Sáng nắng chiều mưa

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 19 Jun 2026

Nghe tiếng chào buổi sáng phía sau lưng, tôi day qua thấy viên thuyền trưởng và ông thợ máy già đứng trước phòng bếp, ông thợ máy chào lại viên thuyền trưởng, cùng lúc ông ngó ra ngoài thấy trời nắng chói chang bèn thốt lời khen:

– Trời hôm nay đẹp quá.

Viên thuyền trưởng không khen, không chê nhưng cao giọng nói:

– Con người ta ngày nào cũng nói về thời tiết nhưng không ai làm gì được nó hết.

Thợ máy đưa ngón tay cái ra gặt gặt, và hất hất cái mặt khen câu nói thuyền trưởng rất chí lý. Có lẽ viên thuyền trưởng cũng đắc ý với câu mà ông cho là tuyệt vời của một ngày mới bắt đầu. Ông cười một cái day qua tôi:

– Tôi nói có đúng không đầu bếp?

Tôi nhớ ngờ ngợ ý nghĩa trong câu nói nầy của một danh nhân nào đó mà tôi đã đọc lâu lắm rồi và có rất nhiều người cũng đồng ý cho rằng không ai làm gì được với thời tiết hết. Riêng tôi thì thấy nó hoàn toàn vô lý, phải nói là quá xá hồ đồ, mặc dầu câu nói ấy của một danh nhân.

Người ta cần biết thời tiết để làm nhiều chuyện lắm chớ. Nè nhé, những người bình thường nếu biết trước trời sẽ mưa thì ra đường phải mang theo dù, trời lạnh thì bận áo ấm, nóng quá thì đi ra bãi biển; nhà nông, nhà vườn cần biết trước thời tiết ra sao để gieo trồng, ngư phủ biết khi gió lặng biển im thì cho ghe ra khơi đánh cá, gió giông mạnh thì cho ghe vô bờ hoặc tìm nơi an toàn bỏ neo tránh sóng. Hiện nay thời tiết toàn cầu thay đổi làm nhiệt độ trái đất tăng nhanh, gió bão bất thường… làm cả thế giới báo động, Liên Hiệp Quốc phải hợp các lãnh tụ của nhiều nước lại bàn thảo và tìm cách phòng chống. Nói chi xa, ngay trên tàu nầy, mỗi ca trực chính viên thuyền trưởng mở đài nghe tin tức khí tượng từng giờ để hướng dẫn con tàu, vậy mà ông quả quyết không ai làm gì được thời tiết hết. Thấy tôi lơ là trước câu hỏi, ông tưởng tôi không nghe nên lặp lại:

– Tôi nói có đúng không?

– Ông là thuyền trưởng nói ra cái gì thì có nhiều người cho là đúng cái đó, nếu tui có nói ông nói sai cũng chẳng sao mà.

Không để ông kịp phát hiện ra câu trả lời ba phải của tôi, tôi bèn hỏi tiếp một câu cho khoả lấp:

– Ông ăn trứng chiên hay trứng luộc.

Viên thuyền trưởng chợt nhớ ra giờ nầy là giờ ăn sáng:

– À, ông chiên cho tôi hai cái trứng với thịt ba chỉ.

– Ô kê.

Hồi nãy tôi hỏi trong bàn có người nào ăn trứng chiên không, ai cũng dãy nẩy, ọ oẹ, lè lưỡi chê trứng chiên thịt ba rọi có nhiều mỡ sợ mập nên không ai dám ăn. Bây giờ thấy tôi dọn ra cho thuyền trưởng tức thì con nhỏ theo thực tập và con nhỏ phụ thợ máy, hai đứa mập thù lù, cũng đòi ăn trứng chiên giống như viên thuyền trưởng.

Thói thường của con người ta ưa ăn theo, từ việc làm cho tới cách suy nghĩ, hễ nghe cấp trên nói ra cái gì là những người dưới phải làm và nghe theo cái đó. Trên tàu cũng vậy, phần đông thuyền viên thấy thuyền trưởng ăn món nào thì  hùa theo ăn món đó, thuyền trưởng khen món gì ngon thì cả đám khen theo. Thỉnh thoảng gặp thuyền trưởng sống vô kỷ luật thì y như rằng cả đám thuyền viên cũng sống theo y chang. Có một lần tôi dọn khoai tây trộn với cải xoăn(kale), thuyền trưởng mắt nhắm mắt mở ba chớp ba nhoáng, miệng mồm bị sao đó ăn cải xoăn mà ông nói là mồng tơi đất(spinach). Vậy là cả đám tuỳ tùng hùa theo cười chọc ghẹo làm như tôi là một tên đần độn không biết phân biệt giữa mồng tơi và cải xoăn là gì. Bực mình tôi xuống kho lấy bọc cải còn nguyên nhãn hiệu đem lên liệng lên bàn ăn, chỉ mặt mắng từng thằng và day qua to tiếng với viên thuyền trưởng. Ít ra nhờ cái quốc tịch Hoà Lan đỡ cho tôi lúc nầy, nếu tôi là người In Đô hay Phi Luật Tân chắc sẽ bị mất việc về cái tội phạm thượng.

Vừa dọn dẹp xong bữa ăn sáng thì xe hàng chở xuống giao mấy kiện thực phẩm, tôi phải nhận hàng và sắp xếp mọi thứ vào kho. Hôm nay còn có hai người Ukrainia xuống thay cho con nhỏ phụ máy, con nhỏ phụ thuyền phó và một thợ máy trẻ thay ông thợ máy già. Ba bốn người ở công ty kéo xuống mần gì hổng biết mà bắt tôi phải nấu thêm thức ăn. Sau khi lo xong cho gần hai chục miệng ăn, tới phiên cái máy rửa mắc ôn mắc dịch gì mà không chịu chạy làm tôi phải moi hết dĩa, dao, muỗng, nĩa ra rửa bằng tay. Bận rộn suốt ngày, bỏ luôn giấc ngủ trưa, khi xong việc thì đã quá buổi chiều. Tôi lên phòng tắm, tắm xong định nghỉ ngơi nhưng chợt nhớ hồi sáng tàu vào đập Brunsbutel tình cờ gặp tàu Hùng nằm chung một đập và cùng về Hamburg. Chúng tôi hẹn tối nay gặp nhau trên hội quán. Bây giờ tôi phải lên phòng thuyền trưởng lấy giấy tờ cá nhân để còn sửa soạn lên bờ.

Viên thuyền trưởng ngồi trước vi tính, nghe tiếng tôi bước vô ông ngoái lại khoát tay biểu tôi chờ một lát rồi ông day vô tiếp tục gõ vô bàn phím. Xong việc ông đứng dậy hỏi tôi:

– Ông muốn lên bờ hả?

– Dà, ông đưa tui seamen’s book.

Thuyền trưởng khoát tay:

– Khỏi cần, tôi mới gởi e mail cho mấy người gác cổng nói họ không được làm khó ông nữa.

– Hổng lẽ mỗi lần ghé cảng là mỗi lần ông e mail cho mấy người gác cổng về chuyện đi đứng của tui sao.

Thuyền trưởng quả quyết:

– Từ đây trở đi không ai làm khó ông nữa đâu, ông là người Hoà Lan mà. À nè, ông mua dùm tôi cây dao cạo râu được không?

– Dĩ nhiên.

Viên thuyền trưởng lấy tiền ra định đưa cho tôi nhưng ngẫm nghĩ sao đó, ông cất tiền lại rồi day qua:

– Thôi, ông đi đi một lát tôi lên mua cũng được.

Tuy nghe ông nói vậy, nhưng lòng tôi không yên chút nào. Hơn hai mươi năm qua sống đời thủy thủ, đi khắp bốn phương trời, tôi gặp không ít phiền phức về cái quốc tịch thứ hai của mình. Nhứt là những năm gần đây nạn khủng bố khắp nơi, quốc gia nào cũng tăng cường đề phòng rất nghiêm nhặt. Để cho an toàn tánh mạng của các thủy thủ và kiểm soát buôn bán hàng hoá lậu hoặc khủng bố… Người nào đi ra khỏi vòng rào bến cảng phải gọi shuttle bus xuống đón, chớ không được đi bộ. Nhứt là ở những quốc gia đương phát triển, đội ngũ bảo vệ chạy xe tuần vòng bến cảng suốt ngày đêm, vậy còn chưa đủ, họ đặt  máy thu hình ở cổng rào để kiểm soát xe cộ mỗi bận ra vào.

Mặc dù Âu Châu đã thống nhứt người dân các nước trong cộng đồng có quyền tự do qua lại ranh giới, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng dễ dàng như vậy. Tôi tuy có quốc tịch Hoà Lan đã lâu năm nhưng mỗi khi đi đường để cái passport nằm trong túi chớ đâu có dán trên mặt. Bảo vệ còn phải thi hành nhiệm vụ của người ta nữa chớ, thấy người nào khả nghi thì họ có quyền chận lại coi mặt trước, sau đó mới hỏi passport và lục soát. Tôi là người da vàng luôn sống xê dịch trên những đất nước không phải của mình, gặp người không cùng màu da, bị họ nghi ngờ cũng là lẽ phải.

Thấy tôi lưỡng lự, viên thuyền trưởng gằn giọng:

– Ông cứ đi đi nếu có thằng nào làm khó dễ gì thì ông cứ điện cho tôi.

Thuyền trưởng trên tàu là cha mẹ mà, đã ra lịnh thì thủy thủ phải nghe theo. Ngặt cái là khi ra khỏi tàu lên bến cảng thì thuộc quyền của nhóm an ninh, rừng nào cọp nấy. Tôi định nói ý mình cho ông nghe nhưng sợ cãi qua cãi lại một hồi làm ông tự ái vì bị xúc phạm tới cái uy quyền thuyền trưởng của ông. Sống lâu với đời hàng hải, tôi cũng có chút kinh nghiệm đi đường, những nhân viên trên bến chỉ cần giấy xác nhận tên thủy thủ trên chiếc tàu nào thì người ta cho qua thôi. Tôi xuống văn phòng copy cái danh sách thủy thủ đoàn bỏ túi, cái nầy tuy rườm rà nhưng kèm với passport làm bằng chứng đi đường cũng được.

Tôi định đi bộ nhưng từ xế chiều tới giờ trời đổ mưa tầm tã, nên tôi điện thoại gọi xe hội quán xuống cổng bến cảng rước tôi. Vừa điện xong thì Gibson đi xuống, mặt mày nó nhăn nhó như bị mắc tim la lâu ngày, nó hỏi tôi:

– Chú chờ tui được không?

– Sao vậy?

– Tui chờ cảnh sát đóng dấu nhập cảnh.

Gibson là thủy thủ người In đô, cũng như những thủy thủ người ngoài Âu Châu, khi tàu ghé bến nó phải chờ cảnh sát xuống đóng giấy thông hành, sau đó nó mới được lên bờ. Hôm trước tôi có hứa hôm nay lên hội quán mở dùm nó một e mail và chỉ cho nó cách lên mạng. Tôi day lại nói:

– Tao có hẹn với thằng bạn, có lẽ nó đương chờ tao ở trên hội quán.

– Vậy một lát tôi lên hội quán gặp chú nghe.

– Tốt, một lát gặp.

Hội quán thủy thủ lúc nào cũng đông người đờn hát, nhậu nhẹt náo nhiệt vô cùng. Bàn nào cũng đầy nhóc bia rượu và vỏ chai chất chồng, họ giơ ly lên cao cụng và ngước cổ nốc ừng ực… rồi sau đó lần lượt đi ra phòng toilet đứng sắp hàng. Không biết trên thế giới nầy mỗi ngày con người ta uống hết bao nhiêu lít bia, rượu và tiểu tiện đầy bao nhiêu chiếc xe bồn. Tôi đi rảo hết các phòng, phần đông thủy thủ tới từ các nước Đông Âu. Không thấy Hùng đâu hết, định gọi điện thoại hỏi nó nhưng nhìn lên đồng hồ treo tường thấy còn sớm tôi mới đi lại quày mua chai bia đứng nhâm nhi.

Uống chưa hết chai bia thì Gibson lù lù bước vô, cái mặt nó rỗ chằng rỗ chịt, da thâm đen, đã vậy còn nhăn nhó trông nặng nề làm sao:

– Mầy sao vậy?

– Cảnh sát làm việc lâu quá.

Tôi hỏi một đàng nó trả lời một nẻo. Tôi day vô ba mua thêm một chai bia day ra đưa cho nó và nhắc lại ý mình:

– Tao muốn hỏi ai đã làm gì mầy mà suốt ngày nay tao thấy mặt mày mầy nhăn nhó giống như cái âm hộ vừa mới làm tình.

Nó bưng bia lên hớp một hớp để chai xuống mặt đăm chiêu:

– Chắc tui phải về quá chú.

– Chuyện gì nữa?

– Chú coi ngày nào cũng bị tụi nó chơi xỏ hết.

– À, thì ra cái vụ thằng Toto lấy quần sì líp của con nhỏ sinh viên thực tập liệng vô phòng mầy đó hả?

– Đúng rồi, hồi trưa xém chút nữa tui đập nó một trận rồi ra sao cũng được.

Trước kia tôi còn thấy tội nghiệp những người mới xuống bị mấy người làm lâu năm ăn hiếp, nên tôi thường tìm cách giúp đỡ và binh vực, nhưng lâu dần tôi khám phá ra thủy thủ người In Đô phần đông mới xuống làm thì hiền như cục bột, nhưng khi quen nước quen cái rồi thì lên mặt hống hách, hà hiếp đồng hương và hay thường xuyên nói dối. Những chuyện tương tợ cứ lập đi lập lại hoài riết rồi nhàm, làm cho tôi xem thường, dân tộc tính mà. Tôi nhìn nó mỉm cười:

– Mầy tối ngày cứ đánh thằng nầy đập thằng kia, nói cái miệng không chớ tao thấy mầy có đụng tới cọng lông của thằng nào đâu, nhưng không lẽ chỉ vì mấy thằng đồng hương của mầy chơi xỏ chút ít làm mầy bỏ việc. Với lại mầy mà trở về In Đô thì vợ, con mầy đói chớ tụi nó có đói đâu.  

Chợt điện thoại reo, tôi lận túi lấy điện thoại ra bấm nghe. Hùng gọi lên nói tàu nó sẽ dời bến và đêm nay nó đổi ca trực với thuyền phó nên nó không lên hội quán được. Tôi nói với nó:

– Thôi được rồi, hẹn khi khác vậy.

– Vâng, khi khác chú cháu mình gặp nhau.

Tôi cất điện thoại, day qua nói với Gibson:

– Thằng bạn tao nó không lên được. Mà nè, có chuyện gì cần  thì mầy nói tao nghe coi có giúp được gì cho mầy, còn nếu không thì bỏ qua ba cái chuyện lặt vặt dưới tàu đi, làm thủy thủ chung chạ với nhiều dân tộc, mầy sẽ gặp nhiều chuyện phiền phức hơn nữa, phải tập sống cho quen với những chuyện phi lý thường tình, cố gắng học hỏi và làm việc cho ngon lành, chừng một năm sau mầy thành ma cũ rồi mặt sức bắt nạt lại mấy tên ma mới.

– Tui đâu có hèn hạ như tụi nó chú.

– Ô kê, nếu mầy cao thượng thì quên mấy chuyện thấp hèn đó đi.

– A ha… chú nói chuyện hay quá.

– Nói thiệt thôi, hay ho gì.

– Chú có hứa mở dùm tui e mail mà.

– À, vậy thì đứng đây làm gì. Mình vô phòng internet, mở e mail rồi mầy tâm sự với vợ con cho đã và mai mốt có chuyện phiền hà trên tàu thì lên méc với vợ, khỏi phải mỗi chút mỗi lên nói với tao.

Chúng tôi vô phòng internet thấy không máy vi tính nào còn trống và chỗ hàng ghế đợi có hơn cả chục mạng ngồi chờ.

– Tao nghĩ bây giờ khó mà rớ tới cái vi tính.

– Sao vậy chú?

– Cái thằng, bộ mầy hổng thấy người ta chật nứt hết sao.

Nó cười:

– Chỗ nào miễn phí là chỗ đó đông người.

– Mình cũng vậy, quyền lợi mà, thôi đi ra ngoài kiếm chỗ ngồi nhậu chơi. Thời buổi nầy chỗ nào cũng có internet, đêm nay không mở được thì nay mai qua Thụy Điển mình mở cũng được.

Uống hai chai bia mà mí mắt tôi muống xụp xuống rồi. Tôi nói với Gibson:

– Mầy ở lại chơi, tao phải về ngủ, suốt ngày nay tao làm không được nghỉ ngơi chút nào hết.

– Chú về thì tui ở đây làm chi.

– Vậy thì uống hết cái nầy mình đi.

Hai đứa tôi bước ra ngoài, nhưng vừa ra tới hàng hiên thấy trời vẫn còn mưa lâm râm, tuy mưa không lớn nhưng đi từ đây xuống bến chắc cũng ướt hết mình mẩy. Hai đứa đành phải trở vô nhờ xe hội quán chở xuống tàu.

Xe hội quán đưa hai đứa tôi tới cổng bến cảng. Chúng tôi xuống xe, đội mưa đi vô trạm canh trình giấy. Tên gác cổng xem giấy Gibson xong cho qua còn tôi thì cũng như thường lệ, hắn lật tới lật lui passport một hồi rồi hỏi tại sao tôi không đem theo seamen’s book. Tôi nói:

– Thưa, hồi tui đi ra thuyền trưởng tàu tôi còn ngủ nên không lấy seamen’s book được, nhưng tôi có danh sách thủy thủ đoàn đây.

Tên gác cổng xem xong và hỏi tôi cho hắn giữ lại cái danh sách thủ thủ đoàn:

– Ô kê, Ngài không giữ tui lại là tốt lắm rồi.

– Không có vấn đề gì hết, ông ra bến chờ khoảng chừng năm mười phút shuttle bus tới.

Chúng tôi ra bến chờ xe. Gibson hỏi tôi:

– Sao tụi nó hay làm khó chú quá vậy?

– Vì passport của tao là đồ giả nên thường bị rắc rối. Mầy nhờ cái gì cũng thiệt hết nên không sao.

– Chú quốc tịch Hoà Lan mà.

– Mầy nên nhớ vịt là vịt ngan là ngan. Mặt mày tóc tai, giấy tờ của mầy cái gì cũng nguyên xi In Đô nên đi qua chỗ nào cũng trót lọt. Còn tao, tuy mang quốc tịch Hoà Lan nhưng da vàng, tóc đen, mũi tẹt, tức là Việt Nam chánh hiệu, nên mỗi lần đi qua cửa phi trường hay ranh giới hoặc vô ra cổng bến cảng, tụi nhân viên nghi ngờ tao là dân khủng bố hay bán ma túy, xì ke và xài giấy tờ giả nên mới chận lại lục soát, săm soi, còn cầm passport lật tới, lật lui, day qua ngó mặt thẳng, mặt nghiêng một hồi rồi nhìn vô hình trong passport hỏi han đủ thứ. Nhứt là qua ngang mấy phi trường bên Mỹ, tụi an ninh bắt tao phải lột hết quần áo ra cho nó soát từng kẽ lông, thấy trong người tao không có rận tụi nó mới chịu cho qua.

– Chú nói quá.

– Nói như vậy mà nhằm nhoà gì mậy, bộ mầy hổng nghe lâu lâu tụi quan thuế phi trường nó moi móc chỗ kín của mấy bà lấy ra hột xoàn và vạch hậu môn của mấy ông lấy ra cocaine hoặc heroin đó sao.

Gibson cười lớn:

– Ha ha…chú bôi bác quá xá…

– Tao thấy rất nhiều người cũng giống như mầy vậy, tao nói chuyện sờ sờ trước mắt thì bị hoài nghi rồi cho là tao bôi bác, còn những tên có chút quyền hành “nó” bôi bác lên cả cuộc sống của thiên hạ thì cũng có khối thằng hùa theo cho là đúng.

– …

Chúng tôi đi gần tới bến xe bus chợt từ đâu không biết, viên thuyền trưởng lù lù đi tới, tay ông xách một bọc nylon, tôi đoán chừng trong bọc kẹo, xô cô la, bánh và có ít nhứt một cái dao cạo râu. Ông nói với chúng tôi rằng nhân viên gát cổng đòi seamen´s book nhưng ông không đem theo nên họ không cho ông vô, nãy giờ ông gọi điện xuống tàu nhưng không ai bắt máy hết. Ông hỏi chúng tôi có bị tụi gác cổng làm khó không. Lúc đó shuttle bus cũng vừa trờ tới. Tôi day qua nói với ông:

– Không có vấn đề gì hết, tôi có đưa cho người gác cổng danh sách thủy thủ đoàn tàu mình, ông trở vô trình passport cho họ đối chiếu thì họ cho ông vô chớ gì.

Mưa thêm ào ạt… Viên thuyền trưởng day người đi nhanh vô trạm canh. Tôi với Gibson vội vàng leo lên xe và kêu tài xế đậu lại một lát chờ viên thuyền trưởng. Khi viên thuyền trưởng trở ra, leo lên xe, đầu tóc ông đã ướt mẹp. Ông vừa phủi nước trên đầu, trên vai vừa chửi thề. Cũng cái tật hay triết lý theo sách vở, ông đọc câu tục ngữ tiếng Hoà Lan: “April doet wat hij wil”. Nghĩa là thời tiết của tháng Tư muốn ra sao thì ra.

Tôi bèn tiếp lời ông:

– Sáng nắng chiều mưa, thời tiết bất thường có tháng, có mùa, còn con người ta bất thường không mùa không tháng ha ha…

Trên dòng kinh Kil nước Đức 27/5/2008

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 19 Jun 2026

Chiều tàn. Người trong khu chợ Ô Hòa Xây thưa dần. Các chị cuốn chiếu, thu dọn đồ nghề và mua cơm phần gói trong lá sen cho bữa ăn tối. Chúng tôi theo các chị về bằng xe Lambretta ba bánh. Ngồi trên xe, tôi nhắm mắt lại. Có cảm tưởng như mình đang lao vào cõi mông lung vô định với nhiều rủi ro bất trắc.

Các chị thuê phòng trên tầng lầu thứ tư của một chung cư. Chúng tôi lên lầu cùng lúc những ông chồng của các chị về tới. Mỗi ông xách theo một thùng nước, tay kia xách cục nước đá treo tòn ten bằng sợi dây. Nước đá được bỏ vào thau nước lã, dùng làm nước giải khát. Còn thùng nước, dành cho các chị tắm rửa.

Chồng của các chị làm phu khuân vác nơi chợ búa, hoặc các bến xe hàng. Tất cả, họ thuê chung một căn phòng rất rộng. Phòng được chia ra từng phần làm chỗ ngủ, diện tích vừa tấm chiếu, che bằng những tấm màn vải. Họ sống tạm bợ. Kể cả tình nghĩa vợ chồng cũng là sự gán ghép tạm bợ giữa đường. Bởi những người đàn bà đàn ông này, đều đã có gia đình ở quê nhà. Họ trôi giạt sang xứ người kiếm sống và ráp lại từng cặp, chẳng qua vì vấn đề âm dương phối hợp mà thôi.

Chủ nhà là một bà già người Miên, ít nói. Đôi mắt cú vọ nhìn người lom lom, thể hiện cái thói gian tham, xảo quyệt. Dù chúng tôi nằm dười sàn gạch, bà cũng bắt chẹt phải trả tiền một đêm. Nghe nói vào thời Pol Pot cầm quyền, những người dân thành phố, một số chạy trốn, một số khác bị giết, hoặc bị lùa đi các công nông trường. Họ đi không bao giờ về nữa. Dân cùng đinh khố rách khắp nơi tràn vào thành phố, chiếm lấy nhà cửa. Từ đó, thành sở hữu chủ luôn.

Buổi tối. Tôi xuống đường, tắm nơi vòi nước máy và xách lên một thùng cho vợ con. Vòi nước công cộng, một tay anh chị mặt rô tự đứng ra quản lý, phân phối và thu tiền bỏ túi. Ai dám phản đối? Thời buổi nhiễu nhương rối loạn. Luật pháp như cái cân hư. Xã hội xô bồ. Lưu manh ngự trị. Trời Phật không có chỗ đứng trong lòng người. Lòng dạ người nào cũng thủ sẵn một con dao. Họ vừa bảo vệ bản thân, vừa rình cơ hội đâm mũi nhọn vào người khác.

“Ở đây, thứ gì cũng trả tiền. Biết thế, ở lại cái nhà trọ thuê giường còn khỏe hơn.” Vợ tôi cằn nhằn.

Tôi nói: “Ai ngờ được những gì sẽ tới? Mình giống như nàng Kiều của Nguyễn Du. Cũng liều nhắm mắt đưa chân. Thử xem con tạo xoay vần đến đâu!”

Vợ nổi cáu: “Chết lên chết xuống không lo, còn thơ phú nữa? Dẹp ông Nguyễn Du đi. Hãy lo moi vàng ra mà sống.”

“Anh cũng muốn lôi nó ra, nhưng nó cứ nằm lì trong bụng. Biết làm sao?”

“Lúc nào anh cũng tâm niệm hai tiếng “đi cầu” thì nó ra thôi.”

“Đi cầu mà cũng tâm niệm?”

“Phải. Anh cứ tưởng tượng mình đang chột dạ mót đi cầu, cần tống khứ tất cả những gì trong bụng ra ngoài. Đến một lúc, anh sẽ tuôn ra hết ngay. Người ta gọi đó là tự kỷ ám thị”

“Khổ quá! Em điên rồi, nên nghĩ đủ điều như thế.”

“Không ám thị được, em sẽ cho anh một liều thuốc xổ.”

“Em ơi, anh đang mệt mỏi. Uống thuốc xổ hoài, mất sức làm sao chịu nổi?” Tôi nói như rên.

Vợ cương quyết: “Cũng phải chịu. Nếu đêm nay, nó không ra. Ngày mai, em mua thuốc xổ. Em cần vàng để xoay trở. Chỉ có vàng mới cứu nguy được trong lúc này.”

Tôi vào nhà cầu, lót tấm giấy bìa trên sàn, ngồi rặn và tự kỷ ám thị. Vàng ơi! Vàng ơi! Tôi gọi vàng và ám thị. Tâm trí lan man, nghĩ hận bọn thằng Nu. Vì mấy cây vàng, mà chúng nhẫn tâm xô vợ chồng tôi vào ngõ cụt.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 Jun 2026

Bạo lực chỉ có thể được che đậy với một lời nói dối và lời nói đối chỉ có thể được duy trì nhở bạo lực. Ai từng đem bạo lực ra làm cách thức rồi chắc chắn sẽ buộc phải lấy dối trá làm nguyên tắc.

(Aleksandr Solzhenitsyn)

Nhắc dến Võ Nguyên Giáp người ta không quên Điện Biên Phủ. Nhớ đến Điện Biên, người cộng sản Việt Nam thường ca tụng bốn anh hùng tiêu biểu của người lính “cụ Hồ,” đó là Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng, Tô Vĩnh Điện dùng thân chèn pháo, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Trần Can hiên ngang dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền đồn để xông vào sở chỉ huy của Pháp, cầm cờ lên cứ điểm Him Lam.

Bế Văn Đàn, liên lạc viên tiểu đội, ở Mường Pồn, khẩu trung liên của trung đội chưa bắn được vì không có chỗ đặt súng, Trong tình thế hết sức căng thẳng, đang bị thương, Bế Văn Đàn không ngần ngại chạy lại cầm hai càng khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đồng đội bắn. Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, Bế Văn Đàn bị hai vết thương nữa và hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình. Đây là một kịch bản khó tin dành cho những người điên, vì khi hai càng của khẩu trung liên đặt trên hai vai, nòng súng nằm sát trên đỉnh đầu, tiếng nổ sẽ làm cho vỡ màng nhĩ và chấn động não bộ, cũng như lữa từ nòng súng sẽ làm cháy tóc và da mặt!

Tộ Vĩnh Diện, tiếu đội trưởng pháo cao xạ, thì qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong rất nguy hiểm, nừa chừng giây kéo pháo bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Điện hy sinh lấy thân mình chen vào bánh pháo, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại. Người ta nghĩ rằng đây là chuyện bịa, vì sau khi Điện dược truy tặng danh hiệu anh hùng, các tài liệu phia cộng sản mô tả, nơi thì nói là đơn vị ông là đơn vị pháo 105mm, nơi thi nói là pháo cao xạ 37mm. Ngay ngày tháng xảy ra vụ việc nhiều tải liệu ghi chép Tô Vĩnh Điện chết vào tháng 3 năm 1953, nhưng trên bia mộ lại khắc ngày chết là ngày 21 tháng 1 năm 1954. Nếu là pháo 105 mm, thì xương thịt của một người khoảng 50kg không thể nào giữ nỗi một dàn súng đang lao xuống vực.

Phạn Dình Giót, tiều đội phó, trong trận đánh đồi Him Lam, đã bị thương vào vai, máu chảy đầm đìa, nhưng bất ngờ từ hỏa lực ở lô cốt số 3 của lính Pháp bắn rất mạnh vào đội hình dang xung phong, Giót đã dùng hết sửe mình còn lại nâng tiểu liên lên bắn mạnh vào lỗ châu mai, miệng thì hô to: “Quyết hy sinh … vì Đảng … vì dân!!.. ” rồi rướn người lấy đà, lao cả thân mình vào bịt kín lổ châu mai địch. Nhờ vậy hỏa lực của lô cốt này bị dập tắt, toàn đơn vị “ào ạt xông lên như vũ bão,” tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam.

Trần Can, đại đội phó, trong trận đánh đồi Him Lam mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, được giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội cắm cờ lên đồn Pháp. Mặc dầu hỏa lực quân Pháp bắn ra dữ dội, Can dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền đồn, qua được trận địa, nhảy lên lô cốt cắm cờ.

Trừ chuyện Trần Can hy sinh chịu chết để cố gắng cắm co là chuyện thuờng tình trong các trận chiến, còn các chuyện bịt lỗ mai, lấy thân chèn đại bác đang lao xuống vực hay lấy thân làm giá súng trong “huyền thoại” Điện Biên Phủ, đều là những chuyện phịa, mà những cấp chỉ huy ngoài mặt trận, từng tham gia chiến tranh đều thấy điều vô lý của nó.

Cảng phịa hơn nửa là sử sách cộng sản Việt Nam đều chép rõ, mà không thấy điều phi lý, vô nghĩa: “Hiện nay tại Điện Biên Phủ, có ba nghĩa trang liệt sỹ, là nghĩa trang phía gần đồi Độc Lập, nghĩa trang gần đồi Him Lam và nghĩa trang gần dồi A1, có tổng cộng là 3.976 ngôi mộ. Năm 1954, một trận lũ lớn vào cuốn trôi các bia mộ nên 3.972 mộ đều trở thành mộ vô danh, Chỉ có 4 ngỏi được đặt riêng biệt là mộ eác anh hùng Bế Văn Dân, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Điện, Trần Can là còn ghi nhận được.”

Có nghĩa là trận lụt lũ đã san bằng 3,968 ngôi mộ, đất đá vộ tri, không chừa một ai, nhưng sao bốn ngôi mộ liệt sĩ nói trên lại còn, để cho hậu thế noi gương … anh hùng. Mặt khác, trong trận chiến quyết liệt của Diện Biên Phủ, tử sĩ của cả hai bên, phải bỏ tại chổ hoặc vùi nộng, có đâu lại được bia mộ đàng hoàng, Bế Văn Đàn chết ở Mường Phồn, Phan Đinh Giót ở Him Lam, Tô Vĩnh Điện ở Mường Thanh, những cứ điểm này xa nhau hàng cây số, làm sao có thể phân biệt được anh hùng hay không anh hùng, để đem bốn xác chết này chôn gần nhau, mà dù cho thiên tai bão lụt cũng không thể nào xóa vết. Cứ dựng bia, khắc tên, ghi tuổi, nhưng dưới mộ để không, hay chôn xương trâu, xương bò thì cũng chẳng ai hay, gọi là “mộ giả.” Điều đáng buồn là ngay những ông tướng Tư Lệnh, ở xa trận địa hàng chục cây số cũng nghe báo cáo láo, đem những chuyện vớ vẫn, khó tin này viết vào hồi ký của mình. Phải chăng trong xã hội ấy người ta đã làm láo, báo cáo láo, lâu ngày hòa đồng, không tin cũng viết, không tin cũng nói, tạo nên một xã hội gian dối lừa lọc, kẻ khác dối mình, thì mình lại dối với người khác. Những chuyện khó tin, lâu ngày thêu dệt, loa phóng thanh ra rã từng ngày, báo chí chạy những hàng chữ lớn, đảng chỉ đường, đảng nói không thể nào sai.

Sau đây không phải là những chuyện thật như đùa, mà những chuyện đùa bắt dân ngu phải xem là thật. Những chuyện “dũng sĩ diệt Mỹ” trong sách vỡ cộng sản có đến hàng nghìn chuyện bịa đặt, vô lý, buồn cười nhưng vẫn được đem làm kinh nhật tụng cho thiếu nhi dưới chế độ XHCN. Chúng tôi chỉ sơ lược kể hầu quý độc giả hai câu chuyện điển hình, một của “dũng sĩ diệt Mỹ tí hon” bỏ cát vào nòng súng Mỹ và một của dãng sĩ “Hercule VC” dùng bàn tay sắt níu cảng trực thăng Mỹ, khiến máy bay không làm sao cất cánh được, bị bắn tan tành. Hồ Thị Thu ở Quảng Nam, năn 13 tuổi, một lần thấy địch phơi súng hàng loạt, chĩa nòng về dân quân du kích Việt Cộng như thách thức, bổng lóe lên ý tưởng; bò cát. sạn vào nòng súng để chúng bắn không được. “Dũng sĩ” này vờ chơi trò trẻ con đem rổ đựng cát sạn, trên phủ lớp lá chuối, giả vờ nô đùa rồi bỏ cát, sạn vào nòng súng của lính Mỹ. Đêm ấy du kích tấn công. Mỹ giương súng ra bắn nhưng đều bị toe nòng.

Một chuyện khác của “dũng sĩ” tí hon, là vào “nửa đêm. linh Mỹ gác đang ngáy khò khò. để súng lăn lóc”(nguyên văn), Hồ Thị Thu lên tới vác từng cây súng ra phia sau đồng, giấu đi. Rồi cứ thế vào … lấy tiếp. Đến khi nghe gá gáy, biết trời sấp sáng, Hồ Thị Thu chạy về báo cho bộ dội địa điểm giấu súng. Hồ Thị Thu là người con gái đầu tiền của miền Nam được phong Dũng sĩ diệt Mỹ, hai lần được gặp “bác Hồ,” năm 1970, được cử di dự trại hè Thiếu nhi Quốc tế tại Liên Xô và được vợ chồng bà Ri-ta Co thành phố Khác-cốp) nhận làm con nuôi. Bịp được cả “bác Hồ,” bịp được cả Liên Xô! Hay là Liên Xô cùng “bác Hồ” cũng cùng một giuộc!

“Xúi trẻ ăn cứt gả!” Tuyên truyền ấu trĩ như vậy mà dân cũng nghe. Mỹ ngu như vậy, thua là phải! “Dũng sĩ” Bùi Minh Kiếm, đặc công Quảng Nam “sau ba giờ cầm chân địch, bị thương ở tay và đầu, máu chảy ra nhiều nhưng vẫn kiện trì cầm súng bắn ngăn địch tiếp cận công sự. Giữa lúc cuộc giằng co đang diễn ra ác liệt thì địch huy động trực thăng bắn rốc kết, pháo kích lần hai. Giữa lúc “dầu sôi, lữa bỏng” ấy, đồng đội của ông Kiểm, tức ông cùng Nguyễn Phú Thao đã đưa ra một cách đánh táo bạo. Khi chiếc UH-1 rà tới chuẩn bị hạ thấp dề bắn róc kết thì ông Kiểm lao người lên dùng hai tay ghì càng máy bay xuống. Đôi bản tay thép như chiếc nam châm hút chiếc UH-1 xuống gần sát mặt dất. Viên phi công bất ngờ, chưa kịp gạt cần súng máy thì đã bị đồng đội của Bùi Minh Kiểm từ bên dưới bắn thốc lên, thẳng vào buồng lái, Chiếc máy bay mắt thăng bằng loạng choạng lao xuống, nổ tan xác.”

Vì sao dân Việt Nam lại có người tin vào những chuyện quái đản này, nói như ông Tản Đà, chẳng qua

“Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn / Cho nên quân nó dễ làm quan!”

Không có gi hơn, để kết luận bài này, xin mượn thêm lời một người đã có kình nghiệm với quốc tế CS, cựu Tổng bí thư đáng CS Xô Viết, ông Mikhail Gorbachev: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: cộng sản chỉ biết “tuyên truyền và dối trá.”

Tiễn bạn – Khúc bi ca của người lính già xa xứ

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

Bạn bè nhanh chân về với đất

Còn lại mình ta ở xứ người

Chiều hôm qua tiễn thằng chiến hữu

Từng một thời sinh tử có nhau

Lần lượt rụng những thằng xa xứ

Như lá vàng đứt cuốn lìa cành

Thôi thì sống ngần ấy năm chi để

Nhai nỗi buồn đến chẳng còn răng

Một cú nhấp tan thành cát bụi

Bao nhiêu năm phút chốc tàn tro

Còn lại chăng vài album ảnh

Cho người thân nhớ đến ruột rà

Chiều tiễn bạn ra ngoài nghĩa địa

Ta tìm xem còn miếng đất nào

Đám chiến hữu dành nhau nằm hết

Ta đành về sống nốt đời ta

Ta quay về mượn rượu ngâm nga

Con dế già mùa thu rụng cánh

Tiếng nỉ non dưới trời khuya lạnh

Thấy bạn về cười khẩy rồi tan

Ta lính già nặng lòng cố xứ

Nhớ quê hương nhưng mãi không về

Chiều tiễn bạn ra ngoài nghĩa địa

Thấy nỗi buồn trên ngọn Whitney

I’m an old soldier with the heavy heart

For my lost homeland

I miss my country but I will never return

This afternoon I buried my friend in the cemetery

I saw sorrow on the peak of Mount Whitney

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

Du kích!

Steinbrenner thè lưỡi liếm môi và nhìn thấy người Nga. Có hai người đàn ông và hai người đàn bà. Một người đàn bà còn trẻ măng, hai má phinh phình, gò má cao. Họ mới bị bắt sáng nay.

Graber nói:

– Trông không có vẻ quân du kích.

– Họ là quân du kích. Sao anh biết rằng không phải?

– Không có vẻ là du kích. Họ là nông dân thì phải hơn.

Steinbrenner cười:

– Nói như anh thì không bao giờ bắt được đứa giết người.

Graber thấy đại úy Rahe đến nơi, y nghĩ thầm: “Đúng thế. Mày tiêu biểu nhất cho loại người nhắm mắt làm liều”.

Rahe hỏi:

– Bây giờ định làm gì họ?

– Bắt được họ ở đây. Phải giam lại đến khi có lệnh.

– Rắc rối nhiều rồi. Sao không gửi về đồn?

Rahe không đợi trả lời. Đã lâu nay không đóng đồn ở nơi nào nhất định. Giả sử có thể làm được thì bộ tham mưu gửi người đến thẩm vấn và định đoạt.

Steinbrenner vội nói thêm:

– Ở đầu làng có một nhà giàu ngoài xây cái vựa cửa có khóa.

Rahe quay lại. Ông ta đã đoán ra ý của Steinbrenner. Đối với anh này thì người Nga vẫn muốn trốn ra ngoài để rồi rước lấy cái chết.

Rahe bảo Graber:

– Đem tù binh đi. Steinbrenner chỉ cho anh xem cái vựa khóa ở chỗ nào. Xem lại thật có cửa đóng không hay còn lối đi nào khác. Để một người ở đấy canh và trở ra lại cho tôi biết tin. Anh lấy người trong đội của anh. Coi có mình anh trách nhiệm thôi.

Một người tù binh đi khập khiễng. Người đàn bà già bệnh tật, người trẻ tuổi đi chân đất. Ra khỏi làng, Steinbrenner nhát vào lưng một người:

– Thôi đi đi.

Người này kinh ngạc quay lại. Steinbrenner cười ra hiệu thả cho họ đi:

– Tha cho mày, đi đâu thì đi!

Người Nga già nói mấy câu tiếng Nga, người kia không nhúc nhích. Steinbrenner đá y một cái.

– Đi không, con khỉ!

Graber bảo y:

– Thôi kệ họ. Anh không nhớ đại úy bảo gì à?

Steinbrenner thầm thì:

– Mình có thể để bọn chúng chạy, tôi nói mấy thằng đàn ông ấy. Họ chạy độ mươi bước thì ta cho mỗi thằng một phát là yên. Còn đàn bà thì nhốt lại, đêm nay đến kiếm con nhỏ kia.

– Thôi để yên cho họ, anh về đi. Tôi được lệnh chỉ huy.

Steinbrenner đưa mắt thèm muốn nhìn bắp chân người phụ nữ trẻ. Người này mặc váy ngắn hai chân rám nắng và cứng cáp. Y nói:

– Dù sao thì họ cũng bị xử bắn. Mình có thể gỡ tạm con bé kia một đêm. Anh thì anh không cần, anh mới nghỉ phép về.

– Câm miệng đi, hãy nghĩ đến vợ chưa cưới của anh. Đại úy bảo anh chỉ cho xem vựa củi đâu, thế thôi, đừng lắm chuyện.

Họ đi vào lối dẫn đền căn nhà sơn trắng.

– Kia kìa!

Steinbrenner tức giận chỉ cho xem một cái vựa còn nguyên vẹn.

Tường bằng đá, cửa đóng thêm một tấm lưới sắt chắc chắn, đứng ngoài có thể cài lại được.

Y mở cửa dẫn mấy người vào. Hai tân binh tay cầm súng đứng cạnh. Mấy người tù binh bước vào cái vựa chật chội, người nọ đi sau người kia. Graber khóa cửa và thử xem có chắc không. Cửa rất chắc.

Steinbrenner nhạo báng:

– Vào cũi nhé! Coi thật y như đàn khỉ! Ăn chuối không, lũ khỉ kia?

Graber quay lại với mấy người tân binh:

– Các em đứng đây coi. Các em chịu trách nhiệm nếu xảy ra chuyện gì. Rồi sẽ có người đến thay phiên.

Y hỏi mấy người Nga:

– Có ai biết nói tiếng Đức không?

Không ai trả lời.

– Rồi sẽ kiếm cho mấy người ít rơm.

Steinbrenner lại châm biếm:

– Sao không kiếm gối nữa?

– Thôi đi! Còn các em nên cố để ý canh phòng.

***

Graber về nói lại với Rahe và nhận lấy trách nhiệm về nơi giam tù binh.

– Anh trông coi họ với vài người nữa. Trong vài ngày khi nào tình thế sáng sủa, chắc là có người đến lãnh lấy nhiệm vụ ấy cho chúng ta.

– Vâng, đại úy.

– Hai người có đủ không?

– Đủ. Vựa ấy chắc chắn. Tôi có thể đến đây ngủ để canh.

– Đồng ý. Thế càng hay. Tôi đang cần huấn luyện tân binh gấp. Tin tức…

Bỗng Rahe ngừng lại:

– Chắc anh cũng biết rõ như tôi tình hình thế nào rồi. Thôi anh về.

Graber đi kiếm đồ đạc của mình. Y chỉ biết ít người trong đội, Immermann nói :

– Bây giờ anh trở thành người canh tù.

– Tôi thích như thế còn hơn dạy tân binh. Ít ra mình còn ngủ được.

– Tôi có cảm tưởng rằng anh không có thì giờ ngủ đâu. Anh có nghe tin tức không?

– Có. Thối chịu không nổi!

– Quân Nga thấu nhập tứ phía. Chỉ toàn là nói hoẹt, đại tấn công với tiểu tấn công, ở đây là đồng bằng khó mà chống đỡ. Tôi có cảm tưởng rằng chúng mình lại rút lui.

– Anh có cho rằng họ tiến đến biên giới thì thôi?

– Còn anh, anh có nghĩ thế không?

– Không.

– Tôi cũng không. Ai đứng ra mà điều đình.

Hẳn là không phải Tổng tham mưu rồi. Họ không gánh lấy trách nhiệm. Năm 1918, họ đùn việc ấy cho một chính phủ lâm thời cấp tốc thành lập. Mấy anh chính khách tưởng bở đưa đầu ra hứng lấy, ký thỏa ước đình chiến được tám ngày, họ bị lên án phản quốc. Ngày nay thì bại trận cũng toàn diện. Không có đảng chính trị nào để đưa ra điều đình. Graber chua chát:

– Trừ đảng của anh. Anh vẫn thường nói thế. Dù sao thì cũng chỉ là chính phủ độc tài khác, chính sách vẫn y hệt. Thôi tôi ngủ đây. Tôi chỉ cần được để yên cho mình muốn nghĩ gì thì nghĩ, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Từ ngày tả phái cũng như hữu phái lọt vào tay những người muốn làm tiên tri, thì tội ác tầy trời.

Nói rồi y lại hối hận đã tranh luận vô bổ với Immermann: đối với anh này cũng như đối với Steinbrenner không thể nào có đối thoại được. Y vác bị lên vai và ra xe thực phẩm. Một bát cháo đậu, một miếng bánh mì và một khúc xúc xích. Như vậy khỏi cần trở về làng cho đến sáng hôm sau.

***

Buổi quá trưa yên lặng một cách kỳ dị. Tân binh đã đi khỏi và đã mang rơm đến. Mặt trận vẫn không yên tiếng súng, nhưng suốt ngày không có báo động. Trước vựa củi, cỏ đã mọc tốt um. Tuy có nơi bị dày xéo và hố đạn, nhưng cỏ xanh tốt, từng khóm hoa nở dọc theo lối đi.

Graber khám phá ra phía kia lối đi còn có một tòa nhà có chỗ chưa bị phá, ở đấy có thể canh chừng vựa củi nhốt tù binh. Bước vào xem thì thấy còn vài cuốn sách. Những sách cổ đóng bìa da, gáy thếp vàng, nhưng nắng mưa đã làm hư, chỉ còn một quyển có thể đọc được, Graber không đọc được trang sách viết bằng tiếng Pháp, nhưng có nhiều hình chụp những phong cảnh nên thơ gợi nhớ đến cái buồn êm ái, y như bị thôi miên. Khi gập sách lại y còn thấy lòng nao nao nhớ nhung vô vọng.

Y bước vào lối đi dưới bóng cây và bên bờ hồ, đứng gần tượng một con thú còn đứng trơ trơ với điệu múa yên lặng giữa bụi gai. Con thú đã chỉ gãy mất hai sừng trong hai trận chiến tranh và cuộc cách mạng. Con thú đá cùng một thời với hình ảnh cuốn sách tiếng Pháp, nó đã chứng kiến một thời đại huy hoàng mà Graber chưa từng biết. Y ra đời thời thế chiến thứ nhất, lớn lên trong sự nghèo khổ và đảo lộn kế theo đó; y mới bắt đầu sống thực sự từ lúc có đệ nhị thế chiến. Y đi vòng hồ nước một lượt thì đến gần vựa củi bèn lấy tay thử lại tấm rào sắt. Chắc là trước kia không phải cửa sau vựa, sau này mới xây vào. Có lẽ chủ nhà này đã chết sau hàng rào sắt này.

Người đàn bà nằm ngủ. Người trẻ tuổi ở một góc nhà. Hai người đàn ông đứng nhìn trời. Thấy Graber họ cùng quay lại nhìn. Graber quay đi và ra ngả lưng trên bãi cỏ.

Một đám mây lững thững bay qua bầu trời. Chim ríu rít trong bụi. Một con bướm xanh la cà từ bông hoa này sang bông hoa khác trên hố bom. Một lát sau, con bướm nữa bay lại, hai con đùa giỡn, đuổi theo nhau. Ngoài mặt trận tiếng súng thêm mạnh. Hai con bướm giao nhau cùng bay cao lên trên không ấm áp và sáng lạn. Graber ngủ thiếp đi.

***

Đến tối, một tân binh mang canh lại cho tù binh, vẫn canh buổi trưa còn lại, nhà bếp đổ thêm ít nước. Anh ta đứng đợi ăn xong rồi cầm ga-men đi. Anh ta cũng mang lại cho Graber khẩu phần thuốc. Graber được nhiều hơn thường lệ. Điềm xấu. Khi nào thức ăn ngon và thuốc lá nhiều thì tai nạn lớn chẳng xa gì.

– Trưa nay tụi em phải tập thêm hai giờ. Bò sát đầt – ném lựu đạn – đánh nhau với lưỡi lê.

– Đoàn trưởng biết thế là cần chứ không phải ghét bỏ gì các em mà bắt phải tập tành khó nhọc.

Người tân binh gật đầu. Anh ta còn đứng ngắm nghía mấy người Nga như những con vật kỳ dị. Graber bảo y:

– Họ cũng là người.

– Cũng là người nhưng là người Nga.

– Thì hẳn là người Nga, thế thì sao? Cầm lấy súng, chúng ta đưa từng người đàn bà ra một.

Y quay lại nói qua rào sắt:

– Tất cả sang bên trái. Bà già ra trước, sau đến lượt những người khác.

Người Nga già nói mấy tiếng Nga. Tù binh nghe theo. Anh tân binh đứng cách vài bước, tay cầm súng. Người đàn bà già lại gần. Graber mở cửa cho ra rồi đóng cửa lại. Bà ta khóc chảy nước mắt, vì tưởng rằng bị đem ra bắn. Graber bảo người Nga già:

– Bảo cho bà ta biết rằng không sợ gì cả. Để đi tiểu tiện.

Ông già nói vài tiếng. Bà ta thôi khóc ngay, hai người dẫn bà ta ra một góc tường, đợi trở lại rồi dẫn về. Đến lượt người trẻ. Chị này đi thon thót và dẻo dang. Đến lượt đàn ông thì dễ dàng hơn. Chỉ cần dẫn ra sau nhà và đứng canh. Anh tân binh cẩn thận cầm súng bằng hai tay môi dưới thưỡi ra, mắt đăm đăm nhìn. Rồi anh ta đưa người đàn ông kia vào và đóng cửa.

Trở lại gần Graber, anh tân binh nói:

– Làm công việc này thú vị thật.

– Mỗi người có một cái thích. Thôi em mang đồ về đi.

Nói rồi y đặt súng xuống, đợi người tân binh đi khỏi y lấy thuốc ra đưa cho người Nga già bốn điếu, đánh diêm đưa qua rào sắt cho đốt thuốc, cả bốn người cùng hút. Bốn chấm đỏ trong chỗ mờ tối, thuốc hút vào làm sáng chút mặt người Graber nhìn người đàn bà trẻ, bất thần y nhớ đến vợ lạ lùng.

Người Nga già theo dõi mắt Graber bèn lẩm bẩm:

– Anh… tốt.

Hắn kề mặt gần gióng sắt:

– Đức thua trận. Anh người tốt.

Hắn hạ thấp giọng.

– Im mồm!

– Cho chúng tôi ra… Theo chúng tôi!

Khuôn mặt nhăn nheo quay ra nhìn người đàn bà trẻ và quay lại nhìn Graber.

– Nga đây… Theo Nga… Chúng tôi bảo chỗ trốn… sống với chúng tôi.

Hắn nhắc đi nhắc lại mãi.

Graber lắc đầu và nghĩ thầm: “Như thế không phải là một cách giải quyết. Không được. Nhưng thế nào là một cách giải quyết”.

Người Nga già nhắc lại:

– Sống… đừng chết… đừng làm tù binh… Anh tốt, đừng chết… tốt với chúng tôi… Chúng tôi không có tội…

Graber quay lưng lại. Giản dị quá! Trong ánh sáng mờ ngày tàn này, thật là giản dị! Có lẽ họ vô tội thật. Người họ không có khí giới và họ không có quân du kích. Hai người già thì rõ là vô tội rồi. “Nếu mình thả họ ra mình cũng làm được điều lành, mình đã cứu người vô tội. Nhưng không thể đi theo họ được. Mình không thể đi theo cái gì mình muốn bỏ trốn”. Bây giờ bụi cây đã in hình đen lên trên nền trời. Y trở lại vựa củi. Một điếu thuốc còn cháy ở trong rào sắt. Mặt người Nga già vẫn áp vào gióng sắt và lải nhải:

– Sống, sống với chúng tôi…

Graber lấy mấy điếu thuốc cuối cùng ra đặt vào bàn tay chai cứng người Nga già và cho thêm mấy que diêm.

– Sống… Anh còn trẻ… anh tốt… chúng tôi vô tội… sống, sống… mọi người sống…

Tiếng lải nhải như bài kinh nghe êm ái thâm trầm. Lão ta nói tiếng sống như người lái buôn nói bơ, như cô gái điếm nói tình, nói với giọng khẩn khoản đường mật và quyến rũ bỉ ổi. Bỗng dưng Graber giận sôi ruột.

– Câm ngay miệng. Nếu không, đi tố cáo lão bây giờ!

Y quay lại và rảo cẳng đi. Tiếng súng ở xa mỗi lúc thêm lớn. Sao bắt đầu lấp lánh. Bất thần sự cô đơn đè nặng xuống người, y lại tiếc cảnh màn trời chiếu đất mấy ngày trước. Hình như mình bị bạn bè bỏ mình khi phải quyết định một việc quan trọng.

Y nằm dài ra ổ rơm trong căn nhà nhỏ và cố ngủ một giấc. “Có lẽ họ sẽ tìm cách thoát thân được trước khi mình biết”. Y nghĩ vớ vẩn vậy nhưng biết rằng không có ai giúp thì họ không thể ra được.

Mặt trận có vẻ mỗi giờ mỗi tiến lại gần. Phi cơ bay khuất trên cao rầm rộ đi qua làng. Đã nghe rõ tiếng liên thanh khạc đạn. Rồi đến lượt tiếng ầm ầm bom nổ. Tiếng động dâng lên như nước thủy triều. Y nghĩ hoài: “Nếu có thể trốn được?”. Trở lại vựa củi thì thấy vẫn nguyên như cũ. Mấy người Nga có lẽ ngủ rồi. Nhưng hình như vẫn còn thấy khuôn mặt lão già. Y vội vàng chạy xa.

Đến nửa đêm thì không còn nghi ngờ gì nữa: trận đánh đang ác liệt. Trọng pháo bắn xa lắm, chẳng bao lâu nữa làng sẽ ở trong lằn đạn. Y biết rằng vị trí của mình rất xung yếu. Dù sao y cũng theo dõi sự tiến triển của trận đánh. Chẳng còn bao lâu nữa chiến xa sẽ kéo đến. Bom lửa bây giờ rung chuyển mặt đất, tiếng nổ dội đi dội lại khắp chân trời làm rung động con người thấu xương tủy. Y biết rằng chiến trường dâng lên như thủy triều, chẳng bao lâu sẽ đến chỗ y nằm, tuy nhiên y cũng có cảm tưởng rằng căn nhà trắng mỏng mảnh, bốn người Nga và chính y nữa là trung tâm của chiến trường, vận mệnh tùy thuộc có thế, và chỉ có thế.

Y trở đi trở lại, đến gần vựa củi, sờ mó chiếc chìa khóa trong túi, trở mình qua lại trong ổ rơm, mãi đến sáng mới chợp mắt được chốc lát.

***

Y giật mình tỉnh dậy. Trời u ám, chiến trường vẫn sôi động. Trọng pháo đã rót xuống làng và hậu phương. Y liếc mắt trong vựa củi. Cửa sắt vẫn nguyên vẹn, vẫn nom rõ mấy người Nga. Chợt thấy Steinbrenner hấp tấp chạy lại:

– Rút lui. Quân Nga đã chọc thủng phòng tuyến. Tụ tập tại làng. Mau lên! Tình thế hỗn loạn rồi. Thu xếp đồ mau đi.

Hắn dừng lại gần Graber:

– Còn mấy thằng Nga này phải thanh toán ngay đi.

Graber thấy tim mình đập mạnh.

– Lệnh đâu?

– Lệnh! Trời! Còn đợi lệnh gì nữa! Anh mà biết trong làng bây giờ thế nào thì anh không hỏi đến kỹ lưỡng như thế! Anh có nghe trọng pháo xung kích không?

– Có.

– Thế thì anh biết tình thế rồi. Mau lên! Không lẽ mình còn dắt chúng nó đi theo? Đứng ngoài mà bắn cũng được.

Cặp mắt xanh Steinbrenner sáng quắc. Hàm răng dưới đưa ra nom thật tàn ác. Y đưa súng lên vai.

– Không được. Tôi chịu trách nhiệm. Nếu không có lệnh thì anh cứ việc quay về.

– Được rồi, nếu anh muốn thanh toán lấy thì tôi để phần anh.

– Không.

– Dù sao thì một trong hai ta phải thanh toán. Nếu anh gớm tay thì cứ đi đi, để chúng nó cho tôi.

– Không. Anh không được bắn họ.

– Không được bắn?

Y ngước mắt nhìn Graber:

– Tôi không được bắn chúng nó? Anh có ý thức được lời anh nói không?

– Tôi ý thức được rõ, tôi biết rõ tôi nói gì.

– Tôi, tôi cũng biết anh muốn gì.

Mặt Steinbrenner biến sắc, y lấy súng lục ra. Graber đưa súng lên vai bóp cò. Steinbrenner lảo đảo té xuống với tiếng kêu như con trẻ, khẩu súng lục rời khỏi tay.

Graber nhìn xác Steinbrenner mà thất sắc. Một quả trái pháo rít bay qua làng. Y đến vựa củi lấy chìa khóa mở cửa.

– Đi đi!

Mấy người Nga đứng yên nhìn, không dám động đậy. Graber bỏ khẩu súng xuống đất cho họ yên lòng. Rồi giơ hai bàn tay không ra bảo họ:

– Đi đi!

Người Nga trẻ đặt một chân ra ngoài. Graber đến gần xác Steinbrenner và lẩm bẩm:

– Giết người!

Y cũng khồng hiểu rằng y nói gì. Y nhìn Steinbrenner bằng hai mắt trống rỗng.

Thình lình bao nhiêu ý nghĩ nổi lên. Một hòn đá đã đụng chỗ yếu làm ra trận lở núi.

Y đã có một hành động tối ư hệ trọng không thể gỡ lại được, bây giờ y cảm thấy nhẹ bổng, tự do. Y biết rằng mình phải làm cái gì, nhưng hình như y cũng biết rằng chỉ làm thêm một cử chỉ nhỏ y cũng đủ bay bổng lên không. Ý nghĩ quay lộn trong đầu. Y đi lại vài bước. Phải làm cái gì, cái gì có một tầm quan trọng vô cùng, nhưng y thấy mình chưa đủ sức lực. Y cảm thấy mình yếu quá, mới lạ quá và sáng suốt một cách đau đớn.

Y đưa mắt tìm mấy người Nga. Họ đang khom lưng chạy, đàn bà đi trước. Một người quay lại. Tay hắn có khẩu súng, hắn dừng lại chĩa súng vào Graber. Graber nhìn thấy nòng súng đen thui. Y muốn kêu lên thật lớn, y còn nhiều điều muốn nói…

Y không biết là mình trúng đạn. Bất thần y thấy trước mắt mình hiện ra cỏ xanh, một đóa hoa yêu kiều, cánh hoa thanh tú, nhị ửng hồng, hình ảnh lớn dần, như y đã từng trông thấy một lần không biết từ bao giờ. Cánh hoa nghiêng nghiêng tỏa lớn khắp chân trời, nở ra trong yên lặng, cánh hoa tỏa ra khắp bầu trời cái vũ trụ bình yên tí hon của nó, nó trở thành cả vũ trụ – hai mắt Graber từ từ khép lại.

Những người lính bị bỏ lại phía sau

hung-viet.org

Donry Nguyễn

24 Tháng Tư 2026

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.

Bạn tôi là HSQ Tiếp liệu ĐĐ1/TĐ95/LĐ22/BĐQ. hậu cứ đóng tại trại B12, đối diện trại B15 của lực lượng Lôi Hổ, nằm ở phía nam cầu Dakbla thị xã Kon-Tum.

Sau đây là những gì anh ấy kể lại:

Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.

Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương.

Lý do: ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.

Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:

-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa. Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh.

Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.

Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.

Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi.

Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.

Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào.

Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.

Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…

Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.

Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh,

Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin.

Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm

Mới trưa này còn được lệnh hành quân.

Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng,

Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông.

Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng,

Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.

Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc,

Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi.

Thương đồng đội ta cũng đành bất lực,

Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.

Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm,

Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao.

Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng,

Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.

Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị,

Cái ngoắc tay cho ta sống trở về.

Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ,

Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.

Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc,

Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân.

Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác,

Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.

Nay chạy trốn để mong cầu sự sống,

Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm.

Giặc pháo theo có người vừa ngã xuống,

Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.

Về duyên hải chờ lâu tin không thấy,

Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam.

Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại:

Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.

Giây phút cuối không còn quân tiếp viện,

Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi.

Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến,

Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.

Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt,

Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh.

Người thương tích chờ quân thù bắn giết,

Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.

Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy,

Mà vết thương còn nhức nhối trong tim.

Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ,

Những anh em ở lại phút sau cùng.

Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ?

Ai chọn đường hoang phế để lui quân?

Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó,

Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…

Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn,

Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu,

Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống,

Đem máu xương nuôi lá cỏ xanh màu.

Donry Nguyễn

California April 15,2026.

Những mùa gió trên đất thấp

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

“Trên vùng đất thấp Flevoland – nơi con người đã kiên gan kéo đất lên từ đáy biển Hà Lan – những mùa gió không ngừng thổi qua cánh đồng phẳng lì, qua những cánh quạt gió khổng lồ quay đều trong sương lạnh. Giữa không gian tĩnh lặng và trống trải ấy, một người tha hương đứng lặng, nghe tiếng gió hòa lẫn với tiếng lòng mình.  Những buổi sáng Dronten mờ sương, những con đê ngăn biển IJsselmeer buồn buồn, những buổi chiều nắng đỏ nhạt trải dài… tất cả gợi lên nỗi nhớ da diết về quê nhà – nơi nắng vàng rót xuống mái lá ven sông, nơi tiếng ghe đánh cá ra cửa vàm vẫn vang vọng trong ký ức. Tha hương không chỉ là khoảng cách địa lý, mà là khoảng trống trong tâm hồn, nơi quê hương luôn hiện diện bằng sự vắng mặt đầy nghẹt thở. Đây là những trang tùy bút viết từ miền đất thấp lạnh lẽo, về nỗi cô đơn, về ký ức, và về chút ấm áp còn sót lại giữa những mùa gió lạnh. NT”  

Có những ngày tôi cảm giác như mình đang sống trong một thế giới được tạo ra từ những khoảng trống. Khoảng trống giữa những cánh đồng phẳng lì. Khoảng trống giữa những con đường dài không một bóng người. Và khoảng trống giữa tiếng gió và tiếng lòng mình. Vùng Flevoland, nơi đất được người Hà Lan bỏ công sức kéo lên từ đáy biển, nó mang một vẻ đẹp vừa kiêu hãnh, vừa mong manh, nhưng rất bền bỉ. Tôi thường nghĩ: có lẽ chính sự mong manh ấy khiến người ta dễ nhớ về những gì đã được vay mượn từ thiên nhiên, những thứ chưa từng thực sự thuộc về con người. Vì vậy mà người chiếm hữu gìn giữ, bằng tất cả lòng biết ơn.  Buổi sáng ở Dronten, thi thoảng mùa đông bắt đầu bằng một lớp sương mỏng, trông như bàn tay vô hình nào đó trải tấm khăn voan trắng lên mặt đất. Tôi bước ra khỏi nhà, đi qua những hàng cây trơ trụi, nghe tiếng gió và nhìn những cánh quạt gió khổng lồ nhẹ xoay. Chúng quay đều, không vội vã, không ngừng nghỉ, như thể thời gian ở đây không trôi đi mà chỉ xoay vòng. Tôi nhìn chúng và tự hỏi: liệu đời người có khác gì? Chúng ta đi, rồi dừng, rồi lại đi, nhưng cuối cùng vẫn quay về những câu hỏi cũ kỹ mà không bao giờ có câu trả lời chắc chắn.  Có những lúc, giữa cái lạnh cắt da của mùa đông Hà Lan, tôi bỗng nhớ đến hơi ấm của quê nhà. Nhớ những buổi chiều nắng vàng chiếu xuống mái nhà lá ven sông, nhớ tiếng rao quen thuộc của người bán hàng rong, nhớ cả mùi khói bếp cay mắt. Và nhớ tiếng ghe ra bãi đánh cá vô, ra cửa vàm. Còn ở đây, mọi thứ đều sạch sẽ, trật tự và im lặng đến mức khiến tôi sợ. Sợ rằng nếu mình lỡ cất lên một hơi thở dài, nó cũng sẽ vang lên quá lớn giữa không gian tĩnh lặng này. 
Tôi thường lái xe chạy dọc theo con đê xuyên qua biển hồ bên trong là Markermeer, bên ngoài là  IJsselmeer. Con đê không dài, cũng không thẳng; mùa này lạnh và hơi buồn. Tôi dừng lại khoảng giữa con đê, đứng giữa không gian trống trải ấy, và chợt thấy mình như một kẻ không thuộc về đâu. Nước biển vỗ nhẹ từng nhịp lên bãi cát, tạo thành những âm thanh đều đặn như nhịp tim của một sinh thể khổng lồ. Tôi nhìn ra xa, nơi đường chân trời mờ đi trong sương, và nghĩ về quê nhà – nơi ấy đường chân trời cũng là biển, nhưng hiện lên hòn đảo thẫm xanh. Mỗi nơi có một vẻ đẹp riêng. Nhưng vẻ đẹp nào cũng có cái giá của nó. Và cái giá của vùng nước này là làm cho người lữ thứ, dù quen hay lạ, cũng phải chạnh lòng nhớ nhung.  Tuy mùa đông rất lạnh, nhưng vẫn có những ngày nắng đẹp. Có những buổi chiều, khi mặt trời lặn sau những cánh đồng của vùng đất thấp, ánh sáng đỏ nhạt trải dài như một vệt ký ức.
Tôi đứng yên, nhìn bóng mình kéo dài trên mặt đất, và chợt nhận ra: tha hương không chỉ là đi xa, mà là mang theo một nơi chốn không bao giờ trở lại nguyên vẹn. Quê hương trong trí nhớ luôn đẹp hơn, ấm hơn và gần hơn thực tại. Nhưng chính vì vậy mà nó cũng đau đớn hơn.  Giữa những ngày dài lê thê ấy, hình bóng quê hương lại hiện lên như một vệt sáng mong manh. Không rõ ràng, không cụ thể, nhưng đủ để khiến tôi khựng lại. Quê hương như một câu hỏi mà càng cố quên, càng nhớ nhiều. Có những lúc, tôi tự hỏi: nếu quê hương tốt đẹp hơn hay tồi tệ hơn, thì sự hiện diện của tôi ở đây liệu có làm cho Hà Lan bớt lạnh không? Hay chính vì quê hương không ở đây mà tôi mới cảm nhận được trọn vẹn cái lạnh của miền đất thấp này? Rắc rối thật. Từ lúc rời xa quê hương, tôi mới hiểu rằng thương quê hương không phải là giữ bên mình, mà là mang theo trong từng suy nghĩ, từng bước chân, từng hơi thở. Quê hương không ở đây, nhưng sự vắng mặt của nó lại đầy đến mức khiến tôi nghẹt thở, nhất là mỗi khi nghe tin dữ từ quê nhà. Có lẽ vì vậy mà mỗi lần đi qua những con kênh tĩnh lặng trong vùng, tôi lại thấy bóng quê hương phản chiếu trên mặt nước. Không phải thật, mà là hình bóng của một điều gì đó tôi đã bỏ ở phía trời xa. Giờ tôi như đôi cánh đã mỏi.
Không còn bay được như trước, không còn mơ những giấc mơ lớn lao. Tôi chỉ mong một điều rất nhỏ: một nơi để trở về, một hơi ấm để xua đi cái lạnh của những mùa đông dài bất tận. Nhưng đời sống không phải lúc nào cũng cho ta điều ta muốn. Nó chỉ cho ta những câu hỏi, rồi bắt ta sống chung với chúng. Có những đêm, gió Bắc thổi qua cửa kiếng, lạnh đến mức tôi tưởng như nghe được tiếng quê hương nứt vỡ trong lòng mình. Tôi nằm đó, nhìn trần nhà trắng toát, và nghĩ về những điều đã qua. Nghĩ về quê nhà, về những ngày tôi còn trẻ và tin rằng mình có thể đi bất cứ đâu mà không đánh mất điều gì. Giờ thì tôi biết: mỗi bước đi đều có cái giá của nó. Nhất là cái giá của sự tự do, đôi khi, là một nỗi cô đơn không thể gọi tên. Nhưng dù vậy, tôi vẫn đi. Vẫn sống. Vẫn cố gắng tìm một ý nghĩa nào đó trong những ngày dài ở miền đất thấp này. Có lẽ ý nghĩa ấy không nằm ở nơi tôi đến, mà nằm ở cách tôi nhìn thế giới. Nằm ở việc tôi có thể đứng giữa một cánh đồng vùng đất thấp lạnh lẽo mà vẫn tìm thấy chút ấm áp trong ký ức. Nằm ở chỗ tôi có thể nhìn cối gió quay và nhận ra hình ảnh của chính mình – mệt mỏi, nhưng vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, có lẽ điều giữ tôi lại không phải là vùng đất này, mà là ký ức về một nơi đã xa không thể về, nhưng đủ ấm để tôi còn muốn lưu lại nơi đây giữa những mùa gió không ngừng thổi qua đời mình.

Dronten, 28–12–2025
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

Tôi trở lại Phnom Penh, tìm đến cái nhà trước đây trạm trú, hỏi về người dẫn mối. Người ta không biết kẻ kia ở đâu. Hóa ra đây là nhà cho thuê giường ngủ. Lòng tôi bời bời trăm mối lo toan, nát óc nghĩ không ra lẽ. Về không được, ở không xong.

Vợ nói: “Mình có thể buôn bán.”

Tôi hỏi: “Vốn đâu?”

“Em còn một ít tiền mặt và năm phân vàng. Anh còn hai chỉ.”

“Anh làm gì có?”

Vợ chỉ vào bụng tôi: “Nó còn trong ấy. Không chạy đàng nào.”

“Tính mổ bụng anh hả?”

“Gì mà trầm trọng thế? Trước sau gì, nó cũng tự động ra thôi.”

“Nếu nó không ra?”

“Thế thì nguy cho anh.”

“Thôi, chuyện ấy tính sau. Bây giờ, lo tìm chỗ ngủ đêm nay.” Tôi nói.

Vợ đề nghị: “Thuê giường ở đây.”

“Thuê giường một đêm, họ cứa cũng bộn bạc. Mình phải tiết kiệm.”

Tôi dẫn vợ con lên chợ Ô Hòa Xây, khu chợ chính của thủ đô Phnom Penh, tìm người Việt làm quen. Trước nhà lồng chợ là dãy phố buôn bán, tập nập kẻ lại người qua. Đặc biệt có một gian nhà không bày hàng. Ngoài hành lang có những người đàn bà Việt ngồi lê trên những manh chiếu. Bên trong kê mấy cái giường sắt. Tôi rà rê tới làm quen. Vợ con tôi đứng ủ rũ sau một chiếc xe bán nước mía.

Thấy tôi, một chị hỏi: “Đấm bóp hả?”

Tôi nói: “Không. Chỉ tìm người quen.” Và bịa ra một cái tên, hỏi chị ấy có biết không.

Chị bảo: “Không biết. Sẵn dịp lại đây thì đấm bóp đi anh. Trông anh có vẻ bơ phờ lắm. Đấm bóp giác hơi cho giãn gân cốt, máu huyết lưu thông là khỏe ngay.”

Tôi lắc đầu, cười gượng.

Thêm vài chị rỗi việc bu đến. Tôi áp dụng bổn cũ soạn lại khi còn ở Kongpong Xom với cụ già mài dao, rằng tìm người bà con không gặp, nên bị lỡ đường. Xin họ giúp cho một chỗ ngủ qua đêm.

Một chị nói: “Anh về với bọn tôi đêm nay.”

Tôi chỉ về phía xe nước mía: “Còn có vợ con tôi nữa.”

“Gì mà đông thế? Kêu lại đây. Đứng xớ rớ, coi chừng bị giật đồ.”

Vợ con tôi đến. Những người đàn bà nhìn, dò xét.

“Đi tìm việc hả?”

“Không. Tìm người bà con.”

“Đừng có xạo, cha nội. Tôi biết là đi tìm việc.”

Chị khác, ngó vợ con tôi: “Chị này trông còn ngọt nước lắm. Còn con bé này có thể bưng cà phê bán dạo cho các bạn hàng trong chợ.”

Vợ tôi hỏi: “Chị nghĩ em có thể tìm được việc ở đây không?”

“Ở đây à? Định cạnh tranh nghề nghiệp với bọn tôi hả?”

“Không. Em đâu biết đấm bóp. Việc khác kìa.”

“Đàn bà con gái lên đây, đừng hòng tìm được việc gì khác, ngoài cái việc làm đĩ. Nhưng ông anh chịu cho vợ mình làm không?”

Vợ tôi xám mặt: “Xin chị đừng nói chơi.”

Chị trề môi: “Mệnh phụ, tiểu thư lúc khốn cùng túng quẫn cũng thành gái ăn sương. Ở đó mà khư khư giữ lấy cái nghìn vàng.”

Vợ tôi cúi đầu nhẫn nhục. Lòng tôi tan nát. Cái tình đồng hương trên xứ lạ, sao nghe như muối xát gừng cay.

Không muốn vợ ngồi đây để nghe những lời xúc phạm, tôi bảo: “Em dẫn con đi mua đồ ăn cho nó.”

Vợ con tôi kéo nhau qua chợ mua cơm. Mỗi phần cơm, có con cá nướng bằng ngón tay, được gói trong chiếc lá sen. Cả hai ngồi bên lề đường, bốc từng nắm cơm uể oải cho vào miệng. Nắng chiều nghiêng đổ xuống hai mẹ con một màu tàn phai héo hắt. Con tôi không còn cái vẻ hồn nhiên tuổi nhỏ. Mặt nó vô hồn ngơ ngác. Còn khuôn mặt của vợ tôi, phảng phất một chút gì hờn tủi.

Tôi xót xa, muốn bỏ đi. Nhưng giữa nơi ồn ào phồn tạp quê người, tôi biết đi đâu?

Trong khi tôi ngồi đấy, có một người đàn ông Miên bước vào. Mặt sạm đen, nhễ nhại mồ hôi như thoa một lớp dầu bóng. Lưng áo cũng ướt đầm. Nhìn cách ăn mặc, tôi đoán chừng ông ta là phu khuân vác trong chợ. Các chị tranh nhau mời chào. Không biết họ sang đây hồi nào mà rành tiếng Miên thế? Ông khách đứng quan sát từng chị, so sánh chọn lựa một nhan sắc. Các chị ra vẻ tươi cười. Cũng vẫn những cái miệng này, mới đây đã phát ra những âm thanh cú diều với vợ tôi, bây giờ lại thốt những lời dịu dàng dễ thương chi lạ. Ông khách chỉ vào một chị. Chị vui vẻ liếng thoắng dẫn khách vào phía trong. Có lẽ đã từng là khách hàng đấm bóp nhiều lần, ông khách tự nhiên trút bỏ quần áo bên ngoài, chỉ còn độc cái quần xà lỏn màu đỏ chói, nằm sấp xuống chiếc chiếu trải sẵn trên nền xi măng.

Tôi hỏi một chị ngồi kế bên: “Sao không để người ta nằm trên giường?”

“Giường làm kiểng thôi. Nó lung lay như chiếc răng sắp rụng.” Chị nói.

Tôi lần vào phía trong, xem cách làm việc ra sao. Chị lau mồ hôi cho khách bằng chiếc khăn nhàu nát. Chiếc khăn đã từng lau cho hàng trăm người. Lau xong, chị xòe hai bàn tay chém lia lịa đều khắp trên lưng người khách. Những ngón tay va vào nhau, kêu lách chách.

Sau màn dần lưng, chị lên ngồi trên mông khách, đùi dang ra hai bên. Chị nhích tới nhích lui, bóp từ trên vai xuống tới thắt lưng. Khách có vẻ khoái, nằm nghiêng đầu qua một bên, mắt lim dim hưởng thụ. Dùng sức nhiều, trán chị lấm tấm mồ hôi, nhưng mặt tươi tắn yêu đời. Tiền. Chính mãnh lực đồng tiền đã biến đổi người đàn bà cáu gắt trở nên vui vẻ. Thỉnh thoảng chị ngừng tay, lau trán với chiếc khăn vẫn lau mồ hôi cho khách. Khoảng đôi phút, chị xoay qua màn khác. Chị dùng ngón trỏ và ngón cái, kẹp từng miếng thịt trên lưng khách kéo lên. Và bàn tay kia phạt ngang như nhát chém. Một hồi, lưng khách ửng đỏ trên làn da vốn đã sạm màu. Rồi chị xòe hai bàn tay chà xát thật mạnh dọc theo hai bên sống lưng. Sau đó, chị dùng mười đầu ngón tay kéo mảng thịt trên lưng khách. Mười ngón tay nhanh như những cái chân con rít, đùa mảng thịt thành gợn sóng chạy dài từ thắt lưng lên tận bả vai. Chị thụt về phía sau, chồm lên phía trước theo mỗi gợn thịt đùa từ dưới trở lên. Cái háng dạng ra, tới lui chà lết trên mông người đàn ông. Động tác làm tôi liên tưởng chuyện tục.

Bất ngờ chị hỏi: “Muốn học nghề để truyền cho vợ hả?”

Tôi lắc đầu cười gượng, và bỏ ra ngoài hành lang. Thà tôi gặm cỏ cạp đất mà ăn, chứ không để vợ làm cái nghề dị hợm này!

Chiều sắp tàn. Khách càng đông. Họ cần đấm bóp giác hơi để tìm chút thư giãn sau một ngày lao động chân tay vất vả. Phía trong không đủ chỗ, các chị trải chiếu ra tận ngoài hiên. Những ông khách cũng dễ tính, họ xoay trần nằm sấp trên hiên, kế bên lề đường có bao nhiêu người qua lại. Người đi đường cũng không tò mò dòm ngó. Họ đã quen mắt nên coi đấy là chuyện thường.

Các chị làm việc lăng xăng. Tôi kiên nhẫn chờ một chỗ tá túc qua đêm. Lại có dịp coi thêm màn giác hơi.

Giai đoạn này, chị đấm bóp không ngồi trên mông khách. Bộ đồ nghề là những cái lọ thủy tinh bầu tròn cỡ trái quít. Chị thắp ngọn đèn dầu nhỏ. Dùng cái que, một đầu có đính cục bông, nhúng vào lọ dầu, châm lửa. Chị cầm nghiêng cái lọ, thọc ngọn lửa vào quậy quậy, và rất nhanh, chị chụp xuống. Cái lọ hút dính vào lưng. Từ miệng lọ da thịt phù lên. Chị làm nhanh tay và thiện nghệ. Cứ thế, từng lọ, từng lọ được chụp xuống, trông như những chiếc bong bóng nổi đầy trên lưng khách. Chị để yên đấy, và khách cũng nằm im. Trong thời gian chờ đợi, chị ngồi hút thuốc. Chị giải thích, phải chờ cho máu bầm tụ lại, sau đó sẽ đánh tan đi. Làm thế, máu huyết lưu thông, sẽ hết nhức mỏi và tránh được bệnh thời khí cảm mạo thông thường. Tàn điếu thuốc, da thịt phù lên trong lọ cũng bầm tím. Chị cầm từng chiếc giựt ra, mỗi lần giựt kêu bốc một tiếng. Lưng khách bây giờ, nổi đầy những vết bầm hình tròn. Chị lau sơ, và thoa đều một lớp dầu mỏng cho trơn. Thoa dầu xong, chị chỉ dùng một cái ống giác, thọc ngọn lửa vào quậy, và chụp nhanh xuống lưng khách. Chị kéo cái ông giác chạy lên chạy xuống, đều khắp trên lưng. Đây cũng là giai đoạn chót của màn giác hơi. Xong, chị lau sạch lớp dầu lần cuối cùng, và vỗ nhẹ trên lưng khách vài cái, báo hiệu mọi việc đã hoàn tất. Khách đứng lên vươn vai, mặc lại quần áo. Trông khách khỏe ra, mặt mày tươi tỉnh.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

Ngày xưa còn bé, tôi như mỗi lần cô tôi về nhà, than thở chuyện gia nương, buồn phiền chuyện chồng con, thì bà nội tôi lúc nảo cũng khuyến giải cô tôi nên học lấy chữ “nhẫn.” Bà thường giải thích trong nghi thức cưới hỏi, lễ vật lúc nào cũng có chiếc nhẫn làm đầu, đó là vật tượng trương cho tình vợ chồng, sống với nhau thì phải nhẫn, nhịn nhau cho qua lúc, đế có hạnh phúc suốt đời. Có lẽ nhờ học được chữ nhẫn, nên gia đình cô dượng tôi sinh hết thảy được mười hai đứa con, hiện nay con đàn cháu đống, mặc dầu sau tháng tư năm 1975 ly tán khắp nơi, nhưng con số đếm cùng dể chừng lên đến hơn trăm. Trong cách xứ thế thì mẹ tội lúc nào cũng mở kinh nhật tụng, khuyên con luôn luôn nhịn nhục, “chín bỏ làm mười,” cho rằng “một sự nhịn thì chín sự lành hay”chữ nhẫn là chữ thếp vàng, ai mà nhẫn được thì cảng sống lâu!” nên đi học thì bị bạn bè hiếp đáp, ra đời ngây ngô, nhũn nhặn, vẫn thường chịu cảnh “trâu chậm uống nước đục.” Những ngày cuối tháng tư năm ấy, bị cấp chỉ huy ra lệnh ôm chặt đơn vị cho đến phút tan hàng rã ngũ, biết bị ép, nhưng vẫn “nhẫn” để cho “xếp” có thời gian cao bay xa chạy. Cha tôi thì ảnh hưởng Khổng học, mọi điều theo kinh điển “Khổng Tử viết” (Đức Khổng Tử nói …) là chân lý, là kết luận cuối cùng không cần bàn cãi. Trong Phật Giáo có nói đến dức “Nhẫn Nhục Ba La Mật.” Đối với nghịch cảnh như nắng mưa, nóng lạnh, đói khát, đau ốm, hoặc bị người đánh đập, hành hạ. làm bức não nơi thân, mình cũng cam chịu, không phàn nàn hay chống cự lại. Đây là chịu đựng về thể xác là “thân nhẫn.” Thân đã nhẫn chịu không chống lại người và miệng cũng không thốt ra những lời nguyền rùa độc ác, trước những lời nhục mạ, chua cay, mắng nhiếc tồi tệ hay đánh đập tàn nhẫn, gọi là “khẩu nhẫn.” Nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, không oán giận, không nổi lên ý phản đối, những tư tưởng hắc ám để trả thù gọi là “ý nhẫn.” Trong Luận Ngữ có ghi chuyện ông Từ Trương và chữ “Nhẫn” của Đức Khổng Khâu như sau:

Ông Từ Trương muốn đi xa, đến chào Đức Khổng Tử và xin Ngài một lời khuyên:

Khổng Từ nói: – Chữ Nhẫn đứng dầu trăm nết!

Từ Trương hòi lại: – Làm sao phải nhẫn?

Đức Khổng Tử trả lời: – Thiên Từ mà nhẫn thì nước không sinh hại. Chư hầu mà nhẫn thi nước sẽ mạnh lớn thêm. Quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến. Anh em mà nhẫn thì cừa nhà giảu sang, Vợ chồng mà nhẫn thì ở với nhau được trọn đời. Bạn be mà nhẫn thì thanh danh không mất. Hễ nhẫn thì không lo tai hoạ!

Từ Trương hòi lại: -Nếu không nhẫn thì sao?

Đức Khổng Tử đáp:- Thiên Từ không nhẫn thì nước sẽ trống không. Chư hầu mà không nhẫn mất mạng, Quan chức mà không nhẫn thì sẽ bị hình phạt. Anh em mà không nhẫn thì sẽ chia rẽ. Vợ chồng không nhẫn thì sẽ xa nhau. Tự mình không nhẫn dược tất không tránh dược lo lắng! Ông Từ Trương thần phục mà kêu rằng:- Phải lắm! Phải lắm!

Nhìn chung, trong triết lý sống, chỗ nào cũng đề cao chữ nhẫn.” Nho giáo cho rằng “Nhất định phải Nhẫn mới có thể thành công. Khoan dung thì đức sẽ lớn”. Khổng giảo nói:”Việc nhỏ không nhẫn, tất loạn việc lớn, bậc quân tử không có tranh giành.” Lão giáo nói: “Thiên Đạo không tranh mà Thiện thắng, không nói mà Thiện ứng”. Phật giáo giảng: “Trong sáu phép đo và hàng vạn phương pháp tu hành, Nhẫn’ là đệ nhất.” Không ai không nhắc nhỡ về đạo “Nhẫn” ở đời.

Chữ nhẫn dùng trong gia tộc, nhẫn với vợ chồng, anh em, bạn bè, ruột thịt thì dễ hiểu. Thiếu chữ nhẫn thì vợ chồng đưa đến ly dị, chia cắt, anh cm, bạn bè chẳng muốn nhìn mặt nhau. Nhưng “nhẫn” ứng dụng cho thiên tử (cấp lãnh dạo), chư hầu (tiểu quốc) và quan lại (cán bộ) như đám Cộng sàn Việt Nam ngày nay thì nhẫn mang theo nhục. Cách đây mấy năm, chế độ cộng sản Trung cộng quyết định phục hồi ý thức hệ Khổng Tử, đặt tượng Khổng Tử ngay ở quãng trường Thiên An Môn, phải chăng qua hơn nửa thế kỷ, từ ngày Trung Quốc thành Trung Cộng, đạo lý suy đồi, nhân tâm ly tán, Khổng giảo bị lên án như lời của Mao Trạch Đông: “Khổng Tử là con chó giữ nhà cho chế độ phong kiến!” mà nay chế độ cộng sản lại muốn phục hồi Khổng giáo, vì trên thế giời này chế độ cộng sản hiện nay quả là phong kiến hơn phong kiến. Xưa Vua là tối thượng,

nhưng trong chế độ cộng sản, lãnh tụ là tối ưu. Xưa bầy tôi có thể can gián Vua, nhưng ngày nay đi nói nguợc lại ý Đảng có thể dễ dàng bị quy tội gián diệp, chống phá, lật đổ chính quyền, bị thanh trừng, thủ tiêu như dưới chế độ Staline, Mạo Trạch Đông và cả Lê Duẫn, Lê Đức Thọ ở Việt Nam. Khổng giáo với cộng sản như đen với trắng, như ngày và đêm.

Khổng Tử luôn nhấn mạnh đến nhân, nghĩa, lễ trí, tín, có nghĩa là con người phaả có lòng thương người, thương vạn vật (Nhân), phải hành động theo đúng lẽ phải, hợp đạo lý (Nghĩa và Lễ); phải có suy nghĩ (Trí) và phải giữ niềm tin (Tín). Trong khi đó thì con người cộng sản phải là: “một kẻ vô đạo đức, một thằng ăn cắp, một người lợi dụng thời cơ, một dứa hối lộ,” như lời Netchaïev, đồ đệ của Bakounine, của Marx và Eingels (Theo Jacques Attali – K. Morx ou Pesprit du monde trang 404- nhà xuất bản Fayard-Paris). (Chu Chỉ Nam- Báo Tổ Quốc -2011)

Chúng ta thấy gì trong chế độ cộng sản ngày nay: đạo đức suy đổi, giáo dục, y tế xuống cấp. Những con số về nạn phá thai, đĩ điếm, tội phạm xã hội tăng vọt, tham nhũng, đàn áp, bất công lan rộng, Để cứu vãn tình trạng này, không có gi khác hơn là phục hồi Khổng Giáo, nhưng Khổng giáo không thể đi song hành với chù nghĩa Mác, Lê Nin. Nhưng phải nói trong hoàn cảnh Việt Nam ngày nay chưa Júc nào Vua Quan đảng cộng sản là thực hành lời dạy cua Đức Khổng ráo riết như bây giờ:

– Sợ Trung Cộng nên Thiên Tử (lãnh đạo) phải nhẫn, nhịn nhục ca tụng 16 chữ vàng.

– Coi mình như chư hầu của Tàu nên Việt Nam phải nhẫn nhục, thà mất nước, để khỏi mất chức, mất đàng, đã bán đất bán biển, lại chịu nhục để ngư dân bị bắn giết, lạy lục bọn Tàu. Trong khi Philippines thề chống Trung Quốc “đến người cuối cùng” thì Cộng Sản Việt Nam kết án hai sinh viêu 7 và 8 năm tù chỉ vì viết khẩu hiệu: “Tàu Khựa hãy cút đi”

– Quan chức Cộng Sản hết lòng theo lời Khổng Tử khuyên thực hành chữ “Nhẫn.” “vì quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến, không nhẫn thì phải bị trừng phạt!” nên đảng viên thành đàn cừu, bịt mắt che tai, cung cúc tận tụy hết lòng với đảng để có đặc quyền đặc lợi. Phục hồi Khổng Giáo là phải, để rồi cả đám vua quan trong nước, như Từ Trương, đắc ý, mà đồng tình gào lên:

“Phải lắm! Phải lắm! Nhẫn ngày nay, nhiều khi đã thành hèn nhát. Nhẫn này hẳn phải đi theo với … nhục! Mà lại là quốc nhục.