Dê thiếp giấc mùi

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Dáng núi mờ chận cuối đường. Nắng hiếm khoanh vùng, chan đổ để nhuộm riêng màu núi sẫm. Lung linh chen cài thứ cảnh sắc của diệu vợi, một báo hiệu ngái xa. Nó sẽ xanh gam diệp lục hồi nào chân bước kề cận, thấy mây quần trên đỉnh và tai có thể vọng nghe tiếng chim kêu vượn hú hoang sơ. Cuối năm đất trời thường bạc nhược, uể oải một nguồn sáng thoi thóp trốn tìm.

Mùi dừng xe khi nhát thấy một người bước đi trên con đê đất đỏ đâm thẳng góc tới giao lộ Mùi chống chân đợi chờ. Kẻ bộ hành đội nón lá sần sùi, chắc không phải nón bài thơ. Quần xắn lên ngang đầu gối, bên vai đeo chiếc túi vải bèo nhèo, dáng đi nhanh nhẹn đang thu ngắn khoảng cách. Đen đúa, rắn chắc, dáng vẻ như người địa phương.

Cho tôi hỏi nhờ đường tới làng Linh Phụng còn bao xa?

Hắn quan sát Mùi, ngó chiếc xe máy lấm bụi đất.

Gần tới rồi đó, cứ đâm đầu chạy thẳng, hai bữa sau thì quẹo trái, sang ngày thứ ba thì bắt gặp tấm biển báo Phụng Linh Sơn.

Hắn như còn có điều chú thích khác. Không nói ra, chỉ đứng gần Mùi, tỏ vẻ đợi.

Anh thiệt là biết nói đùa. Mùi cười.

Gì? Nghiêm chỉnh đấy. Ai rỗi hơi đi bày chuyện.

Hắn moi từ túi vải ra chai nước. Óc ách màu vàng đục sủi bọt.

Đường xa mắt lé thế nào cũng cần thứ để giải khát. Nước suối Sơn Linh đấy, đun sôi với gừng thái lát mỏng, thứ đặc sản. Uống vào ấm bụng chẳng sợ sương lam chướng khí. Lấy thảo anh hai chục ngàn thôi.

Đây chả cần uống nước thì sao?

Thì mười thiên anh buộc phải trả khi mua xong một lượng thông tin bày đường chỉ lối. Nhất trung ương nhì địa phương, người ở đây chẳng bao giờ biết tới chữ miễn lệ phí cả. Chúng tớ không biết tới xin đểu và nhớ đừng nói chữ làm ơn với cám ơn cho rách việc.

Đây không có tiền thì phải làm sao?

Chẳng ai vào Linh Phụng mà đi mạng không cả. Anh ưa trò cá độ chăng? Anh dắt trong người chí ít cũng mười triệu. Tui mà nói sai anh có quyền chặt đầu tui đi cho chó gặm.

Mùi nhìn cái túi vải của hắn, không chừng trong đó chứa đựng hung khí. Súng tự chế bắn đạn bi, vật sắc nhọn, dao bén chẳng hạn.

Tui trao cho anh miễn phí một lời khuyên, ấy là bất luận đi đâu xa chớ nên làm độc hành thiên lý. Cái cô đơn nó vốn chẳng an toàn, người ta chết bởi lẻ loi, chuyện đó xưa nay gần thành một chân lý.

Mùi mặc áo gió có bốn túi, quần cũng thế; thuộc loại cái bang tám túi. Tiền xé lẻ linh tinh cất nhiều nơi nên buộc phải lu bu cố nhớ, định vị từng ngăn chứa trên dưới, phải trái. Lóng cóng quên bén, hấp tấp lôi ra nguyên một nạm tiền thì xong om. Mười ngàn, chuyện nhỏ. Nó cuộn mình trong túi quần phía tay trái.

Thực sự thì chả cần xơi nước cho thông cần cổ sao? Ông anh có nhiều chất xám đấy. Hắn nhận tiền và nói. Uống nước này vào sẽ mụ mị đầu óc, sẽ quên đường đi lối về, sẽ giao trứng cho ác ngay. Từ đây xuôi vào trong ấy mất chừng nửa ngày đường sẽ có một túp lều tranh chợt hiện, quán “Cô Chủ Mồ Côi” hẳn là nơi lý tưởng cho anh tấp vào xả bầu tâm sự giũ sạch bụi đường, thôi nhịn đói nhịn khát bấy lâu. Ừ, nếu xe cần uống thêm xăng nhớt thì cô chủ mồ côi cũng có sẵn nhiên liệu để phục vụ khách bụi luôn thể.

Hắn thôi nói, như kiểu bảo mật, sợ tiết lộ thông tin nhạy cảm ra bên ngoài thì vấp tới điều luật cấm kỵ. Hắn xua tay. Thời giờ là vàng bạc, chạy đôn chạy đáo kẻo năm cùng tháng tận đang đuổi sát lưng. Mùi rồ ga phóng vội trên đoạn đường đất xấu, hình như điện đóm cũng chưa giăng dây vào tới hương lộ này. Nó lặng lờ chả màng tới ánh sáng của văn minh bủa vây. Trong gió táp lui có mùi bùn tanh quyện lẫn chút hương đồng cỏ nội, ngầy ngật, thắc thỏm. Xuân trốn biệt chốn cô quạnh, xuân ưa chộn rộn quần tụ vào nơi phường hoa đô hội. Heo may, chút sương mỏng rịn ướt, màu vàng ấm hiếm muộn của mặt trời gọt thành tia nhọn cắm xuống ruộng nước bỏ hoang chẳng mang chút không khí để mường tượng ra bao điều liên hệ về Tết. Thậm chí quanh đây vắng bóng một tấm băng vải đỏ dán hàng chữ vàng “Mừng Đảng Mừng Xuân” như thành phố người ta loay hoay đi bày binh bố trận cả tháng trước, rợp trời sắc lửa nực nội. Nói tình ngay, Xuân sẽ “lộ hàng” trong nay mai. Nó đang thong thả bước tới, nó sẽ hiện diện theo định luật bất biến thì hà cớ chi anh phải ép uổng nó, trấn áp nó. Và nó tủi thân biết dường nào khi anh đặt chữ đảng to đùng trước diện mạo nó. Anh kỳ thị, phân chia đẳng cấp quá khó bề trông cho đặng mắt. Nó về, một năm chỉ đôi ba tháng dừng chân. Còn đảng thì chẳng phải anh mừng nó mút mùa lệ thuỷ đó sao. Mừng muôn niên dẫu biết nó sắp sụm bà chè. Đợi nó lột dên cháy bu-gi hỏng xi-lanh hư con heo dầu đứt thắng rồi hẳn thành kính tiếc thương cũng chưa muộn. Tết là tục lệ thiêng liêng, anh bảo thế. Anh vui xuân, tạm quên nhiệm vụ chút đỉnh thì có chết thằng Tây nào đâu mà lo xa, nhỉ. Đừng bắt người ta treo cờ trước nhà, nên rỉ tai đồng chí chớ nên quá chén để lái xe điên đi đâm liên hoàn thường dân vô tội nhẫn nha hái lộc đầu năm.

Rất gian nan, rất tốn kém, may sao Mùi truy tầm đúng mục tiêu. Căn nhà gạch bệ vệ trốn mình sau hai hàng cây cau trồng sánh đôi. Vài con bươm bướm bay chập chờn trên những chậu bông vạn thọ. Và gia chủ là người đàn ông lực lưỡng đứng cắm chân giữa sân lát từng viên đá đẻo vuông vức xếp huê dạng như một bàn cờ. Ông dạng chân, trụ người xuống tấn tựa hồ mới đi xong bài Thái cực quyền. Tay buông thỏng, mặt giãn nở, thở hơi dài nguôi ngoai.

Không ngờ tên tuổi của kẻ hèn này lại vang dội ra tới chốn kinh kỳ. Quả là anh có biệt nhãn đã tìm đúng đối tượng. Chỉ manh động chút rào cản, rằng anh nắm bắt được giá cả chưa? Thông qua việc căn bản nọ, mọi thứ khác vận hành suông sẻ, dễ như lấy đồ trong túi ra.

Xe tắt máy, xe ngơi nghỉ, nhưng khối động cơ sắt thép kia vẫn âm ỉ toả lan thứ nhiệt lượng hừng hực, xua đuổi phần nào cái lạnh của một vuông sân lát đầy đá cứng, trơn láng. Hoa cảnh xô bồ ép uổng trong chậu cũng thế, tê tái vây bọc một nỗi niềm, dường không muốn khoe sắc.

Dạ, xin anh cứ đưa ra một con số. Mùi ấp úng. Nếu nó là hàng độc như giang hồ đồn đãi thì chẳng uổng công tôi trèo đèo vượt suối.

Bọn tôi sống được nhờ vào nghề gia truyền này và tâm nguyện chớ nên mua gian bán dối kẻo tổn đức phụ lòng cha ông. Anh cho xin mười sáu triệu, tính luôn cả vật bảo quản khi phải di chuyển đường dài dằn xóc.

Mười sáu triệu?

Phải, không hét giá mười tám hoặc hai mươi. Con số khiêm nhượng ấy cũng tựa như gái ở tuổi mười sáu. Thơ ngây, trinh trắng… Anh hiểu ý tôi nói không?

Chủ chẳng hứng thú mời khách vào nhà dùng tạm chén trà nguội nhấp môi. Có hai cái đôn bằng sành kê bên ngạch cửa, là nơi toạ mông cả chủ lẫn khách. Cửa nhà không đóng, bên trong tờ mờ những đồ vật ngó chẳng ra hình thù, rõ nhất là một câu đối viết chữ phung phá kiểu thư pháp rối ben bù trất một ngụ ý. Mơ mộng, hoang tưởng kiểu “Xuân này hơn hẳn mấy xuân xưa”.

Tuần trước, tôi đã xắn tay áo hạ thủ cắt tiết sáu con dê ngó sung mãn lanh lợi nhất trong bầy đàn. Đã gia công lột da, ngâm tẩm hương liệu bí truyền, đã ninh lửa nhỏ trong năm canh giờ và đã chia sớt đều đặn ra mười phần theo quy định không thừa chẳng thiếu. Nói bỏ lỗi chứ có ông đại gia thứ mười một chậm chân tìm đến đường đột gõ cửa xin thỉnh khẩu phần thì e phải xôi hỏng bỏng không tấm tức ra về do phận mỏng vô duyên. Mười sáu triệu, than ôi, tiền ấy thu giữ khư khư trong ruột tượng để mà làm gì cơ chứ! Món lẫu nấu với thuốc Bắc của tôi, nói lộng ngôn, ăn vào có thể khiến họ cải lão hoàn đồng hoặc chí ít thì họ làm hài lòng năm thê bảy thiếp trong khung thời gian hạn hẹp của một đêm xuân lắm mộng. Có đứa hoài nghi, tôi khuyến mãi cho nó húp chút cặn đáy nồi, thế là trên đường về cố quận, đương sự đã đâm đầu dầu sôi lửa bỏng vào quán “Cô Chủ Mồ Côi” chứng nghiệm thực thi ngay binh pháp mùa Xuân đại thắng. Cô chủ rên la dậy đất trời, ngồi đây mà nghe được một người khóc một người cười từ quán vắng gửi về bất tận độ rùng khi cả hai vượt tới đỉnh vu sơn.

Mùi nuốt nước bọt ngó thằng cha “treo đầu dê bán thịt dâm” quảng cáo món ăn bổ dưỡng thuần dương do lão ninh hầm y như tên mãi võ Sơn Đông chào hàng thuốc trị sán lãi rậm rật ở góc chợ có con khỉ cầm dù đú đởn nhảy hót trêu ngươi phụ diễn. Mẹ nó chứ, gói thuốc xổ sán linh nghiệm ngần ấy mà giá chỉ có tám ngàn chứ mấy. Thuốc trị đau răng trong uống ngoài thoa thì vỏn vẹn có mười ngàn, bám trụ và tiêu diệt địch tận hang ổ, nghe sướng rêm người mà chỉ có người bu coi chả ai moi bọc chi ra xu hào nào trớt, ế ẩm phiên chợ chiều, cái mới lạ. Đằng này khi tiếp thị cứ dùng đơn vị toàn là triệu, nghe nhức óc với cơ man nào là con số không sắp hàng nối đuôi dài thậm thượt. Nhưng đã lỡ tới đây, ta dại ta tìm nơi vắng vẻ mà đi mạng không về lại chốn lao xao nọ thì e sẽ gặp cảnh nhức mình nhức xương với lão ta. Đành phải tiền trao cháo múc ngậm bồ hòn làm ngọt đi không há lẽ trở về không!

Tứ thời xuân hạ thu đông tôi vẫn chôn đời chốn này bất di bất dịch, vậy thì về nhậu lai rai mà cơ thể chẳng sôi máu ưa đi làm cách mạng thì có quyền trở lại đây mà xỉ vã mắng nhiếc, ưa làm tình làm tội bản thân hoặc gia đình giòng họ thì cứ việc rêu rao. Người xưa có ngôn: Tiền nào của đó, hoặc ăn gì bổ nấy thì e người nay phải nên chấp hành tin tưởng vào sự trải nghiệm ấy. Kết tinh từ kinh nghiệm đau thương chứ chẳng đùa.

Chủ bưng ra một cái nồi đất có vuông giấy đỏ dán khằn lên nắp đậy như kiểu cầu chứng hàng xịn. Nhìn là biết chả phải hàng nhái. Ngó là biết giá đắt phỏng tay. Quanh nồi có chêm giấy báo thay cho chữ “xin nhẹ tay, hàng dễ vỡ” và rồi bao nhiêu là dây nhợ cột thắt chồng chéo, để cuối cùng chúng nằm gọn trong cái bao ny-lông.

Anh đi xe máy thì tôi tặng không cái túi vải để móc vào tay lái cho an toàn. Dưới đáy nồi có phong thư dặn dò cách hâm nóng, liệt kê những thức tránh ăn chung khiến phát tán bao uy lực, làm giảm hiệu quả ông xơi bà khen hay. Đấy, chỉ ngần ấy, chẳng còn gì để nhiều lời. Anh trở về bình an, ba ngày Tết ăn chơi thả giàn thích đáng cho bỏ ba trăm sáu mươi ngày làm phận trâu bò cày bừa tắt quạt trong năm Ngọ.

Chủ chắp tay sau đít thong thả bước vào nhà, chậm rãi cửa đóng then cài, điệu bộ của kẻ xem thường thế sự đảo điên. Tiền cất nặng bọc mà chân đi khinh khoái tựa ngộ ra vạn điều trên cõi thế đều nhẹ tợ gió thoảng mây bay. Khách khác, bao điều ngờ vực chất chứa khiến nặng lòng, như đeo đá tảng. Khởi động xe máy, tiếng nổ của nó tuồng hậm hực ít nhiều, không giống như phút ban đầu mang Mùi lướt đi với sự cựa mình của Xuân thấp thoáng đó đây. Tết nhất làm chi, ai bày? Cũng như ai đặt ra thông lệ hằng năm phải kiếm cớ “phong bao” dâng lên cho sếp?

Mùi về lại phố đúng vào đêm Ba Mươi, xém phải lỡ thì bước qua đêm trừ tịch. Thủ trưởng cơ quan đang vui hưởng liên hoan có rượu bia có sơn hào hải vị có gái gú có ca ra ô kê và dĩ nhiên ông ta thử coi trời bằng vung. Ông đang làm hoàng thượng của quán nhậu Đỉnh Cao. Ăn có gái đút, uống có gái dâng cốc tận miệng, rỗi đôi tay ông dùng để nắn cái này bóp cái kia. Trước, ông là anh hùng du kích, việc lùng sục chẳng lạ gì với đôi tay luôn ngứa. Ông bảo ngày đầu năm tao sẽ phá trinh đứa con gái của thằng bảo vệ cơ quan đưa tới “lì xì”. Đêm cuối năm, cái tao cần đồng nghĩa như một thứ thần dược. Trước khi bắn ai, mày phải chùi súng, thông nòng, vô dầu mỡ, kiểm tra đạn dược… Ông tìm lời để diễn ý, băng hăng bó hó, cà rịch cà tang, chậm lụt líu lưỡi, nhưng Mùi cắt ngang: Dạ em hiểu. Xin ông thầy cho phép được vắng mặt cơ quan ba hôm để kiếm tìm linh dược. Và đến hẹn lại lên, Mùi bước vào bàn tiệc đúng thời điểm, tự tin hơn cả một sứ giả ái tình. Mùi dâng lên món dương vật cùng dái dê hầm thập cẩm nhân sâm cam thảo nấm đông cô táo Tàu rong biển hạt sen rượu vang đỏ… và không quên vo ve bên tai sếp, cái nồi nhỏ bé kia giá chỉ có hai mươi nhăm triệu, thắp đuốc tìm không ra cái thứ hai. Nhất dạ lục giao sanh ngũ tử so ra chẳng bì được, kẻ trao hàng cam kết, đại ca nếu bất bình có thể vui tay để chặt đầu tui xuống.

Đại ca chưa nhậu nó nhưng nghe xong bản báo cáo hành trình gian khổ để truy lùng của ngon vật lạ mang về dâng hiến thế phong bì lót tay của thằng đàn em, ông đã xô đẩy hai đứa con đứa con gái ăn vận xiêm y lơ là sang bên để rảnh tay ghì ôm vào vai thằng em út xé gió vừa trở về trong đêm lạnh. Năm tới tao sẽ đề bạt mày lên làm trưởng phòng một bộ phận không nhỏ trong cơ quan ta. Trước mắt, để thưởng công, mày có quyền tha đi một con bé mà mày cho là hợp nhãn dùng vui vầy trửng giỡn đêm dài trừ tịch.

Mùi với tay nhặt lấy một cốc rượu đầy có sẵn trên bàn nhậu. Tợp một phát đánh ực, khà một tiếng thống khoái tợ lửa chui ra khỏi mồm. Mùi sờ nắn vòng một vòng ba của một cô gái trang điểm diêm dúa, đạt chỉ tiêu xong liền báo cáo với thủ trưởng: Em duyệt con ghệ này.

Mùi nắm tay con bò lạc đứng lên, kéo lại nơi tập trung nhiều nguồn sáng. Trước khi về nhà nghỉ đón giao thừa, Mùi nói, hai ta nên chụp hình tự sướng một phát. Cái bang tám túi sờ soạn một lát rồi lôi ra được chiếc điện thoại thông minh. Màn hình nhạy cảm cất giữ ảnh chàng ôm nàng sát sao, ngực nàng vun đầy, hở hang. Chàng cười nhắm trít đôi mắt thoả thuê. Trên đầu hai đứa có giăng tấm biểu ngữ đỏ hơn cả vết son bôi môi: Còn Đảng còn mình.

Anh tên gì vậy cưng? Anh tên Mùi. Mùi là sao? Là dê đó phỏng? Eo ôi, danh bất hư truyền, em chúa có cảm tình với loại dê xồm như hạng người anh. Sếp anh chưa thanh toán ba triệu trả công em. Tới đòi ổng tiền rồi mình về nhà nghỉ tới bến. Ba triệu? Chuyện nhỏ, em khi anh cũng chừng mực nào đấy thôi, anh dư sức qua cầu. Nè, dê nó khác heo rất xa, nhớ? Mùi phải bảnh hơn Hợi. Em chửi anh đồ dê chúa thì ô kê, chứ em mắng anh đồ con lợn thì anh cực lực phản đối. Ông sếp anh tên Hợi đấy. Chán ốm! Nói xong Mùi chửi thề: Mẹ nó chứ, biết vậy tao xơi trước một hòn dái dê rồi hẳn trao thuốc tiên cho mày sau. Con này như một em chân dài e phải nên húp linh dược trợ lực kẻo phí của giời. Mẹ nó chứ, phải nói thế này mới thức thời: Còn dương vật dê thì còn mình. Thiếu nó, em nó bỏ mình, chê ỏng chê eo em lặn mất tiêu. Khi đó chỉ có nước gầm mặt mà thi phú cho nguôi nguồn cơn. Hề, đời vắng em rồi vui với ai! Vui Xuân ư? Mẹ rượt, nhìn quanh chúng sinh thấp cổ bé miệng, đời là bể khổ tối ngày cứ vác đơn đi khiếu nại. kiện tụng đòi bồi thường chuyện soán nhà đoạt đất. Trăm dâu đổ đầu tằm. Vui cái đếch gì?

Hồ Đình Nghiêm
Mồng bốn Ất Mùi

Dê kêu bên núi

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Độc đạo quanh co, trước khi dẫn vào huyện lỵ, bày cheo leo bên sườn đồi cô quạnh một mái tranh. Chữ “Hút Gió” viết kiểu thư pháp hiển lộng trên bề mặt một thân gỗ bị xẻ đôi. Vết cắt ngọt tựa hồ nó bị thanh kiếm bén phạt ngang. Hút gió thấm mực đỏ, treo dưới mái tranh, đi qua thương hiệu ấy là chân dẫm vào quán rượu đèo heo thường chẳng đông bọn người dụng tửu giải sầu.

Nó hiện hữu, xắn vào đồi làm vỡ ra, lem nhem màu đất vàng, xâm thực lấy, cào cấu vào mảng màu xanh của cỏ cây vốn bạt ngàn phồn thịnh xuôi đổ về muôn trùng. Do vậy cái góp mặt của nó chẳng hài hoà cùng cảnh sắc, nhưng chính sự phá hoại thiên nhiên kia đâm ra cần thiết cho bọn người giang hồ lấy chân làm bạn đường, đi dong duổi tứ phương mưu cầu một danh lợi, một miếng ăn luôn chồng chất, nặng gánh hành trang. Đi mãi thì phải có lúc dừng, mà hoãn đãi sự di động kia không có chỗ nào thuận lợi bằng bước vào một lữ điếm, một quán nhậu. Buông tấm thân nhuốm bụi đường xuống ghế, đợi ba hồn chín vía trở về cho lòng được thư giãn mới lộ thần sắc của kẻ rổn rảng bạc tiền. Tay đập xuống bàn, nội lực còn dồn ra ở cửa miệng: Tửu bảo, rượu. Ngần ấy thôi, gượm đã. Chờ cái thằng người lưng cong mãi quen phục dịch kia xuất hiện đứng sát bàn mới dóng tiếng đòi hỏi thức nhắm đồ mồi bắt miệng sau.

Mùa xuân như chực chờ phía bên kia núi, chốn đây hàn khí vẫn còn đi la đà trên đầu cây ngọn cỏ. Có những loài cây vô danh sớm ra hoa, thứ bông nhỏ nhít trắng vàng tím mãi lắt lay trong gió. Chẳng biết nhắn gửi điều gì. Chúng tầm thường tới độ người ta đâm phụ rẫy một hương hoa thầm kín lẫn tan trong sương, chờn vờn giữa không khí thứ mùi tinh khiết, khu biệt một nỗi niềm mà ở trong huyện lỵ sầm uất kia chẳng tài nào có được. Những kẻ não nề cảnh bon chen danh lợi rũ áo từ quan vẫn thường tìm nơi cô quạnh mà vui thú điền viên. Đêm hôm hoa nở sân trước một cành mai khiến họ hạnh phúc. Tinh mơ sân sau vẳng lại tiếng thanh tao của loài chim lạ về hót rộng lòng khiến họ đê mê. Ôi chao, sao giữa cuộc đời ô trọc này lại có hạng người muốn thủ đắc cho riêng mình thứ niềm vui nhỏ bé đến dường ấy? Nhưng hạnh phúc là gì? Có phải là đã chắt lọc qua bao đớn đau? Hoặc giả người ta quay lưng với bao phiền muộn nhưng phiền não vẫn mãi tìm ra cớ để tìm đến, để chứng thực một chân lý vĩnh hằng: Trên đời này làm gì có hạnh phúc. Anh tưởng tượng ra nó rồi chính anh rước lấy nỗi bẻ bàng. Thích Ca vỡ lẽ: Cái cuộc lữ đầy bất bình này chưa chắc đã hiện hữu, niềm đau khổ hằng dấy lên trong tâm cũng từ mộng tưởng mà ra.

Sẽ gặp mùa xuân, sẽ cố giũ bỏ những niềm riêng trong đêm trừ tịch. Cái ấy thuộc thì tương lai. Ngày mai đầy hy vọng chuyện tốt lành, nó chưa tới thì hôm nay hoạn nạn đón đầu là lẽ thường, không trốn tránh được. Vào giờ ngọ, quán Hút Gió hôm ấy nhiệt náo cảnh khách vô ra không gián đoạn. Khách chẳng phải là bọn lái buôn, không nốt những lữ thứ dáng vẻ thư sinh về quê sum vầy ba ngày Tết cùng gia đình, tận hưởng niềm vui cho bỏ những ngày cơ cực tha phương. Khách thuộc loại đặc biệt, áo xống gọn nhẹ có dắt hung khí quanh thân, chẳng ngại phô bày thân phận. Khách xa lạ mặt lưu dấu vết dặm trường phong sương cũng có, khách ăn vận chỉnh chu người địa phương từ trong huyện lỵ bước ra cũng đủ đầy. Khách không nói năng, không đập bàn quát tháo sai bảo. Khách nhu mì ngồi có thứ lớp, chỉ ngó, chỉ quan sát, chỉ dòm chừng, chỉ dõi trông. Chỉ đôi mắt là hoạt động, kỳ dư những bộ phận khác thảy ngơi nghỉ. Quả có khác thường. Đi lại trên giang hồ đã lắm phen, kinh doanh mở quán Hút Gió này đã thâm niên, chung đụng bọn thảo khấu hoặc giới hắc bạch bộn lần, đây là lần đầu trong đời lão chủ mới ngó ra cái dị hình dị tướng không dưng tới quây quần trong Hút gió tửu điếm. Đang viết dở câu đối nghênh xuân, lão phải dừng tay để thu vén giấy mực. Quan sát một lát, sau cùng lão nhắm một trung niên diện mạo xem chừng tử tế dễ nhìn nhất để lân la thu ngắn dần khoảng cách. Xin hỏi quý khách có gì sai bảo? Gã trung niên không thay đổi sắc diện, nói mà chẳng nhìn mặt lão: Thằng Hạ đâu, sao không thấy? Thưa khách quan, nó xin nghỉ làm ba hôm đón xe về làng thăm cha già mẹ yếu. Tết nhất ai cũng có nơi sum vầy, bổn quán rồi cũng phải đóng cửa để cúng kiến ông bà ông vải ông Thổ địa ông Thần tài ông Quan Công… Dài lời! Khách mắng. Không có nó phụ việc, ông nhắm một mình lo liệu việc củi lửa chiên xào dọn mâm rót rượu xuễ không? Dạ được, nghề của chàng mà. Hề hề hề. Lão chủ cười theo câu nói ngỡ là thậm duyên dáng. Tốt, một đĩa bò xào cải làn, một đĩa bê thui, một đĩa cánh gà chiên giòn cùng năm cân Mai quế lộ. Trước mắt là thế, sau đó để ta hỏi lại cái bao tử xem sao.

Chủ quán quay lưng, đi ba bước thì bàn trong góc có kẻ mặc đồ dạ hành ngồi thu lu như một oan hồn khuất mặt vọng ra thứ khẩu ngôn lạnh lẽo: Cho ta một chén cơm trắng, một quả trứng luộc, một chén nước lã và ba cây nhang. Lão chủ há miệng ra, trong thiên hạ tuyệt không có một hàng quán nào bày ra cái thực đơn quái dị kiểu ấy. Nuốt sao xuống? Đạm bạc tới mức nên càm ràm. Thê tử ở nhà sẽ đáp ứng đòi hỏi đi kèm lệ tuôn hồi nào gia cư bất hạnh kia có ông chồng vừa hồn du địa phủ. Giọng vị khách nọ rổn rảng, chậm rãi, rõ mòn một và quá đỗi nghiêm túc, tịnh chẳng nghe ra chút bông lơn đùa bỡn. Trong sát na, lời thỉnh cầu nọ đã có hấp lực kéo giật ba mái đầu ngó tới nơi xuất phát. Kẻ ngồi góc quán không lấy thế làm điều, lại chậm rãi ra yêu sách: Hãy nhanh tay lo liệu món ta gọi trước, vì nó thậm đơn giản. Không cao lương mỹ vị, chẳng nhiêu khê cầu kỳ tạp nhạp đòi hỏi phải động nồi động niêu.

Trung niên diện mạo tử tế ho khan: Người huynh đệ kia ngôn vậy là đi ngược với trình tự sản xuất. Thử hình dung một xã hội xếp hàng cả ngày mà kẻ đứng sau lại nhận hàng trước thì sự phân bố kia có phải là ngược ngạo, làm rối cái xã hội chẳng công bằng? Ta gọi đồ nhắm trước thì việc cúng quảy của huynh đệ xin hãy nán đợi đôi ba canh giờ. Đã đi lại trên giang hồ ắt trẻ lên ba cũng biết tôn trọng luật chơi. Người anh em chưa nghe câu “tiên hạ thủ vi cường” sao?

Xưa nay ta vẫn quen chứng kiến việc đảo lộn. Đứa ngu dốt nắm vận mệnh thằng trí thức, Chăn trâu thành đại gia và tư bản giẫy chết phải táng gia bại sản. Hừ, thực tế là nên giải quyết những giản đơn trước, rắc rối cầu kỳ chẳng phải một sớm một chiều là gặt hái thành quả ngay. Xin cứ thế mà tuân thủ, chớ biện minh cự cãi.

Lão chủ quán đứng ngây người chờ đợi một hạ hồi phân giải. Năm hết tết tới, lão tuyệt chẳng muốn ngó thấy bào ảnh của đao kiếm loang loáng. Mà mỗi khi sát khí ràn rụa vung vãi ra thì ắt phải có tuồng máu đổ thịt rơi trong nội vi mần ăn của quán lão. May thay sự căng thẳng đã kịp chùng lại, kẻ mặc đồ dạ hành thoắt cái đã cắm chân trước con lộ vắt ngang Hút Gió. Hắn đội đầu giữa nắng trưa như kẻ ngáng đường kịp lúc mọi người trong quán nghe được tiếng vó ngựa rõ dần đang thu ngắn cự ly. Xa tới gần là bóng ngựa trắng, cỡi thân nó là đứa vạm vỡ mặc tuyền sắc vàng. Áo vàng quần vàng, thậm chí đốc kiếm nhô ra sau vai cùng loáng màu kim loại đắc tiền. Ngựa trắng hí lên tiếng kinh ngạc khi bị ghìm dây cương, thở hào hển. Con lộ chẳng nhỏ nhưng chẳng hiểu sao cả người lẫn ngựa không thể lạng lách để tránh cái bóng đen thù lù đứng làm vật cản. Vắn tắc là qua không êm, khựng đứng, dáo dác, hồ nghi, nực nội.

Nhà ngươi có biết ta chăng?

Nhiên.

Thường, những kẻ mỗi khi đã ngộ ra thân phận ta, những kẻ ấy phải cúi đầu lẫn tránh.

Không có ngoại lệ?

Cũng có, đôi ba trường hợp, nhưng tiếc thay…

Tiếc?

Vì những kẻ ấy không thể xác tín điều ta nói, chúng đều đã chết. Ngươi chẳng sợ chết?

Nhiên. Còn ngươi? Ta đồ là tâm ngươi đang gợn sóng. Ngươi chết, bao của cải vật chất bấy lâu thu vén tích trữ sẽ trôi sông đổ biển. Không thụ hưởng được, liệu có đau lòng!

Người vận y phục tuyền sắc vàng đưa tay lui sau để rút cây kiếm báu ra khỏi vỏ.

Phàm giết người ta ít nói năng, chỉ dụng kiếm sau khi hỏi đối tượng: Ngươi có biết cây Địa táng thần kiếm này chăng?
Nhiên. Ta còn biết thêm điều khác là ngươi sẽ thi triển mười sáu chiêu thức của Công an kiếm pháp. Công lực của thứ võ học kia thâm hậu chỉ riêng trong phạm vi huyện lỵ kia. Bước ra địa phận ấy, nơi chốn mông quạnh này, thứ nội lực kia e chỉ mang ra hù doạ trẻ con.

Bàn tay nắm Địa táng kiếm có hơi run. Bởi bản thân đứa ấy vừa ngộ ra chuyện giản đơn, đó là xưa nay chúng sống theo bầy đàn, tách tập thể thế cài răng lược đó ra, chúng yếu đuối trong đơn lẻ. Chúng nương nhờ nhau để làm mưa làm gió, một cá nhân đi lạc, cá nhân ấy không có lối về.

Ngươi là ai?

Là người có nhiệm vụ mang ngươi đi xa. Hãy yên tâm lên đường vì ta đã gọi một mâm cỗ, họ sẽ mang ra đặt trên đầu nằm của ngươi. Ta hứa sẽ đắp mặt cho ngươi, đốt ba cây nhang, chẳng đến nỗi lạnh lẽo.
Thuận Thiên sứ giả là ngươi? Người mặc tuyền sắc vàng còn muốn nói, còn rất muốn cà kê dê ngỗng dài dòng nhưng hung khí trong tay đứa mặc hắc y không cho phép. Gã gục xuống, chống oằn thân kiếm để khỏi đổ thân, hai mắt mở trừng đầy nghi hoặc. Người giang hồ nói: Chết mà không nhắm mắt, e có lý do.

Kẻ hạ thủ dùng chân đạp tử thi ngã lăn ra. Đưa tay sờ soạn để nhặt được một túi tiền. Ta không là hạng thảo khấu, ta giết ngươi không vì đồng tiền. Ta lấy, chẳng qua ngân lượng kia nào còn thích hợp cho ngươi. Ta lấy, dùng nó trả tiền cơm nước cho ngươi, còn bao nhiêu ta sẽ phát cho bá tánh. Ta sẽ tới Vô Sân lâm tự ký gửi. Câu nói chấm dứt tương đồng với chiều dài khoảng cách từ ngoài lộ bước qua cổng tranh. Kẻ mặc hắc y đặt hai nén bạc trên quầy: Cái ta đã gọi xin hãy đáp ứng chu toàn, lão lo hậu sự giùm ta. Giết người là thứ luôn làm ta đắn đo, vì thế ta rắp tâm bày chút lễ vật cho nạn nhân, gọi là lịch sự tối thiểu.

Quán Hút Gió im thin thít không ai vọng động. Họ ngồi đây với mục đích khác. Vã, nhìn cách động thủ của gã hắc y thì ngồi câm như thóc là giải pháp vẹn toàn khi muốn mưu cầu sự bình yên. Chộn rộn sẽ dấy lên hồi nào cái bóng đại sứ của tử thần di dời biến mất khỏi quán. Chẳng ai còn lòng dạ đòi hỏi món này món nọ thúc hối bày trò nhậu nhẹt, yên cho lão chủ bắt nước luộc một quả trứng, xới vung chén cơm, cắm ngập đôi đũa, đốt ba cây nhang đi ra sân nắng loay hoay làm bữa tiễn đưa đúng thủ tục. Cái thây kia lý ra không xứng để đón nhận lễ vật, chẳng qua thực thi một nguyên tắc không dời đổi của sát thủ thì đành lòng nhắm mắt nghe theo. Ai chết dưới tay y thì kẻ đó đáng chết lắm vậy!

Y đến không ai hay mà cách y thôi hiện hữu cũng đáng ngờ. Như hòn đá ném xuống mặt sông, sóng đồng tâm loang ra khoảnh khắc rồi con nước trở về nguyên dạng một mặt phẳng, lặng tợ hồ thu. Tửu khách trong quán dụi mắt, ngỡ là ảo ảnh. Rượu chưa được nhấp môi mà cảnh vật quay mòng như chất men dự phần để che choáng mục quang, mơ hồ, hư thực. Trung niên có diện mạo tử tế chép miệng: Ta lưu lạc rày đây mai đó đã mòn bao nhiêu đôi dép nay mới mục kích ra hoạt cảnh này. Quả là đi một ngày đàng học một sàng khôn, trong thiên hạ vẫn còn đó hạng người ưa bẻ gấp một điều lệ, ưa xé vụn một trang nội quy. Ngẫm lại, chốn giang hồ này đầy rẫy cường hào ác bá là do bởi người người đều một dạ cúi đầu dĩ hoà vi quý. Đó là nhược điểm để nuôi sống cái ác. Con nhà võ học thảy co cụm lại với chỉ tiêu tự đề ra, chỉ rèn luyện thân thể, kỳ dư việc thế thiên hành đạo thì nhắm mắt, không thấy không nghe không biết không nói không bàn cãi không phẫn hận. Sống vậy, há có nên chăng? Rượu, rượu đâu?

Bắt tay ông Táo, bắt chân bà hoả thì khó việc chiên xào nấu nướng củi lửa mất thời giờ, chứ rượu, a hèm, chỉ việc mang nguyên bầu chứa chất men ra thôi, chẳng hao công lực. Sóng sánh rót tràn cốc, cụng liên tu kỳ trận. Uống cho mặt đỏ, cho mắt ngầu đục, cho miệng nói thánh nói tướng, âu cũng là cách dìm chết bao nực nội dồn nén chẳng biết cách xả oá. Rượu vào lời ra là một chân lý, nhưng thứ chân lý kia anh chỉ có quyền nói ra ở chốn quạnh vắng như chốn này, nơi không ai đưa lưỡi gươm lạnh kề vào cổ. Huyện đường có ngục thất hoành tráng, nhưng đa phần chỉ nhốt chật bọn phàm phu tục tử, bọn ăn cắp vặt. Kẻ thức thời như đứa cụt lưỡi bởi kẻ thức thời chẳng dại bầu bạn với thiên thu. Một ngày sau chấn song chẳng phải là ngàn năm ở tận cõi ta bà này sao?

Một đứa ngồi chung bàn với trung niên tử tế nói: Lạ, sao đến giờ này vẫn tịnh không ngó ra mục tiêu. Trung niên bảo: dục tốc bất đạt. Ngôn là ngôn vậy chứ kỳ thực dạ có hoài nghi. Đứa thủ lãnh luôn biết cách ăn nói để đàn em dưới trướng thôi hoang mang. Qua chén rượu thứ hai, trung niên đưa ra câu hỏi: Gửi một lá thư mà cánh nhạn chưa mang hồi âm về, giải thích cách nào? Đứa kia chùi miệng: Một, không có người nhận. Hai, thư đến sai địa chỉ. Ba, nhạn kia chẳng đi tới đường. Đúng vậy, ta nên xem tên mặc áo vàng kia là con nhạn la đà. Nó đi khai thông con lộ, dò đường. Chiếc xe kia sẽ khởi động hồi nào ngó ra cái an toàn do tên áo vàng mang tới. Xe án binh bất động vì xe đã lường ra điềm bất thường. Nôm na, cái xác ngoài kia đã làm kế hoạch phục kích của chúng ta bất thành. Ngoài con lộ này còn lối mòn hướng tây bắc dẫn vào thị trấn, e chúng ta đành phải nhọc thân một chuyến xem sao. Đường có hơi xa, chịu khó quên vụ bỏ thức ăn vào bao tử. Uống rượu suông liệu mấy huynh đệ có run tay kiếm? Không sao, tính chuyện đại sự trước. Xong việc, tha hồ nhậu nhẹt trửng giỡn kỹ nữ suốt năm canh.

Cả bọn đứng lên, trả cho Hút Gió cái an lành khu biệt nó hằng chiếm giữ. Bọn con buôn đi chợ chiều sẽ ghé ngang, tấp vào, sẽ vô tư đòi hỏi thức này món nọ loạn cào cào. Lão sẽ vui vẻ phục vụ, nhưng muốn được thế, trước mắt lão phải tìm cách dấu tạm, nguỵ trang cái xác gớm ghiếc kia. Tử thi nọ khi còn tại thế luôn quấy rối bọn con buôn, nhưng không cứ là toàn bọn sẽ ăn mừng khi ngó ra. Bôi trơn cho nó quen rồi thì nó du di cho mình đi lọt. Nó chết, một thằng đầu trâu mặt ngựa thế chân thì bổn cũ soạn lại, rồi phải quan hệ tình cảm, phải phong bì, phải chìu chuộng những đòi hỏi rắn mắt của hắn ta. Tiền trao cháo múc một lần đã mòn hao cuộc lữ, đã phai nhạt xuân tình. Cứ mãi tái lập trò chịu đấm ăn xôi thì e trần gian sẽ chuyển đổi thành địa ngục mất. Ta không vào địa ngục thì ai vào? Vào một lần, trầy trụa. Vào hai lần, toe tua. Vào ba lần, mữa mật. Sống trong đời mà sao bắt ta cứ mãi dọ chân bước xuống bậc cấp tăm tối đến nhường ấy? Quan huyện đề xuất câu thoại: Ánh sáng cuối đường hầm thì duy thành phần ăn trên ngồi trốc mới mãn nhãn, phận ta lý lịch ba đời đều thui chột đành phải làm hiệp sĩ mù nghe gió kiếm thôi. Hoa cứt lợn có đời hoa thối. Chó chạy rông có đời cầy tơ. Người ngợm này có lập trình riêng của số phận nó vậy!

Ngày xưa có đứa vì đọc ngược một cuốn bí kíp, đọc lộn xộn không chương hồi, từ sau ra trước mà sinh tẩu hoả nhập ma, thủ đắc riêng mình thứ võ công bàng môn tả đạo quán thế thiên hạ. Ngày nay, giang hồ xao xác vì lắm đứa cũng một nòi đọc lộn khẩu quyết, chúng có ngàn lẻ một chiêu thức để hạ thủ và kẻ thua cuộc chết vì tức tối, hộc máu vì lường không đặng cách chơi. Lâm trận không nắm ở chuôi mà đưa tay nắm chặt đằng lưỡi. Ngón rụng, cửu chỉ thần công biến thành nhất dương chỉ, rồi thoắt cái bị cắt mất tứ chi. Hình nhân tàn phế chỉ biết ngữa mặt lên trời ràn rụa nước mắt: Con thật bất hiếu với song thân, cha mẹ sanh ra toàn vẹn là thế mà chẳng đủ sức giữ gìn cái báu vật nọ. Xuống suối vàng chỉ ngại tía má chẳng còn nhận biết ra con.

Kẻ mặc hắc y vì muốn giữ nguyên vẹn hình hài nên y ngộ ra, chỉ duy một cách, là để bảo vệ, không còn phương thức nào khác là y phải đối kháng. Không chung đụng với guồng máy vận hành kia, tự nguyện đứng về phe nước mắt. Nếu thác đi, sự lên đường nọ chẳng làm hổ thẹn tiền nhân. Y xé gió đi qua rừng cỏ tranh, y đổ thân xuống sườn đồi, một hang động tối đen nằm cuối đường chờ y bước vào. Có đôi nam nữ lấp ló đứng đó thoáng mừng vui khi ngó thấy y. Nam mang tên Hạ, là đứa hầu bàn trong quán Hút Gió, hắn hỏi: Tin tức đệ trao có sai trật không? Y bảo: Đúng, tuyệt đối. Có một sự việc khiến ta bất ngờ là quán đông chật một bọn người mặt mày hung hiểm. Ồ, có thể chúng nó chờ chiếc xe mang tặng vật cùng á phiện dâng cho quan huyện ngang qua để đánh cắp. Nữ tiếp lời: Nghĩa là chúng không quấy rầy tới huynh? Không. Y nói. Hạ tháo từ lưng ra một bọc vải: Chuyện huynh làm rồi sẽ gây ra căng thẳng. Trong vòng chu vi hơn trăm trượng thế nào chúng cũng bố trí người kiểm soát vào ra thị trấn. Cách hay nhất là huynh nên ẩn mặt một thời gian. Trong này chứa đủ mọi thứ để huynh thong dong đi qua biên giới. Nữ nói, muội sẽ đóng vai vợ hiền nắm tay huynh đi thảnh thơi như thể dã ngoại ân cần thăm thú cảnh nước non. Hãy lột bỏ y phục ấy, cải trang thành kẻ quen việc cấy cày. Có được một con trâu mà dắt cày qua núi thì tuyệt đẹp.

Y phân vân, hết ngó Hạ xong lại đặt để mắt nhìn sâu vào mặt nữ: Em theo ta không quản ngại gió sương? Tuồng như em quen sống nơi phồn hoa đô hội, dầm mưa giãi nắng đi theo, ta quả áy náy như đứa phạm lỡ lầm khó thứ tha. Không, ơn anh làm sao em trả nỗi, giết được tên từng làm nhục đời em thì giờ có chết đi em cũng mãn nguyện, nhất là được chết trong vòng tay của huynh. Hạ không can ngăn, Hạ chẳng đưa lời khuyên giải, hắn chỉ hối thúc, dùng dằng là điều bất lợi, sớm lìa bỏ hiện trường nhanh chừng nào tốt chừng đó.

Hắn đưa đường dẫn lối, bày vẽ suối khe nên băng qua, con lộ nên lãng tránh. Y ôm hắn bằng đôi tay đầm ấm của hảo bằng hữu. Cỏ tranh cao ngang đầu, gió vi vu gửi tiếng sắc lạnh ngoài vành tai. Hắn cúi đầu tạm biệt bằng câu thơ: Xin chào nhau giữa con đường, mùa Xuân phía trước miên trường phía sau.*

Tạm kết:

Quán Hút Gió thôi hiện hữu sau buổi ấy đúng tuần lễ. Chủ quán mang thân lưu xứ qua huyện lỵ khác mưu sinh bằng nghề bán cháo lòng. Hạ làm phu đào huyệt, di dời mồ mã, dựng đặt bia đá, coi sóc một nghĩa trang chôn lắm kẻ qua đời. Những mái đầu xanh sớm chết bởi vô vàn lý do: Ngộ độc thực phẩm. Chích ngừa cảm mạo bị nhầm thuốc. Phá thai bị nhiễm trùng. Ăn liên hoan nhìn đểu bị giết. Bị tạt a-xít sau trận đòn ghen. Bị hiếp rồi bóp cổ bịt miệng trong nhà nghỉ dưới tay thầy chủ nhiệm. Bị xe điên cán nát thây. Bị nhà đổ sập đè người. Bị triều cường cuốn trong mưa lũ… Không một ai hay về số phận của đôi nam nữ vượt biên. Có thể họ cũng chết bên ngoài quê hương. Không chừng, biết đâu họ sẽ trở về, một cái Tết nào đó. Họ rũ bỏ tháng ngày tăm tối để giờ này khoác thân áo gấm bỏ tiền làm hoàng thượng một đêm ngự thuyền rồng trôi êm đềm trên dòng Hương soi chiếu đủ đầy dung mạo những phận nghèo da diết đời đời đeo đẳng. Điệu hò Nam ai ảo não còn đó, chì chiết than trong đêm lạnh. Tin rằng y vẫn còn sống, vẫn thắng được hoàn cảnh vì có bận ngồi trong quán nhậu, y đã từ chối món thịt dê. Y ngôn: Có ai lại đi xơi bổn mạng mình. Tại hạ tuổi Mùi, Quý Mùi, và các huynh đệ nên nhớ câu này: Tuổi Mùi không chùi cũng sáng. Tin ta đi.

Hồ Đình Nghiêm

* thơ Bùi Giáng

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 30 Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Bài 9

Giặc Mùa

Năm 1787, Nguyễn Ánh (sử gọi là Nguyễn Vương) từ Xiêm La về chiếm đất Gia Định (tên gọi chung miền Nam hồi bấy giờ), củng cố việc cai trị rồi cho quân đánh phá đất Qui Nhơn là căn cứ địa nhà Tây Sơn. Đích thân Nguyễn Ánh ra đánh Qui Nhơn ba lần, kéo dài khoảng chục năm. Tuy nhiên, cứ mỗi năm, Nguyễn Ánh cho binh tướng giong thuyền ra đánh phá, quấy rối nhà Tây Sơn vài bận.

Việc quân lính Nguyễn Ánh ra đánh miền Trung là phải dùng thuyền, nên phải chờ tới gió mùa. Về mùa đông, gió mùa đông bắc (gọi là gió Bấc) thổi mạnh, thường có gió lớn, có khi có bão, lại rét buốt thì binh lính được nghỉ ngơi. Chờ khi hè tới, có gió mùa tây nam thổi tới. Gió nầy gọi là gió Nồm, hay còn gọi là gió Nam (“May được nồm nam cơn gió thổi” – “Con cuốc vào hè” – Nguyễn Khuyến), thuận buồm xuôi gió, quân chúa Nguyễn ra đánh phá vùng Qui Nhơn.

Vì chờ có gió mùa thổi mới đem quân đánh nhau, nên sử gọi là “giặc mùa.”

Người dân thấy cảnh anh em nhà Tây Sơn tranh giành nhau, cũng ngán. Vã lại xứ Đằng Trong là đất đai chúa Nguyễn, do các chúa cho khai phá mà có, nên lòng người còn nhớ ơn chúa Nguyễn lắm. Sau khi bị nhà Tây Sơn đánh đuổi năm 1775, chúa Nguyễn chạy vào Nam, người dân vẫn mong có ngày chúa Nguyễn lại trở về, nên hồi đó có câu ca dao:

Lạy trời cho nổi gió Nồm

Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra. 

Đó là nói chuyện giặc mùa ngày xưa.

Thời kỳ tôi ở Rạch Giá – Kiên Giang, cũng có giặc: hai bên Quốc Gia – Cộng Sản đánh nhau theo mùa, tôi cũng gọi là “Giặc Mùa”.

Về Kiên Giang được ít năm, theo dõi tình hình Việt Cộng hoạt động ở đây, tôi nói với nhân viên:

“Mình đi đánh giặc ở đây cũng là giặc mùa. Tới mùa cày, (tiếng địa phương), chúng nó (tức là Việt Cộng) thua thuế máy cày; tới mùa lúa (tức mùa gặt, tiếng địa phương), chúng nó thu thuế nông nghiệp. Cứ mấy chỗ có máy cày đang cày, mấy cái cà-tang (chỗ gom lúa) mà rình tụi kinh tài, thế nào cũng trúng mục tiêu. Chắc ăn.”

            Kiên Giang đất rộng người thưa, tình hình hơi yên ổn một chút, mặc sức làm ruộng, dân chúng tương đối sung túc. Việc làm ruộng ở đây cũng theo mùa, mỗi năm có hai mùa: Mùa cày và mùa gặt, – thường gọi là mùa lúa -. Tụi Việt Cộng cũng theo đó mà thu thuế. Chúng nó thu “ác” lắm, dân tình nhiều khi không khỏi ức lòng, “chảy nước mắt”.

            Ở vùng Cái Sắn, bên phía kinh Thạnh Tây (dinh điền Cái Sắn phần lớn nằm dọc theo kinh Thạnh Đông. Kinh nầy chạy theo trục lộ Rạch Giá – Hà Tiên. Phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, cũng có một con kinh song song với kinh Thạnh Động, tên là kinh Thạnh Tây. Tới mùa lúa, sau khi gặt xong, lúa gom lại thành vòng tròn rồi cho xe máy cày chạy cán lên lúa, hột lúa rời ra. Sau khi xóc rơm quăng đi, lúa gom hàng đống, có đống cao như ngọn đồi, người ta gọi là cà tang lúa. Cà tang, có lẽ là tiếng Miên.

            Đêm khuya, Việt Cộng từ phía Thạnh Tây, Cờ Đỏ tìm ra mấy cà tang lúa bắt chủ ruộng đóng thuế nông nghiệp. Không ai muốn yên thân mà không đóng thuế cho Việt Cộng được. Không đóng thuế thì bị chúng bắt, bị tù, có tiền chuộc mới được tha. Khi tôi về vùng nầy khoảng từ cuối 1972 đến khi “đứt phim”, chưa thấy ai bị giết, có lẽ kinh nghiệm sống cho người dân biết phận mình là phải đóng thuế, chẳng ai tránh được.

            Bên phía tây, là xã Tân Hội, quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang thì dân làm ruộng bên phía đồng Huệ Đức (quận Huệ Đức, tỉnh Long Xuyên). Đồng Huệ Đức sát xã Tân Hội. Tình cảnh dân chúng cũng vậy. Chuyện bên nầy, tôi sẽ kể sau, khi tôi viết về xã Tân Hội. Độc giả muốn đọc xin chờ bài sau.

Nói chung, toàn bộ tỉnh Kiên Giang – tỉnh lúa gạo và cá, tình cảnh dân chúng giống nhau. Tư Trạng, quê ở Vàm Rầy, xã Đức Phương, quận Kiên Lương, có kể nhiều chuyện cho tôi nghe. Trước hết là chuyện Tư Trạng làm nghề chủ dựa (vựa) tràm.

Nhà Tư Trạng kế nhà chị Tư Nết. (tên Tây là Annette). Dân chúng không rành tiếng Tây, gọi tắt là chị Tư Nết, vì “chị” ấy thứ Tư, con ông chủ Ri (tên Tây là Henry – dân chúng cũng gọi tắt). Nhà ông chủ Ri ở Vàm Rầy đã bị phá mất, chỉ còn cái nền gạch và mấy ngôi mộ trắng nằm gần đó. Hằng năm có người chăm sóc, sơn quét đàng hoàng. Hồi nhỏ, Tư Trạng cắp sách đi học với chị Tư Nết trong ấp nên hai người có quen biết nhau. Tò mò về gia đình vợ ông đại tướng thủ tướng, tôi hỏi chuyện Tư Trạng nhiều lần, khi anh ta bị bắt giam vì tội làm giao liên cho Việt Cộng.

Làm giao liên cho Việt Cộng?!

Nói nghe dữ dằn, to chuyện chớ có gì đâu, chẳng qua là sự việc như vầy:

Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm “lãnh đạo Quốc gia”, Tư Trạng làm lính Bảo An, bị Việt Cộng bắn bị thương, què một tay. Về quê ở Vàm Rầy, Tư Trạng làm nghề chủ dựa (vựa) tràm. Dân vào rừng đốn tràm, về bán lại cho chủ vựa. Chủ vựa gom lại, chờ người đến mua chở lên Saigon để người ta đóng cừ làm nhà. Trong Nam người ta đóng cừ bằng tràm. Ngoài Trung, ngoài Bắc đóng cừ bằng tre. Tre cũng như tràm đóng xuống đất, cả trăm năm không mục, nhà khỏi bị lún.

Công việc đốn tràm, nói nghe thì dễ, nhưng khó khăn lắm.

Mùa đông không ai đi đốn tràm, mưa gió cực khổ. Tới mùa hè mới đi đốn tràm nhiều. Cây tràm ở trong rừng tràm, ai có sức thì cứ vô trỏng mà đốn, chẳng cần phép tắc gì của phía Quốc Gia cả, xã cũng như quận, tỉnh. Chỉ lâu lâu, mấy thầy chú viên chức xã ấp, cảnh sát đi nhậu thì xin ông chủ vựa ít tiền mua mồi hay mua chai rượu trắng hay két bia; có khi họ cùng nhậu chung, vui vẻ cả làng. Chẳng thấy ai thắc mắc.

Về phía Việt Cộng mới khổ. Trước hết là không cho đốn tràm. Chúng nó phổ biến câu:

Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ

Đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà

Chiến sĩ nói ở đây là Việt Cộng, du kích, hạ tầng cơ sở, xã đội, huyện đội, v.v… Bị chụp cho cái mũ “Rước Mỹ về nhà” là tội “phản cách mạng”, “Việt Gian bán nước”, chỉ có nước chết mà thôi!

Thực ra, Việt Cộng không cho đốn tràm là vì hai lý do:

Trước hết là chỗ tụi nó ẩn núp, di chuyển. Dân chúng đốn tràm làm nhiều chỗ rừng tràm thưa ra, Việt Cộng khó được chỗ ẩn núp, che dấu tốt. Thứ hai, đốn tràm mà không đóng thuế, thì bọn chúng mất quyền lợi. Khi chúng bắt được dân đốn tràn lậu (lậu là với chúng nó), một là tịch thu dao rựa, có khi bị tịch thu xuồng, bị cưa xuồng ra làm hai. Đây chỉ là thứ xuồng ba lá, chèo tay. Có khi chúng nó bắt dân đem vô rừng giam, vô mật khu, đã có người bị bắt đi, ba bốn năm không nghe tin tức gì. Chắc là “xong đời” rồi.

Nói về quyền lợi, không hẳn là “quyền lợi cách mạng” đâu mà nhiều khi chính là quyền lợi riêng của đám cán bộ, cơ sở hạ tầng. Chỉ có bà con thân nhân của chúng, chúng mới cho đốn tràm. Đốn tràm phải “đóng thuế cho cách mạng”, “góp phần đánh thắng Mỹ, Ngụy” như chúng tuyên truyền, hoặc phải tiếp tế cho chúng. Hàng đem vào cho chúng là thuốc rê (cho du kích), thuốc điếu Ruby (cho cán bộ), bột ngọt, càphê, đường, muối, vải vóc, xà bông, khăn lau mặt, khan tắm … Riêng phần chủ dựa (vựa) lâu lâu nhận được cái tin nhắn, hay cái thư viết tay, nhắc nhở phải “đóng thuế cho cách mạng”.

            Cũng đôi ba lần, Tư Trạng đóng thuế cho chúng mà không báo cáo với phía Quốc Gia. Vậy Tư Trạng có tội, bị Quốc Gia bắt là ở điểm đó.

Nói chung, ai làm giao liên, đóng thuế, tiếp tế cho Việt Cộng đều bị Quốc Gia bắt cả, nếu họ không khai báo với chính quyền xã, ấp. Dân quê thì đã dốt mà lại nhát gan, nghĩ là mình có đóng thuế, tiếp tế, Quốc Gia không biết thì thôi, ai lại “Lạy ông tui ở bụi nầy” cho thêm phần rắc rối, lôi thôi, nhiều chuyện, có khi ngồi tù lãng xẹt.

Dân đốn tràm, nhiều khi cũng ức tình vì tụi Việt Cộng bất công, nên lén lút báo tin tức Việt Cộng cho Quốc Gia hay mấy đứa “có thân nhân theo Việt Cộng” đốn tràm thả giàn, muốn bao nhiêu đốn bấy nhiêu, chở khẳm ghe, còn “tụi tui” phải đóng thuế từng cây tràm, sót một cây cũng không được với chúng, lại còn mấy thằng dê…”.

“Dê thì tụi nó làm chi mày?” Nghe hỏi, cô gái mắc cở, ngó đi chỗ khác, cười.

Thằng Tư Sang mới tệ. Vợ nó ở thị trấn Hà Tiên, nó làm du kích ở đường giây 1-C, trên kinh Kháng Chiến. Con Hoa, con gái mới lớn, con ông Tư ở ấp Lung Lớn, cựu can phạm, đi đốn tràm trong rừng, bị nó đè ra hiếp dâm. Không cho nó hiếp, nó không cho đốn tràm. Vậy mà khi vợ nó vô rừng thăm, nó còn kể cho vợ nghe. Con vợ nổi tam bành, tới nhà con Hoa đánh ghen, chưởi cho con nhỏ một trận, khiến con Hoa mắc cở với hàng xóm, mấy ngày đóng quán càphê, không dám mở cửa bán, sợ chòm xóm người ta cười.

Vợ chồng ông Tư cũng xấu mặt với dân trong ấp. Và lại còn sợ chính quyền quốc gia, sợ xã, ấp nữa. Họ biết có liên hệ với Việt Cộng, sẽ bỏ tù. Đã bị Việt Cộng hiếp dâm, lại còn sợ Quốc Gia bỏ tù! Còn cái khổ nào hơn cái khổ nầy?!

Biết tụi nó tiếp tế cho Việt Cộng, nghĩa quân, thám báo chi khu, cảnh sát, có khi phối hợp, có khi “làm ăn riêng”, chận bắt.

Chuyện bắt giao liên đâu có dễ. Năm, sáu giờ sáng, dân đã chèo xuồng vô đồng. Muốn bắt, lính tráng phải dậy từ hai, ba giờ, lặn lội vô trong kinh, chờ dân đi ngang, xem đúng mục tiêu mới hô dừng lại xét. Chưa kịp xét thì bọn giao liên tiếp tế đã thả hàng xuống nước, trôi mất, lại mất công toi!

Giả như có bắt được thì họ khai là mang theo để dùng. Ra tới Ủy Ban An Ninh cũng tha mà thôi. Mọi việc rồi cũng như cũ, chán vô cùng. Nhưng không lý cứ để cho tiếp tế, dân không thấy kết quả, chẳng thèm báo cáo với xã ấp nữa. Việt Cộng ăn cho no, ngủ cho ngon, đủ thứ càphê, thuốc lá đã đời rồi cầm súng đi phục kích bắn phe ta?

Tư Trạng bị bắt vì có người khai y ra. Số là vì Việt Cộng “lập chiến công mừng sinh nhật bác Hồ” nên đêm 18 rạng ngày 19 tháng 5 năm 1974, huyện đội Hà Tiên tấn công xã Vàm Rầy, không chiếm xã vì xã nầy không có trụ sở. Không phá trụ sở xã thì chúng bèn phá trường học. Trường sơ cấp xã có ba lớp, bị B-40 bắn sập cả ba. Cuộc Cảnh Sát và Phân Chi Khu đóng chung trụ sở, thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng, cùng thiếu úy Phan Trí Huệ, trưởng cuộc Cảnh Sát, hai người lảnh chung một quả bêta, cùng chết với nhau. Đại úy Danh Lol, trưởng ban 2 Chi Khu Kiên Lương, kéo trung đội nghĩa quân về đầu cầu Vàm Rầy cố thủ ba ngày, Việt Cộng không tiêu diệt được, bèn rút chạy khi bị một tiểu đoàn của trung đoàn 16 tới giải tỏa.

Sau trận đánh, nhiều người bị phe Quốc Gia bắt. Bắt người nầy, người nầy khi người kia, người kia khai người nọ, tùm lum. Tư Trạng cũng “dính chấu”.

Tư Trạng kể:

– “Hồi xưa tui làm lính mà khỏe. Bây giờ bị thương về làm dân khổ lắm ông ơi! Một cổ hai tròng. Muốn làm ăn thì phải đóng thuế, tiếp tế cho mấy chả ở trỏng. Đóng thuế, tiếp tế thì bị Quốc Gia bắt bỏ tù. Tiếp tế còn nhẹ tội. Đóng thuế như tui, tiền lớn, đâu dám khai với Quốc Gia, sợ bị tội nặng nên phải dấu. Tụi nó ở trỏng thâu thuế ác lắm, đâu có vừa chi.”

            “Ông nhớ con Sáu Lánh không? Tui làm chưa tới mười công ruộng mà cha con nó bắt đóng thuế nông nghiệp năm chục ngàn. Năm chục ngàn, đâu phải nhỏ, coi như hết ba phần tư huê lợi rồi. Tui không chịu đóng, cha con nó giữ ghe tui lại ba ngày, lúa không phơi được, bị ẩm, hư hết. Khóc chảy nước mắt! Cha con nó cùng xóm với tui, lạ chi nhau. Vậy mà theo mấy chả ở trong rồi làm khó dân, đòi cho được tiền, nói là tiền của “cách mạng.” Cách mạng chi? Biết nhau quá mà. Mặt mũi nào! Cuối cùng, tui phải chạy tiền cho cha con nó để đem ghe đem lúa về. Chuyến đó coi như lổ trắng tay.”

            Sáu Lánh, Phan Thị Lánh là con gái Bảy Lơi, – Phan Văn Lơi -, trước kia nhà cũng ở Vàm Rầy. Khi Sáu Lánh 16 tuổi, mê cải lương, một tối thứ bảy, tới nhà Tư Sậm ở cuối “Xóm Biển” coi cải lương trên TV. Khuya về, bị con trai Tư Sậm đè ra hiếp dâm trong trường học. Cha là Bảy Lơi thưa kiện tới tòa án Kiên Giang nhưng không có kết quả, không được bồi thường gì hết, trong khi con trai Tư Sậm vẫn nhởn nhơ vui chơi. Nhà Tư Sậm, chủ bốn cái ghe đánh cá, có tiền lo lót xong đâu đó cả rồi nên bình chân như vại.

            Tức mình, Sáu Lánh bỏ vô bưng theo Việt Cộng. Được ít lâu, thấy theo Việt Cộng có cơ khấm khá, vừa có tiền, vừa có quyền nên Sáu Lánh rủ cha cùng theo.

            Cuối năm 1974, dân Vàm Rầy báo tin Bảy Lơi bị máy bay trực thăng bắn bị thương, đang điều trị ở bệnh viện tỉnh Châu Đốc.

Uở! tại sao Bảy Lơi không về nằm bệnh viện của Nguyễn Tấn Dũng. Bảy Lơi chê Ba Dũng kém tay nghề giải phẩu hay Bảy Lơi chỉ là du kích, cán bộ kinh tài xã, không đủ “tiêu chuẩn” để điều trị tại bệnh viện huyện đội.

            Phe Quốc Gia biết tin, nhưng đường sá xa xôi, đò giang cách trở, chẳng muốn qua Châu Đốc nắm đầu Bảy Lơi về trị tội. Dù có công khó đi xa bắt về, ra tới Ủy Ban An Ninh tỉnh, biện lý cũng tha nên cho chìm xuồng câu chuyện Bảy Lơi.

            Nghĩ lại phe Quốc Gia cũng buồn cười. Dân của mình, theo Việt Cộng, cũng chẳng có biện pháp chi. Việt Cộng bị thương thì lo chăm sóc, điều trị vết thương cho mau lành. Lành rồi, nó lại vô bưng cầm súng đánh lại mình!

            Cộng Sản thì “cách mạng triệt để”, phe ta thì ba lơi khơi. Nghĩ cho cùng, thua cũng phải!!!

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 27Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Bài 8

Ngưu Tầm Ngưu, Mã Tầm Mã

 Mới sáng sớm, thiếu úy Sơn, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An Hòa gọi máy truyền tin cho tôi:

_ “Đại úy! Tối hôm qua Việt Cộng lẻn về bắn chết ông Năm Trầu.”

_ “Năm Trầu là ông nào?” Tôi hỏi.

_ “Đại úy không biết đâu! Ông già ở ấp kinh 1, bên kia kinh Hà Tiên.” Sơn trả lời.

_ “Sao biết Việt Cộng giết ông ta?” Tôi lại hỏi.

_ “Dân họ nói vậy!” Sơn trả lời.

_ “Dân nói thì ba hồi trúng, ba hồi trật. Phải xem lại. Việt Cộng có để lại dấu tích gì không? Có để lại bản án không?” Tôi hỏi.

_ “Không” Sơn trả lời.

_ “Ông Năm bị giết bằng gì?” Tôi lại hỏi.

_ “Súng các-bin. Năm phát súng các-bin”. Sơn trả lời, chắc chắn.

_ “Sao biết súng các-bin.” Tôi hỏi.

_ “Còn lại năm vỏ đạn các-bin, rớt ở phía ngoài cửa sổ.” Sơn trả lời, rõ ràng.

_ “Vậy không xong rồi. Không phải Việt Cộng giết đâu! Theo lời khai của con Vân, con nhỏ mới chiêu hồi, trong mật khu Việt Cộng không dùng các-bin. Chúng chỉ có súng M-16 và AK. Ông lập biên bản, lấy lời khai thân nhân rồi vẽ hiện trường, xong về đây gặp tui.” Tôi dặn.

Vậy rồi Sơn lại ra nhà ông Năm Trầu, làm đúng bài bản như đã học ở học viện Cảnh Sát, cho mời ông Võ Minh, Trưởng chi Y tế khám nghiệm tử thi. Cố làm xong sớm để gia đình đem chôn. 

Theo phong tục ở đây, nhà nào khá giả một chút thì đám để đôi ba ngày, bà con đến viếng, cúng quảy, ăn nhậu, có khi còn đàn hát. Nhà nghèo, sáng chết, chiều chôn, chẳng để lâu bao giờ. 

Trưa hôm đó, tôi họp với thiếu úy Sơn, thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp và thiếu úy Kiệt, trưởng ngành Cảnh Sát Đặc Biệt quận. Tôi nói: 

_ “Tui không tin Việt Cộng giết. Lý do tại sao thì tui đã nói với mấy ông rồi. Việt Cộng giết thì khỏi mất công nhiều. Còn như trường hợp nầy, phải tìm cho ra thủ phạm. Việc phức tạp, phải nhờ bên Cảnh Sát Đặc Biệt. Bên tư pháp vừa thiếu người vừa thiếu chuyên môn. Thiếu úy Kiệt đồng ý không?” 

_ “Đại úy ra lệnh, tui thi hành.” Thiếu úy Kiệt nói.

Tôi cười:

_ “Kiệt nhớ phải nhờ mấy ông thổ công: Bảy Hùng, Sáu Tài, Năm Hưng và nhứt là Năm Hùng, họ phải góp tay.” 

Năm Hùng là thổ công ở xứ nầy, tham gia chính quyền từ trưởng ấp lên hội viên cảnh sát xã, tới bây giờ là thượng sĩ. Ông ấy kinh nghiệm lắm. Bốn người tôi mới nhắc tên, được gọi từ phòng cảnh sát đặc biệt qua tham gia buổi họp.

Tôi hỏi: 

_ “Ai có súng các-bin? Ông Năm Trầu bị giết bằng súng các-bin.”

Kiệt hỏi:

_ “Sơn báo cáo bị Việt Cộng giết mà?”

_ “Tui nghe dân chúng người ta nói vậy. Có lẽ không phải.” Sơn trả lời, thật thà.

Tôi giải thích:

_ “Không phải đâu. Thường Việt Cộng giết có để lại bản án. Tụi nó cũng không có các-bin, chỉ có AK và M-16 mà thôi. Năm Hưng nhớ lời khai con nhỏ mới hồi chánh không?”

Năm Hưng, thượng sĩ, trưởng ban điều tra, cười nói:

_ “Đại úy nói đúng. Con Vân khai Việt Cộng trong mật khu không có các-bin. Thời Việt Minh, ông già tôi bị chúng nó giết cũng có ghim một bản án nơi ngực áo.” 

Tôi nhắc:

_ “Ông Ba Tiên cũng có một bản án ghim nơi đầu.” 

Mao Thạch Tiên, tên thường gọi là Ba Tiên, người Tàu lai, cha là chủ điền thời Pháp thuộc. Những năm Việt Minh đánh Tây, họ giết ông ta, còn lại Ba Tiên và người chị, có quán chạp phô ở gần chợ Tròn. Bà chị có gia đình, có chồng con. Riêng Ba Tiên vẫn độc thân từ trẻ tới giờ, ngày ngày đi làm đồng, đốn tràm, giăng câu, đặt lợp…. Vì thù cha, Ba Tiên làm mật báo viên cho Quốc Gia. Việt Cộng biết, giết Ba Tiên bằng dao đốn tràm, rồi bêu đầu ở ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến. Việt Cộng ghim vào tóc Ba Tiên một bản án “làm tay sai cho Mỹ Ngụy, chống phá Cách Mạng”. Ba ngày sau, bà chị Ba Tiên mới dám vào rừng tràm lấy xác và đầu em đem về chôn. Dân chúng ai ai cũng hoảng kinh việc nầy. 

Tôi lại hỏi:

_ “Ở đây, ai có súng các-bin?”

Năm Hùng đáp:

_ “Chỉ có Nhân Dân Tự Vệ và cán bộ Xây Dựng Nông Thôn có súng các-bin.”

_ “Trong hai số đó, phía Nhân Dân Tự Vệ đáng nghi hơn. Điều tra bên phía Nhân Dân Tự Vệ trước, xem ai có súng các-bin. Người có súng đêm qua phải ở nhà. Nếu nó đi gác, cũng khó lẻn về giết Năm Trầu rồi đi gác lại. Dễ bị nghi.” 

Năm Hùng lại nêu ý kiến:

_ “Nếu điều tra, phải điều tra Nhân Dân Tự Vệ cả hai xã An Hòa và An Bình. Nhà Năm Trầu ở Kinh 1, xã An Hòa, nhưng ấp nầy giáp ranh ấp Ngã Ba, xã An Bình. Dân chúng họ biết nhau, biết điểm tập trung, canh gác. Nhân Dân Tự Vệ An Bình cũng có thể qua giết Năm Trầu được vậy.” 

_ “Có lý.” Kiệt nói. “Về cả hai xã, đặc biệt ấp Ngã Ba và Kinh 1, điều tra xem ai có súng các-bin, từ đó phăng ra.”

_ “Nhà Năm Trầu gồm những ai?” Năm Hưng hỏi.

Sơn đưa tập hồ sơ mới đánh máy xong, nói:

_ “Tui lấy lời khai ba người. Vợ Năm Trầu, Năm Mà là em vợ Năm Trầu với con Hạnh, con gái lớn Năm Trầu.”

_ “Con Hạnh nầy hôm trước chú mầy rủ đi Rạch Giá phải không?” Tôi quay qua hỏi Sơn, cười.

 _ “Đâu có đại úy!” Sơn cải chánh. “Bữa đó ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá. Ai có vô đảng thì tham gia. Dân trong đó đi Rạch Giá đông lắm, con gái thì có cả chục đứa. Con nhỏ nầy cũng đi. Còn tui đi là vì nhiệm vụ phó xã trưởng an ninh (1) của tui.”

_ “Họ khai sao?” Tôi hỏi.

_ “Họ cũng nói là Việt Cộng giết, nhứt là Năm Mà, thằng cha nầy nói chắc vậy.”

_ “Nó nói chắc? Thằng nầy đáng nghi!” Tôi nói. “Tại sao nó ở đây, vợ con ở đâu? Nó làm nghề gì?” 

Sơn giải thích:

_ “Thằng nầy cũng như vợ Năm Trầu, quê ở Sadec. Nó qua đây ở với anh rể để trốn quân dịch.”

Tôi nói, giọng gay gắt:

_ “Vậy mà ông cho nó ở được? Không sợ tội “tán trợ bất phục tòng?”

_ “Không” Sơn nói. “Nó làm căn cước ngoài tuổi quân dịch. Nghe nói chạy đâu bốn chục ngàn cho Trưởng ban Căn cước. Tui biết nhưng rút giây động rừng, sợ đụng mấy ông ở tỉnh, nhất là ông phó Thao, người ký căn cước.”

_ “Vậy nó làm gì?” giọng tôi vẫn chưa hết gay gắt.

_ “Nó làm rẫy cho ông Năm Trầu. Ông Năm khá giả lên cũng là nhờ em vợ. Thằng nầy chưa có vợ con chi cả.”

Kiệt hỏi:

_ “Thằng nầy có vào Nhân Dân Tự Vệ không? Nó có súng không?’

Sơn trả lời, giọng có vẻ mệt mỏi vì phải trả lời nhiều câu hỏi:

_ “Không. Nó chạy bên xã Long, khỏi vô Nhân Dân Tự Vệ, khỏi canh gác. Hình như nó khai là đau bệnh mắt, không thức đêm được. Tui cũng không để ý.” 

_ “Thôi, được rồi. Bây giờ thiếu úy Kiệt chỉ huy tổng quát! Sơn làm phụ tá. Mọi việc biết cả rồi đó. Đó là những đầu mối. Cứ theo đó mà lần. Chắc rồi cũng ra.” 

Rồi tôi kết thúc buổi họp bằng câu nói đùa, theo kiểu ở quân trường: “Tan hàng cố gắng!”

 Hai ngày sau, thiếu úy Kiệt đề nghị tôi cho mở cuộc họp gồm những thành phần như hôm trước, có thêm thiếu úy Bạch, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An Bình, sơ lược kết quả. 

Thiếu úy Kiệt trưng ra khẩu các-bin tình nghi là đã được dùng để giết ông Năm Trầu. Theo xét nghiệm của thiếu úy Kiệt, nòng súng còn khói, nghĩa là súng mới dùng, chưa kịp chùi nòng. Súng của Nguyễn Trường, 17 tuổi, Nhân Dân Tự Vệ, toán 3 xã An Bình. Thiếu úy Kiệt cũng đã lấy lời khai của Trường. Đêm ông Năm Trầu bị giết, Trường tới phiên ở nhà, khỏi đi gác. Nhưng đêm đó, Trường đi nhậu suốt sáng, không đi đâu xa chiếu nhậu ngoài việc tiểu tiện. Lời khai của Trường được mấy người cùng nhậu xác nhận là đúng. 

Kiệt nói:

_ “Tui nghi đúng là súng của thằng nầy, nhưng người khác dùng để bắn Năm Trầu.”

_ “Người khác là ai?” Tôi hỏi.

_ “Người khác đó là Năm Mà, em vợ Năm Trầu.” Thiếu úy Kiệt giải thích

_ “Vậy là em vợ giết anh rể? Có chắc không?” Tôi hỏi, e ngại.

Năm Hưng nói:

_ “Đúng đó đại úy. Tui nghi vậy.”

_ “Nhưng vì sao em vợ giết anh rể, ghê gớm vậy. Làm sao Năm Mà lấy được súng thằng Trường. Phải có quen biết nhau nên thằng Trường cho Năm Mà mượn súng chớ.”

Năm Hùng nói:

_ “Không có mượn chi cả. Năm Mà đang đêm lẻn vào nhà thằng Trường lấy súng.”

_ “Trong nhà không ai biết?” Tôi lại hỏi.

_ “Nhà thằng Trường chỉ có hai chị em. Nó đi nhậu, chị nó ở nhà. Khi đi nhậu, thằng Trường mắc súng lên kèo. Sáng về, súng dựng vào vách nhà. Thằng Trường khai vậy.” Năm Hùng giải thích thêm.

Tôi hỏi:

_ “Mấy ông có thấy có liên hệ gì giữa chị thằng Trường với Năm Mà không?”

Năm Hùng nói, vẻ hào hứng:

_ “Có chớ sao không? Con nhỏ nầy là bồ thằng Năm Mà. Vài đêm nó lẻn tới ngủ với con nhỏ nầy. Nên nó lấy súng thằng Trường đâu có gì khó mà thằng Trường chẳng biết mẹ gì cả.”

_ “Điều tra con nầy chưa?” Tôi hỏi.

_ “Chưa!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Mới điều tra lòng vòng, sợ bị động, thằng Năm Mà dọt mất là mất công toi. Bây giờ mình bắt con nhỏ điều tra, đồng thời theo dõi thằng Năm Mà, canh nó trốn. Khai thác con nhỏ, đủ yếu tố là mình bắt ngay Năm Mà. Đại úy chịu không?”

_ “Tuyệt diệu!” Tôi cười.

Thiếu úy Bạch về ngay xã mình, “nhẹ nhàng” mời con chị thằng Trường ra quận, làm như đi chơi. Thiếu úy Bạch và hai nhân viên, đi phía sau, xa xa, canh chừng. 

Con nhỏ tên là Nguyệt. Nguyệt khai:

_ “Em với ông Năm yêu nhau nhưng chưa cưới. Ổng ấy hẹn chờ kiếm tiền rồi cưới.”

_ “Ông Năm có thiệt tình không?” Tôi hỏi.

_ “Chắc ổng không thiệt tình đâu! Ổng chỉ lợi dụng em mà thôi. Nếu thiệt tình thì ổng tính chuyện vào trỏng làm chi?”

_ “Vào trỏng? Theo Việt Cộng?” Thiếu úy Kiệt hỏi.

_ “Ổng nói cái ông trưởng ban ở tỉnh làm căn cước lớn tuổi cho ổng bị bắt rồi. Việc đổ bể, thế nào ổng cũng bị Cảnh Sát bắt thôi. Ông Tư Dân, ngoài Hòn Ngang, làm căn cước lớn tuổi cùng một lần với ông, bị Cảnh Sát bắt rồi.”

Tôi hỏi:

_ “Sao ổng chưa đi? Cô có biết bao giờ ông ta sẽ trốn vào trỏng không?”

_ “Ổng đang “chẩn” (chuẩn) bị. Mấy lâu nay ông đòi anh rể ông đưa tiền. Mấy chục công rẩy của Ông Năm Trầu là do ổng khai, trồng trọt. Nếu ổng có tiền, ông sẽ cưới tui, với việc làm căn cước lớn tuổi có đổ bể, ổng cũng có tiền chi cho Cảnh Sát. Ổng chẳng hề hấn gì đâu!”

_ “Nếu không có tiền thì ông dọt vô trỏng.” Tôi hỏi.

_ “Có vô trỏng, cũng phải có tiền ông mới dọt. Ổng không dại bỏ công không! Ông đang tính bán rẻ mấy chục công rẩy cho mấy người cùng xóm.”

Tôi hỏi:

_ “Ông ta có thường hay tới với cô không?”

_ “Cứ vài ba đêm ổng tới ngủ lại. Tui đuổi, ông cũng không về. Tới gần sáng mới về.”

Thượng sĩ Hưng hỏi:

_ “Bữa Năm Trầu chết. Ông ta có tới không?”

_ “Có!” Nguyệt trả lời.

_ “Ổng có ngủ lại không?” Năm Hưng vừa cười ranh mảnh vừa hỏi.

_ “Không!” Nguyệt nói, chắc chắn, tỉnh táo.

_ “Tại sao không ngủ lại, ngủ một đêm cho đời thêm vui.” Năm Hưng vừa cười vừa hỏi.

_ “Đâu biết?” Nguyệt trả lời, vẻ mắc cở.

_ “Không ngủ lại, sao biết là ông ta?” Năm Hưng hỏi tiếp.

_ “Cần chi hỏi. Nghe tiếng động biết ngay ổng.” Nguyệt trả lời.

_ “Ổng tới một lần thôi?” Năm Hưng lại hỏi.

_ “Không, hai lần.” Nguyệt trả lời.

_ “Mỗi lần cách nhau bao lâu?” Năm Hưng lại hỏi.

_ “Chừng một tiếng.” Nguyệt nói.

Tôi cắt ngang:

_ “Thôi, khỏi hỏi nữa, để sau. Vậy là rõ: một lần lấy súng, một lần trả súng. Cho bắt Năm Mà đi!” 

Vậy là thiếu úy Kiệt, thiếu úy Sơn cùng nhân viên, liên lạc với nhóm đang canh chừng Năm Mà ở ngoài. Một lúc, thiếu úy Kiệt gọi máy về cho tôi:

_ “Kẹt rồi đại úy. Không bắt được.”

Tôi hốt hoảng:

_ “Nó trốn mất rồi à? Chết cha chưa?”

Tiếng thiếu úy Kiệt trong máy, với giọng đùa:

_ “Chưa chết! Chưa chết. Thằng chả còn đây nhưng đang nhậu với ông Phó Quận, làm sao bắt?”

_ “Để đó tui. Mấy ông cứ sẵn sàng đi.” Nói xong, tôi lên xe Jeep, phóng ngay ra quán ông Phó Quận đang nhậu. Thấy xe tôi, Kiệt đi tới, miệng cười cười như cái tật anh ta thường vậy. Tôi nói:

_ “Ông sai đứa nào vô nói với ông Phó Quận, tui chờ ông ngoài nầy có chuyện khẩn cấp. Hễ ông Phó rời tiệm, ông thộp ngay thằng chả, đem về. 

Khi ông Phó Quận lên xe ngồi với tôi thì Năm Mà bị dẫn ra xe của thiếu úy Kiệt. Tôi nói với Phó quận:

_ “Tụi nó bắt thằng Năm Mà nhưng kẹt ông đang nhậu với nó. Thằng đó vừa giết anh rể nó.”

_ “Chắc không?” Ông Phó quận hỏi.

Tôi cười:

_ “Ông Phó không tin tui?”

_ “Xin lỗi. Tôi không rõ chuyện. Thằng chả mời tôi nhậu để xin tôi ký giấy bán mấy công đất do ông anh rể đứng tên.”

_ “Nó muốn kiếm tiền để dọt vô trỏng.” Tôi nói, rồi hỏi tiếp:

_ “Ông có biết tại sao nó giết anh rể không?”

_ “Không.” Ông Phó Quận trả lời.

_ “Cũng tiền mà thôi. Nếu kiếm được vố lớn, nó ở lại lấy vợ. Hận ông anh rể không cho tiền, không cưới được vợ, bèn cho ông mấy phát súng xong đời. Vét một ít tiền vô trong bưng mà sống.”

Ông Phó Quận hỏi:

_ “Tại sao nó không trốn về Sadec?”

_ “Về để chết à? Ở đây không ai biết nó, có cái giấy căn cước lớn tuổi, Cảnh Sát khỏi bắt đi quân dịch là xong. Về bên đó, người ta biết ngọn ngành nó, càng chết sớm.” 

Ông Phó quận thở dài:

_ “Đời ghê thật. Anh em giết nhau vì tiền.” Rồi nói tiếp: “Ông làm sao để nó đừng có khai dính dáng gì tới tôi nghe!?

_ “Yên tâm! Yên tâm. Ông Phó đã ký giấy tờ gì cho nó đâu! Tui phát hiện sớm cũng khỏe cho ông Phó.” 

Một lúc, tôi thở dài nói với ông Phó Quận:

_ “Cách mạng” tưởng gì hay hơn. Té ra cũng “rứa”. Mấy tháng nay, mùa khô, tụi nó thâu thuế, lấy tiền dân dữ lắm. Mình chẳng làm chi được.”

Ông Phó Quận nhận xét:

_ “Tụi trong đó vì tiền, thằng nầy cũng vì tiền mà muốn dọt vào trong đó. Bọn giết người đi với nhau, đúng là “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.”

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 27 Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Bài 7

Núi Mo-So: Tora Bora Việt Nam, quân y viện của Nguyễn Tấn Dũng

Trong thời kỳ chính quyền trung ương ở Saigon lo đảo chánh hơn lo đánh giặc, toàn bộ vùng Hà Tiên – Rạch Giá, phía Quốc Gia chỉ còn giữ được những cái lõm: các thị trấn Hà Tiên, Kiên Lương, các xã lỵ Vàm Rầy, Tri Tôn (thuộc xã Tín Đạo), Sóc Soài, Sóc Sơn, Rạch Giá…

Vùng nào ở chết vùng đó, đường qua lại với nhau rất khó khăn. Từ nhà máy Kiên Lương đi Saigon và ngược lại, có máy bay mỗi tuần ba lần của Hãng Ximăng Hà Tiên. Hà Tiên đi Rạch Giá thì dùng tàu đánh cá hoặc tàu biển. Chỉ có trực thăng là phương tiện tiện lợi nhất, nhưng phải xin quá giang bên Biệt Khu 44.

            Vùng Kiên Lương, ngoại trừ khu vực nhà máy, chi khu và quận, đóng gần nhau thì chưa bị Việt Cộng chiếm, còn toàn bộ khu vực chung quanh như Chùa Hang, hòn Phụ Tử, núi Hòn Chông, (nơi nầy ngày xưa là căn cứ của anh hùng Nguyễn Trung Trực), hoàn toàn bị Việt Cộng chiếm cứ.

Linh mục Lương Công Đại, mới qua đời ở Mỹ, hồi ấy là linh mục họ đạo ấp Rạch Đùng, Hòn Chông, thuật lại những khó khăn của ông hồi ấy, khi xứ đạo của ông bị Việt Cộng chiếm. Việt Cộng tổ chức biểu tình đá đảo “Mỹ Ngụy Dương Văn Minh”, gọi ông lên phát biểu. Ông cũng phải nói chung chung cho có nói, không thì Việt Cộng bắt tội. Sở dĩ Việt Cộng không bỏ tù ông vì Hòn Chông là một họ đạo lớn, trước 1945, ở đây có một nhà giòng tu lớn, giáo dân khá đông, nên cũng giống như họ đạo An Hòa (núi Trầu), Việt Cộng chưa bắt mấy ông linh mục đi tù.

            Trục lộ 8A Rạch Giá – Hà Tiên là con đường song song với đường giây 1-C của Việt Cộng. Cộng Sản cần sự tiếp tế của dân chúng sống trên trục lộ nầy, nên chúng không dại gì chiếm cứ hoàn toàn các xã lỵ, quận lỵ nằm trên trục lộ. Nguồn lợi của đồng bào là đốn tràm, làm ruộng, bắt cá đồng. Những nguồn lợi nầy nằm trong vùng Việt Cộng kiểm soát. Đồng bào muốn khai thác những nguồn lợi ấy, phải làm giao liên hoặc đóng thuế, tiếp tế cho Việt Cộng. Vào rừng đốn tràm, làm cá, làm ruộng, phải đóng thuế hay tiếp tế, gạo, bột ngọt, thuốc rê, thuốc tây, v.v…  Tiêu diệt hết những cái lõm dân chúng theo trục lộ, các xã, các ấp thì Việt Cộng mất đi nguồn tiếp tế rất cần thiết. Về phía chính quyền Quốc Gia cũng theo dõi, bắt bớ những ai có hoạt động liên hệ tới Việt Cộng. Đúng là người dân một cổ hai tròng. Trong cuộc sống nghèo khổ, kinh tế không phát triển, cuộc sống cơ cực, đời sống dân chúng khó khăn biết chừng nào!

            Do tình hình co cụm của phía Quốc Gia như thế, Việt Cộng dời quân y viện của chúng từ trong rừng tràm về núi Mo-So. Rừng tràm bốn mùa ngập nước, khí hậu ẩm thấp, tiếp tế khó khăn nên đặt quân y viện ở núi Mo-So tương đối tốt hơn nhiều.

            Núi Mo-So nằm kế cận quận lỵ Kiên Lương, khoảng giữa quận lỵ và Hòn Chông, cách quận lỵ khoảng gần 10Km. Đó là một ngọn núi đá vôi trong hàng trăm ngọn núi đá vôi ở vùng nầy như núi Nai, núi Còm (hiện nhà máy ximăng Kiên Lương đang khai thác đá ở núi nầy), núi Trầu, v.v… Cạnh núi Mo-So, có một con kinh nhỏ, kinh 1, nối liền với kinh Kiên Lương ra biển tới Hòn Chông. Về mùa nước nổi, kinh nầy có nước ngọt, Việt Cộng xử dụng được. Dùng nước mưa, với một số lượng đông người, không thế nào đủ. Hơn nữa, tới cuối mùa mưa, Việt Cộng vẫn còn có thể hứng nước mưa ở những thạch nhũ để dùng.

            Những núi đá vôi ở trên thường có nhiều hang động. Thời chiến tranh 1945-54, Việt Cộng đặt công binh xưởng trong những cái hang ở núi Trầu. Trong cuộc chiến tranh 1960-75, lực lượng Quốc Gia mạnh hơn, hoạt động hữu hiệu hơn, Việt Cộng không dám bén mảng tới núi Trầu. Nghĩa quân rào kẽm gai và gài lựu đạn tất cả những cửa hang để đề phòng Việt Cộng vào ẩn núp trong những cái hang của núi đó.

            Núi Mo-So cũng nhiều hang động như vậy, hang nầy thông với hang kia, như hang chuột, mở ra nhiều cửa. Việt Cộng lập quân y viện của huyện đội Hà Tiên ở đây. Dĩ nhiên, lúc đó Nguyễn Tấn Dũng chưa tới 18 tuổi, theo Việt Cộng đã mấy năm, không còn làm du kích mà lên được chức y tá hay y sĩ gì đó.

Gọi là quân y viện nhưng nó có ra hồn gì đâu! Giường là những cái sạp làm bằng cây, bằng tre. Gặp chỗ hang hơi rộng thì để hai giường, chỗ hẹp thì chỉ có một giường. Tất cả không tới ba chục giường bệnh. Cũng có phòng mổ, khi mổ thì giăng mùng lên ngăn ruồi muỗi. Chỉ có bị thương nặng mới được đưa về đây, còn như bị thương nhẹ, cảm sốt, thương hàn thì điều trị tại chỗ, tại đơn vị của họ. Bác sĩ, y sĩ, y tá chỉ có mấy ngoe, tốt nghiệp “Viện Đại Học Y Khoa Cục R”, một tháng thành y tá, ba tháng thành y sĩ, lâu ngày lên bác sĩ. Giả như hồi ấy không phân chia vùng Quốc Gia với Cộng Sản, sự liên lạc dễ dàng thì quân y viện nầy sẽ được giấy khen hay thư cám ơn của hãng Tobia hay Vạn Thọ, là các hãng lo việc ma chay ở Saigon.

Lực lượng Quốc Gia tấn công vào bệnh viện nầy nhiều lần để đuổi chúng đi nhưng không có kết quả. Địch phòng thủ trên núi đá, sau những tảng đá lớn, lại ở cái thế từ trên cao bắn xuống, rất chính xác. Lực lượng phía ta thì từ dưới đánh lên, quan sát địch đã khó, súng nhắm ngược lên khó trúng đích, quăng lựu đạn cũng khó khăn, chưa kể miểng đá văng xuống cũng dễ trúng đầu người ở dưới.

            Đánh mãi không được, cố vấn Mỹ của chi khu bàn thảo và đề nghị kế hoạch.

            Vì hồi ấy có lẽ cô Dương Nguyệt Ánh mới sinh, nên chưa có loại bom cô sản xuất để đánh bọn Taliban ở núi Tora Bora bên Afghanistan. Núi Mo-So không lớn như Tora Bora, nhưng địa thế cũng giống như thế nên không có cách chi đánh đuổi Việt Cộng ra khỏi núi. Bấy giờ cố vấn Mỹ thấy Việt Nam thiếu điều kiện nên đứng ra lo việc tấn công Cộng Sản ở Mo-So.

Chiến thuật của Mỹ cũng chẳng có gì mới mẻ, chỉ là dùng hỏa công như trong thời Tam Quốc bên Tàu vậy. Khác một điều, hỏa công ngày xưa là dùng tre, lá, cây, củi, v.v… Bây giờ thì dùng xăng. Mỹ cho máy bay Chinook chở đến phi trường An Bình của nhà máy ximăng Kiên Lương, sát bên cạnh trụ sở quận hàng mấy trăm “phuy” xăng. Xong, Mỹ cho trực thăng dùng lưới mỗi lần câu khoảng 10 “phuy” xăng, bay tới trên đầu núi Mo-So thì thả cho tất cả các “phuy” xăng rơi xuống. Khi các “phuy” xăng chạm núi đá vở bung ra, tràn xuống các cửa hang; một trực thăng khác phóng hỏa tiển tới, xăng cháy bùng lên. Mỹ cứ liên tiếp một ngày đánh hỏa công những mấy bận như vậy, riết rồi Việt Cộng không còn ở trong hang được nữa. Ban ngày thì lửa cháy rần rần ngoài cửa, có khi xăng chảy lan vào cháy ở phía trong, khói lên mù mịt. Đêm tối mới dám ra khỏi hang, không biết lính phe ta núp ở đâu để tránh, không ít lần bị phục kích, bị giết, bị thương. Cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng theo quân y viện trốn khỏi núi Mo-So.

            Sau nhiều lần quan sát, ban ngày dùng ống nhòm, ban đêm dùng hồng ngoại tuyến, chẳng thấy “anh Việt Cộng” nào nữa. Cả Nguyễn Tấn Dũng cũng “tam thập lục kế” rồi. Chúng đã trốn đi, chi khu bèn cho hai trung đội nghĩa quân tiến vào, chiếm lại núi Mo-So, bít hết các cửa hang, chỉ chừa một cửa phía ngó ra chi khu, cho một trung đội nghĩa quân đóng ở đấy. Từ đó cho đến ngày “đứt phim”, Việt Cộng không dám quay trở lại núi Mo-So.

            Suốt thời gian Mỹ dùng xăng để tấn công núi Mo-So, hàng mấy trăm “phuy” xăng để trong phi trường An-Bình. Lính Mỹ canh gác cũng dễ tính nên phía ta có mấy anh cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh Sát bèn lân la làm quen với mấy chú GI canh giữ kho xăng, biếu cho mấy chú GI ít quà ăn vặt, ít chai Coca ướp đá, v.v… Thế là mấy chú GI làm lơ cho mỗi người lăn một vài “phuy” xăng đem bán cho cây xăng ông Chín Vĩnh.

Hễ khi trời tối, mấy thầy chú vào phi trường lăn “phuy” xăng ra bán. Nhờ vậy nên mấy chú có tiền may quần áo mới. Tiếng “phuy” xăng lăn trên đường nhựa rầm rầm, dân chúng ai cũng biết. Dân chúng biết vậy rồi thấy mấy thầy chú mặc quần áo mới, nên gọi đùa là quần áo “Li-Phăng”, nghe tương tự như vải Nilfrank bán ở chợ vậy. Tuy nhiên, “Li-Phăng” ở đây chẳng có nghĩa Tây Tàu gì cả. Li-Phăng nói lái là “lăng phuy”. Nhờ lăn mấy “phuy” xăng mà có tiền may quần áo mới mặc chơi.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

October 23rd, 2020

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Kỳ 24

Thủy sư Isoroku Yamamoto là vị đô đốc lừng danh đã thiết lập kế hoạch đánh Trân Châu Cảng. Tên ông cũng lừng danh với thảm bại Midway mà các sử gia chê trách quá phương Đông khi dụng binh hư-thực, khiến phân tán lực lượng mà vào thời điểm ấy Nhật Bản sở hữu sức mạnh của số đông. Chiến tranh với Hoa Kỳ phải là chiến tranh của áp đảo bằng số lượng. Thay vì vậy, thay vì tập trung 8 hàng không mẫu hạm, 12 thiết giáp hạm tấn công thẳng vào Wake để nhận chìm 3 hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ của Đô đốc Halsey, Yamamoto đã chia hải lực ra làm bốn đạo, đánh lên quần đảo Aleutian phía Bắc, nghi binh phía Tây, phô trương phía Đông, nhằm nhử Đô đốc Nimitz vào những hải vực giả; khiến thủy lực chính của Nhật chỉ còn 4 mẫu hạm; hướng tấn công chính thức thiếu đi sức mạnh nghiền nát.

Yamamoto cũng bị trách cứ đã không chiếm Hawaii ngay sau không kích, để triệt tiêu dài lâu trạm trung chuyển chính yếu của Hoa Kỳ nằm giữa Thái Bình Dương. Các hải đoàn US NAVY  không thể từ San Diego đến Úc, hay sang Phi Luật Tân mà không tái tiếp tế nhiên liệu ở Trân Châu Cảng. Không kích Pearl Harbor nhưng không chiếm đóng là một lỗi lầm. Tuy nhiên, Yamamoto vẫn được xem là bộ óc của Hải quân Nhật và Nimitz quyết định nhổ chiếc gai. Chương 21, Sakai nhắc đến việc ám sát Yamamoto bằng các máy bay Lockheed P38 Lightning. Việc ám sát thành công không kỳ lạ. Việc kỹ nghệ Hoa Kỳ sản xuất nhanh chóng kiểu máy bay Interceptor tầm xa, trang bị hỏa lực hùng hậu, mới gây kinh ngạc. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 24

Chương 21

Tôi rời khỏi bệnh viện hải quân Sasebo vào hạ tuần tháng Giêng 1943. Những tháng dài điều trị đã chấm dứt. Tôi trình diện đơn vị gốc, Không đoàn Ðài Nam thuộc Không Hạm đội 11, hiện trú đóng ở Toyohashi, miền Trung nước Nhựt.

Tôi từng gia nhập không đoàn này vào tháng 9 năm 1941 ở Ðài Nam, trên đảo Ðài Loan. Trong số 150 phi công rời khỏi Ðài Loan tham gia cuộc tấn công vĩ đại của Nhựt xuyên qua Thái Bình Dương, vỏn vẹn 20 người sống sót. Những kẻ chưa chết làm nòng cốt giúp thành lập một không đoàn mới, quân số phần nhiều là phi công mới tốt nghiệp Tsuchiura và một số trường phi hành khác. Khi tôi đến Toyohashi, Trung tá Tadashi Nakajima đích thân tiếp đón tôi. Cả hai chúng tôi đều không ai nghĩ sẽ gặp lại nhau ở đây, thay vì Rabaul. Nhờ trời, Nakajima vẫn là thượng cấp của tôi. Ông không tỏ vẻ nghi ngờ việc tôi có thể bay lại được hay không.

Ngay ngày hôm sau tôi quay về với tình yêu đầu của mình, chiếc Zéro. Tôi không thể nào diễn tả hết cảm xúc thích thú khi tôi trở lên không trung với chiếc chiến đấu cơ ngoan ngoãn và ngoạn mục này. Nó giống như một giấc mơ. Tôi đã bay thử mọi cách, nhào lộn, lướt thẳng đứng, chúi xuống, rơi như chiếc lá. Không gian khiến tôi ngây ngất.

Trong tư cách một sĩ quan, tôi bắt buộc phải biết qua viễn cảnh mới của toàn thể cuộc chiến. Lính trơn hay hạ sĩ quan không được phép xem các báo cáo mật về chiến trận, hải quân chỉ dành đặc ân cho sĩ quan mà thôi.

Tôi đến Toyohashi nhiều ngày, nhưng Nakajima không nói một lời nào liên quan đến cuộc rút lui khỏi Guadalcanal của chúng tôi vào ngày 7 tháng Giêng năm 1943, đúng sáu tháng sau ngày Hoa Kỳ đổ bộ. Ðài phát thanh đã công bố đây là cuộc rút lui chiến lược, hoặc, phải thâu hẹp các tuyến phòng thủ của chúng tôi, nhưng các phúc trình mật cho thấy đó là một chiến bại choáng váng với những mất mát khủng khiếp.
Cả hai sư đoàn bộ binh trên đảo đã bị địch quân đánh tan tành. Hải quân hầu như mất trọn một hạm đội thời bình. Nằm phơi thân rỉ sét trong bùn ở Guadalcanal ít ra là hai thiết giáp hạm, một hàng không mẫu hạm, năm tuần dương hạm nặng, mười hai khu trục hạm, tám tiềm thủy đĩnh, hàng mấy trăm chiến đấu cơ và oanh tạc cơ, đó là không kể con số phi công khu trục và phi hành đoàn oanh tạc cơ bị chôn vùi theo.
Chúng tôi đã làm gì? Chúng tôi đã tung ra những cú đấm trừng phạt xuyên qua Thái Bình Dương. Chúng tôi đã quét sạch chiến đấu cơ địch hết lượt này sang lượt khác. Các cơ quan tuyên truyền Nhựt đã cho biết như vậy. Nhưng các phúc trình mật từ mặt trận cho biết đối phương có nhiều loại phi cơ mới, còn tối tân hơn loại P-39 Airacobra và P-40 Warhawk

Lần đầu tiên tôi biết sự thật xảy ra ở Midway vào cuối tháng 6-1942. Bốn hàng không mẫu hạm, và gần trọn 300 phi cơ với hầu hết phi công đã biến mất. Những con số không thể tin được.

Tim tôi như chìm xuống khi tôi nhìn thấy những tân phi công vừa mới được bổ nhiệm. Họ nhiệt thành, thừa can đảm! Nhưng sự nhiệt thành và lòng can đảm không dính dáng gì đến tài ba của một phi công. Những người này thiếu hẳn sự tinh nhạy để đương đầu với phi công Hoa Kỳ càng lúc càng gia tăng số lượng đông đảo chưa từng thấy ở Thái Bình Dương.

Những người có khuôn mặt rạng ngời ấy có thể lấp đầy khoảng trống bỏ lại bởi những phi công lão luyện như Sasai, Honda và Ota không? Công cuộc huấn luyện mà họ phải trải qua ở Toyohashi rất đứng đắn. Từ bình minh cho đến hoàng hôn, các huấn luyện viên chạy theo họ không rời một bước. Những bài học trong lớp cũng như các chuyến bay thực tập liên tục và tất cả những trận đánh trong quá khứ được làm sống lại, nhét vô đầu óc những người mới này. Làm sao giữ đội hình không chiến. Làm sao giữ cần lái cho thật chính xác. Thân thể trở nên gắn liền một khối với phi cơ, biết rung động, biết cảm và biết lắng nghe mọi tiếng động thoát ra từ thân máy bay. Không xem khối sắt như phương tiện nhấc mình lên mà bay bổng như chính thân thể được chấp cánh. Biết cách tiết kiệm xăng trên cao độ nào với vận tốc nào, và phải biết cách nhả từng loạt đạn ngắn bằng cách nhấc ngón tay ra khỏi cơ bẩm đúng lúc để không tiêu hết hộp đạn ngay loạt đầu. Nhưng chúng tôi lại không có đủ thời giờ. Chúng tôi không thể xem xét những lỗi lầm của từng cá nhân một để sửa chữa. Không ngày nào trôi qua mà không có xe cứu thương rú còi inh ỏi chạy xuống phi đạo: một người chúi đầu xuống đất hoặc nhiều người văng ra khỏi những chiếc phi cơ vỡ tan khi cất cánh hoặc đáp xuống.


Ghi chú quân sự:

Interceptor Lockheed P38 Lightning (Tia Chớp)

Trọng lượng cất cánh tối đa: 9,798 kg

2 động cơ 1,600 mã lực, trần bay 7,620 m

Vận tốc tối đa: 667 km/h, đường kính 3,640 km

1 đại bác 20 ly, 4 đại liên 12 ly 7

4 rocket 112 ly, 10 rocket 127 ly, 4 bom 500 cân

Không phải tất cả những phi công mới đều yếu kém. Nhiều người đã tỏ ra có triển vọng nối bước những phi công đại tài thế hệ 1939-1940. Nhưng đáng buồn là họ không có dịp bay nhiều, không thâu thập kinh nghiệm chiến đấu nào, trước khi được tung ra đối đầu với phi công Hoa Kỳ.

Khoảng một tháng sau khi Guadalcanal thất thủ, chúng tôi được triệu tập tham dự một phiên họp gồm toàn sĩ quan để nghe tin tức liên quan đến một thảm họa khác. Tin tức này được duy trì độ mật trong suốt thời gian còn lại của cuộc chiến, và không bao giờ được tiết lộ ra ngoài công chúng. Phía sau các cánh cửa đóng kín, tôi đã đọc và biết rằng một đoàn công-voa của Nhựt bao gồm 12 quân vận hạm, 8 khu trục hạm và nhiền tàu hộ tống nhỏ hơn, mưu toan đổ quân lên Lae, căn cứ không quân cũ của tôi. Có ít nhứt 100 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ địch đã tấn công đoàn công-voa đang lướt trên mặt biển bao la, đánh chìm tất cả quân vận hạm và khoảng 5 khu trục hạm. Thảm họa này lớn hơn thảm họa Guadalcanal, vì nó nêu bật rằng chúng tôi đã bất lực không thể nào chận đứng nổi các cuộc tấn công hiệu quả không thể tưởng của đối phương nhắm vào các hải lực trên mặt biển của chúng tôi.

Vài ngày sau đó, Không đoàn Ðài Nam được lịnh di chuyển cấp tốc đến Rabaul. Trung tá Nakajima hỏi tôi có thể theo ông trở lại Tây Nam Thái Bình Dương được không? Tại sao ông có thể nghĩ là tôi muốn làm khác hơn? Nakajima nói với tôi rằng mặc dù tôi đui mắt bên mặt, ông vẫn xem tôi tài ba hơn bọn phi công tập tễnh. Ðêm đó, Bộ Chỉ Huy đưa ra một danh sách các phi công được thuyên chuyển đến Rabaul, bao gồm tên tôi.

Nhưng chúng tôi đã thất bại trong việc đối đầu với y sĩ trưởng của bịnh viện Toyohashi. Ông ta nổi nóng khi thấy tên tôi trong bảng danh sách. Ông ta bước ào vô văn phòng của Trung tá Nakajima và để cơn giận bốc lên trước mặt vị chỉ huy trưởng đang đầy khó chịu. “Tư lệnh mất trí rồi!”. Ông ta rống lên. “Có phải Trung tá muốn giết người này không? Sao lại cho phép một tên phi công chột mắt ra trận? Tôi không cho phép Sakai thuyên chuyển đến Rabaul!”. Chúng tôi có thể nghe cuộc cãi vã của họ lồng lộng từ phía bên này sân bay.

Nakajima cãi lại rằng tôi còn tốt hơn bọn phi công mới, rằng hai mắt hoặc một mắt cũng vậy thôi, đâu có ảnh hưởng gì đến sự khéo léo phía sau những dụng cụ trong phòng lái của một chiếc Zéro, mà cũng không thành vấn đề đối với kinh nghiệm chiến đấu lâu dài của tôi. Vị y sĩ trưởng không nhượng bộ. Bấy giờ Nakajima nổi nóng. Họ cãi qua cãi lại mấy tiếng đồng hồ,  nhưng cuối cùng vị y sĩ trưởng bước ra khỏi phòng trong vẻ đắc thắng. Ông ta đã thuyết phục được Nakajima thay đổi ý kiến. Tôi chạy ùa vô phòng của chỉ huy trưởng, van nài ông duy trì ý định. Lần đầu tiên ông nhìn tôi với vẻ nghi ngờ, ông cố nói, nhưng mặt ông càng lúc càng đỏ bừng.

Cuối cùng, ông hét lớn, “Im đi!” và bước ra ngoài, miệng làu nhàu rằng tất cả bọn phi công đều điên hết. Do đó, tôi được chỉ định làm huấn luyện viên phi hành ở căn cứ không quân Omura, gần Sasebo.

Không đoàn Ðài Nam đến Rabaul ngày 3 tháng 4-1943, khoảng một tuần sau, tôi đọc báo cáo tiền tuyến, biết được không đoàn đã thực hiện nhiều phi vụ tấn công quan trọng ở Guadalcanal, vịnh Milne, hải cảng Darwin và nhiều mục tiêu khác. Trong bốn phi vụ, chiến đấu cơ và súng phòng không địch đã hạ 49 chiếc trong tổng số phi cơ của không đoàn.

Hết thảm hoạ này đến thảm hoạ khác. Vào ngày 19 tháng 4, một tin đồn khủng khiếp, được xác nhận không lâu sau đó, lan rộng giữa các sĩ quan. Vào ngày trước đó, Ðô đốc Isoroku Yamamoto, Tổng tư lịnh Hải quân Hoàng gia Nhựt đáng kính phục của chúng tôi đã thiệt mạng. Tôi đọc đi đọc lại phúc trình của vụ này. Theo đó, Ðô đốc Yamamoto đáp một trong hai chiếc oanh tạc cơ Mitsubishi G4M, với 6 chiến đấu cơ Zéro hộ tống, trên đường đi thanh sát mặt trận đã bị 18 chiến đấu cơ Lockheed P38 Lightning hai máy của Hoa Kỳ lướt xuyên qua vòng đai hộ tống, bắn rơi cả hai oanh tạc cơ này.

Và tôi vẫn ngồi ở Omura, với nhiệm vụ huấn luyện bọn phi công mới. Tôi nhận thấy khó thể giữ sự tin tưởng khi nhìn đám tân khoá sinh chạy chập choạng trên phi đạo và lướt vụng về lên không. Hải quân thiếu hụt phi công trầm trọng, các khoá học mở ra hầu như hàng tháng nhưng vẫn không đáp ứng nhu cầu đòi hỏi. Trước khi bị quăng ra mặt trận, có nhiều người chưa rờ đến một cần lái khu trục cơ.
Mọi thứ đều cấp bách! Chúng tôi được chỉ thị dạy vội vàng, bỏ qua những điểm chi tiết. Ðúng hơn là chỉ dạy họ bay và bắn. Nhiều tháng dằng dặc và buồn chán, tôi cố đào tạo những người được quăng đến tay chúng tôi ở Omura thành những phi công chiến đấu. Phương tiện của chúng tôi quá kém cỏi, đòi hỏi quá lớn, thiếu thốn mọi bề và khóa sinh quá nhiều.

Tôi cảm thấy đang chết lần mòn. Xứ sở của tôi lâm vào tình cảnh bối rối, không còn nghi ngờ gì nữa. Công chúng không biết sự thật này, cả sinh viên sĩ quan lẫn tân binh cũng không biết. Nhưng các sĩ quan đã nhìn tận mắt các báo cáo, ý thức tầm mức nghiêm trọng của tình thế.

Vào tháng 9 năm 1943, tôi đã xúc động khi hay tin một người bạn thiết  của tôi, một trong những phi công vĩ đại nhứt của Nhật Bản, Trung sĩ Kenji Okabe, đã bị bắn rơi và thiệt mạng ở Bougainville. Hắn là bạn đồng khoá với tôi ở Tsuchiura, một “Sát tinh” đã lập được thành tích vô song: bắn hạ bảy phi cơ địch trong một ngày chiến đấu trên không phận Rabaul. Sau thành tích phi thường này, Ðô đốc Ninichi Kusaka, Tư lịnh Không hạm đội 11, có yêu cầu Bộ Tư Lịnh Hải Quân ở Ðông Kinh ân thưởng một huy chương cho Okabe. Không có gì thay đổi. Ðông Kinh đã từ chối dựa trên căn bản “chưa có tiền lệ” giống như lời từ chối được đưa ra cho Ðại tá Saito một năm trước đây. Tuy nhiên, Ðô đốc Kusaka không chịu gạt vấn đề một cách dễ dàng như vậy. Bất cần quyết định của từ Bộ Tư Lịnh ở Ðông Kinh, đô đốc đã ban tặng thanh kiếm chỉ huy của ông cho Okabe, trong một buổi lễ danh dự đặc biệt. Ba ngày sau, Okabe đã bị chết cháy trong chiếc Zéro rơi xuống như cây đuốc của hắn. Vào tháng 4 năm 1944, sau rất nhiều tháng huấn luyện dài dằng dặc đầy mệt mỏi ở Omura, tôi được thuyên chuyển đến Không đoàn Yokusuka. Trước chiến tranh, việc được bổ nhiệm về Không đoàn Yokosuka là một mơ ước, vì đây là đơn vị không quân phòng vệ cho hoàng gia, có nhiệm vụ bảo vệ không phận Ðông Kinh. Hiện thời, không đoàn này đã đổi khác.

Thời gian của những sự bổ nhiệm gọi là “mơ ước thủ đô” đã trôi qua hẳn rồi. Qua những phúc trình mật, tôi đã lượng định cuộc chiến đúng sự thực của nó. Các phúc trình mật là một tiếng thét lớn hơn tiếng thét của đài phát thanh hướng đến đám quần chúng cả tin. Khắp nơi ở Thái Bình Dương, các lực lượng của chúng tôi thối lui liên hồi. Những lực lượng đặc nhiệm cực mạnh mẽ, những hạm đội đồ sộ không thể tưởng của Hoa Kỳ mặc tình ngao du trên Thái Bình Dương.

Tôi đọc hết phúc trình này đến phúc trình khác, và tất cả đều nói đến sự hủy diệt khủng khiếp do các hạm đội đánh mạnh đánh mau Task Forces này gây ra. Không lực của địch quân càng ngày càng nắm quyền bá chủ trên không. Cả mấy trăm chiếc P38 Lightning xuất hiện cùng lúc, tràn ngập chiến đấu cơ của chúng tôi. Chiến đấu cơ Grumman F6F Hellcat và pháo đài bay tầm xa B29 loại mới của đối phương hầu như ra mặt hàng ngày, và những câu chuyện hài hước liên quan đến khả năng của phi công địch báo hiệu đen tối cho tương lai. Không Hải đoàn Nhựt không có vũ khí nào khác ngoài những câu chuyện hài.

Chúng tôi vẫn còn giữ vững Rabaul, nhưng pháo đài có lần được coi là kiên cố này, không còn mảy may đe doạ nào đối với Moresby và các căn cứ khác của đối phương. Người Mỹ đang sử dụng pháo đài này để thực tập dội bom.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

October 16th, 2020

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Kỳ 23

Sau 9 năm quân ngũ, Sakai thăng từ cấp bậc hèn mọn nhất là Yontosuihei  là Thủy binh hạng IV tức Binh Tứ – VNCH chỉ có cấp bậc Binh Nhì là thấp nhất – lên Hải quân Chuẩn úy thực thụ Kaigun Jun-i  Một trường hợp hiếm. Nếu chức Chuẩn úy trong quân lực VNCH không gì to tát, trong hệ thống quân giai của Đế chế Quân phiệt Nhật là cả một đẳng cấp. Sĩ quan Nhật có quyền đánh chết lính khi phạm lỗi. Cùng lúc, tin tử trận của hầu hết các phi công Phi đoàn Lae ập đến. 150 phi công đồng ngũ của Sakai, duy nhất 20 sống sót. Chương 20 của tập hồi ký pha trộn tình mẫu tử với bi thảm của đồng đội và người đọc bắt đầu nhìn thấy sự khắng khít giữa Sakai với cô em họ Hatsuyo chung huyết thống. Cũng nhìn thấy chế độ kiểm duyệt của An ninh Quân đội Nhật, khá giống VNCH, là “đục bỏ” nhưng không xử phạt. Không ảnh hưởng lên binh nghiệp của Sakai. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 23

Chương 20

Vào tháng Mười, tôi được chuyển đến bệnh viện hải quân Sasebo. Sự thay đổi này làm tôi hân hoan, tôi sẽ được gần nhà hơn, và tôi có thể gặp lại gia đình.

Bấy giờ mùa Hạ nóng bức đã trôi qua, và xe lửa lướt đi trong một bầu không khí ấm áp dễ chịu. Tôi mở rộng các cửa sổ, đẫm mình trong ánh mặt trời và gió dịu nhẹ của mùa Thu. Nước Nhựt chưa bao giờ đẹp hơn trước mắt tôi, với cảnh sắc Thu trên núi, trên đồi, dáng vẻ êm đềm lạ lùng của vùng quê trôi qua. Màu cây xanh thẫm và màu hoa đỏ tía điểm tô dọc theo hai bên thiết lộ.

Ba giờ sau khi rời khỏi Yokosuka, Fujikama đã ẩn hiện trong tầm mắt. Tôi nhìn ngắm một trong những hòn núi đẹp nhứt của nước Nhựt này không biết chán. Tuyết đã tan trên những con đường mòn chạy lượn cong trên đỉnh núi, thoắt ẩn thoạt hiện trong màn sương mù lấp loáng dưới ánh mặt trời. Phú Sĩ Sơn (Fuji) nhắc tôi nhớ lại Fujiko. Thiếu nữ ấy, quả thật, đã lấy tên núi này làm tên lót, nhưng hiện thời đối với tôi đã xa cách ngàn trùng.

Xứ sở êm ả và thanh bình. Chiến tranh không có ở đây, không có trong vòng hàng trăm nông trại, ruộng lúa nằm ngay ngắn, khoáng đạt và thịnh vượng dọc theo hai bên đường sắt. Chiến tranh đâu? Tôi chỉ nhìn thấy những gì mà trước kia tôi đã từng thấy, vả lại có phần đẹp đẽ hơn hồi tôi còn là một thiếu niên.
Má tôi chờ đón tôi ở nhà ga Fukuoka. Nơi đây xe lửa chỉ dừng lại ngắn ngủi và hành khách không được phép xuống xe. Tôi nghiêng thân hẳn ra ngoài cửa sổ để vẫy tay gọi má tôi. Thấy tôi, mặt má tôi rạng rỡ. Má tôi già đi nhiều lắm. Bây giờ má tôi chỉ trơ trọi một thân, mấy người con trai của bà đã ra đi hết rồi.

“Con khoẻ mạnh!” Tôi la lớn. “Con vẫn khoẻ mạnh, má! Ðừng lo cho con.”

Xe lửa chuyển bánh. Má tôi đứng trên sân ga, đôi mắt nhoà lệ. Bà vừa khóc vừa phất lá cờ nhỏ in hình mặt trời mọc.

Buồn bã làm tôi suy nghĩ miên man. Không có ai trong số những người sinh sống ở đây, từ lão nông, thanh niên đến các đứa trẻ, xã trưởng, phát thư, cảnh sát hay thương gia đã bay trên Guadalcanal ở cao độ sáu ngàn thước để nhìn thấy cả một mặt đại dương rung chuyển vì hàng đoàn chiến thuyền Hoa Kỳ dài đến tận chân trời. Cuộc chiến đã thay đổi. Ở Rabaul tôi chứng kiến Phi đoàn Lae là một tập thể những phi công ưu tú nhứt, các chiến tích không ngớt của chúng tôi làm bằng chứng, nhưng các phi công của Lục quân Nhựt ít kinh nghiệm và không được đào tạo gắt, như phi công Hải quân chúng tôi, đã thường xuyên rơi vào chiếc bẫy của kẻ thù. Ðến ngay cả tôi, cũng bị địch vồ lấy, suýt chết. Chúng tôi không còn làm chủ không trung nữa. Trời cao đã chuyển sang tay đối phương. Ðến một lúc nào đó, từ những tảng mây bên trên thiết lộ này, sẽ rơi xuống thảm bom như ở Rabaul.

Các bác sĩ ở Sasebo lại ra lịnh cho tôi nằm dưỡng bịnh thêm một tháng nữa. Thời gian trôi qua chậm chạp, nhưng cuối tuần lễ đầu tiên, tôi đã hoan hỉ vì có má tôi đến thăm với bánh quà mà tôi thích ăn hồi còn nhỏ. Tôi ngần ngại khi nói cho bà biết tôi đã đui một mắt bên phải. Trước sự kinh ngạc của tôi, bà bình thản nói: “Có sao đâu, con vẫn là một con người, con trai của má.”

Bà đến thăm tôi mỗi cuối tuần. Gặp má, tôi thường thật là thích thú nhưng tôi xin bà đừng đến nữa. Bà đã lớn tuổi, đường xa mệt nhọc, vả lại di chuyển bằng xe lửa càng ngày càng trở nên khó khăn. Các toa xe đều chở đầy ắp chiến cụ, chỗ dành cho hành khách bị thu hẹp và rất tồi tệ.

Ở Sasebo tôi thường  nghĩ đến Hatsuyo, không biết nàng có còn giận tôi đã khước từ Fujiko, là bạn thân nhứt của nàng, cho đến khi tôi nhận thơ của Hatsuyo thông báo sẽ đến thăm ngay khi có thể, tôi mới an lòng.

Vào tháng 11-1942, một biến cố xảy ra, mà nếu ở hoàn cảnh nào khác tôi sẽ coi đó là một trong những biến cố lớn nhứt của đời tôi. Nhưng ở hoàn cảnh hiện thời biến cố ấy ít có ý nghĩa. Bịnh viện nhận được lịnh thăng cấp Chuẩn úy cho tôi. Con đường dằng dặc khởi từ một tân binh thủy thủ, với kỷ luật tàn nhẫn và hình phạt liên miên, đã đến điểm cuối của nó. Từng bước một, tôi đã leo lên, và bây giờ phần thưởng đã đến tay. Ðó là một chiến thắng hụt hẫng, nhưng có sự đền bù của nó. Tôi viết thơ báo cho má tôi và Hatsuyo biết tôi đã lên sĩ quan. Má tôi khuyên tôi không được phách lối, còn Hatsuyo cho tôi hay là nàng vui mừng khôn xiết suốt tuần lễ, gặp ai cũng khoe anh họ của mình là sĩ quan không quân.

Với thân phận mới, tôi có thể hoàn tất thời gian dưỡng bịnh còn lại tại gia. Tôi chợp ngay lời đề nghị của vị bác sĩ và lập tức rời khỏi bệnh viện đến vùng ngoại ô Fukuoka, nơi má tôi đã đến chung sống với người chị cả và anh rể của tôi.

Tháng kế đó là một tháng đầy tuyệt thú. Lần đầu tiên sau 10 năm, tôi được sống gần má tôi trọn 30 ngày. Hầu như mỗi ngày bà đều hỏi tôi: “Con nghĩ bao giờ sẽ hết chiến tranh, Saburo?”. Tôi biết bà nghĩ đến hai anh trai hiện đang chiến đấu ở hải ngoại. Và mỗi lần bà hỏi, tôi chỉ biết nói sự thật: con không biết.

Rồi má tôi nhìn quanh, để chắc không có ai xung quanh, bà khẽ hỏi: “Saburo, nói cho má biết chúng ta có thắng thật không? Những điều họ nói có thật không?” Tôi chỉ có thể đáp: chúng ta phải thắng.

Vài tuần lễ sau khi tôi đến ở nhà chị cả, một ông khách từ Ðông Kinh đến viếng tôi. Một thông tín viên của nhựt báo Yomiuri Shimbun, một trong những nhựt báo lớn nhứt ở Nhật Bản. Thông tín viên này cho biết tờ báo của ông ta muốn thực hiện một cuộc phỏng vấn độc quyền với phi công tài ba nhứt Nhựt Bản, vì cả nước đều muốn đọc những lời nói của chính tôi về cuộc chiến (Khi được gán cho danh hiệu phi công hạ nhiều phi cơ địch nhiều nhứt nước, tôi tự hỏi Ota, Nishizawa hiện thời đã hạ được bao nhiêu chiếc. Tôi chắc họ đã qua mặt tôi). Tôi không biết tôi có quyền đáp cuộc phỏng vấn này hay không. Tôi có thể phạm kỷ luật nếu tôi nói ra sự thật. Tôi gọi điện cho Sĩ quan Hành chánh ở Sasebo và trình bày vấn đề. Ông ta né tránh và nhấn mạnh rằng không có những quy định đặc biệt nào trong vấn đề này.

“Tôi không có quyền khuyến khích anh tiếp xúc với nhà báo,” ông ta kết luận. “Nhưng tôi phải nhắc anh nhớ rằng những lời nói của anh cần được cân nhắc cẩn thận, và anh phải chịu trách nhiệm những gì anh đã nói. Anh cũng phải luôn luôn nhớ rằng ở đây không tán thành mà cũng không ngăn chặn bất kỳ sĩ quan nào muốn trả lời một cuộc phỏng vấn của báo chí. Hãy cẩn trọng!”

Ðó là một lời đáp chắc chắn có tánh cách phủ định. Tôi quay vô phòng và nói cho viên ký giả biết Thượng cấp của tôi không hài lòng cuộc phỏng vấn mà ông ta yêu cầu. Nhưng ông ta không chịu bỏ cuộc một cách dễ dàng.

“Tôi nghĩ việc này không có gì gây phiền phức cho ông”, hắn cãi. “Tôi vượt bảy trăm dặm đường từ Ðông Kinh đến đây chỉ để tiếp xúc với ông! Xin ông cho tôi hỏi một vài câu thôi! Năm phút là cùng!”

Tôi sớm biết tôi ngu! Khả năng vặn hỏi và mưu mô sắp xếp moi tim của thằng cha này qua cuộc phỏng vấn thật kỳ dị. “Năm phút” của hắn trở thành ba ngày! Mỗi buổi sáng từ khách sạn trú ngụ, hắn lê thân đến nhà tôi ghi chép đủ thứ. Hắn gợi tôi nói đủ chuyện. Những câu hỏi của hắn đều tránh đề cập đến chiến tranh, cho đến khi tôi khám phá ra rằng những câu chuyện liên quan đến chiến tranh. Hắn sớm nhận ngay niềm lạc quan đã mất hết trong tôi, và những phi công chúng tôi ở Rabaul, mặc dù đạt được nhiều thành quả, nhưng hiện thời đang tham dự vào một trận đánh gian nan ở Guadalcanal, và nhận rất ít sự hợp tác của Lục quân Nhựt Bản.

“Chúng tôi cần nhiều chiến đấu cơ và những phi công kinh nghiệm hơn”, tôi nói với hắn trong lúc nổi nóng nhất thời. “Mỗi chiến đấu cơ đều phải xem xét lại toàn diện sau 150 giờ bay. Ngay cả những phi cơ chưa bắn một phát súng nào và chưa bao giờ nhận một viên đạn nào của địch quân, cũng phải xem xét lại. Hiện thời chúng tôi không thể làm gì hơn được. Một chiếc Zéro mang thương tích nhẹ, chúng tôi vẫn coi như còn trong tình trạng khả dụng và chỉ xem xét toàn thể sau 200 giờ bay.”

“Ông hiểu rõ hậu quả như thế nào khi một phi công lâm trận với một chiếc phi cơ mà những dụng cụ kiểm soát không đáp ứng mọi đòi hỏi? Chỉ những phi công tài ba nhứt mới mong tồn tại sau khi lâm trận với loại phi cơ như vậy. Nếu những phi công chân ướt chân ráo, được gởi ra hải ngoại để thay thế, họ không có được các căn bản của những phi công mà tôi đã từng bay chung, lúc đó có trời mới giúp được họ sống sót mà thôi. Những phi công Hải quân Hoa Kỳ mà chúng tôi đã từng đụng độ ở Guadalcanal là những phi công tài ba, và chiến pháp của họ siêu đẳng chưa từng thấy. Phi cơ của họ thì khỏi nói rồi.”

Tay phóng viên hài lòng hơn nữa. Hắn không thể nào che giấu sự phấn chấn, ngỏ lời cảm ơn rối rít và từ giã tôi. Tuy nhiên, sau đó tôi mới nhận thấy mình đã vấp phải một sai lầm quan trọng, khi đem nói hết mọi chuyện với hắn.

Một tuần sau đó, tôi trở lại bệnh viện Sasebo, và ghi tên xin tái khám tổng quát lần cuối cùng. Lần này sẽ quyết định việc bổ nhiệm trở lại của tôi. Lời xin được chấp nhận và tôi được sắp xếp một chiếc giường trong bịnh viện để ngủ cho đến khi cuộc khám bịnh nhiều ngày hoàn tất.

Sáng sớm hôm sau, tôi được gọi đến Phòng Hành chánh của Bộ Tư Lệnh Sasebo. Gương mặt của vị đại tá đỏ gay vì giận dữ.

“Chuẩn úy Sakai,” ông hét lên “anh là một thằng ngốc!”, “trong đời tôi chưa thấy sĩ quan nào thiếu suy xét như anh.”, vị đại tá thét lớn: “Tôi vừa nhận được công điện của Tổng Hành Dinh Hải quân ở Ðông Kinh, họ đã cấm đăng toàn thể bài phỏng vấn anh của báo Yomuiri Shimbun. Ði nói hết những chuyện mà anh đã làm, anh có điên không? Ðông Kinh đã khiển trách tôi nặng nề, với lý do thiếu kiểm soát thuộc cấp. Tôi sẽ không để cho chuyện ngu dại này xảy ra nữa. Bây giờ tôi nói cho anh biết, anh không hở một tiếng nào về nhiệm vụ chiến đấu của anh mà không hội ý trước với sĩ quan Tâm Lý Chiến. Anh hiểu chớ? Lặp lại sự dại dột này, không chỉ một mình anh mà chính tôi cũng phải ra toà án quân sự!” Vị đại tá đập bàn: “Tôi cảnh cáo anh lần này. Chớ có sắm vai ngu xuẩn, hiểu chưa?”

Tôi biết hoàn toàn! Tôi bị bịt miệng, nhưng tôi thông cảm cái thế của ông ta. Ðơn giản hơn hết, Sakai, hãy ngậm miệng của mày lại.

Tôi quay về bịnh viện, gặm nhấm những lời trách mắng vừa nhận lãnh.

Có người gọi tên tôi. Một binh sĩ chạy việc đứng nghiêm ở cửa chào tôi. “Gì đó?”. Tôi vội hỏi.

“Dạ thưa, Chuẩn úy có một ông khách. Một phi công hải quân lớn con, đang chờ Chuẩn úy ở phòng khách. Hình như ông ta nói tên là Nishizawa.”

“Hả?” Tôi la lớn: “Nishizawa, có thật hắn ta không?”

Tôi quên câu chuyện vừa xảy ra và chạy như điên ra phòng khách, chạm vào tên lính tà lọt muốn té lăn cù. Tôi mở cửa phòng và nhìn vô.

Một người đàn ông gọn ghẽ, to lớn, bước lui bước tới trong phòng, miệng ngậm thuốc. Ðây rồi! Hắn không thay đổi chút nào.

Hắn ngước nhìn tôi, cười rạng rỡ và thét lên “Sakai!..” Tôi la tên hắn “Nishizawa!”, chúng tôi ôm choàng lấy nhau, sung sướng không nói nên lời.

Tôi nắm chặt hắn rồi xô dang ra xa, “Ðể tôi nhìn anh coi!”. Tôi nói. “Ngon lành lắm! Phong độ lắm! Không bị thương à?” tôi hỏi nhanh.

“Không, Saburo,” Nishizawa đáp giọng vui vẻ. “Tôi vừa rời Rabaul hồi tháng 11. Không một vết trầy nào hết. Hình như đạn sợ tôi.”

Sakai và Nishizawa tại Rabaul 1942

Tôi phấn kích: “Ha! Ha! Chúng tôi đặt tên Ác quỷ Không trung cho anh thật thích hợp!” Tôi nói. “Quả thật anh là vị thần hộ mệnh của chúng tôi, lướt xuyên qua cả Lae lẫn Rabaul mà không một vết thương nào. Nishizawa, được gặp lại anh thật là tuyệt thú.” Tôi siết tay Nishizawa với niềm vui tột cùng.

“Anh cho tôi biết những chuyện đã xảy ra sau khi tôi ra đi. Chắc hiện thời anh là phi công hàng đầu của hải quân. Ồ! Tôi có thể tưởng tượng hình ảnh của anh trên không phận Guadalcanal,” Hắn khoát tay phản đối. “Ðưa tôi lên quá nhiều, Saburo,” hắn phàn nàn. “Tôi cũng không biết chắc số nạn nhân của tôi. Năm mươi hoặc có lẽ trên chút ít. Nhưng tôi vẫn còn thua anh xa.” Hắn mỉm cười. “Có lẽ anh không biết, nhưng anh vẫn còn là phi công số một.”

“Anh điên rồi!” tôi nói. “Tôi biết anh mà. Ngay từ trước đây tôi đã ngại anh qua mặt tôi rồi. Nhưng, nói tôi biết anh làm gì ở Sasebo?”

“Họ gởi tôi về Không đoàn Yokosuka” hắn đáp, mặt tiu nghỉu. “Một huấn luyện viên! Là công tác họ giao cho tôi, một huấn luyện viên! Saburo, anh có thể tưởng tượng cảnh cả ngày tôi bay vòng quanh với một chiếc phi cơ hai tầng cánh vừa cổ lỗ vừa xộc xệch, hò hét mấy tên ngu như bò, dạy cho chúng biết quành quẹo như thế nào, và làm sao giữ cho quần của chúng đừng ướt mẹp không?”

Tôi cười ngất. Hắn nói đúng! Nishizawa mà làm huấn luyện viên sao được!

“Ðó”, hắn tiếp, “sau một ít lâu ở đó, tôi cảm thấy muốn chết giấc. Vì vậy, tôi đã tình nguyện đi hải ngoại trở lại, họ vừa chịu buông tôi. Tôi nhận lịnh hồi sáng này, qua Phi Luật Tân. Do đó mà tôi phải gặp anh hôm nay. Sáng mai chúng tôi cất cánh.”

“Sớm vậy?”

“Tôi muốn như vậy, Saburo,” hắn đáp. “Bay quanh Yokosuka chán quá rồi. Tôi muốn chiến đấu. Tôi phải chiến đấu trở lại. Ở đây, tôi đang bị giết lần mòn.”

Tôi hiểu hắn. Thật vậy, tôi hiểu rõ hắn. Nhưng… có nhiều câu chuyện cần hỏi thăm, những người bạn khác của chúng tôi.

“Tôi ganh tị với anh, Nishizawa. Nhưng này, hãy nói chuyện Rabaul, kể cho tôi nghe về mấy người khác. Ðại úy Sasai bây giờ ở đâu? Và Ota, hắn có bay với anh không? Hai phi công bên cánh của tôi, Yonekawa và Hatori? Kể hết chuyện của họ cho tôi nghe đi.”

“Cái gì?” hắn nhìn tôi, đôi mắt trống rỗng. Ðôi mắt đong đầy nỗi tuyệt vọng. “Thì ra họ không nói với anh…”

“Anh nói gì vậy?” tôi hỏi.

Hắn khoát tay một cách yếu ớt.

“Anh sao vậy, Nishizawa? Mấy người kia được gởi về xứ với anh phải không?”

Hắn quay đi, lưng day về phía tôi. Tiếng nói của hắn đầy xúc động. “Saburo, họ…” hắn đặt một tay lên trán, rồi xoay mau lại “Chết hết rồi!”

Tôi không tin!… Chuyện đó không thể xảy ra được!

“Anh nói gì?” Tôi hét lên.

“Họ chết hết rồi! Anh và tôi, Saburo, anh và tôi… chúng ta là hai người duy nhứt còn sống sót của Phi đoàn Lae.”

Không thể là sự thật! Hai đầu gối tôi khuỵu xuống. Choáng váng, tôi dựa vô cạnh bàn, trong lúc đầu óc cố phân tích thảm kịch này. Làm sao…

Nishizawa bắt đầu kể. “Ðại úy Sasai ra đi đầu tiên. Vào ngày 26 tháng 8, hai tuần sau khi anh rời Rabaul, chúng tôi thực hiện một phi vụ càn quét ở Guadalcanal. Không phải như trước kia đâu, Saburo. Tôi không thể đếm bao nhiêu chiếc Wildcat cả thảy, nhưng chúng ùa đến như một giòng suối bất tận. Hết lớp này đến lớp khác. Chúng tôi không có một dịp may nào cả. Ðội hình chúng tôi phải phân tán mau đến nỗi không ai nhìn thấy phi cơ của Sasai rơi xuống! Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ phi cơ của ông ta hư hại và đã bay phía trước chúng tôi. Nhưng khi trở về Rabaul, ông ta mất tích… Ông ta không bao giờ trở về.”

Nishizawa lộ vẻ mệt mỏi. “Kế đó là Ota. Ðúng một tuần sau đó. Cứ mỗi lần ra đi là mỗi lần chúng tôi mất thêm phi cơ. Guadalcanal hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của địch quân. Ota đã ra đi giống như Sasai. Chúng tôi bị tấn công tứ phía, không ai nhìn thấy phi cơ của hắn rơi. Hắn không trở về căn cứ. Rồi khoảng ba hoặc bốn ngày sau đó, Yonekawa và Hatori bị bắn rơi. Cả hai chết cùng ngày. Nhóm 80 phi công thực hiện phi xuất hôm đó, chỉ có tôi, Ðại tá Saito, Trung tá Nakajima và 6 phi công khác trở về.”

Tôi chết đứng. Nishizawa lặng yên. Chuyện này hình như không thật. Làm sao mà họ có thể chết hết được? Họ là những phi công tài ba nhứt, làm sao họ có thể chết đồng loạt?

Bốn trong những người bạn tốt nhứt của tôi. Tất cả đều bị giết trong lúc tôi nằm như chết trong bịnh viện Yokosuka. Tôi hiểu tại sao tôi không nhận được tin tức về sự mất mát này. Nishizawa và Trung tá Nakajima đã giấu tôi, trong thời gian công việc chữa trị đôi mắt của tôi đang diễn tiến. Họ không muốn tôi xúc động sẽ ảnh hưởng đến thần kinh mắt.

Khuôn mặt những người đã chết chập chờn trước mặt tôi. Tôi nhớ lại Ota, nụ cười của hắn từ trong phòng lái lúc chúng tôi lộn nhào trên không phận Moresby. Yonekawa và Hatori, hai người luôn luôn bám sát sau đuôi tôi trong các trận không chiến, luôn luôn chăm chăm bảo vệ tánh mạng của tôi. Ðại úy Sasai luôn chăm sóc tôi những khi đau ốm, thương tích, ông ta… Và bây giờ, họ đã… chết. Tôi khóc nức nở, không xấu hổ, giống như một đứa trẻ òa khóc. Tôi khóc mùi mẫn, thân thể rũ rượi.

Nishizawa nắm lấy tay tôi, khuyên lơn. “Saburo, đừng khóc nữa!”. Tôi ngước nhìn hắn.

“Tôi là một tên khốn nạn!” Hắn nói. “Tôi không thấy họ rơi xuống! Tôi không bảo vệ được họ. Ngay cả khi họ mất tôi cũng không biết. Những bạn thân của chúng ta, Saburo, những bạn thân nhất của chúng ta. Tôi đã không làm gì để giúp đỡ họ hết!”.

Hắn ngồi xuống. “Không, không, điều này cũng không đúng. Tôi không thể làm gì được. Phi cơ địch đông vô số, không đếm xuể. Chúng như những tảng mây lấp đầy bầu trời.” Tiếng nói của hắn mòn mỏi.

Chúng tôi ngồi lặng yên hồi lâu, nhìn lẫn nhau cùng im lặng.

Còn gì để nói nữa đây?

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

Post on October 9th, 2020

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Kỳ 22

Chương 19 phần 2 là chương tình cảm gay cấn nhất của toàn tập hồi ký. Nhưng vì sao Sakai từ hôn Fujiko, viện lý lẽ tàn phế không xứng đáng rồi anh sẽ lại kết hôn với Hatsuyo? Gì đó mâu thuẫn. Gì đó này, chính là tình yêu Sakai dành cho Hatsuyo vì không thực sự yêu Fujiko. Một chương hồi ký nhiều tính truyện Quỳnh Dao. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 22

Chương 19

Ngay khi tôi trình diện bịnh viện Yokosuka, một nhân viên đưa tôi đến phòng của vị y sĩ trưởng. Tôi đã quên mất, hôm nay là Chúa Nhật. Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp, y sĩ trưởng không làm việc vào ngày hôm nay. Nhưng tôi đã ngạc nhiên khi thấy ông ta đích thân tiếp đón tôi. Ông ta mỉm cười khi nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của tôi. “Tôi có dặn thông báo cho tôi biết ngay khi anh đến,” ông ta giải thích. “Tôi vừa từ bên chỗ trú ngụ sang đây. Tôi có nhận một lá thư riêng của Ðại tá Saito, yêu cầu tôi cố gắng bằng mọi cách để chữa trị cho anh.”

Ông ta nhìn tôi một thoáng. “Ðại tá Saito đã kể rành mạch cho tôi biết những gì mà anh đã làm ở Thái Bình Dương. Tôi biết anh là một phi công hạ nhiều phi cơ địch hơn tất cả những phi công khác của Nhựt Bản.”
Tôi gật đầu.

“Bây giờ tôi có thể hiểu rõ nỗi lo lắng của đại tá của anh. Ðến đây”, ông ta nắm lấy tay tôi, “chúng tôi sẽ bắt đầu khám anh ngay.”

Sau khi khám xong, ông ta đích thân đưa tôi xuống khu nhãn khoa. “Tôi có nhờ một bác sĩ nhãn khoa tài nhứt của Nhựt Bản chữa trị cho anh,” ông ta giải thích. “Bác sĩ Sakano nhập ngũ và hiện phục vụ trong hải quân với cấp bậc thiếu tá. Xứ sở của chúng ta chưa có y sĩ nhãn khoa nào tài giỏi hơn ông ta. Khi tôi được thơ của Ðại tá Saito, tôi đã báo cho bác sĩ Sakano chuẩn bị sẵn sàng để bắt tay vào việc chữa trị ngay khi anh đến.”

Tôi đang đối diện với giây phút định mạng. Tôi sẽ sớm biết tôi có thể nhìn thấy, tôi có thể bay trở lại được hay không.

Bác sĩ Sakano khám cho tôi. Nhiều phút sau, ông đứng thẳng dậy, mặt lộ vẻ nghiêm trọng và chậm rãi nói: “Phải làm liền. Tôi phải điều trị cho anh tức khắc. Anh còn nhìn thấy được nữa hay không đều tùy thuộc những gì mà tôi sẽ làm trong một giờ kế đây.”

Ông ngừng lại. “Sakai, tôi không thể sử dụng thuốc mê. Nếu anh muốn nhìn thấy, nếu anh muốn cứu ít ra là một con mắt của anh, anh phải chuẩn bị để chịu đựng tất cả sự đau đớn trong khi vẫn tỉnh,”
Tôi hơi choáng váng. Tôi lặng lẽ gật đầu, sợ ngay cả tiếng nói của mình.

Họ đặt tôi lên một chiếc giường cao, rồi nhiều nhân viên giúp việc lấy đai da và vải buộc ghịt chặt tôi xuống. Tôi không thể nhúc nhích tay chân. Ðầu tôi cũng bị buộc một sợi dây da để giữ chặt lại, và một nữ y tá đã vỗ vỗ vào đầu tôi để trấn an. Vị bác sĩ biểu tôi nhìn thẳng vào một ánh đèn đỏ chói treo trên trần nhà.
“Nhìn đi, Sakai” ông từ tốn nói. “Nhìn đi. Ðừng rời mắt khỏi ánh đèn đó. Ðừng nháy mắt, đừng đảo mắt sang nơi khác. Hãy để ý lời tôi dặn! Anh có thể đui mù cả đời nếu anh không làm đúng theo lời tôi dặn.”
Khủng khiếp! Hơn cả khủng khiếp nữa, đó là một nỗi đau đớn chưa từng gặp phải trong đời tôi. Tôi luôn luôn tự coi mình có một khả năng chịu đựng đau đớn vô song. Tâm niệm Samurai trong Bushido đã dạy tôi sự kiên nhẫn, tính chịu đựng, dưới mọi tình trạng khó khăn nhất.

Nhưng mà lần này! Tôi phải nhìn ngọn đèn trừng trừng. Nhìn cho đến khi tôi chỉ thấy màu đỏ chói tràn ngập mọi vật, cho đến khi bàn tay của vị bác sĩ chìa ra, mờ mờ ảo ảo, với dụng cụ bằng sắt nhọn và sáng loáng tiến gần hơn, gần hơn, gần hơn nữa.

Tôi thét lớn. Nhiều lần, tôi thét như một tên điên với nỗi hấp hối đầy khủng khiếp. Tôi cảm thấy không thể chịu đựng thêm một giây phút nào nữa. Ước muốn được bay lại, được thấy lại bây giờ trở thành đồ bỏ đối với tôi. Ðau chết được! Một lần tôi thét lên: “Ngừng lại! Bỏ hết, miễn đừng đau thì thôi!” Tôi cố né tránh lưỡi dao. Tôi cố thoát khỏi mấy sợi dây. Chúng được buộc quá chặt. “Im đi!” Vị bác sĩ la tôi. “Anh phải cố chịu đựng! Nếu không, anh sẽ đui mù! Ðừng hét nữa!.”

Sự hành hạ kéo dài hơn ba mươi phút. Nó dài bằng cả một triệu năm đối với tôi. Nó kéo dài vô tận. Khi công việc đã xong, tôi cử động một ngón tay cũng không nổi. Tôi nằm dài trên giường để thở, bất động. Vị y sĩ trưởng cúi xuống cố gắng để an ủi trong lúc ngực tôi nặng trĩu và tôi bật khóc nức nở.
Suốt một tháng tôi nằm miết trên giường bịnh. Tôi khổ sở. Ðời sống vô nghĩa đối với tôi. Tôi cứ nằm mơ thấy lại chuyến bay dài dằng dặc từ Guadalcanal trở về Rabaul của tôi.

Bác sĩ Sakano thường tới thăm bịnh tôi. “Tôi đã cố gắng hết sức” ông nói với tôi, “nhưng mắt bên mặt của anh sẽ không bao giờ hồi phục, anh chỉ có thể nhìn thấy những vật cách anh một hai thước. Riêng mắt trái của anh sẽ phục hồi hoàn toàn.

Lời nói của ông giống như lời nói của tử thần. Một phi công chiến đấu độc nhãn. Tôi cười một cách cay đắng lúc vị bác sĩ bước ra.

Vết thương trên đầu tôi lành lặn mau chóng. Bác sĩ cho phép tôi dạo quanh bệnh viện. Mỗi tuần tôi đều thỉnh cầu được xuất viện và được gởi lại Rabaul. Và mỗi tuần lời thỉnh cầu của tôi đều bị bác bỏ.
Cuối cùng, vị y sĩ trưởng có phản ứng khi thấy tôi cứ lảm nhảm nói mãi. Hiển nhiên là ông ta nổi giận. “Tôi cho anh biết, Sakai, còn nhiều tháng nữa anh mới có thể nghĩ đến việc trở lại Rabaul. Lịnh dứt khoát của tôi. Anh phải dưỡng sức ít nhứt sáu tháng trước khi anh được chỉ định vào bất kỳ nhiệm vụ nào, ở quê hương hay ở hải ngoại.”

Tôi cảm thấy giống như kẻ trốn chạy, một tên đào thoát khỏi chiến trường. Tôi nghĩ đến các phi công khác, nhứt là Nishizawa, Ota và Sasai, mỗi ngày họ đều ra trận. Ngay cả những tin tức liên quan đến cuộc chiến loan đi trên đài phát thanh, tôi cũng sợ nghe. Những tin tức nhắc nhở tôi nhớ đến Rabaul.

Một hôm, y tá thông báo: “Dưới lầu có hai khách đến thăm anh.” Tôi hoàn toàn không đoán ra ai. Hôm đó là thứ Năm, Cô em họ đến thăm tôi mỗi thứ Bảy, là ngày duy nhất Hatsuyo không phải làm trong xưởng nhồi thuốc đạn. Mỗi cuối tuần Hatsuyo mang hoa, trái cây đến ngồi bên tôi rất lâu và mỗi tuần tôi đều trông Hatsuyo đến. Tôi có viết cho má tôi đừng thăm viếng, vì má tôi phải đi từ Cửu Châu đến tận Yokosuka trên một hành trình dài 1,100 cây số, mà tôi sắp chuyển qua bịnh viện Sasebo trong vài tuần nữa. Má tôi cũng đã dọn lên Fukonoda, phía Bắc đảo Cửu Châu để sống với chị Cả và anh rể tôi. Tôi đợi ai thăm viếng, nên khi hai người khách đến thăm và bước vào buồng, tôi phải cố gắng nhận dạng họ, vì hai mắt tôi vẫn còn nhìn thấy mập mờ khi quá hai thước.

“Fujiko-san!” Tôi la lên vì quá bất ngờ.

Ðúng là nàng, đang đứng trên ngạch cửa với cha, giáo sư Niori. Tôi thấy nàng còn đẹp hơn lúc tôi gặp lần đầu cách đây 18 tháng ở Osaka. Hatsuyo đã viết thư báo tin cho họ. Khi gặp tôi, cả hai đều lộ vẻ lưu tâm đến thương tích của tôi. Giáo sư Niori lên tiếng:

“Hatsuyo-san cho chúng tôi hay là anh điều trị ở đây. Chúng tôi đã lo lắng cho anh biết nhường nào, Saburo-san! Nhìn thấy lại anh làm vơi nỗi lo sợ của chúng tôi. Chúng tôi đã rất lo cho tính mạng của anh.”

Tôi ấp úng, thấy mình thật có lỗi: vì đã nhiều tháng qua tôi không viết thơ cho Fujiko. Lời xin lỗi của tôi đầy vụng về chỉ tạo thêm ái ngại vì Fujiko đã viết cho tôi thật nhiều thơ, những bức thơ đầy tình cảm với những thùng quà tiếp tế khi tôi còn ở căn cứ Lae. Cha nàng khoát tay: “Không quan trọng. Chúng tôi đều biết những chiến công xuất sắc anh gặt hái ngoài mặt trận, chúng tôi vô cùng hãnh diện vì anh. Nhưng các vết thương của anh ra sao? Cho chúng tôi biết là anh sẽ sớm rời bịnh viện?”

Tôi chỉ cho họ xem bốn vết thương của tôi và, một cách buồn rầu, tôi chỉ con mắt bên mặt. “Con mắt này… con mắt này không còn nhìn thấy được nữa, các bác sĩ nói tôi sẽ duy trì tình trạng này suốt đời.”

Fujiko sửng sốt. Nàng đưa tay lên bịt miệng như cố ngăn nàng kêu lên. Hai mắt nàng trợn trừng. Tôi nhấn mạnh: “Ðó là sự thật. Tôi đã tàn tật. Mất một con mắt có nghĩa là chấm dứt cuộc đời phi công khu trục của tôi.”

Giáo sư Niori chận hỏi: “Như vậy… Anh sẽ giải ngũ sao?”

“Dạ, thưa không, tôi không nghĩ như vậy,” tôi đáp. Nỗi cay đắng dâng lên trong lòng. “Ở quê hương, giáo sư không thể nào hiểu được sức hút nhân lực của cuộc chiến khổng lồ này ra sao. Tôi không nghĩ rằng tôi sẽ rời quân ngũ. Hải quân sẽ tìm cách sử dụng tôi, làm huấn luyện viên hoặc một nhiệm vụ nào đó ở Bộ Chỉ Huy trên mặt đất chẳng hạn.”

Một thoáng im lặng. Khoảnh khắc đủ giúp tôi nghĩ đến cuộc hành trình xa hơn 800 cây số của họ từ Tokushima đến đây để thăm tôi. Ý thức mình thiếu lịch sự, đối đáp quá phũ phàng, làm tôi vội cám ơn họ. Fujiko tỏ vẻ thất vọng vì cung cách nghi lễ của tôi. Nàng muốn nói điều gì nhưng không thốt nên lời. Cuối cùng nàng quay mau về phía ba nàng và kêu lên: “Ba!”

Ông Niori gật đầu và hắng giọng: “Anh nghĩ khi nào được tái bổ nhiệm?” ông hỏi, mắt nhìn thẳng vào tôi. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên xúc tiến việc hôn nhân… việc này dĩ nhiên, nếu anh bằng lòng, Saburo!”
“Giáo sư… muốn nói gì?” Tôi thảng thốt. “Tôi không thể tin câu nói của giáo sư. Xúc tiến hôn nhân?” Ðầu óc tôi quay cuồng!

“Saburo, anh hãy tha thứ cho tôi,” ông Niori nói:“Tôi biết đem việc này ra nói với anh thật là đường đột.”
Ông đứng thẳng lên và nói tiếp một cách nghiêm trang. “Saburo, anh có chấp nhận con gái của tôi, Fujiko, làm bạn đời của anh không?”

Những tiếng nói ấy giống như những tiếng chuông vang dội trong không gian. Fujiko nhìn tôi với đôi mắt mở tròn, rồi bẽn lẽn cúi đầu nhìn xuống chân.

Tôi tránh nhìn nàng, tôi nhìn đăm đăm vào vách. Chính tấm vách đó, bao ngày tôi đã nhìn đăm đăm trong nỗi tuyệt vọng.

Cuối cùng, tôi ngần ngừ mấy lượt rồi nói:

“Giáo sư Niori, tôi… Dạ thưa, tôi rất lấy làm vinh hạnh khi nghe những lời giáo sư vừa nói. Nhưng…” tôi xúc động và cố dằn nước mắt. “Tôi, tôi không thể… nhận lời đề nghị của giáo sư.”

Xong rồi! Tiếng nói của tôi đã thoát ra. Tôi đã nói được điều tôi muốn nói.

“Hả?” Giọng ông đầy nghi ngờ. “Anh… anh đã có ý trung nhân?”

“Không! Dạ thưa không! Ngay cả nghĩ đến một người khác cũng không. Tôi không nhận lời vì một lý do hoàn toàn khác hẳn. Giáo sư Niori, tôi không thể nào nói tiếng “bằng lòng”. Không thể được! Giáo sư hãy nhìn tôi! Tôi không xứng đáng với cô Fujiko. Giáo sư hãy nhìn con mắt của tôi.” Tôi kêu lên: “Tôi đã đui một bên rồi!”.

Sự nhẹ nhõm tỏa khắp mặt ông.“Ồ! Saburo, anh không cần phải tự hạ mình như vậy! Ðừng tự làm khổ thân anh thêm nữa! Những vết thương của anh là những vết thương vinh dự, chúng không làm anh hổ thẹn. Anh không biết cả tư thế của anh nữa hay sao? Khắp nước Nhật hoan hô anh, ca tụng anh. Anh không hiểu rằng trong tư cách một phi công tài ba nhứt, vĩ đại nhứt của xứ sở chúng ta, anh đã trở thành một anh hùng dân tộc hay sao?”.

“Giáo sư Niori, giáo sư chưa hiểu hết! Tôi chỉ nói với giáo sư sự thật, một sự thật mà chính giáo sư không thể nhìn thấy,” tôi nhấn mạnh. “Không hề có sự khiêm tốn nào trong lời nói của tôi. Một vị anh hùng là cái gì không trường cửu. Người anh hùng như một đám mây trôi nổi. Và tôi không phải là một vị anh hùng. Tôi chỉ là một phi công, một phi công không thể nào bay được nữa. Tôi là một phi công nửa mù nửa sáng. Có gì ở tôi đáng ca ngợi đâu! Tôi hết xài rồi! Anh hùng, quả thật … giáo sư đã biết xứ sở của chúng ta không có anh hùng cá nhân.”

Ông Niori lặng yên trong giây lát. “Có lẽ, tôi lầm lẫn phần nào,” ông tiếp. “Nhưng anh phải biết những gì tôi vừa nói không phải là yếu tố đưa đến sự quyết định của tôi. Nhà tôi và tôi đã “chọn” anh ngay lần gặp đầu tiên. Tôi hiểu biết những cảm nghĩ của anh, nhưng anh cũng phải hiểu biết một sự việc trên hết: Nhà tôi và tôi, cũng như Fujiko, tin tưởng anh là người duy nhất có thể mang đến hạnh phúc cho nó. Chúng tôi cũng hy vọng, cũng tin tưởng rằng con gái chúng tôi sẽ mang đến hạnh phúc cho anh.”

Tôi cảm thấy tim tôi hầu như tan vỡ. Có thể nào người đàn ông tốt lành và tuyệt diệu này không hiểu hết những gì tôi muốn nói? “Làm sao giáo sư có thể xét đoán được một người chỉ qua một lần gặp gỡ?” Tôi nói.

“Cả một đời của Fujiko, hạnh phúc của nàng, đâu có thể được đặt trên một lần gặp gỡ. Tôi không thể nào hiểu nổi lời đề nghị của giáo sư, cho dù tôi chưa từng gặp danh dự nào lớn hơn danh dự mà giáo sư đã mang đến cho tôi hôm nay.” Tôi lộ vẻ nóng nảy: “Có nhiều người khác xứng hợp với Fujiko hơn. Hàng ngàn thanh niên học cao, tương lai đầy hứa hẹn. Thưa giáo sư, còn tôi, tôi có thể cung hiến cho ái nữ của giáo sư những gì? Những gì tôi có thể mang đến cho nàng? Một lần nữa, tôi xin giáo sư hãy nhìn kỹ tôi đi! Nhìn tôi đi! Tôi như vầy thì còn nói đến chuyện tương lai gì nữa?”

Fujiko không thể giữ yên lặng hơn được. Nàng ngẩng đầu lên và nhìn tôi đăm đăm. Tôi muốn trốn chạy khỏi căn phòng. “Anh lầm rồi, Saburo,” nàng dịu dàng nói. “Anh lầm rồi! Anh quá lưu tâm đến con mắt của anh! Anh đui hay không đối với em không thành vấn đề. Nếu cần, Saburo, nếu cần em có thể giúp đỡ anh.”
“Cô lầm rồi, Fujiko,” Tôi đáp. “Tôi biết cô can đảm, những gì cô thốt ra đều chân thật, nhưng hiện thời cô nói theo tình cảm. Cô không thể quyết định cả một đời dựa vào tình cảm đã qua rồi.”

“Không, không” nàng vừa nói vừa lắc đầu. “Anh không hiểu em. Ðây không phải là tình cảm nhứt thời. Anh không biết rằng em đã nghĩ đến cuộc gặp mặt này từ nhiều tháng nay. Em đang nói những gì em ý thức rõ.”

Không tới đâu, nếu cứ tiếp tục nói qua nói lại như vậy. Tôi sợ một lúc nào đó tôi sẽ nhượng bộ.

“Thưa giáo sư Niori và cô Fujiko,” tôi cố chứng tỏ sự cương quyết trong giọng nói, “tôi không có ý định làm giảm giá trị của giáo sư và cô. Câu chuyện này không phải là vấn đề mặc cả. Tôi xin lặp lại, thưa giáo sư, những lời đề nghị của giáo sư hôm nay là một vinh dự lớn mà tôi chưa bao giờ nhận được. Nhưng tôi không thể nhận lời đề nghị phi thường này. Tôi không thể nào nhận lấy danh dự kết hôn với ái nữ của giáo sư, bởi lẽ tôi không xứng đáng. Ðó là lý do tại sao tôi phải từ chối.”

Dù cho Niori nói cách nào tôi cũng vẫn một mực từ chối. Fujiko không thể nào chịu đựng được nữa, nàng ngả vào tay cha và bật khóc. Tôi muốn tự sát để trả lại những gì mà tôi đã làm, sự đau buồn mà tôi đã gây ra cho nàng. Nhưng tôi biết hành động của tôi không thích đáng, tôi đã xử sự như vậy chẳng qua là vì hạnh phúc của nàng. Cuộc hôn nhân có thể mang đến hạnh phúc bình thường ở hiện tại, nhưng những năm sau này kẻ chịu đựng buồn phiền sẽ là Fujiko.

Gần một giờ sau họ rời khỏi phòng tôi. Tôi không biết tôi đã đăm đăm nhìn theo họ bước ra cửa bao lâu. Cuối cùng, tôi quay vô phòng, buông thân rã rời trên giường. Ðó là giờ phút buồn thảm nhứt trong đời tôi. Nhưng mà tôi có thể làm gì khác hơn? Một ngàn lần vẫn là một câu đáp đến với tôi: “Không còn cách nào hơn”. Tôi đã gạt sang bên một vật tuyệt mỹ, chưa từng tiến đến tầm tay tôi bao giờ.

Hai ngày sau đó, Hatsuyo đến thăm tôi. Nàng không cười như thường lệ. Nàng ngồi xuống bìa giường và nhìn thẳng tôi. “Tại sao anh có thể làm như vậy, Saburo?” “Saburo!”  “Tại sao anh đối xử tàn nhẫn với Fujiko?”, nàng hỏi ngay khi gặp tôi. “Anh làm cho Fujiko đau khổ quá nhiều”. Hatsuyo cho tôi biết, từ bịnh viện trở về, Fujiko đã khóc suốt đoạn đường và khóc nức nở khi ghé thăm nàng ở Ðông Kinh. Giáo sư Niori đã yêu cầu chú tôi và Hatsuyo hãy tìm cách thuyết phục tôi.

Hatsuyo nhìn tôi một cách giận dỗi. “Saburo, họ nói anh đã từ chối, có lẽ tại vì anh không hài lòng những lời lẽ của họ. Ba em và em biết rõ gia đình đó lắm. Họ đều tốt cả. Tại sao anh làm như vậy?”. “Tại sao, Saburo?” “Fujiko đoan trang và thích hợp với anh!”

“Hatsuyo, em hiểu giùm anh”. Tôi van nàng. “Em đã từng sống nhiều năm thơ ấu với anh, cùng chơi chung với anh, em và tất cả mọi người trong gia đình đều biết anh quá rõ. Anh không hối tiếc quyết định của anh, cho dù nó đã gây cho anh nhiều đau đớn. Anh thực sự tin rằng anh đã hành động như vậy vì tương lai của Fujiko, và hạnh phúc của nàng.

Hatsuyo không đồng ý. “Họ nói anh từ chối vì anh bị thương.”

“Ðó chỉ là một phần lý do. Anh đã yêu Fujiko ngay từ khi gặp nàng lần đầu. Tình yêu của anh đối với nàng càng lúc càng sâu đậm. Suốt những tháng dài dằng dặc ở Lae và Rabaul, đối với anh, Fujiko đã trở thành người đàn bà vĩnh cửu trong đời. Chắc em khó thể hiểu nổi được anh đã từ chối vì anh yêu nàng!”
“Em không hiểu gì cả, Saburo!”

“Suốt thời gian anh ở hải ngoại, suốt những tháng năm đầy mệt nhọc ở Thái Bình Dương, Fujiko không bao giờ rời khỏi tâm trí của anh. Có lẽ việc này không mấy tốt khi đem bàn với em, nhưng anh phải nói sự thật. Rabaul là một căn cứ quân sự quan trọng, lúc nào cũng có hơn 10,000 binh sĩ Nhựt đồn trú. Thêm vào đó, thỉnh thoảng có cả một sư đoàn bộ binh ghé tạt qua.

“Em nghĩ thế nào khi những người đàn ông này xa nhà, xa vợ của họ? Có nhiều gái điếm ở Rabaul, giống như ở đây Yokosuka. Khi được nghỉ phép ở Rabaul không phải tất cả, nhưng đa số phi công đều biết qua bọn gái điếm này. Riêng anh, anh không bao giờ dính dáng đến. Niềm kiêu hãnh của anh không cho phép anh dây dưa với bọn họ. Anh muốn giữ mình trong sạch cho Fujiko, chờ ngày anh có thể ngỏ lời cầu hôn nàng.

“Trước khi bị thương, anh đã nghĩ đến nàng trong tư cách một Sakai phi công tài ba, không hề biết sợ hãi, một người đàn ông kiêu hãnh của nàng. Nhưng mà hiện tại? Không!” Tôi lớn tiếng. “Anh sẽ không cần đến lòng thương hại! Em có nghĩ là anh muốn duy trì lòng thương hại của Fujiko không? Không bao giờ! Bây giờ em hiểu anh rồi chớ?”

Hatsuto nhìn ngay mắt tôi. “Em hiểu, Saburo, em hiểu anh rất nhiều. Em luôn hiểu anh từ khi còn bé. Nhưng em không tránh khỏi buồn giùm cho Fujiko.”

“Fujiko sẽ hạnh phúc hơn. Nàng sẽ…”

Nhưng Hatsuyo chận lời tôi bằng cách choàng tay qua cổ tôi và kéo tôi đến gần nàng. “Tội nghiệp anh, Saburo! Phải hy vọng… anh phải tin tưởng. Anh sẽ bay trở lại. Em biết anh sẽ được bay trở lại! Em tin tưởng vô cùng là anh sẽ còn bay nữa. Anh sẽ lại hòa vào mây, Saburo! Em sẽ cầu trời khấn Phật hằng đêm cho anh thỏa nguyện.”

Chuyện tào lao!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on October 21st, 2023

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Ca dao là từ Hán Việt. Ca là bài hát có giai điệu, có chương khúc. Dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, không có chương khúc. Ca dao thường theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc, dùng để ru em. Về hình thức, câu ca dao rất hiệp vận, đa số là ngắn, không thừa, không thiếu một chữ. Còn về nội dung, ca dao của ông bà mình truyền lại, thâm trầm lắm, sâu xa lắm. Chẳng hạn như câu: “Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh. Bánh nào trắng cho bằng bánh bò bông. Đôi ta gá nghĩa vợ chồng. Nằm đêm nghĩ lại, nước mắt hồng tuôn rơi”.

Gia đình ông bà Ngô Đình Nhu – nguồn Flickr.com

Muốn hiểu tường tận câu ca dao nầy không phải là dễ như ăn cơm sườn không bị mắc xương. Tối leo lên giường nằm nghe cải lương đâu! Muốn hiểu tận tường đôi khi phải trầy vi, tróc vảy. Mình phải rành sử ký. Phải biết ông chánh là ông nào? Tại sao lầu ông chánh lại cao?

Theo lịch sử cho biết, năm 1868, sau khi chiếm được toàn bộ Lục tỉnh Nam Kỳ, hệ thống hành chánh của thực dân Pháp chỉ giữ lại tổng, xã, thôn nhưng bỏ phủ, huyện để thành lập các hạt tham biện. Đứng đầu hạt tham biện là quan lớn chánh tham biện, một ông Tây mũi lõ từ Pháp qua cai trị dân ta. Quan lớn thời nào cũng vậy phải ở nhà lầu cao. Sau khi Tây về Pháp, cái lầu cao nầy đi theo không được đành ở lại làm Dinh tỉnh trưởng.

Còn bánh bò làm bằng bột gạo, nước, đường, nước cốt dừa và men. Có người cắt nghĩa miệng nở ra như hình cánh bông nên gọi là bánh bò bông. Nhưng tui lại cho rằng: bánh bò bông là vì nó có màu trắng phích. Vì ca dao cũng có câu: “Trắng như bông, lòng anh không chuộng. Đen như cục than hầm, lòng muốn dạ ưa”. Còn gá nghĩa vợ chồng có nghĩa là lấy nhau.

Như vậy câu ca dao nầy là của Lục tỉnh Nam Kỳ. Nó diễn tả người vợ với tấm lòng cao rộng như lầu ông Chánh và trinh bạch như bánh bò bông. Nhưng có thể em bị oan Thị Kính, nên cái tâm sự u uất buồn khổ đến tột cùng, khóc đến chảy máu mắt. Nước mắt hồng cũng xuất hiện trong câu ca dao: “Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc. Gió nào độc cho bằng gió Gò Công. Thổi ngọn gió đông lạc vợ xa chồng. Nằm đêm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi”. Câu ca dao nầy nói về trận bão lụt kinh khiếp năm Thìn, năm 1904. “Bến Thành nóc chợ cũng bay. Đèn khí nó ngã nằm ngay cùng đường…”. “Gặp em đây mới biết em còn. Hồi năm Thìn bão lụt anh khóc mòn con ngươi”.

o O o

Rồi câu ca dao “Anh buồn còn chỗ thở than. Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya”. Muốn hiểu câu ca dao nầy một cách tường tận cũng không phải dễ. Phải biết cọng nhang làm bằng ruột tre. Bột nhang là bột trái cây bồ lời và bột cam cưa. Nhang có màu vàng của bột cây huỳnh đàn và cây trầm gió. Nhang thơm do nhiều vị thuốc Bắc, như mộc hương, đại hoàng, địa liên, nhục đầu, bạch chỉ, trầm hương.

Nhang cho việc thờ cúng. Nhưng nhang cũng tính thời khắc cho một độ đá gà ban ngày hay trong đêm tối gọi là “đồng hồ nhang”. Mấy chú ba đốt mỗi đêm một khoanh nhang duy nhất

Đây là tâm sự của một người vợ bé lúc đêm về phòng không chiếc bóng, thui thủi một mình!

Trước năm 1954, chuyện đàn ông hai vợ là chuyện thường ngày ở huyện. Trong giấy khai sanh, còn có mục phải khai là vợ chánh hay vợ thứ? Thứ chớ hổng phải bé. Vợ thứ là trong giấy tờ. Vợ bé là trong cõi nhân gian.

Năm 1955 ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống thời Đệ nhứt Cộng Hoà (1955-1963). Ông Ngô Đình Nhu là em và cũng là cố vấn thân cận nhất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Bà Trần Lệ Xuân (1924-2011), gọi tắt theo tên chồng là bà Nhu (tiếng Anh: Madame Nhu) là em dâu. Bà Trần Lệ Xuân còn được gọi là Đệ nhứt Phu nhân vì Tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ, sống độc thân. Bà Trần Lệ Xuân cũng là: Chủ tịch Phong trào Liên đới Phụ nữ trực thuộc Đảng Cần lao Nhân vị. Chánh sách về gia đình của bà Trần Lệ Xuân (chịu ảnh hưởng của Tây học) là: “Ai lỡ có vợ bé thì thôi. Ở đâu yên đó! Không được rước thêm bà nào nữa”. Ai chưa có, nhứt là quân nhân công chức, không được phép lập phòng nhì. Có thì ráng mà giấu. Bị phát hiện thì bị thi hành kỷ luật.

Thế nên câu ca dao: “Anh buồn còn chỗ thở than. Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya.” Nó phải có trước năm 1955 rất lâu. Tại sao vậy? Vì đó là thời trai năm thê bảy thiếp là thường.

“Anh buồn còn chỗ thở than” Anh đây là người chồng. Chỗ (chớ không phải chốn) chỉ người vợ lớn. “Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya”

Phận em làm bé khi buồn không biết thở than với ai ráo trọi? Chỉ một thân, em thức tới khuya lơ, khuya lắc, trằn trọc tới nhang tàn luôn chỉ còn cái cọng. Cái buồn không nói ra được, nó là cái buồn dai dẳng, cái buồn lẻ loi, nó gặm nhấm lòng em như nhang tàn thắp khuya sáng đêm. Rồi đời em tàn lụi như một ‘cọng nhang’

Vậy mà có tên Ba ke hai nút bố láo, dám tam sao thất bổn, hỗn hào sửa bậy bạ, sửa tùm lum, sửa tà la chữ của ông bà mình. Nó dám viết là: “Đó buồn có chốn thở than. Đây buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”?

Rồi một đứa Bake 75 hai nút khác dám viết là: “Anh buồn có chốn thở than. Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.” Thắp khuya, nhang cháy hết còn cái cọng. Chớ ngọn nhang là đầu cây nhang thì nó có ý nghĩa gì?

Viết ẩu xị, vụt chạc, bừa bãi, không cân nhắc, đắn đo, suy xét gì hết ráo.  Chỉ quen thói kiêu ngạo CS, làm tài khôn mà sửa bậy bạ, sửa tùm lum chi cho chúng nó khi, nó cười vô mặt.

Tệ hại hơn nữa là những câu vè tuyên truyền chánh trị nhứt thời cũng ráng mặc cho nó chiếc áo gấm ca dao. Như: “Cầm dao em vót mũi chông, Nghe súng ta nổ là lòng thêm vui. Căm thù giặc Mỹ không nguôi. Thằng cu nó cũng học đòi vót chông”. Gì mà có ‘cu’ ở đây vậy mấy bố? Thiệt là chuyện tào lao!

ĐXT

Chị Hai Chim

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted 5 May 2022

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Nhóm bạn nhậu của tui ở Footscray nầy có 3 người. Tui là một, anh Tư Hiền Triết là hai. Và anh Ba Cãi là ba.

Anh Tư Hiền Triết và anh Ba Cãi viết văn. Ðời mà, hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ(!?). Hai nhà văn nầy bằng mặt mà ít khi bằng lòng. Hai người chê bai nhau về tài viết văn. Tui thì dốt. Không biết viết, chỉ biết đọc, biết nghe. Nên hai thằng chả hay rủ tui nhậu để lúc xỏ xiên qua lại với nhau, tui làm trọng tài. Ðược cái là tui không phải là trọng tài “xây cá nại”. Tui rất công tâm. Ai trúng tui nói trúng; ai trật tui nói trật. Hổng chịu, giận, không ai kêu tui đó, thì tui ở nhà nhậu với con vợ của tui.

Thấy tui cang cường như vậy nên hai cha đều khoái. Huỡn huỡn một chút là hú tui, nhậu hè. Ðôi khi tui cũng nhậu chực; chớ không phải không. Nhưng nói chung là tui chơi cũng đứng đắn, đàng hoàng lắm nhe! Bữa nào, vợ cho vài chục đô dằn túi là tui chi bạo hè. Anh Tư Hiền Triết xách beer, tui mua rượu đỏ đem đến garage nhà anh Ba Cãi nhậu.

o O o

Cái lạ là 47 năm rồi, 30 tháng Tư nào CS cũng bắn pháo bông ăn mừng vì đã giết chết khoảng 4 triệu người, kể cả hàng trăm ngàn người Việt bỏ mình khi vượt biên, vượt biển. Xương chất thành núi, máu chảy thành sông. Còn tụi tui, những người quốc gia, gọi đây là ngày Quốc hận, ngày làm đám giỗ hội cho những người đã chết. Những oan hồn đó vì Lê Duẩn quyết tâm đánh chiếm Miền Nam; đánh cho cho Liên Xô và Trung Quốc.

30 tháng Tư năm nay ở Úc nhằm ngày thứ Bảy cuối tuần, weekend, anh Ba Cãi kêu tui lại nhà chơi vì anh làm đám giỗ hội, mình ên buồn quá.

Nhân tiện anh Ba Cãi kêu tui mời anh Tư Hiền Triết với. Tui thấy hơi lạ nên hỏi lại: “Nhà anh làm đám giỗ thì anh mời, sao lại kêu tui?”. Anh Ba Cãi nói, tui có kêu nhưng thằng chả block số của tui rồi. Sao lại giận? Chẳng qua tui phê bình thằng chả viết văn mà xài tiếng tục tĩu của CS như chữ “tự sướng”. Rồi hồi xưa ông bà mình dùng từ “tham quan ô lại” để chỉ bọn ăn cắp, ăn cướp của dân. Giờ thằng cha Tư Hiền Triết lại viết “đi tham quan” là một động từ, là đi viếng một danh lam thắng cảnh nào đó. Lại tính chôm chỉa gì đó cha nội?

Theo tự điển Hán Việt, “tham quan” cũng có nghĩa là: Thăm, xem, du lãm. Như tham quan bác vật quán, xem viện bảo tàng. Nhưng bà con mình hồi xưa ít ai xài cái nghĩa nầy lắm. Tui không thấy ai xài chữ “đi tham quan” như cha Tư nầy bao giờ? Ði đã là một động từ. Tham quan cũng là một động từ. Trong tham quan đã có nghĩa là đi. Hổng đi mà chỉ nằm thì tham quan cái giống gì hè?

CS thường hay hô hào, la lối tưng bừng là hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt! Tiếng Nôm mình có sẵn, nào là đi chơi, đi thăm, đi coi, sao hổng chịu xài vậy? Xài chữ Hán Việt bừa bãi, bậy bạ như thế mà hổng sợ ông bà mình hiện hồn về vả miệng cho rụng răng hết ráo, không còn một cái mà ăn cháo!

Rồi cha Tư Hiền Triết Nam Kỳ rặt mà nấu cho mau chín thì lại viết thành nhanh chín! Rồi cái chuyện nầy mới đáng rầy thằng chả nè. Chuyện hay nhe, kể nghe chơi.

Hai tuần trước cha Tư Hiền Triết có đăng một tiểu phẩm tựa là “Air China” (Hãng Hàng không Trung Quốc) trên Tuần báo Sóng Vang (tức Sáng Dông).

Bài viết như vầy nè: “Ðồng chí Tí và đồng chí Tèo thuộc Bộ Chánh trị đảng CS VN đáp máy bay của Air China đến Bắc Kinh công cán. Mọi thứ đang diễn ra suôn sẻ, nhưng sau đó một động cơ bị hỏng.

Chuông báo động vang lên trong buồng lái. Viên cơ trưởng thông báo: “Hành khách thân mến! Ðây là lời cơ trưởng của bạn. Rất tiếc chúng ta đã bị mất một động cơ, nhưng đừng lo lắng, tôi sẽ đảm bảo an toàn cho các bạn”.

Máy bay hạ cánh trên mặt nước, cơ trưởng bình tĩnh nói: “Một lần nữa xin kính chào quý hành khách. Chúng tôi đã hạ cánh thành công xuống mặt nước, tôi hy vọng tất cả các bạn đều ổn. Bây giờ, tất cả những người có thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên phải của máy bay. Những người không thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên trái”.

Ðồng chí Tí quay sang nói với đồng chí Tèo: “Ðó là điều làm tớ yêu thích hãng hàng không Air China này, là họ luôn có những phương án dự phòng cho mọi tình huống”.

Ðồng chí Tèo trả lời: “Vâng, tớ hoàn toàn đồng ý, phi hành đoàn có vẻ được đào tạo tốt cho những tình huống này. Họ lo lắng cho chúng ta vốn là những đồng chí môi hở răng lạnh không biết bơi”.

Sau khi mọi người đã được sắp xếp theo khả năng bơi, cơ trưởng nói: “Tất cả những ai có thể bơi ở phía bên phải của máy bay, hãy sơ tán ra khỏi máy bay ngay lập tức! Và xin gửi đến những người ở phía bên trái của máy bay lời chào “Vĩnh biệt”. “Cảm ơn các bạn đã bay với Air China!”.

Toàn là những chữ của CSBV như cơ trưởng, đều ổn, đảm bảo, phương án dự phòng… v.v và v.v. Ðọc mà muốn ứa gan, sôi máu hè!

Cha Tư Hiền Triết dùng chữ đã sai mà viết chánh tả cũng sai bét. Bĩu môi thì viết là biểu môi. Chúm chím lại viết thành chúm chiếm. Kêu thằng chả sửa lại cho trúng mà y ngoan cố đâu có chịu. Y khoe bài tui đăng có trả tiền nhuận bút nên tòa báo có tiền là nó có quyền sửa trật. Phương Tây là vậy đó. Hỏi anh có ứa gan không?

Tui nói anh phê bình cách dùng chữ của thằng cha Tư Hiền Triết như vậy là đúng, giận cái giống gì hè. Ðầu hai thứ tóc rồi đâu phải mới đẻ hôm qua. Ờ, để tui nói với thằng chả.

o O o

Thưa bà con, tại sao tui khoái nhậu ở nhà anh Ba Cãi? Vì nhiều lẽ. Một là nhậu ở nhà nó rẻ, ít tốn tiền. Ra nhà hàng, mình nhậu tốn phân nửa, còn phân nửa là lọt vô túi áo con vợ bé của cha chủ nhà hàng. Thiệt trùm sò, kẹo kéo thấy ớn hè. Hai là rượu vô, lời ra. Lỡ nói lớn tiếng một chút cũng không làm phiền hàng xóm đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi. Ý quên, cũng nhậu như mình. Ba là vợ anh Ba Cãi, nhũ danh Hai Chim, dân Rạch Giá rất giỏi nấu ăn, ngon bá chấy bù chét. Nhứt là món bún cá. Vì vậy mới có câu hát là: “Lần đầu ăn tô bún cá, chạy dìa Rạch Giá, bỏ má theo em”.

Mấy bà già Rạch Giá dạy con gái của mình là muốn đi tới cái túi tiền của đàn ông là phải đi qua cái bao tử của nó!

Thế nên, trước khi về nâng khăn móc túi anh Ba Cãi thì bà nhạc của ảnh đã dạy cho chị Hai Chim cách nấu bún cá Kiên Giang. Món gia truyền từ đời bà sở, bà sơ, tới đời bà ngoại rồi đời má như thế nầy nè: “Cá lóc trọng trọng làm sạch. Bỏ vô nồi luộc chín làm nước lèo để chan bún. Vớt cá ra và tách xương ra, lấy phần thịt. Tôm tươi có thêm gạch tôm thì hết sẩy, đem rim với một ít nước mắm đến khi cạn nước. Ăn với rau muống chẻ, rau răm, giá hoặc kẹt quá, rau đắng cũng được. Thịt cá lóc chấm nước mắm y có thêm vài lát ớt sừng trâu. Chảy nước miếng hè!

o O o

Sau 30 tháng Tư mất hết! Tới 8 tháng 5 Mother’s Day.

Má mình thì chết rồi, chỉ còn tiếng mẹ đẻ, mother’s tongue! Mà mình thản nhiên để tụi nó cướp luôn thì mình chết mẹ nó cho rồi.

Hồi mới quen anh Ba Cãi, tui cũng mê món bún cá Rạch Giá. Cứ tấm tắc khen ngon. Chị Ba Cãi cũng như con vợ tui, nghe khen là khoái. Móc hết ruột gan ra đãi khách cũng không từ. Chị Hai Chim rất sẵn lòng nấu bún cá cho tui nhậu nhưng chỉ yêu cầu tui là đừng có kêu bằng chị Ba Cãi nữa (chỉ không có thích bạn bè mà cãi lộn). Hãy kêu bằng nhũ danh: Hai Chim. Tôi hỏi Chim có ê không? Chị Hai Chim cười khè khè đáp lại: “Ðã gần chết nên không có ê”.