Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 40

Tôi suy nghĩ nhiều đến câu nhắn nhủ của đại sứ Đinh Bá Thi đến Trương Đình Hùng: gởi “những thứ đồ” lên New York. Đến lúc nầy thì chúng tôi biết, Trương Đình Hùng chuyển tài liệu của Mỹ cho Cộng sản Hà Nội bằng hai con đường ngoại giao. Một là qua tay của Phan Thanh Nam ở Paris; bây giờ qua tay phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc.

Tôi phải biết rõ Trương Đình Hùng hơn, mới dám khẳng định anh ta là gián điệp. Vì vậy, tôi phải tích cực hơn, khi anh cần đến tôi trong công tác của anh. Tôi cũng nhớ lại lời đề nghị của Huỳnh Trung Đồng ở Paris. Anh khuyên tôi nên thành lập Chi Hội Washington, D.C, của Hội Việt Kiều Yêu Nước ở Mỹ. Muốn lập, tôi cần tìm hiểu cơ cấu và nội quy của Hội Việt Kiều Yêu Nước đang hoạt động ở Mỹ, mà chủ tịch toàn quốc là Nguyễn Văn Lũy. Như vậy, tôi phải gia nhập Chi Hội Việt Kiều Yêu Nước Washington, D.C; sau đó Huỳnh Trung Đồng sẽ cử tôi làm chủ tịch Chi Hội. Dĩ nhiên đó là chuyện hoang đường. Làm gì mà tôi có đủ kiên nhẫn lập hội. Cũng không có cái mặt nạ nào mà tôi mang được, để đứng ra đóng vai mình là “Việt Kiều Yêu Nước”.

Khi tôi cho Hùng biết ý kiến của Huỳnh Trung Đồng để dò phản ứng của anh, thì anh không đồng ý ngay. Với tư cách của một cán bộ có nhiều kinh nghiệm, Hùng nói:

“Nếu chị muốn tiến thân trên con đường nầy, chị đừng dính líu với những hội viên của Hội Việt Kiều Yêu Nước. Họ chỉ là những người cơ hội chủ nghĩa và gây rối thôi”.

Hùng không hoạt động với hội. Anh còn cho biết anh bất hoà với ông chủ tịch Nguyễn Văn Lũy, nhưng anh không quan tâm chuyện “nhỏ nhặt” nầy, vì anh giao thiệp thẳng những người cấp trên. Tuy nhiên, anh vẫn giữ một số bạn là hội viên, và những người nầy sẽ cho anh biết chuyện bên trong của hội. Nhiều lần Hùng khuyên tôi không nên dính líu với hội, chỉ nên làm những việc mà Nam đã giao phó. Tôi nghĩ, Hùng tưởng tôi là mật vụ của Nam đang dò xét và kiểm soát những hoạt động của anh ta.

Tôi cứ trà trộn với các hội viên của chi hội trong vùng Washington. Tôi gặp họ trong những ngày cuối tuần và cả những buổi hội họp ngày thường của họ nữa. Ông chủ tịch Nguyễn Văn Lũy bên San Francisco lại bắt đầu tỏ vẻ bực mình, vì ông không kiểm soát được tôi. Nhiều lần ông Nguyễn Văn Lũy gởi cho tôi đơn gia nhập hội, nhưng lần nào tôi cũng từ chối. Tôi viết thơ cho ông, nói cho ông rõ tôi ủng hộ ông, và sẽ tham dự buổi họp ông khi nào thuận tiện. Như vậy sẽ an toàn cho hội cũng như cho tôi, hơn là tôi trở thành một hội viên chánh thtrc, vì tôi tiếp xúc thẳng với những nhân vật của chánh phủ Hà Nội và những cán bộ ngoại vận.

Huỳnh Trung Đồng khéo léo khuyên ông Lũy không nên thắc mắc nhiều về tính cách độc lập của tôi. Sau đó ông Lũy mới viết thơ cho tôi nói rằng bây giờ ông đã hiểu địa vị của tôi với “nhà nước”. Không những thế, ông còn viết thêm: “Sự liên lạc của chị với chúng tôi rất quan trọng. Xin cứ tiếp tục liên lạc với chúng tôi và chúng tôi hy vọng được gặp chị ở bờ biển phía Tây”.

Ông Lũy tưởng rằng nhiệm vụ của tôi là báo cáo cho chủ tịch Huỳnh Trung Đồng biết mọi hoạt động của Việt Kiều Yêu Nước ở Mỹ, nên được ông đón tiếp gần như một thượng khách khi tôi bay qua San Francisco gặp ông. Ngay cả khi tham dự buổi họp của địa phương, tôi cũng được mọi người trọng vọng vì các hội viên đều nghĩ rằng tôi là người được Paris cử tới thanh tra và dò xét hội đoàn.

Mùa thu năm 1976, tôi tới San Francisco. Ông Lũy mời tôi dự buổi họp tại nhà ông với ban chấp hành của Hội Việt Kiều Yêu Nước. Họ cố gắng kéo tôi vô cuộc tranh chấp giữa họ với chi hội vùng Washington. Tôi phải nói mấy lời nhận xét vô thưởng vô phạt chẳng hạn như:

“Họ đang chờ đợi sự chỉ dẫn của quý vị. Lính tráng cần cấp chỉ huy”.

Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Mỹ là cây cầu cho hội viên gia nhập các hội ái hữu của Mỹ. Họ là những cán bộ yểm trợ cho ban ngoại vận của chánh quyền Hà Nội. Lúc đó họ đã bắt đầu tuyển mộ các khoa học gia Mỹ và những chuyên viên khác rất có ích cho nền kỹ thuật tồi tệ của Việt Nam, cùng một số lợi ích khác nữa. Ông Lũy tin rằng tôi nhận chỉ thị của đại sứ Võ Văn Sung và chủ tịch Huỳnh Trung Đồng ở Paris, nên ông cố gắng trình bày và báo cáo mọi chuyện mỗi khi gặp tôi, hay nói chuyện trên điện thoại với tôi. Ông cho tôi biết tên của những người tham gia tổ chức chống chiến tranh trước đó, và hiện tại họ liên hệ với nhiều chương trình khác nhau, có sự yểm trợ của một số kỹ sư Mỹ, nhằm ăn cắp kỹ thuật của Mỹ cho Việt Nam.

Trong một chuyến đi San Francisco, có Bill Fleshman của FBI và Rob Hall của CIA cùng đi, tôi có dịp được thấy một kết quả của hội Việt Kiều Yêu Nước nầy. Ông Lũy tổ chức một buổi họp tại gia để chào mừng Tiến sĩ Edward Cooperman, một nhà vật lý học ở đại học Fullerton, tiểu bang California. Ông cùng Việt Kiều Yêu Nước đứng ra tổ chức một “Uỷ Ban Khoa Học Kỹ Thuật Việt-Mỹ” gồm bảy mươi người, nhằm bảo trợ những ai muốn đi Việt Nam làm việc trong ngành nghiên cứu y khoa và các cơ quan giáo dục.

Cooperman vừa đi Việt Nam về. Trong buổi họp, ông loan báo sẽ mời mọi người xem hình ảnh cuộc viễn du ấy tại một địa điểm không được tiết lộ. Tôi muốn báo cho ông Bill Fleshman, nhân viên FBI, biết ngay cuộc họp bí mật nầy. Tôi đang nghĩ cách để có thể tiếp xúc với ông, thì từ trong nhà, một thanh niên người Việt Nam đi ra. Anh ta loay hoay mở cửa một chiếc xe classic, mui trần, màu đỏ, hiệu Thunderbird. Tôi trầm trồ khen chiếc xe của anh ta đẹp, tỏ ý muốn lên xe đi một vòng. Chuyện thấy người ta có chiếc xe đẹp, xin đi một vòng, là chuyện trẻ con.

Hình như đứa bé nghịch ngợm đó trong tôi không chịu rời tôi dù lúc đó tôi đã ba mươi tuổi rồi. Anh ta vui vẻ nhận lời ngay. Khi anh lái xe dọc theo bờ biển, tôi nhờ anh ghé vô một nhà thuốc tây để mua kem đánh răng. Vì xe mui trần, chỗ lạ, nên tôi biết thế nào anh ta cũng muốn ngồi chờ tôi để giữ chiếc xe quý. Đúng như vậy. Tôi vô tiệm một mình, mua cây kem đánh răng, trả thêm một đồng cho người bán hàng để được xài điện thoại của tiệm. Tôi cho Bill biết chuyện đang xảy ra, nhưng chưa biết địa điểm chiếu film ở đâu. Tôi đề nghị FBI nên theo dõi bằng trục thăng. Bill trả lời gọn khô:

“Đừng lo!”.

Anh cho biết hiện đã có người đang theo dõi buổi họp. Họ ngồi trong một xe “van” đậu bên kia đường nhà ông Lũy. Do đó, họ cũng có thể biết mọi người đi đâu.

Tôi trở ra với cây kem đánh răng, rồi chúng tôi chạy trở lại nhà của ông Lũy.

Chín giờ rưỡi, ông Lũy bảo mọi người lên mấy chiếc xe “van” và xe hơi được chỉ định để đến địa điểm xem hình chiếu về Việt Nam. Không ai được đi xe riêng. Tôi leo lên phía trước xe “van”, thấy tiến sĩ Cooperman đã ngồi sẵn ở đó với người Việt Nam trẻ, có lẽ là đồng chí, vì hai người nói chuyện có vẻ thân mật. Tôi liếc thấy xe “van” của FBI chạy theo, những một một lát sau tôi không thấy xe đó đâu nữa. Rồi tôi thấy trên trời một trực thăng bay theo đoàn xe của chúng tôi. Đoàn xe tới một trường học. Chúng tôi vô phòng hội lớn của trường để xem phim.

Từ hồi sớm tới buổi chiếu film, những sinh hoạt có vẻ hứng thú cho điệp viên, nhưng buổi tối bắt đầu chán ngắt. Tối hôm đó tôi phải ngồi “chịu trận” cố gắng coi cho hết những hình ảnh Cooperman chụp ở Việt Nam. Tôi đoán, ông chỉ được phép chụp những nơi nào có lợi cho giải phóng mà thôi. Tôi được xem đất nước Việt Nam toàn một màu xanh mướt với những nụ cười của mọi người được “giải phóng”. Cờ đỏ đầy đường, hình ảnh Hồ Chí Minh chen chúc trong thành phố, cổng làng, trong nhà người dân. Có một em sinh viên trong nhóm, chắc là cảm tình viên của Việt Kiều Yêu Nước, khều người bạn trai, nói nhỏ:

“Có hình bác Hồ trong nhà vào thời điểm nầy như có bùa hộ mạng hả anh?”.

Tôi thầm nghĩ, con bé nhỏ mà khôn ghê.

Tiến sĩ Cooperman nói sơ qua về các buổi họp với các khoa học gia ở Hà Nội, và hứa sẽ cố gắng giúp đỡ Việt Nam sự yểm trợ của những thân hữu của ông.

Khi mọi người ra khỏi phòng hội, tôi ngạc nhiên thấy sáu “đồng chí” người Ba Tư đứng gác ở bên ngoài cửa. Ông Lũy giải thích rằng, nếu không có người canh cửa, buổi họp thường bị “bọn phản động” phá rối, có khi gây ẩu đả. Bọn phản động là các sinh viên miền Nam Việt Nam và những người tỵ nạn.

Về chuyện ẩu đả nầy, tôi đã chứng kiến một lần. Hôm đó chúng tôi ở phòng hội của một trường đại học ở San Jose xem phim tuyên truyền của Cộng sản Hà Nội. Đó là phim “Đại thắng mùa Xuân” do chính tôi đem từ Paris về, theo đề nghị của chủ tịch Huỳnh Trung Đồng. Một người tỵ nạn Cộng sản Việt Nam ném một trái lựu đạn khói vô phòng họp. Khi mọi người hốt hoảng bỏ chạy, một người Ba Tư cao lớn được ông Lũy chỉ định hộ vệ tôi đã nắm tay tôi đưa tôi chạy ra phía sau trường. Nơi đây, tôi trông thấy cả một nhóm người Ba Tư. Sau đó, tôi được biết sự kết hợp chặt chẽ giữa những người Việt thân Cộng với người Ba Tư ở Mỹ. Người hộ vệ tôi hôm đó nói với tôi:

“Các bạn giúp chúng tôi về vấn đề di trú, thì chúng tôi bảo vệ các bạn khỏi bị bọn vô lại tấn công”.

Nói chung, Lũy thù ghét “đế quốc Mỹ”, không ưa người Mỹ, dấn thân và hy sinh cuộc đời, phục vụ Cộng sản. Tôi nghĩ hồi còn nhỏ ông cũng đã được cha mẹ yêu thương. Tình yêu đó vẫn còn nằm trong một góc của trái tim ông. Để tưởng nhớ người mẹ đã già mà ông tin vẫn còn sống ở Hà Nội, ông mở nhà dưỡng lão ở Montana, California. Ông chăm sóc cho các ông bà già như họ là cha mẹ ruột của ông. Các bữa ăn đều được ông nghiên cứu và nấu nướng cẩn thận cho hợp với người già. Ông còn quan tâm đến cả những khó khăn của họ, để tìm mọi cách cố gắng giải quyết giùm họ.

Ông Lũy rất ghét và không tin Trương Đình Hùng, đến cái độ ông chụp mũ Trương Đình Hùng đang hoạt động tình báo cho Mỹ; nên ông phải đề phòng để khỏi bị lôi thôi vì Hùng.

Tôi cười và nói thầm: “Đúng là Hùng đang hoạt động tình báo, những cho Chánh phủ Cộng sản ở Hà Nội, chớ đâu phải bên kia. Tôi mới là người hoạt động cho ‘bên kia’, ông ơi!”

Sau khi bị loại ra khỏi cấp chỉ huy mới của phe Giải Phóng, Nguyễn Thị Ngọc Thoa dọn về Santa Monica ở với chồng. Trương Đình Hùng và tôi bắt đầu gặp nhau thường xuyên. Anh tò mò về việc xuất nhập cảng của tôi, một việc làm để che giấu hoạt động tình báo. Rồi có một lần Hùng đòi tôi phải cho hắn biết tôi buôn bán gì, và lấy vốn ở đâu? Tôi cho anh ta biết việc mua bán của tôi cần rất nhiều vốn, vì đồ sứ và pha lê rất mắc tiền. Bà nội của chồng tôi đã để lại cho đứa cháu duy nhứt rất nhiều tiền khi bà mất. Nhờ vậy, chúng tôi có đủ khả năng tài chánh để buôn bán.

Sau khi nói cho Hùng biết như vậy, tôi cười thầm và ước gì bà nội chồng của tôi giầu thiệt! Không biết Hùng có nghi ngờ gì tôi, hay đó chỉ là tánh tò mò của anh ta, nhưng Hùng hay hỏi về đời tư và những hoạt động của tôi. Đó cũng là một điểm lợi cho tôi, vì tôi có thể hỏi ngược lại Hùng những điều như anh muốn biết về tôi. Một hôm, tôi thử dò anh để biết anh muốn gì trong tương lai. Nếu hai chánh phủ Hà Nội và Mỹ thiết lập bang giao, anh có muốn trở thành trưởng ban tình báo của toà đại sứ không? Tôi biết, anh đang cố gắng tìm một địa vị quan trọng trong chánh quyền mới.

Hùng sốt sắng trả lời:

“Về hoạt động tình báo ở nước nầy, tôi là người xứng đáng nhất”.

Hùng còn tử tế nhắc nhở tôi:

“Đó là lý do mà chị và tôi không nên dính líu với Việt Kiều Yêu Nước nữa”.

o O o

Vào mùa Xuân năm 1976, tôi giữ liên lạc chặt chẽ với Trương Đình Hùng hơn. Anh còn có cái tên là David Trường. Năm ngoái, sau khi chuyển một số sách lớn và tài liệu của Hùng cho Huỳnh Trung Đồng, rồi lại chuyển thơ của Đồng cho Hùng, tôi thành một cán bộ giao liên tin cẩn của cả hai người.

Vào giữa tháng Ba năm 1976, Huỳnh Trung Đồng viết cho tôi một lá thơ với nhiều tin vui. Anh vừa mới từ “thành phố Hồ Chí Minh” trở lại Paris. Anh có đến thăm ba tôi. Anh cho biết anh được thẻ đảng viên của đảng Cộng sản Việt Nam. Trong thơ, tôi nghe được niềm vui, sự phần khỏi và hãnh diện của ông chủ tịch

“Trong lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam, cho đến nay, tôi là cán bộ đầu tiên và duy nhất đang lãnh đạo hội Ái hữu người Việt ở hải ngoại được cái vinh hạnh nầy”.

Tin Đồng trở thành một đảng viên Cộng sản Việt Nam chắc sẽ khiến các nhân viên CIA ở Paris và các chuyên viên phân tích ở Langley quan tâm đặc biệt. Nó không phải là một sự kiện đơn giản, chỉ có ý nghĩa tầm thường rằng Huỳnh Trung Đồng đã được mang thẻ đảng viên. Địa vị và nhiệm vụ của anh phải quan trọng đến thế nào đối với nhà nước Việt Nam trước và sau năm 1975.

Cũng trong lá thơ nầy, Đồng yêu cầu tôi ráng hết sức bay qua Paris vào tháng Năm để gặp các đại biểu của các tổ chức Việt kiều khắp thời gian, gồm có: London, Rome, East Germany và Mỹ. Còn một điều hấp dẫn nữa, theo ông, thì thủ tướng Phạm Văn Đồng có thể sẽ nói chuyện với các đại biểu trong hội nghị nầy. Lạ một điểm, là anh biểu tôi cho Trương Đình Hùng biết, nếu tôi có thể đi được.

Tôi không phải nói tới lần thứ hai, cả Rob lần Bill đều nghĩ rằng tôi nên đi Paris, vì có ích cho cả CIA và FBI. Thế là tôi phải sửa soạn đi Paris ngày 22 tháng Tư.

Cũng ngày hôm đó, tôi cho hai ông biết tôi đã gặp David Trường để báo cho hắn biết tin tức qua lá thơ của Đồng. Tôi chăm chú nhìn Hùng để dò xét phản ứng của anh ta, nhưng dường như Hùng đã biết tin đó trước tôi rồi. Anh cũng biết cả tin thủ tướng Phạm Văn Đồng sẽ sang Paris. Nhưng điều quan trọng hơn hết, là Hùng cho tôi biết sắp có buổi họp giữa một phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ với một nhóm từ Hà Nội quá. Tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng sự thật tôi chưa biết tin nầy; mà tôi chưa biết thì CIA cũng chưa biết.

Trong bữa ăn trưa hôm đó, Hùng nói với tôi, anh sẽ nhờ tôi mang một số tài liệu sang Pháp. Kỳ nầy anh nhắc đi nhắc lại cẩn thận, dặn tôi là trao tài liệu cho Huỳnh Trung Đồng, đừng trao cho Phan Thanh Nam. Hùng còn khoe với tôi là ở Washington, hoạt động tình báo rất dễ dàng, nếu mình biết tiếp xúc đúng người. Hùng có biết một người Mỹ “có thể lên lầu bảy của Bộ Ngoại Giao và muốn lấy gì cũng được”.

Đây là cái tin có thể làm cho ông Giám đốc FBI Clarence Kelley và ông thứ trưởng ngoại giao Warren Christopher chạy vắt giò lên cổ trong những tháng sắp tới. Cái tin nầy cũng đưa nghề phản gián của tôi đi qua một khúc quanh thật chông gai.

Ba ngày trước khi tôi bay qua Paris, tôi lái chiếc xe Bronco ra ngoài Washington để lấy “đồ” mà Hùng nhờ tôi đem qua Paris. Tôi ghé ngay trước cửa sở của anh ở đường K; ba chiếc xe chạy sau tôi là xe của FBI theo dõi. Hùng đưa cho tôi một bao thơ lớn màu vàng, thật nặng; bao thơ nầy Hùng dặn đưa cho Huỳnh Trung Đồng; và một bao thơ nhỏ dài, đưa cho Phan Thanh Nam. Bữa sau, Hùng lại gọi tôi, muốn tôi trở ra phố gặp anh “cùng chỗ, cùng giờ” để lấy thêm một món nữa. Hùng nói lý do làm tôi đi qua đi lại nhiều lần, vì anh thận trọng, không muốn tôi giữ trong xe nhiều tài liệu trong một chuyến. Trong bao thơ kỳ nầy, anh không muốn tôi giữ qua lâu trước ngày tôi lên đường đi Paris

Thì thôi, 12 giờ 15 ngày 21 tháng 4 tôi trở lại đường K. Lần nầy tôi đi bằng chiếc xe khác. Tới phiên tôi cẩn thận, vì tôi nhớ có lần Hùng nói, anh có gặp một thằng Liên Xô trên bậc thang đi lên quốc hội, và “mấy thằng Liên Xô đòi hỏi quá nhiều”. Tôi nghĩ, trong kiếp làm gián điệp, Hùng có đổi chác với một thằng gián điệp Liên Xô; còn trong những bao thơ Hùng trao cho tôi những tài liệu mật của an ninh quốc gia Hoa Kỳ.

Tôi vừa đưa cho Bill Fleshman những bao thơ của Hùng, vừa nói:

“Anh đừng hỏi tại sao tôi biết nó là tài liệu mật; giác quan thứ sáu của tôi hay lắm”.

Fill bắt đầu xúc tiến mọi thủ tục để xin Bộ Tư Pháp cho phép FBI mở thơ của Trương Đình Hùng chuyển cho Cộng sản ở Paris. Sáng 22 tháng 4, tôi thất vọng vô cùng khi Bill Fleshman đem tất cả bao thơ trả lại cho tôi, vẫn còn dán kỹ như hồi Hùng đưa cho tôi. Anh cho biết bánh xe hành chánh chạy chậm quá, không kịp trước khi cho tôi lên đường đi Paris.

“Thì tôi hồi chuyến đi nầy. Có ai nói tôi phải đi tối nay đâu?”.

Không biết FBI nghĩ sao, mà Bill khuyên tôi nên đi theo lộ trình. Hai giờ chiều đó, tôi có mặt tại phi trường Dulles, trong khi ngồi chờ máy bay, tôi nghe máy phóng thanh kêu tên tôi, yêu cầu tôi đến quầy bàn giấy của Pan Am. Tôi đi lại thì thấy Rob đứng sắp hàng, tay không có xách va-li nhưng cầm tờ báo. Tôi bước vô đứng xếp hàng sau lưng anh. Anh đưa xem đồng hồ và lầm thầm nói: “Bỏ chuyến bay nầy. Đi taxi về nhà nhanh lên!”

Về tới nhà, thì mấy phút sau Rob và Bill ghé qua, lấy lại ba cái bao thơ, rồi dặn tôi ở nhà chờ lịnh trên. 4 giờ 45, Rob cho biết anh và Bill sẽ đem “đồ” trả lại cho tôi. Anh kêu tôi gọi bỏ vé máy bay Pan Am để đi TWA vào 6 giờ 20 tối đó.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, tôi học được nhiều bài học của má tôi và của người tỵ nạn. Một trong những bài học quý giá đó, là học được tánh thích ứng trong mọi hoàn cảnh. Tôi trả lời Rob “Đi thì đi”, trong khi Rob xin lỗi luôn miệng, vì suốt ngày đó họ đã quay tôi như cái chong chóng.

Tôi đến Paris, trời sáng còn lạnh thấu xương. Đây là lần thứ nhì trong đời, tôi có mặc cảm như người phạm pháp, khi đứng chờ hải quan xét va-li. Lần thứ nhứt, là từ Sài gòn về Mỹ năm 1974, tôi lén đem qua Mỹ cây Lá Cẩm; kỳ đó qua lọt, nhờ vậy mà sau nầy nhiều người Việt Nam ở Hawaii trồng Lá Cẩm, xôi Lá Cẩm bắt đầu xuất hiện trong bếp của những chị bạn khéo tay tôi ở Hawaii. Hôm đó tại phi trường Orly, hầu như tất cả mọi người, trừ mấy ông bà già, đều phải mở hành lý cho nhân viên quan thuế kiểm soát. Trong khi loay hoay mở cái va-li lớn và nặng trĩu trước mặt nhân viên quan thuế, tôi suy nghĩ lung tung để kiếm một lý do giải thích về hai bao thơ đầy những bí mật quốc gia. Tôi sẽ khai, tôi là sinh viên về khoa học chánh trị, nghiên cứu về nhân chủng học và Việt Nam là môn chánh của tôi. Nếu không tin, họ có thể làm khó dễ tôi. Lúc đó, tôi phải kêu điện thoại khẩn cấp cho CIA; chúng tôi chưa bao giờ đề cập tới chuyện khẩn cấp nầy.

Bao nhiêu lo lắng từ nãy giờ uổng sức, vì nhân viên hải quan chỉ hỏi biên lai của cây thuốc lá Black Russian tôi mua cho đại sứ Võ Văn Sung; tôi nghe anh Thái nói ông thích thuốc lá hiệu đặc biệt nầy.

Một tiếng đồng hồ sau, taxi đậu ngay trước cửa khách sạn Intercontinental. Người gác cửa mau mắn tới mở cửa taxi cho tôi ra phía sau đón lấy va-li của tôi từ tay người tài xế. Tôi mệt lả người, nhưng phải ghé qua cái quầy để ghi tên, lấy phòng. Mùi thơm từ phòng ăn bay ra làm tôi đói bụng. Ăn thì tôi chờ được, nhưng bây giờ tôi cần đi ngủ, vì suốt 24 tiếng đồng hồ tôi làm việc không ngưng.

Gián điệp cần ngủ kỹ mới tỉnh táo để chuẩn bị tinh thần. Trước mặt những cán bộ Cộng sản, tôi là “phe ta” của họ, tôi phải suy nghĩ như họ để nói bằng ngôn ngữ của họ. Như con cắc kè, tôi chuyển từ một người con gái Việt Nam da vàng ngạo nghễ qua một người đầy tớ của đảng và nhà nước.

o O o

Một giờ trưa, Rob gọi điện thoại. Anh hỏi:

“Tôi có đánh thức bà không vậy?”.

“Có chớ sao không!”. Tôi trả lời quạu đeo. Hồi con ở nhà với má và chị em, ai cũng biết cái tánh xấu của tôi, nên mỗi lần tôi nhờ bất cứ ai trong nhà đánh thức giùm, không ai thèm nhận việc đó. Mà tôi hay nói “đưa nào dại lắm mới đánh thức cọp”.

Nhưng rồi tôi thức dậy, sửa soạn để bắt đầu công tác. Theo quy tắc, Rob luôn luôn gặp tôi xem có gì thay đổi bất thường trong chương trình của tôi không. Hai mươi phút sau đó, tôi gặp anh vài ba phút rồi tôi bắt đầu chuyến đi Paris bằng một bữa ăn trưa trong một quán café xinh xắn ở Rue de Rivoli; sau đó gọi taxi đi thẳng tới gặp Phan Thanh Nam.

Trước khi ra khỏi phòng, tôi đã tìm nơi an toàn để giấu ba cái bao thơ. Cái duyên, là nhờ khách sạn đang sửa chữa, máng quần áo có một lỗ trống nhỏ đủ để người thợ điện bò vào mở miếng ván tạm đậy lỗ trống trong bức tường, thì phía trong tối như như đêm, dây điện chẳng chịt. Tôi nghĩ, hôm nay là ngay Chúa Nhựt không có thợ nào làm việc. Tôi để ba cái bao thư trong đó, rồi đậy lỗ trống lại, rồi đem quần áo trong va-li máng đầy lên.

Tôi cố ý chớ không phải vô tình mà không báo cho Phan Thanh Nam biết giờ nào tôi đến gặp ông. Ông chỉ được báo khoảng thời gian từ 20 tới 25 tháng Tư tôi sẽ tới Paris. Tôi muốn biết Nam làm gì trong một buổi chiều Chúa Nhựt. Nếu ông vắng nhà, thì tôi có thể gặp bất cứ ai trong cơ quan đó. Bây giờ, ai sống trong cơ quan nầy cũng đã biết tôi rồi; may ra ghé vô đó để nghe chuyện thâm cung bí sử trong lúc đợi ông về. Nhưng cái duyên chưa tới, mà tôi chỉ làm Nam giựt mình khi tôi nhấn chuông, ông ra mở cửa thấy tôi. Trong tay ông còn quyển “Cộng Sản học”.

Chắc ông cũng như tôi, bỏ qua những lịch sự trong cách giao thiệp hàng ngày: tôi không gọi ông trước khi tôi tới, thì ông cũng không hỏi qua loa về sức khoẻ gia đình tôi, mà ông rối rít hỏi tôi có làm những công tác ông giao phó không?

Tối hôm đó, tôi gọi Huỳnh Trung Đồng, cho anh biết tôi đã tới Paris. Không như Phan Thanh Nam, Huỳnh Trung Đồng luôn luôn lịch sự, hoà nhã. Anh hỏi thăm sức khoẻ má tôi, gia đình tôi. Anh hỏi tôi đi đường xa có mệt lắm không. Sau đó anh mới hỏi chừng nào tôi đến gặp anh. Tôi cho anh biết, sáng hôm sau tôi sẽ ghé qua hội quán gặp anh. Anh ngập ngừng hỏi tôi:

“Cô tới sáng sớm. Vì … vì chúng tôi cần tài liệu đó lắm”.

Tôi hẹn gặp anh 10 giờ sáng.

Sáng hôm sau tôi sửa soạn xong, chun vô cái cửa sau lưng tủ áo, lấy gói tài liệu bỏ vô cái bóp có máy ghi âm.

Nhiều lần vợ chồng tôi đi săn, anh John dậy tôi bí quyết săn nai. Trước hết là phải ăn điểm tâm, phải kiên nhẫn, chú ý tới những thói quen của bầy nai như: nó ra ăn giờ nào, uống nước ở đâu. Phải ngồi trên cây chờ nai có khi cả năm, sáu tiếng đồng hồ mà không được nhúc nhích. Hôm nay, tôi không có săn nai, mà săn cán bộ Cộng sản, xem “chúng tôi” của Huỳnh Trung Đồng là những ai. Tôi chờ họ ngồi đâu vào đó, rung đùi chờ tôi, chừng đó tôi mới thấy được hết mặt mấy ông quan cách mạng. Vì thế, tôi chần chờ một lát, ghé qua mua tờ báo, tìm một tiệm café, ăn điểm tâm, chuẩn bị tinh thần.

Tôi tự dặn mình rằng, tôi đang là một công tác cho an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, một việc làm nguy hiểm, chứ không phải tôi là du khách ghé qua Paris để tận hưởng mùa Xuân Paris. VC, Cộng sản, KGB, phản gián Tây có thể theo dõi tôi từng giờ từng phút. Họ có thể chụp hình, họ có thể giả dạng ăn cướp, ăn mày, mà giựt bóp tôi. Dù vậy, tôi luôn luôn đi đứng tự nhiên, không để bị chú ý. Uống café xong, tôi thong thả gọi taxi tới hội quán của hội Việt Kiều Yêu Nước.

Sáng nay, trước cửa trụ sở của hội Việt Kiều Yêu Nước vắng hơn mọi khi; không có sinh viên và mấy ông bà già Việt Kiều Yêu Nước, dù trong trụ sở có nhiều người hơn mọi khi. Con chó vàng thường nằm ngủ trước cửa hội quán, hôm nay có vẻ ngồi đứng không yên. Nó đứng chặn cửa nên tôi không dám bước vào, người quản gia phải đá bên hông nó, nó mới tránh đường cho tôi đi vô.

Huỳnh Trung Đồng dẫn tôi vô phòng học tập, có ba người đàn ông trạc 40, 50 và một người đàn bà cũng trạc tuổi đó. Tất cả mặc đồng phục màu xám sậm, nhìn vào là biết màu Xã-hội Chủ-nghĩa Hà Nội liền. Tất cả đều đeo hình Hồ Chí Minh trên ngựci. Anh Đồng giới thiệu mọi người, cuối cùng là “chị Vân”. Được biết trước kia chị là phụ tá của bà Nguyễn Thị Bình trong thời gian hội đàm Paris. Thì ra, chị nầy đã phục vụ bà Bình, đã làm việc và sống trong cái villa mà ba má tôi đã đến đó ở một lần. Chị đón bắt tay tôi, và nói:”Tôi kính trọng bác Năm, ba cô lắm. Bác dạy tôi rất nhiều”.

Trên vẻ mặt hân hoan của mọi người, tôi biết tất cả đang chờ một điều gì, một cái gì, mà bây giờ nó đã đến. Tôi nghĩ họ chờ tôi; đúng hơn, họ chờ tài liệu của Trương Đình Hùng do tôi đem tới. Tôi trao cho anh Đồng cái bao plastic đựng ba cái bao thơ.

“Em có đem quà cho anh đây”!

Vừa nói tôi vừa bấm cái nút “on” của máy ghi âm trong bóp của tôi. Anh Đồng nhanh nhẹn nhận lấy bọc plastic. Anh nói: “Cô đến thật là đúng lúc”. Anh liền đưa cho một trong những cán bộ cái bao thơ dầy nhứt. Ông như một đứa trẻ mở quá Giáng Sinh, trong khi ba người kia hăm hở chờ. Anh Đồng dẫn tôi qua phòng khác để họ làm việc. Tôi thấy chị Vân trợn mắt rồi kêu lên: “Trời ơi, chắc chúng ta phải mất ít nhứt năm tiếng đồng hồ để chuyển ngữ đống tài liệu nầy!”

Tôi vừa đi theo anh Đồng vừa cười thầm: “Chị có muốn lần sau thông dịch viên của FBI dịch cho chị trước khi tôi đem qua không?”.

Anh Đồng không ngớt cảm ơn tôi. Anh còn cho biết là anh sẽ báo cáo với “những người có trách nhiệm bên nhà” sự đóng góp “to lớn” của tôi.

“Chừng nào phái đoàn của mình gặp phái đoàn của Mỹ?”. Tôi hỏi.

“Sắp sửa. Khi nào thuận lợi cho bên ta thôi. Chúng ta sẽ được báo trước. Cô tới quá kịp thời, đúng lúc”. Vừa nói anh vừa quay lưng lại chỉ vào bốn người cán bộ đang chia nhau những tài liệu của Trương Đình Hùng gởi qua cho họ. Tôi chưa bao giờ thấy anh Đồng cười; vậy mà hôm nay anh vui ra mặt.

“Vậy thì bên mình sẽ nói cái gì với họ hả anh Đồng?”. Tôi ngây thơ hỏi anh.

“Chung quanh vấn đề Mỹ phải giữ lời hứa của tổng thống Nixon”. Huỳnh Trung Đồng nhắc lại việc bồi thường chiến tranh với ba tỷ rưỡi dollars sau khi chiến tranh chấm dứt. Anh tiếp tục “…để hàn gắn vết thương của chiến tranh gây nên!”.

Tôi nói thầm:“Vết thương chiến tranh trên xứ mình gây tổn thất gấp trăm ngàn lần ba tỷ rưỡi dollars mà Hồ Chí Minh gây ra, chớ Nixon nào gây ra mà đi đòi tiền Mỹ?”.

Mỗi lần Cộng sản và những người phản chiến nhắc đến những đổ vỡ, những thiệt hại do chiến tranh gây nên, họ đều có một lập luận giống nhau. Tất cả đều đổ lỗi cho “đế quốc Mỹ”. Đã một lần tôi nói với ba tôi, là suốt thời gian chiến tranh, miền Nam ở trong thế thủ để bảo vệ mảnh đất tự do, trong khi Hà Nội ở thế tấn công. Liên Xô và Trung Cộng viện trợ, xít cho Hà Nội nhuộm đỏ miền Nam. Vậy thì ai là người gây thiệt hại trong cuộc chiến nầy? Ba tôi chỉ nói: “Con không hiểu”.

Tôi trả lời ba tôi:

“Con là con nhà họ Đặng, nhưng được họ Trần nuôi dạy, chớ đâu phải cháu ngoan của bác Hồ, nên con hiểu nhiều lắm, ba ơi!”.

Tôi biết ba tôi thương tôi lắm, và tôi là người làm rắc rối cho ông còn hơn “đế quốc Mỹ”.

Phan Thanh Nam muốn xài tôi như người ta xài trái chanh, trong khi Huỳnh Trung Đồng thì cư xử với tôi như người ta vun vén cây chanh. Ở anh Đồng, cái thiện nó có trong tâm anh, nhưng cái ác nó ở trong hành động của anh. Mà tôi biết, sau khi trở về Việt Nam nhận thẻ đảng viên của đảng Cộng sản, anh trở lại Paris hai vai mang nặng nợ nước nhiều hơn thời kỳ “chống Mỹ cứu nước”. Huỳnh Trung Đồng chưa sống dưới chế độ Cộng sản một ngày nào trước 75. Suốt thời gian chiến tranh, anh phục vụ MTGP tại Paris; về Việt Nam một tháng, khi trở qua Paris, anh như người bị mất hồn.

Anh kể cho tôi nghe, anh xuất thân từ một gia đình khá giả ở miền Nam, nên anh được du học. Chị của anh là một quả phụ. Sau tháng 4-1975, chị phải “dâng hiến” tài sản cho nhà nước, không còn nơi nương tựa, nên dọn về ở với ba của chị. Cũng là dịp ông đau nặng không còn tiền, không đủ “tiêu chuẩn” đi nằm nhà thương. Khi về nhà, thấy tình cảnh gia đình thê thảm quá, anh tới gặp ba tôi, nhờ ông giới thiệu với chánh quyền trong thành phố, nâng cao tiêu chuẩn của ba anh lên bậc “có công với cách mạng” (có công vì ông là ba của Huỳnh Trung Đồng). Ngay sau đó, ba của anh Đồng được đưa vào nhà thương chữa trị. Anh không ngớt nhắc đến sự giúp đỡ của ba tôi.

Trong khi tôi chỉ trích nhà nước, anh Đồng khéo léo: “Rồi đâu sẽ vào đó!”.

Hôm đó, anh Đồng cho tôi cái giấy mời để được đi xe bus cùng với Việt kiều ra phi trường đón thủ tướng Phạm Văn Đồng. Chuyến công du nầy, trước tiên là thiết lập tình hữu nghị với nước Pháp. Ông cũng sẽ gặp các đại biểu của tất cả hội Việt Kiều Yêu Nước ở mọi nơi, để mở đầu cho chiến dịch ngoại vận. Những hội viên, những đại biểu nào mà trước đó không thể về Việt Nam được một lượt với Huỳnh Trung Đồng, vì lý do họ chưa có đủ giấy tờ để du lịch – trường hợp những người tỵ nạn mới, chưa có thẻ xanh, trong đó có những sinh viên du học- sẽ được gặp thủ tướng trong chuyến công du nầy.

Tôi nhận cái giấy của anh Đồng, nhưng tôi không có ý định leo lên xe bus ra phi trường phất cờ đỏ sao vàng đón ông, mà tôi cần thấy sắc thái của ông thủ tướng già để báo cáo với CIA mà thôi. Có giấy mời đó, tôi được đi vào toà đại sứ để dự buổi tiếp tân, nhưng tôi lại đứng sắp hàng với mấy trăm người trước cửa toà đại sứ. Ông Phạm Văn Đồng ra trước cửa toà đại sứ nói vài câu chào mừng Việt kiều, hai tay nắm vào nhau đưa lên cao, cặp mắt không có thần, mặt nặng như chì, không nhếch mép cười với những tiếng vỗ tay của đám người chờ sắp hàng hơn một tiếng đồng hồ, trong đó có tôi, có Việt kiều đã sinh sống trên đất Pháp suốt đời, có lính Lê dương, có mấy người Corsicans dẫn theo mấy bà vợ Việt Nam. Ông Phạm Văn Đồng nói, tình bạn giữa hai quốc gia rất quan trọng cho hai dân tộc Việt-Pháp; vì vậy chuyện cũ bỏ qua, lỗi lầm tha thứ hết. Tôi lầm bầm trong bụng “Tây nó bắn, nó giết, nó đâm, nó dầm dân tộc Việt Nam, ông không hề hấn gì, ông bôi bỏ lịch sử đó để đi ăn mày được, chớ Việt Minh của tôi không tha thứ, cũng không quên tội lỗi của đồ thực dân nầy đâu!”.

Phạm Văn Đồng xuất hiện có mấy phút rồi trở vào bên trong toà đại sứ.

Chuyến công tác nầy, tôi ở Paris 18 ngày. Mười tám ngày Xuân đẹp hơn trong những tác phẩm đã ca ngợi mùa xuân ở Paris, nhưng tôi chỉ được hưởng nó khi tôi biết cách làm cho ngày dài hơn 24 tiếng đồng hồ, vì tôi làm việc từ 10 giờ sáng tới 12 giờ khuya. Tôi tìm gặp người tỵ nạn, tâm tình với người Sài gòn vừa chạy qua Paris. Tôi gặp Cộng sản Hà Nội, tôi thăm dò tình ý người của MTGPMN . Tôi được tới nhà những người Việt Nam đã sinh sống ở Paris, đã nhiệt tình ủng hộ MTGP qua nhiều giai đoạn, nhưng sau 1975 họ mới thấy rõ bộ mặt thật của Cộng sản Hà Nội. Những anh chị em nầy lập thành một nhóm để cùng nhau tẩy chay chế độ mới. Trong khi đó, hàng ngày tôi phải liên lạc, báo cáo với CIA. Nhưng không vì vậy mà Paris không mùa xuân.

o O o

Trong thời gian tôi công tác ở Paris, ở nhà, FBI điều tra rối rít để tìm ra danh tánh người bạn Mỹ của Trương Đình Hùng, người mà anh đã một lần khoe với tôi là ông ấy có thể lên lầu 7 Bộ Ngoại Giao lấy tài liệu mật cho anh ta.

Thời điểm đó Bộ Tư Pháp không được phép mở thơ, không được nghe lén, không được đặt máy ghi âm người bị điều tra, nếu người đó là công dân Mỹ hay thường trú nhân. Chỉ khi nào cơ quan điều tra có đủ bằng cớ, thì cuộc điều tra mới được tiến hành đến giai đoạn nầy.

Trường hợp của Trương Đình Hùng, FBI và Bộ Tư Pháp đã ra toà xin phép điều tra anh bằng cách nghe lén điện thoại của anh, những toà không cho. Sau đó, ông bộ trưởng Bộ Tư Pháp là ông Griffin Bell trình lên tổng thống Jimmy Carter. Hai ông cùng là người xuất thân từ tiểu bang Georgia. Ông Griffin Bell Bell lớn tuổi hơn tổng thống Carter, là một vị luật sư nổi tiếng thế giới, giầu kinh nghiệm. Ông đã từng phục vụ nhiều tổng thống nước Mỹ trong thời gian ông Carter còn là sĩ quan Hải Quân. Tổng thống Carter đã mời ông Griffin Bell giữ chức bộ trưởng Bộ Tư Pháp khi ông đắc cử tổng thống. Ông Griffin Bell đích thân đến Toà Bạch Ốc gặp tổng thống Carter để trình bày một vấn đề có liên quan đến an ninh quốc gia. Tổng thống Carter lắng nghe và cho phép Bộ Tư Pháp mở cuộc điều tra Trương Đình Hùng với những kỹ thuật của ngành phản gián. Đây là lần đầu tiên Toà Bạch ốc cho phép ban phản gián dùng máy móc và nhân lực để điều tra thường trú nhân và người có quốc tịch Mỹ.

Bill Fleshman cho biết Trương Đình Hùng xài điện thoại liên miên, cho nên người thông dịch viên của FBI phải làm việc ngày đêm. Chỉ có mấy ngày nghe điện thoại của Trương Đình Hùng, FBI lấy được tên của người bạn Mỹ của Hùng. Ông ta tên là Ron. Một hôm, Hùng biểu Ron tới gặp anh ở chung cư anh đang ở. Tên Mỹ là tên Ron cũng như người Việt Nam tên Hồng, tên Cúc, tên Hùng, tên Dũng…; bây giờ FBI phải biết Ron họ gì mới tiếp tục điều tra xem người bạn đó của Hùng là ai?

Tối 13 tháng Năm, nhân viên FBI ngồi trong xe “van” ngang cửa chung cư của Hùng ở, thì thấy có một người Mỹ đi vô. Một lát sau ông đi ra và đi bộ. Những chiếc xe của FBI bố xua ra một cách kín đáo, theo gót ông đi thẳng vô Bộ Ngoại Giao. Nhân viên ra vào Bộ Ngoại Giao phải ký tên vào sổ ngoài cổng có lính gác. Khi ông Mỹ ký tên xong, thì một chiếc xe khác trờ tới, cũng đưa thẻ, cũng ký tên vào sổ, nhưng thẻ đó là thẻ của nhân viên FBI. Người nầy yêu cầu người gác cho xem tên của người vừa ký để vô cửa. Đó là Ronald Louis Humphrey, nhân viên của U.S. Information Agency. Ông ghi là ông lên văn phòng trên lầu 7. Bingo!

Sau đó, Bộ Tư Pháp cho phép ban phản gián của FBI gắn máy chụp hình trong văn phòng làm việc của ông. Gắn máy ghi âm luôn trong apartment của Trương Đình Hùng.

Cuộc điều tra bắt đầu diễn ra trong khi tôi vắng mặt nên tôi chỉ biết được sau ngày tôi trở về Mỹ. Họ còn cho tôi biết người bạn của Trương Đình Hùng là một nhân viên cao cấp Bộ Ngoại Giao, cấp bực GS-14. Ông có “top secret clerance”.

Trước khi tôi rời Paris, Phan Thanh Nam đưa cho tôi một bì thơ dán kín. Ông bộ trưởng Bộ Tư Pháp được tổng thống Carter cho phép mở thơ đó. Phan Thanh Nam viết: “Tôi hoan nghinh cách anh sắp đặt công việc làm ăn… Đôi khi cũng phải dùng tới sự lừa đảo và dối trá nhau”. Chúng tôi không hiểu Nam khuyến khích Hùng lừa đảo ai, dối trá với ai, nhưng khi Hùng mở thư, anh vừa đọc vừa mỉm cười.

Hùng cười tươi hơn, khi tôi cho anh biết là sự đóng góp của anh tối quan trọng; anh đưa tài liệu cho tôi đem qua Paris, vừa kịp thời, vừa giúp ích cho cuộc hội nghị giữa Mỹ và Hà Nội. Tôi nói lại cho anh biết, anh Huỳnh Trung Đồng nhắn với anh, là anh nên tiếp tục công tác hăng say. Anh Đồng cũng dặn anh “phải giữ sức khoẻ”.

Khi tôi nhắc đến “giữ gìn sức khoẻ”. Hùng liền hỏi tôi có luật sư không? Khi tôi trả lời là không, thì anh khuyên tôi nên có sẵn một luật sư giỏi. Anh còn nói là trong “nghề nghiệp” của tôi và anh, nên có một luật sư phòng khi hữu sự.

Một hôm, anh mời tôi đến nhà anh vào ngày Chúa Nhựt uống trà. Chúa nhựt đó là Father’s Day, John dẫn Lance đi câu cá, nên tôi rỗi rảnh. Nhà của Hùng ở đường F ngoài Washington, D.C. Căn phòng anh ở sạch sẽ, yên tĩnh. Trong phòng không có cây, không có hình, không bông hoa, mà chỉ có sách và báo chí. Thế giới của anh ở không có màu, không có sự sống, không có tiếng động, chỉ trừ một lát sau, tiếng nước sôi trên cái ấm nước anh nấu để pha trà là tiếng kêu quen thuộc.

Tôi nhìn quanh căn phòng của một người sống đời sống bóng tối, chờ hào quang, đời sống của một điệp viên Cộng sản. Tôi nghĩ đến Hải Vân em tôi, và cuộc sống đầy ý nghĩa của em trước khi em tử nạn. Trong giây phút đó, cái thiện của con người tôi muốn bước ra nắm tay Hùng, biểu anh hãy bỏ tất cả. Hãy rước ba má của anh ra khỏi Việt Nam. Tôi muốn nói, anh nên ra khỏi cái thư phòng, đi tìm việc làm xứng hơn với học vấn của anh. Cha mẹ anh đã nuôi anh khôn lớn, cho anh du học, hao tốn biết bao nhiêu tiền, nuôi biết bao là hy vọng. Tỉnh dậy đi Hùng, không thôi anh sẽ thức với cơn ác mộng!

Chúng tôi ngồi uống trà. Tôi cố không khơi chuyện về việc làm của anh, bởi vì tôi biết phòng anh đang ở bây giờ đã có gắn máy ghi âm. Nhiều đêm tôi nằm nghĩ, làm gián điệp không phải là nghề của tôi, mà là cái nghiệp, bởi vì tôi cứ bị cái thiện và cái ác vật lộn với nhau trong lương tâm hoài, làm cho tôi mệt trí quá.

Tôi báo cho Hùng biết là chồng tôi vừa được sự vụ lịnh đổi qua London. Tôi không đọc được ý nghĩ trên mặt Hùng về việc tôi sẽ rời Washington, mà anh lại dặn tôi trước khi rời Washington, anh nhờ tôi lấy thêm tài liệu đem qua Paris giùm anh.

Hùng gặp tôi vào buổi tối sau giờ làm việc để đưa cho tôi tài liệu. Ban đêm một mình ra Washington rất nguy hiểm, nên anh vô Virginia gặp tôi. Chúng tôi gặp nhau tại bãi đậu xe trước cửa The Hetch Cơmpany trong Landmark Shopping Center. Hùng bưng ra một bọc loại bọc giấy ở chợ, đầy giấy tờ trong đó.

Sau khi nhận gói hồ sơ rồi, tôi định chia tay Hùng, thì anh đề nghị ghé vô một quán nước uống café và nói chuyện trước khi chia tay. Khi chia tay, Hùng bắt tay tôi và chúc tôi bình an. Giòng máu Con Rồng Cháu Tiên trong cơ thể làm cho tôi trắc ẩn trong lòng. Hùng là người Việt Nam dù anh làm gián điệp cho Cộng sản, anh cũng mang giống máu da vàng. Tôi thương hại Trương Đình Hùng vô cùng, vội choàng tay lên vaii Hùng, rồi nghẹn ngào nói:

“Hùng giữ gìn sức khoẻ nhen. Hết giặc rồi, hứa với tôi là Hùng nghỉ ngơi. Lên Boston thăm anh Ngô Vĩnh Long như Hùng mơ ước đi hoài mà chưa đi được đó”.

Tôi chạy ra xe của tôi trong khi Hùng đứng nhìn theo.

Tôi cảm thấy tội lỗi với một người vừa chia tay tôi, một người đứng nhìn cho tôi lên xe an toàn, rồi anh mới lên xe anh. Trong khi đó, tôi liếc thấy có vài ba chiếc xe của toán FBI gần đó. Tôi cố tình chạy hết tốc độ để không phải suy nghĩ tới hoàn cảnh éo le, để lương tâm không cắn rứt, để thương hại Hùng.

Như đã hẹn trước với FBI, tôi chạy về Springfield, Virginia, đậu sau lưng khách sạn Holiday Inn. Bill Fleshman và toán nhân viên FBI mở cửa bốn chiếc xe, đi đến gặp tôi. Tôi đưa gói đồ cho Bill rồi nói:

“Mấy anh muốn làm gì thì làm với mấy hồ sơ nầy! Tôi không muốn thấy mặt nó nữa”.

Tôi lái xe về nhà. Trời không mưa, nhưng mắt tôi ướt.

Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

  Tháng tám, mùa Thu năm Dậu, binh lửa khắp bốn phương, Hà Đô rực cháy ta lánh mình về ở Thạch Quận, nơi ấy núi đồi trùng điệp, khí lạnh căm căm. Nhân khi thong thả, có kẻ cho mượn một cuốn văn vần rách nát đọc giải khuây. Câu chuyện đời nàng họ Vương đã muôn phần éo le oan trái thời nhiễu nhương tao loạn, thật đau lòng rơi lụy; lại thêm lời thơ như ngọc chuốt, ta tuổi còn thơ cầm nước mắt không đang. Đến như Từ Hải đường đường một đấng mà cũng sa cơ làm ta xót xa tấc dạ.

Ta hỏi: Áng văn của ai mà trác tuyệt. Đồ trẻ ranh miệng còn hôi sữa biết gì mà nói, tuổi mày còn chưa được phép đọc nửa kể gì đàm luận, khúc Đoạn Trường Tân Thanh này là của Tố Như Tiên Sinh viết ra đã hơn một trăm năm. Từ buổi ấy ta lấy sách đó nằm lòng đọc đi đọc lại đến nỗi nhập tâm. Bao nhiêu dâu bể sống lên trong buổi nhiễu nhương bức rứt, đứng ngồi không yên, cảnh tang thương diễn ra như giấc mộng, tuồng đời lắm cảnh nhố nhăng khiến ta mỗi ngày một thêm yêu tay giang hồ Từ Hải, lòng những không yên tự hỏi: đời người anh hùng quả vậy chăng? Một đêm kia, ta đang đọc sách bên đèn trên lầu vọng nguyệt bỗng thấy một người oai phong lững lững vén màn đẩy cửa, đi vào ngồi xuống tràng kỷ đối diện với ta, xưng tên là Từ Hải. Vừa mừng  vừa lo, không biết mình tỉnh hay mê? Ta hỏi: Ông còn sống sao? Từ đáp: Ta vẫn còn sống, cảm vì thanh khí nên mạo muội đến hầu chuyện, uống với nhau chén rượu nhạt, hát với nhau một vài câu, chắc tiên sinh cũng chả chấp gì mà không cùng nhau vui ít phút nhất nửa ta cũng muốn kể lại cùng tiên sinh một vài sự thực của đời kẻ giang hồ này… Ôi câu chuyện ngày nào còn thảng thốt như một giấc chiêm bao, thực giả, giả thực nhiều lúc củng làm ta choáng váng chẳng biết ra sao. Khi tỉnh dậy ta vẫn còn nghe như tiếng ai trầm buồn bóng ai thấp thoáng, tiếng cười giọng nói như còn phảng phất. Từ đó đến nay câu chuyện vẫn còn in trong dạ đã nhiều phen cầm bút viết ra, nhưng giấy bút vẫn chừng như nguội lạnh, bao đêm trường thao thức nhiều khi muốn đoạn tuyệt với bút nghiên.

Giấy mực còn có nghĩa gì nửa? chữ nghĩa thánh hiền mà làm chi? Đêm qua ta lại thấy Từ Hải về đứng bên thư án hỏi: Tiên sinh còn nhớ kẻ hèn này không? Ta nói: Còn nhớ, quên sao được… Từ Hải trừng mắt nhìn ta: Sao tiên sinh không vứt bỏ bút, đốt bỏ sách mà cầm lấy một con chủy thủ? Ta buồn rầu: Con chủy thủ từ chàng Kinh Kha đến nay đã thất truyền, còn chăng là những con chủy thủ giả trong giới lục lâm. Từ Hải quát lên: Tiên sinh không còn một mũi nhọn nào khác sao? Ta lặng đi, đến khi nhìn lên thì không còn thấy Từ đâu nửa.

Đêm nay nằm nghe tiếng súng vẳng đưa vào kinh thành, trời đất u ám, ta nghe như tiếng quát của Từ Hải còn vang dậy. Ta thấy cần phải trả cho xong một món nợ nên ngồi vào thư án, thắp ngọn bạch lạp mà viết lại câu chuyện đời của Từ Hải này, một là để gởi cho vong linh của Từ Hải. Sau là để tạ ơn với Nguyễn Du tiên sinh đã cho một kẻ sống 200 năm sau được gặp một tay giang hồ cự phách.

Từ Hải dời bến lên tìm tửu điếm. Trời nhá nhem tối qua mấy con đường trong phủ vẫn không thấy một tửu điếm nào, mải cho tới cửa đông thành mới thấy mợt quán rượu lớn ngoài cửa có treo đèn lồng liền bước vào gọi rượu, chủ quán ngó vào mặt Từ Hải rồi từ chối:

_Ở đây không bán rượu anh sang cửa Bắc mà uống.

_Sao cửa tiệm bán rượu mà không bán rượu là thế nào. Nhà ngươi sợ ta không có tiền sao?

Vừa khi đó có hai người khách bước vào quán kêu rượu, chủ quán bỏ Từ Hải chạy vào kêu kẻ hầu mang rượu ra. Trông hai người kia có vẽ sang trọng hơn. Từ Hải đập bàn hét lớn:

_Tụi bay khinh ta không đáng uống rượu sao?

_Có lẽ anh ở xa mới tới nên không biết rằng nơi đây chỉ bán rượu cho các quan mà thôi. Anh sang cửa Bắc uống với tụi phu phen và lái buôn ở bên đó thì hơn.

Từ Hải nghe nói máu giận trào hông nhào tới thoi tên chủ quán một cái nhào vô tường té xỉu. Hai người khách ở bàn trong đứng dậy. Người cao lớn tiến ra chưa kịp nói nửa lời đã bị Từ hải đá chúi ngả vào gầm bàn. Người khách còn lại ra vẽ văn nhân đứng ở phía bên kia bàn nói ra:

_Nhà ngươi sao dám phạm vào quan Thái Úy, muốn chết hay sao?

_Thái gì, có thái thịt, mi muốn ta thái nó ra từng miếng mà nhậu nhẹt chơi không. Mi muốn sống hãy ngồi xuống, ngồi xuống, ta ra lệnh.

Người khách run sợ ngồi im. Từ Hải tới vực tên kia dậy rồi đặt ngồi trên ghế cùng tên chủ quán.

_Quán này dành cho các quan mà, toàn quan lớn cả, thằng thuyền chài này xin làm một tên lính hầu rượu cho phải phép. Tửu bảo đâu mang rượu ra đây.

Lũ hầu run sợ mang rượu ra, Từ Hải cầm cả vò đổ lên đầu tên Thái Úy và chủ quán.

_Uống đi mời các quan…ngàn năm một thưở kẻ hèn mọn du côn này mới có cơ hội để hầu rượu quý quan. À, quan lớn, mời quan lớn.

Người khách ngồi im như đã chết. Từ Hải đẩy một vò rượu qua nhưng khách vẫn ngồi im.

_Sao quan lớn, hay ngài không muốn dùng thứ rượu này. Tửu bảo hãy cho ta thứ rượu tăm Sơn đông ra đây, hãy hâm thật nóng. Tửu bảo mang rượu ra. Từ Hải mở vò ngửi ngửi rồi nhấc lên tu một hơi. Một hơi rượu làm Từ Hải tỉnh táo, Từ đưa tay quệt áo ngang miệng nhìn người khách vẫn ngồi im.

_Quan lớn, nhậu đi quan lớn, mấy khi tên cu ly này mới được hầu rượu quan lớn! Tửu bảo cho ta nửa con heo béo ra đây.

_Dạ thưa không có heo.

_Có thịt người không?

_Dạ… dạ…

Từ Hải hít mũi đánh hơi rồi xô ghế đứng lên đi thẳng xuống nhà bếp. Từ thấy có mấy đảnh thịt treo liền vớ lấy.

_Cái gì đây tụi bây?

_Dạ thịt cầy

_Thịt cầy thì tao không ăn được sao? Hay thịt cầy chỉ dành cho các quan lớn quan nhỏ nhà mày?

Từ Hải mang mấy đảnh thịt lên vừa ngoạm vừa uống rượu. Tên Thái Úy và chủ quán đã ngúc ngoắc cái đầu. Người khách vẫn ngồi im.

_A ha, quan lớn chê rượu Sơn đông à. Vậy thì có một thứ rượu chính hiệu Việt đông đây, kẻ hèn xin cam đoan là rượu tốt để dâng lên ngài dùng thử.

Vừa nói Từ Hải vừa đứng lên hai chiếc ghế giang chân tụt quần ra và lấy chiếc bát cầm ở tay mà đái vào. Xong xuôi Từ Hải bước vào giữ đầu người khách mà đổ vào miệng. Hắn kêu ằng ặc như một con heo bị chọc tiết. Kẻ trong quán ngó ra xanh mặt. Ăn uống no say Từ Hải đứng dậy kêu tửu bảo:

_Lúc các quan lớn trở dậy chúng bây nói lại rằng: Từ Hải, một tên chèo thuyền du côn ở bến Việt đông rất mong được hội ngộ quý quan…

Từ Hải chếnh choáng hơn men trở về bến miệng lảm nhãm văng tục. Lủ tửu bảo kinh hồn đứng ngó nhau, bởi cái tên Từ Hải làm họ rụng rời. Ở cái đất Việt đông này cái tên Từ Hải ai là chẳng nghe đến một hai lần bởi những hành tung của Từ Hải. Từ là một con người thuyền chài dưới bến, có võ nghệ, người đen đủi xấu xí, nhưng xử sự là một tay anh chị hào phóng. Hồi chưa có Từ Hải ở phủ Việt đông bọn du thủ du thực lưu manh phá phách thật khổ sở, chúng làm đủ mọi việc nhơ bẩn. Một tay Từ Hải đã làm cho bọn này khiếp sợ, kẻ thì bỏ đi tìm đất khác kiếm ăn, kẻ cải tà quy chánh làm đàn em Từ Hải, cho nên người ta gọi Từ Hải là “trùm du côn”. Từ Hải thấy chuyện gì chương tai gai mắt là chẳng bỏ qua giúp kẻ yếu trừ kẻ mạnh, lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo chẳng bao giờ thu cho mình một chút lợi nhỏ quanh năm đóng một chiếc khố rách. Bởi thế ai cũng kính nể, mến chuộng. Từ chỉ vui với đàn em và nghề chài lưới nể ai mời mọc trả ơn chàng thì nhận uống một bữa rượu suông cho say mà lấy làm thích. Uống rượu ngà ngà Từ Hải huyên thuyên hát và gảy đàn như một tài tử  nhàn du hạnh phúc. Viên quan ở đó có ý mến cho gọi đến sung vào lính. Từ Hải làm ngơ và từ chối: “Thưa quan lớn con chỉ là con nhà thuyền chài” Nhưng cũng vì những hành tung của Từ Hải mà bọn quyền thế thù ghét đã nhiều phen định hãm hại.

Chẳng bao lâu viên quan cai trị cũ bị đổi. Viên quan mới hống hách thêm vào bọn sai nha quấy phá. Những chuyện đo nhiều phen làm Từ Hải tím mặt bầm gan. Rồi bổng đâu có một tin sét đánh tới tai dân chài: Viên quan ra lịnh trưng dụng tất cả thuyền bè để chở đá về Bắc kinh xây dựng hoàng cung. Đó cũng là vì viên quan muốn lập công với triều đình. Lệnh vừa ban ra dân chài lo sợ cho đời sống. Họ chỉ còn biết nhìn nhau khóc. Lời ta thán kêu ca tưởng thấu tới trời. Từ Hải liền tụ tập mọi người kéo tới cửa phủ để kêu xin. Nhưng cửa phủ đóng kín, lính canh nghiêm ngặt không cho vào. Chẳng những thế lính canh còn được lệnh đánh đuổi lũ dân đen. Những ngọn roi đã quất xuống. Từ Hải cáu giận quát lên:

_Sao lại thế được không có dân chúng bây làm quan với ai? Chúng bây muốn chết không có đất chôn phỏng?

Từ Hải liền trở về. Đêm hôm đó liền tụ họp mọi người lại tìm cách đối phó. Từ Hải bàn cùng mọi người xem phải làm thế nào. Nhưng rồi chẳng biết phải làm sao.

_Tại sao chúng ta lại phải chịu mãi sự bất công? Chúng ta đâu phải súc vật để chúng nó làm sao nên vậy. Bà con cô bác nghĩ xem. Tôi chỉ muốn bằm cho chúng nó mấy nhát rồi ra sao thì ra.

_Nhưng sức chúng ta yếu.

_Không, chúng ta không yếu nếu chúng ta hợp sức với nhau. Tại sao chúng ta lại không chống cự?

_Anh định rủ bà con làm loạn hay sao?

_Làm loạn là thế nào? Ai lại không muốn yên ổn làm ăn? Nhưng bây giờ người ta có cho mình sống như thế không? Sưu cao thuế nặng, nay mai việc khác ăn không ngon, ngủ không yên. Kẻ trên không đoái đến dân chỉ lo thụ hưởng, chất chứa bạc vàng, xây dinh thự, đàn ca hát xướng. Kẻ dưới cậy quyền hà hiếp dân chúng. Miếng ngon của lạ bị cướp, vải lụa bị thu không còn mảnh khố che thân. Gái đẹp bị mang đi rồi thải ra cho làm đĩ… Bao nhiêu việc đó ai không thấy, có mắt tai để đâu mà không biết. Vậy thì ai làm loạn? Thời như thế này đã chẳng phải là loạn hay sao? Chúng ta không muốn loạn, không làm loạn mà chỉ muốn hành động để được sống yên…Nay chúng ta chỉ còn mấy mảnh thuyền nát, gạo không còn một hột, tiền không còn một trinh, sống chỉ nhờ vào cái thuyền, nay lại trưng dụng để đi chở gạch xây nhà cho quan ở, như vậy thì khác nào chúng giết dân chài. Chúng ta bị chăt cụt tay chân… Lẽ thiệt hơn như thế tôi nói để bà con cô bác hay. Chẳng lẽ lại ngồi nhìn nhau mà chờ chết hay sao?

_Nhưng nếu chúng ta không chống nổi triều đình?

_Sao lại không? Chưa hành động mà đã sợ thất bại là làm sao? Chẳng qua ở đời này ai cũng một lần chết. Như vậy chọn cách chết nào tốt đẹp cho cuộc sống thì thôi chớ. Được thì sống, thua thì chết là lẽ thường tình…Ai theo tôi?

Câu hỏi cuối cùng đầy vẻ quyết liệt làm cho mọi người im lặng. Cả một vùng bến nước đắm vào nỗi hoang mang lo lắng. Những chiếc thuyền đứng im, người ta chỉ nghe thấy những tàn đuốc rơi xuống mặt nước sèo sèo. Từ Hải đưa mắt nhìn vào hơn hai trăm chiếc ghe chài châu đầu vào nhau thành một vòng tròn. Trong nền đêm ánh đuốc soi chập chờn vào những khuôn mặt đen bóng khắc khổ. Những mái tóc bạc chen vào những mái tóc xanh. Những con mắt tư lự, đôi môi ním lại uất ức. Họ đã đồng thanh theo Từ Hải. Sau khi các thuyền bè đã tản ra Từ Hải tụ anh em lại bàn tính mọi việc. Sáng hôm sau Từ Hải loan báo cho dân chài biết hết, trưa mọi người sẽ rời bỏ bến kéo đi, đám thanh niên lựa lấy những chiêc thuyền tốt giữ lại còn bao nhiêu dồn lại một chổ rồi phóng hỏa đốt hết, lửa cháy rực trời cả bến Việt Đông, dân phủ náo loạn kéo xem. Quan Phủ nghe tin mang lính ra thì chỉ nhìn thấy những mảnh ván trôi lều bều trên mặt nước, dưới bến không còn một chiếc thuyền liền bắt người tra khảo nhưng chẳng ai cung khai điều gì. Tức giận viên phủ quan sai chém đầu mười kẻ bêu xác trên cửa thành và tuyên cáo lùng bắt đám dân chài nhưng họ đều đã đi mất tăm. Từ Hải dẫn đàn thuyền ẩn vào khu rừng lau ở giáp phủ Việt Đông với Uyển thành. Sau biến cố ở Việt đông viên quan vội vàng viết biểu về triều. Minh Thế Tổ lúc đó đang tin dùng lũ hoạn quan. Bao nhiêu quyền bính ở cả trong tay bọn dua nịnh nên kỷ cương nát bét. Giặc giả nổi lên tứ tung không làm sao đánh dẹp được. Dù vậy việc ở Việt đông lại được chú ý vì công việc xây dựng một hành cung trở thành quan trọng. Nhưng khi quân đội tới nơi củng chẳng có ai mà đánh ngoài việc cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà.. dân chúng thêm phần cực khổ, thanh niên phẫn uất bỏ đi theo Từ Hải thêm đông. Ngày thao luyện võ nghệ. Đêm đêm giong thuyền đón chặn những thuyền buôn lấy lương thực, đón bắt những lính tuần, cướp phá những kẻ quyền thế giàu có, cùng những tên quan hà hiếp dân lành. Tiếng tăm Từ Hải mỗi ngày một vang động khắp cả vùng Sơn đông. Nghe đến tên Từ Hải bọn quan lại đều run sợ. Chẳng bao lâu Từ Hải đã chiếm được một vùng ven biển làm bản doanh, thanh thế mỗi lúc một lừng lẫy. Những kẻ bất mãn với triều đình, những kẻ bị hàm oan, những kẻ có máu thảo khấu cùng tìm về tụ tập dưới trướng Từ Hải trong số có bọn thảo khấu Vương Trực ở Giang Nam, bọn Tứ Quái ở Thiểm Tây, bọn Từ Văn Trường ở Sơn Âm và nhiều thanh niên có máu giang hồ hảo hớn ưa chuyện phiêu lưu cứu khốn phò nguy khác.

Với lòng ngay thẳng thái độ khảng khái kiên cường Từ Hải đã nêu cao ngọn cờ đại nghĩa trước đám dân đã chán ghét một triều đình bất lực thối nát nên mỗi lúc ngã theo một thêm đông. Lòng người như thác lũ cuộn lên tưởng như có thể cuốn đi tất cả những gì đang ngăn chặn, ngăn cản, đè nén trên cuộc sống, Nhưng vì giòng nước không chảy về một phía mà đổ về nhiều đám giặc nhỏ, chia thiên hạ ra từng khu vực  mỗi kẻ hùng cứ một phương, xưng hùng xưng bá, tình cảnh nhiễu nhương thật không thể nào tả xiết. Nổi lên ở Việt đông, dần dần Từ Hải xua quân xuống miền Nam tung hoành như giữa chốn không người; chẳng bao lâu chiếm cả vùng duyên hải. Đại quân kéo xuống chiếm Lâm Thanh, Châu Thường và đóng tại đó, thế quân như thế chẻ tre. Các thành Vô Tích, Hàng Châu, Châu Thai bị đe dọa, chỉ mới nghe tiếng Từ Hải nhiều tên quan đã bỏ thành trốn hoặc sửa soạn đầu hàng. Dự định đánh một trận lớn để gây thanh thế Từ hải quyết định hạ trại, đóng quân thao dượt binh mã, chiêu nạp thêm quân lính rồi một mình cùng mấy kẻ hầu cận cải dạng xuống phương nam xem tình hình, trong đám có Từ Nguyệt Minh người ở Sơn Âm hiệu là Văn Trường trước vốn là thượng khách của Hồ Tôn Hiến. Từ Văn Trường là kẻ có học, văn hay chữ tốt, không sách gì là không đọc, tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ, nhưng thiếu bè cánh, không được trọng dụng nên sinh ra bất mãn, du sơn du thủy.

Cái học không được đặt đúng chổ khiến cho Văn Trường thành kẻ trụy lạc, chỉ lấy thú vui rượu chè đĩ điếm làm hứng cho văn chương. Khi trước Văn Trường đã từng đến mua vui ở Hàng Châu, thủ phủ có hàng mấy ngàn nhà điếm, chính ở đó Văn Trường đã chứng kiến chuyện viên Thái Thú Hàng Châu là Liễu Tuyên Giáo vì không ưa những kẻ xuất gia thờ Phật nên rắp tâm dùng bọn gái điếm cám dỗ khiến nhiều nhà tu phá giới. Đến lúc sau Thái Thú Liễu Tôn Giáo bị đổi đi. Trương Nguyên Biện đến thay thế, chính người này đã tiến cử Văn Trường với Hồ Tôn Hiến. Thái thú Trương Nguyên Biện ghét bọn gái điếm nên tìm cách đuổi đi hoặc giết những gái điếm trước kia trong viện Hồng Liên theo Liễu Tôn Giáo hại nhà chùa đều bị Trương Nguyên Biện giết hết con số lên đến hàng mấy ngàn người. Vì có chút cảm tình với nàng Vương Thúy Kiều nên Văn Trường đã xin cho nàng thoát nạn ấy. Do chuyện cũ Văn Trường đã đề nghị với Từ Hải ghé vào Hàng châu để nhân cơ hội gặp lại người xưa và để ăn chơi thỏa thích ít ngày, sau những gian nan khổ sở thiếu rượu, đàn bà, ca hát. Trên chiếc thuyền xuôi gió Văn Trường nói với Từ Hải:

_Tôi nghĩ rằng đã đến lúc tướng quân phải xưng đế hiệu để lấy danh nghĩa cho dân chúng theo. Chứ chẳng lẽ mãi mãi chúng ta chỉ là một phường cướp biển.

_Ông muốn được làm quan lắm sao? Ngó bộ mình làm như thế này không có chính nghĩa sao? Ta thấy ta chẳng xứng để mà xưng đế, làm một tên thuyền chài mà sánh với những Lưu Bị, Lưu Bang e không chính danh? Và có lẻ ta chỉ hợp được là một tên du côn rong chơi? Thực tình ta đâu có muốn làm chuyện này, làm một đế vương có gì là sướng nhỉ, không may lúc sống có thể bị chặt đầu, khi chết bị quật mồ. Làm một người dân thường ở vào buổi thái bình yên trị ta cho là hạnh phúc hơn hết. Không đành được sinh vào thời rối loạn thân chẳng yên mà ta phải hành động. Ta ước sao bây giờ có kẻ tài đức, thu thiên hạ về một mối mang lại đời sống yên ấm thái bình, ta chẳng tiếc gì mà không mang thân làm kẻ xách dép, cầm roi theo hầu. Ông có thấy lúc này dời bỏ được chốn ba quân, ta thảnh thơi vui sướng biết là bao nhiêu. Bây giờ ông hãy ngâm vịnh đi quên những việc chúng ta đang làm. Suốt đời, khi ăn, khi ngủ, lúc chơi bời mà cứ phải đóng vai tướng quân quả thật ta chẳng ham. Được làm ông trời mà phải bỏ rượu, bỏ hát, đàn địch, xa bạn bè, bỏ đàn bà thì ta cũng chẳng làm. “Bán khiên cung kiếm, nhất trạo giang sơn” ta hiểu vì sao Hoàng Sào chỉ là giặc Hoàng Sào mà không là hoàng đế Hoàng Sào. Lưu Bang chỉ là một tên xã trưởng tầm thường. Lưu Bị chỉ là một tên dệt chiếu, tôi nghĩ làm nên nghiệp đế đâu có khó gì, trong lúc tướng quân có binh hùng tướng mạnh lại ở lúc xã hội rối ren, triều đình mất cả chính nghĩa…

_Thôi, ông đừng khuyên ta chuyện đó. Bây giờ chúng ta ở đây, chung đụng với nhau, còn thương yêu dân chúng, còn quý mến bạn bè. Ta sợ khi làm vua rồi ta chẳng còn được cùng ông suôi thuyền mà đi tìm gái như thế này. Địa vị, quyền bính, vinh hoa sẽ làm cho chúng ta quên hết. Ta sẽ thành một hôn quân, ông sẽ thành nịnh thần tham nhũng và thật mệt cho dân chúng lại phải nổi lên mà lật đổ chúng ta…Ông đọc sách thánh hiền nhiều hơn ta sao chẳng biết chuyện đó, những chuyện liên tiếp xảy ra trong lịch sử. Văn Trường nghe Từ Hải nói trong bụng không vui. Vì ý Văn Trường trong lúc theo về với Từ đâu chỉ muốn làm một tên giặc biển, mộng của ông đặt vào lúc lập được triều đình làm một quan đại phu.

Từ Hải uống hết vò rượu này sang vò rượu khác, chàng lấy ra cây đàn vừa gảy vừa cất tiếng hát, trong giây lát chàng đã biến từ một tên tướng vũ dũng thành một nghệ sĩ say sưa trong cõi mộng. Lúc sau Từ hỏi Văn Trường:

_Ông ăn chơi lọc lõi đã nhiều vậy ở đất Hàng châu này có chổ nào đáng là đệ nhất lầu xanh?

_Xưa kia, viện Hồng Liên là đáng kể, nơi đó có một nàng ca kỹ tên Vương Thúy Kiều đáng được tôn là nữ hoàng. Tôi đã biết hàng vạn gái chơi ở Hàng châu này nhưng chưa thấy ai có thể sánh được với nàng. Khách giang hồ, tài tử sành điệu đã nhiều kẻ chết. Nay không hiểu nàng có còn ở đó chăng?

_Trong đám làng chơi lại có kẻ như thế được sao?

_Tôi nghe kể lại nàng vốn là con một nhà gia giáo, khốn nổi lúc gặp gia biến cha bị hàm oan, khiến nàng phải bán mình chuộc tội và số mệnh đưa nàng vào chốn thanh lâu. Nàng có hương sắc mặn mà, nghề chơi lão luyện, cầm kỳ thi họa đều trác tuyệt, quả tôi chưa gặp ai như thế.

_Ông dám chắc như vậy?

_Hẳn ý tướng quân vẫn ngờ về những gái làng chơi tầm thường vì hư thân mất nết đàng điếm mà dấn thân vào thường tìm lý do bào chữa, tự vẽ ra một quá khứ để lừa mình, lừa người. Quả nàng họ Vương không thuộc hạng đó, chẳng phải ai nàng cũng tiếp, mà được tiếp ít ai đã được ân cần. Chính tôi đây vẫn chưa được gần nàng. Tôi chỉ mong sao trong đời được một lần uống rượu trên người nàng.

_Nghe ông nói ta thấy ham quá. Tới nơi mong cho chúng ta có thể gặp được.

Sau quãng đường dài Từ Hải cho mấy tên bộ hạ phân tán đi thám thính còn chàng và Văn Trường thì đi kiếm nàng họ Vương. Là một dân thuyền chài rồi lại bôn ba mấy năm liền chưa biết những thú ăn chơi của bọn giàu sang quyền thế nên Từ Hải không khỏi ngạc nhiên bàng hoàng giữa thủ phủ Hàng châu, liên tiếp nhau những cao lâu tửu điếm, trà đình, những nhà chứa xây cất nguy nga như cung điện kể cả hàng mấy ngàn giai nhân tài tử, quần áo nhung lụa, lên xe xuống ngựa nhộn nhịp không thể đếm xiết. hàng châu trong những năm cuối đời Minh là một kinh đô văn hóa và truỵ lạc. Bọn văn nhân tài tử bốn bề tụ về ngâm vịnh, trên vách tường, bàn ăn ghế ngồi hiên nhà chốn lầu xanh chi chít những bài ngâm vịnh mang đủ mọi tên tuổi ca ngợi những đóa hoa biết nói hoặc suy tụng lạc thú. Những kẻ nhiều tiền, những viên chức cao cấp lâu lâu lại giả dạng tới chẳng thiếu mặt một ai. Họ bòn mót của dân bằng hà hiếp, hối lộ, thụt két, đến kẻ gian thương cho vay cắt cổ…cuối cùng lại mang tiền đó đến Hàng châu mà thiêu trong cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Vì thế con gái nhà lành trong thiên hạ hoa mắt vì ăn chơi kéo nhau đến Hàng châu làm đĩ mỗi lúc một đông, nghề nghiệp nhàn hạ, lại được ăn ngon mặc đẹp, có kẻ phúc mai bỗng một sáng một chiều trở thành mệnh phụ. Làm đĩ quả là nghề đi buôn không mất vốn mà dễ được giàu to bởi hoàn cảnh nhiễu nhương suy đồi tạo thành.

Tìm kiếm hỏi thăm mãi sau Văn Trường và Từ Hải mới thấy được nơi ở của Kiều. Nàng ở một căn lầu nhỏ nhưng tráng lệ nguy nga trong một khu rộng lớn với nhiều nhà khác nhưng thuộc hạng rẽ tiền. Nhận được mặt ân nhân Kiều vô cùng mừng rỡ rước lên lầu. Từ Hải lại trút ra một số bạc lớn nên mụ chủ chứa chỉ biết cuống cuồng ra lệnh sửa soạn tiệc rượu để cung phụng vì gặp một món khách sộp. Vừa gặp mặt Kiều, Từ Hải đã say đắm. Thấy Từ đã hợp ý Văn Trường rút lui xuống nhà đi kiếm gái khác để cho Từ Hải và Kiều mặc tình mây mưa. Lâu ngày không gần đàn bà nên Từ háo hức như trâu bò được ngày phá dỗ, còn nàng Kiều cũng thấy sung sướng vì gặp một người con trai không phải nhà nghề giở những trò kinh tởm hành hạ nàng. Sau những phút say mê Từ bắt đầu tâm sự với Kiều, trong thâm tâm chàng nảy ra niềm trắc ẩn, thương yêu. Sao một người con gái như nàng mà phải đày đọa như vậy cùng với mấy ngàn con gái khác ở đất Hàng châu này. Trong số đó chắc cũng có kẻ hư hỏng còn thì ai không muốn có tấm chồng, một bầy con và một đời sống lương thiện. Cũng như chàng, cả những kẻ theo chàng ai không muốn được sống yên ấm trong một mái nhà. Hoàn cảnh khắc nghiệt và một nền cai trị hư hỏng như bầu khí độc đã làm tiêu ma bao nhiêu con người. Từ Hải nói cho Kiều nghe đời sống của mình, chàng kết luận:

_Thiên hạ bảo anh là du côn, du kề và bây giờ là một tên giặc biển. Trong phòng này, trên giường này, trước mặt em chắc đã có những tên đại phu, những thằng đại tướng, những phường khoa bảng, những kẻ đầy chức tước quân công, bằng cấp, quỳ gối khom lưng năn nỉ em . Như vậy em có buồn vì anh chỉ là một tên du côn, giặc biển không?

_Em cũng muốn làm du côn làm giặc như anh vậy. Em khoái du côn lắm, du côn là chơi gậy, chơi gậy thì tốt không nham hiểm, lươn lẹo độc ác. Chẳng qua em giờ là một con đĩ, đĩ với du côn như nhau. Phải không anh?

_A, hay lắm không ngờ anh lại gặp được tri âm. Ừ nhỉ, tại sao du côn, đĩ không phải là những kẻ đáng giá hơn hết ở vào thời buổi này. Tại sao mình không thể lập một “triều đình du côn”. Anh là hoàng đế, em là hoàng hậu du côn?

_Anh có say không đó?

_Không, anh mà say thì anh đã mất đầu lâu rồi. Đi làm loạn thì không được say, vì anh say thì bộ hạ biết còn trông vào ai?

_Anh là tướng lớn vậy sao?

_Có đứa nó còn xui anh xưng đế hiệu nửa.

_Trời ơi, như vậy thì em có muốn làm vợ anh cũng chẳng được, một hoàng đế, một vị tướng quân mà lấy vợ là một gái điếm thì còn thể thống gì nửa?

_Trời ơi, em tưởng chứ, bọn nó điếm đến mấy lần, điếm mà không nhận là điếm. Tiên nhân chúng nó, điếm từ trong triều đình điếm ra. Vua đĩ, quan đĩ, tướng đĩ, cho nên thời mói loạn, dân mới khổ. Em mới thế này, anh mới thế này chứ. Như vậy làm điếm như em biết phân biệt người, biết kẻ tri âm, cũng như anh làm du côn, làm giặc mà còn bằng vạn bọn nó.

_Chết chết, anh say thật rồi đó.

_Anh không say, nhưng lòng anh như lửa đốt. Đâu anh muốn thế này, đâu em muốn thế này. Anh chỉ muốn có một chiếc thuyền, một cây đàn… Những kẻ bỏ nhà theo anh đâu muốn làm giặc. Quả anh bây giờ chỉ muốn đốt bỏ căn nhà này, hỏa thiêu cả thành Hàng châu giải thoát cho bao kẻ phải chịu kiếp khốn khổ, đem thân hầu hạ bọn người giàu có quền thế bất nhân trong thiên hạ. Chắc em cũng muốn như thế?

Giọng Từ hải như thét lên có lúc như tiếng thép chạm nhau, có lúc quằn quại  như cơn lốc, có lúc ồ ạt như sóng dữ, rồi trầm xuống xúc cảm thân yêu. Bao nhiêu năm lăn lóc trong đời nay Kiều mới gặp được một kẻ như thế. Nàng xúc động ứa nước mắt. Nàng như con chim bị nhốt chỉ muốn tháo cũi sổ lồng mà bay lên trời xanh. Chung sống với nhau Từ Hải và Kiều mỗi lúc thêm quyến luyến như chẳng muốn rời. Từ Hải bỏ tiền chuộc Kiều khỏi chốn lầu xanh và cùng nàng trở về chốn ba quân phong làm phu nhân, mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm.

Vui chơi ít ngày thỏa thích rồi Từ chỉnh đốn quân mã xuống hạ thành Châu thương, Lâm thanh dễ như trở bàn tay. Quân sĩ triều đình phần bỏ chạy như vịt, phần quy hàng. Từ liền kéo quân xuống vây Hàng châu. Văn Trường vốn nhơ ơn cũ của Thái thú Trương Nguyên Biện nên xin vời Từ vào thành thuyết phục Nguyên Biện ra hàng. Từ Hải còn ngần ngừ, Văn Trường liền nói:

_Tôi theo tướng quân đã lâu, ân huệ được hưỡng đã nhiều vậy nay xin cho tôi trước là được lập một chút công mọn, sau là tôi trả ơn cho một người bạn cũ đã giúp đỡ thưở hàn vi. Vả tướng quân cũng không muốn việc đâm chém, trong lúc lửa đạn biết bao kẻ vô tội phải vong thân.

Từ nghe phải liền cho Văn Trường vào thành thuyết Trương Nguyên Biện. Được tin báo có Văn Trường xin vào thành Nguyên Biện ra lệnh cho lính mở cửa mời vào rồi bước xuống thềm. Thấy Văn Trường, Nguyên Biện vội vái chào rồi nói:

_Không ngờ lại được hội ngộ cố nhân ở hoàn cảnh này, tôi nghe nói tiên sinh ở hàng ngũ của loạn quân nhưng không tin, chắc tiên sinh đến đây để giúp tôi cùng giữ thành và dẹp giặc, như vậy thì làm gì chúng ta chẳng thắng.

Văn Trường bị chăn họng trước không  biết nói sao, rốt rồi phải làm nước bài bây:

_Quả đúng như người ta đã nói với tiên sinh, hiện tôi ở dưới trướng Từ Hải. nay thấy  thành bị vây khốn nên xin vào đây gặp tiên sinh mang điều lợi hại mà bàn luận.

_Chết nổi sao tiên sinh lại có thể làm thế được. Như vậy chắc là tiên sinh vào đây thuyết phục tôi hàng giặc mưu phản lại triều đình mà tôi đã gội ơn mưa móc?

_Tôi vẫn biết tiên sinh có mắt thấy được người nên xưa kia đã tiến cử tôi với Hồ Tôn Hiến. Tôi tưởng đã có chổ dung thân mang chút tài mọn phò vua giúp nước. Nhưng triều đình nay không còn xứng chổ triều đình nửa. Sự hưng vong lẽ biến dịch là điều phải đến, phải có không ai cưỡng được. Từ Hải dấy binh cứu dân dựa vào lòng người nên đi đến đâu thâu được nhân tâm đến đó. Xưa kia Hán Cao Tổ chém rắn dấy nghiệp chỉ là tên xã trưởng, diệt được nhà Tần cũng chẳng phải là giặc sao! Tôi thiết nghĩ giặc hay không giặc chẳng thể đứng ở một phía triều đình mà định được. Tôi vào đây trước là tình bạn cũ sau là lẽ thiệt hơn, rốt là sinh mạng của binh sĩ và lê dân mong tiên sinh nghĩ lại để chúng ta cùng giúp Từ Hải mà lập nên nghiệp lớn, mang thái bình lại cho thiên hạ.

_Ý tôi đã quyết sinh ra tôi chỉ thờ một chúa. Kẻ sĩ học chữ thánh hiền trước phải lấy đạo trung làm trọng, sao lại có thể nay theo kẻ này mai theo kẻ khác mong vinh thân phì gia, như vậy chẳng phải là phường cầm thú hay sao?

_Tôi đọc sách thấy Hoài Âm Hầu bỏ Sở Bá Vương mà theo Hán. Công tử Củ chết, Thiệu Hốt chết theo mà Quản Di Ngô chịu ở tù về phò công tử Tiểu Bạch… Như vậy có phải là bất trung đâu. Người quân tử không vì tiết nhỏ mà bỏ việc lớn. Nay triều đình thối nát, quan lại hư hèn, kỷ cương không còn nửa, như vậy mà tiên sinh vẫn khư khư cố chấp với chữ trung hạn hẹp ngồi yên mà nhìn được sao?

_Trước tiên sinh ở dưới trướng Hồ Tôn Hiến có viết biểu Bạch Lộc dâng vua, tôi còn nhớ những lời xưng tụng của tiên sinh. Mới từ đó đến nay mà tiên sinh đã thay đổi được sao. Tôi e vậy mà thiên hạ không khỏi chê cười mà sử sách cũng còn lời quở trách. Tôi hỏi thật tiên sinh có phải cái mộng ước của tiên sinh chỉ là muốn được ngôi cao bổng hậu, chẳng phân biệt trắng đen phải quấy? Tiên sinh không coi hạnh của kẻ sĩ là trọng sao? Tôi mong tiên sinh có thể chết cho Từ Hải được, cũng như tôi, giữ được thành thắng được giặc thì nhất, không thà chết chịu tội bất tài. Xin tiên sinh đùng bắt tôi nghe những lời bất trung vô sĩ nửa.

Văn Trường ngượng mặt biết không thể thuyết được Trương Nguyên Biện nên cáo lui ra khỏi thành.

Nguyên Biện không chịu hàng, Từ Hải kéo quân lên vây sát thành rồi vác đao ra trước trận kêu Trương Nguyên Biện ra quyết đấu. Trương Nguyên Biện cũng dàn quân rồi ra trước trận chỉ gươm vào mặt Từ Hải mà mắng:

_Thằng giặc lùn kia muốn sống mà xuống ngựa đầu hàng ta sẽ tha chết cho. Trước ta đã định mang quân đi hỏi tội bọn bây về việc cướp bóc dấy loạn, bây giờ bọn bây lại dẫn xác đến đây quả là đến số.

Từ Hải chẳng nói chẳng rằng thúc ngựa vọt tới chổ Nguyên Biện nhưng thoắt cái đã có một viên tướng trẻ xông ra. Từ giật ngựa đứng lại nhìn tên tướng  mặt còn non choẹt… Từ Hải  bật cười hỏi:

_Mày là ai vậy thằng nhỏ? Múa may với ta làm gì cho phí sức, hãy dẹp ra cho ta bắt thằng già kia.

_Mày đừng hỗn láo với chủ tướng của ta mày thử xem có đủ sức để thắng nổi một tên bộ tướng này chăng?

_Thôi mà nhỏ, mày cũng là tướng nửa, nhưng ta có coi ngay cả cái thằng phong tướng cho mày ra cái gì đâu.

_Không nói gì hết, ta với mày kẻ sống người chết.

Hắn xông vào khiến Từ Hải phải kháng cự, qua mấy hiệp Từ Hải dừng lại, lui ra:

_Này nhỏ, quả mày muốn chết sao? Nhưng dù sao tao cũng muốn hỏi mày xem mày cũng là thằng khá mà sao mày lại đi làm tướng cho cái bọn triều đình khốn nạn kia. Mày làm tướng để bảo vệ cái gì?  Bảo vệ bọn vua quan? Bảo vệ cái tổ điếm Hàng châu này? Chẳng lẽ mày là một thằng đốn mạt vậy sao? Mày nên theo tao đi.

_Phường giặc cỏ đừng nhiều lời, thà chết, chứ tao không theo mày.

_Sống không biết sống sao cho đáng sống, chết không biết chọn cái chết cho đáng chết. Thế mà cũng đòi làm tướng.

Viên tướng trẻ như con gà sống tơ, mặt đỏ rần xông vào làm Từ Hải tức giận khoa đao nhẹ một đường nhanh như chớp chiếc đầu viên tường đã lìa khỏi cổ. Từ Hải vẫy quân tiến lên, chàng thì xông vào chém Trương Nguyên Biện một nhát chẻ người làm hai mãnh chết thê thảm. Quân triều đình tan vỡ trước sức ồ ạt của quân Từ Hải. Dân chúng mở cửa thành cho quân Từ kéo vào.

Vào được Hàng châu nghiễm nhiên Từ đã chiếm được cả một vùng rộng lớn. Từ ra lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc, ăn trộm. Chàng bắt hết các chủ chứa điếm giết đi bao nhiêu gái chơi được tự do chọn nghề sinh sống, kẻ nào muốn lấy chồng thì Từ mang gả cho lính mình rồi chia đất hoang cho khai thác lập nghiệp, các nơi ăn chơi được biến thành nhà ở, trường học. Chính sách của Từ đưa dân chúng đến cảnh an cư lạc nghiệp, sau bao nhiêu năm họ phải sống cảnh khôn khổ, đen tối. Nhưng cũng từ đó dưới trướng Từ Hải trong đám bộ hạ, những hoang phí, ăn chơi cờ bạc đã diễn ra cũng chẳng khác gì cuộc sống ở nơi triều đình. Mới đầu Từ còn ngăn cấm nhưng sau cũng nhạt dần vì tự nghĩ xưa kia họ đã khổ sở thôi để cho họ hưởng  một chút. Rồi những xung đột, ghen tỵ, tranh dành đưa đến cho Từ Hải phải giải quyết khiến cho Từ nhiều lúc mất vui. Bọn võ tướng đã lười biếng thao luyện, bọn văn quan đã chẳng còn dùng ngòi bút kích động lòng quân, viết thư hộ cho binh sĩ gửi về thăm vợ mà dùng ngòi bút vào ngâm vịnh tâng bốc Từ Hải nào là anh tài cái thế, anh hùng bậc nhất thiên hạ, cứu dân, cứu nước sáng như mặt trăng, mặt trời, nghe qua đọc lướt Từ Hải cũng phải ngượng thẹn. Đến độ họ còn lớn tiếng ngâm vịnh, chúc tụng cả sự lành bệnh của nàng Kiều sau một lần đẻ non.

Nàng Kiều dựa vào thế chồng đền ân báo oán những chuyện nhỏ nhặt. Xin xỏ cho kẻ hầu hạ dưới tay những ân huệ chức tước không đáng được hưởng. Từ vì nể vợ mà phải ưng cho. Nhiều đêm Từ thoát ra được cuộc sống nhàm chán chung quanh giả dạng làm người dân thường mà rong chơi ngoài phố la cà vào những chốn giải trí bình dân mua vui, hoặc chàng trốn lên một góc thành cao mang theo cây đàn bầu rượu hưởng thú tịch mịch trong đêm vắng của trời sao và cái bát ngát mênh mông của vũ trụ. Những lúc đó Từ nhớ tiếc thưở ấu thời nơi bến Việt đông, vài ba người bạn bồng bền trên chiếc thuyền nhỏ thả mình đám chìm trong cái bát ngát vô bờ của biển khơi trong xanh. Chàng nhớ tiếc cuộc sống bình thường nhưng hào sảng trong sáng ấy. cái cuộc sống không biết đến những nhung lụa, rượu ngon, gái đẹp, quyền bính, đầy những tranh dành dục vọng. Cái cuộc sống hòa điệu với người và với vũ trụ không phải quây cuồng chém giết… Nhưng bây giờ chàng chẳng thể làm vậy được nửa. Từ Hải nổi lên từ phía bắc trên bán đảo Liêu đông rồi kéo mãi xuống tận Triết giang thế quân mỗi lúc mỗi một thêm mạnh, liên tiếp những thành trì bị hạ, những toán quân được phái đến đánh dẹp đều thua; một là vì quân của triều đình ô hợp không có nhuệ khí lại ở dưới những tên tướng vô mưu, bất tài; hai là thế giặc dựa vào dân chúng mà kháng cự cho nên năm sáu năm liền quân Từ Hải làm chủ dọc cả vùng bờ biển, trong tay giữ hơn mười thành. Thế giặc quá lớn, sự khuynh đảo đe dọa cả nền cai trị của nhà Minh khiến cho triều đình lo âu. Nhưng khốn nổi không ai dám lãnh việc đánh dẹp cùng tinh thần hư hèn cầu an. Sau chót vua phải sai triệu Hồ Tôn Hiến ở Giang nam về cho thống xuất đại quân xuống đánh. Hồ Tôn Hiến chỉnh đốn quân mã ngày đêm kéo xuống đóng quân ở phía bắc sông Tiền đường đối diện với Nam thành là bản doanh của Từ Hải. Biết thế quân của Từ Hải mạnh nếu đường hoàng dùng sức mà đánh thì phần thắng không thấy nên Hồ Tôn Hiến cho đóng trại kiên cố và án binh bất động. Hà Tôn Tiến cho quân sĩ trà trộn vào dân chúng loan truyền rằng Hồ Tôn Hiến không muốn gây cảnh chiến tranh, chỉ muốn có hòa bình cho dân chúng nên muốn Từ Hải về cộng tác với ông mà giúp triều đình, tất cả mọi người sẽ được hưởng quyền lợi xứng đáng chẳng ai có tội mà cũng chẳng ai có công.

Một mặt Hồ cho kẻ lén lút mang dâng cho Vương Thúy Kiều những vàng lụa kim cương và vô số những bảo vật, đồng thời cũng viết mật thư cho Từ Văn Trường hứa hẹn những chức tước. địa vị kèm theo với nhiều phẩm vật nhờ Văn Trường thuyết Từ Hải giải giới. Nhiều kẻ dưới trướng họ Hồ hoài nghi về chiến thuật, Hồ cười mà quả quyết:

_Từ Hải không phải là một kẻ nuôi chí lớn làm bá chủ thiên hạ, xuất thân từ đám dân chài thất học không có được con mắt nhìn xa thấy rộng, chẳng qua nắm được ưu thế là vì nền cai trị hạ tầng của triều đình hư nát, lăm tệ đoan, quan lại chỉ lo vơ vét tiền của, không chăm lo dân, đó là cái thời thuận tiện cho Từ Hải. Bắt nguồn từ những bất mãn ấy dấy loạn thu phục nhân tâm gom góp những kẻ có chí vũng vẫy mà lại cứu khốn cho dân chúng là có được cái thế. Có thời có thế nhưng Từ hành động vì tình cảm mà không có ý thức. Nay ta phao truyền sự hòa bình là làm cho dân chúng giảm đi sự hiếu chiến, họ không muốn loạn để cho cơ nghiệp tan tành. Bọn bộ hạ của Từ Hải này kẻ nào cũng có của cải yên vui tất không muốn chiến đấu phiêu lưu, rồi tất Từ Hải nghe vợ, nghe bộ hạ nói ra nói vào mà nản chí, tình cảm bị lung lạc lúc đó thật lấy đầu hắn có khác chi lấy chút vật mọn trong túi áo, mất chủ tướng rồi bọn kia sẽ tan rã. Ta chẳng mất công gì mà dẹp được chúng.

_Nhưng nó lú thì có chú nó khôn, còn bọn quân sư của Từ?

_Ta biết rõ cái bọn đó, các ông cứ tin ta đi. Những tên như Từ Văn Trường trước kia ở dưới tay nên ta đã rõ. Những kẻ đó cũng nhiều kẻ có tài nhưng không có đức, không có chí, theo Từ là vì bất mãn muốn có địa vị. Theo Từ mà vẫn khinh Từ không có học nên không thể cùng Từ giúp Từ lập nên nghiệp lớn. Bọn chúng lại hay suy luận loanh quanh. Nay ta mang mồi mà nhử, chúng tất sẽ ăn. Cái bọn đó cứ mang địa vị, vàng bạc ra mà nhử thì mua được hết. Kẻ sĩ ở vào buổi suy vong thời nào cũng vậy. Cho nên ta tin chắc Từ Hải sẽ ra hàng.

Sau khi đã bủa lưới Hồ Tôn Hiến mới gửi thư dụ hàng sai quân vào thành dâng cho Từ Hải. Từ Hải liền cho triệu tập bộ hạ bàn luận. Họ bàn tán om sòm, những câu: hàng rồi bị giết không, có bị trả thù không, mình sẽ được chức gì, có được giữ lại của cải của mình không. Đánh Hồ có thắng không, nếu thua thì làm sao? Đám bộ hạ bàn tán lăng nhăng chẳng đi tới đâu, Từ Hải bực mình phải quát lên:

_Ta chỉ có một câu hỏi cần trả lời: hòa hay chiến? không có vì sao, tại sao. Câu hỏi đặt ra chỉ có vài kẻ kêu đòi chiến, còn thì đều im lặng ra vẽ suy nghĩ. Từ Hải buồn rầu nhìn họ vì chỉ có một thời gian ngắn mà đám bộ hạ đã thay đổi gần hết. Xưa kia họ hăng hái, họ xông lên, đòi giết cho hết bọn quan lại hại dân đòi lập một đời sống mới coi thường cái chết…thì nay họ đã suy nghĩ, họ muốn đứng lại ở cái địa vị cai trị của họ, không còn muốn xông pha phiêu lưu nửa. Từ nhìn bộ hạ mà nói:

_Ta họp các ông lại đây là để cùng ta quyết định, ta cho chuyện này là hệ trọng lắm. Cơ nghiệp dựng lên chẳng có gì to tát là công của mọi người chung sức mà có được, khi khổ có nhau, khi sướng có nhau. Riêng với ý ta, ta không hàng, ít ra chúng ta cũng còn được giữ như thế này lâu lắm, đó là chưa nói tới việc lớn hơn. Chúng ta đang được sống tự do vùng vẫy chẳng có gì ép buộc mình, vậy tại sao chúng ta lại hàng, lại bó thân về cái triều đình  ta đã chống đối. Chúng ta có chịu được cái đời sống gò bó vào luồn ra cuối ở giữa những kẻ xa lạ kia không? Thật ta chẳng ham gì một địa vị công hầu khanh tướng như thế. Đó là nói ở cái thế mà họ thực tình, nếu họ tráo trở chúng ta còn là tướng nửa không khi đã hết quân? Ta sợ khi đó chúng ta hối cũng không kịp nửa. Nói xong Từ đứng lên:
_Chúng ta hãy giải tán để ai nấy suy nghĩ rồi mai chúng ta sẽ quyết định.

Từ rời sảnh đường vào phòng riêng thì gặp Kiều đã ngồi ở đó, hỏi:

_Tướng quân đã quyết định như thế nào?

_Chưa quyết định gì cả.

Từ ngồi nói cho Kiều nghe tinh thần của bộ hạ dáng băn khoăn buồn buồn. Trong thâm tâm Kiều từ hôm nhận được vàng bạc châu báu những lời hứa hẹn của Hồ Tôn Hiến đã có ý khuyên chồng giải binh, nhưng vẫn sợ thêm vào đó sự phân vân lựa chọn. Sau chót cái ý nghĩ được yên thân sum họp với gia đình đã thắng thế. Biết ý Từ chưa quyết, Kiều liền nói vào:

_Từ ngày được về hầu hạ tướng quân thật thiếp như kẻ được mang từ cõi chết ra cõi sống, nhưng chứng kiến cảnh binh đao thật nhiều khi thiếp lo sợ cho tính mệnh tướng quân. Nay triều đình đã biết đến tướng quân mà xin hòa, chức tước địa vị đợi sẳn tại sao tướng quân lại từ chối, với ý thiếp, được sống yên ổn vẫn hơn chứ nếu như ngày nay rồi nếu chẳng may lúc mình thua thì còn chi? Thân tướng quân đã vậy, còn thân thiếp ra sao? Tại sao tướng quân lại không chấp nhận sự bình thường, nhận bổng lộc cho thiếp được nở mày, nở mặt, được xum họp với cha mẹ và chúng ta có một đời sống yên vui lâu dài. Ở đây sung sướng nhưng mãi mãi vẫn mang danh phường giặc cỏ.

Tử Hải bị Kiều thuyết chàng phân vân, tình cảm bị chế ngự nên hôm sau họp bộ hạ Từ quyết định nghị hòa. Chẳng mấy chốc tin đình chiến giải binh loan truyền trong dân chúng. Một vài kẻ chủ chiến mang gia đình dời đi, còn lại thì binh sĩ trễ biếng chẳng còn nghĩ đến chuyện đánh nhau nửa. Từ Hải phúc đáp thư cho Hồ Tôn Hiến định ngày thúc giáp rồi cho quân sĩ vui chơi. Hồ Tôn Hiến vui mừng rồi sắp sẳn mưu kế chờ cho Từ ra hàng.

****

Từ đứng lên vươn vai vẽ mệt nhọc, Kiều ngồi dưới thềm ngữa mặt lên hỏi:

_Tướng quân đi đâu đêm vui chưa hết nửa cuộc.

Từ im lặng, vuốt áo ra khỏi sảnh đường. Tiếng đàn hát vẫn còn quấn quýt chạy theo. Đêm đã khuya cảnh tịch mịch trùm xuống khu thành, chỉ còn đêm nay nửa mai thành này sẽ chẳng còn ở trong tay. Một thân vùng vẫy dọc ngang làm vua một còn mà chỉ còn làm một tên quan ngày ngày cuối lưng nới thềm rồng bệ ngọc. Giây phút Từ thấy bâng khuâng, buồn như sắp mất đi một cái gì lớn lắm..chắc chẳng bao giờ chàng lấy lại được nửa. Một mình Từ dạo qua những nơi quen thuộc quân lính đều đã ngủ say chỉ còn một vài tên lính canh đi lại dáng uể oải mệt nhọc, Từ qua kho lương xuống chuồng ngựa.. rồi theo bậc thang leo lên mặt thành. Đêm bao la chụp xuống cả một vùng đồi núi, trong thành đêm nay nhiều ánh đèn hơn mọi đêm, trại quân của Hồ Tôn Hiến đã rút hẳn ra ngoài xa, chừng như đang mở hội ăn mừng. Từ bước thảnh thơi, thở hít không khí gây lạnh không phải là thi sĩ để có thể làm một bài thơ tức cảnh, Từ thấy tiếc làm sao. Tiếng trống canh rời rạc, một vài trạm chừng như lính đã ngủ hay bỏ về nhà với vợ con không thấy điểm trống. Giá như lúc khác đã có kẻ phải rơi đầu, nhưng đêm nay không cần thiết nửa. May này…bất chợt Từ thở dài..

_Thưa tướng quân, tướng quân chưa đi nghỉ?

Từ giật mình quay lại, rời đưa mắt nhìn ra xa.

_Nếu tiểu tốt không lầm vì tướng quân đang buồn vì sớm mai này tướng quân ra hàng giặc?

_Hàng giặc, sao lại là hàng giặc? Ngươi là ai?

_Tiểu tốt lài ai? Thưa tướng quân tiểu tốt là bộ hạ của tướng quân, kẻ đã nghĩ triều đình là giặc, tướng quân là bậc đế vương. Thế mà mai này khi mặt trời lên bậc đế vương đó sẽ dẫn tất cả đoàn quân dưới trướng này ra khỏi thành, quỳ gối khom lưng nhận giặc là minh chúa để nguyện trung thành tận tụy suốt đời… Thưa tướng quân, có phải vì thế mà tướng quân buồn?

_Buồn, ta không hiểu ý nhà ngươi.

_Có lẽ tướng quân cố ý không hiểu đó thôi…đáng buồn lắm chứ…

Từ bâng khuâng, tiếng nói của người đối diện như xoáy vào trong tâm tư của mình. Nhưng ít nhất cũng có người hiểu được rằng Từ buồn. Tự nhiên Từ lấy được sự thân mật dễ chịu. Ngay sau đó một cảm giác ớn lạnh chạy khắp người Từ. Thôi thế là không còn gì nửa. Mai này sẽ chỉ còn lại hai bàn tay trắng và một thái độ chịu thua, thái độ chấp nhận, thái độ đầu hàng.

_Sao ngươi lại nói với ta như vậy. Ta buồn thật sao?

Từ quay lại nhìn người đối diện với mình chờ đợi. Người thanh niên nỉm cười dáng ngạo mạn lì lợm. Anh ta vào khoản trên hai mươi, khỏe mạnh, nước da ngăm đen tóc búi ngược, y phục một tên cận vệ. Từ cố gắng để nhớ xem có phải người đối diện mình là một tên cận vệ hay không. Thanh niên xoay người chống tay lên mặt thành nhìn ra bãi cỏ phía trước.

_Tiểu tốt biết tướng quân buồn. Buồn thật hay không điều đó tướng quân tự biết.

_Bây gờ ta cũng chẳng còn là tướng quân gì nửa. Anh cũng chẳng còn là tiểu tốt nửa. Mình thua rồi.

Thanh niên xoay phắt người lại  đứng thẳng. Trong ánh sáng mập mờ Từ chừng như thấy khuôn mặt kẻ đối diện thay đổi, mặt nghiêm lại, mắt mở lớn, đôi mày rậm dướn lên vẽ dữ dằn.

_Sao lại thua, mình đâu có thua.

Từ huýt người ngồi lên tường thành, hơi cúi đôi vai lớn, ngước mặt lên:

_Đó là sự thật. Anh có lấy làm buồn không?

_Nói không là dối lòng mình. Nhưng tôi không lấy đó làm thất vọng. Tôi còn trẻ..Tướng quân có thấy là tôi còn trẻ không? Từ gật gật đầu:

_Đúng anh còn trẻ, như vậy có phải ta già rồi không?

_Tướng quân cũng còn trẻ

_Thôi, anh đừng gọi ta là tướng quân nửa, còn quân đâu nửa mà tướng. Ta cũng chỉ như anh. Ta đâu còn như hồi xưa. Phải không?

_Cũng vẫn như hồi xưa. Cũng có thể làm lại như ngày xưa..

_Ngày xưa. Anh đừng nói đến làm chi nửa..

_Sao lại vậy. Chỉ có ngày xưa..Cũng chính cái ngày xưa đó mà tôi gặp được tướng quân, đã hào hùng và bây giờ..

_Thất vọng?

_Tướng quân có biết, nhưng mà thôi…

_Biết sao, anh hãy nói ta nghe, anh hãy coi ta như một người bạn…Ai hiểu được ta, có lẽ chỉ có anh? Mà sao ta trông anh cũng buồn vậy?

_Tôi nhớ lại lúc còn sống tại quê nhà ở Giang nam nghe tin tướng quân nổi dậy đốt thuyền bè chống quan lại. Tôi đã lặn lội từ đó lên Việt đông. Tự xung vào làm sĩ tốt…Tướng quân còn nhớ những gày đó

_Nhớ, mới như vừa xảy ra mà đã năm sáu năm trời rồi còn gì. Dấy lên với hai bàn tay không với những tấm lòng hào hiệp…Mà này sao ta không bao giờ được gặp anh?

_Có chứ, nhưng chắc tướng quân quên, làm sao để tướng quân nhận từng người trong nghìn vạn quân tướng..

Người thanh niên buồn bã:

_Trong nghìn vạn quân tướng ấy đã có bao nhiêu người ngã xuống chiến trường, trải thây trên con đường hành quân, những người xông pha ở Việt đông, Triết giang, hạ năm thành ở cõi Nam, cướp Châu thai, lấy Vô tích, chiếm Lâm truy để cho tới lúc tướng quân có một giang sơn như ngày nay, có thành quách như hiện nay… Và tôi đã sống sót để mai này chứng kiến cái công lao của  những ngày gây dựng không còn nửa..

_Thôi anh đừng nhắc chuyện đó ta đã thua rồi. Anh có tiếc công, tiếc sức đã theo ta không. Anh có cho rằng ta đã phản bội lòng tin cậy của anh, của các bạn đã theo ta không?

Câu hỏi của Từ dội đi, tiếng trống canh rời rã. Từ bước đi loanh quanh. Giọng người thanh niên mơ hồ:

_Lúc sống tại quê nhà cha tôi nói: bây giờ là thời loạn. Kỷ cương của nước không còn nửa, lòng người ly tán kẻ sĩ mất truyền thống trở thành hèn hạ, con còn dùng bút nghiên làm gì nửa, ta muốn thấy con hành động như một tên du côn còn hơn. Câu chuyện ấy vẫn còn làm cho tôi băn khoăn suy nghĩ. Không có thời loạn mà chỉ có lòng người loạn. Cha tôi cũng là kẻ khoa cử nhưng từ chối công danh sự nghiệp cha tôi nhận làm một kẻ câm điếc đui mù, ngoảnh mặt đi với cuộc sống mà lại muốn con như một tên thảo khấu du côn. Cha tôi cũng loạn sao? Cha tôi bảo kỷ cương không còn, trật tự bị phá hủy, sách vỡ thánh hiền đã lu mờ còn đâu kẻ sĩ với tinh thần hào hiệp. Lòng người đã phụ với trời, kiến văn chỉ làm người ta đê hèn, bần tiện đi. Kẻ có học dùng sở học vào đường bất chánh, như vậy thất học còn hơn vì thất học không phải nhiễm độc bởi những cặn bã của tư tưởng thì với lương tâm may ra còn sống được ngay thẳng. Làm thằng du côn có chí thì cứu được đời…Tôi đã ngẫm lại và thấy có phần đúng. Trong xã hội tôi không còn thấy ai là kẻ sĩ nửa. Bọn thư sinh mặt trắng đi vào con đường tư danh, hư lợi..Có nghĩa thời loạn còn kéo dài lâu lắm. Giữa lúc ấy nghe tên Từ Hải, một tên con nhà thuyền chài vô học dấy lên, lòng người ngã theo, tôi nghĩ cha tôi đã đúng và tôi vứt bút nghiên đi theo một tên du côn.

_Một tên du côn. Anh đi theo một tên du côn mà anh nghĩ còn phải. Bây giờ anh có hối hận không?

_Không, tôi không hề hối hận.

_Tại anh kiêu ngạo không chịu nhận.

_Không phải tôi kiêu ngạo mà tôi không nhận.

_Hay anh cho định mệnh lịch sử nó phải thế? _Không, không bao giờ tôi lấy một thứ số phận, một thứ định mệnh nào để trốn chạy. Chính là tại tôi tại tướng quân, tôi muốn hỏi tướng quân: tướng quân đâu muốn ép thân thuần phục, đâu tướng quân có kính nể Kiều, đâu tướng quân có nghe lời bàn của bọn hèn nhát, chủ hòa.

_Sao anh lại cho rằng ta không kính nể nàng Kiều, không kính nể mà sao ta có thể cưới nàng làm vợ. Anh nghĩ nàng là một con điếm sao? Nếu quả vậy thì anh đã nhầm, anh đã cho rằng du côn còn khá thì với ta ngày nay trong giới đàn bà chỉ có bọn làm điếm là khá. Du côn dám nhận là du côn, làm điếm dám nhận là làm điếm, còn ai hơn nửa. Cả thiên hạ làm điếm mà không dám nhận là điếm. Như vậy ai được quyền khinh nàng Kiều. Ta chẳng sợ gì mà không nói với anh. Ta kính nể con điếm là vợ ta đó. Còn cái bọn ở chung quanh ta, cái bọn Từ Văn Trường, cái bọn văn hay chữ tốt, khoa bảng ta đâu có coi bằng một con ngựa ta nuôi. Bọn họ đâu sánh được nàng Kiều. Ta nuôi bọn nó để bọn nó nịnh bợ, ca tụng, su phụ ta. Ai cũng muốn có kẻ nịnh bợ mình, muốn có kẻ đóng kịch làm hề cho mình coi…Bọn nó theo ta chẳng phải như anh, như quân sĩ của ta.

Bọn nó theo ta vì chúng không được làm đầy tớ yêu của chủ chúng như Hồ Tôn Hiến chẳng hạn. Chúng bất mãn bỏ đi và bây giờ anh thấy đó, chúng muốn ta hàng thuận để chúng được sống yên ấm  với nhung lụa, địa vị…Bọn nó không theo đuổi một lý tưởng và sống chết với nó, bọn nó nay theo thằng này mai theo thằng khác, cứ bỏ tiền ra là mua được hết. Bọn nó làm ô danh kẻ sĩ. Loạn cũng vì bọn nó. Bọn chó phản chủ và chúng mãi mãi như thế. Với ta khi nào không được ân huệ nửa, bọn nó sẽ phản lại. Ta đã thua, ta chịu quy hàng chẳng phải vì ta đã nghe theo những vợ, những quần thần. Ta chịu thua, chịu hàng bởi vì bọn chúng không có được cái chí lớn như ta nghĩ. Ta còn lại một mình, ta hàng, ta chịu thua vì ta thất vọng, ta buồn bã. Bọn họ nghĩ giờ đã có thế lực, địa vị, mục đích đã đạt rồi còn khổ sở làm chi nửa. Họ muốn đóng lại cho đúng vai trò những kẻ mà trước đây họ chống đối. bọn họ cũng muốn trở thành quan lại, bốc lột, cũng muốn xe ngựa, áo quần, địa vị…

_Không, không thể như thế được.

_Ta không muốn chính những kẻ theo ta sẽ giết ta. Ta cũng chỉ là một tên du côn, một tên du côn về già, một tên du côn hết thời. Ta tiếc rằng sao không giữ mình là một tên du côn ở đất Việt đông. Ta nghĩ tới mai này ta phải khúm núm với cân đai bố tử ra vào chốn triều đình, rúc ngồi với bọn quan lại, nào thưa nào gởi mà sao ta muốn chết quá, hãy vứt bỏ hết đi…Sống đời một tên du côn với mảnh khố rách còn sung sướng hơn nhiều…Mai này anh có chịu ra quy hàng nhận lã nh bổng lộc của triều đình ban cho không?

_Không canh ba đêm nay tôi sẽ mạo muội tướng quân mà trốn đi

_Anh không muốn được hưởng phú quý vinh hoa với ta sao?

_Tôi còn đầy đủ điều kiện để làm một thằng du côn. Chốn công quyền không phải nơi tôi lui tới. Tướng quân sắp từ chức một tên du côn rồi sao?

_Anh cho làm du côn là cao quý lắm sao?

_Thời nay địa vị du côn cao quý lắm không có gì so với hắn được như đã thưa với tướng quân.

_Anh có bằng lòng cho ta cùng trốn đi làm du côn trở lại được không?

_Tại sao không?

Tên bộ tướng xách chiếc đầu đầm đìa máu tươi chạy hộc tốc đến bên Hồ Tôn Hiến lưỡi gươm còn vấy máu chảy chan hòa xuống đốc kiếm, hắn giơ chiếc đầu lên và nói:

_Thưa tướng quân, tôi xem đầu này không phải là đầu Từ Hải

_Không phải Từ Hải? Tại sao?

_Hắn mang râu giả.

Vừa nói tên bộ tướng vữa gỡ bộ râu quai nón nơi chiếc đầu. Tôn Hiến đứng ngây như một pho tượng gỗ mắt trợn ngược. tên tướng nói tiếp:

_Lợi dụng đêm tối, Từ dã trốn đi

_Nàng Kiều đâu?

_Nàng đang khóc bên xác chết không đầu.
_Quân sĩ của Từ?

_Đã hoàn toàn quy hàng. Một số nhỏ vứt khí giới, cởi quân trang bỏ trốn làm thường dân.

_Từ trốn đi một mình.

_Có lẽ chỉ đem theo một vài tên tâm phúc.

_Còn Từ Văn Trường không?

_Còn đầy đủ bọn hầu cận không thiếu một tên nào. Họ đang chờ vào phục lịnh tướng quân.

Hồ Tôn Hiến lặng im, bỗng hắn nỉm cười:

_Từ còn sống nhưng cũng coi như Từ đã chết. Hãy dán râu vào cho hắn, sóc lên đầu giáo trương cao cho quân sĩ an lòng rồi cho chôn đi. Một mình hắn còn sống cũng không làm được gì. Tướng không có quân không còn là tướng nửa. Một Từ Hải còn sống sẽ là một “Từ Hải giả”.

Tên bộ tướng tuân lệnh, phóng mình lên ngựa, sóc chiếc đầu vấy máu lên đầu ngọn thương, giơ lên cao chạy ra giữa trận nói lớn:

_Bớ loạn quân. Từ Hải đã bị chặt đầu theo vương lệnh. Hồ tướng quân tha chết cho bọn bây. Tất cả hãy bỏ khí giới quy hàng sẽ được toàn tính mạng: và ân xá cho trở về làm ăn, ai muốn đầu quân sẽ được thu nạp..Trên bãi chiến chỉ còn vài tốp nhỏ đang giao tranh một cách uể oải, thấy chủ tướng đã chết quân Từ tìm cách tháo lui hoặc đầu hàng, trên mặt thành vài ngọn cờ nghiêng ngã. Khắp nơi khí giới ngổn ngang cùng xác chết, kẻ bị thương kêu khóc vang trời. Khói súng phảng phất mùi khét mấy đám cháy ngọn lửa vẫn hung hãn như muốn bùng to, đám lương dân từ trong thành chạy ra ùn ùn tán loạn, kêu khóc thảm thiết, bọn lính nhân cơ hội hè nhau cướp giật. Tiếng kêu khóc van xin tưởng thấu tới trời xanh. Trong trướng Hồ Tôn Hiến cười khà khà đắc ý chợt thấy có năm ba người đi vào thì chăm chú nhìn, rồi bước xuống thêm, nỉm cười thi lễ:

_Kìa Thanh Đằng tiên sinh đã lại, kẻ hèn đang mong chờ tiên sinh. Từ Văn Trường cùng mấy bộ hạ của Từ Hải đều vòng tay thi lễ rồi tiến vào phân ngôi chủ khách và hàn huyên. Bây giờ kể tiếp chuyện nàng Vương Thúy Kiều. Sau cuộc vui cuối cùng của đêm trước khi ra hàng, nàng trở về phòng thấy bứt rứt không nguôi vì thấy thái độ của Từ Hải đầy vẽ băn khoăn lo lắng và buồn bã khi bỏ dỡ cuộc vui ra ngoài, nàng ngầm hiểu phần nào tâm trạng của Từ. Bao nhiêu năm trời vùng vẫy một cõi giang sơn, nay đây mai đó với hai bàn tay không dựng một cơ nghiệp; ra vào chốn trận địa như chổ không người, dọc ngang chẳng còn biết có ai. Cũng như ai một phương hùng cứ, triều đình một cõi đủ văn võ bá quan. Nàng Kiều đã lấy làm hãnh diện trước những danh quan danh tướng như Từ Văn Trường, cả cái bọn khoa bảng chữ tốt văn hay ấy cũng một điều thưa, hai điều bẩm. Nếu như lúc ở Vô Tích, Lâm Truy, Hàng Châu chẳng cần tới hạng người đó cũng đủ làm xấu nàng, vứt tiền vào những tú bà, bạc hạnh để được hành hạ thân thể nàng cho chán rồi nhổ nước miếng vào mặt nàng gọi là con đĩ.

Bây giờ con đĩ ấy đã là vợ của Từ Hải, một hoàng hậu chưa có ngôi và đủ để cho bọn kia cúi đầu vâng lịnh, khen nịnh, tâng bốc..Nghĩ thế nàng thấy lòng mình thắt lại và hiểu Từ buồn hơn nàng biết chừng nào. Từ một kẻ cầm đầu thành một kẻ tuân lệnh, khúm núm, chung đụng với kẻ mà mình kinh tởm gớm ghiếc, những bọn quan không ra quan, tướng không ra tướng, danh vọng, địa vị chẳng do tài đức lập nên mà do tiền bạc mua bán, do nịnh bợ, phe cánh, bè đảng tạo thành. Từ một cuộc sống vùng vẫy tự do lại phải khép mình vào những lề thói, tập tục chỉ là cái vỏ che đậy những bẩn thỉu giả trá của một triều đình mục nát vua không ra vua, quan không ra quan, của một xã hội đồi trụy không trật tự, không sinh khí, đầy tồi bại, hủ lậu, vô liêm, lẫn trốn trong cái vỏ luân lý đạo đức hào nhoáng như lớp sơn trên thân gỗ mục, mọt rỗng. Kiều nghĩ quanh nghĩ quẩn và thấy hối hận, nhưng ngay sau đó Kiều lại tìm những lý do an ủi để chấp nhận: nàng sẽ chính thức là một phu nhân, vợ một viên quan của triều đình, không còn là vợ một tên tướng cướp, vợ một tên quan được khắp cả thiên hạ công nhận sẽ không còn phải nay đây mai đó trôi nổi bất trắc và số phận sẽ ra sao vào một ngày kia khi quân Từ bị đánh tan? Nàng sẽ về gặp lại cha mẹ, Kim Trọng, về quê mở mặt, mở mày với làng xóm bà con

Nàng không muốn phiêu lưu nửa, nàng muốn được sống tầm thường trong thái bình an lạc không còn phải run sợ trước cái bất trắc đe dọa, đau lòng trước cảnh chém giết binh lửa mà đã bao lâu nay nàng phải chứng kiến. Kiều trằn trọc với những ý nghĩ đâu đâu khiến nàng không sao nhắm mắt được, mãi đến khuya nàng mới thấy Từ trở vào phòng và lên giường vui vẽ nói vài câu chuyện rồi nằm im như ngủ. Sớm hôm sau khi Kiều thức dậy thì đã không còn thấy Từ Hải, hỏi bọn thị nữ thì nói Từ xuống trại binh sửa soạn quân mã và dặn lại Kiều ở lại trong dinh chờ Từ ra ngoài gặp Hồ Tôn Hiến xong sẽ vào đón. Nhưng giữa lúc đang trông đợi, bỗng nghe tiếng súng nổ vang rền, tiếng la dậy đất, Kiều kinh hoàng ra mặt thành ngó xuống thì thấy quân Từ đã rơi vào ổ phục kích của địch. Nàng kêu lên trước sự gian trá, giữa trận chiến nàng đau lòng nhìn đoàn quân bách chiến bách thắng tan rã và trong khói đạn mờ mịt nàng thấy bóng Từ Hải ngã xuống ngựa. Giữa cơn náo loạn, nàng bỏ chạy ra xông vào giữa trận tơi bời tên đạn, giáo mác. Dưới chân con hồng mã với  bộ giáp điều, Kiều nhận ra Từ Hải với cái xác không đầu nàng ôm lấy  kêu khóc và ngất đi. Kiều tỉnh dậy giữa tiếng ồn ào huyên náo nàng nghe thấy nhiều tiếng nói khác nhau, trong đó có tiếng nói êm ái của Từ Văn Trường:

_Phu nhân đã tỉnh rồi.

_Tỉnh thật không, người đẹp như vậy mà chết thật đáng tiếc.

Kiều mở mắt và ngồi dậy nàng thấy mình đang ở trong một gian phòng tráng lệ tràn đầy ánh sáng. Không phải là nơi trận tiền. Nàng cố nhớ lại cảnh hãi hùng thoảng qua như một giấc chiêm bao. Nàng định thần nhìn kỹ, xung quanh nàng đầy đủ những tên hầu cận, những thị vệ. Ta vẫn còn ở trong cảnh cũ sao? Nhưng đến lúc nhìn thấy ngoài cửa phòng Hồ Tôn Hiến đang ngồi ngất ngưỡng uống rượu và tiếng đàn tiếng hát thì nàng đã rõ thực tế. Nàng òa lên khóc: Thôi rồi chính ta đã giết chàng, bây giờ còn mặt mũi nào ngồi đây? Nàng kêu gào, la hét và khóc khiến cho những người cũ dưới trướng Từ cũng phải rơi lệ.

_Thưa phu nhân đằng nào thì tướng quân cũng đã không còn nửa, phu nhân có làm sao thì Từ tướng quân cũng không sống lại được mà phu nhân thì phải sống, còn cha mẹ anh em. Kiều tỉnh lại, la lên phẫn nộ:

_Phu nhân! Phu nhân! Ta không còn là phu nhân gì nửa, phải rồi không làm sao cho chàng sống lại chính là ta đã giết chàng và chính chúng bay đã giết tướng quân của chúng bay. Có phải chính chúng bay đã được  bổng lộc, ân huệ đã chia ngọt xẻ bùi với Từ và ngày nay chúng bay ngồi đây chờ đợi ân huệ khác. Chúng bay cũng là văn quan, cũng là võ tướng, cũng là hầu cận thế mà ngày nay nhìn Từ chết mà chúng bay lại ngồi đây để chung sống với bọn bất tín, bọn phản trắc, bất lương..ôi bọn bay lại có thể sống như vậy được sao? Ta không là phu nhân, phu phen gì nửa. Ta chỉ là một kẻ giết chồng và ta khinh bọn bay còn ngồi đây làm chi, bọn chó phụ nghĩa, bọn bay hãy bước đi cho khuất mắt ta.

_Thưa phu nhân đâu chúng tôi muốn ra hàng và đâu ngờ là ta bị lừa.

_Thôi bọn bay đừng tìm cách bào chữa. Tao không muốn nghe cái giọng ấy nữa, cái giọng hèn nhát không đáng là quân sĩ của Từ Hải, những kẻ đã sống hiên ngang và chết khí phách. Những kẻ không phản trắc, không sợ kẻ mạnh bất chánh, không vì sự yên thân, đời sống nhung lụa mà quên việc nghĩa. Bọn bay không lấy thế này làm nhục sao? Bọn bay không biết chọn lúc nào phải sống, lúc nào phải chết sao?

Kiều gào lên như một kẻ điên cuồng, lũ bộ hạ chỉ biết cúi đầu ngồi nghe, bỗng một tên bộ tướng đứng lên:
_Lời của phu nhân làm cho kẻ hèn này hổ thẹn. Quả Từ tướng quân đã không xấu hổ với một người vợ như phu nhân.  Vậy xin có chút lòng này tạ ơn người đã khuất.

Nói dứt lời tên bộ tướng rút đoản kiếm đâm vào bụng, lưỡi kiếm xuyên qua người, hắn quỳ xuống, hai tay còn giữ lấy đốc kiếm nơi bụng và cúi đầu hướng về nàng Kiều. Hắn gục xuống như một pho tượng, trong phút chốc máu chảy loang trên mặt đất. Tiếng khóc của Kiều nỉ non bứt rứt. Lúc đó Hồ Tôn Hiến bước vào chứng kiến cảnh tượng mà run lên cầm cập, nhưng Hồ cố trấn tĩnh kêu bọn thị vệ vào vực nàng Kiều ra ngoài cho chôn cất kẻ chết rồi lên tiếng an ủi những bề tôi cũ của Từ, Hồ sợ bọn họ bị kích động, phẫn uất gây chuyện chẳng lành. Nàng Kiều bị mang ra nơi sảnh đường, buổi tiệc khao quân đang vào lúc hào hứng  Hồ Tôn Hiến ngồi nơi bàn tiệc sai quân dâng chén bát và rót rượu mời Kiều. Hồ cầm ly rượu trên tay giơ lên:

_Mời nàng nâng ly cùng uống với ta gọi là vui đã cùng nhau lập nên công trạng này. Ta  nghĩ thành ta thu được một phần nhờ công của nàng vậy nay nếu nàng muốn xin điều gì, bất cứ điều gì ta cũng cho gọi là một chút phần thưởng.

_Phận tôi chẳng có gì để xin. Ông cho việc tôi giết chồng là công sao?

_Không ta đâu nói vậy, ta thật áy náy nhưng ta nghĩ, ta làm như vậy vì nhân dân, vì triều đình. Nàng nghĩ xem nàng thích cảnh chém giết tao loạn sao? Tất nhiên nàng phải chịu thiệt thòi thay cho những thiệt thòi lớn hơn của bao kẻ khác.

_Ông thật không xứng là tướng quân. Chỉ vì tôi là một con đàn bà nhẹ dạ như bao nhiêu người khác, tôi đã bị lừa giết chồng mà không biết. Không, tôi không muốn biết thiệt thòi của kẻ khác, có ai biết thiệt thòi cho tôi không. Chồng tôi chừng như đã rõ điều này nên chàng đâu muốn ra hàng, mang tấm thân cương cường khí phách về uốn lưng nơi triều đình.  Chàng chẳng bao giờ hành động như các ông, cảnh chém giết có diễn ra cũng chỉ bởi chồng tôi muốn đa số dân chúng không còn bị áp bức, bốc lột đè nén, thoát được cảnh lầm than dở sống dở chết dưới quyền cai trị của các ông. Từ lúc còn là tên cướp bể nhỏ nhoi, chồng tôi chỉ biết lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo, giết bọn sâu dân mọt nước, bao nhiêu năm vùng vẫy chí lấy cái lương tâm mình mà làm điều hay, tránh điều dở. Nghĩ lại tôi biết tôi nhầm khi khuyên chàng ra hàng, tôi cũng muốn được yên thân, cũng muốn tránh cảnh tang thương giết chóc. Ai ngờ cũng vì vậy mà tôi mắc tiếng giết chồng không dao và thân tôi dang dở. ôi như vậy mà ông còn muốn đền công cho tôi nửa…

_Thôi nàng đừng làm giảm cuộc vui của ta, nàng sẽ được đền bù xứng đáng. Nàng hãy vui lên một chút cho ta hài lòng…

Hồ cười lên hô hố, uống liên tiếp từng bát rượu lớn, bọn quân sĩ chung quanh vừa ăn uống vừa ca hát nhảy múa. Nàng Kiều khóc khô nước mắt và tưởng mình như đang ngồi trong một lò lửa chịu cực hình. Tại sao không chọn cái chết cho xong? Nàng nghĩ đến cha mẹ và Kim Trọng khiến lòng lại thổn thức. Hồ Tôn Hiến chợt cất tiếng:

_Xưa ta nghe nàng là một tay danh cầm trong thiên hạ, nay giữa cuộc vui ta muốn được nàng cho nghe một khúc.

Kiều đáp:

_Xưa kia cũng bởi tiếng đàn vận vào người khiên cho thân này trôi nổi nên từ đó thề không cầm đến cây đàn nửa.

Hồ Tôn Hiến vẫn nài ép.

_Mấy khi có được cơ hội như thế này nàng lại không thể gảy một khúc hồi sinh cho đời nàng sao.

_Ông nghĩ tôi giết được chồng là vui sướng lắm sao? Tôi vốn là con đĩ đâu có được cái vui sướng của những kẻ chính chuyên khi giết được chồng xin ông tha cho mà đừng ép tôi làm việc bất nghĩa phụ tình đó.

Hồ Tôn Hiến vẫn không buông tha, sai kẻ hầu mang đàn ra để trước mặt bàn, nàng Kiều cầm lấy mà nói:

_Tôi đã thưa cùng ông đến cạn lời mà ông vẫn bắt tôi làm việc bất nhẫn ông giết được chồng tôi bởi một mưu mô sảo quyệt còn chưa đủ hả, lại còn muốn vợ của kẻ chết chưa nguội xác kia gảy đàn mua vui. Sao tâm địa của ông nham hiểm, bất lương, độc ác đến vậy. Thân tôi dù chết tôi cũng chẳng thể làm được chuyện đó.

Nói xong Kiều cầm cây đàn đạp xuống đất cho tan ra, rồi đứng dậy bỏ chạy như một con ngựa điên.

*****

Sau đêm bỏ thành trốn đi, dứt bỏ những vinh hoa phú quý của một cuộc sống bình thường chẳng ai ngờ Từ đã thoát chết. Chàng thanh niên bảo:

_Nó tưởng lừa mình được, ai ngờ mình lừa được nó.

Hai người bạn dành những ngày đầu tiên để ăn chơi, ngao du trong cuộc sống tự do, nghĩ đến những ngày cũ không khỏi làm cho Từ nhiều lúc chạnh lòng nhớ tiếc, trong những đêm nơi quán trọ dọc đường nghĩ đến Kiều khiến chàng rơi lệ. Chàng đã mất tất cả và bây giờ phải làm lại tất cả. Sau một thời gian hai người bạn bắt đầu công việc kết nạp kẻ đồng chí, những kết nạp khó khăn hơn vì Từ không muốn chỉ có một đoàn quân ô hợp. Chẳng bao lâu thế lực của Từ một lớn dần. Một ngày kia Từ bàn với người bạn ý muốn về đón nàng Kiều vì chàng đã được tin sau khi tự vẫn được cứu thoát đã trở về sống với gia đình. Người bạn có vẽ phân vân, Từ nói:

_Ở trên đời này ngoài huynh ra tôi có mình nàng là hiểu và thương tôi, tôi hiểu sự phân vân của huynh nhưng tôi có thể đoan chắc việc riêng của tôi sẽ chẳng hại gì tới việc chung mà chúng ta đang gây dựng. nàng còn hơn một người thường, từ lúc nghe tin nàng tự vẫn để giữ trọn nghĩa thật không lúc nào tôi quên được nàng. Người bạn thở dài không nói, lặng lẽ thu xếp hành lý, giao công việc rồi cùng Từ dong thuyền tìm về quê nàng Kiều. Sau thất bại của cuộc nổi dậy tại miền duyên hải của Từ Hải đã làm cho người dân nhỏ lệ khóc thầm, một tương lai hé ra chưa đước bao lâu đã bị dập tắt. Đã mất tự do họ lại còn bị quan quân triều đình trở về hành hạ hơn hồi trước chừng như để trả thù những ngày họ được sống sung sướng dưới sự bảo vệ của Từ Hải. Đâu đâu người ta cũng nghe thấy những lời ta thán oán hận Hồ Tôn Hiến, nhiều người dân đã bỏ xứ ra đi đến những nơi xa lạ làm ăn hòng thoát bớt cảnh đè nén áp bức. họ truyền tai nhau kể lại cái chết của Từ Hải, cái đê tiện của Hồ Tôn Hiến. Họ ngậm ngùi cho số phận của nàng Kiều vì không chịu đựng được phải gieo mình xuống sông Tiền đường lấy cái chết mà giữ tiết với chồng.

Miết rồi những lời kể mỗi lúc sai lạc đi vô vàn những huyền thoại chung quanh Từ Hải và Vương Thúy Kiều. Nhiều văn nhân thi sĩ cũng từ hứng khởi của cuộc nổi dậy mà sáng tác ra những áng văn chương được dân chúng truyền tụng ngâm nga. Họ luôn nhắc nhở đến Từ Hải như một anh hùng cứu thế nhưng số trời đã định buộc dân chúng còn phải lầm than khổ sở. Có kẻ đã dựa vào sấm ký vào những lời tiên tri để tìm cách giải nghĩa cho dân chúng rằng: họ đang ở vào thời mạt pháp. Cách giải thích mù mờ đã chẳng giúp gì cho lòng tin của dân chúng mà làm cho họ chán nản, không phấn đấu, đi tìm an ủi nơi tín ngưỡng, do đó nhiều ma giáo xuất hiện làm những chuyện bậy bạ khiến cho xã hội càng thêm tao loạn suy vong.

Nàng Kiều trong những giây phút kinh hoàng đã không còn giữ được bình tĩnh nàng chỉ còn nhìn thấy cái chết là hợp lý nên đã lao đầu xuống sông tự vẫn, mượn cái chết rửa sạch kiếp người, nhưng số nàng chưa trọn, quân sĩ Hồ Tôn Hiến đã vớt được nàng lên, mủi lòng thương cũng có, phần nể sợ cũng nhiều nên Hồ đã cho nàng chọn lựa cuộc sống, nàng đã vào ngụ tạm nơi một ngôi chùa dưỡng bệnh trước khi trở về quê, dứt cuộc sống trần tục mà lập một ngôi chùa nhỏ sớm tối lấy kinh kệ làm khuây.

Nhưng nào nàng có được yên với sắc đẹp của nàng nên bọn đàn ông chung quanh đứa nào củng chỉ định ăn sống nuốt tươi. Những cái nhìn như hãm hiếp nàng. Sau hôm được cứu sống ít ngày, một đêm kia nàng đang thiếp ngủ thì bỗng giật mình vì có một kẻ vận áo nhà sư xông vào giường mà ôm lấy nàng định hãm hiếp, nàng định la lên cầu cứu và kháng cự, may nhờ ngôi chùa nàng đang tạm trú ở sát ngay trại quân của Hồ Tôn Hiến nên nghe tiếng kêu liền báo động, biết không yên kẻ gian vội vã tẩu thoát. Sớm hôm sau Hồ Tôn Hiến bắt nàng tới hỏi xem kẻ kia là ai để trị tội vì trong thâm tâm Hồ vẫn thèm khát Kiều mà không dám, nên nổi máu ghen với kẻ lạ mặt. Kiều cứ tình thực mà khai là thấy một ông sư nhưng vì đêm tối nên nhận không được rõ. Hồ Tôn Hiến liền bắt tất cả các sư đang trụ trì trong ngôi chùa ra cho Kiều nhận diện, Kiều một mực nói không rõ ai nhưng Hồ không chịu còn bảo: nếu không nhận ra người nào thì sẽ giết hết mấy vị sư vì làm nhớp cửa Thiền. Hồ hỏi các ông xem ai làm điều bậy bạ thì hãy nhận, nhưng ai cũng nói không. Hồ liền sai mang ra chém cả. Kiều đành liều chỉ đại một người. Nhưng ngay đó một chuyện xảy ra giải cái oan cho nhà chùa. Nguyên kẻ làm bậy là Từ Văn Trường đã giả dạng nhà sư tưởng có thể che mắt được. Ai ngờ quả báo, buổi tối đó sau cái chết oan của vị sư Từ Văn Trường trở về nhà thì bỗng nhìn thấy trên giường một ông sư đang giao hoan cùng vợ, hai thân thể trần truồng lung linh trước mắt, cơn giận bốc lên Từ rút gươm xông vào đâm, nhưng lúc nhìn ra hóa chỉ có mỗi vợ mình rãy chết trên vũng máu. Vì giết người Từ bị bắt dù là kẻ có công ở dưới trướng nhưng Hồ Tôn Hiến cũng không thể vì tình mà tha được, nhất là sau khi Từ Văn Trường đã khai ra cái chuyện đội lốt nhà sư kia. Bị nhốt Từ Văn Trường phát điên, phá nhà ngục chạy về đốt nhà rồi nhảy vào lửa mà chết. Câu chuyện đã làm náo động dư luận. Kiều những khóc thầm vì phải chứng kiến nhiều cảnh đau thương oan trái do đó nàng đã quyết chọn đường tu để mong sám hối tội lỗi lãng quên cuộc đời.

Dời khỏi ngôi chùa trở về quê Kiều muốn quên ngày cũ, nhưng tới nhà Kim Trọng lại đòi nối lại tình xưa, có lẽ chẳng phải vì lời thề thốt nhưng bởi nhan sắc mặn mà và cái thân thể khêu gợi của nàng Kiều, về phía Thúy Vân thì ghen tương sợ chị cướp mất chồng sẽ mất phần nào sự mặn nồng tình ái. Kiều ở vào hoàn cảnh dở khóc dở cười chỉ còn biết than thân trách phận. Nàng nhất định dứt đường tình ái ra nơi am vắng nhưng Kim Trọng đã chẳng buông tha, một mực ép nàng muốn cho cửa am thành nơi dơ bẩn, Kiều chẳng dám nói lớn sợ vỡ ra thì xấu chàng hổ thiếp chỉ tìm cách lẩn tránh. Nàng Thúy Vân cùng cha mẹ biết chuyện chỉ đành chép miệng thở dài.

Một đêm kia kinh kệ vừa xong, đóng cửa am cẩn thận rồi đi nằm, giấc ngủ chưa đến bỗng nghe tiếng gỏ cửa, nàng thất kinh cố ý nằm im, nhưng nghe tiếng gõ mỗi lúc một lớn, sợ kinh động khiến người ngoài biết nàng đành phải ra.

_Em lạy anh, hãy buông tha cho em được yên thân, em đâu còn trinh trắng nửa, hãy để cho em giữ lại một chút lòng này với anh. Anh đừng ép để em phải lấy cái chết mà giữ mình.

Tiếng gỏ im Kiều lắng nghe có tiếng bàn tán, khiến nàng run sợ chợt có tiếng quen quen hỏi:

_Có phải nàng Kiều đó không?

Kiều cố moi óc nhớ xem giọng ai, tiếng nói tiếp theo:

_Anh đây, anh Từ Hải mở cửa cho anh, anh về đón em đây.

Nghe xong Kiều muốn ngất xỉu, nàng run rẫy quỳ xuống:

_Từ tướng quân, sống khôn thác thiêng, em biết em đã giết tướng quân, xin tướng quân tha cho..

_Anh còn sống mà, anh chưa chết đâu, em hãy mở cửa ra.

_Không anh chết rồi, em thấy rõ anh chết rồi, anh có linh anh hãy độ cho em.

_Khổ quá, anh còn sống nhăn, em hãy mở cửa ra xem.

Rồi một tiếng lạ khác:

_Từ tướng quân vẫn còn sống, phu nhân cứ mở cửa đừng sợ.

Sau một lúc trấn tĩnh, Kiều đánh liều mở cửa, trước mặt nàng rõ là Từ Hải và một người khác, Kiều kêu lên:

_Em đang mơ hay tỉnh đây.

_Em đang tỉnh

Từ Hải cầm lấy tay nàng:

_Em hãy lại đây.

Kiều hoảng rút vội tay nhưng không kịp nửa  và nàng nhận rõ đúng là Từ Hải. Nàng ôm choàng lấy Từ nỗi vui khôn xiết. Từ kể lại chuyện trá hàng cho Kiều nghe và Kiều kể những gian truân từ bấy đến nay, hai bên cùng ứa lệ chan hòa. Kiều oán trách:

_Sao anh trốn đi mà không cho em theo?

_Vì anh tưởng em muốn vinh hoa phú quý thì để em hưởng ai ngờ như ngày nay.

Chợt Từ hỏi:
_Vừa xong em tưởng anh là ai vậy?

Ngập ngừng một lúc nàng mới nói được:

_Em tưởng chàng Kim vì chàng Kim vẫn còn muốn em.

_Thằng khốn khiếp, cái bọn nho sĩ dâm loạn, nó muốn người ta ai cũng là đĩ mãi, người ta vào chùa rồi nó muốn người ta làm đĩ nửa. Thôi em hãy cở bỏ cái áo đó rồi theo anh, anh không muốn em phải sống khổ sở thế này. Chúng ta phải gây dựng lại.  Ngay đêm đó Kiều cùng Từ Hải và người bạn xuống thuyền ra đi.

Những năm về sau từ miền duyên hải Việt đông mãi tới Giang nam nhiều vụ dấy loạn nổi lên. Người ta bàn tán về  một đám giặc lùn nhận là Từ Hải, kẻ nói dư đảng, kẻ nói là bọn mạo danh, nhưng có kẻ cả quyết rằng chính mắt đã nhìn thấy Từ Hải . Trong dân gian kẻ nói thế này người nói thế khác thực giả chẳng biết đâu mà phân biệt.

Có điều những vụ nổi dậy đã làm cho triều đình lo âu và người dân bị đàn áp ngóng chờ loạn lạc hy vọng một đổi đời sẽ đến, cái hy vọng mà xưa kia trong một thời gian ngắn ngủi Từ Hải đã mang đến cho họ..

(1963-1965)

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 23 Feb 2015 

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

 “Một Cõi Đi Về…”

Bài 9

Thiếu tiểu ly gia…

(Hạ Tri Chương)

Đi lần nầy, cũng xe Molotova, nhưng không bít bùng như lần trước, chuyến đi từ Taberd Saigon lên Trảng Lớn, hồi mới tập trung “đóng tiền đi ở tù”. Tuy nhiên, lần nầy cũng có một chú bộ đội cầm AKA ngồi canh ở cuối xe.

Xe chưa chạy, anh ta đã xổ ra một tràng giọng Nghệ, xứ của “bác” anh ta. Chẳng biết anh ta nói gì, vì thiếu “thông dịch viên.”

Lần chuyển trại nầy té ra về Long Giao.

Về tới đó khoảng sau nửa đêm.

Trời mưa phùn.

Đất đỏ chèm nhẹp.

Tối thui, tối như mực, lò mò tập trung cho bộ đội điểm danh, xong vô một cái nhà dài, trại lính Úc cũ. Nền nhà dơ vô cùng, không nằm ngủ được. Tôi mò tìm được một nửa tấm ri sắt, ai đã kê cao khỏi mặt đất, nằm co lại thì cũng vừa đủ, ngủ một giấc ngon lành, có lẽ vì mệt.

Sáng, khi thức dậy, trời đã tạnh mưa. Anh em léo nhéo kéo nhau đi tìm nước. Bên cạnh cái sân lớn có một cái giếng.

Trời! Thấy cái giếng mà lạnh mình!

Miệng giếng rộng hơn nửa cái sân bóng chuyền. Nhìn xuống dưới thì sâu thăm thẳm, mịt mù, không khác gì đường xuống âm ti. Không dám vói nhìn xa vì miệng giếng không xây thành, rớt xuống giếng dễ như chơi.

Chẳng có máy bơm, chẳng có máy quay tay lấy nước.

Anh em đi tìm giây, nối lại, làm gầu, v.v… Một cái gầu mà những mấy chục người chờ nhau.

Có người vội vàng đi tìm bao cát, tước sợi, xe giây. Ai bảo “sĩ quan ngụy” chỉ biết hưởng thụ, bóc lột?!

“Mưu sinh thoát hiểm” là nét đặc sắc trong đời lính cũng như trong đời tù. Họ hay lắm!

Tôi thì chịu, ngồi nhìn, không than oán, không rên rỉ, dững dưng.

Tôi bỗng nhớ một câu nói về người quân tử, tôi từng dạy học trò: “Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh.” 

“Dĩ sĩ mệnh” đến thiệt! Một chốc, Phạm Ngọc Hiền, người được Trần Phú Trắc đặt cho cái tên là Tạ Tốn, dân Quảng Ngãi, ở chung tổ với tôi cả năm nay, cầm tới cho tôi một “gô” nước, bảo tôi đánh , rửa mặt rồi đi uống càphê. Anh ta đang nấu nước sôi.

Tôi cảm động về hành động nầy của Tạ Tốn. Trong cuộc sống bình thường thì không thấy chi. Khi khó khăn mới biết nhau, biết thương yêu, giúp đỡ nhau.

Khoảng mười giờ, bộ đội xuống kêu có lệnh tập trung. Anh em, khoảng vài ba trăm người mới tới, tập trung ở một căn nhà hình chữ T khá lớn. Nhà tiền chế kiểu quân đội, đã hư hỏng, chỉ còn mái, không có vách. Bỗng gió ào ào cùng mưa tới. Căn nhà rung lên rồi kêu răng rắc.

Ai nấy bỏ chạy ra khỏi nhà vì sợ nhà sập.

Tôi cũng phóng ra giữa sân khá nhanh vì tôi còn đứng ở bên hông nhà, chưa vào sâu bên trong.

Rồi căn nhà đổ ập xuống, mái nằm sát đất.

Cả chục người không chạy kịp, bị kẹt trong đó. Một chốc, tôi thấy Đào Sơn Bá vạch mái tôn chui ra.

Thấy tôi, Bá cười:

– “May tui lọt vô giữa hai cái vài nên không can chi.”

Chúng tôi nghe thấy tiếng la, tiếng gọi nhau. Một người nào đó, bị cái vài nhà sập xuống, đè bể ngực, chết ngay tại chỗ. Bộ đội ra lệnh chúng tôi khiêng mái nhà cho hỏng lên rồi lôi xác chết ra, đem đi chôn, không có hòm, lấy tấm nylon mà bó lại. Thế là xong.

Đời tù, “Một cõi đi về” như hơi gió thoảng.

Phạm Ngọc Hiền nói với tôi:

– “Tại sao chôn như vậy. “Cách mạng” không thấy tội nghiệp cho người ta à?”

– “Buồn cười không!” Tôi nói. “Ông nhớ giùm tui, nói “tội nghiệp” là nói tới nhân quả, là nói tới cái nghiệp của nhà Phật. Khi nói tội nghiệp là nói tới từ bi, bác ái của Chúa, là chữ nhân của Khổng. Cả thế giới nầy có ai cho rằng chế độ Cộng Sản là nhân đạo? Ngay cả “Mác” cũng không bàn tới nhân đạo, nhân đạo chung chung, theo quan điểm của loài người.

– “CHỉ có hận thù!” Hiền nói.

– “Nói tới Cộng Sản là phải nói tới hận thù, số một là “hận thù giai cấp”. Không có hận thù không có Cộng Sản. Những người “xương trắng Trường sơn” thì ai chôn? Gian khổ, nguy hiểm và nhất là hận thù làm cho lòng người ta trơ ra. Có chỗ mà chôn là còn may.” Tôi góp ý với Hiền.

Rồi tôi nghĩ tới một câu Kiều “Vùi nông một nắm mặc dù cỏ hoa”. Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy! Nhân loại ngày nay tiến bộ nhiều mặt nhưng lòng người thì hình như chai cứng hơn.

Hiền nói:

– “Họ giáo dục như thế anh à! Tui lớn lên ở Quảng Ngãi, trước 1954 là vùng Việt Minh. Bọn con nít như chúng tôi được họp thành đoàn thể, dạy hận thù người nầy, người kia, hận thù thằng Tây, thằng Việt gian. Ai không ở trong hàng ngũ họ là Việt Gian. Ai đứng ngoài, ai không theo là Việt Gian, bị diệt trừ.”

– “Anh không bị ảnh hưởng?” Tôi hỏi.

– “Có chớ anh!” Hiền trả lời. “Nhờ năm 1954, tiếp thu, nhà tôi ở ngay ngoại ô thị xã, má tui gắng cho tui đi học. Ở cái nhà trường mới, người ta không dạy hận thù.”

– “Anh học tới đại học?” Tôi hỏi.

– “Làm gì có. Tui mồ côi cha sớm. Tui học xong tiểu học, rồi học làm thợ may. Tui ưa học quá! Buổi tối học thêm lớp riêng của mấy ông thầy dạy ở Trần Quốc Tuấn. Tui đậu trung học. Hứng chí, bỏ may, đi học tiếp.”

– “Ai nuôi ông?” Tôi lại hỏi.

– “Tui làm précepteur, “giáo tại gia” tới khi đậu tú tài. Tới đó cũng là cái mốc của tuổi lính.”

– “Như vậy thì anh “ảnh hưởng quốc gia”. Những đứa khác thì sao?” tôi hỏi.

– “Dễ thôi! Đứa nào vô rừng thì “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” Hiền trả lời.

– “Bây giờ gặp lại không biết sao?” Tôi thắc mắc.

– “Tùy đứa anh à! Hy vọng có đứa còn chút lương tâm, vẫn coi mình là bạn, phần đông chắc coi mình như kẻ thù.”

– “Quyền lợi cả ông ạ! Thiên hạ nầy một chữ lợi là trên hết. Gặp ông, nó giúp đỡ ông thì nó được cái gì. Lơ ông đi thì nó còn giữ được cái chỗ ngồi.” Tôi nói.

– “Tui nghĩ rồi anh à! “học tập cải tạo” xong rồi, tui tìm cách ở lại trong Nam nầy. Tui bỏ xứ đi luôn.” Hiền nói.

– “Trước 75, tui từng lưu lạc xuống tận Hà Tiên, Cà Mâu. Đời lính mà ông! Xa xứ buồn lắm! “Tới đây đất nước lạ lùng, con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.” Lại còn sợ Việt Cộng.” Tôi nói.

– “Cũng phải ở lại thôi anh ơi! Dân Quảng Nam, Quảng Ngãi tui cực đoan lắm. Về gặp mấy thằng “nhảy núi”, chắc không yên với chúng.” Hiền tâm sự.

– “Mấy thằng cuồng tín là ghê lắm. Cộng Sản cũng là một tôn giáo cuồng tín vậy. Nhiều đứa hoàn toàn bị tẩy não.” Tôi nói.

– “Anh muốn nói mấy đứa “con tố cha”, “vợ tố chồng” phải không?” Hiền hỏi.

– “Con người là một con vật, bản năng như con chó, con ngựa vậy. Tập cho nó, lâu rồi thành quen. Đứa bé mới lớn, làm sao biết hiếu thảo. Cha mẹ, thầy cô, bà con tập cho nó, riết thành quen, thành ra nó biết hiếu thảo. Vô chùa, vô nhà thờ, người ta tập quỳ lạy, van xin, tin tưởng, riết rồi người ta tin, rồi tới cuồng tín chẳng bao xa. Con người có cái bản năng của sinh vật, nhưng chỉ dễ dàng tập tành khi còn nhỏ thôi. Còn như bọn mình, “tẩy não” gì nỗi. Họa là đập bể đầu ra rồi nhét vô!” Tôi nói.

Một lúc sau, tôi nói thêm:

– “Họ sẽ có cách đấy. Cộng Sản không chịu thua đâu!”

– “Đem giết đi chớ gì? Giết bằng cách nào?” Hiền hỏi.

– “Ông biết “Xi-bê-ri” (Siberia) không? Đày qua đó là xong. Giết lần, giết mòn. Hà Nội học theo bài bản “Mốtx-Cu”. Tôi nói.

– “Năm ngoái có đợt đi Bắc, không biết còn đưa đi nữa không?” Hiền nói.

– “Ở riết trên Việt Bắc, cỡ vài thế hệ, con cái mình sẽ thành lôlô, Mường, Thái, Mèo, Hờmông là xong!” Tôi nói.

Hiền nói trong tiếng thở dài: “Tàn ác quá!”

&

Ngày hôm sau, chúng tôi được sắp xếp lại. Việt Cộng gọi là “biên chế” đấy!

Tất cả anh em tổ 1, tổ 2 thuộc đội 1 chúng tôi được gom chung ở một nhà.

Tôi và Phạm Ngọc Hiền chiếm một đầu góc nhà. Sợ cái giếng nước, tôi và hiền đi tìm được một cái vỏ đạn, to bằng cái cột nhà. Một đầu, chúng tôi lấy một tấm nylon cứng bịt lại, hàn kín bằng bao nhựa đốt cháy cho nhỏ vào những nơi không kín. Xong, dựng cái vỏ đạn vào mái hiên, hứng nước mưa mà dùng. Khi nào tắm thì Hiền rủ tôi đi, anh ấy kéo nước giếng giùm cho.

Không biết ở đây bao lâu, nhưng chúng tôi cũng rồng rau. Tôi dăm mấy hột đậu phụng. Vài hôm sau đã thấy mọc mầm. Đất đỏ, mùa mưa, trồng cậy thật mau tốt.

Sau trận đau ở Trảng Lớn, Hiền bị suyễn nặng. Anh phải nằm võng. Tôi nằm giữa sàn. Đêm đêm nghe tiếng suyễn kéo khò khò trong cổ anh, tôi biết anh khó ngủ. Lại thêm, lo nghĩ cho gia đình nhiều, tôi cũng đoán chừng anh có muốn ngủ cũng không ngủ được.

Gia đình anh đang sinh sống ở Quảng Ngãi. Khi Quảng Ngãi mất, anh dắt díu vợ con và bà mẹ già chạy vào Saigon. Trong cảnh sống chưa ổn định, nhà cửa chưa có thì anh phải trình diện đi tù cải tạo.

Anh nói vợ con anh không ở Saigon được, không có nhà, không có hộ khẩu, đã dọn về Long Khánh để làm rẫy.

&

Sau nầy, cải tạo về, tôi cố tìm bạn tù cũ mà không gặp. Một hôm, tôi thoáng thấy anh ngồi trên chiếc xe xích lô chạy nhanh về hướng bến xe Miền Đông. Tôi quay xe lại đạp theo mà không kịp. Có lẽ anh từ Long Khánh lên, nay về lại.

&

Chúng tôi ở đây khoảng vài tuần, chẳng lao động hay học tập gì cả. Bộ đội cũng không mấy khi xuống, ngoài mỗi ngày một lần điểm danh. Chúng tôi cứ quanh quẩn trong vòng rào, không được ra khỏi trại.

Rảnh rỗi, tôi rủ Hiền qua cái gian nhà khác chơi.

Có lần đi ngang một gian nhà chúng tôi nghe tiếng đàn từ trong nhà vọng ra, tôi nói với Hiền:

– “Không phải tiếng đàn “ôông” ơi! Nghe như tiếng kẻng nhỏ.”

Hiền nói:

– “Của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đó. Thằng chả lấy vỏ đạn nhôm cắt thành từng miếng, chả canh sao mỗi miếng nhôm ăn với một nốt nhạc, đánh nghe hay lắm. Tụi nó phục lăn!”

Từ đó, nhiều ngày, tôi rủ Hiền đi ngang căn nhà đó để nghe Nguyễn Đức Quang “chơi nhạc”. Anh ta chơi toàn nhạc vàng, nhưng không thấy “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, đôi khi không nghe anh ta chơi gì cả, cũng buồn.

Chúng tôi tự do trong vòng rào kẽm gai. Tối tối, mấy anh chàng ưa hát, ngứa cổ, qua các nhà khác hát biểu diễn, dĩ nhiên là hát chùa, đôi khi được mời uống càphê. Từ ngày bị cấm hát nhạc vàng từ khoảng nửa năm trước, nay nghe nhạc vàng đã lắm, chẳng ai cấm cản gì cả.

Ở đây, tôi gặp Hồ Đài. Hồi còn học ở Quốc Học, nhiều người ngại anh chàng nầy bởi vì anh vô ra nhà “cậu” rất dễ dàng. Anh là đệ tử của “cậu”, làm bí thư hay gì đó của một tổ chức, có vẻ giống như là “đảng đoàn”, – dĩ nhiên là đảng Cần Lao – của trường Quốc học. Năm 1964, tôi đi chấm thi Trung học ở Hội An, nghe nói anh làm hiệu trưởng trường Trung học Bán Công Nguyễn Duy Hiệu ở Vĩnh Điện, sau đó nhờ làm Tỉnh Đoàn Trưởng Bình Định Nông Thôn Quảng Nam nên khỏi đi lính.

Tôi cũng gặp anh Phạm Gia Định.

Anh học luật với tôi cùng một năm tại Luật Khoa Huế, hồi bà Tăng Thị Thành Trai còn làm khoa trưởng. Năm sau, anh Định vào Quốc Gia Hành Chánh.

Tôi cùng đi khóa đó với anh, nhưng vô tới Saigon, ông anh cả viết một câu trong thư: “Mi chỉ biết lo cho thân mi, còn hai đứa em, không ai lo, phải bỏ học…” Thế là, thay vì hai đứa em, tôi đành bỏ học, lại về Huế, vừa đi học, vừa đi dạy để chăm sóc cho hai đứa em.

Chức vụ cuối cùng của anh Phạm Gia Định là Phó Thị trưởng Đà Lạt, cấp bậc thiếu úy. Anh ấy than phiền, giải thích thế nào cán bộ cộng sản cũng không tin vì một chuyện khá buồn cười:

Thị trưởng Đà Lạt mang “loon” đại tá, tại sao anh chỉ mới thiếu úy mà làm Phó Thị trưởng. Anh phải là trung tá hoặc ít ra cũng là thiếu tá, tại sao chỉ có thiếu úy. Vậy là khai gian, là còn che dấu, là nói dối với “cách mạng”.

Tội khai gian là nặng lắm, khó có hy vọng “Cách mạng khoan hồng cho về sum họp với gia đình”.

Anh ấy có mang theo tập “Thơ Đường” của Trần Trọng San, cho tôi mượn đọc. Tôi bỏ phấn cầm súng năm 1968, nay đã tám năm. Bây giờ có thì giờ trở lại với môi trường văn chương mà tôi đã “ngụp lặn” trong đó suốt mười năm dạy Việt Văn, nay đọc lại, sau nhiều bầm dập cuộc đời, thấm thía và thú vị biết chừng nào!

Bài thơ đúng với tâm trạng tôi là bài “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương:

            Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi.

            Hướng âm vô cải, mấn mao thôi

            Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

            Tá vấn khách tòng há xứ lại.

Quả là tôi xa nhà khi còn trẻ. Tôi trốn mẹ ra đi năm 16 tuổi, đến nay là đã ba mươi hai năm (1976). “Lão đại hồi” thì chắc tôi không về. Về là để gặp cha mẹ, anh em, bà con. Sau 1972, “Quảng trị tui” thành bình địa. Cục đá cũng không còn nguyên, vậy tôi về với ai? Vêề  là m chi? “Hướng âm vô cải” cũng sai luôn. Suốt mấy năm trong quân đội VNCH, tôi lưu lạc xuống tận Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau. Về tới miền Tây Nam Bộ mà nói tiếng Quảng Trị thì người ta coi tôi như “người nước ngoài”, làm sao hiểu tôi nói gì, nên tôi phải học mà nói tiếng Nam, riết thành quen. Bọn trẻ Quảng Trị, nếu có gặp chúng ở đâu đó, không chắc bọn nó nghĩ rằng tôi là dân “Quảng Trị tui.”

Tui lai giống mất rồi!

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 19 Feb 2015 

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Con chó của Pavlov

Bài 8

Tháng Sáu năm 1976, chúng tôi bị chuyển trại, từ Trảng Lớn, đi đâu thì… chưa biết.

Đây là đợt chuyển trại chung của nhiều “đơn vị” như L1, L2, L3 (L3 là “đơn vị” của tôi), v.v… L3 phần đông là “dân” biệt phái, bò nhứt, bò nhì, nhiều hơn bò tam (thiếu úy, trung úy, đại úy, tiếng chúng tôi thường gọi đùa).

Thiếu tá thì độc nhứt chỉ có một mình Đỗ Quan Tư, anh xuất thân khóa 13 Võ bị. Khóa nầy phần đông người ta lên trung tá, đại tá cả rồi, vì ông là “Quan Tư” nên chỉ lên tới thiếu tá thì nằm ì ở đó. Quan Tư mà! Chính tả trong Nam viết hơi… ẩu, quang thiếu mất chữ G, làm anh ta chết cứng ở “loon” quan tư, thiếu tá.  Vừa mới về L-3 ít lâu thì anh đã bị đưa đi một mình, cũng chẳng ai biết đi đâu.

Tới bây giờ thì ra đi phần đông là đại úy. Tổ 1 của tôi, ở lại chỉ có Phan Hải, trung úy và hai ông đại úy mới “biên chế” tới. Tổ 2, ở lại cũng chỉ có vài ba mạng mà thôi.

Lệnh chuyển trại đưa ra từ trưa nhưng tới chiều mới tập trung lên xe. Phan Hải đưa chúng tôi ra cổng “đơn vị”. Anh ta khóc.

Chúng tôi ngồi tập trung bên con đường nhựa, chờ lệnh. Nhiều người ngồi quanh tôi, nói đùa chơi chơ đỡ buồn.

Tôi là người hay nói đùa nhất đám, hay kể chuyện vui, chuyện “hoang” nên rất được anh em “chiếu cố” ngồi chung quanh.

Theo trại phổ biến, chuyến đi nầy là để “Các anh có cơ hội lao động, để thấy “Lao động là vinh quang”, “sớm trở về sum họp với gia đình”, v.v… Mấy tiếng nầy, nghe cả năm nay rồi, cũng chán.

Một người nào đó, ngồi phía sau tôi, nói: “Mình đi dzậy, chắc còn lâu mới được về?”

Tôi nói:

– “Phải tẩy não. Chưa tẩy não xong thì chưa được về.”

Lê Quang Dung, dân Nam bộ chính cống, nóng tính, cãi lại:

– “Tẩy con mẹ gì nữa. Học xong 10 bài rồi thôi chớ!”

Trần Hữu Bảo hỏi tôi:

– “Biết khi nào thì tẩy não xong?”

Tôi cười:

– “Khi nào mình không muốn về nữa là tẩy não xong. Cách mạng sẽ cho về.”

Một tay nào đó, bất mãn:

– “Đ. mẹ, nghe cha Hải nói chán thấy mẹ. Không muốn về nữa thì về làm gì?”

Tôi cũng cười:

– “Không muốn về mà “cách mạng” cho về thì cũng phải về. Cũng giống như mình có muốn đi cải tạo đâu! Có ai không đi nào? Tuy nhiên, khi nào mình chưa tẩy não xong mà họ cho mình về, là “cách mạng” bắt đầu thua rồi đó.”

– “Cách mạng bắt đầu thua?” Nguyễn Văn Bê hỏi.

– “Có ăn thì có thua. Nhưng tôi nói lúc đó, họ chỉ mới bắt đầu thua.” Tôi nói.

– “Khi nào thua hẳn?” Hiền hỏi tôi.

– “Từ bắt đầu tới khi thua hẳn, còn xa. Khi Mỹ đổ quân vô miền Nam là bắt đầu thua. Tới khi thua hẳn năm 1975 là mười năm. Dziệt Cộng kiên trì hơn, thua chậm hơn.” Tôi nói.

– “Thôi ông ơi! Ông nói toàn chuyện bù trớt không! Mười năm nữa còn gì là tôi!” Người lúc nãy than van.

Hiền hỏi:

-“Tẩy não là sao?”

Người nào đó trả lời:

-“Là brain washing!”

Chung cười:

-“Não chớ có phải áo quần gì mà đem ra giặt!”

Bê hỏi:

-“Anh Hải, giặt não là giặt như thế nào?”

-“Giặt gì đâu! Họ dùng phương pháp gọi là “phản xạ có điều kiện!”

Bê lại hỏi:

-“Phản xạ có điều kiện” là sao?”

Tôi hỏi:

-Năm Đệ Nhứt, ông có nghe thầy giảng về con ngựa Páp-lốp (Pavlov) không?”

-“Tụi học ban A mới học kỹ ông ơi! Ban B học qua loa, ai mà nhớ!” Bảo nói.

Chung hỏi:

-“Con chó hay con ngựa?”

-“Tụi nhớ trong sách Obré tôi học là con ngựa, sau nầy thấy sách báo người ta nói là con chó!”

Ai đó cằn nhằn:

-“Chó mèo gì cũng được. Nó có dính dáng gì tới tẩy não thì nói nghe cho biết.”

-“Nó là như thế nầy.” Tôi nói. “Ông Páp-lốp là nhà bác học Nga. Ông thí nghiệm bằng một con chó. Quan sát, ông ta thấy, khi nào cho chó ăn, thì dạ dày nó tiết ra dịch vị để tiêu hóa đồ ăn. Ông ta bắt đầu thí nghiệm bằng cách, trước khi cho chó ăn, ông đánh lên mấy tiếng chuông. Dần dà, mỗi khi đánh chuông, không cần cho chó ăn, dịch vị vẫn tiết ra. Cái điều kiện là từ thức ăn đổi qua tiếng chuông. Đó là một thí nghiệm thiên về duy vật, được làm nền tảng cho chủ nghĩa duy vật. Người ta ứng dụng thí nghiệm của Páp-lốp như thế nầy. Tù hay người sống tập thể, bọn thanh niên, trước khi ăn, người ta đánh mấy tiếng chuông như cho chó ăn. Lâu dần thành quen, người ăn nghe tiếng chuông thì thấy đói và thấy ăn ngon. Sau đó, người ta thay tiếng chuông bằng khẩu hiệu. Như ở nhà tù nổi tiếng ở ngoại ô Băc Kinh, trước khi ăn, người ta buộc tù hô to “Mao chủ tịch muôn năm”. Riết rồi thành quen, mỗi khi ăn người ta đều hô khẩu hiệu như thế. Điều kiện sinh lý làm thay đổi tư duy của con người. Trong tất cả các trại tù nổi tiếng của Cộng Sản, họ đều cho áp dụng phương pháp “phản xạ có điều kiện” nầy, để tẩy não người tù.”

-“Có thành công không?” Hiền hỏi.

-‘Cái nhà tù ở ngoại ô Bắc Kinh như tôi nói, trong “cách mạng Văn hóa”, lật Lưu Thiếu Kỳ xong, Mao cho giam Kỳ vào đấy. Kết quả là người ta đem Lưu Thiếu Kỳ đi chôn. Ai được tha mà có tẩy não được không thì tôi không biết, nhưng tôi nghe nói nhà tù ấy đã đem chôn hàng vạn người.”

&

Trung úy (Dziệt Cộng) Hồng Dư và Phan Hải đi tới. Chúng tôi làm thinh, không nói gì nữa. Anh trung úy Hồng Dư nầy phụ trách “học tập” của trại tôi.

Trước đây, anh ta cấm chúng tôi không được gọi nhau bằng tù. “Các anh chỉ đi học tập thôi. Học xong là về.”

Tội nghiệp, anh chàng người Việt gốc Tàu nầy ngây thơ dữ. Tin tưởng tuyệt đối vào đảng. Có lần anh ta nói: “Tất cả mọi sự đều tương đối, ngoại trừ nghị quyết của đảng.”

Nghe nói sau nầy, vì là gốc Tàu, nên khi vụ “Nạn Kiều” xẩy ra, anh ta bị đuổi về Tàu. Không rõ anh ta còn cho rằng nghị quyết lệnh của đảng là đúng tuyệt đối không?

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 15 Feb 2015 

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Cuộc Đời Ngô Nghĩa

Bài 7

Các trưởng khối đi họp lúc 10 giờ sáng, tới 11 giờ thì về thông báo cho biết trưa nay “cách mạng” sẽ xử bắn Ngô Nghĩa ở phi trường Trảng Lớn.

Mỗi khối cử một hay hai người đi coi để về phổ biến cho anh em cải tạo hay. Riêng L3/ T3, “đơn vị” chúng tôi, gồm 6 khối, từ khối 1 đến khối 6 vì ở sát phi trường nên mọi người có thể ra sát hàng rào, đứng bên nầy bờ đất để coi.

Phan Hải, trưởng khối 1, yêu cầu tổ trực nấu cơm hôm nay, phát cơm sớm để “anh em đi xem” như lời “bộ đội yêu cầu”.

Trưởng khối Phan Hải nhắm bộ háo hức trong vụ xử bắn nầy. Anh ta lảnh phần ăn, ăn vội vã cho xong, rồi mặc áo đi lên khu nhà bộ đội ở.

Anh ta nguyên là trung úy chế độ cũ, thuộc Đặc Khu Saigon – Chợ Lớn, biệt phái kiểm soát ẩm thực ở nhà tù Chí Hòa.

Anh ta rất “giác ngộ Cách mạng” bởi một lý do rất dễ hiểu. Anh ta thuộc thành phần liên hệ với Việt Cộng, mà liên hệ nặng như tôi đã kể ở bài trước. Cũng vì có lý lịch như thế, anh ta thường lên chơi với bộ đội và có nhiều chuyện hay hay đem về kể cho chúng tôi nghe.

Chẳng hạn như chuyện Ngô Nghĩa sẽ bị xử bắn trưa nay.

Ngô Nghĩa, nguyên là trung úy pháo binh thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Anh ta cũng “trình diện đóng tiền đi ở tù” như mọi người. Anh ở “đơn vị” L3/T1 hay T4 gì đó, không thuộc T2 vì nếu T2 thì cách T3 chúng tôi bằng một hàng rào kẽm gai mong manh, bên nầy bên kia anh em lén lút chuyện trò qua lại được thì chúng tôi biết rõ sự việc hơn.

Theo Phan Hải thì cách đây mấy hôm, trời mới rạng sáng, Ngô Nghĩa mặc quần áo bộ đội, – Anh ta giả trang bộ đội – đi từ trại ra cổng lớn ở Trảng Lớn, khoảng đường cũng khá xa, gần hai cây số.

Trên đường đi, Ngô Nghĩa cắt giây điện thoại nối từ cổng vào bộ chỉ huy. Anh ta mang một khẩu súng CKC nhưng lại băng đạn AK.

Có lẽ anh “điều nghiên sơ hở về khâu” nầy, dễ làm cho bộ đội sinh nghi.

Khi tới cổng, bộ đội gác cổng chận anh ta lại hỏi. Anh ta trả lời không rõ ràng đơn vị bộ đội nào. Toán ở cổng gọi điện thoại vào “xác minh” với bộ chỉ huy thì không nối đường giây được. – Ngô Nghĩa đã cắt rồi, còn đâu! –

Thế là toán gác cổng giữ anh ta lại, chờ “xác minh với trên”.

Bất thần, anh ta vùng chạy ra khỏi cổng. Bộ đội đuổi theo. Ngô Nghĩa quăng lui một trái lựu đạn, loại mini. “May” là lựu đạn rơi xuống một cái hố bên đường nên chỉ làm cho một “chú bộ đội” bị thương nhẹ. Toán gác cổng tiếp tục truy đuổi, cuối cùng anh bị bắt ở khu nhà dân phía ngoài cổng lớn.

Ngô Nghĩa nhứt định không khai một lời mặc dù Quân Pháp, từ “Sư” (Sư là Sư Đoàn, – Việt Cộng hay gọi tắt như vậy) về hỏi cung rất kỹ và rất căng. Theo Phan Hải thì không bao giờ Ngô Nghĩa bị đánh vì luật pháp Việt Cộng không cho phép đánh bị can?!

Do đó, “cách mạng” không biết ai đã cung cấp súng và quần áo bộ đội. Họ cương quyết cho rằng phải có người lấy giúp súng và quần áo cho Ngô Nghĩa chứ anh ta không thể lên khu bộ đội lấy cắp được.

Cuối cùng, Ngô Nghĩa ôm một lô tội mà ra pháp trường. Nặng nhứt là tội “sát thương bộ đội”, thứ hai là “tội trộm tài sản xã hội chủ nghĩa”, đặc biệt lại là trộm vũ khí và quân nhu (có nghĩa là sung và quần áo bộ đội), thứ ba là tội trốn trại, thứ tư là “tội phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa”, có nghĩa là cắt giây điện thoại. Với chừng đó tội, “quân pháp” đề nghị với “trên” xử tử. “Trên” chuẩn y. Vậy là trưa nay Ngô Nghĩa ra pháp trường.

Trong khi Phan Hải vừa ăn vừa kể chuyện, anh em trong tổ tôi – Tổ 1, Đội 1, Khối 1 L3-T3 – im lặng ngồi nghe. Ăn xong, Phan Hải đi ra giếng bên hông nhà, Phạm Quang Chiểu, Bắc Kỳ 54, (như chúng tôi thường gọi đùa), chỗ nằm gần sát vách trong, bên cạnh Trần Phú Trắc, người thâm trầm ít nói, nhìn anh em chỉ cười cười, phán một câu, nghe hơi lạnh mình: “Chiến dịch khủng bố bắt đầu!”

Phạm Ngọc Hiền, dân Quảng Ngãi, chỗ nằm gần phía cửa trước, đang đu đưa nhè nhẹ trên võng, ngóc đầu lên ngó Chiểu cảnh cáo: “Mi coi chừng cái miệng mi. Tau từng ở với Việt Minh trước 54 cả chục năm, tau biết họ lắm. Khi họ làm một việc chi quan trọng, họ tăng cường theo dõi để tìm mấy đứa “phản động”.

Tôi đang ngồi dựa vách, tay cầm cái ông vố “tự biên tự diễn”, bập bập mấy khói “xơ-vơn-ti-rê” (1) góp ý bằng một câu Kiều:

Ở đây tai vách mạch rừng,

Gặp ai người cũ cũng đừng nhìn chi.

Trần Phú Trắc đang nằm dài sau lưng Chiểu, buồn buồn nói:

– “Không rõ có ai biết gia đình Ngô Nghĩa ở đâu mà báo cho họ hay. Không chắc bộ đội báo tin về nhà anh ta đã bị xử bắn. Chắc rồi không ai hương khói cho anh ta.”

Hoàng Hữu Chung, người nằm kế Phan Hải, vốn là người rất từ tâm, nghe nói tới chết không ai hương khói, mặt mày trở nên thểu nảo:

– “Anh Hải nhớ câu chi trong Chinh Phụ Ngâm, nói về người lính chết trận?”

Tôi nói:

– “Bỏ đi dạy lâu, tôi quên. Để nhớ thử coi.”

Một lát sau, tôi đọc:

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.

Chinh phu, tử sĩ mấy người

Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?!

Mấy câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm làm ai nấy liên tưởng đến việc xử bắn Ngô Nghĩa trưa nay, không làm cho mọi người cảm thấy bình thản như thường lệ.

Sau khi Phan Hải đi rồi, vài anh em lục tục đi coi xử bắn. Tôi lấy gối nằm nghỉ, chờ giấc ngủ trưa. Trần Hữu Bảo, nằm bên kia vách, phía cửa sau, hỏi tôi:

– “Anh Hải không đi coi răng?”

Tôi trả lời bình thản:

– “Bộ hết cái coi hay răng mà đi coi giết người!”

Ngoại trừ Hoàng Hữu Chung, Nguyễn Văn Bê, Huỳnh Văn Khánh, Phạm Ngọc Hiền và Phan Hải đi xem xử bắn, còn lại thì nằm nhà.

Lê Quang Dung, dân Nam bộ, là người ít suy nghĩ sâu xa nhứt, lên tiếng:

– “Cái thằng Ngô Nghĩa sao nó ngu, trốn trại làm chi không biết!”

Phạm Quang Chiểu nghe vậy, trả lời:

– “Mình không phải là nó, làm sao mình biết nó nghĩ gì mà cho là khôn với ngu.”

Phạm Xuân Lý, người được xem là khôn nhất tổ, khôn theo nghĩa “từng trải” góp ý:

– “Khôn dại gì thì cũng chết. Càng khôn sớm, càng chết sớm. Dại lại càng dễ chết hơn. Đằng nào cũng chết. Đùng một phát là xong.”

Tôi nói:

-“Khôn chết, dại chết, biết sống! Khổng Tử nói rồi.”

Phạm xuân Lý hỏi:

-“Thế nào gọi là biết?”

Tôi cười:

-“Ông hỏi thế thì tôi cũng chịu. Tôi không rành về đạo Nho, nhưng hồi còn trẻ, làm précepteur ở nhà ông chú họ, ông là học trò cụ Phan khi cụ Phan bị giam lỏng ở Bến Ngự, có lần tôi hỏi ông về Sở Từ, ông bảo Khuất Nguyên sai, không biết tùy thời, nên phải bị biếm, bị truất, nhảy xống sông mà tự tử.”

Phạm Xuân Lý lại nói:

-“Bọn tôi học trò trong Nam, không rành về mấy cái rắc rối nầy. Ông nói nghe chơi đi.”

Tôi nói:

-“Tôi không nhớ kỹ. nhưng năm tôi học Đệ Lục, một hôm tôi đọc “Cổ Học Tinh Hoa”, thấy câu chuyện Hứa Do – Sào Phủ tôi thích lắm.

“Vua Nghiêu nghe danh Hứa Do là người tài đức vẹn toàn, bèn đến gặp, mời ra làm quan. Hứa Do từ chối. Vua đi rồi, Hứa Do ra sông rửa tai, tức là rửa cho sạch những lời vua nói vào tai ông. Lúc ấy có Sào Phủ dắt ngựa xuống sông uống nước, nghe chuyện, ông bèn dắt ngựa lên phía trên dòng nước cho ngựa uống. Ông bảo, nghe mà rửa tai, chi bằng không nghe thì hay hơn, nghe mà rửa chỉ làm cho nước dơ mà thôi.

Lê Quang Dung nóng tính:

-“Chuyện có ăn nhập gì đâu?”

-“Có chứ! Người đời sau chê hai ông nầy là cực đoan. Khuất Nguyên cũng vậy, người ta chê: “Đời đục cả, ta trong làm sao được. Đời say cả, ta tỉnh làm sao được?” Khổng Tử bảo phải biết “tùy thời”. Tùy thời tức là biết đấy.” Tôi nói.

Dung hỏi:

-“Khuất Nguyên là ông nào?”

Tôi giải thích:

-“Người nước Sở bên Tầu, làm quan đại phu. Tính tình ông ngay thẳng, bị gièm pha, bị đuổi ra khỏi triều chính. Một hôm ông ngồi bên bờ sông, một ngư ông trông thấy, hỏi:

-“Phải Tam lư Đại phu đó không? Sao mà tiều tụy đến vậy?”

Khuất Nguyên kể chuyện mình vì ngay thẳng mà bị gièm. Nghe xong, ông lão đánh cá chê Khuất Nguyên bằng mấy câu thơ, thường gọi là Sở Từ:

                        “Sông Tương nước chảy trong veo,

                        Thì ta xuống đó rửa lèo mũ ta.

                        Sông Tương nước đục chảy ra,

                        Thì ta xuống đó để mà rửa chưn!”

“Đời đục cả, ta trong làm sao được?”

-“Nói như anh, mấy ông tướng tự tử ngày 30 tháng Tư là vì gì?” Chung nói.

-“Điều Khổng Tử nói là đời thường. Còn như việc ông nói là “Chân lý tuyệt đối”. Tôi nói.

-“Cách mạng cũng “chân lý tuyệt đối vậy?” Phan Hải nói.

Phạm Quang Chiểu hỏi: “Anh Hải nhớ hôm trung úy Hồng Dư nói ở Hội trường không?” Rồi Chiểu nói tiếp: “Cái gì cũng tương đối, ngoại trừ “nghị quyết của Bộ Chính Trị.”

Nghe xong, chúng tôi cười. Tôi nhớ hôm đó ở Hội Trrường cũng nhiều người cười khi nghe anh ta nói vậy.

-“Tui nói thiệt! Lần đầu nghe mấy ông giáo viên dạy mười bài, nói “chủ nghĩa Mác là tuyệt đối, đỉnh cao của trí tuệ loài người”, tôi nhớ ngay câu của Pascal, thầy dạy Việt Văn của tui năm tui học Đệ Lục: “Bên nầy Pyrènées là chân lý, bên kia thì ngược lại.” Tôi kể.

-“Nhưng Mác khác, Pascal khác!” Dung cãi.

-“Không đâu! Cùng hệ tư tưởng Châu Âu cả. Mác còn là “hậu duệ” của Pascal.” Tôi nói.

-“Người Tầu họ có nghĩ như Pascal không?” Dung lại hỏi.

-“Trong Cổ Học Tinh Hoa” có câu chuyện “Ngọc Bích họ Hòa” cũng tương tự như thế. Có người thợ đá, đem dâng ho vua, vua gì tôi không nhớ, một cục đá thật lớn, nói rằng trong đá nầy có ngọc quý. Vua cho là xàm tấu, phạt chặt một chân. Đến đời vua sau, ông lại đem dâng ngọc, cũng nói như thế. Vua cũng cho là xàm tấu, chặt thêm một chân nữa. Đến đời vua thứ ba, ông ta lại đem dâng. Lần nầy vua tin thật, cho đập viên đá ra. Quả thật trong đó có ngọc quý. Đời Tần Thủy Hoàng, đem ngọc đẻo thành cái “ngọc tỷ”, tưởng truyền đến vạn đời nhưng đến đời thứ ba thì nhà Tần dứt nghiệp, sau ngọc tỷ thất lạc về đâu không ai biết!”

Chung nói: “Tui à! Dâng vua làm chi, làm sợi giây chuyền cho vợ đeo có phải hơn không?”

Ai cũng cười.

-“Ý nghĩa của ngọc là chân lý, là sự thực phải không?” Lý hỏi.

-“Ngọc là chân lý, chân lý thất lạc về đâu, không ai hay. Không chắc “chân lý cách mạng” không mai một vì thời thế đổi thay.” Tôi nói.

&

Một lúc sau, tôi nêu ý kiến:

– “Đúng ra thì không nên giết. Bây giờ nhiều nước bỏ án tử hình, trên bảy chục nước trên thế giới không còn án giết người.”

Chiểu nói, giọng dài ra, mai mỉa:

– “Tư bản đế quốc mới vậy anh ơi! “Cách mạng” là “giải phóng”. Đùng một phát là “giải phóng” một mạng người.”

Tôi nói:

-“Cũng không hẳn vì họ là những nước tư bản. “Văn minh Thiên Chúa giáo” đấy. Người ta văn minh. Người ta lý luận rằng chúng ta không thể lấy đi cái ta không cho. Nhân loại không tạo ra sự sống. Dù khoa học có tiến bộ như thế nào thì khoa học cũng không thể tạo ra sự sống; không ai cho ai sự sống. Không cho thì không có quyền lấy. Sự sống là do Tạo Hóa cho, người theo đạo Thiên Chúa thì cho là Thượng Đế. Chỉ có Tạo Hóa mới lấy đi cái Tạo Hóa cho. Ta nhân danh cái gì mà lấy đi cái Tạo Hóa đã ban cho người khác?”

Chung giọng buồn bã:

– “Qua một trận giặc chết chóc tùm lum, ai sống còn tưởng là may, không ngờ chừ lại bị đem bắn! Đời vô nghĩa thiệt.”

Trắc phụ họa, cũng với giọng chán nản:

– “Đời thiệt vô nghĩa!”

Lê Quang Dung nói:

– “Anh Ngô Nghĩa nầy nên đổi tên. Không phải Ngô Nghĩa mà Vô Nghĩa.”

Phạm Quang Chiểu cười cười:

– “Không có cuộc đời nào vô nghĩa cả. Đời có nghĩa đấy nhé.”

Rồi anh ta đọc mấy câu thơ của Tố Hữu:

Nghĩa đời trong ba tiếng:

Máy điện giục gầm gừ

Chuông đạo hát vô tư

Kiểng tù khua gắt gỏng.

Phạm Xuân Lý nghe đọc thơ, cười nói:

– “Trại bữa nay thay kẻng mới rồi. Bộ đội mới đem về một thanh tà vẹt, thay cho cái mâm xe. Kẻng nầy nghe to hơn. Không muốn dậy cũng phải dậy.”

Tôi bỗng nhớ mỗi sáng, khi còn tinh mơ, trước kẻng báo thức, tôi đã thức giấc nhưng còn nằm trong chăn. Mỗi sáng, cứ giờ đó, có tiếng chuông nhà thờ từ xa vọng lại. Trong cái im lặng buổi sớm tinh sương mùa đông, tiếng chuông nhà thờ tuy gióng giả mà nghe buồn lắm. Trại tù tuy đông mà người tù thì cô đơn, lạnh lẽo. Ngoài kia cuộc đời vẫn tuần tự trôi đi, trong cuộc sống mới, không rõ người đời sướng khổ như thế nào! Gia đình bây giờ cũng xa lắm, xa lắm rồi, cũng không rõ vợ con no đói ra sao!

Có khi chuông không đổ đúng giờ mà lại bất thường. Có lẽ ai đó mới qua đời. Không biết “Chuông gọi hồn ai” (2) của Hemingway có buồn như vậy không.

Ở cuối khối 6, chỗ ca sĩ Khuất Duy Trác, có cái máy điện của quân đội cũ để lại. Cứ buổi chiều, một anh lính chế độ cũ, được bộ đội thuê lại, vào cho máy chạy. Cái máy điện Mỹ cũng “giục gầm gừ” y như trong thơ Tố Hữu vậy. Tố Hữu có nghĩ rằng chính vì ông ta mà cả triệu binh lính miền Nam đang sống trong cảnh tù như ông đã từng trải. Liệu ông có nghĩ tới những ngày tù trước kia của ông mà có chút thông cảm nào cho hàng triệu người tù sau ông?

Lại cứ mỗi sáng, khi trời chưa rạng, tôi lại nghe tiếng còi xe Ford giục giã phía chợ Long Hoa, gần “tòa thánh Tây Ninh”. Cuộc đời ngoài kia vẫn cứ sinh hoạt ồn ào, giòng đời cứ trôi mà trong nầy cuộc sống như dừng lại, ngày nào cũng như ngày nào.

Những người tù ở đây, phần đông còn trẻ, sức sống còn hăng, nhiệt huyết còn nhiều nhưng tất cả những thứ ấy, “cách mạng” thấy không có ích lợi gì cho “cách mạng” cả nên để cho chúng tiêu hao dần mòn trong những tháng ngày dài chán nản, vô vị.

&

Khoảng trưa, trong khi chúng tôi đang nằm nửa thức nửa ngủ trong phòng thì nghe một loạt súng nổ phía phi trường. Có lẽ đó là tiếng súng bộ đội xử bắn Ngô Nghĩa.

Một lát sau, tôi lại nghe tiếng người nói lao xao phía sau nhà cũng như ở sân trước. Mấy anh em đi coi xử bắn về đang bàn tán gì đó.

Mới vào nhà, Hoàng Hữu Chung vừa cởi áo vừa kể lại câu chuyện Ngô Nghĩa bị bắn, giọng sôi nổi:

– “Cha nội ni chì thiệt. Đi ra chỗ bị xử tử mà cha tỉnh bơ, làm như đi dạo phố.”

Phan Hải cũng vừa về tới, góp ý:

– “Tới phút cuối, sau khi từ trên xe xuống, “Quân Pháp” hỏi chả một lần chót. Nếu khai ra ai đưa súng và quần áo cho chả thì sẽ tha chết. Chả lắc đầu, không nói chi hết.”

– “Hèn chi tôi thấy thằng chả lắc đầu mà không biết chuyện chi. Chắc Ngô Nghĩa có hứa gì với “chú bộ đội” nào đó. Anh ta giữ lời hứa, chẳng thà chết chớ không chịu khai tên ra.” Phạm Ngọc Hiền nói.

Phan Hải thuật lại:

– “Trước khi bắn, anh ta không chịu cho bịt mắt. Bộ đội phải lấy cái bao cát rộng trùm lên đầu anh ta. Hai tay bị trói, anh ta lắc mạnh cái đầu cho cái bao cát văng ra nhưng không được.”

Chung hỏi:

– “Hình như anh ta không chịu quì?”

– “Không”. Phan Hải nói. “Hai bộ đội phải vật anh ta xuống rồi trói vào cọc bắn. Vậy mà anh ta cứ rướn thẳng người lên. Lợi dụng lúc ấy, Trung Úy Dư ra lệnh bắn, một loạt đạn ghim vào ngực anh ta. Khi đó, anh ta mới gục xuống, đi luôn. Trung úy Dư bắn phát ân huệ cũng vô ích, anh ta đã chết rồi.”

– “Không biết anh ta có được cái hòm không?” Hiền hỏi.

Phan Hải trả lời:

– “Sức mấy. Bộ chỉ huy bảo lấy tấm chiếu mà bó lại. “Phản động, chống phá cách mạng” sức mấy có hòm mà chôn. Có chiếc chiếu là may rồi.”

hoànglonghải

(1)-Trước khi “sập tiệm” tôi thường hút “Seventy nine”. Bây giờ không còn thuốc lá nhập, gia đình chỉ gởi cho thuốc rê. Tôi gọi đùa là “xơ-vơn-ti-rê”. Ông điếu (ống vố) thì tôi lấy một khúc củi mà tự làm lấy.

(2)-“To whom the bell rings?” Tác phẩm nổi tiếng của Hemingway

Anh Hay Cự

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Anh Hay Cự

Thứ Bảy rồi anh Hay Cự, nhà báo, kêu tới nhậu. Tui hỏi: “Chị Hai có ở nhà không anh?”. Ảnh trả lời: “Nó giận tui, nó ôm đồ về nhà em gái nó rồi. Không có mấy bả, mình nhậu phẻ!”.

“Rồi hổng có chỉ ở nhà; ai làm mồi nhậu cho anh em mình?”. “Tui chớ ai! Bộ chú mầy không biết mấy tay khoái nhậu như anh đây, đứa nào cũng biết vài độc chiêu làm mồi nhậu rất bắt hay sao?”.

Anh nói tiếp: “Trời Melbourne đang chính Thu, chưa lạnh lắm, hai anh em mình uống bia đi! Có gỏi tai heo rồi. Ðể anh làm thêm món nghêu xào XO là đủ. Nhậu xong, nếu anh em mình còn đói. Mỗi đứa làm thêm một tô mì gói là phẻ re như con bò kéo xe”.

Nghe cái chương trình nhậu hấp dẫn, khoái quá tui bèn vác càng tôm lò mò bò tới. Tới không cần bấm chuông gì ráo; vì cửa cái đã rộng mở để chào đón người khách viễn phương ba ngày đêm nổi lên sình trương.

Anh Hay Cự đang lui cui trong bếp. “Làm gì đó anh?”. “Nghêu xào XO”. Ảnh vớt nghêu đang ngâm trong bồn rửa chén ra, chà sạch vỏ. Tui tiếp ảnh lấy hành lá và thêm vài trái ớt đặt lên cái thớt rồi xắt nhỏ. (Tui khoái ăn cay lắm. Vì nghe ăn ớt, nhứt là ớt Mexico cay thấu trời, dù món mà bao tử của mình không quen mình không bao giờ bị Tào Tháo rượt.)

Anh Hay Cự rót dầu ăn vào chảo. Ðợi dầu nóng trên lửa lớn, ảnh cho hành lá, ớt đỏ vào đảo đều chừng 2 phút. Xong ảnh trút nghêu vào. Rồi thêm dầu hào, nước sốt XO mua ở shop Tàu. Xong ảnh bớt lửa. Nghêu nó há vỏ ra. Thêm hành lá, ớt và vắt chanh vào. Cầm chảo đổ nghêu ra một cái dĩa trẹt bành ky nái. Khói bốc lên nghi ngút. Anh còn có bốn cái giò cháo quẩy, kéo cắt khúc, để chấm với nước sốt nữa chớ.

Té ra làm đồ nhậu dễ ợt. Cái gì ngoài chợ cũng có. Mua về đổ vô nồi; chờ nó chín rồi xực. Bấy lâu nay em yêu nấu ăn, tui lò mò xuống bếp tính học lóm nghề là em đuổi tui lên. Em nói: “Ðàn ông, con trai vô bếp làm gì?”. Tui khờ, cứ tưởng em yêu không muốn mặt tui dính lọ nghẹ. Ai dè sau nầy, tui mới khám phá ra là em cố ý cho tui “mù” nấu ăn. Em giữ rịt cái lợi thế vua làm bếp. Ðể tui sợ đói mà phải ngoan ngoãn nghe lời. Tui mới hơi hơi cà chớn là em hăm mẻ răng: “Mai tui về với má tui”. Nghe vậy, tui run lên bần bật. Nó bỏ mình đi rồi; ai nấu cơm cho mình ăn? Thế nào cũng đói chết nhăn răng. Cho nên em đặt đâu tui ngồi đó. Biểu cười là cười. Biểu khóc là khóc. Không dám “ngựa” vòng vòng. Cái vụ độc quyền, thiếu cạnh tranh khổ lắm mấy anh ơi! Chỉ trung thành, cúc cung phục vụ duy nhứt một con vợ, không dám mèo chuột gì ráo thì trước sau cũng bị con vợ nó đì. Con vợ giống như con… chí, nó trèo lên đầu!

Xong, hai anh em dọn ra một bàn ê hề. Nhậu tới Tết Congo còn chưa hết. Bia khui lốp bốp. Gắp miếng giò cháo quẩy, chấm nước sốt XO, tui nhai ngồm ngoàm. Chơi thêm một ngụm, bia trôi qua cái cần cổ nghe cái ót. Tui bèn đi ‘botte de saut’ vô đời tư của ảnh: “Chỉ giận chuyện gì mà bỏ nhà ra đi để anh cu ky một mình vậy?”. Hớp một ngụm bia cũng nghe cái ót, bọt bia dính trắng hàng ria mép, ảnh thuật lại: “Tháng trước, hai vợ chồng tui đi chợ Footscray. Con vợ tui thấy một chiếc kiềng có đính kim cương tuyệt đẹp, chưng trong tủ kiếng của một tiệm vàng. “Anh, anh! Vô tiệm coi nó một chút đi anh!”. ‘Chìu’ vợ, tui bước vào dòm; nhưng thực sự không muốn mua vì cái kiềng đó mắc tiền quá. “Em yêu, một ngày nào đó anh sẽ mua nó cho em mà”.

Một tháng trời trôi qua. Rồi hôm qua, bả hổng biết tui trốn đi đâu mất biệt. Cực kỳ giận dữ, em gọi điện thoại cho tui: “Nè, ông đang ở cái chỗ quái quỷ nào vậy?”. “Em yêu! Em có nhớ cái tiệm vàng nơi em đã thấy chiếc vòng cổ kim cương và em rất thích nó hay không? Lúc đó anh không có tiền và anh đã nói, một ngày nào đó nó là của em!”.

“Anh yêu! Em nhớ chứ!”. Em vừa trả lời vừa mỉm cười sung sướng. “Anh đang ở trong cái quán rượu sát bên tiệm vàng đó!”.

Rồi khi ngà ngà, đã đủ đô, tụi lội bộ về. Thì trước sân nào thấy bóng người. Hoa đào năm trước còn cười gió đông. Vô nhà, tui thấy trên bàn ăn có tờ giấy. Trên đó nguệch ngoạc vài hàng gởi anh trìu mến: “Một đi không trở lại. Cu ky một mình mạnh giỏi nhe!”.

“Nhát ma tui hả?”. Giận chồng xách gói ra đi. Chồng theo năn nỉ, tù ti trở về” Năn nỉ giờ hơi sớm. Mình nhậu hết đồ trong tủ lạnh cái đã rồi tui tính sau!

o O o

Vậy là hai đưa uống tì tì vì không biết chuyện gì để tán dóc. Cuối cùng thì rượu vô lời ra. Anh Hay Cự kể một chuyện đùa, mà Úc gọi là joke.

“Putin chết và xuống địa ngục! Sau một thời gian, Putin có hạnh kiểm tốt nên được quỷ sứ cho đi phép một ngày. Putin nhớ nhà bèn về lại Moscow. Putin vào một quán rượu, gọi một ly vodka và hỏi người pha chế: “Crimea có phải là của chúng ta không?”. “Vâng, Crimea đúng là của chúng ta”. “Và Donbas?”. “Cũng của chúng ta”. “Và Kyiv?”. “Dà cũng vậy”.

Hài lòng, Putin cạn ly và hỏi: “Cảm ơn, tôi nợ anh bao nhiêu?”. “5 Euro”.

Vốn trì độn, hơi ngu, tui ngẫm nghĩ hồi lâu mới hiểu hết cái ý nghĩa thâm trầm của 5 Âu kim. Tui phá lên cười ha hả. Nước bia xém văng trúng mặt của ảnh. Né qua một bên, anh Hay Cự hỏi khó tui: “Chú mầy có biết trong khi những người công chính trên toàn thế giới chửi Putin tơi bời vì xua quân qua Ukraine giết ông già, bà cả và con nít thì tại sao CSBV lại ủng hộ tên Putin đồ tể?”. Tui trả lời xụi lơ: “Thú thiệt là tui không biết sao kỳ quái như vậy?”.

Anh Hay Cự cắt nghĩa nghe rất hợp lý: “À! Hồi xưa Nga ủng hộ ta cướp nước VNCH. Giờ Nga cướp nước Ukraine ta phải ủng hộ lại chớ?”.

Anh Hay Cự có cái tật xấu là nghe ai nói gì trên Facebook trái ý anh là ảnh hay cự lại. Chính vì vậy ảnh có cái biệt danh là Hay Cự. Chớ thực ra anh thứ Mười tên Cu. Anh Mười Cu (nghe hết hồn hè) lần nầy không cự (mừng quá): “Anh cũng nghĩ y như chú”. Chiều nay tui đi mua vé số mới được!

Anh Hai Chữ!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Anh Hai Chữ!

Lần đầu gặp, ảnh tự nổ bùm bùm: “Tui là nhà văn Hai Chữ”. Tui nghe ba xí, ba tú tưởng là nhà văn ‘Hay Chữ”.

Thấy tướng thằng cha nầy phèn hết biết mà có vẻ phách, mặt câng câng thấy ghét, nên tui nói:  “Chữ Việt thiên la địa võng, tùm lum, tà la! Học cả mấy đời còn chưa biết chữ nào trúng, chữ nào trật, kể cả mấy ông nhà văn bán chữ mà ăn.

“Thi Bá” còn không dám vỗ ngực ta đây huống chi anh chỉ là ‘Hà Bá’? Anh viết làng nhàng vài bài! Ðược báo đăng (không trả tiền nhuận bút) mà mừng muốn chết. Rồi mua cả trăm tờ đem tặng tùm lum, nhứt là cho mấy em, để khoe. Tui hỏi thiệt nè: Anh có hay chữ thiệt hay không vậy cha nội?

Nghe tui nói xỏ, xài xể nặng nề như vậy mà anh ‘Hai Chữ’ không giận lẫy sẩy cùi gì hết ráo; mà còn dám xưng ‘qua’ với tui nữa chớ?

‘Giả’ cười khèn khẹt như Tôn Hành Giả đáp lại rằng: “Chị của chú, tức con vợ của ‘qua’ hồi chưa cưới, nó cũng cà nanh, cà chớn và cà chua như chú vậy.

Nó hỏi ‘qua’ vầy nè: “Thấy anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời: Nội Nam Kỳ lục tỉnh có mấy cây cầu, anh biết không?”

“Thấy em hỏi tức, anh đáp phứt cho thông. Nội Nam Kỳ lục tỉnh, có bảy cây cầu: Cầu Phú, cầu Quới, cầu Ninh, cầu Lợi, cầu Tiền. Cầu cho cha mẹ song tuyền. Cầu cho anh với bạn kết nguyền trăm năm!”

Em yêu ‘xí’ một cái dài thòng: “Hổng biết thì nói hổng biết mới là biết! Chạy vòng vòng né không hè! Người ta hỏi cầu là danh từ: chiếc cầu. Còn anh trả lời là: cầu danh, cầu tên tuổi, cầu lợi, cầu tiền, cầu cưới vợ đẹp như tui. Cầu đó là động từ nhe cha nội!”

Vậy mà dám vỗ ngực ta đây khoe ta là ‘Hay Chữ?” Làm như anh giỏi cỡ Cao Bá Quát (1809-1855). Dám khoe thế gian chỉ có 4 bồ chữ, anh chiếm hết 2 bồ?

Lúc đó, ‘qua’ từ tốn bằng bốn lần làm phách, cười khè khè: “Cô Hai bị bịnh tự kỷ văn chương rồi. Cứ nghĩ văn chương mình là hay, là giỏi không hè? Còn Cô Ba, Cô Tư, Cô Năm nữa mà chi?

(Thâm ý của ‘qua’ là hù nó: “Dê em không đặng thì con sáu, con bảy, con tám, con chín bờ đò (xin đừng nói lái) nữa mà chi? Ế chổng mông bây giờ! Ðừng có chảnh!)

Thực ra, tên của ‘qua’ là ‘Hai Chữ’. Chẳng qua, ‘qua’ là con đầu lòng nên thứ hai. Nhà có điền cò bay thẳng cánh; chó chạy cong đuôi miệt Bảy Ngàn, Kinh Xáng Xà No đó.

Tía là Cai tổng Ruộng, Ðồng Văn Ruộng. (Mặc dầu họ Ðồng nhưng nhà điền chủ không có lan can gì với tướng VC Ðồng Văn Cống đâu nhe bà con)

Hồi Má sanh ‘qua’ ra, Tía nói nhà mình giấy xăng bộ lư không thiếu; chỉ thiếu cái học, cái chữ. Con trai là phải lót chữ văn. Thôi đặt nó tên ‘Chữ’. Văn là phải có Chữ!

Ðể từ rày về sau tá điền đong lúa thiếu, đong lúa ăn non, lúa lép không dám nói lén sau lưng Cai tổng Ruộng giàu mà dốt. Tụi tá điền một chữ bẻ đôi nó cũng không biết mà dám lươn chê lịch, dám cười tui.

Gặp con mình, tá điền phải xá xá: “Bẩm Cậu Hai Chữ”.  ‘Hay Chữ’ thì nghe càng khoái.

Cự cãi như vậy nhưng cuối cùng em cũng ưng tui; vì Tía tui làm Cai tổng Ruộng mà. Em nói: “Ưng thằng ngu mà giàu dễ xài hơn là ưng thằng khôn nhưng chỉ có cái ‘đít không! Nghèo rớt mùng tơi (không có tới cái mùng rách) thì nói chi tới tiền. Mà không có tiền làm sao mà sống? Một túp lều tranh hai quả tim vàng? Hết gạo, hai trái tim vàng đem đi cầm được hông?

Riêng ‘qua’ trộm nghĩ thời nào cũng vậy: “Nghèo là ngu hè!”. Tui cự lại: “Ê! Nói vậy đụng chạm tới tui nhe!” Anh Hai Chữ cười khèn khẹt hỏi: “Vậy anh nghèo mà cái trí khôn anh cất ở đâu? Ðưa ra coi chơi!”

Bị chê nghèo vì ngu, tui tức quá hỏi đố Hai Chữ: “Anh biết phát minh lớn nhứt của nhân loại là gì không?”

Hai Chữ đáp: “Lửa”.  “Tầm bậy nè! Trước khi có lửa con người vẫn ăn thịt sống. Quan chức CS nhỏ lớn trong nước giờ tụi nó ăn thịt sống, báo đăng hà rầm, anh không biết hay sao? Thiệt là chậm tiêu quá!”

“Cái phát minh quan trọng nhứt của con người là chữ. Không có chữ, con người sẽ trở về thời mông muội, thời ăn lông ở lỗ. Con người sẽ ngu toàn tập! Phải hông nè?

o O o

Anh Hai Chữ phán rằng từ Hán Việt tam sao thất bổn thì cũng còn châm chế được đi. Ngay cả có vài chữ người địa phương khác xài, tui mà hiểu được chết liền.

Như hồi xưa trong Nam mình dùng chữ ‘chăm bẵm’ là chăm chú, không xao lãng. Chăm bẵm làm việc suốt ngày. Sau nầy mấy tay ‘Bake 75’ vào dùng chữ ‘chăm bẳm (hoặc chăm bẵm, hỏi ngã lung tung xèn) như: “Thằng bé được cả nhà ‘chăm bẳm’ thì lạ quá?”

Ðó là chuyện ngoài Miền Bắc, còn chuyện ở Miền Trung, ông Sơn Nam có thuật lại câu ru em là: “Ru em em théc cho muồi. Ðể Mẹ mua bánh chợ Truồi em ăn.”

Trái chuối chín quá xá chín thì gọi là chín muồi. Muồi còn có nghĩa là ‘muồi’ mẫn. Xuống vọng cổ ‘muồi’ tận mạng. Còn tình ‘muồi’ là tình hết biết trời trăng gì rồi!

(Dù Tía có đem em ra treo tại cột đình. Ðứt dây rớt xuống; thương mình em vẫn thương!)

Truồi tên một cái chợ, tên một vùng đất ở Thừa Thiên thì ai cũng đoán ra được. Còn ‘théc cho muồi’ là gì?

Một bà Huế, ở kế nhà ông Sơn Nam, giải thích: “Théc là khóc, đứa bé théc là khóc lớn tiếng. Sài Gòn, U Minh quen với khóc théc (?!)

Tuy là người Huế nhưng bà Huế nầy cắt nghĩa chữ ‘théc’ trật lất. Hổng lẽ ru em để em théc cho muồi, để em la làng chói lói hay sao chớ?

Hổng phải như vậy đâu! Từ điển Phương ngữ Huế cắt nghĩa ‘théc’ là ngủ. Như vậy ‘théc cho muồi’ là: “Cưng ơi cưng ngủ cho say. Mẹ đi chợ Truồi mua bánh về cho cưng ăn”. Thằng cu Tí nghe dụ khị bánh như vậy chắc miệng nó sẽ nhóp nhép rồi chìm vào cơn mộng đẹp!

Kết luận ‘théc’ không phải là khóc la lớn tiếng như thành ngữ ‘thét ra lửa’ của tướng Hòa Hảo Năm Lửa đâu nhe!

Nghe cha Hai Chữ biện giải tới đây tui đã ‘ngộ’ ra rồi. Nhưng tui cũng giống như một số bà con mình có bao giờ mở miệng ra khen ai bao giờ đâu nè (?!) Tui vẫn cố chấp giữ rịt cái quan điểm cà chớn của mình hỏi lại anh Hai Chữ là: “Phải vậy hông cha?”

Hèn chi cách đây không lâu, có một độc giả ký là “Em yêu” nhào vô “Facebook” phê tui vầy nè: “Tác giả rất cứng đầu! Dạy hổng bao giờ nghe” Té ra đây là lời phê của “con vợ tui” đó nhe! He he!

Bông hồng xám

Hồ Đình Nghiêm

Bông hồng xám

Hồ Đình Nghiêm

Người con gái cao hơn hắn một cái đầu. Mắt hắn nhìn thẳng, đọng ngay giữa ngực. Ngực cô ta sâu một đường khe. Hắn nuốt nước miếng, tô phở đi vào bụng nửa tiếng trước bắt đầu tạo phản ứng? Bột ngọt vị tinh mì chính, thủ thuật gia giảm liều lượng đinh hương đinh hồi. Khô khát cổ họng.

– Một trăm.

Đứa con gái đá lông nheo. Hết tiếng Pháp lại đổi sang tiếng Anh. Giọng khan, môi son đỏ co giãn và hai hàm răng không ngừng nhai kẹo cao su. Hắn ngửi được một mùi thơm, rất đàn bà. Quyến rũ gấp vạn lần xí quách húng quế ngò gai ớt chua tương ăn phở.

– Cần nói thêm là đã tính luôn tiền phòng cộng với bao cao su.

Mua một món hàng thì ai cũng săm soi nhìn trước ngó sau. Hắn thọc tay vào túi quần và đầu thì đang bị mấy chữ trường túc bất chi lao hiện ra dằn vặt. Đi đâu mà vội, hút một điếu thuốc cái đã. Vã lại ông bà mình có dặn, mới ăn no chớ nên xã láng năng lượng vô ba cái vụ này. Thân thể con người chia làm ba phần, đầu mình và tứ chi. Đợi ba bộ phận ấy ngứa ngáy khó chịu rồi hẳn tính.

– Cho tao một điếu. OK?

Khói thuốc bay cùng lần nơi hai mái đầu chụm lại. Tóc vàng tóc đen quấn quít sợi ngắn sợi dài. Hắn thổi đám mây xám bay lên những bậc cấp ám tối. Có lẽ trên đó, sau cánh cửa im ỉm đóng là nơi hành lạc? (Không hành trần chẳng giá chín).

Buổi trưa, nắng không có, nhưng nóng. Bầu trời trám chì nặng nề đã mấy hôm rồi, tức giông. Chiều nay trời không mưa thì tôi sẽ làm mưa. Hắn nhai đám khói thuốc trước khi thở ra lỗ mũi. Phiá bên kia đường có tiệm bán băng dĩa cũ và DVD phim ba X. Tuy ban ngày mà đèn chớp nháy ngó thật rậm rật. Cửa mở rộng treo bảng đại hạ giá, nhạc hard rock như thác chảy từ trong đó tuôn ra. Bản ấy đang đứng top. “The Unforgiven” của bọn Metallica. Đứa con gái nhún nhảy. Bộ ngực nhún nhảy. Hai cái thánh giá đeo lủng lẳng dưới trái tai cũng nhún nhảy, sáng chói màu kim loại. Lạ. Thời buổi này thánh giá bán rất chạy, cho những cô gái đeo làm vật trang sức; trong khi lời nhạc thì xem thường sự có mặt của thần linh, gào thét thứ ẩn ngôn của ma qủy. Mạt pháp!

Từ trên mười tám bậc cấp có tên đàn ông râu rậm loạng quạng đi xuống. Mặt thằng chả đỏ ké, da thịt bóng nhờn mồ hôi xuất hạn dầm dề, ngang qua đứa con gái thò tay lông lá véo ngắt vào mông.

– Bận sau anh sẽ đi với em. Con Rosé ăn thứ gì mà trở chứng?

– Nó ăn thịt ba của anh chứ ăn thứ gì. Đừng cà chớn.

– Đù má em.

Thằng đàn ông cười khan trong cổ. Nhổ một đám nước dãi rồi bỏ đi. What the Hell…

– Tao chán những đứa lắm chuyện như thế không thể tả. Nghe đồn dân Á châu rất ngon lành trong ba cái vụ im hơi lặng tiếng và ít bày đặt kiểu cọ?

– Có lẽ.

– Thế còn keo kiệt? Thấy một trăm mắc thì dang ra chỗ khác chơi cha nội.

Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn lại con đĩ có giọng nói khan. Và chua như giấm. Chiếc áo thun đen in hàng chữ tiếng Pháp chạy méo mó trên vũng thịt lồi lõm, rung động không áo nịt ngực. Dốt ngoại ngữ lắm trí óc hắn cũng tự động phiên dịch ra tiếng Việt: “Hãy cứu vớt linh hồn tôi!”. Hắn từng là thuyền nhân. SOS. Và hắn từng được người giàu lòng từ bi cứu vớt lên thuyền lớn.

– Trên đó phải không? Hắn hất hàm.

– Chịu rồi phải không? Con nhỏ tóc vàng chu mỏ thổi bay cục cao su ra ngoài đường. Đi theo tao.

Mười tám bậc cấp. Có ai dè địa ngục mà phải bước lên. Trần gian đang ở đâu thế? Bên kia đại dương chăng? Ở đó có cô vợ hờ mà người ta nói tương lai sẽ thuộc về hắn. Người ta sẽ chịu chi một cái vé máy bay về bển với điều kiện hắn ra Quy-nhơn tổ chức đám cưới rồi lo mọi thủ tục để có ngày vớt cô vợ bé bỏng ấy sang đây. Người ta cho hắn xem hình đen trắng, ai đó còn xổ Kiều phụ họa thêm: Thấy không? Cũng khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang! Tiếc là tấm ảnh nhỏ chỉ thu lấy khuôn mặt, mình và tứ chi thì chẳng rõ có nở nang? Hắn xem xét, lòng những muốn phiêu lưu vào cuộc hôn nhân quái đản nhưng miệng vẫn ngậm câm chưa có ngay câu xác định: Yes or No. Thiên hạ kháo nhau chuyện tầm phào, gái Quy-nhơn không có lông. Xời, biết đâu đó là lối quảng cáo thiệt khéo nhằm đánh động tính tò mò.

– Lẹ lên cưng.

Đem tuổi tác ra mà so thì chưa rõ hơn thua, nhưng lấy thể xác mà đọ thì đúng là chị trước em sau. Cánh cửa đóng kêu cái két, tù mù một hành lang ẩm mốc với dãy phòng có cửa sơn màu tím. Tiếng giày cao gót gõ xuống nền gỗ hư hao chuyển mình rên rĩ. Một hai lóc cóc ba bốn. Thình thịch thùm thụp lóc cóc. Hắn hơi ngộp thở, có thứ gì đó chẳng tượng hình làm trái tim ép sát lồng ngực. Phòng số 10. Nâm-bờ Ten. Chẳng rộng rãi thoáng khí như hắn lỡ mường tượng. Vách dán giấy hoa có nơi keo không ăn vật mình tờ giấy xuống, oằn oại lưng chừng. Đinh đóng vào vách lỗ chỗ chẳng rõ để làm gì, trống trơn không một tấm tranh móc treo lên. Một bàn vuông nằm trong góc. Hai cuốn sổ niên giám điện thoại dày như chuyện kể nghìn lẻ một đêm hoặc Hồng lâu mộng. Bốn năm vỏ chai bia lăn lóc. Cái gạt tàn thuốc. Cùi một trái táo ai gặm không hết vất dưới chân giường khô quắt tựa một khúc xương người tiền cổ vừa được khai quật. Và cái giường là vật thể cuối cùng nằm chình ình ra đó. Giường nhỏ, trải tấm ra màu xanh bẩn như giường có trong bệnh viện, khu hộ sinh.

– Nóng bức quá hả?

Đứa con gái phát biểu cảm tưởng trong lúc cởi quần jean rách đầu gối treo lên một cây đinh. Hắn phát hiện chẳng có cửa sổ nào cả, như một cái hộp vuông vức. Không quạt trần, không luôn cả máy lạnh điều hoà không khí. Mồ hôi tuôn như đang đứng ở Gò Vấp. Montréal xứ tuyết vẫn có khi qủy quái như thế đó. Lạnh Liên-xô mà nóng Việt-nam.

– Đưa tiền đây.

Năm ngón tay chìa ra. Cánh tay còn lại đang chống nạnh, quần lót màu đỏ nhỏ chút xíu có ưa dùng để hỉ mũi lau cũng không sạch nước giải. Mấy ngón nhịp nhịp trên sợi giây thun chờ đợi. Một trăm là năm tờ giấy hai chục. Hắn thè lưỡi thấm nước miếng mà đếm. Tiền trao nhưng cháo chưa múc.

– Đợi tao dội qua miếng nước cho sạch sẽ. OK?

Nước? Nước non ngàn dặm ra đi. OK. Nụ cười con nhỏ ngó dễ ghét. Chữ ghét này phải hiểu ngược lại. Như mẹ ẳm con thơ lên, lòng vui vô hạn để thì thầm: Cái mặt thấy ghét quá hà! Chiếc áo “cứu vớt linh hồn” được cởi ra, ném vào mặt hắn rồi cô quay lưng bước tới vách, nơi có miếng giấy hoa gần rơi rụng. Chà, hiện đại nhỉ! Có cánh cửa gắn ở đó mà hắn nào thấy. Đằng sau là phòng vệ sinh dồn đẩy mùi long não ra khi cửa mở. Đứa con gái tụt miếng vải cuối cùng vặn vẹo người cho đến hồi nó thoát hẳn đôi chân dài. Hắn ngồi ở mép giường giương mắt ốc ra ngó từng cử động. Tiếng nước chảy, tiếng vòi nước bị khóa lại nơi cái robinet đã han rỉ. Cô bước ra. Đám lông xoắn xít và nó vê lại như một cụm râu cắm dưới cằm con dê tuổi mới lớn.

– Chưa cởi đồ ra sao?

Hắn nhìn cái tam giác co giãn đang chuyển dịch lại gần. Những giọt nước rơi xuống, từ đó rơi xuống. Người ta cho hay, nhỏ đó tên Thủy, mới mười chín tuổi và bảo đảm là chưa thất thân. “Nói láo xe cán, ai lại thất đức làm mai cho cậu một người vợ mất trinh”.

– Xong hết rồi đó. Làm lẹ đi.

Đứa con gái vật mình xuống giường nằm ngữa dang rộng tay chân. Hắn lóng cóng hồi lâu trong việc thoát y. Chậm chạp nhưng sau rốt cũng xong. Hắn phát hiện chiều dài không đồng nhất của hai thân thể đã làm so le những bộ phận cần được bổ sung điền khuyết cho nhau. Hèn gì người ta dùng chữ cân cặp xứng đôi khi tả đến hình ảnh một cặp vợ chồng.

– Mày dễ thương hiền lành hơn tao tưởng.

Đứa con gái nói trong khi hắn thở mệt. Chẳng cân cặp gì cả. Một bên nhịp tim điều hòa như đang từ tốn đi bước nhẹ kiểu tập taichi. Bên kia thì hào hển bấn loạn tựa chạy việt dã ở vòng đua cuối cùng. Phù du! Bận sau nhất định không ghé tiệm phở ấy nữa. Gia vị, nước lèo nấu không đúng bài bản đã đành, lại thêm chẳng có chút gì bổ khỏe cả! Ăn vào khát nước, làm tình thì chóng mỏi gối chồn chân. Lếu láo thật! Năm phút, khoảng đó, là năm tờ giấy hai chục bị đốt cháy. Một trăm đồng, đi cày ở hãng xưởng đổ mồ hôi sôi nước mắt cả ngày mới gặt hái được. Sau năm phút, những động tác ban đầu lại được tái lập, đi ngược trình tự. Xì-líp kéo lên, đi nhón gót tới xỏ chân vào quần jean. Cầm chiếc áo thun lên, rũ rũ.

– Lộn rồi, áo đó của tao. Hắn nói.

– Xin lỗi. Đứa con gái cười và vuốt lấy những sợi tóc rối trước mặt.

– Không sao, thích thì cứ giữ lấy mà mặc.

Đưá con gái hôn một bên má hắn, nhe răng cắn nhẹ vào trái tai:

– Tao tên Nancy. Lần sau có đến tìm thì tự nhiên giá cả sẽ thay đổi.

Hắn mặc chiếc áo “cưú vớt linh hồn” vào người. Áo sực nức mùi đĩ thõa làm da thịt phải nổi gai, châm chích thứ cảm giác lạ.

Khi bước xuống mười tám bậc cấp, trời hung hãn đổ mưa. Cuồng nhiệt, thịnh nộ, rầm rộ và có vẻ dai dẳng dài hơi.

– Đi bộ hả? Thôi bai nghe.

Nancy không bước xuống bậc cuối. Hắn sãi chân ra vuông sân đất nồng, bong bóng vỡ ra khi nước đâm vào đất, mưa xối xả quất vào lưng hắn trăm ngàn roi vọt như cách thức trừng phạt của cao xanh. Hắn nhắm hướng có trạm tàu điện ngầm để tìm tới. Chẳng vội vã, hắn muốn tắm gội, hắn muốn tẩy xóa. Phố phường không bóng bộ hành, tất cả đều đụt mưa dưới mái hiên nhà những mong người được khô ráo. Bốn giờ chiều, con chuột lột về đúng chỗ trọ ướt nghe ngói đứng mở cửa. Mưa móc ràn rụa chẳng làm phai nhạt mùi hương có trên chiếc T-shirt. Cửa mở, anh hắn hiện ra ở lối đi nhỏ dẫn sâu vào bếp, tay vày vò cái khăn ca-rô dùng để lau chén bát. Sau lưng là bóng điện vàng, sau nữa là có thứ mùi gì đó. Chả giò vừa chiên xong? Mùi chanh tỏi ớt nước mắm? Rất nhiều mùi, đòi thoát khỏi căn phòng ngột ngạt.

– Về rồi à? Có sướng không?

Ngọn đèn vàng trên trần nhà chẳng sáng bằng đôi mắt anh hắn. Đôi mắt của kẻ đang làm công việc tra tấn, lấy khẩu cung. Dữ dằn pha lẫn miệt thị nhốt chật trong đó.

– Ngó xuống con người mày đi. Tàn tệ và dơ bẩn đến thế là cùng. Coi, bày đặt chơi chữ nữa chứ. Cứu với lại vớt…

Hắn đứng sững. Nước từ người tụ một vũng dưới chân như sợ hãi tới độ són đái.

– Hồi trưa, khoảng hai giờ mày làm gì ngoài phố? Nói tao nghe.

– Tui hai mươi mốt tuổi rồi đó anh à. Tui không còn là đứa con nít ngày nào chạy theo anh đi vượt biển.

– Tao biết. Ừ, mày lớn bộn rồi. Lúc nào cũng vỗ ngực. Thật khốn nạn! Tao hối hận đã dắt mày đi qua đây.

– Có chuyện gì thế? Anh sắp lấy vợ, sắp ở riêng rồi sao còn nhăn nhó làm chi cho mất vui.

– Thật mất mặt. Tao chở bà Thuyên đi chợ trời thì trông thấy mày đứng trò chuyện mặc cả với một con đĩ. Tại sao vậy? Ăn nói sao cho ổn với người ta?

– Cùng lắm thì hủy cái hợp đồng vợ chồng kia đi. Nghe như giễu vậy mà anh lại tin. Chứ không phải anh là kẻ luôn hò hét chửi rủa những tên đi về Việt-nam à?

– Đây là nói tới chuyện của tao. Mày hại thanh danh và hạnh phúc của tao cũng vừa phải thôi. Rồi mai đây trong cộng đồng họ đồn tùm lum ra.

– Tui chơi đĩ chứ phải anh đâu mà sợ. Bộ tính nghiên cứu lý lịch kỹ như Việt-cộng hay sao đây?

– Mày câm mỏ đi.

Anh hắn bỏ lui sau bếp, ném mạnh một vật gì đó vào bồn rửa chén.

– Tao hẹn bà Thuyên chiều nay lại nhà ăn cơm. Mày đi đâu khuất mắt cho tao nhờ.

– Tui lại nhà anh Đại thì có chi phiền cho anh không?

Hắn thấy anh hắn đang nắm lấy con dao. Chắc chỉ để xắc thịt hoặc thái hành ngò gì đó. Tính khí anh hắn rất nóng nảy, nhưng chỉ thấy lộ ra trên những dòng chữ viết. Bình thường anh tỏ ra là người đàn ông rất dịu dàng nhỏ nhẹ khi lăng xăng bên cạnh chị Thuyên. Bà ấy đã có chồng con, quyết li dị để sống gần anh. Anh Đại nghĩ tình bạn cũ một mực cản ngăn và hậu quả tên chí tình kia trở nên một kẻ… thân Cộng. Lý do ư? Trong người còn giữ mãi một hòn đạn AK47, bắn gần trúng tim mà không chịu chết đi. Hắn nhắc tới ông Trung-uý Biệt động quân ấy để mỉa mai cho vui vậy thôi, chớ ai dại gì vác mặt mốc tới nhìn kẻ từng xám mặt kêu trời không thấu.

– Tao không hơi sức đâu dài lời với đứa mất dạy như mày. Địt má, em với út!

Hắn cũng cảm thấy rát cổ, mở tủ lạnh tìm chai bia. Phòng ăn ngó tươm tất xôm tụ hơn một bữa tiệc đoàn viên theo chương trình “Ra đi có trật tự”. Anh hắn nổi tiếng trong nhiều lãnh vực, không ngờ chuyện bếp núc còn khéo léo tới độ khó tin. Trộn gỏi nhanh hơn múa bút, cắt nem dồi chả heo quay xá xíu sắp ngay ngắn trong dĩa còn đẹp mắt hơn bày đồ cúng ông bà cha mẹ. Loay hoay, tẳn mẳn vụn vặt. Gỉa dụ nếu có kiếp sau, thì kiếp ấy anh sẽ là một mụ đàn bà. Và hắn cầu xin, mọi người sống trong cõi ấy phải chịu trả tiền riêng cho cái khoảng nói năng. Lời nói phải mất tiền mua, phát biểu linh tinh phải chịu đóng thuế. Chắc rằng những kẻ từng bị chụp mũ sẽ đồng thanh hoan hô nhất trí. Phải thế không anh Đại?

– Mày làm gì đó? Nem của bà Thuyên mua không phải để cho mày nhậu khan.

– Cần tui phụ cái gì không?

– Mày xéo đi. Đừng có táy máy hai bàn tay nhơ nhớp vào thức ăn.

– Thế nào là nhơ nhớp? Anh đã nghe anh Đại giảng nghĩa chữ đó chưa? Rằng khi xưa chị Thuyên có lần…

Hắn ngậm miệng. Ánh thép vừa loáng lên và cây dao cắm ngập lưỡi vào cái thớt gỗ. Những trái dưa leo dưa chuột giật bắn mình mẫy lăn đổ xuống đất. Bàn tay anh hắn nổi vồng gân xanh.

– Mày có tin là tao sẽ giết mày không?

– Vì miếng ăn hay vì đàn bà?

Mắt anh hắn đã tắt đi ngọn đèn pha, đọng bên trong đỏ ngầu một tia lửa tỏa nhiệt. Mí mắt căng ra, nhìn hắn không nháy.

– Kể từ giờ này mày nên đi khỏi nhà ngay. Nuôi mày đã mười năm tao chẳng còn gì để hối hận cả. Tròn trịa quá rồi, vun đầy quá rồi. Và nếu có sức mẻ thì vết rạn nứt ấy do mày tạo nên.

– Tui biết anh không nỡ giết tui. Đăng một ô vuông từ em in trên tờ báo chợ thì có lẽ hợp với chuyên môn của anh hơn. Còn chuyện nuôi nấng? Thiệt cám ơn anh, sao anh chẳng nói là vừa thí cho tui một trăm đồng để đi xả xui.

– Khốn nạn thật! Miệng lưỡi y hệt như thằng Đại. Tao thật không ngờ mày chóng học nên những điều thâm độc từ bọn bất lương kia, mày có biết là chúng nó cố tình chia rẽ tình anh em không?

– Nhiều lần, tui cũng cố tin như vậy rồi anh ơi!

– Mày đã nghe nói qua chiến dịch Hoa hồng xám của bọn Việt cộng?

– Tiếng Việt tui dốt lắm. Và anh là người đã gây cho tui nỗi sợ hãi không muốn dây dưa với người đồng hương quanh đây. Chơi với tụi Tây đầm thiệt khỏe trí, không lươn lẹo. Tui yêu sự sòng phẳng quá chừng, như muốn ngủ với gái thì quẳng cho nó một mớ tiền.

Hắn ngửa cổ, đổ xuống một hơi bia đầy. Bia đắng, nhưng hậu vị là cả một sự ngọt ngào. Tình anh em trôi nổi sang xứ người, ban đầu thì mặn mà, thét còn lại cái cốt lõi chát chua. Cũng chẳng trách cứ gì ai được. Con người anh hắn khó tìm ra một kẻ tâm đầu ý hợp, vớ được bà Thuyên buộc lòng anh hắn phải trân qúy và xem mọi thứ khác đều là cỏ rác.

– Anh còn tiền không? Cho tui vay một trăm.

– Không có.

– Bao nhiêu đồ đạc tui sắm trong nhà này không đáng với cái giá đó sao? Cái T.V. Cái DVD. Cái đầu máy Video tui mua hơn cả ngàn chứ có phải đi ăn trộm của bá tánh đâu.

– Mày tính bán à? Bán thì tao mua. Một trăm, có phải không?

– Ừ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Xem như đám cưới anh tui là người tặng quà cáp hiến lễ sớm sủa nhất. Còn lời chúc anh chị trăm năm đầu bạc thì tui xin khất.

– Mày lại giở giọng điệu gì nữa đây? Mày tuồng như luôn có ác ý với bà Thuyên!

– Cái đó là do anh suy luận. Anh tài giỏi thì đừng để có ngày chị ấy phải ra thông cáo đòi li dị.

– Tiền đây. Cầm lấy mà đi chơi bời cho mắc bệnh chết cha mày luôn.

– Anh đã dẫn chị Thuyên đi thử máu chưa? Không khéo lại dính vô chữ hoa hồng xám quái quỷ gì đó!

Anh hắn sững mặt ra, trong một giây. Một giây sau thì bàn tay cầm lên chén nước mắm đặt gần đấy tạt hắt vào người hắn. Xác ớt tỏi giã vụn bám không rời hàng chữ “Hãy cứu vớt linh hồn tôi”, thấm vào da bỏng rát, tanh nồng. Hắn cười. Tiếng cười run rẫy giữ trong cần cổ, nghẹn vướng. Hắn cởi chiếc áo ném vào thùng rác:

– Anh nói giùm với chị Thuyên là linh hồn tui đã lỡ bán cho qủy rồi. Chuyện lấy Thủy, cô vợ Quy-nhơn xa ngãi mà chị ấy giới thiệu thì… no fucking way!

Hắn vào phòng vơ đại một chiếc áo rồi bỏ đi. Trời tạnh ráo. Gió thì thào trên cao làm những chùm lá cây như biết đái, rắc nước nhỏ giọt xuống người hắn. Cơn mưa hồi chiều thấm vào mặt lộ đen, thơm mùi ngai ngái. Những hàng đèn cháy đỏ bên kia đường, từ tiệm bán phim sex và diã nhạc không đủ sức thâm nhập vào vũng tối có đám yêu nữ trú thân. Một hai tiếng huýt sáo mồm trỗi lên. Ở xa, tiếng còi xe cảnh sát sắc nhọn đâm về từng chuỗi dài. Ba bốn mái đầu quay đảo ngó quanh quất.

– Uả, lại là mày nữa sao?

Con Nancy từ hẻm tối bước ra. Cách nhau mấy tiếng đồng hồ, bộ tịch và mặt mày nó vẫn không hề suy suyển, nhai kẹo cao su chanh chách và hai cái thánh giá vẫn luôn nhún nhảy.

– Phải mày không? Chiếc áo kia đâu?

– Tao đã lộng kiếng mà treo lên vách rồi.

– Cái gì? Mày nói sao?

– Ở xứ tao, vật gì quý giá hoặc thứ mà mình tỏ lòng yêu mến đều lộng kiếng cả. Xem nặng hơn cả ảnh ông bà cha mẹ. Bộ lạ lắm sao?

– Fuck you! Đừng làm tao cảm động chứ. Dù sao thì lần này mày chỉ trả có tám chục thôi.

– Tao chỉ còn năm chục. Mày có thể cho tao ngủ với mày một đêm không? Ngủ chay. Tuyệt đối chỉ ôm thôi, hoặc không thì nằm nói chuyện đời trước khi ngủ.

– Trên cuộc đời này có mẹ gì để nói, hở baby? Ăn ngủ ỉa đái và Fuck. Ngần ấy thôi. Hiểu không? Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ hư hao rồi. Mẹ kiếp cuộc đời!

– Tao chẳng thể hiểu được. Không có tình yêu chân thật hoặc thánh thiện sao?

Con đĩ ngựa cười ré lên:

– Đồ khùng. Đằng kia có cái nhà thờ, mày vào đó thì họ sẽ welcome.

Theo tay dong của con Nancy, ở hướng đó có thằng nhóc con quýnh quáng đạp xe trờ tới. Thằng nhỏ phun một tràng ngôn ngữ trong hơi thở đứt đoạn rồi cắm đầu đạp xe đi như một đứa say rượu. Mấy ả ăn sương biến mất thật nhanh, như nước thấm vào lòng đất. Chắc bị động ổ. Con đường chỉ còn lại mình hắn, đứng lẻ loi. Đứng như một cột điện đã có ai tháo gỡ bóng đèn. Đứng câm nín. Không mấy lâu, trên bức tường vôi đổ nát loang loáng ánh đèn xanh đỏ vẽ hoa ngũ sắc. Xe cảnh sát chạy thật chậm như đang đưa đám một đồng nghiệp đã xả thân diệt sạch tệ nạn xã hội. Trong xe vẳng ra tiếng máy truyền tin kêu ù ù cạc cạc và cặp mắt ai đó mãi nhìn hắn săm soi.

Hắn rảo buớc về hướng phố Tàu, ghé tiệm ăn quen thuộc và kéo lê chiếc ghế sắt đánh động bầu không khí đang uể oải trong quán.

– Hây. Lông thai nâu xi. Khoẻ không tài lũ? Lị xực cái gì đây?

– Hoành thánh mì.

– Thêm gì khác? Nước trà nhé?

– Hầy. Dậm xà.

Hắn ngó cái thằng người Tàu sinh quán ở Chợ-lớn. Tất cả chúng sinh dường như đều chạy trốn cộng sản. Chạy chết bỏ, chạy bất kể cha già mẹ yếu và cuối cùng có được trong tay tấm căn cước ghi chú hàng chữ: Vô tổ quốc. Ở trên một vùng đất đầy cỏ dại và ta phải cuốc xới tự khai quang để mong gieo được lúa. Một cánh đồng rộng, cày bở hơi tai trong câm lặng, nhiều ngộ nhận, dễ mất mùa. Nó đó. Nó tên A Hính, nói tiếng Việt xỉu xỉu, không nhiều. Cà lăm, sốt ruột khi nghe đương sự phát biểu ý kiến. Nhưng đa phần, những ý kiến ấy đều thành thực, rất an tâm khi tiếp cận.

– Lị còn ở chỗ cũ không?

Hắn hỏi. A Hính đáp:

– Còn chớ. Sao không ghé tới chơi?

– Ghé chơi làm gì, ngộ tính dọn tới ở chung với lị, có được không?

– Lị cỏn mách dệ? Nói sao? Đùa chơi hả?

– Thật chớ. Tiền nhà chia đôi. Chỉ mong có một chỗ để ngã lưng vào ban đêm thôi.

– OK. Thời buổi lày đi đâu cũng nghe nói tới kinh tế khó khăn. Tiết kiệm kiểu đó cũng nên lắm. Để mai ngộ đi làm thêm chiếc chià khoá.

– Li quả là hảo bằng hữu!

– Đừng rườm lời. Mụ cỏn mại li ti a! Chuyện nhỏ.

Hắn chià tay ra nắm bắt bàn tay của A Hính. Trước đây hắn từng xua tay và nói câu đó với Hính khi hai đứa làm chung trong một nhà máy. Giúp đỡ và dạy tiếng xứ người cho Hính. Điền một lá đơn xin bảo lãnh thân nhân, giới thiệu tới anh Đại để mua lại chiếc xe cũ với giá tượng trưng. Hắn nhấp môi vào tách trà nóng:

– Lị làm ở đây có khá không?

– Sao bằng chỗ cũ được. Được cái là rất sướng miệng khi nói tiếng Quảng-đông. Dính mảnh? Hầy ngộ sợ phải nói tiếng Anh với bọn mắt xanh lắm. Chẳng phải lộng ngôn chứ hạnh phúc đôi khi nằm ngay trong những cái thật tầm thường. Con em ngộ viết thư qua trách, đàn ông lấy công danh làm trọng sao anh lại chui đầu vào trong tửu lầu cao lâu mà phục vụ, hoang phí tuổi xanh. Than ôi, luôn luôn kẻ ở quê nhà đều ngó tới mình bằng tất cả những ngộ nhận!

– Ngộ hiểu. Sống chốn này có nhiều cái bực mình, bức rức như… mẵn cuối khíu chọ.

– Lị nói tiếng Tiều tiếng Quan-thoại hay tiếng Miên thế?

– Tiếng Việt đấy. Nghĩa của nó là muỗi cắn khó chịu.

– Cảo xồ a lị! Lộn xộn quá!

Tô mì hoành thánh nhạt nhẽo, hèn gì mà quán vắng khách. Tô phở hắn ăn hồi trưa cũng không khá hơn nhưng thực khách lai rai trên dưới mười người. Có vậy mới nghiệm ra dân tộc Việt-nam bác ái và độ lượng vô cùng. Dễ ăn, dễ nuôi, dễ tin, dễ bị lừa. Gốc gác Phật tổ chắc là người Việt mình thôi, con rồng cháu tiên mà lị, nghe sướng như nghe chuyện thần thoại hoang đường khoa học giả tưởng. Mô Phật! Hôm nay con ngã mặn dữ quá. Đã thế còn bị hứng nguyên một chén nước mắm từ tay ông anh, mặn hơn cả biển Thái-bình. Thôi, ta không vào địa ngục thì ai vào?

Hắn gọi chai Bud. A Hính mang ra chai bia nhãn hiệu cầu chứng tận cố quốc. Huda.

– Uống thử xem, hàng độc đó nghe, năm khi mười họa mới có.

Hắn cũng hiếu kỳ ngửa cổ rót bia xuống họng.

– Cũng dậy thôi. Xoàng. Huda là con mẹ gì?

– Là bia Huế do Đan-mạch làm sư phụ chỉ đạo. Họ ghép tên hai địa danh ấy lại và họ nhổ bớt lông lá cho được sạch sẽ gọn nhẹ.

– Hú hồn! Chẳng sáng tạo được chữ nào nghe quyến rũ hơn sao?

Hắn chẳng thể chuyện trò dông dài với thằng bồi bàn. Một đám nai vàng bầu đoàn thê tử vừa kéo nhau vào, loạn xạ tiếng cười đùa tự nhiên như người Hà-lội. Và dĩ nhiên A Hính bị quay mòng giữa biển người đó. Chỉ một tiếng chào cũng phân tâm không thể đáp lễ. Cước bộ thoăn thoắt. Khăn trải bàn, bình trà nóng và chồng ly tách chén dĩa cao ngất ngưỡng trong tay ôm.

Hắn bước xuống những bậc thềm, đứng dưới tấm bảng vẽ hình Long Phượng quấn quít vặn vẹo cái lưng. Chẳng còn một địa chỉ nào khác. Cơ thể mỏi mệt réo gọi thầm một mặt nệm, một giấc ngủ. Hắn từng có khi tiêu phí thời gian bằng cách chui xuống métro, đi từ khởi điểm này đến một kết thúc khác. Đổi tuyến đường màu này sang một tuyến đường màu nọ. Loanh quanh dưới lòng đất, sật sừ với độ rung chuyển của con tàu xé gió, đi cùng khắp những địa đạo mà Montréal có được. Nhưng bây giờ thì không thể. Não nề lắm. Côi cút lắm. Trông như một kẻ bị ruồng bỏ, vô công rỗi nghề, vô tổ quốc vô gia đình vô gia cư… Vô tận cùng của chữ vô buốt giá. Hãy về ngủ thôi. Giờ này họ đã ăn xong. Có thể đã từ biệt hôn nhau bịn rịn trước sân cỏ lung linh ngàn lá đùa nghịch dưới ánh đèn đường. Cánh tay buông thỏng khi người kia rời ra, nói lời hứa sẽ trở lại. Tiếng máy xe nổ và bàn tay có đeo chiếc vòng ngọc thò ra vẫy, cánh tay trần, da trắng đục một màu sữa khuấy rối từng vệt trong bóng tối. Nghe tả, hồ ly tinh đẹp hãi hùng. Nhan sắc của bà Thuyên chẳng có ma lực gì để khiến người đối diện phải mê mẫn tâm thần. Hắn không hiểu được tình yêu. Người đàn ông bốn mươi tuổi như anh hắn bỗng dại khờ như một nam đồng tử còn trinh trắng, mù quáng đi theo tiếng gọi của ma nữ, sẵn sàng làm con thiêu thân lao vào vũng sáng quáng gà, thui chột.

Khi hắn mở cửa vào nhà, tai hắn đón nhận một chuỗi tiếng động lạ. Phòng anh hắn còn thắp đèn, thứ đèn mờ dùng để đọc sách trên giường liếm ra ngoài hành lang một vệt vàng xỉn. Nó đi qua cánh cửa khép không kín nên nó bị ép nhỏ thành hình một lưỡi kiếm nhọn mũi. Có tiếng cười sắc như dao của bà Thuyên len lỏi ra:

– Anh nhìn cái vật của con mẹ đó đi. Ghê quá hở? Xời, tài tử gì trông phát khiếp!

– Ủa, vậy thì bình thường nó đẹp hơn sao?

– Dĩ nhiên… Hà, còn giả bộ ngây thơ. Cái mặt sững sờ ngó phát ghét!

Những tiếng thở gấp rút có nhạc đệm gợi tình từ cái TV stereo bức rức xướng họa. Tài tình thật. Mua rẻ một trăm, muốn ăn chắc liền bê từ ngoài phòng khách vào thu dấu trong buồng mình. Và phút giây đầu tiên, chủ nhân ông bắt nó lao động liền tù tì, phục vụ chiếu hình đồi trụy bá thở, chim bướm bay đầy trời, hơi bị thoải mái.

– Anh mua nhằm phim dở rồi. Chẳng có cốt truyện gì cả. Cứ làm lui làm tới chừng đó động tác.

– Đâu có lựa được. Hồi chiều cứ sợ nó nhìn thấy bọn mình đứng đó thì quê mặt cả đám.

– Thuyên hỏi thật cái này nghe. Em thì hoang đàng như thế, còn ông anh thì sao? Ngủ với đĩ lần nào chưa?

– Nói tầm bậy. Coi phim đi, đặng chốc nữa còn làm tài tử.

– Nó có dẫn xác về bất tử không đó?

– Yên tâm. Nó có tiền và bọn trẻ thì thiếu gì mục ăn chơi về khuya.

– Nó có tương lai lắm chứ không đùa à nghe.

– Là sao?

– Đẹp trai hơn anh. Nhỏ tuổi thua anh. Hai con mắt cu cậu rất thu hồn. Mổi lần nó nhìn Thuyên, có cảm tưởng như mình đang trần truồng. Thuyên sợ…

– Sợ gì? Anh đuổi cổ nó đi mất đất rồi. Mà tại sao em ưa nhắc tới nó vậy?

– Ừ. Chẳng hiểu tại sao. Thuyên yêu anh và sợ một ngày nào đó nó sẽ làm chuyện tầm bậy.

– Nghĩ quẩn. Em chỉ nên tập trung đầu óc vào chuyện giấy tờ li dị thôi. Ô kê? Có được trong tay một ít tài sản thì hoàn cảnh sẽ biến đổi ngay.

– Cũng cầu mong thế. Nhưng có tiền đâu phải làm cha thiên hạ, đạp đổ lời đàm tiếu ong ve dư luận.

– Khờ quá. Tụi mình sẽ bỏ cái thành phố lắm chuyện này mà đi xa.

– Anh tính toán nghe cũng tạm được. Nhưng có người chồng thông minh chưa đủ, để thử chuyện kia xem anh làm có tới không?

Họ yên lặng, thôi thì thầm, ngưng nói năng. Cái giường già nua, từ hồi chính phủ cho khi mới sang, trường thọ tới giờ này bắt đầu lẩy bẩy kêu ca cót két. Hắn nín thở. Tiếng rên của bà Thuyên mỗi lúc một khuếch đại hơn lên. Chịu không nổi, hắn tới mở hé cánh cửa, rộng hơn một tẹo. Cuốn phim đã hết nhưng màn ảnh truyền hình chẳng ai rảnh tay để tắt đi. Căn phòng như có tráng lân tinh, xanh xao một cách quái đản. Bà Thuyên đang ngồi trên người anh hắn, sừng sững khối thịt da trắng muốt. Anh hắn như chiếc ghe mà mặt nệm là đại dương sóng lớn. Thân hình người đàn bà lắc lư uốn lượn. Mái tóc rối loạn dập dềnh. Đôi mắt khép hờ, đê mê. Đôi mắt nhắm lại, thụ hưởng. Nhắm kín rồi mở to. Mở trước tụ điểm mà mình hoài nghi, không tin. Ngây dại, hoảng hốt. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Khi đã xác tín ra sự thật thì bắt đầu cất lên tiếng thét, thất thanh, sảng viá như đang gặp ma, đưa tay cuống cuồng giật vội một mảnh xiêm y. Anh hắn trồi đầu lên khỏi chăn khỏi gối, khỏi niềm hạnh phúc đang đi ngon trớn giữa đàng.

– Lại là mày, thằng khốn kiếp!

Hắn đứng lù lù ra đó như một hình nhân bị thôi miên.

– Mả cha mày. Trời sinh mày ra làm chi để luôn báo hại người khác!

– Tui kiểm lại rồi. Hồi nãy anh chỉ đưa cho tui có bảy mươi lăm đồng…

– Thì mai tao đưa thêm cho. Bộ có con đĩ đứng ngoài dọa đào mả hay sao mà khẩn trương dữ vậy?

Anh hắn không biết thẹn thùng, chẳng thu cất của qúy, trần truồng nhảy khỏi giường chạy lại đóng mạnh cánh cửa.

– Thật mất sướng. Thôi, để Thuyên về.

– Em đừng chơi ngặt, rồi cả hai sẽ ngủ không xuống đâu.

– Thấy chưa? Thuyên vừa kể cho anh nghe… Sao nó linh như một cái miễu. Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo xuất hiện.

– Thằng chó chết.

– Chẳng biết cu cậu đã bỏ đi hay còn đứng rình ở ngoài?

– Địt me, càng nghĩ càng tức, thằng này chắc không phải em ruột của anh, phải tống cổ ra ngoài đường mới khỏi lôi thôi.

Cánh cửa mở ra. Anh hắn đã tròng vào thân chiếc quần cụt, mình trần trơn ướt, tay nắm cây vợt tennis như vừa chơi xong mấy trận hào hứng. Người đàn bà đứng ló đầu ra khỏi cửa phòng hồi hộp theo dõi màn chung kết. Trước kẻ ngoại tộc ai lại vạch áo cho người xem lưng. Hắn nói, có chút thành thật:

– Tui xin lỗi. Thôi, chúc ngủ ngon.

– Ngủ con mẹ gì. Mày nói có khi mà đúng, mai tao sẽ đăng báo cái mẫu tin từ em. Giòng họ Hồ sẽ bớt đi được một thằng khốn nạn.

Thêm một cánh cửa nữa vừa đóng sập, sau lưng hắn. Đóng giận dữ. Phát ra tiếng động khô, tựa một hòn đạn thoát khỏi nòng súng. Đêm đã khuya, không một chiếc xe chạy ngang con đường tối. Hắn ngửa mặt lên trời, chẳng một vì sao. Đen dày, mông lung. Đêm hấp hối, đêm rạn nứt. Phiá sân nhà hàng xóm có tiếng chó sủa, tru tréo, ngầm xua đuổi. Đã lâu, giờ này hắn mới nghe lại tiếng chó gâu, gâu. Đi đi? Ừ, thì đã đành. Nhưng nào ta biết đi đâu!

Hồ Đình Nghiêm

Bản nháp

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Bản nháp

Hồ Đình Nghiêm

Đò trôi êm mái chèo đều lực đẩy. Ban đêm giòng nước ấm ngửa mình đón hạt mưa rơi. Không lớn chẳng nhỏ chỉ đủ cho tầm nhìn thu ngắn, nhoè trên bờ thẳm những ngọn đèn vàng run thân trong vũng tối lần lượt khuất chìm.

Con đò cũng tầm trung theo lượng định, dưới vòm che hình bán nguyệt úp vung có gắn cửa tạm bợ ở mỗi đầu, một trước một sau, mong manh tựa tấm màn bằng giấy cứng cốt ngăn gió lùa cùng tia nhìn thọc mạch kẻ bàng quang. Sau, có giăng tấm bạt nhỏ bằng chất liệu ny-lông chùng, thấp ngang đầu người ngồi chèo đò và nhằm che chắn mưa tạt khỏi làm ướt lò củi ẩm còn âm u hòn than hồng vương khói mỏng. Trước là đằng đầu gỗ tháp gia công tạo dáng cong lên, đâm vào bóng tối nhiều sương quyện trông hư thực chẳng thiết nhìn rõ một bến bờ ghé lại, mặc tình đẩy đưa giữa đoạn sông vắng.

Đi trên cầu, giọt mưa đâm thấy lạnh nhột vỡ vào da rợn cảm nhưng chẳng ngờ được là mưa rơi xuống sông làm rỗ mặt, sự tiếp nhận đó có điều diệu kỳ nào can dự khiến cho thân dẫu trần truồng không manh áo vẫn chẳng thấy lạnh một mảy may. Ấm, nóng là đằng khác. Ngủ chay hay ngủ mặn, mò sâu tới chốn bồng bềnh này việc tiên quyết phải nên thực thi là xin hãy trút bỏ y phục để chứng minh nguyên cớ. Điều lệ ấy giúp người ta làm quen với mắc cỡ ban đầu rồi dần dà sự hổ ngươi sẽ bị rơi tỏm ngoài sông, lóp ngóp sặc nước, chết chìm. Triết lý tượng hình: Đẹp trai không bằng chai mặt. Đối tượng bổ sung thêm: Thẹn thùng chi nữa anh ơi, đã là cọp thì nào biết tới lần khân ngại ngần!

Cái ngủ khác với cái ăn, bởi rằm hoặc mồng một người ta có quyền vô tư chấm mút việc ngủ mặn. Trở ngại chút xíu nếu kẻ bán hoa vốn là Phật tử thuần thành: Anh ngẵng nghịch cũng vừa phải thôi, cho em nhờ tí, bữa ni kiêng cử nhác chơi. Trời sinh con gái có nhiều thứ bất tiện, ngoài chay với mặn hằng tháng họ còn bị dính chấu vấn nạn kinh nguyệt hành. Họ leo lên bờ so vai nhìn đời hiu quạnh. Có đi không? Đi mô được bữa ni, người em chẳng được sạch sẽ, khi khác anh hỉ!

Mưa giăng chập chùng ngoài đò, ngoại vật ướt át. Nhưng trên tấm chiếu khô hạn bốc mùi lạ thường này đàn ông con trai thảy nên mặc áo mưa. Bài công dân giáo dục sơ cấp từng truyền dạy: Cẩn tắc vô áy náy xa hối hận. Và nói tình ngay, sao mầm bệnh nhỡ vô phúc bị nhiễm phải kia lại mang được tên gọi quá gợi cảm: Em Giang Mai tới chị Hoa Liễu. Người thích môn đạo đức thì rộng lòng chỉ mặt xỉa xói không khoan nhượng: Chết mày chưa, thích đi đêm có ngày cũng gặp thằng lậu mủ đón đường. Nhức nhối không con?

Áo mưa chưa bao giờ bị liệt vào hàng đắt đỏ, gộp chung vào chuyện mần ăn, tính luôn tiền đò, em lấy anh giá văn nghệ. Ủa, văn nghệ văn gừng luôn nằm trên sân khấu, sao có khi lại mò xuống tận chốn phong ba này? Tiểu liên bán tự động có hai ngấc, liên thanh hay nhát gừng bắn phát một. Ngó sức vóc kiểu tân binh như anh e nên vác súng trường thô lậu, nổ cắc bụp phát thì lo hào hển rút quân. Phương án này một phần tuỳ thuộc vào lương lậu để nhắm liệu cơm gắp mắm. Dư tiền chút đỉnh thì em cho vật mình sang bên đợi bình minh nhú sẽ tính kế lên bờ, xem như năm canh vùi thân vào manh chiếu ấm chứ nỡ lòng nào đưa đầu trần người đi trong mưa gió sảng hồn lìa xa cơn mơ về sáng.

Người con gái tóc dài che nửa khuôn mặt như số đông quý chị em thích làm vậy. Bày ra nửa dung mạo khó bề tìm đoán một số tuổi thích hợp. Cứ du di chín bỏ làm mười để hàm hồ là hai chục trăng thôi tròn. Sạch nước cản thì trông mong gì khi chân bước xuống đò khoắn bùn đục nước ba mươi sáu kế thảy đều hạ sách. Cha có tù tội đâu mà bán mình trả hiếu? Chữ trinh làm gì mà hét tới ngàn vàng, nghe lùng bùng lỗ tai. Không dám đâu!

Mèo ăn vụng thường chẳng có quyền lựa chọn cục mỡ, thêm căng thẳng hiện trường cấp bách. Vui buồn tuỳ thuộc vào diễn biến tâm sinh lý bữa nọ. Đôi lúc cháy hàng, dòm trước ngó sau còn mỗi chị tuổi hơn ba chục cũng đành gát chân lên nhau nằm luận chuyện đời, những thứ éo le luôn cắc cớ bày ra rồi bàn giao vào mỗi phận số con người. Và gần bốn chục tuổi đầu vẫn xưng em với thằng con trai mới có nhị thập niên, chẳng lấy đó làm điều vui miệng gọi con chim cu mới ra ràng bằng hai tiếng anh ơi! Xem nào, đã đủ lông đủ cánh chưa đây. Ui, thương hết biết. Phàm bọn đàn ông khác đều một hạng lỗ mãng cục súc ưa hành hạ kẻ thất thế chịu nằm dưới. Đâu ai thư sinh dịu dàng như anh. Nói tội trời chớ anh mô phải người ruồi gieo máu lửa, khi nớ cánh hoa thời loạn ắt khó rụng tàn!

Người con gái với tay vặn nhỏ tim bấc ngọn đèn dầu cho bớt sáng trước khi cởi hết áo quần đạp ún thành đống dưới chân. Lòng đò chật, do vậy ánh sáng có yếu bằng cây diêm sinh cũng dư sức táp thứ màu vàng đục lên đôi vú nhỏ, trắng nhợt nhạt. Như loài bò sát, cô chuồi thân mềm mại nằm thẳng đuột đợi chờ. Lần đầu hay răng? Cô hỏi, mắt long lanh trao gửi chút ngờ vực. Ở hạ thể cô thu cất một vũng tối, có dốt môn hình học đứa người trần mắt thịt cũng nhìn ra tụ điểm cân phân một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau. Nếu tính sai thì đổ thừa là vì lông đen mọc rối bời che bớt phần nào cái sắc sảo dễ đánh sập thành quách. Hề, đã gọi là mỹ nhân trong thiên hạ, tự cổ chí kim đều thủ đắc thứ vũ khí chết người kia, hảo hán đi mười phương hành hiệp cũng phải e ngại chừa riêng phương ấy, cổ thi từng gọi: Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!

Năm hạt nút áo tự nhiên làm khó tay lần, quýnh quáng. Cái nịt dùng thắt lưng buộc bụng cũng chướng, gây trở ngại không nhỏ. Đi chơi đĩ, mấy chữ này thật khó êm tai. Rồi ra sẽ đến hạn kỳ tam thập nhi lập, phải tự kiếm cách lo làm nháp trước cho khỏi vướng mắc cuộc tình, đường đi ong bướm đã tường một khi.

Thầy cô giở sách ra dạy: Thân thể người ta chia ra làm ba phần: Đầu, mình và tứ chi. Giáo khoa quả đoán: Chỉ nhiêu đó thôi. Giải thích chút đỉnh: Tứ chi là gộp hai tay với hai chân lại mà thành. Hết. Đâu mà đơn giản vậy cà! Con người chúa rắc rối lắm mà. Kiêng khem tằn tiện quá đáng. Phì nhiêu trù phú trốn đi đâu? Chí ít cũng nên phân định là “người ta” gồm có giống cái và giống đực. Cớ làm sao một bên thì chẳng ra cơm cháo gì trong khi khác giống lại “sẵn đúc một toà thiên nhiên”? Một bên bình nguyên còi cọc bằng phẳng xuôi xị, bên kia lại phồn vinh không giả tạo những hòn non bộ, đèo cao lũng thấp, suối khe cùng rừng lá thấp mê muội đích thị là báu vật của trời ban… Răng đó? Cần giúp một tay không? Dưới tấm chiếu là những thanh gỗ ghép lại thành chỗ ngã lưng. Độ cứng của nó có thể làm mỏi gối chồn chân, nhưng hạng tuổi cỡ lục thập nhi nhĩ thuận mới quan ngại chớ thanh niên trai tráng hồi nào giờ đều dạng ngựa non háu đá. Ngựa cũng có nhiều giống, Xích thố của Quan Vân Trường hay bạch mã của Triệu Tử Long thuộc vào khoa học viễn tưởng, kỳ dư tất thảy đều lệ thuộc vào câu chú: Chạy xa mới hay đường dài. Hối thúc như bị Tào Tháo rượt đuổi thì chóng bở hơi tai, phì phò khịu chân xếp vó.

Người con gái chẳng biểu lộ buồn vui, giọng ráo hoảnh: Biết cớ sự này thì đã nhờ o Thảo bán cho ly rượu thuốc, anh uống để dìu em tới chốn xa. Quanh đi quẩn lại nhịp trống chưa báo sang canh. Thôi đành chờ lần sau, so ra còn khá hơn là phải chịu khóc đầm đìa ngoài biên ải. Cô ngồi dậy, chỉ tròng chiếc áo bà ba đậy điệm nhũ hoa cho khỏi trúng gió rồi vớ lấy cái thau nhựa, kéo nhẹ liếp cửa ở đằng đầu. Mưa vẫn rơi, làm màu đêm vấy trên sông ánh lên sắc xanh huyền hoặc. Lần ra sát mạn đò, cô gái vục thau xuống để múc lên một dung tích đầy vun, động tác thành thục chẳng sóng sánh trào đổ. Ngồi xích lại gần cửa tránh mưa, khum bàn tay hứng nước và khoan nhặt đưa lên đặt xuống kỳ cọ rửa ráy vệ sinh cửa mình. Nếu có hà bá hoặc con cháu thuỷ thần đi hoang bên dưới con đò e chúng cũng kiêng dè cạy mặt người sở hữu lắm hương mùi bụi trần vây khổn. Thau nước qua sử dụng được hoàn trả xuống con sông nổi tiếng Hương thơm. Tiếng nước táp vào bề phẳng trầm mặc của nó bật lên thứ cung bậc nghe sướng cái lỗ tai, cơ hồ vỗ bàn tay vào mông đít lắm thịt. Tuy mênh mông nhưng gây vang ra điệp trùng hồi đáp vọng dội. Bây giờ thì hình tam giác cân đã biến đổi thành thứ hình học không gian có nhiều phương thức chứng minh “ngó vậy mà hổng phải vậy”. Đôi giọt nước còn ngập ngừng ở thềm rêu chưa vội nhỏ xuống, rời đi từ cụm tóc xoắn, rối, bời bời một nguồn cơn khó ráp lại nên câu cú. Chủ nhân lách người qua khe hẹp rồi ngồi xuống chiếu tròng đôi chân vào chiếc quần đen chịu nhiều nếp gấp, bèo nhèo. Mái tóc bị ướt ít nhiều, cô để vậy không buồn lau khô; như bên dưới mãi chịu sự ẩm thấp, tuồng quan niệm “để vậy cho mát em”. Việc trước mắt cần giải quyết là thử ném viên đá dò đường, thăm dò nhằm đuổi khách. Ong đã hút nhuỵ hoa, dù chưa vơi hương mật thì liệu đường mà chờn vờn chốn khác. Bắt chấm mút phải bu vô, đến hồi hết sức chớ tô vẽ trò.

Người ta gầy sòng cờ bạc thử đỏ đen luôn theo tiêu chí thua keo này bày keo khác. Xóc xáo lại bộ bài, chia ván mới.

Cô gái nghe thế liền cười nửa miệng: Mô có ai cản ngăn? Cớ sự là anh còn tiền để chung cho nhà cái không?

Tên em là chi, anh quên hỏi?

Kêu em là Xì-lát cũng được, hay xập xám, hay thùng pha sảnh, tuỳ ở anh cả, em đâu quan hoài, chuyện nhỏ.

Răng không nói em tên Thoa cho anh an tâm.

Đánh bài mà bắt phải khai tên, có ngược đời không? Ừ, em là Thoa đây, có chuyện chi không?

Có chớ, đại sự là đàng khác. Nếu đúng là Thoa thì em chắc nhớ ra một thằng tên là Ngô Văn Đồng. Ba ngày trước hắn thiếu tiền được Thoa cho mắc chịu, chỉ thu giữ thẻ căn cước của hắn làm vật thế chân…

Rồi răng nữa?

Tối nay anh xuống đây có mang theo tiền chuộc.

Đứa con gái cười rộng miệng, cười rung cả vai, rối cả tóc. Đánh bài thì anh có cơ may gỡ lại vốn, nhưng anh chơi em thì khác, một ra đi không trở lại, tiền trao cháo múc. Nghe mắc cười quá, vừa húp cháo vừa đòi lấy lui vật thế chân, tham lam vừa vừa thôi ông thầy. Cái anh chàng tên Đồng nớ đã lạ đời lại quen thêm người bạn thật kỳ khôi. May mà em không phải tên Thoa, em chưa khi mô cho người ta mắc chịu cả. Chịu chơi cũng ở chừng mực mô thôi, chơi kiểu nghịch tặc thì ai mà chịu đời cho thấu!

Có nghĩa là anh ưa gầy cuộc vui lần nữa coi bộ không xong?

Đêm mai hẵng hay, em sẽ dọ hỏi giúp để anh gặp đúng người mà lấy lại thẻ căn cước. Thiệt cả gan! Ra đường không bọc theo giấy tờ tuỳ thân chẳng sợ họ bắt đi lính sao?

oOo

Khi đất nước hà khắc, độc đoán, mê muội, kỳ thị, đày ải, bần cùng hoá nhân dân. Cuối chân tường người ta đào được một lỗ đen, đặt tên: Vượt biên. Rỉ tai nhau: Đánh đổi bằng mọi giá để thoát ra được địa ngục trầm luân này. Hai chữ “vượt biên” mới toanh luôn đeo nặng trong giấc ngủ đầy ác mộng, lắm tính toan. Nó trở thành một ước ao chẳng có gì so sánh được, vô đối. Bao trùm và vĩ đại tới độ phát sinh ra câu thoại cười ra nước mắt: Nếu cột đèn có chân nó cũng bỏ trốn!

Hơn cả vết dầu loang, hơn cả cơn bệnh dịch, người ta đồng loạt đổ xô đi tìm sinh lộ bất chấp tử lộ chực chờ. Nếu vượt biển, động vật hai chân nương nhờ vô ghe tàu, hoặc một vật nổi được trên mặt nước có gắn động cơ sau đuôi bất biết tới sông dài bể rộng. Có kẻ trần tình lời nghe quặn lòng thắt gan: Hãy cho tôi thấy mặt trùng khơi một bận rồi có chết cũng cam tâm!

Muốn ra ngoài cửa biển có ghe chực sẵn để bốc người đi, những đứa “phản bội tổ quốc” phải chung tiền thuê “taxi”- lại một thuật ngữ mới ám chỉ mấy con đò nguỵ trang kín kẽ “đưa người ta không đưa sang sông” mà chạy xớn xác ra gặp sóng biển bạc đầu. “Bóng chiều không thắm không vàng vọt” như Thâm Tâm tả mà phải tối trời không trăng sao, đen như mực tối như hũ nút mới đắt địa. “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật!” Dầu sôi lửa bỏng ai còn lòng dạ mà đùa dai giỡn thật với giả. Tất cả giá trị hiện vật đều bỏ lại, chỉ vác mạng không đóng vai thi nhân làm bài hành về tứ phương vô định. Hành phương Nam của Nguyễn Bính e chẳng thấm thía bằng bài hành của Thuyền nhân: Một là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con. 1: Tự do. 2: Chết. 3: Ngục tù. Chẳng lôi thôi gì cả.

Ngày xưa, cổ nhân đi hành quân sát bên doanh trại địch đóng, muốn bảo mật phải tuân thủ “ngựa thì cất lạc, người thì ngậm tăm”. Giờ đây nằm chất lớp chư cá ương trên lòng đò ướt lưng áo lạnh, con trẻ thì uống thuốc ngủ để khỏi cất tiếng khóc nhè làm bể ổ, người lớn có khấn nguyện thì Nam mô A di đà Phật cứu khổ cứu nạn chỉ lâm râm tụng thầm cho mỗi mình nghe thấy. Đò có gắn máy đuôi tôm vì thồ người khẩm nặng, tiếng lạch bạch vang giữa đôi bờ kéo theo bao nỗi niềm mà dạ chẳng yên để phân định buồn vui đang ngập sóng trong lòng. Chắc rằng mặt sông có xao động cũng chẳng tài nào sánh với tâm thức kẻ cùng khổ đang lặng lẽ trốn chạy. Ba đào dâng lên trong người, say với thứ mà sóng và rượu không đủ độ mạnh làm chao đảo. Người cầm tay lái là một ông già gầy ốm ngồi sau đò, cô gái phụ đỡ ông thì ngồi bên một đống rong rêu cao ngất vớt được tự lòng sông. Tuy có bóng tối can dự nhưng cô ta cũng nhìn nhận ra được đứa “hành khách” nửa nằm nửa ngồi sát bên đôi chân. Một ván bài vừa chia phần mà nhà cái mang tên định mệnh. Vật đổi sao dời, biến thiên dâu bể tới cỡ nào cô vẫn không quên bộ phong tróc ảnh ám nơi thằng con trai đã từng nhờ cô giúp trở thành đàn ông một đêm mưa sụt sùi ngày cũ. Một chút dại khờ đi kèm với lòng thuỷ chung, hắn một mực tìm tới cô để ngủ qua đêm, chẳng ai khác. Không Thoa chẳng Lài, không Xuân chẳng Gái cho dù bốn chị em ấy nhan sắc có đứa mặn mà hơn, thể hình có đứa văm hơn, tuổi tác có đứa son trẻ hơn.

Bắt chước người bạn rắn mắt, hắn từng nhăn nhó gãi đầu đòi để căn cước bọc nhựa ở lại thế chân. Hắn biết cách san bằng hố sâu dị nghị bằng lối đùa nghịch hồn nhiên. Cách hắn tiếp cận, lối xử thế không như hành động một con đực muốn trấn lột, chiếm đoạt con cái. Hắn dịu dàng mơn trớn, như người nữ nằm dưới thân hắn chẳng phải là một ả điếm, thứ vật thể hắn dùng để trút bỏ bao hằn học trong khi hành lạc. Trong đầu hắn tuồng không mọc ra ý tưởng chơi cho xứng đồng tiền bát gạo. Hắn chẳng biết chữ dày vò, dập liễu vùi hoa. Và tới phút yếu lòng cô đã thú thật tên cô cho hắn nghe.

Diệu. Hắn thầm thì. Hắn cũng có bộ nhớ tinh nhạy, nhìn là nhận ra ngay. Hắn kê đầu vào đùi cô, từ tốn rướn thân lên. Chừng như hắn đang mó bàn tay tinh nghịch vào chỗ đó. Chỗ thôi còn là vùng oanh kích tự do, chỗ đã ký kết hiệp định ngưng bắn có hiệu lực đã ba năm. Nôm na là cô ngủ chay chừng đó tháng ngày. Cô theo ông già dùng đò mưu sinh một nắng hai sương, chở cát từ thượng nguồn về, chở rong từ hạ lưu lên, chở gạch từ xí nghiệp sản xuất mang ra chợ… Tóm tắc là lu bu làm thợ đụng chứ không nằm ngửa trên chiếu để mặc cho cuộc đời vấy bẩn tàn phá kiếp hồng nhan. Hắn thăm dò, bàn tay chăm đi hoang. Hắn nói hắn từng trông lui, tưởng nhớ cô, những ngày êm đẹp cũ. Hắn ngỡ cô đã bị dồn đẩy bắt đi khai hoang lập ấp trên vùng kinh tế mới đèo heo hút gió nào đó. Cô nín thinh, ngồi yên chẳng kháng cự. Cô biết hắn sắp liều lĩnh đi xa với cuộc lữ chịu nhiều hoạn nạn.

Lâu rồi đôi vú cô chẳng có tay ai sờ nắn. Bộn bề tháng ngày cửa mình cô, cái hình tam giác lạ thường như cách ví von của hắn, chưa có ai đo đạc mân mê vò rối. Cô hớt tóc trên đầu lắm lần nhưng bên dưới chừng như nó vẫn vậy, vẫn cong xoắn vẫn không mấy dài. Và năm ngón tay hắn đang khiến người cô chao đi, co rút lại. Chưa khi nào cô thèm làm tình với hắn đến vậy. Nếu bị đổ bể, taxi không gặp ghe đợi, tôi sẽ tìm cách đi vào ngục thất thăm anh. Cô nói nhỏ, đủ cho hắn nghe. Dù vẽ ra điềm gở, hắn đón nhận chút cảm động vì lời cô mang đủ chất thành thật.

Hắn moi trong lưng quần ra cái khâu hai chỉ, dự trù bán đi khi tới đảo để đánh về nhà cái điện tín báo tin. Nhưng phần số đã bày ra cuộc gặp gỡ này… Diệu. Diệu cất giữ nó đi, khi mô lấy chồng thì có sẵn, chẳng bợn lòng mà đeo vào ngón tay chứng thực là mình yên bề gia thất. Chỉ xin đánh đổi, hãy thầm nguyện cho anh đến được bến bờ tự do. Áo Diệu có hai miếng vải vá khác màu, ở vai và ở khuỷ tay. Người Diệu nồng mùi nắng dù đò trôi trong đêm mà cửa biển gần kề đang dồn thổi vào một lượng gió mặn muối. Mặn đến chạnh lòng.

Mọi người hối hả bồng bế nhau dồn lên ghe lớn, cao ngất, chòng chành, sóng nhồi, mênh mông con nước rộng doạ dẫm. Cầu trời khẩn Phật cho anh được tai qua nạn khỏi. Diệu nói với một đầu tóc đang bị rối bung. Đó là thời điểm thích hợp nhất để Diệu nhắm mắt liều lĩnh hôn vào môi hắn. Vị mặn ứa từ cửa sổ tâm hồn bò chậm rãi xuống bờ môi khô hụt nhịp thở. Hắn liếm quanh.

Phút cuối rời xa đất mẹ hắn đã thu cất vào buồng phổi lượng dưỡng khí mà Diệu vừa hà hơi tiếp sức. Và đầu mấy ngón tay hắn hình như vẫn nhờn rít chất sữa ngọt thất thoát từ mật khu, từ cửa mình ấm áp Diệu thầm lặng gửi trao. Còn gì nữa mà keo sơn gắn bó!

Hồ Đình Nghiêm

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 39

Sau chuyến đưa má tôi sang Paris gặp ba tôi, Rob và tôi lại sang đó một lần nữa. Chúng tôi tới Paris vào giữa mùa đông giá buốt. Không có tuyết trên mặt đất, nhưng lề đường trơn trợt. Người đi đường mặc nhiều lớp áo. Những người vô gia cư phải chun vô các nhà ga xe điện ngầm để tránh mưa giờ lạnh lẽo. Những người hành khất nầy dù vẫn nguyền rủa trời đất không tiếc lời, vẫn kéo mấy đứa nhỏ ra ngoài để ăn xin. Tôi cho đứa nhỏ 5 Francs, thể là cả đám chạy ùa theo tôi, nhưng tôi đành lắc đầu từ chối. Đám con nít la ó um sùm lên, rồi chạy đi tìm người khác để xin tiền.

Khi còn ở Washington, trước khi bay sang Pháp. Rob hỏi tôi có muốn ở khách sạn Sheraton như lần trước không? Tôi cho biết là tôi không muốn trở thành khách quen của khách sạn đó, vì vậy lần nầy tôi ở khách sạn khác. Sau khi đi loanh quanh một chút và ăn trưa, tôi bắt đầu làm việc. Tôi kêu điện thoại đến trụ sở của phái đoàn Mặt Trận Giải Phóng nói chuyện với Phan Thanh Nam.

Nam nóng lòng muốn gặp tôi ngay, nhưng tôi cho ông tôi phải đi đặt hàng trước rồi mới gặp ông được.

Tôi nói dối như vậy để ông khỏi nghi ngờ. CIA quên giúp cho tôi một “cover”, nghĩa là cho tôi đóng một vai gì để tôi đi đi lại lại Paris như đi chợ. Tôi biết chút ít về chén dĩa kiểu, nên một lần tôi nói cho những người Cộng sản ở Paris, nghề của tôi là nhập cảng chén dĩa của Pháp và Anh Quốc. Hơn nữa, họ nghe tới cái nghề chán phèo nầy, dĩ nhiên không ai thèm chú ý chuyện của đàn bà.

Tôi gọi tới nhà Mimi, vợ chưa cưới của Phạm Gia Thái. Má của Mimi cho biết, tôi có thể gặp Thái ở khách sạn Lutèce, một nhà trọ do chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà quản lý trước khi chiến tranh chấm dứt. Bây giờ là tài sản của chánh phủ Hà Nội và Thái cai quản nơi tạm trú cho các sinh viên Việt Nam du học.

Sau khi tiếp xúc với hai nơi đó, tôi ngủ một giấc để chỉnh lại giờ giấc vì Paris cách Washington 6 tiếng đồng hồ. Sau đó, tôi sửa soạn để đi gặp Rob, như chúng tôi đã định từ trước. Nhớ lời ông dặn, tôi phải hết sức thận trọng, vì lần trước tôi đã công khai tiếp xúc với các cán bộ của chánh phủ Hà Nội. Như vậy, các nhân viên của cơ quan mật vụ Pháp có thể nhận ra tôi. Tôi phải tìm cách đánh lạc hướng họ, như đến một thẩm mỹ viện, hay bất cứ nơi nào đó, cho tới khi chắc là mình không bị theo dõi, thì mới tới chỗ hẹn.

Lần nầy, tôi quyết định không để lại chìa khoá cho nhân viên văn phòng nữa, và cũng không tới hỏi xem có thơ từ gì không. Tôi làm như vậy để phòng hờ, nếu có ai rình rập, không thể biết tôi hiện ở đâu. Rob tất nhiên biết tôi ở đâu, nhưng tôi không bao giờ biết phòng của anh. Tôi nghĩ rằng đó là luật lệ của cơ quan, cũng có thể đó là sự cẩn thận riêng của anh ta. Tôi cũng phớt tỉnh những việc lặt vặt đó. Thiệt ra, nếu ở địa vị ông, tôi cũng phải sợ con gái của ông đại sứ của MTGPMN.

Ngay hôm đầu tiên đi ra ngoài để gặp Rob, tôi thấy có hai người đàn ông Pháp khả nghi ngồi ở phòng đợi của khách sạn. Họ ngồi cách xa nhau. Tôi không rõ họ có phải là điệp viên của Pháp không, nhưng tôi không muốn họ theo dõi tôi từ đường nầy tới đường khác trong thành phố Paris. Do đó, tôi phải đóng vai khách du lịch, hỏi nhân viên văn phòng về chuyện xe cộ để đi thăm thành phố. Rồi tôi cố ghi nhớ gương mặt một tên khả nghi. Tôi vào một tiệm bán đồ kỷ niệm và chờ cho hai tên đó bỏ đi. Nhưng mười phút sau họ vẫn ngồi lì ở đó.

Tôi đành vào tiệm uốn tóc trong khách sạn để làm tóc. Một tiếng đồng hồ sau, tôi ra khỏi tiệm, thấy ghế của hai tên khả nghi hồi nãy có hai người đàn bà Ả Rập ngồi. Tôi cũng chỉ đoán là đàn bà Ả Rập thôi, chứ đâu có biết họ có thật là Ả Rập không, sau tấm vải đen che mặt của họ.

Khi tôi đi về phía trạm xe điện ngầm, thì trông thấy hai thằng Tây khả nghi đi theo tôi. Tôi đi chậm lại để chờ họ. Khi họ tới gần, tôi nhìn thẳng vào mặt họ, rồi hỏi đường đi tới tiệm Printemps, một tiệm bán tạp hoá lớn.

Họ luống cuống, ngạc nhiên và giận dữ, vì tôi đã chặn đường họ lại. Một tên cáu kỉnh trả lời bằng tiếng Pháp:

“Đi mà hỏi cảnh sát, đừng làm mất thì giờ của tôi”.

Tôi phản ứng bằng tiếng Anh:

“Chó săn”.

Họ liền vội vã bỏ đi mất. Tôi thong thả một mình đi về phía trạm xe điện ngầm.

Vì phải kiếm cách “thanh toán” hai tên khả nghi đó, tôi đến chỗ hẹn với Rob trễ bốn mươi lăm phút. Tôi phải đi hai chuyến xe điện mới tới trạm Trocadero, rồi đi bộ tới viện bảo tàng Museum of Moder Art để gặp Rob. Theo lời dặn dò trước của chúng tôi, nếu tôi thấy anh đang ngồi xem báo và hút ống điếu thì tôi có thể tới gặp anh, có nghĩa là từ xa anh nhìn kỹ, tôi không bị theo dõi thì cứ tới gặp anh và bắt tay tự nhiên. Nếu không, có thể ông đã thấy tôi đang bị một kẻ khả nghi theo dõi, tôi phải làm ngơ và đi thẳng.

Tôi thấy Rob đang ngồi trên một bực thềm trước viện bảo tàng, miệng ngậm ống điếu và đang đọc tờ báo Pháp. Tôi mừng quá, vì từ nãy giờ đi bộ mỏi chân rồi. Thấy tôi, anh nói:

“Ê nhỏ, an toàn rồi, không có cái đuôi sau lưng. Mà sao trễ quá vậy?”.

Tôi cho ông biết tôi bị hai thằng Tây theo dõi, phải tìm cách chặt đứt hai cái đuôi dài đó, rồi mới leo lên xe điện được. Chúng tôi tôi vào một tiệm café nhỏ để trao đổi một số tin tức mới. Khách trong quán phần lớn là mấy ông già ngồi chơi bài quanh những chiếc bàn nhỏ. Sau khi nói chuyện, Rob đi bộ đến cầu D’Iena, còn tôi kêu taxi về khách sạn. Tại đây, tôi mua cho Phan Thanh Nam một chai Johnny Walker đen.

Nam tỏ vẻ rất thích khi nhận quà của tôi. Ông cất ngay rượu vào tủ, như cất đồ quý, rồi mời tôi vô phòng ăn trong bếp. Ông mở một chai rượu chát để cùng uống với tôi. Ông nhớ lại lời hứa của tôi trước kia, là tôi sẵn sàng uống rượu với ông khi vắng mặt má tôi. Trong khi ông rót hai ly rượu, tôi để ý túi áo của ông có một gói thuốc lá hiệu Dunhill.

Khi ra khỏi xe taxi ở trước cửa trụ sở của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi không còn thấy lá cờ của Mặt Trận Giải Phóng, mà thay vào đó là lá cờ đỏ sao vàng của chính quyền Hà Nội. Tôi hỏi Nam, tại sao có sự thay đổi như vậy, ông liền trả lời:

“Mỹ Dung, cháu phải nhớ rằng nhiệm vụ của Mặt Trận Giải Phóng đã hoàn tất. Bây giờ cả hai miền Nam Bắc đã thống nhứt”.

Tôi nghe lời ông, như một bài tuyên truyền hơn là một lời giải thích.

“Chú Nam, trên cương vị một nhân viên cao cấp của Mặt Trận Giải Phóng, chú tán thành việc thống nhứt mau lẹ như vậy sao?”.

“Còn chờ đợi gì nữa?”.

Tôi liền nhắc lại lời ba tôi cho biết Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phải có thời giờ để giới thiệuChủ nghĩa Xã hội với dân chúng miền Nam, vì nếu thay đổi đột ngột sẽ gây phản ứng không hay trong lòng người dân.

“Cháu nói vậy là có ý gì?”.

Tôi đáp ngay:

“Như chú đã rõ, dân miền Nam của mình không có nhiều ý thức về chính trị. Hầu như ai cũng biết Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng rất ít người tin rằng Mặt Trận đã giải phóng miền Nam. Người miền Nam cho rằng họ là nạn nhân của Giải Phóng. Bây giờ, nếu chánh phủ Hà Nội quyết định thống nhứt ngay hai miền, thì các cán bộ ngoài Bắc sẽ vô cai trị miền Nam. Điều nầy sẽ làm dân chúng sợ hãi và bất mãn trong lòng. Họ cho rằng miền Nam bị miền Bắc xâm chiếm hơn là giải phóng”.

Nam uống một hơi cạn sạch ly rượu, rót thêm một ly khác, rồi nhìn tôi bằng cặp mắt bực mình, khó chịu, ông nói:

“Vậy là cháu bị bọn đế quốc tư bản phản động nhồi sọ rồi. Thực sự không phải như cháu nghĩ đâu!”.

Tôi nói:

“Chú Nam ơi, cháu chỉ nhắc lời của bác Hồ thôi. Những ý nghĩ của dân miền Nam đều đáng quan tâm. Tương lai của đất nước nằm trong tay những người mà các chú cai trị, không nằm trong tay các chú đâu”.

Ông liền hạ giọng nói nhỏ:

“Mỹ Dung, cháu nghe chú nói đây. Chú nói riêng với cháu thôi. Chú khuyên cháu đừng nói cho ai nghe ý kiến vừa rồi của cháu. Người ta là sẽ hiểu lầm cháu đó”.

“Nhưng cháu tin là chú hiểu cháu, vì chú là người của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà!”.

“Cháu ơi, trong khi vắng mặt ba cháu, cháu đã giao du với những người không tốt, nên cháu mới có cách suy nghĩ như vậy. Nhưng, chú hy vọng từ nay có chú hướng dẫn, cháu sẽ hiểu biết hơn”.

Nói xong, ông nâng ly rượu để cụng với ly của tôi và nói:

“Mừng cho nước Việt Nam độc lập và thống nhứt!”.

Tôi miễn cưỡng nâng ly lên, nhưng đặt ly xuống bàn ngay mà không uống rượu. Tôi cúi mặt xuống để tránh cái nhìn ông.

Trong khi đó, Nam đi vòng sang phía tôi ngồi, rồi nghiêm trang hỏi:

“Dung, cháu cho chú biết chồng cháu có thắc mắc gì vế cháu sang bên nầy không?”.

“Anh ấy rất buồn vì cuộc chia tay của ba má cháu”. Tôi trả lời trật đường rầy, vì tôi không muốn nói láo.

“Vậy chồng cháu có hỏi cháu đã gặp những ai trong phái đoàn của Mặt Trận không?”.

“Anh ấy hỏi cháu có đưa ba má cháu đi ăn tiệm không? Má cháu và cháu ở đâu? Anh ấy cũng hỏi ba cháu có hỏi gì vì sống của vợ chồng cháu không?”.

“Chồng cháu nghĩ sao về cuộc giải phóng?”.

“Lần trước, anh ấy nhờ cháu chuyển lời nói với ba cháu là anh ấy thành thật hy vọng dân tộc Việt Nam sớm hưởng hoà bình thật sự”.

“Hai vợ chồng cháu không nói gì về chánh trị sao? Chồng cháu nghĩ gì về xã hội chủ nghĩa?”.

“Tụi cháu nói nhiều đến chiến tranh và hoà bình ở Việt Nam. Anh ấy hiểu được những đau buồn của cháu. Anh ấy cũng biết cháu khao khát hoà bình cho Việt Nam lắm. Ảnh kính trọng ba cháu và rất quý má cháu”.

Nghe tôi nói vậy, Nam liền hỏi:

“Cháu có nghĩ rằng chồng cháu sẵn sàng giúp các chú khi cần không?”.

“Chú muốn anh sự giúp các chú về việc gì?”.

Nam giải thích:

“Chuyên môn của chồng cháu rất cần cho Việt Nam. Ngành hải sản cần các khoa học gia như anh ấy. Anh ấy có thể giúp chúng ta lập một đoàn nghiên cứu để khám phá những tài nguyên thiên nhiên. Anh ấy cũng có thể giúp chúng ta thiết lập một hệ thống phòng thủ trên bờ biển để ngăn chặn kẻ thù, chống lại tầu ngầm của kẻ địch…”.

Tin nầy rất đáng cho CIA biết. Phan Thanh Nam đang tìm cách thâu lượm tin tức cho chánh phủ Hà Nội, kể cả về tin chống tầu ngầm. Tôi nghĩ, họ trao đổi bí mật với Liên Xô.

Câu chuyện của chúng tôi ngưng lại ở đó, nhưng Nam tỏ ra nôn nóng muốn tôi kiếm cách nói cho chồng tôi biết là ông “cần những tin tức mà các nhà khảo cứu mới phát minh cho các công ty Mỹ” biết cách dò và khai thác dầu mỏ ở bờ biển Việt Nam. Điều thứ hai ông muốn biết, là một bản đồ của Hải quân Mỹ và cơ quan Hải Dương học về bờ biển và tài nguyên thiên nhiên. Cuộc nghiên cứu bao gồm cả kỹ thuật đánh cá và những thói quen của bầy cá trong vùng. Nam huênh hoang kết luận:

“Nếu chúng ta có tất cả những tin tức đó, là chúng ta có cả một mỏ vàng”.

Tôi tưởng vậy là hết rồi, nhưng không, ông lại nói thêm:

“Còn một chuyện nầy nữa, Mỹ Dung à. Vì chồng cháu đang ở trong vùng Hoa Thịnh Đốn, có thể anh ấy giúp chú tìm hiểu một số tin tức. Chỉ cho cá nhân chú mà thôi, vì từ lâu chú muốn biết, làm cách nào và thế nào Hải quân Mỹ có thể đối địch được với Hải quân Liên Xô”.

Tôi ngạc nhiên tự hỏi, không biết Nam đang nghĩ gì về tôi, mà dám đề nghị tôi đi ăn cắp tài liệu mật của quốc phòng Mỹ cho ông? Có thể ông cho rằng, vì tôi yêu thương ba tôi quá, nên tôi sẵn sàng làm bất cứ cái gì ông muốn; hay là trong qua khứ, ai đã gặp ông, kể cả người Mỹ phản chiến, đều sẵn sàng hăng hái làm những điều ông sai bảo. Tôi chỉ trả lời rằng, tôi sẽ nói chuyện với chồng tôi khi tôi về Mỹ.

Sau khi trao cho tôi một bản “liệt kê công tác”, Nam tỏ vẻ muốn giữ độc quyền con cờ mới tuyển dụng nầy. Khi tôi cho ông biết Thái đã đưa tôi đến gặp ông chủ tịch Hội Việt Kiều Yêu Nước là Huỳnh Trung Đồng, thì ông khuyên tôi không nên giao lưu với những hội viên của hội Việt Kiều Yêu Nước ở Paris, hay bất cứ ở đâu, để “bảo vệ ba cháu cũng như sự liên lạc giữa chú với cháu”. Ông còn nhấn mạnh, là tôi không giúp ích gì cho quê hương trong giai đoạn nầy nếu tôi gia nhập vào nhóm Việt Kiều Yêu Nước, bởi vì vai trò của họ sẽ thay đổi, tôi sẽ mất nhiều thời giờ quý báu để hội họp, tuyên truyền, kết nạp đoàn viên để phục vụ cho đường hướng, mà tôi sẽ bỏ phí tài nguyên tôi đang có.

Ông kết luận:

“Hãy dành những thời giờ đó để làm việc với chú. Cháu nhớ rằng có nhiều người Việt yêu nước ở Âu châu, ở Mỹ và ở nhiều nước khác nữa, không tham gia một hội đoàn nào, nhưng lại là những người đóng góp rất nhiệt tình. Bây giờ người ta không biết quan điểm chánh trị của cháu. Họ cũng không biết gốc gác cháu ra sao. Tốt hơn hết, bên ngoài cháu cứ để họ nghĩ cháu chống cộng, chỉ có chú và những người quan trọng trong ngành của chú biết lập trường của cháu mà thôi”.

Tôi hiểu rằng Nam và Thái khác nhau, khi muốn tôi cộng tác với họ. Thái có ý định đưa tôi vô bộ máy ngoại vận. Còn Nam tuyển mộ tôi làm gián điệp cho Hà Nội. Một thì muốn tôi công khai “thân Cộng”, một thì buộc tôi làm ngược lại, phải “chống cộng”. Dĩ nhiên, trước sau tôi vẫn là tôi, người Việt quốc gia ngạo nghễ muôn đời.

Khi báo cáo cho Rob về buổi gặp gỡ giữa tôi với Nam, tôi yêu cầu là vấn đề nầy chúng tôi phải ngồi xuống nói cho chồng tôi biết, vì nó liên quan đến anh. Tất cả những hoạt động, sinh hoạt với FBI và CIA, tôi không đem về nhà nói với chồng hay má và các em tôi. Má tôi tin là tôi làm thông dịch cho cơ quan an ninh của Mỹ, vậy thôi. Hai lý do mà tôi không chia sẻ được: một là luật lệ của hai cơ quan nầy; hai là tôi cố tránh cho má tôi biết đến việc làm của tôi. Dĩ nhiên, nếu má tôi biết nhiều, má sẽ ngăn cản, mà làm sao má tôi ngăn cản việc nầy được, thì má tôi sẽ lo đêm lo ngày, bất cứ lúc nào tôi bước ra khỏi nhà. Cấm tôi không được, thì má sẽ giận rồi bỏ đi ở với một trong hai chị tôi.

o O o

Vừa mở cửa phòng khách sạn, tôi đứng khựng lại sững sờ vì căn phòng của tôi trống trơn. Tôi nhìn cái chìa khoá, trở ra nhìn lại số phòng, rồi bước trở vô. Đồ đạc, va-li của tôi biến mất, cái phòng đã dọn sạch. Cầu tiêu, bồn tắm sạch sẽ, láng bóng như đang chờ người khách mới.

Tôi đi thẳng xuống gặp người làm việc tại quầy của khách sạn. Ông ta làm bộ không nói được tiếng Anh để khỏi tiếp tôi, dù tôi biết những người làm trong khách sạn lớn nầy đều nói được tiếng Anh. Tôi hỏi ông:

“Tôi muốn biết chuyện gì xảy ra trong phòng tôi, và đồ đạc của tôi đâu mất hết rồi?”.

Ông ta không nói gì hết, nhưng có một viên thơ ký khác từ trong chạy ra, vừa cười gượng vừa hỏi:

“Có chuyện gì vậy thưa bà?”.

“Tôi muốn biết các anh làm gì trong phòng tôi, mà đồ đạc của tôi biến mất?”.

“Thưa bà, đây có thể là một sự lầm lẫn”. Hắn đáp với vẻ mặt như tôi là người đi lộn phòng.

Tôi đòi gặp viên quản lý, nếu hắn không giúp gì được tôi. Nhưng hắn cho biết viên quản lý hiện không có mặt ở khách sạn, rồi hắn nói sẽ đi hỏi lại nhân viên.

Tôi cho ông ta biết tôi đi cả ngày, tôi mệt, tôi cần nghỉ ngơi. Tôi vào quán café của khách sạn ngồi chờ. Lúc đó tôi quá bực mình, tự hỏi không biết nên uống một ly sữa hay một ly rượu mạnh để lấy lại bình tĩnh. Tôi không biết đây là một sự lầm lẫn của bồi phòng, hay là mấy thằng Tây của tình báo Pháp lục lạo va-li của tôi bằng cách thông đồng với nhân viên của khách sạn, khiêng va-li của tôi đi một nơi khác để lục, thay vì lục trong phòng của tôi, phòng hờ tôi về phòng thình lình?

Nửa giờ sau, tôi trở lại quầy. Viên thư ký liền nói với vẻ mặt buồn bã một cách giả tạo, rằng có một người khách ở đó đã lâu mà không chịu trả tiền hay không có tiền gì đó, nên họ dọn đồ của người khách đó; không ngờ bồi phòng dọn lộn phòng của tôi.

Tôi nghe thì nghe, nhưng vẫn không tin lời hắn, nên nói:

“Tôi vẫn muốn gặp ông quản lý”.

“Thưa bà, ông Charrière chiều mai mới có mặt ở đây. Bây giờ thì đồ đạc của bà đã được đem về cho bà. Chúng tôi thật xin lỗi bà về sự lầm lẫn đáng tiếc nầy”.

Tôi vẫn bực mình nói:

“Ngày mai, khi nào ông Charrière của ông tới, biểu ông gọi tôi ngay”.

Nói xong, tôi hấp tấp đi về phòng. Tôi đoán, lúc đó có người đang rình ngó trộm tôi.

Tôi khoá chặt của phòng, còn chặn thêm một cái ghế cho chắc chắn. Tôi kiểm soát xem các cửa sổ đã đóng kỹ chưa, kéo màn kín mít, rồi mở va-li ra kiểm soát. Nhưng tôi ngừng lại vì thấy mình làm chuyện vô ích. Người nào lục va-li của tôi không phải là kẻ ăn trộm, mà là người muốn biết tôi là ai, và tới Paris làm gì?

Điều quan trọng là họ không thấy những bản nháp của các báo cáo tôi gởi cho CIA, vì mỗi lần viết xong, tôi thường đốt, bỏ tro vào cầu tiêu.

Tôi chỉ có một sơ suất nhỏ, là còn để trong va-li lá thơ của ba tôi, viết năm 1972 tại Milan, Ý. Đó là lá thơ mà cho đến 1974 tôi mới nhận được, và tôi còn ấp ủ nó cho tới giờ phút đó.

Tối hôm đó, tôi sợ đến nỗi không dám đi tắm. Khi Rob tới, tôi cho ông biết chuyện gì xảy ra. Mặt ông tái xanh, làm cho tôi càng lo sợ hơn. Ông hỏi tôi có muốn đổi khách sạn khác không, thì tôi lại giấu, nói là tôi không sợ, mà cũng không muốn dọn đi khách sạn khác. Tôi nghĩ mình đã ở trên cái đất của thằng Tây rồi, chạy đâu cũng không khỏi. Hồi đó mình xuống hầm núp rồi mà nó còn ráng bỏ bom cho chết, thì bây giờ ngủ trên xứ của nó, nó muốn kiếm, làm sao mà trốn. Chỉ có cái khác hơn thời Tây đô hộ Việt Nam: bây giờ tôi là công dân Mỹ, và ba tôi cùng mấy ông Việt Minh đã đánh bại thằng Tây rồi. Nghĩ vậy, cho qua thì giờ, cho đỡ sợ, chớ quốc tịch gì, công dân của nước nào, làm gián điệp trên đất của người ta cũng đều bất hợp pháp. Thằng Tây nó bắt nó nhốt, rồi Bộ Ngoại giao Pháp mới làm mầu làm mè liên lạc với toà đại sứ Mỹ, hai bên trao đổi gián điệp tép riu, rồi đâu cũng vô đó. Nhưng ít nhứt cũng ngồi tù Tây, ăn cơm tù Tây một thời gian mới được thả trở về Mỹ. Tôi rùng mình khi nghĩ tới đó.

Sau khi Rob ra về, tim tôi đập muốn văng ra khỏi lồng ngực, vừa hồi hộp, vừa giận thằng Tây. Tôi nằm nghĩ đến việc làm của mình, nghĩ đến má, đến Lance và chồng tôi, mà thấy ngao ngán, cô đơn quá. Tôi trở cái gối không biết bao nhiêu lần đêm đó. Sáng ra, tôi quá mệt mỏi sau một đêm mất ngủ.

Tôi phải ráng hết sức lấy lại bình tĩnh, đi ăn một bụng điểm tâm, uống một tách café cho tỉnh táo, vì hôm đó tôi sẽ gặp kỹ sư Huỳnh Ngọc Châu. Cậu Châu là con trai của ông bà ngoại Huỳnh Ngọc Nhuận, người đã cho gia đình tôi tá túc, hồi ở Gia Định. Cậu Châu sang Pháp chữa bịnh ung thư do chính ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Chánh phủ Lâm thời Miền Nam đích thân can thiệp, cho phép cậu xuất ngoại. Cuộc thăm viếng của tôi có hai mục đích: cá nhân và công tác. Tôi muốn tìm hiểu thêm về tình hình Việt Nam và những người lưu vong ở bên Pháp. Má tôi cũng muốn biết tin tức của bà ngoại Nhuận còn kẹt lại ở Sàigòn, hỏi thăm sức khoẻ của cậu. Má tôi quý mến cậu Châu lắm, biểu tôi bận rộn cách mấy cũng ghé thăm và chăm sóc cậu Châu một hai ngày giùm má.

Hồi xưa, cậu Châu được coi như một vị hoàng tử của gia đình. Cậu là một kỹ sư về dầu khí, làm việc cho hãng dầu Esso. Đối với một cô bé 12 tuổi, việc cậu Châu làm gì ngoài đời là việc người lớn, nhưng tôi biết cậu là một người quan trọng ở Sài gòn; cậu đi học bên Pháp. Biệt thự của cậu ở Sài gòn nhỏ hơn biệt thự của ông bà ngoại Nhuận, nhưng tối tân, đầy đủ tiện nghi. Đó là cậu Châu mà tôi nhớ hồi tôi 12 tuổi, cho tới lúc tôi 29 tuổi.

Sau khi ăn điểm tâm ở một quán ăn xinh xắn ngang cửa khách sạn, tôi mua mấy tờ tạp chí và báo hàng ngày để làm quà cậu Hai Châu, rồi đi taxi đến đường Savoie, nơi cậu đang nằm dưỡng bịnh tại nhà của nhạc phụ, ông Cao Minh Chiếm.

Đường Savoie là một con đường nhỏ, nhiều chó và mèo hơn xe cộ. Nhờ sự vắng vẻ của con đường, tôi dễ dàng nhận biết tôi đang bị theo dõi. Mỗi lần tôi quẹo ở một góc đường, tôi thấy một người đàn ông theo tôi vội quẹo sang một con hẻm, rồi chỉ mấy phút lại thấy anh ta lẽo đẽo phía sau.

Tôi không muốn thằng Tây biết tôi tới nhà ông Cao Minh Chiếm. Ông không phải là một ông già vợ thuần tuý như trăm ngàn ông già vợ Việt Nam khác. Ông là một người thiên Cộng. Ông từng có liên lạc với Hồ Chí Minh từ khi có cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Nhưng khi đất nước chia đôi năm 1954, ông ở lại miền Nam và thành lập Phong Trào Nhân Dân Tự Quyết chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm và sự can thiệp của người Mỹ ở Việt Nam. Khí giới của ông là cây viết, với bút hiệu Phi Bằng.

Hậu quả của những người “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” là việc đầu tháng 3 năm 1965, thủ tướng Chánh phủ Việt Nam Cộng hoà, ông Phan Huy Quát đã cách chức gần 50 công chức. Cao Minh Chiếm là một trong hơn 30 người bị bắt giam

Thủ tướng Phan Huy Quát quyết định tống ông và vài nhânvật “thờ ma Cộng sản” ra Hà Nội để làm gương cho những ai “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản”. Vài tháng sau đó, ông Minh Chiếm, bác sĩ thý y Phạm Văn Huyến và ông Tôn Thất Dương Kỵ được đưa tới cầu Hiền Lương; các bà vợ của 3 ông nầy còn được chánh phủ cho bay ra để chia tay chồng, trước khi họ đi qua bên kia cầu.

Sau đó ông Cao Minh Chiếm sang Paris. Sau khi miền Nam sụp đổ, ông rất đau lòng vì cách đối xử tàn bạo của Cộng sản Bắc Việt đối với dân miền Nam và vợ con ông tại Sài gòn. Tôi không biết rõ mục đích của ông Cao Minh Chiếm sống để làm gì cho đời ông và đời người, nên tôi không nói được nữa về ông, chỉ biết là ông có liên hệ mật thiết với nhóm Việt Nam thân Cộng ở Paris và ông đi lại với những người trong hai toà đại sứ của Cộng sản tại Paris. Bây giờ, đào sâu để tìm sự thật về ông Cao Minh Chiếm là việc tôi không nên làm, bởi vì ông đã qua đời, và biết đâu, ông và ba tôi thỉnh thoảng từng ngồi với nhau mà tiếc thương đất nước và dân tộc.

Muốn giữ an ninh cho ông, tôi không vô nhà ông ngay, mà đi qua luôn để tới một tiệm bán thức ăn ở góc đường gần đó.

Tôi biết tôi không thể cà kê trong tiệm nầy lâu được, vì ai cũng vô đây để mua đồ ăn rồi đi ra ngay. Tôi giả bộ kiếm món ăn muốn mua, nhưng mắt vẫn liếc ra ngoài. Khi thấy người theo dõi đã đi qua, tôi mua vội hai hũ kem chua, rồi ra khỏi tiệm. Nhìn trước ngó sau không thấy bị theo dõi nữa, tôi an tâm gõ của nhà số 15.

Một người đàn ông trạc tuổi ba tôi, đẹp trai, cao lớn, lịch sự mở của mời tôi vô. Rồi ông vừa cười vừa nói bằng một giọng dịu dàng:

“Cháu tới chơi, cứ coi như một cuộc viếng thăm bình thường. Xin đừng nói chuyện chánh trị với bác, vì bác đã nói nhiều với người bịnh nầy suốt buổi sáng hôm nầy rồi nhen”.

Dù ông tỏ vẻ rất thân mật, tôi vẫn nghe giọng nói của ông đầy chua chát.

Cậu Châu nằm trên giường, trong cái phòng nhỏ bé đó, đắp một cái mền cũ, cái mền rằn ri của quân đội Hoa Kỳ bán ở chợ Sài gòn Sài gòn. Tôi cúi xuống, nhẹ nắm lấy bàn tay cậu ở ngoài mền.

Cậu giới thiệu tôi với ông Chiếm:

“Thưa ba, đây là Mỹ Dung, con gái anh Minh”.

Ông Chiếm bỗng cười lớn một cách khác thường, rồi nói:

“Chắc ba còn chút hy vọng đây. Không lẽ con gái của một ông Cộng sản lại đi nói xấu Cộng sản trước mặt một người bạn cũ của ba nó, đúng không?”.

Tôi bối rối, vì không biết trước đó hai cha con của ông đã nói gì với nhau, và chuyện gì đã xảy ra?

Tôi nghĩ ông chỉ nói chơi với con rể, nên tôi giữ im lặng. Sau đó, cậu Châu cho biết hai cha con của ông đã tranh luận với nhau kịch liệt Cộng sản và cuộc “Cách Mạng” ở Sài gòn.

Một lát sau, ông Chiếm khoác thêm áo ấm, đội nón, và cho biết ông cần ra tiệm mua đồ. Ông hỏi con rể có cần gì không? Cậu Châu liền đáp:

“Nếu con cần gì. Mỹ Dung sẽ có thể giúp con được, thưa ba”.

Sau khi ông Chiêm ra đi, tôi khoá cửa rồi quay lại với người bịnh đang nằm trên giường. Trên đường đi tới đây, trong lòng tôi mong cho mau tới nơi, để gặp lại người mà tôi mến phục từ lâu. Gia đình cậu Châu đã giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều trong thời gian ba tôi xa nhà. Nhưng bây giờ, nhìn người bịnh nằm liệt trên giường, tôi bàng hoàng tê tái trong lòng. Căn phòng nhỏ xíu, ngổn ngang một vài cái nồi, một lò điện nhỏ để nấu nướng, một chai dầu ăn cũ, một ống đũa và một cái chảo. Ngoại trừ một bàn bếp và bốn cái ghế cùng cái giường của cậu Châu, không còn đồ đạc gì khác nữa. Vậy mà cũng chật cứng rồi. Tôi nhớ tới biệt thự rộng lớn của ba má cậu, với nhiều phòng, mà không còn nghĩ được gì cho cuộc đổi đời nầy.

Tôi quá xúc động, nhớ mới hồi nào cậu trẻ trung, đầy sức sống, vui vẻ thân thiện với má tôi. Mỗi lần cậu tới thăm ba má cậu, cậu đều ghé qua thăm hỏi má tôi. Nhưng bây giờ cậu già quá, già cả trăm tuổi, so với lần cuối cùng tôi gặp cậu. Tôi chợt nhớ lại ông ngoại Nhuận, ba của cậu, cũng bị bịnh ung thư ruột già rồi qua đời không lâu sau khi giải phẩu. Bây giờ cậu Châu cũng bị ung thư như ba cậu, và cũng đã được giải phẫu trước đó vài tháng. Nhưng cậu còn sống, và tôi được thăm viếng cậu là diễm phúc của chúng tôi rồi.

Căn phòng yên tĩnh, trừ tiếng nước bắt đầu sôi trong ấm mà tôi vừa nấu để pha trà. Tôi lên tiếng hỏi để phá tan sự im lặng:

“Có phải bác Chiếm muốn tránh mặt cháu không cậu? Chắc cháu tới không đúng lúc?”.

Cậu Châu đáp:

“Cậu cũng vừa nghĩ tới ổng. Đúng, ổng tránh mặt cháu đó, cũng như tránh mặt tất cả những người sống sót sau giải phóng và có can đảm nói lên sự thật ở Việt Nam”.

Cậu tiếp tục:

“Ba cháu với cháu cũng gặp khó khăn đó khi gặp nhau không? Nhắc tới ba cháu, cậu lại nhớ những ngày cậu ở bịnh viện ở Sài gòn về. Cậu biết ba cháu không hợp với chế độ mới. Theo cậu, đảng Cộng sản Việt Nam thay đổi quá nhiều. Bọn Cộng sản Hà Nội ức hiếp dân miền Nam. Những người trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không còn được trọng dụng nữa. Chúng phản bội Mặt Trận vì chúng tuân lệnh bọn Nga”.

Nói một hơi dài, cậu có vẻ mệt, nên phải lấy gối kê lên đầu và chêm gối sau lưng.

“Ba cháu không bao giờ nói thiệt ý nghĩ của ông”.Tôi nói.

“Vậy mà cậu có may mắn được biết rõ ổng. Cậu đồng ý với cháu, là ba cháu sẽ giữ im lặng. Trong chế độ đó, nếu mình tỏ ra bất mãn, sẽ bị kết tội “phản bội” liền. Ba cháu sẽ không bao giờ có thể từ bỏ được giấc mơ đem hạnh phúc lại cho toàn dân. Ông sẽ cố gắng thực hiện điều đó cho đến ngày ông chết”.

“Cháu rất kính phục ba cháu, nhưng cháu không tin ba cháu sẽ thành công. Một đàng có can đảm giữ vững lý tưởng của mình, một đàng người ta sẽ loại trừ những ai không theo đường lối của đảng và nhà nước. Ba cháu biết rất rõ, rằng chánh phủ Hà Nội sẽ lừa dối, cướp bóc và hiếp đáp dân miền Nam sau khi họ ngưng tiếng hát ca tụng cách mạng. Bây giờ ông vẫn cố gắng tranh đấu cho nhân dân. Thiệt là cô đơn và vô ích”.

Cậu Châu vừa chỉ vô cái thân héo mòn bịnh hoạn vừa nói:

“Cháu nhìn cậu nè. Hoàn cảnh chánh trị của ba cháu cũng giống như bịnh ung thư thời kỳ cuối cùng của cậu. Chắc chắn cậu sẽ chết. Cậu có thể tự tử cho chết luôn đi, mà cậu cũng có thể cứ sống để vui với những người thân yêu. Ngày nào cũng là ngày tốt đẹp đáng quý hết. Cậu đã tốn rất nhiều tiền cho thuốc men để vẫn được nhìn thấy vợ con, mẹ già dù đau đớn. Đôi khi cuộc đời không còn ý nghĩa gì hết nếu cậu không ăn được những món cậu thích, cậu không thể vô phòng tắm một mình như mọi người, kể cả những người đui và điếc. Nhưng cậu vẫn muốn sống, thì ba cháu cũng vậy”.

Nghỉ một một chút rồi cậu Châu nói tiếp:

“Còn đối với ba cháu, nếu ông công khai tỏ vẻ bất mãn với đảng, tức là ông tự tử. Họ sẽ giam ổng trong nhà thương điên. Như vậy, ba cháu còn làm được gì cho những người dân mà ông tranh đấu cho họ? Bây giờ ông còn uy tín, vẫn có thể làm những điều tốt cho dân miền Nam. Ông có được sự bình thản mà hiểu rõ những nhu cầu của nhân dân Việt Nam và quyết tâm làm những điều đó. Cháu không thể đòi hỏi nhiều hơn ở một người đàn ông”.

Chúng tôi ngồi im lặng một lát, nhấm nháp chén trà tôi vừa pha. Rồi cậu cho biết ba tôi đã giúp cậu sang Pháp để chữa bịnh, nhưng sự giúp đỡ lớn nhứt là ông chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ. Ông Thọ còn thúc đẩy các thủ tục tiến hành thật lẹ để vợ con của cậu Châu sớm sang Paris đoàn tụ với cậu. Cậu Châu hy vọng mẹ cậu cũng được đi một lượt với con dâu và cháu nội. Cậu được ưu tiên là đi sớm để chữa bịnh.

Cậu cho biết tất cả mọi người trong gia đình cậu đã sống trong kinh hoàng sau chiến tranh. Khi ba cậu qua đời cách đây mấy năm, gia đình cậu đã dọn về ở chung với mẹ cậu trong ngôi biệt thự của bà ở 38 đường Chi Lăng, và sống những ngày thật ấm cúng. Nhưng thời kỳ “trăng mật với Cộng sản” chấm dứt mùa thu năm 1976.

Một đoàn cán bộ Cộng sản Bắc kỳ, tự mệnh danh là “quân giải phóng” của thành phố mới đổi tên “Hồ Chí Minh” bất ngờ đột nhập vô nhà. Tất cả mọi người trong nhà, kể cả mấy chị giúp việc, bị đưa hết vô phòng ăn có mấy tên mang súng AK-47 canh chừng. Mấy tên cán bộ khác lục lạo cùng nhà. Khi chúng không kiếm thấy những gì chúng muốn, tên cầm đầu hỏi bà ngoại Nhuận giấu vàng và tiền ở đâu. Khi bà cho biết không có tiền gì ráo, thì chúng đẩy bà già bảy chục tuổi té khỏi ghế ngồi, rồi bắt đầu hạch hỏi vợ chồng cậu Châu.

Cuộc xét nhà, lục lạo kéo dài tới tối mà không moi ra được cái gì hết, nên cả đám phát giận, quay lại nạt nộ mọi người rồi kéo bà ngoại Nhuận ra khỏi nhà dẫn đi. Những người còn lại bị đuổi ra khỏi biệt thự, dồn vô một căn nhà ngang dành cho những người giúp việc ở. Bọn cán bộ nói với cậu Châu rằng biệt thự sẽ bị niêm phong để tìm điều tra thêm, cấm mọi người không được vô nhà, trừ các cán bộ “giải phóng”. Tới nửa đêm, đứa con nhỏ nhứt của cậu Châu khóc đòi sữa, cậu Châu năn nỉ cán bộ gác cửa cho phép vô nhà lấy sữa, bị người lính từ chối dù đứa nhỏ đang khóc vì khát sữa.

Suốt một tuần, cậu Châu không biết tin tức gì của mẹ, nên rất nóng lòng. Trong khi đó, đồ cổ và mọi thứ khác trong biệt thự bị bọn cán bộ Cộng sản khuân đi hết. Khi nhà đã trống trơn, mọi người người mới được phép vô biệt thự trở lại. Nhưng chỉ mấy bữa sau các “quan giải phóng” gởi cho cậu Châu một là thơ rất quan trọng “đề nghị” cậu “hiến” căn biệt thự cho chánh phủ cách mạng. Tất nhiên, cậu không thể từ chối.

Vậy mà cậu cũng vẫn không biết tin tức gì của mẹ. Ông phải cầu cứu chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, từng là bạn cũ của cha mẹ cậu. Chủ tịch Thọ phải cho người kiếm mãi mới biết bà ngoại Nhuận bị giam ở Cần Thơ. Như vậy sau một tháng trời, cậu Châu mới được tin mẹ. Ông chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đích thân xuống Cần Thơ xin cho bà ra khỏi tù, rồi đưa bà về Sài gòn. Khi được gặp mẹ, cậu Châu mới biết “Giải phóng” đã ép bà hiến hết tài sản cho họ, gồm có ruộng đất trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, những nhà cho mướn ở Bạc Liêu, nhà may xay gạo ở Cần Thơ… Bây giờ tài sản của bà đã thuộc về của “nhân dân”.

Cậu Châu nói với giọng tức giận:

“Mất hết tài sản, cậu cũng chịu được, vì dù sao bà ngoại cũng đã phải ký để “dâng hiến” cho chánh phủ. Nhưng cậu không thể nào quên được sự tủi nhục khi bọn cán bộ hành hạ bà ngoại trước mặt các con của cậu. Tụi nó la ó với bà ngoại. Tụi nó vô lễ với mợ Hai, không cho vô nhà lấy sữa cho đứa nhỏ. Mấy đứa con cậu sẽ không bao giờ quên được hình ảnh đó”.

Mắt tôi cay, miệng tôi đắng, ngồi nghe cậu Châu kể lại chuyện nước nhà sau ngày Cộng sản vô Nam. Tôi lau nước mắt bằng hai lòng bàn tay, mà không dám nhìn cậu. Không hiểu tôi mắc cỡ vì ba tôi là một trong những người Cộng sản đó, hay tôi cảm thấy thấy tội lỗi vì gia đình tôi chạy thoát nạn trước gia đình cậu Hai.

Lúc đó, cậu mới thú thật với tôi về một chuyện cũ. Vào tháng 4 năm 1975, khi đã sẵn sàng rời khỏi Sài gòn, má tôi đến gặp cậu và bà ngoại để hỏi xem gia đình có muốn ra đi không. Cậu nói với gia đình cậu rằng:

“Bả để cho con lấy kẻ thù, nên bây giờ phải bỏ chạy là đúng rồi, mình phải ở lại với dân tộc và đất nước chớ”.

Bây giờ thì cậu đã hiểu thế nào là “giải phóng”. Nhưng cậu nói rằng việc ở lại cũng có ích, vì các con cậu sẽ không bị Cộng sản lừa gạt nữa.

Đến đây chúng tôi tạm bỏ qua những buồn phiền đau khổ của riêng ông, mà nói tới cuộc sống mới ở Việt Nam. Tiền đổi không kịp trở tay; giá vàng, giá gạo, giá thịt, giá vật dụng, v.v… Tất cả mọi thứ đều tăng giá vùn vụt chỉ trong có mấy tháng trời. Tôi hỏi cậu, tôi có thể ghi lại những gì cậu vừa nói với tôi không? Cậu không những không ngăn cản mà còn khuyến khích tôi nên cho chánh phủ Mỹ hoặc báo chí rõ mọi điều. Đã đến lúc phải cho người Tây phương biết họ ngu ngốc và ngây thơ đến mức nào trong cuộc chiến ở Việt Nam. Henry Kissinger nên mắc cỡ vì đã bị bọn Cộng sản qua mặt và lợi dụng trong hội nghị đình chiến ở Paris. Hà Nội đã điều khiển 85% trong thời gian hội nghị.

Sắp đến giờ ăn trưa, tôi đề nghị tôi chạy ra chợ mua thức ăn về làm cơm, nhưng cậu Châu khoát tay, vừa cười vừa nói:

“Cậu gần chết rồi, nên cậu muốn đến một tiệm ăn ở St. Michel mà cậu vẫn thích để được ngồi cùng với người của cậu”.

Nói xong, cậu ra khỏi giường, kéo tấm màn che lại để thay đồ bên trong. Tôi phải buộc giây giày cho cậu vì bụng cậu vừa mới rút chỉ còn đau, cậu không thể cúi xuống được. Tôi giúp cậu mặc cái áo choàng ngoài khá nặng. Sau đó, chúng tôi đi bộ tới một tiệm ăn nhỏ ấm cúng. Cậu phải vịn chặt cánh tay tôi để đi cho vững.

Cậu Châu kêu một chai rượu Côte du Rhône. Chúng tôi nhâm nhi ly rượu mà không muốn thời gian đi qua. Tiệm ăn nầy ở gần khu Sorbonne, khiến cậu nhớ lại quá khứ. Cậu cho biết, nơi đây ngày xưa cậu bắt đầu làm quen với chủ nghĩa Cộng sản, mà ba má cậu cũng đã là cảm tình viên rồi. Sau đó cậu Châu cưới một người vợ cũng có cùng một chí hướng với cậu. Mợ Châu cũng đã bị công an thời ông Thiệu bắt bỏ tù, vì bà ủng hộ MTGPMN.

Với một tâm hồn đau khổ trong một thể xác bịnh hoạn, cậu Châu lết gót đi bên cạnh tôi để trở về đường Savoie với căn phòng hẩm hiu cậu đang tá túc. Trên đường về, chúng tôi ghé qua một tiệm sách, một tiệm bán dĩa hát và một tiệm bán tranh vẽ. Trời âm u nhiều mây ảm đạm, khiến tôi nghĩ đến nỗi đau khổ mà đồng bào của tôi đang chịu đựng ở trong nước. Tôi muốn về ngay khách sạn, đóng kín cửa để cách biệt với thế giới bên ngoài, cố quên đi nỗi buồn xót xa trong lòng.

Với sự giúp đỡ tận tình của ông Nguyễn Hữu Thọ, mẹ và vợ con cậu Châu được phép rời khỏi nước Việt Nam để sang Paris đoàn tụ với cậu. Gần một năm sau, cậu Châu từ trần.

o O o

Tôi mở tung của phòng khách sạn, làm nó đập vô tường, rồi dội trở ra, gây nên một tiếng động lớn. Tôi làm như vậy với mục đích doạ kẻ nào đang ở trong phòng tôi. Nhưng mọi sự đều bình thường, va-li của tôi vẫn ở vị thế khi tôi ra đi. Tuy vậy, tôi vẫn cẩn thận bước vô phòng.

Một bình bông thật lớn, thật đẹp để trên bàn nước ở phòng khách. Ủa! Hôm nay đâu có phải là sinh nhứt tôi! Sinh nhựt Hồ Chí Minh còn những ba tháng nữa mà. Bên cạnh bình bông bằng pha lê, có một tấm thiệp của ông quản lý khách sạn André François Charrière, viết cho tôi bằng chữ Pháp như sau: “Avec compliments, nous souhaitons de continuer très agréablement votre séjour au Paris Hilton”.

Đó không phải là cử chỉ xin lỗi chân thành. Hay ông quản lý đã cộng tác với kẻ lục xét đồ đạc của tôi? Tôi không biết nó là cái gì.

Trong khi tôi đang suy nghĩ vẩn vơ, thì Rob bỗng ghé qua. Sau khi tôi chỉ cho Rob bình bông, anh ra dấu cho tôi giữ im lặng. Rồi anh xem xét kỹ các bông hoa, từ cánh xuống cành. Khi xem hết hoa, ông đổ nước trong bình vô bồn rửa tay để coi đáy bình. Lúc đầu tôi nín thở, chờ xem ông kiếm thấy vật gì trong bình bông. Nhưng đến bông thứ tư thì tôi cười bò ra, vì tôi thấy hài hước quá. Nếu thằng Tây nó có muốn gài máy nghe, thì trong phòng nầy có cả ngàn chỗ cho nó gài, chớ làm gì mà phải tặng hoa mới có phương tiện gài máy nghe lén? Khi ông đã xem xét xong xuôi, tôi hỏi:

“Anh kiếm cái gì vậy?”.

Ông đáp nhỏ:

“Tôi nghĩ có thể người ta gài máy nghe lén”.

Tôi lắc đầu mà cười ông trùm CIA. Tôi đổ nước vô bình rồi cắm bông trở lại. Tôi hy vọng không có gì thay đổi, để người rình rập không biết. Vừa lúc đó, lại có tiếng gõ của. Thì ra ông Rob vì bận kiếm máy nghe lén nên quên không cho tôi biết ông xếp của ông ở Paris muốn gặp tôi. Mấy tháng nay ở trong toà đại sứ Mỹ, trong một góc phòng của CIA, người ta hay nhắc tới “ngôi sao” của gián điệp, nên hôm nay ông xếp của ông tại gặp “ngôi sao”.

Cuộc gặp gỡ của chúng tôi ngắn ngủi, ông Andrew muốn biết thêm về Phan Thanh Nam. Mấy ngày trước, Rob đã đem cho một bản kiểm kê nhiều câu hỏi về Phan Thanh Nam, gồm những đặc điểm về thể chất, cá tánh, thói quen, những hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Cái gì có thể làm ông sa ngã. Cái gì làm cho ông phản đảng.