Nữ Thiếu Tá Anne Pham (gốc Việt), Sĩ quan pháo binh Lục quân Canada.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Post on 20/6/2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Thiếu tá Anne Pham, Sĩ quan pháo binh Lục quân Canada (hình của linkedin.com).

Nữ Thiếu tá Anne Pham là Sĩ quan pháo binh Lục quân Canada, bà được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy phó hoả lực và hiệu quả thuộc Quân đoàn 18 nhảy dù (XVIII Airborne Corps), Lục quân Hoa Kỳ, tại Fort Liberty, North Carolina trong chương trình trao đổi Sĩ quan đối tác Liên quân/Đồng minh từ tháng 9 năm 2024. Bà thụ huấn khoá Sĩ quan tu nghiệp, và hoàn tất Văn bằng Cao học khoa học quân sự và nghiên cứu tác chiến tại Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (CGSC) ở Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2024. Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ đào tạo huấn luyện và phát triển các Sĩ quan chỉ huy, các nhà lãnh đạo cho các hoạt động đa lãnh vực (MDO) và hoạt động liên hợp toàn lãnh vực (JADO) trong môi trường tác chiến liên hợp, liên ngành, liên Chính phủ và đa Quốc gia (JIIM), thúc đẩy nghệ thuật và khoa học của binh nghiệp nhằm hỗ trợ các yêu cầu tác chiến của Lục quân.

Thiếu tá Anne Pham có nhiều kinh nghiệm trong việc phối hợp hỏa lực Liên quân đa Quốc gia, xác định mục tiêu, truy đuổi mục tiêu và tiêu diệt mục tiêu, tối ưu hóa từ cảm biến đến pháo thủ, và xây dựng các kế hoạch tác chiến cho các năng lực mới ở cấp Quân đoàn. tập ​​trung vào việc tích hợp các hoạt động đổ bộ đường hàng không, và các công cụ hỗ trợ ra quyết định vào phương pháp nhắm mục tiêu, hiện đại hóa cách lập kế hoạch và thực hiện hỏa lực. Bà hiện làm việc trong Quân đội Hoa Kỳ, với các đối tác liên quân/đồng minh và ngành công nghệ quốc phòng để thu hẹp khoảng cách trong tác chiến.

Thiếu tá Anne Pham gia nhập và phục vụ Lực lượng Lục quân Canada (Forces armées canadiennes) tứ tháng 1 năm 2006, bà được chỉ định phục vụ các đơn vị được ghi nhận từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 11 năm 2010 bao gồm: Sĩ quan chỉ huy Đại đội yểm trợ, Trung đoàn Truyền tin 735 tại Winnipeg, Manitoba; Nhiệm vụ tiếp theo, bà là Sĩ quan phụ tá chỉ huy Phi đoàn Truyền tin 745 tại Edmonton, Alberta; Từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010, bà thụ huấn tại Trung tâm Huấn luyện tác chiến, Trường pháo binh Hoàng gia Canada tại Upper Gagetown, New Brunswick, Canada; Sau đó, bà được chỉ định làm Pháo đội trưởng, Pháo đội E, Trung đoàn 1, Pháo binh Kỵ binh Hoàng gia tại căn cứ quân sự Shilo.

Thiếu tá Anne Pham (hình của Trung sĩ Gianna Sulger ngày 13/05/2025, dvidshub.net)

Từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 2 năm 2011, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Đội trưởng, Đội kiểm soát tuyết lở thuộc Lực lượng đặc nhiệm Liên hợp Thái Bình Dương (PALACI) tại Rogers Pass, British Columbia, bà chỉ huy và quản lý một đội gồm 40 nhân viên, phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia về tuyết của Cục công viên Quốc gia Canada, nhằm bảo đảm an toàn cho đường cao tốc xuyên Canada và đường sắt xuyên Canada, cho phép tự do di chuyển và tránh làm gián đoạn tiến trình kinh tế. Từ tháng 3 năm 2011, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Sĩ quan phụ tá hành quân thuộc Trung đoàn 1 pháo binh Kỵ binh Hoàng gia Canada tại căn cứ quân sự Shilo, hỗ trợ Sĩ quan tác chiến trong việc phối hợp và đồng bộ hóa tất cả các hoạt động giữa các bộ phận và đơn vị trực thuộc. Bà chịu trách nhiệm hỗ trợ lập kế hoạch tác chiến cho đơn vị, thông tin liên lạc, soạn thảo hướng dẫn và mệnh lệnh, giám sát việc thực hiện các cuộc tập trận và điều khiển hoạt động di chuyển của đơn vị pháo binh đến tháng 3 năm 2013.

Từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Sĩ quan quản lý truyền tin Lực lượng Đặc nhiệm NATO, Phái bộ huấn luyện đóng góp của Canada trong Khối NATO tại Kabul, Afghanistan. Bà quản lý các hệ thống thông tin, kho lưu trữ và tài sản trong Lực lượng đặc nhiệm. Lập kế hoạch và thực hiện việc trao đổi thông tin giữa các Quốc gia Liên minh, thu thập thông tin cho Trung tâm điều hành tác chiến, Sĩ quan liên lạc an ninh căn cứ và Lực lượng phản ứng nhanh, và chỉ huy việc thu thập thông tin.

Sau nhiệm kỳ phục vụ tại Kabul, Afghanistan, Thiếu tá Anne Pham được chỉ định phục vụ tại các đơn vị: Tháng 3 năm 2014, Sĩ quan huấn luyện Pháo đội B, Trung đoàn 1 Pháo binh Kỵ binh Hoàng gia Canada tại Shilo, Manitoba, Canada; Tháng 4 năm 2015, Sĩ quan, Quan sát viên tiền tuyến, Trung đoàn 1 pháo binh kỵ binh Hoàng gia Canada tại Shilo; Tháng 8 năm 2016, Sĩ quan Kế hoạch Quản lý thông tin, Bộ Chỉ huy tác chiến liên hợp Canada tại Ottawa, Ontario.

Tháng 5 năm 2019, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Phó phòng tác chiến thông tin Liên Hiệp Quốc MINUSMA, Lực lượng đặc nhiệm BAMAKO tại Mali. Điều phối các chức năng tình báo, tác chiến và lập kế hoạch nhằm tăng cường uy tín cho Phái bộ đa chiều tích hợp của Liên Hiệp Quốc vì ổn định tại Mali, MINUSMA bằng cách sử dụng các phương diện vật lý, thông tin và nhận thức áp dụng cho địa hình con người.

Tháng 3 năm 2022, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Sĩ quan chỉ huy Liên đoàn pháo binh thuộc Lực lượng hiện diện tiền tuyến tăng cường của khối NATO tại thành phố Ādaži, Latvia. Bà chịu trách nhiệm về huấn luyện, duy trì, khả năng tương tác và sẵn sàng chiến đấu của một Liên đoàn pháo binh đa Quốc gia bao gồm các khẩu đội pháo từ Canada, Tây Ban Nha, Slovenia và Montenegro.

Sau nhiệm kỳ công tác trong Khối NATO, tại Ādaži, Latvia. Tháng 8 năm 2021, Thiếu tá Anne Pham được chỉ định làm Sĩ quan phụ tá điều hành cho Tư lệnh, Liên đoàn chuyển tiếp Lực lượng vũ trang Canada tại Ottawa, Ontario, Canada; Từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 6 năm 2023, bà làm Sĩ quan chỉ huy Pháo đội R, kiêm Sĩ quan yểm trợ hoả lực Tiểu đoàn, Trung đoàn 5 Pháo binh hạng nhẹ Canada tại Valcartier, Qc.

Từ tháng 6 năm 2023 đến tháng 6 năm 2024, Thiếu tá Anne Pham thụ huấn khoá Sĩ quan tu nghiệp Trường Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (CGSC) tại Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ; Và hiện nay, Chỉ huy phó hoả lực và hiệu quả thuộc Quân đoàn 18 nhảy dù (XVIII Airborne Corps), Lục quân Hoa Kỳ, tại Fort Liberty, North Carolina trong chương trình trao đổi Sĩ quan đối tác Liên quân/Đồng minh Canada và Hoa Kỳ.

Thiếu tá Anne Pham “giữa” và các Sĩ quan Quân đoàn 18 nhảy dù Lục quân Hoa Kỳ (hình của linkedin.com)

Thiếu tá Anne Pham hoàn tất các Văn bằng: Cao học khoa học quân sự và nghiên cứu tác chiến, Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College), tháng 6 năm 2024; Văn bằng Cử nhân khoa học môi trường, xây dựng, Trường Đại học Manitoba; Chuyên viên nhiếp ảnh tự do (Freelance photographer); Văn bằng Sư phạm Piano căn bản của Nhạc viện Hoàng gia, The Royal Conservatory of Music, năm 2002; Đai đen huấn luyện võ thuật Thái cực đạo, Liên đoàn Taekwondo Thế giới, các hoạt động và hội võ thuật: Trụ sở Taekwondo Thế giới, Kukkiwon – Seoul, Nam Hàn, năm 2001.

Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong các đơn vị Hải, Lục và Không quân Hoàng Gia Canada không nhiều như Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ! nhưng nhiều hơn Sĩ quan gốc Việt đang phục vụ trong Quân đội Hoàng Gia Úc, theo tài liệu sưu lục. Một số Sĩ quan cao cấp Canada gốc Việt được ghi nhận bao gồm: Đại tá Thinh Nguyen, Không quân Hoàng Gia Canada; Đại tá Thomas Nguyen, Bác sĩ quân Lục quân, Trung tá Jack P Nguyen, Chỉ huy trưởng Căn cứ Lực lượng quân sự Canada (CFB) Shilo; Nữ Trung tá Thao Nguyen, Bác sĩ Bệnh viện dã chiến 202, Lục quân trừ bị; Nữ Hải quân Trung tá Giang Nguyen, Bác sĩ quân y Hải quân Hoàng Gia Canada; HQ Thiếu tá Harrison Nguyen-Huynh, Hạm trưởng Tiềm thuỷ đĩnh HMCS Windsor, Hải quân Hoàng Gia Canada; Thiếu tá Huynh Phan, Sĩ quan phụ trách Phi đoàn 26 vận tải, và Chỉ huy phó, Trường huấn luyện tác chiến, Lữ đoàn 38 Canada (CBG); Thiếu tá Minh-Thi Vo, Sĩ quan Lục quân Canada. Và còn rất nhiều Sĩ quan gốc Việt khác đang phục vụ trong Lực lượng quân sự Canada chưa cập nhật hết được.

Nguồn: linkedin.com; dvidshub.net; cbc.ca/news.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Tôi về đến nhà người em, vào lúc nửa đêm.

Em tôi ngạc nhiên: “Ủa? Sao anh trở lại?”

Tôi mệt mỏi: “Có đi đâu mà trở lại?”

“Tối hôm qua, bà thiếu tá đến trao thư, và thông báo anh đã lên ghe bình yên. Em coi thư, đúng là mật mã và chữ viết của anh. Em trao vàng cho bà rồi.”

Tôi sực tỉnh, giậm chân kêu trời không thấu. Biết gặp phải lưu manh cướp cạn, năm lần bảy lượt tôi đến nhà bà thiếu tá, đòi lại sáu cây vàng. Nhưng bà luôn luôn đi vắng.

Một hôm, tình cờ gặp bà trên phố. Tôi lớn tiếng đòi bà phải trả lại vàng.

Bà bảo: “Vàng đã chia năm xẻ bảy rồi. Không thể gom lại được. Ông chờ gọi đi chuyến sau. Tôi khuyên ông đừng nên làm rùm beng. Công an biết được, nó còng đầu cả lũ.”

Tôi về, thuật cho vợ nghe trường hợp gặp bà thiếu tá.

Vợ nóng mặt: “Tố cáo bả và đồng bọn.”

Tôi giải thích: “Tố cáo bả và đồng bọn lường gạt, thuộc tội hình sự, chỉ bị tù vài tháng. Còn mình vượt biên, bị khép tội phản quốc, thuộc tội chính trị. Tội chính trị ở tù nhẹ lắm cũng vài năm.”

Vợ uất hận, gầm lên: “Tức chết… đi!”

Tôi nói: “Tức cũng phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Chẳng lẽ mất vàng, còn lao đầu vô tù?”

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Bài học về “tự ái dân tộc” vỡ lòng đầu tiên mà tôi đã đọc được thời niên thiếu, là câu chuyện “Lòng yêu nước của em bé thành Padoue” trong cuốn Tâm Hồn Cao Thượng” do nhà giáo Hà Mai Anh dịch thuật.

Em bé người Ý trong câu chuyện là một em bé nghèo bị bán cho một gánh xiếc, lưu lạc sang đến Tây Ban Nha, đã được tòa Lãnh Sự Ý tại đây gửi trên con tàu biển để trở lại quê hương. Trong chuyến đi, em đã chịu ơn nhiều du khách ngoại quốc đã giúp đỡ cho em tiền bạc, nhưng trong câu chuyện của họ, khi những người này, đã từng có những chuyển đu lịch đến Ý, bắt đầu phê phán những điều xấu xa của nước Ý, thì cậu bẻ này nổi giận, ném trả tất cả đồng tiền dã nhận được từ những người khách lên bàn của họ đang ngổi và hét lớn:

“Cầm lại tiền của các người. Ta không thèm nhận của bố thí của những kẻ đã lăng mạ nước ta!”

Vậy thì đứa nào đã phê phán, chê bai nước ta, chớ nhận viện trợ của chúng!

Thông thường chúng ta thích nhận lời khen, nhưng lời chê thì khó lọt tai. Ông Khổng Tử cũng từng nói  “Trung ngộn nghịch nhĩ.” Dân gian Việt Nam thì công nhận: “Sự thật mất lòng!” Ông Joel Brinkley, cựu phóng viên New York Times, người từng đoạt giải Pulitzer, bổng dưng mang hoạ vì đã dám dụng đến Việt Nam khi ông viết: Dù phồn thịnh lên, thì ẩm thực ở Việt Nam vẫn khác thường!” Sau chuyến đi Việt Nam 10 ngày, ông cho rằng: “Chẳng cần ở Việt Nam lâu bạn cũng có thể nhận thấy một điều bất thường. Bạn không nghe thấy tiếng chim hót, không thấy sóc leo trèo trên cây hay chuột chui rúc trong các đống rác. Không thấy chó ở ngoài đường”. Ông Loel Brinkley đã nhận xét rằng người Việt thích ăn sóc. chim chóc và chuột bọ. “Nói chung bạn không thấy bất kỳ loại động vật nào, cả hoang dã lẫn thú nuôi. Chúng biến đi đâu hết cả? Bạn có thể sẽ ngac nhiên khi biết: chúng bị ăn thịt cả rồi,” Nhận xét của Loel Brinkley gây công phẩn trên các diễn đàn mạng. Nhiều người chỉ trích Brinkley là “hồ đồ, trịch thượng và phân biệt chủng tộc”. Lản sóng phản ứng giận dữ đã khiến công ty xuất bản Tribune Media Services phải ra thông cáo thừa nhận rằng bài viết của ông Joel Brinkley không đạt yêu cầu về báo chí, Người ta đòi đuổi việc Brinkley, đòi ông phải xin lỗi công khai.. “

Nhìn chung, Joel Brinkley nhận xét khá vội vã khi cho rằng người Việt có thói quen ăn thịt nên họ hung bạo hơn các dân tộc láng giềng chủ yếu ăn cơm. Nên biết rằng qua nhiều năm chiến tranh, người Việt, nhất là dân miền Bắc, suốt năm không có một miếng thịt mỡ bỏ miệng, chủ yếu là khoai, sắn, ngô … Dân Thái Lan chủ yếu ít sát sanh, ăn chay, chó hoang chạy đầy đường, nhưng cực kỳ tàn bạo qua các hành động hải tặc trong thời gian người Việt phải ra đi lánh nạn Cộng Sản. Dân Mễ Tây Cơ ăn bắp nhưng dám chặt đầu địch thủ, móc xác người trên cầu như treo động vật trong lò mỗ. Câu nói của ổng chỉ đúng khi áp dụng vào động vật, hung dữ như cọp, beo là giống ăn thịt, hiển lành như dê, thỏ, trâu bò là loài ăn cỏ. Các tổ chức bảo vệ dộng vật hoạt động ở Việt Nam như ông Jake Brunner cho rằng: “Việt Nam không ghê sợ như nêu trong bài báo”.

Nhưng nghĩ cho cùng, loel Brinkley có những nhận xét “độc lập” của riêng ông và những nhận xét này hẳn có phần đúng. Bà Naomi Doak của tổ chức bảo vệ động vật Traffic thì có câu bảo chữa khá đễu:

-Việt Nam còn nhiều chim chứ, nhưng chúng ở trong lồng; cũng có nhiều chó nhưng chúng là vật nuôi.”

Cứ vào các sân chùa ở Việt Nam, thấy chim nhốt trong lòng, nhưng nhận xét nhốt chim để ăn thịt là sai. Đạo Phật khuyến khích việc phóng sanh, nên nhiều người mua các lồng chim này đem đi thả, nhưng một số người khác, lại bắt những con chim này, đem bán trở lại. Càng có nhiều người mua chim phóng sanh, thì càng có nhiều người bắt chim đem đi bán. Nói về chó: Việt Nam ăn thịt chó, chắc không bằng người Đại Hàn. Nhưng Đại Hàn không có nghề di bắt chó của người khác, không có cảnh người bắt chó bị giết một cách dã man, vô luật lệ. Không có người thèm ăn thịt chó, sao lại có cảnh con người giết nhau vì chó. Có lẽ khoai sắn lâu ngày, nên bay giờ con người thèm ăn, bò heo là chuyện thường. Điều đáng chú ý mà báo chí trong nước cũng không ngớt lời bàn tán, là con người hiện nay quả chú ý đến miếng ăn, nên luôn đi tìm của ngon vật lạ, nào mễn, nào nhím, nào cheo, nào rùa, nào rắn, nào trăn, nào nai, nào beo, nào trút.. Ăn để tỏ ra mình là nhiều tiền của, là đại gia, thích tìm cái lạ. Người nghèo ít tiền thì ăn châu chấu, dế. ve, cóc, nhái, nhộng, sâu … Ăn tiết canh heo.

tiết canh vịt là chuyện xưa, nay phải uống máu rắn, ăn tim rắn. Rượu thì phải rượu rắn, ruợu rết, rượu bào thai

Trong một bải tạp ghi trước đây tôi đã có ghi lại chuyện ông Juson Picard, một người Mỹ kể chuyện, sau một thời gian du lịch ở Việt nam về, đã thú nhận vì tò mò, đã có lần anh “chén” thịt chó. Lúc đó bà mẹ đang ngồi chơi với con chó tên KC, cả hai đều nhìn ông với vẽ khiếp sợ. Sau đó bà mẹ Picard đã bảo ông với giọng cương quyết: “Jason, con lại dây xin lỗi KC đi!”. Ông giáo sư Stanford, Joel Brinkley là người Mỹ, ông có quyền dị ứng với thói quen ăn thịt chó của người Việt, sao lại trách ông. Ông Joel Brinkley nhận xét rằng “Quỹ động vật hoang dã xếp Việt Nam vào dạng quốc gia gây hại cho thiên nhiên hoang dã nhất thế giới!” có lẽ chẳng mấy sai, nếu biết rằng dân Việt nam đang truy lùng các động vật hiếm để cung cấp cho các quán nhậu, cho các đại gia và viên chức chính quyền đãi đằng, giao tiếp, mọi người đều thích chơi trội và thích của lạ. Trong khi nhiều vị “yêu nước chân chính” lên án, nhục mạ ông Joel Brinkley, thi chính báo Lao Động trong nước số xuất bàn ngày 30/8/2012 đã ghi nhận một sự thật:

-Trong những năm gần dây. Việt Nam nổi lên là điểm tập kết, chuyển tiếp và tiêu thụ động vật hoang dã trái phép của châu Á. Thực trạng trên đã làm cho sự đa dạng sinh học bị đe dọa, một số loai dộng vật quý hiếm đang đối diện với nguy cơ bị tuyệt chủng. Hơn 147 loài dộng vật hoang dã ở trên cạn, 40 loại côn trùng, 90 loại bướm và hàng trăm loại thực vật khác đang bị khai thác và buôn bán ở Việt Nam. Đặc biệt, có ít nhất 37 loại dộng vật hoang dã đang trên đà bị lận diệt. Hiện tại ở Việt Nam có 74 loại thú, 26 loại chim bị suy giảm mạnh về số lượng do thói quen săn bắt động vật để làm thức ăn, làm cảnh và thuốc chữa bệnh, Ngoài ra, do thu lợi từ việc buôn bán động vật nên nhiều người dân săn bắt theo kiểu tận diệt, tận thu để bán cho các nhà hảng hoặc bản sang Trung Quốc. Theo đánh giá mới đây của Tổ chức Theo dõi tình trạng buôn bán động vật hoang dã quốc tế (TRAFFC), Quỹ Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (WWli) thì Việt Nam được liệt vào danh sách một trong những quốc gia có số lượng tội phạm buôn bán động vật hoang dã lớn nhất: là quốc gia tiêu thụ sừng tê giác nhiều nhất thế giới, điểm nóng về buôn bán và sử dụng mật gấu, buôn bán ngà voi. Việt Nam

cũng là quốc gia nhận thẻ đỏ trong việc bảo tồn tê giác, hổ.” (hết trích)

Trên đây là những điều không phải là dân du lịch, người qua đường hay bọn thù nghịch với Việt Nam “bươi

móc” mà chính báo đảng tự thú nhận. Phản ứng quá đà với nhận xét của Joel Brinkley là “tự ái dân tộc” không phai chổ. Nhiều người đã chê giáo sư dốt, đòi Stanford cách chức ông, bắt ông xin lỗi, hay rút bài của ông xuống, y như Việt Nam đã hành xử với đảng viên của họ, Họ còn kết tội ông là “kỳ thị chúng tộc,” “nên ra

khỏi ngành giáo dục.” Giá mà ông ca tụng dân Việt Nam hạnh phúc đứng vào hạng ba thế giới, dẫn đầu cả Mỹ, Canada. Úc … thì người Việt dã công kênh ông lên và gọi ông là “người bạn tốt.”

Nhà văn Edmondo De Amicis dạy trẻ con phải có tự ái dân tộc, nhưng không có chỗ nào dạy con người ta phải biết hổ thẹn vì những xấu xa của đất nước mình. Yêu tổ quốc, căm giận, biều tình lên án bọn xâm lăng đất nước mình, mà bị chính quyền, đàn áp, bỏ tủ, đất nước ấy có đáng hổ thẹn không? Đòi hỏi quyền làm người, nói lên sự thật, là hành động chống phá tổ quốc, sự thật ấy có đáng xấu hổ không. Phải biết hổ thẹn vì những khiếm khuyết của đất nước mình, biết sửa sai may ra tương lai đất nước mới khá lên được.

Nhà tư tưởng Tuân Tử có nói: “Người chê ta mà chê phài là thầy ta. Người khen ta mà khen phải là bạn ta. Những kẻ vuốt ve nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy!”

Mà này giáo sư Joel Brinkley, ông nên đừng bao giờ trở lại Việt Nam nửa, không khéo có ngày ông lại bị kết vào tội “lực lượng thù nghịch, tuyên truyền chống phá nhà nước” thì khó mà chống đỡ!

Đưa bạn về

Thơ Đinh Tường

Hoàng Kao phổ nhạc

Post by Sơn râu 20 Jun 2026

Mày bỏ cuộc chơi sao sớm quá

Khi mà mái tóc vẫn còn xanh

Chiến trường khốc liệt đầy bom pháo

Để lại mày đây dạ trắng đầy

Rừng sâu đạn giặc cày tơi tả

Kiếm tạm làm đòn một khúc cây

Cột chặt chân tay treo lủng lẵng

Gánh đi lúc lắc tội thân mày

Sống chết lính dù không bỏ bạn

Bông băng chẳng đủ biết làm sao

Từng giòng máu đỏ còn rịn rịn

Thấm ướt nhung y đẫm chiến bào

Nếu có phóng viên nào chụp được

Hình này đăng báo cũng đành thôi

Sa trường ai biết đời trai trẻ

Lính chiến ra đi bất phản hồi

Đất nước còn mịt mù khói lửa

Mày đi rồi sẽ tới phiên tao

Bây giờ đạn dược không đầy đủ

Chỉ đành cầm giá chớ cách nào!

Ráng chút nửa thôi về với mẹ

Ngày xưa mày khóc mẹ ru hơi

Bây giờ mẹ khóc đời con trẻ

Ôm xác con mà nước mắt rơi

Những ai đã chết vì sông núi

Sẽ sống muôn đời với núi sông

Bao nhiêu năm rồi chưa ráo lệ

Khóc bao tử sĩ chết oai hùng

Hãy yên nghĩ, bạn của tôi

Chúng tôi sẽ đưa anh về nhà

Về với người mẹ đang mong con

Những ai đã chết vì sông núi

Sẽ sống muôn đời với núi sông.

Tạ lỗi với Kontum

hung-viet.org

Donry Nguyễn

19/9/ 2025

Post by Sơn râu 20 Jun 2026

Tháng ba trấn thủ đồi Eo Gió,

Đại bác chỉa nòng hướng Ngô Trang.

Chờ giặc xung phong là trực xạ

Giữa cảnh trùng vây núi bạt ngàn.

Hào sâu còn cả Liên đoàn 6

Lính Biệt động quân áo cọp rằn.

Lăm lăm phòng tuyến chờ lâm trận

Quyết một phen này với Bắc phương.

Bỗng có lệnh truyền quân triệt thoái

Xếp càng, móc súng, đạn lên xe …

Pháo binh cản hậu đi sau chót

Nhắm hướng Pleiku kéo rốc về.

Lui quân, lòng lính không vui được,

Chưa đánh, thu binh chí khí hèn.

Anh bạn nhìn quanh cay tròng mắt …

Tay vàng khói thuốc, biệt biên cương!

Biên cương từng thấm bao xương máu,

Những lớp trai hùng giữ núi sông.

Sá gì sống chết mà vương vấn,

Như uống vừa xong chén rượu nồng.

Xe qua lắt lẻo quanh đồi núi,

Khói quyện buôn làng đen mắt nai.

Cô em gái Thượng coi buồn lắm …

Tựa vách nhà sàn khóc vẫy tay.

-“Mày nói Quân Dân tình Cá Nước

Bây giờ chẳng lẽ mày hết thương?

Cái bụng tao buồn không muốn hỏi,

Ai sẽ vì dân giữ ruộng vườn?”

-Thưa em, chớ trách đau lòng lính,

Mệnh lệnh, quân nhân phải chấp hành.

Ra đi mang cả tình Kinh-Thượng

Hẹn ngày trở lại hết đao binh.

***

Nửa thế kỷ qua, đời xô mãi …

Người lính năm xưa nghĩ thẹn thùng

Làm thân chiến bại mang tù tội

Ngậm hờn nuốt nghẹn bỏ Kon-Tum!

Người em bản Thượng nay còn, mất?

Trận địa năm xưa hoá phố phường.

Ta ở phương trời xin nhận lỗi …

Cúi đầu tạ tội với quê hương!

-California April 2024.
Donry Nguyễn

Tâm bệnh

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 20 Jun 2026

Tôi lên căn-tin uống cà phê chớ không có ý gọi điện thoại nhưng vì thấy hộp điện thoại treo bên vách được lau chùi bóng loáng, mới toan bèn gắn thẻ vô quay về nhà nói chuyện với vợ, con chơi. Nhưng Thanh không có ở nhà, sẵn tay bấm số thăm gia đình người bạn. Bên kia đầu dây, vợ anh bạn bắt điện thoại, nghe tiếng tôi, chị reo lên:

– Tấn hả, chừng nào dìa?

– Tuần sau chị.

Không đợi tôi hỏi thăm sức khoẻ gia đình, như nguồn thác đổ, chị sổ một tràng:

– Anh dìa lần nầy ở nhà luôn đi, tội nghiệp con Thanh, hôm trước mẹ con chở nhau lên tui nè, qua hồi nói chuyện, tui thấy hình như nó bị stress hơi nặng, anh mà đi hoài có ngày nó bị điên mất.

– Ừa, muốn làm gì thì cũng từ từ chớ chị.

– Từ từ gì, tại anh hổng biết tánh nó, hơn nữa anh đi hoài đâu thấy được nỗi cơ cực khi đàn bà có con nhỏ. Như tui đây nè, mới có một đứa vậy mà vợ chồng thay phiên nhau lo còn hổng xuể huống hồ chi con Thanh,  mình ên nó mà ôm tới hai đứa.

Trong lúc chị ngưng lấy hơi, tôi lái câu chuyện bằng cách hỏi thăm sức khoẻ gia đình chị. Như con tàu xuôi dòng gặp chướng ngại vật, chị trả lời qua loa ngắn gọn rồi lái lại câu chuyện. Một hai chị thuyết phục tôi phải bỏ việc làm về nhà sống với vợ con. Theo chị thì ra nước ngoài rồi không mần cũng có ăn, đi tàu làm chi xa nhà xa cửa bỏ vợ bỏ con. Chị nói tràng giang đại hải, tôi hổng muốn nghe cũng không được. Cúp máy ngang sợ mất lịch sự, đành phải cầm chặt ống nghe nghe chị dạy bảo, tới khi điện thoại báo thẻ sắp hết, chị còn ráng thòng thêm một câu:

– Về bờ sống tiện tặn cũng được mà, anh coi trong nghĩa địa có ai vì bị thất nghiệp đói chết đâu.

Điện thoại cúp, hết sạch tấm thẻ mười đồng, gát ống nghe, tôi ngơ ngẩn nhìn ra ngoài. Hải cảng Delta Rotterdam mới khánh thành vài năm gần đây. Kè đá, cần trục, xe vận tải tất cả đều mới toan, trên sân bến không một cọng rác và trong giờ làm việc mà lưa thưa bóng người. Giàn cần trục di chuyển đều đều câu từng container để lên chiếc xe không người lái cũng không gây một tiếng động. Những chiếc xe giống như những con bọ khổng lồ cõng trên lưng vừa vặn một container nặng ba ngàn ký, lần lượt bò ngay hàng thẳng lối lên sân rộng và dừng lại cho cần cẩu móc xếp ngay ngắn vô các ô đã vạch sẵn trên một khoảng sân. Tôi đương ở trong thế giới máy móc mới mẻ mà trước đây chỉ thấy trong những phim khoa học giả tưởng. Cho nên khi nghe giọng điệu của chị ‘nó’ gợi lại trong tôi nỗi nhớ nhung về những chốn xa xôi nào ấy. Ngay bây giờ, trên đất nước tôi, biết bao nhiêu người đàn ông đi làm ăn xa, bỏ vợ lại nhà ôm con chờ đợi, mau thì hàng tháng, lâu thì hàng năm, bảy năm. Mỗi bận chồng ra đi vợ ở nhà vừa hy vọng vừa nơm nớp âu lo. Hy vọng ngày anh về sẽ được vinh hoa phú quí. Lo ngày trở về anh chỉ còn hai bàn tay trắng và anh có phải là chồng mình nữa hay không. Cực khổ biết bao nhưng vẫn ôm con kiên tâm chờ đợi.

Chị đuơng sống trên một quốc gia giàu có, thừa mứa thức ăn nêm chị không biết nhiều nơi trên trái đất nầy cũng có hàng vạn người thất nghiệp, đói chết nằm phơi xương trắng rừng. Ở Việt Nam cũng có năm bị thiếu ăn người chết nằm la liệt trên đường, chết đói làm gì được chôn trong nghĩa địa, chị cũng khéo nói thiệt. Phải xa lạ gì cho cam, hơn hai mươi năm trước tôi với gia đình chị vượt biển trên một chiêc nghe nhỏ xíu, sau mấy ngày đêm vất vã với  tụi hải tặc, tôi chứng kiến chị nằm phơi trên bãi biển với thân thể bèo nhèo, áo quần rách nát gần như trần trụi, lúc đó không có những người từ tâm trên thế giới góp phần giúp đỡ chắc chắn chị cũng bỏ thây bên hải đảo hoang vu. Người ta cho chị qua đây định cư vì lòng nhân đạo chớ có phải mời chị qua tiệc tùng gì đâu mà ngồi không ăn khơi khơi còn nói ra những lời bất nhân bất nghĩa. Sống trên một đất nước tuy giàu có nhưng người đông việc làm ít, nạn thất nghiệp nhà nước coi như trận giặc, có một việc làm đàng hoàng để khỏi sanh “giặc” là lương thiện lắm rồi, tôi đâu dám đòi hỏi gì hơn.

Ba tháng trên tàu, tuần nào tôi cũng điện thoại đôi ba lần về thăm vợ thăm con. Thỉnh thoảng tàu về Rotterdam Thanh cũng có chở con xuống thăm. Mới hôm kia điện thoại về mẹ con cười, nói vui vẻ và bàn tính năm nay sẽ qua Tây Ban Nha nghỉ hè. Tôi có nghe thấy triệu chứng tâm thần nào đâu. Chẳng lẽ đương không nổi khùng bất tử. Hơn nữa Thanh gặp chuyện rắc rối hoặc tinh thần bất ổn thì điện thoại nói với tôi, có đâu chạy xe cả giờ đồng hồ lên nhà chị than thở. Nhà ở cách nhau cả trăm cây số, xuân, thu nhị kỳ mới gặp nhau, ăn một bữa, nói chuyện vài câu. Hiểu được gì mà chị dám quả quyết hiểu vợ tôi còn hơn tôi nữa.

Muốn bấm số gọi về nhà nhưng thẻ không còn. Hôm nay nắng đẹp, mới hơn mười giờ sáng, có lẽ Thanh vừa dẫn con đi chơi đâu đó. Tôi lững thững bước ra khỏi căn tin trong không khí đầu mùa hè ấm áp.

– Papa kìa.. papa kìa.. papa kìa….

Tôi day lại, ngạc nhiên thấy đứa con gái đầu lòng giọng đớt đát vừa kêu Papa vừa a tầm phù chạy tới, con nhỏ mới hơn năm tuổi mà lanh quá chừng, miệng mồm tía lia. Tôi cúi xuống đưa tay đón bồng nó lên. Thanh tay bồng đứa nhỏ, tay xách giỏ đồ đi tới, miệng toe toét vừa cười vừa nói:

– Anh thấy em tìm đường giỏi không?

– Ai chớ vợ anh là số một rồi.

Đứa con gái thứ hai thấy tôi nó chồm qua đòi papa, tôi vói tay ẵm nó luôn và cùng Thanh đi xuống tàu. Mấy thủy thủ thấy gia đình tôi lục đục kéo xuống, có người chồm ra boong vẫy tay chào và hô lớn:

– Mày là thằng không tốt, vợ xuống thăm mà không cho biết.

Tôi nói:

– Tình cờ ông à.

Risal thủy thủ người In đô chạy lên đón lấy giỏ đồ bắt tay chào và hỏi thăm sức khoẻ. Thanh nói với nó:

– Hồi nãy tao có ghé tiệm Tàu mua cho tụi bây bịch ớt và mớ rau muống, định mua thêm mì gói nhưng tao xách hổng hết.

– Cám ơn chị, bao nhiêu đó cũng đủ tụi tui ăn tiệc lớn rồi.

Ban đêm trên tàu chỉ có tiếng rè rè của máy phát điện. Hai đứa con tôi nằm cạnh bên, bắt tôi gãi lưng cho chúng. Sau một hồi rờ mặt, móc mũi, móc mắt tôi đã rồi hai đứa mới chịu ngủ. Tôi nhìn hai đứa nhỏ ngủ ngon, con nít hồn nhiên, vô tư lúc nào cũng hiện trên gương mặt. Tôi nhớ ngày còn nhỏ, tôi sống trong một xóm lưới nghèo ven biển lúc đó tôi cũng rất vô tư,  lòng dạ thẳng như ruột ngựa. Ngôn ngữ của dân đánh cá dùng trao đổi, tâm tình hoặc khuyên bảo thậm chí họ chửi bới nhau cũng rất hồn nhiên chớ đâu đến đổi khó nghe. Ra nước ngoài sống trong xã hội văn minh lòng dạ con người ta sanh ra phức tạp và giọng nói trở nên cay cú khó nghe hơn. Vì vậy tôi không muốn sống trên đất liền, chung chạ với đồng hương phiền phức lắm. Tôi kê gối, đắp mền cho hai đứa con, day qua hỏi vợ:

– Vừa rồi em có lên nhà chị ba Lắm phải hông?

– Đâu có.

– Ủa.

– Sao anh?

– Vậy ai bị stress?

– Anh nói ai stress gì?

 Không muốn khui ra ba cái chuyện tào lao làm cho tổ ấm chúng tôi chộn rộn. Tôi bèn nói lảng sang chuyện khác.

– Anh nói với em tuần tới anh dìa, sao em còn chạy lên làm chi cho mất công.

– Mấy bữa nay con Lệ nói nhớ anh, hôm nay thấy trời nắng đẹp, biết tàu anh vô nhưng hổng biết giờ tàu chạy, em mới điện lên công ty hỏi. Họ nói tàu anh đậu lại đây mai mới chạy, em xin họ số bến cảng rồi sửa soạn đem con xuống cho nó chơi với anh. Người ta nhớ xuống thăm mà cũng cằn nhằn.

– Anh sợ em cực chớ cằn nhằn em đâu.

– Hồi nhỏ em theo má thăm ba cải tạo lên xe, xuống đò, đi ngày đi đêm nhịn đói, nhịn khát cực khổ trăm bề. Ở đây lên xe hơi nỗ máy chạy có hơn giờ đồng hồ gặp anh sướng thấy mồ, cực khổ gì đâu.

Tôi lòn tay qua ôm và áp mặt vợ sát vô ngực mình. Cả hai yên lặng nằm nghe hơi thở của hai đứa con. Tội nghiệp, tôi làm ăn xa nhà, để một mình vợ ôm con xoay sở giữa cuộc đời đầy náo động. Mỗi khi gặp đồng hương Thanh phải chịu trận lắng nghe những lời dạy bảo, thậm chí có người khuyên Thanh nên bỏ tôi đi cho rảnh cái nợ đời. May mắn cho chúng tôi, đã sống với nhau ngót mười lăm năm cơm lành canh ngọt, bơ sữa chan hoà. Được như vậy đúng ra tôi phải tin tưởng vợ con lắm chớ, nhưng không hiểu sao ôm cái hạnh phúc trong tay mà lòng tôi cứ ngai ngái lo cho những ngày sắp tới.

– Anh, anh.

– Gì em?

– Em thấy anh kỳ kỳ sao ấy?

Nghe giọng Thanh lo lắng, tôi giựt mình hối hận cho những suy tư vớ vẩn. Tôi xoa xoa lưng vợ và nói lời tâm sự:

– Anh đương nghĩ trong một xả hội quá an bình làm con người ta sanh ra nhiều chứng tâm thần, riết rồi anh cũng hổng biết ai bịnh ai không.

Giọng Thanh hờn trách:

– Em dẫn con xuống thăm anh, anh hổng lo mà anh lo chuyện đâu đâu không à, suy nghĩ bậy bạ có ngày anh bịnh chớ ai.

Tôi giựt mình vỗ tay nhè nhẹ lên lưng vợ:

– Em nói đúng, vợ anh lúc nào cũng đúng.

– Xạo nữa đi.

– Ý chết ! Chút nữa anh quên mất.

– Quên gì anh?

– Lo chuyện hiện tại, lo cho em…

– !!!

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 20 Jun 2026

Không biết oan gia nghiệp báo nợ nần nhau từ kiếp nào mà tai họa bám theo tôi như bóng với hình? Tôi được phóng sinh… Tôi nói phóng sinh thay vì phóng thích, mới bày tỏ hết ý nghĩa của những con người đang quằn quại trong cảnh âm ty. Vâng, tôi được phóng sinh ra khỏi trại tù, cũng chưa thoát nạn. Về quê, lại gặp chính quyền địa phương hà khắc. Họ chèn ép, bắt tôi đi làm thủy lợi liên miên. Gặp hồi mạt vận, vùng vẫy cách nào cũng không thoát. Đành cắn răng chịu đựng. Nín thở qua sông. Qua chưa hết con sông, lại nghe họ sắp đưa tôi đi gỡ mìn trên biên giới. Đã có nhiều người bỏ mạng vì công tác này rồi. Tôi biết họ muốn dồn tôi vào cửa tử. Không lẽ cúi đầu chờ chết? Tôi dẫn vợ con trốn ra miền Trung, tìm đường vượt biên. Từ đó, thiên la địa võng trùng trùng bủa vây. Chạy ngả nào cũng chạm mặt bất lương.

Đầu tiên, tôi quen một bà mệnh phụ tại Nha Trang. Bà tự giới thiệu, trong quá khứ bà là giáo sư của một trường nữ trung học ở Huế, và là vợ của một viên thiếu tá chế độ cũ, tù cải tạo chưa về. Tôi đặt niềm tin nơi người đàn bà mô phạm này. Bà nói, bà đã từng tổ chức đưa người vượt biên trót lọt. Tôi là người đồng cảnh ngộ với chồng bà, nên được đặc biệt ưu tiên, tận tình chiếu cố. Điều kiện vượt biên, không đưa vàng trước. Chỉ khi nào đặt chân lên ghe lớn, mới trao thư và mật mã để thân nhân căn cứ vào đó mà đưa vàng. Thời buổi củi quế gạo châu, con người lọc lừa phản trắc, khó tin tuyệt đối nơi một người nào. Điều kiện như thế, thật là sòng phẳng hợp lý. Để củng cố thêm niềm tin cho những kẻ sắp vượt trùng dương tìm đất mới, bà gọi bọn đàn em đến nhà, thắp đèn đốt nhang, cùng nhau thề nguyền trước bàn Phật. Phật đã chứng kiến. Con nào thằng nào dám lật lọng, trời tru đất diệt nó!

Một đêm tối trời, tại Hòn Khói. Tôi dẫn vợ con lên chiếc ghe nhỏ taxi, ra đảo hoang nằm chờ ghe lớn. Trên đảo đã có sẵn hơn ba chục người chờ đợi. Giữa trời nước bao la, ban đêm gió lạnh thổi ù ù. Mọi người nằm rúc vào nhau tìm hơi ấm. Ban ngày, trời nắng như thiêu đốt. Ngồi núp theo những hốc đá, hả họng mà đớp khí trời. Đã thế, còn thêm cái nạn bị muỗi và bù mắt đốt. Da thịt chân tay nổi mận sần sùi ngứa ngáy. Đám con nít không biết tại sao cha mẹ đem chúng ra chốn này để sấy khô, ướp lạnh. Chúng khóc la ỏm tỏi, đòi về. Khóc khan cổ họng, rồi cũng phải nín. Dưới cái nóng buổi trưa, chúng nằm thoi thóp, tội nghiệp.

Trong các hốc đá, nhóm tổ chức còn cẩn thận trữ sẵn gạo, muối, đường, cà phê. Nhiều người khen họ chuẩn bị chu đáo. Nhưng coi kỹ lại, không tìm đâu ra chiếc nồi để nấu. Đó là những vật dùng làm cảnh tạo niềm tin. Vật làm cảnh để đấy, thì muôn đời vẫn còn nguyên đấy thôi. Không ai dùng được.

Mỗi ngày, có chiếc ghe nhỏ đem cơm nước từ đất liền ra đảo. Mọi người nôn nóng nhao nhao hỏi thăm chừng nào ghe lớn đưa đi? Được trả lời rằng, chưa thuận tiện. Phải chờ. Chờ cho thời gian chín muồi đau khổ.

Một hôm, người đem cơm chỉ một chiếc thuyền xa xa, báo tin mừng: “Con cá lớn sắp tới rồi. Bà con viết thư mau lên.”

Trong nỗi mừng vui quá đỗi, mọi người hấp tấp viết thư và ghi rõ mật mã cho thân nhân. Người đem cơm cũng sốt ruột không kém, anh ta thúc hối từng người, nhanh chóng thu gom tất cả thư từ. Sau khi kiểm đủ số thư, anh cho biết cần chạy ra liên lạc với con cá lớn. Mọi người vất bỏ những thứ lỉnh kỉnh không cần thiết, thu gọn đồ đạc, nhấp nhỏm ngồi chờ. Bao nhiêu mệt nhọc trong những ngày qua, phút chốc đều tan theo sóng biển. Con cá lớn sẽ đưa ta về miền đất hứa. Ôi, ba tiếng “con cá lớn” thân yêu biết dường nào! Ta mong đợi ngươi từ lâu lắm. Nhưng, sao lạ vậy? Hình ảnh con cá lớn càng lúc càng xa mù, mất hút giữa trùng dương xanh ngắt. Còn chiếc ghe nhỏ hướng mũi về đất liền, cũng biệt tăm luôn. Mọi người chưng hửng nhìn nhau, chưa tìm ra câu giải đáp. Lúc sau, chừng như thấm ý, có bà bật khóc. Rồi như một cái dịch truyền nhiễm, các bà khóc theo. Các ông văng tục chửi thề loạn xà ngầu. Tiếng khóc, tiếng chửi theo gió biển bay đi, không để lại một âm vọng nào.

Trưa hôm sau. Một người đàn ông khác, lái chiếc ghe nhỏ đem cơm nước ra đảo. Mọi người bu lại như muốn phanh thây xẻ thịt anh ta.

Anh kêu gọi: “Xin bà con bình tĩnh…, bình tĩnh…” Chờ cho mọi người bớt cơn thịnh nộ, anh giải thích. “Rất lấy làm tiếc, ghe lớn bị động, không thể rời bến như dự định.”

Có người hỏi: “Vậy, chừng nào rời bến được?”

“Hiện thời, công an đang theo dõi, chưa dám nhúc nhích. Không thể nói chắc thời gian.”

“Chúng tôi ở đây, anh giải quyết thế nào?”

“Bà con chịu khó nằm chờ. Ai không muốn chờ, có thể theo ghe nhỏ trở về. Khi nào có chuyến, chúng tôi sẽ thông báo ra đi lần nữa.”

Nghĩ đến những ngày chịu đựng vừa qua, mọi người ngán ngẩm. Tất cả đều muốn đi về, chờ đợi chuyến sau.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 20 Jun 2026

Người xưa có câu “Cái quan luận định” là khi người chết, đậy nắp quan tài rồi thì lời khen chê, luận công tội mới chính xác, nhưng cũng có câu “nghĩa lử là nghĩa tận”

chết là hết, mọi sự thù hận nên bỏ qua, tương tự như một thành ngữ Pháp: “Laissez les morts tranquille” là hảy để yên người đã chết, nghĩa là không nói đến nữa! Đối với người Việt ly hương, Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Duy là những tên tuổi lớn của Việt Nam, nói cho đúng là miền Nam một thời loạn ly, đều là những người Việt tử miền Bắc di cư vào Nam, vui buồn trong một đất nước chiến tranh, lại một lần nữa bỏ nước ra đi trong một lúc đau đớn tột cùng vào ngày 30 tháng 4-1975, nhưng cuối cùng cà hai lại trở về chốn củ, kiểu “nếu đi hết biển” thì trở lại ngôi làng xua như luận điệu và cách nói của Trần Văn Thủy.

Dư luận đã không hề để cho hai ông này yên nghỉ sau khi nằm xuống, Những quân nhân đã sống chết dưới cờ để cho vị tưởng nắm giữ vận nước, đã bat bình khi thấy ông phản bội lại họ, Phạm Duy lớn hơn tất cá các lãnh tụ chính trị một thời, nhạc của ông là mãi mãi, nhục của ông “khóc cười theo vận nước nổi trôi” cũng như mành đời của hàng triệu người bỏ quê hương xứ sở lánh nạn cộng sản vào Nam, qua nhữg ngày chiến tranh bom đạn hay thanh bình. Ai là người lính chiến mà không rung cảm thiết tha cùng buồn với Phạm Duy trong hình ảnh “anh trở về, bại tướng cụt chân” hay “anh trở về chống nạng cày bừa!” Tuổi Saigon mới lớn ai mà không nhớ “con đưởng Duy Tân, cây dài bóng mát,” có ai mà không một thuờ theo ai đó trên con đường: “em tan trường về …. ” Họ yêu Phạm Duy đến mức nào, những danh xung “đại thụ” hay “cổ thụ” chỉ mô tả phần xác, nhung phần hồn còn cao đẹp, lớn lao biết chừng nào. Người Việt tị nạn cũng như Phạm Duy cùng là bầy chim bò xứ, cùng chung cái nỗi niềm đau đớn đánh mất quê hương. Thế mà thần tượng của họ một sớm một chiều xử sự như một cánh chim đơn lẻ, bỏ bầy để trở lại chốn xưa một mình, gây nỗi bất bình lớn cho thiên hạ.

Ở cái dất nước nhỏ bé này, sau năm 1954, miền Bắc hầu như đã quên bẳn Phạm Duy hay nhà nước dã không muốn người ta nhớ đến Phạm Duy, vì lý do chính trị, nhạc của ông bị cấm hoản toàn tại miền Bắc Việt Nam sau 1954, và toàn Việt Nam sau 1975, nhưng ở miền Nam, nhạc Phạm Duy đến với mọi nhà, đó là thời gian Phạm Duy là ngôi sao sáng trong nền âm nhạc tự do của miền Nam. Phạm Duy là khuôn mặt của công chúng, có yêu thi có ghét, hay vì quả yêu nên quá ghét, là thần tượng, khi thần tượng sụp đổ, thì người hâm mộ thất vọng, tưởng có thê tự sảt hay chết theo thần tượng. Cũng có khi vì quả yêu, người ta sẳn sàng giết chết thần tượng của mình để giữ độc tôn sở hữu, hay như Chapman, người dã bắn vào ca sĩ nhạc Rock John Lennon 5 phát súng, đã khai rằng hắn muốn giết John Lennon để được nổi tiếng. Số người tự từ sau cái chết của Michael Jackson ước tính dã lên tới 12 người. Cho nên, chúng ta không lấy làm lạ, chỉ sau khi nghe tin Phạm Duy qua đời, hàng trăm bài viết trên báo chí và trên “lưới” dã tung lời ca tụng ông hay nặng lời chê trách.

Đó là số phận của những người nổi tiếng trên thế giới. Phạm Duy cũng là thần tượng của tôi, Năm 1951, khi Phạm Duy Dinh tê” cũng như những thiếu niên mới lớn lên thời đó, tội dã mê những bài nhạc kháng chiến như Bà Mẹ Gio Linh, Nưong Chiều, Về Miền Trung … được phổ biến rộng rãi trong vùng đất tự do. Tôi cũng đã từng ngồi nắn nót chép lại một bài thơ nói là của một “bà mẹ” nào đó ở “bên tê” viết cho Phạm Duy khi ông tro về Thành. Ở miền Nam tôi thích nghe những bài thơ phổ nhạc của ông, đã đưa nhiều thi sĩ trở thành tên tuổi, ra khỏi địa hạt của thi ca, “bên ni” như Nguyễn Tất nhiên, Phạm Thiên Thư, Lê Thị Ý, Linh Phương. Cung Trầm Tưởng, Phạm Văn Bình … hay “bên tê” như Huy Cận, Hữu Loan, Lưu Trọng Lư, Hoàng Cầm, Thế Lữ …

Sau cái tháng tư oan nghiệt, khi đi tù, bị đưa ra Việt Bắc, không buổi chiều nào, trên đường thất thểu về trại, mà không liên lưởng đến lời nhạc của Phạm Duy “trâu bò về dục mỏ xa xôi, hỡi chiều!” Hồi niên thiếu nghe câu hát này, tôi cử ngỡ là vào buổi chiều, người ta đánh mõ để gọi trâu về, có ngờ đâu, ở Việt Bắc, người ta đco mõ vào cổ trâu để theo dõi bước đi của đàn trâu, vi khi trâu gặm cỏ, tạo nên tiếng mõ lốc cóc. Vậy thỉ tôi cũng có quyền phát biều dăm câu về con người mà tôi đã yêu mến từ tuổi ấu thơ cho đến lúc biết yêu và trưởng thành, tù tội và … lưu vong. Theo tôi, trong Phạm Duy có hai con người đối chọi, khác biệt và mâu thuẫn nhau mà một người bình thường như tôi hay các bạn không có được, hay không làm được, như giữa trắng và đen, cao thượng và thấp hèn, đẹp đẽ và xấu xa … Nhiều khi tôi không hiểu nổi dược Phạm Duy! Khi ông rời bỏ cộng sản, trong không khí tự do, mọi ưu đãi đã được dành cho người nghệ sĩ có tài, năm 1953, sau khi vào Nam, ông được đi Pháp học dự thính hai năm về âm nhạc, được cử đi Phi Luật Tân, Nhật Bàn, Thái Lan dể giới thiệu văn nghệ Việt Nam, và được Hoa Kỳ mời sang thăm viếng năm 1966, bốn năm sau ông lại có dịp đi Mỹ với tư cách là cố vấn cho Bộ Thông Tin VNCH. Những năm 1967-1968, khi người Mỹ tham chiến đông nhất ở Việc Nam, hàng loạt bản nhạc lấy tên tiếng Anh ra đời trong dó có “The Dreamers”của các con Phạm Duy, đây cũng là thời gian băng casselte thịnh hành, giúp ông và gia đình trờ nên giàu có.

Ra hải ngoại, Phạm Duy vĩ đại và tự do như cánh chim bằng đã đi nhiều nơi trên thể giới, tự do ca hát … , vậy mà ở tuổi 85. ông lại muốn về nước, đóng vai “hàng thần lơ láo,” nộp đơn xin “Nhà nước Việt Nam” cho phép phổ biến 9 ca khúc cũ của ông vốn thịnh hành và phổ biến ở miền Nam, trong đó có 5 ca khúc viết trong “thời gian dân tộc kháng chiến chống Pháp”(!) và 4 bải thơ phổ nhạc, trong đó có tác giả ba bài thơ là người của Đàng: Xuân Diệu, Huy Cận và Hữu Loan, nhưng không hề được nhà nước đoái hoai. Thậm chí cho đến 7 năm sau, truớc lúc sắp chết.

Phạm Duy còn trăn trối xin ân huệ:

“Tôi là Phạm Duy, nhạc sĩ đã được hồi tịch và cư ngụ tại 349/126 đường Lê Đại Hành, phường 13, quận 11, TP Hồ Chí Minh, thực tế đã là một công dân Việt Nam từ năm 2005 … Tôi nghĩ ràng tôi có quyền nuôi một nguyện vọng đóng góp vào sinh hoạt âm nhạc trong nước bằng một ca khúc có tính chất xưng tụng nước ta nhan đề “Việt Nam, Việt Nam” sáng tác từ 1960, rút trong trường ca Mẹ Việt Nam là một tổ khúc kêu gọi sự doàn kết dân tộc dưới bóng Mẹ Tổ Quốc thiêng liêng và độ lượng. Sau đây là ca khúc đó. Tôi mong có ngày ca khúc này dược phép phổ biển. (kèm theo là một CD với hai bàn hợp ca hát bài Việt Nam, Việt Nam!)

Người liệm sì ai mà chịu được thái độ như vậy! Tác giá những câu thơ mượt mà, “Tìm nhau trong hoa nỡ/Tìm nhau trong cơn gió/ Tìm trong câu thơ cổ/Tìm qua tranh Tổ Nữ / Tìm nhau trong thống khổ/Tìm nghe câu than thở?” lại là tác giả của những câu “tục tĩu”: “Nhìn lồn”, “Cầm cặc! *

Nhân vật “Bố Già” được giới nghệ sĩ kính trọng là kẻ loạn luân tệ hại. Phải chăng trong thế gian, “có tài thì có tật!” Một con người bình thường, ai lại có thể phản bội lại chính con người mình hôm qua, quay ngược lại 180 độ, chửi nó rồi lại nâng niu nó, phủ nhận tuyệt đối những gì mình đã nói, đã viết, đã sáng tác ngày hôm qua.

Phạm Duy từ Việt Bắc về Hà Nội không cần phải xin phép nơi đến. Ông từ Bắc di cư vào Nam không cần lệnh lạc của ai. Ông đến Mỹ không cần ai cấp visa. Vậy mà ông phài cậy cục, nhờ vã, vận động khi muốn trở lại Việt Nam. Hình anh thần tượng tân nhạc Việt Nam khoe cái CMND và miếng giấy “hộ khẩu” làm cho người ta. những người thương yêu ông, điên tiết. Chuyện ông đứng lên bục, hết lời ca tụng Thanh Hải Vô Thượng Sư, đang ngồi trên chiếc ghế bành như một Nữ Hoàng, làm người ta thất vọng. Ông danh giá, cao sang, vĩ dại và bất diệt hơn mọi thứ ấy rất nhiều. Ông đã từng phổ lời thơ “làm sao giết được người trong

mộng .. ” Đã hơn nửa thế kỳ trôi qua, chúng tôi đã cùng ông “cười khóc theo mệnh nước nổi trôi,” giờ đây vận nước đang còn trôi nổi, không biết mất còn ra sao, ông không còn khóc cười, buồn vui với chúng tôi nữa.

Những ai đã từng thương yêu ông, nếu biết, ông đã từng đổi những lời nhạc ông viết: “Việt Nam! Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà!” cho “bên tê,” thành: “vườn rau, vườn rau xanh ngắt một màu!” để có thể phổ biến “bên  ni” thì cũng đừng buồn. Phạm Duy là vậy đó. Thôi, “còn một chút gì để nhớ để quên!” Có thương thì có ghét!

Xin vĩnh biệt ông!

Chiến bào thay chiếu

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 19 Jun 2026

Đưa bạn về trên chiếc trực thăng

Những thằng lính trận đứng trầm ngâm

Không biết ngày mai hay ngày mốt

Đến lượt ai đi gặp tử thần

Đưa bạn về thôi không trở lại

Sa trường chẳng bánh trái nhang đèn

Chỉ gói thuốc thơm còn vài điếu

Đôi làn khói lượng chẳng bay lên

Cánh quạt xoay tròn vòng sinh tử

Cỏ cây nghiêng ngã bụi mù trời

Băng ca bạn nằm giòng máu nhỏ

Không khóc mà sao lệ cứ rơi

Đưa bạn nằm trong khoang trực thăng

Dấu hồng thập tự cũng đỏ bầm

Ven rừng tiếng súng nào lạc lõng

Như tiễn người qua cõi thế gian

Cánh quạt xoay tròn vòng sinh tử

Cỏ cây nghiêng ngã bụi mù trời

Băng ca bạn nằm giòng máu nhỏ

Không khóc mà sao lệ cứ rơi

Bạn hãy về thăm miền quê cũ

Mẹ chờ bạn dưới mái nhà xưa

Tội cho thân mẹ già còm cõi

Nước mắt từ lâu cạn hết rồi

Tao vuốt mắt mày lần sau cuối

Chiến trường đi rồi lại trở về

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Chiến bào thôi cũng là quan quách

Mày khoác đi vào cõi ngàn thu

Chiếc U-1 đã ra khỏi vùng chiến sự

Đưa bạn về một cõi bình yên

Nay không còn tiếng đạn bom gầm

thét mỗi ngày trên núi rừng

Bạn đã dừng tay súng và mãi mãi tuổi hai mươi!

Thanh An và ly cà phê còn nợ

hung-viet.org

Donry Nguyễn

Post 31/3/2026

Post by Sơn râu 19 Jun 2026

Sau trận tăng cường giải tỏa Lệ-Minh,

Cả pháo đội về Hàm-Rồng nghỉ dưỡng.

Ra phố núi định đi lên đi xuống,

Chưa thấy má em hồng, đã có lịnh hành quân.

Bụi mịt mù theo nòng súng rung rinh,

Qua Bầu-Cạn dàn quân nghênh đón địch.

Vùng Thanh-An đồi non cây lúp xúp,

Không sợ em du kích núp nheo xùm.

Sau ba ngày say khói súng quên ăn,

Ta bỗng bị trời hành lên cơn sốt.

Khi nóng đốt, miệng phồng không thở được

Khi lạnh tràn, run rét đắp mền đôi.

Lấy lý do đang lửa bỏng dầu sôi

Pháo đội trưởng quyết không cho di tản.

Ta chỉ được lui về kho giữ đạn,

Cùng một thằng, cũng sốt rét, trông coi.

Cả hai thằng đều vàng mặt, thâm môi

Nằm húp cháo nhìn trời qua kẽ lá.

Ba, bốn đêm xem chừng cơn sốt hạ,

Chợt nghe thèm … thuốc lá tách cà phê.

Đợi sáng trời lần chống gậy qua khe,

Mò đến được quán cà phê cạnh chợ.

Em chủ quán bước ra cười rạng rỡ

Ta bồi hồi như lạc giữa cơn mơ.

Em môi hồng, má đỏ rất ngây thơ,

Mắt quờ quạng ta chưa chiêm ngưỡng hết.

Chỉ lặng yên quẹt diêm mồi điếu thuốc,

Rít một hơi, sao đắng nghét miệng mồm.

Cơn sốt ngầm bất chợt bỗng bùng lên,

Đầu choáng váng nổ ra toàn đom đóm …

Ta té xuống trên chiếc bàn lênh láng,

Rồi mê man không còn biết chi trời.

Khi tỉnh hồn giữa bốn bức tường vôi,

Nhìn tấm áo trắng tinh bà y tá.

Chợt nhớ đến, còn ly cà phê đá,

Hình như mình chưa kịp lấy tiền đưa.

                       ***

Bốn mươi năm, ta trở lại chốn xưa,

Tìm trả nợ ly cà phê thuở trước.

Chợ Thanh An bây giờ toàn giọng Bắc

Ta lơ ngơ như Từ Thức lạc về trần.

Dạo một vòng tìm người lớn hỏi thăm,

Chỉ nhận được cái lắc đầu lạnh ngắt.

-Em chủ quán ngày xưa không nhớ tên nhớ mặt

Em ở phương nào…

…ta xin lỗi em nghen!

Chàng Đông Ry Nguyễn

(Thanh An 2014)