiền nói đùa làm tôi nhớ năm tôi học lớp nhất với ông Hồ Đắc Hanh, một hôm có anh vào thưa với thầy: “Thưa thầy, thằng … nó kêu tên cha con.”

Thầy bảo:

– “Ông Trần Hưng Đạo, người ta kêu tên ra hằng ngày, có sao đâu!”

Chỗ chuồng heo có sân bóng chuyền, đây là nơi vui chơi của chúng tôi, xem Lê (?) Văn Cư biểu diễn chơi banh.

Cư chơi banh hay lắm! Anh chia phe “đá” bóng chuyền. Phen bên kia gồm 6 người, phe bên nầy một mình Cư. Bên kia đánh bóng qua, bằng tay; bên nầy Cư dung chân đá bóng trả lại. Một mình anh ta xoay ngang, xoay dọc, đá banh qua lưới, bất phân thắng bại, khán giả ai nấy đều vui, vỗ tay hoan hô, khen Cư om sòm.

Có anh bộ đội đi ngang, đứng lại xem, cũng nói: “Sao mà tài thế!”

Nhiều lần Cư dùng trái banh, biểu diễn cho mọi người xem. Anh dùng banh đội đầu, đá vòng cầu, đá trước vòng lui sau, đá sau vòng ra trước, đá vòng ra tả hữu, tài tình lắm. “Can Tây đen” một cầu thủ nổi tiếng của làng bóng đá Saigon trước 1975, có lần ra đấu ở Huế, một mình anh giữa sân Bảo Long, cũng biểu diễn như Cư vậy; cả cầu trường đứng lên “hoan hô nhiệt liệt”, còn hơn “hoan hô Ngô Tổng Thống” hay “hoan hô Hồ Chí Minh”.

Có anh chàng bên T4, mê xem Cư chơi bóng, chiều nào cũng chui hàng rào qua xem, chờ khi gần tối, lại vạch hàng rào chui về.

Cư, cấp bậc thiếu úy, cầu thủ đội bóng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Vào trại cải tạo, “Bộ đội” bắt buộc ai ai cũng phải tự xác nhận là người “có tội với cách mạng”. Cư nhứt định nói chỉ có mỗi một tội mà thôi. Đó là “tội giương cao mầu cờ sắc áo” bóng đá của miền Nam ở Đông Nam Á. Cán bộ quản giáo kêu lên làm việc nhiều lần, anh ta cũng nhận có mỗi một tội như thế!

Vậy là ngoan cố, chưa thông suốt “đường lối giáo dục của cách mạng”, khó được “Cách mạng khoan hồng” khó “sớm về sum họp với gia dình”, v.v…. Nhưng rồi mới hơn một năm, anh ta được về sớm, nhờ có một người cô là y sĩ Dziệt Cộng bảo lãnh cho.

Dù do “Bộ đội” hay Công an quản lý, họ chỉ có nhiệm vụ giữ tù là quan trọng, làm sao tù đừng trốn, chớ họ có quyền gì trong việc xét cho về sớm hay muộn đâu!

Hôm Cư được gọi lên văn phòng để về, cán bộ buộc anh phải đi cắt tóc vì anh chừa tóc theo kiểu Hippy. Để về, Cư làm liền. Anh ta “nghe cách mạng” có chừng đó.

Phần đông chúng tôi lớn lên, đi lính, vào lính thì cắt tóc theo kiểu nhà binh, “trước một phân, sau trọc lóc”, nên khi đi tù cải tạo, nhiều anh em muốn trở lại sống thời trai trẻ, bèn chừa tóc dài.

Một hôm, “bán chợ trời”, -tức là bày “tư trang” ra giữa sân cho bộ đội khám xét -. Có một tên đại úy Dziệt Cộng bộ dạng rất khó ưa, đi kiểm tra từng người.

Tới chỗ Trương Đình Khải, khối 4, thấy Khải tóc dài ngang cổ, y nói, vẻ giận dữ:

– “Tôi ra “nệnh” anh phải đi cắt tóc ngay. Cắt ngay mà cắt “chọc”. Không được phép chừa dài như thế.”

Khải phải nhanh chân tìm người cắt tóc giùm, để được yên.

Trước hôm tết, chúng tôi được lệnh tập họp đi nhận quà do thân nhân gởi vào cho. Chỗ phát hàng nằm ở phía bên kia L3-T3 nên chúng tôi phải sắp thành hàng mà đi.

Trên đường đi, chúng tôi gặp một toán người khác đi ngược lại. Vừa khi hai bên gặp nhau, tôi thấy hai ba người chạy ra giữa đường tranh nhau nhặt một cái gì đó. Xem ra, đó là cái tàn thuốc điếu, ai hút vứt lại. Thèm thuốc hút, không những là cái khổ mà còn là đại nạn trong anh em chúng tôi, không thiếu người bị mất cắp thuốc rê, thuốc lào…

Hôm đó, trong toán đi ngược chiều, tôi thấy có Huỳnh Hữu Ủy, thiếu úy, thuộc khối Quân Sử Bộ Tổng Tham Mưu, một người em họ, và Phan Văn Hộ, giáo sư Anh văn trường Phan Bội Châu, Phan Thiết, một người vừa là bạn học, vừa là cùng quê. Chúng tôi đưa tay vẫy chào nhau, không thấy bộ đội cầm súng đi theo “bảo vệ” nói gì. Họ không cấm hay họ không thấy cũng không biết nữa.

Kêu tên người nào thì người đó lên nhận hàng.

Hầu hết tổ tôi ai cũng có hàng. Gói hàng của tôi khá lớn, có thuốc hút ống vố của hãng Bastos – có lẽ hàng cũ còn lại – các thứ cá thịt đều được làm khô, nước mắm pha bột ngọt làm khô, thứ nầy ít ai có, do vợ tôi tự làm, thuốc cảm cúm, khăn mặt, kem và bàn chải đánh răng…

Hôm đó, cả tổ tôi chung nhau làm một bữa “thịnh soạn”. Ai nấy có quà thân nhân gởi cho, gom lại ăn chung, kẻ ít người nhiều. Thật là vui.

Trong khi nhận quà, trung úy Việt Cộng Hồng Dư, làm một việc khiến cho chúng tôi biết ơn. Anh ta cầm con dao nhỏ đi quanh. Thấy ai loay hoay mở chưa được gói quà, anh ta bước tới cầm dao cắt giây dùm, vui vẻ với người nhận quà.

Khi về phòng, chúng tôi nói với nhau chuyện ấy. Xem ra, nếu chỉ là con người với con người, trong tình người thì ai ai cũng đáng yêu.

Vài anh em phát biểu như thế!

Tôi nói đùa: “Thiếu úy Ái là người đáng yêu nhất, nhất là khi có được chiếc xe Honda.”

Ai nấy đều cười.

Có hai người đến tổ chúng tôi khi chúng tôi đang “học 10 bài.” Trước hết là viên thiếu tá trung đoàn trưởng.

Khi vào phòng, ông ta ngồi xuống sập và hỏi:

– “Học chính trị có khó khăn gì không?”

Phan Hải thay mặt, trả lời chung cho cả tổ, đúng “bài bản” Việt Cộng đưa ra.

Một lúc sau, ông ta nói đùa:

– “Tôi cũng có một người em đang học tập như các anh. Học xong thì cũng về cả thôi. Trước kia, nó cũng hay tìm tôi lắm. May tôi không gặp nó!”

Nói xong, ông ta cười. Ngồi chơi một chút, ông ta chào từ giã và ra khỏi phòng.

Sau đó, Phan Hải kể chuyện: “Ông ấy người Bắc, có người em con ông cậu di cư vô nam, làm trung sĩ Cảnh Sát Đặc Biệt ở Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát.”

Người thứ hai là thiếu úy Ái, gốc ở Diên Sanh, Quảng Trị.

Bố anh ta theo Việt Minh, nhưng không tập kết.

Thời đệ nhứt Cộng Hòa, khi chính quyền thi hành “Quốc sách Tố Cộng”, anh ta mới 13 tuổi.

Một hôm xã tập trung đồng bào xã lại để biểu tình “tố Cộng” theo “Chiến Dịch Tố Cộng” thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, anh ta đi xem. Thấy có tấm biểu ngữ đề “Tố Cộng là yêu nước”, nhớ câu nói của cha, anh ta lén thêm dấu sắc vào chữ yêu, thành ra yếu, bị dân chúng bắt được.

Xã trưởng thấy anh ta còn con nít, tát một tát tai, bồi thêm một cái đá đít, đuổi về. Vậy rồi do bọn nằm vùng móc nối, anh ta “nhảy núi”, theo Việt Cộng, làm du kích. Đến 30 tháng Tư, anh mang lon “thiếu úy cách mạng.”

Thấy anh ta là người cùng quê, vài lần tôi hỏi chuyện anh. Hỏi anh ta bây giờ “nước nhà độc lập thống nhứt” rồi, muốn gì. Anh ta cười, nói một cách tự nhiên: “Bây giờ có cái xe Honda đàn ông mà chạy thì sướng lắm.” Nghe anh trả lời, cả bọn chúng tôi cười vui vẻ.

Sau khi anh ta đi rồi, Trắc nói: “Cả một đời theo “cách mạng” chỉ mong có được chiếc 67 mà thôi. Buồn cười thiệt. Lý tưởng cao quí gì cũng không qua được cái xe Honda.”

Ít lâu sau thì tết đến. Bộ đội cũng tổ chức liên hoan đón giao thừa cho chúng tôi ở hội trường.

Tất cả tù cải tạo của 6 khối tập trung vào đó. Tổ của tôi là tổ 1, thường được ngồi trước, nhưng Trắc, Chiểu và tôi thường hay lẻn ra sau chót, ngồi cuối hàng của khối 1.

Ngồi ở đây xa, hơi tối, dễ đùa dởn hơn. Cũng vì vậy mà đã có lần chúng tôi bị “vệ binh” bắt gặp, bị cảnh cáo. Dung nói đùa: “Khinh địch là hửi địt”. Những lần sau, chúng tôi “canh phòng địch” kỹ hơn.

Tuy ở xa, chúng tôi cũng theo dõi được các mục diễn ra trên sân khấu. Một là nhạc sĩ Lê Dần (chế độ cũ), thuộc khối 6, – do ông Khuất Duy Trác làm trưởng khối -, dùng một cái can xăng, nối với một cái cần gỗ, căng lên mấy sợi giây đàn, chế ra một cái đàn contrebasse, nghe cũng hay. Khi ai hát, anh ta đệm đàn. Tiếng giây trầm của đàn nghe như tiếng trống đánh nhẹ.

Thứ hai, anh ta diễn trò đọc thư “bằng tai”, không nhìn vào thư mà vẫn đọc được câu viết trong thư (2). Trò nầy vui quá!

Ba là có một anh chàng nào đó, hát bài “Tự nguyện”, bản nhạc do Trương Quốc Khánh phổ thơ Mai Tuyết An (3).

Gần giao thừa, chúng tôi được cho về.

Trong khi lo chuẩn bị chỗ ngủ, tôi nói:

– “Anh chàng hát bài “Tự nguyện” hay đấy chớ!”

Hoàng Hữu Chung nói đùa:

– “Tui à! Tui mà làm chim, tui sẽ làm chim chèo bẻo.”

Nghe Chung nói vậy, tôi bèn hát đùa: “Nếu là chim, tôi sẽ là loài chim… chèo bẻo hớ hớ…”

Phạm Xuân Lý nói:

– “Chi cũng được, nhưng hát “Ra ngoài bắc báo tin nối liền” là làm tay sai cho… Dziệt Cộng rồi.”

Chiểu chế diểu:

– “Làm tay sai cho Dziệt Cộng tức là làm Dziệt Cộng đấy.”

Lợi dụng lúc đó Phan Hải chưa về, Dung nóng tính:

– “Dziệt Cộng mà cứ gọi là “cách mạng”. “Cách mạng” cái con cặ… gì!”

Cũng vì câu hát do Chung chữa lời như trên, Chung được Trần Phú Trắc đặt cho cái tên mới là “chèo bẻo”, sau khi cái tên Trần Dạ Từ bị bể mánh. Anh em cứ gọi “chèo bẻo, chèo bẻo” mà không gọi cái tên thực là Chung của anh ta.

Quá khuya, nhớ nhà, lại cảm phận tù của mình trong những vòng rào vây hãm, không ngủ được, tôi đọc hai câu thơ của Hàn Mặc Tử:

                        “Ngoài kia xuân đã bén duyên chưa?

                        Tôi ở trong đây chẳng có mùa!”

Dung, học trò trong Nam, ít rành văn chương Việt Nam, hỏi tôi:

– “Thơ của ai dzậy?”

Tôi trả lời: “Hàn Mặc Tử đấy!”

Dung nói:

– “Hàn Mặc Tử thì nói về trăng chớ! “Ai mua trăng tôi bán trăng cho!”

– “Đó là thời thượng.” Tôi nói. “Hàn Mặc Tử viết nhiều về trăng. Ông có một bản văn xuôi “Chơi giữa mùa trăng”, nhiều người thích, nhưng tôi ít thích. Tôi ưa trăng của ông ở “Lầu ông Hoàng” hơn.

Phan Hải vừa về, nằm yên chỗ, biểu: “Anh Hải có thuộc không? Đọc nghe chơi.”

Tôi nói:

Tôi thuộc cả bài, nhưng bây giờ không biết nhớ được bao nhiêu. Để tôi đọc mấy câu tôi hay đọc:

“Ta đến nơi nàng ấy vắng lâu rồi,

                        Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ

                        Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ

                        Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng

                        Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng     

                        Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết

                        Ôi trời ơi là Phan Thiết!

                        Phan Thiết!

                        Mi là nơi ta chôn hận ngàn thu

                        Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư!

Chung nói đùa:

– “Phan Thiết là cái chi mà ông hận như bọn mình hận trại cải tạo vậy!”

Phan Hải cảnh cáo:

– “Nói tầm bậy đi. Để nghe anh Hải đọc thơ cho vui.”

Phạm Xuân Lý hỏi:

– “Câu chuyện Phan Thiết ra làm sao?”

– “Một “cô nường” mê thơ ông, yêu ông, rồi hẹn nhau đi chơi ở lầu ông Hoàng ở Phan Thiết. Xong, về hai người bỏ nhau.”

– “Lầu ông Hoàng là cái chi?” Ai đó hỏi.

– “Có một ông Hoàng bên Tây, dòng dõi vua “Lu-i” hay gì đó, nên người ta mới gọi là ông Hoàng. Ông Hoàng nầy thất tình vì một cô đầm xòe bên Tây, bỏ qua Việt Nam, xây một ngôi lầu, kế một cái Tháp Chàm, trên một ngọn đồi ở kế thành phố Phan Thiết để ở. Được một thời gian, ông về Tây, không thấy trở lại. Lầu Ông Hoàng bỏ hoang.”

– “Tại sao hai người bỏ nhau?” Ai đó hỏi.

– “Hàn Mặc Tử bị phung. Đêm đó họ đi chơi ở lầu ông Hoàng, khi về, ngang qua một bãi tha ma thì gặp mưa to, rồi Hàn Mặc Tử bị cùi.”

Một lúc, tôi hỏi: “Mấy ông biết sao bị phung không?”

– “Tại sao?” Hiền hỏi.

– “Hồi tui mới lớn, có lần đi nghe diễn thuyết về Hàn Mặc Tử ở rạp Morin. Về, ông chú hỏi, tôi kể chuyện thi sĩ Hoàng Diệp nói về những kỷ niệm của ông ta với Hàn Mặc Tử. Tôi kể lại chuyện Hàn Mặc Tử đi chơi với Mộng Cầm ở lầu ông Hoàng về thì bị phung. Ông chú bảo: “Đừng bắt chước Hàn Mặc Tử.” Tôi chưng hửng, chưa biết chuyện gì thì ông chú nói tiếp: “Tụi bây lớn lên, có đi chơi với bồ, đừng đè nhau làm bậy trên mồ mả người ta. Nguy hiểm lắm, bị phung đó.”

Tôi nhớ chừng câu chuyện Hoàng Diệp nói bóng gió hôm đó. Về giữa đường, Hàn Mặc Tử với Mộng Cầm gặp mưa, hai người dẫn nhau vào trú trong một cái nhà mồ. Sau đó, Hàn Mặc Tử về bị phung. Không lý ông Hoàng Diệp kể đoạn phim sex của hai người ở cái nhà mồ ấy cho thính giả nghe?!”

Trắc nói đùa:

– “Chú ông Hải có kinh nghiệm chuyện nầy lắm nên muốn “truyền nghề” cho con cháu đó chớ chi.”

Câu nói của Trắc làm nhiều người cười thành tiếng.

Tôi cũng đùa: “Đ. m, kể chuyện cho nghe còn bị nói móc lò tới cha chú. Không kể nữa.”

Có người trách Trắc: “Chuyện đang hấp dẫn, ông Trắc phá đám. Tiếp đi ông Hải ơi! Đêm giao thừa nghe chuyện chơi bời cho đỡ buồn.”

Tôi kể tiếp:

– “Tôi nhớ buổi diễn thuyết đó – năm đó tôi đang học lớp Đệ Nhị -, có mấy diễn giả nói hay lắm: Ông Bác sĩ Lê Khắc Quyến nói về bệnh phung, ông Quách Tấn nói về công lao chu cấp tiền bạc của ông cho Hàn Mặc Tử những năm Hàn Mặc Tử sắp qua đời. Ông Hoàng Diệp thì nói về Thương Thương và Hàn Mặc Tử. Thương Thương là em ông Hoàng Diệp, ông tính chuyện mai mối Hàn Mặc Tử cho bà nầy. “Đêm qua trong mộng gặp Thương Thương, Má đỏ âu lên đẹp lạ thường.”

Chung nói:

– “Ở Huế, người ta nói có một người yêu cũ của Hàn Mặc Tử dạy ở Trường Đồng Khánh, phải không?”

– “Bà H.T.K.C. chớ ai, bà dạy nữ công ở đó.” Tôi nói.

– “Bà đẹp không anh?” Trắc hỏi.

Trần Hữu Bảo nói đùa:

– “Thằng Trắc dê. Cứ nghe đàn bà con gái là hỏi tới có đẹp không?

– “Tui gặp bà nầy rồi. Bà ta đẹp lão. Ông nào ưa người “tóc bạc da mồi” thì cứ nộp đơn.” Tôi nói đùa.

Một lúc, tôi nói thêm: “Người ta có âm mưu cả đấy! Chuyện là như thế nầy. Hồi đó, người ta lập “Hội Văn Hóa Thành Phố Huế”. Ghế danh dự là Cha Luận, ghế chủ tịch là do mấy ông tranh nhau. Tôi cũng được đi họp.”

– “Anh là học sinh, làm cái khỉ khô chi mà họ kêu đi họp?” Có người hỏi.

– “Đang ngồi trong lớp, ông M., giáo sư Việt Văn của tôi vào lớp. Ông đi thẳng tới chỗ tôi, đưa cho tôi cái giấy mời đi họp. Trời! Tui thấy tui to quá, đưa cái thiệp mời cho Nguyễn Công Trung ngồi bên cạnh xem. Trung nói: “Mầy ngon lành!”

Chủ Nhật đó, tôi tới trụ sở của hội ở Chi Thông Tin tại Morin. Lèo tèo khoảng vài chục người tham dự, có Cha Luận, có ông Võ Long Tê, ông Đỗ Tấn, Quang Đạo, có Kỳ Quang. Mấy ông nầy làm ở báo “Mùa Lúa Mới”, ông M. làm chủ bút. Tui làm “mầm non văn nghệ” có truyện ngắn, truyện dài đăng ở đây; có ông Phan Du, báo “Ý Dân” của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, có ông trung sĩ Nguyễn Đình Hòe chủ bút báo “Lửa Thiêng” của Đệ Nhị Quân Khu. Sau khi mời Cha Luận làm chủ tịch cái “danh dự”gì đó, tới mục bầu Hội Trưởng. Mấy ông biết tụi bầu cho ai không?

Không ai trả lời.

– “Tui bầu cho ông M. Mấy ông thấy không. Tui được mời nên ông M. thêm một phiếu, không lý tui bỏ phiếu cho ai mà không bỏ phiếu cho ông thầy. Nếu tui không đi họp, ông M. mất một phiếu. Ấy là  “tình đời”, đừng tưởng bở?! Trước đó, trong chương trình “Tạp lục văn nghệ”, ông M. đã có một bài “lăng xê” tui trên đài phát thanh Huế để “chuẩn bị” cho việc tui đi họp. Mình chẳng là cái thá gì cả, nhưng “trò đời” đều có bài bản cả đấy?”

Ai đó nói: “Bỏ chuyện ruồi bu đó đi, anh Hải nói tiếp về Hàn Mặc Tử.”

– “Trong buổi nói chuyện về Hàn Mặc Tử, ông Lê Hữu Mục, ông Võ Long Tê nói nhiều về bài thơ “Ma-Ri-A linh hồn tôi ớn lạnh”. Hàn Mặc Tử hay Ma-Ri-A, hay niềm tin ở Chúa Giê-Su, chẳng qua thời kỳ đó là đời Cộng Hòa, “hữu thần chống vô thần”, với lại tiếp tục công việc đánh phá đạo Phật từ thời Tây xâm lăng với mấy ông cha cố Tây, còn chính quyền miền Nam dùng đạo Thiên Chúa để chống nhau với Cộng Sản, còn âm mưu gì nữa… Sau đó, họ còn “tưởng niệm” vài “nhà thơ nhà thờ” nào đó. Gọi là hội văn hóa nhưng mục tiêu là chính trị và tôn giáo!”

“Ông Quách Tấn kể khi ông tới thăm Hàn Mặc Tử ở bãi biển Qui Hòa, Hàn Mặc Tử đọc bài thơ Phan Thiết cho ông ta nghe. Khi đọc tới những câu như:

Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết

Khi đọc tới hai chữ Phan Thiết, ông Quách Tấn nói tưởng như Hàn Mặc Tử uất nghẹn, ngộp thở, đọc xong nằm thở dốc!”

– “Chắc hận Mộng Cầm dữ lắm!” Phan Hải nói.

– “Rõ ràng dzậy mà còn hỏi. Sướng thì sướng chung, bệnh thì một mình Hàn Mặc Tử, “Còn gì đâu em ơi!” Con nhỏ đá đít là phải.” Phạm Xuân Lý bình phẩm.

– “Ai lại kêu là con nhỏ. Bằng tuổi bà nội đó.” Chiểu phê phán.

– “Tui nói chuyện nầy cho nghe! Mai Đình có ra Qui Hòa, tính ở lại chăm sóc cho Hàn Mặc Tử. Được mấy bữa, bà ta thấy ông nầy cứ nhắc Mộng Cầm hoài nên bà bỏ về Saigon. “Mộng Cầm hỡi, nàng là tiên rớt xuống!” Mai Đình là cô Nguyễn Quảng Thành đấy.”

– “Ai biết cha ấy là cha nào?” Hiền nói.

– “Nầy Trắc!” Tôi nói. “Thành khóa 22 Võ Bị, cùng với “Hùng móm” đi Nhảy Dù.”

– “Tui biết tay nầy! Ít gặp. Nó ở Dù nhưng hoạt động tình báo ở Cao Nguyên.”

– “Bịnh phung dễ lây nên gia đình dựng cho Hàn Mặc Tử một cái chòi tranh ở bờ biển Qui Hòa, sống riêng một mình. Quách Tấn tới thăm, thấy Hàn Mặc Tử lấy bìa chen vào những chỗ thủng trên mái.” Tôi kể.

– “Ông còn làm thơ không?” Chiểu hỏi.

– “Còn! Hay lắm, mà ghê lắm.” Rồi tôi đọc liền:

                        Ai đi lẵng lặng bên làn nước

                        Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

                        Cớ sao ngậm cứng thơ đầy miệng

                        Không nói không rằng, nín cả hơi!

                        Chao ôi ghê quá trong tư tưởng

                        Một vũng cô liêu cũ vạn đời.

                        Ta nằm trong vũng đêm trăng ấy

                        Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra!”

– “Gì mà ghê quá vậy! Trăng rồi máu, rồi cô liêu…” Dung ta thán!

– “Phung không có máu sao được. Nó ăn rụng từng ngón tay, ngón chân. Tôi không hiểu nằm trong trăng, có bị trăng đè không mà ông ta viết “mửa máu ra”. Có thể đây chỉ là cách nói biểu tượng. Bài nầy hay không phải ở tính chất ghê rợn của nó. Nó có sự im lặng như “đi lẵng lặng”, nó có “ai ngồi khít cạnh” mà không nói gì được vì miệng “ngậm cứng thơ” hay vì ai đó là ma? Thơ là nói ra, thơ ở đây không làm cho người ta nói ra được. Ý tưởng “cô liêu”, “cũ vạn đời” là ý tưởng mới. Trong thi ca nước ta, trước nay, chưa ai từng nói như ông. Tôi cho chữ hay nhất trong bài thơ là chữ “Vũng” – “Vũng đêm trăng”, “Vũng cô liêu”. Có người nói “bãi cô liêu” tôi cho là không đúng ý ông ta. Tại vì sao “vũng” mà không phải là “bãi” các ông biết không? Bãi là nói về bề rộng, bãi có tính cách mênh mông, không biên giới. “Vũng” là nói về chiều sâu. Nhà thơ như bị bao phủ, che lấp, bị nhốt dưới đáy một vũng sâu, một thung lũng của cô liêu…

– “Đi dạy, anh dạy từng chữ như vậy à?” Dung hỏi.

– “Một chữ bẻ làm đôi. Dạy Kiều, ông Mục dạy chúng tôi như vậy. Đọc Kiều là phải đọc từng chữ, phân tích từng chữ. Tôi đem cái tinh thần ấy mà dạy cho học trò, khi tôi dạy về Thơ Mới, về Hàn Mặc Tử”. Tôi nói.

– “Chắc học trò thích học với anh lắm. Có cô nào mê thầy chưa đó?” Dung hỏi.

– “Thàng cha dê đó chắc cua học trò trước khi học trò cua thầy.” Hiền lại đùa.

– “Mấy cha nói tầm bậy không?” Tôi cự nự.

– “Tầm bậy mà trúng tùm lum.” Nói xong, Trắc cười ha hả.

– “Nói là phải nói cho hết!” Tôi nói. “Các ông có biết cái bản chất của loài người không?”

Chiểu nói: – “Tại sao lại đổi đề tài. Đang nói về Hàn Mặc Tử mà!”

– “Từ từ, để tôi nói. Bản chất của con người là sống hợp quần. Từ thuở ăn lông ở lỗ, con người đã sống hợp quần, sống từng bầy. Không có con người sống riêng lẻ, cô đơn, một mình, như con sư tử hay con cọp một mình trong một rừng. Bắt con người sống riêng rẽ, sống cô đơn là tội nghiệp cho nó lắm, con người sẽ chết sớm. Người ta không quen sống cô đơn. Hồi còn nhỏ, tôi có đọc một truyện của Lý Văn Sâm, truyện “Kòn Trô”. Thuở nhân loại sơ khai, một “người rừng”, tôi nhớ mang máng Lý Văn Sâm viết như vậy, sống một mình trong một cái hang ở thượng nguồn sông Đồng Nai. Lâu lâu, anh ta tìm tới một bộ lạc nào đó, tấn công, rồi bắt về một người đàn bà làm vợ. Người đàn bà tìm cách trốn về với bộ lạc. “Cô nường” không chịu cảnh cô độc. Người rừng thì ở lại một mình. Hồi đó, tôi còn nhỏ, học lớp nhất, tôi không rõ Lý Văn Sâm muốn nói gì. Nhưng cái truyện ấy cứ ám ảnh tôi. Tại sao “người rừng” muốn ở một mình mà cô gái phải trốn về với bộ lạc của cô ta?”

– “Ở một mình với một con nhỏ là an tâm, không có thằng cha nào cậy thế, cậy “loon”, cậy tiền “cày rẽ” vợ mình cả. Có quyền, có tiền, “loon lá đầy mình” là có nhiều lòng tham, tham luôn cả vợ người ta, mười thằng như chục.” Lý nói.

– “Bọn cai trị rất thâm độc, bỏ người ta vô xà-lim, giam một mình, nó độc địa không khác chi tra khảo. Tra khảo tâm hồn. Nghĩ như anh chàng Hoan bị giam ngoài conex chẳng hạn. Suốt ngày suốt đêm ngồi trong cái conex tối om, ngày thì nóng như lửa, đêm thì lạnh như Bắc Cực, không điên cũng thành niên, đã điên lại điên thêm.” Tôi nói.

– “Thôi! Đừng ví dụ thằng Hoan vô đây, động chạm đó. Anh Hải nói về sự cô đơn của Hàn Mặc Tử đi.” Phan Hải nhắc tôi.

– “Một mình sống bên bờ biển, đêm ngày không một bóng người. Hàn Mặc Tử không gọi là cô đơn, mà gọi là cô liêu. “Một vũng cô liêu cũ vạn đời”. Hồi dạy bài thơ đó của Hàn Mặc Tử, tui phải chui vô “Thư Viện Đại Học Huế” tìm “Việt Nam Tự Điển” của Hội Khai Trí Tiến Đức với “Hán Việt Tự Điển” của Đào Duy Anh để tra chữ “cô đơn” với “cô liêu” khác nhau như thế nào?”

– “Vô Thư viện mà gọi là chui, làm như đi ăn trộm!” Chiểu đùa.

– “Bộ ông tưởng ăn trộm sách không mau giàu sao? “Một năm ăn trộm bằng ba năm làm” Khi thành lập “Thư Viện Viện Đại Học Huế”, Cha Luận phải xuất một triệu để mua lại bộ “Bulletin Des Amis Au Vieux Hué” đó. Có lẽ Mậu Thân bị ăn cắp mất rồi.”

– “Ai ăn cắp?” Chiếu hỏi.

-Sau Tết Mậu Thân, tôi lên thăm ông Vàng, ông nầy làm ở “Tòa Đại Biểu Chính Phủ”, cha ông ta vừa bị lính Mỹ bắn chết. Hồi tui chưa cưới vợ, tui thuê nhà của ông ở với hai đứa em. Nhà nầy chếch cổng sau Thư Viện Đại Học. Rõ ràng Nguyễn Hữu Châu Phan, thằng nầy hồi trước học lớp Đệ Nhất với tui. Nó đang “chỉ huy” ba bốn cái xe ba gác, lấy trộm sách từ trong thư viện đem đi. Chính hiệu nó là thằng ăn trộm sách.”

– “Thôi bỏ đi! Nói chuyện tiếp nghe chơi.”

– “Tra tự điển xong, theo tôi nhớ chữ “cô” là một mình, đơn cũng là một mình. Chữ “liêu” thì trong tự điển không có. Tôi xin gặp ngay ông Bửu Kế, “quản thủ thư viện”. Tui từng gặp ông một lần rồi. Khi giảng Kiều, gặp câu “Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn giây”. Tui tìm trong “Tầm Nguyên Tự Điển” chính ông là tác giả, không thấy, tui hỏi trực tiếp ông. Ông giảng về tích Bao Tự. Ông có trí nhớ tốt lắm. Bây giờ tui lại vô hỏi ông. Tui hỏi chữ “liêu” thôi, mấy chữ kia dễ hiểu. “Liêu” là mênh mông, lặng lẽ, cô đơn. Chữ “liêu” không đứng một mình bao giờ. Ông ta giảng cho tui vậy đấy.”

– “Cái gì mà nghe ông nói toàn “tự điển” không. Đúng là “con một sách”. Dung nói.

– “Vô trại cải tạo, sách không có nên “mọt sách” cũng đói meo như mọi người.” Hiền nói đùa. Mọi người lại cười.

– “Mấy ông đừng chê mấy thằng cha mọt sách. Mao Trạch Đông chỉ tốt nghiệp trường sư phạm, cỡ giáo sư trung học là cùng, chưa từng du học ngoại quốc. Người mở mang trí óc cho Mao là bố của Dương Khai Tuệ, vợ đầu của Mao, – không kể bà vợ nhà quê cưới khi còn đi học -. Mao vào Thư Viện Bắc Kinh, đọc sách, chỗ nào không rõ thì hỏi ông quản thủ thư viện, ông giảng cho. Thấy Mao giỏi, ông gã con gái cho. Ông Ngô Đình Nhu cũng vậy!” Tôi nói.

– “Ông Nhu sao?” Chiểu hỏi.

– “Ông tốt nghiệp bên Tây, ở một trường “khảo cổ, khảo họng” cái École gì đó. Ông chú tôi nói “đưa ngón tay gõ vào một cái bát sứ, ông biết là sứ gì, Giang Tây làm vào đời nào, Càn Long hay Khang Hy!”

– “Chén bát thì liên quan gì tới “Chủ nghĩa Nhân vị”. Không lý đó là “Chủ Nghĩa Chén Bát”. “Chủ Nghĩa Đồ Cổ” mà xài gì được.” Lý nói.

– “Ông ta tự đọc sách. Học bên Tây về, Tây cho ông làm ở “Musée Khải Định”. Tui vô coi đó rồi, toàn súng gươm đời xưa không, có sách vở gì đâu. Chủ Nghĩa Nhân Vị của ông là theo sách vở ông ta đọc chớ không phải cái ông ta học. Chủ nghĩa của ông cũng chủ trương sống hợp quần.” Tôi nói.

– “Tui đồng ý với anh là con người sống hợp quần, nhưng họ cũng cảm thấy cô đơn vậy. Cô đơn trong tâm hồn.” Chiểu góp ý.

– “Dĩ nhiên. Có bao giờ cô Kiều không thấy mình cô đơn. “Ai tri âm đó mặn mà với ai?” – “Oan kia theo mãi với tình, Một mình mình biết một mình mình hay” Tôi nói.

– “Bọn mình sống ở đây không cô đơn sao?” Chiểu nói.

– “Lòng người đổi thay không nói trước được. Vợ chồng còn phản nhau huống chi bạn qua đường!” Lý nói.

Câu nói của Lý làm tôi nghĩ tới hoàn cảnh anh ta. Anh đi “học tập”, bỏ mấy đứa con lại không ai nuôi. Con anh còn nhỏ. Vợ anh thì lấy chồng Mỹ, bỏ nhà đi đã lâu.

Bỗng Chung lên tiếng: “Cha nầy nói tào lao! Mấy người tu thiền thì sao? Thiền là tu một mình, không lý “thiền tập thể” hay “thiền cộng đồng”?

– “Ông nói vậy thì tôi chịu. Tôi chưa từng thiền nên tui không biết như thế nào! Tui nói thiệt. Tín ngưỡng, tôn tôn giáo thường cực đoan, cuồng tín. Ngay cả thiền, nhiều người tu thiền mà nói ra nghe cuồng tín, không lọt lỗ tai được!”

– “Không phải đâu! Thiền là mở rộng tâm hồn mình với thế giới, với vũ trụ, với nhân loại. Cô đơn gì nữa!” Chiểu giải thích.

– “Cô đơn mà còn buồn là nguy lắm. Buồn là không vững tinh thần, là mau chết. Các ông nhớ Truyện Kiều không? Mười lăm năm lưu lạc, dù cô đơn, dù buồn khổ, dù đau đớn như thế nào, cô Kiều vẫn vững một niềm tin: “Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương”. Cô Kiều chỉ tự tử ở sông Tiền Đường, khi biết mình bị gã cho thổ quan, làm vợ thằng mọi thì coi như tuyệt đường về.”

– “Thôi ông ơi! Tự dưng ông đem mười lăm của Kiều mà dọa anh em. Bộ cải tạo tới mười lăm năm hay sao?” Hiền trách cứ.

– “Biết đâu đấy” Chiểu nói. “Cộng Sản ai mà tin gì được. Thúc thủ như bọn mình thì cứ “Que sera sera” thôi. May ra còn sống tới ngày về.”

– “Chiểu nói đúng đấy! “Ai biết ra sao ngày sau!” Tôi nói.

– “Vậy là thằng Mỹ bỏ mình sao?” Chung thật thà hỏi.

Chiểu nói: “Thằng Mỹ bây giờ như Thúc Sinh. “Liệu mà cao chạy xa bay, Ái ân ta có ngần nầy mà thôi.” Thúc Sinh đang sợ Hoạn Thư Trung Cộng.”

– “Bây giờ là lúc mình hãy tự tin vào mình mà thôi. Mỹ hay “Cách mạng”, tin gì được. Mấy ông có nghĩ mình đang bị giết mà không cần tắm máu không?”

Nói xong, tôi đọc câu trong “Cung Oán Ngâm Khúc”:

                        “Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu, (4)

                        Giết nhau bằng cái ưu sầu độc chưa?!”

 (1)-Quân Tào Tháo mười bảy vạn mỗi ngày ăn lương tốn lắm. Các quận lại mất mùa, chuyển vận không kịp. Tháo thúc quân đánh mau. Lũ Lý Phong cứ đóng chặt cửa thành không ra. Quân Tháo đánh thành hơn một tháng, lương ăn gần hết. Tháo đưa thư sang vay Tôn Sách được mười vạn hộc lương. Quan coi lương là Vương Cấu (có sách viết là Hậu) thấy ít quá không đủ phát cho quân, vào bẩm với Tháo, hỏi xem nên làm thế nào?

Tháo nói:

– “Ðem hộc nhỏ mà phát cho chúng nó, tạm cấp cứu lấy một lúc.”

Vương Cấu lại hỏi:

– “Thế ngộ quân sĩ kêu ca thì nói thế nào?”

Tháo nói:

– “Ta đã có cách.”

Vương Cấu vâng lệnh, lấy hộc nhỏ đong lương phát cho quân.

Tháo cho người đi dò các trại, chỗ nào cũng thấy quân ta thán rằng: “Thừa tướng đánh lừa quân”. Tháo thấy vậy, cho người ra đòi Vương Cấu vào bảo rằng:

– “Nay ta muốn mượn ngươi một cái, để dẹp yên lòng quân, ngươi đừng nên tiếc.”

Vương Cấu hỏi:

– “Thừa tướng muốn dùng cái gì?”

Tháo nói:

– “Ta muốn mượn cái đầu ngươi.”

Vương Cấu thất kinh, kêu oan, Tháo lại nói:

– “Ta cũng biết ngươi không có tội, nhưng không giết ngươi thì lòng quân sinh biến, ngươi hãy an tâm mà chết đi, sau khi ngươi chết, vợ con ngươi ta nuôi cho, ngươi đừng lo.

(2)-Anh Lê Dần bày ra một trò chơi khá vui. Anh phân phát cho những người chung quanh mỗi người một tờ giấy trắng. Người nhận viết một câu gì đó, xếp làm 4, đưa cho anh. Anh đưa tờ giấy lên tai, đọc câu viết trong đó bằng tai, xong đọc to lên. Mười câu, câu nào cũng đúng. Vậy là đọc bằng tai. Ai muốn biết đọc bằng cách nào, xin hỏi tác giả viết bài nầy.

(3)- “Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương …

Thơ của Mai Tuyết An(?). Nhạc sĩ Trương Quốc Khánh, người phổ nhạc bài thơ trên đã qua đời./

(4) Lưu Cầu: tên một hòn đảo thuộc quần đảo Ryukyu, Nhật Bản. Nơi sản xuất gươm, dao rất bén. Các sĩ quan trong Quân Đội Thiên Hoàng thường mang theo bên mình hai thanh kiếm Lưu Cầu, một kiếm dài để chiến đấu, một kiếm ngắn để hara-kiri, bảo toàn danh dự!

Hồi ký tù cải tạo

Hoàng Long Hải

Posted on 2 Feb 2015 by quanvan.net

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Bài 4

Mười bài học tập

Tôi “trình diện, đóng tiền để được đi tù cải tạo” buổi sáng 24 tháng 6 năm 1975 tại trường Taberd, Saigon. Ba ngày sau, 27 tháng 6, được chuyển lên Trảng Lớn. Một tháng sau nữa, sau khi làm bản tự khai đầu tiên, thì được chuyển về L3-T3.

Khoảng tháng 9, tất cả anh em đều được cho viết thư về thăm gia đình. Thư phải viết ngắn gọn, không được “phản động”, bày tỏ sự “tin tưởng tuyệt đối vào chính sách khoan hồng trước sau như một của đảng và nhà nước”, khuyến khích gia đình an tâm, chỉ ghi rõ hòm thư, không được tiết lộ nơi hiện đang học tập cải tạo là chỗ nào, v.v…”

Thư viết xong, gom lại giao cho đội trưởng, đội trưởng giao cho khối trưởng, khối trưởng nộp cho quản giáo. Có lẽ quản giáo là người đọc và kiểm soát thư của chúng tôi, trước khi gởi đi. Khoảng một tháng sau, phần đông chúng tôi nhận được thư gia đình trả lời. Trong chế độ mới có những điều khá buồn cười. Tuy là thư riêng, gởi cho gia đình hay gia đình gởi lại, nhưng bao giờ cũng phải theo những khuôn mẫu nhứt định, phải viết những câu như trong biểu ngữ… Tối hôm đó, nằm nói chuyện với nhau trong khi chờ giấc ngủ, tôi nói đùa: “Thư đi cũng phải “Muôn tâu thánh thượng, hoàng đế vạn tuế”. Thư về thì cũng phải bài bản như thế. Thư nào viết khác đi, coi như không có người nhận.”

Lê Quang Dung hỏi: “Thư của mình có bị kiểm duyệt không?”

Phạm Xuân Lý, người dày dạn kinh nghiệm trong ngành Cảnh Sát, trả lời:

_ “Ông mang tới lon đại úy rồi mà còn hỏi ngây thơ. Thư tù mà không kiểm duyệt thì kiểm duyệt thư ai?!”

Nằm phía ngoài cùng, Phan Hải nhắc chừng:

_ “Bộ đội nghe tới thì phiền, không phải tù.”

Chúng tôi làm thinh, không nói gì.

Thói quen của tôi là đùa, hay kể “chuyện xứ Huế tui” cho tất cả anh em nghe cho vui.

Phạm Xuân Lý thì kín đáo hơn. Anh gia nhập ngành cảnh sát khi còn trẻ, khi vừa quá 20 tuổi, sau khi đậu bằng trung học. Anh chăm chỉ, vừa làm cảnh sát, vừa học thêm, đậu tú tài, đang học luật. Thời Ngô Đình Diệm đã làm trưởng phòng Cảnh Sát Quận Hai, Saigon.

Một hôm, chỉ có anh và tôi, anh ấy hỏi:

_ “Anh Hải ở Huế có biết ông dược sĩ Nguyễn Cao Thăng không?”

Tôi trả lời:

_ “Trời ơi! Ông nầy là quái kiệt, lanh lợi số một, tài ba số một, xoay chuyển tình thế như gió bão, ông nắm ai là trúng người đó, đố chạy thoát.”

Lý hỏi:

_ “Có vẻ như ông ấy là thần tượng của anh?”

_ “Không phải đâu, nhưng anh hỏi tui như vậy thì chắc anh có lần “đụng độ” với ông ta?” Tôi hỏi.

_ “Sức mình mà đụng độ với ông ta sao nổi. Nhưng ở trong ngành Cảnh Sát gần 20 năm, tôi chưa từng thấy ai chơi sộp như ông. Mình đang ở cái thế trên ông, bị ông kéo đi như kéo xe.” Lý giải thích.

_ “Chuyện gì?” Tôi hỏi.

_ “Thời Ngô Đình Diệm, triệt để bài trừ “tứ đổ tường”. Một hôm, tôi vây bắt một ổ chơi bời hạng sang ở đường Cô Bắc. Vây nhà xong rồi, gái bán dâm, khách mua dâm đều bị tóm hết. Không như trước kia, bây giờ khách mua dâm cũng bị ra tòa.

“Sau khi giữ đám khách đàn ông ở lầu trên rồi, tôi đi lên để lập danh sách. Tới nơi, tôi thấy một người ăn mặc bảnh bao lắm, vét-tông xanh đậm, cà vạt đỏ, giày “đơ cu-lơ” ngon lành.

Ông ta đến trước mặt tôi, nói: “Tôi muốn gặp người chỉ huy hôm nay!”

Tôi trả lời, hơi sẳng giọng: “Tôi.”

Ông ta nói từ tốn nhưng cương quyết:

“Tôi là dân biểu Nguyễn Cao Thăng. Tôi không thể có tên trong số những người nầy. Anh cầm tạm số tiền nầy uống càphê.”

Nói xong, ông ta đưa cho tôi một phong bì khá dày. Tôi nhìn ông ta, xong, đưa tay cầm phong bì dày, đứng tránh ra một bên đầu cầu thang, nói: “Xin mời ông dân biểu về.”

Ông ta cám ơn, bắt tay tôi rồi xuống cầu thang.”

Tôi hỏi anh Phạm Xuân Lý:

_ “Anh sợ ông ta cái gì?”

Lý cười:

_ “Cả hai. Ông ta là dân biểu, tôi không tha, về tới ty Quận Nhì, ông Trưởng ty cũng tha. Kinh nghiệm dạy cho tôi như vậy. Tui tha thì tui hưởng trọn phong bì. Còn ông Trưởng ty tha, chắc chi tui có chút tiền uống một ly cà phê?”

Tôi cười:

_ “Vậy là “Nén bạc đâm toạc tờ giấy?”

Lý cải:

_ “Không phải. “Thẳng mực tầu đau lòng gỗ”. Luật pháp không phải bao giờ cũng cứ một đường thẳng mà đi. Anh có biết “bát nghị” là gì không?” (1)

_ “Biết chút chút.” Tôi nói: “Luật Hồng Đức.”

_ “Anh chắc biết ông ta là công thần của chế độ!” Phạm Xuân Lý nói.

Thấy anh ta nói đúng, tôi làm thinh.

Một lúc, tôi nói thêm:

_ “Từ một người bị “cậu Cẩn” ghét cay ghét đắng, vì cho rằng ông ta là “đệ tử” Thủ hiến Phan Văn Giáo, cương quyết trừng trị một khi “anh thượng thư về châp chánh”, trở thành một người “kinh tài cho Ngô triều” (Báo chí hồi đó gọi ông Nguyễn Cao Thăng là một người như thế – tg) phải nói rằng ông ta là thiên tài. Ông nầy không thua gì Lã Bất Vi bên Tầu. (2).

Tôi không nhớ chắc ngày nào, sau khi dựng hội trường ở giữa hai khu nhà số 4 (Khối 4) và nhà số 5 (Khối 5) thì được tổ chức học tập. Ai nấy đều vui, hy vọng “học xong” sẽ được về.

“Đi học” mà, học xong thì về chớ có phải tù tội gì đâu!!!

Phần đông tin tưởng như vậy bởi vì “cách mạng” yêu cầu phải “tuyệt đối tin tưởng” vào “cách mạng” thì mình cũng phải tin chớ. “Cách mạng” cũng có danh dự, uy tín của “cách mạng”, không lý “cách mạng” “nói ra rồi lại nuốt lời như… Chí Phèo hay Thị Nở”.

Tất cả chỉ có 10 bài học chính trị. Tổ của tôi, ai cũng lo học cho thuộc. Hồi đó, tôi cũng rán học thuộc, nhưng đến bây giờ, tôi không sao nhớ rõ tên 10 bài học đó. Đại khái là “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta.” Kế đó là những bài như “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân toàn thế giới”, “Đế quốc Mỹ là con đĩa hai vòi”, “Đế quốc Mỹ giàu mà không mạnh”, “Không nên sợ Mỹ và phục Mỹ”, “Ngụy quân ngụy quyền là tay sai của Mỹ, có tội với nhân dân, cách mạng”.

Quan trọng nhất là ai ai cũng phải “tự mình xác nhận có tội với “cách mạng”… Rồi thì: “Xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là con đường tất yếu của nhân loại”, “Chính sách khoan hồng nhân đạo của Cách mạng trước sau như một”, v.v… Nói chung là như thế… như thế!…

Ban ngày thì đi học. Học xong, họp tổ, thảo luận rồi làm bài “thu hoạch” nhưng tối lại, trong bóng tối, chưa ngủ được, nằm bên nhau, chúng tôi nói toàn chuyện “phản động”, mặc dù có Phan Hải nằm ở đầu vách phòng. Đôi khi anh ta cũng góp ý, tuy không nhiệt tình. Tội nghiệp, anh ta đang hy vọng bố mẹ bảo lãnh cho về sớm, nên ai cũng thông cảm chuyện anh ta “giác ngộ cách mạng” sớm hơn chúng tôi. Đời nầy, ai cũng vì cái quyền lợi của người ta cả, “tổ quốc, tổ cò” gì đâu!!!

Một đêm, Chiểu hỏi tôi:

_ “Anh Hải, “Mỹ giàu mà không mạnh. Vậy thì chắc chắn bọn chúng đã thua ở Việt Nam.”

_ “Tôi không rõ.” Tôi nói. “Nhưng theo tôi nghĩ, các tay chuyên viên, nằm ở phía sau tòa Bạch Ốc, là các ông giáo sư đại học, như “Kít” hay Brzezinski họ có “tầm nhìn chiến lược” về toàn thế giới, vạch ra đường lối cho nước Mỹ, thì cứ 10 năm hay 20 năm, tình hình thế giới có vài biến chuyển lớn, trong đó, bao giờ cũng có vai trò như thế nào đó của Mỹ.”

Dung nói:

_ “Nói chung chung dzậy ai nói mò chẳng được. Anh đưa ra ví dụ đi.”

_ “Như vầy nè! 1945, Thế giới chiến tranh thứ hai chấm dứt. Năm 1955, Mỹ vào miền Nam, Pháp rút đi. Mười năm sau, Mỹ đổ quân vào miền Nam. Rồi mười năm nữa, Martin cuốn cờ ở tòa đại sứ Mỹ.”

Phạm Xuân Lý nói:

_ “Không chắc, vậy hiệp định Genève 1954 để làm gì, hiệp định Paris 73 để làm gì?”

Tôi nói:

_ “Theo tôi nghĩ, đó chỉ là những công việc chuẩn bị cho giai đoạn quan trọng, chính yếu tiếp theo. Có hiệp định Genève 1954 thì Mỹ mới nhảy vào trực tiếp ở miền Nam năm 1955. Lạt đổ Ngô triều năm 1963 để chuẩn bị cho Mỹ đổ quân năm 1965. Hiệp định Paris 73 chỉ là chuẩn bị cho Mỹ hoàn toàn không dính líu gì tới Việt Nam nữa, giao cho Trung Cộng.”

_ “Vậy là Mỹ thua Trung Cộng?” Trắc hỏi.

_ “Thua hay không thì phải trở lại thông cáo Thượng Hải, hay việc Kissinger bí mật qua Bắc kinh hồi tháng 7 – 1970, với việc Nixon gặp Mao hôm 21 tháng 2 năm 1972. Kissinger là một giáo sư, một lý thuyết gia, chiến lược gia. Tay nầy nguy hiểm lắm.

“Khi tiễn chân Nixon ra về, Mao nói buồn cười lắm: “Những người như chúng tôi thường nổ những loạt súng lớn, tổng thống đừng quan tâm.”

“Mấy tay đầu sỏ quốc tế chưởi nhau om sòm cho vui thiên hạ, còn trong thực tế thì họ chia chác nhau quyền lợi. Quyền lợi của các nước lớn, hy sinh quyền lợi các nước nhỏ. Tội nghiệp là thân phận các dân tộc nhược tiểu như mình, cứ nghe súng “đại bác mồm” của Mao mà sợ.”

Phạm Xuân Lý nói:

_ “Coi như Mỹ phủi tay, xong rồi!”

_ “Không đâu!” Tôi nói. “Tôi có cảm tưởng như tụi Mỹ đang “chia vùng trách nhiệm” vậy! Mấy hôm trưóoc khi trình diện (cải tạo), tui vẫn còn nghe Bêbêxê. Kissinger lại đi Ai Cập, Do Thái chuẩn bị cho một thỏa hiệp gì đó để ổn định Trung Đông. Mỹ muốn giao một trách nhiệm gì đó cho Do Thái, đệ tử ruột của Mỹ, còn Ai Cập, bàn chuyện gì bên đó mà không có Ai Cập làm sao được.

_ “Đông Dương, Đông Nam Á coi như xong” Lý nói.

_ “Liên minh Phòng thủ Đông Nam Á” là coi như xong rồi. Khi tôi còn làm viêc ở Kiên Giang, một hôm về Tam Sơn (3), nghe dân chúng thuật lại thời cụ Ngô, lính Nhảy Dù Úc nhảy xuống Tam Sơn, mới biết có lần “Liên Minh” nầy tập trận, có cho lính nhảy dù nhảy xuống đó. Dân chúng đi coi đông lắm.” Nếu nói “chia vùng trách nhiệm ở vùng Đông Á nầy, có thể coi vai trò của Trung Cộng với Nhật là quan trọng. Sau lưng Nhựt còn có Mỹ mà. Mỹ không bỏ Nhựt như bỏ miền Nam mình đâu!

Phan Hải nói, tự ái:

_ “Cách mạng mình cũng ghê lắm, họ chịu lép sao?”

_ “Nước mình là nước nhỏ, là con cờ của tụi nó. Con tốt hay, như bài thơ đánh cờ của Hồ Chí Minh thì cũng có thể, nhưng nhìn chung, cũng chỉ là con cờ.”

Chung lên tiếng:

_ “Dân cải tạo cũng nhạy bén lắm, anh biết không! Nhiều người đang học tiếng Tầu.”

Quả thật trại L3-T3 của tôi có hai hiện tượng đáng chú ý. Thiên hạ đua nhau học tiếng Tầu. Khối nào cũng có lớp học tiếng Tầu, học chữ Hán và nhiều sòng mạt chược mở ra.

Học xong 10 bài, cũng chẳng thấy biến chuyển gì cho thấy sắp được tha về, ai nấy nôn nao, buồn bã, chán nản.

Đang trong tình hình như thế, Phan Hải đề nghị:

_ “Cái giếng đầu kia đông người quá, mình đào riêng một cái giếng cho tổ của mình đi.”

Dung nói:

_ “Sắp về rồi, đào giếng làm chi nữa.”

Chiểu phản ứng:

_ “Trường học tập cải tạo không bao giờ thiếu người đâu, mình đi thì để lại cho người khác dùng.”

Trắc cười không vui, nói:

_ “Thằng “đui” nầy phát biểu câu nào cũng độc. Nó đoán trước chế độ nầy không bao giờ thiếu tù, chỉ thiếu nhà tù mà thôi.”

Phan Hải góp ý, không biết thành thật hay đùa:

_ “Cách mạng nói rồi, không phải tù, chỉ là học tập cải tạo mà thôi.”

Toán đào giếng chỉ có mấy ngoe. Phan Hải tìm một chỗ bên hông nhà, hy vọng trúng mạch nước, đào một vòng làm dấu rồi đi mất, còn lại Phạm Quang Chiểu là người tích cực nhứt trong việc đào giếng nầy, thứ đến là Trần Phú Trắc và tôi. Mấy ông khác, chỉ hụ hợ rồi chán nản bỏ đi.

Khi đào xuống sâu, thấy đất đã ướt, có mạch nước thì Chiểu không cho tôi và Trắc xuống giếng nữa. Anh ta giành lấy công việc khó nhọc đó.

Tôi và Trắc, đứng trên miệng giếng, có gác ngang hai tấn ván. Khi vét đất đầy cái giỏ do chúng tôi làm bằng giây kẽm gai, Chiểu hô to: “lên”.

Tôi và Trắc ở phía trên thay nhau kéo lên.

Đất càng ngày càng nặng, cho biết mạch có nhiều nước. Khi cái giỏ đất được kéo lên, phải từ từ để cái giỏ không lắc lư qua lại.

Chiểu phải nép vào thành giếng để tránh nước từ cái giỏ đầy chảy ra.

Khi kéo thì chúng tôi đứng dạng chân trên hai tấm ván, cúi người xuống, cầm giây kéo lên.

Trắc thì nhiều khi rất “xà bát”. Thay vì đứng cho ngay mà kéo, anh ta đứng nghiêng một bên người mà kéo. Vậy nên anh bị “cúp xương sống” nằm lì một chỗ, không nhúc nhích gì được, suốt cả mấy tháng trời. Việc ăn uống, đi tiểu, đi cầu, tắm rửa, v.v… của Trắc đều được Chiểu chăm sóc, giúp đỡ.

Chiểu rất tận tâm, chân thành, đáng quí. Sau nầy, khi về trại Long Giao, Trắc chưa bình phục hẳn mà Chiểu thì đã bị đưa ra Bắc, không ai giúp đỡ Trắc cả, tình cảnh của anh ta rất đáng thương.

Trắc nằm một chỗ, khoảng hai chục ông bác sĩ đến thăm mà Trắc không bình phục được. Bác sĩ khám thì phải có thuốc. Bác sĩ không thuốc thì cũng “cùi.”

Trần Hữu Bảo nói đùa:

_ “Hồi trẻ chơi chị Năm chị Mười, mục xương sớm chớ cúp mẹ gì đâu!” (4)

Nghe Bảo nói đùa, ai nấy đều cười. Trắc đang nằm liệt cũng cười, nói vớt vát:

_ “Đ. mẹ. thằng ba trợn, nói bậy bạ không!”

Dung, cũng hay đùa, vừa nói to, vừa cười: “Bậy bạ, trúng tùm lum.”

Không có thuốc thì châm cứu vậy.

Khi tôi bị chuyển về trại L3-T3 thì nghe nói bác sĩ Văn Tần cũng ở đây, bác sĩ Trương Thìn cũng ở đây, nhưng cả hai đã được tha về rồi. Người ta đồn bác sĩ Văn Tần nói rằng ông ta bà con với Văn Tiến Dũng. Nghe thế, tôi không cải chính, chỉ thấy buồn cười việc thiên hạ hay tán bậy. Bác sĩ Văn Tần quê ở Long Hưng, làng nầy sát thị xã Quảng Trị. Năm tôi học lớp nhứt với ông Hồ Đắc Hanh thì Văn Tần đi học lại. Đi học lại có nghĩa là mấy năm chiến tranh, việc học anh ấy bị gián đoạn, nay anh ta đi học cùng với lớp “hậu sinh”, cũng có nghĩa là trước 1945, anh ta học trước chúng tôi những mấy lớp. Tuy là bạn học nhưng nói chuyện với anh ta, bao giờ tôi cũng phải ngửng đầu lên vì anh ta vừa lớn tuổi, vừa lớn con. Chúng tôi với nhau thì gọi mày tao, nhưng với Văn Tần thì bao giờ cũng gọi bằng anh. Học chung với anh tới lớp đệ lục, thì tôi bỏ trường, tới đệ nhị cấp thì lại gặp nhau ở Quốc Học. Bố anh làm lý trưởng làng Long Hưng trước 1945, còn ông Văn Tiến Dũng là dân Bắc Kỳ. Bắc Kỳ, Trung Kỳ xa nhau lắm, đâu phải người cùng làng, cùng xứ, dễ làm bà con với nhau hơn.

Còn ông Trương Thìn vô trại thì phát triển môn châm cứu. Nhiều người theo học, người nầy dạy lại người kia. Kể từ khi ông Trương Thìn rời trại tù cải tạo đến nay chưa đầy một năm, mà có cả một chục thế hệ học trò châm cứu tiếp nối nhau.

Có lần, tôi nói đùa:

_ “Châm để cứu, hễ cứu không được thì “châm kêu”, “châm khiêng”.

Nguyễn Văn Bê không hiểu ý tôi, hỏi:

_ “Châm kêu, châm khiêng là sao?”

_ “Kêu là kêu y tá xuống cấp cứu, hoặc khiêng lên bệnh viện.”

Trắc cũng được châm cứu, lần hồi anh ta ngồi dậy được, đi lại được, cũng đỡ cho Chiểu. Tuy nhiên, không ai trong tổ tôi cho rằng đó là kết quả của châm cứu cả.

“Thầy” Đạo, tên thật là Nguyễn Đạo, cùng đội với tôi, cũng học nghề châm cứu đâu đó.

Cũng như mọi “thầy” khác, ông ta sắm một bộ kim châm cứu, rút từ sợi thép cứng trong giây điện thoại. Thỉnh thoảng “thầy” cũng mang hộp đi đâu đó, hành nghề “cứu nhân độ thế.” Hôm Lê Khắc Quyền ở khối 3, bị “thần quyền” nhập, có nghĩa là nửa đêm, anh ta tung mùng dậy, múa vỏ lung tung, mãi gần sáng, đánh võ “Xôlô” mệt quá, anh mới nằm xuống ngủ.

Trắc kể cho tôi nghe:

“Không rõ ông nào trong tổ của Lê Khắc Quyền, nghe danh “thầy Đạo” bèn lên rước “thầy”xuống.

Đang kẹt ván cờ tướng, “thầy” bảo “Chút nửa tui xuống.”

“Khi người mời “thầy” đi rồi, tui nói với Đạo:

_ “Bệnh người ta mời, cứ ngồi đánh cờ.”

“Đạo vẫn ngồi đánh cờ, trả lời Trắc:

_ “Mấy sợi giây thần kinh nó chạm nhau đó mà, chút tui xuống gở ra là xong.”

“Tuy nói vậy, “thầy” cũng giải quyết xong ván cờ cho sớm, ôm hộp kim ra đi.

Mấy hôm sau thì nghe tin Lê Khắc Quyền chết, chôn bên cạnh phi trường, chỗ “nghĩa trang tù”.

Kể lại chuyện đó với tôi, Trắc than phiền:

_ “Tính mang người ta mà coi như chuyện chơi.”

Tôi cải:

_ “Nhưng ông Quyền chết có phải vì châm cứu đâu. Tui chưa nghe ai nói vì châm cứu mà chết.”

_ “Đã đành” Trắc nói.

 “Nhưng làm thầy thuốc thì không phải tác phong như thế!”

Tôi nghĩ rằng Trắc không ưa Đạo vì tay nầy thường hay “show up” nên nói thế. Tuy nhiên, điều Trắc phê phán, không hẳn sai. Thời gian ở L3-T3 do bộ đội quản lý, chẳng lao động, phá rừng, cày cuốc gì cả, cả ngày chúng tôi chỉ lang thang chuyện trò. Để giết thì giờ, và có thêm rau “cải thiện”, chúng tôi tự kiếm đất trống, trồng rau, trồng đậu…Khoảng một lần một tuần, bộ đội tổ chức đi cuốc đất, chuẩn bị trồng khoai mì ở phi trường, hai bên phi đạo. Chỉ là chuẩn bị thôi, nghĩa là chúng tôi lấy cuốc đánh vồng, đắp từng mô đất bằng cái nón lá, chờ có mưa thì dăm hom khoai mì xuống đó. Những mô đất đó, chúng tôi gọi đùa là mả gió. Đi lao động có nghĩa là đi đắp mả gió. Mỗi khi có gọi đi lao động, vài anh em chúng tôi tình nguyện xin đi. Ở hoài trong trại cũng chán. Tuy kế hoạch thì vậy, nhưng ra tới nơi, mạnh ai muốn làm gì thì làm, có kẻ đi lang thang, thậm chí có anh vạch cỏ bắt dế về cho dế đá nhau xem chơi. Cả buổi, toàn thể chúng tôi miễn có đắp vài ba chục cái mả gió là được. Có hôm trời nắng quá, thiếu úy Đậu, Dziệt Cộng, người dẫn chúng tôi đi lao động, tập họp chúng tôi lại. Anh ta đứng trên gò đất cao, tuyên bố một câu, lần nào cũng như lần nào:

“Điều kiện trời thì nóng, đất thì cứng, ta về thôi.”

Thế là chúng tôi hoan hô, vác cuốc kéo nhau về. Gần chỗ chúng tôi đắp mả gió là “nghĩa trang tù”. Anh em trong trại tôi, ai qua đời thì chôn ở đó. Những anh em các trại khác, khi chết, cũng chôn ở đó. Vì vậy, khi đi đắp mả gió, chúng tôi thường ghé lại “nghĩa trang”. Cứ vài ngày thì có một cái mả mới, có dựng bia, bằng gỗ thì viết tên, hay bằng “tôn” lợp nhà thì đục lỗ khắc tên cho lâu bền. Có hôm, anh Thế của trại tôi ra tới nơi, bèn tới xem tên trên những bia mộ mới, rồi khóc òa lên.

Anh em đổ xô tới hỏi. Anh ta vừa chỉ lên mộ bia vừa nói: “Thằng nầy em tao. Nó chết rồi! Trời ơi. Nghe nổ ở T5, tao đã nghi. Ba má ơi, biết nói làm sao với ba má!”

Nghe khóc, chúng tôi ai cũng cảm động. Vào trại, để giết thì giờ, chúng tôi thường kiếm việc làm tiêu khiển, vừa để làm vật kỷ niệm. Trần Thanh Tuấn, khối 1 với tôi, nguyên Trưởng phòng Công xa Bộ Tư lệnh CSQG, tú tài kỹ thuật nên đục, đẻo, giũa, mài…khéo tay lắm. Cứ mỗi lần đi đắp mả gió, anh ta tới chỗ hai chiếc AD-6 bị hỏng, để bên phi đạo, đục, cạy lấy nhôm vỏ máy bay đem về. Anh ta làm cỡ vài chục cái lược, vài chục con dao. Có hai anh em ở tổ 7, khối 1, quen tay nghề ở nhà khắc tượng Chúa, Mẹ nên họ lấy mấy khúc gỗ đun bếp, cắt, khắc chạm thành những cái ống điếu (vố) rất đẹp. Ở T5, nghe nói có mấy ông thiếu úy còn trẻ, rủ nhau lấy hỏa tiển (loại gắn máy bay), lớn hơn cổ tay, chưa nổ, đem về cắt làm vòng tay, khắc tên, chạm hình, đeo chơi. Có mấy người đã làm thì không sao. Bữa đó có mấy ông xúm nhau cưa một hỏa tiển như thế. Bất thần hỏa tiển nổ khiến bốn ông mạng vong. Ai ngờ, trong số đó có một người em của Thế. Hai anh em cùng đi Thủ Đức, cùng ra sĩ quan và cùng đi tù cải tạo, chỉ khác trại mà thôi.

Bấy giờ chúng tôi phá những ca uống nước của lính. Loại nầy bằng inox. Dùng inox nầy, chúng tôi cắt, khắc chạm, chùi bóng, làm những tấm “lắc” chờ khi được tha về hay được thăm nuôi thì tặng biếu gia đình. Không lấy nhôm ở chiếc máy bay AD-6 bị hư ngoài phi trường được thì chúng tôi kiếm nhôm, cắt nhỏ, đem nấu, lại cắt, dũa mài, thành những cái lược. Tôi cũng làm cho con tôi mấy tấm lắc bằng nhôm. Hễ đứa nào tuổi con gì, thì tôi khắc hình các con đó: Trâu, mèo, ngựa …

Có người dùng “tôn” lợp nhà, cắt gò, thành dụng cụ dùng hằng ngày như nồi, soong, v.v… Sĩ quan Dziệt Cộng thì kiếm nguyên một tấm “tôn”, nhờ cắt gò thành những cái “vani” (valise) để đựng đồ đem về Bắc. Họ thích lắm. Những cái lược nầy, “vệ binh” (lính Dziệt Cộng) cũng rất thích, nhờ cải tạo viên làm giùm hay xin lại ai đã làm sẵn. Bấy giờ có bài hát phổ theo thơ của Hoàng Trung Thông: “Bàn tay ta làm nên tất cả, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Có người nhại theo đó mà hát:

“Bàn tay ta làm nên cái lược,

Để mai nầy đem biếu anh vệ binh.

Vệ binh khen “lao động là quang vinh”

Hãy phát huy làm thêm nhiều nhiều nữa.”

Dĩ nhiên là để họ xin đem về bắc./

(1)-Tám loại người nếu phạm tội nặng thì trước khi xét xử phải được phép của vua và khi kết tội phải tâu lên vua để vua định đoạt. Bộ Quốc triều hình luật thời Lê ở Việt Nam (giữa thế kỉ 15) quy định tám loại người đó:

1-Những người thân thuộc của vua (nghị thân).

2-Những người giúp đỡ vua lâu ngày (nghị cố).

3-Những người có đức hạnh lớn (nghị hiền).

4-Những người có tài năng lớn (nghị năng).

5-Những người có công lớn (nghị công).

6-Những người có chức tước lớn (nghị quý).

7-Những người siêng năng cần mẫn trong chức vụ (nghị cần).

8-Những con cháu các triều trước (nghị tôn).

Tám loại người này được hưởng ba sự ưu đãi:

a)-Vua cho phép xét xử thì quan mới được xét xử và vua quyết định việc kết tội.

b)-Khi thẩm vấn, họ không bị tra khảo như dân thường.

c)-Nếu bị kết từ tội lưu trở xuống, họ được giảm một bậc. Đối với việc phạm thập ác (mười tội ác: 1/ Mưu phản. 2/ Mưu loạn 3/ Mưu đại nghịch: giết vua 4/ Ác nghịch: Giết cha mẹ 5/ Bất đạo: thiếu đạo đức 6/ Đại bất đạo 7/ Bất hiếu. 8/ Đại bất hiếu 9/ Bất mục 10/Bất nghĩa) thì không được áp dụng bát nghị. (Theo VNTĐ)

(2)-Lã Bất Vi (trước Công Nguyên) là một thương gia thời Chiến Quốc. Sau ông làm thừa tướng nước Tần. Lã Bất Vi là cha của Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, hoàng đế đầu tiên của Tầu. Ông là người nổi tiếng trong lịch sử về buôn bán, kể cả buôn vua. (Xem phần nói về Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng trong Viết Về Huế, tập 3, cùng tác giả)

(3)-Tam Sơn là 3 ngọn núi ở vịnh Rạch Giá: hòn Me, hòn Sóc, hòn Đất (Hòn Đất là  đặc khu của VNCH, tên gọi là Đạc Khu Hòn Đất”

(4)-Chị Năm là 5 ngón tay, chị Mười là 10 ngón tay, để thủ dâm.

Anh Ba Trọc

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Anh Ba Trọc

Đoàn Xuân Thu

Anh Ba Trọc là người bị ghét nhứt ở đất Footscray. Ghét vì cái lối nói chuyện hay móc họng người ta của ảnh. Như đa phần bà con người Việt, ảnh họ Nguyễn, con trai lót chữ Văn, tên là Phú. Nguyễn Văn Phú.

Vì hồi xưa, nhà nghèo lắm, tía má ảnh chỉ mơ tiền rủng rỉnh nên chị của ảnh tên Giàu. Nguyễn Thị Giàu, như nghệ danh Ngọc Giàu của một cô gái nghèo ở cái đất Thủ Thiêm, bên kia sông Sài Gòn. Sau Ngọc Giàu đi hát cải lương, tiền công-tra với bầu gánh lên tới cả triệu đồng. Từ nghèo thành Giàu là vậy!

Anh Ba Phú giàu có máu mặt ở Footscray nhờ trúng số cả chục triệu đô. Thiên hạ gọi ảnh là “trọc Phú”. Nhìn cái bản mặt câng câng thấy ghét nên thiên hạ bỏ quách cái tên Phú cúng cơm đi, chỉ còn là Ba Trọc.

Trọc không phải là trọc lóc, không có tóc. Xấu củ nhưng tốt dây, tóc râu của Ba Trọc chỉ cần một năm không hớt, nó dài xọc giống người rừng sông Amazon bên đất Brazil, Nam Mỹ vậy. Mấy ông thợ hớt tóc nói lén, thằng cha Ba Trọc ở dơ.

Cuộc đời của Ba Trọc ly kỳ như tiểu thuyết của nữ sĩ Quỳnh Dao, Ðài Loan. Năm 1978, Lê Duẩn sai một tay thợ thiến heo tên Ðỗ Mười từ ngoài Bắc vào Nam đánh tư sản. Mà chữ gọi là cải tạo công thương nghiệp tư sản mại bản. Sau 75, ai mà được cộng sản nó gắn cho chữ “cải tạo” là nát cửa, tan nhà.

Lúc đó, Phú với Giàu ngày đi học, đêm hai chị em đội xề bánh ú đi bán ở chợ Cầu Ông Lãnh. Một bữa, có chú Ba nói tiếng Việt lơ lớ mua mão luôn hai xề bánh ú. Chị Hai Giàu nghĩ bán đắt, sẽ được về nhà ngủ sớm. Khoái chí, chị Hai Giàu chúc bà con (dù đi ghe) thượng lộ bình an. Ai dè đó là ghe vượt biên. Sợ bể, bọn công an còng đầu cả đám; nên mấy chú Ba bắt hai chị em theo luôn. Nhỏ chút éc, Ba Phú đâu có chịu xa tía má. Khi ghe xuôi sông Lòng Tàu ra biển, Phú cứ khóc i ỉ. Chưa có ai chết mà nghe khóc hoài xui thấy mẹ. “Nị mà khóc nữa, ngộ cho một đạp văng nị tuốt xuống sông bây giờ”, nghe bị cho đi thăm Hà Bá, Phú mới chịu nín khóc, lột bánh ú ra ngồi ăn. Sau 5 ngày, 5 đêm, ăn tới cái bánh ú cuối cùng, tính ăn luôn lá chuối thì ghe tấp vô được Pulau Bidong, Mã Lai.

Phái đoàn Úc tới, thấy hai chị em “con bà phước” nên nó ưu tiên bốc ngay về Úc. Ba Phú tính kiếm việc làm ngay để gởi tiền về nuôi tía má gần chết đói ở Việt Nam vì không còn ai đi bán bánh ú hết ráo.

Nhưng Úc nó nuôi. Con nít không cho đi làm, buộc Phú phải học ít nhứt phải hết lớp 10. Chỉ được làm “part time” như giao bánh pizza ban đêm, tuần không quá 20 tiếng.

Ba Phú mới đầu chỉ tính học tiếng Anh đủ để không phải xài động từ “tu quơ”. Ai dè, học riết ghiền; vì trong lớp có mấy em đẹp não nùng. Cuối cùng, Phú cũng lấy được cái bằng cử nhân của Úc. Nhưng thiên hạ nói Ba Trọc gốc dân bán bánh ú chợ Cầu Ông Lãnh thì sức mấy mà có đủ trí thông minh để có được cái cử nhân?

Thiên hạ không tin nhưng tui tin. Mặc dù anh Ba Trọc chưa bao giờ xùy ra cái bằng đại học Úc để nhát tui bao giờ. Tui tin vì có lần nhậu chơi, ảnh đem một câu bằng tiếng Anh ra đố để coi trình độ của tui cao tới đâu.

Câu đó vầy nè: Thầy hỏi: “What has four wheels and flies?”. Trò trả lời là: “A garbage truck!”.

Tui là người rất dốt tiếng Anh nên hỏi: “Mắc cười chỗ nào?” thì Anh Ba Trọc cắt nghĩa: “Cái gì có 4 bánh và biết bay?” Thầy giáo mong học trò trả lời là “chiếc máy bay”. Nhưng học trò lại trả lời là “xe rác”. Như vậy ai đúng? Ai sai? Câu trả lời là: thầy sai, trò đúng. Thầy sai ở chỗ nào? Sai trong cách đặt câu hỏi. Hỏi mà không biết dùng liên từ “and” (và).

“And” là một co-ordinate conjunction (liên từ nối hai chữ đồng đẳng về văn phạm, như danh từ số nhiều phải nối với danh từ số nhiều). Vì thế học trò nó nghĩ “four wheels” danh từ số nhiều của chữ “wheel” ắt phải nối với “flies” là danh từ số nhiều của “fly” (con ruồi). Muốn cho học trò hiểu “flies” là động từ chia ngôi thứ ba số ít của động từ “fly” (bay) thì ông thầy phải thêm chủ từ “it” trước động từ “flies” để chữ “and” nối hai mệnh đề độc lập với nhau. Lúc đó thì học trò hiểu mới trúng theo ý của ông thầy. Cái gì có bốn bánh và nó biết bay là chiếc máy bay. Bằng không có chủ từ “it” của mệnh đề độc lập thứ hai, thì học trò hiểu cái gì có bốn bánh là chiếc xe và nhiều con ruồi (“flies” số nhiều của chữ fly (con ruồi) trước khi đổi qua số nhiều thì phải đổi “y” thành “i” rồi mới thêm “es”. Như vậy, chiếc xe có nhiều con ruồi học trò trả lời là xe rác, là đúng quá xá về văn phạm, đâu có cãi được gì nè.

“Mổ câu, chữ ra cặn kẽ như vậy để thấy chuyện đùa của Úc dù ngắn gọn, nhưng không thừa, không thiếu. Ý nghĩa của nó rất thâm sâu”, anh Ba Trọc lên giọng thầy đời.

Tiếng Anh, đua không lại anh Ba Trọc. Nhưng tiếng Việt là ảnh phải học của tui. Ba Trọc qua Úc hồi chín, mười tuổi sao bằng tui qua Úc lúc đã quá nửa chừng xuân? Tui đố anh Ba Trọc chữ “tiêm chủng” và chữ “chích ngừa” COVID-19 chữ nào đúng? Chữ nào sai? Anh Ba Trọc trả lời: “Hai chữ giống nhau”.

Trả lời như vậy là trật lất, tui cắt nghĩa: “Tiêm chủng: chích cái chủng, cái giống vi trùng đã làm yếu đi để cơ thể sanh ra kháng thể, ngừa bệnh, như tiêm chủng đậu mùa. Bây giờ bào chế kiểu mới hoàn toàn khác, chích vaccine “mRNA” vào để dạy tế bào tạo protein giúp miễn dịch. Không có “tiêm chủng” gì ráo, phải dùng chữ “chích ngừa” mới đúng”.

Nếu anh Ba Trọc không muốn quên tiếng mẹ đẻ của mình; sợ thành dân mất gốc thì mỗi ngày nên đọc Bình Nguyên Lộc hoặc Sơn Nam rồi anh Ba Trọc sẽ thấy các nhà văn trẻ ngoài nước và ngay cả trong nước viết trật bấy bá!

Có sắp nhỏ viết tiếng Việt không giống ai là: “Jeep Wrangler giữ giá lâu nhất, Nissan Leaf nhanh mất giá” (?). Ai cũng biết tiếng Việt trạng từ đi sau động từ. Thì “Nissan Leaf nhanh mất giá” (?) phải viết là: “Nissan Leaf mất giá nhanh”. Vì “đi nhanh” viết thành “nhanh đi” nó khác nghĩa với nhau một trời một vực.

Kết luận sắp nhỏ viết tiếng Việt phải dùng Vietnamese Grammar (văn phạm Việt), đừng dùng English Grammar mà viết tiếng Việt kỳ lắm nha!

Hai đứa ngồi nhậu cãi nhau đến sùi bọt mép thì thằng Cu Tèo, con anh Ba Trọc, đi học về gật đầu chào rồi nói: Cô giáo của con muốn gặp bố! (nó kêu anh Ba Trọc bằng bố; vì chị Ba Trọc là dân Bắc Kỳ 9 nút).

Chẳng qua đầu đuôi gốc ngọn vầy nè:

“Tuần rồi Cu Tèo về nhà nói: Bố! Cô dạy toán của con muốn gặp bố!

– Về chuyện gì?

– Cô hỏi con: 7 nhân 9 là bao nhiêu? Con trả lời: 63.

Sau đó, cô ấy hỏi:

– 9 nhân 7?

Con đã hỏi lại cô:

– Có cái quái gì khác nhau đâu?

– Ðúng thế, được rồi. Bố sẽ đi.

Hôm sau, Cu Tèo đi học về và nói:

– Bố đi gặp cô con chưa?

– Chưa!

– Vậy lúc nào đi, bố gặp cô dạy thể dục luôn nhé!

– Về chuyện gì?

– Giờ thể dục, cô kêu giơ tay trái lên. Rồi cô kêu giơ tay phải lên. Sau đó, cô kêu nhấc chân phải lên, con cũng làm tất. Bây giờ cô kêu nhấc chân trái lên. Vì vậy, con hỏi: Cái gì? Cô muốn em phải đứng trên con “cu” của em hả?

– Ðúng thế – Anh Ba Trọc nói – được rồi, bố sẽ đến.

Bữa nay, Cu Tèo lại hỏi:

– Bố đi gặp cô giáo chưa?

– Chưa.

– Khỏi cần bố ạ. Con bị đuổi học rồi.

– Tại sao con lại bị đuổi học?

– Họ kêu con lên văn phòng thầy hiệu trưởng. Và ngồi đó là cô dạy toán, cô dạy thể dục và có cô dạy văn nữa!

– Cô dạy văn làm cái chó gì ở đó vậy? Anh Ba Trọc hỏi.

– Ðó, đó! Chính xác đến từng chữ! Ðó là câu con đã hỏi!”

Đoàn Xuân Thu

Anh Ba Tèo!

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Anh Ba Tèo!

Đoàn Xuân Thu

Hồi mới qua, tui được mấy thằng Úc dạy nghề an ninh (security) một tháng. Ðược Cảnh sát tiểu bang Victoria cấp ‘lái sần’ (licence), tui đi làm bảo vệ. Làm con ‘ki ki’ giữ nhà cho chủ nghĩa tư bản. Làm mọi cho tài phiệt Do Thái. Nói thiệt ra đó là một khu thương mại có nhiều nhà hàng, quán rượu, khu ẩm thực (food court), lẫn tiệm bán quần áo thời trang… sát bờ sông Yarra, trung tâm thành phố Melbourne.

‘Job’ làm không cực nhọc như làm hãng Ford, phải rượt theo cái băng chuyền tự động chạy ào ào, mệt lắm! Cũng không khiêng vác gì nặng. Chỉ cần mặc đồng phục na ná quần áo của mấy thầy đội Úc để nhát ăn trộm.

Thằng ‘boss’ nó dặn: “Nhát thôi nhe! Ðừng có ngu làm anh hùng, đương đầu với tội phạm. Mấy thằng ‘xì ke’ đó nó đang đói thuốc; nó móc dao ra là cha chú mầy cũng chết. Có gì cứ kêu phú lít. Ðó là chuyện của Cảnh sát. Nhớ chưa?”

Như vậy cái ‘job’ bảo vệ nầy không bảo vệ ai cả, thấy tội phạm thì la làng. Chỉ cực cái là đêm thức, ngày ngủ. Cả năm không thấy ánh mặt trời nên thiếu Vitamin D! Da mặt xanh lè, xanh lét, xanh mét! Người rút lại còn chút éc như đang làm bạn với ả phù dung.

Mấy thằng Úc đồng nghiệp nó chỉ tui là mỗi giờ đi tuần cứ dợt qua, dợt lại trước máy thu hình chừng 5 phút thôi. Khoảng thời gian còn lại muốn làm gì thì làm. Ðừng có ngủ là được. Vì sáng ra, coi lại màn hình, thằng ‘boss’ nó không thấy mình đi lên đi xuống mấy tầng lầu siêu thị canh chừng ăn trộm là thôi rồi Lượm ơi! Nắm đầu mình nó đuổi là mình móc bọc.

Nhờ cái bí kiếp ‘ma lanh’ đó, nên thằng ‘boss’ của tui, luôn miệng khen: “Vietnamese! Good! Good”. Nó nói ngắn gọn thôi. Vì nói nhiều tui đâu có hiểu. Nó nói tiếng Anh của tui nghèo (poor) nhưng được cái là tui siêng. Thằng nầy xạo, nói cho tui khoái để tui làm đêm cho nó ròng rã từ năm nầy qua năm khác. Vì cái vụ ca đêm nầy, đâu thằng Úc nào chịu làm. Nó sợ con vợ nó đêm ở nhà một mình hay làm sảng.

Vậy là tui cứ an tâm cày. Ước mơ quê người trở lại trường đại học đành hẹn kiếp lai sinh! Vì phận làm chồng, mình phải nuôi vợ. Như ông nội nuôi bà nội. Như tía nuôi má vậy thôi!

Làm được chừng 4 năm, dành dụm được một mớ. Em yêu ra nhà băng hỏi vay tiền để mua một căn nhà. Trong tài khoản của tui được 20 ngàn đô, bằng 10% tiền cọc. Bốn năm nay, tui chỉ làm cho một công ty; chớ không cóc nhảy tùm lum như mấy thằng Úc. Tiền lương mỗi hai tuần của tui ổn định. Tui có thể trả tiền nợ nên nhà băng đồng ý cho vợ chồng tui mượn. Ðời mà! Có thóc nó mới cho mượn gạo. Có tóc nó mới nắm được đầu mình. Vậy là vợ chồng và hai thằng cu con dời về cái nhà do nhà băng làm chủ. Phải cày trả cho nó suốt 25 năm râu dài tới rún. Em yêu bèn kêu thợ lại sửa cái nhà xe để cho mướn. Vì tiền nhà hết phân nửa tiền lương rồi! Ðâu còn bao nhiêu để đi chợ, trả ‘bill’ và nuôi con ăn học chớ?

Ðăng báo rao vặt được mấy hôm thì anh Ba Tèo gọi điện thoại cho tui xin mướn. Ảnh đến coi cái nhà xe. Còn tui coi cặp giò của ảnh. Có phải là phường Lương Sơn Bạc, đầu trộm, đuôi cướp, xì ke, ma túy hay không? Chớ hớp tớp mình rước cọp vào nhà coi chừng có ngày nó ăn thịt em yêu của mình.

Té ra tui đa nghi như Tào Tháo. Nhìn người dưới cặp mắt kiếng màu đen. Ai cũng xấu hết ráo. Ảnh đến coi chỗ mướn mà còn vác theo một thùng Budweiser, bia Mỹ làm lễ ra mắt chủ nhà. Anh Ba Tèo cười he he nói: “Mình sống ở Úc, phải uống bia ngoại, bia Mỹ mới đúng điệu dân chơi Cầu Ba Cẳng. Hành động tế nhị đó làm tui rất lấy làm đẹp dạ. Tui cũng làm bộ biết điều. Bánh ít đi; bánh quy lại. Anh tốn tiền bia. Tui tốn tiền mồi. Vậy là tui xào một dĩa trẹt đầy ú thịt bò Úc bún tàu và đậu phộng. Dĩa thịt bò còn bốc khói thơm phức! “Gắp đi anh!” Một bữa nhậu thấm đậm tình quốc tế đảng Ve Chai! Bò Úc, bia Mỹ và hai thằng Mít.

Làm cạn vài chai. Trao đổi nhau vài chiêu, bốc phét qua lại để biết trình độ võ công của nhau thâm hậu đến dường nào?

Ảnh thấy trên vách, tui có lộng kiếng hình hai trái bưởi ế kinh. Ðể khỏi làm tét nhánh, chủ vườn dùng một cái nịt ngực để bợ hai trái bưởi lên.

Anh Ba Tèo nhìn hình, nuốt nước miếng nghe cái ực. Ảnh nói: “Bây giờ mới hiểu sơ sơ hai câu thơ của Phạm Thiên Thư trong bài Ðộng Hoa Vàng:

“Thôi thì em chẳng yêu tôi!

Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng”

Tui cãi lại! Cựu nhà sư kiêm nhà thơ Phạm Thiên Thư làm hai câu nầy không phải nói trái bưởi ế kinh như anh nghĩ đâu. Nếu có, là hai câu nầy nè: “Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền. Ðôi gò đào nở trên miền tuyết thơm”. Diễn Nôm ‘Ðôi gò đào’ là hai trái bưởi đó cha nội!

Còn cái vụ hứng bất tử ‘Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng’ là ổng chôm cái ý của câu ca dao: “Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!”
Ý ổng tiếc con ghệ, xưa là của ổng, sau vì ổng đi tu để trốn quân dịch; mà đạo lại không cho cái vụ đó; nên em bèn ngồi sau yên xe cho thằng khác chở… đi chơi!

Chớ làm chủ Ðộng… Hoa vàng thì ổng làm gì còn xí quách mà mơ tới hai trái bưởi như tui?

Cạn gần hết thùng bia, đôi bên cũng tình thương hơi mến thương nên tui đi đại ‘bốt đờ sô’ vô đời tư của ảnh. “Trước anh Ba ở đâu?” “Thì ở với con vợ tui!” “Sao không ở nữa?” “Tại nó đuổi tui” “Lý do?” “Ðâu có lý do gì! Chẳng qua tui có óc hài hước mà con vợ tui thì không! Chuyện tui cười thì nó lại quạu”.

Mới tháng rồi nè! Vợ tui không chịu đầu hàng trước vẻ ngày càng già nua. “Em yêu của tui ra tiệm thuốc Tây, mua một đống mỹ phẩm đắt tiền với hy vọng mình dối già, sẽ trẻ hơn nhiều so với tuổi thiệt.

Sau một hồi ngồi trước gương bôi các sản phẩm ‘thần kỳ’, em hỏi: “Anh Tèo, hãy nói một cách thành thật! Nếu anh chưa hề biết em, anh sẽ nói em đang ở độ tuổi nào?”

Nhìn em một cách cẩn thận, tui trả lời: “Làn da của em, 20; tóc của em, 18; và dáng của em, 25.”

“Quỷ nè! Ðồ nịnh đầm!” Vợ tui bĩu môi. Ngay khi em định nói phần thưởng đêm nay, thì tui ngăn lại “ Khoan khoan! Hãy để anh cộng mấy con số đó lại đã”

Vậy là em vụt cái bịch rác đựng quần áo của tui ngay trước cửa. Mặt hầm hầm như ai ăn hết của. Em không nói một lời nào. Vốn là một con người lịch sự, tôn trọng sự tự do của con vợ tui; em đuổi, tui lẳng lặng lái xe đi ra bãi đậu xe để làm ‘homeless.

Ðược vài bữa, con vợ tui dán bố cáo ngoài chợ Footscray là: “Nếu bạn đã nhìn thấy anh Tèo, hình đính kèm trên đây ở đâu? Vui lòng cho tui biết theo số mobile…Xin hậu tạ 50 đô! Lòng tui đang rất lấy làm lo lắng!”

Nhưng anh ơi! Chữ rằng tức nước ắt vỡ bờ. Sức chịu đựng ai cũng có hạn phải không nè? Lòng tự ái của tui đã tổn thương quá nặng. Chén nước em đang tâm đổ xuống thì hốt lại có được đâu? Vì nó chảy mẹ hết trơn rồi! Giận vợ dứt áo ra đi; vợ theo năn nỉ; hổng có cái vụ tù ti trở về đâu mà ham.

Nghe anh thề như dao chém đá, nháng lửa, tui òa lên khóc. Anh ngạc nhiên “Yểm bi lụy! Yểm bi lụy! Chớ ai bi! Chớ ai bi. Sao khóc vậy cha?”

Tui mếu máo trả lời: “Tình cảnh của tui cũng y hịt như anh! Tui cũng tính bỏ con vợ tui để đi về chân trời tím. Nhưng chân trời tím xa quá. Ði mỏi cẳng. Nên tui tính dọn xuống nhà xe cho khuất mắt em yêu. Giờ nhà xe, em đã cho anh mướn rồi thì tui biết phải về đâu? Hu hu!”

Đất hẹp

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Đất hẹp

Hồ Đình Nghiêm

 Nhà quàn Bougie nằm trên con đường dẫn ra ngoại ô. Nó như một lằn ranh được mọc lên, vô tình ngăn chia sự tạp nhạp của phố phường, chận đứng những thứ tiếng động dài hơi lại và rồi mở ra sau đó những lối đi trống trải, với bát ngát cánh đồng cỏ chạy tứ tán về phương trời xa. Nhà quàn, tự thân nó, đã là hình ảnh của chia lìa, của ngăn cách rồi. Mọi thứ khác chỉ trang điểm thêm vô, chỉ trùng hợp ngoài ý muốn.

  Đường tới nhà quàn cây cối xanh tươi, trồng ngay hàng thẳng lối. Cây không mấy cao và cành lá xum xuê luôn đan kết với nhau khiến người ta có cái cảm giác dễ chịu là được đi dưới sự che chắn của thứ bóng im mát chẳng đứt đoạn. Con đường không mấy rộng, có tấm bảng sơn trắng lưu ý những người lái xe hãy kềm giữ tốc độ từ ba mươi cây số giờ trở xuống. Sự yên tĩnh thường trực chiếm giữ lấy một vùng không gian. Nghe mơ hồ tiếng kêu lách cách đều đặn của cái vòi phun nước nằm cuộn mình ẩn dấu dưới cỏ như một con rắn lục kì dị. Một con rắn rung chuông nhân tạo, và gửi theo tiếng kêu của nó, nước sẽ phun đi xa, tưới ướt đẫm một vùng cỏ mượt mà. Cỏ chạy từ lề đường xi-măng lên tới tuốt nhô đất cao bưng bít tầm nhìn. Nó không giống một sân chơi golf, nó tựa một cái nghĩa địa mà người ta sợ những tấm mộ bia khi trồng dựng lên sẽ làm rối mắt, mất mỹ thuật.

  Gió hiu hiu thổi. Góc vườn nhà ai phơi những tấm khăn trải giường trắng. Sợi giây chùng xuống, vẽ một đường cong sáng ngời. Những cánh buồm không căng gió và những chiếc thuyền mãi loanh quanh không định được phương hướng. Trời hanh. Tháng bảy vẫn có những chiều mang thứ sắc màu ủ dột như vậy. Thứ ánh sáng mạnh bạo bị vây hãm bởi mây dày. Nó tức tưởi tựa một cơ thể đang sung bỗng chốc bị hao hụt khi phải dồn sức chống đỡ bệnh hoạn. Vọng bị ung thư cuống họng, những câu nói đùa của Vọng không vì thế mà mất đi cái duyên dáng thường nhật. Người ta nhìn ra vẻ lạc hồn trên khuôn mặt Vọng, nhưng sau đó những nghi hoặc của họ thảy bị nhận chìm rất mau. Họ dễ dàng tìm thấy ngay câu trả lời: Có mấy đứa viết văn luôn giữ cho mặt mình được bình thường? Vênh váo ở chỗ này và buồn bực ở chốn khác. Một con gà trống khi đứng gáy và một con gà mái đang mắc đẻ.

  Có cái cầu vồng mọc mờ nhạt, lưng chừng phía sau nhà quàn. Óng ả, huyền hoặc. Mưa rơi ở nơi nào mà chốn này hơi nước lẫn về trong gió hiếm. Lá xao xác, như nó biết rùng mình khi ngửi ra mùi hương trầm phảng phất. Mùi tử khí rất Viet-nậm. Một nhân viên nhà quàn ngồi trực nơi bàn kê ở lối ra vào. Hắn có khuôn mặt láng lẫy đặc thù của một dân tộc hãnh diện về món Pizza, Spaghetti. Hắn vô cảm, không dị ứng với đám mây trì nặng từ trong trôi dạt ra, nhưng hắn sẽ đứng lên, can thiệp với bộ điệu chẳng mấy thiện cảm nếu thấy một kẻ buồn miệng đang đứng lớ ngớ châm lửa điếu thuốc. Sau lưng hắn là cái hành lang thắp đỏ những bóng điện yếu ớt, buồn tủi màu vàng đục. Hành lang quáng gà, là con lộ duy nhất mở ra những căn phòng có kẻ thuê nằm chờ hoá thân về với cát bụi. Và cái nhà quàn này, sao nó có đầy sự đe doạ như cái Baté motel trong phim Psycho? Thuỳ Mị bước lên những bậc cấp, cô nghĩ tới tấm màn nylon treo trong bồn tắm, cái bóng đen đứng thầm lặng bên ngoài và rồi tiếng kêu thảng thốt của những cái móc sắt khi tấm màn bị níu kéo, bứt rời.

  Vọng nằm căn thứ 5. Cửa rộng mở nhưng ngược lại có cái giá dựng tấm bảng đen đứng án một góc. Những con chữ bằng nhựa trắng sắp trên bảng xộc xệch như thứ đồ chơi cho trẻ con học tập mẫu tự và vọc đùa với toán số. Nó không tiên liệu trước sự rắc rối dành cho những thân chủ người ngoại quốc cho nên tên Vọng không cách nào có được cái dấu nặng bên dưới. Vong là vong thân, là tiêu vong, là biến mất là xoá sạch. Còn Vọng? Là sự chấn động, là dội về, là âm ba, là trùng trùng những sân si chẳng bao giờ diệt sạch.

  Những người đến viếng linh cửu thảy đều phải đi qua cái bục gỗ. Ngọn đèn, cây bút và cuốn sổ đặt ở đó lưu giữ chân bước rụt rè của họ lại trong phút giây. Nếu trong quang cảnh dễ làm chảy nước mắt này mà ai đó lòng còn dấy lên những tạp niệm u tối khác, giả như nhác thấy một “người đẹp” vừa xuất hiện sáng loà; thì họ rất dễ dàng để biết ngay ra cái xuất xứ hiển lộng kia. Tên họ và địa chỉ chưa khô nét mực còn nằm cứng người trên trang giấy.

  “Xin lỗi, cô là Thuỳ Mị có phải không?”

  Người con gái thoáng bối rối, hoặc giả đó là cái bối rối thường trực khi cô đặt chân vào lãnh địa của nhà quàn.

  “Lâu quá rồi, có thể Thuỳ Mị đã khuấy quên tôi”.

  Thuỳ Mị. 365 rue Vincent. Appt. #25. Ville St-Lảuent sẽ rụt rè ngó lên khuôn mặt thằng đàn ông. Trong lúc này, cô không thể bình tâm mà lục soạn trí nhớ mình được, vả lại cái đứa đứng gạ chuyện kia chẳng có đui què mẻ sứt gì ráo. Nó bình thường tới độ tầm thường, nó chẳng mang dấu vết dị hình để khiến mình phải thảng thốt nhìn nhận ra ngay. Thằng đàn ông hiểu được chuyện ấy hơn ai cả, hắn còn biết thêm một điều, là khi đứng gần kẻ chết, tuồng như lòng dạ của kẻ còn sống có phần nào mềm đi. Độ lượng hơn, rộng rãi hơn, quên bẵng đi những hoài nghi mà thường khi họ xem đó là cách ứng xử an toàn nhất trong cuộc sống.

  “Muốn hay không, khi đến nhìn mặt Vọng lần cuối này, mặc nhiên chúng ta đã có một sợi dây liên hệ nào đó rồi, Thuỳ Mị thấy không?”

  Giọng nói hắn nhỏ, gần như thì thầm bên tai cô. Làm như to tiếng hơn một chút thì có thể đánh thức Vọng dậy, và đó là điều mà chẳng ai muốn cả. Thuỳ Mị xem đó là cách lý giải hay nhất, cọng thêm chút tự trọng bởi không làm phiền đám đông. Cô cần một người đồng hành để giúp cô có sự can đảm khi đứng sát bên quan tài Vọng. Với cô, bao giờ người chết cũng dễ sợ cả và cô luôn ngờ vực câu nói: “Sợ là sợ người sống chứ ai lại đi sợ kẻ chết!” Trước khi bước lên bậc tam cấp, ở ngoài sân Thuỳ Mị đã nghe tiếng nói đùa của hai gã đàn ông: “Tụi này nó lấy chữ Bougie để cầu chứng môn bài mần ăn nghe cũng hay nhỉ? Mẹ, ông ngán tới độ teo bu-ri”. Thuỳ Mị hiểu chữ teo bu-ri nhằm ám chỉ cái vật gì và cô không cho lời đùa nghịch kia là vô duyên. Cô sợ nhìn mặt người chết, dẫu người đó là Vọng. Và cô sẽ không hiểu được bộ phận nào trên cơ thể cô sẽ teo lại khi đối đầu với niềm sợ hãi. Có một đứa tự nhận là người quen cũ khiến Thuỳ Mị đỡ phải teo… tim.

  “Tôi không biết cách thức vái lạy người chết. Tôi đi theo Thuỳ Mị để bắt chước học lóm, đồng ý không?”

  Thuỳ Mị gật đầu. Không ai đủ nhẫn tâm để từ chối lời yêu cầu đáng thương ấy cả.

  Vọng. Cuối cùng thì tôi cũng đến được gần anh. Tôi đến trễ và một lần nữa, giữa chúng ta luôn còn đó sự ngăn chia. Lần này thì trầm trọng hơn, nó chẳng giống trò chơi cút bắt nữa. Anh bị đạp mạng và anh sẽ thực sự biến mất. Còn tôi, bao lâu nữa thì tôi mới thực sự quên hẳn anh? Người ta bôi son trét phấn làm anh lạ lùng hẳn ra, anh trẻ trung anh tươi hồng tới độ kỳ cục. Phấn son là thứ của đàn bà, người ta cho phép đàn ông sử dụng khi mà kẻ đó đã thực sự xuôi tay. Anh có bực mình vì chuyện đó không? Thời trước, anh vẫn xa lánh những đứa mà anh bảo chúng nó luôn đeo mặt nạ. Anh luôn cô đơn, bởi vì trước tiên anh là một nghệ sĩ, và sau rốt, tôi đồng tình với anh một điều: Thật khó cho chúng ta kiếm được một người bạn chân tình, bên kia trái đất cũng như bên này bán cầu. Thôi anh đi, cõi vĩnh hằng kia biết đâu lại chẳng dễ thở hơn dương thế? Hằng năm, vào ngày này tôi sẽ nhớ thắp lên cho anh một nén hương.

  Thuỳ Mị bước ra khỏi đám đông, đi tới cửa. Cô dừng chân dưới bậc thềm, đứng hít thở mùi đất nồng mùi cỏ ẩm. Đầu hơi váng vất, đôi mắt cay. Thuỳ Mị nhìn nhớ ngoại cảnh một lát rồi mới biết đâu là trạm dừng của xe buýt để mang cô về lại thành phố.

  “Lên xe đi. Tôi sẽ chở Thuỳ Mị về”.

  Thuỳ Mị nhìn thằng đàn ông ngồi trong xe, trước tay lái. Xe nổ máy, lăn bánh chậm rãi bên hông cô.

  “Tôi tên Đán. Tôi nghĩ là sẽ có nhiều điều mà Thuỳ Mị muốn biết”.

  “Về chuyện gì?”

  “Về Vọng”.

  Đán. Cái tên chẳng đánh động chút gì vào ký ức Thuỳ Mị.

  “Anh với Vọng quan hệ ra sao?”

  “Lên xe rồi hẳn nói. Thứ bảy, đợi cả tiếng mới có xe buýt”.

  Thuỳ Mị nhìn quanh. Bên phải, đồng cỏ rộng và xa lộ vạt xẻ một đường đen hút mắt dẫn tới cây cầu treo. Xe cộ chạy ùa về phía đó như có ma đuổi. Hai ba giờ chiều, trời đất âm thầm chứa một nỗi buồn trĩu nặng làm chân đi chóng mỏi. Thuỳ Mị mở cửa, trong xe có tiếng nhạc quen thuộc, xa vắng. “Nhớ tới ngày nào cùng bước xuống… mùa thu quyến rũ anh rồi…”

  “Tại sao không rẽ tay trái?”

  “Đi theo lộ trình xe buýt à? Mình lấy xa lộ sẽ mau hơn”.

  “Bao lâu thì người ta sẽ chôn cất anh Vọng?”

  “Thứ hai. Có lẽ vậy”.

  “Tại sao ở bên đây cứ nghe tin người chết hoài, trong khi lý ra…”

  “Lý ra điều gì? Buồn bã, lạc lõng, thương nhớ cũng dễ làm mình đổ bệnh vậy!”

  “Tôi không tin. Ở bên nhà, mọi điều kiện sống đều tồi tệ hơn đây vậy mà người ta cứ sống nhăn. Sống trân tráo”.

  “Vì họ còn lòng tin. Họ chờ đợi, họ hy vọng”.

  “Hy vọng?”

  “Bị rớt xuống biển sông ai cũng mong leo được lên thuyền… Thuỳ Mị qua đây đã lâu chưa?”

  “Gần ba năm”.

  Thuỳ Mị trả lời, thoáng khó chịu. Cô nới lỏng sợi dây an toàn.

  “Anh Đán thì sao?”

  Đán nhìn chiếc áo trắng Thuỳ Mị mặc. Sợi dây đen gài chéo lên đó, luồn ở giữa và vì vậy ngực của Thuỳ Mị có cái gì đó bắt mắt.

  “Mười hai năm. Tôi sắp đổi xe lần thứ ba… Ý tôi muốn nói là xứ này, tuyết nó làm tuổi thọ của mỗi chiếc xe kéo dài được sáu năm thôi. Thuỳ Mị thấy đó, sắt thép còn vậy huống hồ con người!”

  “Anh quen anh Vọng trong trường hợp nào?”

  “Hồi nãy trong nhà quàn tôi cũng tự hỏi vậy mà không nhớ ra. Một trận nhậu? Một buổi ra mắt sách? Một cuộc triển lãm tranh? Dẫu sao thì chúng tôi cũng đã có với nhau những thứ gần như tình bạn. Tôi mến con người nghệ sĩ có ở Vọng… Thuỳ Mị khát không? Tụi mình ghé vào một quán nước nhé?”

  “Không cần thiết, khi khác đi. Tôi thấy chẳng được khoẻ”.

  Mây dồn xuống thành phố. Những vệt nắng loang lỗ rải đều trên đường bị chùi sạch đi. Trời sẽ đổ mưa, và mưa sẽ tắm gội đồng đều những thứ cắm trên mặt đất, chẳng bỏ sót. Người ta sẽ dễ dàng hơn trong việc xẻ xắn một cái mộ huyệt. Những cây dù đen sẽ trương ra, mưa tráng một lớp thuỷ tinh trước tầm nhìn, nhấp nhô những bóng đen di chuyển bên hàng thập tự trắng có trong một nghĩa trang gầy ốm bóng cây.

  “Chẳng được khoẻ? Có cần uống thuốc không? Advil? Tylenol?”

  “Anh có sẵn?”

  “Không. Gần đến nhà rồi. Đừng đổ thừa là lối lái xe của tôi dễ làm kẻ khác chóng mặt. Ai cũng thế cả, bước khỏi nhà quàn làm sao mà giữ lòng được thư thái?”

  Xe chạy qua một cái chợ lộ thiên. Mùi cá tanh ở đầu đường và cuối đường là mùi thơm của đào, dâu, cam, chuối trộn lẫn cùng đủ thứ hoa tươi.

  “Buổi tối khi chợ vãn, ở lòng đường còn gửi mùi lên ô cửa phòng tôi. May một điều là họ không hoán đổi vị trí cái chợ cá. Ban đêm thao thức, ngửi mùi trái cây vương vấn, tôi có cảm giác mình là một oan hồn đang hưởng “chùa” thứ hương hoa của bá tánh!”

  Thuỳ Mị đổ người ra trước khi xe dừng ở một vuông sân đất. Bên kia hàng rào lưới sắt có bọn nhỏ tụ tập đá banh, những thứ tiếng động không ngớt tràn ra ngoài đường cái, kể cả bụi bặm.

  “Vào nhà một lát cho biết. Tôi để dành cho Thuỳ Mị một ngạc nhiên”.

  “Tôi đang có mặt ở đây, giờ phút này, chưa đủ là một ngạc nhiên à?”

  Đán mở cánh cửa gỗ không phát tiếng, dùng lưng để dọn sẵn một lối đi.

  “Tôi có giữ được hai bức tranh Vọng vẽ đã lâu. Bảo đảm Thuỳ Mị sẽ xúc động khi nhìn lại chúng”.

  “Anh còn bảo đảm chuyện gì khác cho tôi không?”

  Thuỳ Mị nói khi bước vào phòng. Đán bật đèn, đóng hai lần cửa.

  “Đừng đùa. Hãy uống trước một viên thuốc cho bảo đảm rồi hẳn nói chuyện”.

  “Anh ở một mình?”

  “Tạm thời thì như vậy. Bởi vì cuối cùng thì ai cũng phải lập gia đình cả, đúng không?”

  “Chưa chắc”.

  “Thuỳ Mị ngồi xuống đó đi. Ừ, chưa chắc; nhưng có thêm một người trong nhà thì đỡ lạnh lùng, đỡ trống trải, đó là chưa nói tới trường hợp bị ốm đau… Tôi mở quạt máy cho mát, Thuỳ Mị thấy nóng không?”

  Gió đi qua rồi lại lùa về. Tóc Thuỳ Mị rối và tấm màn buông che cửa sổ lay động từng hồi. Căn phòng ngăn nắp. Thuỳ Mị nhận xét, bởi vì thực ra nó chẳng có gì nhiều để bày biện, để tạo nên sự lộn xộn. Tạm bợ, và dường như điều ấy không nhằm chứng minh chủ nhân là một kẻ độc thân. Đán từ phòng sau mang ra hai ly nước. Thuỳ Mị đón lấy uống rồi nhăn mặt đặt xuống bàn:

  “Thứ gì vậy?”

  “Một loại rượu nhẹ, để xua đuổi tử khí. Thuỳ Mị biết không, những tay làm ở nhà đòn, những đứa rửa ráy xác chết đều phải tợp rượu mạnh cả”.

  “Vậy à. Họ mượn nó để tránh đụng mặt với niềm sợ hãi?”

  “Không rõ. Tìm đến rượu thì có nhiều nguyên nhân, đa số đều phát xuất từ buồn nản… Thật lạ lùng, trước đây tôi quen được một người bạn do bởi ngồi chung bàn trong một cái đám cưới thịt rượu ê hề. Giờ này thì đám ma… nếu Thuỳ Mị cho phép tôi dùng tới chữ bạn”.

  “Vách trống trơn, tranh đâu không treo?”

  “Tôi treo trong phòng ngủ. Để tôi mang ra xem, và Thuỳ Mị sẽ hiểu do đâu tôi đặt nó trên đầu chỗ nằm”.

  Đán quay lưng. Hắn cao hơn Vọng, hơi chải chuốt. Hắn có dáng vẻ một tên làm ở cửa hiệu bán xe hơi, hoặc một công ty chuyên lo ba cái vụ bảo hiểm. Những công việc hoàn toàn trái khuấy với con người Vọng. Thuỳ Mị uống thêm một ngụm nước. Ngọt, chua, nồng và tê lạnh ở đầu lưỡi. Trong rượu tuồng như có pha sẵn một ít mùi vị trái cây. Một đằng nó làm giải khát và đằng khác nó bay biến đi mau, để lại một cần cổ khô khốc, đòi hỏi đền bù.

  “Trong hai bức, đây là bức mà tôi quý nhất”.

  Đán nói. Hắn đặt tấm tranh trên một chiếc ghế trống, kéo lùi sát vách, vừa đủ mãn nhãn tầm nhìn. Hắn vặn vẹo những ngón tay vào nhau, nhìn rõ nét đổi thay có trên gương mặt Thuỳ Mị. Nụ cười nở ra trên miệng hắn, tự mãn không kém một kẻ vừa làm nên một kỳ tích. Hắn đặt đít xuống mặt nệm, cái soà rùng mình lan truyền qua người Thuỳ Mị một cơn sóng. Nỗi váng vất có ở nhà quàn đã rút khỏi người Thuỳ Mị, thế vào đó cô đón nhận một sự rung động kỳ quặc.

  “Dưới chữ ký của Vọng có để năm. Đã mười lăm năm, theo tôi người trong tranh vẫn chẳng có gì đổi thay”.

  Thuỳ Mị mãi miết nhìn như đang bị thôi miên. Như một người ngồi trước gương soi và lạc hồn nuối tiếc khi nhìn ra sự tàn phai có trên nhan sắc mình. Tủi hờn và cảm động làm Thuỳ Mị muốn khóc. Thuỳ Mị khoả thân trong tranh nhìn tới cô bằng ánh mắt dịu dàng. Vọng vẽ thật xuất thần, tia nhìn đằm thắm kia nửa như an ủi cô, nửa biết đe doạ. Nó làm Thuỳ Mị ngạt thở.

  “Anh Đán. Tôi muốn… anh bán lại bức tranh này cho tôi”.

  “Bán nó? Theo cô thì tôi phải ra giá là bao nhiêu… Một tác phẩm nghệ thuật…”

  “Bao nhiêu cũng được… Anh nói đi”.

  Đán cười. Tiếng sắc, cao. Suốt buổi, lần đầu tiên Thuỳ Mị nghe giọng cười của hắn. Cô nghĩ, có gì bất thường đang rung nơi cần cổ kia.

  “Nếu tôi là đứa không túng thiếu, không cần tiền bạc thì Thuỳ Mị tính sao?”

  Ly rượu làm đầu Thuỳ Mị trì nặng. Mặt cô nóng và có lẽ cô chẳng còn chút sáng suốt để toan tính. Cô ngồi yên trên ghế, bềnh bồng với tất cả những hình ảnh cũ vừa lùa về. Trời nóng, chiếc áo thun ướt đẫm dán vào da thịt. Một góc vải trắng che mất nửa người Vọng, đầu tóc anh rối và con mắt dưới đó như một luồng sáng thỉnh thoảng quét lên cơ thể Thuỳ Mị. Nó có thể lột trần mình ra một cách kỳ diệu, trung thực đến độ phải phát hoảng khi mình nhìn thấy bề mặt tấm tranh. Nếu dùng cọ nhỏ để chấm một nốt ruồi son bên trên ngực trái thì khi ấy tranh với người sẽ là hai giọt nước.

  “Anh đừng chơi ác. Xin anh hiểu cho bức tranh này nguyên thuỷ là của tôi. Một ngàn đồng, anh đồng ý không?”

  Đán cởi ca-vàt ném xuống ghế, hắn trạc áo và xắn cao ống tay lên gần nách. Hắn có bôi đeỏoant ngăn mồ hôi và mũi Thuỳ Mị ngửi được thứ mùi thơm làm choáng váng. Bức tranh, ly rượu, căn phòng đóng kín cửa, quạt máy khuấy động thêm sự bần thần… Mọi thứ có vẻ như sắp đặt.

  “Trời đã đổ mưa, xem chừng nó giữ Thuỳ Mị lại đến tối”.

  “Anh Đán, thực ra thì anh muốn gì?”

  “Thuỳ Mị đoán thử coi”.

  Thuỳ Mị nhìn hắn. Không. Vọng chẳng thể có một người bạn như hắn. Cũng như hắn không thể làm chủ bức tranh này được. Không đủ tư cách!

  “Anh có bao rác không? Loại bao rác lớn”.

  “Để làm gì? Thế áo đi mưa à?”

  “Làm phiền anh bọc hộ bức tranh kia lại, xong rồi tôi sẽ nghe theo điều kiện đánh đổi của anh”.

  “Tốt lắm. Tôi rất yêu sự thẳng thắng của Thuỳ Mị. Tôi cũng rất có cảm tình với cái tên Thuỳ Mị. Thuỳ Mị… Tại sao lại không là Thông Minh? Làm thêm một cốc rượu nữa nhé?”

  “Sẵn lòng. Uống cho có can đảm”.

  “Nói nghe ghê vậy? Không sợ say sao?”

  “Được say lại càng tốt. Khi say thường người ta phải mửa ra, đúng không? Một ngày nào đó cái chợ cá đằng kia sẽ dọn tới đây cho xem, anh tin không?”

  Rượu đổ tràn ra ngoài ly, chảy ướt một vạt áo Thuỳ Mị. Màu trắng bị hoen ố, nước xâm thực mau trên sứa vải tựa cái tả lót của một đứa bé đang làm bậy. Chẳng hề chi. Rồi mưa sẽ tắm gội tuốt những dơ bẩn khác có trên người. Cơ thể Thuỳ Mị nóng ran. Cô nằm dài xuống ghế, đầu nhức buốt:

  “Tôi đọc ở đâu đó chuyện kể một bà mẹ thuê nhà ở gần chợ… Chắc anh chưa hề nghe qua? Ở gần chợ nên đứa nhỏ chửi thề như sáo. Hoảng quá bà mẹ liền mang con tới mướn nhà sát nách một trường học… Đã gói dùm tôi bức tranh chưa?”

  Cái ly thuỷ tinh trên tay Thuỳ Mị rơi xuống nền gỗ. Tiếng vỡ dội vào ngực cô đau râm ran một nỗi buồn của mất mát. Thuỳ Mị nghĩ tới những hạt nút bị cởi tháo ra, áo này áo nọ, quần này quần kia. Da dẻ sẽ nổi gai và sau đó… Cô nhắm nghiền mắt lại. Trong trí cô, khuôn mặt phấn son kỳ quái của Vọng lại hiện ra. Anh ta nhắm mắt nhưng sao khuôn mặt anh ta hoàn toàn không được thư giãn như một kẻ ngủ say. Vọng ơi, có lẽ em cũng đã chết một nửa người rồi!

  Mưa cào rầm rộ trên cửa gương. Quạt gió vẫn luân phiên thổi. Thuỳ Mị co rút người lại khi bên tai cô có tiếng thở rất gần. Hâm hấp nóng. Tấm nệm của futon lún xuống, mùi thuốc bôi nách xông đầy. Chiếc giày cao gót rời khỏi chân, lăn lóc đâu đó rồi nằm yên. Thuỳ Mị chìm dần, chìm… sâu. Bao lâu thì Vọng sẽ bị hạ huyệt?

Hồ Đình Nghiêm

Dạ khúc

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Dạ khúc

Hồ Đình Nghiêm

Người con gái cao hơn hắn một cái đầu. Mắt hắn nhìn thẳng, đọng ngay giữa ngực. Ngực cô ta sâu một đường khe. Hắn nuốt nước miếng, tô phở đi vào bụng nửa tiếng trước bắt đầu tạo phản ứng? Bột ngọt vị tinh mì chính, thủ thuật gia giảm liều lượng đinh hương đinh hồi. Khô khát cổ họng.

 – Một trăm.

   Đứa con gái đá lông nheo. Hết tiếng Pháp lại đổi sang tiếng Anh. Giọng khan, môi son đỏ co giãn và hai hàm răng không ngừng nhai kẹo cao su. Hắn ngửi được một mùi thơm, rất đàn bà. Quyến rũ gấp vạn lần xí quách húng quế ngò gai ớt chua tương ăn phở.

 – Cần nói thêm là đã tính luôn tiền phòng cộng với bao cao su.

 Mua một món hàng thì ai cũng săm soi nhìn trước ngó sau. Hắn thọc tay vào túi quần và đầu thì đang bị mấy chữ trường túc bất chi lao hiện ra dằn vặt. Đi đâu mà vội, hút một điếu thuốc cái đã. Vã lại ông bà mình có dặn, mới ăn no chớ nên xã láng năng lượng vô ba cái vụ này. Thân thể con người chia làm ba phần, đầu mình và tứ chi. Đợi ba bộ phận ấy ngứa ngáy khó chịu rồi hẳn tính.

 – Cho tao một điếu. OK?

  Khói thuốc bay cùng lần nơi hai mái đầu chụm lại. Tóc vàng tóc đen quấn quít sợi ngắn sợi dài. Hắn thổi đám mây xám bay lên những bậc cấp ám tối. Có lẽ trên đó, sau cánh cửa im ỉm đóng là nơi hành lạc? (Không hành trần chẳng giá chín).

  Buổi trưa, nắng không có, nhưng nóng. Bầu trời trám chì nặng nề đã mấy hôm rồi, tức giông. Chiều nay trời không mưa thì tôi sẽ làm mưa. Hắn nhai đám khói thuốc trước khi thở ra lỗ mũi. Phiá bên kia đường có tiệm bán băng dĩa cũ và DVD phim ba X. Tuy ban ngày mà đèn chớp nháy ngó thật rậm rật. Cửa mở rộng treo bảng đại hạ giá, nhạc hard rock như thác chảy từ trong đó tuôn ra. Bản ấy đang đứng top. “The Unforgiven” của bọn Metallica. Đứa con gái nhún nhảy. Bộ ngực nhún nhảy. Hai cái thánh giá đeo lủng lẳng dưới trái tai cũng nhún nhảy, sáng chói màu kim loại. Lạ. Thời buổi này thánh giá bán rất chạy, cho những cô gái đeo làm vật trang sức; trong khi lời nhạc thì xem thường sự có mặt của thần linh, gào thét thứ ẩn ngôn của ma qủy. Mạt pháp!

 Từ trên mười tám bậc cấp có tên đàn ông râu rậm loạng quạng đi xuống. Mặt thằng chả đỏ ké, da thịt bóng nhờn mồ hôi xuất hạn dầm dề, ngang qua đứa con gái thò tay lông lá véo ngắt vào mông.

 – Bận sau anh sẽ đi với em. Con Rosé ăn thứ gì mà trở chứng?

 – Nó ăn thịt ba của anh chứ ăn thứ gì. Đừng cà chớn.

 – Đù má em.

 Thằng đàn ông cười khan trong cổ. Nhổ một đám nước dãi rồi bỏ đi. What the Hell…

 – Tao chán những đứa lắm chuyện như thế không thể tả. Nghe đồn dân Á châu rất ngon lành trong ba cái vụ im hơi lặng tiếng và ít bày đặt kiểu cọ?

 – Có lẽ.

 – Thế còn keo kiệt? Thấy một trăm mắc thì dang ra chỗ khác chơi cha nội.

   Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn lại con đĩ có giọng nói khan. Và chua như giấm. Chiếc áo thun đen in hàng chữ tiếng Pháp chạy méo mó trên vũng thịt lồi lõm, rung động không áo nịt ngực. Dốt ngoại ngữ lắm trí óc hắn cũng tự động phiên dịch ra tiếng Việt: “Hãy cứu vớt linh hồn tôi!”. Hắn từng là thuyền nhân. SOS. Và hắn từng được người giàu lòng từ bi cứu vớt lên thuyền lớn.

 – Trên đó phải không? Hắn hất hàm.

 – Chịu rồi phải không? Con nhỏ tóc vàng chu mỏ thổi bay cục cao su ra ngoài đường. Đi theo tao.

  Mười tám bậc cấp. Có ai dè địa ngục mà phải bước lên. Trần gian đang ở đâu thế? Bên kia đại dương chăng? Ở đó có cô vợ hờ mà người ta nói tương lai sẽ thuộc về hắn. Người ta sẽ chịu chi một cái vé máy bay về bển với điều kiện hắn ra Quy-nhơn tổ chức đám cưới rồi lo mọi thủ tục để có ngày vớt cô vợ bé bỏng ấy sang đây. Người ta cho hắn xem hình đen trắng, ai đó còn xổ Kiều phụ họa thêm: Thấy không? Cũng khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang! Tiếc là tấm ảnh nhỏ chỉ thu lấy khuôn mặt, mình và tứ chi thì chẳng rõ có nở nang? Hắn xem xét, lòng những muốn phiêu lưu vào cuộc hôn nhân quái đản nhưng miệng vẫn ngậm câm chưa có ngay câu xác định: Yes or No. Thiên hạ kháo nhau chuyện tầm phào, gái Quy-nhơn không có lông. Xời, biết đâu đó là lối quảng cáo thiệt khéo nhằm đánh động tính tò mò.

 – Lẹ lên cưng.

  Đem tuổi tác ra mà so thì chưa rõ hơn thua, nhưng lấy thể xác mà đọ thì đúng là chị trước em sau. Cánh cửa đóng kêu cái két, tù mù một hành lang ẩm mốc với dãy phòng có cửa sơn màu tím. Tiếng giày cao gót gõ xuống nền gỗ hư hao chuyển mình rên rĩ. Một hai lóc cóc ba bốn. Thình thịch thùm thụp lóc cóc. Hắn hơi ngộp thở, có thứ gì đó chẳng tượng hình làm trái tim ép sát lồng ngực. Phòng số 10. Nâm-bờ Ten. Chẳng rộng rãi thoáng khí như hắn lỡ mường tượng. Vách dán giấy hoa có nơi keo không ăn vật mình tờ giấy xuống, oằn oại lưng chừng. Đinh đóng vào vách lỗ chỗ chẳng rõ để làm gì, trống trơn không một tấm tranh móc treo lên. Một bàn vuông nằm trong góc. Hai cuốn sổ niên giám điện thoại dày như chuyện kể nghìn lẻ một đêm hoặc Hồng lâu mộng. Bốn năm vỏ chai bia lăn lóc. Cái gạt tàn thuốc. Cùi một trái táo ai gặm không hết vất dưới chân giường khô quắt tựa một khúc xương người tiền cổ vừa được khai quật. Và cái giường là vật thể cuối cùng nằm chình ình ra đó. Giường nhỏ, trải tấm ra màu xanh bẩn như giường có trong bệnh viện, khu hộ sinh.

 – Nóng bức quá hả?

   Đứa con gái phát biểu cảm tưởng trong lúc cởi quần jean rách đầu gối treo lên một cây đinh. Hắn phát hiện chẳng có cửa sổ nào cả, như một cái hộp vuông vức. Không quạt trần, không luôn cả máy lạnh điều hoà không khí. Mồ hôi tuôn như đang đứng ở Gò Vấp. Montréal xứ tuyết vẫn có khi qủy quái như thế đó. Lạnh Liên-xô mà nóng Việt-nam.

 – Đưa tiền đây.

  Năm ngón tay chìa ra. Cánh tay còn lại đang chống nạnh, quần lót màu đỏ nhỏ chút xíu có ưa dùng để hỉ mũi lau cũng không sạch nước giải. Mấy ngón nhịp nhịp trên sợi giây thun chờ đợi. Một trăm là năm tờ giấy hai chục. Hắn thè lưỡi thấm nước miếng mà đếm. Tiền trao nhưng cháo chưa múc.

 – Đợi tao dội qua miếng nước cho sạch sẽ. OK?

   Nước? Nước non ngàn dặm ra đi. OK. Nụ cười con nhỏ ngó dễ ghét. Chữ ghét này phải hiểu ngược lại. Như mẹ ẳm con thơ lên, lòng vui vô hạn để thì thầm: Cái mặt thấy ghét quá hà! Chiếc áo “cứu vớt linh hồn” được cởi ra, ném vào mặt hắn rồi cô quay lưng bước tới vách, nơi có miếng giấy hoa gần rơi rụng. Chà, hiện đại nhỉ! Có cánh cửa gắn ở đó mà hắn nào thấy. Đằng sau là phòng vệ sinh dồn đẩy mùi long não ra khi cửa mở. Đứa con gái tụt miếng vải cuối cùng vặn vẹo người cho đến hồi nó thoát hẳn đôi chân dài. Hắn ngồi ở mép giường giương mắt ốc ra ngó từng cử động. Tiếng nước chảy, tiếng vòi nước bị khóa lại nơi cái robinet đã han rỉ. Cô bước ra. Đám lông xoắn xít và nó vê lại như một cụm râu cắm dưới cằm con dê tuổi mới lớn.

 – Chưa cởi đồ ra sao?

  Hắn nhìn cái tam giác co giãn đang chuyển dịch lại gần. Những giọt nước rơi xuống, từ đó rơi xuống. Người ta cho hay, nhỏ đó tên Thủy, mới mười chín tuổi và bảo đảm là chưa thất thân. “Nói láo xe cán, ai lại thất đức làm mai cho cậu một người vợ mất trinh”.

 – Xong hết rồi đó. Làm lẹ đi.

   Đứa con gái vật mình xuống giường nằm ngữa dang rộng tay chân. Hắn lóng cóng hồi lâu trong việc thoát y. Chậm chạp nhưng sau rốt cũng xong. Hắn phát hiện chiều dài không đồng nhất của hai thân thể đã làm so le những bộ phận cần được bổ sung điền khuyết cho nhau. Hèn gì người ta dùng chữ cân cặp xứng đôi khi tả đến hình ảnh một cặp vợ chồng.

 – Mày dễ thương hiền lành hơn tao tưởng.

 Đứa con gái nói trong khi hắn thở mệt. Chẳng cân cặp gì cả. Một bên nhịp tim điều hòa như đang từ tốn đi bước nhẹ kiểu tập taichi. Bên kia thì hào hển bấn loạn tựa chạy việt dã ở vòng đua cuối cùng. Phù du! Bận sau nhất định không ghé tiệm phở ấy nữa. Gia vị, nước lèo nấu không đúng bài bản đã đành, lại thêm chẳng có chút gì bổ khỏe cả! Ăn vào khát nước, làm tình thì chóng mỏi gối chồn chân. Lếu láo thật! Năm phút, khoảng đó, là năm tờ giấy hai chục bị đốt cháy. Một trăm đồng, đi cày ở hãng xưởng đổ mồ hôi sôi nước mắt cả ngày mới gặt hái được. Sau năm phút, những động tác ban đầu lại được tái lập, đi ngược trình tự. Xì-líp kéo lên, đi nhón gót tới xỏ chân vào quần jean. Cầm chiếc áo thun lên, rũ rũ.

 – Lộn rồi, áo đó của tao. Hắn nói.

 – Xin lỗi. Đứa con gái cười và vuốt lấy những sợi tóc rối trước mặt.

 – Không sao, thích thì cứ giữ lấy mà mặc.

   Đưá con gái hôn một bên má hắn, nhe răng cắn nhẹ vào trái tai:

 – Tao tên Nancy. Lần sau có đến tìm thì tự nhiên giá cả sẽ thay đổi.

  Hắn mặc chiếc áo “cưú vớt linh hồn” vào người. Áo sực nức mùi đĩ thõa làm da thịt phải nổi gai, châm chích thứ cảm giác lạ.

   Khi bước xuống mười tám bậc cấp, trời hung hãn đổ mưa. Cuồng nhiệt, thịnh nộ, rầm rộ và có vẻ dai dẳng dài hơi.

 – Đi bộ hả? Thôi bai nghe.

   Nancy không bước xuống bậc cuối. Hắn sãi chân ra vuông sân đất nồng, bong bóng vỡ ra khi nước đâm vào đất, mưa xối xả quất vào lưng hắn trăm ngàn roi vọt như cách thức trừng phạt của cao xanh. Hắn nhắm hướng có trạm tàu điện ngầm để tìm tới. Chẳng vội vã, hắn muốn tắm gội, hắn muốn tẩy xóa. Phố phường không bóng bộ hành, tất cả đều đụt mưa dưới mái hiên nhà những mong người được khô ráo. Bốn giờ chiều, con chuột lột về đúng chỗ trọ ướt nghe ngói đứng mở cửa. Mưa móc ràn rụa chẳng làm phai nhạt mùi hương có trên chiếc T-shirt. Cửa mở, anh hắn hiện ra ở lối đi nhỏ dẫn sâu vào bếp, tay vày vò cái khăn ca-rô dùng để lau chén bát. Sau lưng là bóng điện vàng, sau nữa là có thứ mùi gì đó. Chả giò vừa chiên xong? Mùi chanh tỏi ớt nước mắm? Rất nhiều mùi, đòi thoát khỏi căn phòng ngột ngạt.

 – Về rồi à? Có sướng không?

   Ngọn đèn vàng trên trần nhà chẳng sáng bằng đôi mắt anh hắn. Đôi mắt của kẻ đang làm công việc tra tấn, lấy khẩu cung. Dữ dằn pha lẫn miệt thị nhốt chật trong đó.

 – Ngó xuống con người mày đi. Tàn tệ và dơ bẩn đến thế là cùng. Coi, bày đặt chơi chữ nữa chứ. Cứu với lại vớt…

 Hắn đứng sững. Nước từ người tụ một vũng dưới chân như sợ hãi tới độ són đái.

 – Hồi trưa, khoảng hai giờ mày làm gì ngoài phố? Nói tao nghe.

 – Tui hai mươi mốt tuổi rồi đó anh à. Tui không còn là đứa con nít ngày nào chạy theo anh đi vượt biển.

 – Tao biết. Ừ, mày lớn bộn rồi. Lúc nào cũng vỗ ngực. Thật khốn nạn! Tao hối hận đã dắt mày đi qua đây.

 – Có chuyện gì thế? Anh sắp lấy vợ, sắp ở riêng rồi sao còn nhăn nhó làm chi cho mất vui.

 – Thật mất mặt. Tao chở bà Thuyên đi chợ trời thì trông thấy mày đứng trò chuyện mặc cả với một con đĩ. Tại sao vậy? Ăn nói sao cho ổn với người ta?

 – Cùng lắm thì hủy cái hợp đồng vợ chồng kia đi. Nghe như giễu vậy mà anh lại tin. Chứ không phải anh là kẻ luôn hò hét chửi rủa những tên đi về Việt-nam à?

 – Đây là nói tới chuyện của tao. Mày hại thanh danh và hạnh phúc của tao cũng vừa phải thôi. Rồi mai đây trong cộng đồng họ đồn tùm lum ra.

 – Tui chơi đĩ chứ phải anh đâu mà sợ. Bộ tính nghiên cứu lý lịch kỹ như Việt-cộng hay sao đây?

 – Mày câm mỏ đi.

   Anh hắn bỏ lui sau bếp, ném mạnh một vật gì đó vào bồn rửa chén.

 – Tao hẹn bà Thuyên chiều nay lại nhà ăn cơm. Mày đi đâu khuất mắt cho tao nhờ.

 – Tui lại nhà anh Đại thì có chi phiền cho anh không?

  Hắn thấy anh hắn đang nắm lấy con dao. Chắc chỉ để xắc thịt hoặc thái hành ngò gì đó. Tính khí anh hắn rất nóng nảy, nhưng chỉ thấy lộ ra trên những dòng chữ viết. Bình thường anh tỏ ra là người đàn ông rất dịu dàng nhỏ nhẹ khi lăng xăng bên cạnh chị Thuyên. Bà ấy đã có chồng con, quyết li dị để sống gần anh. Anh Đại nghĩ tình bạn cũ một mực cản ngăn và hậu quả tên chí tình kia trở nên một kẻ… thân Cộng. Lý do ư? Trong người còn giữ mãi một hòn đạn AK47, bắn gần trúng tim mà không chịu chết đi. Hắn nhắc tới ông Trung-uý Biệt động quân ấy để mỉa mai cho vui vậy thôi, chớ ai dại gì vác mặt mốc tới nhìn kẻ từng xám mặt kêu trời không thấu.

 – Tao không hơi sức đâu dài lời với đứa mất dạy như mày. Địt má, em với út!

 Hắn cũng cảm thấy rát cổ, mở tủ lạnh tìm chai bia. Phòng ăn ngó tươm tất xôm tụ hơn một bữa tiệc đoàn viên theo chương trình “Ra đi có trật tự”. Anh hắn nổi tiếng trong nhiều lãnh vực, không ngờ chuyện bếp núc còn khéo léo tới độ khó tin. Trộn gỏi nhanh hơn múa bút, cắt nem dồi chả heo quay xá xíu sắp ngay ngắn trong dĩa còn đẹp mắt hơn bày đồ cúng ông bà cha mẹ. Loay hoay, tẳn mẳn vụn vặt. Gỉa dụ nếu có kiếp sau, thì kiếp ấy anh sẽ là một mụ đàn bà. Và hắn cầu xin, mọi người sống trong cõi ấy phải chịu trả tiền riêng cho cái khoảng nói năng. Lời nói phải mất tiền mua, phát biểu linh tinh phải chịu đóng thuế. Chắc rằng những kẻ từng bị chụp mũ sẽ đồng thanh hoan hô nhất trí. Phải thế không anh Đại?

 – Mày làm gì đó? Nem của bà Thuyên mua không phải để cho mày nhậu khan.

 – Cần tui phụ cái gì không?

 – Mày xéo đi. Đừng có táy máy hai bàn tay nhơ nhớp vào thức ăn.

 – Thế nào là nhơ nhớp? Anh đã nghe anh Đại giảng nghĩa chữ đó chưa? Rằng khi xưa chị Thuyên có lần…

  Hắn ngậm miệng. Ánh thép vừa loáng lên và cây dao cắm ngập lưỡi vào cái thớt gỗ. Những trái dưa leo dưa chuột giật bắn mình mẫy lăn đổ xuống đất. Bàn tay anh hắn nổi vồng gân xanh.

 – Mày có tin là tao sẽ giết mày không?

 – Vì miếng ăn hay vì đàn bà? 

  Mắt anh hắn đã tắt đi ngọn đèn pha, đọng bên trong đỏ ngầu một tia lửa tỏa nhiệt. Mí mắt căng ra, nhìn hắn không nháy.

 – Kể từ giờ này mày nên đi khỏi nhà ngay. Nuôi mày đã mười năm tao chẳng còn gì để hối hận cả. Tròn trịa quá rồi, vun đầy quá rồi. Và nếu có sức mẻ thì vết rạn nứt ấy do mày tạo nên.

 – Tui biết anh không nỡ giết tui. Đăng một ô vuông từ em in trên tờ báo chợ thì có lẽ hợp với chuyên môn của anh hơn. Còn chuyện nuôi nấng? Thiệt cám ơn anh, sao anh chẳng nói là vừa thí cho tui một trăm đồng để đi xả xui.

 – Khốn nạn thật! Miệng lưỡi y hệt như thằng Đại. Tao thật không ngờ mày chóng học nên những điều thâm độc từ bọn bất lương kia, mày có biết là chúng nó cố tình chia rẽ tình anh em không?

 – Nhiều lần, tui cũng cố tin như vậy rồi anh ơi!

 – Mày đã nghe nói qua chiến dịch Hoa hồng xám của bọn Việt cộng?

 – Tiếng Việt tui dốt lắm. Và anh là người đã gây cho tui nỗi sợ hãi không muốn dây dưa với người đồng hương quanh đây. Chơi với tụi Tây đầm thiệt khỏe trí, không lươn lẹo. Tui yêu sự sòng phẳng quá chừng, như muốn ngủ với gái thì quẳng cho nó một mớ tiền.

  Hắn ngửa cổ, đổ xuống một hơi bia đầy. Bia đắng, nhưng hậu vị là cả một sự ngọt ngào. Tình anh em trôi nổi sang xứ người, ban đầu thì mặn mà, thét còn lại cái cốt lõi chát chua. Cũng chẳng trách cứ gì ai được. Con người anh hắn khó tìm ra một kẻ tâm đầu ý hợp, vớ được bà Thuyên buộc lòng anh hắn phải trân qúy và xem mọi thứ khác đều là cỏ rác.

 – Anh còn tiền không? Cho tui vay một trăm.

 – Không có.

 – Bao nhiêu đồ đạc tui sắm trong nhà này không đáng với cái giá đó sao? Cái T.V. Cái DVD. Cái đầu máy Video tui mua hơn cả ngàn chứ có phải đi ăn trộm của bá tánh đâu.

 – Mày tính bán à? Bán thì tao mua. Một trăm, có phải không?

 – Ừ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Xem như đám cưới anh tui là người tặng quà cáp hiến lễ sớm sủa nhất. Còn lời chúc anh chị trăm năm đầu bạc thì tui xin khất.

 – Mày lại giở giọng điệu gì nữa đây? Mày tuồng như luôn có ác ý với bà Thuyên!

 – Cái đó là do anh suy luận. Anh tài giỏi thì đừng để có ngày chị ấy phải ra thông cáo đòi li dị.

 – Tiền đây. Cầm lấy mà đi chơi bời cho mắc bệnh chết cha mày luôn.

 – Anh đã dẫn chị Thuyên đi thử máu chưa? Không khéo lại dính vô chữ hoa hồng xám quái quỷ gì đó!

  Anh hắn sững mặt ra, trong một giây. Một giây sau thì bàn tay cầm lên chén nước mắm đặt gần đấy tạt hắt vào người hắn. Xác ớt tỏi giã vụn bám không rời hàng chữ “Hãy cứu vớt linh hồn tôi”, thấm vào da bỏng rát, tanh nồng. Hắn cười. Tiếng cười run rẫy giữ trong cần cổ, nghẹn vướng. Hắn cởi chiếc áo ném vào thùng rác:

 – Anh nói giùm với chị Thuyên là linh hồn tui đã lỡ bán cho qủy rồi. Chuyện lấy Thủy, cô vợ Quy-nhơn xa ngãi mà chị ấy giới thiệu thì… no fucking way!

   Hắn vào phòng vơ đại một chiếc áo rồi bỏ đi. Trời tạnh ráo. Gió thì thào trên cao làm những chùm lá cây như biết đái, rắc nước nhỏ giọt xuống người hắn. Cơn mưa hồi chiều thấm vào mặt lộ đen, thơm mùi ngai ngái. Những hàng đèn cháy đỏ bên kia đường, từ tiệm bán phim sex và diã nhạc không đủ sức thâm nhập vào vũng tối có đám yêu nữ trú thân. Một hai tiếng huýt sáo mồm trỗi lên. Ở xa, tiếng còi xe cảnh sát sắc nhọn đâm về từng chuỗi dài. Ba bốn mái đầu quay đảo ngó quanh quất.

 – Uả, lại là mày nữa sao?

   Con Nancy từ hẽm tối bước ra. Cách nhau mấy tiếng đồng hồ, bộ tịch và mặt mày nó vẫn không hề suy suyển, nhai kẹo cao su chanh chách và hai cái thánh giá vẫn luôn nhún nhảy.

 – Phải mày không? Chiếc áo kia đâu?

 – Tao đã lộng kiếng mà treo lên vách rồi.

 – Cái gì? Mày nói sao?

 – Ở xứ tao, vật gì quý giá hoặc thứ mà mình tỏ lòng yêu mến đều lộng kiếng cả. Xem nặng hơn cả ảnh ông bà cha mẹ. Bộ lạ lắm sao?

 – Fuck you! Đừng làm tao cảm động chứ. Dù sao thì lần này mày chỉ trả có tám chục thôi.

 – Tao chỉ còn năm chục. Mày có thể cho tao ngủ với mày một đêm không? Ngủ chay. Tuyệt đối chỉ ôm thôi, hoặc không thì nằm nói chuyện đời trước khi ngủ.

 – Trên cuộc đời này có mẹ gì để nói, hở baby? Ăn ngủ ỉa đái và Fuck. Ngần ấy thôi. Hiểu không? Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ hư hao rồi. Mẹ kiếp cuộc đời!

 – Tao chẳng thể hiểu được. Không có tình yêu chân thật hoặc thánh thiện sao?

  Con đĩ ngựa cười ré lên:

 – Đồ khùng. Đằng kia có cái nhà thờ, mày vào đó thì họ sẽ welcome.

 Theo tay dong của con Nancy, ở hướng đó có thằng nhóc con quýnh quáng đạp xe trờ tới. Thằng nhỏ phun một tràng ngôn ngữ trong hơi thở đứt đoạn rồi cắm đầu đạp xe đi như một đứa say rượu. Mấy ả ăn sương biến mất thật nhanh, như nước thấm vào lòng đất. Chắc bị động ổ. Con đường chỉ còn lại mình hắn, đứng lẻ loi. Đứng như một cột điện đã có ai tháo gỡ bóng đèn. Đứng câm nín. Không mấy lâu, trên bức tường vôi đổ nát loang loáng ánh đèn xanh đỏ vẽ hoa ngũ sắc. Xe cảnh sát chạy thật chậm như đang đưa đám một đồng nghiệp đã xả thân diệt sạch tệ nạn xã hội. Trong xe vẳng ra tiếng máy truyền tin kêu ù ù cạc cạc và cặp mắt ai đó mãi nhìn hắn săm soi.

  Hắn rảo buớc về hướng phố Tàu, ghé tiệm ăn quen thuộc và kéo lê chiếc ghế sắt đánh động bầu không khí đang uể oải trong quán.

 – Hây. Lông thai nâu xi. Khoẻ không tài lũ? Lị xực cái gì đây?

 – Hoành thánh mì.

 – Thêm gì khác? Nước trà nhé?

 – Hầy. Dậm xà.

   Hắn ngó cái thằng người Tàu sinh quán ở Chợ-lớn. Tất cả chúng sinh dường như đều chạy trốn cộng sản. Chạy chết bỏ, chạy bất kể cha già mẹ yếu và cuối cùng có được trong tay tấm căn cước ghi chú hàng chữ: Vô tổ quốc. Ở trên một vùng đất đầy cỏ dại và ta phải cuốc xới tự khai quang để mong gieo được lúa. Một cánh đồng rộng, cày bở hơi tai trong câm lặng, nhiều ngộ nhận, dễ mất mùa. Nó đó. Nó tên A Hính, nói tiếng Việt xỉu xỉu, không nhiều. Cà lăm, sốt ruột khi nghe đương sự phát biểu ý kiến. Nhưng đa phần, những ý kiến ấy đều thành thực, rất an tâm khi tiếp cận.

 – Lị còn ở chỗ cũ không?

   Hắn hỏi. A Hính đáp:

 – Còn chớ. Sao không ghé tới chơi?

 – Ghé chơi làm gì, ngộ tính dọn tới ở chung với lị, có được không?

 – Lị cỏn mách dệ? Nói sao? Đùa chơi hả?

 – Thật chớ. Tiền nhà chia đôi. Chỉ mong có một chỗ để ngã lưng vào ban đêm thôi.

 – OK. Thời buổi lày đi đâu cũng nghe nói tới kinh tế khó khăn. Tiết kiệm kiểu đó cũng nên lắm. Để mai ngộ đi làm thêm chiếc chià khoá.

 – Li quả là hảo bằng hữu!

 – Đừng rườm lời. Mụ cỏn mại li ti a! Chuyện nhỏ.

   Hắn chià tay ra nắm bắt bàn tay của A Hính. Trước đây hắn từng xua tay và nói câu đó với Hính khi hai đứa làm chung trong một nhà máy. Giúp đỡ và dạy tiếng xứ người cho Hính. Điền một lá đơn xin bảo lãnh thân nhân, giới thiệu tới anh Đại để mua lại chiếc xe cũ với giá tượng trưng. Hắn nhấp môi vào tách trà nóng:

 – Lị làm ở đây có khá không?

 – Sao bằng chỗ cũ được. Được cái là rất sướng miệng khi nói tiếng Quảng-đông. Dính mảnh? Hầy ngộ sợ phải nói tiếng Anh với bọn mắt xanh lắm. Chẳng phải lộng ngôn chứ hạnh phúc đôi khi nằm ngay trong những cái thật tầm thường. Con em ngộ viết thư qua trách, đàn ông lấy công danh làm trọng sao anh lại chui đầu vào trong tửu lầu cao lâu mà phục vụ, hoang phí tuổi xanh. Than ôi, luôn luôn kẻ ở quê nhà đều ngó tới mình bằng tất cả những ngộ nhận!

 – Ngộ hiểu. Sống chốn này có nhiều cái bực mình, bức rức như… mẵn cuối khíu chọ.

 – Lị nói tiếng Tiều tiếng Quan-thoại hay tiếng Miên thế?

 – Tiếng Việt đấy. Nghĩa của nó là muỗi cắn khó chịu.

 – Cảo xồ a lị! Lộn xộn quá!

   Tô mì hoành thánh nhạt nhẽo, hèn gì mà quán vắng khách. Tô phở hắn ăn hồi trưa cũng không khá hơn nhưng thực khách lai rai trên dưới mười người. Có vậy mới nghiệm ra dân tộc Việt-nam bác ái và độ lượng vô cùng. Dễ ăn, dễ nuôi, dễ tin, dễ bị lừa. Gốc gác Phật tổ chắc là người Việt mình thôi, con rồng cháu tiên mà lị, nghe sướng như nghe chuyện thần thoại hoang đường khoa học giả tưởng. Mô Phật! Hôm nay con ngã mặn dữ quá. Đã thế còn bị hứng nguyên một chén nước mắm từ tay ông anh, mặn hơn cả biển Thái-bình. Thôi, ta không vào địa ngục thì ai vào?

   Hắn gọi chai Bud. A Hính mang ra chai bia nhãn hiệu cầu chứng tận cố quốc. Huda.

 – Uống thử xem, hàng độc đó nghe, năm khi mười họa mới có.

   Hắn cũng hiếu kỳ ngửa cổ rót bia xuống họng.

 – Cũng dậy thôi. Xoàng. Huda là con mẹ gì?

 – Là bia Huế do Đan-mạch làm sư phụ chỉ đạo. Họ ghép tên hai địa danh ấy lại và họ nhổ bớt lông lá cho được sạch sẽ gọn nhẹ.

 – Hú hồn! Chẳng sáng tạo được chữ nào nghe quyến rũ hơn sao?

   Hắn chẳng thể chuyện trò dông dài với thằng bồi bàn. Một đám nai vàng bầu đoàn thê tử vừa kéo nhau vào, loạn xạ tiếng cười đùa tự nhiên như người Hà-lội. Và dĩ nhiên A Hính bị quay mòng giữa biển người đó. Chỉ một tiếng chào cũng phân tâm không thể đáp lễ. Cước bộ thoăn thoắt. Khăn trải bàn, bình trà nóng và chồng ly tách chén dĩa cao ngất ngưỡng trong tay ôm.

  Hắn bước xuống những bậc thềm, đứng dưới tấm bảng vẽ hình Long Phượng quấn quít vặn vẹo cái lưng. Chẳng còn một địa chỉ nào khác. Cơ thể mỏi mệt réo gọi thầm một mặt nệm, một giấc ngủ. Hắn từng có khi tiêu phí thời gian bằng cách chui xuống métro, đi từ khởi điểm này đến một kết thúc khác. Đổi tuyến đường màu này sang một tuyến đường màu nọ. Loanh quanh dưới lòng đất, sật sừ với độ rung chuyển của con tàu xé gió, đi cùng khắp những địa đạo mà Montréal có được. Nhưng bây giờ thì không thể. Não nề lắm. Côi cút lắm. Trông như một kẻ bị ruồng bỏ, vô công rỗi nghề, vô tổ quốc vô gia đình vô gia cư… Vô tận cùng của chữ vô buốt giá. Hãy về ngủ thôi. Giờ này họ đã ăn xong. Có thể đã từ biệt hôn nhau bịn rịn trước sân cỏ lung linh ngàn lá đùa nghịch dưới ánh đèn đường. Cánh tay buông thỏng khi người kia rời ra, nói lời hứa sẽ trở lại. Tiếng máy xe nổ và bàn tay có đeo chiếc vòng ngọc thò ra vẫy, cánh tay trần, da trắng đục một màu sữa khuấy rối từng vệt trong bóng tối. Nghe tả, hồ ly tinh đẹp hãi hùng. Nhan sắc của bà Thuyên chẳng có ma lực gì để khiến người đối diện phải mê mẫn tâm thần. Hắn không hiểu được tình yêu. Người đàn ông bốn mươi tuổi như anh hắn bỗng dại khờ như một nam đồng tử còn trinh trắng, mù quáng đi theo tiếng gọi của ma nữ, sẵn sàng làm con thiêu thân lao vào vũng sáng quáng gà, thui chột.

   Khi hắn mở cửa vào nhà, tai hắn đón nhận một chuỗi tiếng động lạ. Phòng anh hắn còn thắp đèn, thứ đèn mờ dùng để đọc sách trên giường liếm ra ngoài hành lang một vệt vàng xỉn. Nó đi qua cánh cửa khép không kín nên nó bị ép nhỏ thành hình một lưỡi kiếm nhọn mũi. Có tiếng cười sắc như dao của bà Thuyên len lỏi ra:

 – Anh nhìn cái vật của con mẹ đó đi. Ghê quá hở? Xời, tài tử gì trông phát khiếp!

 – Ủa, vậy thì bình thường nó đẹp hơn sao?

 – Dĩ nhiên… Hà, còn giả bộ ngây thơ. Cái mặt sững sờ ngó phát ghét!

  Những tiếng thở gấp rút có nhạc đệm gợi tình từ cái TV stereo bức rức xướng họa. Tài tình thật. Mua rẻ một trăm, muốn ăn chắc liền bê từ ngoài phòng khách vào thu dấu trong buồng mình. Và phút giây đầu tiên, chủ nhân ông bắt nó lao động liền tù tì, phục vụ chiếu hình đồi trụy bá thở, chim bướm bay đầy trời, hơi bị thoải mái.

 – Anh mua nhằm phim dở rồi. Chẳng có cốt truyện gì cả. Cứ làm lui làm tới chừng đó động tác.

 – Đâu có lựa được. Hồi chiều cứ sợ nó nhìn thấy bọn mình đứng đó thì quê mặt cả đám.

 – Thuyên hỏi thật cái này nghe. Em thì hoang đàng như thế, còn ông anh thì sao? Ngủ với đĩ lần nào chưa?

 – Nói tầm bậy. Coi phim đi, đặng chốc nữa còn làm tài tử.

 – Nó có dẫn xác về bất tử không đó?

 – Yên tâm. Nó có tiền và bọn trẻ thì thiếu gì mục ăn chơi về khuya.

 – Nó có tương lai lắm chứ không đùa à nghe.

 – Là sao?

 – Đẹp trai hơn anh. Nhỏ tuổi thua anh. Hai con mắt cu cậu rất thu hồn. Mỗi lần nó nhìn Thuyên, có cảm tưởng như mình đang trần truồng. Thuyên sợ…

 – Sợ gì? Anh đuổi cổ nó đi mất đất rồi. Mà tại sao em ưa nhắc tới nó vậy?

 – Ừ. Chẳng hiểu tại sao. Thuyên yêu anh và sợ một ngày nào đó nó sẽ làm chuyện tầm bậy.

 – Nghĩ quẩn. Em chỉ nên tập trung đầu óc vào chuyện giấy tờ li dị thôi. Ô kê? Có được trong tay một ít tài sản thì hoàn cảnh sẽ biến đổi ngay.

 – Cũng cầu mong thế. Nhưng có tiền đâu phải làm cha thiên hạ, đạp đổ lời đàm tiếu ong ve dư luận.

 – Khờ quá. Tụi mình sẽ bỏ cái thành phố lắm chuyện này mà đi xa.

 – Anh tính toán nghe cũng tạm được. Nhưng có người chồng thông minh chưa đủ, để thử chuyện kia xem anh làm có tới không?

 Họ yên lặng, thôi thì thầm, ngưng nói năng. Cái giường già nua, từ hồi chính phủ cho khi mới sang, trường thọ tới giờ này bắt đầu lẩy bẩy kêu ca cót két. Hắn nín thở. Tiếng rên của bà Thuyên mỗi lúc một khuếch đại hơn lên. Chịu không nổi, hắn tới mở hé cánh cửa, rộng hơn một tẹo. Cuốn phim đã hết nhưng màn ảnh truyền hình chẳng ai rảnh tay để tắt đi. Căn phòng như có tráng lân tinh, xanh xao một cách quái đản. Bà Thuyên đang ngồi trên người anh hắn, sừng sững khối thịt da trắng muốt. Anh hắn như chiếc ghe mà mặt nệm là đại dương sóng lớn. Thân hình người đàn bà lắc lư uốn lượn. Mái tóc rối loạn dập dềnh. Đôi mắt khép hờ, đê mê. Đôi mắt nhắm lại, thụ hưởng. Nhắm kín rồi mở to. Mở trước tụ điểm mà mình hoài nghi, không tin. Ngây dại, hoảng hốt. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Khi đã xác tín ra sự thật thì bắt đầu cất lên tiếng thét, thất thanh, sảng viá như đang gặp ma, đưa tay cuống cuồng giật vội một mảnh xiêm y. Anh hắn trồi đầu lên khỏi chăn khỏi gối, khỏi niềm hạnh phúc đang đi ngon trớn giữa đàng.

 – Lại là mày, thằng khốn kiếp!

   Hắn đứng lù lù ra đó như một hình nhân bị thôi miên.

 – Mả cha mày. Trời sinh mày ra làm chi để luôn báo hại người khác!

 – Tui kiểm lại rồi. Hồi nãy anh chỉ đưa cho tui có bảy mươi lăm đồng…

 – Thì mai tao đưa thêm cho. Bộ có con đĩ đứng ngoài dọa đào mả hay sao mà khẩn trương dữ vậy?

  Anh hắn không biết thẹn thùng, chẳng thu cất của qúy, trần truồng nhảy khỏi giường chạy lại đóng mạnh cánh cửa.

 – Thật mất sướng. Thôi, để Thuyên về.

 – Em đừng chơi ngặt, rồi cả hai sẽ ngủ không xuống đâu.

 – Thấy chưa? Thuyên vừa kể cho anh nghe… Sao nó linh như một cái miễu. Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo xuất hiện.

 – Thằng chó chết.

 – Chẳng biết cu cậu đã bỏ đi hay còn đứng rình ở ngoài?

 – Địt me, càng nghĩ càng tức, thằng này chắc không phải em ruột của anh, phải tống cổ ra ngoài đường mới khỏi lôi thôi.

   Cánh cửa mở ra. Anh hắn đã tròng vào thân chiếc quần cụt, mình trần trơn ướt, tay nắm cây vợt tennis như vừa chơi xong mấy trận hào hứng. Người đàn bà đứng ló đầu ra khỏi cửa phòng hồi hộp theo dõi màn chung kết. Trước kẻ ngoại tộc ai lại vạch áo cho người xem lưng. Hắn nói, có chút thành thật:

 – Tui xin lỗi. Thôi, chúc ngủ ngon.

 – Ngủ con mẹ gì. Mày nói có khi mà đúng, mai tao sẽ đăng báo cái mẫu tin từ em. Giòng họ Hồ sẽ bớt đi được một thằng khốn nạn.

  Thêm một cánh cửa nữa vừa đóng sập, sau lưng hắn. Đóng giận dữ. Phát ra tiếng động khô, tựa một hòn đạn thoát khỏi nòng súng. Đêm đã khuya, không một chiếc xe chạy ngang con đường tối. Hắn ngửa mặt lên trời, chẳng một vì sao. Đen dày, mông lung. Đêm hấp hối, đêm rạn nứt. Phiá sân nhà hàng xóm có tiếng chó sủa, tru tréo, ngầm xua đuổi. Đã lâu, giờ này hắn mới nghe lại tiếng chó gâu, gâu. Đi đi? Ừ, thì đã đành. Nhưng nào ta biết đi đâu!

Hồ Đình Nghiêm

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 36

Tối hôm đó, chúng tôi được mời dùng cơm tại một nhà hàng Việt Nam trong quận 5 Paris. Cùng đi với chúng tôi có chú Nam, chú Thanh và anh Thái. Chủ nhà hàng là một người đàn ông Việt Nam chừng 45 tuổi, tên là Giang. Chắc anh ở Pháp đã lâu, có vợ đầm; tên chị Giang là Simone. Chị có vẻ hiểu nhiều về phong tục Việt Nam. Chị mừng rỡ khi thấy ba tôi bước vào nhà hàng, đon đả chạy ra đón, rồi hôn hai má ông. Anh Giang cũng tay bắt mặt mừng. Anh chị đều tỏ vẻ mừng rỡ khi ba tôi giới thiệu má tôi và tôi. Anh cung kính chào má tôi, rồi nói:

“Bác Năm và chúng cháu chỉ mong có ngày hôm nay, bác ơi! Gia đình bác được đoàn tụ, rồi đây đất nước mình sẽ yên vui”.

Chị Simone cung kính chắp tay lên ngực chào má tôi cung cách Việt Nam.

Anh chị bắt tay tôi, rồi anh nói:

“Chị giống bác trai quá. Chúng tôi rất mừng được chung vui bác Năm và gia đình chị ngày hôm nay. Rồi mình sẽ về quê hương với dân tộc mình, chị Dung ơi”.

Niềm vui lên cao, tôi lây cái vui của anh Giang. Tôi nghe như có tiếng reo vui của dân tộc tôi đâu đây. Tôi hình dung ra những đêm trăng sáng không còn tiếng súng. Ba má tôi sẽ dậy sớm đun nước pha tra để đối ẩm. Ban ngày thì đi thăm bà con lối xóm bên Cần Thơ, bên Ba Càng. Rồi tôi sẽ về thăm Cần Thơ… Nhưng tiếng ồn ào chung quanh kéo tôi trở lại thực tế.

Simone đem ra một chai Johnny Walker đen, chưa khui, và một ly nhỏ để trước mặt chú Nam. Khi bắt đầu kêu món ăn, ba tôi nói:

“Đây là bữa cơm đặc biệt, tôi phải uống rượu ăn mừng”.

Mọi người đều vui vẻ tán thành. Ba tới kêu một chai Côte du Rhône. Tôi cũng hay uống rượu nhưng giấu má tôi, nên khi chú Nam định rót rượu cho tôi, thì tôi vội từ chối. Lúc má tôi vô phòng tắm, tôi nói nhỏ với chú:

“Chú cháu mình còn nhiều dịp uống rượu với nhau khi cháu đã về Việt Nam”.

Chú gật đầu cười đồng loã.

Bữa cơm thịnh soạn, toàn những món ngon, đặc sản của miền Nam, vì anh Giang là người Sóc Trăng. Trước khi mang món ăn ra, anh nói:

“Hôm nay chúng cháu chỉ đãi hai bác và chị các món ăn của dân miền Nam mình, không có món Bắc kỳ nào”.

Nghe giọng nói của anh, và nhớ lại thái độ của mấy người trong nhóm Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi đoán có chuyện lủng củng gì giữa họ với Bắc Kỳ. Còn anh Thái thì thuộc phe nào? Anh trung lập, hay là tai mắt của đại sứ Hà Nội, đi theo để dòm chừng ba má tôi?

Về công tác tình báo của tôi, cho đến lúc ấy vẫn chưa rõ ràng. Rob chỉ dặn đi dặn lại là tôi cứ theo dõi những gì đang xảy ra trước mắt. Vì vậy, suốt bữa ăn, tôi để ý nhiều đến chú Nam và anh Thái. Chỉ mới uống có một ly rượu, mặt anh đã đỏ như gấc chín. Còn chú Nam thì đã uống gần một phần tư chai Whiskey mà mặt cứ tái xanh, nặng như chì.

Tôi dặn lòng là phải giữ gìn lời ăn tiếng nói, không uốn lưỡi đủ bảy lần thì cũng phải sáu lần. Tôi còn cố gắng xài những từ Việt cộng, tuỳ cơ ứng biến, như một con cắc kè thay đổi màu da tuỳ hoàn cảnh. Vậy mà khi chú Nam khen đi khen lại rằng tôi tài tình khi tìm ra ba tôi ở Tokyo, tôi nói phần lớn cũng nhờ tự do báo chí mà tôi tìm được ba tôi. Báo Japan Times đã đưa tin ngày giờ phái đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đến Tokyo.

Khi nghe tôi nói vậy, mọi người trong bàn đều im lặng, một thứ im lặng ngột ngạt, khó chịu. Ba tôi thì nhìn tôi bằng cặp mắt nghiêm nghị, trách móc. Má tôi đá nhẹ chân tôi dưới gầm bàn.

Hồi nhỏ dì Bảy tôi dạy, trước khi nói phải suy nghĩ. Có thật không? Có cần nói không? Có tử tế không? Đúng 100%, không cần nói cho lắm. Có gì mà không tử tế, khi đó là sự thật ai cũng biết.

Phan Thanh Nam chủ động trong cuộc nói chuyện. Chú đặt nhiều câu hỏi riêng tư cho người đối thoại, vì vậy, tôi khó đoán nổi trong cái đầu hoa râm của chú đang thật sự nghĩ những gì. Tôi phải thận trọng khi nói chuyện với chú.

Trước hết, chú hỏi tôi đến Mỹ bằng cách nào. Tôi cứ thành thật mà trả lời:

“Cháu nghe nói Mỹ là nước tự do, có nhiều cơ hội để tiến thân và có thể tìm đến ba cháu được. Rõ ràng là cháu đang ngồi bên ba cháu nè”.

Chú đột ngột hỏi:

“Cháu làm gì ở Mỹ?

Chú nhìn tôi không chớp mắt, trong khi đó anh Thái xích lại gần chú hơn để nghe tôi trả lời.

Tôi thành thật đáp:

“Cháu dậy tiếng Việt cho quân đội Mỹ ở Fort Bliss tại tiểu bang Texas một thời gian, rồi sau đó cháu dọn qua Monterey, tiểu bang California”.

Chú lại hỏi bằng một giọng nửa tò mò nửa nghi ngờ:

“Làm sao cháu được chọn để dạy cho chánh phủ Mỹ?”.

Tôi đáp ngay, không một chút rụt rè, suy nghĩ:

“Chắc chú còn nhớ đại tá Phạm Ngọc Thảo, bị giết trong một cuộc đảo chính ở Biên Hoà? Bà đại tá Thảo là…”.

Chú cướp lời tôi:

“Chị Phạm Thị Nhiệm, người của mình, Mỹ Dung biết không?”.

“Cháu hy vọng là như vậy, bà ấy giúp cháu khi cháu dạy học”.

Phan Thanh Nam gật gù, mặt tươi hẳn lên, rồi nói với giọng đắc ý:

“Mặc dù cháu phải sống xa ba cháu, không được ba chỉ dẫn nhưng cháu đã gần gũi với những người chính đáng của bên ta. Chú rất hài lòng”.

“Con của ba cháu không có đi lạc đường đâu, chú!”.

Chú lại hỏi:

“Khi dạy lính Mỹ, cháu nói gì với họ về chiến tranh Việt Nam? Cháu có nói cho họ biết là sự có mặt của Mỹ là một sai lầm to lớn của chánh phủ họ không?:.

Nghe hỏi, tôi nhớ ngay đến chiến dịch tuyên truyền của Cộng Sản. Cán bộ được đưa vào các trường dạy tiếng Việt ở Mỹ. Ngoài giờ dạy, chúng la cà làm quen với các lính Mỹ, rồi xúi bẩy họ đào ngũ. Bọn lính trẻ nầy là bọn bỏ học, bỏ nhà đi lính. Họ chưa bao giờ nghe nói tới Việt Nam, cũng không biết Việt Nam nằm ở chỗ nào trên trái đất nữa, thế mà khi nghe nói tới các mật khu sình lầy, rắn rết, thì họ đã hết hồn, có đường đào ngũ là thần tiên cho họ rồi. Dù sao họ cũng còn là con nít, học hành dở dang.

“Đó là một chiến dịch mật, cháu không được tuyển chọn, vì cháu còn non nớt, nhưng cháu biết tới chiến dịch đó”.

Phan Thanh Nam nhìn tôi chằm chặp, rồi nói với giọng nghiêm trang:

“Thôi, Mỹ Dung à, chiến tranh đã chấm dứt, những dịp để cháu đóng góp cho đất nước vẫn còn chờ cháu, nếu cháu muốn”.

“Nếu cháu muốn? Dĩ nhiên là cháu muốn chớ, chú Nam!”. Tôi vội trả lời như một Việt kiều nhẹ dạ, nghe mà mắc cỡ.

Nam gật gù:

“Chú cháu mình cần nhiều thời giờ ngồi lại với nhau sau khi ba má cháu về thành phố Hồ Chí Minh. Sẵn đây, chú báo cho cháu biết Sài Gòn đã đổi tên”.

Dù đã biết trước khi mất nước, nhưng nghe Phan Thanh Nam nói, tim tôi đau nhói. Sài Gòn mất tên; Sài Gòn không còn nữa.

Sau bữa ăn, tôi hỏi nhỏ ba tôi là tôi có nên trả tiền cho anh Giang không, vì tôi biết tất cả mọi người trong sứ quán đều nghèo tả tơi? Ba tôi chưa kịp trả lời, thì Phan Thanh Nam nói:

“Mình là người trong nhà cả. Bữa nay anh chị Giang đãi ba má cháu và cháu”.

Tôi không ngờ, truyền thống “dân phải nuôi đảng viên để đảng viên nuôi đảng” lại tràn sang tận Paris, dù xa cách rừng U Minh cả ngàn vạn dặm.

Trên đường về, Nam cho biết các Việt kiều ở Paris đã tích cực đóng góp cho cách mạng. Họ đã hiến tiền bạc, thì giờ, phương tiện theo khả năng của họ. Có như vậy, cách mạng mới thành công.

o O o

Hôm sau, tôi không tới Verrières thăm ba má, ở lại Paris để dò đường, tìm cách vô toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trước khi đi, tôi nói với Rob, nếu 12 giờ khuya mà không trở về khách sạn, tôi muốn xác của Phan Thanh Nam treo ngược đầu trong phòng làm việc của ông giám đốc CIA. Câu nói nửa đùa nửa thật của tôi đã làm Rob lo lắng. Tôi mừng thầm có sự lo lắng nầy, vì tôi không muốn họ quá tin tưởng vào sức của tôi, rồi đưa tôi vào một hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm. Cho tới lúc đó, CIA chưa chánh thức huấn luyện tôi về chuyên môn. Tôi hoàn toàn trông cậy vào cái khéo léo xử sự của tôi thôi.

Rob lo lắng hỏi:

“Nếu cô không hoàn toàn thoải mái thì đừng đi”.

Tôi đáp:

“Không bao giờ tôi thoải mái khi tới gần Việt cộng, nhưng việc phải làm thì phải làm. Chúc tôi may mắn đi”.

Rob nhanh nhẩu chúc tôi đi may mắn.

Rob lớn hơn tôi chừng 10 tuổi, nên trong thời gian chúng tôi cùng làm việc, ông thường kêu tôi là kiddo (con nhỏ).

Ở Paris,Rob chỉ dẫn tôi đủ mọi điều, nhưng lại quên không chỉ cho tôi cách đi xe điện ngầm ở Paris. Tôi phải lần mò, hỏi han người khác, rồi cũng đi được một chuyến metro từ khách sạn đến Montparnasse. Rồi lại phải tìm một hồi lâu mới biết đường đến Avenue de Madrid, nhưng tìm hoài mà không biết có đi đúng đường không, đành đi về hướng Neuilly, rồi đi taxi.

Sứ quán của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam có bức tường cao che kín. Tôi bấm chuông ở cổng, nhưng không nghe ai trả lời trong intercome. Khi nhìn lên lầu, tôi thấy một người đàn ông đứng bên cửa sổ văn phòng chú Nam nhìn xuống. Sau đó, tôi nghe có tiếng mở khoá cổng. Chú “tài xế” Thanh đón tôi vô. Lúc nầy chú có vẻ trịnh trọng và khách sáo. Chú dẫn tôi vào phòng khách và chỉ một cái ghế mời tôi ngồi chờ.

Phan Thanh Nam có vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi, nhưng có thể ông lại cho là dịp tốt để khai thác tôi. Chúng tôi rời phòng khách, đi xuống phòng ăn của cơ quan. Phòng nhỏ ở trong bếp lạnh lẽo, vừa bước vô tôi nghe mùi thuốc lá hôi hám, mùi dầu nấu ăn, mùi nước mắm quen thuộc. Nơi đây rất yên lặng, thuận tiện cho trùm gián điệp Cộng Sản tìm một tài năng mới.

Không để mất thì giờ, chú đi thằng vào vấn đề. Chú hỏi về chồng con của tôi. Tôi không biết chú biết về gia cảnh của tôi đến đâu, tôi nghĩ, nói ít và nói thật là thượng sách. Chú hỏi rất nhiều chồng tôi, hỏi cả về gốc rễ, từ đâu di cư sang Mỹ. Tôi nói bên nội, bên ngoại của John là người Nam Tư. Chú nhận định y như ba tôi đã nói: “Như vậy, anh ấy không xa lạ gì với mình”. Tôi nghĩ bụng: “Ngu gì mà ngu thế! Ông bà của người ta di cư qua Mỹ để tỵ nạn Cộng Sản, ông VC ơi!”. Nhưng tôi không dám nói ra.

Nam tằng hắng, vẻ mặt trở nên nghiêm trọng. Tôi bình tĩnh sửa soạn tinh thần. Chú hỏi:

“Chồng cháu làm nghề gì?”.

Tôi giật mình và khó chịu, vì ở Mỹ không ai hỏi nhau làm nghề gì. Nhưng tôi hiểu ngay rằng, dù làm trong ngành ngoại giao, Nam cũng vẫn chỉ là một kẻ xuất thân từ rừng U Minh, kinh nghiệm hơn là suốt đời lẩn lút trong bóng tối.

“Anh ấy có bằng về Thiên Văn học và Hải Dương học, hiện đang làm cho đài khí tượng ở Hawaii”.

Phan Thanh Nam xoa hai tay vào nhau như ĐỂ cho ấm trong căn nhà bếp lạnh lẽo nầy. Nhưng nhìn mặt chú, tôi đoán biết ý nghĩ của chú. John Krall là một con mồi hấp dẫn của chú.

“Nếu chú cháu mình khéo léo hỏi chồng cháu giúp mình, thì anh ấy sẽ có ích cho Việt Nam vô cùng”.

Tôi giả bộ khờ khạo hỏi:

“Chú có thể nói rõ hơn chú muốn gì không?”.

“Chưa, chưa tới lúc. Chú cần nghiên cứu thêm. Nhưng phải nói là vào địa vị ấy, chồng cháu sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam ta, và chú sẽ tạo cho cháu một chỗ đứng tốt trong xã hội”.

Chỉ mới nghe Nam nói, tôi đã thấy mình có tội với dân tộc và những người di tản. Tôi có thể kể chuyện nầy cho CIA, nhưng làm sao tôi dám mở miệng nói với John. Tôi biết anh sẽ giận lắm.

Nam nhìn tôi đăm đăm, rồi hạ thấp giọng hỏi:

“Cháu có yêu nước không, Mỹ Dung?”.

Tôi thầm nghĩ là ông nầy dám chọc cọp Thị Nghè thì cũng gan dạ thiệt. Tôi liền đáp một cách dõng dạc:

“Cháu dám nói chắc với chú là cháu yêu nước hơn chú!”.

Mắt chú mở to ra, và đôi môi chì mím lại. Tôi tiếp tục nói:

“Cháu sanh trưởng ở miền Nam, con của một nhà cách mạng, cả gia đình cháu bên nội bên ngoại đều chống Pháp. Cháu lớn lên với đất nước, đã biết yêu, biết thương dân tộc, đã chia sẻ mọi đau khổ theo vận nước thăng trầm. Xác của em cháu, bạn cháu, trong lòng đất nước, bạn học cũng trường của cháu mất tích trong rừng, dưới sông, dưới biển… Trong khi đó, ở bên Tây, chú theo dõi chiến tranh trên truyền hình, qua báo chí… Làm sao chú có thể yêu nước bằng cháu?”.

Nói xong, tôi nhìn chú không chớp mắt. Chú bình tĩnh, đáp:

“Hồi còn ở bên nhà, chú ở trong bộ đội. Như ba cháu, chú cũng hy sinh đời chú cho cách mạng. Chú không có thời giờ sống riêng cho chú, nên cũng không dám nghĩ đến chuyện vợ con”.

Chớ không phải bắt chước “bác Hồ” ở vậy không nuôi con?. Tôi nghĩ thầm, rồi mỉm cười.

“Không lập gia đình, chú cũng không mất mát gì lắm đâu. Vợ là nợ. Có vợ có con rồi đùm đề tản cư, chạy giặc cực lắm!”.

“Sao cháu biết?”.

“Chú quên là trước khi đi Mỹ, cháu ở đâu sao? Cháu chạy giặc từ hồi cháu mới chập chững biết đi mà, chú”.

Phan Thanh Nam đổi đề tài:

“Cháu nên thuyết phục má cháu trở về Việt Nam. Đó là thượng sách”.

Tôi đáp ngay:

“Gia đình cháu có truyền thống tự do. Bất cứ ai cũng có quyền lựa chọn theo ý mình. Má cháu muốn về Việt Nam hay ở lại Mỹ là quyền của má cháu. Chị em cháu không được xía vô, không xúi má về, cũng không giữ má lại. Chị em cháu đã bắt tay nhau đồng ý như vậy rồi”.

Nam ngập ngừng:

“Đôi khi người già không đủ sáng suốt để tính toán một việc quan trọng, mình phải giúp ý kiến…”.

Khi nghe Nam đánh giá thấp má tôi, coi bà như một bà già không đủ minh mẫn, tôi giận lắm, nhưng phải cố nén xuống để khỏi đập tay lên bàn. Tôi lấy giọng ôn tồn nói:

“Chú Nam, có thể chú chỉ biết ba cháu thôi, vì hai người là đồng chí. Bây giờ cháu xin nói về má cháu cho chú nghe, để chú biết má cháu. Bà đã tự do kết hôn với ba cháu. Khi biết ông theo Cộng Sản, bà vẫn lo tròn bổn phận một người vợ đảm đang, một người mẹ hiền trong gia đình, dù ba cháu vắng mặt. Cháu dám quả quyết với chú là má cháu vượt xa hẳn những người đàn bà từng được tiếng là “cách mạng”. Má cháu thông minh, nhìn xa, hiểu rộng, chắc chắn không phải là một “bà già trầu” như chú tưởng. Má cháu chưa già, mới có 60 hà. Nếu có đầu thai lại 25 lần nữa, ba cháu cũng không thể tìm được một người đàn bà nào như má cháu để làm bạn đời đâu. Má cháu cũng không thương ai bằng thương ba cháu. Vì vậy, cháu đâu cần thuyết phục má về Việt Nam với ba cháu”.

“Tại sao lúc đó má cháu bỏ nước ra đi vậy?”.

Vừa hỏi, Nam vừa móc túi lấy một cuốn số nhỏ để ghi.

“Cháu sợ Sài Gòn tắm máu như Việt cộng doạ, nên phải tìm cách đưa bà ra khỏi cho nguy hiểm”.

“Tự cháu về Sài Gòn rước má?”.

Nam nhìn tôi bằng đôi mắt nghiêm nghị hỏi. Tôi lắc đầu:

“Ước gì cháu làm được việc đó. Chồng cháu phải về để cứu má và hai em cháu”.

Nghe nói có cả hai đứa em, Nam nhỏm người lên, nói như ra lệnh:

“Hai em cháu cũng phải trở về Việt Nam!”.

Tôi nhún vai:

“Tuỳ tụi nó, chú à. Gia đình cháu là gia đình tự do, dân chủ, không ai có quyền ép buộc người khác làm điều trái ý của họ. Chị em cháu sẽ ăn thịt cháu, nếu cháu định chơi trò độc tài”.

Nam giữ im lặng một lát, rồi nghiêm giọng nói:

“Mỹ Dung, cháu đừng quên là hai em của cháu có bổn phận phải trở về Việt Nam vì danh dự của ba cháu. Chúng nó sẽ làm tổn thương danh dự của ba cháu khi con cái của ba cháu đều sống trên đất nước của kẻ thù dân tộc”.

Tôi đưa hai lấy lên ra dấu cho Phan Thanh Nam bỏ qua đề tài nầy, rồi gạt đi bằng một giọng quả quyết:

“Mình không nên để mất thì giờ cho việc nầy. Cháu không có ý kiến hay ảnh hưởng nào tới sự quyết định của em cháu”.

Nhưng Nam vẫn nói:

“Khi má cháu về rồi, cháu nên thuyết phục hai em cháu phải về theo”.

“Tại sao?”.

“Ba của cháu là một vị đại sứ nổi tiếng ở Moscow. Các đồng chí Liên Xô của ba cháu đã ký hộ chiếu cho má cháu ghé thăm Liên Xô trên đường trở về Việt Nam. Họ còn có nhã ý mời ba má cháu đi máy bay Aeroflot từ Paris qua Moscow, rồi về Hà Nội không mất liền. Cháu có thấy đó là một vinh sự lớn cho gia đình cháu không?”.

Tôi bướng bỉnh nói:

“Cháu hiểu. Được Liên Xô ưu đãi là một vinh dự đối với chú và ba cháu. Nó hoàn toàn vô giá trị đối với cháu”.

“Khi má cháu trở về Việt Nam là một thắng lợi nữa cho chúng ta, và cho Việt Nam nữa”.

Tôi đáp ngay với giọng mỉa mai:

“Má cháu ở đâu, có ăn nhậu gì đến ai. Má chỉ là một trong mấy trăm ngàn người tỵ nạn đến Mỹ mà thôi. Nếu Nguyễn Cao Kỳ xin tỵ, nạn chánh trị ở Hà Nội mới là chuyện đáng nói. Báo chí cả thế giới sẽ đăng tin nầy trên trang nhứt. Còn má cháu? Hay em cháu?”.

Nam lắc đầu:

“Mỹ Dung, cháu sai lầm rồi. Má cháu không phải là người tầm thường, mà là vợ của một vị đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Má cháu là nạn nhân của một cuộc bắt cóc do CIA chủ mưu. Họ bắt má cháu đi để làm mất mặt chánh phủ cách mạng. Việc má cháu trở về có thể ví như một cái tát vào giữa mặt tổng thống Ford và chánh phủ Mỹ”.

Tôi giận đến run người khi nghe Phan Thanh Nam nói má tôi là nạn nhân của một vụ bắt cóc do CIA tổ chức. Như vậy, từ nãy tới giờ, ông không tin chồng tôi đã về Việt Nam rước má tôi qua Mỹ. Để lấy lại bình tĩnh, tôi xin phép đi vào nhà vệ sinh. Khi trở ra, tôi thấy trên bàn có hai chai bia. Tôi liền từ chối. Ông rót trà mời tôi.

Như Phan Thanh Nam đã có một loạt câu hỏi, và nóng nảy ngồi chờ tôi trở lại. Ông nhắc tới Hải Vân, em tôi. Tôi nghĩ rằng đời em không có gì phải giấu, vì em đã sống một cách hồn nhiên và danh dựr. Nhưng tôi lại nghĩ, anh cán bộ Cộng Sản nầy không xứng đáng nghe về em tôi.

Phan Thanh Nam dựa lưng vô ghế, nhìn tôi với vẻ mặt thách đố, ông nói:

“Cháu đừng quên những kẻ đã giết hại em cháu. Cháu phải bắt họ phải trả một giá thật đắt, phải chịu một hình phạt cho xứng đáng cho cái tội đã làm gia đình cháu đau khổ”.

Tôi không còn kiên nhẫn với nghệ thuật vụng về của Phan Thanh Nam nữa.

“Cái chết của em cháu là bị thảm của gia đình cháu, chú Nam à”..

Nhưng Phan Thanh Nam luôn luôn có giải pháp cho mọi vấn đề, ông nói:

“Gia đình của ba cháu cũng là gia đình của cách mạng. Mấy chú, mấy bác rất xót xa. Bây giờ lại được gặp má cháu và cháu, thì càng tội nghiệp hơn nhiều”.

Nói gì đây, với một người Cộng Sản đang gieo mầm thù hận vào lòng tôi! Mục đích của tôi hôm nay là tìm hiểu con người ông, để đối phó với ông sau nầy. Biết đâu, có một ngày, tôi cho ông vào cái bẫy, mà chính ông đang muốn đẩy tôi vô? Nghĩ vậy, tôi phải tìm những lời nhẹ nhàng, để làm vui lòng ông:

“Cháu mừng được gặp đồng chí của ba cháu. Cháu cần học hỏi với chú nhiều lắm. Ít nhứt cháu cũng phải hiểu việc làm của ba cháu, ý nguyện của ông, mục đích của ông, để có thể tiếp tay ba, nếu cho phép”.

Nam hãnh diện ra mặt, nói:

“Chú sẵn sàng chỉ dẫn cho cháu khi ba cháu vắng mặt. Cháu có thể đóng góp thật nhiều cho công cuộc xây dựng lại đất nước chúng ta, bằng cách dùng khoa học, kỹ thuật của Mỹ. Bằng cách hày bằng cách khác, Mỹ phải có bổn phận xây dựng đất nước chúng ta”.

Tôi hùa theo:

“Tối hôm qua, cháu nghe chú và ba cháu nói về chuyện Mỹ phải bồi thường chiến tranh. Vậy, theo chú, Mỹ nợ Việt Nam bao nhiêu?”.

“Theo hiệp định Paris, họ nợ mình ba tỷ rưỡi Mỹ kim”.

Tôi biết câu nói sắp đến không nên nói, nhưng tôi hết kiên nhẫn với người nói ngang nói ngược rồi; có bị bắt bẻ, tôi sẽ nói là tôi không biết.

“Rủi Mỹ nhắc cho Hà Nội nhớ lại là theo hiệp định Paris, Hà Nội không được thôn tính miền Nam. Chừng đó ăn làm sao, nói làm sao? “. Tôi hỏi.

“Cháu ngây thơ lắm. Mình đâu có thôn tính miền Nam. Đúng hơn là mình giải phóng miền Nam khỏi tay để quốc Mỹ và bọn bù nhìn”.Ông cười đắc ý.

“À, cháu quên là Hà Nội giải phóng miền Nam”.

Nam lại nói với một giọng hăm hở:

“Khi về Mỹ, cháu phải vận động người Mỹ đòi hỏi chánh phủ của họ phải tôn trọng Hiệp định Paris”.

Tôi thầm tự hỏi, tôi sẽ vận động ai? Bọn phản chiến đã chạy qua Gia Nã Đại? Hay vận động thượng nghị sĩ Gorge McGovern? Thấy tôi mỉm cười vu vơ, Nam hỏi tôi nghĩ gì? Tôi đáp:

“Cháu đang nghĩ xem cháu có thể vận động ai được, và người đó có đủ khả năng để thúc đẩy quốc hội Mỹ chấp thuận đề nghị nầy không?.”

Nam vội hỏi:

“Ai vậy?”.

Tôi cười:

“Thượng nghị sĩ McGovern”.

Nam có giọng nghiêm trang:

“Chú đã nghiên cứu về các thượng nghị sĩ Mỹ. Chú thấy ông McGovern là một trong số ít người có tinh thần phóng khoáng. Ông là người mà chung ta có thể tin tưởng được”.

Trời! Tôi thầm cầu xin tôi không phải là loại người “phóng khoáng” như ông cán bộ Cộng Sản nầy nói tới. Nếu “phóng khoáng” như vậy, tôi sẽ trở thành một thứ bù nhìn có lợi cho Cộng Sản. Tôi tự hỏi, không biết thượng nghị sĩ McGovern đã làm gì cho Hà Nội chưa? Tôi hỏi Nam:

“Tại sao chú nghĩ ông ấy là người phóng khoáng?”.

“Điều rõ ràng nhất là ông ấy chống chiến tranh”.

Tôi nghĩ rằng chú Nam hơi tầm thường, nhưng tôi lại nửa đùa nửa thật nói:

“Chú à, cháu còn phải học chú nhiều lắm!”.

Chú không hiểu ý tôi. Vừa lúc đó, có người vào bếp để sửa soạn bữa ăn trưa. Tôi muốn ở lại để tìm hiểu chú nhiều hơn, nhưng hôm nay tôi cho như vậy là đủ rồi, nên tôi xin phép ra về, dù chú cố giữ tôi lại.

Vừa ra khỏi toà đại sứ, tôi đi thật lẹ như muốn chạy cho xa chỗ nầy, rồi kêu xe taxi để về khách sạn. Tôi cảm thấy tôi dơ bẩn, vì đã vào toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nói chuyện với Cộng Sản bên ly trà. Việc đầu tiên khi về đến khách sạn, tôi đi tắm gội, rồi bỏ hết quần áo vô bao để bỏ giặt ủi.