Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

Post on October 9th, 2020

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Kỳ 22

Chương 19 phần 2 là chương tình cảm gay cấn nhất của toàn tập hồi ký. Nhưng vì sao Sakai từ hôn Fujiko, viện lý lẽ tàn phế không xứng đáng rồi anh sẽ lại kết hôn với Hatsuyo? Gì đó mâu thuẫn. Gì đó này, chính là tình yêu Sakai dành cho Hatsuyo vì không thực sự yêu Fujiko. Một chương hồi ký nhiều tính truyện Quỳnh Dao. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 22

Chương 19

Ngay khi tôi trình diện bịnh viện Yokosuka, một nhân viên đưa tôi đến phòng của vị y sĩ trưởng. Tôi đã quên mất, hôm nay là Chúa Nhật. Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp, y sĩ trưởng không làm việc vào ngày hôm nay. Nhưng tôi đã ngạc nhiên khi thấy ông ta đích thân tiếp đón tôi. Ông ta mỉm cười khi nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của tôi. “Tôi có dặn thông báo cho tôi biết ngay khi anh đến,” ông ta giải thích. “Tôi vừa từ bên chỗ trú ngụ sang đây. Tôi có nhận một lá thư riêng của Ðại tá Saito, yêu cầu tôi cố gắng bằng mọi cách để chữa trị cho anh.”

Ông ta nhìn tôi một thoáng. “Ðại tá Saito đã kể rành mạch cho tôi biết những gì mà anh đã làm ở Thái Bình Dương. Tôi biết anh là một phi công hạ nhiều phi cơ địch hơn tất cả những phi công khác của Nhựt Bản.”
Tôi gật đầu.

“Bây giờ tôi có thể hiểu rõ nỗi lo lắng của đại tá của anh. Ðến đây”, ông ta nắm lấy tay tôi, “chúng tôi sẽ bắt đầu khám anh ngay.”

Sau khi khám xong, ông ta đích thân đưa tôi xuống khu nhãn khoa. “Tôi có nhờ một bác sĩ nhãn khoa tài nhứt của Nhựt Bản chữa trị cho anh,” ông ta giải thích. “Bác sĩ Sakano nhập ngũ và hiện phục vụ trong hải quân với cấp bậc thiếu tá. Xứ sở của chúng ta chưa có y sĩ nhãn khoa nào tài giỏi hơn ông ta. Khi tôi được thơ của Ðại tá Saito, tôi đã báo cho bác sĩ Sakano chuẩn bị sẵn sàng để bắt tay vào việc chữa trị ngay khi anh đến.”

Tôi đang đối diện với giây phút định mạng. Tôi sẽ sớm biết tôi có thể nhìn thấy, tôi có thể bay trở lại được hay không.

Bác sĩ Sakano khám cho tôi. Nhiều phút sau, ông đứng thẳng dậy, mặt lộ vẻ nghiêm trọng và chậm rãi nói: “Phải làm liền. Tôi phải điều trị cho anh tức khắc. Anh còn nhìn thấy được nữa hay không đều tùy thuộc những gì mà tôi sẽ làm trong một giờ kế đây.”

Ông ngừng lại. “Sakai, tôi không thể sử dụng thuốc mê. Nếu anh muốn nhìn thấy, nếu anh muốn cứu ít ra là một con mắt của anh, anh phải chuẩn bị để chịu đựng tất cả sự đau đớn trong khi vẫn tỉnh,”
Tôi hơi choáng váng. Tôi lặng lẽ gật đầu, sợ ngay cả tiếng nói của mình.

Họ đặt tôi lên một chiếc giường cao, rồi nhiều nhân viên giúp việc lấy đai da và vải buộc ghịt chặt tôi xuống. Tôi không thể nhúc nhích tay chân. Ðầu tôi cũng bị buộc một sợi dây da để giữ chặt lại, và một nữ y tá đã vỗ vỗ vào đầu tôi để trấn an. Vị bác sĩ biểu tôi nhìn thẳng vào một ánh đèn đỏ chói treo trên trần nhà.
“Nhìn đi, Sakai” ông từ tốn nói. “Nhìn đi. Ðừng rời mắt khỏi ánh đèn đó. Ðừng nháy mắt, đừng đảo mắt sang nơi khác. Hãy để ý lời tôi dặn! Anh có thể đui mù cả đời nếu anh không làm đúng theo lời tôi dặn.”
Khủng khiếp! Hơn cả khủng khiếp nữa, đó là một nỗi đau đớn chưa từng gặp phải trong đời tôi. Tôi luôn luôn tự coi mình có một khả năng chịu đựng đau đớn vô song. Tâm niệm Samurai trong Bushido đã dạy tôi sự kiên nhẫn, tính chịu đựng, dưới mọi tình trạng khó khăn nhất.

Nhưng mà lần này! Tôi phải nhìn ngọn đèn trừng trừng. Nhìn cho đến khi tôi chỉ thấy màu đỏ chói tràn ngập mọi vật, cho đến khi bàn tay của vị bác sĩ chìa ra, mờ mờ ảo ảo, với dụng cụ bằng sắt nhọn và sáng loáng tiến gần hơn, gần hơn, gần hơn nữa.

Tôi thét lớn. Nhiều lần, tôi thét như một tên điên với nỗi hấp hối đầy khủng khiếp. Tôi cảm thấy không thể chịu đựng thêm một giây phút nào nữa. Ước muốn được bay lại, được thấy lại bây giờ trở thành đồ bỏ đối với tôi. Ðau chết được! Một lần tôi thét lên: “Ngừng lại! Bỏ hết, miễn đừng đau thì thôi!” Tôi cố né tránh lưỡi dao. Tôi cố thoát khỏi mấy sợi dây. Chúng được buộc quá chặt. “Im đi!” Vị bác sĩ la tôi. “Anh phải cố chịu đựng! Nếu không, anh sẽ đui mù! Ðừng hét nữa!.”

Sự hành hạ kéo dài hơn ba mươi phút. Nó dài bằng cả một triệu năm đối với tôi. Nó kéo dài vô tận. Khi công việc đã xong, tôi cử động một ngón tay cũng không nổi. Tôi nằm dài trên giường để thở, bất động. Vị y sĩ trưởng cúi xuống cố gắng để an ủi trong lúc ngực tôi nặng trĩu và tôi bật khóc nức nở.
Suốt một tháng tôi nằm miết trên giường bịnh. Tôi khổ sở. Ðời sống vô nghĩa đối với tôi. Tôi cứ nằm mơ thấy lại chuyến bay dài dằng dặc từ Guadalcanal trở về Rabaul của tôi.

Bác sĩ Sakano thường tới thăm bịnh tôi. “Tôi đã cố gắng hết sức” ông nói với tôi, “nhưng mắt bên mặt của anh sẽ không bao giờ hồi phục, anh chỉ có thể nhìn thấy những vật cách anh một hai thước. Riêng mắt trái của anh sẽ phục hồi hoàn toàn.

Lời nói của ông giống như lời nói của tử thần. Một phi công chiến đấu độc nhãn. Tôi cười một cách cay đắng lúc vị bác sĩ bước ra.

Vết thương trên đầu tôi lành lặn mau chóng. Bác sĩ cho phép tôi dạo quanh bệnh viện. Mỗi tuần tôi đều thỉnh cầu được xuất viện và được gởi lại Rabaul. Và mỗi tuần lời thỉnh cầu của tôi đều bị bác bỏ.
Cuối cùng, vị y sĩ trưởng có phản ứng khi thấy tôi cứ lảm nhảm nói mãi. Hiển nhiên là ông ta nổi giận. “Tôi cho anh biết, Sakai, còn nhiều tháng nữa anh mới có thể nghĩ đến việc trở lại Rabaul. Lịnh dứt khoát của tôi. Anh phải dưỡng sức ít nhứt sáu tháng trước khi anh được chỉ định vào bất kỳ nhiệm vụ nào, ở quê hương hay ở hải ngoại.”

Tôi cảm thấy giống như kẻ trốn chạy, một tên đào thoát khỏi chiến trường. Tôi nghĩ đến các phi công khác, nhứt là Nishizawa, Ota và Sasai, mỗi ngày họ đều ra trận. Ngay cả những tin tức liên quan đến cuộc chiến loan đi trên đài phát thanh, tôi cũng sợ nghe. Những tin tức nhắc nhở tôi nhớ đến Rabaul.

Một hôm, y tá thông báo: “Dưới lầu có hai khách đến thăm anh.” Tôi hoàn toàn không đoán ra ai. Hôm đó là thứ Năm, Cô em họ đến thăm tôi mỗi thứ Bảy, là ngày duy nhất Hatsuyo không phải làm trong xưởng nhồi thuốc đạn. Mỗi cuối tuần Hatsuyo mang hoa, trái cây đến ngồi bên tôi rất lâu và mỗi tuần tôi đều trông Hatsuyo đến. Tôi có viết cho má tôi đừng thăm viếng, vì má tôi phải đi từ Cửu Châu đến tận Yokosuka trên một hành trình dài 1,100 cây số, mà tôi sắp chuyển qua bịnh viện Sasebo trong vài tuần nữa. Má tôi cũng đã dọn lên Fukonoda, phía Bắc đảo Cửu Châu để sống với chị Cả và anh rể tôi. Tôi đợi ai thăm viếng, nên khi hai người khách đến thăm và bước vào buồng, tôi phải cố gắng nhận dạng họ, vì hai mắt tôi vẫn còn nhìn thấy mập mờ khi quá hai thước.

“Fujiko-san!” Tôi la lên vì quá bất ngờ.

Ðúng là nàng, đang đứng trên ngạch cửa với cha, giáo sư Niori. Tôi thấy nàng còn đẹp hơn lúc tôi gặp lần đầu cách đây 18 tháng ở Osaka. Hatsuyo đã viết thư báo tin cho họ. Khi gặp tôi, cả hai đều lộ vẻ lưu tâm đến thương tích của tôi. Giáo sư Niori lên tiếng:

“Hatsuyo-san cho chúng tôi hay là anh điều trị ở đây. Chúng tôi đã lo lắng cho anh biết nhường nào, Saburo-san! Nhìn thấy lại anh làm vơi nỗi lo sợ của chúng tôi. Chúng tôi đã rất lo cho tính mạng của anh.”

Tôi ấp úng, thấy mình thật có lỗi: vì đã nhiều tháng qua tôi không viết thơ cho Fujiko. Lời xin lỗi của tôi đầy vụng về chỉ tạo thêm ái ngại vì Fujiko đã viết cho tôi thật nhiều thơ, những bức thơ đầy tình cảm với những thùng quà tiếp tế khi tôi còn ở căn cứ Lae. Cha nàng khoát tay: “Không quan trọng. Chúng tôi đều biết những chiến công xuất sắc anh gặt hái ngoài mặt trận, chúng tôi vô cùng hãnh diện vì anh. Nhưng các vết thương của anh ra sao? Cho chúng tôi biết là anh sẽ sớm rời bịnh viện?”

Tôi chỉ cho họ xem bốn vết thương của tôi và, một cách buồn rầu, tôi chỉ con mắt bên mặt. “Con mắt này… con mắt này không còn nhìn thấy được nữa, các bác sĩ nói tôi sẽ duy trì tình trạng này suốt đời.”

Fujiko sửng sốt. Nàng đưa tay lên bịt miệng như cố ngăn nàng kêu lên. Hai mắt nàng trợn trừng. Tôi nhấn mạnh: “Ðó là sự thật. Tôi đã tàn tật. Mất một con mắt có nghĩa là chấm dứt cuộc đời phi công khu trục của tôi.”

Giáo sư Niori chận hỏi: “Như vậy… Anh sẽ giải ngũ sao?”

“Dạ, thưa không, tôi không nghĩ như vậy,” tôi đáp. Nỗi cay đắng dâng lên trong lòng. “Ở quê hương, giáo sư không thể nào hiểu được sức hút nhân lực của cuộc chiến khổng lồ này ra sao. Tôi không nghĩ rằng tôi sẽ rời quân ngũ. Hải quân sẽ tìm cách sử dụng tôi, làm huấn luyện viên hoặc một nhiệm vụ nào đó ở Bộ Chỉ Huy trên mặt đất chẳng hạn.”

Một thoáng im lặng. Khoảnh khắc đủ giúp tôi nghĩ đến cuộc hành trình xa hơn 800 cây số của họ từ Tokushima đến đây để thăm tôi. Ý thức mình thiếu lịch sự, đối đáp quá phũ phàng, làm tôi vội cám ơn họ. Fujiko tỏ vẻ thất vọng vì cung cách nghi lễ của tôi. Nàng muốn nói điều gì nhưng không thốt nên lời. Cuối cùng nàng quay mau về phía ba nàng và kêu lên: “Ba!”

Ông Niori gật đầu và hắng giọng: “Anh nghĩ khi nào được tái bổ nhiệm?” ông hỏi, mắt nhìn thẳng vào tôi. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên xúc tiến việc hôn nhân… việc này dĩ nhiên, nếu anh bằng lòng, Saburo!”
“Giáo sư… muốn nói gì?” Tôi thảng thốt. “Tôi không thể tin câu nói của giáo sư. Xúc tiến hôn nhân?” Ðầu óc tôi quay cuồng!

“Saburo, anh hãy tha thứ cho tôi,” ông Niori nói:“Tôi biết đem việc này ra nói với anh thật là đường đột.”
Ông đứng thẳng lên và nói tiếp một cách nghiêm trang. “Saburo, anh có chấp nhận con gái của tôi, Fujiko, làm bạn đời của anh không?”

Những tiếng nói ấy giống như những tiếng chuông vang dội trong không gian. Fujiko nhìn tôi với đôi mắt mở tròn, rồi bẽn lẽn cúi đầu nhìn xuống chân.

Tôi tránh nhìn nàng, tôi nhìn đăm đăm vào vách. Chính tấm vách đó, bao ngày tôi đã nhìn đăm đăm trong nỗi tuyệt vọng.

Cuối cùng, tôi ngần ngừ mấy lượt rồi nói:

“Giáo sư Niori, tôi… Dạ thưa, tôi rất lấy làm vinh hạnh khi nghe những lời giáo sư vừa nói. Nhưng…” tôi xúc động và cố dằn nước mắt. “Tôi, tôi không thể… nhận lời đề nghị của giáo sư.”

Xong rồi! Tiếng nói của tôi đã thoát ra. Tôi đã nói được điều tôi muốn nói.

“Hả?” Giọng ông đầy nghi ngờ. “Anh… anh đã có ý trung nhân?”

“Không! Dạ thưa không! Ngay cả nghĩ đến một người khác cũng không. Tôi không nhận lời vì một lý do hoàn toàn khác hẳn. Giáo sư Niori, tôi không thể nào nói tiếng “bằng lòng”. Không thể được! Giáo sư hãy nhìn tôi! Tôi không xứng đáng với cô Fujiko. Giáo sư hãy nhìn con mắt của tôi.” Tôi kêu lên: “Tôi đã đui một bên rồi!”.

Sự nhẹ nhõm tỏa khắp mặt ông.“Ồ! Saburo, anh không cần phải tự hạ mình như vậy! Ðừng tự làm khổ thân anh thêm nữa! Những vết thương của anh là những vết thương vinh dự, chúng không làm anh hổ thẹn. Anh không biết cả tư thế của anh nữa hay sao? Khắp nước Nhật hoan hô anh, ca tụng anh. Anh không hiểu rằng trong tư cách một phi công tài ba nhứt, vĩ đại nhứt của xứ sở chúng ta, anh đã trở thành một anh hùng dân tộc hay sao?”.

“Giáo sư Niori, giáo sư chưa hiểu hết! Tôi chỉ nói với giáo sư sự thật, một sự thật mà chính giáo sư không thể nhìn thấy,” tôi nhấn mạnh. “Không hề có sự khiêm tốn nào trong lời nói của tôi. Một vị anh hùng là cái gì không trường cửu. Người anh hùng như một đám mây trôi nổi. Và tôi không phải là một vị anh hùng. Tôi chỉ là một phi công, một phi công không thể nào bay được nữa. Tôi là một phi công nửa mù nửa sáng. Có gì ở tôi đáng ca ngợi đâu! Tôi hết xài rồi! Anh hùng, quả thật … giáo sư đã biết xứ sở của chúng ta không có anh hùng cá nhân.”

Ông Niori lặng yên trong giây lát. “Có lẽ, tôi lầm lẫn phần nào,” ông tiếp. “Nhưng anh phải biết những gì tôi vừa nói không phải là yếu tố đưa đến sự quyết định của tôi. Nhà tôi và tôi đã “chọn” anh ngay lần gặp đầu tiên. Tôi hiểu biết những cảm nghĩ của anh, nhưng anh cũng phải hiểu biết một sự việc trên hết: Nhà tôi và tôi, cũng như Fujiko, tin tưởng anh là người duy nhất có thể mang đến hạnh phúc cho nó. Chúng tôi cũng hy vọng, cũng tin tưởng rằng con gái chúng tôi sẽ mang đến hạnh phúc cho anh.”

Tôi cảm thấy tim tôi hầu như tan vỡ. Có thể nào người đàn ông tốt lành và tuyệt diệu này không hiểu hết những gì tôi muốn nói? “Làm sao giáo sư có thể xét đoán được một người chỉ qua một lần gặp gỡ?” Tôi nói.

“Cả một đời của Fujiko, hạnh phúc của nàng, đâu có thể được đặt trên một lần gặp gỡ. Tôi không thể nào hiểu nổi lời đề nghị của giáo sư, cho dù tôi chưa từng gặp danh dự nào lớn hơn danh dự mà giáo sư đã mang đến cho tôi hôm nay.” Tôi lộ vẻ nóng nảy: “Có nhiều người khác xứng hợp với Fujiko hơn. Hàng ngàn thanh niên học cao, tương lai đầy hứa hẹn. Thưa giáo sư, còn tôi, tôi có thể cung hiến cho ái nữ của giáo sư những gì? Những gì tôi có thể mang đến cho nàng? Một lần nữa, tôi xin giáo sư hãy nhìn kỹ tôi đi! Nhìn tôi đi! Tôi như vầy thì còn nói đến chuyện tương lai gì nữa?”

Fujiko không thể giữ yên lặng hơn được. Nàng ngẩng đầu lên và nhìn tôi đăm đăm. Tôi muốn trốn chạy khỏi căn phòng. “Anh lầm rồi, Saburo,” nàng dịu dàng nói. “Anh lầm rồi! Anh quá lưu tâm đến con mắt của anh! Anh đui hay không đối với em không thành vấn đề. Nếu cần, Saburo, nếu cần em có thể giúp đỡ anh.”
“Cô lầm rồi, Fujiko,” Tôi đáp. “Tôi biết cô can đảm, những gì cô thốt ra đều chân thật, nhưng hiện thời cô nói theo tình cảm. Cô không thể quyết định cả một đời dựa vào tình cảm đã qua rồi.”

“Không, không” nàng vừa nói vừa lắc đầu. “Anh không hiểu em. Ðây không phải là tình cảm nhứt thời. Anh không biết rằng em đã nghĩ đến cuộc gặp mặt này từ nhiều tháng nay. Em đang nói những gì em ý thức rõ.”

Không tới đâu, nếu cứ tiếp tục nói qua nói lại như vậy. Tôi sợ một lúc nào đó tôi sẽ nhượng bộ.

“Thưa giáo sư Niori và cô Fujiko,” tôi cố chứng tỏ sự cương quyết trong giọng nói, “tôi không có ý định làm giảm giá trị của giáo sư và cô. Câu chuyện này không phải là vấn đề mặc cả. Tôi xin lặp lại, thưa giáo sư, những lời đề nghị của giáo sư hôm nay là một vinh dự lớn mà tôi chưa bao giờ nhận được. Nhưng tôi không thể nhận lời đề nghị phi thường này. Tôi không thể nào nhận lấy danh dự kết hôn với ái nữ của giáo sư, bởi lẽ tôi không xứng đáng. Ðó là lý do tại sao tôi phải từ chối.”

Dù cho Niori nói cách nào tôi cũng vẫn một mực từ chối. Fujiko không thể nào chịu đựng được nữa, nàng ngả vào tay cha và bật khóc. Tôi muốn tự sát để trả lại những gì mà tôi đã làm, sự đau buồn mà tôi đã gây ra cho nàng. Nhưng tôi biết hành động của tôi không thích đáng, tôi đã xử sự như vậy chẳng qua là vì hạnh phúc của nàng. Cuộc hôn nhân có thể mang đến hạnh phúc bình thường ở hiện tại, nhưng những năm sau này kẻ chịu đựng buồn phiền sẽ là Fujiko.

Gần một giờ sau họ rời khỏi phòng tôi. Tôi không biết tôi đã đăm đăm nhìn theo họ bước ra cửa bao lâu. Cuối cùng, tôi quay vô phòng, buông thân rã rời trên giường. Ðó là giờ phút buồn thảm nhứt trong đời tôi. Nhưng mà tôi có thể làm gì khác hơn? Một ngàn lần vẫn là một câu đáp đến với tôi: “Không còn cách nào hơn”. Tôi đã gạt sang bên một vật tuyệt mỹ, chưa từng tiến đến tầm tay tôi bao giờ.

Hai ngày sau đó, Hatsuyo đến thăm tôi. Nàng không cười như thường lệ. Nàng ngồi xuống bìa giường và nhìn thẳng tôi. “Tại sao anh có thể làm như vậy, Saburo?” “Saburo!”  “Tại sao anh đối xử tàn nhẫn với Fujiko?”, nàng hỏi ngay khi gặp tôi. “Anh làm cho Fujiko đau khổ quá nhiều”. Hatsuyo cho tôi biết, từ bịnh viện trở về, Fujiko đã khóc suốt đoạn đường và khóc nức nở khi ghé thăm nàng ở Ðông Kinh. Giáo sư Niori đã yêu cầu chú tôi và Hatsuyo hãy tìm cách thuyết phục tôi.

Hatsuyo nhìn tôi một cách giận dỗi. “Saburo, họ nói anh đã từ chối, có lẽ tại vì anh không hài lòng những lời lẽ của họ. Ba em và em biết rõ gia đình đó lắm. Họ đều tốt cả. Tại sao anh làm như vậy?”. “Tại sao, Saburo?” “Fujiko đoan trang và thích hợp với anh!”

“Hatsuyo, em hiểu giùm anh”. Tôi van nàng. “Em đã từng sống nhiều năm thơ ấu với anh, cùng chơi chung với anh, em và tất cả mọi người trong gia đình đều biết anh quá rõ. Anh không hối tiếc quyết định của anh, cho dù nó đã gây cho anh nhiều đau đớn. Anh thực sự tin rằng anh đã hành động như vậy vì tương lai của Fujiko, và hạnh phúc của nàng.

Hatsuyo không đồng ý. “Họ nói anh từ chối vì anh bị thương.”

“Ðó chỉ là một phần lý do. Anh đã yêu Fujiko ngay từ khi gặp nàng lần đầu. Tình yêu của anh đối với nàng càng lúc càng sâu đậm. Suốt những tháng dài dằng dặc ở Lae và Rabaul, đối với anh, Fujiko đã trở thành người đàn bà vĩnh cửu trong đời. Chắc em khó thể hiểu nổi được anh đã từ chối vì anh yêu nàng!”
“Em không hiểu gì cả, Saburo!”

“Suốt thời gian anh ở hải ngoại, suốt những tháng năm đầy mệt nhọc ở Thái Bình Dương, Fujiko không bao giờ rời khỏi tâm trí của anh. Có lẽ việc này không mấy tốt khi đem bàn với em, nhưng anh phải nói sự thật. Rabaul là một căn cứ quân sự quan trọng, lúc nào cũng có hơn 10,000 binh sĩ Nhựt đồn trú. Thêm vào đó, thỉnh thoảng có cả một sư đoàn bộ binh ghé tạt qua.

“Em nghĩ thế nào khi những người đàn ông này xa nhà, xa vợ của họ? Có nhiều gái điếm ở Rabaul, giống như ở đây Yokosuka. Khi được nghỉ phép ở Rabaul không phải tất cả, nhưng đa số phi công đều biết qua bọn gái điếm này. Riêng anh, anh không bao giờ dính dáng đến. Niềm kiêu hãnh của anh không cho phép anh dây dưa với bọn họ. Anh muốn giữ mình trong sạch cho Fujiko, chờ ngày anh có thể ngỏ lời cầu hôn nàng.

“Trước khi bị thương, anh đã nghĩ đến nàng trong tư cách một Sakai phi công tài ba, không hề biết sợ hãi, một người đàn ông kiêu hãnh của nàng. Nhưng mà hiện tại? Không!” Tôi lớn tiếng. “Anh sẽ không cần đến lòng thương hại! Em có nghĩ là anh muốn duy trì lòng thương hại của Fujiko không? Không bao giờ! Bây giờ em hiểu anh rồi chớ?”

Hatsuto nhìn ngay mắt tôi. “Em hiểu, Saburo, em hiểu anh rất nhiều. Em luôn hiểu anh từ khi còn bé. Nhưng em không tránh khỏi buồn giùm cho Fujiko.”

“Fujiko sẽ hạnh phúc hơn. Nàng sẽ…”

Nhưng Hatsuyo chận lời tôi bằng cách choàng tay qua cổ tôi và kéo tôi đến gần nàng. “Tội nghiệp anh, Saburo! Phải hy vọng… anh phải tin tưởng. Anh sẽ bay trở lại. Em biết anh sẽ được bay trở lại! Em tin tưởng vô cùng là anh sẽ còn bay nữa. Anh sẽ lại hòa vào mây, Saburo! Em sẽ cầu trời khấn Phật hằng đêm cho anh thỏa nguyện.”

Chuyện tào lao!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on October 21st, 2023

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Ca dao là từ Hán Việt. Ca là bài hát có giai điệu, có chương khúc. Dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, không có chương khúc. Ca dao thường theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc, dùng để ru em. Về hình thức, câu ca dao rất hiệp vận, đa số là ngắn, không thừa, không thiếu một chữ. Còn về nội dung, ca dao của ông bà mình truyền lại, thâm trầm lắm, sâu xa lắm. Chẳng hạn như câu: “Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh. Bánh nào trắng cho bằng bánh bò bông. Đôi ta gá nghĩa vợ chồng. Nằm đêm nghĩ lại, nước mắt hồng tuôn rơi”.

Gia đình ông bà Ngô Đình Nhu – nguồn Flickr.com

Muốn hiểu tường tận câu ca dao nầy không phải là dễ như ăn cơm sườn không bị mắc xương. Tối leo lên giường nằm nghe cải lương đâu! Muốn hiểu tận tường đôi khi phải trầy vi, tróc vảy. Mình phải rành sử ký. Phải biết ông chánh là ông nào? Tại sao lầu ông chánh lại cao?

Theo lịch sử cho biết, năm 1868, sau khi chiếm được toàn bộ Lục tỉnh Nam Kỳ, hệ thống hành chánh của thực dân Pháp chỉ giữ lại tổng, xã, thôn nhưng bỏ phủ, huyện để thành lập các hạt tham biện. Đứng đầu hạt tham biện là quan lớn chánh tham biện, một ông Tây mũi lõ từ Pháp qua cai trị dân ta. Quan lớn thời nào cũng vậy phải ở nhà lầu cao. Sau khi Tây về Pháp, cái lầu cao nầy đi theo không được đành ở lại làm Dinh tỉnh trưởng.

Còn bánh bò làm bằng bột gạo, nước, đường, nước cốt dừa và men. Có người cắt nghĩa miệng nở ra như hình cánh bông nên gọi là bánh bò bông. Nhưng tui lại cho rằng: bánh bò bông là vì nó có màu trắng phích. Vì ca dao cũng có câu: “Trắng như bông, lòng anh không chuộng. Đen như cục than hầm, lòng muốn dạ ưa”. Còn gá nghĩa vợ chồng có nghĩa là lấy nhau.

Như vậy câu ca dao nầy là của Lục tỉnh Nam Kỳ. Nó diễn tả người vợ với tấm lòng cao rộng như lầu ông Chánh và trinh bạch như bánh bò bông. Nhưng có thể em bị oan Thị Kính, nên cái tâm sự u uất buồn khổ đến tột cùng, khóc đến chảy máu mắt. Nước mắt hồng cũng xuất hiện trong câu ca dao: “Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc. Gió nào độc cho bằng gió Gò Công. Thổi ngọn gió đông lạc vợ xa chồng. Nằm đêm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi”. Câu ca dao nầy nói về trận bão lụt kinh khiếp năm Thìn, năm 1904. “Bến Thành nóc chợ cũng bay. Đèn khí nó ngã nằm ngay cùng đường…”. “Gặp em đây mới biết em còn. Hồi năm Thìn bão lụt anh khóc mòn con ngươi”.

o O o

Rồi câu ca dao “Anh buồn còn chỗ thở than. Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya”. Muốn hiểu câu ca dao nầy một cách tường tận cũng không phải dễ. Phải biết cọng nhang làm bằng ruột tre. Bột nhang là bột trái cây bồ lời và bột cam cưa. Nhang có màu vàng của bột cây huỳnh đàn và cây trầm gió. Nhang thơm do nhiều vị thuốc Bắc, như mộc hương, đại hoàng, địa liên, nhục đầu, bạch chỉ, trầm hương.

Nhang cho việc thờ cúng. Nhưng nhang cũng tính thời khắc cho một độ đá gà ban ngày hay trong đêm tối gọi là “đồng hồ nhang”. Mấy chú ba đốt mỗi đêm một khoanh nhang duy nhất

Đây là tâm sự của một người vợ bé lúc đêm về phòng không chiếc bóng, thui thủi một mình!

Trước năm 1954, chuyện đàn ông hai vợ là chuyện thường ngày ở huyện. Trong giấy khai sanh, còn có mục phải khai là vợ chánh hay vợ thứ? Thứ chớ hổng phải bé. Vợ thứ là trong giấy tờ. Vợ bé là trong cõi nhân gian.

Năm 1955 ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống thời Đệ nhứt Cộng Hoà (1955-1963). Ông Ngô Đình Nhu là em và cũng là cố vấn thân cận nhất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Bà Trần Lệ Xuân (1924-2011), gọi tắt theo tên chồng là bà Nhu (tiếng Anh: Madame Nhu) là em dâu. Bà Trần Lệ Xuân còn được gọi là Đệ nhứt Phu nhân vì Tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ, sống độc thân. Bà Trần Lệ Xuân cũng là: Chủ tịch Phong trào Liên đới Phụ nữ trực thuộc Đảng Cần lao Nhân vị. Chánh sách về gia đình của bà Trần Lệ Xuân (chịu ảnh hưởng của Tây học) là: “Ai lỡ có vợ bé thì thôi. Ở đâu yên đó! Không được rước thêm bà nào nữa”. Ai chưa có, nhứt là quân nhân công chức, không được phép lập phòng nhì. Có thì ráng mà giấu. Bị phát hiện thì bị thi hành kỷ luật.

Thế nên câu ca dao: “Anh buồn còn chỗ thở than. Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya.” Nó phải có trước năm 1955 rất lâu. Tại sao vậy? Vì đó là thời trai năm thê bảy thiếp là thường.

“Anh buồn còn chỗ thở than” Anh đây là người chồng. Chỗ (chớ không phải chốn) chỉ người vợ lớn. “Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya”

Phận em làm bé khi buồn không biết thở than với ai ráo trọi? Chỉ một thân, em thức tới khuya lơ, khuya lắc, trằn trọc tới nhang tàn luôn chỉ còn cái cọng. Cái buồn không nói ra được, nó là cái buồn dai dẳng, cái buồn lẻ loi, nó gặm nhấm lòng em như nhang tàn thắp khuya sáng đêm. Rồi đời em tàn lụi như một ‘cọng nhang’

Vậy mà có tên Ba ke hai nút bố láo, dám tam sao thất bổn, hỗn hào sửa bậy bạ, sửa tùm lum, sửa tà la chữ của ông bà mình. Nó dám viết là: “Đó buồn có chốn thở than. Đây buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”?

Rồi một đứa Bake 75 hai nút khác dám viết là: “Anh buồn có chốn thở than. Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.” Thắp khuya, nhang cháy hết còn cái cọng. Chớ ngọn nhang là đầu cây nhang thì nó có ý nghĩa gì?

Viết ẩu xị, vụt chạc, bừa bãi, không cân nhắc, đắn đo, suy xét gì hết ráo.  Chỉ quen thói kiêu ngạo CS, làm tài khôn mà sửa bậy bạ, sửa tùm lum chi cho chúng nó khi, nó cười vô mặt.

Tệ hại hơn nữa là những câu vè tuyên truyền chánh trị nhứt thời cũng ráng mặc cho nó chiếc áo gấm ca dao. Như: “Cầm dao em vót mũi chông, Nghe súng ta nổ là lòng thêm vui. Căm thù giặc Mỹ không nguôi. Thằng cu nó cũng học đòi vót chông”. Gì mà có ‘cu’ ở đây vậy mấy bố? Thiệt là chuyện tào lao!

ĐXT

Chị Hai Chim

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted 5 May 2022

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Nhóm bạn nhậu của tui ở Footscray nầy có 3 người. Tui là một, anh Tư Hiền Triết là hai. Và anh Ba Cãi là ba.

Anh Tư Hiền Triết và anh Ba Cãi viết văn. Ðời mà, hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ(!?). Hai nhà văn nầy bằng mặt mà ít khi bằng lòng. Hai người chê bai nhau về tài viết văn. Tui thì dốt. Không biết viết, chỉ biết đọc, biết nghe. Nên hai thằng chả hay rủ tui nhậu để lúc xỏ xiên qua lại với nhau, tui làm trọng tài. Ðược cái là tui không phải là trọng tài “xây cá nại”. Tui rất công tâm. Ai trúng tui nói trúng; ai trật tui nói trật. Hổng chịu, giận, không ai kêu tui đó, thì tui ở nhà nhậu với con vợ của tui.

Thấy tui cang cường như vậy nên hai cha đều khoái. Huỡn huỡn một chút là hú tui, nhậu hè. Ðôi khi tui cũng nhậu chực; chớ không phải không. Nhưng nói chung là tui chơi cũng đứng đắn, đàng hoàng lắm nhe! Bữa nào, vợ cho vài chục đô dằn túi là tui chi bạo hè. Anh Tư Hiền Triết xách beer, tui mua rượu đỏ đem đến garage nhà anh Ba Cãi nhậu.

o O o

Cái lạ là 47 năm rồi, 30 tháng Tư nào CS cũng bắn pháo bông ăn mừng vì đã giết chết khoảng 4 triệu người, kể cả hàng trăm ngàn người Việt bỏ mình khi vượt biên, vượt biển. Xương chất thành núi, máu chảy thành sông. Còn tụi tui, những người quốc gia, gọi đây là ngày Quốc hận, ngày làm đám giỗ hội cho những người đã chết. Những oan hồn đó vì Lê Duẩn quyết tâm đánh chiếm Miền Nam; đánh cho cho Liên Xô và Trung Quốc.

30 tháng Tư năm nay ở Úc nhằm ngày thứ Bảy cuối tuần, weekend, anh Ba Cãi kêu tui lại nhà chơi vì anh làm đám giỗ hội, mình ên buồn quá.

Nhân tiện anh Ba Cãi kêu tui mời anh Tư Hiền Triết với. Tui thấy hơi lạ nên hỏi lại: “Nhà anh làm đám giỗ thì anh mời, sao lại kêu tui?”. Anh Ba Cãi nói, tui có kêu nhưng thằng chả block số của tui rồi. Sao lại giận? Chẳng qua tui phê bình thằng chả viết văn mà xài tiếng tục tĩu của CS như chữ “tự sướng”. Rồi hồi xưa ông bà mình dùng từ “tham quan ô lại” để chỉ bọn ăn cắp, ăn cướp của dân. Giờ thằng cha Tư Hiền Triết lại viết “đi tham quan” là một động từ, là đi viếng một danh lam thắng cảnh nào đó. Lại tính chôm chỉa gì đó cha nội?

Theo tự điển Hán Việt, “tham quan” cũng có nghĩa là: Thăm, xem, du lãm. Như tham quan bác vật quán, xem viện bảo tàng. Nhưng bà con mình hồi xưa ít ai xài cái nghĩa nầy lắm. Tui không thấy ai xài chữ “đi tham quan” như cha Tư nầy bao giờ? Ði đã là một động từ. Tham quan cũng là một động từ. Trong tham quan đã có nghĩa là đi. Hổng đi mà chỉ nằm thì tham quan cái giống gì hè?

CS thường hay hô hào, la lối tưng bừng là hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt! Tiếng Nôm mình có sẵn, nào là đi chơi, đi thăm, đi coi, sao hổng chịu xài vậy? Xài chữ Hán Việt bừa bãi, bậy bạ như thế mà hổng sợ ông bà mình hiện hồn về vả miệng cho rụng răng hết ráo, không còn một cái mà ăn cháo!

Rồi cha Tư Hiền Triết Nam Kỳ rặt mà nấu cho mau chín thì lại viết thành nhanh chín! Rồi cái chuyện nầy mới đáng rầy thằng chả nè. Chuyện hay nhe, kể nghe chơi.

Hai tuần trước cha Tư Hiền Triết có đăng một tiểu phẩm tựa là “Air China” (Hãng Hàng không Trung Quốc) trên Tuần báo Sóng Vang (tức Sáng Dông).

Bài viết như vầy nè: “Ðồng chí Tí và đồng chí Tèo thuộc Bộ Chánh trị đảng CS VN đáp máy bay của Air China đến Bắc Kinh công cán. Mọi thứ đang diễn ra suôn sẻ, nhưng sau đó một động cơ bị hỏng.

Chuông báo động vang lên trong buồng lái. Viên cơ trưởng thông báo: “Hành khách thân mến! Ðây là lời cơ trưởng của bạn. Rất tiếc chúng ta đã bị mất một động cơ, nhưng đừng lo lắng, tôi sẽ đảm bảo an toàn cho các bạn”.

Máy bay hạ cánh trên mặt nước, cơ trưởng bình tĩnh nói: “Một lần nữa xin kính chào quý hành khách. Chúng tôi đã hạ cánh thành công xuống mặt nước, tôi hy vọng tất cả các bạn đều ổn. Bây giờ, tất cả những người có thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên phải của máy bay. Những người không thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên trái”.

Ðồng chí Tí quay sang nói với đồng chí Tèo: “Ðó là điều làm tớ yêu thích hãng hàng không Air China này, là họ luôn có những phương án dự phòng cho mọi tình huống”.

Ðồng chí Tèo trả lời: “Vâng, tớ hoàn toàn đồng ý, phi hành đoàn có vẻ được đào tạo tốt cho những tình huống này. Họ lo lắng cho chúng ta vốn là những đồng chí môi hở răng lạnh không biết bơi”.

Sau khi mọi người đã được sắp xếp theo khả năng bơi, cơ trưởng nói: “Tất cả những ai có thể bơi ở phía bên phải của máy bay, hãy sơ tán ra khỏi máy bay ngay lập tức! Và xin gửi đến những người ở phía bên trái của máy bay lời chào “Vĩnh biệt”. “Cảm ơn các bạn đã bay với Air China!”.

Toàn là những chữ của CSBV như cơ trưởng, đều ổn, đảm bảo, phương án dự phòng… v.v và v.v. Ðọc mà muốn ứa gan, sôi máu hè!

Cha Tư Hiền Triết dùng chữ đã sai mà viết chánh tả cũng sai bét. Bĩu môi thì viết là biểu môi. Chúm chím lại viết thành chúm chiếm. Kêu thằng chả sửa lại cho trúng mà y ngoan cố đâu có chịu. Y khoe bài tui đăng có trả tiền nhuận bút nên tòa báo có tiền là nó có quyền sửa trật. Phương Tây là vậy đó. Hỏi anh có ứa gan không?

Tui nói anh phê bình cách dùng chữ của thằng cha Tư Hiền Triết như vậy là đúng, giận cái giống gì hè. Ðầu hai thứ tóc rồi đâu phải mới đẻ hôm qua. Ờ, để tui nói với thằng chả.

o O o

Thưa bà con, tại sao tui khoái nhậu ở nhà anh Ba Cãi? Vì nhiều lẽ. Một là nhậu ở nhà nó rẻ, ít tốn tiền. Ra nhà hàng, mình nhậu tốn phân nửa, còn phân nửa là lọt vô túi áo con vợ bé của cha chủ nhà hàng. Thiệt trùm sò, kẹo kéo thấy ớn hè. Hai là rượu vô, lời ra. Lỡ nói lớn tiếng một chút cũng không làm phiền hàng xóm đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi. Ý quên, cũng nhậu như mình. Ba là vợ anh Ba Cãi, nhũ danh Hai Chim, dân Rạch Giá rất giỏi nấu ăn, ngon bá chấy bù chét. Nhứt là món bún cá. Vì vậy mới có câu hát là: “Lần đầu ăn tô bún cá, chạy dìa Rạch Giá, bỏ má theo em”.

Mấy bà già Rạch Giá dạy con gái của mình là muốn đi tới cái túi tiền của đàn ông là phải đi qua cái bao tử của nó!

Thế nên, trước khi về nâng khăn móc túi anh Ba Cãi thì bà nhạc của ảnh đã dạy cho chị Hai Chim cách nấu bún cá Kiên Giang. Món gia truyền từ đời bà sở, bà sơ, tới đời bà ngoại rồi đời má như thế nầy nè: “Cá lóc trọng trọng làm sạch. Bỏ vô nồi luộc chín làm nước lèo để chan bún. Vớt cá ra và tách xương ra, lấy phần thịt. Tôm tươi có thêm gạch tôm thì hết sẩy, đem rim với một ít nước mắm đến khi cạn nước. Ăn với rau muống chẻ, rau răm, giá hoặc kẹt quá, rau đắng cũng được. Thịt cá lóc chấm nước mắm y có thêm vài lát ớt sừng trâu. Chảy nước miếng hè!

o O o

Sau 30 tháng Tư mất hết! Tới 8 tháng 5 Mother’s Day.

Má mình thì chết rồi, chỉ còn tiếng mẹ đẻ, mother’s tongue! Mà mình thản nhiên để tụi nó cướp luôn thì mình chết mẹ nó cho rồi.

Hồi mới quen anh Ba Cãi, tui cũng mê món bún cá Rạch Giá. Cứ tấm tắc khen ngon. Chị Ba Cãi cũng như con vợ tui, nghe khen là khoái. Móc hết ruột gan ra đãi khách cũng không từ. Chị Hai Chim rất sẵn lòng nấu bún cá cho tui nhậu nhưng chỉ yêu cầu tui là đừng có kêu bằng chị Ba Cãi nữa (chỉ không có thích bạn bè mà cãi lộn). Hãy kêu bằng nhũ danh: Hai Chim. Tôi hỏi Chim có ê không? Chị Hai Chim cười khè khè đáp lại: “Ðã gần chết nên không có ê”.

Dây thun lỏng

 Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

         Bắt đầu là tiếng “Huế mềnh” đặc sệt của một gã lưu vong đã ở xứ lạ quá nửa đời người- gợi nhớ một lần nghe ông Cao Xuân Hạo giải thích về khuynh hướng “càng ly tâm càng hướng tâm” khi tôi thắc mắc vì răng người Nam bộ vốn nổi tiếng ăn nói mộc mạc, giản dị mà trong ca dao tục ngữ lại giữ một lượng lớn thành ngữ Hán Việt cổ điển- rồi đến giọng “u-mua” lẫn tí mùi tán gái cợt nhã, bụi bờ, mà pha được điệu ngậm ngùi thế sự mới tài! Tôi cho nó phải là một trong những đặc trưng lối văn Hồ Đình Nghiêm.

“Khúc đưới” (phần dưới) của o Ngà được chính đương sự nhận là xấu- tiếc là người kể không nói rõ thêm “đưới” nớ ra răng mà chịu xấu rứa!- nhưng khúc đưới (kết) của truyện ngắn thì “couldn’t be better”.

Cảm ơn Nghiêm: Cái đau của đời có khi hơn… hoạn thiệt, nhưng cái đau văn chương đem lại đâu chỉ thuần thương đau.

Nguyễn Thanh Văn
Sài Gòn

Long người Nam, từ Sài-gòn ra trọ học, ở gần nhà và học cùng lớp nên chúng tôi làm bạn với nhau. Lối ăn mặc, cách tiêu pha có vẻ như con nhà khá giả. Hắn lỡ phạm một lỗi lầm nào đó, nên ra Huế, với hắn là bản án lưu đày mà gia đình đã tuyên xử, nỡ xuống tay. Thức ăn cay, mưa gió rả rích, phố xá nhỏ chật… hắn có thể tìm ra cả vạn lý do để minh định lập trường: Không cảm tình với Huế.

Một bữa, Long ghé nhà, hậm hực. Hình như đương sự có chửi thề. Tôi đang nằm đọc cuốn “Uyên ương gãy cánh” và những hình ảnh thơ mộng trong cuốn sách đã bị tước đoạt trong nháy mắt. Tôi hỏi, để được biết là hắn đi may một cái quần tây khá đắt tiền nhưng khi mang về thì phát hiện rất nhiều lầm lỗi. Thất bại! Hắn nói. Đó là chữ hắn thường dùng để chấm câu. Uống một cốc cà phê hơi nhạt. Thất bại! Mua một quả cam chua. Thất bại! Tất cả đều thất bại. Tựu thành một việc hằng mong mỏi, chưa bao giờ nghe hắn nói: Thành công.

Tôi trấn an, chuyện gì cũng còn có đó, ông may quần ở đâu?

Hắn có chiếc xe gắn máy, Honda 65 phân khối chở từ “trỏng” ra, gắn bảng số quận 3 Sài-gòn. Hắn từng giựt le với đám bạn học về cái sự bốc của chiếc xe và cả đám đều xuýt xoa, y như rằng cái con “hắc mã” đó là độc nhất vô nhị ở cái xứ hiếm của lạ luôn trầm mặc này. Chạy mau lắm thê, không phải nói trạng mô nợ. Một vài đứa trong lớp gốc gác ngoại thành phát biểu cảm tưởng. Tôi leo lên yên sau, ôm bọc giấy gói kín chiếc quần không như ý để hắn bốc tới nơi gây phiền hà. Tiệm nằm ngoài phố, bảng hiệu có người ra công vẽ sơn hình tháp Eiffel đồ sộ như thể cầu chứng, mang tay nghề về từ kinh đô ánh sáng.

Tiệm vắng, đứng bên chiếc bàn dài là người đàn ông tóc tém lui sau, chải mượt bóng dầu mỡ thấy rõ sự chuyên cần mà răng lược đã cày qua. Áo bỏ vào quần tươm tất, điệu đàng, đỏm dáng. Tiếc một điều chân mang dép cao su mòn vẹt và ông xứng đáng để đại diện cho những người thiếu thước tấc. Ông cao ngang vai tôi, cổ ông có sợi thước dây vắt tròng, vật trang sức như ta thường thấy nơi mấy vị chuyên nghề đo đạc.

Ông tính nói điều gì đó nhưng thoáng cau mày khi nhìn ra thằng bạn tôi. Hẳn ông đã đánh hơi ra chuyện thất thường. Hai đứa ni tới để kiện tụng chớ không phải mua sắm may mặc. Chúng tôi đã lựa thời điểm là sau buổi trưa, tránh giờ mở hàng “mất mì xưa” của chủ tiệm, mình chưa nói năng họ đã càm ràm nghe cũng ngán.

Rồi cái quần được trải thẳng trên mặt bàn dài. Tôi như đứa thông ngôn vì có khi mặt bạn tôi nghệch ra, ú ớ không hiểu lời phân trần. Tui đồng ý là khúc trữa có hơi bị nhăn nhíu, nhưng khúc đưới và khúc côi ni, anh xem đi, phải nói là khéo tay. Hàng vải ni rất khó may, anh thông cảm để tui chỉnh sửa lại. Côi, trữa, đưới. Thất bại, phải không? Tuy thương hiệu có vẽ cái tháp biểu tượng của Paris, nhưng ổng hổng nói tiếng Tây tiếng u đâu. Đậm đà bản sắc địa phương đó nợ, chớ mô lai tạp đầu Ngô mình Sở: Chín giờ kèn thổi “cu-sê”, thôi em ở lại anh về “áp-bên”. Coucher là ngủ ngáy mà appel là điểm danh, nôm na là tục tác gọi gà về chuồng, trời túi hung rồi.

75 là cú thổi “áp-bên” đầy xao xác khiến giấc “cu-sê” mãi không tròn giấc, hoặc có người làm cú “cu-sê” dài dằng dặc, dài miên man. Tất cả ngác ngơ lạc hồn như gà con mất mẹ.

Bữa nọ tôi ngác ngơ đi vào chợ trời để bán bộ áo quần còn lành lặn thì có người con gái gọi đúng tên tôi. Chiếc nón lá, quai lụa tím, tóc ngang vai. Tôi ngó và tôi tưởng tai mình nghe lầm. Tôi chẳng thể nhìn ra chút gì quen thuộc nơi khuôn mặt lạ lẫm kia. Anh Long bữa ni trốn ở chỗ mô hả anh? Long hả, thì nó vào lại Sài-gòn từ khuya, từ độ xấc bấc xang bang ai cũng giỏi chân tháo chạy. Có còn mô đây mà hỏi. Cô là chi của hắn? Chuyện dài lắm, lôi thôi lắm, làm răng nói năng? Chứ anh đi mô đây? Ôm kè kè cái bọc chi rứa?

Cô tên Ngà, đang hành nghề mánh mung. Cô thật thà khai báo. Cứ đi lòng vòng, gặp con nai vàng cỡ như tôi thì nhảy ra chận đầu, mua đi bán lại thứ “chà đồ nhôm” chôm đồ nhà. Thượng vàng hạ cám đều có thể tiêu thụ giữa thời buổi lắm phong ba mãi làm sấp ngửa.

Anh kẹt tiền hung? Ngà hỏi. Ai mà không kẹt. Tôi trả lời. Cần tiền để trang trải chuyện chi? Ậy, cà phê thuốc lá cũng xúi mình tằn tiện việc ăn việc mặc vậy. Cứ nhất y độc quỡn cho giống với người ta. Lạnh thân chứ không thể buồn miệng.

Nhờ Ngà, bộ áo quần lành lặn của tôi bay biến rất mau. Ngà đưa tôi nạm tiền rít rát như biết ứa mồ hôi, chất giấy xấu như thứ dành để cúng cô hồn. Em không lấy tiền công, anh có thể bao em một chầu cà phê cà pháo không?

Tôi chở Ngà ra tới đầu đường, chun vô ngồi dưới một mái tồn che nắng của cái quán nước tả tơi ghế bàn. Nền đất nện không phẳng, ly tách không đồng dạng, cà phê bít tất nằm trong cái ấm đen thui bắt trên kiềng ba chân có ngọn lửa mãi táp. Mấy thanh củi ẩm làm cay mắt. Hai đứa ngồi xuống ghế nhựa, phải xê dịch đôi chút mới tìm được sự quân bình. Một cà phê đá một chè đậu đỏ. Thằng nhỏ ở trần nói vọng lui sau, nơi có sợi dây thép chùng mãi rung động ba cái khăn nhàu rách đang phơi. Ngà ngồi gần, tôi ngó vô áo bà ba và thấy một đường khe rám nắng. Hình như vì trời oi bức, chẳng thấy bóng dáng chiếc xu-chiêng. Vóc vạc, mặt mày, tay chân, hình thể, tôi đoán tuổi Ngà khoảng hai chục, hoặc nhỏ hơn.

Em luôn loanh quanh khu chợ trời này, lần sau kẹt tiền nhớ chạy vô hú em một tiếng. Ngà nói khi nhìn chiếc xe đạp tôi dựng bên một gốc cây. Cây thưa lá nên nắng chang chang trên vuông đất khô. Tôi cũng thấy mình kiệt cạn dần, rụng từng ngày nghèo đủ thứ, nghèo tới độ có muốn đăng ký làm dân vô sản cũng bị họ chê bai, không đủ tư cách. Một ngày chẳng xa, tôi sẽ bán chiếc xe đạp ấy, tài sản giá trị cuối cùng để thoi thóp đón đợi tin vui. Người tôi yêu đã vượt biên, chả thèm ư hử. Tuy đau lòng nhưng tôi mãi mong cho người đến được bến bờ trong an lành. Cả tháng dài lâu chưa nghe vọng động. Ở ngoài chợ có bà bán cá thấy trong ruột nó lấp lánh chiếc nhẫn đính hột kim cương. Nghe lạ không? Chẳng lạ, nhưng nên tránh ăn cá biển. Ăn cá sông hồ và con nào càng nhỏ càng tốt. Hừ, tiền đâu mà mua cá to?

Cà phê cạn dần, hột đậu đỏ cuối cũng đã mắc vào kẽ răng Ngà, chuyện vãn nhạt thua cả nước đá; cuối cùng tôi bới móc về dấu hỏi vĩ đại: Vì răng em quen Long để rồi biết tới tên anh? Ngà đổi thế ngồi, tay cầm nón quạt lia quạt lịa, tóc Ngà phất phơ mà mặt tôi cũng đón được chút gió thơm mùi mồ hôi dầu của đương sự. Chừng mỏi tay, Ngà đưa mấy ngón mân mê sờ soạn chiếc quai lụa, mặt cúi xuống. Anh còn nhớ cái bữa mà hai người chạy tới tiệm may để ca cẩm kiện tụng chiếc quần tây không? Có thể là anh không biết chuyện ni, sau bữa nọ, chẳng biết răng mà anh Long siêng trở lui để may áo quần. Em ở dưới quê lên học nghề, hay đúng ra là lo cơm nước cho chú Quý, chủ tiệm. Ngồi khuất sau màn chờ nghe sai việc, nay đơm bộ khuy, mốt thì chạy u đi vắt sổ, giặt khúc vải, ủi cái áo… Chú Quý nói, tao chịu đèn cái thằng Sè-gòn đó rồi. Hắn nhiều tiền, không ưa mặc cả, dễ tính, là hạng người mà mình có chặt đẹp hắn cũng mần thinh. Hắn ưa ngủ đò cho biết sự tình mà tao can ngăn, vui thú chi nơi mà ham, chưa kể dây dưa tới bịnh tình. Chú đưa em tám ngàn, nói mi ngủ với hắn chút xíu có chết đi mô mà sợ. Em nhắm mắt đánh liều cho anh Long ưa làm chi đó thì mặc sức làm. Em thì ốt dột mà anh Long thì gà mờ, loay hoay chi chút mà cũng bở hơi tai. Anh nói: Thất bại! Lần khác anh lợi sẽ uýnh một trận ngó đường hoàng hơn. Giờ thì anh phải dìa.

Tôi có kinh nghiệm đau thương, là khi mà bạn đã lỡ bán đi một thứ gì đó, thì việc làm kia nó tạo trớn để bạn thấy dễ dãi tiếp tục lần hai, lần ba, lần bốn. Cũng có thể mang thành ngữ ra để giải thích, tựa như: Ngựa quen đường cũ, ăn quen bén mùi.

Chừng một tháng, sau khi gặp Ngà, tôi lại đạp xe vào “thị tại môn tiền náo”. Chỉ một tháng mà lắm đổi thay, chợ nhộn nhịp, người mua kẻ bán đông chật hơn, phạm vi được nới rộng ra. Duy có thứ vẫn bổn cũ soạn lại, vẫn một mực giữ nguyên, đó là thần sắc người ngợm vô ra thảy đều lạc hồn xanh mướt chân đi xiêu lạc áo quần tả tơi. Sáng ra đứng phố ngồi hè, phồn hoa đô hội đâu dè thế ru.*

Ngà rất mừng khi ngó thấy tôi, cái tở mở thành thực nằm đọng trong đôi mắt long lanh. Ngà đủ thông minh để hiểu thấu cớ sao tôi dẫn xác vào chốn này. Ngà phủ bàn tay lên những ngón tôi bấu vào gi-đông xe. Anh tìm em phải không? Chơ cớ làm răng mà mặt anh xanh ngắt ra rứa? Tôi thiếu chất dinh dưỡng, bên bệnh viện họ phán thế. Cậu thiếu vitamin, thiếu đủ thứ, A, B, C, D, E. Đừng có đi bán máu nữa nhé. Tôi viết cho cậu tờ giấy chứng nhận để khỏi phải đi lao động xã hội chủ nghĩa vào chủ nhật tới. Nên bồi dưỡng, nên tranh thủ ăn nhiều chất đạm vào. Nhớ chưa?

Tôi không nhớ gì cả. Tôi chỉ nhớ Ngà. Tôi thiếu vitamin N. Khủng hoảng thiếu. Trầm trọng vắng. Tôi hỏi Ngà ở đâu? Ngà nói ở chung với đứa bạn buôn bán ve chai và đồ đồng nát, gần chỗ ni, có điều tồi tàn lắm, cốt để tránh gió mưa. Chỉ chỗ đi, anh chở em về. Anh đang nói chơi à? Nói chơi làm chi cho tốn hơi. Anh nói thiệt, anh bán chiếc xe đạp ni cho Ngà, mua không? Ôn mệ ơi, tiền bạc mô đủ mà mua anh. Đời em như tấm mền rách thì anh cũng đã chộ rồi. Bậy nà, anh chưa hề thấy qua. Nói thiệt nghe, khúc đưới của em có hơi xấu, ở côi thì ngó tàm tạm, còn khúc trữa? Chắc Ngà phải cho anh thấy mới nói năng linh tinh như ông Quý tiệm may.

Ngà cười một tràng trong vắt. Nếu tôi là bạo chúa sẽ bắt Ngà về cười suốt, thay vì nghe tiếng xé lụa hoặc tiếng lửa reo bên doanh trại đối phương. Một tiếng cười hưng phấn. Ngà nhảy phóc lên yên sau, mang nguyên cả cánh tay ra ôm choàng lấy tấm thân gầy xé gió của tôi. Tôi cảm nhận được cái mềm mại của trái vú sữa nằm gần khúc côi của Ngà. Thứ trái cây rám nắng tự nẩy nở lấy mà chẳng nhiêu khê chín giú trong xú-chiêng.

Cửa đóng then cài không lâu, tôi và Ngà lần lượt mở khóa cho nhau. Ngà mặc quần vải mỏng có tròng giây thun ở lưng, thắt thỏm. Đói ăn bụng lép rồi giây thun đang tới hồi lỏng, mất tính đàn hồi co giãn nên chi thoắt một cái là khúc trữa lộ hình. Nó sẽ tiết ra một giòng sữa mật mà riêng viện bào chế chẳng chịu gọi là vitamin. Nó sẽ bồi dưỡng cho tôi thứ mà văn học gọi trái cấm ở thiên đường nhiều cám dỗ.

Tôi ôm giữ lấy khuôn mặt Ngà. Tôi hôn vào môi khô đang bấn loạn thở. Tôi đồng ý với anh là khúc đưới hơi thô thiển, nhưng phần côi và khúc trữa xoắn tít những cụm chỉ rối vụng về tay gỡ, thì phải mạnh dạn để nói, đó là tặng vật của đời.

Tôi vật Ngà xuống tấm chiếu có vẽ hình long phụng đưa móng bám giữ chữ Phúc. Hôm qua, tôi nghe hung tin, người yêu tôi (người tôi yêu) đã bị rơi vào tay bọn hải tặc Thái. Tôi đã chết, hôm qua. Và hôm nay, hồn ma tôi chợt hiện. Nó yêu Ngà để nước mắt quỷ sứ tự dưng chảy hoen ra chiếu lạnh.

Tiếng rao “Có ai bán nồi niêu chén bát sứt cọng gãy càng không” chẳng làm cho hai con thú tật nguyền phân tâm. Chúng mãi chia ngọt sẻ bùi dưới căn hộ hoang sơ tựa một cổ mộ mà thời buổi đương đại này chưa đủ chất xám để định hình, giải mã, rêu rao.

Dấu che suối nguồn

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 1 May 2022
Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Chuyện thật, từng xảy ra ở thành phố Montréal. Năm mươi phần trăm là hoang tưởng của đứa thuật lại, nhân ngày Phụ Nữ VN 20 tháng 10.

Câu chuyện bắt đầu chỉ xảy tới riêng cho cá nhân Linda. 29 tuổi, mẹ của đứa con nhỏ vừa tròn bốn tháng tuổi. Linda đẩy xe có thằng cu đang say ngủ vào thương xá, nóng bức tháng bảy bị chận ngay sau cánh cửa gương vừa khép đóng. Những cái máy lạnh có thể đang chạy hết công suất, và diệu kỳ thay, nó lột thật mau những màu da đỏ ké, mồ hôi chóng khô, để sự tươi tỉnh dội ngay xuống thần sắc con người.

Đang mùa sale, những cửa hàng đều dựng bảng giảm giá, tới 75 phần trăm. Linda sẽ tới gian hàng My Angel để lựa mua áo quần cho thằng cu. Nó đã thức giấc, như đa số các thiên thần nhỏ, nó bắt đầu mếu máo và làm trì hoãn chân đi của mẹ nó bằng tiếng khóc. Con đói bụng rồi đó hả? Linda cúi mặt xuống âu yếm hỏi, cô tìm tới băng ghế trống, ở góc khuất và ẳm nó lên. Linda cởi ba hạt nút áo, dùng một tay khai mở một bên ngực, bày biện cái bầu sữa mà thằng cu đang tơ tưởng tới. Dĩ nhiên là nó nín khóc ngay, lim dim mắt thụ hưởng. Môi ướt với dòng sữa mẹ ngọt ngào tuôn chảy, chút chít, mút, nuốt. Không quá năm phút, một gã đàn ông lù lù dẫn xác tới sát hiện trường. Madame, xin lỗi, bà không được phép vạch áo (cho người xem ngực) ở chốn này. Trời đánh tránh bữa ăn, hẳn thằng người không ưa nhìn vú ấy chẳng biết mô tê gì về tầm mức quan trọng nọ. Ngay cả thiên lôi cũng lo mà thu búa sau lưng chờ kẻ xấu số xơi xong tiệc cuối mới hậu tính. Tại sao? Tôi làm điều gì không phải? Linda ngước mặt lên hỏi. Nếu bà cho cháu bú bình thì ok, bằng không xin bà chịu khó ra khỏi chu vi cửa tiệm, nó nằm trong những điều lệ ngăn cấm của bổn hiệu. Xin lỗi nếu tôi nói điều không phải…

Đó là tất cả câu chuyện mà Linda đã đưa lên Facebook, chỉ sau một ngày có tới 46 người đưa ý kiến. Tuyệt đại đa số đều tỏ rõ bất bình, có người trách cứ là Linda hiền quá, phải làm lớn chuyện, nó tệ hại hơn cả nạn kỳ thị chủng tộc. Ngày thứ hai, số người truy cập là 52 và tất thảy đi đến quyết định: Hãy vận động rũ rê quý vị phụ nữ đang có con thơ, chúng ta hẹn gặp trước cửa hiệu đó vào lúc 12 giờ 30 ngày Chủ nhật tới và đồng loạt vén áo cho con bú. Phải cho bọn đàn ông làm việc trong cửa hàng đó hiểu, lúc bé má mày cho mày măm bằng cách gì? U mê bú sữa bò sao mậy?

Rồi sao nữa?

Rồi thì sự việc diễn tiến đúng như hẹn ước. Y như một cuộc biểu tình bất bạo động. Khu thương xá ấy có hơi chộn rộn phút đầu, những người đàn bà đi thơ thẩn mua sắm quanh đó khi nghe chuyện cũng sà tới ủng hộ. Mẹ rượt, cho con bú thôi mà, có ai ưa chơi trò lộ hàng công xúc tu sĩ đâu mà la làng. Cho tớ nói thiệt nghe, bản thân tớ từng vén áo cho con bú, ngay cả thằng chồng tớ đứng xớ rớ ra đó cũng bù trất, chẳng thấy khuôn trăng đầy đặn nuột nà nơi ngực tớ.

Em thuật chuyện cứ y như rằng em cũng có mặt tham gia.

Ủa, anh nói hay. Em đẩy con em tới lúc 1 giờ, em ngồi sau lưng Linda.

Em cũng bày hàng?

Nực gà. Sao lại dùng chữ bày hàng? Cái đầu baby nó án che toàn diện…

Thế kết quả ra sao?

Kết quả là đích thân thằng quản lý phải chạy ra xin lỗi toàn thể quý bà mẹ. Chúng tôi sẽ có biện pháp thích đáng nhằm giáo dục những nhân viên ăn nói thiếu lễ độ và trên hết, chúng tôi sẽ hủy bỏ những điều lệ cứng nhắt không phù hợp kia. Mẹ tôi biết chuyện cũng la tôi quá chừng chừng. Ông ta pha trò trong khi đi bắt tay từng người. Và ông sai một nữ nhân viên trong cửa hàng đi trao tặng mỗi đấng nhi đồng một cái yếm cột ở cổ để kỷ niệm về câu chuyện không hay lỡ xảy ra dễ làm sức mẻ uy tín của thương hiệu.

Đã tới giờ em cho con bú chưa?

Hỏi chi vậy? Nó đang say ngủ mà. Đừng nói với em là lúc bé anh cũng chỉ biết tu bình.

Đâu có. Mẹ anh nói cho con ngậm vú rất lợi hại. Khỏi uống thuốc ngừa thai nè, tránh ung thư vú nè, con thông minh cực giỏi nè… tiếc một điều là vú mẹ anh nhỏ, sữa không có mấy, nên…

Nên anh trường kỳ chơi sữa ông Thọ chứ gì.

Đâu có, mẹ anh tha qua nhà hàng xóm, người đàn bà láng giềng kia luôn than đau ngực vì căng sữa quá mạng. Bả thấy mặt anh là xởi lởi vén áo lên ngay, cho con hết đó, bú đi để chóng lớn, mà lớn rồi thì đừng quên hai bầu sữa này nha.

Và dĩ nhiên là anh quất ngựa truy phong.

Sao em dùng chữ nghe kỳ khôi thế!

Chứ không phải à? Cũng ăn nằm với người ta, được người ta cho bú mớm. Nói cho anh biết khu vực đó của phụ nữ chỉ dành riêng cho đối tượng đáng yêu mà thôi.

Giặc giã, anh bỏ làng bỏ nước đi xa, làm sao hơn. Bây giờ anh chẳng được thông minh như ông này bà nọ thì không khéo là do bởi nguồn sữa bà kia dường như thiếu vitamin X. Bú riết nên hơi bị chậm lụt.

Cái gì gọi là vitamin X cha nội?

Ý anh muốn nói là anh thiếu chất xám. Xám là x chứ còn gì nữa. Em làm như X chỉ dành độc quyền cho chuyện đó không thôi. Chồng em ngon lành không?

Chữ ngon lành đó trừu tượng quá. Ảnh rất ngon cơm.

Ngon cơm cũng rất mơ hồ. Chồng em thích ăn phở không?

Hổng có đâu. Điện nước em đầy đủ mờ, với lại em có cách để miệng lưỡi ảnh không khi nao thấy nhạt mồm ưa ăn chùng ăn vụng.

Giỏi hén! Ngẫm lại anh quả vụng tu, quen được em mà chưa một lần cầm tay nắm chân thì em vội sang ngang mất đất.

Hỏi thiệt nghen, anh ở không vậy chẳng thấy sốt ruột sao?

Em có nghĩ tình xưa không? Nếu có thì giúp anh một phen.

Ý, chết cha, thằng cu dậy rồi, tới giờ cho con măm rồi.

Em làm anh thấy đói bụng muốn sôi ruột.

Anh ngó lơ chỗ khác cho mẹ con em được tự nhiên.

Cũng dễ thôi, em cho nó bú đi. Có ưa nghe chuyện tiếu lâm không?

Anh kể đi, vừa kể vừa ngó ra ngoài đường.

“Trên tàu hỏa, một bà mẹ trẻ cho con bú nhưng đứa bé cứ khóc nằng nặc, không chịu ngậm vú. Bực mình, bà mẹ mắng: Bú đi nào, không thì mẹ cho chú kia bú bây giờ. Mắng tới ba lần mà đứa con vẫn không chịu bú. Đến lúc đó, cậu thanh niên ngồi đối diện mới lên tiếng: Chị nói cháu quyết định nhanh lên, tàu đã chạy qua những 5 ga rồi đấy!”

Thôi đi cha, coi chừng thằng con em bị sặc bây giờ. Lấy từ đâu hay chính anh sáng tác đó. Tức cảnh sinh tình.

Anh từng thử sữa mẹ rồi, em tin không? Mới đây thôi.

Có bà hàng xóm nào tốt bụng với anh thế?

Anh có dịp sang London, trước khi Kate vợ của Prince William hạ sinh cơ. Anh vào một quán cà phê ở khu thị tứ Piccadilly. Ở đó họ quảng cáo, cà phê sữa người 15-pound một cốc.

Và anh đã thử? Ngon dàng trời?

Không. Cực kỳ thất vọng. Lơ lớ, ngọt, nhạt, mặn, hơi tanh. Anh nói thật, sao con nít nó ghiền vú mẹ đến thế được nhỉ!

Xì, ai biểu dộng nó vào cà phê làm chi. Uống không xem thử ra sao mà bày đặt chê bai. Nè, sao cái đầu anh tự động đi hoang thế.

Có thấy gì đâu mà nạt nộ. Tình xưa nghĩa cũ sao đối xử với nhau khắt khe dường ấy!

Em còn đứa em ở bển. Đẹp hơn em, dễ thương hơn em, thông thoáng hơn em, trẻ hơn em, bắt buộc rồi. Anh ưng ý thì gọi em bằng chị hai, có ô kê không nè?

Vậy à. Có nghĩa là anh sẽ lặn lội “vinh quy bái tổ” áo gấm về làng ẵm cô nàng dìa dinh Canada.

Ậy, không lẽ vô cớ mà nó xuất dương đi tìm chồng. Sao ngược ngạo khó nghe quá! Nó vẫn còn ở Sa Đéc, mình mẩy trù phú đồi núi uốn lượn cò bay thẳng cánh. Anh biết Sa Đéc ngon lành hào sảng ở chỗ nào không?

Nói nghe ham. Thằng nhỏ chê vú em rồi kìa.

Sao bú lẹ vậy cưng? Bị có người lạ dòm lén mắc cỡ quá cưng hén!

Anh mà lấy em của em làm vợ thì ra nghiêm lệnh dứt khoát cho con bú bình.

Sao vậy?

Lỡ má nó tiếp khách đúng lúc nó đói thì khách cũng như má nó khỏi phải cắn rức lương tâm, căng thẳng hồi hộp các thứ.

Đồ quỷ nà! Để hát tiếp bài ca ngợi Sa Đéc. Anh về Sài-gòn há, ra chợ mua trái cây một chục: Mười trái. Anh xuôi Mỹ Tho hoặc Bến Tre, một chục: mười hai. Cái Bè, Vĩnh Long hoặc Cần Thơ bảnh hơn, một chục: Mười bốn trái. Tới Sa Đéc? Khà khà. Chục, mười tám. Ăn chơi không sợ mưa rơi. Sướng chưa. Nghĩ mà xem. Chị bán cho tôi chục vú sữa. Dạ, để em lựa cho anh 18 trái căng mọng mịn màng. Xời, những mười tám trái vú sữa, tha hồ măm!

Điệu này không về không xong. Nhưng mà tự dưng khi khổng khi không kêu em bằng chị nghe ngượng ngùng quá xá quà xa.

Mắc cỡ nữa à tía? Xưa nay tình chị duyên em thì cứ xảy ra hà rầm, hơi đâu lo bò trắng răng. Dị đi nghen, có ưa hôn?

Ưa không hay ưa hôn? Ưa, hôn ở đâu?

Già dịch gì đâu không á. Trước, may mà tui hổng lấy anh làm chồng. Trời ngó xuống mà coi, làm vợ ảnh thì làm sao chịu đời cho thấu.

Làm bộ hoài. Biết vậy sao còn đem tui đi cặp đôi với cô em. Nè, bảo lãnh xong, đợi vợ chồng đoàn tụ, bọn mình góp tiền mua cái nhà lơn lớn để ở chung cho đề huề nhá?

Xí, nghèo mà ham. Thôi, đến giờ trở vào hậu cung rồi. Chồng tui đi mần về mà ngó ra cảnh này bụng ảnh hổng vui. Cơm không lành canh không ngọt thì buộc lão phải đi đớp phở thôi, trách chi ai?

Thì bất quá nói lớn tiếng với ảnh: Thằng cha này tới xin địa chỉ ở Sa Đéc, không chừng mai mốt tụi mình có thằng em đẹp giai không bằng chai mặt. Anh ẳm thằng cu cho em được rảnh tay chút xíu nào. Bậy thật, cứ lu bu miết, khách tới nhà chẳng cho hắn miếng nước nào cả, nghĩ cũng tội.

Chiếc áo chủ nhà chưa kéo xuống vì không được rảnh tay. Trước khi bước ra hướng cửa, khách còn nuốt nước bọt vì trời sinh ra quả vú sữa nhiệm màu. Trời ạ! Chục mười tám nghe ham. Không cách chi khô cạn nguồn cơn được. Sữa chảy lai láng. Mút mùa lệ thủy!

Hồ Đình Nghiêm

Đất thần kinh

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 12 May 2022

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

“Thưa Em xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
”
(Bùi Giáng)

Tôi bỏ Nha Trang mà đi sau chuyến vượt biển không thành. Ý trời. Cả bọn mười mấy mạng bị sa lưới. Tôi và Vân vận hên lọt sổ, thất thần gặp nhau ở bến xe đò nửa mừng nửa lo và chẳng đứa nào nói được nên lời. Tôi dắt Vân về nhà ông cậu ngủ tạm một đêm. Đêm hầm hập nóng, mái tôn chuyển mình giãn nở kêu ca và bóng tối ngoài sân cát như biết dồn ép tới căn nhà nỗi bất an khiến đứng ngồi không yên.

Vân moi trong lưng quần ra một “cây” cuối cùng dành để “hộ thân hộ thổ”: Nhờ cậu tìm cách mua giúp con cái giấy đi đường… Tao vào Sài Gòn. Còn mày? Tôi ngó chăm vào cây đèn dầu. Ngọn lửa của nó thấp thỏm cháy, khiến sau lưng chúng tôi là mảng bóng đen, dính vào vách liên kết những hình thù quái dị, tựa hồ ai đó đang lặng lẽ dán sát mình để lén nghe. Tôi thử quan sát phản ứng ở người cậu râu tóc bạc trắng. Đèn thì đỏ quạch, câm nín vũng sáng. Mặt ông cậu thì đen đúa một nỗi chịu đựng quen thuộc, gần như lãnh cảm. Có vẻ ông ngầm ưng thuận lời yêu cầu của Vân. Quay sang tôi: Mi cũng nên trốn đi cho yên thân. Ông ho khan: Về Huế chẳng hạn.

Tôi nghe lời, chẳng gợn lòng tính toan. Hai hôm sau chính thức vượt biên dật dờ vào địa phận tỉnh Bình Trị Thiên. Vân rất tình nghĩa, giấy đi đường giả làm công nhân viên cung ứng vật tư tỉnh Phú Khánh, vé xe đò mua giá chợ đen và chút tiền dắt túi của tôi có được đều do bởi lượng vàng ròng chia hai hiếm qúy kia. Hôm chia tay, Vân ôm tôi, siết chặt như thứ hành động dành riêng cho tình nhân bạc phước. Hắn nói trong cúi mặt: Chúc mày tai qua nạn khỏi khi về chốn chó ăn đá gà ăn muối. Tôi không thấy bịn rịn. Tôi chẳng nghe ra chút bồi hồi thổn thức. Tôi đứng cứng đờ. Cảm xúc trong người tôi đã trút đi đâu? Là những thùng dầu chôn sâu dưới cát. Chôn mất dấu và bới tìm nhọc công. Tôi xô nhẹ Vân ra nhưng mấy ngón tay Vân vẫn cố bấu vào hai vai, mắt thì nhìn sâu vào mặt tôi. Hắn muốn thu giữ vào trí nhớ lần cuối? Hắn sẽ hôn vào môi nếu tôi là… con gái. Tôi nghĩ vậy. Và tôi xua đuổi: Thôi, mày đi lẹ kẻo trễ tàu. Không một lời chúc lành. Chẳng một tiếng cám ơn. Rồi Vân sẽ tự tìm lấy lý do: Chắc tại nó bị hứng cái “sốc” quá nặng? Chắc là khi cảm động, người ta thường để lộ sự vụng về? Vân gầm đầu đi, tôi ngó theo. Thằng bạn sót lại của tôi, cuối cùng đã biến mất theo kiểu ấy. Tựa những bàn chân người hằn xuống hỗn độn trên bãi bốc đã được sóng tràn vào liếm cho sạch dấu tích, trơ lại là bờ cát ẩm nằm trân tráo. Tôi chôn chân trên mặt đất Nha Trang rạn nứt những kỷ niệm, cô đơn vô bờ. Ông cậu nói như trấn an: Mi về ngoài nớ có gì thì con Cúc nó bao che cho một thời gian…

Xe đò rệu rã chạy dần vào thành phố. Huế có cơn mưa giông rãi xuống trắng xóa đón lấy tôi, mù mịt. Tứ bề là mưa, chẳng nhìn ra phương hướng. Tôi lẩm bẩm cái tên xa lạ của người chị. Cúc, Cúc, Cúc…

Đó là người đàn bà chẳng có gì để khiến người khác phải chú ý. Lần hồi, sau khi hai miền đã thông thương, hình như ai cũng tập làm cho con mắt quen dần với thứ hình ảnh gần như đồng dạng rập khuôn ấy. Cái áo cụt may có hơi chật làm khổ đôi vú, quần đen bèo nhèo hà tiện vải ngắn lên mắt cá và chân mang đôi dép có gót mà quai nhựa không ôm giữ nổi những ngón, làm chúng có vẻ luôn muốn “giải phóng” ra khỏi bàn chân đi bước nặng nề cục mịch. Tình máu mủ là cái gì thật trừu tượng, buổi gặp mặt lần đầu tôi ngồi lặng thinh đốt khói. Quà của chị Cúc mang vào cho là mấy gói thuốc Tam Đảo và ít phong lương khô sản xuất từ Trung Quốc. Chúng nó gợi lên sự háo hức tò mò nhiều hơn là đón nhận sự xuất hiện bất ngờ của chị ở cảnh đoàn tụ rất đỗi ngỡ ngàng mà thực tâm người ta không ai đủ tỉnh trí dọn lòng đón tiếp. Chị hỏi han tôi đủ chuyện, những dấu hỏi mang chở sự ngây ngô như một người lỡ ngủ quên ở giấc mộng dài mười năm không ngờ dòng đời vẫn thúc bước đi xa. Ban đầu chị gọi tôi bằng cậu, một lát thì kêu tên và sau cùng, như “tiếp thu” được cởi mở, chị mới dùng chữ em.

– Em đừng lo sợ và đừng che đậy. Trường hợp mấy người anh đó nếu họ thành tâm thì cách mạng sẽ khoan hồng thôi. Chị sẽ tìm gặp họ để động viên tinh thần…

Chị nói ra ở cửa miệng những chữ lạ, nghe rổn rảng. Tôi chẳng có gì để lo sợ, để gạn lọc tìm cách che đậy. Nếu có cảm nhận nỗi bất an nào, thì chị phải hiểu đó là do bởi ngôn ngữ chị dùng, chị nói thứ phương ngữ lạ lẫm khiến tôi lo âu. Tôi kể tên mấy ông anh cùng chức vụ họ có được sau bảy tám năm phục vụ mệt mề trong quân ngũ. Người anh hơn chị hai tuổi quân hàm đã là Đại úy và giờ này thì chẳng rõ anh ra sao? Tự tử? Dắt một ít tàn quân đóng chốt đâu đó và đánh hết rác ở ván bài cuối? Thoát ra được tàu Mỹ neo ngoài vịnh Cam Ranh? Hoặc như số đông, vượt vĩ tuyến 17 trong đêm bít bùng, ra ở tù tận ngoài Hoàng Liên Sơn?

Chị Cúc luôn thay đổi sắc diện, ngồi thu một chân trên ghế, mặt lộ ngao ngán, khi thì đăm chiêu lạc hồn. Miệng chị rộng, hai hàng lông mày thưa nhưng tóc thì quá rậm quá dày quá nhiều quá rối. Chẳng biết chị giống ai trong nhà, chị khác thường đủ mọi phương diện. Tôi hỏi chị làm gì ở ngoài đó? Chị không nói. Tôi rụt rè hỏi chị lập gia đình chưa? Chị thở dài. Tôi nghĩ, chị là một trong số đông những người chiến thắng. Ngày hôm nay, chị thong dong ngồi đây với thứ diện mạo ủ dột, váng vất niềm thất vọng thì kể cũng lỗ lã cho chị quá. Chị hy sinh nhiều thứ để cuối cùng cá nhân chị được bù đắp điều gì? Gia đình chẳng còn ai ngoài tôi, thằng em út chưa bị chiến tranh lôi kéo nhập cuộc, lí lịch sạch như một cuốn vở trắng. Nó không có tiền của vật chất, nó chỉ giàu sụ nỗi ngờ vực hoang mang. Nhen nhóm trong lòng tôi niềm trắc ẩn, gần như thương hại chị. Nỗi niềm đó đánh giạt phần nào sự ác cảm luôn mọc trong tiềm thức mỗi khi tôi nghĩ tới kẻ đến từ phương Bắc. Có đêm ngủ sâu giấc mộng mị tôi thấy Hà Nội được giải phóng, nhìn rõ cuộc đời chị Cúc đang rẽ sang bước ngoặt mới. Chị thơ thẩn bên hồ Hoàn Kiếm, dừng chân ở cầu Thê Húc mà mùa thu đang vờn gió nhẹ trên vạt áo dài may tay raglan thêu thùa hoa lá công phu. Chị uốn tóc, tô son kẻ mày và lấy được ông chồng… tư sản mại bản.

Tôi đứng lạnh run trước cánh cửa đóng chặt. Tôi đã thử gõ lên đó, từ tốn, cấp bách, dồn dập nhưng chẳng có kết quả. Tần ngần, tôi thu hai tay vào túi quần, đi nép sát mái hiên tránh mưa để tới bên một cái tủ bán thuốc lá có che bao ny-lông nằm nhô ra cách đó hai căn.

– Lấy cho anh mấy điếu thuốc.

Đứa nhỏ bán hàng ngó tôi như ngó thằng chuyên môn đi cướp giật. Nó ngồi thu lu, hai đầu gối cao tới mang tai.

– Đưa tiền đây. Thuốc gì? Bao nhiêu mới đủ mấy điếu?

Tôi nói tên một loại thuốc đen và trao vào tay nó tờ bạc nhàu nát.

– Em biết chủ nhà bên đó không?

– Con mẹ Cúc bộ đội hả? Ai mà không biết?

– Ừ. Con mẹ bộ đội tên Cúc. Tôi lập lại chậm rãi từng chữ. Miệng tôi đắng và Huế chưa hề cho tôi niềm vui nhỏ từ hôm tôi xuống tới bến xe. Thành phố ghẻ lạnh, dù tôi xa nó chưa bao lâu. Tôi thực sự là đứa con hoang, với tất cả những thành phố, không cứ là Huế thiết thân. Đứa nhỏ trao thuốc và vui vẻ loan tin:

– Giờ ni thì mụ ta có mặt dưới rạp chiếu bóng Khải Hoàn chứ mô có ở nhà. Bộ muốn tìm mụ Cúc hả? Dưới đó đang chiếu phim thần thoại của Liên-xô, tha hồ mà nghe mụ ấy thuyết minh kể lể chuyện hoang đường.

Tôi thắp một điếu thuốc. Buồn miệng chỉ biết hút, bởi chẳng thể kiếm được thứ gì để đút vào mồm. Lạ một điều là khói thuốc có thể giúp người ta cưỡng chống cơn đói, hoặc khi ngậm điếu thuốc, môi bận bịu, người ta sẽ bớt phát ngôn linh tinh. Con bé này có ngày tai ương sẽ đón đầu nó bởi nó có vẻ luôn ngứa miệng, ăn quàng nói xiên. Tôi thu cất những điếu thuốc vào chỗ khô ráo nhất trong người rồi cắm đầu chạy dưới mưa. Rạp Khải Hoàn kia rồi. Nó không thay đổi gì ngoài bề mặt ngoại trừ bất ngờ dung nạp thêm chị Cúc vào làm việc bên trong. Chuyện gì đã xẩy tới với chị để khiến giờ này chị phải thuyên chuyển công tác về làm cho cái rạp chiếu bóng cũ kỹ này. Tôi không tin là nhà nước thanh lọc lại cán bộ để phát hiện ra cái lý lịch “đen tối” do gia đình ở trong Nam ảnh hưởng đè nặng tới chị. Hai chị em đã có lần bất đồng ý kiến khi tôi điền bản tự khai trong tờ đơn đi xin việc với sự hướng dẫn của chị. Lần đó, chị hỏi:

– Kể chị nghe, vì sao mẹ chết?

– Bị bệnh ngặt nghèo. Năm 72 tụi này đưa mẹ đi nằm hai ba bệnh viện điều trị, xoay xở mãi vẫn không qua khỏi.

– Chắc không?

– Việc gì phải dấu chị điều đó?

– Thôi, như thế này nhé, ngang đây em cứ ghi bị chết vì bom đạn của Mỹ Ngụy trên đường sơ tán từ Quảng Trị vào Huế.

– Sự thật thì bao giờ cũng hơn. Vả lại có những điều không đáng để mình ngụy tạo.

– Sao là không đáng? Nghe lời chị đi. Em sẽ phải tìm ra một công việc thích hợp. Chế độ này ai cũng lao động cần cù…

Sau đó câu chuyện dẫn dắt tới một cuộc cãi vã nặng nề mà tôi là kẻ thua cuộc. Tôi dong hai tay đầu hàng cho chị khỏi mắng tôi bị “chúng nó” tiêm nhiễm tư tưởng phản động. Tôi buồn chán cuộc sống mới, tôi vơ một đống đồ kỷ niệm trong gia đình mang vào chợ trời bán đổ bán tháo. Tôi bỏ Huế, tôi đi bụi đời và tôi đi một mạch vào tuốt Nha Trang.

Lòng thù hận của con người thật khó hiểu, đã đành, sợi giây nối kết tình ruột thịt của chúng tôi thì sao? Gặp lại nhau lần thứ hai này, chị Cúc sẽ có thái độ nào? Tôi không biết. Xui cho tôi quá, lý ra giờ này tôi ngồi trên ghe và xa xăm ngoài trùng khơi là vùng đất của tự do, con người ở đó sẽ nhân đạo đưa tay cứu vớt chúng tôi, họ chẳng mấy thiện cảm nhưng họ ái ngại, thương hại cho lũ người bị chủ nghĩa cộng sản bức hại tận đường cùng.

Tôi đứng xếp hàng và mua một cái vé với giá rẻ nhất. Bán vé là gã đàn ông có vẻ kháu ó. Nhìn quanh, công nhân viên toàn là phái nam, họ làm việc chẳng mấy hứng thú, tuồng như bị bắt buộc, miễn cưỡng. Không riêng tôi, trông họ cũng đang đói rét. Cái ưu việt của giai cấp vô sản là chúng tôi không có hố sâu cách biệt: Xanh mét. Thèm ăn. Thèm ngủ. Tự mình đánh thắng những thèm muốn viễn vông khác. Thúc thủ!

Hơi ấm trong rạp mơn trớn vào da thịt khiến dễ chịu. Ngược lại, nhiều ngọn đèn không chịu “cần kiệm” đồng loạt thi đua mức độ ánh sáng chiếu vào những khẩu hiệu giăng đầy tường làm tôi choáng váng. Mọi thứ dùng để trang hoàng trong rạp chiếu bóng khiến nó biến đổi gần thành một tòa án, chỉ thiếu quan tòa, chỉ thiếu vành móng ngựa. Con người ngồi không yên chỗ kia thảy đều là tội đồ. Không phải sao? Đã là người thì ai mà chẳng tạo nên lỗi lầm!

Chỗ ngồi có ghi số trên tấm vé nằm sát lối đi vào phòng vệ sinh. Mùi hôi khai luôn xô đẩy ra từ sau tấm màn vải lem luốc treo thế cánh cửa, và ở vị trí này người ta thường giễu bằng cụm từ: Bắt tay với tài tử. Con bé bán thuốc lá quảng cáo có thể đúng, phim hấp dẫn không mà người đi xem cũng khá đông. Và khán giả thích thú với loại thần thoại hoang đường thì xem chừng cũng hơi khác thường. Họ dễ tính và cởi mở ra mặt, hơi bị vô tư. Một tên thanh niên cỡ tuổi tôi ngồi ghế bên lân la gợi chuyện:

– Phim ngộ lắm nghe. Tui coi lần này là lần thứ hai… Thiệt tức cười…

Giọng nói khan. Thứ giọng của người thường đến cửa quan kêu gào nỗi oan ức, hoặc của tên chuyên bán thuốc xổ sán mãi-võ-Sơn-đông mà ta thường bắt gặp ở những bến xe. Khản tiếng giống ông mù biết xuống sáu câu quanh quẩn những tụ điểm ăn nhậu. Khàn đục tựa tiếng rao của thằng bé bán bánh mì nóng mới ra lò. Có thể ca sĩ chuyên nghiệp cũng có thứ giọng đó, bởi người ta bảo: Tiếng hát át tiếng bom.

– Tui để ý rồi đó, trong phim của Tiệp, Hung, Ba Lan, Liên-xô không bao giờ mình trông ra bóng dáng một thằng “Tây đen”. Họ kỳ thị dữ lắm chứ không giỡn chơi đâu nghe.

Tôi ngó hắn bằng nửa con mắt, có nghĩa là nhìn mà không cần phải quay đầu. Tóc hắn lởm chởm, ướt nước mưa. Đã có tên thợ hớt tóc nào cố tình chơi khăm vọc dao vọc kéo lên đó để tiả thành lông lá một con nhím đang tới hồi bệnh hoạn. Ở khuôn mặt coi rất tếu đó luôn nở sẵn nụ cười ngây dại. Nụ cười của một người già trước tuổi, bao dung với những nghịch cảnh luôn tìm đến.

– Bỏ ra về nửa chừng là mang tội đó nghe. Tức cười thiệt. Phim hay ai lại dại dột chẳng muốn coi?

Như ngồi trên lửa, hắn ta luôn loay hoay trong phạm vi cái ghế gỗ chật hẹp. Khi ngả đầu vòng tay trước ngực, khi chồm người tới lấy móng tay khảy lên đường nứt trên lưng ghế trước.

– Tụi nó phá cho hư hỏng ra cả. Ba tui mà thấy được chắc ổng buồn lắm…

Tôi ngoái đầu lui dáo dác nhìn lên lầu, may ra bắt gặp bóng dáng chị Cúc đứng đâu đó gần buồng chiếu phim.

– Sốt ruột hả?

Tôi mỏi mệt tới độ không gióng lên được một tiếng: Ừ. Phải chi hắn ngồi yên, hắn bớt phát thanh, và rồi tôi có thể chợp mắt một khoảnh khắc.

– Thời đó ba tui luôn tôn trọng giờ giấc. Nói năm giờ là năm giờ chiếu, nói bảy giờ là đúng bảy giờ, không chơi trò linh động co giãn kiểu giây thun. Ba tui mà còn làm chủ, ổng chửi mấy thằng ni cho nát nước… Anh biết ba tui không?

Tôi buồn miệng muốn hút một điếu thuốc nhưng bảng nội quy “làm chủ tập thể” đã ngăn cấm. Thằng cha cà chớn này nhiều chuyện tới độ mình phải ngứa miệng:

– Ba của tôi thì làm tới giám đốc hãng xuất nhập cảng phim ảnh mà giờ này tôi thèm hút thuốc cũng phải ngồi bó tay ngáp ruồi thôi. Ở đó mà nói hoài!

Hắn sững mặt nhìn tôi giây lát, xong lại gầm đầu xuống như suy nghĩ việc gì đang rối bung. Tôi muốn bỏ hắn mà đi vào nhà vệ sinh hút chùng lén một điếu thuốc nhưng đèn trong rạp đã tắt ngúm. Giọng ai đó nói trong máy phóng thanh nhắc nhở bà con thể hiện nếp sống văn minh, giảng giải một hồi công lao thần thánh của Đảng và nhà nước đã mang lại sự quang vinh ngày hôm nay, người thôi bóc lột người, quê hương sạch bóng quân xâm lược…

Tôi rất sợ hãi, mà cái thằng ưa nói “tức cười thiệt” ngồi bên cũng đang thu nhỏ người lại, co quắp như bị trúng gió. Tôi cố tập trung đầu óc nghĩ tới một chuyện thật “đồi trụy”.

Tôi nhớ lại căn nhà dùng làm chốn ẩn náu trước khi ra “taxi”. Khi vượt biển, người ta phải dòm lịch để biết chắc đó là một đêm không trăng sao. Càng tăm tối càng tốt, càng ra đi trong khuya khoắt càng an toàn. Khuya khoắt, “taxi” chưa tới, tôi dóng tai nghe có tiếng động sau vườn cây đặc quánh mực xạ. Cửa sổ mở hé và một đôi nhân tình đang cho tôi xem xuất phim “hiện thực hoang đường” mà họ diễn rất đạt. Cặp ấy là hành khách đi chung chuyến ghe với tôi, họ từng bày tỏ cử chỉ âu yếm với nhau khi trời sáng và tối tăm thì họ làm chuyện đáng làm. Da thịt cô gái là điều gì đáng phàn nàn, bởi lẽ nó trắng quá, trắng tới độ phát quang. Đôi vú cô ta là cái đáng lên án bởi nó tròn trịa quá, nó phồn thịnh và căng cứng là chuyện hiển nhiên. Khi ngắm nhìn, kẻ ngoại cuộc buộc phải ganh tức với thằng con trai đang ra sức làm “taxi” mang cô gái tới bến bờ hoang lạc. Hắn hôn cô gái cùng khắp, gục đầu tóc rối xuống cụm lông mọc giữa hai chân người tình. Họ sướng, tôi biết chắc về điều đó, nhưng họ cố nén tiếng rên la. Và kiến, và muỗi trong vườn khuya sẽ có một buổi liên hoan phủ phê bữa tiệc máu. Tôi cũng có người yêu, nhưng cô ta đã vất tôi lại giữa đời sống cô quanh này để đi tìm ánh sáng cuối đường hầm. Giới hạn cuối mà người yêu dành cho là tôi chỉ được phép cầm tay và hôn vào môi thôi. Cấm “lấn đất dành dân” đi hoang tới vùng cấm địa. Tuy vậy tôi cũng biết tới mùi vị đàn bà, Vân đã dắt tôi đi chơi đĩ gọi là xả xui trước khi vượt biển. Người đàn bà đáng tuổi chị đã không thẹn thùng cho tôi ngắm “đầu mình và tứ chi”, cho tôi sờ mó và sau cùng dắt tôi đi lâng lâng tới tuốt vườn địa đàng. Thằng nhỏ khóc, tôi khóc. Người đàn bà mặc lại áo quần: Chớ nói là tôi phá nát đời trai của cậu nhé!

Tên có đội con nhím trên đầu thúc tay vào một bên hông làm tôi hoàn hồn:

– Thằng phi ngựa kia sẽ mang tên Du-ri-lốp-cốp. Để xem có đúng không?

Màn ảnh đang trình bày một bầu trời đỏ quạch như màu gạch nung, bóng một kỵ sĩ cưỡi ngựa trắng chạy vụt qua, vó câu rầm rộ cuốn theo cát bụi mù mịt. Giọng chi Cúc trỗi lên, trôi mơ hồ như từ rừng sâu vọng ra. Tôi không nhầm lẫn. Nó đặc biệt vì nó pha trộn ô hợp khi thì Huế, khi thì Hà Nội, lúc khác lại Nghệ An. Ông thủ trưởng nào cũng sáng suốt khi thu nhận chị về làm người thuyết minh phim. Một con vẹt tài giỏi ở trong gánh xiếc chắc phải bay tới chị để… ”đi thực tế”. Tôi mường tượng chị đang ngồi trên cái ghế đẩu thô cứng, ly nước lạnh đặt cạnh, một ngọn đèn mờ chiếu xuống đỉnh đầu; tay chị nắm chặt xấp giấy có ai viết sẵn và mở miệng ê a: “Ở vào cái thuở mà bầu trời thấp xuống và con người có thể đưa tay lên sờ mó được, mọi sinh vật tranh sống dưới ánh sáng khắc nghiệt của mặt trời, văn minh của loài người chỉ sản sinh ra chế độ sống bộ lạc… Chàng Yu ri Sê cốp luôn hoàn thiện những sứ mạng bằng chính sức mạnh…”

Thằng cha cà chớn ngồi cạnh há miệng cười hô hố. Hắn hay nói chữ “tức cười thiệt” và hắn sẵn lòng thực hiện cụ thể bằng hành động. Tôi chẳng thấy có gì đáng cười cả. Tủi hổ và thương hại thì có. Theo quy luật tự nhiên, thời đại đồ đá sẽ dẫn tới thời kỳ đồ đồng. Cớ sao những người chiến thắng lôi kéo chúng tôi từ thế kỳ này trở về sống lại thế kỷ trước. Từ bỏ phố phường sáng điện về thắp đuốc trong hang động để rồi lại mơ mộng phấn đấu cho bằng được: Không phải chỉ ăn no mà còn mặc đẹp. Mọi nhà tất yếu phải có Ti-vi, tủ lạnh…

Thằng “tức cười thiệt” bị xô đẩy vào góc tường. Mặt hắn tái mét, hai bờ môi run run. Có tiếng người nạt nộ:

– Mày muốn chạy trốn đấy phỏng?

– Chạy chớ. Độc lập tự do muôn năm mà…

Hắn nói không hết câu. Má hắn hằn đỏ năm ngón tay, miệng rỉ máu. Tôi thấy mắt hắn ứa ra những giọt nước.

– Đéo mẹ cái phường phản động này. Ngoan cố cứng đầu hả?

Hắn ôm mặt khóc hu hu:

– Ba ơi ba, cứu con với!

Một ông mặc sắc phục công an đến phụ hai người ăn vận đồ thường dân.

– Trói dẫn thằng này về đồn cho tôi. Thành phần phá rối nguy hiểm.

Kẻ mặc thường phục nói, quai hàm bạnh ra, vẻ đanh đá. Nạn nhân trì kéo, vùng vẫy cố thoát sáu cánh tay vươn dài như vòi bạch tuộc. Những sợi tóc hắn gần như mọc lên thẳng đứng. Con nhím cũng còn biết giận dữ tự bảo vệ, huống chi…

– Cái gì là nguy hiểm với phá rối. Oan cho tui quá… Ê, ê, anh kia. Cứu em với. Anh làm chứng giùm em có ăn nói chi bậy bạ không… Trời ơi là trời! Đừng là đồng minh tháo chạy chớ, xin hãy làm phước giúp em. Ba của anh làm tới chức giám đốc lận mà, sợ chi chớ!

Tôi đi như chạy xuống khỏi những bậc thềm trơn ướt. Người tôi nhẹ hẫng và nóng râm ran. Chỉ có sau ót tụ lại một điểm ớn lạnh. Nếu bị vây bủa tôi sẽ không bao giờ được như thằng Yu-ri sê-cốp, bởi giản dị tôi chẳng có một thanh kiếm nắm chặt ở tay. Và bầu trời, lạy Chúa, nó muôn đời là cao xanh, làm sao tay người có thể đưa tay ra sờ mó được.

– Đứng lại.

Bờ vai bên phải đau điếng. Tôi từng đi gánh nước, mỗi đầu là cái thùng nhôm chứa đựng bốn mươi lít, cái đòn gánh bằng tre cứng đờ không làm đau vai bằng năm ngón tay của ông bạn dân đang bấu víu kềm kẹp. Tôi co rúm người lại không hẳn vì trời mưa chăm chỉ nhỏ nước, tôi nghĩ tới tờ giấy đi đường mỏng manh gấp làm tư ẩn trong túi quần với con mộc đóng dấu hình ngôi sao le lói: “Yêu cầu các cơ quan liên hệ dành dễ dàng cho đương sự sớm hoàn thành công tác”.

Tôi không có tay để vuốt mặt. Mưa ràn rụa rơi, xuống tóc, trên hàng mi. Cảnh vật nhòe đi dưới mắt tôi, nó mông lung thoạt gần thoạt xa như hình ảnh cuối cùng được thu vô đồng tử của một kẻ bị sẩy chân chết đuối. Tôi thử vùng vẫy “bơi” loạng quạng.

– Mưa như thế này mà bỏ đi xăm xăm, kêu chả hề đứng lại. Mày là đồng bọn với nó chứ còn gì nữa?

Tay tôi bị khóa cứng lui sau. Phải chi đêm đó mình bị tóm ở Nha Trang. Không gì dễ chịu bằng khi bạn bị mang bản án “Phản bội tổ quốc”. Nó nhẹ nhất so với những tội danh khác của nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật sư sẽ biện hộ: Tha cho nó đi, thưa qúy tòa, thân chủ tôi bị chứng liệt dương, tìm đường trốn qua Mỹ chỉ mong chạy đúng thuốc để sớm được phổng phao.

Mưa bôi xóa hết. Tự cổ chí kim, mưa Huế vẫn vô địch cái khoản làm thúi đất. Nhưng trong phút giây, mưa đã nhượng bộ, giữa xóa nhòa mọi hình tướng của vật thể, nó không bôi được dáng đứng một người: Chị Cúc. Chị đứng ở bực thềm, biên giới giữa ướt át và ráo khô. Chị đứng với lẻ loi ngọn đèn vàng treo từ tấm panneau rọi hắt xuống một vũng màu. Chưa bao giờ chị Cúc mang được cái nhan sắc đẹp lạ lùng đến vậy. Sự khả ái dường như biết phát hào quang.

Tôi bắt chước thằng “phá rối trật tự” kia:

– Chị Cúc, cứu em với. Chị Cúc… là em đây… Chị Cúc… em bị bắt oan.

Nước mưa có khi rất mặn, người ta có biết điều đó không?

– Nó là em tôi. Đã có chuyện gì xẩy ra vậy?

– Cô là ai?

– Công nhân viên của liên doanh chiếu bóng tỉnh Bình Trị Thiên. Đảng viên… Có bằng nghiệp vụ từ Liên-xô… Biên chế năm…

Có thể do thói quen nghề nghiệp, chị Cúc thuyết minh một hơi dài. Chữ chị dùng thì lúc nào cũng gồ ghề, gây ấn tượng, nhưng chị “dọa” lộn người rồi. Thằng công an nếu biết được ba chữ “tức cười thiệt” thì hẳn nó đã nói.

– Rảnh thì về đồn công an làm tờ khai. Hãy để cho tôi thi hành công tác bảo vệ trị an.

Tôi bị lôi đi cùng thằng con ông chủ rạp chiếu bóng bị nhà nước tước đoạt. Chúng xâu hai đứa tôi lại bằng một đoạn dây thừng. Nếu là trâu, có lẽ người ta đang dắt hai đứa ra đồng, mặc dù đang chiều, cho kịp vụ mùa. Liên tưởng là trâu, bởi lẽ tôi đang có rất ít chất xám, tôi ngu si, đần độn và tôi chẳng thắc mắc về điều thiệt thòi đó. Trong tôi mọc lên chỉ một ý nghĩ: Chị Cúc có thông minh không? Nếu thông minh, chị sẽ bảo: Anh xem tôi là thành phần nào mà đi liên hệ với phường phản động kia?

– Em yên tâm. Hãy bình tĩnh đi theo họ. Chị sẽ nghỉ việc ở xuất chiếu tới để đến với em. Chị không tin là bao nhiêu năm phục vụ Đảng và nhà nước như chị đây lại không giải được tội oan cho em. Hãy tin chị, cũng như chị đã tin em.

Chị nói, qua màn mưa nghe như tấm tức, như nhão mềm úng thủy. Tôi ngó lui, chị đã bước ra tới lề đường, đội mưa dõi trông theo. Tay chị không bị ai trói nhưng trông chị bứt rứt vụng về như chỉ chực vứt bỏ nó đi. Đầu tóc chị xổ tung ra mặc mưa gội tắm. Phút giây đó, mặt chị có nét giống mẹ tôi. Xanh xao, hoảng hốt, muôn đời chân yếu tay mềm. Bột màu vẽ trên khung vải quảng cáo phim “Thiên đường hạ giới” bị trôi, hoen ố, rồi chảy xuống nhuộm đỏ khoảng xi-măng đang chôn chân chị Cúc.

Sau tất cả những đổ vỡ, tôi rất tin vào cái còn lại: Tình người. Nhất là thứ tình ruột thịt. Tôi hy vọng, một ngày rất gần, chị Cúc sẽ đọc dịu dàng giọng Huế đoạn thuyết minh cảm động: “Ở vào thế kỷ hôm nay, thời điểm này, tình cảm con người bộc lộ cho nhau nó tràn ra quanh mình và ta có thề đưa tay sờ mó cất dấu làm của riêng được”.

Tôi bước vào đồn công an. Cánh cửa đóng lại. Mưa tự do rơi bên ngoài, ướt nghe ngói một Huế điêu linh.

Hồ Đình Nghiêm

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 25 Aug 2014 by quanvan.net 

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Bài 6

Giang Thành Dạ Cổ

Hà Tiên thập cảnh gồm có:

1)-Kim dự lan đào

2)-Bình san điệp thúy

3)-Tiêu tự thần chung

4)-Giang Thành dạ cổ

5)-Thạch Động thôn vân

6)-Châu nam lạc lộ

7)-Đông hồ ẩn nguyệt

8)-Nam phố trừng ba

9)-Lộc trĩ thôn cư

10)-Lư khê nhàn điếu

            Trước khi kể chuyện mật khu Trà Tiên, xin nói qua một chút về đất Hà Tiên. Chỉ một chữ Tiên thôi, người ta cũng đoán rằng có gì liên hệ giữa Hà Tiên và Trà Tiên?

            Hà Tiên là nơi mấy bà tiên xuống tắm ở bến sông? Có lẽ ông Mạc Cửu hay đệ tử của ông bày chuyện ra để đặt một cái tên nghe cho hay, chớ đi khắp Hà Tiên, đố ai tìm được một con sông! Đó là vùng đất cao, không hẳn có nhiều núi như ở xã Thuận Yên, bên nầy Đông Hồ, trên đường Rạch Giá đi Hà Tiên. Mấy năm quân đội Việt Nam Cộng Hòa hành quân tấn công Việt Cộng bên Miên, công binh có bắt một cây cầu nổi từ Thuận Yên sang thị trấn Hà Tiên để việc chuyển quân và tiếp tế được mau lẹ, dễ dàng.

            Nói sơ về lịch sử (độc giả thông cảm, tôi là người dạy môn lịch sử ở bậc trung học, không phải là nhà nghiên cứu gì cả, và tôi cũng không dạy gì có liên quan tới ông Mặc Cửu cả) thì xứ Hà Tiên, trước thế kỷ 18 là vùng đất thuộc Miên. Trước nữa, lâu lắm là đất của nước Lâm Ấp, nước nầy có một nền văn minh khá cao, sử gọi là văn minh Ốc-Eo, (Một khu vực thuộc Long Xuyên ngày nay). Người Khmer cướp đất của Lâm Ấp khi nước nầy rụi tàn. Cướp đất của người ta nhưng người Miên cũng chẳng làm gì để cho vùng nầy khá lên.

            Trước khi có tên Hà Tiên, có lẽ nó có vài ba cái tên gì đó, tên Lâm Ấp hay tên Miên, tôi không biết và cũng chưa đọc sách sử nào nói tới. Tên Miên, ở vùng nầy, nếu còn lại thì cũng chỉ một vài nơi, vài người mà thôi. Ví dụ sát biên giới Việt Miên, có một ngôi chùa Miên lớn lắm, tên là chùa Xà Xía (tên Miên). Chùa của ông đại đức Công-Xa-Phan (cũng tên Miên). Ông nầy quản lý về đạo Phật của người Miên kể từ bên phía Miên, phía Kampot tới Sóc Trăng.

Ông đại đức Công-Xa-Phan tuy còn trẻ nhưng có nhiều cái hay, sống đơn giản, có xe hơi nhưng đi đâu cũng nhờ người ta chở đi bằng xe Honda cho tiện, ai tới nhờ cậy gì ông cũng ừ, lại cất công đi xin giùm. Sau 1970, chiến tranh bên Miên càng ngày càng dữ, dân Miên chạy loạn tới dựng lều tạm trú quanh chùa ông, ông cấp phát quần áo, gạo mền rất đàng hoàng. Dân Miên qua Việt Nam, không giấy tờ, đi lớ ngớ, bị bắt, ông đi xin cho họ được tha. Người có của (thường là vàng, đồ trang sức, và hồng ngọc, – một sản phẩm của Miên), sợ bị mất, gởi cho ông cất giùm, ông cất giữ rất cẩn thận. Biết ông là người có uy tín với dân chúng, chính quyền miền Nam tôn trọng ông, giải quyết những gì ông xin xỏ hay can thiệp. Trong chiến tranh, Việt Cộng cũng không đụng gì tới ông vì đụng tới ông, không có lợi. Tới 30 tháng Tư, Việt Cộng thấy sự có mặt của ông ta thêm “phiền”, bèn cho ông ta đi … “học tập cải tạo”. Ông cũng tưởng là “học tập” thiệt nên vui vẻ ra đi, “học” 5 năm mới được “tha ra khỏi trại cải tạo.” Ông cũng ngây thơ, nói với một người quen của tôi nhà ở gần cổng Tam Quan, cửa ngõ thị xã Rạch Giá: “Học tập mãn khóa thì về, sao lại có câu “tha ra khỏi trại cảo tạo?” Ông không hiểu được… Việt Cộng, có phải vì ông là người Miên. Không chỉ ông, cũng lắm người Việt không thể hiểu được Việt Cộng, nếu chưa từng “…ai có qua cầu”. Không ở được ở Việt Nam, ông vượt biên qua Thái Lan.

            Khi ông được cho đi “học tập”, tài sản tín đồ gởi ông cất giữ, Việt Cộng “giữ giùm” hết. Vậy cũng còn “khoan hồng nhân đạo” hơn so với bọn Pol Pot. Dân Miên ở chùa Xà Xía cũng hú hồn.

            Thấy ông là người hiền từ, hay đi đây đó, lại đệ tử đông nên tôi thường đến thăm ông để kiếm… tin tức. Đúng ông là người thật thà, thấy sao nói vậy, biết sao nói vậy, nhưng vì ông là người tu hành nên chẳng biết gì về… tình hình địch. Tôi có cái lợi khác, người Miên biết tôi với ông hay chuyện trò với nhau, nên không ngần ngại gì khi tôi nói chuyện với họ, qua đó tôi cũng biết vài điều hữu ích cho công việc của tôi.

            Có hai lần tôi lên chùa Xà Xía ăn với ông trong dịp vía Phật hay lễ tết gì đó của Miên. Chùa Miên không ăn chay, họ ăn mặn và người nấu ăn cho đại đức là cô chủ một hiệu ăn ở Rạch Giá. Vậy thì món ăn nấu theo kiểu Việt Nam, không phải kiểu Miên, không có mắm Bò-hóc. May phước!

Có lần ông ta đến thăm tôi, cho tôi một cái nanh heo gởi. Ông kể là hồi còn trẻ, ông qua tu ở bên Lào và được cái nanh heo gởi. Con heo rừng khi già, cái nanh heo mọc dài ra, đâm lên hàm trên, làm cho con heo đau lắm. Nó tìm một gốc cây, cắn mạnh vào thân cây, vặn đầu cho cái nanh heo gãy ra, không còn đâm vào hàm được nữa. Cái nanh heo mắc vào thân cây, gọi là “nanh gởi”, linh lắm. Ai đeo vào tránh được súng đạn.

Được cái nanh, tôi khoái chí kể cho một người bạn thuộc Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh nghe. Anh bạn nói: “Năm ngoái, tôi yểm trợ cho một đại đội của Lon Nol vào mục tiêu ở Kompong Trach. Trước khi tấn công, thằng đại đội trưởng cũng lấy cái nanh heo, đọc kinh, rồi ngậm cái nanh heo vào mồm mà chỉ huy. Chỉ một lúc, tôi thấy thằng đại đội trưởng bị bắn toác họng mà chết. Ông cứ tin là tôi nói thiệt đi!”

Câu chuyện của người bạn làm tôi mất hứng về chuyện cái nanh heo của ông đại đức Công-Xa-Phan cho. Nhưng rồi vợ tôi cũng đem cho thợ tạc thành tượng một ông Phật, cùng làm sợi giây chuyền để tôi đeo vào cổ. Ngày “trình diện đi học tập cải tạo”, tôi để tượng Phật ở nhà. Bị đánh tư sản, vợ tôi hoảng hồn không biết để cái nanh heo thất lạc về đâu? Đến khi tôi đi “tù học tập” xong, cũng được “tha ra khỏi trại cải tạo” như ông Công Xa Phan, thì ông đại đức hiền hậu của tôi đi một đường, cái nanh heo ông cho lại đi một nẽo. Đó cũng là một chuyện buồn trong cuộc đời nhiều buồn hơn vui.

            Trở lại chuyện ông Mạc Cửu; ông là người Tàu Quảng Đông, theo phái “Diệt Thanh Phò Minh” nhưng thất bại nên chạy qua Việt Nam như người Tàu Minh Hương hoặc Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài vậy. Mạc Cửu không ghé đất Sài-Côn (Saigon năm xưa) như hai ông vừa nói mà xuống tuốt Hà Tiên. Có lẽ trước đó, ông cũng ghé lại chầu chúa Nguyễn ở miền Trung. Bấy giờ chúa cũng cần người khai phá vùng đất hoang ở Nam Bộ, vả cũng không muốn một ông Tàu có đủ binh tướng ở sát bên mình, kinh lắm, tai họa đến dễ như không nên cho ông vào Nam.

            Mạc Cửu đến Hà Tiên và mở sòng bài, trở nên giàu có. Có tiền và có binh lính, ông bình định cả vùng Hà Tiên, tới gần Rạch Giá (Vùng Lình Quỳnh). Xong, ông đem vùng đất nơi ông cai trị và mở mang mà dâng cho chúa Nguyễn. Chúa mừng lắm và đãi ông vào hạng “Khai Quốc Công Thần.”

            Những năm Việt Nam và Xiêm La giành nhau cai trị Kampuchia, vua Campuchia qua lánh nạn ở Hà Tiên. Để tránh hậu họa, Xiêm La bèn đem quân đánh phá Hà Tiên. Bấy giờ Mạc Cửu đã qua đời, con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, đánh bại quân Xiêm, đuổi chúng ra khỏi nước. Thành ra cả hai cha con ông đều có công lớn với chúa Nguyễn nói riêng hay với nước ta nói chung. Trước 1975, lăng mộ hai cha con vẫn còn, nằm bên sườn đồi, ngó xuống biển, rất đẹp và hùng vĩ. Ngày nay, dòng họ Mạc ở Hà tiên không còn ai, coi như tuyệt tự, lăng mộ không biết còn mất như thế nào?!

            Biết chuyện ông Mạc Cửu mở sòng bài làm giàu, tôi cứ suy nghĩ hoài. Vùng đất Hà Tiên trở nên giàu có là về sau nầy, kể từ khi Tây qua cai trị nước ta, chứ trước đó, xứ nầy có tài nguyên gì đặc biệt đâu, ngoài nghề đánh cá biển, nuôi đồi mồi. Ruộng rẫy thì ít, không có đồng chó ngáp hay ruộng cò bay thẳng cánh. Nhờ ở vào địa thế biên giới Việt Miên, nên việc buôn lậu phát triển, chẳng hạn như sau Hiệp Định Paris 1973, việc giao thông trên Liên Tỉnh Lộ 80 Hà Tiên – Rạch Giá trở nên tiện lợi, nên hàng lậu từ Thái Lan tới Hà Tiên rồi chuyển lên Saigon ì xèo, việc buôn bán ở Hà Tiên rất phát đạt, nhiều người giàu có và cũng không ít người trở thành nạn nhân của bọn buôn lậu, kể cả mạng người.

Mua hàng trả bằng vàng. Vàng và máu lộn vào nhau giống như trong tiểu thuyết trinh thám Vàng và Máu của Thế Lữ. Người đáng thương nhứt chính là đại úy Thành, cựu đại úy Nhảy Dù, chỉ huy trưởng Cảnh Sát Hà Tiên, vì cần mẫn với nhiệm vụ nên bị bọn buôn lậu + Việt Cộng + Khmer Đỏ + Khmer Lon Nol phục kích bắn chết ở ấp Việt Nam 1, Hà Tiên. Chuyện nầy không nói không được nhưng xin kể lại sau.

            Xứ sở không giàu, vậy tại sao ông Mạc Cửu, như người ta nói, mà sách sử cũng ghi vậy, ông ta mở sòng bạc mà giàu.

            Dễ hiểu thôi, cứ đi với dân, vào với dân, nghe dân nói, dân kể chuyện, hiểu ngay.

            Vùng vịnh Thái Lan là vùng nổi tiếng cướp biển mấy trăm năm nay, trước cả thời kỳ người Bồ, người Hà sang buôn bán ở Châu Á, Đông Nam Á nầy. Bây giờ cũng là vùng cướp biển nổi tiếng nhứt thế giới, hung bạo nhứt thế giới.

            Người dân Hà Tiên cố cựu, – không riêng gì ở thị trấn Hà Tiên mà nguyên cả vùng chùa Hang,  Hòn Chông, Vàm Rầy, Lình Quỳnh thuộc tỉnh Hà Tiên cũ, thời Pháp thuộc, cũng có người kể cho tôi nghe chuyện cướp biển ngày xưa. Bọn cướp biển khi giàu có, không đem của về xứ được – Phần đông là người Tàu gốc đảo Hải Nàm, nổi tiếng đi biển giỏi – bèn chôn dấu tài sản ở các hòn đảo hoang trong vịnh Thái Lan như hòn Lại Sơn, hòn Tre, hòn Đầm, hòn Nghệ (hòn Minh Hoa), hòn Heo, hòn Ngang, v.v… Khi giải nghệ, vì già hay vì chán cảnh đâm chém, dân hải tặc nầy không dám về xứ, tụ tập ở vùng Hà Tiên, lấy vợ, sinh con và cũng có sẵn của tiền để đi đánh… bạc. Chỉ có đám hải tặc giải nghệ nầy mới có nhiều tiền để cờ bạc, và cũng nhờ đó mà ông Mạc Cửu mau giàu.

Chuyện gì chớ nói tới việc buôn bán thì tất cả nhân loại nầy đều thua người Tàu, như ông Lã Bất Vi, còn buôn cả vua, huống chi với đám hải tặc nầy, Mạc Cửu lấy tiền của chúng dễ như không! Nói chuyện nầy với mấy cụ già đất Hà Tiên, họ cho rằng tôi nói có lý đấy. Đây cũng là vấn đề lịch sử, xã hội; hy vọng ngày sau các nhà nghiên cứu lịch lịch sử sẽ không bỏ qua.

            Ở Hà Tiên còn có dòng họ Lâm (Họ Lâm và họ Mạc là hai họ lớn nhứt hồi xưa ở đây) nay cũng chẳng còn ai. Họ Mạc thuộc võ tướng, họ Lâm thuộc văn học, ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác là một nhà thơ nổi tiếng hồi đầu thế kỷ 20. Năm 1945, ông sợ Việt Minh, chạy lên Saigon, ở miết trên ấy, dòng tộc nay chẳng còn ai!

            Ông Đông Hồ có tập “Hà Tiên Thập Cảnh”, xuất bản khoảng đầu thập niên 60, tôi không nhớ chắc, có mười bài thơ tả 10 cảnh đẹp ở Hà Tiên. Mười cảnh đẹp đó là hòn Phụ Tử (Nay Phụ chết rồi, chỉ còn có Tử mà thôi). Có người bạn, khi nghe tin hòn Phụ bị đổ, nói với tôi: Phụ của bọn chúng đổ rồi thì chúng chỉ có tử mà thôi – Tử đây không phải là con mà là chết, Chùa Hang (chùa thờ Phật), bãi Hòn Trẹm, (trước 1975, nhiều bà lớn ở Saigon như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, v.v…  về đây giành đất để xây biệt thự, việc chưa thành thì miền Nam bị mất về tay Cộng Sản. Bây giờ muốn có đất ở bãi Hòn Trẹm thì mấy bà phải mua lại của Việt Cộng, Hang Tiền, Đông Hồ (là cái vũng biển lớn, ăn sâu vào trong đất liền), Giang Thành… Giang Thành là cái đuôi của Đông hồ, nằm trên đường Hà Tiên đi Châu Đốc, qua kinh Vĩnh Tế, có ngôi chùa, có cái trống lớn lắm. Đêm nằm ở Hà Tiên, thi sĩ Đông Hồ nghe tiếng trống chùa mà cảm tác bài thơ “Giang Thành Dạ Cổ” – Đêm nghe tiếng trống ở chùa Giang Thành – (Dạ là đêm, cổ là cái trống, tương tự như trong câu thơ của Đặng Trần Côn: “Cổ bề thanh động Tràng An nguyệt” – Bà Đoàn Thị Điểm dịch là: “Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt.”

            Sau khi chiếm được đất Miên, vua Nguyễn muốn ngăn chận người Miên nổi lên quấy rối, bèn định rõ ranh giới hai nước. Đất đai hai bên liền nhau, dân nổi loạn chạy qua chạy về dễ dàng nên khi ông Nguyễn Văn Thoại, tức Thoại Ngọc Hầu trấn thủ vùng nầy, bèn cho đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Châu Đốc với Hà Tiên, đi ngang Giang Thành. Kinh đó là con đường phân chia hai nước Việt Miên ở vùng nầy.

            Kinh đào năm 1819, cuối đời Gia Long. Dĩ nhiên muốn đào kinh phải huy động dân chúng đi làm. Kinh khá rộng, 30 mét bề ngang, sâu chừng 5 mét, dài gần 100 cây số, ghe thuyền đi lại dễ dàng. Có lẽ hồi đó, người Việt định cư vùng nầy chưa đông; cả hai bên bờ kinh, phần nhiều là người Miên nên họ bị bắt đi “dân công” đào kinh. Người Miên chống lại việc đào kinh, dĩ nhiên. Bên nầy kinh là người Miên, bên kia kinh cũng là người Miên, có khi là bà con họ hàng, nay bỗng phân ly thành dân hai nước, ai chịu được! Vả lại, việc đào kinh không phải là việc đi du lịch mà gian khổ vô cùng, vậy nên nhiều người Miên chống đối, bằng nhiều cách khác nhau. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến người Miên ưa “Cáp Duôn” để trả thù. Cáp là chặt đầu, Duôn là người Việt. Từ lâu lắm, có lẽ sau khi bị mất vùng đất Khmer Krom, người Duôn trở thành cơn ác mộng của người Khmer (Miên). Trẻ em Miên khóc đêm, mẹ nó dọa “Nín đi! Coi chừng Duôn đứng rình ngoài vách.”

            Đó cũng là động lực của việc “Thổ dậy” năm 1945 mà nhà văn Lê Xuyên có thuật lại trong “Chú Tư Cầu”, “Kinh Cầu Muống”, v.v… (Tôi sẽ thuật lại việc nầy khi nói nói tới ấp Xà Ngách ở Ba Hòn và xóm Vàm Rầy của ông Chủ Ry (Henry), thân phụ “Chị” Tư Nết (tên Tây là Annette).

            Khi Khmer Đỏ nắm quyền cai trị xứ Chùa Tháp, để chống lại Cộng Sản Hà Nội, bọn chúng thường khơi dậy lòng hận thù dân tộc (Cộng Sản và Hận Thù là song sinh) giữa hai dân tộc Việt Miên. Trong cuốn sách “Brother Enemy”, ông Nayan Chanda có thuật lại việc Khmer Đỏ tuyên truyền về cái ác của “quan Việt Nam” trong việc đào kinh Vĩnh Tế. Quan Duôn bắt mấy người Miên chống việc đào kinh lại, đem chôn sống, chỉ chừa ba cái đầu làm ba ông táo, làm bếp nấu nước sôi. Lửa nóng là cho người bị chôn sống nhúc nhích cái đầu, quan Việt Nam la mắng: “Không được nhúc nhích làm đổ nước của quan.” Chuyện thật hay bịa? Cộng Sản, kể cả Khmer Đỏ, có cái gì mà không bịa (Cộng Sản và Dối Trá cũng là song sinh). Chuyện tàn ác, nếu có chăng thì cũng chỉ là “Ít xít cho nhiều” mà thôi.

            “Hồi chánh Viên Hoàng Thị Vân” kể:

            – “Từ mật khu cháu phải chèo xuống ba ngày mới về tới núi Trầu.”

            Xem qua bản đồ, tôi biết mật khu nầy, tức cục R nằm bên Miên, không thể nằm bên phía Việt Nam.

Kể từ ngày tướng Trưởng về làm Tư lệnh Quân Khu 4, ông đưa ra một chiến thuật mới để săn lùng Việt Cộng, gọi là “Chiến Thuật Diều Hâu.” Chiến Thuật Diều Hâu chỉ là việc vào tận hang hùm bắt cọp, kiểu như ngày xưa có nói trong Chinh Phụ Ngâm: “Quày ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Tàu thì gọi là “Bất nhập hổ huyệt, an đắc hổ tử”. Dịch nôm là không vào hang cọp sao bắt được cọp con.” Cách của tướng Trưởng là hễ biết chỗ nào có Việt Cộng thì cho lính từ trực thăng nhảy xuống đó. Ban đầu thả xuống một, hai toán. Hễ đụng với địch thì tăng cường thêm lính. Đụng trận lớn nữa thì đổ thêm quân. Việc nầy sẽ nói thêm về sau.

Kỷ sư Lê Hữu Phước, giám đốc nhà máy xi măng Hà Tiên, bê nguyên một két Hennessy cổ đen mà cho tôi cũng là nhờ chiến thuật nầy, do công của anh em chúng tôi mà suốt một năm Việt Cộng không dám tới đánh phá nhà máy xi măng Hà Tiên ở Kiên Lương.

            Sau nầy, khi tướng Nam làm Tư Lệnh vùng 4, ông áp dụng trở lại chiến thuật nầy. Việt Cộng sợ muốn chết, bưng nguyên mật khu qua Miên xin tạm trú, đâu dám ở bên phía Việt Nam. Vì vậy Hồi Chánh Viên Hoàng thị Vân phải chèo xuống ba ngày, bất kể ngày đêm, mới về tới quê của con nhỏ ở núi Trầu.

            Tôi hỏi:

            – “Cháu có biết cháu qua kinh Vĩnh Tế lúc nào không?”

            – “Không! Cháu không biết. Nhưng cháu có chèo xuồng qua đoạn phía trên Giang Thành. Trong mật khu có phổ biến, lưu ý khi qua chỗ nầy phải cẩn thận, dễ bị mắc cạn. Bị mắc cạn lại nhằm lúc máy bay trực thăng quốc gia tới thì chỉ có chết. Trực thăng bắn róc-két dữ lắm.”

            – “Vậy cháu đi theo đường giây 1-C.” Tôi hỏi.

            – “Cái chi? Cái chi mà Một Xê. Cháu không biết.” Nó trả lời.

            Biết là hớ, làm sao nó biết Một Xê với Hai Xê. Tôi điều chỉnh:

            – “Đường bộ đội di chuyển đó!”

            – “Không! Cháu không đi ngay đường đó, sợ gặp du kích gác đường. Cháu đi hơi xa xa một chút để tránh du kích.” Nó trả lời.

            – “Cháu không sợ lạc?

– “Sau một ngày đi theo hướng đông, cháu theo hướng khói nhà may ximăng Hà Tiên mà tới. Tới chỗ trống, cháu tìm khói của nhà máy rồi nhắm theo, chắc ăn.” Con nhỏ giải thích.

            Tôi lại hỏi:

– “Cháu không sợ máy bay?”

– “Trên máy bay, họ biết cháu chỉ có một mình, cho là dân làm đồng, họ không bắn. Vã lại cháu đi ban ngày. Họ chỉ đi ban đêm, vì đi ban ngày, qua chỗ trống, họ sợ máy bay lắm.”

Ngày nay, nhớ lại chuyện cũ, tôi vẫn thường nghĩ rằng, Nguyễn Tấn Dũng chắc cũng sợ xanh máu mặt mỗi khi y đi từ mật khu về Tà Keo, xứ sở của y, vào ban ngày. Cũng may cho y chớ không thì trực thăng đã cho y về chầu “già râu” từ khuya rồi!

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 25 Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Bài 5                                                                                   

Tiếng gọi của tình yêu trong rừng tràm Trà Tiên

Thượng sĩ Huỳnh Phước Hưng, trưởng ban thẩm vấn, cầm tập bìa đựng bản cung của Hoàng Thị Vân, đưa cho tôi, nói:

– “Con nhỏ mới nứt mắt mà đã trốn nhà theo trai!”

Ngạc nhiên, tôi hỏi:

– “Nó hồi chánh mà?”

– “Hồi chánh mẹ gì đâu. Ông đọc bản cung thì biết, mắc cười lắm! Ông nói phải, đúng là bọn Cộng Phỉ?”

Bọn Cộng Sản vùng nầy, kể cả Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên, đúng là bọn Cộng Phỉ. Cộng phỉ là chữ của cố tổng thống Ngô Đình Diệm gọi bọn Cộng Sản miền Nam, khi ông còn làm tổng thống.

Tò mò, tôi đọc một mạch hết bản cung dài khoảng bốn năm trang đánh máy. Tôi lại còn cho gọi con nhỏ đó lên văn phòng tôi hỏi chuyện tiếp cho rõ ràng hơn. Con nhỏ 17 tuổi, không đẹp lắm nhưng có duyên, nước da đen, má căng tròn thời con gái, tóc đen, cằm hơi nhọn, môi tươi.

Tôi hỏi:

– “Cháu và Hùng yêu nhau như thế nào? Tại sao nó theo Việt Cộng?”

Con nhỏ trả lời:

– “Cháu và anh Hùng yêu nhau cả năm nay. Cha Hiền cũng biết, không ngăn cản, biểu lo đám cưới. Không cưới được vì anh ấy sắp bị gọi đi lính, tới tuổi rồi. Vì chi khu bắn chết mấy người trốn lính trong rừng tràm, anh Hùng cháu sợ, không dám trốn vào rừng tràm nữa. Ăn tết xong, anh dông tuốt vô trỏng ở với họ. Vào đó còn có ngày về, đi lính quốc gia là đi mất tiêu luôn. Với lại, vào trỏng theo anh hai Tiếu, còn đánh bắt cá giúp gia đình, còn được cho đốn tràm đem về bán. Anh Hùng theo Việt Cộng cũng chỉ vì chừng đó, không phải ưa chống Quốc Gia.”

– “Tụi bây có đạo tại sao theo Cộng Sản vô thần?” Tôi hỏi.

– “Tụi cháu không biết gì chuyện đó hết. Sống tới đâu, hay tới đó.”

– “Hùng vô trỏng, cháu vô làm chi?” Tôi hỏi, nhắc lại lời nó đã khai trong bản cung.

– “Trước khi Hùng đi, hai đứa cháu có gặp nhau. Hùng biểu ở lại nhà, lâu lâu Hùng sẽ hẹn gặp nhau trong rừng tràm. Nhưng nhớ Hùng quá, cháu liều đi theo!” Con nhỏ trả lời.

Tôi hỏi:

 – “Vô trỏng, có thằng cán bộ yêu cháu. Nó là thằng nào?”

_ “Mới vô, cháu không rõ tên, nghe gọi là anh Năm, trưởng ban quân y huyện đội. Anh nầy quyền lắm. Anh ta yêu cháu nhưng cháu không yêu. Cháu chỉ yêu Hùng?”

– “Tại sao?” Tôi hỏi, “Hùng chỉ là du kích. Anh nầy quyền chức cao hơn, sao cháu không yêu?”

– “Hùng đẹp trai hơn. Hùng cao ráo, dáng dấp như thiếu úy Sơn. Còn anh nầy lùn.” Cô ta cười. “Vã cháu chỉ yêu một người thôi chớ!”

– “Vậy rồi Hùng ra chiêu hồi?” Tôi hỏi.

– “Dạ, Hùng buồn. Hùng nghĩ là cháu bỏ Hùng theo anh cán bộ trưởng ban kia, nên buồn tình bỏ ra, chiêu hồi. Cháu nghe Hùng chiêu hồi, cháu cũng ra luôn.” Vân giải thích.

– “Không ở lại với anh chàng lùn?” Tôi cười, hỏi.

– “Ai mà thèm!” Cô ta trả lời.

– “Hùng làm gì trỏng? Được họ phát súng ống gì chưa?

– “Hùng chỉ là du kích, thường ngày gác phía ngoài mật khu. Khi cháu vô trỏng, anh ấy mới được phát súng M-16.” Vân trả lời.

Tôi hỏi tiếp, ý nầy cũng đã được thượng sĩ Hưng hỏi rồi:

– “Vậy cháu có súng chưa?”

– “Có, cháu có súng AK.” Vân trả lời.

– “Tại sao hai đứa khác nhau?” Tôi hỏi. Ý nầy thượng sĩ Hưng chưa hỏi.

– “Mới vô, sau khi xác minh xong, họ phát M-16. Thử thách một thời gian, mới có AK.”

– “Cháu mới vô lại được phát AK ngay. Vì sao?” Tôi hỏi.

Vân giải thích:

– “Cháu vô được hai ngày thì chuyển qua ban quân y huyện đội, được phát súng AK ngay, lại có anh trưởng ban theo sát cháu. Chừng đó cũng đủ làm cho Hùng khó chịu. Hùng hỏi cháu về quan hệ giữa cháu và anh trưởng ban. Cháu nói có gì đâu nhưng Hùng hiểu mọi chuyện, không tin điều cháu nói. Hùng buồn, rồi bỏ ra ngoài nầy.”

Tôi chỉ cái mũ tai bèo màu xanh biển, còn rất mới, hỏi:

– “Họ mới phát?

– “Dạ. Cháu cũng được phát quần áo nữa. Hùng thì chưa có gì hết.” Vân nói.

Rất tiếc là tôi không nhớ hỏi con nhỏ, trưởng ban quân y huyện đội tên là gì, chỉ nhớ nó gọi là anh Năm. Có phải là Năm Dũng, sau nầy đổi tên là Ba Dũng, thủ tướng Việt Cộng.

Điều quan trọng khi hỏi cung là hỏi về các cán bộ lớn như bí thư, phó bí thư, kinh tài, hoặc huyện đội trưởng, xã đội trưởng để theo dõi hoạt động của nó hầu tìm phương cách giải hóa. Giải hóa là danh từ “Phụng Hoàng”, bắt hoặc giết, chớ còn như trưởng ban quân y thì có gì quan trọng đâu. Thứ nầy chỉ ở phía sau, đâu có ở tuyến đầu, đâu có chức chưởng gì quan trọng, không khác mấy với “Bà Già Trầu” mà tôi đã có nói tới trong bài “Bác Sĩ Việt Cộng”.

Cỡ như Ba Dũng thì học hành ở đâu, sức học đâu có bao lăm. Theo Việt Cộng, khi còn nhỏ, thì đủ để cho bọn lớn đầu sai vặt, nấu cơm, pha trà, càphê. Anh nào có thế lực thì được cho về U-Minh học trong rừng, trong những cái lán tranh, cũng đặt tên là trường nầy trường kia, học lấy có, thầy trò trình độ cũng như nhau.

Về quân y thì có hai trường, một trường ở U-Minh và một trường ở Cục R. Ban đầu ra y tá, ít lâu sau lên y sĩ, học thêm vài tháng ra bác sĩ. Phục vụ trong ngành quân y nên chỉ ở mặt sau, một “ân sũng” dành cho con em cán bộ có chức quyền.

Đấy. Tụi nó theo Việt Cộng là như vậy đấy, đâu phải là có lý tưởng gì đâu. Hai Tiếu, Trần Chí Tài, Lâm Hải, Bảy Mốc, Hai Ngộ, Tư Ngọc, v.v… mỗi người một lý do khác nhau, nhưng tựu chung, toàn là lý do tầm bậy, hổ lốn, thổ phỉ, chẳng ai có lý tưởng cao siêu gì cả như Cộng Sản hô hào, tán dương. Tôi sẽ nói rõ từng trường hợp về sau.

            Trước khi trở lại chuyện con nhỏ Hoàng Thị Vân và tên Hùng, nguyên quán ấp kinh 1, xã An Hòa, tôi muốn nói qua về người dân xóm Núi Trầu là dân xã An Hòa nầy.

Xã An Hòa nằm chung quanh núi Trầu, phần đông tập trung ở chân núi phía bắc vì gần kinh Rạch Giá – Hà Tiên để có nước ngọt. Ba phía kia, dân thưa hơn vì nước phèn. Hầu hết dân xã An Hòa theo đạo Thiên Chúa, linh mục chánh xứ tên là Nguyễn Thượng Hiền, chưa già lắm, còn nhanh nhẹn, chống Cộng một cách kín đáo vì xã ông gần mật khu Trà Tiên. Ổng sợ; nửa đêm tụi nó mò ra “thịt” ông dễ như không! Dân ở đây gốc Bắc, không phải di cư năm 1954 mà trước đó khá lâu. Khoảng năm 1939, 40, Tây đồn điền dụ dỗ họ vào Nam, không vào miền Đông Nam bộ làm phu cạo mũ cao su mà về vùng Rạch Giá làm ruộng. Vùng Cờ Đỏ ở Long Xuyên, vùng Nam Thái Sơn ở Rạch Giá như tôi đã trình bày trong bài Hòn Đất – Chị Sứ, và vùng núi Trầu nầy là dân Bắc di dân vào hồi ấy.

Thế rồi Tây thất trận bên nước họ, nước Pháp bị Đức Hitler chiếm đóng, Tây thực dân bên nầy sa cơ lỡ vận, để cho các đám di dân nầy vất vưỡng. Vậy là các ông cha đạo tìm tới, truyền giảng, giúp đỡ. Dân vùng núi Trầu theo đạo gần hết. Dân Nam Thái Sơn và Cờ Đỏ thì không. Dù theo hay không, năm 1945, 46 hầu hết đều theo Việt Minh chống Pháp, ai ai cũng yêu nước, nhiệt tình, hăng hái.

Hồi 9 năm (Tiếng dân địa phương gọi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt: 1945-54), núi Trầu là cơ xưởng công binh của Việt Minh, chế tạo mìn, tạc đạn, lựu đạn nội hóa… Năm 1953, vào dịp Tết, lính nhảy dù Tây nhảy xuống núi Trầu, gặp thanh niên, đàn ông, ông già đều bắn hết như tôi có kể trong bài nói về Tết Mậu Thân ở Huế 1968. Việt Cộng tàn ác hơn cả Tây Marốc hồi đó. Ở Huế, chúng nó giết cả đàn bà, con gái, trẻ em… Cho nên, người dân An Hòa, giống dân Huế một điểm, tới ngày Tết, nhà nào cũng có giỗ để cúng người bị giết, bị Tây giết như ở An Hòa hay bị Việt Cộng giết như ở Huế.

Hồi tập kết năm 1954, dân Cờ Đỏ, Nam Thái Sơn nhiều người tập kết ra Bắc theo Cộng Sản, như Nguyễn Quang Quýnh, dân Nam-Thái-Sơn, làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang sau 30 tháng Tư- 1975, sau đó bị mất chức.

Dân An Hòa, không ai tập kết. Hầu hết rời Việt Minh, theo Quốc Gia và chống Cộng. Ngoài trừ một mình Ba Nhân, theo Việt Cộng làm kinh tài để kiếm tiền bỏ túi. Tên nầy bị phe ta phục kích giết ở Tà Keo. Tôi có đọc hết giấy tờ hồ sơ riêng của tên nầy trôi trên kinh, do dân chúng vớt được. Không biết lực lượng nào phe ta bắn chết y, hình như họ để cho xác y trôi ra biển sau khi lấy số tiền trong người y vì y là cán bộ kinh tài.

            Dân An Hòa làm nhiều nghề để sinh sống, trước hết là nghề đốt lò vôi. Vôi trắng để sơn nhà. Độc giả thấy ở Bến Hàm Tử trên Chợ Lớn có mấy “dựa” (vựa) bán vôi, ấy là vôi của dân An Hòa như ông Ba Để, ông Ba Nhân, ông Chín Vĩnh… chở lên cho chủ vựa, hay chính họ cũng lên mở vựa bán vôi trên ấy như ông Đức Thắng, tự Thắng Cụt.

Hai là nghề làm ruộng, không nhiều, chỉ đủ gạo ăn.

Ba là nghề trồng rau xanh – thường gọi là làm rẩy -, vì thị trường tiêu thụ không có nên trồng cũng không nhiều. Gốc Bắc Kỳ, không ít nhà trồng rau muống. Ở đây người ta trồng rau muống khác với Huế, (Rau muống nước) hay Dốc Mơ, Gia Kiệm (Rau muống khô). Đất quanh núi Trầu rất tốt, là đất than bùn, đen như bùn. Tới mùa khô, người dân cuốc đất lên, phơi đất cho khô, cào đất cho tơi, rồi rải hột xuống như người ta gieo mạ, tưới hơi ẩm thôi. Hột rau muống chen nhau mà mọc, kín quá, thiếu nắng nên cọng rau trắng như cọng giá. Khi ăn, người ta nhổ như nhổ mạ, cắt ngang gộc, đem nấu với vịt, chao, gọi là vịt nấu chao, là món thường dùng đãi khách quí.

Thứ tư là nghề làm cá. Có hai loại: Cá biển và cá đồng. Xã An Hòa có vài chủ ghe đánh cá biển bằng loại ghe xịp, đánh cá bằng cách xúc. Chiếc ghe có hai cái càng dài. Khi ra tới biển, chỗ nào có cá thì gắn lưới vào hai cái càng, đẩy hai cái càng tới trước. Ghe vừa chạy vừa xúc cá. Thỉnh thoảng, kéo hai cái càng lên mà xúc cá, tôm mắc vào lưới. Cá biển không nhiều, phần nhiều là cá phân (Cá để làm phân), bán cho hãng Somaco của ông Đặng Văn Lân (em bác sĩ Đặng Văn Sung) ở Hòn Heo. Một ít loại cá lớn hơn, ăn được thì đem bán ở chợ quận hay phơi khô. Họ cũng đánh bắt được nhiều tôm, chỉ đủ bán cho dân địa phương. Cứ khoảng chiều, họ cho ghe nổ máy chạy ra đánh cá ở vịnh Thái Lan, gần biển, không đi xa quá. Đánh bắt suốt đêm, đến sáng thì về. Dĩ nhiên, muốn có huê lợi chút ít, trong nhà cần có con trai. Người già không làm nỗi. Khổ nỗi con trai tới tuổi “quân dịt quân gà” thì phải tìm cách trốn tránh như hoãn dịch vì lý do tu sĩ (tôn giáo) mà có tu hành gì đâu, con trai độc nhứt vì có cha mẹ già trên 60 tuổi (phần nhiều làm hồ sơ giả), làm giấy căn cước quá tuổi đi lính, hoặc làm lính kiểng. Cách nào cũng phải tốn tiền trà nước mới xong. Nhờ có ghe đánh cá, có huê lợi nên cũng đỡ hơn các gia đình nhà nghèo khác. Được cái, làm nghề cá biển không dính dáng gì tới Việt Cộng như làm cá đồng.

Làm cá đồng “quan hệ” với Việt Cộng như thế nào?

Mùa nước nổi, đồng hoang hay đồng lúa, nước lên ngập cả. Cá từ trên nguồn sông Bassac, tức sông Hậu, theo nước tràn vô đồng, sinh sôi nẩy nở vô số kể. Khi nước rút, cá tụ lại trong những cái vũng sâu ở trong đồng, thường gọi là đìa. Nước càng ngày càng khô, cá càng ngày càng rặc. Người dân chỉ cần lội xuống, lấy thùng mà múc, chẳng cần lưới, câu gì cả. Bắt cá phải đúng lúc, nước còn nhiều khó hốt, nước rặc quá, cá sẽ hôi bùn, khó ăn. Một vũng nước như vậy, “thu hoạch” ba bốn chục thùng (loại 20 lít) là thường, kiếm cả trăm ngàn. Mối lợi thiên nhiên nầy có từ ngàn xưa.

Hai Tiếu, tên là Nguyễn Văn Thôn, tự Tiếu, nguyên là nghĩa quân, trưởng  ấp Ngã Ba, xã An Bình. Anh ta trốn vô rừng theo Việt Cộng, làm du kích. Vì thiếu cán bộ hạ tầng cơ sở, theo Việt Cộng chưa được ba năm, Tiếu đã lên tới chức bí thư xã. Tới chức nầy thì quyền hạn lắm, gia đình y, còn ở ngoài bờ kinh, vùng Quốc Gia, nhưng có nhiều quyền lợi ở trỏng. Ví dụ như chỉ gia đình y mới được đốn tràm đem ra bán cho chủ vựa, (Việc nầy tôi sẽ nói rõ hơn khi nói về mấy tay “trời thần đất lỡ” như Tư Trạng, và Năm Tu Hú) hoặc về mùa khô, chỉ gia đình y mới được bắt cá trong các đìa, hoặc giao cho người khác bắt đìa, chia chác cho gia đình y, v.v…

Bọn Việt Cộng thì ở trong mật khu, giữ các nguồn lợi trong rừng, đặc biệt dành riêng cho gia đình hoặc ban phát cho ai có lợi cho chúng hoặc làm giao liên cho Việt Cộng. Gia đình Hai Tiếu, gồm mẹ, vợ và hai con của y cũng như người dân, nhà thì ở ngoài bờ kinh Rạch Giá – Hà Tiên, vùng Quốc Gia. Khi đi làm đồng, đi bắt cá hoặc đốn tràm, họ mới vào rừng tràm; sáng đi chiều về. Chỉ có vợ Hai Tiếu nhiều khi mới ở lại trong mật khu với chồng, khi có bầu thì vào bệnh viện Hà Tiên hay Rạch Giá để chính quyền Quốc Gia lo việc sinh nở.

Quyền lợi ở trong rừng tràm, Quốc Gia không đủ sức giữ an ninh được, nên mặc sức chúng ban phát cho ai thì ban. Người dân có tranh tụng nhau quyền lợi trong đó thì Việt Cộng đứng ra phân xử. Dân thì ở với mình, có gì tranh chấp, Việt Cộng xử, thế mới tức, nhưng mình chẳng làm gì được. Có làm được gì chúng, sẽ nói ở phần sau: Phần nói về Giặc Mùa. Tuy nhiên, tiếp sau bài nầy tôi sẽ nói về mật khu Trà Tiên với Giang Thành Dạ Cổ, theo lời khai của “Hồi chánh viên Hoàng Thị Vân.”

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 25 Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Bài 4

Đường Giây 1-C

Để xâm lược miền Nam, Cộng Sản Hà Nội mở ra nhiều con đường bí mật để vận chuyển khí cụ chiến tranh và chuyển quân. Lớn nhứt là con đường được gọi là “Đường Mòn Hồ Chí Minh”. Gọi là đường mòn, nhưng đường nầy lớn lắm, xe cộ chạy nghênh ngang trong rừng Trường Sơn. Thứ hai là con đường biển, cũng gọi là “Đường Hồ Chí Minh trên biển.”

            Xưa hơn, đường giây 1-C tôi nói ở đây cũng là đường mòn, nhưng có từ thời Việt Minh đánh nhau với Tây.

            Trong Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhứt, (1945-54), cũng như Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Hai (1959-75) (1), chiến trường Kampuchia và chiến trường miền Nam giống như môi với răng. “Hồi 9 năm”, (1945-54), bộ đội Việt Minh ở miền Tây thường qua đánh nhau với Tây bên Kampuchia. Quí độc giả nếu ai đã đọc “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên chắc biết điều nầy có nói tới trong đó, nhất là khi Tư Cầu chỉ huy một đơn vị bộ đội ở Châu Đốc.

Bộ đội Việt Minh qua lại biên giới rất thường xuyên. Vài người dân Rạch Giá như ông Hồng Ràng, ông Năm Vịnh, mấy ông nầy theo đạo Thiên Chúa từ mấy đời trước nhưng cũng theo Việt Minh đánh Tây, sau nầy bỏ Việt Minh, không tập kết ra Bắc, có kể cho tôi nghe hồi đó họ từng đi đánh Tây ở Kompong-Trach bên Kampuchia, huống chi sau nầy, khi Sihanouk cho Cộng Sản Bắc Việt mượn đất Kampuchia làm hành lang xâm nhập thì những con đường giao liên từ Kampuchia qua Việt Nam và ngược lại là rất quan trọng.

            Do tình hình đó, từ hồi mới có chiến tranh lần trước, Việt Minh đã mở một con đường liên lạc, chuyển quân, chuyển vận vũ khí từ Kampuchia qua Việt Nam. Con đường đi từ Kampuchia qua khu rừng tràm Trà Tiên, vượt qua liên tỉnh lộ 8-A để đi về U-Minh là con đường huyết mạch của Cộng Sản.

Trong hồ sơ trận liệt, con đường nầy được gọi là đường 1-C. Tôi không rõ ai đặt tên là 1-C, phía Quốc Gia hay Cộng Sản, và tên đó có từ lúc nào. Con đường nầy đi qua ấp Tà Keo, ấp phía bắc của xã Mỹ Lâm, bản quán của Nguyễn Tấn Dũng. Việt Cộng cố sống cố chết giữ Tà Keo, và cũng có thể đó cũng là lý do khiến Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng rất sớm, khi còn trẻ con, cùng bọn du kích giữ Tà-Keo, giữ con đường huyết mạch của Việt Cộng.

            Đường giây 1-C bắt đầu từ bên Kampuchia, địa phận tỉnh Kompong-Trach của xứ Miên, băng qua khu rừng tràm Trà Tiên, đi theo một con kinh được đào hồi kháng chiến chống Pháp nên gọi là “kinh Kháng Chiến”, xuống tới vùng Kinh Hãng, tức vùng Nam Thái Sơn, tới Tà Keo, vượt qua cây số 15 trên LTL 8-A, đi ngang xã Giục Tượng mà về “miệt Thứ”, (miệt là vùng, có nhiều kinh: kinh thứ nhất, thứ nhì, thứ ba… nên dân chúng gọi là “miệt thứ”), quận Hiếu Lễ, U-minh. Tôi xin kể từng đoạn một.

            “R” (đọc là Rờ), bí danh của Trung Ương Cục Miền Nam, không khi nào nằm một chỗ ở phía bên Việt Nam hay bên Kampuchia. “R” nó đung đưa qua lại là do tình hình khi dịu khi căng. Khi dịu, hay khi Việt Cộng mạnh lên, Quốc Gia co lại thì “R” mò về đóng ở mật khu Trà Tiên. Khi tướng Trưởng làm tư lệnh vùng 4, ông dùng “chiến thuật Diều Hâu”, thường cho trực thăng đổ quân bất tử lên đầu Việt Cộng nên Việt Cộng sợ bị tấn công bất ngờ, trở tay không kịp, bị nắm đầu cả đám. Khi tướng Nam làm tư lệnh vùng 4, ông cũng cho hành quân bất tử nên “R” cũng chém vè qua bên kia biên giới. Mấy năm Saigon lo chuyện đảo chánh hơn lo đánh nhau với Việt Cộng thì chúng mò về bên nầy hoạt động.

            Bên cạnh cục “R” khi ở khi chạy, là tỉnh ủy Long Châu Hà cũng đóng ở mật khu Trà Tiên. Gọi là Long Châu Hà vì đó là tên gọi tắt ba tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên. Ở các tỉnh nầy, hồi chiến tranh, Việt Cộng không có đất cũng không có dân, chỉ loanh quanh trong khu rừng tràm. Khu rừng tràm nầy tiếp giáp với cả ba tỉnh nói trên, nên chúng đặt ra một tỉnh ủy chung, chỉ đạo hoạt động cả ba phía: Phía đông bắc cho hai tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, phía nam cho (tỉnh) Hà Tiên. Tôi gọi là tỉnh Hà Tiên là gọi theo thời Tây cai trị.

Hồi ấy Hà Tiên là một tỉnh, không thuộc tỉnh Rạch Giá (Rạch Giá cũng là tên thời Tây). Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, cố tổng thống Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Rạch Giá thành Kiên Giang (tỉnh nầy có con sông tên là Kiên Giang), Hà Tiên trở thành một quận, thuộc Kiên Giang. Hồi đó, lúc ban đầu, Việt Cộng không gọi theo cách phân chia địa giới của tổng thống Ngô Đình Diệm, mà gọi theo Tây nên mới có Long-Châu-Hà.

            Rừng tràm Trà Tiên là rừng cổ lắm, không biết các nhà địa lý có gọi nó là rừng nguyên thủy hay không. Quí độc giả nếu có thấy cây tràm người ta chở lên bán ở Saigon để đóng móng nhà,       đừng tưởng rằng cây tràm chỉ to có như thế. Tràm Trà tiên lớn lắm, có thân cây hai người ôm không xuể. Rừng trải dài từ phía Kampuchia cho tới địa giới Châu Đốc, Long Xuyên, Kiên Giang. Tôi từng đi máy bay qua khu rừng tràm nầy, từ Long Xuyên về nhà máy ximăng Hà Tiên ở quận Kiên Lương. Máy bay bay hơn nửa tiếng đồng hồ, nhìn xuống dưới, chỉ thấy rừng xanh bát ngát.

            Thân tràm cao trên 10 thước, tàng cây xòe rộng, đi dưới rừng tràm lâu lâu mới thấy mặt trời nếu như hôm đó trời nắng, còn không thì âm u suốt ngày như ở U-Minh vậy. Trên thì tàng cây, dưới là nước, lâu lâu mới gặp chỗ cao, không có nước, di chuyển thì phải dùng xuồng, tiện nhứt là xuồng ba lá. Ấy là nói mùa khô, còn tới mùa nước nổi thì chỗ nào cũng toàn là nước. Đi hành quân vô tới rừng tràm Trà Tiên, người ta không khỏi than thầm: Rừng nước mênh mông vậy, làm sao mà tìm cho ra Việt Cộng. Bọn Việt Cộng ở trong rừng, tụi nó rành đường lắm. Mới thấy tụi nó lấp ló xa xa, chưa kịp đưa súng lên nhắm thì nó chống xuồng một cái “réch”, mất dạng sau đám sậy đế, ô rô, cóc kèn hoặc rừng bàng. Bàng là loại cây thảo, dùng để đan đệm hay làm bị bàng, v.v… Vướng vô đám rừng bàng, cây bàng níu mình lại, rứt không ra được.

            Hồi ấy, cũng có vài lần “tui” mò vô rừng tràm Trà Tiên, hỏi thăm sức khỏe tỉnh ủy Long Châu Hà. Chắc chắn khi đó Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên, lo trốn biệt, làm sao mà thấy mặt tui.

Một khu rừng tràm cổ xưa như vậy, dĩ nhiên có nhiều chuyện “phong thần”, ai tin hay không tin thì tùy, nhưng tôi cũng xin kể ra đây. Ông Hồng Ràng kể cho tôi nghe, hồi 9 năm, ông ta theo bộ đội Việt Minh từ Kampuchia về lại Việt Nam. Đơn vị của ông cho hai anh bộ đội đi đầu dò đường, rồi về báo cáo lại. Hai anh nầy đi biệt tích, cấp chỉ huy đoán rằng có lẽ hai anh nầy bỏ theo Tây rồi. Nửa tháng sau, đám bộ đội của ông Hồng Ràng được lệnh phải về gấp, không cần cho người đi mở đường. Về tới giữa rừng tràm thì gặp con thuồng luồng dài hơn hai chục thước. Cả đám xúm lại nổ súng, bắn chết con vật. Khi mổ bụng nó, thấy xác hai anh bộ đội “còn y nằm trong bụng” nó, mấy trái lựu đạn cũng chưa nổ.

            Tôi tin có thể có chuyện con thuồng luồng, nhưng tôi không tin chuyện xác hai anh bộ đội còn y. Thuồng luồng cũng là loài bò sát như con trăn. Khi con trăn, – phải là trăn rừng -, ăn con heo hay con bò, nó phải treo mình trên cây, hả họng xuống đất, chuyển thân mình cho xương heo hay xương bò rớt ra ngoài. Con vật chỉ tiêu hóa được thịt da mà không tiêu hóa được xương. Do đó, xác hai anh bộ đội không thể còn y được.

Phía nam rừng Trà Tiên, gần biển, có mấy ngọn núi đá, có hang đá. Vùng này là vùng đá vôi, nên nhà máy ximăng Hà Tiên mới được xây dựng ở đây để lấy vôi. Vì vậy nên có con kỳ đà –Vùng nầy có khá nhiều kỳ đà – cứ ở suốt ngày đêm trong hang. Khi nước thủy triều lên (Vùng nầy thủy triều lên mỗi ngày hai lần), nước biển tràn vào ngập hang, mang theo cá vào để làm thức ăn cho con kỳ đà. Nay con kỳ đà đã già, thân mình đã to lắm, không thể ra khỏi hang được. Bộ đội Việt Minh bắn được con kỳ đà, khó khăn lắm mới bò vào được trong hang, xẻo thịt đem con kỳ đà ra.

            Còn ngoài biển?

Hồi xưa ngoài biển có nhiều thuồng luồng và nhiều ghe cướp biển. Nhiều khi thuồng luồng ngóc đầu đuổi theo ghe biển để ăn thịt người. Chuyện thật hay bịa, xin hãy xét sau, nhưng ít ra những câu chuyện như thế, cho chúng ta thấy tính chất hoang sơ của vùng nầy vẫn chưa hết, bằng chứng là những cây tràm to, thường thường bằng cái cột nhà lớn, Việt Cộng đốn xuống, sắp lại cây ngang gác cây dọc, cây dọc gác cây ngang mà làm hầm. Bom nào, đạn cà-nông nào mà phá được những cái hầm như thế. Còn nữa, cái hoang sơ đó ở trong một vài cái tên như tên Giục Tượng (xã). Chữ tượng nầy được dùng theo tiếng Hán Việt. Tượng là voi. Vùng nầy, xuống cho tới U Minh, Cà Mau, xưa cũng có nhiều voi.

            Chuyện thuồng luồng đã qua rồi. Có lẽ nay loài thuồng luồng đã tuyệt chủng, nhưng trăn thì còn nhiều. Đây là loại trăn đồng, lớn lắm cũng chỉ bằng bắp chuối, bắt chúng cũng khá dễ. Tới mùa “trăn hội” – Trăn hội là tiếng dùng của dân địa phương – tức là mùa con trăn cái động đực, cả chục con trăn đực tìm tới, nên người ta gọi là “hội”. Người đi bắt trăn chỉ mang cái khăn rằn và cái giỏ đựng trăn. Khi thấy con trăn, người ta dùng cái khăn phất ngang mặt nó. Nó mở miệng đớp cái khăn và kẹt cứng ở đó. Người bắt trăn đè cổ con trăn xuống, bỏ vào giỏ. Đơn giản chỉ có vậy, nhưng người bắt trăn phải có nghề. Họ tìm theo dấu con trăn bò trên đất, thường là đất bùn, nước rút nhưng đất chưa khô, để biết con trăn lớn nhỏ như thế nào, thậm chí người ta còn biết thương tật của con trăn. Nhiều con bị gãy ngang sống lưng nhưng vẫn sống. Con trăn bị lột da, phơi khô đem bán lên Saigon để người ta làm giày dép xách tay cho mấy bà, mấy cô, còn thịt trăn thì ăn nhậu. Có người cho tôi một khúc thịt trăn, con trăn đã chết mà khúc thịt còn động đậy, khiếp lắm, ăn gì được, phải đem cho người khác.

            Lâu lâu tôi cũng ăn thịt heo rừng của các ông phi công trực thăng đem bán. Té ra mấy chả bay trong rừng, thấy heo, bắn rồi đem bán kiếm tiền. Qua bắc Mỹ Thuận, người ta thấy có bán nhiều loại chim sống, chim thịt. Phần nhiều không ngon. Về Rạch Giá ăn món cu xanh thì tuyệt. Cu xanh rô-ti ăn với bánh mì rất khó quên. Tới mùa lúa, cu xanh bay từng đàn “ngợp trời”. Chúng sà xuống đám lúa mới chín và làm hại lúa không ít. Nhờ có lúa chín, mùa nầy cu xanh mập lắm. Người ta dùng lưới bẫy đàn chim, mỗi lần bắt được năm, bảy chục con là chuyện thường. Có điều “tàn bạo”. Con cu xanh đang sống; trước khi nhổ lông, người ta bẻ cổ con chim cu cho chết!

            Chuyện ăn ở đây thì nhiều lắm, nói không hết, phần nhiều là cá, loài bò sát và không ít những chú rắn độc. Ra khỏi rừng Trà Tiên là tới kinh Kháng Chiến, cũng còn rừng tràm nhưng thưa hơn…

Báo chí Tây phương thường tính rằng chiến tranh Đông Dương lần thứ hai là từ 1965 đến 1975. Năm 1965 là năm Mỹ đổ quân vào Việt Nam. Tôi cho rằng tính như vậy là không thực tế. Từ 1959, Cộng Sản Bắc Việt đã lo làm đường Trường Sơn để xâm lược miền Nam rồi. Tháng 5 năm 1959, bộ đội của Đồng Sĩ Nguyên đã thực hiện công việc nầy, nên đám nầy thường được gọi là bộ đội 559.

Nhắn tin:

Anh Trần Văn Thông. Anh có e-mail cho tôi hỏi tôi có phải là dân Rạch Giá hay không, hoặc ở Rạch Giá lâu nên biết nhiều chuyện như vậy. Thật ra, tôi về Cái Sắn trước hiệp định Paris có mấy tháng rồi hoạt động từ Cái Sắn cho tới Hà Tiên tới ngày “đứt phim”. Vì tôi là người đánh giặc ở miền quê, miệt vườn, miệt ruộng, lại có liên quan đến ngành tình báo, nên tiếp xúc với dân chúng, với chú Ba, chú Bảy, v.v… là chuyện thường ngày. Qua chuyện trò với họ, tôi nghe và thấy nhiều chuyện “Hương Tràm Trà Tiên.”  Và tôi yêu xứ nầy như quê hương thứ hai của tôi, ngoài Quảng Trị là nơi tôi sinh đẻ và học hành thời thơ ấu, học hành và dạy học ở Huế cọng chung là 15 năm (tôi có 2 cuốn Viết Về Huế đã xuất bản).

Sau khi “đứt phim”, về Saigon nhớ miệt nầy, tôi gần như muốn khóc. Trừ mấy năm trong trại tù Cộng Sản, khổ quá, tôi ít nhớ hơn. Nay qua Mỹ, nghỉ hưu, lại nhớ dữ, nên tôi viết một cuốn sách đề là “Hương Tràm Trà Tiên” kể chuyện cũ cho ai quê vùng nầy, đọc để mà nhớ nhà chơi!

Có gì sơ xuất, xin thông cảm.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

October 2nd, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Sơn râu 24 Nov 2023

Kỳ 21

Trong chương quay về quê hương với đầy thương tích, Sakai hé lộ tình cảm của mình đối với Hatsuyo, là cô em họ cùng huyết thống. Cha của Hatsuyo là chú ruột của Sakai.

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 21

Chương 19

Sakai đáp xuống Rabaul sau khi bị thương, tháng 8-1942  

Tôi hồi tỉnh, ngước nhìn bầu trời. Thân thể tôi hình như đong đưa. Tôi xoay lại, nhận ra Sasai và Nakajima. Hai sĩ quan đã leo lên cánh phi cơ và đang khiêng tôi xuống. Tiếng nói lớn của Nishizawa vang lên giữa những thì thầm của đám đông tụ họp. “Mau, kêu một chiếc xe!”, hắn nạt nộ mấy tên chạy việc. “Mau lên! Chạy đến phòng hành quân, gọi điện cho y sĩ trưởng. Mau lên, mấy thằng chó đẻ này!”.
Tôi chưa thể vô bịnh viện ngay được. Tôi phải phúc trình với đại tá Saito trước khi làm bất cứ cái gì khác. Chúng tôi phải luôn luôn trình diện Bộ Chỉ Huy sau công tác. Những chi tiết báo cáo hoạt động trong ngày xoay chuyển trong đầu óc của tôi.

Tôi giơ tay mặt lên, ra dấu cho Sasai và Nakajima đặt tôi xuống. Tôi thì thào: “Tôi phải báo cáo. Ðể tôi đi đến Bộ Chỉ Huy.” Nakajima nạt tôi: “Cần mẹ gì, việc đó thủng thẳng cũng được. Chúng tôi sẽ nói là đưa anh vô bịnh viện.”

Tôi khăng khăng và la lớn rằng tôi phải viết báo cáo. Nishizawa bước đến, và với Ota một bên, cả hai dìu tôi vô Bộ Chỉ Huy. Nishizawa càu nhàu luôn miệng: “Nát ngướu như xác chết mà còn báo cáo!”. Tôi nhớ lại, tôi đã đứng một cách khó khăn trước mặt Ðại tá Saito, với đôi mắt của ông đang nhìn tôi bán tín bán nghi. Tôi suy nghĩ để nói, nhưng mọi vật bắt đầu nhuộm đen trở lại. Bỗng nhiên tôi muốn đi ngủ. Phải ngủ! Tôi đang làm gì ở đây? Rồi tất cả là một màu đen thẫm.

Nishizawa và Ota lôi tôi ra xe (họ kể lại sau đó) đang đậu ở bên ngoài Bộ Chỉ Huy. Nishizawa nhảy lên xe lái như giông như gió đến bịnh viện. Sasai và Ota ngồi vịn tôi ở băng sau. Vị y sĩ trưởng đang chờ tôi trong phòng cấp cứu. Ông cắt bộ quân phục đã te tua của tôi ra và bắt đầu may ngay các vết thương cho tôi. Qua giấc ngủ, tôi cảm thấy đau đớn từng chập mỗi khi vết dao cắt vào da đầu của tôi. (Ông đã cất hai miểng đạn đại liên 50 để đưa cho tôi coi sau đó). Tôi cảm giác có một con dao sắc bén nạo trên xương sọ của mình.

Tôi tỉnh hẳn hầu như ngay khi cuộc giải phẫu vừa xong. Tôi nhìn lên khi viên bác sĩ cúi xuống. Ðôi mắt của tôi! Tôi nhớ lại đôi mắt của tôi. Thình lình những nỗi sợ hãi phủ chụp lấy tôi. “Mắt của tôi!” Tôi la lớn, “Mắt của tôi ra sao, bác sĩ ?”

“Anh bị thương trầm trọng”, ông ta đáp. “Ở đây tôi không thể nào chữa trị được.” Ông nhìn ngay tôi và tiếp. “Phải gởi anh về Nhựt Bản để một chuyên viên nhãn khoa chữa trị cho anh.” Một cảm giác bi thương tràn ngập hồn tôi. Tôi lo sợ con mắt phải của tôi. Phía phải này tôi không thể nhìn thấy gì cả. Ý nghĩ đui mù làm tôi khủng khiếp. Ðời một phi công chiến đấu kể như tàn rồi. Tôi phải bay; tôi phải lái chiến đấu cơ trở lại!

Bốn ngày trôi qua trì trệ trong bịnh viện với những lần vải băng quấn khắp thân thể tôi. Bác sĩ lấy ra bốn mảnh kim khí ghim trong thịt cũng như nhiều miếng sắt trên đôi má của tôi. Ðến ngày thứ tư tôi cảm thấy chân và tay trái cử động được chút ít. Vết thương ở cánh tay mặt và ở đầu thối rữa, do khí hậu quá ẩm thấp của miền nhiệt đới, và mắt phải tôi vẫn còn mù.

Trong lúc đó, những nhát chổi chiến đấu cơ và các cuộc không tập của oanh tạc cơ dập xuống Guadalcanal không ngừng nghỉ. Mỗi ngày tôi đều nghe tiếng gầm thét của phi cơ cất cánh và hạ cánh xuống phi đạo. Rabaul có nhiều khách viếng thăm mỗi ngày, những chiếc pháo đài bay. Chúng bay đến tấn công hai phi trường ở đây từ trên cao độ. Mỗi lần oanh tạc cơ địch xuất hiện, tôi và các bịnh nhân khác đều được mang xuống hầm trú ẩn.

Mỗi đêm Ðại úy Sasai và Trung tá Nakajima đều đến thăm tôi. Họ đồng ý rằng tôi nên trở về Nhựt. Theo họ, chỉ có khí hậu điều hoà ở quê hương và một chuyên viên nhãn khoa tài ba mới có thể chữa lành mắt của tôi. Tôi từ chối trở về xứ. Tôi nhấn mạnh rằng bệnh tình của tôi có thể chữa trị ngay ở Rabaul, và tôi có thể bay trở lại trong vòng một vài tuần. Tôi cáu kỉnh vô lý và trở nên hung dữ.

Khó có thể giải thích sự ngần ngừ của tôi không muốn rời khỏi địa ngục Rabaul. Tôi chỉ ý thức rằng vào lúc này, tôi đang bị bao vây bởi viễn ảnh bi thảm: cuộc đời phi công của tôi chấm dứt. Cũng có vấn đề thể diện. Tôi cảm thấy bao lâu tôi còn ở Rabaul, tôi vẫn còn thể diện. Ngay cả nếu tôi không bay lại được, tôi cũng có thể giúp đỡ những phi công mới vô nghề. Tôi có thể khuyên họ tránh những sai lầm có thể đưa đến cái chết của họ. Tất cả những lý do đó trộn lẫn thành một. Chuyến trở về Nhựt Bản của tôi có nghĩa là tôi sẽ nhận lãnh sự phán xét cuối cùng bởi một chuyên viên nhãn khoa, và tôi sợ phát điên lên khi phải nghe sự thật.

Vấn đề này kết thúc vào sáng ngày 11 tháng 8, khi Ðại tá Saito, chỉ huy trưởng căn cứ Lae, bước đến cạnh giường tôi. Sự tử tế mà ông dành cho tôi đã hết mức, và cũng ngang bằng với sự cứng rắn của ông bây giờ. “Tôi thông cảm với anh, Sakai”, ông nói, “nhưng tôi đã đắn đo suy xét. Anh sẽ được gởi về Nhựt, và vô bịnh viện hải quân Yokosuka. Ðây là lịnh của tôi. Anh sẽ đáp vận tải cơ đi vào ngày mai. Vị bác sĩ ở đây đã cho tôi biết bịnh tình của anh chỉ hy vọng vào các bác sĩ ở Yokosuka mà thôi.”

Ông mỉm cười với tôi. “Chuyến trở về quê hương của anh sẽ khiến cho chúng tôi yên lòng nhiều hơn anh nữa. Tất cả chúng tôi đều biết anh sẽ được săn sóc thuốc men cẩn thận ở Nhựt.” Ông ta đứng dậy nhìn tôi giây lát rồi nghiêng mình xuống, đặt tay lên vai tôi. “Ðối với tất cả chúng tôi, anh đã làm được một việc phi thường, Saburo,” ông dịu dàng nói. “Tất cả những ai đã từng biết anh, từng được bay chung và chiến đấu với anh, đều hãnh diện vì anh. Khi các vết thương của anh lành lặn, hãy trở lại đây với chúng tôi.” Thế rồi ông bước ra ngoài.

Ðêm đó  Sasai đến thăm tôi. Ông có vẻ mệt mỏi sau phi vụ trong ngày ở Guadalcanal. Tôi cho ông biết tôi được lệnh về xứ ngày mai. Giây lát sau, tất cả các bạn thân của tôi đều tụ họp trong phòng, bày ra một buổi tiệc chia tay nhỏ. Không ai ca hát, không ai nói chuyện ồn ào hoặc đùa giỡn. Chúng tôi chuyện trò to nhỏ, hầu hết nhắc về quê hương.

Nhưng người Mỹ có ý định khác hơn đối với buổi tụ họp nho nhỏ của chúng tôi. Sự yên tĩnh của một đôi giờ chấm dứt đột ngột với những bước chân dồn dập chạy vô các hầm trú ẩn. Tôi được một số phi công khiêng ra khỏi bịnh viện. Tôi nghiến răng xấu hổ và đắng cay với sự bất lực của mình. Ðây chính là những phi công mà tôi từng cầm đầu khi chiến đấu, và bây giờ họ khiêng tôi đi, giống như một đứa trẻ mù loà, què quặt! Tôi muốn la hét và giựt hết những lần băng quấn quanh thân thể mình. Nhưng tất cả những gì mà tôi có thể làm là nằm bất động với đôi mắt nhắm nghiền.

Sáng sớm hôm sau, tôi lê thân chầm chậm ra cầu tàu, một chiếc ca-nô đang chờ để đưa tôi ra một chiếc thuỷ phi cơ bỏ neo trên mặt nước.

Sasai siết chặt tay tôi. “Tôi sẽ nhớ anh, Saburo. Anh không bao giờ biết được lòng tôi đối với anh.”
Hai giòng lệ chảy dài xuống đôi má tôi, tôi không thể nào cầm được. Tôi xúc động và chỉ có thể nắm chặt lấy tay Sasai.

Sasai rút tay lại, tháo vội dây nịt đang đeo và trao nó cho tôi. Tôi nhìn “Con Cọp Gầm” khắc sắc sảo trên cái khoá. “Saburo, sợi dây nịt này của ba tôi tặng. Một sợi cho tôi, một sợi cho anh rể tôi. Anh rể tôi đã chết. Tôi không mấy tin vào sự linh ứng của con cọp bằng bạc này, nhưng tôi muốn anh giữ và mang nó. Tôi hy vọng nó sẽ giúp anh trở lại đây với chúng tôi.”

Tôi từ chối, nhưng vô ích. Sasai bỏ sợi dây nịt vô túi của tôi, rồi nắm lấy tay tôi. “Tôi sẽ gặp anh trở lại, Saburo. Ðừng nói lời từ biệt! chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau, tôi hy vọng.”

Saburo Sakai và Đại úy Sasai tại căn cứ Rabaul tháng 8-1942

Ông dìu tôi xuống ca-nô. Một phút sau nó lướt sóng hướng đến chiếc thuỷ phi cơ đang chờ đợi. Nishizawa, Ota, Yonekawa, Hatori, Trung tá Nakajima và tất cả đồng đội khác của tôi vẫy tay trên cầu tàu. Họ la lớn dặn tôi sớm trở lại để bay với họ. Cầu tàu vang vang những tiếng gọi tên tôi “Saburo”, “Saburo”… Giây lát sau, hình ảnh họ mờ mờ. Tôi chỉ có thể nhìn thấy một vài thước với con mắt trái. Tôi cố gắng đứng thật thẳng trên ca-nô, giơ tay mặt lên, lúc bóng hình của mọi người mờ nhòa. Thế rồi tôi la thật lớn, và khóc như một đứa trẻ.

Trong chiếc thủy phi cơ có một vài hành khách khác. Một binh sĩ phục dịch được cắt đặt để săn sóc tôi trong chuyến đi, và nhiều thông tín viên chiến tranh. Chúng tôi ngừng lại ở Truk và Saipan để tái tiếp nhận nhiên liệu. Tôi rời xa mảnh đất quê hương đã lâu. Tình trạng hiện thời của nước Nhựt như thế nào, tôi không mảy may lưu tâm đến. Nhưng, tôi đã xúc động khi đặt chân lên Yokohama, một xúc động bất ngờ. Chiều ngày thứ Bảy, chúng tôi đáp xuống hải phận Yokohama. Không muốn trình diện bịnh viện vào đêm đó, tôi đi bộ vô thành phố để đón xe taxi đến nhà chú tôi ở phía Tây Tokyo.

Dân chúng ở đây tuyệt đối không biết đến những gì thực sự xảy ra trong cuộc chiến. Tôi như từ cung trăng rớt xuống giữa đám đông rộn rịp, giữa ánh đèn sáng trưng. Tôi không thể nào tin được những âm thanh lọt vô tai tôi, âm thanh của muôn ngàn tiếng cười, tiếng nói vô tư lự. Có phải thật là họ không biết những gì xảy ra ở Tây Nam Thái Bình Dương không?

Trên khắp đường phố, mỗi bản tin tức của đài phát thanh đều kèm theo nhạc khúc vang vang “Bước tiến của chiến hạm”, loan đi chi tiết các chiến thắng lừng lẫy của những trận hải chiến quanh quần đảo Solomon. Tôi không nghe gì khác hơn là danh sách những tàu chiến Mỹ bị tiêu diệt, hàng nhiều trăm phi cơ địch bị bắn rơi.

Những đám người mặc quần áo mùa Hè màu sặc sỡ dừng lại bên ngoài mấy cửa tiệm, hoặc đứng ở các góc phố để lắng nghe đài phát thanh huênh hoang. Mỗi lần xướng ngôn viên đề cập đến một chiến bại quan trọng của địch quân, tiếng reo hò nổi lên vang dội khắp phố. Quốc gia say sưa trên những chiến thắng lừa dối. Khó thể tin rằng có một cuộc chiến tranh hủy diệt đang diễn ra. Trong các cửa tiệm, tôi thấy có một số hàng hoá được phân chia theo khẩu phần, nhưng các nhu yếu phẩm có thể nói là phong phú.

Tôi muốn rời xa thành phố này tức khắc. Mọi thứ ở Lae và Rabaul hình như không thật. Có thể nào hai thế giới cách biệt này hiện hữu cùng một lúc không? Máu lửa, chết chóc và nỗi hoan hỉ dành cho những chiến thắng tưởng tượng chỉ cách nhau mấy giờ bay ngắn ngủi?

Tôi kêu một chiếc taxi và cho địa chỉ của chú tôi. Xe chạy ngang qua Yokohama và vô thành phố Ðông Kinh. Vài phút sau, một cảnh sát viên chận xe lại và cúi nhìn xuyên qua kiếng. Bộ quân phục của tôi lỗ chỗ vết máu và vết thương vẫn còn quấn băng. Hắn hỏi: “Anh làm sao vậy?”

“Tôi vừa ở mặt trận về,” tôi đáp một cách chua chát.

Hắn kêu lên: “Anh bị thương ở mặt trận! Mặt trận nào? Sao lại bị thương?”

“Tôi là phi công,” Tôi hắng giọng. “Ở Guadalcanal. Tôi bị đạn trong lúc chiến đấu.”

“Guadalcanal!” Ðôi mắt của viên cảnh sát trẻ bừng sáng. “Hôm nay tôi có nghe một số tin ở đó. Tôi biết rằng chỉ ngày hôm qua đây, chúng ta đã nghiền nát hết bọn Mỹ. Ðài phát thanh cho biết hải quân của chúng ta đánh chìm 5 tuần dương hạm, 10 quân vận hạm và mười khu trục hạm. Chắc chắn cảnh đó ngoạn mục lắm!”

Bao nhiêu đó quá lắm rồi! “Tôi rất tiếc, thưa Trung sĩ,” tôi nói mau. “Tôi phải đi gấp.” Tôi thét tên tài xế.

“Chạy đi! Tức khắc!”.

Nhiều năm rồi, tôi lại mới bước vô nhà của chú tôi. Ngôi nhà vẫn không có gì thay đổi. Tôi đứng bên lề đường nhiều phút, nhìn ngôi nhà, ánh đèn vàng và nghe những âm thanh quen thuộc. Một cảm giác yên bình kỳ lạ bao trùm lấy tôi. Quá khứ thức dậy trong tôi, và tôi đã mở cánh cửa giống như tôi đã mở lúc còn nhỏ. Tôi cũng sử dụng những tiếng nói tôi thường la lên khi bước vô nhà, “Cháu đây! Cháu về nhà rồi đây!”, “Hatsuyo, em đâu rồi?”

“Ai đó?” tiếng hỏi có vẻ giựt mình vọng lên từ nhà bếp. Tôi mỉm cười. Tiếng hỏi của thím tôi.

“Cháu đây!” Tôi đáp.

Yên lặng giây lát. “Cháu đây! Saburo đây!”. Tôi nói lớn một cách vui vẻ.

Tiếng hỏi đầy sửng sốt của chú tôi vang dội khắp nhà:

“Cái gì đó?” Rồi cả nhà chạy ùa ra hành lang.

Họ nhìn tôi trừng trừng cả một phút. Chú thím tôi, hai cô em họ Hatsuyo và Michio của tôi, không ai thốt nên lời, đứng im sững, miệng mở tròn trong nỗi kinh ngạc. Ðôi mắt Hatsuyo ngập thảng thốt. Tôi bình thản nhìn những người trước mặt khi đôi mắt của họ di chuyển xuống bộ quân phục và những lần vải băng hoen máu của tôi.

Chú tôi thì thào: “Có phải cháu thật không, Saburo? Ðây là Saburo, đây không phải là một hồn ma?” Ông chồm về phía trước, như sợ tôi tan biến.

“Không! Không phải là hồn ma”. Tôi đáp “Cháu thật đây mà. Cháu về nhà đây!”.

Thật giống như chết đi sống lại. Những trận đánh, chết chóc, thương tích, ấn tay vào cò súng, lộn nhào liên hồi để tránh né chiến đấu cơ địch truy đuổi, chui rúc vô những hầm trú ẩn ngập bùn… tất cả không còn nữa, tất cả đã trở thành không thật, xa lắm rồi. Một thế giới âm u, giống như hồn ma mà chú tôi đã tưởng, không còn treo lơ lửng trên đầu tôi nữa. Ðể tôi được ngồi trong căn nhà này một lần nữa, để lại trò chuyện với chú thím tôi, để lại nhìn thấy Hatsuyo và Michio, để thoải mái. Ðể biết nơi đây sẽ không có những trái bom đêm nay, không còn âm thanh gầm thét của oanh tạc cơ Marauder và Mitchell, không còn những tiếng nổ, những mảnh kim khí, những viên đạn chọc thủng vô tận phòng ngủ… mà chỉ có đường nét dịu dàng của Hatsuyo, với cử chỉ mềm mại lễ phép. Hatsuyo hết còn là cô nữ sinh như trong ký ức của tôi mà đã trở thành một thiếu nữ trưởng thành cực xinh đẹp. Tôi nhìn Hatsuyo với đầy ngạc nhiên. Michio cũng vậy, đã bắt đầu dậy thì. Nhưng tôi không ngớt ngắm Hatsuyo. Tôi cứ lắc lắc đầu trong hạnh phúc đầy kinh ngạc. Hầu như đã ba năm rồi, tôi mới trải qua một đêm yên ấm với gia đình này. Ðó là đêm đầu tiên trong nhiều năm, tôi mới được ngủ thẳng một giấc. Ngay cả mấy vết thương cũng không quấy rầy tôi.

Sáng hôm sau trước gương mặt âu lo của Hatsuyo, tôi đáp xe lửa đến Yokosuka. Ðời sống hàng ngày của dân chúng trong thành phố này hình như còn rộn rịp hơn cả thành phố Yokohama vào ban đêm. Những người qua đường, nhứt là các thiếu phụ và thiếu nữ, liếc mắt nhìn tôi, khẽ nhăn mặt và nhìn đi nơi khác. Tôi là một tên dơ bẩn, bê bết máu mủ, và phải, đó là sự thật, tôi là một hình ảnh đầy ghê tởm với đồng bào của tôi. Tôi bị ghét bỏ.