This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Việc đầu tiên khi chúng tôi đến Paris, là tôi phải liên lạc ngay với CIA. Rob Hall và chúng tôi đi cùng chuyến bay, nhưng không nhận ra nhau ngay từ phi trường Dulles ở Washington, D.C. đến phi trường Charles de Gaulle. Thế rồi Rob cũng ở chung khách sạn Sheraton với chúng tôi. Một tiếng đồng hồ sau khi vào khách sạn, theo lời dặn của Rob, tôi xuống lầu, đi xem các cửa tiệm trong khách sạn, mua sắm lặt vặt vài thứ. Sau đó, tôi trở lại thang máy, nhưng tôi không lên tầng lầu 6, nơi chúng tôi đang tạm trú, mà lên lầu 3. Tôi lên xuống ba lần, đến lần thứ tư thì Rob đã chờ sẵn ở cửa. Nhưng chúng tôi không chào nhau, làm như không quen biết nhau. Khi mọi người đã ra hết, chỉ còn lại mình tôi, ông bước vào, rồi chúng tôi đi lên. Ông vừa nói “Welcome to Paris” vừa trao cho tôi một hộp diêm quẹt giấy của khách sạn. Đến tầng lầu 4, thang máy ngưng lại, mở cửa, ông bước ra, tôi tiếp tục đi lên tầng lầu 6 để về phòng. Khi đã đóng cửa cẩn thận, tôi mở hộp diêm để biết số phòng của ông. Năm phút sau tôi đến gặp ông để bàn về chuyện ba má tôi. Nhiệm vụ của tôi là phải quan sát và theo dõi những cán bộ Cộng sản chung quanh hai người, rồi báo cáo cho Rob.
Về phòng, tôi hỏi má tôi đã sẵn sàng gặp ba tôi chưa, bà tươi cười đáp “Chưa!”. Chưa bao giờ tôi thấy mặt má tôi vui tươi, rạng rỡ như lúc nầy. Má tôi trẻ hẳn lại. Có phải bà đang nao nức gặp lại người chồng đã xa cách hơn hai chục năm? Má tôi hát “Ngày trở về” không biết mấy trăm ngàn lần. Nhưng cái vẻ tươi vui, rạng rỡ của má tôi biến mất đi. Bà trở nên đăm chiêu, lo nghĩ. Tôi ngồi xuống cạnh má, hỏi nhỏ:
“Má nghĩ gì? Sao tự nhiên má buồn?”.
Má tôi khẽ thở dài:
“Má buồn cho hoàn cảnh ngang trái của mình. Chỉ còn vài phút nữa, má được gặp ba con, đáng lẽ mừng lắm, vậy mà má không thể dẹp qua cái giận hờn cái “đảng” của ba. Ba biết má thương ba, nhưng ba làm bộ như má cũng thích cái đảng của ba”.
Tôi đề nghị:
“Má, quan trọng nhứt là mình cho ba biết, mình thương ba bằng mình ghét cái đảng của ba. Con nghĩ, như vậy ba sẽ hiểu thấu xương thấu tuỷ của mình”.
“Nếu má có theo ba về lại Việt Nam thì cũng chỉ vì thằng con của má, anh Khôi của con thôi”.
Tôi nói ngay bằng một giọng tha thiết:
“Má sẽ không làm gì được cho anh Khôi đâu, má à. Đừng về vì ảnh, chỉ về cho má thôi”.
Má tôi nghẹn ngào, nước mắt chảy dài trên má:
“Ít nhứt mà cũng chịu khổ với ảnh…”.
Tôi năn nỉ:
“Bây giờ mà chỉ nên nghĩ tới ba thôi. Một lát nữa gặp ba, má ráng nói ngọt, ba mình ưa ngọt lắm”.
Ba lấy khăn chặm nước mắt, rồi đứng lên xuôi xị:
“Được rồi, cho má gặp ba con đi”.
Giọng bà đầy miễn cưỡng, không có vẻ rộn ràng như cái áo dài mới má đã ủi thẳng máng trên móc áo.
Để sắp xếp cuộc gặp gỡ, tôi gọi toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, xin nói chuyện với Phan Thanh Nam, người đã giúp chúng tôi lấy được giấy chiếu khán cho má tôi. Nam cho tôi biết, ba tôi đã tới Paris từ ngày 14 tháng 9 và rất nóng lòng mong tin má tôi. Khi được Nam chuyển điện thoại, ba tôi hỏi ngay địa chỉ của khách sạn, để sai nhân viên tới rước. Tôi đề nghị ông đến gặp chúng tôi ở khách sạn, nhưng ông cho biết theo luật, ông phải ở trong cơ quan. Tôi nói đùa:
“Thì lâu lâu ba phạm luật một lần cũng đâu có sao!”.
Ba tôi cười, rồi cho biết ông và “chú Nam” sẽ đến khách sạn ngay. Tôi hơi bực mình vì “chú Nam” chen vô cuộc gặp ba má tôi, làm mất hết ý nghĩa của phút giây đoàn tụ của hai vợ chồng.
Tôi xuống đón ba tôi và “chú Nam” để đưa lên gặp má tôi. Tôi thấy “chú Nam” không có dáng của một nhà ngoại giao. Chú có vẻ khắc khổ, chừng 55 hay 56 tuổi. Chú lùn, nhưng người vạm vỡ, da đen sạm, môi chì. Khi chú đưa tay ra bắt tay tôi, tôi thấy hai ngón tay chú vàng khè vì khói thuốc lá. Chú vui vẻ hỏi:
“A, cháu đây là người đã nói chuyện với chú trong điện thoại. Quite an operator”.
Tôi hơi giựt mình vì tưởng bí mật của tôi đã bị… bật mí. Tôi cố giữ bình tĩnh, nhìn thẳng mắt chú như chờ đợi, thách thức. Chú nói tiếp:
“Chú rất ngạc nhiên khi cháu gọi chú lần đầu”.
Tôi vui vẻ hỏi:
“Bộ từ hồi nào đến giờ không có ai gọi chú từ bên Mỹ sao?”.
Tôi cũng muốn nhân dịp nầy tìm hiểu chú, để có lợi cho công tác của tôi sau nầy. Chú đáp:
“Có, có người gọi chú từ Mỹ chớ, nhưng không phải…”.
Thấy chú ngần ngừ, tôi nói tiếp để trả lời:
“…một người Việt Nam không phải là Việt cộng?”
Chúng tôi cùng cười phá lên, làm cho bầu không khí bớt căng. Chú Nam sau đó giới thiệu anh Phạm Gia Thái, một sinh viên Hà Nội du học Pháp. Giọng Hà Nội của anh nghe thật êm tai. Anh cao hơn chú Nam, tất nhiên, người ốm yếu. Anh cận thị, mang kiếng dầy cộm như cái đít ve chai, nhưng tôi cũng nhận thấy đôi mắt lé của anh sau cặp kiếng. Anh mặc sơ mi trắng tay dài, bên ngoài khoác thêm một jacket kiểu Members Only mầu xanh dương, quần kaki xanh. Anh có dáng dấp của một thư sinh, con nhà gia giáo, lịch sự, dịu dàng, dễ thương. Nhưng tôi nghĩ anh làm “nghề” sinh viên, vì đã trên dưới 40 tuổi. Anh sẽ là tài xế cho chúng tôi trong thời gian chúng tôi lưu lại Paris. Sau tôi mới khám phá ra rằng tôi đã đánh giá anh quá thấp trong mọi hoạt động của Việt cộng ở Paris.
Chú Nam đề nghị với ba tôi là chúng tôi nên dọn về sứ quán ngay đêm đó; hôm sau anh Thái sẽ đưa chúng tôi đến biệt thự của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam ở vùng Verrières-la-Buisson. Đây là nơi mà cộng sản đã dùng làm nơi trú ngụ cho phái đoàn trong thời gian có hội đàm Paris. Dĩ nhiên là tôi muốn biết nơi đó lắm, nhưng lại không muốn mang ơn, và không thích ngủ dưới cùng một mái nhà với cộng sản. Tôi cần tự do đi lại để có thể liên lạc dễ dàng với CIA. Ngoài ra tôi cũng ngại đó là một cái bẫy? Tôi từ chối, nói rằng tôi sợ Bộ ngoại giao Hà Nội không muốn người có quốc tịch Mỹ ngủ trong biệt thự đó. Khi về Mỹ, tôi cũng có thể bị rắc rối. Tôi hứa sẽ đi xe lửa tới thăm ba má tôi hàng ngày. Chú Nam nghe xong, tỏ vẻ bực mình, lạnh nhạt nói:
“Tuỳ Mỹ Dung, miễn sao tiện cho cháu. Nhưng chú cần cho cháu biết, là sẽ không có xe đưa rước cháu hàng ngày đâu”.
Tôi trấn an:
“Chú khỏi lo. Cháu sẽ đi metro, chớ không làm phiền ai hết”.
Anh Thái thì ngạc nhiên, nhìn tôi đăm đăm mà không nói gì hết. Tôi thầm nghĩ, tôi cũng liều khi dám trả treo với Việt cộng trên xứ lạ của thằng Tây. Hai mươi năm trước, tôi mới ra sống nơi thị thành sau mười năm trong bưng biền, rừng rú. Nay mới 29 tuổi, lần đầu tiên tới thủ đô ánh sáng, chữ Tây đã trả tại thầy hết ráo, may ra chỉ còn sót lại mấy chữ thông thường. Vậy mà dám toan tính di chuyển bằng xe điện ngầm. Hồi đó, ông ngoại thường nhắc nhở: “Đường đi ở cửa miệng”. Cứ hỏi những người chung quanh thì cũng có thể đi đến nơi về đến chốn.
Khi tôi đưa mọi người lên phòng, cửa vừa mở, ba má tôi nhìn nhau sững sờ. Rồi ba tôi ôm choàng lấy với má tôi, cả hai cũng khóc trước mặt chúng tôi. Nhưng hai cụ phải cố kiềm chế xúc động để thăm hỏi nhau một cách trang trọng, vì có hai người lạ. Nếu không phải là người Việt, tôi có thể thẳng thắn mời chú Nam và anh Thái đi chỗ khác chơi, để ba má tôi được tự do bày tỏ tình cảm sau một thời gian dài xa cách, nhớ nhung. Trong phút giây đầy cảm xúc nầy, mà có hai cán bộ cộng sản chứng kiến, quả thật bẽ bàng quá chừng đi. Đáng lẽ chính họ phải tự ý rút lui để tỏ ra mình là người lịch sự hiểu biết chớ. Nhưng họ cứ trơ trẽn đứng ỳ tại đó một cách thô bỉ. Khoảng 15 phút sau, anh Thái cho biết phải về sứ quán vì có buổi họp, chú Nam cũng về theo vì có hẹn. Đáng lẽ ba tôi có thể ở lại khách sạn với chúng tôi, nhưng theo luật của cộng sản, cán bộ cao cấp phải có người bảo vệ (hay rình rập, kiểm soát?), nên không thể ở lại một mình được, phải về theo họ. Chú Nam mời má tôi cùng đi cho tiện. Má tôi từ chối hẹn ngày mai về thẳng biệt thự ở Verrieres-la-Buisson.
Sau khi tiễn ba người lên xe về sứ quán, tôi phải gặp Rob Hall để báo cáo. Tôi nhớ lời dặn của ông, là khi đã gặp cán bộ cộng sản, tôi sẽ bị chính cộng sản và cơ quan phản gián Pháp theo dõi. Tôi lại phải dùng cái mẹo vặt lần trước, là đi lên đi xuống, ra vào thang máy nhiều lần, rồi gọi cho Rob bằng điện thoại công cộng. Khi gặp Rob, tôi cho ông biết mọi chi tiết. Ông có vẻ tiếc, là tôi không đến ở biệt thự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, vì nơi đó là một kho báu chứa nhiều tài liệu bí mật về cuộc hoà đàm Paris. Tôi nói với anh, tôi không muốn mắc nợ cộng sản.
Sáng hôm sau, ba tôi và anh Thái tới rước chúng tôi. Anh cho biết chúng tôi được mời vào thăm sứ quán của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời, vì các nhân viên ở đây nôn nóng muốn gặp má tôi và tôi. Trong phòng tắm, má tôi nói nhỏ với tôi, là má không muốn gặp “ông kẹ” nào hết, nhưng không thể từ chối, để ba tôi vui lòng.
Sứ quán là nhà số 44, Avenue de Madrid ở vùng Neuilly-sur-Seine. Trên đường đi, anh Thái cho biết chú Nam sáng nay bận gặp mấy người “bạn Mỹ” nên không thể đi cùng. Nhưng khi tới sứ quán, tôi thấy chú ăn mặc xuề xoà, ngồi cạnh bàn viết đọc cuốn “Inside the Company CIA Diary” của một cựu trùm CIA, Phillip Agee. Quyển sách nầy đã gây sóng gió ở Washington trong tháng trước, nhưng tôi chưa có dịp đọc. Tôi bước nhẹ tới sau lưng chú, rồi chỉ quyển sách hỏi:
“Ôn bài, hả chú Nam?”.
Chú bẽn lẽn như con nít bị bắt quả tang đang ăn vụng. Chú ngượng ngùng đáp:
“Không, chú thực hành Anh ngữ”.
Rồi vội vàng xếp quyển sách lại, cùng tôi đi ra phòng khách. Tại đây, tôi thấy ba má tôi đang nói chuyện với mấy nhân viên, trong đó có một người tên là Như Phi mà chú Nam giới thiệu “thơ ký” của sứ quán. Sau nầy, tôi mới biết bà là vợ của nhà vật lý Kaplan, làm việc cho French National Scientific Research Center. Tôi sực nhớ hồi tháng 3, người gọi tôi từ Paris biểu tôi lo cứu má tôi và hai đứa em cũng là Kaplan, không lẽ ông Kaplan nầy? Mà thôi, cũng có thể trùng tên, cũng như Việt Nam mình có bao nhiêu ông Trần, ông Đặng. Tôi cũng được gặp ông Thanh, tài xế của toà đại sứ. Thật ra, chức vụ tài xế chỉ là bề ngoài; ông chính là một sĩ quan tình báo, cánh tay trái của Phan Thanh Nam.
Chúng tôi cũng được giới thiệu với một số nhân viên của Bộ ngoại giao đã làm việc dưới quyền của ba tôi. Một người hãnh diện khoe rằng ông đã chăm sóc ba tôi khi ba tôi bị bịnh vào một mùa đông ở Moscow, và được đưa sang Paris dưỡng sức vào mùa xuân năm 1972.
Đứng giữa phòng khách nguy nga, tráng lệ của toà đại sứ, thảm đỏ dưới chân, với những bình bông đầy hoa tươi, với những bộ bàn ghế kiểu Tây phương quý giá, tôi chợt nhớ tới phòng làm việc của ba tôi ở một xó hẻo lánh trong vùng giải phóng trước năm 1954. Tôi cảm thấy mình xa lạ với căn phòng lộng lẫy nầy, dù những người chung quanh đều tỏ vẻ thân mật với tôi.
Khi ba má tôi vào phòng riêng để nói chuyện vài phút, anh Thái đưa tôi đi thăm sứ quán của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam một vòng. Anh tặng tôi một lá cờ của Mặt Trận và cho biết lá cờ nầy đã được treo trước toà đại sứ lâu ngày. Tôi thầm nghĩ tôi đang cầm trong tay một di tích lịch sử. Vậy mà tôi không mảy may xúc động như khi tôi nhìn thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ. Sau nầy tôi tặng lá cờ đó cho Rob Hall để kỷ niệm ngày tôi “vào đất giặc”. Nhưng Rob cũng không muốn giữ nó, lại đem tặng ông chánh văn phòng của CIA tại Paris. Lá cờ được treo trên tường trong mấy ngày như một “chiến lợi phẩm” của mấy ông thợ săn.
Trước khi trở lại phòng khách, tôi vào nhà vệ sinh. Khi mở đèn sáng, tôi lạnh toát người vì thấy trên sàn nhà có mấy lá cờ của Việt Nam Cộng Hoà chung quanh cầu tiêu. Tôi qùy xuống, định cuốn mấy lá cờ lại, nhưng chúng nặng trĩu nước. Tôi bỗng nhớ đến lá cờ phủ trên quan tài của em Hải Vân và những bạn bè chết trận. Cũng là lá cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi nghẹn ngào nuốt nước mắt. Sau đó, tôi không còn biết gì nữa.
Tôi xỉu đi không biết bao lâu, mấy người trong toà đại sứ không thấy tôi, phải chạy đi tìm. Họ gõ cửa ầm ầm phòng tắm làm tôi tỉnh lại. Tôi nghe tiếng ba tôi. Tôi vội mở cửa, nắm lấy áo ông, kéo vô phòng tắm, rồi đóng cửa lại ngay. Tôi cũng chả có cần mọi người nghĩ gì lúc đó.
Tôi chỉ xuống sàn nhà tắm, vừa nói vừa nghiến răng:
“Ba coi nè, tụi nầy là đồ thú vật. Con sẽ trả mối thù nầy. Con thề với ba đó”.
Nói xong, tôi đẩy ông ra ngoài và lại đóng của. Tôi cố vắt cho ráo nước lá cờ bị ướt, rồi lấy lá cờ khô gói lại, cất hết vô trong bóp. Về khách sạn, sau mấy tiếng đồng hồ cân nhắc, không còn cách nào hơn là gói mấy lá cờ trong bọc nylon, rồi miễn cưỡng nhẹ nhàng để vào thùng rác, như một kẻ hèn nhát. Khi về Mỹ, chị em tôi hỏi sao tôi không giữ làm kỷ niệm? Tôi cho biết mỗi lần nhìn thấy nó, tôi lại căm hờn cái đám người trong toà đại sứ đó.
Nhưng chỉ hôm sau, tôi biết rõ hơn về “ý đồ” của CIA. Khi đọc bản báo cáo của tôi về chuyện viếng thăm sứ quán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Rob tỏ vẻ thất vọng, nhất là về mấy lá cờ Việt Nam Cộng Hoà. CIA đâu cần đếm xỉa gì tới sự sống còn của Việt Nam Cộng Hoà, kể cả nỗi đau khổ của người dân miền Nam phải sống dưới ách độc tài đảng trị của cộng sản. Họ chỉ cần tôi báo cáo những gì liên quan tới họ, những gì mà CIA muốn biết. Rob yêu cầu tôi vẽ lại sứ quán, rồi chỉ rõ cho ông biết một số chi tiết, như chỗ nào là phòng khách, chỗ nào Phan Thanh Nam thường ngồi ăn uống, chuyện trò riêng tư, phòng làm việc cho nhân viên, chổ để điện thoại của phòng khách, v.v…Rất tỉ mỉ. May mà tôi mới vào sứ quán ngày hôm qua, nên còn nhớ rõ mọi thứ.
Như trời đã sắp xếp trước, khi tôi vừa trở về Hawaii một ngày thì John phải đi công tác hai tuần. Nhờ vậy, tôi có nhiều thì giờ chuyện với má tôi về chuyến đi gặp ba tôi ở Tokyo. Má tôi thì nóng lòng nghe chuyện về người chồng đã xa cách hơn hai mươi năm, còn tôi thì chỉ muốn kể cho nhanh, cho hết, trước khi tôi quên đi những chi tiết lặt vặt. Các chị và em tôi cũng muốn nghe, muốn biết về ba. Vì vậy, tôi cứ phải nói đi nói lại, người muốn biết thêm chi tiết chuyện nầy, người lại thắc mắc tại sao lại thế nầy, hoặc thế kia… Tôi đưa cho má tôi lá thơ của ba tôi; bà cầm rồi đi vào phòng riêng. Các em tôi tò mò hỏi ba viết gì cho má?. Làm sao tôi biết được! Chị em tôi chỉ lo ba tôi trách má sao lại bỏ đi trước khi ba về Sài Gòn. Tôi cũng vái cho ba tôi không trách má tôi để cho con gái lấy chồng “đế quốc Mỹ”.
Khi má tôi mở cửa bước ra gặp chúng tôi, ai cũng chăm chú nhìn bà, chờ xem phản ứng. Nhưng má tôi không có vẻ xúc động mấy, và cũng không có vẻ giận hờn, chỉ hơi buồn một chút thôi. Vì sống lâu với má, tôi hiểu rõ nỗi buồn nầy. Buồn pha chút thất vọng. Khi tôi nghỉ học để làm cho Phòng V, Quân đoàn 4, má tôi buồn. Khi tôi lãnh số lương đầu tiên, đưa về cho má, bà cất ba ngàn vào hộc tủ máy may mà mặt buồn hiu. Khi chúng tôi tiễn Hải Vân lên Sài Gòn ở với chị Kim, chị Cương để đi học, tránh bị dụ dỗ theo Việt cộng, má cũng buồn héo hắt.
Má biểu chúng tôi đến ngồi vào gần quanh má để nghe thơ ba. Chị Cương mới nghe nửa chừng đã ôm mặt khóc nức nở. Tôi thì không khóc, nhưng tim thắt lại như bị ai bóp nghẹn. Đọc xong, má xếp lại như cũ, đưa cho chị Cương. Chị chạy vội về phòng riêng để đọc; rất lâu sau mới trở ra, hai mắt đỏ hoe. Rồi tới lượt Hoà Bình và Minh Tâm. Tôi không đọc ngay tại chỗ, mà đem thơ về nhà.
Thơ ba làm chúng tôi khóc, mà cũng làm chúng tôi cười, khi nhắc tới những thói hư tật xấu của từng đứa con. Anh Khôi thì lúc nào cũng lo bị thất học, vì cứ phải chui rúc trong “vùng giải phóng” khỉ ho cò gáy. Hai chị Kim và chị Cương chỉ mơ ước được sống ở thành thị to nhiều tiện nghi. Hải Vân rất thông minh, còn Hoà Bình hay nhõng nhẽo. Ba cũng không quên cái tật tôi thường bỏ mứa khi ăn cơm.
Khi chúng tôi họp nhau để bàn chuyện đi Paris của má, ai cũng biết chuyến đi nầy có nhiều khó khăn cho má, vì má có nhiều “hành lý” nặng trĩu trên đôi vai gầy. Hơn hai chục năm xa cách chồng để một mình nuôi dạy đàn con nhỏ. Má đã gánh bổn phận làm cha, làm mẹ, làm thầy, làm bạn với chúng tôi trong khi ba đi theo tiếng gọi của núi sông, của lý tưởng mơ hồ.
Chị em chúng tôi không ai dám hỏi thẳng má, chỉ đoán thầm với nhau, là có thể má sẽ trở về Việt Nam với ba. Thiệt ra, theo chúng tôi, nếu má chịu về Việt Nam, thì nguyên nhân chính là má muốn gặp lại anh Khôi.
Chị Cương và tôi biết má đang đứng trước một sự lựa chọn quá khó khăn, tế nhị. Để má dễ dàng trong việc lựa chọn ấy, chúng tôi đã cho má rõ là trong suốt hai chục năm qua, má đã sống và đã cống hiến hết tuổi trẻ cho các con nhiều rồi, bây giờ là lúc má hãy nghĩ đến má, đến bản thân má. Chúng tôi nói như vậy không phải để làm vui lòng hoặc trấn an má, nhưng thực tế đã đúng như vậy. Má tôi đã dành trọn tuổi trẻ và tình thương của má cho đàn con. Bà đã cho chúng tôi mái ấm gia đình, cơm no, áo ấm. Bà đã không bỏ rơi một đứa nào trong chúng tôi. Có những người bạn giầu có của má, hiếm muộn, muốn xin một, hai đứa làm con nuôi, với hảo ý làm nhẹ bớt gánh nặng trên vai má tôi. Nhưng bà cương quyết từ chối, ôm chặt chúng tôi vào lòng, dù có những lúc khó khăn, thiếu thốn. Bà dạy dỗ chúng tôi không bằng roi vọt hay những lời trách mắng nặng nề, mà bằng những lời khuyên răn và làm gương tốt cho chúng tôi noi theo. Ngay cả vấn đề tôn giáo, má cũng không cấm đoán hay ép buộc. Hai chị tôi muốn theo đạo Thiên Chúa, má khuyên hai chị nên tìm hiểu kỹ trước khi quyết định. Theo một đạo mới, má khuyên, không giản dị như chạy theo thời trang, thay đổi một kiểu tóc, một cái áo dài hay mua một đôi giầy kiểu mới. Chừng nào thật lòng tin ở “Đức Chúa Trời” thì hãy vô đạo. Hai chị tôi vâng lời, cuối cùng đã được rửa tội. Hai chị đã trở thành con chiên của Chúa và suốt đời giữ đạo.
Chị Cương và tôi biết má không mạo hiểm gì mà trở về Việt Nam, khi vừa mới thoát nạn. Nhưng có thể vì bà nhớ đứa con đầu lòng xa cách hai chục năm dài mà đổi ý, để được gặp anh Khôi. Hiểu tâm trạng của má như vậy, chị Cương cấm các em không được ngăn cản má. Chúng tôi còn hứa với má, sẽ lo lắng, đùm bọc Minh Tâm suốt đời.
Sở ngoại kiều ở Honolulu cho chúng tôi biết phải mất chừng bốn tuần mới lấy được giấy thông hành cho má tôi (Refugee Travel Document). Trong khi đó, ba tôi không thể chờ đợi bốn tuần ở Paris được. Muốn được việc, tôi phải tìm “tay trong” giúp thì may ra mới kịp. Tôi chợt nhớ tới viên sĩ quan làm việc cho Sở Ngoại Kiều mà tôi đã gặp khi tôi tình nguyện giúp người tỵ nạn ở phi trường Honolulu. Ông vui vẻ nhận lời, nên chỉ hai tuần sau má tôi có giấy thông hành đi Paris.
Sau khi được giấy thông hành, tôi đưa má tôi tới toà lãnh sự Pháp ở Honolulu để xin chiếu khán. Một bà đầm già xem đơn xong, trả lời bằng tiếng Pháp:
“Việt Nam phải không?”.
Tôi hơi bực mình vì giọng nói xách mé của bà. Tôi nghĩ rằng bà cũng như nhiều người Pháp khác, thường có mặc cảm tự tôn đối với người Việt Nam. Hình như họ vẫn tự coi là kẻ cai trị dân Việt. Tôi chưa kịp trả lời thì bà lại hỏi thêm, cũng bằng tiếng Pháp:
“Có phải là thường trú nhân hợp pháp của Mỹ không?”.
Tôi vội trả lời bằng tiếng Anh:
“Tôi không biết tiếng Pháp”.
Bà ta tỏ vẻ ngạc nhiên, hỏi bằng tiếng Anh:
“Cô là người Việt Nam mà không nói được tiếng Pháp?”.
Tôi nhìn thẳng mắt bà, trả lời một cách thách thức:
“Tôi là người Việt Nam, nhưng tôi không bị người Pháp cai trị”.
Bà hơi giật mình, dịu dàng:
“Cô ơi, cô không cần phải chua chát như vậy”.
Bà nói đúng. Tôi không nên chua chát khi đang cần họ giúp đỡ. Nhưng lúc đó, bỗng tôi nhớ tới những chuyện Tây ăn hiếp dân mình do má tôi kể lại.
Bà đầm bình tĩnh đọc đơn của má tôi, rồi cho biết má tôi cần hai người ở Pháp bảo trợ, và giấy chiếu khán sẽ được chấp thuận từ 4 đến 6 tuần. Hai người bảo trợ thì không khó, vì má tôi cho biết có thể nhờ vợ chồng Cúc, bác sĩ ở Paris. Vợ chồng nầy là con của bạn má tôi. Người thứ hai cũng là con của bạn má tôi. Nhưng cái thời hạn thì quá dài. Tôi phải tìm cách rút ngắn lại. Thoạt tiên, tôi nghĩ đến toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Paris. Không biết họ có thể móc nối với một thằng Tây, mẹ đầm nào khuynh tả trong bộ ngoại giao Pháp không? Tôi viết thư cho ba tôi về vấn đề nầy, hy vọng ba tôi có thể giải quyết nhanh chóng để gặp má tôi.
Rồi tôi nghĩ đến Rob Hall, nhân viên của CIA. Nhưng Rob cho biết tức khắc, là việc nầy “ngoài tầm tay” của CIA. Tôi nghĩ trong bụng “vậy mà người ta tưởng mấy anh đi trên nước, bước trên lửa!”.
Bối rối trước nhiều bức tường, tôi chợt nhớ tới một nhân viên toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Paris tên là Phan Thanh Nam. Hồi tôi sang Tokyo, ba tôi cho biết, nếu cần giúp đỡ gì khi ba tôi chưa tới Paris, có thể liên lạc với ông ta và kêu ông bằng chú. Thế là tôi vội gọi cho Nam ngay. “Chú Nam” hứa sẽ nhờ một “người bạn thân” lo ngay việc nầy cho má.
Chỉ mới hai tuần và bốn ngày sau ngày nộp đơn ở toà lãnh sự Pháp, bà đầm gọi điện thoại báo cho chúng tôi biết là má có giấy chiếu khán. Khi chúng tôi đến toà lãnh sự; bà đầm tỏ vẻ rất ngạc nhiên, vì sự nhanh chóng khác thường. Bà đoán chúng tôi phải quen biết nhiều người trong bộ ngoại giao Pháp. Tôi nửa đùa nửa thật nói:
“Bây giờ tới phiên người Pháp phục vụ chúng tôi, bà ơi”.
Bà đầm thắc mắc nhìn má tôi, rồi chúc:
“Bon voyage!”
John và tôi quyết định để Lance ở nhà với John, vì chúng tôi không muốn dạy con nói đối. Lời nói trung thực của một đứa trẻ lên 5 có thể gây mâu thuẫn giữa người lớn. Chúng tôi gửi Lance cho bà vợ một sĩ quan cùng phi đoàn với anh. Buổi chiều đi làm về John sẽ đón Lance về nhà. John còn định xin nghỉ một tuần lễ để hai cha con đi cắm trại. Tôi yên tâm đi với má tôi sang Paris.
Khi tôi báo cho Rob Hall biết tin nầy qua điện thoại, ông giữ im lặng một lúc khá lâu. Không biết có phải ông giựt mình vì sự việc xảy ra nhanh chóng hơn dự tính của CIA? Mà cũng có thể ông ngạc nhiên vì tài tháo vát của người “gián điệp mới” nầy. Nhưng chỉ vài phút sau, tôi hiểu rằng Rob không ủng hộ chuyến đi, vì lỡ má tôi theo ba tôi về Việt Nam thì sao. CIA đã góp công vào việc đưa má và hai em tôi sang Mỹ để bảo vệ an ninh tính mạng cho bà mới cách đó không đầy 5 tháng. Ông đề nghị tôi ghé Washington, D.C., trước khi chúng tôi lên đường sang Pháp. Tôi thắc mắc hỏi tại sao, thì ông cho biết:
“Chúng tôi cần bàn một vài chuyện quan trọng trước khi gia đình cô gặp ba cô lần nầy”.
Trước khi lên đường, tôi viết cho Rob một bức thơ, cảnh cáo ông không được xâm phạm tự do riêng tư của má tôi. Nếu bà quyết định về Việt Nam với ba tôi thì không nên ngăn cản, không nên hù doạ má tôi. Chúng tôi biết rằng, nếu má tôi quyết định về Việt Nam thì phần lớn là bà muốn gặp anh Khôi. Nhiều lần nói chuyện nhắc đến anh, bà không cầm được nước mắt.
Ba ngày ở Washington, D.C, là thời gian dài vô tận đối với tôi. Bà tâm sự với tôi:
“Trong thâm tâm, má muốn về với ba của con lắm. Nhưng quyết định của má còn tuỳ thuộc vào chính sách của cái chánh phủ của ba con. Má muốn biết tụi Bắc Kỳ Hà Nội đối xử với người Nam mình ra sao. Má không tin lời báo chí của phe quốc gia, má cũng không tin luôn cái miệng “chống cộng” của tụi con. Người má tin nhứt là ba con. Chắc chắn ba sẽ không gạt má kỳ nầy. Vậy, tụi con cứ yên tâm”.
Rob Hall đưa tôi đến “Nông trại” để gặp xếp lớn của CIA. “Nông trại” là tên lóng, gọi trụ sở bí mật của trùm CIA Jerrie Parker. Trên đường tới “nông trại”, Rob cho biết ông trùm muốn gặp tôi để chào đón tôi mới gia nhập “công ty”. Nhưng khi ngồi nói chuyện với ông Jerrie Parker tôi mới biết rằng “con mồi” mà CIA nhắm là anh Khôi của tôi.
Anh tôi đã từng học ở Hà Nội, Bắc Kinh và Liên Xô. Anh tốt nghiệp với bằng kỹ sư tên lửa. Nhưng, dù là con một nhà cách mạng, anh lại có tâm hồn phóng khoáng, thầm mơ ước cuộc sống tự do bên cạnh mẹ và các em của anh. Vì vậy, anh không phải đảng viên cộng sản.
Khi thấy Jerrie Parker quan tâm nhiều đến anh Khôi, tôi phải thận trọng, dè dặt khi trả lời những câu hỏi về cá nhân anh. Ông muốn anh ở lại Việt Nam vài năm, làm việc cho CIA, rồi sẽ tìm cách đưa anh ra khỏi nước. Đã hai chục năm nầy, kể từ ngày ba tôi đi tập kết, tôi phải lăn xả vào đời để giành một chỗ đứng danh dự, tôi chỉ tin có má tôi và… chính tôi thôi. Vì vậy, lời hứa của ông Parker tôi bỏ ngoài tai, không tin mà cũng không giận hờn. Tôi thầm nhắc nhở mình, rằng CIA đã có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam. Họ đã từng đi giầy, đi guốc, đi cả dép râu trên quê hương tôi. Mỹ đã từng đem tầu há mồm đến Hải Phòng đem người Bắc di cư vào Nam cho tới ngày ông đại sứ Martin ôm lá cờ Mỹ chạy. Trong khi đó, tôi chỉ mới biết CIA không đầy 3 tháng. Ba tháng là 100 ngày, một thời gian qua ngắn ngủi, chỉ như một giấc chiêm bao.
Khi tôi bắt đầu làm việc cho CIA, người ta đã bắt tôi ký một văn kiện có nhiều quy luật. Nhưng đối với tôi, quy luật nào cũng theo được hết, miễn không làm điều gì hại đến ba tôi, dù tôi vẫn biết ba tôi luôn luôn trung thành với đất nước, mà đất nước tức là Đảng. Nhưng đối với anh Khôi thì khác. Anh như con cá mắc cạn, con chim bị nhốt trong lồng. Anh khao khát được sống như mọi người bình thường khác. Tôi không ngần ngại tìm cách giúp anh thoát khỏi cái nhà tù khổng lồ đó.
– “Anh thấy có mất mặt không? Cán bộ Thắng nó nói bây giờ các anh có người bà con nào thật xa theo “cách mạng” cũng cố khai vô lý lịch để mong được khoan hồng. Kỳ cục không?”
– “Còn “ông” thì sao?” Tôi hỏi kháy Trắc.
Trắc trả lời, giọng cương quyết:
– “Tui thì dứt khoát. Tui coi như không có hai thằng chú tui. Cả ba tui, thời theo “kháng chiến”, tui cũng bỏ luôn, không thèm khai.”
Không cần nghĩ tới hai ông chú, một ông là Giám Đốc Sở Công An, một ông là Giám Đốc Sở Thương Nghiệp tỉnh Thuận Hải, Trắc nói với tôi rằng anh ta khai cha chết sớm, còn không khai gì về hai ông chú cả.
Tôi nói:
– “Chức vụ như vậy là mạnh lắm, đứng ra bảo lãnh là ông về cái một.”
Trắc nói:
– “Tui cũng có tự ái chớ anh. Tui không cần đâu!”
Họ đã bị bắt, bị bắn và không biết bao nhiêu người đã bỏ thây trên biển cả. Một cảnh đồng bào vượt biên.
Thế rồi vì lý lịch là cháu “anh Tám Thẹo” – tiếng chúng tôi hay gọi đùa “ông tông tông”, nên Trắc “được tha ra khỏi trại cải tạo” – câu trong lệnh tha thường ghi – sau tôi những năm năm.
Anh ngồi gỡ thêm 5 cuốn lịch nữa. Tội nghiệp! Mà cháu ông Thiệu, anh ta được cái gì chứ?! Ra trường khóa 21 Thủ Đức, Trắc đi Dù, về tiểu đoàn 5 với ông Trần Quốc Lịch, băng rừng, lội suối cũng như mọi người.
Một lần, Trắc nhớ hành quân ở giới tuyến, trong một đêm mưa phùn gió Bấc, ông Lịch sáng tác bài thơ, Trắc nhớ được mấy câu:
Bữa trước mưa đêm cũng chốn nầy
Bây giờ mưa gió lại về đây.
Ô hay mưa chẳng thương đời lính.
. . . . . . . .
“Chốn nầy” là Quảng Trị, quê hương thơ ấu của tôi!
Hành quân ở đó mà gặp mùa mưa phùn gió Bấc thì da diết khó quên.
Hồi còn ở trại Trảng Lớn, cùng chung L3-T3, Tôn Thất Chu đến thăm tôi.
Ông nầy cũng là hạng “học trò quái kiệt” của tôi đấy!
Hồi học với tôi, anh ta nghịch lắm, được cái là tuy học không chăm nhưng rất lễ phép. Đậu trung học, anh vào Quốc Học. Năm thi Tú Tài 1, anh “quay phim” bị giám khảo bắt được, đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật, cấm thi ba năm, không những vì tội quay phim mà còn bướng, cải lấy được với giám khảo.
Năm sau, anh ta thay giấy khai sinh, thêm dấu ư và dấu ngã, từ Chu ra Chữ, đi thi lại như thường. Những năm “đấu tranh” của cái gọi là “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc”, anh ta từ Quốc Học về trường cũ, phá cổng trường vào kêu gọi học sinh bãi khóa.
Ông cai trường giận anh ta lắm, cứ nói hoài câu: “Thằng Chu chớ không ai hết. Hắn phá cổng trường! Hắn phá cổng trường!”
Vì tham gia đấu tranh, anh bỏ học rồi nhập ngũ.
Bây giờ thì hai thầy trò gặp nhau trong “trại cải tạo”. Tác phong của Chu vẫn như cũ, vui đùa tự nhiên và vẫn nghịch, dù đang ở tù.
Anh ta nói:
– “Không biết chắc em có về trước thầy không?! Ba em bảo lãnh cho em rồi.”
Ba của Chu là ông Tôn Thất Khâm, thiếu tướng Việt Cộng. Ông ta ở ngoài Bắc về, hiện nghỉ hưu ở Huế. Chu cũng có một người chú nữa, Việt Cộng nằm vùng, bị Thanh Niên Cộng Hòa bắn chết ở Nam Hòa khoảng năm 1960.
Chu lại nói:
– “Ba em dặn em được về thì nhớ nghe lời ba dặn, đừng như Tôn Thất Đính.”
Tôi hỏi:
– “Đính nào, mà sao?”
Té ra Chu có một người anh tên là Tôn Thất Đính, đại úy, trước 1972, phục vụ ở tiểu khu Quảng Trị. “Mùa Hè Đỏ Lửa”, Đính bị Việt Cộng bắt, đưa ra Bắc.
Thiếu tướng Việt Cộng Tôn Thất Khâm nghe tin con bị bắt, bảo lãnh cho con về Hà Nội chơi, thăm cho biết “Thủ Đô Cách Mạng Việt Nam” văn minh tiến bộ như thế nào!!!
Ông ta cho con biết rằng Hiệp Định Paris 73 ký rồi, sắp trao trả tù binh, và yêu cầu con ở lại miền Bắc với cha, đừng về miền Nam nữa.
Đính nhứt định về, nói là về với mẹ ở trong Nam.
Ông Khâm chiều ý con nhưng dặn, nếu có về thì đừng đi “lính ngụy” nữa. Đính hứa.
Về tới miền Nam, khi còn ở Trại An Dưỡng, anh xin trở lại Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, “quên” lời hứa với cha.
Ông Khâm rất giận con việc nầy, nên lần nầy không bảo lãnh cho Đính nữa. Chỉ bảo lãnh cho Chu và ông anh cả, Trung tá Tôn Thất Thuyên.
Chu có một người chị nữa, cũng là học trò của tôi, nổi danh ở Huế một thời vì đẹp, sexy và có mái tóc vàng như “Mùa Hè Rực Rỡ”, như đào ciné.
Người ta đồn sau nầy vì cô ta mà một ông thầy chùa cởi áo tu. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” mà.
Hỏi Chu, Chu nói:
– “Tụi nó nói tầm bậy. Chồng chị ấy học sư phạm ra!”
Chu đưa cho tôi xem bản sao tờ bảo lãnh của cha, lời lẽ khá cảm động: “Tôi vì công tác cách mạng nên không có cơ hội chăm sóc con cái để đến nỗi gia đình ly tán như thế nầy. Tôi cũng thương các con tôi, vì Bác Hồ có nói tình yêu gia đình cũng thiêng liêng như tình yêu tổ quốc…”
Tôi nói:
– “Thư viết hay đó! Không biết mấy ông Việt Cộng đọc có thương tình mà cho ông về sớm không!? Thôi cứ “an tâm học tập cải tạo” đi.”
Chu nói:
– “Ba em nói nếu em “học tập” ở Huế thì nay em đã được về rồi.”
Tôi cười, nói đùa:
– “Tha ông về sớm để ông theo ông Đính chớ gì?”
Chu chỉ cười.
Đơn bảo lãnh của ông Khâm cũng được “cách mạng” xét tới, sau khi Chu ở “tù cải tạo” hơn ba năm, đủ để đi HO.
Chu đi tìm Hồ Đức Trai, cũng là học trò cũ của tôi. Cả hai đến thăm thầy.
Chu nói đùa:
– “Tù trò đi thăm tù thầy nên không có quà, chỉ có hai tay không?”
Tôi cười:
– “Khi tui bắt đầu đi dạy, có bà thím nói “Bộ hết nghề rồi hay răng mà đi dạy. Nghề nớ bạc bẻo lắm.”
Tui cười, chấp nhận chuyện bạc bẻo đó.
Nay ở trong tù mà mấy ông tới thăm tui là quí rồi. Ông Trai đi lính khi mô?”
– “Em học Võ Bị, mãn khóa về học thêm ở Phú Thọ, đậu kỹ sư, nhưng bằng của em thì do đại tướng Cao Văn Viên ký. Chưa kịp ký thì ông dọt mất, thành ra em mất cái bằng kỹ sư.”
Tôi nói:
– “Bỏ đi! Không chắc “cách mạng” cần tới bằng cấp của người miền nam. Hồng hơn chuyên mà.”
Ở trại nầy, tôi cũng có nhân vật khác, cũng khá buồn cười là anh Đặng Mậu Hùng. Anh thuộc loại sinh viên xuất sắc của viện Đại Học Huế hồi đầu thập niên 1960. Cùng với Huỳnh Hữu Tuệ – em họ tôi, người tôi từng làm precepteur khi tôi học ở Quốc Học, – (1) được học bỗng du học Canada.
Tuệ lên máy bay đi Canada dễ dàng, vì bố anh ta thuộc nhóm các ông Võ Như Nguyện, Đinh Sơn Thung, Đỗ Mậu, theo cụ Ngô khi cụ còn “lê gót nơi quê người” – câu cũ trong bài hát “suy tôn Ngô tổng thống” của Nguyễn Hiền- lại còn được chọn làm trưởng nhóm du học sinh nầy.
Hùng bị kẹt lại, bộ Nội Vụ không cho đi vì có bố tập kết ngoài Bắc. Hùng tiếp tục học ở Đại Học Huế, đậu cử nhân khoa học, bị động viên, ra trường được chọn làm giáo sư ngành văn hóa tại trường Võ Bị Quốc Gia. Khi trường Võ Bị muốn kiện toàn đội ngũ giáo sư cho chính của trường, Hùng lại được du học Mỹ, không bị trở ngại như lần trước. Đậu kỹ sư hóa học ở Mỹ rồi về nước, Hùng tiếp tục dạy ở Võ Bị cho đến 30 tháng Tư thì đi ở tù. (2)
Hùng là em vợ Lê Trọng Thọ, hai anh em cùng trình diện và “học tập” cùng chung trại Trảng Lớn với tôi.
Một lần chúng tôi nói chuyện chơi với nhau, Hùng nói đùa:
– “Ông già không bảo lãnh cho tui về là tui từ ông luôn.”
Tôi cười, nói:
– “Chuyện từ nhau là chuyện vô duyên. Cha mẹ có từ con thì con vẫn là con cha mẹ. Nó không thể chui đất mà lên được, dù là cán bộ Cộng Sản. Ai cũng phải có cha mẹ. Con từ cha mẹ thì cha mẹ vẫn là cha mẹ mình. Còn nếu như từ để khỏi nuôi cha mẹ là tội bất hiếu.”
Hùng thành thật nói:
– “Nóng về thì nói bậy nhưng tôi chắc ông không đủ sức để lo cho tôi về.”
Quả thật, ông cụ có bảo lãnh cho Hùng nhưng Hùng không về sớm được. Có người quen ở Huế nói với tôi rằng ngày xưa ông từng làm Công An Liên Bang, nhưng rất thường giúp đỡ những người hoạt động cách mạng, bất kể đảng phái Quốc gia hay Cộng sản.
Sau cách mạng tháng tám, ông làm việc cho Việt Minh, rồi đi tập kết, không dám trốn Việt Minh về với vợ con vì sợ Tây trả thù. Khổ nỗi, vì lý lịch từng làm Công An Liên Bang nên Cộng sản chẳng tin dùng gì ông, ông chỉ là nhân viên thường. Họ chỉ cần ông lúc ban đầu, khi mới cướp chính quyền mà thôi.
Một hôm tôi đi múc nước dưới đường mương để tưới rau. Đang lum khum với cái gầu thì có người đứng trên bờ mương gọi: “Anh Hải.”
Tôi bước lên khỏi mương, hỏi:
– “Xin lỗi, trông quen quen mà không biết ai?”
Anh ấy cười, nói:
– “Anh nhớ Hoàng Ngân Hà và chị Ái Loan không?”
Tôi hốt hoảng:
– “Thôi chết rồi! Thọ phải không? Thọ em chị Loan phải không? Tui xa quê sớm quá, đám nho nhỏ sau nầy, nhớ tên mà không nhớ mặt. “Ông” bị “tội” chi mà vô đây?”
– “Em trung úy. Đang học đại học nửa chừng thì em đi Thủ Đức.”
Về trại Suối Máu, tôi lại gặp một người học trò cũ khác, anh Trần Hữu Xiêm. Ông nầy cũng “buồn cười” không khác gì ông Chu.
Năm đệ tam, Xiêm học với tôi. Anh thuộc loại học trò xuất sắc, giống như trường hợp Võ Thế Hiệp vậy. Giáo sư Nguyễn Ngọc Minh dạy kèm cho cả hai anh Toán và Lý Hóa, các môn khác, tôi chỉ sách cho họ tự học thêm. Cuối năm đệ tam, cả hai thi tú tài 1 và trúng tuyển.
Người Xiêm to cao, trắng trẻo, thi vào không quân và tốt nghiệp, làm “giặc lái” máy bay L. 19 ở Nha Trang.
Ra trường, anh về phục vụ ở vùng I. Một lần lái L.19 hộ tống cho đoàn xe của một người bạn trên quốc lộ 1, anh suýt chết khi qua đèo Hải Vân. Máy bay bị gió thổi sà ngang đầu mấy chiếc xe đang đậu trên đỉnh chờ đổi giờ đèo, ai cũng khiếp đảm. Anh cũng hú hồn thoát chết.
Được nửa năm, An Ninh Quân Đội “điều chuẩn an ninh”, phát hiện bố anh là “Ủy viên trung ương đảng” ở ngoài Bắc nên anh bị “cấm bay”, được giao công tác trên mặt đất.
Anh của Xiêm là Trần Hữu Tín cũng bị vạ lây. Tín đang làm ở phòng 2 bộ Tổng Tham Mưu, bị thuyên chuyển về Khối Chiến tranh Chính trị Tiểu khu Gia Định.
Bây giờ cả hai anh em cùng đi “tù cải tạo” với nhau.
Sau vụ “cấm bay” được nửa năm, cấp chỉ huy xét lại nên Xiêm được bay như cũ.
Xiêm kể:
– “Ngày 2 tháng Tư (1972), em bay quan sát từ Đà Nẵng ra Bến Hải. Ngang cầu Đông Hà em thấy 7 chiếc xe tăng đang từ hướng Bắc chạy vào, hai chiếc đầu gần tới cầu Đông Hà rồi.
Em rà thấp xuống coi thử xe tăng ai mà hơi lạ lạ. Nhìn kỹ, té ra xe tăng Việt Cộng, chúng từ ngoài kia, theo quốc lộ mà vào. Em gọi về trung tâm hành quân ở Đà Nẵng, xin máy bay oanh tạc.
Đà Nẵng biểu chờ, phải trình trung tướng đã. Mẹ nó lên. Xe tăng Việt Cộng sắp tới cầu Đông Hà rồi mà còn biểu chờ. Xe tăng nó qua cầu được là coi như xong.
Nghe em chưởi thề trong máy, một anh chàng A-37, chẳng biết tên họ là chi, cùng tần số, bảo em:
– “Đ. mẹ, đếch có chờ. Ông chỉ điểm đi, tôi chơi liền”.
“Thế là em rà xuống thấp, bắn trái khói. Anh chàng kia cùng người bạn, hai chiếc A-37 nhào xuống chơi trò “cua rang muối”.
Năm chiếc cháy ngay trên đường, hai chiếc hoảng hồn lao xuống ruộng, em chi điểm tiếp cho hai anh chàng kia rang cháy luôn. Còn thêm khoảng cở mười chiếc ngoài kia đâm đầu chạy vào, như tụi liều mạng vậy. Bọn em cũng hết bom, nhưng dưới đất thì kêu réo om sòm vì xe tăng Việt Cộng tới.
May khi đó, Thiết Đoàn 21 Chiến Xa của Trung tá Nguyễn Hữu Lý kịp phá sập cầu Đông Hà.”
Tôi hỏi:
– “Trong bản tự khai, ông có khai vụ nầy ra không?”
– “Có chớ, sao không?” Xiêm trả lời tự nhiên. “Biểu thành thật khai báo là em khai hết. Sợ gì? Mà hình như ba em ông “đấu tranh” dữ lắm. Em gái em ở Huế gởi thư cho biết nhiều lần ba em ngồi uống trà suốt đêm không ngủ. Bảo lãnh cho một thằng con rang hết cả chục con cua của “cách mạng” chắc khó lòng cho ông dữ!” Nói xong, Xiêm cười hề hề!
Sau đó ít lâu, có đợt đày tù cải tạo ra Bắc. Cả hai anh em của Xiêm đều có mặt trong đợt nầy.
Khi ở trại Z-30A, một hôm, Nguyễn Minh Chiếu, thiếu úy, nhân viên cũ của tôi, nay tù chung cùng một trại, hỏi: “Anh có biết thằng cha Tấn không?”
Tôi nói: “Có nghe người ta nói sơ, buồn cười lắm phải không?”
– “Mắc cười lắm. Ba anh ta tập kết ngoài Bắc, y ở lại trong Nam cùng với mẹ. Mẹ nuôi cho ăn học, khi “đứt phim”, anh ta đang học đại học khoa học. Cha anh ta từ Bắc vào “công tác” ở Saigon và thăm gia đình. Việc học hành lúc đó “cà lơ phất phơ”, tới trường thì chỉ có hát hò, học tập chính trị, chán quá, anh ta bỏ đi chơi, suốt ngày ngồi quán caphê, nghe lén nhạc vàng.”
– “Ông bố không biết?” Tôi hỏi.
– “Biết chớ. Cho nên ông biểu thằng con ra thăm Hà Nội một chuyến cho biết, thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, văn minh, tiến bộ…”
– “Cha con đi với nhau?” Tôi hỏi.
Không trả lời tôi, Chiếu kể tiếp:
– “Cha dẫn con đi quanh Hà Nội, chỉ cho con thấy những ưu việt của xã hội Việt Cộng như cột ăngten đài phát thanh Hà Nội, cửa hàng mậu dịch vân vân…”
– “Mấy cái đó, có chi đặc biệt mà khoe!” Tôi góp ý.
– “Về tới miền Nam, thằng con than thở với mẹ, xin mẹ cho đi vượt biên.”
– “Trước đó chưa có ý định vượt biên?” Tôi hỏi.
– “Đâu có! Ban đầu tưởng Việt Cộng ngon. Ai ngờ ra tới thủ đô Hà Nội, sợ quá, về tới nhà xin mẹ vượt biên.” Chiểu kể.
– “Bà ấy cho con đi? Hai chục năm, cha con mới gặp nhau mà!”
Tôi than.
– “Ban đầu thì chưa. Bỗng một hôm, cha con đụng độ dữ dội, nên bà phải cho thằng con trai vượt biên.”
– “Đụng độ vì gì?”
– “Anh ta có thằng bạn đến chơi. Thằng bạn kể chuyện nước Mỹ văn minh tiến bộ, sản xuất theo giây chuyền. Đặt lên đầu giây chuyền một con heo sống, cuối giây chuyền là những hộp thịt, vô thùng đàng hoàng, chỉ cần cho lên xe phân phối mà thôi.
Nghe chuyện, thằng con góp ý:
– “Xã hội chủ nghĩa văn minh hơn mày. Nếu đầu giây chuyền để những hộp thịt heo, cuối giây chuyền sẽ có con heo sống.”
“Tình cờ ông bố ngồi nghe chuyện. Biết thằng con kể chuyện xỏ lá, bèn nổi giận mắng con. Thằng con cãi lại, chê thủ đô xã hội chủ mà cha dẫn đi xem chẳng ra con mẹ gì cả. Thế là ông ta tuyên bố từ con. Bà mẹ thấy cha con căng quá, bèn cho con vượt biên.”
– “Vượt biên bị bắt?” Tôi hỏi.
– “Ở trại nầy, hễ ai tích cực lao động, giác ngộ học tập, anh ta cho là ngu, không thèm chơi.”
hoànglonghải
(1) Huỳnh Hữu Tuệ, du học Canada năm 1961, đậu kỹ sư rồi tiến sĩ toán, dạy đại học ở Québec, Michigan, Mascơva và Hà Nội (sau 1975), đảng viên đảng Cộng Sản Canada, chủ tịch cái gọi là “Việt Kiều Yêu Nước” Canada. Thân phụ là ông Huỳnh Hữu Hiến, một thành viên của “đảng cụ Ngô” như các ông Võ Như Nguyện, Ngô Ganh, Ngô Đình Thảng, Phùng Ngọc Trưng, v.v… Anh Đặng Mậu Hùng, vì thân phụ là Đặng Mậu Tư, đi tập kết, nên việc du học của Hùng bị trở ngại. Hai người nầy là bạn học, cùng quê ở Huế và cùng là sinh viên giỏi của viện đại học Huế. Hùng có thân phụ đi tập kết nhưng lại thuộc thành phần chống Cộng, hoàn toàn trái ngược với Tuệ.
(2) Hùng cưới vợ Quảng Trị, cô Mai (em) của nhà sách Sáng Tạo. Hùng kể lại cho tôi nghe khi còn đi học, mỗi tuần, Hùng chạy xe gắn máy từ Huế ra thăm “bồ” ở Quảng Trị, cách Huế 60Km. Về sau, Hùng cưới cô nầy làm vợ.
Khai lý lịch xong thì “biên chế” (danh từ Việt Cộng đấy), có nghĩa là phân loại và chuyển trại.
Té ra Việt Cộng, sau khi “gom bi”, dụ hết “đám chế độ cũ” trình diện, tập trung, nay cần chúng tôi “thành thật khai báo”.
Khai báo hết rồi để biết ai là ai, khi đó mới phân loại đưa đi các trại giam.
Toàn bộ “đơn vị” tôi đều lên xe Molotova đi hết. Dĩ nhiên chẳng biết họ bị đưa đi đâu để “học tập”. Còn lại một số khoảng 20 người, ôm khăn gói đi bộ qua phía bên kia trại, khu sát phi trường Trảng Lớn. Ở đó, sau mới biết là L3-T3. Hòm thư 7590.
Chúng tôi lại đùa một cách chua xót về số “hòm thư”:
Học bảy (7) năm (5) chín (9) không (0)?
Không!
Bảy năm cũng chưa chín, như Trần Tế Xương nói vậy:
“Học đã sôi cơm nhưng chửa chín.”
Coi bộ phen nầy “mút mùa Lệ Thủy”.
11 trong số 20 người đó, được “biên chế” ở chung với nhau trong một tổ: Đó là:
– Huỳnh Văn Khánh, người Nam, đại úy Quân Cảnh, biệt phái dạy trường Trung Học Bình Chánh, hai năm sau bị đưa ra Bắc, bây giờ không biết ở đâu!
– Thứ hai là Hoàng Hữu Chung, quê làng An Ninh, phía sau chùa Linh Mụ, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, một năm sau ra Bắc, hiện ở Boston.
– Ba là Lê Quang Dung, dân Saigon chính cống, đại úy Cảnh Sát. Bọn “Cách mạng 30” – (là những người dân trở cờ, theo Việt Cộng vào ngày 30 tháng Tư,) tố cáo là thiếu tá nhưng không khai (1), năm 1982, cùng được tha về một lần với tôi, được ít lâu thì từ trần.
– Bốn là Nguyễn Văn Bê, dân Nam Bộ, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, ca cải lương khá mùi. Câu anh ta thường ca là:
“Em ơi!
Nước chảy,
Bèo trôi
hoa tàn
bướm rũ
Vừa mới yêu nhau mà em đã phụ anh rồi.”
Trắc thường bắt chước ca theo, nhưng chữ “phụ” thì anh bỏ vần “ph” mà thay vào đó phụ âm “đ”, khiến ai nấy cũng cười. Năm sau, Bê bị đày ra Bắc, không biết bây giờ ở đâu!
– Năm là Phạm Xuân Lý, dân Saigon chính cống, đại úy Cảnh Sát, vợ tên là Thúy/ Hên), cũng là sĩ quan Cảnh Sát, cũng bị đi cải tạo. Một năm sau, Lý bị đưa ra Bắc, hình như bây giờ cùng vợ định cư ở Úc.
– Sáu là Nguyễn Văn Thanh, “rân ri-cư”, như chúng tôi thường đùa, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, “lừng khừng chẳng ra làm sao” nhưng tránh “lao động vinh quang” thì hay lắm, anh em gọi đùa là thằng “trốn làm” (để nói lái chơi), Trần Phú Trắc đặt cho cái tên Tây nữa là “thằng Charle Cụt”, nói theo tiếng Việt là “Sặc Cụt”, cả hai tên nầy nói lái lại thì nghe… tục lắm!
Tấm PSP dài, mỗi phía có 3 người khiêng. Thanh thường giành đứng giữa. Trên đường đi, anh ta khom mình xuống một chút, sức nặng đè lên vai hai người đi trước và đi sau. Anh ta “khỏe re”. Mánh nầy bị bể nên tôi (khi đó làm trưởng toán), không cho anh ta đứng giữa nữa. Năm 1954, bố mẹ anh ta vào Nam vì, theo như Việt Cộng “lên án”, nghe lời các linh mục rằng “Chúa đã vào Nam”. Còn bây giờ thì “Chúa lại đi Guam”, như Phan Hải nói, nhưng gia đình Thanh không đi Guam đuợc. Năm sau Thanh bị đày ra Bắc, bây giờ ở Nam Cali!
– Bảy là Phạm Quang Chiểu, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, tôi có nói qua ở trên, rất khoái nghe tôi hát “Gởi gió cho mây ngàn bay.” Một năm sau bị đày ra Bắc. Đi tù cải tạo về mới cưới vợ, hiện ở Nam Cali, gần với Trần Phú Trắc.
– Tám là Trần Phú Trắc, nói ở trên, xin khỏi nhắc lại.
– Chín là Trần Hữu Bảo, dân Huế, đại úy Dù, thương binh loại 2, biệt phái Cảnh Sát, một năm sau bị đày ra Bắc, hiện giờ ở Nam Cali, gần chỗ Trắc.
– Mười là Phạm Ngọc Hiền, quê ở Quảng Ngãi, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, bị Trắc đặt tên là Tạ Tốn, một nhân vật trong truyện Kim Dung, quê ở Quảng Ngãi, lớn lên trong vùng Việt Minh nên có ít nhiều kinh nghiêm với Việt Cộng. Một năm sau cũng bị đày ra Bắc. Không biết bây giờ ở đâu!
– Mười một là Phan Hải.
Phan Hải, quê làng Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng Nam, là con Phan Mạch, cháu Phan Mỹ.
Hồi ấy, Phan Mỹ là “chủ nhiệm văn phòng thủ tướng” (Phạm Văn Đồng), còn bố anh ta làm “Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhứt”. Bác cả anh ấy là nhà văn Phan Khôi, ngoài ra còn có Phan Thao, Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam, bộ trưởng bộ nội vụ Việt Cộng); và theo anh ta, chú anh ta cũng là Phan Hiền, lúc ấy là Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Cộng. Bố mẹ anh ta tập kết ra Bắc, để anh ta ở lại miền Nam với một ông bác. Ông nầy làm thuyền trưởng chiếc tàu chạy đường Saigon – Đà Nẵng và qua đời sớm.
Phan Hải lưu lạc ở Saigon, vừa đi làm vừa đi học, đậu tú tài 1, bị động viên đi sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, trung úy, biệt phái Tòa Đô Chánh, phụ trách kiểm soát ẩm thực cho tù Chí Hòa. Anh ta cố gắng “học tập tốt” để như bố mẹ anh ta hứa: “Ngày về, con sẽ là con của đảng”. Anh ta đã ở sẵn tại trại nầy, khi chúng tôi tới nơi thì biết anh ta làm Khối Trưởng.
Anh em chúng tôi thì thuộc Tổ 1, đội 1, Khối 1, trại L3-T3.
L3-T3 là một “đơn vị học tập” thuộc cấp “tiểu đoàn”.
Tiểu đoàn trưởng là Năm Định, đại úy Việt Cộng, người miền Nam. Năm Định thì cứ khăng khăng rằng: “Mấy anh học tập xong thì về.” Chính trị viên tiểu đoàn tên là Thảo, người Bắc, trung úy, khôn ngoan, kín đáo, thâm trầm và “độc”.
Người điều hành công việc thường nhật, coi như phụ tá của Thảo là Hồng Dư, trung úy, trẻ hơn Thảo, năng nổ hơn, nhiệt tình hơn, chủ tọa cuộc họp hằng ngày của các khối trưởng, là người cấm chúng tôi không được gọi nhau bằng tù, chỉ là “cải tạo viên” mà thôi.
Toàn trại chia làm 6 khối. Từ khối 1 đến khối 5 là năm khối ở trong năm ngôi nhà dài trại gia binh cũ. Mỗi nhà gồm 10 căn dành cho 10 tổ. Hai tổ thành một đội. Năm đội thành một khối.
Khối thứ sáu, không ở trong gian nhà trại gia binh mà một ngôi nhà gỗ, tiền chế của nhà binh, nằm riêng ở cuối trại. Tôi chưa từng vào ngôi nhà nầy nên không biết cách sắp đặt ra làm sao. Ca sĩ Khuất Duy Trác là khối trưởng của khối 6 nầy.
Phi trường Trảng Lớn ở phía bên kia hàng rào của L3-T3.
Khi mới về trại nầy, chúng tôi được lệnh qua phi trường gở các tấm “ri” sắt (PSP), thứ để làm phi đạo, đem về kê cao lên, làm sập để ngủ. PSP có hai loại, loại có lỗ to, bằng miệng chén, dày 1 lớp, không làm chỗ nằm được. Loại chúng tôi gở về là loại không có lỗ, bằng nhôm, làm sập nằm khá êm.
Về trại nầy được mấy tuần thì chúng tôi được trại tổ chức học tập chính trị. Nghe được học tập chính trị, ai ai cũng vui, và hy vọng học tập chính trị xong thì sẽ được về, trở lại cuộc sống bình thường.
Bấy giờ, không rõ do đâu, một số anh em được gọi đi dựng hội trường để làm nơi học tập chính trị. Hội trường là khoảng trống giữa hai dãy nhà trại gia binh. Họ dựng vài, đóng đòn tay, lợp mái, và làm sân khấu để giảng viên đứng trên đó, còn “trại sinh” thì ngồi đối diện, dưới đất. Bốn phía hội trường có bắt loa, trên sân khấu, mỗi khi học tập có đặt micro cho giáo viên dùng.
Để ý, tôi thấy các loa nầy nhãn hiệu đều viết bằng chữ Tàu, có lẽ do Trung Cộng sản xuất và viện trợ.
Những người giảng bài học chính trị, gọi là giáo viên, phần đông còn trẻ, 20 tuổi hay lớn hơn chút ít, nghe nói mới học xong ở truờng Nguyễn Ái Quốc ra. Bọn họ có khoảng 3 hoặc 4 người, phụ trách một T. (Đơn vị), phần đông là người Bắc, vui vẻ. Riêng có một anh chàng, không lên lớp bao giờ, thường đi thu gom bài học và bản khai lý lịch. Anh chàng nầy khó đăm đăm, khó ưa.
Có một giảng viên, còn trẻ, có lẽ cũng “trường Nguyễn Ái Quốc” mới ra lò. Anh vừa giảng bài ở hội trường xong, chúng tôi họp “thảo luận tổ”, anh đến nghe, hỏi có ai thắc mắc gì không?
Phan Hải nói: “Tôi thấy “từ” (chữ Việt Cộng đấy!) nầy đúng ra là “chỉ tiêu”, không phải là “chi tiêu” như anh nói.
Anh ta trả lời: “Chỉ tiêu hay chi tiêu cũng giống nhau, không là vấn đề.”
Tối đó, Phạm Xuân Lý hỏi tôi: “Chỉ tiêu hay chi tiêu là hai tiếng khác nhau, sao bộ đội nói giống nhau?”
Tôi nói: “Họ không rành danh từ Hán-Việt nên hiểu sai.”
Lê Quang Dung, dân Nam bộ, nóng tánh, “phang” ngay một câu: “Không biết mẹ gì mà cũng làm thầy. Thầy cái con cặ…”
Bài học đầu tiên nhan đề là: “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta.” Kế đó là những bài như “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân toàn thế giới”, “Đế quốc Mỹ là con đĩa hai vòi”, “Đế quốc Mỹ giàu mà không mạnh”, “Không nên sợ Mỹ và phục Mỹ”, “Ngụy quân ngụy quyền là tay sai của Mỹ, có tội với nhân dân”. Quan trọng nhất là ai ai cũng phải “tự mình xác nhận có tội với nhân dân…”
Cộng chung là học 10 bài. Đề tài, nghe nói, đã được phổ biến trước kia trong vùng Việt Cộng, v.v… Học xong để mà về nên chẳng ai quan tâm, miễn sao khi bộ đội, cán bộ hỏi tới thì “hỏi đâu thuộc đó” thì thôi.
Một tối, lợi dụng lúc Phan Hải lên chơi nhà bộ đội chưa về, chúng tôi nằm chờ giấc ngủ, Phạm Quang Chiểu, bỗng “nổi máu anh hùng”, nói:
_ “Bọn mình hèn quá! Họ nói gì mình cũng ngoan ngoản làm theo, không ai chống đối, lại còn “hoan hô cách mạng” nữa chứ.
Không ai nói gì. Có ai đó buông tiếng thở dài.
Một lúc sau, không biết đang suy nghĩ gì, Chung hỏi tôi:
_ “Anh Hải biết chuyện Hàn Tín không?”
_ “Dạy môn văn chương, lịch sử mà không biết chuyện Hàn Tín thì làm sao được. Học trò nhiều đứa thuộc “Hán Sở tranh hùng” hơn thầy đấy! Mấy đứa “học trò Huế” nhiều đứa giỏi lắm.” Tôi trả lời.
_ “Nhưng có thằng Huế nào “lòn trôn giữa chợ” như Hàn Tín không?” Có ai đó lên tiếng hỏi.
_ “Đời mà! Đời nhiều mặt. Các ông có nhớ chuyện Đặng Trần Thường, Ngô Thời Nhiệm không? Tự vì thằng Mẽo nó chạy làng nên mình có súng mà không có đạn. Giả tỉ như Tàu với Nga mà bỏ Việt Cộng thì đời cũng như Đặng Trần Thường nói vậy.” Tôi nói.
“Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dẽ biết ai!”
Chiểu đọc xong một lúc, tôi nói: “Mình bây giờ cũng giống như Ngô Thời Nhiệm vậy:
“Thế chiến quốc, thế xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”. “Khôn chết, dại chết, biết sống”. Ở với Cộng Sản, phải biết để sống.”
_ “Răng gọi là biết”. Chung hỏi.
_ “Như Khổng tử nói vậy. Đời đục cả, ta trong làm sao được?” Tôi nói.
Nằm sát góc trong, Trắc hỏi tôi:
_ “Anh Hải, tôi thích bài thơ hôm nghe anh đọc, bài thơ của Phạm Thái.”
Tôi liền đọc:
Năm bảy năm nay cứ loạn ly
Cảm thương thân thế lỡ qua thì
Ba mươi tuổi lẻ đà bao chốc
Năm sáu đời vua thật chóng ghê
Một tập thơ sầu ngâm cũng chán
Vài be rượu nhạt uống ra gì
Thôi về tiên phật cho xong quách
Đù ỏa trần gian sống mãi chi./
Nghe xong, Hiền nói: “Tuổi ông ta cũng bằng tuổi mình. “Ba mươi tuổi lẻ” cả.
Tôi nói:
_ “Trong văn học ta, tui khoái ông thầy chùa nầy nhất. Ông thầy chùa Phổ Chiêu Thiền Sư mê gái. Trong văn học Tàu, tôi cũng khoái ông Lỗ Trí Thâm, ông thầy chùa ăn thịt chó.”
_ “Khoái tầm bậy không! Bộ thèm thịt chó à?” Huỳnh Văn Khánh nói.
_ “Đi tu chỉ là tránh mặt nhà Tây Sơn, còn mê gái, khi Trương Quỳnh Như tự tử rồi, ông viết bài điếu hay lắm.” Nói xong, tôi đọc liền:
“Ta hăm hở chí trai hồ thỉ,
bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên
Mình long đong thân gái liễu bồ,
vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh.
Cho đến nổi hoa rơi lá rụng,
ngọc nát châu chìm,
chua xót cũng vì đâu,
não nuột cũng vì đâu.
Nay qua nắm cỏ xanh,
thương người phận bạc,
xụt xùi hai hàng tình lệ,
giải bày một bức khốc văn,
đốt xuống tuyền đài,
tỏ cùng nương tử.
Chung nói: “Tui khoái “Hồ Trường” hơn, anh Hải ơi!
_ “Người đời cũng lạ! Nguyễn Bá Trác từng theo “Phong trào Đông Du”, sau lại bỏ về theo Tây. Ông có thuộc không?” tôi hỏi:
Chung đọc:
“Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường.
Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha phương
Trời Nam nghìn dặm thẳm
Non nước một màu sương
Chí chưa thành,
Danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát,
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại dây cùng ta cạn một hồ trường.
. . . . .
Bỗng có bóng Phan Hải về, Chung không đọc tiếp nữa. Ai nấy nằm im, chờ giấc ngủ.
&
Không ngờ học xong 10 bài rồi mà vẫn chưa về. Vậy là bắt đầu có việc trốn trại. Một tuần vài lần, khoảng sau nửa đêm lại nghe súng nổ từng tràng ngoài hàng rào. Sáng hôm sau thì nghe tin có người trốn trại, bị bắn chết, bị thương, v.v…Cũng có khi trốn trại mà không nghe súng nổ. Ấy là trốn mà Việt Cộng không phát hiện được, thoát rồi. Trại L3-T3, suốt thời gian đó không ai trốn trại nhưng những T chung quanh thì nhiều. Khi thì nghe người trốn ở T1, T2 hay T4, T5 gì đó. Phan Hải thường lên nhà bộ đội ở, chơi với họ, chuyện trò hằng ngày. Vả họ cũng nể anh ta có cha chú làm lớn nên dễ dãi, vui vẻ với anh.
Có anh bộ đội hỏi Phan Hải: “Bố mẹ anh làm lớn như thế, anh đi cải tạo có buồn không?” Phan Hải vô ra nhà bộ đội hằng ngày nên biết nhiều chuyện, về kể lại cho chúng tôi nghe, còn như không thì cũng mù tịt, chẳng biết chuyện gì. Được mấy tháng, vì ăn uống thiếu thốn, rất nhiều người bị bệnh phù thủng, chân sưng phù lên, đi đứng khó khăn. Người ta bảo là thiếu Vitamin B-1. Lê Quang Dung cũng bị phù, cằn nhằn tối ngày. Chẳng cần thuốc men gì, bấy giờ, thay vì phát gạo trắng, bộ đội phát gạo đỏ, ăn vào thì bệnh bớt nhiều. Hồi nầy, “gạo Trường Sơn” là thứ gạo mốc ở các kho của Việt Cộng trên đường Trường Sơn đã hết, nên chúng tôi được phát loại gạo bình thường, thường thấy bán ở Chợ Lớn trước đây. Tuy nhiên, chỉ tiêu 15kg một tháng nên ai cũng đói. Đói thì tìm cách “cải thiện”. Trước là, như tục ngữ dạy: “Đói ăn rau, đau uống thuốc” nên tất cả đều “phát triển trồng rau”.
Khoảng trống giữa các dãy nhà trại gia binh và hàng rào phi trường, ngoại trừ một khu nhỏ là kho đạn cũ, kho đạn nầy được tù cải tạo sắp xếp lại, rào kỹ không cho ai ra vào, phần còn lại được dùng trồng rau. Mạnh ai cứ cuốc đào, lượm sỏi, bỏ phân, trồng rau muống và tưới. Hàng ngày, bộ đội phát rau muống cho chúng tôi. Phần non để ăn, phần già, ngắt một khoảng có hai hoặc ba mắt, đem ra trồng. Nước tưới là đường cống bên hông nhà trại gia binh. Các hố cầu tự tiêu phía sau nhà gia binh, khi đầy lên thì trào ra ở hố nầy. Múc nước đó tưới rau tốt lắm. Rau lên mau xanh, cở một tuần hoặc 10 ngày là có rau non ăn được rồi. Chưa thỏa mãn với thứ nước cống đó để tưới rau, Hoàng Hữu Chung, là người đầu tiên cạy nắp hầm cầu lên rồi múc phân từ trong hầm cầu đem ra tưới rau. Ban đầu thì ai cũng la oai oải ghê quá, gớm quá, hôi quá! Nhưng được ít bữa, thấy rau của Hoàng Hữu Chung lên tốt quá, người ta lại bắt chước, làm theo. Buổi trưa, chờ khi anh em ngủ, Hoàng Hữu Chung, hai tay xách hai thùng đạn lớn, loại đại liên 50, mở nắp hầm cầu, lấy một cái gáo dài, thọc xuống lỗ cầu, múc lên đổ vào thùng, xách ra ruộng rau. Trần Phú Trắc, vốn tính hay đùa, chỉ Hoàng Hữu Chung, nói với mấy anh em ngồi chơi quanh đó:
– “Đó, mấy ông thấy không? Thi sĩ Trần Dạ Từ đó. Thi sĩ đang mở nắp hầm cầu múc cứt đi tưới rau đó. Cách mạng là đổi đời, thấy chưa?”
Nhiều người tưởng thật, gọi Chung là thi sĩ Trần Dạ Từ. Biết chuyện, Chung cự nự Trắc: “Ông cứ hay xạo không? Tui là thi sĩ Trần Dạ Từ khi mô?” Trắc và chúng tôi cười ha hả. Từ đó, trong trại nhiều người xì xào về việc thi sĩ Trần Dạ Từ mở nắp hầm cầu, múc cứt bón rau. Chung người Huế nhưng gốc ở nhà quê, làng An Ninh thượng, phía sau chùa Linh mụ, tánh tình chất phát thiệt thà, nói giọng Huế rặc nên thường là đề tài để Trắc “chọc quê”.
Có lần, ăn cơm xong, Trắc kể chuyện:
– “Có con nhỏ bà con với Hoàng Hữu Chung, một hôm hẹn với thằng bồ “Túi tui chờ anh ngoài rào.”
Tối đó, y hẹn, thằng bồ ra hàng rào chờ mãi chờ hoài mà chẳng thấy. Sáng hôm sau, anh ta trách cô gái sao hẹn ra ngoài hàng rào mà không ra. Cô gái cũng trách anh ta, cô ra ngoài rào chờ hoài, nhưng không thấy.”
Hai người, một nam, một Huế, hiểu chữ “rào” khác nhau: Người Nam hiểu rào là hàng rào. Người Huế hiểu rào là con sông. Một bên, ra ngoài hàng rào mà tìm, một bên, ra sông mà chờ nhau thì gặp nhau sao được?”
Từ cách làm của Hoàng Hữu Chung, nhiều người làm theo nên có nhiều đám rau, nhiều dàn bầu, dàn bí tốt lắm, rất sây quả. Thỉnh thoảng trại có phát cà chua, anh em chúng tôi đem ăn sống. Do việc làm của Chung, bỗng nhiên giữa luống rau có nhiều cây cà chua mọc lên, anh em chúng tôi lại bứng cà chua ra trồng, lại tưới theo cách của Chung, cà chua trái nào trái đó thật bự. Một hôm, lại cắt cà chua ăn sống, vài anh em chê dơ, không chịu ăn. Trắc lại đùa: “Mình ăn của mình, có gì mà dơ!” Có người lại đùa: “Ối! Cà chua thơm như “câu thơ thi xã.” (2)
Một hôm nào đó, tổ của tôi được lệnh đi khiêng củi. Xe tải chở củi vào, chúng tôi đem củi xuống sân và chia lại cho 6 khối. Khi ấy trời còn sáng, anh em chúng tôi thấy chỗ kẹt nối mấy tấm ván làm sàn xe có những hột đậu xanh nguyên. Phan Hải nói: “Lượm hột đậu xanh, đem về làm giống.” Vậy là hè nhau lượm cho hết, được khoảng một muỗng canh. Hơn một tháng sau là chúng tôi có vườn đậu xanh, trái to. Đậu xanh đem về, nấu chè, sau khi chừa một ít làm giống trồng đợt sau và đem cho vài tổ khác, họ xin. Thông thường thì xe dân sự chở củi vào cho trại. Thời gian sau thì không còn xe dân sự nữa mà xe Molotova của bộ đội.
Một hôm, anh bộ đội tài xế lùi xe vào đầu nhà để cho củi xuống. Một anh tù cải tạo đứng xem, thấy xe sắp đụng vách nhà, bèn hô to: “Tốp”. Dân Saigon đi xe Lam hay xe bus, khi muốn bảo tài xế dừng xe lại để xuống thì gọi “Tốp” có nghĩa là “stop”, theo tiếng Mỹ. Anh chàng bộ đội, nghe “tốp” bèn nhấn ga chút nữa, xe đụng vào vách một cái rầm, nứt tường. Anh ta xuống xe, cằn nhằn anh tù cải tạo: “Xe sắp đụng vách, anh còn bảo “tốt”. Anh tù cải tạo thanh minh: “Tui nói “tốp” chớ có nói “tốt” đâu!”
Xem ra, cũng còn lâu mới có thể “Bắc nam sum họp một nhà.”
Bấy giờ ai nấy thèm thịt. Hôm “ba ngày nễ nớn” (lễ lớn là 18 tháng 9, ngày 2 tháng 9 và gì nữa, quên mất rồi…) trại có làm thịt heo chia cho chúng tôi. Tuy chúng tôi ăn chung nguyên tổ, không chia phần từng người nhưng thịt heo thì khác. Kho nấu xong rồi, chia cho anh em mỗi người được một miếng bằng ngón tay út. Miếng nào có xương thì to hơn tí chút.
Đang ăn, Phạm Quang Chiểu la lớn, đùa: “Báo cáo đồng chí! Con ruồi tha mất miếng thịt của tôi rồi.” Ai cũng cười. Phan Hải cũng cằn nhằn: “Tui kiểm soát đồ ăn cho tù Chí Hòa. Hồi đó, đâu có cho ăn khổ như vầy!”
– “Họ được cung cấp gì?” Tôi hỏi.
– “Hằng ngày là cá tươi. Một tuần ba lần thịt heo, hai lần thịt bò.” Phan Hải trả lời. “Gặp khi cá ươn, đại diện tù nhân không nhận, nhà thầu phải cung cấp cá hộp.”
Dung nói: “Đ. mẹ, sướng còn hơn lính.”
– “Cán bộ “cách mạng” trong tù đôi khi còn chơi độc. Họ bỏ giẻ rách vào thùng canh rồi hô hoán nhà thầu làm ăn dơ, không ăn, để có cớ đấu tranh.” Phan Hải nói thêm.
– “Vậy là giỏi” Lý nói. “Mình thì cho gì ăn nấy. Ai nấy ngậm câm. Đấu tranh, “đánh trâu” gì đâu! Buồn thiệt.”
Nhà bộ đội ở bên kia hàng rào, ai bên đó có nuôi một con chó. Con chó thường qua bên chúng tôi kiếm ăn. Thấy vậy, Trắc nói: “Không biết bộ đội có no không, xem ra chó bộ đội cũng đói.”
Tôi cười, nói:
_ “Chó bộ đội cũng đói, mình cũng đói.”
_ “Anh Hải so sánh dzậy không có được. Mình là người mà!” Dung cự nự.
_ “Ông học trò trường Tây, đâu có biết câu “Bỉ thử giai cẩu” là cái gì!”
Bất đồ, Chung lấy chiếc guốc gỗ của anh, ném con chó, đuổi đi. Chiếc guốc đụng mạnh vào con chó. Con chó kêu căng căng mấy tiếng, bỏ chạy mất.
_ “Con chó mà biết nói, về nó mét bộ đội ông Chung đánh nó là mệt lắm nghe!”
_ “Ghét bộ đội rồi “chưởi chó mắng mèo chớ” gì!” Trần Hữu Bảo nói đùa.
_ “Chưởi chó” còn nhẹ tội, đây là tội đánh chó bộ đội, tội nặng hơn!” Lý vừa cười vừa nói.
Chung vẫn thiệt thà:
_ “Tui có chủ ý mô! Tui lỡ tay mà.”
Thấy thái độ của Chung, Phan Hải thương hại, nói:
_ “Không can gì đâu! Chó của anh Ái đó, có gì tôi nói giùm cho.”
Hiền còn nói rán một câu:
_ “Con chó nhỏ chút tẻo mà ông Chung đã giành ăn với bộ đội. Tội “phá hoại tài sản chủ nghĩa xã hội” là không nhỏ.”
Lại một hôm, Phạm Ngọc Hiền lui cui lấy các giải băng đạn, ngồi rút sợi. Hỏi, anh ta nói: “Làm lưới bắt chim ăn chơi.” Các sợi chỉ rút ra, dài chưa tới một sãi tay. Hiền nối lại, đan thành một tấm lưới lớn khoảng bằng một cái mền. Bên hông dãy nhà T-3, bên kia là T-2, cách nhau bằng một hàng rào kẽm gai mới dựng, là một con đường xe hơi chạy được. Ngày ngày, dọc theo con đường nầy, chim én bay từng đám năm bảy con. Hiền bèn đóng cọc, cột lưới, có sợi giây kéo. Anh núp sau góc nhà, chờ chim én bay tới thì anh ta bất thình lình kéo lưới lên, cho chim én vướng vào lưới. Hiền ngồi từ sáng đến trưa; vào ăn cơm trưa xong, lại tiếp tục ngồi canh nữa, giữa trời, khi im khi nắng, mặt mày đỏ lơ đỏ láo, suốt một ngày mà chẳng được con nào cả.
Chim én khôn lắm. Thấy anh ta kéo lưới lên, chim vụt lên cao bay mất. Sau vài lần, rút kinh nghiệm, chim én không bay dọc theo con đường đó nữa, trong khi Hiền vẫn kiên nhẫn ngồi chờ. Tới giờ cơm chiều, anh em trong tổ đùa:
– “Bữa nay ngày rằm, ông bắt chim không được là phải rồi. Ai cho ông sát sinh?”
Có người lại nói:
– “Mai mười sáu, ông rán ngồi một ngày nữa đi, thế nào cũng có con chim nhào vô cho ông!”
Trắc lại đùa:
– “Đừng lo! Thế nào ngày mai cũng có con bay qua, gởi lại cho ông cái lông!”
– “Để đốt lò phải không?”
Người nói câu đó là vì nhớ câu chuyện đùa tôi mới kể cho anh em nghe, trước khi đi ngủ. (3)
Trước khi đi ngủ, trong bóng tối, vì lúc nầy máy đèn đã ngưng chạy, anh em nằm một dãy dài trên sập, thường yêu cầu tôi hát cho anh em nghe chơi. Từ khi bị cấm hát nhạc vàng thì kể chuyện, chuyện tiếu lâm, chuyện “xứ Huế của tui”, chuyện “cụ Ngô không cu” hay “Chuyện thủ hiến Phan Văn Giáo bắt con gái Đồng Khánh đem về chơi bời”, mà nhiều người biết; chuyện “Cậu Cẩn câu cá, cá cắn cậu, cậu cười …”, (4) chuyện “ngủ đò sông Hương” là chuyện ngủ với gái làng chơi.
Người Huế đa tình, gái Huế cũng lại rất đa tình, ai vướng vô gái cũng thì coi chừng, sẽ như Trần Hậu Chủ vậy, ưa nghe “Khúc hát Hậu đình (5). “Thương nữ bất tri vong quốc hận”, v.v… Huế là xứ vua quan, có biết bao nhiêu chuyện để kể nghe hằng đêm, hết chuyện nầy tới chuyện khác, chuyện nọ xọ chuyện kia, giống như chuyện “Một ngàn lẻ một đêm” bên xứ Ba-Tư vậy. Trại tôi phần đông là quân nhân biệt phái nên có rất nhiều bác sĩ. Theo họ thì việc ăn uống thiếu thốn làm cho chất kháng sinh trong cơ thể yếu đi, vì vậy, sau đợt bị phù thủng, anh em chúng tôi gặp nhiều thứ bệnh khác, rất buồn cười.
Bỗng có anh đau bệnh… lậu.
Ai cũng cười.
Trời ơi! Ở tù hơn nửa năm nay, có đi chơi bời hồi nào đâu mà mắc bệnh phong tình. Thì ra, anh ta hồi trước, khi chưa đi tù, có chơì bời đấy và mắc bệnh. Việc chữa trị hồi đó không tới nơi tới chốn, vi trùng tiềm ẩn, “Việt Cộng nằm vùng”, bây giờ sức đề kháng yếu đi thì vi trùng Gono nổi lên “Đồng khởi”. Tôi kể lại lời một bác sĩ như vậy, anh em ai cũng cười, nhưng Phan Hải cảnh cáo tôi: “Anh làm như cán bộ cách mạng là vi trùng lậu.” Ai nấy lại cười thêm. Tôi bị lưỡi cưa cứa vào mắt cá, chảy máu. Vậy mà bị sưng mũ, đi lại khó khăn, phải lấy bột peniciline trong viên thuốc con nhộng, xức vào. Cả tháng sau mới lành. Hôm Trần Phú Trắc bị bệnh, cả chục bác sĩ tới thăm, và cho lời khuyên, không cho thuốc. Ai có thuốc mà cho. Bác sĩ thì đông, thuốc không có thì bác sĩ cũng bó tay mà thôi.
Bệnh thông thường nhứt là bệnh ghẻ lở. Có người ghẻ đầy mình, có người bị ghẻ ăn sâu vào da, gần tới xương. Bỗng một hôm nửa đêm, nghe tiếng nổ lớn lắm. Bộ đội báo động, cầm súng đi rảo ngoài sân, ra lệnh chúng tôi ai nấy ở trong nhà, không được ra cửa. Sáng thì biết có một trung úy dược sĩ, tù cải tạo, bị ghẻ lở ăn gần đứt “của quí”, mà trước khi đi, anh có hẹn với người yêu “học tập” xong, sẽ về làm lễ cưới.
Bệnh hoạn như thế, anh buồn tình lén ra kho đạn cũ, lấy một trái lựu đạn, đem ra đầu hè nhà, mở chốt, tự tử. Nghe nói ruột gan banh hết. Bộ đội sai lấy thùng đạn pháo binh, ghép thành ván, đóng cái hòm, gánh ra chôn ở bên cạnh phi đạo phi trường Trảng Lớn. Tôi vốn sợ ma, nhưng hình như ma lại sợ tôi. Ma không dám hiện lên cho tôi thấy bao giờ. Vậy rồi anh Phạm Ngọc Hiền nói rằng bên phía T-2, cách chúng tôi con đường nhỏ và một hàng rào kẽm gai, có con ma mặc áo trắng, đêm nào cũng hiện ra đứng dựa cột ở đầu hiên nhà. Khuya, Hiền thức dậy đi tiểu – Hiền gốc “nhà quê”, mắc bệnh “đái đường” nên anh ta không tiểu trong nhà cầu mà ra đứng tiểu ở góc nhà -, thấy ma hiện lên bên ấy.
Anh em chúng tôi tò mò để ý, cũng có người thấy có con ma mặc toàn áo trắng, đêm nào cũng hiện ra một chỗ ấy. Sau đó, Phan Hải hỏi thăm anh em cải tạo ở ngay gian nhà chỗ con ma hiện ra có thấy ma không?
Ma quỉ gì đâu!
Bên ấy có anh chàng mắc bệnh lao, đêm đêm ngủ không được, nằm trong phòng sợ phiền anh em nên ra đứng dựa cột hiên nhà. Trời lạnh, anh ta không có mền, chỉ mang theo có cái “ra” màu trắng. Anh ta quấn ra vào mình cho bớt lạnh, làm cho nhiều người, trong đêm tối mờ mờ, lại có sương khuya, tưởng là có con ma mặc toàn đồ trắng hiện hình. Vài tuần sau, ma không hiện hình nữa. “Con ma” ấy không chịu nỗi vi trùng Kock, ra nằm ở nghĩa trang tù cải tạo bên cạnh phi đạo rồi. Cũng bên T-2, có ông giáo sư Đinh Tiến Lãng (?), giáo sư toán nổi tiếng ở Saigon hồi trước 1975. Ông ta là trung úy biệt phái, nay đi cải tạo. Một hôm ông ta bỗng nổi cơn điên, la toáng lên rằng “Tao là bạn của Văn Tiến Dũng.” Thế là bộ đội xuống, bắt trói đem đi.
Tưởng vậy là ông ta xong đời. Ai ngờ mấy hôm sau, hết bệnh lại được tha về trại, tiếp tục “học tập”. Hình như ông ta mới qua đời năm ngoái hay năm kia gì đây, ở Nam Cali. Tội nghiệp nhất là trường hợp của Hoan, dược sĩ, cũng lên cơn điên. Hiền nói với tôi: “Điên mà khôn thấy mẹ!” Hỏi ra mới biết, hễ lên cơn điên thì Hoan lôi Hồ Chí Minh ra mà chưởi, nào là “thằng tay sai cho Nga Tàu”, “nào là tên Cộng Sản Quốc Tế.” Hồi ấy, Hồ Chí Minh chưa bị lật tẩy như bây giờ nên Hoan cũng như mọi người, không biết gì nhiều về tội lỗi của Hồ Chí Minh mà chưởi cho đã.
Chưởi lãnh tụ, đối với Việt Cộng là tội to lắm. Tôi kể cho anh em nghe chuyện về một chữ Người viết hoa mà Trần Dần đi tù (6).
Hoan đi cải tạo, đã là tù, nay bị đưa vào conex. Conex để giữa trời, nắng và nóng ghê gớm. Chiều lại, bộ đội đến mở cửa conex, cho anh ta chén cơm muối và một chai nước lạnh, ngày một lần. Một hôm, chờ giờ bộ đội mở cửa, Phạm Ngọc Hiền dẫn tôi giả bộ đi dạo gần conex, coi Hoan ra làm sao! Hiền nói: “Tội ghê anh ơi! Cả xương là xương.” Vậy mà Hoan vẫn không ngớt chưởi Hồ Chí Minh. Một hôm, tên bộ đội đem cơm cho Hoan, thấy anh ta chưởi “bác” Hồ của nó, nó bèn nổ một phát AK. Hoan chết ngay tại chỗ.
Chiều hôm đó, đang ăn cơm, Phan Hải nói tới chuyện Hoan bị bắn chết, cho biết rằng bộ đội đã bắt tên vệ binh bắn chết Hoan bỏ lên xe và đưa đi rồi, có lẽ y sẽ bị đưa ra tòa. Cách nói của Phan Hải, có lẽ chỉ là cách bào chữa cho bộ đội, do họ mớm cho. Chúng tôi không tin.
Chờ khi Phan Hải ăn xong và mặc áo lên khu bộ đội ở, chúng tôi lại bàn về việc ấy. Ý kiến của Trắc có lẽ sâu sắc nhứt. Anh ấy cho rằng bộ đội phải đưa tên vệ binh đi sớm để có thể triệt tiêu một cái cớ mà anh em tù chúng tôi có thể vin vào đó để nổi loạn. Họ sợ và ngăn ngừa như thế, còn như việc chúng tôi có nổi loạn hay không, thì xem ra cũng khó. Thời gian đầu, sức phản kháng của những người bại trận chưa cao. Cũng một hôm, Hiền dẫn tôi ra bếp nấu T-2, sát hàng rào, phía tôi nhìn sang khá rõ. Bây giờ cơm chia xong rồi, bếp đã vắng, chỉ còn lại một người, hơi lớn tuổi. Ông ta lấy cái muỗng sắt, cạo từng hột cơm dính trong thành chảo, bỏ vào cái chén cầm ở tay kia. Ông ta cạo một buổi như vậy, cọng lại, giỏi lắm cũng hơn muỗng canh. Vậy mà ngày nào ông ta cũng xin được cạo, rửa chảo, để kiếm thêm chút cơm.
Hiền nói với tôi: “Anh biết ai không? Biết ai không?”
Tôi lắc đầu.
Hiền tỏ vẻ chán nản: “Cũng không biết nữa? Giáo sư Lâm Thanh Liêm đó, ông nầy dạy đại học. Vậy mà anh cũng không biết.”
Thật ra, tên ông thì tôi biết. Tôi biết luôn cả hai vợ chồng ông ta nữa. Sách vạn vật của hai ông bà in ra, đề tên tác giả là “Ông bà giáo sư LâmThanh Liêm”. Ở bên Tây về, ông ta bị động viên, mang loon trung úy thì biệt phái về dạy đại học trở lại, nay đi ở tù. Việt Cộng phí phạm nhiều cái. Trại Trảng Lớn nầy trước kia là căn cứ Mỹ, sau giao lại cho Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Vì là căn cứ cũ của Mỹ nên có nhiều cột đèn bằng loại thông ngâm dầu. Mỗi cây dài hơn chục thước. Bộ đội biểu cắt ra, chẻ làm củi nấu cơm.
Thứ cột đèn nầy là “tiền không”. Vậy mà đem làm củi. Uổng thật! Thỉnh thoảng, ông trung úy Cộng sản Trần Đức Ước, phụ trách khối 1, khối của tôi, xuống kiểm tra tư trang cá nhân. Huỳnh Văn Khánh, khi đi tù cải tạo, đem theo cuốn “L’art de conjuguer”. Thấy cuốn sách, anh trung úy Dziệt Cộng nói lớn: “Gì mà sách tiếng Anh không vậy nhỉ?” Biết ông ta nói lộn, chúng tôi làm thinh, cười ông ta dốt thì cũng tội. Cái chế độ đó đào tạo ra những con người dốt như thế, có phải lỗi ở anh ta đâu!
Có lần anh ta lại nói: “Các anh chỉ được học tiếng Anh, không được học tiếng Mỹ. Nhớ không!” Vài anh em chúng tôi cũng trả lời “nhớ” cho xong chuyện. Hơi đâu mà giải thích. Lỡ mấy chả quê thì mình cũng phiền. Trần Đức Ước lại hay ưa kể chuyện cho chúng tôi nghe. Có lần đi Saigon về, Ước nói: “Ối giời! Thành phố “bác” xao mà “ló” nhớn thế. Nhà “nầu” cao “nắm”, nhìn mỏi cả cổ.”
Tôi hỏi: “Tối lại anh ngủ ở đâu?” Ước trả lời: “Tôi có ngủ đâu. Tối tôi ghé “nại” trạm dân phòng, ngủ chung với mấy anh ở đó. Họ tốt “nắm.” Tôi cười, nghĩ thầm, dân Nam Bộ tốt là bởi thấy anh không có chỗ ngủ; còn như anh hách mặt lên, cà chớn với họ, chưa hẳn họ tốt với anh. Dân miền Nam, thường phù suy không phù thịnh. Đi Saigon về, Ước kể chuyện đi qua sân Cộng Hòa, muốn vào xem mà không vào được, cửa khóa.
Rồi Ước kể: “Một “nần” ta đấu hữu nghị với ông “Niên” Xô. Ta được quả phạt đền. Đội bóng ta “niền” gọi điện hỏi “bác”, “lên” đá như thế “lào”. Bác bảo: “Đá thế “lào” ta vẫn thắng mà không “nàm” mất “nòng” ông “Niên” Xô.” Thế “nà” ta đá một phát, quả bóng “lứt” “nàm” đôi, một “lửa” vào khung thành, một “lửa” ra ngoài.”
Nghe chuyện, tối lại, nằm chờ giấc ngủ, anh em hỏi nhau đá trái bóng nứt làm hai là đá làm sao? Tôi cười: “Đá như thơ Hồ Xuân Hương: “Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.”
Có anh cười, trách tôi: “Đang nằm nhớ vợ mà nghe cha Hải nói gì không?” Tôi cười, giải thích, nghiêm trang hơn: “Anh chàng nầy từ một miền đồng chua nước mặn nào đó, đi bộ đội, vào quân trường rồi thoát được cảnh “Xương Trắng Trường Sơn” (tên một tác phẩm của Xuân Vũ) mà về đây. Có bao giờ được xem đá bóng đâu mà biết nó ra như thế nào! Chẳng qua, nghe người nầy kể qua, người kia kể lại, tam sao thất bổn, mới có chuyện đá một phát trái banh nứt làm hai.”
Quả thật, Uớc ưa kể chuyện mà anh ta không biết gì thật. Lại một hôm, xuống nói chuyện với chúng tôi, anh ta lại kể chuyện “Đồng chí Phạm Tuân cho máy bay đậu trên mây, chờ B-52 tới thì nhào xuống đánh, Mỹ bị đánh bất ngờ, B-52 “rụng như sung.”
Cũng chưa hết đâu, lại một hôm, xuống chơi, Ước kể: “Đồng chí trung tướng Đồng Văn Cống “nái” máy bay về thăm quê ở Bến Tre. Địch biết được, bèn đem một tiểu đoàn vây bắt. Đồng chí Đồng Văn Cống “niền” chạy ra ruộng, máy bay đang đổ ngoài ấy, “nái” máy bay đi mất. Mỹ cho hai chiếc “con ma” đuổi theo. Bị đuổi riết quá, đồng chí Đồng Văn Cống “nặn” xuống biển, ra tới Hải Phòng, đồng chí Đồng Văn Cống “nại” cho máy bay “lổi” “nên”. Mỹ không “nàm” gì được. Các anh biết không? Vậy mà “bác” biết đấy. “Bác” gọi đồng chí Đồng Văn Cống vào, bảo rằng đi chơi thì được, nhưng đừng khinh địch quá!”
Trên là những chuyện điển hình của Ước kể, không nhớ cũng phải nhớ. Nghe “chuyện Phong thần thời Dziệt Cộng” cũng khó quên!
Nghe chuyện Đồng Văn Cống, có lần tôi đùa: “Đã đồng lại còn cống. Hai thứ nầy đâu có ở chung với nhau được. Có lẽ bố mẹ ông nầy vừa muốn ở tỉnh, vừa muốn ở quê. Nhà quê thì có chuột đồng, lên thành phố thì có chuột cống.” Lại nói chuyện hát hò. Hồi mới tới trại nầy, thuộc vài bài bên trại cũ, tối tối trước khi “sinh hoạt”, chúng tôi hát cho lên “khí thế”, hết “Bão nổi lên rồi”, “Tiến về Saigon” thì tới “Bác cùng chúng cháu hành quân.” Mấy đội ở trại T-2, bên kia hàng rào, nghe hát, bực mình, nói với chúng tôi: “Mấy ông hát nâng bi!” Thế là chúng tôi ngậm họng. Tuy nhiên, được ít lâu, sau khi bắt đầu học tập chính trị, cả trại phải hát ở hội trường, trước khi buổi sinh hoạt bắt đầu.
Mỗi khối, một vài anh em được cử đi tập hát, về tập lại cho anh em. Mỗi người phải chép tay lời bài hát.
Tôi lại thấy vài bài hát cũ được đem ra hát lại như bài “Diệt Phát Xít” của Văn Cao. Bài nầy tôi biết hát hồi mới “Cách mạng tháng Tám”, cách đã 30 năm. Tôi quên lời đã nhiều.
Vậy mà rồi tôi được chép lại bài hát nầy đầy đủ. Không biết “ai” mà nhớ hay vậy! Trắc cười nói với tôi: “Trong bài hát có chó có mèo mà hát vẫn hay!” Suy nghĩ một lát, tôi mới nhớ trong bài “Diệt Phát Xít” có câu “Diệt bầy chó đê hèn của chúng.”
Có hôm toàn thể khối tôi tập một bài hát mới. Nhan đề bài hát là “Nguồn Tin Vui”. Người tập hát cho chúng tôi là Ân, cựu trung úy Cảnh sát, không nhớ họ. Ân thuộc tổ 4, đội 2. Bài nầy chúng tôi đã chép lời trước, có nghe hát qua. Vốn hay đùa nên trong bài hát có câu: “Cuộc đời sang xuân từ đây” thì chúng tôi hát là “Cuộc đời gian lao từ đây.” Hát riết rồi quen miệng nên khi đứng trước khối, tập cho toàn thể anh em, Ân cứ câu “Cuộc đời gian lao từ đây” mà hát ông ổng, khiến ai nghe cũng cười.
Phan Hải thấy thế bèn tới cạnh Ân nói: “Anh tập cho anh em hát đàng hoàng. Hát vậy không được”. Khi đó Ân mới giật mình, lại còn sợ Phan Hải đi báo cáo với bộ đội thì nguy. May mắn! Phan Hải nhắc chừng vậy thôi. Ông “Hoảng Nôm hay cãi” nầy vốn không có tính xấu đi báo cáo hay làm ăngten. Tập xong, chúng tôi mới biết bài hát ấy do ông Khuất Duy Trác mới sáng tác ra, tập cho anh em chúng tôi.
Trước 1975, mỗi tối thứ hai, vào lúc nửa đêm, tôi thường nghe Duy Trác hát trong chương trình Phạm Duy. Nay mới biết thêm ông họ Khuất, không biết có bà con chi với ông Khuất Nguyên bên Tàu không! Một năm sau, tôi có nghe bài “Nguồn Tin Vui” được hòa tấu trên đài TV Saigon. Nguyên lời ca bài hát như sau:
Nguồn tin vui lan tràn đó đây,
Cùng bao chiến công bay về rộn ràng
Từ nông thôn vượt lên núi cao,
Cùng chung tiếng ca nhịp nhàng.
Lửa đốt cháy giữa lòng thành phố
Diệt quân Mỹ cùng quân Thiệu Kỳ
Đồng lúa mới hát mừng giải phóng
Chào đoàn quân bước đi!
Tay súng tay gươm diệt quân thù,
Lòng ta, chung một lời nguyền.
Cuộc đời sang xuân từ đây
Tiếng ca vui ngày ngày./
hoànglonghải
(1)-Cuộc đời Lê Quang Dung cũng ba chìm bảy nổi. Anh mồ côi cha từ nhỏ, mẹ nuôi cho ăn học. Sau khi đậu tú tài kỹ thuật ở Saigon, anh xin làm việc ở nhà máy Xi măng Kiên Lương, Hà Tiên. Tới tuổi bị động viên, anh xin làm tài xế lái xáng vét kinh (to như chiếc xà lan, có máy xúc bùn dưới lòng kinh, thổi bùn lên bờ). Vì chủ xáng là tư nhân, bà con nên nhận anh làm công một thời gian. Công việc thì cực nhọc nhưng vì “bất hợp lệ tình trạng quân dịch” nên thường bị chủ chèn ép, bớt lương. Buồn tình, anh xin gia nhập Cảnh sát ở Pleiku, làm cảnh sát viên, đứng gác cổng, trong khi những người có bằng tú tài như anh thì được ngạch biên tập viên. Sau mấy năm, anh nhờ người quen chạy chọt, được chuyển từ ngạch phó thẩm sát viên lên biên tập viên, sau đó được mang lon đại úy Cảnh sát. Gần tới 30 tháng Tư 1975, anh được lập hồ sơ thăng thiếu tá. Về phép, anh nói với hàng xóm anh đã lên thiếu tá. Sau khi Việt Cộng chiếm Saigon, gọi sĩ quan cấp tá đi học tập trước, anh vẫn ở nhà vì ngày lên loon của anh là 1 tháng 6 năm 1975, nhưng tới tháng Tư thì đã “đứt phim” (Tiếng chúng tôi thường gọi đùa, coi đời như một cuốn phim ciné). Đám “cách mạng 30” tố cáo anh “trốn học tập” nên anh bị bắt đưa ra phường. Ở đó, anh đưa giấy tờ chứng minh anh là đại úy, nhưng cũng không được “cách mạng” tha cho về, bị đưa vào trường Taberd, giam ở đó. Tại Taberd, anh gặp bác sĩ Cảnh cùng vài người khác. Bác sĩ Cảnh, quân đội biệt phái. Bên phía quân đội, ông chỉ tới “loon” đại úy, phía dân sự, ông chỉ là “bác sĩ giải phẩu” bệnh viện Bình Dân chứ có chức chưởng gì cao để đi “học tập” theo các ông quan to súng dài, nên Việt Cộng cho ở lại, chờ đi “học tập” khóa sau với sĩ quan cấp úy.
Dung kể: “Ông nầy vui tính lắm. Một hôm, ngồi chơi, ông hỏi đố:
– “Khi mình đang ngồi với hai cô bồ, cô nào cũng đòi mình phải trả lời dứt khoát phải cưới thì mình nói làm sao cho cả hai cô yên lòng mà về?”
Không ai trả lời được. Ông ta bày mưu:
– “Mình phải trả lời với một cô rằng “Em yên tâm, em về đi. Thế nào anh cũng cưới em.” Tuy nhiên, khi nói câu đó, dưới gầm bàn, mình phải đạp nhẹ vào chân cô kia, để cho cô kia cũng yên lòng rằng mình chỉ “xạo” cho xong chyện mà thôi.
Ai có mẹo nào hay hơn, xin chỉ đường cho đám hậu sinh.
(2) _ “Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An” là câu thơ của Cao Bá Quát. Con thuyền Nghệ An là thuyền chở phân người bón cây, bón ruộng.
(3) _ Xưa, có ông già sính thơ. Ông có ba cô gái, gả cho ba chàng rể. Chàng thứ nhứt, chàng thứ hai đều hay chữ. Riêng có chàng thứ ba chỉ được cái mả đẹp trai mà thôi, chữ nghĩa không ra gì. Một hôm, ông ra đề cho ba chàng rể thử tài làm thơ.
Đề bài là ông già cởi ngựa chạy nhanh.
Đề ra xong, chàng thứ nhứt đọc:
Mặt nước thả cây kim
Cha tôi cởi ngựa chạy như chim
Chạy đi chạy lại,
Cái kim chưa chìm.
Chàng rể thứ hai không chịu thua, bèn đọc ngay:
Ngọn lửa thả cái lông
Cha tôi cởi ngựa chạy như dông
Chạy đi chạy lại,
Cái lông chưa hồng.
Chàng thứ ba vì dốt thơ, nghĩ mãi không ra câu nào. Mẹ vợ thương tình, vả bà cũng khoái chàng rể đẹp trai, bèn vội vàng xuống khỏi sập, bước tới, hỏi con: “Được chưa con! Được chưa con?” Trong khi vội vã, bà vô tình để xì ra tiếng bụp. Nghe cái “âm thanh” đó, chàng rể thứ ba nói: “Xong rồi mẹ!” Nói rồi, anh ta đọc thơ:
Mẹ tôi xán cái địt,
Cha tôi cởi ngựa chạy như hít!
Chạy đi chạy lại,
Đít mẹ chưa khít!
(4)-Xem bài “Nói chuyện Ngàn Năm”, cùng tác giả, trong “Viết Về Huế”, tập 1, Văn Mới xuất bản.
(5) _ “Hậu Đình Hoa” (Hoa ở sân sau) là một tập thơ được phổ thành nhạc cho cung nữ, phi tần của Trần Hậu Chủ ca.
Trần Hậu Chủ tên Trần Thúc Bảo, là một ông vua tài tử phong lưu, lúc nào cũng có hàng ngàn mỹ nhân, trong đó có hai tuyệt sắc giai nhân là Trương Lệ Hoa và Khổng Quý Tần được vua sủng ái nhất.
Trần Hậu Chủ cho dựng trước điện Quang Chiếu ba tòa lầu lớn, dùng toàn bằng gỗ trầm hương. Cửa lớn, nhỏ đều dát toàn ngọc ngà, rèm châu, trướng gấm lộng lẫy. Ba lầu ấy đặt tên là Lâm Xuân, Kết Ỷ và Vọng Xuân. Đêm đêm, Trần Hậu chủ bày yến tiệc, họp các mỹ nhân uống rượu tại lầu Lâm Xuân cùng với các học sĩ ngâm thơ xướng họa. Một khi có những bài thơ hay, nhà vua cho phổ vào đàn để cung nữ hát xướng suốt đêm, nên gọi là Trường Dạ Ẩm. Những bài thơ, những khúc nhạc ấy được chép thành 3 tập là: Nghinh Xuân, Ngọc Thu và Hậu Đình Hoa. Riêng tập Hậu Đình Hoa, sưu tập những bài bay bướm, bóng bẩy, dâm đãng. Chính Trần Hậu Chủ cũng làm một khúc hát Hậu Đình Hoa:
Nguyên tác là:
Lệ vũ phương lâm đối cao các
Trân trang điểm chất bản khuynh thành,
Ánh hộ ngưng kiều sa bất tiến,
Xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh.
Yêu cơ kiểm tự hoa hàm lệ,
Ngọc thu lưu quang chiếu Hậu Đình.
dịch nghĩa:
Bóng rợp hương thơm chốn lâu các,
Nghiêng thành vẻ đẹp với mầu tươi.
Ngoài cửa dịu dàng khoan dạo bước
Trước màn chào đón mỉm môi cười,
Má hồng tựa đóa hoa đầy móc
Cây ngọc sân sau chiến sáng ngời
(Bản dịch của Phan Thế Roanh)
Trần Hậu Chủ bỏ cả việc triều chính, say sưa bên cạnh Trương Lệ Hoa, Khổng Quý Tần và các mỹ nữ.
Vua Tùy Văn Đế (589-617) nhân dịp nhà Hậu Trần suy vi, sai Lý Uyên và Dương Tố đem quân sang đánh. Giữa lúc ấy, Trần Hậu Chủ còn đương say rượu trên lầu Kết Ỷ. Quân Tùy đánh đột nhập thành. Quân Trần chạy tán loạn. Có người phải lấy nước đổ vào mặt Trần Hậu Chủ cho vua tỉnh dậy và xin vua ra hàng để cứu quân lính khỏi chết.
Hậu Chủ nói:
– “Sau lầu, trẫm có đào sẵn giếng sâu.”
Nói rồi, Trần Hậu Chủ dắt Trương Lệ Hoa, Khổng Quý Tần và độ mươi mỹ nhân khác đến giếng, ôm nhau nhảy xuống.
Nhà Hậu Trần bị diệt vong, người ta cho rằng sở dĩ nước mất cũng bởi khúc hát “Hậu Đình Hoa” ấy.
Đỗ Mục, một thi hào nổi tiếng đời nhà Đường (618-907), nhân một đêm ghé thuyền trên bến Tần Hoài, gần một quán rượu. Đêm đã khuya, hơi sương mù như khói tỏa trên sông. Bấy giờ trong quán, khách còn đang say sưa ăn uống, bên cạnh những ả buôn son bán phấn hát xướng để mua vui cho khách. Lắng nghe giọng hát réo rắt bên kia sông đưa sang, Đỗ Mục làm bài thơ:
Khói bay, nước lạnh, khói trăng pha,
Thuyền đậu sông Tần cạnh Tửu gia.
Hận nước gái buôn không biết rõ,
Cách sông còn hát “Hậu Đình Hoa”.
(Bản dịch của Quốc Ấn)
Nguyên văn:
Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa, Dạ bạc Tần hoài cận tửu gia. Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng “Hậu Đình Hoa”.
Trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều cũng có câu:
Vườn Tây Uyển khúc trùng thanh dạ,
Gác Lâm Xuân điệu ngã Đình Hoa.
Thừa ân một giấc canh tà,
Tờ mờ nét ngọc, lặp lòe vẻ son.
(6) _ “Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.”
(Nhất Định Thắng – Trần Dần)
Theo Hoàng Văn Chì, trong “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc”, Việt Cộng kết tội Trần Dần vì chữ Người (Viết hoa) là muốn ám chỉ Hồ Chí Minh.
Dẫu sao bình đã vỡ rồi, Lấy thân mà trả nợ đời cho xong!
(Kiều)
Bài 1
24 tháng 6 năm 1975, tôi “đóng tiền đi ở tù” tại trường Taberd, Saigon. Đây là vụ lường gạt vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam.
Mới vào thì cán bộ Việt Cộng chia thành từng đội. Đội của tôi là đội 36 (Tôi không nhớ chắc!), được cho ở trong một căn phòng nguyên là lớp học, tầng hai. Mới có hai ngày thì nhà cầu dơ không thể tưởng tượng, mới nhìn qua đã không dám vào, đành phải “nín” vậy.
Bây giờ thì cơm nhà hàng Continental, một nhà hàng mà trước 1975, lương sĩ quan cấp úy như tôi, không có tiền “phù vân” (1) thì bao giờ mới dám vào?!
Tôi nói đùa với vài anh em, phần đông đều lạ hoắc: “Kỳ nầy ăn cơm nhà hàng sang nhất Saigon nghe!” Tới giờ cơm, toàn đội sắp hàng xuống nhà ăn. Vô tới nơi thì… hết cơm. Cả mấy trăm người, nhà hàng nấu trong hai cái nồi 50, mỗi nồi chưa đủ phần cho 50 người, có đâu tới mấy trăm người. Vậy rồi ai nấy đành mang bụng đói mà về phòng uống nước lạnh qua ngày.
Trong phòng, có anh chàng áo quần tươm tất, thêm một ít bỏ trong samsonite. Hỏi, anh ta nói, tin tưởng một cách vững chắc:
– “Học tập 10 ngày về! Chừng nầy là vừa chớ còn gì?”
Không biết sau nầy, trên con đường tù cải tạo mịt mù biên giới, khi ra Bắc, khi về Nam, cái Samsonite của anh ta có còn dùng được việc gì không!
Đói quá! Phải kiếm cái gì ăn. Bên cạnh thang lầu, có kẻ hở khe gió thông ra bên ngoài, chỉ vừa lọt bàn tay. Có bóng người bên kia, thì ra là nhà dân. Bèn nhờ chú bé bên đó đi mua bánh mì giúp. Một người nhờ, hai người nhờ. Thế rồi nhiều người biết “con đường bánh mì” ấy và nhiều người nhờ. Cả trăm người nhờ. Chắc chú bé bên đó phải chở xe ba gác mới đủ nhu cầu.
Dĩ nhiên là bộ đội biết và… cấm. Thế là “Con đường bánh mì”… đứt đoạn, làm cho không ít người đói… đứt ruột.
Tuy rằng một đội, khoảng 30 người ở chung một phòng nhưng chẳng ai kiểm soát, chẳng ai điểm danh nên nhiều người đi lang thang qua những phòng khác, tìm bạn bè chuyện trò chơi.
Không quen biết ai nên tôi chẳng đi đâu, tối lại thì cùng với vài người nữa, như ông Trần Phú Trắc, gốc là đại úy Dù, chức vụ cuối cùng là chỉ huy trưởng Cảnh Sát quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định. Ông nầy là cháu kêu “tông tông” bằng cậu ruột. Bạn thân của Trắc là anh chàng mang hai cái “đít chai” khá dày, lúc nào cũng cười cười, làm như đời… vui lắm, tên là Phạm Quang Chiểu, gốc là “Bộ binh Đại úy” (tôi thường nói đùa như kiểu mấy ông “Hải quân Đại úy” hoặc gọi anh ta là trung tướng Phạm Xuân Chiểu, một ông trung tướng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Xin nhắc lại chuyện cũ một chút. Năm “dẹp bàn thờ” 1966, ông tướng nầy đang làm tổng thư ký (?) Hội Đồng Quân Lực, về Huế lo dàn xếp vụ Phật Giáo Miền Trung, bị một đám “Sinh Viên Học Sinh”, bắt ông ở đài phát thanh Huế, bỏ lên xe xích lô, đưa lên tòa Đại Biểu Chính Phủ.
Bữa đó, tôi ham vui, xách xe chạy theo… coi. Tướng Thi phải tới “giải cứu” cho tướng Chiểu. Tướng Thi lên cái sân khấu dựng sẵn ở sân trước, nói “ba xí ba tú”, nói lung tung, chọc thiên hạ cười chơi!
Nhìn bộ râu của tướng Thi đã thấy buồn cười, huống chi ông nầy vốn vui tính, hay nói đùa, nên bữa đó, ai nấy được một trận cười thật vui, vì vậy đám “Học sinh, Sinh viên” không “hỏi tội” tướng Chiểu làm “tay sai” cho “Quân Thiệu Kỳ” – tiếng dân chúng gọi hồi đó –
Nhớ chuyện vui đó nên tôi hay gọi đùa Phạm Quang Chiểu thành Phạm Xuân Chiểu để kể công với Chiểu rằng “Bữa đó, tao cũng cười như thiên hạ nên chú mày được “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc Huế” tha mạng cho.
Hai anh chàng Trắc và Chiểu cùng với vài người như dược sĩ Quang (không nhớ họ), dược sĩ Hoán (Tây lai), tối lại, tập trung trên cái bệ gỗ trước bảng đen của lớp học để tò mò nghe ông già Nho, – Nguyễn Văn Nho – đại úy Cảnh Sát, trưởng phòng Công Xa Hạ Nghị Viện, người thường cấp xe cho các ông dân biểu, kẻ chuyện ông dân biểu nào “ba chân bốn cẳng” mà “tam thập lục kế” trước thiên hạ, về chuyện dân biểu Nhữ Văn Úy tự tử cùng vợ con ngay trong Hạ Viện như người ta đồn đãi, v.v…
Trong hai buổi chiều ngắn ngủi ở Taberd, tôi thường leo lên lầu 2, ra hành lang, ngồi xem thiên hạ hóng mát. Anh bạn Ngô Duyên (tôi thường gọi đùa là Vô Duyên), đại úy Biệt Động Quân, xuất thân trường Cán Sự Canh Nông, giải thích cho tôi rằng những cây trồng trong sân trường Taberd thuộc họ đậu, như cây bả đậu. Loại cây nầy có lá lớn, cho nhiều bóng mát nên được trồng trong các sân trường, kể cả các quân trường.
Đang khi ngồi chơi, có ông đại úy bộ đội đi từ trong văn phòng ra cổng, tướng đi lẹt bẹt như đàn bà doi đít. Một người lên tiếng chê cái tướng đi ấy, vài người phụ họa theo. Vui chuyện, tôi nói: “Họ có bao giờ ngồi ghế đâu. Thói quen là “ngồi chò hỏ” dưới đất. Dù có khi ngồi trên ghế thì cũng ngồi theo kiểu nước lụt. Ngồi kiểu đó thì đít doi ra, không giống đàn bà sao được.” Vài người là dân Saigon chính hiệu con nai, có mấy khi thấy ai ngồi kiểu nước lụt bao giờ, thấy tôi nói, cho là đúng, khoa học – Cơ thể học nữa đấy! – bèn tới làm quen chơi.
Đang chuyện trò, bỗng có anh chàng nào đó, ngồi ở phía hành lang bên kia, nói to lên, theo kiểu rao hàng mấy hôm nay, sau khi Saigon sụp đổ, ở bùng binh chợ Bến Thành:
“Đồng hồ “Xi-ti-dzen” đây!
“Không người lái, hai cửa sổ, mười hai ông sao!
“Người bộ đội rất ưa dùng đây!
Mại dzô, mại dzô!”
Nghe câu rao hàng, thiên hạ ngồi hóng mát hai bên hành lang cười ầm lên. Tôi nghe có người nói: “Gan quá! Đem chú bộ đội ra mà diễu. Chết như không!”
Nhiều chữ trong câu rao hàng trên đúng là “Danh từ Việt Cộng”. Bây giờ ở Mỹ cũng nhiều người cũng hay dùng “danh từ Việt Cộng” đấy, nào hồ hỡi, nào phấn khởi, nào trăn trở, v.v…
Ở miền Nam, trước 1975, đồng hồ khỏi lên giây như ngày xưa, hơi “quê” một chút thì người ta gọi là đồng hồ tự động. “Tây” hơn, như phần đông dân Saigon thì gọi là đồng hồ “Ô-tô-ma-tít” (automatic). Ai lại gọi “tự động” là “không người lái” như “chú bộ đội” bao giờ!
Cũng không ai gọi là đồng hồ có một hay hai cửa sổ. Người ta gọi là đồng hồ có lịch (ngày và thứ tự trong tuần). Người ta cũng gọi là đồng hồ có “lu-mi-nơ” (lumineux) để nhìn ban đêm. Ai lại gọi “mười hai ông sao”! Những cách nói như thế, người ta cho là quê, quê lắm! Câu rao hàng như trên là có ý chê cái quê của “chú bộ đội.”
Tới đêm thứ ba, sau 12 giờ một chút thì xe Molotova của bộ đội ầm ì vào sân trường.
Xe có mui vải, che kín. Bên hông mỗi xe có viết hai chữ “Ta Pe” bằng phấn thật lớn. Tôi cứ thắc mắc, họ viết chữ tape, – có nghĩa là băng nhựa – bên hông xe làm gì? Một lúc, tôi mới hiểu ra rằng đó là những xe Molotova tới trường Taberd để đưa chúng tôi đi.
Trời đất quỉ thần ơi!
Chữ “Ta Pe” họ viết bên hông xe có nghĩa là Taberd đấy.
Chữ nghĩa những người có “tinh thần độc lập cao”, bế quan tỏa cảng thời hiện đại, không thèm học tiếng Anh, tiếng Pháp là như vậy đấy!
Lần lượt, đội chúng tôi được đưa lên một xe. Trên xe đã có sẵn một đội rồi. Như vậy, có nghĩa là 60 người một xe, chật như nêm, không nhúc nhích được một chút. Tấm bạt sau được hạ xuống, cột chặt. Cuối hai cái băng hai bên hông xe là hai “chú bộ đội” lăm lăm cây súng AK trong tay, đạn lên nòng, khóa an toàn.
Đã lên xe rồi mà Lâm Văm Xuân, nguyên đại úy Thủy Quân Lục Chiến, hay gọi theo cách “thời đại Việt Cộng” là “Lính thủy đánh bộ”, cứ nằng nặc xin “chú bộ đội” cho anh ta xuống xe đi cầu một chút. Anh ta đau bụng quá. Đi cầu ngay bên lề đường cũng được! Anh ta kêu la quá, ai nấy đều thấy tội nghiệp cho anh.
Khoảng ba giờ sáng, mấy chục xe Molotova chuyển bánh đưa chúng tôi đi. Ngồi trong xe, một ít trên ghế, phần đông trên sàn, kín mít, không thấy gì bên ngoài! Đoán hướng xe, anh em chúng tôi biết, xe chạy ra đường Hai Bà Trưng, qua Phan Thanh Giản, lên Lê Văn Duyệt và đi Tây Ninh…
Khi xe đang trên đường đi Tây Ninh thì trời sáng dần. Bấy giờ thấy rõ hình ảnh chú bộ đội hơn: Người gầy, đen, mặt quê mùa nhưng thật thà kiểu nhà quê, thụng thịnh trong bộ đồ xanh quá khổ. Anh ta làm quen với chúng tôi bằng câu nói:
“Mấy anh là đại úy. Trước tê đi mô cũng đi “mạy” (máy) bay lên thẳng không?”
Chúng tôi cười, không ai trả lời anh, mặc dầu câu nói của anh ta có nhiều cái sai.
Trước hết, anh ta nói tiếng miền quê, Nghệ An hay Hà Tĩnh gì đó, nặng chịch, khó nghe, không quen tai. Đó là thứ tiếng “bác Hồ” đọc cái gọi là “tuyên ngôn độc lập” phát trên đài phát thanh Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Thứ hai, chúng tôi lạ và thấy anh ta quê mùa quá khi gọi “trực thăng” là “mạy (máy) bay lên thẳng”.
Thứ ba, khi còn chiến tranh, cấp đại úy như chúng tôi, làm tới đại đội trưởng hay tiểu đoàn phó, chỉ có một số ít làm tiểu đoàn trưởng. Cấp bậc đó, hành quân với lính thì lội bộ như lính, làm gì có việc ngồi trực thăng bay trên trời mà chỉ huy dưới đất.
Điều chúng tôi ngạc nhiên nữa là tại sao anh ta biết chúng tôi là đại úy. Có lẽ trước khi “công tác”, các “chú bộ đội” đã được giáo dục cả rồi, được cấp trên của họ cho biết chúng tôi phần đông là cấp bậc đại úy và sẵn sàng đề phòng… “bọn phản động.”
Vài anh em từng ở Tây Ninh, đoán rằng Việt Cộng đưa chúng tôi đi Trảng Lớn.
Quả vậy thật.
Trên đường vào Trảng Lớn, qua một cái dốc, bỗng nghe bên ngoài xôn xao. Nhìn qua kẻ hở trên tấm vải bạt xe, chúng tôi thấy có chiếc xe Molotova bị lật bên đường khi đang đổ dốc. Có lẽ “chú bộ đội lái xe” buồn ngủ quá, lạc tay lái. Sau đó, khi vào tới trại mới biết thêm có hai người trong chúng tôi chết vì vụ lật xe đó. Có lẽ hai người ấy là những người bỏ mạng đầu tiên trong quá trình “được chính quyền cách mạng” cho đi “học tập cải tạo” chớ không phải cho đi tù, đi đày như sau nầy ai nấy mới sáng mắt ra!
Đội tôi được đưa vào khu gia binh có mấy dãy trại dài. Gần đó có một cái garage của đơn vị.
Có lẽ khu nầy thuộc quân cụ.
Tới chiều, mỗi đội được gọi đưa người đi lãnh gạo, lãnh chảo nấu cơm, lãnh nồi 50 nấu canh, kho cá, v.v… Những ngày đầu gạo thuộc loại tốt, có lẽ lấy từ các kho gạo ở Chợ Lớn. Một tuần sau thì toàn gạo mốc, loại gạo Việt Cộng cất dấu trong các kho đường Trường Sơn đã lâu ngày, mốc và rất nhiều sâu.
Ngày ngày, anh em chúng tôi chia nhau lượm sâu, lượm mốc cũng đã hết giờ. Gạo lãnh ra mười phần, ăn được chỉ ba bốn, còn thì hư hết. Số lượng gạo lãnh ra thì đủ, nhưng lựa sâu rồi đem nấu thì ít đi, nên bắt đầu đói.
Hơn thế nữa, tiêu chuẩn gạo thông thường 21 kg mỗi tháng, được mấy hôm thì giảm bớt đi, còn lại 15kg, lại loại bớt sâu, nên cơm ăn lại càng thiếu.
Đồ ăn thì ngày ngày là rau muống do bộ đội mua ở Tây Ninh đem vào phát, chấm với… nước muối. Người ta gọi đùa là “Nước mắm đại dương” (2).
Có khi không có rau, được phát cá khô và ba bốn tuần mới được phát cá tươi.
Thiếu rau, ai nấy đều thèm. Vì đây nguyên là khu trại gia binh nên tôi có lần đi dọc hàng rào, tìm rau hoang như rau má, rau trai, rau lang, hái về luộc ăn chung với vài anh em.
Hôm phát cá ngừ, làm ruột, chặt vi, chặt vẫy xong thì đem kho, mỗi người được một mút đũa. Lâm Văn Xuân, lấy ruột đem làm mắm. Ai nấy chê dơ, sẽ bị thúi, không ăn được, nhưng Xuân rất tin tưởng, cứ làm. Ít bữa sau chuyển trại, hủ mắm bỏ lại, không biết có ai tiếc của không!
Đội tôi có một ông nguyên là đại úy tuyên úy Phật giáo, sau đồng hóa thành sĩ quan quân đội, ra khỏi “Nha Tuyên úy”, làm phòng ba cho một tiểu khu nào đó, dưới miền Tây, tôi không nhớ.
Được mấy hôm, ông ta kêu gọi ăn chay, nhiều người tham gia. Đội trưởng, ông Tuyên, đại úy, yêu cầu bộ đội cung cấp chao để anh em ăn chay.
Thế là ngày hôm sau có ngay. Bên hè nhà có đám rau lang do gia đình binh sĩ trồng hồi trước, nay lên xanh um. Vậy là mấy thầy chú hái vào, luộc rau, ăn với chao.
Tưởng vậy là xong, ai ngờ, ông cựu đại đức tuyên úy, bỗng nhiên bỏ cơm đứng dậy, mặt mày hằm hằm, mắng: “Đ.m. đứa nào pha chao chấm với rau như con cặ…”
Ai nấy chưng hững. Gì mà dữ thế! Không ngon thì làm lại. Với lại ăn chay là do cái tâm, đâu cần ngon dở. Một miếng ăn chay mà cũng “nổi gan lên đầu.”
Bỗng Trần Phú Trắc, ngồi phía cửa, la to vào, vừa nói vừa cười: “Trời ơi! Ăn chay mà trẻ cặ…!” Câu nói của Trắc làm ai nấy đều cười.
Những ngày đầu, đi “tù cải tạo” sướng vậy đó!
Muốn gì được nấy.
Được mấy bữa, những người ăn chay đều bị gọi lên văn phòng làm việc. Về tới nơi, anh nào anh nấy mặt mày méo xẹo. Hỏi ra thì họ bị “bộ đội” lên lớp: “Tôn giáo là phản động. Ăn chay cũng là phản động luôn.”
Như vậy, ăn chay là phản động thì chắc “học tập” lâu mới được về. Dẹp, dẹp, dẹp. Dẹp ngay chuyện ăn chay!
Vậy là từ đó về sau, không nghe ai nói tới chuyện ăn chay nữa, mãi đến một năm sau, khi tôi bị đưa về trại Suối Máu, mới thấy chuyện ăn chay ăn mặn chung với nhau giữa ông thầy chùa Nguyễn Đức Ca và ông cha đạo Hoàng Văn Thiên.
Nhưng đó là chuyện sẽ nói sau.
Ai cũng bắt đầu thèm thịt, nhưng làm gì có thịt mà ăn. Căn nhà phía sau lại xảy ra chuyện buồn cười về việc ăn thịt… chuột.
Đầu đuôi như sau:
Ở khu nhà phía sau nhà tôi có hai nhân vật “quái kiệt”. Một là ông Lê Quang Uyển, Thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Ông nầy còn trẻ, học bên Mỹ về. Người ta đồn ngày 29 tháng Tư, theo thông báo của Mỹ, ông đem vợ con lên nóc lầu Ngân Hàng Quốc Gia ở gần bến Chương Dương chờ trực thăng Mỹ đến đón.
Chờ mãi đến tối, không thấy máy bay trực thăng nào đáp xuống cả, ông ta bèn đem vợ con về, rồi “đóng tiền đi ở tù”.
Nghe nói, nếu như kể về bên phía hành chánh, thì ông ta là “ông lớn”: Thống Đốc Ngân Hàng. Nhưng nếu kể về phía quân đội thì ông ta mới trung úy, “dân biệt phái”, (sau nầy nói theo kiểu Việt Công là “diện” biệt phái) nên “trình diện đóng tiền đi ở tù” với đám sĩ quan cấp úy biệt phái, trễ hơn mấy ông tướng tá và mấy ông lớn bên hành chánh 10 ngày.
Người thứ hai là bác sĩ Cảnh, Bác sĩ Giải phẩu Bệnh viện Bình Dân. Ông ta trình diện theo đám “học tập cải tạo 15 ngày” trước, bị rớt lui đi chung với đám cấp úy chúng tôi.
Thèm ăn thịt, hai ông bèn làm một cái lồng bẫy chuột. Lồng đặt ngay nơi ống cống thông từ trong trại ra phía ngoài là đồng vắng, là cái trảng, chỉ có cây lúp xúp.
Ông Uyển thì bẫy chuột, đưa cho ông bác sĩ giải phẩu làm thịt ăn chơi.
Có người chê:
“Mấy ông ăn chuột cống, ghê quá!”
Ông Uyển cải: “Chuột ngoài đồng chui vô sao gọi chuột cống?” Người ta nói:
“Chuột ở trong cống chui ra là chuột cống, sao gọi là chuột đồng?”
Có lẽ mấy ông nầy không biết thế nào là chuột đồng. Chuột đồng đâu có to như chuột cống. Chuột đồng nhỏ hơn, lông hơi vàng. Khi có mùa sạ thì chuột béo lắm vì ăn toàn mầm lúa sạ mà thôi.
Thịt chuột có phong, dù chuột cống hay chuột đồng, đều không nên ăn. Còn như người ta đồn bánh bao Chợ Lớn làm bằng thịt chuột thì ai mà biết để tránh!
Mới vào trại thì cuộc đời cải tạo cũng có nhiều cái… vui.
Nhà nầy nhà kia thông nhau, thiếu vách che. Gần nửa đêm, có anh nhớ vợ nhớ con gì đó, bèn giả làm tiếng trẻ con khóc cho đỡ buồn.
Bỗng có người la to:
“Má nó đâu! Cho con bú sữa đi!”
Vậy là lại có người góp vui, làm tiếng mèo kêu, chó sủa, ngựa hí, v.v… loạn xạ ngầu cả lên, chẳng ai cản, bộ đội ở xa, không lui tới ban đêm.
Họ ngại chăng?
Khi ra đi, ai cũng đem theo ít quần áo, cứ nghĩ rằng 10 ngày, “học” xong thì về.
Khi làm vệ sinh, dọn dẹp doanh trại như bộ đội ra lệnh, nói theo “danh từ Việt Cộng” là “bộ đội yêu cầu”, quần áo lính tráng chế độ cũ vất lại bừa bãi, bèn đào lỗ đem chôn.
Một năm sau, áo quần lần lượt rách, lại tìm đào lên, giặt sạch, đem mặc. Thậm chí, những cái bao đạn M-16, M-79, ba bốn cái gom lại, chắp nối cũng thành một cái quần xà-lỏn, mặc bền lắm. Có người không tìm được quần áo cũ, không kiếm được bao đạn thì lấy bao cát mà may quần xà-lỏn. Vải bao cát thì dày nhưng thưa, khi tắm, “cu cậu” bày ra rõ lắm!
Cũng may, ở đây toàn là đực rựa, ai hơi đâu mà lưu tâm chuyện ấy.
Ba ngày đầu, cũng có một cô nữ quân nhân ở chung.
Mấy người đàn ông dành cho cô nữ quân nhân một chỗ trong góc. Tội nghiệp cho một người đàn bà giữa đám toàn đàn ông.
Được ba ngày, cô nữ quân nhân được chuyển đi, có lẽ về trại nữ. Chưa học bài chính trị nào, chưa “thông suốt đường lối cách mạng”, “chưa tiến bộ”, làm sao được “mãn khóa học” sớm vậy!?
Không hiểu do đâu, tôi thấy có mấy người chuẩn bị dựng cổng chào cho doanh trại.
Họ lấy mấy tấm vỉ sắt của quân đội Mỹ, thứ để dùng làm phi đạo, ghép lại với nhau để dựng cổng chào.
Người chỉ huy toán lo công việc nầy là ông họa sĩ Trịnh Cung, cùng trại với tôi.
Tôi biết ông Trịnh Cung nầy hồi ông ta còn đi học ở Huế.
Trước biến cố Mậu Thân, tôi còn đi dạy, thường gặp ông cuốc bộ từ khu nhà cho thuê của ông Ngô Đình Thục gần cầu Phú Cam, đi về hướng Morin, ngã sau bệnh viện Trung Ương Huế.
Đây là đường Trưng Trắc, đường đi ngang nhà xác.
Khi về làm giám mục địa phận Huế, ông Ngô Đình Thục, cắt một phần đất của “Trại Lê Lai” (Quân Cụ); trước 1945, đây là khu vực “Trường Bá Công” (Kỹ Thuật) Huế, sau làm doanh trại quân đội, để xây nhà cho thuê.
Đất là đất công, cắt đất dựng nhà lầu cho thuê, lấy của công làm của riêng, việc nầy chẳng mấy ai hoan hô; nhưng chẳng ai dám nói, sợ đụng tới gia đình “Cụ Ngô”.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng thuê nhà ở khu nầy.
Hai khu nhà lầu cho thuê nầy khá lớn, người thuê đông lắm. Trịnh Cung thường tới ở lại nhà Trịnh Công Sơn ban đêm.
Tôi thuê nhà ở phía bên kia cầu Phú Cam, cũng ngày hai buổi đi dạy trên con đường nầy.
Trịnh Cung (tên thật là Nguyễn Văn Tiến, nhà ở Cầu Đá, Nha Trang, ra Huế học trường Mỹ Thuật) đi lính trước tôi hai khóa (Khóa 3/68), ra trường, ông ta về ngồi ở Cục Xã Hội, thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.
Cục trưởng Cục Xã Hội là Đại tá Nguyễn Lễ Trí (anh đại úy Ngyễn Lễ Phép, cùng “khóa tù” với tôi ở trại Xuân Lộc).
Khi lãnh nhiệm vụ đoàn thể hóa con em gia đình binh sĩ tham gia “Hướng Đạo Sinh Quân Đội”, theo kế hoạch của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, tôi thường đến Cục Xã Hội để liên lạc công việc. Do đó, tôi mới gặp ông Chuẩn úy Nguyễn Văn Tiến ở đây, cùng với Trung sĩ An Phong Nguyễn Văn Diễn. Ông Diễn là cựu hướng đạo sinh ở Quảng Trị trước 1945, con ông Thông Bỉnh, quê ở Quảng Trị. (3)
Mới ra trường về ngồi ngay Cục Xã Hội, khỏi đi tác chiến thì không phải ai cũng được như thế đâu! Cũng COCC cả đấy! (COCC là tiếng tắt gọi “Con Ông Cháu Cha)
Hai ông nầy, Trịnh Cung và Nguyễn Văn Diễn đang chuẩn bị tổ chức các khóa đào tạo huynh trưởng Hướng Đạo Sinh do Cục Xã Hội đảm trách. Nhiệm vụ tôi thì chọn mấy người trẻ trong binh chủng, ở tất cả các đơn vị đóng khắp 4 vùng chiến thuật, đưa về tham dự các khóa học nầy.
Bây giờ, lại thấy ông Trịnh Cung ở đây, lo dựng cổng chào “cách mạng”.
“Gió thổi, cờ bay… coi lẹ dữ!”
Có một câu chuyện khá buồn cười.
Nói đi học tập 10 ngày, nên chẳng ai chuẩn bị gì cho cuộc sống lâu dài cả. Vì vậy, khi gần một tháng mà chưa thấy dấu hiệu gì được về, anh em chúng tôi bỗng thấy thiếu… dụng cụ. Bấy giờ trong khu garage, còn nhiều loại đai kim loại đóng thùng quân dụng còn sót lại. Loại đai nầy bằng thép, khá cứng, nên anh em chúng tôi lấy ra, cắt từng đoạn rồi mài, dũa, làm mỗi người một con dao xài chơi.
Một người, rồi hai người, rồi rất nhiều người đua nhau làm dao vì loại đai thùng nầy còn lại trong garage nhiều lắm. Tôi cũng làm một cái.
Bỗng một hôm có lệnh tịch thu dao.
Ai có dao, dù mới làm hay đem từ nhà theo, dao lớn, dao nhỏ đều phải đem nộp hết.
Nhiều người ngạc nhiên, làm con dao để cắt rau trái, có gì mà phải tịch thu. Vã lại, cũng có người tiếc công mình. Họ làm những con dao đẹp lắm, cán gỗ khắc chạm khá tinh vi, dự trù “mãn khóa học” đem về nhà làm “kỷ nghệ”.
Trần Phú Trắc nói với tôi: “Anh nghĩ coi. Giả tỉ như mình là bộ đội, mình nghĩ như thế nào khi bỗng nghe báo cáo rất nhiều anh em chúng mình đua nhau làm dao? Bộ đội cũng sợ mình nổi loạn chớ. Phải nhớ cho họ coi mình là địch hay là bạn?”
Câu nói của Trắc làm tôi nhớ câu chuyện anh y tá Được.
Được là y tá bộ đội, có lẽ cấp bực trung sĩ. Tôi nói có lẽ vì hồi ấy bộ đội chưa mang “loon” như sau nầy. Dĩ nhiên, y tá Được được anh em “chiếu cố” đến thăm hoài vì ai lại chẳng nhức đầu, đau bụng. Y tá Được lại dễ dãi, ai khai gì cho thuốc nấy, không khó khăn gì cả. Tôi cũng là bệnh nhân của anh ta.
Buổi chiều, trước khi trời tối hẳn, anh ta thường ra ngoài đường lớn, đi lang thang.
Chúng tôi cũng thường lang thang đi lui đi tới ngoài đường ấy, chuyện trò với nhau chơi. Anh ta gặp chúng tôi, cũng nhiều khi ghé lại nói chuyện. Một hôm, tôi nghe anh ta kể cho mấy người chung quanh:
“Thằng bạn tôi đánh trận… (tôi không nhớ tên trận anh ta kể). Nó bị thương ở ngực. Trời tối quá, tôi sờ thấy máu ở bụng, tưởng là nó bị thương ở bụng liền băng ngay chỗ đó. Sáng ra mới thấy bị thương một nơi mà băng một chỗ. Thế mà máu ở ngực của nó cũng không thấy chảy ra. Nó không việc gì cả. Buồn cười thật!”
Thấy anh ta kể chuyện bên phía anh mà coi như cùng phe ta cả, ai nấy đều thấy buồn cười vì sự chân thật của anh.
Được còn khoe rằng sau khi “thắng giặc Mỹ”, thủ đô Hà Nội sẽ được “Đảng và nhà nước” xây mới ở Vĩnh Phú, to lắm, đẹp lắm, lại có đường xe điện ngầm nối liền giữa “Hà Nội cũ” và “Hà Nội mới”. Được nói rất tin tưởng, nhiệt tình, không nghĩ rằng đó là cái bánh vẽ to, để dụ những người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” như Được.
Một hôm, anh ta nói với tôi:
– “Em sắp đi Saigon!”
Tôi hỏi:
– “Anh cho tôi nhắn về nhà được không?”
– “Được chứ!” Anh ta nói, thành thật.
Bấy giờ, xa nhà gần cả tháng rồi mà bộ đội chưa cho viết thư thăm gia đình hay gởi quà.
Tôi cũng hơi ngại nên nói là nhắn tin về gia đình chớ không nói gởi thư. Được anh ta nhận lời, tôi viết mấy chữ, báo tin cho mẹ, vợ và các anh chị tôi biết để ở nhà đừng lo lắng gì, vậy thôi. Tôi lo xa, không đề tên người gởi, chỉ đề tên người nhận. Tôi nói với Được:
– “Tôi ghi địa chỉ chị tôi cho dễ tìm: 44 Trần Hưng Đạo cách chợ Bến Thành khoảng hơn ba trăm mét thôi. Dễ tìm lắm. Anh nhớ đưa thư cho chị tôi, chị ấy sẽ nhắn mẹ và vợ tôi tới ngay.”
Anh ta đến thật. Cả nhà được tin, mừng lắm.
Mẹ tôi rồi vợ tôi đến, sau khi chị tôi cho các cháu lái xe đi đón. Gia đình gởi cho tôi một số quà lớn, đồ hộp, đồ khô, thuốc cảm cúm, v.v… Chị tôi nói với y tá Được:
– “Chị cám ơn em. Bao giờ về Bắc thăm gia đình, ghé lại chị cho em chiếc xe đạp mới đem về làm quà.”
Mấy anh chị em chúng tôi, trước 1975, có hùn nhau dựng một hãng sản xuất xe đạp ở Bình Thới. Sau 1975, trước khi bị đánh tư sản, hãng xe đạp vẫn còn hoạt động. Do đó, chị tôi mới hứa cho y tá Được chiếc xe. Hồi ấy, bộ đội về Bắc, mang theo chiếc xe đạp, nhất là xe đạp mới là coi như “le lói” lắm.
Khi về lại trại, y tá Được nhắn tôi tới nhận quà, một cách rất tự nhiên, coi như không có chuyện gì đáng quan tâm cả, không sợ cấp chỉ huy gì cả.
Y tá Được còn nói với tôi:
– “Chị ấy bảo em chăm sóc sức khỏe cho anh. Chị ấy sợ anh bệnh.”
Tôi cười, cám ơn.
Hôm sau, tôi lên chỗ y tá Được.
Bấy giờ có hai ông, có lẽ là sĩ quan, mới tới, tỏ ý khó chịu vì sự thân mật giữa y tá Được và anh em chúng tôi, nhất là khi Được mở hộp lương khô, thứ của Trung Cộng, mời chúng tôi ăn.
Hôm sau, y tá Được bị bắt giam. Khoảng hai tuần sau, có thông báo nói ai có gởi tiền cho y tá Được mua thuốc thì lên nhận thuốc.
Tới nơi, tôi thấy y tá Được tóc tai bơ phờ, áo quần xốc xếch, hình như bị giam mới được tha ra.
Khi đưa thuốc cho tôi, y tá Được nói nhỏ: “Trên kỷ luật em vì tội quan hệ với địch.” Nghe câu đó, tôi không vui.
Cộng Sản nói nhiều điều hay, rất ơn nghĩa, nhưng trong thâm tâm, họ vẫn nhìn anh em chúng tôi là địch. Tôi nói lại chuyện ấy với Trắc.
Trắc nói: “Tui cãi lộn với hai “thằng” chú tôi một trận dữ lắm. Chú cháu chưa chịu nhận ra nhau, còn coi nhau là địch, huống gì đám bộ đội nầy.”
Việc tôi thường quan hệ với Trắc đầu đuôi như sau:
Trắc cùng Phạm Quang Chiểu “trình diện” ở Taberd như tôi vậy, và cùng bị đưa lên Trảng Lớn, cùng chung một đội.
Ban đầu, chúng tôi hoàn toàn không biết nhau. Một hôm, ngồi chơi, tình cờ biết Trắc gốc ở Dù, tôi hỏi Trắc có biết “Hùng móm” không. “Hùng móm” là em út tôi, tiểu đoàn 11 Dù, hy sinh khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị năm 1972. Biết tôi là anh của “Hùng móm”, Trắc mừng lắm, nói:
– “Tui với nó thân nhau lắm anh. Hồi tết Mậu Thân, tui tiểu đoàn 5, nó tiểu đoàn 11, cùng về giữ Bộ Tổng Tham Mưu. Trận đó, tui bị thương, đạn phá mất một lóng tay – Anh ta đưa ngón tay trỏ lên cho tôi coi -. Ngón nầy còn hai lóng, anh thấy không? Hùng móm lái xe đưa tôi vô Đỗ Vinh (4) cứu cấp. Ở đó, người ta lấy lóng ngoài, còn móng tay, nối với lóng trong, tôi chỉ bị mất lóng giữa. Nhờ đó, không để ý, không ai biết tôi mất lóng tay. Cũng nhờ Hùng.”
Từ đó, sau nầy có chuyện gì vui, Trắc đưa cao ngón tay bị thương tật, cười nói: “Anh Hải! Hùng nầy! Hùng móm nầy!”
Trắc là con trai độc nhứt của bà Bảy Phận – Nguyễn thị Phận – Chị ruột của tổng thống Thiệu, thứ Tám. Khi còn nhỏ, ông Kiểu, thứ sáu, anh của mẹ Trắc, muốn giúp em gái qua khó khăn, bèn nhận Trắc làm con nuôi, cho ăn học. Vì vậy, theo cách gọi của các con ông Kiểu, Trắc thường gọi ông Thiệu bằng chú, thay vì bằng cậu.
Bố Trắc là ông Trần Phú Đường, theo Việt Minh một thời gian, sau bỏ về với Quốc Gia, không tham gia chính quyền miền Nam.
Khi ông Thiệu làm chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, một hôm ông Thiệu về Tri Thủy thăm làng, trời đổ cơn mưa dông bất thần, ông Thiệu và ông anh rể tình cờ gặp nhau, hai người vào núp mưa trong ngôi trường tiểu học của làng. Chỉ chừng đó mà ông Đường bị Việt Cộng bắt thủ tiêu, không cho đó là cuộc gặp gỡ tình cờ.
Hai người em là Trần Phú Minh 10, và Trần Phú Minh 11, tập kết ra Bắc năm 1954. Sau tháng Tư 1975, hai người nầy về tỉnh Thuận Hải, một người làm giám đốc Công An, một người làm giám đốc Thương Nghiệp. Trắc nói với tôi: “Quyền lực và tiền bạc đều nằm trong tay hai ông nầy. Đời còn chi hơn!”
Sau khi từ miền Bắc về, hai ông nầy có đến thăm bà Bảy Phận, chị dâu của họ. Sau đó thì dứt hẳn, không lui tới gì cả. Liên hệ với “Ngụy gộc”, họ sợ.
Với Trắc thì cuộc gặp gỡ chú cháu thành một trận chiến nảy lửa. Trắc kể: “Hai thằng chú tui thì cứ nói là Mỹ sợ, Mỹ chạy dài, không bao giờ dám ngó lui.” Trắc thì cương quyết: “Mỹ sẽ trở lại, chắc chắn như vậy. Để rồi xem.” Vậy là chú cháu cãi nhau dữ dội, không ai chịu thua ai, bèn từ nhau. Chú không bảo lãnh cho cháu “cải tạo” về sớm. Cháu thì cứ coi như mình không có ông chú nào là Việt Cộng trên đời nầy.
Nghe chuyện, tôi cười, nói với Trắc: “Ông sai! Mà hai ông chú của ông cũng trật lất. Mỹ sẽ trở lại đấy, không phải với M-16 như ông nghĩ mà với samsonite đựng bản đồ xây dựng các nhà máy và với đô-la! Tới lúc đó thì Việt Cộng trải thảm đỏ đón chú Sam. Nên nhớ là chú Sam bao giờ cũng giàu có, áo đuôi tôm, mũ sọc dưa, tiền vàng trong túi rủng rỉnh.” Trắc cười, có lẽ cười đồng ý với tôi.
Khoảng một tuần lễ, bộ đội họp chúng tôi lại trong một gian nhà trống làm hội trường, yêu cầu và hướng dẫn chúng tôi làm bản tự khai: Tự khai báo quá trình học hành và làm việc, tham gia chế độ cũ. Về dòng họ, thì phải khai tới ba đời, bên nội cũng như bên ngoại, tức là khai từ ông bà nội, ông bà ngoại cho tới đời mình, anh em ruột, anh em bà con xa gần và tới đời các con, cháu của mình.
Hồi chế độ cũ, trong hồ sơ, chỉ bắt khai tới cha mẹ mà thôi, bây giờ khai tới ông bà, nhiều người không nhớ tên bà nội, bà ngoại.
Vậy là ba đời khai báo.
Có người nói đùa (nói nhỏ thôi) khai ba đời để “tru di tam tộc”. Người khác nói: “Bọn mình làm gì có ba đời đi ở, bốn đời làm thuê để được khoan hồng”. Khai xong, ai ai cũng hy vọng sẽ được “học” sớm, để được “mãn khóa học” mà về nhà.
Điều đáng nói nhất, trong khi cán bộ hướng dẫn để làm bản tự khai, bọn chúng gọi những người lãnh đạo quốc gia Việt Nam (thời Quốc trưởng Bảo Đại) của hai nền Cộng hòa miền Nam, cũng như các nhà lãnh đạo Mỹ và Thế giới Tự do bằng “thằng”: Thằng Bảo Đại, thằng Diệm, thằng Nhu, thằng Thiệu, thằng Khiêm, thằng đại tướng ngụy Cao Văn Viên, thằng Ních-Xơn, thằng Dơn-Xơn, thằng Mít-Tơ-Răng… Ngược lại, về những người lãnh đạo Thế giới Cộng Sản thì bọn chúng gọi một cách kính cẩn bằng “ông”: Ông Lê-Nin, ông Xít-ta-lin, ông Mác, ông Mao, ông Bre-zờ-nép. Với Khrutchev thì họ gọi trổng là Khơ-rút-xốp, với Castro thì họ gọi là “đồng chí Phi-den Cát-xờ-tơ-rô” và gọi chính quyền, quân đội miền Nam bằng “Ngụy”.
Điều đó nói lên cái gì? Không những đó là sự kiêu hãnh, tự cao cũng như sự luồn cúi, nịnh hót, hèn hạ của họ, nó còn cho chúng ta thấy họ là những người thiếu giáo dục, không xứng với văn hóa của người Việt Nam.
Trước công chúng, người Việt Nam không mấy khi gọi ai bằng thằng và tỏ ý miệt thị kẻ thù đến mức tàn tệ. Việc làm của vua Gia Long đối với anh em nhà Tây Sơn không được dân chúng và lịch sử ca ngợi bao giờ.
Sợ nhà Tây Sơn có thể khôi phục, tranh lại ngai vàng, Gia Long cho đào mồ Nguyễn Huệ, người tài ba nhứt trong ba anh em nhà Tây Sơn, giam vào ngục tối và sai binh lính tiểu tiện vào cái giỏ đựng sọ vua Quang Trung.
Vua Gia Long, cũng như các người viết sử thời ấy được lệnh vua, gọi nhà Tây Sơn là “Ngụy Tây Sơn”. Ngụy là nghịch với chánh, ngụy là giả, là tà, là giặc. Tuy nhiên, so ra, công nghiệp của vua Gia Long với vua Quang Trung, thì người ta thấy rõ ai là ngụy, ai không!
Lịch sử và dân tộc không thể không ca ngợi chiến công vua Quang Trung khi đánh tan hai trăm ngàn quân Thanh xâm lược, bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Lịch sử và dân tộc cũng không thể không lên án Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm La, đem hai mươi ngàn quân Xiêm La sang miền Nam đánh nhau với quân Tây Sơn, cũng như không thể không lên án việc ông ta cầu viện nước Pháp, dựa vào sự giúp đỡ của các tên thực dân mặc áo thầy tu, khơi mào cho ý đồ xâm lăng của người Pháp và chính vì từ đó mà nước ta bị nô lệ một trăm năm.
Sự thực lịch sử đó, ngay cả Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim, được viết khi ông Bảo Đại còn ngồi trên ngai vàng, cũng không thể viết khác đi được! Ngụy hay không ngụy?! Ai mới chính là Ngụy, điều đó lịch sử sẽ chứng minh. Nó giống lịch sử nước Tầu đời Tam Quốc, hay như trong lịch sử nước ta, nay còn có ai gọi nhà Tây Sơn là ngụy như ý đồ của vua Gia Long.
Ngoại trừ Trần Phú Trắc, cháu gọi “tông tông” bằng cậu ruột, tốt nghiệp Trường Bộ binh Thủ Đức, tình nguyện đi Dù, có thể anh được hưởng ít nhiều lòng thương yêu của ông cậu; còn phần đông anh em chúng tôi là những người lính chiến đấu, vào sinh ra tử và cũng có người thương binh loại hai.
Nói như thế là muốn bày tỏ với độc giả rằng chúng tôi không hưởng ơn mưa móc của cá nhân ai cả, của ông Thiệu, ông Khiêm hay Đại tướng Cao Văn Viên…
Tuy nhiên, khi Dziệt Cộng gọi những người đó bằng “thằng”, chúng tôi không khỏi đau lòng, không những riêng cho chúng tôi, cho họ, cho toàn thể người dân miền Nam, và cả cho người Việt Nam nữa. Dù sao, trên một bình diện nào đó, họ cũng là người lãnh đạo chính quyền miền Nam, đại diện cho nhân dân miền Nam, đại diện cho dân tộc Việt Nam. Gọi họ bằng thằng, không chỉ biểu lộ sự vô lễ đối với họ mà còn đối với tất cả những thành phần mà các vị đó từng đại diện như nói ở trên.
Tôi không hiểu “văn hóa mới” gọi người khác chính kiến với mình bằng thằng do đâu mà có? Do từ Lê-nin, Staline, do từ Mao, từ người cháu máu huyết của Hồ Sĩ Tạo hay con nhà quan Đặng Xuân Khu, do từ Thị Nở hay Chí Phèo, do từ giai cấp vô sản ba đời làm thuê, bốn đời ở đợ?
Dù do từ đâu, từ ai đi nữa, họ cùng một thứ như nhau.
Nếu Nguyễn Sinh Cung, Đặng Xuân Khu, cũng có văn hóa “cá mè một lứa” với Chí Phèo, Thị Nở điều đó, không biết đau lòng cho những ai, nhưng trước nhứt là cho những người sinh thành, nuôi nấng và giáo dục họ, như cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy, như quan tuần vũ Đặng Xuân Viện. Nó vượt ra ngoài giới hạn của văn hóa dân tộc cho phép.
Tôi lớn lên ở Huế, nơi có không biết bao nhiêu người phản vua hại nước, làm Việt gian, đại Việt gian. Tức giận lắm, người Huế cũng không gọi những người ấy bằng thằng bao giờ. Quá lắm, họ gọi bằng tên. Tên phản quốc cầu vinh, tên buôn vua bán chúa, tên lừa thầy phản bạn. Những người như Hoàng Phủ Ngọc Tường, như Nguyễn Đắc Xuân, khi còn đi học, đi dạy ở Huế, họ cũng gọi những người xấu (cứ cho rằng xấu) bằng tên nầy, tên kia. Nhưng sau khi vô rừng phục vụ “cách mạng” rồi, trở về Huế sau 1975, họ cũng gọi “thằng Thiệu”, “thằng Kỳ”… Bọn họ đã “giác ngộ cách mạng” rồi, đã hấp thụ “văn hóa mới xã hội chủ nghĩa”, đã trở thành Chí Phèo, Thị Nở thời đại.
Chúng tôi thì không thể. Oán ghét lắm, chúng tôi gọi Hồ Chí Minh nửa thật nửa đùa bằng “anh già Rô”, “anh già râu”, hoặc “già Hồ”, chẳng mấy khi gọi “tên cáo già” hay tên “Hồ tặc”. Chúng tôi thấy “như thế nào ấy”, không gọi họ bằng “thằng” được.
Điều ngăn cấm vô hình ấy, sự ngại ngùng ấy, chúng tôi học được từ cha mẹ, chú bác cô dì, từ bà con xóm làng Việt Nam. Điều đó, không cho chúng ta thấy văn hóa người Việt là không đáng quí hay sao?!
Dziệt Cộng bao giờ cũng chơi trò ma giáo, phỉnh gạt và người miền Nam thì bao giờ cũng đút đầu vào tròng cho tụi nó phỉnh gạt. Được ít bữa, lại có bình bầu, chọn người “lao động xuất sắc”. Thế là thiên hạ đua nhau tranh thủ sao cho mình được chọn làm “lao động xuất sắc”. Có người gọi đùa là “lao động thất sắc”.
Sau nầy mới rõ thế nào là “lao động thất sắc”.
Thực ra thì đã lao động quái gì đâu. Ban ngày thì chia nhau lượm gạo mốc, tổ nào tới phiên thì lo vo gạo, nấu cơm. Còn thức ăn thì ngày nào cũng như ngày nào: rau muống chấm nước muối. Vậy mà cũng có anh em lo vận động để được bầu.
Đại úy Định, Không quân, nhà ở đường Trương Minh Giảng đến nói chuyện với tôi, hẹn ngày về đến nhà anh uống rượu chơi. Hơn bảy năm sau, tôi mới được tha khỏi trại tù, ly rượu hứa hẹn ngày ấy có lẽ đã bốc hơi hết rồi. Vả tôi cũng không phải là đệ tử của Lưu Linh để cất công đi tìm một chén rượu. Mà chắc gì người ta còn nhớ một lời hứa hẹn bảy năm trước, trước khi có cuộc bình bầu.
Khi còn ở nhà, tôi chẳng bao giờ vô bếp.
Còn nhỏ, vào bếp là bị mấy chị đuổi ra. Mẹ thì mắng: “Con trai vô bếp là xấu, chỉ lo ăn.” Tuy vậy, đi cắm trại, tôi thường nấu cơm cho anh em, cũng không đến nỗi ai nấy phải ăn cơm “tứ tuyệt”. (Tứ tuyệt là một nồi có tới bốn thứ cơm: Cháy, khê, nhão, sống).
Đi cắm trại thường chỉ nấu nồi nhỏ, nồi 10, hay nấu trong soong, khoảng vài chục người ăn. Vào trại cải tạo, lần nầy, nấu cơn trong chảo, khoảng 100 người ăn. Hôm tôi tới phiên nấu cơm, trời mưa, củi ướt không cháy đượm, nên cơm đã cạn mà hột gạo còn y. Kỳ nầy, chắc bị anh em chưởi chết.
Hoảng quá, chạy đi cầu cứu. Có anh bạn đội bên cạnh ra tay “cứu độ”. Anh ấy bảo tôi lấy thêm bao bố tời nhúng ướt đậy chảo cho thật kín. Thế rồi lấy củi chẻ nhỏ, nhóm cháy ở bốn góc chảo, không cho lửa cháy lớn, chỉ vừa vừa thôi. Được một chốc, thấy chảo cơm bốc hơi. Vậy là yên tâm!
Những ngày đầu mới vào trại, cũng có anh em tập chung cho cả đám hát những bài hát được gọi là nhạc “cách mạng” như “Bão Nổi Lên Rồi”, “Tiến Về Saigon.”
Nhiều người thật nhạy bén. Đi trình diện ở tù, họ đem theo các bài hát nầy. Vào trại, họ tự tập hát lấy, rồi tập chung cho anh em, toàn đội. Trước khi họp hằng đêm, mọi người cùng hát, họp xong, lại cả đội cùng hát, trước khi đi ngủ.
Tôi vốn là người ưa hát, thấy mọi người hát, tôi cũng hát theo. Nhưng tới giờ ngủ, đèn tắt, tôi hát thầm cho tôi. Ban đầu thì tôi hát cho tôi, vài người nằm cạnh biểu hát to lên một chút cho họ nghe.
Dĩ nhiên tôi hát “nhạc vàng”.
Bài hát thấm thía nhứt là “Một mai giã từ vũ khí”. Anh Trần Hữu Lễ, nằm bên cạnh, biểu tôi hát cho anh ấy nghe nhiều lần. Có lẽ những câu như “Anh còn lại gì không, ngoài con tim héo em ơi!” làm cho anh ấy xúc động khi nghĩ tới thân phận anh, cũng như thân phận mọi anh em chúng tôi.
Anh Lễ, đã xấp xỉ bốn mươi, mới cưới vợ, trẻ hơn gần hai mươi tuổi. Đại úy Biệt Động Quân Ngô Duyên, cũng nằm bên cạnh tôi, thường hay hát “Thành phố buồn”. Anh ấy, gặp vợ anh lần đầu tiên ở Đà-Lạt.
Vài anh em khác cũng tìm cách giết thì giờ: Làm một bộ cờ tướng hay một bộ mạt chược đánh chơi. /
hoànglonghải
(1)-“Của làm ra để trên gác
Của cờ bạc để ngoài sân
của phù vân để ngoài ngõ
(tục ngữ)
(2)-Nước mắm đại dương: Nấu khoai mì trong chảo xong, phần bị cháy giữ lại, đổ vào ít nước và muối, thành một thứ nước hơi đen một chút, như màu nước mắm, nên tù cải tạo gọi là “nước mắm đại dương”. Đây là một sản phẩm từ “tính ưu việt của nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.
(3)- Ông Nguyễn Bỉnh, thường gọi là ông Thông Bỉnh, có lẽ ông từng làm “thầy Thông”, “thầy Phán” gì đó. Vợ ông họ Phan, cùng họ, cùng quê với mẹ tôi. Trước 1945, ông lỡ tay đánh chết một “con ở gái”, bị giam. Ông nhờ ông cha Tây ở nhà thờ Thạch Hãn, ngay thị xã Quảng Trị xin cho ra khỏi tù, khỏi bị truy tố, nhưng phải chịu phép “rửa tôi”. Năm 1954, ông rời Quảng Trị lên Cao nguyên làm ăn, và đắc cử Dân biểu Quốc hội ở đó, thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Con gái của ông là Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh, sau 1975, định cư ở Canada, nay đã về Việt Nam. Bà nầy học y khoa ở Saigon, đến năm thứ 3 thì bị đuổi học vì không đủ điểm lên lớp. Bà sang học y khoa ở Phnom-Pênh; năm cuối, các giáo sư y khoa bên đó, cho bà sang học ở Paris, nên bà có bằng bác sĩ ở Pháp. Sau khi tốt nghiệp, bà về Saigon. Các bạn đồng môn gọi mỉa bà là “Bác sĩ Kampuchia”. Hình như, – tôi nói hình như -, bà là vợ giáo sư Trần Văn Tấn, Viện trưởng Viện Đại học Saigon trước 1975. Ông nầy cũng ở lại Saigon sau tháng Tư/ 75. Em bà là trung sĩ Nguyễn Văn Diễn, tôi đã nói ở trên.
(4)-Đỗ Vinh, Quân Y Viện của binh chủng Nhảy Dù, trong khuôn viên trại Hoàng Hoa Thám, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù.
Tới giờ ăn chiều mà vẫn chưa thấy ba tôi gọi, nên tôi bảo khách sạn đem đồ ăn lên phòng cho chúng tôi, phòng khi ba tôi gọi. Đúng như vậy, khi hai mẹ con tôi đang ăn, ba tôi gọi. Ông tỏ ra rất vui vẻ vì đã được gặp nhiều bạn cũ, Nhật có, Mỹ có. Đó là những người đã ủng hộ ba tôi trong thời chiến. Tôi thầm tự hỏi, loại người Mỹ nào đã làm bạn với ba tôi trong khi nước họ tham chiến ở Việt Nam?
Tôi nghe giọng nói của ba tôi có vẻ mệt mỏi, nên đề nghị sáng mai sẽ gặp lại, để ông có thì giờ nghỉ ngơi. Ba tôi đồng ý ngay. Nhưng đến 10 giờ đêm, ba tôi lại gọi. Tôi tưởng có chuyện gì quan trọng, nhưng không, ba tôi chỉ muốn nói chuyện gia đình thôi. Tôi hiểu tâm trạng của ba tôi, một người xa gia đình hơn hai chục năm trời, thèm được biết về những người thân mình đã xa cách quá lâu, đến những chi tiết nhỏ nhặt. Về phần tôi, tôi cũng muốn biết về chú bác, cậu và các anh các chị bà con đã cùng ba tôi tập kết ra Bắc. Tôi hỏi đến những người bạn trong bưng biền của ông, kể cả “đồng chí” Lê Đức Thọ. Cuối cùng, ba tôi nói về chuyện du lịch. Ông say sưa tả cảnh mặt trời mọc ở Scandinavia. Tôi vui vẻ cho ông biết tôi mơ ước được trở về Mông Cổ. Ông tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi tôi lại sao lại “trở về” Mông Cổ. Tôi chậm rãi giải thích:
“Vì con nghĩ, con có máu Mông Cổ”.
Ông càng ngạc nhiên hơn:
Advertisement
“Tại sao?”.
“Ba đi rồi, con phải lớn lên một mình với nhiều khó khăn. Con phải tin là con vừa mạnh tinh thần lẫn thể xác. Con có đọc về Thành Cát Tư Hãn, con khâm phục ông đó lắm. Con chưa gặp một người Mông Cổ nào, nhưng con cảm thấy con gần với họ lắm. Sẽ có một ngày nào đó con sẽ đi thăm viếng cái nước huyền bí đó!”.
Ba tôi im lặng nghe tôi nói một hơi dài, rồi mới lên tiếng
“Ba lại tin rằng con sẽ mê nước Nga”.
Sáng hôm sau, tôi và ba tôi đi “bát phố”. Tôi gởi Lance cho tuỳ viên chính trị của toà đại sứ Mỹ ở Tokyo. Ông hứa sẽ cho Lance đi hồ tắm vào buổi trưa.
Ba tôi được ban tổ chức đại hội cho một người hộ vệ luôn luôn theo sát bên cạnh. Anh ta ngồi như một pho tượng bên cạnh tài xế. Mắt anh láo liên như mắt con báo. Anh rành phố xá Tokyo nên khi biết chúng tôi muốn mua một cây đàn guitar, anh xổ một tràng tiếng Nhật với tài xế thì chúng tôi được taxi đưa đến khu Ginza.
Tôi bỗng có linh cảm bị theo dõi. Tôi thầm tự nhủ phải thận trọng, phải ngó trước coi sau. Thế là tôi có cảm tưởng mình là điệp viên thứ thiệt. Tôi sử dụng ngay “kinh nghiệm của một gián điệp”. Kinh nghiệm của tôi là những kinh nghiệm học được trong những cuốn tiểu thuyết và phim ảnh gián điệp. Hồi đó, tôi rất thích đọc sách của nhà văn Sidney Sheldon. Sau nhiều lần ngó quanh, liếc nhìn về phía sau, tôi thấy có một người đàn ông da trắng, ăn mặc sang trọng, đi theo chúng tôi. Khi chúng tôi bước vào tiệm bán đàn, ông ta cũng vào theo. Sau khi ba tôi mua đàn, chúng tôi vào một tiệm giải khát, người đàn ông cũng theo vào, nhưng không mua nước uống.
Khi ba tôi ngỏ ý muốn mua đồ chơi cho con nít, tôi mới biết tôi có một người chị nuôi cỡ tuổi tôi. Cha mẹ cũng tập kết ra Bắc. Nhưng không biết tại sao cả hai đều chết, rồi ba tôi nhận nuôi chị ở Hà Nội. Chị được ba tôi gởi đi học kỹ sư ở Liên Xô, cùng thời với anh Khôi, anh Trung, và chị Thu Vân. Ba tôi gả chồng cho chị cùng một năm tôi Iập gia đình với John. Nhưng tôi chưa hỏi gì thêm về người chị nuôi, thì đã thấy người đàn ông da trắng lúc nãy lại xuất hiện. Lần nầy tôi quyết định nhìn rõ ông hơn. Tôi thấy ông có đôi mắt sắc bén màu xanh, da trắng bạch của dân Âu châu. Tôi đoán ông ta là thằng Tây, hay là một nhân viên KGB. Khi thấy tôi lại gần, ông lẳng lặng bỏ đi.
Khi ông ra khỏi tiệm, tôi mới biết ba tôi cũng để ý đến người đó. Ông nói nhỏ với tôi:
“Ba nghĩ mình bị theo dõi!”.
Tôi đùa:
“Người của ba hay của con theo dõi?”.
Ba tôi có vẻ ngạc nhiên, nhưng không nói gì.
Sau đó chúng tôi trở về khách sạn của ba, tôi về khách sạn của tôi. Ba muốn tôi trở lại sau giờ ba tôi ăn trưa với những người trong phái đoàn; ba sẽ không ngủ trưa hôm đó.
Hai giờ, tôi trở lại khách sạn Prince để gặp ba tôi. Khi vào phòng ông, tôi thấy ông đang ngồi cạnh một xấp giấy, trông giống thẻ căn cước, nhưng lớn hơn. Tôi tò mò cầm một thẻ lên coi thì biết rằng đó là giấy gọi nhập ngũ của Mỹ. Giấy nầy đã gởi đi vào tháng 7 năm 1969 cho một thanh niên 19 tuổi.
Lúc đầu, tôi nghĩ đây là thẻ động viên của một người lính Mỹ tử trận. Tôi bỗng nghe một niềm thương cảm tràn ngập trong lòng. Chết cho tổ quốc là một vinh dự. Nhưng tình thương ấy bị dập tắt ngay khi ba tôi cho biết những thẻ động viên mà ba tôi đang để trên mặt bàn là những thẻ của những tên phản chiến. Khi chúng nhận được lệnh nhập ngũ thì bỏ trốn, rồi gởi những thẻ này đến toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tôi giận tím người khi biết chúng là những tên phản quốc. Như đổ dầu vào lửa, ba tôi vui vẻ nói:
“Điều đó chứng tỏ rằng Mỹ đã sai lầm khi tham chiến ở Việt Nam”.
Tôi chưa cần phân tích xem Mỹ sai lầm ở chỗ nào, nhưng đã nhận ra một sự thật làm tan nát tim tôi. Đó là sự ngăn cách giữa hai cha con tôi quá lớn. Chúng tôi gặp nhau chỉ để xa nhau thêm mà thôi. Mỗi người đã quyết định tiếp tục đi con đường riêng của mình. Lẽ thường ở đời, ai không muốn ngả theo phe thắng để mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Nhưng tôi thì không, tôi nhất định đi con đường của tôi. Không bao giờ tôi phản lại Quốc Gia, phản lại lý tưởng mà gia đình tôi đã đi theo. Vì lý tưởng, em trai tôi đã chết khi mới chập chững bước vào binh nghiệp.
Tôi nghiêm giọng nói với ba tôi:
“Hạng người phản chiến nầy chỉ là những tên phản quốc, hèn nhát, nên mới gởi những thẻ quân dịch nầy cho kẻ thù”.
Ba tôi lắc đầu:
“Mỹ nhảy vào Việt Nam là một sai lầm to lớn. Những người Mỹ trẻ nầy đã sáng suốt nhận ra như vậy”.
Tôi cãi:
“Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ có một sai lầm tai hại và trách. Đó là việc họ Vietnamization để rút bớt quân, mặc một mình quân lực Việt Nam Cộng Hoà chiến đấu chống Bắc Việt, trong khi Bắc Việt vẫn được Liên Xô và Tàu Cộng tiếp tay. Sự sai lầm nầy do các chính trị gia xa-lông của Mỹ chủ xướng. Họ ngay thẳng, thật thà, làm sao hiểu nói cái lưu manh của cộng sản. Vậy khi Liên Xô và Tàu Cộng viện trợ khí giới cho các du kích của Mặt trận Giải phóng giết đồng bào, thì có chính nghĩa không?”.
Ba tôi chưa kịp có ý kiến gì, tôi đã nói tiếp:
“Cuộc chiến nầy sai bét vì người Việt lại giết người Việt!”.
Trong khi tôi nói thao thao, ba tôi ngồi làm thinh, nên chính tôi cũng thấy tội nghiệp ông. Tôi thầm công nhận, ông hiền khô.
Ông dịu dàng nói:
“Ba không muốn tranh luận với con gái cưng của ba. Vì ba không bao giờ muốn thay đổi cách suy nghĩ của con. Nếu con hài lòng với niềm tin của con, tức là con đang có hạnh phúc. Cha mẹ nào mà không muốn con cái mình có hạnh phúc. Đối với ba, gia đình rất đáng quý”.
Ba tôi nói dịu dàng như vậy, má tôi vẫn khiêu chiến:
“Nhưng đảng của ba còn đáng quý hơn tụi con!”.
Ba tôi chậm rãi:
“Đất nước trên hết đối với ba. Con can đảm, con đã tự lập, con lo cho con được. Con OK”.
Nói xong hai chữ “OK” ba tôi cười vui vẻ. Thấy ông vui, tôi trả lời:
“Tất cả người dân miền Nam cũng đã OK. Vợ của ba, con cái của ba đều là hình ảnh của người dân miền Nam sống đơn sơ và hạnh phúc. Chúng con không có gì khác biệt với mọi người. Những nhu cầu, những mơ ước của chúng con đều là nhu cầu và mơ ước của hàng triệu dân miền Nam. Và mọi người đã OK, cho đến ngày Hà Nội đem quân xâm chiếm miền Nam”.
Ba tôi gật đầu:
“Ba biết rõ những nhu cầu của người miền Nam. Ba hứa sẽ cố gắng hết sức mình để đáp ứng những nhu cầu đó”.
Tôi chưa kịp nói gì thêm, ông đã đề nghị:
“Mình nói chuyện khác đi, con”.
Tôi đến ngồi cạnh ông, rồi ôm chặt lấy ông. Ba tôi cho biết đêm qua ông thức quá nửa đêm để ngắm hình gia đình. Ông khen các cháu ngoại của ông “đẹp như tiên”. Cuối cùng, ông ngỏ ý muốn má tôi về ở với ông.
Chúng tôi bàn tính cách thức và lịch trình đưa má tôi sang Paris. Nhiệm vụ của tôi là phải xin giấy thông hành cho má. Lúc ấy, bà chưa có giấy tờ gì hết, ngoài chứng chỉ nhập cảnh tỵ nạn cộng sản. Nhiệm vụ của ba tôi có phần khó hơn một chút. Ông phải xin giấy nhập cảnh Pháp. Ba tôi sẽ phải nhờ một vài người bạn Cộng sản Pháp đang làm trong Bộ ngoại giao ở Paris.
Chúng tôi đang bàn tánh, thì anh thông ngôn gõ cửa mời ba tôi đi ăn trưa. Ba tôi ngỏ ý muốn ăn ngay ở trong phòng, nhưng anh cho biết hôm nay ba tôi có khách. Đó là phái đoàn của đạo Quaker từ Mỹ sang. Họ muốn gặp ông đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
o O o
Tôi vẫn có thôi quen viết nhật ký, nhất là vào thời gian đi gặp ba tôi. Mọi việc xảy ra quá nhanh, nhiều khi như một cơn lốc nếu không ghi lại làm sao tôi có thể nhớ hết được. Chính nhờ những dòng nhật ký nầy mà tôi hiểu được ba tôi, một nhà ái quốc chân chính, nhưng đã đi lầm đường. Bao nhiêu công sức của ông đóng góp cho đất nước đã biến thành công dã tràng.
Tôi nhớ, năm 1972 tôi bỗng nhận được thư của ba tôi gởi từ Milan, Ý, khi ông đang đi công tác. Thơ nầy được một người bạn ở Paris chuyển cho tôi. Thơ viết như sau:
“Con yêu quý, ba rất hãnh diện về gia đình ta. Tất cả đối với ba đều đáng quý và đáng phục. Ba rất thương má đã một mình nuôi sáu đứa con trong suốt 18 năm trời ròng rá. Ba thường trách ba, vì ba mà người vợ chung thuỷ và can đảm phi thường của ba phải sống đơn chiếc trong một quê hương nhiều xáo trộn, điêu linh… Đối với các con, ba vẫn mơ ước được trực tiếp săn sóc, dạy dỗ cho từng đứa. Vậy mà ba đã bỏ rơi các con, mặc cho các con lớn lên một mình với nhiều thử thách gay go. Ba chẳng bao giờ có thể quên được cái chết của Hải Vân.
Ba vẫn tin rằng gia đình ta sẽ có một ngày đoàn tụ, ngày ấy không xa. Mới đây, nhận được thơ con, ba cứ thẫn thờ như người đi trong mộng, không làm được việc gì hết. Suốt đêm ba mơ thấy con sang Moscow thăm ba. Rồi ba nhớ lại chuyện đã qua. Nhớ lại ngày ba ra đi, má mới có 37 tuổi, con mới lên 9, Hải Vân 6 tuổi, Hoà Bình 2, còn Minh Tâm vừa tròn 3 tháng.
Hải Vân rất thông minh, ba còn nhớ hồi nó mới 4 tuổi, một đêm ba bơi xuồng đưa nó ra giữa sông Ong Vèo để chỉ cho nó biết tên các ngôi sao. Bỗng nó chỉ mặt trăng mà hỏi ba có biết tại sao tối nay chỉ có một nửa mặt trăng không? Ba trả lời là ba không biết, thì nó nói nó đã bẻ làm hai, một nửa vẫn ở trên trời, còn một nửa nó ném xuống sông.
Lúc đó, em con đã cho ba thấy nó có khiếu về âm nhạc. Cho đến nay, ba vẫn nhớ những ngón tay bé nhỏ của nó lướt trên mấy phím đàn mandoline mà ông ngoại đã cho các con. Ba không ngờ em con lại vắn số như vậy. Bây giờ, má con còn có thể đi thăm mộ Hải Vân hàng tuần, còn được tự do khóc thương nó, nói lên được nỗi đau đớn cũng như đắng cay vì mất nó, má con cũng còn có thể đốt cho nó nén hương. Trong khi đó, ba không có thể làm gì được, chỉ âm thầm giấu nỗi đau của sự mất mát trong lòng. Ba không sao quên được gương mặt tươi rói đầy sự sống của em con và bên tai ba vẫn văng vẳng nghe tiếng cười của nó…”
Hai mươi năm trước, ba tôi ra đi và hứa hai năm sẽ trở về. Nhưng tình hình đất nước mỗi ngày một thay đổi, khiến gia đình tôi phải chịu đựng cảnh chia cách, không những chia cách về không gian mà còn chia cách cả về tư tưởng nữa. Nhưng tôi tin rằng ba tôi không bao giờ có ý định dụ dỗ tôi hoặc thuyết phục tôi nghiêng về phía cộng sản. Vì thế, khi muốn đả kích cộng sản Hà Nội, tôi cũng phải biết “vuốt mặt mà nể mũi”, lựa lời để ba tôi khỏi buồn hay chạm tự ái.
Khi cờ đỏ sao vàng bay trên nên trời miền Nam, ba tôi cho đó là ngày trở về. Nhưng ngày đó lại chính là ngày gia đình tôi phải bỏ nước ra đi.
Ba tôi nhắc đi nhắc lại với tôi rằng:
“Người Việt Nam đã tái lập hòa bình, đã tự nắm lấy vận mạng và tương lai của đất nước mình. Bấy giờ là lúc chúng ta hàn gắn lại những vết thương do chiến tranh gây nên, để xây dựng lại quê cha đất tổ. Đây không phải là trách nhiệm của riêng đảng, mà là của tất cả những người yêu chuộng hoà bình ở Việt Nam. Ai ai cũng phải đóng góp vào chương trình nầy. Ba của con là một trong những người được giao phó nhiệm vụ nầy.
Nghe ba tôi nói như vậy, tôi thầm tội nghiệp cho ông, vì tôi biết cái mà ba tôi gọi là tự do, chỉ là bánh vẽ nhằm lừa bịp mọi người. Ba tôi sẽ thất vọng.
Có lẽ vì xa chúng tôi đã lâu ngày, nên ba tôi có mặc cảm tình cha con phai lạt, nên cứ nhắc nhở:
“Hãy thương ba! Hay chung thuỷ với ba như con chung thuỷ với dân tộc Việt Nam”.
Trước khi ba tôi rồi Tokyo để bay qua Pháp, chúng tôi đã được sống những ngày thần tiên trên đất nước lạ hoắc nầy. Trong khi nói chuyện với ông, tôi phải hết sức giữ ý giữ tứ, và lựa lời khỏi làm mất lòng ông. Chẳng hạn, nếu tôi chửi cộng sản nặng quá, tôi có thể gặp phản ứng mạnh của ông, vì tôi đã xúc phạm tới “tôn giáo” của ông. Ở các nước tự do, chúng ta tôn trọng tín ngưỡng của nhau, vậy tốt nhất, tôi không nên đả động gì tới “tín ngưỡng” của ba tôi.
Vì ba tôi đã coi chủ nghĩa cộng sản như một thứ “tôn giáo”, mà ông lại là người rất “ngoan đạo”, nên tôi biết, tôi không thể dụ ông đào thoát ở lại vùng tự do với gia đình. Tôi nghĩ đến người anh có tâm hồn nghệ sĩ, phóng khoáng của tôi, đó là anh Khôi. Tôi đã mấy lần xa xôi thăm dò ý kiến của ba tôi về “âm mưu” này. Ông im lặng, cái im lặng thuận tình mà không dám nói ra. Thế là tôi thầm biết rằng ba tôi cũng muốn anh tôi ra khỏi Việt Nam; trường hợp nầy, tốt nhứt cho ba tôi là không thấy, không nghe, không nói, là tạm ổn cho ông.
Anh tôi sẽ ra đi băng cách nào? Tôi nói chuyện với Rob Hall, một nhân viên của CIA hiện đang có mặt ở Tokyo. Tôi đề nghị CIA tuyển mộ anh, với điều kiện là phải đưa anh sang Mỹ một thời gian ngắn. Vì chuyện nầy liên quan đến tính mạng của anh, nên tôi phải hết sức thận trọng. Tôi muốn làm chủ tình hình hơn là để CIA làm theo dự tính của họ. Nếu họ làm theo ý họ, tôi sẽ trở thành đui và điếc, mà đã đui và điếc thì làm sao cứu được con trai của một cán bộ cao cấp cộng sản.
Tôi cho Rob Hall biết ý định của tôi và yêu cầu ông giúp tôi. Tôi muốn viết cho anh Khôi một lá thơ, thì CIA miễn cưỡng bằng lòng. Sau đó, ông cho biết viên kỹ sư của CIA sẽ gài một kinh để đọc “micro dot” vào một máy tính, trong đó sẽ gồm cả những lời chỉ dẫn để đọc “micro film”. Lúc đầu, viên kỹ sư có ý định bỏ micro film trong một máy chụp hình, nhưng tôi không chịu, vì sợ rằng cán bộ cộng sản sẽ ăn cắp mất máy hình, thì cuốn phim bí mật cũng mất theo luôn. Tôi đề nghị thay thế cái máy hình bằng một máy tính, vì lúc đó (năm 1975) chưa có cán bộ nào biết sử dụng máy tính. Loại nầy chỉ dành riêng cho các kỹ sư. Họ đồng ý. Chúng tôi bắt tay ngay vào làm việc ngày đêm không nghỉ.
Tôi viết đi viết lại một cách thận trọng nhưng rõ ràng một bức thư, cho anh Khôi biết những gì em gái của anh có thể làm được, nhằm giải thoát anh khỏi chế độ cộng sản. Tuy nhiên, mọi quyết định vẫn ở trong tay anh. Cuối thư, tôi viết cho anh như sau:
“Em chỉ giúp anh đào thoát, đưa anh đến bến tự do, nếu anh muốn. Quyền quyết định là của anh. Em cũng xin nói để anh rõ, chúng mình không làm chuyện nầy vì đồng tiền, mà cũng không muốn anh phản quốc. Em chỉ muốn anh được sống trong tự do nửa cuộc đời còn lại với má và chúng em”.
Những lời nhắn nhủ ấy, tôi giấu kín trong những dòng nhạc mà tôi đã mua cho anh ở phố Ginza mấy ngày sau khi ba tôi và tôi mua cho anh cây đàn guitar.
Khi đưa máy tính cho ba tôi đem về Việt Nam, tôi cẩn thận hỏi xem ba tôi có bị xét hành lý không, thì ông vui vẻ cho biết:
“Không, con à. Không ai xét túi của ba đâu”.
Dù tôi cũng phải thận trọng, vì chuyện nầy có thể đe doạ tính mạng của anh tôi, và tai tiếng của ba tôi.
Bây giờ tôi đã có thể thảnh thơi viết cho anh một bức thơ thường của em viết cho anh. Đây cũng là bức thơ đầu tiên trong đời tôi viết cho anh, kể từ ngày tôi mò mẫm từng chữ trong quyển tập vỡ lòng vào năm 1954. Tôi cho anh biết, má tôi hay nhắc tới “thằng con yêu quý của má” hồi mới lên 5, lên 5. Với những kỷ niệm nho nhỏ nầy, tôi đã cố gắng tìm cách chỉ dẫn cho anh mò ra cái bí mật mà đứa em tinh quái nầy gởi về cho anh. Tôi bóng gió cho anh biết trong cái máy tính, giữa những sợi dây chằng chịt có một vật đặc biệt mà anh phải cố tìm cho ra. Tôi nhắc lại chuyện ngày xưa, viết một câu như sau:
“Anh có nhớ hồi anh 6 tuổi, ba cho anh một cây kèn harmonica, anh đã làm gì ngay đêm đó không? Em muốn anh hãy làm như vậy sau khi nhận được cái máy tính nầy”
Tôi cầu Trời khấn Phật cho anh có đủ trí khôn và trí nhớ để biết tôi nhắc lại chuyện anh lấy dao cạy cây harmonica coi bên trong có gì mà phát ra những âm thanh thánh thót như vậy. Nếu anh cũng làm như vậy với cái máy tính, anh sẽ biết tôi đang hợp tác với một nhóm người có thể giúp anh trốn khỏi Việt Nam để qua Mỹ. Tôi cũng dặn anh là từ nay nếu nhận được quà của tôi, anh phải tìm ngay những tin mật tôi giấu trong món quà liên quan đến sự sống còn và tự do của anh. Chớ tôi sẽ không bao giờ gởi quà cáp mà không có giấu bí mật trong đó.
Ngày ba tôi rời Tokyo đi Paris cũng là ngày tôi và Lance lên đường trở về Hawaii để sửa soạn cho ngày hội ngộ của ba má tôi tại thủ đô ánh sáng, mà cũng là thủ đô của một nước đã từng dày xéo, đô hộ nước tôi suốt một trăm năm trời.
Tôi nghe hơi ấm của ánh nắng xuyên qua cửa kiếng chỗ tôi đang ngồi viết nhật ký. Ngước nhìn lên, tôi thấy mặt trời đi cao ngoài cửa sổ, 6 giờ! Thế là tôi đã thức suốt đêm.
Lance còn ngủ say, cái chăn tuột khỏi chân, một tay ôm con khỉ, tay kia để dưới đầu. Cách ngủ của nó giống ba nó như đúc. Tôi thầm nghĩ: “Giống gì mà giống dữ vậy!”.
Tôi bỗng nghe ê ẩm cả người vì đã ngồi suốt đêm. Tôi uể oải đứng lên và cảm thấy buồn ngủ quá. Nhưng tôi biết, nếu tôi ngả lưng nằm xuống giường, thế nào tôi cũng ngủ tới trưa. Tôi không có thì giờ để ngủ, vì đã tới giờ cho Lance ăn sáng, để còn đi thăm ông ngoại. Khi hai mẹ con ngồi trong taxi đi tới khách sạn Prince, tôi bắt đầu nói về ba tôi cho đứa bé 5 tuổi nghe. Ông ngoại của nó là một nhân viên của Bộ ngoại giao ở Sài Gòn, và bây giờ đang ở Nhật để tham dự một buổi họp quốc tế.
Nó có vẻ suy nghĩ, rồi cau mày nói:
“Nếu ông ngoại ở Sài Gòn bây giờ, thì ông phải là cộng sản!”.
Tôi giựt mình về nhận xét của một đứa bé mới 5 tuổi. Tôi phải tìm lời trấn an nó:
“Lance nói đúng. Nhưng đừng quên ông là ông ngoại Lance, và ông muốn gặp con lắm”.
Nó đáp ngay:
“Lance hổng sợ”.
Tôi dặn dò nó:
“Trong phòng ông ngoại có thể có người ra vào, vì họ làm việc với ông. Vậy con đừng nói gì đến Daddy của con nhen, nhất là đừng cho ai biết Daddy là phi công. Đây là bí mật của mình, đừng nói cho ai nghe nhen”.
Lance liền hỏi:
“Daddy của Lance có bỏ bom Hà Nội không?”.
“Mommy không biết”.
Lance nhỏ giọng:
“Má nói cho Lance biết đi. Lance hứa không nói cho ai biết đâu”.
“Chừng nào mình về nhà, con hỏi Daddy nhen”.
Vừa nói tôi vừa hôn lên tóc thằng nhỏ và cười thầm, vì nó ráng làm ra vẻ người lớn.
Có lẽ ba tôi đã đợi ở cửa lâu, nên tôi vừa gõ, cửa đã mở ra. Sáng nay trông ba tôi có vẻ vui hơn hôm qua. Tóc ông chải gọn gàng, áo sơ mi trắng ủi thẳng nếp, và cái cà vạt màu xanh, sọc xám mới tinh. Ba tôi xớt Lance lên tay; tôi đi sau khép cửa lại. Nhìn ba tôi hôn lên tóc Lance, tôi nhớ lại hồi tôi còn nhỏ, ba tôi cũng hay hôn lên tóc tôi, rồi nói: “Tóc con thơm như bông bưởi trong vườn bà ngoại”.
Ba tôi nói chuyện với Lance bằng tiếng Việt. Rất may là lúc đó Lance còn nói và hiểu được tiếng Việt rất nhiều. Nó còn nói được một cách văn vẻ. Lance đề nghị:
“Ông ngoại về ở với Lance và má Lance được không?”.
Ba tôi ôm cứng Lance vào lòng nhưng không trả lời. Lance nói thêm:
“Daddy của Lance sẽ thương ông ngoại nữa. Daddy nói vậy rồi mà!”.
Ba tôi vui lắm, càng ôm cứng Lance vào lòng, rồi thủ thỉ bên tai nó:
“Thank you… Thank you, my grandson”.
Lance tiếp tục dụ dỗ ông ngoại:
“Bà ngoại nhớ ông lắm. Bà viết thơ cho ông mà khóc”.
Nói xong, Lance tuột xuống khỏi vế của ông ngoại, chạy đến mặt tôi, xoè hai tay ra để đòi lá thơ của bà ngoại viết cho ông ngoại. Tôi vui vẻ đưa cho nó. Nhưng ba tôi không đọc ngay, bỏ vào túi áo, rồi lại ôm cháu mà hôn lên trán nó.
Nhìn hai ông cháu âu yếm nhau mà tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn Chúng tôi vô cùng yêu thương nhau, nhưng vì khác lý tưởng, chúng tôi đã xa cách ngàn trùng, mỗi người đi một con đường riêng. Tôi đã chịu nhiều đau đớn âm thầm từ ngày miền Nam sụp đổ, trước mắt tôi lúc nầy là người cha vô cùng thương yêu của tôi. Nhưng đồng thời, ông cũng là một đại diện của những người đang nắm quyền ở đất nước tôi, tức là những kẻ đã xâm chiếm miền Nam, tức kẻ thù của dân Nam.
Trong khi tôi đau buồn suy nghĩ như vậy, ba tôi vẫn vui vẻ, thản nhiên vui với cháu ngoại.
Tôi đang suy nghĩ vẩn vơ, bỗng có tiếng gõ cửa. Ba tôi hơi giật mình, chau mày nhìn ra cửa, nụ cười tươi trên môi ông biến mất. Ông bước ra mở cửa. Một người đàn ông Việt Nam khoảng 30 tuổi cung kính chào ba tôi. Ông gọi anh ta là “đồng chí”, mời anh ta vào phòng, rồi nói:
“Tôi muốn đồng chí gặp một người đồng hương, cùng làng với tôi ở Cần Thơ”.
Tôi hiểu ý ba tôi ngay, nên từ đó tôi gọi ông là “Bác Năm”. Người “đồng chí” đó là người thông ngôn của ba tôi. Anh ta có thể thông thạo ba thứ tiếng: Nhật, Anh và Pháp.
Khi anh ta thấy Lance có mặt ở trong phòng mà chúng tôi chưa kịp giới thiệu, tỏ vẻ bối rối, bắt tay cháu rồi nói:
“Bonjour!”.
Lance nói ngay:
“I don’t speak French. I only speak English and Vietnamese!”.
Lần đầu tiên tôi thấy con tôi rụt rè mà nóng ruột. Sau khi trả lời mấy câu hỏi xã giao của anh thông ngôn về tuổi tác, học hành, Lance nhìn người thông ngôn và hỏi lại:
“Cậu là cộng sản, phải không?”.
Ba tôi và tôi đều giựt mình, nhưng anh thông ngôn mỉm cười, thản nhiên trả lời:
“Phải!”
Thằng nhỏ bỗng có vẻ sợ, nhích ra xa anh thông ngôn một chút vì đang cùng ngồi trên ghế dài. Nó nhìn thẳng mặt anh mà hỏi:
“Cậu sẽ giết Lance và má Lance, phải không?”.
Anh ta nhìn tôi, nhưng tôi nhìn xuống đất. Anh quay lại hỏi Lance:
“Sao em lại hỏi vậy?”.
“Má của Lance giúp mấy người chạy trốn. Người ta nói người ta sợ cộng sản, người ta chạy trốn. Lance không muốn cậu giết Lance nhen”.
Ba tôi ra dấu cho tôi bảo cháu ngưng nói. Tôi phải “hối lộ” thằng nhỏ cái bánh croissant và ly nước cam. Nó chạy sang bàn ăn, nhưng mắt vẫn không rời khỏi anh thông ngôn. Anh nói nhỏ với ba tôi mấy câu rồi đứng dậy, đi về hướng cửa, Lance lại còn nói thêm:
“Lance muốn cậu tử tế với người Sài Gòn, nghen cậu. Lance có ở Sài Gòn rồi, người ta thương Lance lắm!”
Anh thông dịch viên hơi lúng túng, rồi bước lại gần nó, nói:
“Cậu sẽ tử tế với người Sài Gòn, cháu đừng lo!”
“Daddy của Lance là ông Mỹ, thấy người chết ở Sài Gòn thì buồn lắm. Daddy nói cộng sản giết người ta”.
Người đồng chí của ba tôi nhìn tôi mà không nói được một lời, mở cửa bước ra.
Ba tôi lắc đầu tỏ vẻ bực mình vì lời nói thẳng của thằng cháu ngoại mới 5 tuổi, rồi bảo tôi:
“Ngày mai con nên đến một mình. Vì sẽ có nhiều người tới đây gặp ba với nhiều việc phải làm!”.
“Con xin lỗi ba”.
Ba tôi chép miệng:
“Khi người lớn đầu độc con nít thì con nít đâu có đáng trách”.
Tôi lắc đầu, cãi:
“Ba à, con đâu có đầu độc nó. Con nói cho nó biết cái gì con tin là sự thật, chừng nào nó lớn khôn, tự nó nó chọn. Ba dạy con trong tinh thần cách mạng, con làm cách mạng tư tưởng, khi con dám nhận biết cái nào hiền, cái nào ác, và con không chọn cái ác”.
Ba tôi im lặng, rồi kéo ghế kêu tôi ngồi vào bàn ăn điểm tâm với ông. Ba tôi vẫn giữ thói quen uống trà buổi sáng. Tôi nhớ lại hồi còn ở trong vùng giải phóng, sáng nào ba má tôi cũng cùng uống nước trà trong bếp, trước bếp lửa. Ba tôi hãnh diện là có người vợ hiền, đã sẵn sàng chia sẻ cực khổ cùng chồng. Mặt ba tôi tươi hẳn lên khi tôi nhắc lại chuyện đó. Thấy ông vui, tôi nhẹ nắm tay ông, rồi hỏi:
“Ba có tin là con nói với ba với tất cả lòng chân thành từ tim con không?”.
Ba tôi gật đầu, đáp:
“Ba biết con chân thành, nhưng con không hiểu được cái phức tạp của nhiều vấn đề chánh trị”.
Tôi ngập ngừng một chút rồi đề nghị:
“Hà Nội đã thành công trong việc xâm chiếm miền Nam, bây giờ đến luợt tụi con… giành lại ba, ba nghĩ sao?”.
Tức thì ba tôi bật người lên, vội đưa tay bụm miệng tôi, như sợ có ai nghe được câu nói của tôi. Ông còn kéo tôi đến gần radio, vặn to lên, ghé tai tôi mà nói:
“Ba không muốn nghe con nói như vậy. Lần nầy ba bỏ qua cho con, vì con chưa hiểu ba chút nào. Nhưng lần sau, con không nên nói đến chuyện nầy”.
Tôi kinh ngạc vì cơn giận của ông. Tôi cho rằng, đối với chuyện đất nước, ba tôi đã làm tròn bổn phận của một người yêu nước. Bây giờ, mọi chuyện đã xong, đất nước đã hoà bình, người ta có quyền nghĩ đến sự đoàn tụ gia đình. Vậy thì ba tôi trở về với vợ con là chuyện nên làm, có gì sai trái đâu. Tại sao ba tôi lại hoảng sợ, giận dữ, cấm đoán tôi nói tới việc đoàn tụ gia đình?
Tôi thở dài, nói:
“Con bắt đầu thấy hai chiếc xe lửa chạy trên hai đường rầy khác nhau rồi, ba ơi. Sau cuộc chiến kéo dài mấy chục năm ai cũng mơ ước được trở về với gia đình, chỉ có ba là chối bỏ con đường đó thôi”.
Ông nói với một giọng cương quyết:
“Ba sẽ không tìm cách thay đổi tư tưởng của con, thì ba xin con đừng chà đạp lên lý tưởng của ba”.
Tôi bật khóc, vì tôi không ngờ cái hố ngăn cách giữa ba tôi và tôi lại rộng và sâu như vậy. Tôi nghẹn ngào nói:
“Nhờ ba, con hiểu được nỗi đau của một dân tộc nhược tiểu bị ngoại bang áp bức, từ đó lòng yêu nước phát sinh. Ba đã dạy con nhiều thứ lắm. Nhờ ba mà lúc nào con thấy một tia ánh sáng cho quê hương, con sung sướng vô cùng. Suốt đời, ba đã hy sinh cho lý tưởng của ba, bây giờ đã đến lúc ba phải được hưởng hạnh phúc gia đình, để tụi con biết thêm về ba của con. Ba thấy hông, mình không hiểu nhau gì hết!”.
Ba tôi vui vẻ trở lại:
“Ba rất cảm động khi biết con quan tâm nhiều đến ba. Đó là cái danh dự của người cha. Nhưng con gái cưng của ba hãy nghe đây, nghe để con không lập lại lời yêu cầu đó nữa. Việt Nam cần tất cả những bàn tay xây dựng, để hàn gắn những vết thương do chiến tranh gây nên, phải phục hồi kinh tế để bằng người ta. Con nói con thương Việt Nam, thì con phải chia sẻ giấc mơ của ba, giấc mơ xây dựng một Việt Nam hùng cường, độc lập”.
Tôi vẫn chưa chịu thua, nên lại nói:
“Làm sao mà dân có thể giầu, nước có thể mạnh, khi con người không có tư hữu, không có cả tự do, vì đảng của ba đã tước đoạt hết mọi quyền của con người”.
“Ba chỉ hứa được với con, là ba sẽ phục vụ với hết sức của mình để Việt Nam được hùng cường”.
Rồi ba tôi đưa tay ra bắt tay tôi, không nói, nhưng cả hai đều hiểu rằng đây là một khế ước. Ba tôi sẽ làm phận sự của ba, còn tôi không được năn nỉ ba tôi rời bỏ đảng. Đến đây, ba tôi bỗng thay đổi đề tài:
“Bao giờ con có thể thu xếp cho má sang Paris gặp ba được?”.
Tôi hứa:
“Con sẽ lo việc nầy liền khi con về Hawaii”.
“Má có giận ba nhiều lắm không con?”.
Tôi ngạc nhiên vì giọng nói e ngại, rụt rè của ba tôi. Giọng nói nầy khiến tôi nhớ đến những đứa bé trót làm lỗi, muốn biết mình lỗi nhiều ít ra sao, chớ không muốn sửa chữa lỗi lầm.
“Hồi tụi con còn nhỏ, đời sống của gia đình mình thật khó khăn. Má nhọc nhằn lắm, nên nhiều khi má than thở “phải chi có ba tụi con ở nhà tiếp má”!”.
Ba tôi nghẹn ngào nói:
“Con có biết không? Từ ngày lấy má, ba không làm ra một xu con nào hết. Má con gánh vác hết mọi việc trong gia đình với sự giúp đỡ của ông ngoại bà ngoại. Ba mang nợ má nhiều lắm, Dung à. Ba đã nhiều lần hối hận, vì hồi đó ba không đưa má và tụi con ra Hà Nội với ba”.
Tôi giật mình, hỏi:
“Con tưởng đó là quyết định của má?”.
“Đúng, đó là quyết định của má. Nhưng ba có lỗi là không chịu thuyết phục má”.
Tôi cười lý lắc, hỏi:
“Ba có nghĩ là nếu cả gia đình ta ra Bắc hồi đó, tụi con bây giờ là đảng viên cộng sản hết không?”.
Ba tôi lắc đầu, đáp ngay bằng một giọng nghiêm nghị:
“Không phải dễ gia nhập đảng đâu con. Anh Khôi con không được vô đảng cũng vì hạnh kiểm. Nó không phải là đảng viên. Lúc học trung học ở Bắc Kinh, nó tổ chức tuyệt thực phản đối nhà trường ngược đãi con em của cán bộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Lúc ở Hà Nội thì vừa làm vừa chơi, sang Liên Xô lo học đàn hơn học quân sự. Đã vậy, nó lại xin giải ngũ ngay sau trận Hạ Lào.
Tôi lo lắng hỏi:
“Ba có thất vọng về anh Khôi không, ba?”.
“Không, anh của con chỉ không cố gắng để được vô đảng thôi, nhưng ba mừng cho sự học vấn của nó; đối với nó, học hành là quan trọng nhứt”.
“Má lo cho anh Khôi lắm, ba à. Má cứ thắc mắc không biết ảnh ra sao? Đã trở thành con người như thế nào, sau những năm sống với cộng sản? Liệu ảnh còn là đứa con trai chân thật, tử tế không, liệu ảnh có còn là thằng con trai má thương, má quý, sau thời gian ảnh sống ở Liên Xô?”.
Ba tôi vui vẻ trấn an:
“Má sẽ có dịp gặp lại anh con, và lúc đó sẽ biết rõ”.
Chúng tôi nói chuyện đến đây thì phải chia tay, vì đã đến giờ ba tôi phải đến địa điểm tập họp đi biểu tình. Ông hứa sẽ gọi ngay sau khi trở về khách sạn. Chúng tôi dự tính đi mua sắm lặt vặt. Ba tôi muốn mua một cây đàn guitar làm quà cho anh Khôi.
Khi ôm ông ngoại để từ biệt. Lance mời ông tới chơi khách sạn của nó. Nhưng tôi biết, với tư cách một nhà ngoại giao, đâu có dễ ra khỏi khách sạn đang ở mà không có tuỳ tùng, kể cả ông thông ngôn.
Trên đường trở về khách sạn, tôi ngạc nhiên khi nghe Lance nghĩ sâu xa về hoàn cảnh của tôi và ba tôi, và lo cho thân phận nó. Lance vừa khóc vừa nói bắng tiếng Anh:
“Con không để Daddy của con ở xa con đâu. Con sẽ khóc đến điên đầu luôn, nếu Daddy bỏ đi xa”.
“Nếu Daddy đi xa vì một chính nghĩa, thì con cũng phải để Daddy đi. Con phải can đảm”.
“Hồi đó, ông ngoại đi xa. Mommy có khóc không?”.
“Có!”.
“Nếu Daddy phải đi xa, con cũng khóc, nhưng không khóc lâu, vì Daddy nói con trai không được khóc dai”.
Nghe nó nói vậy, tôi nghĩ đến hoàn cảnh của tôi. Ba tôi bỏ đi đã hơn hai chục năm rồi, mà tôi vẫn còn khóc, và đang khóc.
Giọng nói nửa Pháp nửa Anh, nhưng tôi biết ngay là ba tôi, dù đã hơn hai mươi năm chưa một lần tiếp xúc. Tôi nghe lòng xốn xang, nghẹn ngào, chỉ muốn kêu lên thật lớn: “Ba ơi! Con đây”. Nhưng tôi có nén xúc động để bình tĩnh, kính cẩn hỏi:
“Thưa ông, có phải ông là Đại sứ Minh không?”.
“Phải, tôi là đại sứ Minh. Ai gọi tôi đây?”.
Giọng ba tôi trong, pha lẫn tiếng cười nên còn rất trẻ. Tôi thêm:
“Thưa, có phải trước năm 1954, ông là tỉnh uỷ Cần Thơ không? Tên thiệt của ông là Đặng Văn Quang?”
Lần nầy, tôi nghe một tiếng cười nổi lên trong điện thoại. Tôi tưởng tượng ra hàm răng trắng tươi của ba tôi.
“Đúng rồi. Bây giờ cô phải nói, làm sao cô biết rõ tôi vậy?”
“Hồi đó cháu ở Biên Hoà, gần hãng cưa Tân Mai. Cháu biết cô Bảy Khuê”.
“Cô ấy là em ruột tôi! Vậy, cô có phải là một trong những sinh viên Việt Nam sáng nay ra phi trường đón phái đoàn của chúng tôi không?”
Đến đây, tôi chịu hết nổi vì quá xúc động. Tôi nghẹn ngào kêu lên:
“Ba ơi, con đây, ba. Con là Mỹ Dung, con gái của ba nè!”.
Bên kia đầu giây bỗng im lặng như tờ. Tôi có cảm tưởng ba tôi quá xúc động vì bị bất ngờ đến ngưng tim, nên tôi hốt hoảng nói:
“Ba, ba còn đó không? Ba có làm sao không?”.
Tôi nghe có tiếng động mạnh như tiếng máy điện thoại rơi xuống bàn, hay xuống sàn. Tôi càng hoảng sợ hơn, vì tưởng ba tôi té xỉu. Nhưng tôi chưa biết nên phản ứng ra sao, thì bên kia đầu dây có tiếng của ba tôi:
“Trời ơi! Con gái của ba”.
Rồi ba tôi lại giữ im lặng. Sự im lặng lần nầy lâu hơn, nhưng tôi biết ba tôi không đứt tim đến té xỉu, vì tôi nghe có tiếng khóc của ba tôi. Tôi nghẹn ngào chờ đợi.
Rụt rè, tôi hỏi:
“Mình nói chuyện trong điện thoại được không, ba?”.
Tôi biết cộng sản luôn luôn rình rập đảng viên của họ. Đảng đã nghe trộm ông Hồ Chí Minh, thì tha gì ba tôi.
“Không, con à. Mình không nên nói nhiều trong điện thoại”. Ba tôi chậm rãi trả lời “Sao con biết ba ở đây vậy con?”
“Tên của ba trên báo Japan Times. Hình của ba trên hết báo chí Nhựt”. Tôi đáp với một vẻ tự hào.
“Con ơi, ba rất sung sướng được nghe tiếng con gái của ba! “.
Rồi ba tôi ngập ngừng, không nói tiếp. Tôi vội hỏi:
“Con tới gặp ba bây giờ được không? Con biết đã khuya lắm rồi!”.
“Con đi với ai?”. Ba tôi hỏi bằng một giọng nghiêm nghị.
“Con đi với thằng nhỏ của con. Mà bây giờ nó đang ngủ. Con sẽ kêu người giữ nó!”.
“Chỗ lạ mà con có thể tin người ta giữ con cho con sao?”
Tôi vui vẻ trấn an ba tôi:
“Ông ngoại đừng lo. Con sẽ gọi người giữ trẻ trong khách sạn trông chừng cháu của ông”.
Ba tôi căn dặn:
“Cứ đi thẳng lên phòng của ba, đừng ghé quầy tiếp khách. Cẩn thận nhìn trước ngó sau, khi lên thang máy đến phòng của ba”.
Ngoài ra, chúng tôi đồng ý là vẫn giữ lý lịch giả. Nếu tình cờ gặp ai trong phái đoàn, thì tôi là một sinh viên Việt Nam ở Nhựt tới thăm người đại diện của Việt Nam. Cách che giấu nầy cũng hợp lý, vì chỉ có Việt Kiều Yêu Nước hay gián điệp của Việt cộng mới dám tới gặp ông đại sứ vào cái giờ khuya khoắt nầy. Tôi không phải Việt Kiều Yêu Nước mà cũng không phải là gián điệp Việt cộng, nhưng nếu tôi phải hoá trang với bộ râu để biến thành Hồ Chí Minh mà được gặp ba tôi lúc bấy giờ, thì tôi cũng phải hạ mình làm thôi.
Tôi để nhẹ điện thoại xuống, như sợ đặt mạnh quá thì ba tôi biến mất. Thương cho người chồng, người cha cô đơn. Mà cũng thương cho người làm cách mạng, mà chính bản thân ông, cũng chưa được tự do, khi đảng của ông đã “giải phóng miền Nam”
Một người đàn bà Nhựt có nhiệm vụ trông chừng Lance, đến phòng tôi trong bộ y phục mầu trắng. Bà trông gọn gàng, vui vẻ rất lịch sự, nhã nhặn. Nhìn Lance ngủ say, bà gật đầu lia lịa rồi mở cửa cho tôi đi.
Ngồi trong taxi trên đường đến khách sạn Prince, tôi suy nghĩ liên miên. Tôi sẽ gặp lại ba tôi sau hơn hai mươi năm xa cách. Rồi cùng một lúc, tôi cũng sẽ gặp một chánh trị gia đại diện cho cái chánh phủ mà trong thâm tâm tôi vẫn coi là những người cướp nước tôi. Nhưng mặt khác, tôi lại ước mong ba tôi sẽ là ngọn đèn leo lét cho một niềm hy vọng; hy vọng cho một Việt Nam tự do, thái bình, và người dân được no ấm, hạnh phúc.
Ra khỏi taxi, tôi nhanh nhẹn bước vào khách sạn, đi thẳng lên phòng ba tôi như một người khách đã quen. Ba tôi vụt mở cửa khi tôi chưa kịp gõ tới tiếng thứ ba.
“Trời ơi!”.
Ba tôi thốt kêu, rồi một tay ôm tôi thật chặt, một tay khép lại. Ông ôm tôi, rồi trận mưa hôn bắt đầu phủ lên tóc, lên mặt, hai cánh tay, hai bàn tay tôi, như 20 năm về trước mỗi lần đi công tác xa về. Ba tôi có thói quen hôn tôi, Hải Vân và Hoà Bình như vậy.
Rồi hai cha con tôi ngồi xuống cái ghế salon dài. Ba tôi bỏ kiếng ra, nắm lấy hai vai tôi, rồi nhìn tôi không chớp mắt.
“Con ơi, con cưng của ba, lâu quá rồi, con ơi!”.
Mặt ba tôi ướt đầm đìa. Tôi lau nước mắt cho ông, mà mắt tôi khô. Tôi cảm động đến nghẹn lời, chỉ đưa tay rờ mái tóc trên vầng trán cao. Ba tôi vẫn chải đầu rẽ tóc qua bên mặt. Bây giờ tóc của ông đã ngả mầu. Hai mươi năm xa vợ, xa con! Hai mươi năm sống xa thế giới văn minh! Ngoài mái tóc bạc, không biết tình của ba tôi dành cho gia đình có còn nồng đậm như xưa không?
Ông chậm rãi nói nho nhỏ:
“Ba không có lời nào để diễn tả đủ thứ tình cảm, nhớ thương đối với với má, chị em con và Hải Vân”.
Ba tôi nghẹn ngào khi nhắc đến Hải Vân. Ông im lặng như để nghiêng mình trước vong lính của thằng con chết yểu. Tôi siết tay ba tôi để chia sẻ nỗi đau thương. Ít nhứt ba tôi và tôi, cũng chia sẻ được cùng một nỗi đau, và cũng cảm thấy nỗi trống vắng lớn lao vì sự ra đi quá sớm của em tôi. Ba tôi thở dài, buồn bã nói:
“Buồn quá, ba không muốn nhắc tới Hải Vân nữa”.
Ba tôi vừa nói vừa nhìn vào khoảng trống. Tôi thắc mắc:
“Con không hiểu ý ba”.
“Ba được cấp trên cho biết Mỹ giết Hải Vân”.
Tôi giựt mình, nhưng không dám nhích xa khỏi ba tôi, khi tôi thấy hận thù hiện lên trong đôi mắt của người cha, tin rằng con mình bị kẻ thù hãm hại.
“Ba muốn tìm hiểu sự thật hay ba muốn chấp nhận lời bịa đặt?”.
Tôi vừa nói vừa nhìn thẳng vào mặt ba tôi, rồi tiếp:
“Con không muốn cãi với ba ngay buổi gặp đầu tiên sau hơn hai mươi năm xa cách. Nhưng, con phải nói thật, là cấp chỉ huy của ba quen nghề nói láo. Em con không bị ai giết hết, chỉ là một tai nạn!”.
Ba tôi liền đổi đề tài:
“Hãy nói về má con, về con và các chị em con cho ba nghe!”
Mắt ba tôi sáng ngời trở lại khi ông nhắc đến vợ con.
“Má khoẻ mạnh, má mong tin ba lắm. Mấy chị mấy em của con bình yên. Chị Kim, chị Cương đã có chồng; chị Cương có hai con gái. Hoà Bình có một thằng con trai bằng tuổi thằng con của con, còn Minh Tâm thì mới chân ướt chân ráo trên đất lạ, cũng như mọi người khác, phải đi học để hội nhập đời sống. Con biết, Hoà Bình sẽ nhớ Việt Nam hơn mọi người trong gia đình. Con cũng như nó. Con cứ chiêm bao thấy trở về Việt Nam. Con còn nghe thoang thoảng mùi lúa chín ngoài đồng trong giấc ngủ. Mầu vàng rực của những trái quít chín trong vườn ông ngoại bà ngoại vẫn ám ảnh con. Con còn cảm thấy cái mát rượi của nước sông trên da thịt con. Con vẫn mơ ước cái không khí đầm ấm bình yên trong ngôi làng của ông ngoại bà ngoại. Con toàn chiêm bao thấy quê hương thôi, ba ơi!”.
Nghe tôi say sưa nói về quê hương Việt Nam, ba tôi vui vẻ mắt sáng ngời, nắm chặt lấy tôi, nói:
“Được như vậy quý lắm, con à”.
Thấy ba tôi vui, tôi trả lời cái chết của Hải Vân:
“Ba à, con muốn cho ba biết chắc chắn là không có ai giết em con hết. Hải Vân là người chiến sĩ, dù em chưa kịp ra trận. Em là phi công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Em chết vì tai nạn mà ai cũng đã biết rõ như vậy. Cả gia đình đều biết như vậy. Con xin ba hãy tin sự thật của gia đình, cha đừng nghe lời tuyên truyền bậy bạ của cộng sản”.
Ba tôi bỗng đập bàn, nói lớn:
“Không, không phải là một tai nạn như con tưởng. Chúng nó dàn cảnh ra như vậy. Chúng nó cũng là bọn bắt ép má con phải bỏ Sài Gòn mà đi, khi ba sắp sửa trở về. Làm sao con biết được mánh khoé lừa bịp của chúng nó”.
Tôi cố giữ bình tĩnh:
“Ba tin là chị của nó để yên cho quân nào “giết” em mình sao?”.
Tôi đâu có nói được chính tôi là người đi cầu cạnh CIA cứu má tôi, chớ nào có ai “ép” má tôi rời Sài Gòn!
Ba tôi giữ im lặng một chút, rồi rót một ly nước đầy để uống. Không biết ông uống nước để dằn cơn giận, hay để lấy thêm sức cãi vã với đứa con gái cứng đầu cứng cổ. Uống xong, ông nhìn tôi, nở một nụ cười thân thiện, nói:
“Hai chục năm trước, ba đã hình dung ra, con sẽ là con một con người như thế nào khi con lớn. Bấy giờ, ba thấy đúng như vậy!”.
Tôi dịu dàng nói:
“Con rất tiếc, nếu con đã làm cho ba thất vọng về con”.
Ba tôi liền đáp:
“Không, ba không thất vọng về con. Ba chỉ muốn con của ba thương ba và tin tưởng ba thôi”.
Tôi vòng tay ra sau lưng ba, rồi siết chặt thật lâu. Rồi vui vẻ nói:
“Con rất mừng khi nghe ba nói vậy. Bây giờ ba cho con biết về anh Khôi của con đi”.
Mắt ba tôi lại sáng ngời, mặt ba rạng rỡ khi tôi nhắc đến anh Khôi. Từ ngày anh còn nhỏ, ba tôi đã cưng anh nhứt nhà, đã hãnh diện về anh. Ông vui vẻ nói:
“Anh con đang sửa soạn lên đường vào Nam. Khi ba về Việt Nam sẽ ghé Hà Nội đón anh hai con cùng vào Nam. Anh nhớ con nhiều nhứt đó!”.
Tôi nửa đùa nửa thật nói:
“Không biết ai nhớ ai hơn, ba ạ!”.
Ba tôi nhìn tôi đăm đăm, rồi hỏi:
“Chừng nào con về thăm nhà?”.
Tôi thầm tự hỏi có nên nói thật ý nghĩ của mình không, rồi gượng đáp:
“Không, ba à. Con chỉ có can đảm chịu đựng với gia đình, những mất mát trong chiến tranh, mà con không có lòng dạ nào chứng kiến người dân Việt sống nhục nhã dưới chính quyền Hà Nội”.
Tức thì mặt ba tôi sầm lại, nhưng ông cố nén cơn giận, nói:
“Ba muốn đón má về với ba”.
Tôi đáp ngay:
“Đó cũng là ước nguyện của má”.
“Vậy thì con tìm cách đưa má qua Paris gặp ba”.
Tôi biết Paris là nơi rất quen thuộc của nhiều người Việt thân Cộng, cũng là nơi hoạt động của Cộng sản Bắc Việt, nơi đó ba tôi có nhiều đồng chí, bạn bè.
Tôi mỉm cười hứa hẹn:
“Dạ, con sẽ cố gắng hết mình”.
Ba tôi vui vẻ:
“Cố gắng cho ba nhen con”.
Tôi trịnh trọng đáp:
“Lời hứa của người họ Đặng là một lời danh dự, ba à”.
Mỉm cười một cách hài lòng, rồi ba tôi nhìn đồng hồ tay. Lúc ấy tôi mới thấy chiếc đồng hồ Omega thật đẹp. Ông bảo, tôi đã đến lúc phải về với cháu ngoại của ông. Tôi chưa muốn xa ba tôi ngay, nhưng thấy ông có vẻ mệt, và biết rằng hôm sau ông phải dậy sớm để dự một buổi tập họp đông đảo tại một nơi trong thành phố Tokyo. Tôi bỗng thấy khó chịu trong người. Ba tôi, một người rất thân của tôi, lại có mặt trong một cuộc biểu tình chống chiến tranh, chống bom nguyên tử. Tôi bất giác mỉm cười bâng quơ. Ba tôi thấy tôi cười thì hỏi lại sao tôi cười? Tôi liền đáp:
“Cha con mình bấy giờ khác nhau quá”.
Khi tôi trở về khách sạn của tôi, người đàn bà Nhật giữ trẻ vừa ra khỏi phòng thì ba tôi gọi. Ông không chỉ muốn biết xem tôi về nhà an toàn không, mà còn nói:
“Con à, lần tới, cha con mình đừng nói chuyện chánh trị nữa nhen con. Hãy nói về gia đình thôi. Con cho ba biết về má, về chị em của con, về mấy người con rể của ba. Thời gian của cha con mình ngắn ngủi quá con à”.
Nhưng tôi không chịu, liền đáp:
“Suốt đời chúng con thiếu ba chỉ vì chánh trị. Ba nợ chúng con hai mươi năm. Ba biết không? Gia đình ly tán vì chánh trị. Chánh trị làm vợ xa chồng, con xa mẹ. Đời sống của mình đã bị chánh trị cầm đầu, mình phải nói tới chánh trị, ba à”.
Ba tôi vừa cười vừa nói:
“Ba nhớ con gái cưng của ba dễ thương, thông minh, cứng đầu, nhưng ba không ngờ con ba lại dữ thế nầy… Nhưng ba biết con thương ba là đủ rồi”.
Tôi đổi sang hướng khác.
“Ba, con không có giận ba, mà con giận đảng Cộng sản, giận cái tập đoàn của những người đã phản bội cách mạng thôi”.
Nói xong, tôi chờ đợi cơn giận dữ của ba tôi. Nhưng ông bình tĩnh trả lời:
“Ba mong rằng sẽ có dịp cho con thấy cái mặt tốt đẹp của cách mạng. Rồi con sẽ vui vì thấy ba đi đúng đường”.
“Con lúc nào cũng hãnh diện vì ba đã can đảm chiến đấu chống ngoại bang, đã từng vô tù ra khám, từng bị đày ra Côn đảo. Nhưng con không thể chấp nhận sự có mặt của tập đoàn cộng sản Hà Nội ở miền Nam”.
Tôi nói một hồi dài như sợ bị ba tôi ngắt lời. Tôi nghe tiếng cười của ba tôi, rồi ông nói:
“Thì con cứ tiếp tục hãnh diện về ba đi. Tin rằng luôn luôn ba đem hết sức ra để phục vụ miền Nam. Con có biết không? Không phải chỉ chúng ta thắng cuộc chiến nầy, mà ngay cả người Mỹ cũng thắng nữa…”.
Tôi vội ngắt lời:
“Có thể đó là mấy thằng trốn lính, mấy thằng phản chiến, chớ đâu phải toàn dân tộc Mỹ. Con đau đớn lắm khi miền Nam của con đã mất”.
Tôi nghe có tiếng cười của ba tôi, rồi ông nói:
“Nghe con nói mà thấy vui vui, vì lạ tai”.
Tôi cũng cười theo và chọc ba tôi:
“Con tin là không có ai dám trả treo với ông đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam như con đâu. Nhưng con là con của ba, nên mới dám lợi dụng ba như vậy”.
“Con thì tha hồ lợi dụng ba bất cứ lúc nào cũng được”.
“Thiệt vậy hả ba?”.
“Ba nói thật”.
“Con có một chuyện muốn ba giúp. Ba phải hứa là phải cố gắng hết sức nhen”.
Ba tôi im lặng chờ đợi. Tôi nói tiếp:
“Hồi nãy ba nói quê hương mình hết giặc rồi. Hết giặc có nghĩa là hoà bình, xoá bỏ hận thù, là tha thứ, là thương yêu nhau “trong tình thần của cách mạng” phải hông?”.
Tôi nghe ba tôi thở dài; chắc ông biết ông cho tôi một thước, tôi lại đòi một cây số.
“Con muốn nhắc tới những người tù binh Mỹ còn bị Hà Nội cầm tù”. Tôi nghẹn ngào nói.
Thật ra vấn đề nầy tôi đâu có định nói với ba tôi, nhưng khi ông nói ông cho tôi lợi dụng ông, thì tôi chụp ngay cơ hội.
Ba tôi ngập ngừng đáp:
“Con à, đó là một vấn đề ba không có thẩm quyền nói tới”.
Giọng ông trở nên nghiêm nghị, chậm rãi như giọng nói của một nhà ngoại giao tuyên bố trước công chúng. Tôi cũng lấy giọng nghiêm trang đáp lại:
“Con biết, nhưng con không có nói với một người có quyền hành, mà con nói với một người mà ai ai cũng mến thương, quý trọng, vì tình yêu của người đó cho dân tộc và gia đình. Con nói, với một người có trái tim, có kinh nghiệm, đã từng bị người ta nhốt vô tù vì lý tưởng. Con muốn những người tù binh Mỹ nầy được trả tự do để họ được về với gia đình họ, ba à. Bây giờ con lớn rồi, nhưng con vẫn còn tin ở sự mầu nhiệm, mà sự mầu nhiệm đó chỉ có từ con tim của những người đàn ông như ba”.
Tôi nghe ba tôi khẽ thở dài, rồi ông nói bằng một giọng lạnh lùng:
“Con à, tại sao con lại dằn vặt con như vậy? Chuyện nầy không liên quan gì đến cha con mình. Không liên quan gì tới 20 năm chia cách của gia đình mình”.
“Ba à, làm con của ba, con hiểu thấu được thế nào là lớn lên không có cha, con còn được biết cái sung sướng vô tận khi gặp lại ba. Con biết ba sung sướng biết chừng nào khi ba được nói chuyện với con. Con muốn ba giúp cho những người đàn ông, đàn bà và con trẻ được hưởng cái sung sướng mà mình đã được”.
“Ba không thể nói đến chuyện nầy nữa”.
“Ba có thể!”.
“Con không hiểu sao?”.
“Con hiểu, nhưng con không chấp nhận là ba của con lại từ chối một dịp đem hạnh phúc đến cho người khác. Ba mới là người biết tươi cười khi thấy người đàn ông đoàn tụ với gia đình mình sau một thời gian xa cách. Ba mới là người lấy tay chùi nước mắt khi thấy một người tù liệng cái nạng để ôm lấy con của mình. Đó là hình ảnh của ba con. Nếu ba không có dạy con đừng ích kỷ, con không có dùng thì giờ quý báu nầy của cha con mình mà nói chuyện hạnh phúc của người ta. Con nghĩ, ba hiểu con mà”.
Tôi nói một hơi không cho ba tôi nói. Nhưng ba tôi ngắt lời:
“Con à, nghe ba nơi đây. Ba thương con vì con không ích kỷ, nhưng con phải hiểu, trên ba con có đảng. Nó không có giản dị như con tưởng”.
“Con đâu có kêu ba mở chuồng thả những tù binh Mỹ. Con chỉ xin ba tạo ảnh hưởng những người có quyền lực trong vấn đề nầy. Ba làm cho Liên Xô mê Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được, thì vì những gia đình của tù binh, ba làm cho bác Lê Duẩn mê ba đi”.
“Ba nghĩ mình không nên nói chuyện nầy trong điện thoại”. Ba tôi nói.
“Ba làm ơn nghĩ đến những gì con nói nhen”.
“Ba sẽ nghĩ đến tất cả những gì con nói với ba”.
“Con muốn ba nghĩ đến vợ con của những người Mỹ mất tích mỗi khi ba nghĩ đến má và tụi con. Sự suy nghĩ của ba quan trọng lắm, nó thể thay đổi cho những người bị tù đày”.
“Ba thương con lắm con có biết không?”. Ba tôi nói.
“Con thương ba nhiều lắm”.
Tới đây, ba tôi đổi đề tài, ông hỏi tôi:
“Người ta nói cho ba biết chồng con là người Nam Tư, có đúng vậy không?”.
“Dạ, ảnh là người Mỹ gốc Nam Tư. Tình yêu nói nhiều thứ tiếng lắm, ba à”.
Chúng tôi cùng cười vang trong điện thoại. Rồi ba tôi ngập ngừng:
“Ba mừng. Ba chỉ sợ…”.
“Ba sợ con có chồng người Mỹ vì phương tiện chớ gì? Má con nói giòng họ Đặng của mình mùi mẫn lắm”.
Chúng tôi cười, tiếng cười đem lại cho tôi những kỷ niệm vui tươi của gia đình lúc tôi còn nhỏ. Chúng tôi chúc nhau ngủ ngon năm sáu lần rồi mới chịu ngừng.
Năm 2016, Tổng thống Mỹ Barack Obama, 6 tháng trước khi mãn nhiệm, đã bay Air Force One từ Washington D.C đến Hà Nội cho cá ăn, rồi bay vô Sài Gòn chơi.
Anh Ba cà khịa tuần rồi ngồi nhậu với tui, buồn tình cười khè khè, nhắc chuyện năm xửa, năm xưa, cà khịa rằng: ông Obama không biết cái khỉ mốc gì hết về chùa chiền. Tới Sài Gòn, vô chùa xá Phật mà mười ngón tay của ổng cứ bè, te he ra; chớ không khép khít lại như chúng ta làm.
Tui cãi lại: “Lỗi nầy không phải hoàn toàn của ông Barack Obama đâu! Hổng ai chỉ ổng xá. Hồi nhỏ tới giờ chưa làm thì làm sao ổng biết? Lỗi nầy là của bà Elizabeth Phu, cố vấn về an ninh Ðông Nam Á, Châu Ðại Dương và Ðông Á của Tòa Bạch Ốc”.
Bà Elizabeth Phu là ai vậy cà? Cái họ của bả theo tiếng Mỹ đã rớt mất cái dấu huyền. Chớ đúng ra là Phù (người Việt gốc Hoa Hải Nam). Bà Elizabeth Phù sinh ra ở Việt Nam. Tháng Tư năm 75, Sài Gòn thất thủ, gia đình bà vượt biên lần đầu bị CS bắt nhốt hết 7 tháng. Chạy tiền được công an thả ra, rồi họ lại đi nữa. Bị cướp biển hai lần tưởng chết; nhưng cuối cùng họ cũng đến được Pulau Bidong, Malaysia.
Một tháng trước ngày sinh nhật lần thứ tư, Elizabeth Phu cùng gia đình, chỉ có 20 đô la trong túi, đến Mỹ vào ngày mùng 3, tháng 12, năm 1979. Sau bao năm từng lê gót nơi quê người, cuối cùng Elizabeth Phu tốt nghiệp đại học và làm cố vấn cho Tổng thống Obama tại Tòa Bạch Ốc.
o O o
Chùa Tàu mà bà Elizabeth Phu xúi Tổng thống Barack Obama đi thăm là Phước Hải Tự, số 73 đường Mai Thị Lựu; trước 75, là đường Phạm Ðăng Hưng, ở Ða Kao, Sài Gòn. Phước Hải Tự còn gọi là chùa Ngọc Hoàng, vốn là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do ông Lưu Minh (người Quảng Ðông, Trung Quốc) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 20, dĩ nhiên là theo kiểu kiến trúc Trung Hoa.
Chùa còn thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí Bồ Tát, Thiên Lôi, thần Môn Quan (thần giữ cửa), thần Thổ Ðịa (thần đất đai), thần Táo Quân (thần lò bếp), thần Hà Bá (thần sông nước), Văn Xương và thần Lã Tổ (thần văn chương), Thái Tuế (sao giải hạn), Lỗ Ban (thầy dạy nghề mộc), 13 bà mẹ v.v. Chùa còn thờ cả Thành Hoàng bổn cảnh. Thờ nhiều thần mới thu hút được nhiều loại thiện nam, tín nữ.
Lúc ấy, hòa thượng gốc chú Ba rủng rỉnh có đồng vô, đồng ra, mới sống được phải không nè? Chùa của chú Ba giống như một tiệm tạp hóa, khách đến mua gì cũng có. (Cái loại buôn thần, bán thánh nầy trong nước giờ nghe nói nó có hà rầm, không gọi là chùa nữa mà gọi là trung tâm văn hóa tâm linh đó).
Thiện nam chỉ cần thành tâm thắp hương, khấn tên mình, sau đó đến tên “người trong mộng” và sờ vào tượng ông Tơ, bà Nguyệt để hai trẻ được se duyên tơ tóc đến răng long đầu bạc phếu. (Anh Ba cà khịa có làm rồi, đến chùa cầu tình duyên. Kết quả người trong mộng của ảnh lấy thằng bạn thiết của tui. He he!).
Chùa Ngọc Hoàng còn là một ngôi chùa cầu con nổi tiếng ở Việt Nam. Có vợ lâu rồi mà không tọt ra được một thằng cu nào hết. Sợ tuyệt tự, hổng ai nối dõi tông đường, cúng kiến giỗ chạp ông bà gì hết ráo, chú Ba bèn đến để cầu con (trai). (Anh Ba cà khịa cũng làm rồi. Hậu quả, má bầy trẻ sanh đôi đẻ cho ảnh một trai và một gái mới là quái quái! Sợ quá xá, nên chỉ dám cầu một lần thôi. Kẻo em yêu ngon trớn, tới luôn bác tài, sanh đôi lần nữa thì đời của anh Ba cà khịa: bà nội cũng đội chuối khô).
o O o
Nói nào ngay, vốn là dân miền Tây rặt ri, tui chỉ biết ăn phở Bắc (di cư); chớ còn bún chả thiệt chưa nếm thử lần nào. Nghe tui than mủi lòng quá thể nên Footscray vừa mới mở một tiệm bún chả thì anh Ba cà khịa dắt tui đến để thử coi bún chả nó ra làm sao mà Tổng thống Obama phải cất công bay hàng chục tiếng đồng hồ đến Hà Nội chỉ để ăn.
Té ra nó chỉ là thịt heo, nướng trên lửa than, ăn với bún và hầm bà lằng các loại rau sống, trong một cái tô, rồi chan ngập nước mắm chua ngọt vậy thôi.
So với phở danh trấn giang hồ bấy lâu, bún chả nó thua xa. Thằng Mỹ cũng biết vậy nên viết là: “Bun cha is not a national dish” (bún chả không phải là món ăn quốc hồn, quốc túy của người Việt). Nhưng nó nổi lên vì được Tổng thống Mỹ Barack Obama ghé quán Hương Liên, trong khu phố cổ Hà Nội, leo lên lầu hai, cầm đũa đàng hoàng, ngồi trên ghế nhựa, xơi bún chả và uống beer. Ngày hôm sau, nhà hàng bèn đem hai cái tô, hai chai bia đã cạn nhốt vào trong tủ kính, trưng bày, quảng cáo để mà câu khách.
Anthony Bourdain (1956-2018) chủ xị một cái show truyền hình ẩm thực nổi tiếng cho tập đoàn truyền thông CNN, quay hình một show về ẩm thực, ăn nhậu với trùm đế quốc Mỹ, Tổng thống Obama, người quyền lực nhứt thế giới, nên đâu phải là điều đơn giản như… đang giỡn.
Phải chọn nước nào? Giựt gân là chọn một nước từng thề mẻ răng là đánh cho Mỹ cút; cho dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, để ngày hôm nay: “Xin kính cẩn mời Ngài Tổng thống Mỹ đến quê tớ ăn bún chả ạ!”. (Dà bây giờ, mấy bác cần đô Mỹ nên hạ mình xưng tớ; chớ hết dám xưng chúng ông như thời đánh cho Mỹ cút đâu nha).
Rồi Anthony Bourdain nói thêm: “Tôi cũng biết Obama thời niên thiếu đã từng sống ở Indonesia (Nam Dương) chắc thích ăn một tô mì thịt heo cay nồng rồi uống một chai beer lạnh”. Tui e rằng, Anthony Bourdain đoán sai bét nhè, bói trật lất, trật chìa, trật chừng vài cây số. Obama thời niên thiếu có ở Indonesia thiệt. Nhưng Indonesia là một nước có nhiều người theo Hồi giáo nhứt trên thế giới thì làm gì có mì nấu với thịt heo để mà xơi chớ. (Người Hồi giáo không bao giờ ăn thịt heo đâu cha nội!).
Mặt khác, ăn cao lương mỹ vị, quốc yến hoài cũng chán, nên trùm đế quốc Mỹ Barack Obama đồng ý nghe lời xúi bậy của Anthony Bourdain xơi bún chả thịt heo nướng vỉ than cho có vẻ bình dân.
Chắc Obama, Tổng thống da màu đầu tiên của Mỹ, nhân tiện xác định khéo: Tui không phải là người Hồi giáo như nhiều người từng chụp mũ tui đâu nhe!
Khu phố cổ Hà Nội, ngồi trên lầu hai của một cái nhà hàng nho nhỏ, trên con đường không có gì to to, trên một cái ghế thấp bằng nhựa, Tổng thống Obama có vẻ thoải mái, lọng cọng (vì chưa quen) cầm đũa gắp miếng chả, hỏi: “Ăn làm sao đây?”. “Thì đút vô miệng nhai ngồm ngoàm rồi nuốt. Xong chiêu thêm một ngụm beer lạnh”.
o O o
Kết luận: Làm trùm đế quốc Mỹ, ngồi trên đầu, trên cổ thiên hạ, ắt là phải giỏi rồi. Nhưng giỏi không có nghĩa là cái gì tao cũng biết hết ráo. Bởi, chữ có câu rằng: “Những gì mình biết chỉ là một hạt cát. Những gì mình không biết là cả một đống cát”. Không biết là phải nghe theo lời của cố vấn, chuyên gia như Elizabeth Phu và Anthony Bourdain, họ chỉ chọt cái gì thì mình làm cái nấy. Tiếc thay hai chuyên gia nầy chỉ trật lất hè. Làm những người biết chút đỉnh về chùa chiền và về ẩm thực của nước ta như anh Ba cà khịa trông thấy mà đau đớn lòng. Thấy hai cái vụ cố vấn tầm ruồng nầy làm anh Ba cà khịa mắc cười tới té ghế! Hậu quả là bụng đau, đau lòng hết sức!
Gần cả tháng nay, em yêu đi chợ về, mặt nhăn mày nhó. Ðồ ăn cái nào cũng đắt, cũng mắc. Tiền già bị nó ngắt te tua như tàu lá chuối trong cơn gió loạn.
Nghe em yêu rên rỉ như vậy, mấy giáo sư Kinh tế nghe cũng kinh đến thế; bèn chạy u ra siêu thị để xem sự thể ra sao?
Thì y như kinh, chớ em yêu của tui không có phao tin giả. Khoảng 7000 mặt hàng chưng trên kệ tại Woolworths và Coles cái nào cũng lên giá như pháo thăng thiên. Từ dầu, bơ, sữa, trứng, mì ống, trái cây, rau cải… tăng 15-20% hay hơn nữa. Thực phẩm tăng, tất nhiên đi nhậu ở nhà hàng tốn nhiều tiền hơn. Tốn thêm thứ một chút là tốn khẳm địa.
Mà đâu chỉ nước Úc Kangaroo nầy bị lạm phát đâu. Chú Sam Hoa Kỳ và 38 nước trong khối OECD, (Tổ chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế Thế Giới) giá cả đều tăng hết ráo.
Nhưng tại sao giá cả lại tăng? Nếu không biết câu trả lời, cứ bắt chước các chánh trị gia đổ thừa cho COVID-19 là xong ngay.
Vì đại dịch, nhà máy phải đóng cửa. Sản xuất ít hàng hóa, giá tất phải lên. Thiên hạ bu lại giành nhau mua; ngu sao mà không bán mắc chớ?
o O o
Anh Ba Hợi hồi còn trong nước có cái sạp thịt heo trong chợ Tân Ðịnh, đường Hai Bà Trưng, quận Nhứt Sài Gòn. Qua Úc, thấy thiên hạ ít ăn thịt heo, (vì một số theo đạo Hồi nó cữ). Ngon nhứt hạng trên thế giới (chỉ thua thịt bò Kobe của Nhựt) vì Bò Úc được nuôi bằng cỏ với hèm bia. Nên Úc gốc Anh, gốc Ý, gốc Hy Lạp, gốc Trung Ðông… gốc cây, đứa nào cũng đớp. Chỉ có mấy đứa Chà Và cà ri, theo đạo Hindu là nó cữ. Nhưng số thờ bò nầy ít, không đáng kể.
Vì vậy, dù Úc nói tiếng Anh, anh Ba Hợi đổi qua tên Tây Phi Lê (Fillet) cho nó oách để đi bán thịt bò.
Mấy em ‘Mít’ đi chợ Footscray cười nhạo ảnh! Một chữ tiếng Tây không biết mà còn lấy le, lấy tên là ‘Phi Lê’. Mấy em tẩy chay cái tên Phi Lê, gọi là anh Ba Bò (ám chỉ ảnh ngu như bò). Sở dĩ mấy em không thích anh Ba Phi Lê vì anh có tật dê. Thấy em nào đẹp đẹp, sạch nước cản, đi chợ một mình không có chồng tò tò theo xách giỏ là ảnh bán rẻ. Lúc giao thịt, còn tranh thủ cọ quẹt tay của người ta. Thiệt là thằng cha già mất nết!
Làm nghề đồ tể gần hết cả đời, kinh nghiệm cùng mình, anh Ba Phi Lê cho tui biết: “Thịt bò hiện giờ mắc hơn tới 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 31 năm bên Úc làm nghề bán thịt bò, tao chưa từng thấy điều gì như vậy. Tao nghĩ có thể sẽ tăng từ 10 đến 15% trước cuối năm nay. Và nó vẫn chưa kết thúc”
Tui hỏi sao anh biết? Mặc dù nhỏ bú sữa bò, lớn lên bán thịt bò, nhậu cũng ‘bít tết’ bò, ‘phi lê’ bò nhưng thằng chả không ngu như bò đâu. (Chỉ ngu như con lừa thôi). Anh Ba Phi Lê cắt nghĩa tại sao thịt bò Úc nó mắc nghe rất là thông thái như vầy nè: “Nước Úc hạn hán khốc liệt gần 10 năm liên tục. Trời không mưa. Ðất không nước. Cỏ không mọc. Bò lấy gì nhơi? Hậu quả tất nhiên đàn bò thịt khắp nước bị giảm xuống. Nuôi bò ít, ắt thịt bò cũng ít. Thịt ít mà dân Úc ăn cũng vậy tất giá ắt phải lên, phải mắc hơn! Giàu có tiền, cứ ăn, mắc rẻ đâu là chuyện lớn! Nghèo thì treo mỏ, nhịn thèm nhểu nước miếng, dòm miệng thiên hạ ăn!”
Anh tiếp tục lên giọng làm cha: “Bấy lâu nay anh thấy chú mầy đem bụng ở đời. Giờ ăn ít thịt để giảm cân, giảm mỡ máu. Ðỡ tốn.
Anh cũng nói y hịt như vậy với con vợ anh ở nhà. Nó kính cẩn nghe lời (hiếm khi lắm nhe) nên cái vòng số hai của em yêu thon gọn hơn. Anh chú mầy đã ở nhà mỗi tối nhiều hơn. Tuần chỉ trốn đi nhậu có một lần; chớ hổng phải tối nào cũng đi như lúc trước”
“Tuy nhiên, may một cái là gần đây nước Úc mưa nhiều hơn, đồng cỏ xanh tốt hơn. Ðàn bò nuôi lấy thịt đang hồi phục. Chú mầy chỉ cần thắt lưng buộc bụng ít ăn thịt bò chừng một năm rưỡi nữa thôi.
Còn ngay lúc nầy, nguồn thịt bò có hạn mà người ăn vẫn nhiều thì giá thịt bò vẫn vọt lên như hoả tiễn. Giá thịt cừu cũng tăng nhưng ít hơn thịt bò”.
Và vẫn còn may mắn cho túi tiền em yêu của tui là: dăm bông, xúc xích, thịt băm, thịt gà tây và thịt heo giá vẫn còn suýt soát như hồi năm ngoái.
o O o
Tui hỏi anh Ba Phi Lê: “Có phải anh cắt nghĩa vòng vo để biện hộ cho chuyện bán thịt bò cho con vợ tui mắc quá phải không? Tui nghỉ ăn thịt bò. Tui ăn tôm hùm?” Anh Ba Hợi nghe vậy thất kinh hồn vía, tưởng tui mới vừa trúng số, nên nhìn tui lom lom, rồi hỏi: “Cu li! Tiền đâu chú mầy ăn tôm hùm?”
Bị chê là cu li, nghèo, ăn tôm hùm? Sức mấy? Tui tự ái, quạt lại: “Bán thịt bò, anh chỉ biết con bò. Anh không nhìn xa hơn cái ‘ngầu pín’. Anh không biết gì ráo mà còn ba xạo”
Tui lên giọng thầy đời: “Úc và Trung Cộng đang chơi nhau trận chiến tôm hùm đó!”
Ngửa cổ làm một hơi, hết chai VB (Victoria Bitter) cho thấm giọng, tui lên lớp anh Ba Phi Lê một bài về con tôm hùm thời mắc dịch như vầy nè: “Tôm hùm là món hẩu xực trong ẩm thực Trung Quốc. Tàu Cộng nhập 90% số tôm hùm Úc xuất cảng. Nghĩa là có 10 con tôm hùm, Úc đem đi bán thì chú, thím ba giành ăn hết 9 con. Nên dân ngu khu đen như tui với anh bấy nay chỉ được ăn tôm hùm xào tỏi trong mơ thôi… vì nó mắc quá!”
“Nhưng giờ gió đã đổi chiều! Tôm hùm một ký chỉ còn 70 đô, bằng nửa giá năm ngoái!” “Trong khi giá thứ nào cũng leo lên giá tôm hùm lại tuột xuống? Tại sao vậy?”
“Chẳng qua Úc kêu Trung Quốc điều tra con ‘coronavirus’ ở đâu ra để thế giới biết để phòng ngừa cơn đại dịch mới có thể lại sẽ xảy ra. Yêu cầu vậy là đúng. Ðâu có gì là quá đáng?”
Nhưng nghe vậy, Tàu Cộng như đỉa phải vôi, ngúng nguẩy và giận lẫy. Chú ba bèn cấm nhập lúa mạch, bông, rượu vang và ngay cả tôm hùm… Ngay cả than đá chú ba cũng cấm. Mùa Ðông, nhà máy nhiệt điện không có than đá đốt lò. Thiếu điện lạnh quéo. Làm ‘bu-gi’ của mấy chú ba teo héo bằng trái ớt hiểm.
Úc tức quá đi thưa WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) chuyện Trung Quốc bán buôn cà chớn, bất chấp luật lệ quốc tế. Chơi đểu! Không công bằng! Thấy cơ hội làm ăn, mấy chú ba Hong Kong chớp thời cơ nhập tôm hùm và hải sâm của Úc lên gấp đôi. Rồi chờ khuya khuya, lấy xuồng cao tốc chở qua đại lục bán kiếm tiền. Bọn Hải quan Hong Kong đánh hơi được. Chúng muốn ăn tôm hùm và hải sâm miễn phí bèn tổ chức vây bắt. Tôm hùm, hải sâm lên tới hàng tấn bị tịch thu. Cụt vốn mà còn nhốt người ta nữa. Cục trưởng Hải quan Hồng Kông tuyên bố tôm hùm, hải sâm của Úc nhập lậu vào Trung Quốc đại lục là mối đe dọa an ninh quốc gia.
Úc bèn lên tiếng hỏi: “Tôm hùm nhập cảng là để hẩu xực mà đe dọa an ninh quốc gia cái giống gì?”. Úc yêu cầu Tàu giải thích nhưng mấy chú ba nầy nín khe.
Cái thói của CS, (dầu bên Tàu, bên Ta) đều một giuộc. Muốn bắt ai thì chụp cho nạn nhân cái mũ ‘đe dọa đến an ninh quốc gia’
Chính vì những chuyện tào lao của mấy chú ba Tàu như vậy nên tôm hùm Victoria giá đang rẻ nhứt trong 6 năm tính từ năm 2015.
Thôi thì vì cái nghĩa đồng bào, giúp ngư dân Úc đang dội chợ, chúng ta ăn tôm hùm. Vừa ngon lại rẻ.
Tui tin chắc như bắp là trên hầu hết các bàn tiệc Giáng Sinh của người dân Úc năm nay chắc sẽ có: Tôm hùm nướng bơ tỏi, nướng phô mai, rang muối, hấp bia. Tôm hùm xào mì, xào miến.
Càng kể nước miếng của tui càng nhểu ra, chảy dài tới rún hè!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.