Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 36

Tối hôm đó, chúng tôi được mời dùng cơm tại một nhà hàng Việt Nam trong quận 5 Paris. Cùng đi với chúng tôi có chú Nam, chú Thanh và anh Thái. Chủ nhà hàng là một người đàn ông Việt Nam chừng 45 tuổi, tên là Giang. Chắc anh ở Pháp đã lâu, có vợ đầm; tên chị Giang là Simone. Chị có vẻ hiểu nhiều về phong tục Việt Nam. Chị mừng rỡ khi thấy ba tôi bước vào nhà hàng, đon đả chạy ra đón, rồi hôn hai má ông. Anh Giang cũng tay bắt mặt mừng. Anh chị đều tỏ vẻ mừng rỡ khi ba tôi giới thiệu má tôi và tôi. Anh cung kính chào má tôi, rồi nói:

“Bác Năm và chúng cháu chỉ mong có ngày hôm nay, bác ơi! Gia đình bác được đoàn tụ, rồi đây đất nước mình sẽ yên vui”.

Chị Simone cung kính chắp tay lên ngực chào má tôi cung cách Việt Nam.

Anh chị bắt tay tôi, rồi anh nói:

“Chị giống bác trai quá. Chúng tôi rất mừng được chung vui bác Năm và gia đình chị ngày hôm nay. Rồi mình sẽ về quê hương với dân tộc mình, chị Dung ơi”.

Niềm vui lên cao, tôi lây cái vui của anh Giang. Tôi nghe như có tiếng reo vui của dân tộc tôi đâu đây. Tôi hình dung ra những đêm trăng sáng không còn tiếng súng. Ba má tôi sẽ dậy sớm đun nước pha tra để đối ẩm. Ban ngày thì đi thăm bà con lối xóm bên Cần Thơ, bên Ba Càng. Rồi tôi sẽ về thăm Cần Thơ… Nhưng tiếng ồn ào chung quanh kéo tôi trở lại thực tế.

Simone đem ra một chai Johnny Walker đen, chưa khui, và một ly nhỏ để trước mặt chú Nam. Khi bắt đầu kêu món ăn, ba tôi nói:

“Đây là bữa cơm đặc biệt, tôi phải uống rượu ăn mừng”.

Mọi người đều vui vẻ tán thành. Ba tới kêu một chai Côte du Rhône. Tôi cũng hay uống rượu nhưng giấu má tôi, nên khi chú Nam định rót rượu cho tôi, thì tôi vội từ chối. Lúc má tôi vô phòng tắm, tôi nói nhỏ với chú:

“Chú cháu mình còn nhiều dịp uống rượu với nhau khi cháu đã về Việt Nam”.

Chú gật đầu cười đồng loã.

Bữa cơm thịnh soạn, toàn những món ngon, đặc sản của miền Nam, vì anh Giang là người Sóc Trăng. Trước khi mang món ăn ra, anh nói:

“Hôm nay chúng cháu chỉ đãi hai bác và chị các món ăn của dân miền Nam mình, không có món Bắc kỳ nào”.

Nghe giọng nói của anh, và nhớ lại thái độ của mấy người trong nhóm Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi đoán có chuyện lủng củng gì giữa họ với Bắc Kỳ. Còn anh Thái thì thuộc phe nào? Anh trung lập, hay là tai mắt của đại sứ Hà Nội, đi theo để dòm chừng ba má tôi?

Về công tác tình báo của tôi, cho đến lúc ấy vẫn chưa rõ ràng. Rob chỉ dặn đi dặn lại là tôi cứ theo dõi những gì đang xảy ra trước mắt. Vì vậy, suốt bữa ăn, tôi để ý nhiều đến chú Nam và anh Thái. Chỉ mới uống có một ly rượu, mặt anh đã đỏ như gấc chín. Còn chú Nam thì đã uống gần một phần tư chai Whiskey mà mặt cứ tái xanh, nặng như chì.

Tôi dặn lòng là phải giữ gìn lời ăn tiếng nói, không uốn lưỡi đủ bảy lần thì cũng phải sáu lần. Tôi còn cố gắng xài những từ Việt cộng, tuỳ cơ ứng biến, như một con cắc kè thay đổi màu da tuỳ hoàn cảnh. Vậy mà khi chú Nam khen đi khen lại rằng tôi tài tình khi tìm ra ba tôi ở Tokyo, tôi nói phần lớn cũng nhờ tự do báo chí mà tôi tìm được ba tôi. Báo Japan Times đã đưa tin ngày giờ phái đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đến Tokyo.

Khi nghe tôi nói vậy, mọi người trong bàn đều im lặng, một thứ im lặng ngột ngạt, khó chịu. Ba tôi thì nhìn tôi bằng cặp mắt nghiêm nghị, trách móc. Má tôi đá nhẹ chân tôi dưới gầm bàn.

Hồi nhỏ dì Bảy tôi dạy, trước khi nói phải suy nghĩ. Có thật không? Có cần nói không? Có tử tế không? Đúng 100%, không cần nói cho lắm. Có gì mà không tử tế, khi đó là sự thật ai cũng biết.

Phan Thanh Nam chủ động trong cuộc nói chuyện. Chú đặt nhiều câu hỏi riêng tư cho người đối thoại, vì vậy, tôi khó đoán nổi trong cái đầu hoa râm của chú đang thật sự nghĩ những gì. Tôi phải thận trọng khi nói chuyện với chú.

Trước hết, chú hỏi tôi đến Mỹ bằng cách nào. Tôi cứ thành thật mà trả lời:

“Cháu nghe nói Mỹ là nước tự do, có nhiều cơ hội để tiến thân và có thể tìm đến ba cháu được. Rõ ràng là cháu đang ngồi bên ba cháu nè”.

Chú đột ngột hỏi:

“Cháu làm gì ở Mỹ?

Chú nhìn tôi không chớp mắt, trong khi đó anh Thái xích lại gần chú hơn để nghe tôi trả lời.

Tôi thành thật đáp:

“Cháu dậy tiếng Việt cho quân đội Mỹ ở Fort Bliss tại tiểu bang Texas một thời gian, rồi sau đó cháu dọn qua Monterey, tiểu bang California”.

Chú lại hỏi bằng một giọng nửa tò mò nửa nghi ngờ:

“Làm sao cháu được chọn để dạy cho chánh phủ Mỹ?”.

Tôi đáp ngay, không một chút rụt rè, suy nghĩ:

“Chắc chú còn nhớ đại tá Phạm Ngọc Thảo, bị giết trong một cuộc đảo chính ở Biên Hoà? Bà đại tá Thảo là…”.

Chú cướp lời tôi:

“Chị Phạm Thị Nhiệm, người của mình, Mỹ Dung biết không?”.

“Cháu hy vọng là như vậy, bà ấy giúp cháu khi cháu dạy học”.

Phan Thanh Nam gật gù, mặt tươi hẳn lên, rồi nói với giọng đắc ý:

“Mặc dù cháu phải sống xa ba cháu, không được ba chỉ dẫn nhưng cháu đã gần gũi với những người chính đáng của bên ta. Chú rất hài lòng”.

“Con của ba cháu không có đi lạc đường đâu, chú!”.

Chú lại hỏi:

“Khi dạy lính Mỹ, cháu nói gì với họ về chiến tranh Việt Nam? Cháu có nói cho họ biết là sự có mặt của Mỹ là một sai lầm to lớn của chánh phủ họ không?:.

Nghe hỏi, tôi nhớ ngay đến chiến dịch tuyên truyền của Cộng Sản. Cán bộ được đưa vào các trường dạy tiếng Việt ở Mỹ. Ngoài giờ dạy, chúng la cà làm quen với các lính Mỹ, rồi xúi bẩy họ đào ngũ. Bọn lính trẻ nầy là bọn bỏ học, bỏ nhà đi lính. Họ chưa bao giờ nghe nói tới Việt Nam, cũng không biết Việt Nam nằm ở chỗ nào trên trái đất nữa, thế mà khi nghe nói tới các mật khu sình lầy, rắn rết, thì họ đã hết hồn, có đường đào ngũ là thần tiên cho họ rồi. Dù sao họ cũng còn là con nít, học hành dở dang.

“Đó là một chiến dịch mật, cháu không được tuyển chọn, vì cháu còn non nớt, nhưng cháu biết tới chiến dịch đó”.

Phan Thanh Nam nhìn tôi chằm chặp, rồi nói với giọng nghiêm trang:

“Thôi, Mỹ Dung à, chiến tranh đã chấm dứt, những dịp để cháu đóng góp cho đất nước vẫn còn chờ cháu, nếu cháu muốn”.

“Nếu cháu muốn? Dĩ nhiên là cháu muốn chớ, chú Nam!”. Tôi vội trả lời như một Việt kiều nhẹ dạ, nghe mà mắc cỡ.

Nam gật gù:

“Chú cháu mình cần nhiều thời giờ ngồi lại với nhau sau khi ba má cháu về thành phố Hồ Chí Minh. Sẵn đây, chú báo cho cháu biết Sài Gòn đã đổi tên”.

Dù đã biết trước khi mất nước, nhưng nghe Phan Thanh Nam nói, tim tôi đau nhói. Sài Gòn mất tên; Sài Gòn không còn nữa.

Sau bữa ăn, tôi hỏi nhỏ ba tôi là tôi có nên trả tiền cho anh Giang không, vì tôi biết tất cả mọi người trong sứ quán đều nghèo tả tơi? Ba tôi chưa kịp trả lời, thì Phan Thanh Nam nói:

“Mình là người trong nhà cả. Bữa nay anh chị Giang đãi ba má cháu và cháu”.

Tôi không ngờ, truyền thống “dân phải nuôi đảng viên để đảng viên nuôi đảng” lại tràn sang tận Paris, dù xa cách rừng U Minh cả ngàn vạn dặm.

Trên đường về, Nam cho biết các Việt kiều ở Paris đã tích cực đóng góp cho cách mạng. Họ đã hiến tiền bạc, thì giờ, phương tiện theo khả năng của họ. Có như vậy, cách mạng mới thành công.

o O o

Hôm sau, tôi không tới Verrières thăm ba má, ở lại Paris để dò đường, tìm cách vô toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trước khi đi, tôi nói với Rob, nếu 12 giờ khuya mà không trở về khách sạn, tôi muốn xác của Phan Thanh Nam treo ngược đầu trong phòng làm việc của ông giám đốc CIA. Câu nói nửa đùa nửa thật của tôi đã làm Rob lo lắng. Tôi mừng thầm có sự lo lắng nầy, vì tôi không muốn họ quá tin tưởng vào sức của tôi, rồi đưa tôi vào một hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm. Cho tới lúc đó, CIA chưa chánh thức huấn luyện tôi về chuyên môn. Tôi hoàn toàn trông cậy vào cái khéo léo xử sự của tôi thôi.

Rob lo lắng hỏi:

“Nếu cô không hoàn toàn thoải mái thì đừng đi”.

Tôi đáp:

“Không bao giờ tôi thoải mái khi tới gần Việt cộng, nhưng việc phải làm thì phải làm. Chúc tôi may mắn đi”.

Rob nhanh nhẩu chúc tôi đi may mắn.

Rob lớn hơn tôi chừng 10 tuổi, nên trong thời gian chúng tôi cùng làm việc, ông thường kêu tôi là kiddo (con nhỏ).

Ở Paris,Rob chỉ dẫn tôi đủ mọi điều, nhưng lại quên không chỉ cho tôi cách đi xe điện ngầm ở Paris. Tôi phải lần mò, hỏi han người khác, rồi cũng đi được một chuyến metro từ khách sạn đến Montparnasse. Rồi lại phải tìm một hồi lâu mới biết đường đến Avenue de Madrid, nhưng tìm hoài mà không biết có đi đúng đường không, đành đi về hướng Neuilly, rồi đi taxi.

Sứ quán của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam có bức tường cao che kín. Tôi bấm chuông ở cổng, nhưng không nghe ai trả lời trong intercome. Khi nhìn lên lầu, tôi thấy một người đàn ông đứng bên cửa sổ văn phòng chú Nam nhìn xuống. Sau đó, tôi nghe có tiếng mở khoá cổng. Chú “tài xế” Thanh đón tôi vô. Lúc nầy chú có vẻ trịnh trọng và khách sáo. Chú dẫn tôi vào phòng khách và chỉ một cái ghế mời tôi ngồi chờ.

Phan Thanh Nam có vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi, nhưng có thể ông lại cho là dịp tốt để khai thác tôi. Chúng tôi rời phòng khách, đi xuống phòng ăn của cơ quan. Phòng nhỏ ở trong bếp lạnh lẽo, vừa bước vô tôi nghe mùi thuốc lá hôi hám, mùi dầu nấu ăn, mùi nước mắm quen thuộc. Nơi đây rất yên lặng, thuận tiện cho trùm gián điệp Cộng Sản tìm một tài năng mới.

Không để mất thì giờ, chú đi thằng vào vấn đề. Chú hỏi về chồng con của tôi. Tôi không biết chú biết về gia cảnh của tôi đến đâu, tôi nghĩ, nói ít và nói thật là thượng sách. Chú hỏi rất nhiều chồng tôi, hỏi cả về gốc rễ, từ đâu di cư sang Mỹ. Tôi nói bên nội, bên ngoại của John là người Nam Tư. Chú nhận định y như ba tôi đã nói: “Như vậy, anh ấy không xa lạ gì với mình”. Tôi nghĩ bụng: “Ngu gì mà ngu thế! Ông bà của người ta di cư qua Mỹ để tỵ nạn Cộng Sản, ông VC ơi!”. Nhưng tôi không dám nói ra.

Nam tằng hắng, vẻ mặt trở nên nghiêm trọng. Tôi bình tĩnh sửa soạn tinh thần. Chú hỏi:

“Chồng cháu làm nghề gì?”.

Tôi giật mình và khó chịu, vì ở Mỹ không ai hỏi nhau làm nghề gì. Nhưng tôi hiểu ngay rằng, dù làm trong ngành ngoại giao, Nam cũng vẫn chỉ là một kẻ xuất thân từ rừng U Minh, kinh nghiệm hơn là suốt đời lẩn lút trong bóng tối.

“Anh ấy có bằng về Thiên Văn học và Hải Dương học, hiện đang làm cho đài khí tượng ở Hawaii”.

Phan Thanh Nam xoa hai tay vào nhau như ĐỂ cho ấm trong căn nhà bếp lạnh lẽo nầy. Nhưng nhìn mặt chú, tôi đoán biết ý nghĩ của chú. John Krall là một con mồi hấp dẫn của chú.

“Nếu chú cháu mình khéo léo hỏi chồng cháu giúp mình, thì anh ấy sẽ có ích cho Việt Nam vô cùng”.

Tôi giả bộ khờ khạo hỏi:

“Chú có thể nói rõ hơn chú muốn gì không?”.

“Chưa, chưa tới lúc. Chú cần nghiên cứu thêm. Nhưng phải nói là vào địa vị ấy, chồng cháu sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam ta, và chú sẽ tạo cho cháu một chỗ đứng tốt trong xã hội”.

Chỉ mới nghe Nam nói, tôi đã thấy mình có tội với dân tộc và những người di tản. Tôi có thể kể chuyện nầy cho CIA, nhưng làm sao tôi dám mở miệng nói với John. Tôi biết anh sẽ giận lắm.

Nam nhìn tôi đăm đăm, rồi hạ thấp giọng hỏi:

“Cháu có yêu nước không, Mỹ Dung?”.

Tôi thầm nghĩ là ông nầy dám chọc cọp Thị Nghè thì cũng gan dạ thiệt. Tôi liền đáp một cách dõng dạc:

“Cháu dám nói chắc với chú là cháu yêu nước hơn chú!”.

Mắt chú mở to ra, và đôi môi chì mím lại. Tôi tiếp tục nói:

“Cháu sanh trưởng ở miền Nam, con của một nhà cách mạng, cả gia đình cháu bên nội bên ngoại đều chống Pháp. Cháu lớn lên với đất nước, đã biết yêu, biết thương dân tộc, đã chia sẻ mọi đau khổ theo vận nước thăng trầm. Xác của em cháu, bạn cháu, trong lòng đất nước, bạn học cũng trường của cháu mất tích trong rừng, dưới sông, dưới biển… Trong khi đó, ở bên Tây, chú theo dõi chiến tranh trên truyền hình, qua báo chí… Làm sao chú có thể yêu nước bằng cháu?”.

Nói xong, tôi nhìn chú không chớp mắt. Chú bình tĩnh, đáp:

“Hồi còn ở bên nhà, chú ở trong bộ đội. Như ba cháu, chú cũng hy sinh đời chú cho cách mạng. Chú không có thời giờ sống riêng cho chú, nên cũng không dám nghĩ đến chuyện vợ con”.

Chớ không phải bắt chước “bác Hồ” ở vậy không nuôi con?. Tôi nghĩ thầm, rồi mỉm cười.

“Không lập gia đình, chú cũng không mất mát gì lắm đâu. Vợ là nợ. Có vợ có con rồi đùm đề tản cư, chạy giặc cực lắm!”.

“Sao cháu biết?”.

“Chú quên là trước khi đi Mỹ, cháu ở đâu sao? Cháu chạy giặc từ hồi cháu mới chập chững biết đi mà, chú”.

Phan Thanh Nam đổi đề tài:

“Cháu nên thuyết phục má cháu trở về Việt Nam. Đó là thượng sách”.

Tôi đáp ngay:

“Gia đình cháu có truyền thống tự do. Bất cứ ai cũng có quyền lựa chọn theo ý mình. Má cháu muốn về Việt Nam hay ở lại Mỹ là quyền của má cháu. Chị em cháu không được xía vô, không xúi má về, cũng không giữ má lại. Chị em cháu đã bắt tay nhau đồng ý như vậy rồi”.

Nam ngập ngừng:

“Đôi khi người già không đủ sáng suốt để tính toán một việc quan trọng, mình phải giúp ý kiến…”.

Khi nghe Nam đánh giá thấp má tôi, coi bà như một bà già không đủ minh mẫn, tôi giận lắm, nhưng phải cố nén xuống để khỏi đập tay lên bàn. Tôi lấy giọng ôn tồn nói:

“Chú Nam, có thể chú chỉ biết ba cháu thôi, vì hai người là đồng chí. Bây giờ cháu xin nói về má cháu cho chú nghe, để chú biết má cháu. Bà đã tự do kết hôn với ba cháu. Khi biết ông theo Cộng Sản, bà vẫn lo tròn bổn phận một người vợ đảm đang, một người mẹ hiền trong gia đình, dù ba cháu vắng mặt. Cháu dám quả quyết với chú là má cháu vượt xa hẳn những người đàn bà từng được tiếng là “cách mạng”. Má cháu thông minh, nhìn xa, hiểu rộng, chắc chắn không phải là một “bà già trầu” như chú tưởng. Má cháu chưa già, mới có 60 hà. Nếu có đầu thai lại 25 lần nữa, ba cháu cũng không thể tìm được một người đàn bà nào như má cháu để làm bạn đời đâu. Má cháu cũng không thương ai bằng thương ba cháu. Vì vậy, cháu đâu cần thuyết phục má về Việt Nam với ba cháu”.

“Tại sao lúc đó má cháu bỏ nước ra đi vậy?”.

Vừa hỏi, Nam vừa móc túi lấy một cuốn số nhỏ để ghi.

“Cháu sợ Sài Gòn tắm máu như Việt cộng doạ, nên phải tìm cách đưa bà ra khỏi cho nguy hiểm”.

“Tự cháu về Sài Gòn rước má?”.

Nam nhìn tôi bằng đôi mắt nghiêm nghị hỏi. Tôi lắc đầu:

“Ước gì cháu làm được việc đó. Chồng cháu phải về để cứu má và hai em cháu”.

Nghe nói có cả hai đứa em, Nam nhỏm người lên, nói như ra lệnh:

“Hai em cháu cũng phải trở về Việt Nam!”.

Tôi nhún vai:

“Tuỳ tụi nó, chú à. Gia đình cháu là gia đình tự do, dân chủ, không ai có quyền ép buộc người khác làm điều trái ý của họ. Chị em cháu sẽ ăn thịt cháu, nếu cháu định chơi trò độc tài”.

Nam giữ im lặng một lát, rồi nghiêm giọng nói:

“Mỹ Dung, cháu đừng quên là hai em của cháu có bổn phận phải trở về Việt Nam vì danh dự của ba cháu. Chúng nó sẽ làm tổn thương danh dự của ba cháu khi con cái của ba cháu đều sống trên đất nước của kẻ thù dân tộc”.

Tôi đưa hai lấy lên ra dấu cho Phan Thanh Nam bỏ qua đề tài nầy, rồi gạt đi bằng một giọng quả quyết:

“Mình không nên để mất thì giờ cho việc nầy. Cháu không có ý kiến hay ảnh hưởng nào tới sự quyết định của em cháu”.

Nhưng Nam vẫn nói:

“Khi má cháu về rồi, cháu nên thuyết phục hai em cháu phải về theo”.

“Tại sao?”.

“Ba của cháu là một vị đại sứ nổi tiếng ở Moscow. Các đồng chí Liên Xô của ba cháu đã ký hộ chiếu cho má cháu ghé thăm Liên Xô trên đường trở về Việt Nam. Họ còn có nhã ý mời ba má cháu đi máy bay Aeroflot từ Paris qua Moscow, rồi về Hà Nội không mất liền. Cháu có thấy đó là một vinh sự lớn cho gia đình cháu không?”.

Tôi bướng bỉnh nói:

“Cháu hiểu. Được Liên Xô ưu đãi là một vinh dự đối với chú và ba cháu. Nó hoàn toàn vô giá trị đối với cháu”.

“Khi má cháu trở về Việt Nam là một thắng lợi nữa cho chúng ta, và cho Việt Nam nữa”.

Tôi đáp ngay với giọng mỉa mai:

“Má cháu ở đâu, có ăn nhậu gì đến ai. Má chỉ là một trong mấy trăm ngàn người tỵ nạn đến Mỹ mà thôi. Nếu Nguyễn Cao Kỳ xin tỵ, nạn chánh trị ở Hà Nội mới là chuyện đáng nói. Báo chí cả thế giới sẽ đăng tin nầy trên trang nhứt. Còn má cháu? Hay em cháu?”.

Nam lắc đầu:

“Mỹ Dung, cháu sai lầm rồi. Má cháu không phải là người tầm thường, mà là vợ của một vị đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Má cháu là nạn nhân của một cuộc bắt cóc do CIA chủ mưu. Họ bắt má cháu đi để làm mất mặt chánh phủ cách mạng. Việc má cháu trở về có thể ví như một cái tát vào giữa mặt tổng thống Ford và chánh phủ Mỹ”.

Tôi giận đến run người khi nghe Phan Thanh Nam nói má tôi là nạn nhân của một vụ bắt cóc do CIA tổ chức. Như vậy, từ nãy tới giờ, ông không tin chồng tôi đã về Việt Nam rước má tôi qua Mỹ. Để lấy lại bình tĩnh, tôi xin phép đi vào nhà vệ sinh. Khi trở ra, tôi thấy trên bàn có hai chai bia. Tôi liền từ chối. Ông rót trà mời tôi.

Như Phan Thanh Nam đã có một loạt câu hỏi, và nóng nảy ngồi chờ tôi trở lại. Ông nhắc tới Hải Vân, em tôi. Tôi nghĩ rằng đời em không có gì phải giấu, vì em đã sống một cách hồn nhiên và danh dựr. Nhưng tôi lại nghĩ, anh cán bộ Cộng Sản nầy không xứng đáng nghe về em tôi.

Phan Thanh Nam dựa lưng vô ghế, nhìn tôi với vẻ mặt thách đố, ông nói:

“Cháu đừng quên những kẻ đã giết hại em cháu. Cháu phải bắt họ phải trả một giá thật đắt, phải chịu một hình phạt cho xứng đáng cho cái tội đã làm gia đình cháu đau khổ”.

Tôi không còn kiên nhẫn với nghệ thuật vụng về của Phan Thanh Nam nữa.

“Cái chết của em cháu là bị thảm của gia đình cháu, chú Nam à”..

Nhưng Phan Thanh Nam luôn luôn có giải pháp cho mọi vấn đề, ông nói:

“Gia đình của ba cháu cũng là gia đình của cách mạng. Mấy chú, mấy bác rất xót xa. Bây giờ lại được gặp má cháu và cháu, thì càng tội nghiệp hơn nhiều”.

Nói gì đây, với một người Cộng Sản đang gieo mầm thù hận vào lòng tôi! Mục đích của tôi hôm nay là tìm hiểu con người ông, để đối phó với ông sau nầy. Biết đâu, có một ngày, tôi cho ông vào cái bẫy, mà chính ông đang muốn đẩy tôi vô? Nghĩ vậy, tôi phải tìm những lời nhẹ nhàng, để làm vui lòng ông:

“Cháu mừng được gặp đồng chí của ba cháu. Cháu cần học hỏi với chú nhiều lắm. Ít nhứt cháu cũng phải hiểu việc làm của ba cháu, ý nguyện của ông, mục đích của ông, để có thể tiếp tay ba, nếu cho phép”.

Nam hãnh diện ra mặt, nói:

“Chú sẵn sàng chỉ dẫn cho cháu khi ba cháu vắng mặt. Cháu có thể đóng góp thật nhiều cho công cuộc xây dựng lại đất nước chúng ta, bằng cách dùng khoa học, kỹ thuật của Mỹ. Bằng cách hày bằng cách khác, Mỹ phải có bổn phận xây dựng đất nước chúng ta”.

Tôi hùa theo:

“Tối hôm qua, cháu nghe chú và ba cháu nói về chuyện Mỹ phải bồi thường chiến tranh. Vậy, theo chú, Mỹ nợ Việt Nam bao nhiêu?”.

“Theo hiệp định Paris, họ nợ mình ba tỷ rưỡi Mỹ kim”.

Tôi biết câu nói sắp đến không nên nói, nhưng tôi hết kiên nhẫn với người nói ngang nói ngược rồi; có bị bắt bẻ, tôi sẽ nói là tôi không biết.

“Rủi Mỹ nhắc cho Hà Nội nhớ lại là theo hiệp định Paris, Hà Nội không được thôn tính miền Nam. Chừng đó ăn làm sao, nói làm sao? “. Tôi hỏi.

“Cháu ngây thơ lắm. Mình đâu có thôn tính miền Nam. Đúng hơn là mình giải phóng miền Nam khỏi tay để quốc Mỹ và bọn bù nhìn”.Ông cười đắc ý.

“À, cháu quên là Hà Nội giải phóng miền Nam”.

Nam lại nói với một giọng hăm hở:

“Khi về Mỹ, cháu phải vận động người Mỹ đòi hỏi chánh phủ của họ phải tôn trọng Hiệp định Paris”.

Tôi thầm tự hỏi, tôi sẽ vận động ai? Bọn phản chiến đã chạy qua Gia Nã Đại? Hay vận động thượng nghị sĩ Gorge McGovern? Thấy tôi mỉm cười vu vơ, Nam hỏi tôi nghĩ gì? Tôi đáp:

“Cháu đang nghĩ xem cháu có thể vận động ai được, và người đó có đủ khả năng để thúc đẩy quốc hội Mỹ chấp thuận đề nghị nầy không?.”

Nam vội hỏi:

“Ai vậy?”.

Tôi cười:

“Thượng nghị sĩ McGovern”.

Nam có giọng nghiêm trang:

“Chú đã nghiên cứu về các thượng nghị sĩ Mỹ. Chú thấy ông McGovern là một trong số ít người có tinh thần phóng khoáng. Ông là người mà chung ta có thể tin tưởng được”.

Trời! Tôi thầm cầu xin tôi không phải là loại người “phóng khoáng” như ông cán bộ Cộng Sản nầy nói tới. Nếu “phóng khoáng” như vậy, tôi sẽ trở thành một thứ bù nhìn có lợi cho Cộng Sản. Tôi tự hỏi, không biết thượng nghị sĩ McGovern đã làm gì cho Hà Nội chưa? Tôi hỏi Nam:

“Tại sao chú nghĩ ông ấy là người phóng khoáng?”.

“Điều rõ ràng nhất là ông ấy chống chiến tranh”.

Tôi nghĩ rằng chú Nam hơi tầm thường, nhưng tôi lại nửa đùa nửa thật nói:

“Chú à, cháu còn phải học chú nhiều lắm!”.

Chú không hiểu ý tôi. Vừa lúc đó, có người vào bếp để sửa soạn bữa ăn trưa. Tôi muốn ở lại để tìm hiểu chú nhiều hơn, nhưng hôm nay tôi cho như vậy là đủ rồi, nên tôi xin phép ra về, dù chú cố giữ tôi lại.

Vừa ra khỏi toà đại sứ, tôi đi thật lẹ như muốn chạy cho xa chỗ nầy, rồi kêu xe taxi để về khách sạn. Tôi cảm thấy tôi dơ bẩn, vì đã vào toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nói chuyện với Cộng Sản bên ly trà. Việc đầu tiên khi về đến khách sạn, tôi đi tắm gội, rồi bỏ hết quần áo vô bao để bỏ giặt ủi.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply