Hương tràm Trà Tiên

Posted on 1 Sep 2014 by quanvan.net 

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 27 Nov 2023

Bài 11

Mừng Sinh Nhật “Bác”!

Mỗi năm, cứ đến những ngày lễ, tết, Việt Cộng thường tổ chức những cuộc tấn công, ám sát, đắp mô, đặt mìn phá hoại, hoặc ít ra là rải truyền đơn để kỷ niệm, mừng ngày thành lập hay “mừng sinh nhật “bác” nếu đó là dịp ngày sinh của Hồ Chí Minh. Tính chung, chỉ nói riêng về ngày sinh của một người như Hồ Chí Minh thì có hàng chục, hàng trăm, có khi hàng ngàn người bị giết chết, tùy theo Việt Cộng tổ chức tấn công lớn nhỏ. Nhân dịp sinh nhựt Hồ năm 1973, ở Vàm Rầy, một xã nhỏ, có 3 người bỏ thân: Thiếu úy Cảnh Sát Phan Trí Huệ, 20 tuổi, gia đình ở đường Nguyễn Cư Trinh, Saigon, còn độc thân; thiếu úy Trực, bỏ lại một vợ hai con và thượng sĩ Trần Văn Út, bỏ lại một vợ bốn con. Đó là chưa kể những hậu quả khác từ những cái chết ấy. Tính chung, cả miền Nam, không ít người xuống âm phủ gặp Diêm Vương để kêu oan, khiếu nại họ Hồ.

Cũng nhân dịp đó, một số người bị Quốc Gia bắt:

Người bị tội nặng nhứt là cha con Sáu Chơn. Sáu Chơn cũng ở xóm Đồn Giữa, xã Đức Phương, nhà gần nhà Năm Tu-Hú.

Sáu Chơn giữ nhiệm vụ dẫn một toán Việt Cộng, đi xuống xóm Biển, vượt qua kinh Vàm Rầy, rồi đi ngược lên hướng cầu Vàm Rầy, tấn công vào mặt sau trụ sở Cảnh Sát và Phân Chi khu. Sáu Chơn cũng khai luôn em gái ông ta, (không nhớ tên), vợ của một binh sĩ Sư Đoàn 21, treo đèn sau nhà, để toán đặc công bên kia kinh Vàm Rầy, biết là không có lính Quốc Gia phục kích bên phía nầy, nhất la toán nghĩa quân hay phục kích ở gần chùa, bên kia con đường mòn xuống xóm Biển, để toán đặc công nầy qua sông, tấn công trước. Toán do Sáu Chơn dẫn đường sẽ tiếp ứng sau đó. Con trai Sáu Chơn tên là Quận, dẫn một toán khác, đi dọc theo kinh Xà-Tón, vượt qua kinh Hà Tiên – Rạch Giá, tiến từ hướng Hà Tiên xuống tấn công vào phía trái mục tiêu nói trên.

Lực lượng Việt Cộng khoảng một trăm tên, trong khi lực lượng Cảnh Sát chỉ có 7 ngoe, kể cả thiếu úy Phan Trí Huệ, trưởng cuộc và thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng. Thiếu úy Trực không có lính, ngoài tiểu đội nghĩa quân gác cầu Vàm Rầy.

Thiếu úy Huệ, mới xuất thân ở học viện, không có kinh nghiệm đánh chác gì cả, làm việc chăm chỉ, cần cù, nhưng về tình báo thì cũng mù tịt luôn. Thiếu úy Trực mới tốt nghiệp khóa sĩ quan đặc biệt, có lẽ cũng có kinh nghiệm chiến đấu ít nhiều. Ông ta tới đóng chung với Cảnh Sát vì tình bạn giữa Trực và Huệ, hơn là nhu cầu công tác.

Theo kinh nghiệm, vào những ngày lễ của Việt Cộng như sinh nhật Hồ Chí Minh, lễ độc lập 2 tháng 9, ngày thành lập đảng Cộng Sản 3 tháng 2 hay dịp Tết âm lịch, Việt Cộng thường hay tổ chức tấn công nơi nầy nơi kia để lập chiến công. Năm nay, 1973, nhân ngày sinh nhựt Hồ Chí Minh, 19 tháng 5, chúng cũng tổ chức lập chiến công dâng “Bác”.

Phe ta cũng có phòng bị. Trước ngày lễ hơn nửa tháng, trung ương đã gởi văn thư xuống tới xã ấp, chi khu, phân chi khu chỉ thị chỉnh đốn hệ thống phòng thủ, theo dõi hoạt động của địch, v.v… đề phòng địch tấn công. Theo dõi địch thì tương đối dễ, nhưng chỉnh đốn hệ thống phòng thủ thì “hơi”… trở ngại. Đã lâu lắm, chúng tôi không còn được phát kẽm gai, cọc sắt để chỉnh đốn hàng rào phòng thủ. Lựu đạn còn phải mua, nói chi tới cọc sắt kẽm gai, ngoại trừ mua để làm nhà như ở dinh điền Cái Sắn thì hàng không giờ bị thiếu.

Đêm 18 tháng 5, hai ông thiếu úy Trực và Huệ cũng không đi ngủ sớm, đôn đốc canh gác, đâu đó xong xuôi, quá nửa khuya hai ông mới đi ngủ. Họ không có kinh nghiệm. Nếu Việt Cộng có tấn công, cũng phải quá nửa đêm, chờ chúng ta ngủ say. Nếu biết vậy, mới tối, nên lo đi ngủ sớm, cỡ 11 giờ đêm, thức dậy canh chừng. Địch có tấn công thì còn phản ứng kịp. Đàng nầy, đầu hôm, khi địch chưa có khả năng tấn công thì họ thức chờ. Đến thời điểm địch có thể tấn công được thì cả hai buồn ngủ, rủ nhau đi ngủ. Thành ra, khi mấy tên đặc công chui qua khỏi hàng rào mà không ai biết, thì cứ mỗi phòng, chúng ném một quả bêta. Hai ông thiếu úy chết ngay tại chỗ, ngay trong phòng ngủ của họ. Thượng sĩ Nguyễn Văn Út, phó cuộc, chạy ra hầm truyền tin, để báo cáo về quận, chưa kịp gọi thì cũng bị Việt Cộng ném một quả bêta vào hầm truyền tin, thượng sĩ Út cũng chết tại chỗ. Các nhân viên Cảnh Sát khác, kịp chui qua hàng rào, lao xuống cái hào sâu bên cạnh, thoát nạn.

            Việt Cộng tràn vào chợ xã. Xã trưởng Ngô Văn Àn nhà ở cuối chợ, sát kinh Rạch Giá – Hà Tiên, thấy động, lẻn ra bờ kinh, lặn xuống nước núp, chỉ chừa cái đầu để thở. Trưởng ấp Chín Đực, một cựu hồi chánh viên, chỉ huy toán nhân dân tự vệ khoảng chục người, trốn ra phía sau trường học.

Cô chủ quán hủ tiếu ngay chợ, nói với tôi:

_ “Họ (Việt Cộng) đói lắm ông ơi! Vào quán, họ lấy hủ tiếu của tui ăn hết!”

_ “Họ ăn với gì? Ăn nể à?” Nhớ “nể” là tiếng địa phương, người Nam không hiểu, tôi sửa lại: “Ăn không à?”

_ “Không, họ biểu tui lấy xì dầu với ớt! Hết cả rổ hủ tiếu của tui.” Cô ta trả lời.

_ “Vậy là can tội nuôi Việt Cộng đó!” Tôi nói đùa.

_ “Tui chưa khiếu nại là may. Quốc Gia giữ an ninh không xong, để Việt Cộng vô cướp tài sản của tui.”

Nghe nói, tôi làm thinh, không ngờ dân quê mà họ cũng rành luật pháp vậy. Đúng là trách nhiệm phe Quốc Gia, không “Bảo Vệ Dân Chúng” được như trong các bài học về Phượng Hoàng.

_ “Cô có nghe họ nói tiếng gì không. Bắc hay Nam?” Tôi hỏi.

_ “Không có người Bắc đâu, toàn giọng Nam. Có một ông hỏi tui, trạm y tế đâu.” Cô ta trả lời.

_ “Hỏi trạm y tế để làm chi?” Tôi lại hỏi.

_ “Xời! Có ai bị thương đâu mà hỏi trạm y tế. Người ta hỏi để lấy thuốc chớ chi!” Cô ta giải thích.

Câu chuyện làm tôi nhớ tết Mậu Thân ở Huế, hồi ấy tôi còn đi dạy, chưa đi lính. Chiếm thành phố Huế tới đâu là Việt Cộng vét hết thưốc trong các tiệm thuốc Tây tới đó. Đói ăn và đói thuốc, Việt Cộng cần cả hai.

Sáng hôm đó, sau khi bên phía Chi Khu cũng như Cảnh Sát không liên lạc được với đơn vị thống thuộc, tôi gặp ông thiếu tá quận trưởng Sầm Long lúc hơn 2 giờ sáng tại chi khu. Chúng tôi hẹn nhau sáng mai sẽ xuống Vàm Rầy sớm.

Chúng tôi lên xe đi khi trời mới rạng sáng. Cũng yên tâm một chút, ông quận có ra lệnh cho nghĩa quân, ra khỏi đồn giữ an ninh lộ trình.

Sau khi kiểm tra đâu đó xong, thì thiếu uý Kiệt, phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt, cũng xuống xã sau tôi chỉ ít phút, cho nhân viên bung ra điều tra. Hồi sau nửa đêm, sau khi gặp quận Long, tôi có nói với thiếu úy Kiệt, lúc đó cũng có mặt ở văn phòng của ông rằng: “Đánh giặc ở miệt ruộng, không có giao liên, chúng nó không thể tấn công vào xã được. Ông rán tìm cho được bọn giao liên.”

Vì vậy, chỉ hơn nửa tiếng sau khi xuống tới xã, thiếu úy Kiệt và thượng sĩ Năm Hùng gặp tôi nói:

_ “Tối qua, khi Việt Cộng tấn công, Chín Đực dẫn toán nhân dân tự vệ chém vè phía sau trường học. Vợ y, nghe súng nổ dữ quá, chui xuống gầm giường. Có hai tên vào nhà Chín Đực, dùng hộp quẹt để mở lấy cái đầu máy may của con vợ. Nhờ lửa hộp quẹt, vợ Chín Đực thấy rõ mặt là cha con Sáu Chơn.”

Thiếu úy Kiệt cũng cho biết đã cho nhân viên xuống nhà Sáu Chơn lục soát.

Chưa được nửa tiếng, nhân viên thiếu úy Kiệt gọi máy báo cáo tìm thấy một đầu máy may dấu sau nhà Sáu Chơn. Vậy là rõ, cả hai cha con Sáu Chơn bị bắt.

Sáu Chơn, một vợ 7 con, đi lính Bảo An thời Ngô Đình Diệm, không nhớ lý do giải ngũ, dân cố cựu ở Vàm Rầy. Con trai đầu của y, tên Quận cũng đã lớn, tới tuổi quân dịch nhưng còn trốn tránh ở nhà. Xóm đồn giữa xôi đậu, ban ngày Quốc Gia, ban đêm Cộng Sản. Quốc Gia cũng ít lui tới chỗ nầy nên tên Quận còn trốn quân dịch được. Vả lại, suốt ngày hai cha con đi làm đồng, Quốc Gia làm sao đụng tới y mà bắt đi lính. Chiều tối, khi cha con về tới nhà thì Quốc Gia cũng rút về xã, về quận, chẳng có ai gan lì ở lại đó để đụng đầu với Việt Cộng.

Ruộng vườn không có, vốn liếng không có, chạy ăn từng ngày, làm đồng không đủ sống, theo Việt Cộng để dễ kiếm ăn như ưu tiên bắt cá đìa, ưu tiên đốn tràm, v.v… lần hồi không theo Việt Cộng cũng không được.

Chúng nó hẹn đêm đó, 18 tháng 5, khi chúng nó tới thì dẫn đường cho chúng đi đánh Quốc Gia, ngoài ra, chẳng biết mô tê gì.

Theo lời khai của Sáu Chơn, khi vào rừng đốn tràm, gần kinh Kháng Chiến, người y thường gặp là Bảy Mốc. Bảy Mốc cũng từng đi lính Bảo An với Sáu Chơn thời Ngô Đình Diệm, giải ngũ về làm trưởng ban kinh tài cho xã Đức Phương của Quốc Gia. Máu mê cờ bạc, Bảy Mốc thua sạch tiền quĩ xã. Xã trưởng báo cáo lên quận, Cảnh Sát đang điều tra thì Bảy Mốc bỏ theo Việt Cộng vì y nghĩ trước sau cũng bị tù. Tiêu tiền quỹ của xã gần 5 chục ngàn, đâu phải số tiền nhỏ. Nếu không có tiền đền, ở tù là chắc. Cảnh Sát cho biết vậy rồi nên y dông vô trỏng. Theo Việt Cộng một thời gian, y được huyện cho làm bí thư xã. Xã chỉ có hai cán bộ: Bảy Mốc là bí thư, Tư Ngọc là kinh tài. Ngày hoạt động loanh quanh vùng tràm cùng với đám du kích của huyện, giữ rừng tràm và đường giây 1-C.

Lần Bảy Mốc gặp Sáu Chơn hỏi tình hình lính tráng, đang đứng nói chuyện thì bỗng có một người từ trong rừng tràm đi ra, có hai du kích đi hộ tống. Bảy Mốc có vẻ lo sợ, nói: “Ông huyện tới.” Sáu Chơn cũng không biết ông huyện là ai mà Bảy Mốc có vẻ sợ sệt như vậy.

Hai Quận bị bắt, nhưng ông quận Long thấy cả hai cha con đi tù tội nghiệp, bèn dụ Hai Quận làm đơn xin chuyển qua hồi chánh, chỉ đi học 3 tháng ở Trung Tâm Chiêu Hồi, sau đó đi lính, còn hơn ở tù. Thằng bé nhà quê, học hành chưa tới lớp Ba, nghe nói khỏi ở tù thì mừng, bèn ký đơn do Cảnh Sát làm giúp. Nó được đưa ra Trung Tâm Chiêu Hồi. Trước khi đi còn được về thăm nhà, mặc dù có Cảnh Sát Đặc Biệt theo canh chừng, sợ thằng bé dông tuốt vô trỏng, nhưng Hai Quận cũng vui mừng lắm. Cha y thì giải về tỉnh.

Hôm tôi từ xã Tín Đạo (Tri Tôn – Rạch Giá) về ngang đồn giữa, nhớ chuyện cha con Sáu Chơn, tôi hỏi nhà, ghé lại thăm hỏi. Đứa con nhỏ còn bú, năm đứa còn lại ở trần lòi rún, không có cơm ăn. Vợ Sáu Chơn chịu thua số phận, không biết làm gì để nuôi con. Vả lại, trước nay, vợ Sáu Chơn chỉ lo đẻ và giữ con. Cơm gạo Sáu Chơn lo hết. Nay Sáu Chơn ở tù, ai nuôi con? Thấy người chính quyền Quốc Gia tới, vợ Sáu Chơn khóc: “Mấy ông bắt chồng tui ở tù, tui lấy gì nuôi con tui mấy ông ơi!” Vốn ít khi có sẵn tiền, tôi mượn tài xế tờ giấy 5 trăm, biểu đưa cho bà. Biết làm sao bây giờ!

Tôi cũng ghé ngôi chùa kế nhà Sáu Chơn, tìm ông thấy chùa nổi tiếng sư hổ mang, sư lại cái.

Ông sư còn trẻ. Có lẽ đi tu chỉ là trốn quân dịch. Đang tu ở chùa nào đó ngoài Rạch Giá thì ông bỏ vào đây, ở trong ngôi nhà lá bỏ hoang, mà ông gọi là chùa.

Nói sư hổ mang thì cũng tội nghiệp. Vào chùa chỉ là cái cớ để ông được “hoãn dịch vì lý do tu sĩ” còn cỡ như ông nầy, nếu không núp bóng Phật giáo vì sợ đi lính thì ông ta sẽ là ông đạo như các ông đạo Liếm, đạo Sờ nổi tiếng trên báo chí một thời, nhưng chắc chắn không phải ông đạo Dừa.

Chùa của ông như cái chòi lá ai bỏ hoang, ông đặt một cái bàn trên có hình phật tổ và một bát nhang chiếu lệ như là nơi tu hành. Bên cạnh có một cái giường tre. Vậy mà ông cũng có một đệ tử, nữ đệ tử mới éo le. Cô gái bỏ nhà ở Rạch Giá theo ông là em một anh cảnh sát dã chiến, thuộc trung đội của thiếu úy Ký. Biết chuyện, thiếu úy Ký gọi cho người lính của ông vào đem cô em gái về. Phải mấy lần như vậy, gia đình cô gái làm dữ với cô, cô mới chịu bỏ tu hành với ông “thầy chùa” trẻ.

Vậy là chùa chỉ còn môt mình ông. Ông ta bỏ chùa đi tối ngày, có đêm không về, bỏ nhang tàn bàn lạnh. Ông ta đi đâu?

Ông đi buôn lậu, mang đường cát từ Hà Tiên về bán ở Rạch Giá. Gai mắt, mấy bà buôn lậu hỏi ông: “Thầy chùa mà cũng đi buôn lậu?” Ông ta nói liều: “Bộ tui ăn chưn nhang mà sống được sao?”

Thiếu úy Ký thấy ông đi buôn lậu, lại điệu bộ như PD, bèn báo cáo về tỉnh, tỉnh liên lạc với chùa ở Rạch Giá, gọi ông ta về.

Không chịu về chùa, ông bỏ xóm đồn giữa đi mất tiêu.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 30 Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 27 Nov 2023

Bài 10

 Năm Tu Hú

Sau hiệp định Paris tháng Giêng năm 1973, tới mùa hè năm đó và năm sau nữa, tình hình an ninh khá hơn, nên việc làm ruộng phát triển. Vùng kinh Xà-Tón, tên Miên, còn gọi là kinh 1 Tri Tôn, kinh nầy nối từ Châu Đốc xuống kinh Rạch Giá – Hà Tiên rồi đổ ra biển, trong chiến tranh, là vùng hoang hóa.

Vùng nầy ngày xưa ruộng tới hàng ngàn mẫu, phần nhiều là ruộng của ông chủ Ry và thầy Ban. Hai ông nầy có đào kinh để làm ruộng, một kinh bên trái kinh Xà-Tón tên là kinh Chủ Ry, bên phải là kinh Thầy Ban. Trên bản đồ quân sự, còn giữ tên hai con kinh nầy.

Ruộng bỏ hoang mấy chục năm chiến tranh, nay dân chúng, ai có khả năng thì cứ vào phát hoang, đốt đồng, trồng lúa. Ngoài vùng hoang hóa, một số vùng đất mới cũng được dân chúng khai hoang thêm.

Bề rộng, vùng làm ruộng kéo dài từ kinh Rạch Giá – Hà Tiên vô tới gần kinh Kháng Chiến mà thôi, nghĩa là gần tới ranh giới hai tỉnh Kiên Giang – Long Xuyên, không như trước kia, qua tuốt tới vùng Thất Sơn bên Châu Đốc.

Vùng dọc theo kinh Kháng Chiến, như tôi đã có lần trình bày, là đường giây 1-C của Việt Cộng nên Việt Cộng không cho dân vào. Chúng sợ bị lộ. Bề dài thì từ vùng Nam Thái Sơn, kế cận kinh Ba Thê – Núi Sập, vô gần tới núi Trầu, xã An Hòa, gần Nhà Máy Ximăng Kiên Lương.

Toàn bộ đất đai vùng nầy tốt lắm, người ta gọi là vùng than bùn, nghĩa là do lá cây rừng chết biến thành than hay đất phù sa của sông Hậu đọng lại đây. Về mùa hè, có khi vì sét đánh hay hỏa hoạn, lửa cháy ngầm dưới đất, người ta đi trên mặt đất mà không hay biết gì cả. Bỗng tới chỗ mặt đất mỏng, sức nặng bước chân làm người ta sụp chân xuống, trong khi lửa đang cháy bên dưới, bị bỏng là chuyện dễ như không!  Việc đã từng xảy ra nhiều lần, dân chúng từng có kinh nghiệm, không phải là chuyện bày đặt nghe cho thêm lạ lùng, hấp dẫn.

Hồi xưa, vùng đất mênh mông nầy, người ta cày ruộng bằng trâu. Ai có đọc “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam hay đã xem cuốn phim cùng tên thì rõ. Theo dân Vàm Rầy kể lại, ông chủ Ry nuôi tới những hai trăm con trâu, vừa để cày ruộng cho ông, vừa cày thuê cho người khác.

Ngày nay, (1973) nông thôn miền Nam đã văn minh, không còn cày bằng trâu như hồi Pháp thuộc, mà dùng máy cày để cày ruộng.

Máy cày nầy hầu hết là loại nhập cảng: John Deer, Ford, Someca, Renault, v.v… Máy cày Ford, John Deer là nhiều nhứt, nông dân thấy loại nầy thích hợp với đồng ruộng ở đây, nhiều nơi còn sình lầy, máy cày dễ bị lún. John Deer là loại máy cày mạnh, khi cần người ta móc giây xích sắt vào hai bánh sau, vượt qua được các chỗ sình lầy một cách dễ dàng.

Không như vùng Tân Hội, là nơi nông dân địa phương tự sắm máy cày lấy, cày cho nhau. Ở đây, dân làm ruộng là từ các nơi khác tới, rất nhiều người ở thị xã Rạch Giá, Rạch Sỏi hay Hà Tiên, chớ nông dân Vàm Rầy (xã Đức Phương) thì nghèo lắm, tiền bạc đâu mà làm ruộng nỗi. Ai khá giả một chút như Tư Trạng, nhân vật tôi đã trình bày trong bài trước, làm năm bảy chục công, một trăm công là nhiều lắm. Phần đông những nông dân khác trong xã thì đi làm thuê như sạ lúa, làm cỏ hay gặt, v.v…

 Ai muốn làm ruộng, cứ tới ngay ông quận xin giấy phép, chấm một vùng đất có tọa độ ngang dọc như thế nào đó, rồi vào trỏng mà làm ruộng. Việc xin giấy phép không có gì khó khăn. Đất là đất hoang, ruộng bị hoang hóa, ai giữ làm gì mà không cho nông dân làm ruộng. Việc xin giấy phép có trà nước gì không thì tôi không rõ. Tuy nhiên, việc xin làm ruộng, chỉ mới bắt đầu, chưa có hoa lợi gì, những người có quyền biết vậy nên hình như không gây khó khăn gì. Khi nào tới mùa, thu hoạch xong, có gì thì, như người ta thường nói: “kẻ ăn cơm, người ăn cháo”, còn bây giờ là mới bắt đầu, tiền ra thì có mà tiền vô thì chưa, giỏi lắm người ta biếu chai rươu mạnh hay chầu càphê. Vậy là xong thôi!

Tới mùa cày, cả vùng Kiên Giang đâu có nơi nào máy cày rảnh mà đi cày thuê. Máy cày đến cày thuê ở đây gốc gác từ Tây Ninh. Xe máy cày từ Tây Ninh xuống đây vài khi chạy từng đoàn năm, mười chiếc. Khoảng đầu năm 1974, hay cuối năm 1973, Cao Đài Tây Ninh có dựng một ngôi nhà, chiếm một vùng đất để làm ruộng và cho thuê máy cày ở gần ấp Lung Lớn, xã An Bình, trên ranh giới hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá cũ, (ranh giới thời Pháp thuộc). Có lần đi ngang, thấy lạ, tôi ghé vào thăm thì mới hay có ông đạo (Ông ta mặc áo quần ta màu trắng, như mấy ông ông đạo ở Tây Ninh) (1) là người chỉ huy ở đây.

 Sau vụ Tư Ngọc, trưởng ban kinh tài xã Đức Phương bị bắn chết – Tôi sẽ kể trong một bài sau – Việt Cộng không dám ngang nhiên thu thuế máy cày nữa. Chúng nó biết các lực lượng như Thám báo Chi khu, Cảnh sát Đặc biệt, Võ trang Tuyên truyền Chiêu hồi, Thám Sát tỉnh, v.v… theo dõi, bám sát để “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, (danh từ Phượng Hoàng) nhất là cán bộ kinh tài Việt Cộng đi thu thuế máy cày nên chúng nó sợ, tránh mặt, nhờ nông dân địa phương thu thuế máy cày dùm.

Đó là trường hợp Năm Tu-Hú.

Một hôm tôi xuống Vàm Rầy, đang ngồi trong một quán hủ tiếu, uống càphê, thì có ông quận trưởng Nguyễn Đình Phúc ghé lại cùng uống càphê với tôi. Được một lúc, ông ta bỏ đi, chỉ ít phút sau, ông ta trở lại, đứa cho tôi xem mảnh giấy xé từ trong tập vở học trò, viết nghệch ngoạc mấy chữ: “Tới sau lưng nhà Năm Tu-Hú, sẽ thấy vật lạ.” 

 Thấy tôi đọc xong, quận Phúc nói với tôi:

 _ “Anh thấy không?! Chỉ có tui làm quận dân mới thương như vậy thôi! Tui biết dân thương tui lắm mà!”

Ngồi bên cạnh tôi là thiếu úy Hồ Văn Ra, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương (Vàm Rầy), cũng đọc tờ giấy đó, bèn nói với tôi:

_ “Sáng nay có chiếc xe hàng từ Rạch Giá lên, chạy ngang Cuộc, có đưa cho tôi miếng giấy như vầy!”

            Tôi hỏi:

 _ “Ông báo cáo chưa?”

 _ “Chưa.” Thiếu úy Ra trả lời.

Thấy mất mặt với quận Phúc, tôi chưởi thầm: “Làm ăn như con c. Mấy đứa nầy chỉ lo đi kiếm tiền!” Rồi tôi hằm hằm bỏ đi ra xe tôi đang đậu bên kia đường.

Thiếu úy Ra đi theo tôi. Tôi hỏi:

_ “Ông biết nhà Năm Tu-Hú không?”

_ “Dạ, biết!” Ra trả lời.

_ “Ông đi với tôi chỉ nhà.” Ra lên ngồi bên cạnh, tôi lái xe.

Tài xế và “tà lọt” ngồi phía sau.

Tôi chạy xe xuống gần Đồn Giữa, ranh giới hai xã Đức Phương và Tín Đạo (thuộc Kiên Giang). Thiếu úy Ra chỉ nhà, bên phía bờ kinh Rạch Giá – Hà Tiên. Nhà Năm Tu-Hú giống như nhiều nhà khác, hầu hết là nhà tranh, vách lá, mặt quay ra kinh, lưng quay ra lộ.

Tôi vừa tắt máy xe thì nghe tiếng xe quận Phúc ngừng ngay sau xe tôi. Tôi nghĩ bụng: “Ông nầy nghĩ chắc có gì ngon, sợ tôi lập công một mình.” Từ ngoài lộ, tôi đi thẳng vào nhà Năm Tu-Hú, trong nhà không có ai. Tôi đi quanh các nhà bên cạnh, cũng chẳng có ai, người ta đi “làm đồng” hết rồi, ngoài một thương binh VNCH, mất một chân.

Hỏi thăm anh thương binh vài lời xong, tôi đi ra vườn sau nhà Năm Tu Hú, một cái vườn nhỏ, mỗi bề chưa tới 10 mét. Cỏ hôi mọc um tùm, lên gần tới ngực. Tôi vạch cỏ, đi sâu vào vườn, vừa đi vừa tìm. Thấy một gói giấy trắng nằm trên đầu cây cỏ hôi, tôi nói to: “Đây rồi!” Quận Phúc nhắc chừng tôi: “Coi chừng chất nổ.” Tôi nhẹ tay cầm gói giấy ném xa ra đường. Gói giấy không nổ. Tôi đi ra chỗ gói giấy rơi xuống, lần nầy yên tâm hơn, mở sợi giây buộc. Trong gói có 3 chai péniciline, một gói bột ngọt, và một cái thư. Thư Việt Cộng khen ngợi Năm Tu-Hú đã có công “đóng góp” và “phục vụ cách mạng”. Quận Phúc nói: “Tôi biết mà. Tôi biết mà. Thằng Năm Tu-Hú nầy là thằng Việt Cộng.”

Tôi không nói gì, trở lại quán càphê cũ, thắc mắc: Thuốc Tây, bột ngọt, là thứ hàng đưa vào trỏng cho tụi nó. Thư là từ trỏng gởi ra, tại sao lại để chung?” Có “cái gì” đây!

Trước đây một tuần, nửa đêm, Việt Cộng tới nhà Năm Tu-Hú, bắt y đem ra giữa lộ, gần Đồn Giữa, bắn. Súng vừa nổ thì Năm Tu-Hú đứng lên được, bỏ chạy về phía Đồn Giữa. Y vừa chạy vừa la cầu cứu. Đồn trưởng Đồn Giữa, lính Nghĩa quân, không nhớ tên, từng ăn nhậu với Năm Tu-Hú nhiều lần, nổ súng báo động, mở cổng cho Năm Tu-Hú vào, chăm sóc vết thương cho y.

Bọn Việt Cộng thấy phản ứng của Nghĩa quân trong đồn, bèn rút lui. Đạn Việt Cộng bắn trúng bộ dái của Năm Tu Hú, bay mất. “Thằng nhỏ” còn lòng thòng, nhưng dái không còn, thì cái ấy chỉ còn xử dụng vào việc tiểu tiện mà thôi. Sáng sớm, đồn trưởng đón ghe tắc-ráng đưa Năm Tu-Hú về điều trị tại bệnh viện Quân Dân y Rạch Giá.

Tại sao Việt Cộng xử bắn Năm Tu-Hú?

Năm Tu-Hú thuộc hạng dân địa phương gọi là “trời thần đất lỡ”. Y đi lính rồi đào ngũ nhiều lần, ít ra có gần chục KBC (Khu bưu chính của đơn vị quân đội VNCH). Y giao thiệp rộng, nhậu lai rai với Nghĩa quân, với Cảnh sát, Xây dựng Nông thôn, ai có quyền thế thì y dúi cho ít tiền uống càphê chơi. Y có vài ba vợ, có năm bảy đứa con, nhưng chỉ ăn chơi, chẳng lo gì cho vợ con cả, vợ con sống sao thì sống. Y như con chim tu-hú, không làm tổ, khi đẻ trứng thì đẻ vào tổ chim cu. Chim cu ấp, nở ra con, cu lo kiếm mồi nuôi con. Đến khi đủ lông cánh, tu-hú bay mất, lại trở thành những con chim tu hú đẻ bậy, không ấp trứng, nuôi con bao giờ.

Cái tên Năm Tu-Hú của y do dân trong xã đặt cho, là do câu chuyện như vậy.

Do đâu mà y có tiền? Như tôi nói ở trên, Việt Cộng sợ Quốc Gia phục kích, nhờ y thâu thuế máy cày giúp. Bản chất y không ngay thẳng, thâu mười, y đóng lại cho Việt Cộng bốn năm mà thôi, còn lại bao nhiêu, tiêu xài thả xăng. Mỗi chiếc máy cày đóng thuế cho Việt Cộng ít nhứt là 30 ngàn. Y thâu cả chục cái máy cày như thế, vậy y có bao nhiêu tiền? Đâu phải số tiền nhỏ! Lần hồi Việt Cộng biết y “chơi cha” trên đầu chúng, bèn nửa đêm về bắt y đem ra xử tử.

Biết chuyện rồi, tôi nói với quận Phúc: “Việt Cộng muốn nhờ tay Quốc Gia diệt thằng Năm Tu-Hú đây! Mưu nầy còn thấp lắm, khó qua được bọn mình. Có cho vàng thằng Năm Tu-Hú cũng không về nhà ban đêm, Việt Cộng làm gì nó?” Xong, tôi giải thích sự việc cho ông ta nghe. Quận Phúc không vui, nói: “Thôi! ông muốn làm gì thì làm.”

Tôi bảo thiếu úy Kiệt, phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt: “Ông ra Rạch Giá tìm thăm thằng Năm Tu-Hú, giải thích sự việc cho Năm Tu-Hú nghe. Xong, ông dụ hắn khai hết những gì hắn biết. Nếu hắn không khai thì ông dọa nó, bảo nó thâu thuế cho Việt Cộng, có thể mình cho nó vào tù ngồi chơi. Phen nầy chắc dớt (vớt) thêm một đám giao liên nữa đấy.”

Năm Tu-Hú khai hết, ai đóng thuế cho Việt Cộng, ai làm giao liên, chỉ điểm, báo cáo, v.v… Kết quả chỉ thêm nhức đầu, nhiều chuyện… Ông Tư Vịnh, con chiên của linh mục Lương Công Đại, ở thị trấn Kiên Lương, xuống Vàm Rầy làm ruộng, dính vô tội làm “giao liên” cho Việt Cộng, bị điều tra. Sợ ở tù, ông ta nhờ cha Đại nói giúp với chính quyền. Hôm cha Đại mời tôi tới ăn cơm tối, nói chuyện Năm Tu-Hú, cha nói:

_ “Năm Tu-Hú làm như cướp cạn. Làm như thế là không được.”

Tôi góp ý:

_ “Anh ta hứa thu thuế giúp cho Việt Cộng, rồi lợi dụng tình thế mà ăn chận của chúng. Nếu không vì lăng kính chính trị, cha cho làm như thế là thiếu chữ tín, là cướp cạn. Thật ra, mấy thằng Việt Cộng ở trong bưng, lấy cái thế có súng đạn trong tay mà bắt dân đóng thuế thì bọn chúng cũng như tướng cướp Phong Lai trong Lục Vân Tiên vậy. Tựu chung, cũng là bọn ăn cướp cả.”

Cha Đại nhìn tôi cười, không nói gì, nhưng tôi biết chắc cha đồng ý về nhận xét của tôi.

Sau vụ Năm Tu Hú, một số bị bắt nhưng hầu hết được tha, dân chúng yên tâm hơn và hợp tác với chính quyền nhiều hơn, nhờ vậy, chúng tôi biết rõ và nhiều tin tức hơn các cuộc di chuyển quân của Việt Cộng trên đường 1-C.

Hôm làm phiếu đề nghị lên “loon” cho thiếu úy Kiệt, ký giấy tờ xong, tôi nói với ông ta:

_ “Hai năm nay mình “vớt” được nhiều vụ ngon lành: Ông đạo Sáu, Ba Nhân, Sáu Chơn, Tư Ngọc… Tôi vui vì nhờ có ông.”

Kiệt hỏi:

_ “Đại úy liệu có kết quả không?”

_ “Được chớ sao không. Hôm họp với “xếp”, ông ấy nói với tôi ông là người làm việc có kết quả nhất so với các ông phụ tá ở các quận khác. Còn ông Giúp, lần nào về Rạch Giá lại chẳng đi nhậu với cả đám ngoài ấy, đâu có riêng ai. Tui nghĩ tui nói được. Ông nói một tiếng với thiếu tá Ẩn, chắc cũng dễ thôi. Khó là ở Khu, mấy cha trên đó tệ lắm!

Một lúc sau, tôi nói:

_ “Đời nghĩ cũng buồn cười: Kẻ lên người xuống. Có Ông Đạo Sáu vô tù, có Năm Tu Hú vô tù thì mình mới lên “loon”.

Kiệt nói, không vui:

_ “Cùng người Việt Nam cả đại úy à! “Nồi da xáo thịt” mà thôi.

Nghe Kiệt nói, tôi hiểu tâm trạng anh ta. Anh là người ngoan đạo, có ăn chay và đi chùa. Tôi nói:

_ “Cứ vô tư như Năm Tu Hú lại sướng. Ai sao mặc ai, cứ “vui chơi ba ngày xuân”.

_ “Nó không vô “tư”. Nó chỉ “tư” tiền, chẳng “tư” gì tới vợ con cả.” Kiệt nói.

_ “Tui sinh ra, lớn lên ở một vùng nghèo khổ, cái ăn cái mặc của vợ con là nỗi ưu tư hằng ngày, vô tư làm sao được!”  Tôi nói.

Nghe tôi nói tới “vùng nghèo khổ”, Kiệt nói:

_ “Việc định cư cho dân Quảng Trị của đại úy chạy loạn tới đâu rồi?”

_ “Hôm Trung tướng Đôn về họp ở đây, tui có trình bày, đề nghị một vài điều. Ông Đôn đồng ý xử dụng khu “rừng cấm” ở Vàm Rầy làm khu định cư, nhưng không “đem con bỏ chợ” được. Vùng nầy còn cả ngàn mẫu đất hoang. Nhiều công trình phải được xây dựng trước khi đồng bào của tui đến ở. Trước hết là giao thông: Đường bộ, đường kinh. Hai là khu thị tứ, có chợ, có bến xe để dân chúng mua bán, trao đổi. Ba là khu bệnh viện, trường học, khu thể thao cho thiếu niên, nhà máy nước, nhà máy điện… Bốn là khu văn hóa, có phòng thông tin, đọc báo, có chùa có nhà thờ. Nhà thờ với chùa hơi xa nhau một chút, để tín đồ mỗi bên khỏi ngó qua nguýt lại mà sanh chuyện. Kinh nghiệm tui ở Cái Sắn đấy!”

_ “Dinh điền Cái Sắn thì sao?” Kiệt hỏi.

_ “Nhìn chung thì được, cũng nhờ mấy ông cha, tuy chưa hoàn chỉnh về trường học, y tế. Tui nghĩ về căn bản cũng tương tự như vậy, nhưng phải làm nhiều hơn, đầy đủ hơn.

_ “Về an ninh?” Kiệt hỏi.

_ “Chính quyền Quốc gia có một quan niệm chứng nhắc về an ninh. Cho đóng đồn là xong. Làm vậy đâu có “Bảo vệ Dân chúng” như bài học Phượng Hoàng đâu! Vấn đề là giữ dân, không cho Việt Cộng “đụng tới dân”. Đằng nầy, đóng đồn. Tối lại, hè nhau rút vô đồn ngủ, bỏ mặc dân chúng cho Việt Cộng. Nếu bảo vệ dân thì Năm Tú Hú không thể bị Việt Cọng xách đầu ra giữa lộ bắn bỏ. Tụi nó chưa vô tới ấp thì mình đã nổ súng rồi. Vậy mới “Bảo vệ Dân chúng” chớ!”

Kiệt nói: “Ai cũnh lạnh giò”.

_ “Dân chúng cũng lạnh giò vậy. Muốn khỏi lạnh giò thì Việt Cộng bảo gì nghe nấy, biểu gì làm nấy. Đánh giặc kiểu nầy, một trăm năm nữa cũng chưa xong.”

_ “Vậy mà người ta hát “Yên giặc anh sẽ về”. Kiệt cười cười nói, nhắc tới một câu hát.

_ “Ông biết không, hồi mới ký Hiệp định Paris, khi còn ở Cái Sắn, nhân vụ hai thương phế binh cầm lựu đạn tới cướp nhà trưởng ấp, bị trưởng ấp bắn chết tại chỗ, tôi có nói chuyện với ông thiếu tá Huỳnh Đầm Sắn, cứ như vầy, mai mốt lính giải ngũ về là phiền lắm. Mỗi tên ra về lén cầm theo một trái lựu đạn, nhậu nhẹt phá xóm phá làng là chết người ta.”

_ “Đại úy không nghĩ chúng nó cũng lo làm ăn sao?

_ “Lo làm ăn gì! Vừa lớn lên, chưa kịp quen với ruộng rẫy đã bị lôi ra khỏi nhà, dí vào tay chúng nó cây súng, tập chúng nó bắn giết. Bây giờ trả chúng nó trở lại quê, khó mà quen cầm cái cày, sau khi đã quen cầm súng. Biểu chúng nó ở yên, làm ăn làm sao được? Chính phủ phải có chương trình gì đó, cho chúng nó tập quen với đời sống dân sự, thôn quê, cũng như ngày trước đưa chúng nó vô quân trường tập bắn súng, đánh giặc vậy.”

Kiệt nói: “Nói thì dễ làm cho được bộ đại úy tưởng dễ lắm hay sao!?”

_ “Khó cũng phải làm, không có cách nào khác!” Tôi nói, cương quyết. Khó nhất là ở miền Tây nầy. Ông biết tại sao không?”

_ “Không.” Kiệt nói.

_ “Tui lưu lạc từ vĩ tuyến mà vào đây, thấy làng xã mỗi nơi mỗi khác. Làng ở vùng Bắc bộ, mìền Trung, thành lập từ lâu đời, có hàng trăm hàng ngàn năm, có lề thói, có phong tục, có lệ làng, phép vua còn thua lệ làng. Làng ở trong Nam, nhất là miền Tây, khác nhiều, chỉ mới thành lập có một vài trăm năm. Kinh tế chưa “định hình” làm sao văn hóa, phong tục vững chắc. Tụ tập về đây là lưu dân, từ thời Chúa Nguyễn, Tây Sơn. Lưu dân thì có máu giang hồ phiêu bạt, lính tráng thì có máu ngang tàng, phá phách. Cả hai cái đó tồn tại nơi đám thanh niên giải ngũ ra về. Nếu không có cách kềm giữ, giáo dục, hướng nghiệp, họ dễ sinh giặc vì đói khổ, hoặc tụ họp cướp đường cướp chợ. Tên nào chỉ nhậu mà phá xóm phá làng, xem ra là đỡ lắm rồi.

-“Nghe nản quá!” Thiếu úy Kiệt nói.

-“Còn một điều nữa. Ở lính, khỏi lo ăn lo mặc. Tới tháng có ít tiền lương đi nhậu. Giải ngũ rồi, không có chi hết, phải tự lo hết mọi thứ cần thiết, lại không có tiền lương, dễ làm cho chúng nó đi ăn cướp để mau có tiền./

hoànglonghải

(1)- Biết ông ở Tây Ninh về, tôi hỏi thăm một người quen, ông đại úy Khanh (đại úy Cao Đài hồi 1950), một người cùng quê, tha phương cầu thực, lưu lạc vào Nam. Qua ông đạo, tôi được biết ông Khanh làm lớn trong Cao Đài Tây Ninh.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

November 13th, 2020

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Kỳ 27

Nếu chương Tử chiến Guadalcanal đầy bi tráng, vì Sakai bị bắn trọng thương đui mù một mắt, thì chương Tử chiến Iwo Jima là chương không chiến ác liệt nhất. Một Sakai đơn độc chống trả 15 máy bay Hellcat Mèo Hỏa Ngục. So sánh đặc tính máy bay Grumman F6F Hellcat đạt vận tốc 610 km một giờ, động cơ 2000 mã lực, trang bị 6 đại liên 12 ly 7, 2 đại bác 20 ly với 6 rocket 127 ly – với chiếc Zéro chỉ bay nhanh nhất 533 cây số giờ do động cơ không quá 940 mã lực, trang bị duy nhất 2 đại liên 7 ly 7 và 2 đại bác 20 ly – càng cho thấy Sakai là một phi công xuất sắc. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 27

Chương 24

Đảo Iwo Jima với đỉnh núi Suribachi và phóng pháo cơ Kẻ Báo Thù TBF Avenger

Vào ngày 24 tháng 6, sự yên tĩnh giả tạo của Iwo Jima biến mất. Vào khoảng 5 giờ sáng, còi báo động không tập rú lên đinh tai nhức óc. Radar sớm phát hiện nhiều nhóm phi cơ địch đông đảo còn cách phía Nam Iwo 60 dặm và đang lướt đến nhanh chóng.

Tất cả chiến đấu cơ trên hòn đảo, hơn 80 chiếc Zéro, chạy ra hai phi đạo và cất cánh. Các cơ khí viên mang các oanh tạc cơ Betty và Jill còn trên mặt đất vô hầm trú ẩn.

Thời gian chờ đợi bấy lâu đã đến. Tôi lại được bay chiến đấu, và trong giây lát đây tôi sẽ biết sự khéo léo của mình còn hay không.

Một đám mây treo lơ lửng 13,000 bộ trên bầu trời. Các chiếc Zéro chia làm hai nhóm, 40 chiếc vượt lên trên, và 40 chiếc nhóm của tôi duy trì phía dưới đám mây.

Ngay khi tôi vừa lấy thăng bằng sau khi vượt lên, một máy bay địch hùng hổ chúi xuống xuyên qua các đám mây, kéo theo sau một vệt khói thật dài. Tôi liếc mắt, nhận ra đó là loại chiến đấu cơ mới, với đôi cánh rộng và mũi bẹt, chiếc Grumman F6F Hellcat mà tôi đã nghe nói đến nhiều lần. Tôi vung phi cơ ra một vòng thật rộng và nhìn lên… một chiếc Hellcat khác ló khỏi đám mây, chúi thật thẳng xuống, với vệt khói túa ra. Phía sau tia khói của chiếc Hellcat này, hàng chục chiếc Hellcat khác cũng nối đuôi nhau chúi thẳng xuống. Tất cả 40 chiếc Zéro đều xoay hướng và vượt lên để đối đầu với các phi cơ địch. Bọn phi công Mỹ không một chút lưỡng lự nào, lướt đến tấn công. Rồi phi cơ toả khắp bầu trời, xoáy tít từ tầng mây trên cao cho đến sát biển dưới thấp, khai diễn một trận không chiến kinh tâm động phách. Các đội hình bị cắt nát ra từng mảnh.

Như chớp, tôi xoáy trôn ốc và lăn tròn đến sát đuôi một chiếc Hellcat, ấn cò súng ngay khi chiếc phi cơ lọt vào tầm nhắm. Tôi lăn ra xa và nhận thấy những viên đạn của tôi đều bay trong không khí. Tôi xoay nửa vòng hình trôn ốc, lướt đến thật sát, cố tâm rót đạn vô bụng của đối thủ. Viên phi công địch mưu tranh tài xoáy vòng tròn với tôi. Tôi chỉ chờ có vậy. Cạnh sườn của hắn nằm gọn trong tầm nhắm, và tôi quất ngay một loạt đại bác thứ hai, đạn chạm dọc theo thân phi cơ. Hai giây kế đó, những đám khói đen dầy đặc tuôn ra và chiếc phi cơ chúi như gió lốc xuống biển.

Khắp nơi, tôi nhìn thấy nhiều phi cơ kéo những vệt khói dài bốc cháy và nổ tung. Lúc tôi đang nhìn, nhiều vệt đạn rót từ phía dưới lên cánh tôi. Tôi cấp tốc gạt cần lái sang trái, lăn tròn một vòng, tôi đã ở sau đuôi đối thủ và ấn cò súng. Trật. Hắn chúi xuống, mau hơn loạt đạn thứ hai của tôi.

Tôi vừa nguyền rủa sự lơ đãng vừa chửi bới con mắt đui mù của mình. Bởi con mắt này đã khiến tôi hầu như không nhìn thấy một phía. Nhanh chóng, tôi tháo hết dây dù buộc quanh thân, do đó tôi có thể xoay trở dễ dàng trên ghế ngồi để nhìn mọi hướng.

Ít nhất cũng có nửa tá Hellcat đang ở sau đuôi tôi, sẵn sàng trong vị thế khai hỏa. Các họng súng trên đôi cánh của một chiếc bắt đầu rực lửa, một chiếc khác vừa lăn tròn vừa bắn, nhưng tất cả đều không trúng. Sáu chiến đấu cơ địch cùng lúc lướt qua hai bên cánh tôi và vừa vượt lên vừa xoay về phía phải.

Lần này không dễ dàng như vậy được! Không! Tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp và lộn ngược về bên phải, xoay theo sáu chiếc Hellcat. Tôi liếc nhìn sau lưng, không có bóng dáng chiếc phi cơ nào khác. Khoảng cách giữa tôi và chiếc phi cơ địch gần nhứt thâu hẹp nhanh chóng. Còn cách 50 thước, tôi khai hoả, nhìn thấy những viên đại bác chạm vô thân phi cơ và phá nát phòng lái. Lửa sáng loá và khói xuất hiện sau kiếng che gió, một giây kế đó chiếc Hellcat bay lồng lộn, một bên cánh trễ hẳn xuống và một bựng khói tuôn ra càng lúc càng cuồn cuộn.

Nhưng có thêm chiến đấu cơ địch sau đuôi tôi. Bỗng nhiên tôi không muốn dây dưa với chúng nữa. Nỗi mệt mỏi bao trùm lấy tôi, giống như một chiếc khăn trùm kín mít. Những ngày trước đây ở Lae, tôi sẽ không bỏ phí một giây phút nào để đảo chiếc Zéro lại và mặt đâu mặt với đối phương. Nhưng hiện thời, tôi cảm thấy năng lực của tôi hầu như đã bị hút cạn. Tôi không muốn chiến đấu nữa.

Tôi chúi xuống, bay về phía Bắc với hết tốc lực. Mấy chiếc Hellcat quay lại. Bấy giờ, tôi bỗng cảm thấy hàng trăm trận không chiến mà tôi từng tham dự là một cái gì đáng chán ghét nhứt.

Tôi liếc nhìn xuống bên phải và há hốc miệng. Một chiếc Hellcat lộn nhào dữ dội, cố để thoát khỏi một chiếc Zéro đeo dính theo bên đuôi, khoảng cách không hơn 50 thước. Chiếc Zéro vừa rượt vừa bắn. Ngay lúc ấy một chiếc Hellcat khác đuổi theo chiếc Zéro đó. Lúc tôi còn đang nhìn diễn biến, một chiếc Zéro nữa chúi từ trên cao và lộn vòng lại phía sau chiếc Hellcat thứ hai. Rồi hết chiếc này đến chiếc khác nhảy vào vòng đua, kéo thành hàng dài như một con trường xà. Hình như kể từ chiếc Zéro thứ hai, chiếc nào chiếc nấy cứ nhắm mắt nhắm mũi rượt đuổi, không biết rằng phía sau mình còn có kẻ rượt theo nữa. Và phi cơ nào cũng khai hoả vào mục tiêu trước mặt. Hellcat, Zéro, Hellcat, Zéro, Hellcat, Zéro. Thật lạ lùng, không một phi cơ nào, cả Nhựt lẫn Mỹ, lưu ý đến việc bảo vệ yếu điểm phía sau của họ.

Chiếc Hellcat dẫn đầu bỗng chúi nhủi dữ dội sau khi nhả ra khói đen, rồi đâm đầu xuống biển. Hầu như cùng lúc, chiếc Zéro truy đuổi cũng nổ tung, biến thành trái cầu lửa. Chiếc Hellcat thứ nhì, bay ở hàng thứ ba, vừa tung ra cú đấm chết người, chỉ sống sót khoảng hai giây, đạn đại bác từ chiếc Zéro thứ hai, bay ở hàng thứ tư, xé vứt một bên cánh nó. Khi cánh vừa lìa khỏi thân chiếc Hellcat, một bựng lửa túa ra làm loà cả mắt, đánh dấu sự nổ tung của chiếc Zéro thứ hai. Và khi chiếc Hellcat thứ ba lảng ra xa khỏi tiếng nổ do nó vừa tạo ra, những viên đạn đại bác của chiếc Zéro phía sau xé nát phòng lái của nó ra làm muôn mảnh. Khi năm chiến đấu cơ đâm đầu xuống biển hết, chiếc Zéro cuối cùng lộn nhào để xoay hướng và bay đi. Ðó là kẻ sống sót duy nhứt của cuộc hỗn chiến kinh tâm.

Tôi lượn chầm chậm phía Bắc Iwo, hít thở không khí. Cơn choáng váng tan biến, tôi quày lại khu vực chiến đấu. Trận chiến đã kết thúc. Vẫn còn nhiều chiếc Zéro và Hellcat trên bầu trời nhưng hai phía bay thành từng nhóm riêng rẽ tách rời hẳn nhau.

Phía trước và bên phải, tôi thấy 15 chiếc Zéro thấp thoáng trong đội hình. Tôi bay đến để kết hợp. Từ phía dưới, tôi lướt lên…

Hellcat!! Bây giờ tôi mới biết tại sao bác sĩ đã khăng khăng phản đối việc tôi chiến đấu trở lại. Chỉ còn một mắt, tầm nhìn xa của tôi quả yếu kém, những chi tiết nhỏ trên thân máy bay tôi không sao nhìn thấy. Cho đến khi những ngôi sao màu trắng nổi bật trên cánh các phi cơ trở nên rõ rệt, tôi mới biết mình sai lầm. Tôi không phí một giây nào trong việc chận đứng nỗi sợ hãi đang bao trùm lấy mình. Tôi lộn về phía trái, xoay thật ngặt và chúi thẳng xuống, hy vọng mấy chiếc Hellcat không phát hiện tôi. Ðâu may mắn như vậy! Ðội hình Hellcat vỡ ra và cuộc truy đuổi khai diễn. Tôi có thể làm gì? Không còn một cơ hội nào nữa.

Không, vẫn còn một lối thoát, một cơ hội mong manh. Tôi hầu như bay ngay trên Iwo Jima. Nếu tôi cứ chạy quanh quẩn, một việc không dễ, chờ cho đến khi xăng của các máy bay địch cạn dần và bắt buộc phải quay về căn cứ… Bấy giờ tôi lượng định tốc lực của những chiến đấu cơ mới này. Chỉ trong mấy giây chúng đã áp sát. Nhanh quá đỗi! Không thể chạy được…

Tôi xoay ngược lại thật mau, và doạ các phi công địch bằng cách từ phía dưới vượt lên, xoáy một vòng hình trôn ốc.

Tôi kinh ngạc, phi cơ địch không phân tán. Chiếc dẫn đầu đáp trả bằng cách xoay hình trôn giống như tôi. Tôi lại xoay nữa, lần này thâu hẹp đường bán kính hơn. Ðối thủ không nhường tôi một bước nào.

Một chiếc P39 Airacobra hoặc một chiếc P40 Warhawk sẽ thua cuộc nếu thi tài với tôi bằng lối này, ngay cả loại chiến đấu cơ F4F Wildcat có thể giữ vòng xoáy khá lâu cũng khó chống lại một chiếc Zéro. Nhưng những chiếc Hellcat này, là loại phi cơ nhanh nhẹn nhứt của địch quân mà tôi mới thấy lần đầu. Tôi đã lọt vô bẫy. Mười lăm chiến đấu cơ địch lần lượt điền vào vòng xoay. Giây phút kế đó, tôi nhận thấy mình đang xoay chính giữa một sợi dây khổng lồ do mười lăm chiếc Hellcat tạo thành. Bất cứ phía nào tôi cũng đều thấy những cái cánh rộng lớn vẽ ngôi sao trắng. Nếu có một viên phi công nào bị vây trên trời, viên phi công ấy chính là tôi.

Tôi có rất ít thì giờ để suy gẫm về sự bất hạnh của mình. Bốn chiếc Hellcat đã phá vỡ vòng xoay đâm chúi vô tôi. Chúng quá nôn nóng. Tôi lăn tròn và thoát dễ dàng. Nhưng tôi đã phơi lưng cho nhiều chiếc khác. Một nhóm bốn chiếc thứ nhì tách ra, ngay phía sau tôi.

Tôi tháo chạy! Gia tăng hết tốc lực để thoát ra khỏi tầm súng đối phương. Tôi hành động kịp lúc. Bốn chiếc đầu tiên, sau khi chúi xuống vồ hụt tôi, đang vượt lên để tiếp tục vồ nữa. Tôi nhấn chân phải lên bàn đạp bẻ lái, đảo chiếc Zéro sang trái. Kế đó là cần điều khiển, gạt sang bên trái, lăn tròn nhiều vòng. Những tia đạn loé sáng dưới cánh phải, tiếp liền theo một chiếc Hellcat bay vụt qua. Tôi giải toả cú lộn nhào bằng cách xoáy một vòng thật ngặt. Một chiếc Hellcat khác ở ngay phía sau tôi 700 thước, mọi họng súng đều rực lửa. Một điều tôi chưa biết trước đó, bây giờ tôi đã biết. Những tên phi công địch còn tệ hơn mấy tên học trò thiếu kinh nghiệm của tôi… và điều này có thể là yếu tố cứu mạng sống của tôi.

Chiếc Hellcat cứ tiến sát mãi, vừa bay vừa rải đạn như mưa, nhưng cách phi cơ tôi quá xa. Tôi xoay hướng một lần nữa và chạy thục mạng. Chiếc Hellcat áp sát nhanh chóng. Khi chiếc phi cơ còn cách phía sau tôi 300 thước, tôi lăn về phía trái. Chiếc Hellcat vượt ngang phía dưới tôi, vẫn khai hoả trong không khí. Tôi đã mất phong độ. Tại sao lại chạy dài trước một tên phi công vụng về như vậy. Không suy nghĩ, tôi lăn trở lại và ở sau đuôi hắn. Từ khoảng cách 50 thước, tôi rót vội một viên đại bác. Phí đạn. Ngay lúc ấy một chiếc Hellcat khác đã đến sau đuôi tôi và khai hoả. Một lần nữa, tôi lăn về phía trái, cách này thì tôi không bao giờ thất bại. Chiếc Hellcat vượt qua, tiếp liền đó là hai chiếc khác. Một nhóm bốn chiếc nữa hầu như ở ngay trên đầu tôi sẵn sàng nhào xuống. Thỉnh thoảng, cũng nên tấn công để tự vệ chớ! Tôi vượt thẳng đứng lên, ngay phía dưới bốn chiếc Hellcat. Mấy tên phi công lắc cánh qua lại cố tìm tôi. Tôi không có thì giờ để phá rầy họ. Ba chiếc Hellcat khác đâm thẳng vô tôi từ bên phải. Tôi né tránh những làn đạn thổi tới, bằng cách lăn về phải và chỉ thoát trong đường tơ kẽ tóc. Mười lăm chiếc Hellcat lập vòng vây trở lại. Bất kỳ âm mưu thoát thân nào của tôi cũng đều đưa lưng cho nhiều chiếc Hellcat cắt ngang từ nhiều hướng khác nhau. Tôi xoay vòng chính giữa, suy nghĩ tìm lối thoát. Ðối phương không cho phép tôi suy nghĩ. Các chiếc Hellcat tách ra khỏi vòng vây, hết chiếc này đến chiếc khác, vừa lướt đến tôi vừa khai hoả.

Tôi không nhớ đã bị tấn công mấy lần mà cũng không nhớ mình đã lăn tròn bao nhiêu vòng. Mồ hôi đẫm ướt thân tôi, thấm ướt cả áo lót. Mồ hôi cũng đọng thành hột trên trán tôi và bắt đầu lăn dài xuống mặt. Tôi chửi thề khi mắt trái tôi xót như muối xát. Tôi không có đến một giây để đưa tay lên dụi. Tôi mệt lả, không biết làm sao thoát khỏi vòng vây. Nhưng rõ ràng mấy tên phi công này không tốt hơn phi cơ của chúng. Một tiếng nói vang lên trong đầu tôi, lặp đi lặp lại… tốc lực… tăng gia tốc… cứ lăn tròn… lăn tròn không ngừng nghỉ. Cánh tay phải tôi bắt đầu tê cứng khi giữ cho chiếc phi cơ lăn liên hồi về phía trái để tránh đạn địch. Nếu tôi gượng lại, không lăn nữa, mạng tôi đi đời tức khắc. Nhưng tôi có thể lăn như thế này bao lâu?

Tôi phải lăn tròn! Bao lâu mà mấy chiếc Hellcat còn giữ nguyên vòng vây, chúng chỉ có thể nhảy xổ vô tôi từng chiếc một. Né tránh đạn của chỉ một chiếc thì tôi không sợ. Tầm gần, nhưng ít ra nó phải nhắm trúng tôi cái đã. Những viên đạn được bắn ra từ khoảng cách một trăm thước tôi có thể né tránh dễ dàng.
Tôi chỉ cần giữ khoảng cách với mấy phi cơ địch, lúc ấy đang lần lượt từng chiếc một tách khỏi vòng vây, vừa chúi xuống vừa khai hoả vô tôi. Tôi lăn tròn. Gia tăng hết tốc lực. Gạt cần điều khiển qua trái. Lăn tròn liên tục. Mặt biển và chân trời xoay tít. Những tia đạn loé sáng, bùng nổ. Luôn luôn dưới cánh tôi. Gia tăng tốc lực. Lăn qua trái. Lăn nữa. Cánh tay tôi tê rần không còn chút cảm giác. Nếu có một viên phi công Hellcat nào chọn một hướng tấn công khác hoặc tập trung đường nhắm cẩn thận trên mục tiêu, chắc chắn tôi không còn trên đời. Bọn họ chỉ cần giữ nguyên lối tấn công cũ, rượt theo vòng lăn của tôi, tôi cũng lãnh đủ. Bọn phi công kỳ lạ. Ngoại trừ một vài viên phi công đại tài, hầu như 99% phi công địch giữ nguyên công thức mà họ đã được dạy trong trường. Ðược dạy như thế nào họ làm theo như thế đó, không bao giờ suy xét để thích ứng với tình thế cấp thời khi chiến đấu, nơi mà giữa sống và chết chỉ cách nhau một kẽ tóc.
Do đó, cuộc thử thách này là cuộc thử thách chịu đựng giữa cánh tay của tôi với bình xăng của chiếc Hellcat. Những phi cơ này vẫn còn phải bay về các hàng không mẫu hạm.

Tôi liếc nhìn đồng hồ đo tốc độ. Gần 350 dặm một giờ. Là tốc độ mà một chiếc Zéro có thể đạt được dễ dàng. Nhưng chiếc Zéro cũng có giới hạn của nó. Tôi ngại đôi cánh đang oằn xuống dưới các vòng lăn tròn tránh né liên tục và dữ dội, chúng có thể gãy rời ra khỏi phi cơ. Nhưng việc này nằm ngoài tầm tay đối phó của tôi. Tôi chỉ có thể tiếp tục bay. Tôi bắt buộc phải lăn tròn để tránh né hoặc chết. Lăn tròn. Lăn tròn. Tôi không nghe thấy gì hết. Tiếng động cơ của chiếc Zéro, tiếng gầm thét của mười lăm chiếc Hellcat, tiếng rít của đạn đại liên 50, tất cả đều biến mất. Mắt trái tôi đau nhức. Mồ hôi đổ như tắm. Mặt mũi tôi đầm đìa. Tôi không thể đưa tay lên lau. “Bỏ hết”. Gạt cần điều khiển. Ðạp bàn đạp lái. Né đạn địch.

Ðồng hồ cao độ thấp tận cùng. Ðại dương ở ngay phía dưới lườn máy bay. Hiện thời tôi không thể nào xuống thấp hơn nữa. Các chiếc Hellcat cũng không thể chúi xuống vì phía dưới là mặt biển. Nhưng chúng sẽ tìm ra cách khác. Tôi chỉ có một vài giây. Tôi nắm chặt cần lái với tay trái, gạt thật mạnh về phải. Ðau nhức cùng khắp. Ðau nhức đến tê liệt. Tôi đảo ngược về trái. Phi cơ bật như chong chóng, cùng lúc là những vệt đạn rót xuống. Những tia nước bắn lên từ mặt biển, trải ra và sủi bọt. Bao giờ đối thủ bỏ cuộc? Các chiếc Hellcat phải hết xăng chớ! Nhưng tôi không thể nào lăn tròn một cách hiệu quả mãi. Hai tay tôi dần dần tê dại. Tôi đang mất cảm giác. Phân nửa số phi cơ địch tạo thành một chuỗi chướng ngại vật trên đầu tôi, trong khi những chiếc khác lao đến, tập trung hoả lực vào tôi. Loại Hellcat quá nhanh. Trong vòng vài giây, phi cơ của tôi đã nằm trong tầm súng. Tôi lăn ngay sang phải, chiếc Zéro rung dữ dội bỏ lại những tia nước sủi bọt phun cao trên mặt biển do đạn địch tạo ra. Ðối phương không chịu bỏ cuộc. Bây giờ các chiếc Hellcat đang chúi xuống chặn đầu tôi trong khi những chiếc còn lại khai hoả. Không có lối thoát. Nếu tôi cứ tiếp tục bay thấp thì cái chết chỉ còn là phút giây. Tại sao lại chờ chết trong sự trốn chạy hèn nhát?

Tôi kéo cần điều khiển ngược về ngực, hai tay hầu như sát vô bụng. Chiếc Zéro giật nẩy đầu lên, phía trước tôi là một chiếc Hellcat, chỉ cách 100 thước với tên phi công kinh hoảng bên trong. Chiếc Hellcat đảo thật mau né tránh. Tôi ấn cò súng. Chiếc Hellcat lăn tròn, nhấc lên và bay mất. Những chiếc Hellcat khác rối loạn. Tôi vượt lên và chạy nữa. Mấy tên phi công ngu ngốc rượt theo và khai hoả từ khoảng cách 500 thước. Phí đạn vô ích, phí đạn vô ích, tôi thét lên. Nhưng, bọn này nhanh quá đỗi! Những tia đạn loé sáng bên cánh tôi, và tôi lại lăn tròn một cách tuyệt vọng.

Xuống thấp nữa, Iwo Jima thình lình xuất hiện ở phía dưới. Tôi lắc cánh, hy vọng các xạ thủ cao xạ dưới mặt đất nhìn thấy dấu hiệu mặt trời đỏ trên cánh phi cơ. Ðó là một sai lầm! Hành động này khiến tôi chậm lại, và những chiếc Hellcat đã ở ngay phía trên tôi. Súng phòng không đâu? Bắn đi, lũ ngu, bắn đi!

Iwo nổi lửa. Những vạch đạn chớp loé khắp hòn đảo. Mọi loại súng đều khai hoả. Tiếng nổ làm rung chuyển chiếc Zéro. Những bựng khói do đạn cao xạ tạo ra xuất hiện trên không, giữa các chiếc Hellcat. Ðối phương quay phắt thật mau để thoát khỏi tầm súng.

Tôi vẫn duy trì tốc độ tối đa. Tôi đang sợ hãi. Tôi cứ nhìn về phía sau sợ đối phương quay lại, sợ những tia đạn từ dưới đất rót vô phòng lái, xuyên thủng thân phi cơ, ghim vô thân tôi. Tôi lướt ngang qua Iwo Jima, ấn mạnh ga, thúc giục chiếc Zéro bay mau hơn. Mau hơn, mau hơn! Phía Nam Iwo xuất hiện… một đám mây! Một tảng mây dày đặc chồng chất nhiều lớp vĩ đại, bay là đà trên mặt nước. Tôi bất cần lưu ý đến luồng vận chuyển không khí. Tôi chỉ muốn thoát thân. Với hết tốc lực, tôi chui vô đám mây.
Làm như có một bàn tay khổng lồ tóm lấy chiếc Zéro và đu đưa nó qua lại một cách dữ dội. Tôi không thấy gì khác hơn là những màu tím thẫm chợt loé chợt tắt. Tôi đã mất kiểm soát. Chiếc Zéro chúi nhủi, rung lắc và như bị giựt lại, liên tục. Rồi tôi ra khỏi tảng mây, cơn bão bên trong mây quăng chiếc Zéro ra ngoài khiến nó lảo đảo dữ dội. Tôi ngã sấp về phía trước. Sau đó, tôi lấy lại cao độ khoảng 16,000 bộ. Xa về phía Nam, tôi nhìn thấy thấp thoáng bóng dáng 15 chiếc Hellcat. Chúng đang bay về hàng không mẫu hạm. Khó thể tin rằng hiểm nguy đã vượt qua, và tôi vẫn còn sống sót. Tôi muốn rời khỏi không trung lập tức. Tôi muốn được đứng trên mặt đất rắn phía dưới.

Tôi đáp xuống phi đạo chánh của Iwo. Tôi ngồi trong phòng lái vài phút, sức cùng lực kiệt, sau đó leo xuống một cách mệt nhọc. Tất cả các chiến đấu cơ khác đã đáp xuống từ lâu. Một đám phi công và thợ máy chạy ùa ra phi cơ của tôi, la lên vui mừng. Nakajima cũng có mặt. Ông ôm choàng lấy tôi, la lớn với nỗi hân hoan. “Chỉ có anh mới làm nổi việc đó, Sakai! Một chống mười lăm… anh quả thật phi thường!” Tôi chỉ có thể tựa vô phi cơ và miệng càu nhàu nguyền rủa con mắt đui mù của mình. Mạng sống của tôi suýt đi đời vì nó.

Một cơ khí viên chạy, chào và nói: “Phi cơ của Chuẩn uý… Nó… Nó không… Không thể tin nổi… Nó không có một lỗ đạn nào cả!”

Tôi cũng không thể tin nổi. Tôi xem xét lại chiếc phi cơ từ đầu đến cuối. Cơ khí viên nói đúng. Không có một viên đạn nào trúng phi cơ của tôi.

Sau đó, về doanh trại tôi được biết nhóm Zéro đầu tiên, bay phía trên các đám mây, đã đánh nhau với đối phương dễ dàng hơn nhóm chúng tôi. Nhóm Zéro này có được ưu thế từ trên cao bổ xuống, khiến các phi công Hoa Kỳ trở tay không kịp. Trung sĩ Kinsuke Muto, ngôi sao sáng của Không đoàn Yokosuka, đã hạ một lúc bốn chiếc Hellcat. Các phi công khác cũng ghi điểm chiến thắng. Nhưng đổi lại, gần 40 chiếc Zéro, hầu như phân nửa tổng số chiến đấu cơ của chúng tôi bị bắn rơi.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

November 6th, 2020

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Kỳ 26

Saipan đi vào lịch sử thế chiến dưới tên gọi Địa ngục Thái Bình Dương. Đến Iwo Jima, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đặt tên Địa ngục của Địa ngục. Lý do: Trung tướng  Tadamichi Kuribayashi, vị tướng đã thảo kế hoạch đánh chiếm Hương Cảng và được xem xuất chúng, nhận lệnh chống trả đến cùng, chết tại chỗ! Biết sẽ không trở về, ngày đáo nhậm Iwo Jima, Kuribayashi chỉ đem theo thanh kiếm sắt mà không mang bên mình thanh kiếm bằng bạc của Thiên hoàng ban tặng. Ý chí quyết tử của hai mươi ba ngàn binh sĩ Nhật sẽ gây thương vong cho hai mươi sáu ngàn lính Mỹ. Iwo Jima là trận chiến khốc liệt nhất trong tất cả những cuộc đổ bộ. Tên Hán-Việt của Iwo Jima là đảo Lưu Huỳnh vì chứa chất diêm sinh dùng làm diêm quẹt; tự thân Iwo Jima đã là một thùng thuốc súng.

Riêng với Sakai, sau thuyên chuyển về Không đoàn Thủ đô Yokosuka, đã nhận lệnh ứng chiến trên hòn đảo bé xíu này với nhiệm vụ phòng thủ không trung. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 26

Chương 23

Suốt thời gian được bổ nhiệm đến Yokusuka, tôi thường viếng thăm Ðông Kinh. Ðể thăm chú thím tôi và cũng để thăm Hatsuyo. Nàng vẫn thân mật, trìu mến và dịu dàng, tuy hai chúng tôi tránh nhắc đến việc chậm lập gia đình của cả hai. Tôi cùng dạo phố với Hatsuyo nhiều bận. Trong 18 tháng vắng mặt của tôi, thủ đô đã thay đổi. Màu sắc và sự vui tươi biến mất. Ðường phố ưu sầu, mất hẳn sinh động. Dân chúng cúi đầu bước đi với vẻ trầm tư. Con cái, cha anh, chú bác, thân thuộc của những người này đã ra đi, và không bao giờ trở lại. Những tiệm buôn đã cạn hàng hoá, bán theo tem phiếu hiện là một nội quy bắt buộc. Dân chúng kiên nhẫn đứng nối đuôi trong gió lạnh, chờ đợi để nhận thức ăn. Tôi ý thức để khoản đãi tôi trở về nhà, thím tôi với Hatsuyo đã phải xếp hàng và tích trữ thức ăn rất lâu. Tuy nhiên thủ đô vẫn nguyên vẹn, ngoại trừ một cuộc không tập duy nhứt xảy ra vào năm 1942.

Nhưng chiến tranh lấn bước đến Nhựt Bản vào tháng 6 năm 1944, gây ảnh hưởng không tốt đối với công chúng. Vào ngày 15 tháng 6, dân chúng Ðông Kinh đã xúc động khi nghe tin 20 pháo đài bay địch đã bay một mạch từ Trung Hoa đến tấn công một thành phố phía Bắc Kyushu là đảo Cửu Châu. Cuộc oanh tạc không gây hư hại bao nhiêu. Nhưng trong nhà và trong các cửa tiệm, trong những cơ xưởng và trên đường phố khắp nơi ở Nhựt, ai ai cũng bàn tán đến vụ oanh tạc, nói về việc các chiến đấu cơ của chúng tôi đã thất bại không chận đứng nổi các oanh tạc cơ địch. Tất cả đều có chung những câu hỏi: thành phố nào sẽ bị oanh tạc kế đó? Khi nào? Và bao nhiêu oanh tạc cơ? Bao nhiêu bom?

Ðài phát thanh lại loan đi một tin tức gây lo âu khác. Người Mỹ đã đổ bộ lên Saipan. Chiến tranh đã đến gần quê hương bằng một lối khác nữa. Saipan không xa mấy. Những tấm bản đồ được mở ra, và người dân giựt mình nhìn thấy hòn đảo nhỏ li ti sát bờ biển Nhựt. Và họ nhìn lẫn nhau. Họ đã bắt đầu đặt những câu hỏi, thì thầm, về các tin tức chiến thắng loan đi thường xuyên trên đài phát thanh. Làm sao Nhựt Bản có thể nghiền nát chiến hạm, tiêu diệt phi cơ địch, đánh tan lực lượng của đối phương một khi Saipan đã bị xâm phạm. Ðó là một câu hỏi mà ai ai cũng đặt ra, nhưng chỉ một vài người dám đưa ra lời giải đáp.

Tiếp liền tin tức về Saipan, chúng tôi nhận được tin các lực lượng hùng hậu thuộc hạm đội của chúng tôi tiến đến quần đảo Mariana, tham dự vào trận đánh mà mọi người ở Yokosuka đều biết sẽ là một trong những trận đánh quyết định cuộc chiến. Chúng tôi không còn mưu định đổ bộ lên các hòn đảo bên ngoài, chúng tôi đang canh gác ở ngay những cổng bước vào quê hương chúng tôi.

Sáng hôm sau, Không đoàn Yokosuka nhận lịnh di chuyển đến đảo Iwo Jima. Bộ Tư Lịnh Tối Cao của chúng tôi e rằng một khi Saipan thất thủ, quân Mỹ sẽ bước thêm bước nữa, bằng cách tấn công địa điểm chiến lược này. Với Iwo Jima trong tay đối phương, toàn thể nước Nhựt sẽ bị uy hiếp.

Thực sự, việc Iwo Jima không bị chiếm đóng vào mùa Hạ năm 1944 là một kinh ngạc cho chúng tôi. Phòng thủ trên đảo này lúc đó rất yếu kém. Chỉ cần một phần lực lượng đổ bộ lên Saipan, địch quân có thể đặt chân lên các bãi cát Iwo Jima và tẩy sạch sức đối kháng của lực lượng phòng thủ trên đảo dễ dàng. Không hiểu vì lý do nào, cuộc đổ bộ bị trì hoãn nhiều tháng, cho phép Lục quân và Hải quân Nhựt đổ người và vũ khí lên hòn đảo chiến lược nhỏ bé này.

Khi nhận được lịnh thiết lập một mạng lưới bảo vệ không phận hòn đảo, Không đoàn Yokosuka do phần lớn máy bay đã tăng phái cho Phi Luật Tân chỉ có vỏn vẹn ba mươi chiến đấu cơ khả dụng. Ba mươi chiếc Zéro, giống như mấy chiếc Zéro mà tôi đã từng bay ở Trung Hoa gần 5 năm trước đây. Chỉ có bao nhiêu đó! Cho một Không đoàn Thủ đô có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng gia!

Tuy nhiên, cuộc đổ bộ chưa xảy ra. Chúng tôi coi biến cố này như một phép lạ. Trung tá Nakajima đã trở về Yokosuka. Một tháng sau khi ông rời căn cứ Toyohashi nằm trong vịnh Phong Kiều để đến Rabaul, Ðông Kinh đã gọi ông về và chỉ định chức vụ chỉ huy trưởng Không đoàn Yokosuka. Bây giờ, sau một năm trên đất liền, ông ta lại ra đi nữa. Lần này ông sẽ đối diện với một mặt trận bi tráng hơn bất kỳ mặt trận nào khác trong đời chỉ huy của ông. Tôi nhận được lịnh trình diện ông trong văn phòng. “Sakai, tại sao anh không đi với tôi lần này?” ông hỏi. “Anh biết là tôi nôn nóng muốn bay trở lại với anh đến mức nào không. Tôi bất cần những gì mấy thằng bác sĩ cứ lải nhải. Hiện thời, đối với tôi, anh vẫn là một phi công xuất chúng. Anh đã chứng tỏ điều này mỗi khi tôi thấy anh bay.”

“Saburo, tôi cần anh đi với tôi. Cần lắm. Anh sẽ giống như một vị thần hộ mạng đối với những phi công mới này. Có anh bay với chúng tôi, tinh thần của họ sẽ lên cao. Họ sẽ theo anh bất cứ nơi nào.”

“Trung tá cần phải hỏi tôi nữa sao?” Tôi nói. “Trung tá yêu cầu tôi đi với Trung tá phải không? Bao nhiêu lần tôi đã khẩn khoản! Bao nhiêu lần tôi đều bị lắc đầu, “anh không thể bay được đâu, Sakai, anh nửa đui nửa sáng mà còn bay với bổng gì nữa, Sakai.” Dĩ nhiên, tôi muốn đi! Tôi muốn đi với Trung tá. Tôi muốn chiến đấu trở lại!”.

Thời gian đã đổi thay. Không một viên y sĩ nào tỏ vẻ phản đối ý định của tôi. Những lời đầu môi để giữ một viên phi công độc nhãn đứng bên ngoài cuộc chiến không còn nữa. Nhựt Bản không thể nào lo nghĩ đến những chi tiết nhỏ mọn như vậy nữa. Nhựt Bản đang lâm nguy, và một phi công độc nhãn có đầy đủ kinh nghiệm chiến đấu như tôi phải gánh vác trách nhiệm.

Tôi lại ra đi. Xứ sở đang cần tôi.

Chúng tôi nhận lịnh đến Iwo Jima tức khắc. Chúng tôi không có cả thì giờ liên lạc với gia đình. Không có những lời từ biệt. Tôi thực tâm muốn từ giã Hatsuyo nhưng tôi chỉ kịp viết vội vài dòng thông báo vắn tắt lên một tấm bưu thiếp.

Vào sáng ngày 16 tháng 6-1944, chúng tôi cất cánh từ Yokosuka và bay trong đội hình, với tôi dẫn đầu, trực chỉ hòn đảo xa xôi. Nhưng chúng tôi không đến được mục tiêu. Sau 100 dặm bay trong những đám mây dầy đặc sa mù sà thấp và những cơn mưa như thác lũ, chúng tôi bắt buộc phải quay về Yokosuka. Mùa mưa của Nhựt Bản đã bắt đầu. Với tất cả dữ tợn của thiên nhiên. Nakajima và tôi, cũng như một số phi công kinh nghiệm khác có thể bay đến Iwo Jima dễ dàng, nhưng đa số ba mươi phi công thuộc không đoàn đều là tay mơ. Mưa bão sẽ đánh dạt họ ra khỏi đội hình không biết lúc nào, và điều đó có nghĩa là họ sẽ mất tích và mạng sống của họ chấm dứt.

Iwo Jima là một hòn đảo nhỏ cách phía Nam Yokosuka 650 dặm, tính bằng hải lý. Bề ngang lớn nhứt của hòn đảo chỉ khoảng hai dặm. Trên mặt bản đồ thế giới, Iwo Jima có vẻ như là một hòn đá cuối cùng của một loạt các hòn đá trải dài từ Yokosuka đến Guam. Tuy nhiên, các bản đồ thường đưa đến những sai lầm tai hại, và trên đường bay bao la của Thái Bình Dương, khoảng cách giữa mỗi điểm nhỏ có thể được phỏng định chênh lệch một cách khủng khiếp. Quả thật, không radar, ngay cả vô tuyến cũng không có, chúng tôi không dám liều lĩnh, vì như vậy hầu hết phi cơ của chúng tôi có thể đi đời.

Chúng tôi đã từng gặt hái kinh nghiệm bi thảm về vấn đề này. Ðầu năm 1943, nhiều phi đoàn chiến đấu cơ Lục quân, được lái bởi những phi công không có một chút kinh nghiệm nào trong các phi vụ vượt đại dương, vì chỉ tác chiến trên lục địa, cất cánh ở Nhựt Bản để đến một căn cứ phía Nam. Trên đường đi họ chạm trán với tình trạng thời tiết tồi tệ, nhưng họ không chịu quay về. Kết quả hầu hết phi cơ đều biến mất trong khoảng không trình hun hút sâu vô tận của Thái Bình Dương.

Chúng tôi cố lên đường một lần nữa vào sáng ngày 17 tháng 6. Lần này chúng tôi rời khỏi Yokosuka chưa đầy 200 dặm thì bị các trận bão đẩy bật trở lại, mặc dù theo báo cáo thì thời tiết ở Iwo Jima và quần đảo Mariana rất tốt đẹp. Chúng tôi nằm lì trong doanh trại, nghe tin tức do đài phát thanh loan đi liên quan đến quân trú phòng trên đảo Iwo Jima. Theo đó, đối phương đã tung các cuộc không tập lên hòn đảo này suốt ngày suốt đêm.

Bốn lần, chúng tôi cất cánh, và bốn lần chúng tôi đều bị các trận bão đẩy bật trở lại. Vào ngày 20 tháng 6-1944, khi chúng tôi cố gắng lên đường lần thứ năm, tình trạng thời tiết vẫn hoàn toàn không bảo đảm an phi. Tuy nhiên, Trung tá Nakajima quyết định lướt qua. Chúng tôi để những phi công không kinh nghiệm bay ở cánh và đuôi, rồi tất cả xông vào mưa bão mù mịt.

Không ai trong chúng tôi biết được vào ngày này nhiều hải hạm đội quan trọng của chúng tôi đã chịu đựng một cú đấm thảm khốc do phi cơ và trọng pháo của lực lượng đặc nhiệm đối phương ở quanh quần đảo Mariana tung ra.

Cuối cùng, chúng tôi thoát ra khỏi trận mưa bão. Chúng tôi bay được 650 dặm, là đã vượt 1,200 cây số và nhiều phút sau đó, đỉnh của ngọn núi lửa trên đảo Iwo Jima hiện ra lờ mờ trên mặt nước, Trung tá Nakajima bắt đầu đảo một vòng rộng lớn trên phi đạo thứ nhì, thiết lập trên sườn núi Motoyama, nằm chính giữa hòn đảo. Tôi những tưởng những phi đạo lấm bụi ở Lae là tồi tệ, nhưng phi đạo này còn tồi tệ hơn nữa. Ðáp xuống sân bay ngắn trên một hàng không mẫu hạm có lẽ còn đơn giản hơn đáp xuống phi đạo khủng khiếp ở dưới kia. Hai phía của phi đạo vách đá dựng đứng. Chỉ cần đáp trật một chút, chúng tôi sẽ đâm sầm vào núi và biến thành trái cầu lửa ngay. Và một tường đá cao chớn chở chắn ngang cuối phi đạo chờ đợi những phi công không thận trọng.

Đảo Iwo Jima với đỉnh núi Suribachi

Trung tá Nakajima từ chối thử sức các phi công của ông trên phi đạo cấm kỵ này. Ông dẫn cả nhóm trở lại phi đạo thứ nhứt, nằm ở mặt phía Nam của hòn đảo. Phi đạo này rộng và dài. Lần lượt, các chiến đấu cơ hạ cánh.

Ðã có hơn 90 phi cơ đậu dọc theo phi đạo, không còn chỗ trống nào dành cho các chiến đấu cơ của chúng tôi. Nakajima đưa tay ra khỏi phòng lái vẫy vẫy ra dấu cho chúng tôi đi theo ông. Một con đường dốc lộng gió dẫn từ phi đạo chánh đến phi đạo phụ dài hơn một dặm. Tôi cảm thấy buồn cười khi chạy cà xốc men theo con đường này. Giống lái xe đò. Ðây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, tôi mới biết leo lên sườn núi với một chiến đấu cơ và một dọc ba mươi chiến đấu cơ phía sau, rồi chạy vòng như taxi đón khách.

Một tiểu đoàn bộ binh đã kinh ngạc đến nỗi há hốc khi nhìn đoàn công-voa tung xốc nối đuôi kêu vang rầm trời và quậy bụi mù mịt của chúng tôi. Nhiều người đưa tay chỉ chỏ, cười nghiêng ngửa. Riêng chúng tôi khó thể nào cười nổi. Lái một chiến đấu cơ lên dốc, với một chiếc ở phía trước và một chiếc khác quay cánh quạt vù vù thổi tung đất cát ở phía sau trong khi phải cố gắng đối phó với mấy chỗ lượn cong, đầy ổ gà còn hóc búa hơn duy trì đội hình bay khít khao trong một đám sương mù dầy đặc.

May mắn thay, chúng tôi đến Iwo Jima trong thời gian các trận đánh lắng dịu tạm thời. Chỉ vào ngày trước đó, hòn đảo đã náo động dưới hàng ngàn quả đại bác của lực lượng đặc nhiệm đối phương chạy dọc theo bờ biển. Hải pháo 400 ly từ các thiết giáp hạm Mỹ đào những hố sâu hơn bể bơi Ðông Kinh.

Chúng tôi may mắn, vì hiện thời đối phương đã quay hướng đến Saipan để dập các pháo đài Nhựt trên hòn đảo này. Trong ba ngày, chiến tranh buông tha Iwo Jima. Nhưng không một người đàn ông lành mạnh nào muốn ở đây. Nó vừa ảm đạm vừa bất an, không cảm thấy dễ chịu như ở Rabaul. Nhưng chúng tôi thích nghi với hoàn cảnh, lợi dụng thời gian yên tĩnh giả tạo để trầm mình trong các suối nước nóng chảy róc rách thường xuyên qua các kẽ đá từ bên này đến bên kia phi đạo.

Cuộc chiến chưa bao giờ kỳ dị hơn đối với chúng tôi. Chúng tôi biết được tin hạm đội của chúng tôi đã tan tác trong trận hải chiến ở quần đảo Mariana. Và tất cả các phi công của các hàng không mẫu hạm đều chết rụi không còn một mống. Những lực lượng đổ bộ của địch có sức mạnh siêu việt là điều không thể nghi ngờ được. Với sự yểm trợ của hàng ngàn phi cơ, hàng trăm đại bác trên các chiến hạm, những lực lượng này chắc chắn sẽ diệt các đơn vị Nhựt trên đảo Saipan đến người cuối cùng.

Các sĩ quan của chúng tôi đã đến hồi tuyệt vọng. Họ biết rõ Saipan cần được giúp đỡ. Nhưng chúng tôi có thể làm gì được? Một cuộc tấn công toàn lực bằng chiến đấu cơ của chúng tôi chỉ hiệu quả nhứt thời, nếu không nói là vô nghĩa. Bởi lẽ Saipan nằm cách phía Nam Iwo Jima đến 600 hải lý. Mặt khác, nếu chúng tôi rời Iwo Jima mà không để lại một số chiến đấu cơ khả dụng, lúc đó quân Mỹ có thể thừa nước đục thả câu, đập tan hệ thống phòng thủ và quét sạch sức đề kháng yếu ớt trên hòn đảo.

Cuối cùng, quyết định được đưa ra: chiến đấu cơ ở lại, nhưng các oanh tạc cơ sẽ cất cánh tấn công các tàu chiến Hoa Kỳ trên đường đến Saipan. Mỗi cuộc tấn công đều được thực hiện vào ban đêm, các oanh tạc cơ không hộ tống sẽ cất cánh từng nhóm tám hoặc chín chiếc.

Khoảng thời gian giữa mỗi phi vụ oanh tạc cơ cất cánh rồi quay về là một khoảng thời gian vô tận. Chúng tôi nôn nóng sốt ruột chờ đợi. Các phi công của chúng tôi đã thi hành nhiệm vụ với lòng dũng cảm tột cùng và đã đạt được một số hiệu quả. Nhưng mà những hiệu quả này có nghĩa lý gì? Ðó chỉ là cái đập cánh của lũ thiêu thân.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

October 30th, 2020

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Kỳ 25

Một lần về phép, Sakai đến thăm chú thím mình, ông bà Hirokawa, với hy vọng trông thấy cô em họ. Buổi tối chỉ còn lại hai người trong phòng khách, Hatsuyo mời Sakai ngồi lại để nghe cô đàn một bản đàn mà qua đó Hatsuyo hy vọng Sakai sẽ hiểu được lòng mình. Lễ giáo không cho phép cô thổ lộ tình cảm thật, chỉ còn lại tiếng đàn. Trong thâm tâm, Hatsuyo hờn trách Sakai đã không hỏi cưới mình tuy biết huyết thống quá gần không cho phép hôn nhân. Cả dòng họ không ai hay biết mối tình này. Tiếng đàn của Hatsuyo cất lên, trầm bổng, đôi khi mãnh liệt như Hatsuyo muốn giãi bày tình yêu mãnh liệt của lòng mình và muốn phá vỡ sự câm nín của Sakai. “Hãy nói yêu em” là những thanh âm phát lên từ những cung bậc của đàn dương cầm. Và Sakai vụt hiểu. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 25

Chương 22

Từ giã Không đoàn Ðài Nam thuyên chuyển về thủ đô, với tôi là trút gánh nặng tập huấn cho những khóa sinh quá ít kinh nghiệm nhưng phải sớm ra mặt trận. Ngay sau khi đến Yokosuka, tôi xin nghỉ phép và lập tức đáp xe lửa đến Ðông Kinh, chỉ mất chín mươi phút. Gia đình chú thím tôi đã chào đón tôi như một đứa con xa nhà trở về. Tôi báo trước cho Hatsuyo bằng thơ nên cô em họ của tôi chưng diện bộ kimono mới nhất, vừa cắt may hãy còn thơm mùi vải. Gương mặt Hatsuyo rạng rỡ cố kềm vui sướng. Hatsuyo viết thơ cho tôi mỗi tuần kể lể những gì xảy ra chung quanh nàng; từ xưởng nhồi thuốc đạn cho đến trường học của em Michio đã cắt giờ học thay bằng việc may túi vải cho binh sĩ; hay giá một tô mì sưki đã tăng gấp đôi. Mỗi lá thơ tôi cũng kể cho Hatsuyo nghe những gì xảy ra trong công tác của mình. Tôi huấn luyện các khóa sinh tập định vị trí máy bay giữa trời ra sao. Cả những tiệc chia tay sau mãn khóa tôi cũng kể cho Hatsuyo nghe. Chúng tôi chung tiền trả cho các ca kỹ để nghe hát và không có gì đáng trách, vì không có gì khác, nhưng tiếng đàn của các geisha làm tôi buồn bã và tôi không muốn tham dự nữa. Trong thơ hồi âm, Hatsuyo nói hy vọng tôi sẽ không muộn phiền khi nghe nàng đàn. Hatsuyo theo học nhạc từ bé, những ngày còn ở nhà chú thím tôi vẫn thường nghe Hatsuyo tập đàn, tuy tiếng đàn khi ấy còn non nớt.

Chú thím tôi mừng vui ôm lấy tôi khi tôi bước vào nhà. Em Michio không ngớt trêu trọc tôi là ra dáng sĩ quan, duy chỉ có Hatsuyo có phần bẽn lẽn. Thím tôi với các em đã chuẩn bị mọi thứ, ngoài thịt heo bọc bột mì chiên vàng ruộm còn có súp củ mài với rau củ, nấm, rong biển và cá ngừ.

Ðêm đó, sau bữa ăn, Hatsuyo bắt đầu trách cứ về việc chậm lập gia đình của tôi. Giọng nàng nghiêm trang một cách đáng buồn cười. Tôi trả đũa ngay. “Tại sao em vẫn một mình, em của anh? Chưa có anh chàng nào đủ điều kiện phải không?”

Chú thím tôi ngừng nói chuyện, quay lại cười chúng tôi. “Anh em bây ồn ào quá!”. Chú tôi chế giễu.
Tôi cười: “Con không hiểu tại sao Hatsuyo không kiếm ra một ông chồng. Coi cô ta kìa. Ðẹp như một minh tinh màn bạc, và có bao nhiêu cô tự phụ đánh đàn giỏi hơn?” Tôi vừa nói với chú thím vừa nhìn Hatsuyo. “Con tin rằng chú có thể lựa cho em Hatsuyo một tấm chồng xứng đáng.”

“Nó khó tánh lắm.” Chú lắc đầu.

Cả chú thím tôi đều cười, nhưng Hatsuyo xụ mặt. Nàng liếc tôi rồi nhìn đi nơi khác. Ánh mắt của nàng xa xôi và trách móc một chuyện gì đó. Chú thím tôi đứng lên nói chúng tôi hãy cứ trò chuyện, còn chú thím vào nhà trong nghỉ sớm. Em Michio cũng về phòng. Trong nhà chỉ còn lại hai chiếc bóng của Hatsuyo với tôi lung linh trên vách. Hatsuyo lặng lẽ thu dọn chén bát rồi vặn nhỏ tim đèn trước khi trở lại quỳ gối đối diện tôi. Búi tóc nàng được búi kỹ lưỡng với trâm cài. Tôi thấy phải phá tan yên lặng.

“Vừa nãy anh nói không phải sao, Hatsuyo?”

Nàng không lý gì đến tôi. Không trả lời. Hatsuyo ngoảnh mặt đi nơi khác. Tôi giựt mình, nàng giận rồi. Tôi chuyển vấn đề ngay.

“Hatsuyo, dạo dương cầm cho anh nghe đi! Từ khi nghe em dạo đàn đến giờ đã lâu lắm rồi.”

Nàng nhìn tôi đầy nghi vấn. “Có thật anh muốn nghe em đàn không? Em chỉ đàn khi anh thật muốn nghe. Có thật là anh muốn nghe không Saburo?”

Giọng nàng rất nghiêm nghị. Tôi nói nhanh, “Em có nhớ lần phép đầu tiên của anh không Hatsuyo? Em dạo nhạc của…, để anh nhớ coi… phải rồi của Mozart. Em có thể dạo lại bản nhạc đó cho anh nghe không?”

Thay cho câu đáp, Hatsuyo bước đến chiếc dương cầm và ngồi xuống. Những ngón tay nhẹ bấc của nàng lướt trên phím ngà, ai có thể ngờ là chiến tranh đang diễn ra khốc liệt trên Thái Bình Dương lúc này? Tôi nhắm mắt và nhìn thấy lại những cuồng lửa xanh đốt cháy đêm, những chiến đấu cơ với oanh tạc cơ cất cánh hàng loạt trên phi đạo trước khi nhấc mình lên không trung và biến mất trong mây để rồi rất nhiều những đồng ngũ không bao giờ quay về. Còn tôi đang ngồi đây giữa một buồng khách bài trí thanh nhã ở Ðông Kinh, trong ấm áp sau một bữa cơm tối đầy đủ, trong thương yêu vây quanh của những người thân trong một gia đình xem tôi như con. Trong lúc các đồng đội đang chết trận. Một thế giới tương phản.

Tiếng nhạc dứt. Ngôi nhà rơi vào trầm lặng. Hatsuyo ngồi yên hồi lâu, rồi quay lại nhìn tôi với ánh mắt lạ lùng. Ðôi mắt mở lớn và dò hỏi ấy… Rồi nàng dịu dàng nói: “Saburo, em muốn dạo một khúc nhạc khác, đặc biệt cho anh. Hãy lắng nghe. Khúc nhạc ấy sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.”

Nàng có vẻ lạ lùng làm sao! Má nàng phơn phớt hồng e thẹn và nàng lảng nhanh đôi mắt sau khi nhìn tôi chăm chăm. Chưa bao giờ tôi thấy Hatsuyo trong trạng thái ấy.

Nàng dạo khúc nhạc một chập nữa. Tiếng nhạc trầm bổng. Tôi nhìn cô gái này. Chưa bao giờ tôi thấy nàng như vậy. Ý nghĩa gì khi nàng nói: “Khúc nhạc sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.”

Tiếng đàn của Hatsuyo tiếp tục vang lên, càng lúc càng mạnh mẽ. Các thanh âm đuổi bắt nhau cuồng nhiệt. Bỗng nhiên tôi hiểu, tôi đang nhìn Hatsuyo, không nhìn như một cô gái nhỏ, không như một người em họ chung huyết thống với tôi, nhưng tôi đang nhìn nàng như một thiếu nữ! Lần đầu tiên, tôi thật sự “nhìn thấy” nàng, chăm chú trên phím đàn, mười ngón tay nhảy múa, khuôn mặt say mê, như rót hết tâm hồn nàng vào tiếng nhạc. Hai cườm tay Hatsuyo nhấc lên thoăn thoắt, có lúc đan chéo và búng mười ngón tay trên phím.

Hatsuyo? Và tôi..? Ý nghĩ làm tôi chấn động. Nhưng, nàng không còn là một cô bé nữa. Hãy thức tỉnh, Sakai, anh thật ngu muội. Nàng là một thiếu nữ. Nàng đang nói với anh, trong giây phút này, rằng nàng yêu anh! Hãy nói yêu em là tiếng đàn của nàng. Bây giờ tôi hiểu những gì mà nàng muốn bày tỏ. Trong lúc bồng bột, tôi muốn đáp trả. Không thể được, tôi nhủ thầm. Nhưng đó là sự thật. Tôi nhớ lại lúc còn trong bịnh viện, khi nàng choàng tay qua tôi, kéo tôi vào nàng và thổn thức nói rằng nàng tin chắc tôi sẽ được bay trở lại. Mỗi tối nàng sẽ khấn nguyện cho tôi bình phục… Nàng đã yêu tôi lâu hơn tôi tưởng. Vào lúc ấy, trong sâu thẳm của lòng tôi, tôi cũng yêu nàng. Tôi nhận thức đã nghĩ đến nàng thường xuyên và tôi đã viết thơ cho Hatsuyo nhiều hơn viết cho Fujiko. Suốt ba năm chiến trận tôi gần như chỉ tâm sự với một mình nàng và nàng chăm chỉ hồi âm cho tôi từng lá thơ một. Những tháng nằm bịnh viện không tuần nào nàng không vào thăm, không tháng nào mà nàng không gửi cho tôi những thùng quà nhỏ, tuy không có chi mắc tiền nhưng là những chiếc bánh ngọt, lọ mứt do chính tay nàng làm lấy. Bao giờ cũng có những dòng chữ trìu mến, “Saburo, anh hãy ăn nhiều, hết rồi em sẽ làm thêm. Nói cho em biết là anh thích gì…” Làm sao tôi đã ngu ngốc không nhận ra.

Từ tấm bé Hatsuyo đã lẽo đẽo theo tôi, chúng tôi như hai con lăng quăng. Khi bay giữa trời nhiều lần tôi nghe tiếng nàng cười khúc khích trên mây. Và tôi hay nhoẻn cười một mình mỗi khi nghĩ đến nàng. Nhưng tôi có thể làm gì được? Tôi đã từ chối tình yêu của Fujiko bởi lẽ tôi đui mù một nửa, bởi lẽ tôi không muốn Fujiko phải lấy một tấm chồng thương phế binh. Tôi có thể làm khác hơn với tình yêu thầm kín của Hatsuyo không? Không.

Khi tiếng dương cầm chấm dứt, tôi cố giữ bình tĩnh, không hề để lộ vẻ gì cho nàng thấy là tôi đã cảm thông nỗi lòng của nàng. Tôi nán lại một lúc cho phải phép rồi kiếu từ đi nghỉ. Chúng tôi nói chuyện nhát gừng pha im lặng đầy vụng về. Hatsuyo cúi gập lưng khi tôi đứng lên, nàng không ngước lên chào lúc tôi về phòng mà nhìn xuống sàn gỗ trong dáng quỳ kính cẩn. Trải qua nhiều giờ, tôi không sao chợp mắt được. Ánh mắt đăm chiêu lo lắng của Hatsuyo sau bản đàn, cử chỉ lúng túng của nàng bám lấy tôi suốt đêm.

Buổi sáng tôi ra đi thật sớm để tránh đối diện với Hatsuyo nhưng nàng đã dọn sẵn điểm tâm và đợi tôi ở phòng ăn. Nàng đã phải thức rất khuya vì hai mắt nàng quầng thâm trên da xanh xao. “Saburo, em đã cầu nguyện cho anh tối qua được lành lặn và bình an như em vẫn khấn hàng đêm cho anh.” Nàng nói. “Em biết có lỗi đã bắt anh thức khuya với em đêm qua, em xin anh thứ lỗi, em sẽ biết ý tứ hơn.” Nàng nói chậm rãi, nghiêm trang. “Hatsuyo, em không có lỗi gì cả, chính anh…” Tôi không nói được hết câu. Khi ấy chú thím tôi bước ra. Tôi chào chú thím mình với Hatsuyo rồi ra đi.

Cù lao tới Pulau!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu June 22nd, 2023

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Thuyền nhân Việt Nam trên đảo Pulau Bidong ngày 1/8/1979 

Trong 5 châu: Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Úc là Châu Ðại Dương, được Thái Bình Dương, Ấn Ðộ Dương bao lại. Rộng mênh mông tới 7,688,000 km². Gần bằng 4/5 nước Mỹ về diện tích nên có rất nhiều chỗ đi du hí; đi cả đời chưa giáp.

Hai tuần lễ nghỉ Ðông của học trò Úc bắt đầu vào ngày 26 tháng 6 tới mùng 7 tháng 7 năm 2023, mấy chú Kangaroo lại dắt mấy con ‘Joey’ đi Pulau Bali của Indonesia.

Tại sao vậy? Dân Úc không yêu nước Úc, không thèm xài hàng ‘Australian Made’ hay sao?  Nói nào ngay yêu nước thì dân Úc hổng thua ai. Nhưng chỗ nào rẻ là tui tới chơi hè. Ðồng tiền nó liền khúc ruột phải không nè?

Úc thòi lòi đi Pulau Bali vì nó gần xịt. Cách Melbourne, nơi tui ở, chỉ 4400 cây số chưa tới 6 giờ bay. Tiền vé máy bay 435 đô, khoảng 30 tô phở tái, nạm gầu, thêm chút hành trần và nước béo.

Vật giá ở Pulau Bali rẻ. Chơi thì bờ biển Pulau Bali cát trắng phau. Pulau Bali có rừng nhiệt đới, có núi lửa, có ruộng bậc thang. Dân Pulau Bali hiếu khách, thân thiện, nồng hậu. Giá cả dịch vụ phải chăng, không chặt chém bậy bạ. Mặc dầu năm 2002, một tay khủng bố Hồi giáo cực đoan đánh bom giết chết tới 88 người Úc.

Dân Indonesia theo Hồi giáo đông nhứt thế giới cấm rượu. Nhưng dân Pulau Bali theo Ấn giáo nên bợm nhậu, cứ tự nhiên như chó điên, uống thả cửa. Tửu nhập tâm như cẩu cuồng tọa thị. Mới đây nè một chú Úc khùng, mới 23 tuổi, xỉn quắc cần câu, ở truồng nhong nhỏng, rượt đánh người. Trong số nạn nhân có một ngư dân phải khâu tới 50 mũi. Bị nhốt tới 6 tuần lễ chua quá, chú xin tía má móc xỉa 25 ngàn đô Úc để chuộc chú ra. Có đô Úc, vợ nạn nhân cúng một con dê, (vì Ấn giáo không cho ăn thịt bò) mừng tai qua nạn khỏi. Ðược thả ra, chú bay về Sunshine Coast, tiểu bang Queensland. Chưa tởn, mùa Thu lá bay năm sau, chú sẽ gặp lại Pulau Bali để trượt sóng. Quậy tưng bừng nữa thì chắc không; vì hao xu quá mạng.

Ðất nước Indonesia là quần đảo có hơn 17 ngàn Pulau lớn nhỏ. Lớn như Pulau Sumatra, Pulau Borneo, Pulau Java. Nhỏ như Pulau Kuku mà ông bạn văn của tui hồi tháng Sáu năm 1982, với một thuyền vượt biên chút tẳn đã tới. Ở rừng dừa (Pulau là đảo. Kuku là chú Ba Tàu) sáu tháng, ông bạn được chuyển tới Pulau Galang đi Mỹ định cư. Nhưng hổng phải chỉ Indonesia ngàn vạn đảo mới có Pulau Kuku, Pulau Galang. Ở Malaysia cũng có Pulau Bidong.

Những con người bị CS truy bức, hết đường sống, phải ùa ra biển mặc phần số rủi, may. Xui, Má nuôi con hoặc con nuôi cá; phước đức ông bà để lại là con nuôi Má. Tối 21, tháng Tư, năm 1981, Công an bận ăn nhậu sau những ngày mệt nhọc canh chừng phản động phá hoại bầu cử Quốc hội bù nhìn. Từ Cửa Ðại, Bến Tre, sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, thằng em của tui đã đến được nơi giữa biển có cột lửa phun lên trời. Mấy thằng da trắng mũi lõ khoan dầu chỉ hướng Pulau Bidong thuộc tiểu bang Terengganu của Malaysia. Bà con mình gọi là: Hòn Rắn vì nó có nhiều rắn quá hay chăng?

Pulau Bidong là: ‘Hòn đảo địa ngục’. Từ mùng 8 tháng 8 năm 1978, đến 30 tháng 10 năm 1991, hơn 250,000 thuyền nhân tơi tả đó sống chen chúc trong những túp lều tạm bợ, cao hai và ba tầng, làm bằng gỗ trục vớt từ những chiếc thuyền bị đắm. Mái lợp bằng tấm nhựa, tấm tôn. Giếng nước không đủ phải chở từ đất liền ra. Mỗi ngày, mỗi người một ‘gallon’ nước. Thuốc men thì thiếu thốn. Những trận bão mùa miền nhiệt đới thổi tới; những dòng nước bẩn thỉu tràn qua trại. Vệ sinh gần như không tồn tại. Hậu quả là bệnh viêm gan siêu vi tràn lan.

Hàng trăm nghìn người chạy trốn khỏi sự áp bức của CS chạy ra biển. Bi kịch tận cùng, thây nổi Biển Ðông. Nhưng Trời không hại người ngay! Tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ, Jimmy Carter, lương tâm của nước Mỹ xúc động chìa tay ra cứu vớt. Ông ra lệnh cho tàu Mỹ vớt thuyền nhân. Ông tăng gấp đôi số người tị nạn từ 7,000 lên 14,000. Hành động nầy có thể khiến ông thất cử nhiệm kỳ hai; vì có tới 62% dân Mỹ lúc đó chống đối. Nhưng ông Jimmy Carter đã quả cảm làm theo mệnh lệnh của trái tim mình.

Đền thờ Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh tại Cù lao Ông Chưởng

Jimmy Carter, tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ đang được chăm sóc cuối đời. Trước sau gì ông cũng sẽ ra đi trong thanh thản. Xin cầu nguyện cho ông!

Mãi sau nầy, tui mới biết bà con mình đến Pulau Bidong, Pulau Kuku, Pulau Galang thì Pulau đã đến nước ta hồi năm nẳm. Pulau thành Cù lao. Như Cù lao Chàm Hội An, Quảng Nam vốn là đảo nhỏ do cát ven bờ biển nổi lên. Cù lao trong sông do phù sa bồi đắp, nổi lên giữa dòng, rồi nằm lại trong ca dao: “Bao phen quạ nói với diều. Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”. Ông Chưởng là ông nào? Năm 1699, Nặc Thu, vua Chân Lạp đem quân đánh Ðại Việt. Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh trấn thủ dinh Bình Khang (nay thuộc tỉnh Khánh Hòa) được Chúa Nguyễn cử làm Thống binh đi đánh dẹp giặc để an dân. Ðầu năm Canh Thìn 1700, Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh kéo quân về Sầm Giang Mỹ Tho thì mất. Ông hưởng dương 51 tuổi. Dân thương tiếc lập đền thờ. Trước thế kỷ XVIII, Cù lao Cây Sao, giờ dân đổi tên thành Cù lao Ông Chưởng, gọi theo chức ‘Chưởng cơ’ của ông.

Nói hổng dám giấu gì bà con: hơn 50 năm trước, lúc đi học tại Cần Thơ, tui có thầm thương trộm nhớ một em ‘xẩm lai’ mười hai cái đẹp. Em đẹp cỡ tài tử Hong Kong bên hông Chợ Lớn Miêu Khả Tú để tui tưởng tui là Lý Tiểu Long, Em quê quán Cù lao ông Chưởng, Chợ Mới thời Trung tá Khiêu ngồi quận. “Chợ Mới quê hương, nơi tôi có một người thương chiều chiều nàng ra bờ sông giặt áo”.

Năm 75, mất Miền Nam, tình đôi vừa mới chớm đành bèo dạt góc biển chân mây. Ðêm quê người, chớm Ðông, trời rất lạnh. Cạn ly đầy, đầy ly cạn, viết Pulau Bidong, Pulau Kuku và Cù lao Ông Chưởng, viết về Chợ Mới quê mình để nhớ thương hoài quê cũ tình ta!

DXT

Cơm thố

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

May 19th, 2023

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Thuộc tỉnh Bình Dương, quận Lái Thiêu có nghề làm đồ gốm. Gốm, sành, sứ làm bằng đất sét tốt rồi đem nung. Gốm Phước Kiến chuyên về đồ dùng để đựng, kích cỡ lớn, nặng nề. Gốm Quảng (Ðông) chuyên trang trí đình, chùa, đồ đặt sân vườn. Gốm Tiều (Triều Châu) đồ dùng nhà bếp, gia dụng, chén sành dùng để ăn cơm. Câu hỏi đặt ra là cái thố là cái gì? Thố thường được dùng để đựng các loại đồ ăn, đặc biệt là cơm. Thố thường được làm từ gốm, sứ, đá, tre hoặc nhựa. Thố sành dùng để hấp cơm, tiềm thuốc bắc. Thố có nhiều cỡ kiểu, có quai, loại không quai, có nắp, loại không nắp. Hầm bà lằng sắn cấu (tức sấu cắn)!

Còn nhà điền chủ, cò bay thẳng cánh; chó chạy cong đuôi, họ xài đồ kiểu làm tận bên Tàu.

Bà con mình ai cũng biết cơm nếp nấu bằng nếp. Cơm tấm nấu bằng gạo bể. Cơm tẻ nấu bằng gạo hột dài. Gạo nấu cơm thố là gạo ngon như Sóc Nâu, gạo Nàng hương Chợ Ðào. Cơm chín để nguội có cơm nguội. Ðem chiên có cơm chiên. Ðó là nói về cơm. Còn nói về dụng cụ nấu thì cơm thố hấp trong nồi, có nhiều tầng xửng đan bằng tre có nhiều lỗ thoát hơi lớn bằng ngón tay cái.

Theo chân người Quảng Ðông từ những năm 30, 40 thế kỷ trước, cơm thố là ‘chung phàn’. Chung là cái thố còn phàn là cơm chưng cách thủy tức là hấp.

Cơm thố được nấu bằng cách cho gạo đã vo sạch để ráo nước, cho vào từng cái thố sành, châm nước vào thố một lần. Xếp thành từng vỉ trong xửng. Ðáy nồi nước sôi nước trong thố rồi cũng sôi. Nước trong thố cạn là cơm chín. Cơm thố không có cơm cháy như nấu cơm bằng nồi đất. Nói dễ hiểu cơm thố là hấp như nồi cơm điện của ‘võ sĩ mù nghe gió kiếm’ (tức Nhựt Bổn) chế ra sau nầy.

Một thố cơm bằng một chén cơm nhỏ luôn luôn nóng nhờ hơi nước như xửng hấp bánh bao, bánh bò vậy.

Như vậy cơm thố không phải chỉ riêng của người Quảng Ðông. Người Việt, nhiều quốc gia và vùng khác nhau trên thế giới, bao gồm cả toàn bộ đất Trung Quốc. Nước nào có lúa nước, người dân biết thổi xôi là có cơm thố hè.

Tui nhớ hồi xưa đi học ở Sài Gòn, Á Xẩm Quảng Ðông A Lìn của tui, từ Mỹ Tho lên thăm, thường rủ tui đi ăn cơm thố Chợ Cũ. Một phần cơm có ba món: canh, mặn, xào. Canh bí đao hầm thịt heo hoặc gà, tàu hũ, nấm, hành tây. Canh tôm hùm với nấm. Canh chua cá hấp với cà chua. Canh măng tây xắt nhỏ, với thịt heo hoặc gà, nấm, hành tây. Canh rau cải, với thịt heo hoặc tôm, tàu hũ, nấm. Món mặn thì: thịt kho tàu với trứng cút luộc. Cá chép chiên xù giòn với sốt chua ngọt. Tôm rim với nước sốt cà chua thêm đậu hũ hoặc trứng. Thịt gà kho với gừng. Mực xào sả ớt và nước mắm. Rau muống xào tỏi. Vào tiệm cơm thố, phổ ky bưng lên, hai đứa ăn bao nhiêu thố tính tiền bấy nhiêu.

Ra tiệm mình được chọn cơm phần hay cơm món, khoái món nào kêu món nấy. Nhưng từ khi cưới em về thì mình hết chửi thề. Vợ nấu gì ăn nấy. Không được quyền mở mồm ra đòi hỏi linh tinh vì em rất bực mình. Bữa nào vợ không giận thì chồng được ăn cơm phần ba món: canh, mặn, xào. Còn bữa nào quạu là chàng cơm dĩa chỉ một món thôi. Còn chiến tranh lạnh, không nóng đến độ dĩa bay nhưng ác liệt; không nói gì nhau, chỉ nhìn nhau bằng con mắt mang hình viên đạn là chàng đành phải ăn mì gói lưu niên. Sáng gói mì, trưa mì gói, tối gói mì. Ăn riết, ăn miết mà hổng biết lúc nào điên? Mà dẫu có điên đi nữa thì từ từ mà điên. Ðừng có cái vụ hạ cẳng tay (tức là đấm) thượng cẳng chân (tức là đá); đấm đá là đời chua như giấm. Quên phứt cái vụ “Không đánh thì bậu luông tuồng. Dang tay đánh bậu cho buồn lòng qua” đi.  Úc chớ không phải Việt Nam thời phong kiến đâu nhe mấy cha?! Coi chừng lính bắt!

Còn mấy em: “Chồng giận thì vợ bớt lời. Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê” Ðừng quen cái thói cư xử với chồng như một đứa con hư mà nên: “Chàng ơi giận thiếp làm chi? Thiếp như cơm nguội phòng khi đói lòng”.  Cầm bằng năn nỉ ỉ ôi hoài mà thằng chả cứ trơ như đá; vững như đồng thì em hãy chổng mông, lấy hơi bắc xuống một câu hò: “Ðốt than nướng cá cho vàng. Ðem tiền mua rượu cho chàng uống chơi!”

Cơm thố Chợ Cũ Sài Gòn – nguồn afamily.vn

Ðó là chuyện hồi xưa kìa. Tuy nhiên giờ chồng lạng quạng, quờ quạng tùm lum là vợ cho nhịn đói. Cho dù em yêu thừa biết: “Trừng phạt cái bao tử của chồng là hành vi cực kỳ dại dột của một người vợ vừa ngu vừa xuẩn”.

Tàn nhẫn (nại) như vậy vì em thừa biết: Nước Úc trai thừa gái thiếu, bị vợ bỏ là một tai ương còn tệ hại hơn bị ‘băng rắp’ (bankrupt) gấp ngàn lần! Bộ mấy anh không thấy bên Úc bị vợ bỏ, mấy anh mình phải tất tả xin nghỉ phép thường niên để bay như điên về ‘xứ Mít’ lãnh một ‘múi Mít’ qua lè lẹ. Mùa Ðông Melbourne lạnh quéo râu bên thềm cửa. Không có cái mền da 37 độ rưỡi là coi chừng chết teo cu!

Nhớ thời thơ ấu, lúc ba tui làm Trưởng ty Bưu Ðiện Rạch Giá dắt bầy con đông như quân Nguyên đi ăn cơm thố, chén đũa khua rổn rảng vui hết biết trong nhà hàng Tàu gần Rạp hát Ðồng Thinh.

Nhớ năm 16 tuổi, ba má dắt đám con ‘xây lố cố’, đi ăn cơm thố, có món tôm kho tàu ngon bá chấy bù chét ở nhà hàng Nam Sơn gần rạp chớp bóng Ðịnh Tường đường Trưng Trắc dọc bờ kinh Bảo Ðịnh Mỹ Tho.

Mother’s Day, May 14th, tui nhớ cơm thố thời thơ ấu má nấu ở nhà: đầu tôm nấu với ruột bầu, rau muống xào tỏi chấm nước mắm me, cá ba sa kho tộ nước mắm y.

Quê người, đôi khi dắt em yêu đi ăn cơm thố với ‘hầm vĩ’(cá lù đù muối) chưng hột vịt, rau sống, dưa leo như mình ăn mắm chưng vậy. Món cơm thố hầm vĩ ngày nay chìm trong ký ức đẫm đầy nước mắt vì con còn mãi tha hương và ba má đã mất hết còn đâu?

DXT

Đêm động phòng

 Hồ Đình Nghiêm 

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Bữa tiệc chấm dứt lúc mười giờ. Mùa hè, bầu trời nhiều sao, sâu thẳm. Ở đó, dường như màn đêm chưa thực sự đóng kín. Cái mênh mông của nó không hẳn nói lên đêm đã vào khuya. Tiệc chóng tàn bởi lẽ người ta ăn hết ba món, kể cả tráng miệng. Và chuyện vãn thì đến hồi nguội lạnh, chẳng còn gì để nói. Chín người lần lượt đứng lên, rời khỏi ba cái bàn sắp hình chữ U đặt giữa sân. Trời trong vắt, thứ sắc màu kỳ lạ của đêm hè nhiệt đới. Chẳng một gợn mây và cao xanh kia tuyệt không mang điềm báo một cơn mưa đe dọa đổ xuống. Người ta ra về bởi giản dị có một điều: Chẳng còn gì để cột chân họ. Những bao thuốc rỗng đã vo lại và ly tách chén dĩa đứng xô lệch dồn đẩy nhau trên bàn, cạn tàu ráo máng.

– Thôi, vậy là xong. Chúc hai bạn có được nhiều điều tốt đẹp, nếu không muốn nói là hạnh phúc lâu dài.

– Đã có kế hoạch gì chưa? Chúc đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái thì có ham hố quá không?

  Nhiều tiếng cười chen cài theo từng câu nói. Đàn ông uống rượu, đàn bà uống nước ngọt, nhưng khi phát ngôn họ thảy đều bình quyền; có nghĩa là tất cả đùa cợt một cách có ý thức.

– Đừng chê quà của mình nghe. Một chục chén đất để lỡ gây nhau có sẵn đó mà ném vỡ cho nguôi ngoai… Kinh nghiệm đau thương!

– Chớ có ôm riết nhau mà khuấy quên xấp vé số mình tặng. Dò trúng lô độc đắc nhớ đừng quên công kẻ hèn này nhé.

  Tất cả đều là bạn học cũ. Bạn tôi và bạn của Giáng Hương. Họ quây lưng sau khi bắt tay và thầm lặng đạp xe ra khỏi cổng. Ánh điện vàng cắt một ô hình chữ nhật đọng ở đó. Nóng, đục. Phiá ngoài, con đường nhựa xám đã nhận chìm bóng họ thật mau.

  Tôi phụ Hương một tay để thu dọn nhưng vợ tôi từ chối:

– Mặc Hương. Ngồi tiếp chuyện với anh Vân đi. Hai người uống trà nhé?

  Một bóng đen ngồi bất động trên ghế, đâu lưng với bậc cấp dẫn vào nhà. Cái bàn hình chữ U bỗng rộng ra. Anh tôi ngồi đó tựa một người có thẩm quyền trong phiên tòa vừa xét xử xong. Một ông quan tòa bịt mắt dối lòng khi làm việc và sau rốt ngồi chết trân với tất cả niềm ăn năn. Những cây nến đã dập tắt và ánh sáng từ trong nhà hắt ra làm tôi không nhìn rõ mặt anh.

– Có tốn kém lắm không, hả Huân?

  Anh Vân hỏi. Anh chồng lại chén dĩa trong khi Hương lần lượt mang chúng vào nhà. Giọng anh trầm đục và có lẽ anh là người uống nhiều rượu nhất.

– Chẳng biết nữa. Mạ của Hương đi chợ và nấu nướng. Bà lo hết mọi chuyện.

– Lý ra tao phải có cái gì đó để làm quà…

– Anh đừng nói vậy. Sự có mặt của anh đã là cái gì qúy giá lắm rồi, không mong gì hơn. Em nói thật.

  Tôi mang những thứ còn sót trên bàn vào nhà. Khi trở ra, vừa đi tôi vừa khui một bao thuốc mới. Tôi có kinh nghiệm, chớ bày ra hết những gì mình có. Phải biết thu dấu, ngay cả những thứ nhỏ nhặt, chẳng đáng cất.

  Hương cầm ở hai tay hai tách nước trà bước xuống tam cấp. Luồng sáng phiá sau soi rọi rõ đường viền đôi chân Hương. Chiếc quần lụa màu trắng không đủ dày để che kín lấy nó. Hình như đó là chiếc quần tươm tất nhất mà Hương có? Khi ăn tiệc mừng, không ai lại mặc vào người chiếc quần cũ chưa kể kẻ đó là nguyên cớ của cuộc vui, là nhân vật chính. Tôi có uống rượu, nhưng rượu chẳng đủ làm tôi chếnh choáng. Trong phút giây, tôi thấy thương vợ tôi hơn lên, bởi không một ai làm cô dâu với thứ hình ảnh bình dị tới độ vậy. Trang điểm lên người sự mộc mạc, đơn giản, thanh bạch và gần như nghèo khổ. Đói cho sạch rách cho thơm. Ừ, thì biết vậy. Nhưng dù sao…

– Hãy ngồi xuống đây, Huân.

  Tôi ngồi xuống chiếc ghế đặt cạnh bên anh, thắp sáng một ngọn nến và cắm nó đứng trên cái ly thủy tinh lật ngược, dùng để đốt thuốc hút. Dầu sao tôi cũng vận quần tây thẳng nếp, dù sao tôi cũng có áo sơ-mi trắng dài tay và áo bỏ vào quần tử tế. Không hẳn đó là thứ biểu tượng nhằm nói lên: Hôm nay tôi đã là chú rể. Không. Tôi chỉ giống một cậu học trò từ dưới quê ngày đầu lên thành phố để thi tú tài.Tôi thắt nịt da. Cái nịt mà ngày xưa ba tôi vẫn “thắt lưng buột bụng”. Ba tôi không còn trên cõi đời này để ông nhìn nhận rằng tôi đã lớn khôn.

– Trong tù, để giết đi những ước ao thầm kín, tao bỏ công theo học nghề một tên gọi là thầy phong thủy tướng số. Nghiêm chỉnh để nói, tao thấy Giáng Hương có đủ những nét tốt hiển hiện. Tao quan sát và thú thật tao rất mừng vui.

  Anh Vân lớn hơn tôi ba tuổi. Xưng hô mày tao hoặc anh em, điều đó chẳng nề hà, cái quan trọng là anh cảm thấy thoải mái hoặc tìm ra ở đó sự thân mật khi trò chuyện. Vừa là một người anh, vừa là một người bạn chân tình. Anh thi hỏng tú tài phần hai, sau đó vào học ở quân trường Thủ-đức. Rồi thì hồng thủy ập tới, lùa anh vào trại học tập cải tạo. Ở anh là triền miên những việc học. Học chữ, học súng ống. Học lời răn của hiền nhân, học lời xúi của qủy dữ. Học thật thà, học dối trá, học ngang ngược chưa đủ; giờ đây lại còn bày trò học nhìn rõ mặt người, chiêm nghiệm nét tốt xấu ám lên phần số mỗi sinh mạng. Qủy tha ma bắt anh thời gian dài và giờ này có thể anh hiện nguyên hình một người cật ruột máu mủ còn sót lại của tôi. Một người mà tôi cố đặt hết lòng tin vào câu giải thích: Nhân chi sơ tánh bổn thiện.

– Do đâu mà hai đứa trở thành vợ chồng?

  Anh Vân hỏi. Không nhìn tôi mà nhìn xuống bàn tay đang kẹp điếu thuốc. Những ngón gầy, tỉ lệ thuận với vóc vạc mỏi mòn ốm o của anh. Một người như vậy có lẽ sẽ thích hợp biết mấy khi ôm vào lòng một cây đàn guitar. Để cúi đầu xuống, để nhắm mắt lại. Để sau đó bắt mọi thứ phải dấy động lên một cung bậc thổn thức. Tôi mường tượng ra hình ảnh một ông Trung đội trưởng hay Đại đội phó gì đấy ì ạch dẫn lính tráng đi hành quân. Thật tội nghiệp cho anh tôi! Cả tôi cũng vậy. Tội nghiệp tôi nếu tôi nhảy qua lãnh vực tướng số. Tôi cố nhớ lại thời điểm mà hai anh em đã phải xa nhau. Bảy, tám năm? Tôi bất lực. Tôi thử nhớ lại buổi đầu tôi gặp Giáng Hương. Trí óc tôi lợn cợn chập chùng những hình ảnh. Nó giống như tờ thư mỏng với chữ viết đặc kín cả hai mặt giấy. Mực thấm lem từ trước ra sau và ngược lại. Không tài nào đọc rõ.

– Chuyện dài lắm, chẳng biết bắt đầu từ đâu.

  Tôi nói trong khi tôi nghĩ: Hai ba năm sau, có ai nhắc lại kỷ niệm này, đêm nay, để rồi hỏi tôi về tháng ngày thành hôn chắc tôi cũng sẽ đối mặt với sự bối rối. Không phải tôi thuộc hạng người vô tâm, nhưng đời sống nhọc nhằn này, bạn có tin không, chính nó tước đoạt hết của mình những kỉ niệm đẹp. Mình sẽ phải lú lấp đi, trong khi chất xám trong não bộ mãi bị ám ảnh bởi miếng cơm manh áo. Mãi phát huy sáng kiến để tồn vong. Mà tồn vong trong hoàn cảnh như vậy, tự nó đã mang mầm mâu thuẫn mất rồi. Muốn nhớ mọi điều phải mượn giấy bút để ghi vào sổ. Tôi có cuốn sổ nhỏ với nhiều trang giấy trắng, chỉ có trang đầu là bị vấy bẩn. Đó là những con số nhem nhuốc ghi chú về ngày tháng ba tôi qua đời. Và ông chết cách đây đã hai năm.

– Số phần. Cứ xem như vậy đi, phải không?

  Anh tôi nói. Anh cầm tách trà lên, uống từ tốn.

– Chỉ cần khiếm diện ba bốn năm thôi, người ta sẽ nhìn ra một lỗ hỗng thật lớn nằm giữa đời mình.

  Tôi nhìn anh Vân, cố hiểu hết lời nói ấy. Hồi nãy, trên bàn ăn, có thằng bạn qủi quái nào đã “phát biểu linh tinh”: Cuộc sống vợ chồng không gì khác hơn là hai người trong cuộc phải cố lấp kín cái lỗ trống. Anh nêm không chặt, đời sống sẽ lấy đi ở anh sự hạnh phúc. Chặt quá, anh cũng bị phàn nàn. Đã là nghệ thuật thì phải có cương có nhu. Khi đó tôi có trộm nhìn Giáng Hương, vợ tôi xem chừng đẹp nhất trong đám đàn bà có mặt. Da Hương trắng mịn, ửng đỏ và buổi chạng vạng không tài nào làm cho nhan sắc ấy phải mờ nhạt đi.

 – Nếu Huân không cảm thấy phiền hà, ngày mai hai đứa mình đi thăm mộ ba.

 – Ý kiến hay. Sao anh lại dùng tới chữ phiền hà?

 – Chắc phài nên hỏi Hương một tiếng. Ngày vui của hai người… Bình thường thì không ai được quyền phá rối…

 – Chuyện gì hả anh?

  Hương bước xuống thềm. Hương như vừa rửa xong đống chén bát. Ngồi gần, đụng vào tay, tôi chạm phải những ngón mát lạnh.

– Ngày mai, anh muốn mượn đỡ Huân một buổi sáng,

Hương cho phép không? Anh tôi nói, mặt nghiêm trang.

 – Anh nhờ Huân dẫn đường tới mộ ông già tụi này.

 – Lấy thêm chiếc xe đạp của Hương. Hai người đỡ nhọc khi phải đèo chở nhau. Và buổi chiều nhớ về ăn cơm. Buổi cơm đầu tiên do chính Hương nấu. Vợ tôi nói, mặt cũng trang nghiêm chẳng kém.

 – Anh không dám hứa trước. Tối nay anh lại ngủ đằng nhà người bạn và có thể nó sẽ làm một cái gì đó nhằm chiêu đãi người về từ địa ngục… Hãy thứ lỗi là anh chẳng có gì làm quà, Hương cho anh khất một món nợ, anh sẽ trả sau.

  Hương cười bên ánh nến sắp lụn tàn. Mắt Hương long lanh và ngọn lửa không ngớt nhảy múa. Dường như Hương cảm động và có thể ngọn đèn cầy đang thổn thức. Đêm yên tĩnh, chừng như mời gọi thầm lặng ai kia nhập cuộc sát phạt một canh bài hoan lạc. Tôi không biết là anh tôi có để lại một mối tình nào trước khi vào lính? Có đánh rơi một kỷ niệm đáng nhớ trước khi vào trại tù? Anh ngủ lại nhà bạn, dĩ nhiên chẳng thể đó là một người bạn gái, tôi nghĩ vậy.

  Càng về khuya gió càng len lỏi về nhiều. Nó làm xao động chùm lá vú sữa ở góc sân, nó xoa dịu làm mát những khoảng da để trần và cuối cùng, đốm lửa duy nhất trên bàn vụt tắt bởi gió.

  Tôi cởi bớt áo quần sau khi cửa đóng then cài. Căn nhà nhỏ, trước đây mạ Hương dành cho người bà con từ dưới quê lên ở. Năm bảy lăm, trên đường lánh nạn chạy thoát vào nam, gia đình người đó lạc mất nhau và biến cố ấy khiến người đàn bà sống sót một mình kia trở thành kẻ mất trí. Bà lang thang ở những bến xe gióng gọi khản tiếng tên những người thân thương cật ruột. Bà điên loạn và mạ Hương biến chỗ ở vô chủ này thành một tổ uyên ương, làm quà cưới cho đứa con gái út nhiều thiệt thòi. Chữ thiệt thòi phải nên hiểu ở nhiều nghĩa, mà trong đó, việc yêu tôi và quyết định lấy tôi làm chồng là một điều thiệt thòi khác, không thể thiếu khi kiểm điểm.

  Xong lớp 12 thì Hương quẳng buông giấy bút. Mạ Hương là người đầu tiên vẽ đường cho hươu chạy: Học cho lắm cũng bốc đất ăn thôi, con ra phụ mạ trông coi cái gian hàng ấy cho được việc. Học tranh đua với trường đời là thiết thực nhất! Hương ra chợ, kết qủa hiệu nghiệm trông thấy. Vợ tôi là cô tiều thương lanh lợi, không là tiểu thư rụt rè của lớp 12 dạo nào. Trường đời, nó dìm người ta xuống để trấn lột hết những thơ mộng, giúp sáng suốt ở mặt này và gây thương tích mù lòa ở mặt khác.

– Hương có mệt không?

 Tôi hỏi, cố pha chút dịu dàng trong câu nói.

– Không. Khỏe là đằng khác. Giải quyết xong chuyện gì cũng thế cả. Thực hiện, đợi chờ, toan tính, mấy thứ đó nó hành mình tới mất ngủ.

 Hương vừa chải tóc vừa trả lời. Tóc Hương dài, mịn, đen nhánh. Cái mềm mại ấy xuôi chảy đổ xuống lưng tạo cho tôi chút cảm tưởng: Về đêm, Hương sẽ hiền dịu hơn là Hương của ban ngày, bối tóc lên và sẵn sàng lăn xả vào cuộc sống, chống chọi, quyết liệt hơn thua.

 – Nói vậy có nghĩa là kể từ đêm nay Hương sẽ ngủ yên giấc?

 – Có ngụ ý gì không?

 – Không. Anh muốn biết vậy thôi. Bởi thông thường, khi bắt đầu cuộc sống vợ chồng người ta vẫn luôn gặp sự bỡ ngỡ. Một chuyện cỏn con thôi, ngủ một mình sẽ khác với ngủ hai mình rất xa. Một là họ trăn trở, hai là họ sớm gặp giấc mộng lành.

 – Huân trăn trở hay Huân gặp mộng lành?

 Tôi nhìn hàng nút áo Hương cài chẳng kín, theo cử động của tay chải tóc, hai vạt áo úp mở tựa một cánh cửa bị gió lùa làm xô giạt, khiến người đứng ngoài tò mò trông ra chút đồ vật bày biện bên trong. Tưởng tượng bức vách sơn màu trắng ngà, máng vào đó tấm tranh khỏa thân và cánh cửa án che chỉ nhìn ra đường khe da thịt của một người nữ.

 Hương cất lược vào hộc tủ, hối thúc:

 – Hãy vào tắm đi, mai còn phải lặn lội lên thăm mộ sớm.

 Tôi nghe lời Hương. Ăn ở vệ sinh là điều cần thiết, lại nữa ngủ với nhau đêm đầu tiên, điều đó sẽ là hình ảnh khó quên; và ấn tượng làm mình nhớ dai nhất có lẽ do da thịt người ấy sạch thơm, tinh khiết, mát mềm hơn cả một miếng thạch xoa.

 Để chuẩn bị cho việc ra riêng, Hương lo đầy đủ chẳng thiếu thứ gì. Tôi không có kinh nghiệm, nhưng ý tứ có thể là đức tính qúy giá của một người vợ? Góc xi-măng có miếng tôn dựng đứng án che gọi là phòng tắm, trong đó đã có sẵn khăn lông và xà phòng. Một lu nước đầy, một gáo nhựa nổi lềnh bềnh ở trên. Có hai cây đinh đóng nhô vào thanh gỗ và tôi cởi áo quần để máng chúng vào đó. Nước mát lạnh vỡ òa, ràn rụa, từ đầu xuống tới gót chân. Thấm đẫm, nhột nhạt, sảng khoái, hưng phấn. Nếu thực sự ở đời có ơn mưa móc, thì không ai khác hơn, kẻ tạo ra thứ vũ lượng ấy chính là mạ của Hương. Bà đã dội xuống người tôi ướt nghe ngói niềm thương yêu ngọt sắc. Một người mẹ cực khổ nuôi con thành người bỗng một hôm nắm tay con gái mình dí trao vào thằng con trai xa lạ. Này, mạ cho không đấy. Nhận lấy đi và nhớ giữ tròn lòng tin yêu thuận thảo với nhau. Tôi khác xa đứa trúng số lô độc đắc, bởi ít ra muốn trở thành triệu phú tình cờ việc cơ bản đầu tiên là anh phải có tiền để mua lấy sự may rủi đầy hoang tưởng.

 Tắm xong, tôi bước lại chiếc giường không mấy lớn đặt trong góc nhà, buông rũ mùng xuống. Giường gỗ đánh vẹc-ni nâu bóng, kiểu cổ xưa và có thể nó hiện diện ở đấy từ khi căn nhà này được xây cất lên. Gần trên mái nhà, tôi đọc ra con số 1950 ai khắc vụng về vào xi-măng. Khi ngó thấy, tôi đã nhẫm tính, nó ra đời trước tôi gần cả chục năm. Giường trải chiếu mới, chiếu nhuộm mực xanh lem nhem hình long phụng quấn quýt vờn mây giỡn nguyệt. Đang là mùa hè, nhưng để làm an tâm là chúng tôi đầy đủ, có ai cuộn tròn cái chăn bông đặt để ngay ngắn phiá dưới chân. Đầu kia là hai chiếc gối, gối có thêu ren và chúng căng phồng như ngầm bảo: chúng em vẫn còn trinh nguyên.

 Tôi vạch mùng chui vào giường, lót mí mùng xuống dưới chiếu. Cẩn trọng, từ tốn. Tôi nằm ngó lên, cảm giác mình được an toàn, được bao bọc, được no đủ. Tôi không nhắm mắt bởi tôi sợ sự sảng khoái này sẽ rủ rê mời gọi giấc ngủ tới. Và như vậy, mọi chuyện sẽ hỏng bét. Làm bà xã không hài lòng! Tôi nằm ngửa, căng mắt chờ. Đợi Hương tắm xong, tôi ngắm kỹ để làm quen từng vuông da thịt vợ mình. Tôi sẽ hít đầy ngực hương thơm cùng khắp thân thể Hương, khi ấy tôi mới có ý kiến rõ ràng về câu nói: Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

 Mùng làm bằng vải trắng, sợi mịn, dệt thưa. Đó là thứ vải mà y tá dùng để băng bó vết thương. Là thứ mà người ta dùng để lọc nước. Để chùi răng, rà miệng em bé. Để qúy bà qúy cô nhét vào quần lót khi tới chu kỳ kinh nguyệt nó hành tái xanh mặt máu. Nó có nhiều công dụng và hiện tại nó cho tôi cái ảo giác mình đang nằm dưới một vuông trời mù sương. Sương đục như sữa, dịu dàng vây phủ và mình nhìn ra thế giới bên ngoài thảy đều mơ hồ, không thực. Tôi nghe tiếng nước chảy vọng tới, như suối khe róc rách, như mưa rơi sau vườn, từ tốn giữa canh khuya. Tiếng nước chảy, tự nó cũng nói được nhiều điều. Êm tai, thì thầm làm dễ ngủ. Và mặt khác, nó vén mở trí tưởng mình ra, dắt mình tới một khung cảnh thiếu ánh sáng có vợ tôi khom người kỳ cọ, vuốt ve. Bọt xà phòng thay phiên trôi tuột xuống da thịt trơn láng, lên đồi xuống núi để cuối cùng ngập ngừng vướng mắc ở khe, nhỏ từng giọt chậm rãi vào đất và đám lông ấy vê lại tựa một đập chắn nước cuối cùng.

 Khi tôi đổi thế nằm, vợ tôi đã tắm xong, đi nhẹ tới giường. Hương di động và tôi như ngửi ra luồng thơm mát chờn vờn đẩy đưa ngoài vải mùng làm rối rắm mọi cảm nhận.

 – Tắt đèn đi, vào đây nằm anh kể cho nghe câu chuyện thần thoại hoang đường.

 – Huân nghe câu nói “chạy trời không khỏi nắng” chưa?

 – Là sao?

 – Là hãy từ tốn, bởi trước sau gì Hương cũng sẽ nộp mạng cho Huân. Chạy trốn đâu giờ này!

 Hương bước lại gần chỗ bắt công-tắc đèn, ngọn néon dài tám tất chưa kịp khép mắt thì có tiếng đập cửa. Người ở ngoài bóng tối lộ rõ sự nôn nóng qua chuỗi tiếng động mà tự hắn tạo ra. Tôi không nghĩ là anh Vân trở lại. Một người như anh ấy sẽ chẳng bao giờ làm được chuyện gì to tát, kể cả việc khum tay đập gõ vào bất kỳ cánh cửa nào. Tôi ngồi dậy trong khi vợ tôi lật đật chạy tới mở cửa.

 – Chúng tôi đến kiểm tra hộ khẩu. Hồi chiều thấy có lắm người tụ họp chẳng biết có ai ngủ lại mà không đăng ký?

 Tôi chui ra khỏi mùng, đứng khó khăn và nhọc mệt khi tròng được vào thân bộ áo quần. Tôi chóng mặt lúc tìm ra tờ giấy èo uột in xấu xí hàng chữ “Giấy đăng ký kết hôn”.

 – Tôi là tổ trưởng khu phố, còn đây là anh Thân, công an khu vực.

 Một người đứng dưới bậc thềm cất tiếng. Ông không già, chẳng trẻ; một khuôn mặt khó chẩn đoán tuổi tác. Ánh điện xâm thực ra sân đất, soi lờ mờ dáng người thanh niên mặc sắc phục màu vàng. Hắn đang hút thuốc, đốm lửa cháy đỏ từng hồi trên môi và có lẽ đó là một trong những bao thuốc mà mạ của Hương đã cất công đem biếu xén từ hôm qua khi bà ra đồn xin phép được nhóm họp. Người ta truyền đạt kinh nghiệm, mạ Hương thực hành nghiêm chỉnh thứ lề luật kia, chẳng biết có tạo lỗi lầm thiếu sót? Hương dấu nỗi bực dọc sau lưng, chià ra trước tất cả những giấy tờ hợp lệ mà chúng tôi có được.

 – Mời bác vào trong để kiểm tra. Mới đến ở, bọn tôi chưa kịp bắt thêm đèn cho nó sáng lòa ra.

 Người tổ trưởng khu phố đón lấy những chứng cứ ghi nhận chúng tôi là công dân của một đất nước văn minh giàu mạnh. Giấy tái sinh luôn co quắp trong bàn tay ông. Ông không ngó xuống chúng, ông lách thân sang bên để nhường lối cho người có thẩm quyền. Hắn còn nhỏ tuổi, nhưng hắn già đầu ở lãnh vực khác; tựu trung khi dòm hắn, đọng trong mắt nhìn là một cái gai. Châm chích, khó chịu, chẳng ưa gặp phải. Da mặt hắn tái, như một tửu đồ chả bao giờ biết say, càng nốc rượu càng lầm lì, độ cồn, hơi men đều thoát ra, bốc hơi nơi hố mắt. Hắn ngó láo liên. Tôi cũng nhìn cái giang sơn mới mẻ của mình. Trống trải quá, lưa thưa quá, cạn kiệt quá. Phải mà còn một ít thức nhắm, chút rượu sót nằm dưới đáy chai; cà phê thuốc lá linh tinh, tôi sẽ mang ra gọi là “giao lưu tình cảm”. Tuyệt không có gì. Chẳng còn gì sất! Yên lặng, thứ lặng yên rất nặng nề, thình thịch như tim lê nhịp đau. Hắn vứt mẩu thuốc cụt xuống nền nhà, dí chân lên:

 – Hình như anh Huân còn có một người anh, phải không nhỉ?

 Tôi sửng sốt. Làm sao hắn biết điều đó? Bởi nếu anh Vân chưa được thả khỏi trại tù, chính tôi cũng chẳng hay là thực sự tôi có được một ông anh. Lạ lùng!

 – Nếu anh ta có đến trú ngụ, nhớ ra đồn thông tin cho chúng tôi hay nhé.

 – Vâng. Bất kể là ai, nếu đến đây, chúng tôi sẽ phải đi đăng ký.

 – Vậy là tốt. Đám cưới suông sẻ cả chứ?

 – Vâng. Mạ tôi nói mọi thứ có được đều do công sức của mấy anh cả.

 Hương đối đáp và vợ tôi thật bất cẩn. Áo Hương mặc quên cài những ba hạt nút. Gã công an thôi kiểm tra da thịt lụa là, hắn chuyển ánh mắt sang ông tổ trưởng:

 – Thôi, chẳng có gì. Ta đi nhà khác vậy.

 Ông tổ trưởng trả lại giấy tờ.

 – Mừng anh. Những kỳ họp tới tụi mình thấy mặt nhau thường xuyên hơn.

 Họ quay lưng. Và họ mang theo tất cả những háo hức, những dự tưởng thơ mộng của tôi. Đứa đóng vai chú rể đóng chặt cánh cửa lại, thấy mồ hôi chạy dọc sống lưng. Nếu họ không tới, hắn làm gì giờ này giữa bóng tối dâng tràn những tiếng thở vội? Mồ hôi hắn đổ ra nhưng đó là sự giải thủy vô hạn những ngây ngất.

 – Vậy mà tốt. Còn hơn dựng đầu mình dậy giữa canh khuya.

 Hương như đọc ra những ý nghĩ của tôi, nhưng Hương chỉ nhìn thấy có một nửa. Nửa kia là tôi nghĩ tới cái quái đản của chữ động phòng dành ám chỉ việc ái ân của đôi vợ chồng son. Động phòng. Như thế này là động phòng? Mẹ rượt! Phòng đang êm ả bỗng dưng những nắm đấm tay sắt tác hại lên cánh cửa làm náo động thiên cung!

 Tôi là đứa duy vật, có thể nói như vậy, bởi ít khi tôi tin tới ma qủy, để tâm tới những điềm gỡ, những báo mộng, dị đoan. Nhưng giờ đây, đứng án lưng vào cánh cửa mong manh, mơ hồ tôi thấy ra cái tương lai chẳng mấy tốt đẹp của hai đứa chúng tôi. Đôi vợ chồng ngác ngơ này sẽ học thêm những gì, khởi đi từ đêm động phòng, tuần trăng mật, từ những tháng năm xao xác sẻ chia để cố lấp đầy một khoảng trống?

 Có tiếng chó sủa từ xa vọng tới. Đêm nóng ngột ngạt trong gian nhà nhỏ bé. Tôi đi ngủ với lời nguyền rủa: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Dê thiếp giấc mùi

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Dáng núi mờ chận cuối đường. Nắng hiếm khoanh vùng, chan đổ để nhuộm riêng màu núi sẫm. Lung linh chen cài thứ cảnh sắc của diệu vợi, một báo hiệu ngái xa. Nó sẽ xanh gam diệp lục hồi nào chân bước kề cận, thấy mây quần trên đỉnh và tai có thể vọng nghe tiếng chim kêu vượn hú hoang sơ. Cuối năm đất trời thường bạc nhược, uể oải một nguồn sáng thoi thóp trốn tìm.

Mùi dừng xe khi nhát thấy một người bước đi trên con đê đất đỏ đâm thẳng góc tới giao lộ Mùi chống chân đợi chờ. Kẻ bộ hành đội nón lá sần sùi, chắc không phải nón bài thơ. Quần xắn lên ngang đầu gối, bên vai đeo chiếc túi vải bèo nhèo, dáng đi nhanh nhẹn đang thu ngắn khoảng cách. Đen đúa, rắn chắc, dáng vẻ như người địa phương.

Cho tôi hỏi nhờ đường tới làng Linh Phụng còn bao xa?

Hắn quan sát Mùi, ngó chiếc xe máy lấm bụi đất.

Gần tới rồi đó, cứ đâm đầu chạy thẳng, hai bữa sau thì quẹo trái, sang ngày thứ ba thì bắt gặp tấm biển báo Phụng Linh Sơn.

Hắn như còn có điều chú thích khác. Không nói ra, chỉ đứng gần Mùi, tỏ vẻ đợi.

Anh thiệt là biết nói đùa. Mùi cười.

Gì? Nghiêm chỉnh đấy. Ai rỗi hơi đi bày chuyện.

Hắn moi từ túi vải ra chai nước. Óc ách màu vàng đục sủi bọt.

Đường xa mắt lé thế nào cũng cần thứ để giải khát. Nước suối Sơn Linh đấy, đun sôi với gừng thái lát mỏng, thứ đặc sản. Uống vào ấm bụng chẳng sợ sương lam chướng khí. Lấy thảo anh hai chục ngàn thôi.

Đây chả cần uống nước thì sao?

Thì mười thiên anh buộc phải trả khi mua xong một lượng thông tin bày đường chỉ lối. Nhất trung ương nhì địa phương, người ở đây chẳng bao giờ biết tới chữ miễn lệ phí cả. Chúng tớ không biết tới xin đểu và nhớ đừng nói chữ làm ơn với cám ơn cho rách việc.

Đây không có tiền thì phải làm sao?

Chẳng ai vào Linh Phụng mà đi mạng không cả. Anh ưa trò cá độ chăng? Anh dắt trong người chí ít cũng mười triệu. Tui mà nói sai anh có quyền chặt đầu tui đi cho chó gặm.

Mùi nhìn cái túi vải của hắn, không chừng trong đó chứa đựng hung khí. Súng tự chế bắn đạn bi, vật sắc nhọn, dao bén chẳng hạn.

Tui trao cho anh miễn phí một lời khuyên, ấy là bất luận đi đâu xa chớ nên làm độc hành thiên lý. Cái cô đơn nó vốn chẳng an toàn, người ta chết bởi lẻ loi, chuyện đó xưa nay gần thành một chân lý.

Mùi mặc áo gió có bốn túi, quần cũng thế; thuộc loại cái bang tám túi. Tiền xé lẻ linh tinh cất nhiều nơi nên buộc phải lu bu cố nhớ, định vị từng ngăn chứa trên dưới, phải trái. Lóng cóng quên bén, hấp tấp lôi ra nguyên một nạm tiền thì xong om. Mười ngàn, chuyện nhỏ. Nó cuộn mình trong túi quần phía tay trái.

Thực sự thì chả cần xơi nước cho thông cần cổ sao? Ông anh có nhiều chất xám đấy. Hắn nhận tiền và nói. Uống nước này vào sẽ mụ mị đầu óc, sẽ quên đường đi lối về, sẽ giao trứng cho ác ngay. Từ đây xuôi vào trong ấy mất chừng nửa ngày đường sẽ có một túp lều tranh chợt hiện, quán “Cô Chủ Mồ Côi” hẳn là nơi lý tưởng cho anh tấp vào xả bầu tâm sự giũ sạch bụi đường, thôi nhịn đói nhịn khát bấy lâu. Ừ, nếu xe cần uống thêm xăng nhớt thì cô chủ mồ côi cũng có sẵn nhiên liệu để phục vụ khách bụi luôn thể.

Hắn thôi nói, như kiểu bảo mật, sợ tiết lộ thông tin nhạy cảm ra bên ngoài thì vấp tới điều luật cấm kỵ. Hắn xua tay. Thời giờ là vàng bạc, chạy đôn chạy đáo kẻo năm cùng tháng tận đang đuổi sát lưng. Mùi rồ ga phóng vội trên đoạn đường đất xấu, hình như điện đóm cũng chưa giăng dây vào tới hương lộ này. Nó lặng lờ chả màng tới ánh sáng của văn minh bủa vây. Trong gió táp lui có mùi bùn tanh quyện lẫn chút hương đồng cỏ nội, ngầy ngật, thắc thỏm. Xuân trốn biệt chốn cô quạnh, xuân ưa chộn rộn quần tụ vào nơi phường hoa đô hội. Heo may, chút sương mỏng rịn ướt, màu vàng ấm hiếm muộn của mặt trời gọt thành tia nhọn cắm xuống ruộng nước bỏ hoang chẳng mang chút không khí để mường tượng ra bao điều liên hệ về Tết. Thậm chí quanh đây vắng bóng một tấm băng vải đỏ dán hàng chữ vàng “Mừng Đảng Mừng Xuân” như thành phố người ta loay hoay đi bày binh bố trận cả tháng trước, rợp trời sắc lửa nực nội. Nói tình ngay, Xuân sẽ “lộ hàng” trong nay mai. Nó đang thong thả bước tới, nó sẽ hiện diện theo định luật bất biến thì hà cớ chi anh phải ép uổng nó, trấn áp nó. Và nó tủi thân biết dường nào khi anh đặt chữ đảng to đùng trước diện mạo nó. Anh kỳ thị, phân chia đẳng cấp quá khó bề trông cho đặng mắt. Nó về, một năm chỉ đôi ba tháng dừng chân. Còn đảng thì chẳng phải anh mừng nó mút mùa lệ thuỷ đó sao. Mừng muôn niên dẫu biết nó sắp sụm bà chè. Đợi nó lột dên cháy bu-gi hỏng xi-lanh hư con heo dầu đứt thắng rồi hẳn thành kính tiếc thương cũng chưa muộn. Tết là tục lệ thiêng liêng, anh bảo thế. Anh vui xuân, tạm quên nhiệm vụ chút đỉnh thì có chết thằng Tây nào đâu mà lo xa, nhỉ. Đừng bắt người ta treo cờ trước nhà, nên rỉ tai đồng chí chớ nên quá chén để lái xe điên đi đâm liên hoàn thường dân vô tội nhẫn nha hái lộc đầu năm.

Rất gian nan, rất tốn kém, may sao Mùi truy tầm đúng mục tiêu. Căn nhà gạch bệ vệ trốn mình sau hai hàng cây cau trồng sánh đôi. Vài con bươm bướm bay chập chờn trên những chậu bông vạn thọ. Và gia chủ là người đàn ông lực lưỡng đứng cắm chân giữa sân lát từng viên đá đẻo vuông vức xếp huê dạng như một bàn cờ. Ông dạng chân, trụ người xuống tấn tựa hồ mới đi xong bài Thái cực quyền. Tay buông thỏng, mặt giãn nở, thở hơi dài nguôi ngoai.

Không ngờ tên tuổi của kẻ hèn này lại vang dội ra tới chốn kinh kỳ. Quả là anh có biệt nhãn đã tìm đúng đối tượng. Chỉ manh động chút rào cản, rằng anh nắm bắt được giá cả chưa? Thông qua việc căn bản nọ, mọi thứ khác vận hành suông sẻ, dễ như lấy đồ trong túi ra.

Xe tắt máy, xe ngơi nghỉ, nhưng khối động cơ sắt thép kia vẫn âm ỉ toả lan thứ nhiệt lượng hừng hực, xua đuổi phần nào cái lạnh của một vuông sân lát đầy đá cứng, trơn láng. Hoa cảnh xô bồ ép uổng trong chậu cũng thế, tê tái vây bọc một nỗi niềm, dường không muốn khoe sắc.

Dạ, xin anh cứ đưa ra một con số. Mùi ấp úng. Nếu nó là hàng độc như giang hồ đồn đãi thì chẳng uổng công tôi trèo đèo vượt suối.

Bọn tôi sống được nhờ vào nghề gia truyền này và tâm nguyện chớ nên mua gian bán dối kẻo tổn đức phụ lòng cha ông. Anh cho xin mười sáu triệu, tính luôn cả vật bảo quản khi phải di chuyển đường dài dằn xóc.

Mười sáu triệu?

Phải, không hét giá mười tám hoặc hai mươi. Con số khiêm nhượng ấy cũng tựa như gái ở tuổi mười sáu. Thơ ngây, trinh trắng… Anh hiểu ý tôi nói không?

Chủ chẳng hứng thú mời khách vào nhà dùng tạm chén trà nguội nhấp môi. Có hai cái đôn bằng sành kê bên ngạch cửa, là nơi toạ mông cả chủ lẫn khách. Cửa nhà không đóng, bên trong tờ mờ những đồ vật ngó chẳng ra hình thù, rõ nhất là một câu đối viết chữ phung phá kiểu thư pháp rối ben bù trất một ngụ ý. Mơ mộng, hoang tưởng kiểu “Xuân này hơn hẳn mấy xuân xưa”.

Tuần trước, tôi đã xắn tay áo hạ thủ cắt tiết sáu con dê ngó sung mãn lanh lợi nhất trong bầy đàn. Đã gia công lột da, ngâm tẩm hương liệu bí truyền, đã ninh lửa nhỏ trong năm canh giờ và đã chia sớt đều đặn ra mười phần theo quy định không thừa chẳng thiếu. Nói bỏ lỗi chứ có ông đại gia thứ mười một chậm chân tìm đến đường đột gõ cửa xin thỉnh khẩu phần thì e phải xôi hỏng bỏng không tấm tức ra về do phận mỏng vô duyên. Mười sáu triệu, than ôi, tiền ấy thu giữ khư khư trong ruột tượng để mà làm gì cơ chứ! Món lẫu nấu với thuốc Bắc của tôi, nói lộng ngôn, ăn vào có thể khiến họ cải lão hoàn đồng hoặc chí ít thì họ làm hài lòng năm thê bảy thiếp trong khung thời gian hạn hẹp của một đêm xuân lắm mộng. Có đứa hoài nghi, tôi khuyến mãi cho nó húp chút cặn đáy nồi, thế là trên đường về cố quận, đương sự đã đâm đầu dầu sôi lửa bỏng vào quán “Cô Chủ Mồ Côi” chứng nghiệm thực thi ngay binh pháp mùa Xuân đại thắng. Cô chủ rên la dậy đất trời, ngồi đây mà nghe được một người khóc một người cười từ quán vắng gửi về bất tận độ rùng khi cả hai vượt tới đỉnh vu sơn.

Mùi nuốt nước bọt ngó thằng cha “treo đầu dê bán thịt dâm” quảng cáo món ăn bổ dưỡng thuần dương do lão ninh hầm y như tên mãi võ Sơn Đông chào hàng thuốc trị sán lãi rậm rật ở góc chợ có con khỉ cầm dù đú đởn nhảy hót trêu ngươi phụ diễn. Mẹ nó chứ, gói thuốc xổ sán linh nghiệm ngần ấy mà giá chỉ có tám ngàn chứ mấy. Thuốc trị đau răng trong uống ngoài thoa thì vỏn vẹn có mười ngàn, bám trụ và tiêu diệt địch tận hang ổ, nghe sướng rêm người mà chỉ có người bu coi chả ai moi bọc chi ra xu hào nào trớt, ế ẩm phiên chợ chiều, cái mới lạ. Đằng này khi tiếp thị cứ dùng đơn vị toàn là triệu, nghe nhức óc với cơ man nào là con số không sắp hàng nối đuôi dài thậm thượt. Nhưng đã lỡ tới đây, ta dại ta tìm nơi vắng vẻ mà đi mạng không về lại chốn lao xao nọ thì e sẽ gặp cảnh nhức mình nhức xương với lão ta. Đành phải tiền trao cháo múc ngậm bồ hòn làm ngọt đi không há lẽ trở về không!

Tứ thời xuân hạ thu đông tôi vẫn chôn đời chốn này bất di bất dịch, vậy thì về nhậu lai rai mà cơ thể chẳng sôi máu ưa đi làm cách mạng thì có quyền trở lại đây mà xỉ vã mắng nhiếc, ưa làm tình làm tội bản thân hoặc gia đình giòng họ thì cứ việc rêu rao. Người xưa có ngôn: Tiền nào của đó, hoặc ăn gì bổ nấy thì e người nay phải nên chấp hành tin tưởng vào sự trải nghiệm ấy. Kết tinh từ kinh nghiệm đau thương chứ chẳng đùa.

Chủ bưng ra một cái nồi đất có vuông giấy đỏ dán khằn lên nắp đậy như kiểu cầu chứng hàng xịn. Nhìn là biết chả phải hàng nhái. Ngó là biết giá đắt phỏng tay. Quanh nồi có chêm giấy báo thay cho chữ “xin nhẹ tay, hàng dễ vỡ” và rồi bao nhiêu là dây nhợ cột thắt chồng chéo, để cuối cùng chúng nằm gọn trong cái bao ny-lông.

Anh đi xe máy thì tôi tặng không cái túi vải để móc vào tay lái cho an toàn. Dưới đáy nồi có phong thư dặn dò cách hâm nóng, liệt kê những thức tránh ăn chung khiến phát tán bao uy lực, làm giảm hiệu quả ông xơi bà khen hay. Đấy, chỉ ngần ấy, chẳng còn gì để nhiều lời. Anh trở về bình an, ba ngày Tết ăn chơi thả giàn thích đáng cho bỏ ba trăm sáu mươi ngày làm phận trâu bò cày bừa tắt quạt trong năm Ngọ.

Chủ chắp tay sau đít thong thả bước vào nhà, chậm rãi cửa đóng then cài, điệu bộ của kẻ xem thường thế sự đảo điên. Tiền cất nặng bọc mà chân đi khinh khoái tựa ngộ ra vạn điều trên cõi thế đều nhẹ tợ gió thoảng mây bay. Khách khác, bao điều ngờ vực chất chứa khiến nặng lòng, như đeo đá tảng. Khởi động xe máy, tiếng nổ của nó tuồng hậm hực ít nhiều, không giống như phút ban đầu mang Mùi lướt đi với sự cựa mình của Xuân thấp thoáng đó đây. Tết nhất làm chi, ai bày? Cũng như ai đặt ra thông lệ hằng năm phải kiếm cớ “phong bao” dâng lên cho sếp?

Mùi về lại phố đúng vào đêm Ba Mươi, xém phải lỡ thì bước qua đêm trừ tịch. Thủ trưởng cơ quan đang vui hưởng liên hoan có rượu bia có sơn hào hải vị có gái gú có ca ra ô kê và dĩ nhiên ông ta thử coi trời bằng vung. Ông đang làm hoàng thượng của quán nhậu Đỉnh Cao. Ăn có gái đút, uống có gái dâng cốc tận miệng, rỗi đôi tay ông dùng để nắn cái này bóp cái kia. Trước, ông là anh hùng du kích, việc lùng sục chẳng lạ gì với đôi tay luôn ngứa. Ông bảo ngày đầu năm tao sẽ phá trinh đứa con gái của thằng bảo vệ cơ quan đưa tới “lì xì”. Đêm cuối năm, cái tao cần đồng nghĩa như một thứ thần dược. Trước khi bắn ai, mày phải chùi súng, thông nòng, vô dầu mỡ, kiểm tra đạn dược… Ông tìm lời để diễn ý, băng hăng bó hó, cà rịch cà tang, chậm lụt líu lưỡi, nhưng Mùi cắt ngang: Dạ em hiểu. Xin ông thầy cho phép được vắng mặt cơ quan ba hôm để kiếm tìm linh dược. Và đến hẹn lại lên, Mùi bước vào bàn tiệc đúng thời điểm, tự tin hơn cả một sứ giả ái tình. Mùi dâng lên món dương vật cùng dái dê hầm thập cẩm nhân sâm cam thảo nấm đông cô táo Tàu rong biển hạt sen rượu vang đỏ… và không quên vo ve bên tai sếp, cái nồi nhỏ bé kia giá chỉ có hai mươi nhăm triệu, thắp đuốc tìm không ra cái thứ hai. Nhất dạ lục giao sanh ngũ tử so ra chẳng bì được, kẻ trao hàng cam kết, đại ca nếu bất bình có thể vui tay để chặt đầu tui xuống.

Đại ca chưa nhậu nó nhưng nghe xong bản báo cáo hành trình gian khổ để truy lùng của ngon vật lạ mang về dâng hiến thế phong bì lót tay của thằng đàn em, ông đã xô đẩy hai đứa con đứa con gái ăn vận xiêm y lơ là sang bên để rảnh tay ghì ôm vào vai thằng em út xé gió vừa trở về trong đêm lạnh. Năm tới tao sẽ đề bạt mày lên làm trưởng phòng một bộ phận không nhỏ trong cơ quan ta. Trước mắt, để thưởng công, mày có quyền tha đi một con bé mà mày cho là hợp nhãn dùng vui vầy trửng giỡn đêm dài trừ tịch.

Mùi với tay nhặt lấy một cốc rượu đầy có sẵn trên bàn nhậu. Tợp một phát đánh ực, khà một tiếng thống khoái tợ lửa chui ra khỏi mồm. Mùi sờ nắn vòng một vòng ba của một cô gái trang điểm diêm dúa, đạt chỉ tiêu xong liền báo cáo với thủ trưởng: Em duyệt con ghệ này.

Mùi nắm tay con bò lạc đứng lên, kéo lại nơi tập trung nhiều nguồn sáng. Trước khi về nhà nghỉ đón giao thừa, Mùi nói, hai ta nên chụp hình tự sướng một phát. Cái bang tám túi sờ soạn một lát rồi lôi ra được chiếc điện thoại thông minh. Màn hình nhạy cảm cất giữ ảnh chàng ôm nàng sát sao, ngực nàng vun đầy, hở hang. Chàng cười nhắm trít đôi mắt thoả thuê. Trên đầu hai đứa có giăng tấm biểu ngữ đỏ hơn cả vết son bôi môi: Còn Đảng còn mình.

Anh tên gì vậy cưng? Anh tên Mùi. Mùi là sao? Là dê đó phỏng? Eo ôi, danh bất hư truyền, em chúa có cảm tình với loại dê xồm như hạng người anh. Sếp anh chưa thanh toán ba triệu trả công em. Tới đòi ổng tiền rồi mình về nhà nghỉ tới bến. Ba triệu? Chuyện nhỏ, em khi anh cũng chừng mực nào đấy thôi, anh dư sức qua cầu. Nè, dê nó khác heo rất xa, nhớ? Mùi phải bảnh hơn Hợi. Em chửi anh đồ dê chúa thì ô kê, chứ em mắng anh đồ con lợn thì anh cực lực phản đối. Ông sếp anh tên Hợi đấy. Chán ốm! Nói xong Mùi chửi thề: Mẹ nó chứ, biết vậy tao xơi trước một hòn dái dê rồi hẳn trao thuốc tiên cho mày sau. Con này như một em chân dài e phải nên húp linh dược trợ lực kẻo phí của giời. Mẹ nó chứ, phải nói thế này mới thức thời: Còn dương vật dê thì còn mình. Thiếu nó, em nó bỏ mình, chê ỏng chê eo em lặn mất tiêu. Khi đó chỉ có nước gầm mặt mà thi phú cho nguôi nguồn cơn. Hề, đời vắng em rồi vui với ai! Vui Xuân ư? Mẹ rượt, nhìn quanh chúng sinh thấp cổ bé miệng, đời là bể khổ tối ngày cứ vác đơn đi khiếu nại. kiện tụng đòi bồi thường chuyện soán nhà đoạt đất. Trăm dâu đổ đầu tằm. Vui cái đếch gì?

Hồ Đình Nghiêm
Mồng bốn Ất Mùi

Dê kêu bên núi

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Độc đạo quanh co, trước khi dẫn vào huyện lỵ, bày cheo leo bên sườn đồi cô quạnh một mái tranh. Chữ “Hút Gió” viết kiểu thư pháp hiển lộng trên bề mặt một thân gỗ bị xẻ đôi. Vết cắt ngọt tựa hồ nó bị thanh kiếm bén phạt ngang. Hút gió thấm mực đỏ, treo dưới mái tranh, đi qua thương hiệu ấy là chân dẫm vào quán rượu đèo heo thường chẳng đông bọn người dụng tửu giải sầu.

Nó hiện hữu, xắn vào đồi làm vỡ ra, lem nhem màu đất vàng, xâm thực lấy, cào cấu vào mảng màu xanh của cỏ cây vốn bạt ngàn phồn thịnh xuôi đổ về muôn trùng. Do vậy cái góp mặt của nó chẳng hài hoà cùng cảnh sắc, nhưng chính sự phá hoại thiên nhiên kia đâm ra cần thiết cho bọn người giang hồ lấy chân làm bạn đường, đi dong duổi tứ phương mưu cầu một danh lợi, một miếng ăn luôn chồng chất, nặng gánh hành trang. Đi mãi thì phải có lúc dừng, mà hoãn đãi sự di động kia không có chỗ nào thuận lợi bằng bước vào một lữ điếm, một quán nhậu. Buông tấm thân nhuốm bụi đường xuống ghế, đợi ba hồn chín vía trở về cho lòng được thư giãn mới lộ thần sắc của kẻ rổn rảng bạc tiền. Tay đập xuống bàn, nội lực còn dồn ra ở cửa miệng: Tửu bảo, rượu. Ngần ấy thôi, gượm đã. Chờ cái thằng người lưng cong mãi quen phục dịch kia xuất hiện đứng sát bàn mới dóng tiếng đòi hỏi thức nhắm đồ mồi bắt miệng sau.

Mùa xuân như chực chờ phía bên kia núi, chốn đây hàn khí vẫn còn đi la đà trên đầu cây ngọn cỏ. Có những loài cây vô danh sớm ra hoa, thứ bông nhỏ nhít trắng vàng tím mãi lắt lay trong gió. Chẳng biết nhắn gửi điều gì. Chúng tầm thường tới độ người ta đâm phụ rẫy một hương hoa thầm kín lẫn tan trong sương, chờn vờn giữa không khí thứ mùi tinh khiết, khu biệt một nỗi niềm mà ở trong huyện lỵ sầm uất kia chẳng tài nào có được. Những kẻ não nề cảnh bon chen danh lợi rũ áo từ quan vẫn thường tìm nơi cô quạnh mà vui thú điền viên. Đêm hôm hoa nở sân trước một cành mai khiến họ hạnh phúc. Tinh mơ sân sau vẳng lại tiếng thanh tao của loài chim lạ về hót rộng lòng khiến họ đê mê. Ôi chao, sao giữa cuộc đời ô trọc này lại có hạng người muốn thủ đắc cho riêng mình thứ niềm vui nhỏ bé đến dường ấy? Nhưng hạnh phúc là gì? Có phải là đã chắt lọc qua bao đớn đau? Hoặc giả người ta quay lưng với bao phiền muộn nhưng phiền não vẫn mãi tìm ra cớ để tìm đến, để chứng thực một chân lý vĩnh hằng: Trên đời này làm gì có hạnh phúc. Anh tưởng tượng ra nó rồi chính anh rước lấy nỗi bẻ bàng. Thích Ca vỡ lẽ: Cái cuộc lữ đầy bất bình này chưa chắc đã hiện hữu, niềm đau khổ hằng dấy lên trong tâm cũng từ mộng tưởng mà ra.

Sẽ gặp mùa xuân, sẽ cố giũ bỏ những niềm riêng trong đêm trừ tịch. Cái ấy thuộc thì tương lai. Ngày mai đầy hy vọng chuyện tốt lành, nó chưa tới thì hôm nay hoạn nạn đón đầu là lẽ thường, không trốn tránh được. Vào giờ ngọ, quán Hút Gió hôm ấy nhiệt náo cảnh khách vô ra không gián đoạn. Khách chẳng phải là bọn lái buôn, không nốt những lữ thứ dáng vẻ thư sinh về quê sum vầy ba ngày Tết cùng gia đình, tận hưởng niềm vui cho bỏ những ngày cơ cực tha phương. Khách thuộc loại đặc biệt, áo xống gọn nhẹ có dắt hung khí quanh thân, chẳng ngại phô bày thân phận. Khách xa lạ mặt lưu dấu vết dặm trường phong sương cũng có, khách ăn vận chỉnh chu người địa phương từ trong huyện lỵ bước ra cũng đủ đầy. Khách không nói năng, không đập bàn quát tháo sai bảo. Khách nhu mì ngồi có thứ lớp, chỉ ngó, chỉ quan sát, chỉ dòm chừng, chỉ dõi trông. Chỉ đôi mắt là hoạt động, kỳ dư những bộ phận khác thảy ngơi nghỉ. Quả có khác thường. Đi lại trên giang hồ đã lắm phen, kinh doanh mở quán Hút Gió này đã thâm niên, chung đụng bọn thảo khấu hoặc giới hắc bạch bộn lần, đây là lần đầu trong đời lão chủ mới ngó ra cái dị hình dị tướng không dưng tới quây quần trong Hút gió tửu điếm. Đang viết dở câu đối nghênh xuân, lão phải dừng tay để thu vén giấy mực. Quan sát một lát, sau cùng lão nhắm một trung niên diện mạo xem chừng tử tế dễ nhìn nhất để lân la thu ngắn dần khoảng cách. Xin hỏi quý khách có gì sai bảo? Gã trung niên không thay đổi sắc diện, nói mà chẳng nhìn mặt lão: Thằng Hạ đâu, sao không thấy? Thưa khách quan, nó xin nghỉ làm ba hôm đón xe về làng thăm cha già mẹ yếu. Tết nhất ai cũng có nơi sum vầy, bổn quán rồi cũng phải đóng cửa để cúng kiến ông bà ông vải ông Thổ địa ông Thần tài ông Quan Công… Dài lời! Khách mắng. Không có nó phụ việc, ông nhắm một mình lo liệu việc củi lửa chiên xào dọn mâm rót rượu xuễ không? Dạ được, nghề của chàng mà. Hề hề hề. Lão chủ cười theo câu nói ngỡ là thậm duyên dáng. Tốt, một đĩa bò xào cải làn, một đĩa bê thui, một đĩa cánh gà chiên giòn cùng năm cân Mai quế lộ. Trước mắt là thế, sau đó để ta hỏi lại cái bao tử xem sao.

Chủ quán quay lưng, đi ba bước thì bàn trong góc có kẻ mặc đồ dạ hành ngồi thu lu như một oan hồn khuất mặt vọng ra thứ khẩu ngôn lạnh lẽo: Cho ta một chén cơm trắng, một quả trứng luộc, một chén nước lã và ba cây nhang. Lão chủ há miệng ra, trong thiên hạ tuyệt không có một hàng quán nào bày ra cái thực đơn quái dị kiểu ấy. Nuốt sao xuống? Đạm bạc tới mức nên càm ràm. Thê tử ở nhà sẽ đáp ứng đòi hỏi đi kèm lệ tuôn hồi nào gia cư bất hạnh kia có ông chồng vừa hồn du địa phủ. Giọng vị khách nọ rổn rảng, chậm rãi, rõ mòn một và quá đỗi nghiêm túc, tịnh chẳng nghe ra chút bông lơn đùa bỡn. Trong sát na, lời thỉnh cầu nọ đã có hấp lực kéo giật ba mái đầu ngó tới nơi xuất phát. Kẻ ngồi góc quán không lấy thế làm điều, lại chậm rãi ra yêu sách: Hãy nhanh tay lo liệu món ta gọi trước, vì nó thậm đơn giản. Không cao lương mỹ vị, chẳng nhiêu khê cầu kỳ tạp nhạp đòi hỏi phải động nồi động niêu.

Trung niên diện mạo tử tế ho khan: Người huynh đệ kia ngôn vậy là đi ngược với trình tự sản xuất. Thử hình dung một xã hội xếp hàng cả ngày mà kẻ đứng sau lại nhận hàng trước thì sự phân bố kia có phải là ngược ngạo, làm rối cái xã hội chẳng công bằng? Ta gọi đồ nhắm trước thì việc cúng quảy của huynh đệ xin hãy nán đợi đôi ba canh giờ. Đã đi lại trên giang hồ ắt trẻ lên ba cũng biết tôn trọng luật chơi. Người anh em chưa nghe câu “tiên hạ thủ vi cường” sao?

Xưa nay ta vẫn quen chứng kiến việc đảo lộn. Đứa ngu dốt nắm vận mệnh thằng trí thức, Chăn trâu thành đại gia và tư bản giẫy chết phải táng gia bại sản. Hừ, thực tế là nên giải quyết những giản đơn trước, rắc rối cầu kỳ chẳng phải một sớm một chiều là gặt hái thành quả ngay. Xin cứ thế mà tuân thủ, chớ biện minh cự cãi.

Lão chủ quán đứng ngây người chờ đợi một hạ hồi phân giải. Năm hết tết tới, lão tuyệt chẳng muốn ngó thấy bào ảnh của đao kiếm loang loáng. Mà mỗi khi sát khí ràn rụa vung vãi ra thì ắt phải có tuồng máu đổ thịt rơi trong nội vi mần ăn của quán lão. May thay sự căng thẳng đã kịp chùng lại, kẻ mặc đồ dạ hành thoắt cái đã cắm chân trước con lộ vắt ngang Hút Gió. Hắn đội đầu giữa nắng trưa như kẻ ngáng đường kịp lúc mọi người trong quán nghe được tiếng vó ngựa rõ dần đang thu ngắn cự ly. Xa tới gần là bóng ngựa trắng, cỡi thân nó là đứa vạm vỡ mặc tuyền sắc vàng. Áo vàng quần vàng, thậm chí đốc kiếm nhô ra sau vai cùng loáng màu kim loại đắc tiền. Ngựa trắng hí lên tiếng kinh ngạc khi bị ghìm dây cương, thở hào hển. Con lộ chẳng nhỏ nhưng chẳng hiểu sao cả người lẫn ngựa không thể lạng lách để tránh cái bóng đen thù lù đứng làm vật cản. Vắn tắc là qua không êm, khựng đứng, dáo dác, hồ nghi, nực nội.

Nhà ngươi có biết ta chăng?

Nhiên.

Thường, những kẻ mỗi khi đã ngộ ra thân phận ta, những kẻ ấy phải cúi đầu lẫn tránh.

Không có ngoại lệ?

Cũng có, đôi ba trường hợp, nhưng tiếc thay…

Tiếc?

Vì những kẻ ấy không thể xác tín điều ta nói, chúng đều đã chết. Ngươi chẳng sợ chết?

Nhiên. Còn ngươi? Ta đồ là tâm ngươi đang gợn sóng. Ngươi chết, bao của cải vật chất bấy lâu thu vén tích trữ sẽ trôi sông đổ biển. Không thụ hưởng được, liệu có đau lòng!

Người vận y phục tuyền sắc vàng đưa tay lui sau để rút cây kiếm báu ra khỏi vỏ.

Phàm giết người ta ít nói năng, chỉ dụng kiếm sau khi hỏi đối tượng: Ngươi có biết cây Địa táng thần kiếm này chăng?
Nhiên. Ta còn biết thêm điều khác là ngươi sẽ thi triển mười sáu chiêu thức của Công an kiếm pháp. Công lực của thứ võ học kia thâm hậu chỉ riêng trong phạm vi huyện lỵ kia. Bước ra địa phận ấy, nơi chốn mông quạnh này, thứ nội lực kia e chỉ mang ra hù doạ trẻ con.

Bàn tay nắm Địa táng kiếm có hơi run. Bởi bản thân đứa ấy vừa ngộ ra chuyện giản đơn, đó là xưa nay chúng sống theo bầy đàn, tách tập thể thế cài răng lược đó ra, chúng yếu đuối trong đơn lẻ. Chúng nương nhờ nhau để làm mưa làm gió, một cá nhân đi lạc, cá nhân ấy không có lối về.

Ngươi là ai?

Là người có nhiệm vụ mang ngươi đi xa. Hãy yên tâm lên đường vì ta đã gọi một mâm cỗ, họ sẽ mang ra đặt trên đầu nằm của ngươi. Ta hứa sẽ đắp mặt cho ngươi, đốt ba cây nhang, chẳng đến nỗi lạnh lẽo.
Thuận Thiên sứ giả là ngươi? Người mặc tuyền sắc vàng còn muốn nói, còn rất muốn cà kê dê ngỗng dài dòng nhưng hung khí trong tay đứa mặc hắc y không cho phép. Gã gục xuống, chống oằn thân kiếm để khỏi đổ thân, hai mắt mở trừng đầy nghi hoặc. Người giang hồ nói: Chết mà không nhắm mắt, e có lý do.

Kẻ hạ thủ dùng chân đạp tử thi ngã lăn ra. Đưa tay sờ soạn để nhặt được một túi tiền. Ta không là hạng thảo khấu, ta giết ngươi không vì đồng tiền. Ta lấy, chẳng qua ngân lượng kia nào còn thích hợp cho ngươi. Ta lấy, dùng nó trả tiền cơm nước cho ngươi, còn bao nhiêu ta sẽ phát cho bá tánh. Ta sẽ tới Vô Sân lâm tự ký gửi. Câu nói chấm dứt tương đồng với chiều dài khoảng cách từ ngoài lộ bước qua cổng tranh. Kẻ mặc hắc y đặt hai nén bạc trên quầy: Cái ta đã gọi xin hãy đáp ứng chu toàn, lão lo hậu sự giùm ta. Giết người là thứ luôn làm ta đắn đo, vì thế ta rắp tâm bày chút lễ vật cho nạn nhân, gọi là lịch sự tối thiểu.

Quán Hút Gió im thin thít không ai vọng động. Họ ngồi đây với mục đích khác. Vã, nhìn cách động thủ của gã hắc y thì ngồi câm như thóc là giải pháp vẹn toàn khi muốn mưu cầu sự bình yên. Chộn rộn sẽ dấy lên hồi nào cái bóng đại sứ của tử thần di dời biến mất khỏi quán. Chẳng ai còn lòng dạ đòi hỏi món này món nọ thúc hối bày trò nhậu nhẹt, yên cho lão chủ bắt nước luộc một quả trứng, xới vung chén cơm, cắm ngập đôi đũa, đốt ba cây nhang đi ra sân nắng loay hoay làm bữa tiễn đưa đúng thủ tục. Cái thây kia lý ra không xứng để đón nhận lễ vật, chẳng qua thực thi một nguyên tắc không dời đổi của sát thủ thì đành lòng nhắm mắt nghe theo. Ai chết dưới tay y thì kẻ đó đáng chết lắm vậy!

Y đến không ai hay mà cách y thôi hiện hữu cũng đáng ngờ. Như hòn đá ném xuống mặt sông, sóng đồng tâm loang ra khoảnh khắc rồi con nước trở về nguyên dạng một mặt phẳng, lặng tợ hồ thu. Tửu khách trong quán dụi mắt, ngỡ là ảo ảnh. Rượu chưa được nhấp môi mà cảnh vật quay mòng như chất men dự phần để che choáng mục quang, mơ hồ, hư thực. Trung niên có diện mạo tử tế chép miệng: Ta lưu lạc rày đây mai đó đã mòn bao nhiêu đôi dép nay mới mục kích ra hoạt cảnh này. Quả là đi một ngày đàng học một sàng khôn, trong thiên hạ vẫn còn đó hạng người ưa bẻ gấp một điều lệ, ưa xé vụn một trang nội quy. Ngẫm lại, chốn giang hồ này đầy rẫy cường hào ác bá là do bởi người người đều một dạ cúi đầu dĩ hoà vi quý. Đó là nhược điểm để nuôi sống cái ác. Con nhà võ học thảy co cụm lại với chỉ tiêu tự đề ra, chỉ rèn luyện thân thể, kỳ dư việc thế thiên hành đạo thì nhắm mắt, không thấy không nghe không biết không nói không bàn cãi không phẫn hận. Sống vậy, há có nên chăng? Rượu, rượu đâu?

Bắt tay ông Táo, bắt chân bà hoả thì khó việc chiên xào nấu nướng củi lửa mất thời giờ, chứ rượu, a hèm, chỉ việc mang nguyên bầu chứa chất men ra thôi, chẳng hao công lực. Sóng sánh rót tràn cốc, cụng liên tu kỳ trận. Uống cho mặt đỏ, cho mắt ngầu đục, cho miệng nói thánh nói tướng, âu cũng là cách dìm chết bao nực nội dồn nén chẳng biết cách xả oá. Rượu vào lời ra là một chân lý, nhưng thứ chân lý kia anh chỉ có quyền nói ra ở chốn quạnh vắng như chốn này, nơi không ai đưa lưỡi gươm lạnh kề vào cổ. Huyện đường có ngục thất hoành tráng, nhưng đa phần chỉ nhốt chật bọn phàm phu tục tử, bọn ăn cắp vặt. Kẻ thức thời như đứa cụt lưỡi bởi kẻ thức thời chẳng dại bầu bạn với thiên thu. Một ngày sau chấn song chẳng phải là ngàn năm ở tận cõi ta bà này sao?

Một đứa ngồi chung bàn với trung niên tử tế nói: Lạ, sao đến giờ này vẫn tịnh không ngó ra mục tiêu. Trung niên bảo: dục tốc bất đạt. Ngôn là ngôn vậy chứ kỳ thực dạ có hoài nghi. Đứa thủ lãnh luôn biết cách ăn nói để đàn em dưới trướng thôi hoang mang. Qua chén rượu thứ hai, trung niên đưa ra câu hỏi: Gửi một lá thư mà cánh nhạn chưa mang hồi âm về, giải thích cách nào? Đứa kia chùi miệng: Một, không có người nhận. Hai, thư đến sai địa chỉ. Ba, nhạn kia chẳng đi tới đường. Đúng vậy, ta nên xem tên mặc áo vàng kia là con nhạn la đà. Nó đi khai thông con lộ, dò đường. Chiếc xe kia sẽ khởi động hồi nào ngó ra cái an toàn do tên áo vàng mang tới. Xe án binh bất động vì xe đã lường ra điềm bất thường. Nôm na, cái xác ngoài kia đã làm kế hoạch phục kích của chúng ta bất thành. Ngoài con lộ này còn lối mòn hướng tây bắc dẫn vào thị trấn, e chúng ta đành phải nhọc thân một chuyến xem sao. Đường có hơi xa, chịu khó quên vụ bỏ thức ăn vào bao tử. Uống rượu suông liệu mấy huynh đệ có run tay kiếm? Không sao, tính chuyện đại sự trước. Xong việc, tha hồ nhậu nhẹt trửng giỡn kỹ nữ suốt năm canh.

Cả bọn đứng lên, trả cho Hút Gió cái an lành khu biệt nó hằng chiếm giữ. Bọn con buôn đi chợ chiều sẽ ghé ngang, tấp vào, sẽ vô tư đòi hỏi thức này món nọ loạn cào cào. Lão sẽ vui vẻ phục vụ, nhưng muốn được thế, trước mắt lão phải tìm cách dấu tạm, nguỵ trang cái xác gớm ghiếc kia. Tử thi nọ khi còn tại thế luôn quấy rối bọn con buôn, nhưng không cứ là toàn bọn sẽ ăn mừng khi ngó ra. Bôi trơn cho nó quen rồi thì nó du di cho mình đi lọt. Nó chết, một thằng đầu trâu mặt ngựa thế chân thì bổn cũ soạn lại, rồi phải quan hệ tình cảm, phải phong bì, phải chìu chuộng những đòi hỏi rắn mắt của hắn ta. Tiền trao cháo múc một lần đã mòn hao cuộc lữ, đã phai nhạt xuân tình. Cứ mãi tái lập trò chịu đấm ăn xôi thì e trần gian sẽ chuyển đổi thành địa ngục mất. Ta không vào địa ngục thì ai vào? Vào một lần, trầy trụa. Vào hai lần, toe tua. Vào ba lần, mữa mật. Sống trong đời mà sao bắt ta cứ mãi dọ chân bước xuống bậc cấp tăm tối đến nhường ấy? Quan huyện đề xuất câu thoại: Ánh sáng cuối đường hầm thì duy thành phần ăn trên ngồi trốc mới mãn nhãn, phận ta lý lịch ba đời đều thui chột đành phải làm hiệp sĩ mù nghe gió kiếm thôi. Hoa cứt lợn có đời hoa thối. Chó chạy rông có đời cầy tơ. Người ngợm này có lập trình riêng của số phận nó vậy!

Ngày xưa có đứa vì đọc ngược một cuốn bí kíp, đọc lộn xộn không chương hồi, từ sau ra trước mà sinh tẩu hoả nhập ma, thủ đắc riêng mình thứ võ công bàng môn tả đạo quán thế thiên hạ. Ngày nay, giang hồ xao xác vì lắm đứa cũng một nòi đọc lộn khẩu quyết, chúng có ngàn lẻ một chiêu thức để hạ thủ và kẻ thua cuộc chết vì tức tối, hộc máu vì lường không đặng cách chơi. Lâm trận không nắm ở chuôi mà đưa tay nắm chặt đằng lưỡi. Ngón rụng, cửu chỉ thần công biến thành nhất dương chỉ, rồi thoắt cái bị cắt mất tứ chi. Hình nhân tàn phế chỉ biết ngữa mặt lên trời ràn rụa nước mắt: Con thật bất hiếu với song thân, cha mẹ sanh ra toàn vẹn là thế mà chẳng đủ sức giữ gìn cái báu vật nọ. Xuống suối vàng chỉ ngại tía má chẳng còn nhận biết ra con.

Kẻ mặc hắc y vì muốn giữ nguyên vẹn hình hài nên y ngộ ra, chỉ duy một cách, là để bảo vệ, không còn phương thức nào khác là y phải đối kháng. Không chung đụng với guồng máy vận hành kia, tự nguyện đứng về phe nước mắt. Nếu thác đi, sự lên đường nọ chẳng làm hổ thẹn tiền nhân. Y xé gió đi qua rừng cỏ tranh, y đổ thân xuống sườn đồi, một hang động tối đen nằm cuối đường chờ y bước vào. Có đôi nam nữ lấp ló đứng đó thoáng mừng vui khi ngó thấy y. Nam mang tên Hạ, là đứa hầu bàn trong quán Hút Gió, hắn hỏi: Tin tức đệ trao có sai trật không? Y bảo: Đúng, tuyệt đối. Có một sự việc khiến ta bất ngờ là quán đông chật một bọn người mặt mày hung hiểm. Ồ, có thể chúng nó chờ chiếc xe mang tặng vật cùng á phiện dâng cho quan huyện ngang qua để đánh cắp. Nữ tiếp lời: Nghĩa là chúng không quấy rầy tới huynh? Không. Y nói. Hạ tháo từ lưng ra một bọc vải: Chuyện huynh làm rồi sẽ gây ra căng thẳng. Trong vòng chu vi hơn trăm trượng thế nào chúng cũng bố trí người kiểm soát vào ra thị trấn. Cách hay nhất là huynh nên ẩn mặt một thời gian. Trong này chứa đủ mọi thứ để huynh thong dong đi qua biên giới. Nữ nói, muội sẽ đóng vai vợ hiền nắm tay huynh đi thảnh thơi như thể dã ngoại ân cần thăm thú cảnh nước non. Hãy lột bỏ y phục ấy, cải trang thành kẻ quen việc cấy cày. Có được một con trâu mà dắt cày qua núi thì tuyệt đẹp.

Y phân vân, hết ngó Hạ xong lại đặt để mắt nhìn sâu vào mặt nữ: Em theo ta không quản ngại gió sương? Tuồng như em quen sống nơi phồn hoa đô hội, dầm mưa giãi nắng đi theo, ta quả áy náy như đứa phạm lỡ lầm khó thứ tha. Không, ơn anh làm sao em trả nỗi, giết được tên từng làm nhục đời em thì giờ có chết đi em cũng mãn nguyện, nhất là được chết trong vòng tay của huynh. Hạ không can ngăn, Hạ chẳng đưa lời khuyên giải, hắn chỉ hối thúc, dùng dằng là điều bất lợi, sớm lìa bỏ hiện trường nhanh chừng nào tốt chừng đó.

Hắn đưa đường dẫn lối, bày vẽ suối khe nên băng qua, con lộ nên lãng tránh. Y ôm hắn bằng đôi tay đầm ấm của hảo bằng hữu. Cỏ tranh cao ngang đầu, gió vi vu gửi tiếng sắc lạnh ngoài vành tai. Hắn cúi đầu tạm biệt bằng câu thơ: Xin chào nhau giữa con đường, mùa Xuân phía trước miên trường phía sau.*

Tạm kết:

Quán Hút Gió thôi hiện hữu sau buổi ấy đúng tuần lễ. Chủ quán mang thân lưu xứ qua huyện lỵ khác mưu sinh bằng nghề bán cháo lòng. Hạ làm phu đào huyệt, di dời mồ mã, dựng đặt bia đá, coi sóc một nghĩa trang chôn lắm kẻ qua đời. Những mái đầu xanh sớm chết bởi vô vàn lý do: Ngộ độc thực phẩm. Chích ngừa cảm mạo bị nhầm thuốc. Phá thai bị nhiễm trùng. Ăn liên hoan nhìn đểu bị giết. Bị tạt a-xít sau trận đòn ghen. Bị hiếp rồi bóp cổ bịt miệng trong nhà nghỉ dưới tay thầy chủ nhiệm. Bị xe điên cán nát thây. Bị nhà đổ sập đè người. Bị triều cường cuốn trong mưa lũ… Không một ai hay về số phận của đôi nam nữ vượt biên. Có thể họ cũng chết bên ngoài quê hương. Không chừng, biết đâu họ sẽ trở về, một cái Tết nào đó. Họ rũ bỏ tháng ngày tăm tối để giờ này khoác thân áo gấm bỏ tiền làm hoàng thượng một đêm ngự thuyền rồng trôi êm đềm trên dòng Hương soi chiếu đủ đầy dung mạo những phận nghèo da diết đời đời đeo đẳng. Điệu hò Nam ai ảo não còn đó, chì chiết than trong đêm lạnh. Tin rằng y vẫn còn sống, vẫn thắng được hoàn cảnh vì có bận ngồi trong quán nhậu, y đã từ chối món thịt dê. Y ngôn: Có ai lại đi xơi bổn mạng mình. Tại hạ tuổi Mùi, Quý Mùi, và các huynh đệ nên nhớ câu này: Tuổi Mùi không chùi cũng sáng. Tin ta đi.

Hồ Đình Nghiêm

* thơ Bùi Giáng