Cống Hồ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Dec 2023

Xưa giờ Việt Nam chúng ta là một nước nhỏ, nằm kế bên một anh chàng khổng lồ về đất đai và dân số. Lớn và láo! Rảnh, không có nội loạn, là dòm ngó lân bang, xua quân đi cướp bóc! Có thằng hàng xóm ‘cà chớn’ như vầy thiệt cũng khổ!

Chính sử Việt Nam cho thấy từ thời lập quốc tới giờ, triều đình phong kiến Việt Nam thường tìm cách né tránh cuộc chiến tranh với triều đình phong kiến Trung Quốc phương Bắc (vì quánh nhau với nó thì ‘hươu le lưỡi; chó cũng dạt móng!’).

Thôi thì hối lộ cho nó chút chút, nói văn hoa là ‘triều cống’ để cho nó câm cái mõm nó lại! (Còn né không được, bị chèn ép quá, không quánh không được thì buộc lòng cho nó vài chưởng để cho nó thấy 7, 8 ông Trời! Ông đã nhịn mà mầy cứ lấn tới!)

Quánh nó xong… lại ‘triều cống’! Mỗi lần lên ngôi là phải đem lễ vật đến ‘cống’ Thiên tử để được sắc phong là An nam Quốc vương. (Cấm xưng Đế nha! Hoàng Đế là chỉ riêng mình Trẫm được tự xưng thôi!)

***

Nghe chính sử Ba Tàu nổ ‘bùm bùm’ như vậy! Ai cũng rét nhưng thực ra Thiên tử Ba Tàu đôi khi cũng chết nhát, cũng phải hạ mình mà đi ‘cống’ rợ Hung Nô, sợ mới ‘cống’ chớ! Kẻo không, nó quạu nó quánh cho Má mầy nhìn cũng hổng ra luôn!

(Tháng chín Hung Nô giết biên tướng. Quân Hán tiêu tan dưới Liêu Hà/ Xương phơi muôn dặm không người nhặt. Trăm họ đầu thành cất đám ma…)

cong ho 02Chuyện rằng: Vương Chiêu Quân là một người con gái tài sắc vẹn toàn, cầm kỳ thi họa. Biết đàn tỳ bà, biết làm thơ phú. Bị tiến cung, làm cung nữ thời Hán Nguyên Đế (năm 49-33, trước Công Nguyên).

Rợ Hung Nô phương Bắc thời đó hùng mạnh, Vua là Thiền Vu Hô Tàn Tà đích thân đến kinh đô Tràng An ngoài mặt là thần phục nhà Hán, (nhưng trong bụng chưa biết ai ngán ai?!) muốn Hán Đế gả một công chúa nào đó cho, để mình được làm con rể.

Thằng con rể nầy coi bộ đầu gấu quá! Nó muốn vợ, Hán Đế chê nó man di mọi rợ, không gả là không xong!

Rét quá, Hán Đế đành bấm bụng, nuốt nhục làm theo (nhưng len lén chơi đểu) thay vì gả một công chúa, thì Thiên tử xuống chiếu chọn 5 cung nữ từ hậu cung, ai tình nguyện lấy Thiền Vu Hung Nô sẽ được coi như công chúa. Các cung nữ dù được lên chức… đều ngần ngại sang Hung Nô.

Chỉ có Vương Tường – tức Vương Chiêu Quân tình nguyện ra đi.

Đến ngày hôn lễ giữa Hô Hàn Tà và Vương Chiêu Quân, Nguyên Đế thấy nàng xinh đẹp quá trời… tiếc hùi hụi. Sao bấy lâu nay Trẫm lại không biết vậy cà?! Giờ hứa gả cho nó rồi làm sao mà nuốt lời cho đặng. Nuốt lời với nó; nó ‘nuốt’ luôn mình thì chết!

Té ra tên họa sĩ cung đình là Mao Diên Thọ buộc các cung nữ phải đút lót mới vẽ hình đẹp dâng lên Vua, để hy vọng còn có cơ may được đêm nào đó… vào chầu thiên tử, (nhịn hoài cũng thèm chớ phải không?!) Em nào không chịu hối lộ sẽ bị vẽ hình xấu.

Khi vẽ Chiêu Quân, Mao Diên Thọ thêm một nốt ruồi dưới khóe mắt (như bây giờ người ta chơi Photoshop vậy!) và tâu với Hán Nguyên Đế đó là “Sát phu trích lệ”, tướng sát chồng; nên Hán Nguyên Đế không dám rớ tới khi Chiêu Quân bị cống sang Hung Nô, Thiên tử nhìn mặt em hổng có mụt ruồi như tranh vẽ, Nguyên Đế biết tay họa sĩ này xạo, nổi trận lôi đình; sai lính đem Mao Diên Thọ ra mà mần thịt!

Hai năm sau, năm 39 trước Công Nguyên, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng không được chấp thuận, nàng lại trở thành phi tần của Thiền Vu tiếp theo là con trai lớn của Hô Hàn Tà. Nghĩa là nàng ‘quằm’ Vua cha rồi ‘quằm’ luôn ông Vua con cho nó gọn!

***

Trường hợp đem người đẹp đi Cống Hồ nhục nhã đó của Vua Tàu làm mấy Chú Ba đời nầy qua đời khác, các văn nhân, thi sĩ (vốn lúc nào thấy người con gái đẹp là thèm nhểu nước miếng) như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương An Thạch, Quách Mậu Thiến, Mã Trí Viễn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Tiễn Bá Tán đều tiếc hùi hụi, làm thơ, viết kinh kịch ‘xì nẹt’ vị hoàng đế kém cỏi và hèn nhát, viên thừa tướng thối nát bất tài, và tên thợ vẽ tư lợi Mao Diên Thọ.

Sau đó còn vẽ rắn thêm chân cho người đẹp Cống Hồ nầy bằng nhiều huyền thoại, truyền thuyết như: “Chiêu quân xuất tái” (“Đi đến biên cương”)! Khi qua một hoang mạc lớn, lòng chứa chan nỗi buồn thân phận phải xa quê, trên lưng ngựa buồn u uất, Chiêu Quân đàn bài “Xuất tái khúc”. Có một con ngỗng trời bay ngang, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu; liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất chết ngắc. Từ “lạc nhạn” trong câu “Trầm ngư lạc nhạn” do đó mà có. Nói dóc cỡ nầy cũng thuộc hàng cao thủ võ lâm đó chớ!

***

Rồi hơn hai ngàn năm sau ở Trung Quốc bây giờ, thân phận người con gái mà lỡ sanh ra Trời bắt đẹp cũng không khá gì hơn nếu không nói là còn đau đớn hơn thời phong kiến ngàn xưa. Mấy em cũng bị đem ra làm một món hàng hóa để mua bán đổi chác!

cong ho 03Lôi Chính Phú

Chuyện rằng: Lôi Chính Phú, bí thư quận ở thành phố Trùng Khánh được Tiêu Diệp ‘cống’ cho một em đẹp tên Triệu Hồng Hà! Lôi Chính Phú khoái tỉ tê!

Nhưng Tiêu Diệp là một thằng chơi đểu! Hối lộ tình dục xong; còn muốn nắm thóp Bí thư Lôi. Mỗi lần vào khách sạn với Bí thư Lôi, Triệu Hồng Hà đều bí mật gài máy quay phim trong túi xách có khoét lỗ để ghi lại toàn bộ cảnh ái ân.

Sau khi đã có được ‘bản đẹp’ các ảnh nóng, Tiêu bắt đầu điều đàn em giả làm bạn trai của Triệu Hồng Hà đến bắt quả tang. Lôi Chính Phú thất sắc không biết làm thế nào cho khỏi bể bạc tùm lum thì ‘người hùng’ Tiêu Diệp xuất hiện để giải cứu. Bằng thủ đoạn này, Tiêu Diệp đã câu và bắt được rất nhiều quan chức Trùng Khánh làm con tin, tù binh của phe ta. Lúc nào muốn xài nó thì xài!

Lôi Chính Phú chỉ là quan nhí, cấp quận, quyền lực ít, nên còn nhát, sợ nó xì ra tùm lum là chết! Nhưng cấp cao hơn thì ai dám làm gì tao?!

***

Chu Vĩnh Khang, trùm Công An Trung Quốc, Cựu Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc từng được thuộc cấp hối lộ 400 phụ nữ để “giải sầu”.

Cựu Bí thư Thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai và cựu Giám đốc Công an Trùng Khánh Vương Lập Quân bị đồn là ‘các tay ma cô dẫn gái’ cho Chu khi Chu lên làm Chủ nhiệm Ủy ban Chính pháp Trung ương vào năm 2007.

Ngoài ra theo báo chí phe Tập Cận Bình còn tiết lộ Chu Vĩnh Khang tham gia hoạt động “đổi vợ” với các đồng minh hoặc cấp dưới, cũng như có quan hệ tình ái với Cốc Khai Lai, vợ của Bạc Hy Lai, vốn là đàn em của mình.

Dưới tay mấy tên Trùm nầy, phụ nữ đẹp Trung Quốc chỉ là một món đồ chơi tình dục không hơn không kém. Việc hối lộ bằng gái, tình dục cho các quan chức Trung Quốc còn hiệu quả hơn nhiều so với đút lót bằng tiền mặt hay hiện vật có giá trị!

Chiêu Quân, xưa hai ngàn năm, bị Thiên Tử cống Hồ; giờ thân phận những người con gái đẹp sẽ còn bị quan em tiến cống lên quan anh dài dài cho coi!

Do đó: “Thuyền em rách nát có lành được không?” Câu trả lời là: “Còn lâu!”

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

Cô bán đèn hoa giấy!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Dec 2023

Nói nào ngay những người làm văn nghệ hồi xưa hay chịu ảnh hưởng của nhau. Thấy cái tứ hoặc cái tích nào hay hay là chôm về làm của mình rồi vẽ rắn thêm chân.

Như tuồng cải lương ‘Ðời Cô Lựu’ của soạn giả Tư Trang, tức Trần Hữu Trang, có Hội đồng Thăng thì sau đó cũng có người em song sinh, nhưng khác cha khác mẹ là: ‘Tiếng hò Sông Hậu’ của soạn giả Ðiêu Huyền với Hội đồng Dư. He he!

Hai ông soạn giả nầy đều theo ‘Vi Xi’. Mà trong chế độ độc tài toàn trị của CS, tuồng hát nào đã được đảng bật đèn xanh cho hát, soạn giả không bị đánh cho lên bờ xuống ruộng thì mình cứ ‘nhái’ theo, cứ ‘cóp’ theo đó mà làm cho nó an toàn trên xa lộ đấy thôi!

Bằng tự ên mình sáng tác mà không chịu ‘cọp dê’ ai thì soạn giả vừa viết vừa dòm chừng coi mấy quan văn nghệ như Trường Chinh, Tố Hữu xem xong có mặt mày trợn ngược, sùi bọt mép hay không?

Kinh nghiệm đau đớn của các văn nghệ sĩ từng viết cho Nhân văn Giai phẩm như: Phan Khôi, Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Dần, Phùng Quán…bị đảng lấy roi ra quất túi bụi còn sờ sờ ra đó.

Thử hỏi người sống nhờ vào ngòi bút của mình, ai mà không rét vì sợ bể nồi cơm? Sợ phải đi câu cá trộm ở Hồ Tây để kiếm sống như nhà thơ Phùng Quán. Sợ phải về Thanh Hóa đi thồ đá kiếm cơm như nhà thơ Hữu Loan của ‘Màu tím hoa Sim’…

Trái lại trong chế độ VNCH, dẫu mới tập tễnh trên con đường dân chủ thì cái tự do sáng tác nó ‘phẻ’ hơn nhiều. Ðể chứng mình cho cái nhận xét nầy của tui là cuộc đời của soạn giả Quy Sắc.

Soạn giả Quy Sắc. (1924-2010) tên thật là Nguyễn Phú Quý. Vì là tên Quý, nên khi sáng tác bài ca vọng cổ hay soạn tuồng cải lương, ông có nghệ danh là soạn giả Quy Sắc.

Cái nghệ danh đặt theo kiểu nầy hồi xưa trong giới nghệ sĩ cải lương có rất nhiều. Ngoài Quý là Quy Sắc, chúng ta còn có soạn giả Ðiêu Huyền (1915-1983) vì ông tên thật là Phạm Văn Ðiều.

Còn bên nghệ sĩ trình diễn thì chúng ta cũng có Hương Huyền (Nguyễn Văn Hường, thân phụ của nữ nghệ sĩ Thanh Hằng bên Úc) và Hương Sắc (Nguyễn Văn Hướng) là hai anh em ruột.

Cái nghệ danh nầy cũng bám sát theo thời thế lắm nhe! Dạo đầu thì nghệ danh thường lấy thứ trong gia đình cộng thêm cái tên do cha mẹ đặt hay tên của quê hương mình. Như: Cô Ba Bến Tre, Cô Ba Trà Vinh, Cô Năm Cần Thơ… Còn nếu già già hơn một chút là Bà Năm Sa Ðéc (vợ của ông Vương Hồng Sển)!

Rồi ông Út Trà Ôn với dàn đệ tử là: Út Nhị, Út Hậu rồi Út Hiền…

Bên nữ thì có Út Bạch Lan, người được soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà xưng tụng là ‘Sầu nữ’.

o O o

Có bằng Thành Chung, thầy Nguyễn Phú Quý tình cờ dạy kèm cho Juliette Nga, lúc đó 13 tuổi, con gái của bà Bầu Thơ, chủ đoàn hát Thanh Minh. Vài năm sau, Juliette Nga trở thành nữ nghệ sĩ lừng danh Thanh Nga. Còn thầy Nguyễn Phú Quý thành soạn giả Quy Sắc.

Quy Sắc hợp soạn cùng soạn giả Kiên Giang tuồng: ‘Người vợ không bao giờ cưới’ “Ngày mai đám cưới người ta. Tại sao Sơn nữ Phà Ca lại buồn?” (Hai câu thơ lục bát nầy là của nhà thơ kiêm soạn giả cải lương Kiên Giang).

Và cũng chính vở tuồng nầy đã đưa nghệ sĩ Thanh Nga, năm 1958, lúc mới vừa 16 tuổi, lên đài danh vọng do đoạt huy chương vàng giải Thanh Tâm của ông nhà báo Trần Tấn Quốc.

o O o

Soạn giả Quy Sắc cũng như nghệ sĩ Tấn Tài – hoàng đế dĩa nhựa, vốn là thầy giáo; sau bỏ nghề khỏ đầu trẻ để theo nghiệp cải lương.

Câu hỏi đặt ra là đi dạy học, tiền lương lãnh đều đều mỗi tháng, sống phẻ re như con bò kéo xe! Mà tại sao hai ông Quy Sắc và Tấn Tài bỏ cái rẹt cái nghề ‘khỏ đầu con nít’ để theo kiếp cầm ca bấp bênh hơn rất nhiều?

Theo tui đoán mò, nó có ba lý do: Một là họ có tâm hồn nghệ sĩ. Là nghệ sĩ trình diễn trên sân khấu, làm kép chánh mỗi khi xuống vọng cổ mấy em rụng rún hết ráo thì khoái ơi là khoái?

Hai là: Ðêm nay tuồng nầy làm áo vũ cơ hàn, quần áo rách tả tơi thì đêm mai lại được làm Vua hô: “Quân bây” là trong hậu trường nó dạ rùm hết ráo thì không khoái lắm ru?

Ba là: má tựa vai kề (quá đã) với cô đào chánh sắc nước hương trời mà không sợ má bầy trẻ làm khán giả đang ngồi coi ở hàng ghế thượng hạng không nổi cơn ghen, lột guốc phang vô mặt mình bất tử!

Ðó là nghề kép chánh! Còn nghề soạn giả dẫu không có cơ hội chường mặt ra sân khấu như kép Thành Ðược, Hùng Cường, Minh Vương, Minh Phụng…  để mấy em bán cá ở chợ Cầu Ông Lãnh chết mê chết mệt thì có cái khác nó bù vô. Cái khác đó là soạn giả nào nặn óc ra, sáng tác được tuồng nào ăn khách, hát cả tháng trời mà bà con đêm nào cũng ùn ùn tới coi, là vô mánh.

Tác quyền được chia tới 5% tiền bán vé. Hát nhiều đêm là tiền càng nhiều. Hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo, thủ đô Sài Gòn, hết ai đi coi thì đi về các tỉnh. Hát xong mà được các hãng dĩa nhào vô thu thanh, in dĩa ra bán toàn cõi Ðông Dương, tới cả bên Miên, Lào thì lại càng vô mánh.

Tuy nhiên, cũng có những ngày mưa, gánh hát phải trả giàn, nghệ sĩ và soạn giả đành lãnh phân nửa (lương đờ mi) hay một phần tư (lương cà phê)! Nhưng ít khi xui tận mạng như vậy lắm!

Nghề soạn giả buộc phải đọc nhiều sách, học thêm nhiều cái mà nhà trường chưa dạy. Soạn giả học ở trường đời nhiều gấp bội hơn học ở nhà trường!

Ðêm nay quê người, Melbourne, tháng Sáu, trời lạnh lắm; vì đã chuyển sang Ðông. Trầm ngâm bên ly rượu đỏ, tui nhớ về nghệ sĩ Thanh Hương (1936-1974) con của nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu).

Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng nghệ sĩ Thanh Hương cũng để lại cho chúng ta một giọng hát bất hủ trong bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy” của soạn giả Quy Sắc do hãng dĩa Asia phát hành.

Và cũng nhờ bài vọng cổ nầy mà vào cuối thập niên 1950, trên tờ báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc, nghệ sĩ Thanh Hương được độc giả bầu là: “Ðệ nhất nữ danh ca”.

o O o

Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang! Ngày 30, tháng Tư, năm 1975, Cộng sản Bắc Việt tràn vô thủ đô Sài Gòn của chúng ta. Ðám Tuyên huấn ngoài Hà Nội chủ trương rằng: “Cải lương miền Nam không khuyến khích”.

Vậy là các hãng dĩa bị tịch thu, các gánh hát bị giải tán, tất cả các tuồng sáng tác trước 1975 bị cấm trình diễn. Các soạn giả cải lương bị cấm hành nghề.

Soạn giả và nghệ sĩ cải lương miền Nam lâm vào cảnh đói khổ cùng chung với cả nước VNCH. Soạn giả Quy Sắc phải bán luôn cả tư trang để sống cầm hơi. Kiếp con tằm là phải nhả tơ. Mà muốn nhả tơ thì ít ra phải có dâu cho tằm ăn chớ?

Rồi suốt 45 năm nay, Cải lương cứ ngắc ngoải, cứ thở hơi ra mà chưa chịu chết. Cải lương chưa chịu đi chầu ông bà ông vải là vì sáu câu vọng cổ là cái hồn dân tộc, cái tâm tình của người dân Lục tỉnh quê mình!.

o O o

Nhớ chiều xưa, trước ngày vượt biển, bên mâm rượu cùng bằng hữu văn nghệ nghe em ca cái bài: “Cô bán đèn hoa giấy!”

“Hỡi cô bán đèn giấy hồng, năm nay cô đã có chồng hay chưa?”

“Ðèn hồng đã có người mua, má hồng đã bị nắng mưa phai rồi.”.

45 năm ngày mất nước, đêm nay, quê người nghe lại bài năm cũ, giọng ca xưa, kỷ niệm tràn về như sóng làm lòng tui thiệt bùi ngùi quá mạng đó bà con ơi!

Đoàn Xuân Thu

Đêm động phòng

 Hồ Đình Nghiêm 

Bữa tiệc chấm dứt lúc mười giờ. Mùa hè, bầu trời nhiều sao, sâu thẳm. Ở đó, dường như màn đêm chưa thực sự đóng kín. Cái mênh mông của nó không hẳn nói lên đêm đã vào khuya. Tiệc chóng tàn bởi lẽ người ta ăn hết ba món, kể cả tráng miệng. Và chuyện vãn thì đến hồi nguội lạnh, chẳng còn gì để nói. Chín người lần lượt đứng lên, rời khỏi ba cái bàn sắp hình chữ U đặt giữa sân. Trời trong vắt, thứ sắc màu kỳ lạ của đêm hè nhiệt đới. Chẳng một gợn mây và cao xanh kia tuyệt không mang điềm báo một cơn mưa đe dọa đổ xuống. Người ta ra về bởi giản dị có một điều: Chẳng còn gì để cột chân họ. Những bao thuốc rỗng đã vo lại và ly tách chén dĩa đứng xô lệch dồn đẩy nhau trên bàn, cạn tàu ráo máng.

– Thôi, vậy là xong. Chúc hai bạn có được nhiều điều tốt đẹp, nếu không muốn nói là hạnh phúc lâu dài.

– Đã có kế hoạch gì chưa? Chúc đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái thì có ham hố quá không?

  Nhiều tiếng cười chen cài theo từng câu nói. Đàn ông uống rượu, đàn bà uống nước ngọt, nhưng khi phát ngôn họ thảy đều bình quyền; có nghĩa là tất cả đùa cợt một cách có ý thức.

– Đừng chê quà của mình nghe. Một chục chén đất để lỡ gây nhau có sẵn đó mà ném vỡ cho nguôi ngoai… Kinh nghiệm đau thương!

– Chớ có ôm riết nhau mà khuấy quên xấp vé số mình tặng. Dò trúng lô độc đắc nhớ đừng quên công kẻ hèn này nhé.

  Tất cả đều là bạn học cũ. Bạn tôi và bạn của Giáng Hương. Họ quây lưng sau khi bắt tay và thầm lặng đạp xe ra khỏi cổng. Ánh điện vàng cắt một ô hình chữ nhật đọng ở đó. Nóng, đục. Phiá ngoài, con đường nhựa xám đã nhận chìm bóng họ thật mau.

  Tôi phụ Hương một tay để thu dọn nhưng vợ tôi từ chối:

– Mặc Hương. Ngồi tiếp chuyện với anh Vân đi. Hai người uống trà nhé?

  Một bóng đen ngồi bất động trên ghế, đâu lưng với bậc cấp dẫn vào nhà. Cái bàn hình chữ U bỗng rộng ra. Anh tôi ngồi đó tựa một người có thẩm quyền trong phiên tòa vừa xét xử xong. Một ông quan tòa bịt mắt dối lòng khi làm việc và sau rốt ngồi chết trân với tất cả niềm ăn năn. Những cây nến đã dập tắt và ánh sáng từ trong nhà hắt ra làm tôi không nhìn rõ mặt anh.

– Có tốn kém lắm không, hả Huân?

  Anh Vân hỏi. Anh chồng lại chén dĩa trong khi Hương lần lượt mang chúng vào nhà. Giọng anh trầm đục và có lẽ anh là người uống nhiều rượu nhất.

– Chẳng biết nữa. Mạ của Hương đi chợ và nấu nướng. Bà lo hết mọi chuyện.

– Lý ra tao phải có cái gì đó để làm quà…

– Anh đừng nói vậy. Sự có mặt của anh đã là cái gì qúy giá lắm rồi, không mong gì hơn. Em nói thật.

  Tôi mang những thứ còn sót trên bàn vào nhà. Khi trở ra, vừa đi tôi vừa khui một bao thuốc mới. Tôi có kinh nghiệm, chớ bày ra hết những gì mình có. Phải biết thu dấu, ngay cả những thứ nhỏ nhặt, chẳng đáng cất.

  Hương cầm ở hai tay hai tách nước trà bước xuống tam cấp. Luồng sáng phiá sau soi rọi rõ đường viền đôi chân Hương. Chiếc quần lụa màu trắng không đủ dày để che kín lấy nó. Hình như đó là chiếc quần tươm tất nhất mà Hương có? Khi ăn tiệc mừng, không ai lại mặc vào người chiếc quần cũ chưa kể kẻ đó là nguyên cớ của cuộc vui, là nhân vật chính. Tôi có uống rượu, nhưng rượu chẳng đủ làm tôi chếnh choáng. Trong phút giây, tôi thấy thương vợ tôi hơn lên, bởi không một ai làm cô dâu với thứ hình ảnh bình dị tới độ vậy. Trang điểm lên người sự mộc mạc, đơn giản, thanh bạch và gần như nghèo khổ. Đói cho sạch rách cho thơm. Ừ, thì biết vậy. Nhưng dù sao…

– Hãy ngồi xuống đây, Huân.

  Tôi ngồi xuống chiếc ghế đặt cạnh bên anh, thắp sáng một ngọn nến và cắm nó đứng trên cái ly thủy tinh lật ngược, dùng để đốt thuốc hút. Dầu sao tôi cũng vận quần tây thẳng nếp, dù sao tôi cũng có áo sơ-mi trắng dài tay và áo bỏ vào quần tử tế. Không hẳn đó là thứ biểu tượng nhằm nói lên: Hôm nay tôi đã là chú rể. Không. Tôi chỉ giống một cậu học trò từ dưới quê ngày đầu lên thành phố để thi tú tài.Tôi thắt nịt da. Cái nịt mà ngày xưa ba tôi vẫn “thắt lưng buột bụng”. Ba tôi không còn trên cõi đời này để ông nhìn nhận rằng tôi đã lớn khôn.

– Trong tù, để giết đi những ước ao thầm kín, tao bỏ công theo học nghề một tên gọi là thầy phong thủy tướng số. Nghiêm chỉnh để nói, tao thấy Giáng Hương có đủ những nét tốt hiển hiện. Tao quan sát và thú thật tao rất mừng vui.

  Anh Vân lớn hơn tôi ba tuổi. Xưng hô mày tao hoặc anh em, điều đó chẳng nề hà, cái quan trọng là anh cảm thấy thoải mái hoặc tìm ra ở đó sự thân mật khi trò chuyện. Vừa là một người anh, vừa là một người bạn chân tình. Anh thi hỏng tú tài phần hai, sau đó vào học ở quân trường Thủ-đức. Rồi thì hồng thủy ập tới, lùa anh vào trại học tập cải tạo. Ở anh là triền miên những việc học. Học chữ, học súng ống. Học lời răn của hiền nhân, học lời xúi của qủy dữ. Học thật thà, học dối trá, học ngang ngược chưa đủ; giờ đây lại còn bày trò học nhìn rõ mặt người, chiêm nghiệm nét tốt xấu ám lên phần số mỗi sinh mạng. Qủy tha ma bắt anh thời gian dài và giờ này có thể anh hiện nguyên hình một người cật ruột máu mủ còn sót lại của tôi. Một người mà tôi cố đặt hết lòng tin vào câu giải thích: Nhân chi sơ tánh bổn thiện.

– Do đâu mà hai đứa trở thành vợ chồng?

  Anh Vân hỏi. Không nhìn tôi mà nhìn xuống bàn tay đang kẹp điếu thuốc. Những ngón gầy, tỉ lệ thuận với vóc vạc mỏi mòn ốm o của anh. Một người như vậy có lẽ sẽ thích hợp biết mấy khi ôm vào lòng một cây đàn guitar. Để cúi đầu xuống, để nhắm mắt lại. Để sau đó bắt mọi thứ phải dấy động lên một cung bậc thổn thức. Tôi mường tượng ra hình ảnh một ông Trung đội trưởng hay Đại đội phó gì đấy ì ạch dẫn lính tráng đi hành quân. Thật tội nghiệp cho anh tôi! Cả tôi cũng vậy. Tội nghiệp tôi nếu tôi nhảy qua lãnh vực tướng số. Tôi cố nhớ lại thời điểm mà hai anh em đã phải xa nhau. Bảy, tám năm? Tôi bất lực. Tôi thử nhớ lại buổi đầu tôi gặp Giáng Hương. Trí óc tôi lợn cợn chập chùng những hình ảnh. Nó giống như tờ thư mỏng với chữ viết đặc kín cả hai mặt giấy. Mực thấm lem từ trước ra sau và ngược lại. Không tài nào đọc rõ.

– Chuyện dài lắm, chẳng biết bắt đầu từ đâu.

  Tôi nói trong khi tôi nghĩ: Hai ba năm sau, có ai nhắc lại kỷ niệm này, đêm nay, để rồi hỏi tôi về tháng ngày thành hôn chắc tôi cũng sẽ đối mặt với sự bối rối. Không phải tôi thuộc hạng người vô tâm, nhưng đời sống nhọc nhằn này, bạn có tin không, chính nó tước đoạt hết của mình những kỉ niệm đẹp. Mình sẽ phải lú lấp đi, trong khi chất xám trong não bộ mãi bị ám ảnh bởi miếng cơm manh áo. Mãi phát huy sáng kiến để tồn vong. Mà tồn vong trong hoàn cảnh như vậy, tự nó đã mang mầm mâu thuẫn mất rồi. Muốn nhớ mọi điều phải mượn giấy bút để ghi vào sổ. Tôi có cuốn sổ nhỏ với nhiều trang giấy trắng, chỉ có trang đầu là bị vấy bẩn. Đó là những con số nhem nhuốc ghi chú về ngày tháng ba tôi qua đời. Và ông chết cách đây đã hai năm.

– Số phần. Cứ xem như vậy đi, phải không?

  Anh tôi nói. Anh cầm tách trà lên, uống từ tốn.

– Chỉ cần khiếm diện ba bốn năm thôi, người ta sẽ nhìn ra một lỗ hỗng thật lớn nằm giữa đời mình.

  Tôi nhìn anh Vân, cố hiểu hết lời nói ấy. Hồi nãy, trên bàn ăn, có thằng bạn qủi quái nào đã “phát biểu linh tinh”: Cuộc sống vợ chồng không gì khác hơn là hai người trong cuộc phải cố lấp kín cái lỗ trống. Anh nêm không chặt, đời sống sẽ lấy đi ở anh sự hạnh phúc. Chặt quá, anh cũng bị phàn nàn. Đã là nghệ thuật thì phải có cương có nhu. Khi đó tôi có trộm nhìn Giáng Hương, vợ tôi xem chừng đẹp nhất trong đám đàn bà có mặt. Da Hương trắng mịn, ửng đỏ và buổi chạng vạng không tài nào làm cho nhan sắc ấy phải mờ nhạt đi.

 – Nếu Huân không cảm thấy phiền hà, ngày mai hai đứa mình đi thăm mộ ba.

 – Ý kiến hay. Sao anh lại dùng tới chữ phiền hà?

 – Chắc phài nên hỏi Hương một tiếng. Ngày vui của hai người… Bình thường thì không ai được quyền phá rối…

 – Chuyện gì hả anh?

  Hương bước xuống thềm. Hương như vừa rửa xong đống chén bát. Ngồi gần, đụng vào tay, tôi chạm phải những ngón mát lạnh.

– Ngày mai, anh muốn mượn đỡ Huân một buổi sáng,

Hương cho phép không? Anh tôi nói, mặt nghiêm trang.

 – Anh nhờ Huân dẫn đường tới mộ ông già tụi này.

 – Lấy thêm chiếc xe đạp của Hương. Hai người đỡ nhọc khi phải đèo chở nhau. Và buổi chiều nhớ về ăn cơm. Buổi cơm đầu tiên do chính Hương nấu. Vợ tôi nói, mặt cũng trang nghiêm chẳng kém.

 – Anh không dám hứa trước. Tối nay anh lại ngủ đằng nhà người bạn và có thể nó sẽ làm một cái gì đó nhằm chiêu đãi người về từ địa ngục… Hãy thứ lỗi là anh chẳng có gì làm quà, Hương cho anh khất một món nợ, anh sẽ trả sau.

  Hương cười bên ánh nến sắp lụn tàn. Mắt Hương long lanh và ngọn lửa không ngớt nhảy múa. Dường như Hương cảm động và có thể ngọn đèn cầy đang thổn thức. Đêm yên tĩnh, chừng như mời gọi thầm lặng ai kia nhập cuộc sát phạt một canh bài hoan lạc. Tôi không biết là anh tôi có để lại một mối tình nào trước khi vào lính? Có đánh rơi một kỷ niệm đáng nhớ trước khi vào trại tù? Anh ngủ lại nhà bạn, dĩ nhiên chẳng thể đó là một người bạn gái, tôi nghĩ vậy.

  Càng về khuya gió càng len lỏi về nhiều. Nó làm xao động chùm lá vú sữa ở góc sân, nó xoa dịu làm mát những khoảng da để trần và cuối cùng, đốm lửa duy nhất trên bàn vụt tắt bởi gió.

  Tôi cởi bớt áo quần sau khi cửa đóng then cài. Căn nhà nhỏ, trước đây mạ Hương dành cho người bà con từ dưới quê lên ở. Năm bảy lăm, trên đường lánh nạn chạy thoát vào nam, gia đình người đó lạc mất nhau và biến cố ấy khiến người đàn bà sống sót một mình kia trở thành kẻ mất trí. Bà lang thang ở những bến xe gióng gọi khản tiếng tên những người thân thương cật ruột. Bà điên loạn và mạ Hương biến chỗ ở vô chủ này thành một tổ uyên ương, làm quà cưới cho đứa con gái út nhiều thiệt thòi. Chữ thiệt thòi phải nên hiểu ở nhiều nghĩa, mà trong đó, việc yêu tôi và quyết định lấy tôi làm chồng là một điều thiệt thòi khác, không thể thiếu khi kiểm điểm.

  Xong lớp 12 thì Hương quẳng buông giấy bút. Mạ Hương là người đầu tiên vẽ đường cho hươu chạy: Học cho lắm cũng bốc đất ăn thôi, con ra phụ mạ trông coi cái gian hàng ấy cho được việc. Học tranh đua với trường đời là thiết thực nhất! Hương ra chợ, kết qủa hiệu nghiệm trông thấy. Vợ tôi là cô tiều thương lanh lợi, không là tiểu thư rụt rè của lớp 12 dạo nào. Trường đời, nó dìm người ta xuống để trấn lột hết những thơ mộng, giúp sáng suốt ở mặt này và gây thương tích mù lòa ở mặt khác.

– Hương có mệt không?

 Tôi hỏi, cố pha chút dịu dàng trong câu nói.

– Không. Khỏe là đằng khác. Giải quyết xong chuyện gì cũng thế cả. Thực hiện, đợi chờ, toan tính, mấy thứ đó nó hành mình tới mất ngủ.

 Hương vừa chải tóc vừa trả lời. Tóc Hương dài, mịn, đen nhánh. Cái mềm mại ấy xuôi chảy đổ xuống lưng tạo cho tôi chút cảm tưởng: Về đêm, Hương sẽ hiền dịu hơn là Hương của ban ngày, bối tóc lên và sẵn sàng lăn xả vào cuộc sống, chống chọi, quyết liệt hơn thua.

 – Nói vậy có nghĩa là kể từ đêm nay Hương sẽ ngủ yên giấc?

 – Có ngụ ý gì không?

 – Không. Anh muốn biết vậy thôi. Bởi thông thường, khi bắt đầu cuộc sống vợ chồng người ta vẫn luôn gặp sự bỡ ngỡ. Một chuyện cỏn con thôi, ngủ một mình sẽ khác với ngủ hai mình rất xa. Một là họ trăn trở, hai là họ sớm gặp giấc mộng lành.

 – Huân trăn trở hay Huân gặp mộng lành?

 Tôi nhìn hàng nút áo Hương cài chẳng kín, theo cử động của tay chải tóc, hai vạt áo úp mở tựa một cánh cửa bị gió lùa làm xô giạt, khiến người đứng ngoài tò mò trông ra chút đồ vật bày biện bên trong. Tưởng tượng bức vách sơn màu trắng ngà, máng vào đó tấm tranh khỏa thân và cánh cửa án che chỉ nhìn ra đường khe da thịt của một người nữ.

 Hương cất lược vào hộc tủ, hối thúc:

 – Hãy vào tắm đi, mai còn phải lặn lội lên thăm mộ sớm.

 Tôi nghe lời Hương. Ăn ở vệ sinh là điều cần thiết, lại nữa ngủ với nhau đêm đầu tiên, điều đó sẽ là hình ảnh khó quên; và ấn tượng làm mình nhớ dai nhất có lẽ do da thịt người ấy sạch thơm, tinh khiết, mát mềm hơn cả một miếng thạch xoa.

 Để chuẩn bị cho việc ra riêng, Hương lo đầy đủ chẳng thiếu thứ gì. Tôi không có kinh nghiệm, nhưng ý tứ có thể là đức tính qúy giá của một người vợ? Góc xi-măng có miếng tôn dựng đứng án che gọi là phòng tắm, trong đó đã có sẵn khăn lông và xà phòng. Một lu nước đầy, một gáo nhựa nổi lềnh bềnh ở trên. Có hai cây đinh đóng nhô vào thanh gỗ và tôi cởi áo quần để máng chúng vào đó. Nước mát lạnh vỡ òa, ràn rụa, từ đầu xuống tới gót chân. Thấm đẫm, nhột nhạt, sảng khoái, hưng phấn. Nếu thực sự ở đời có ơn mưa móc, thì không ai khác hơn, kẻ tạo ra thứ vũ lượng ấy chính là mạ của Hương. Bà đã dội xuống người tôi ướt nghe ngói niềm thương yêu ngọt sắc. Một người mẹ cực khổ nuôi con thành người bỗng một hôm nắm tay con gái mình dí trao vào thằng con trai xa lạ. Này, mạ cho không đấy. Nhận lấy đi và nhớ giữ tròn lòng tin yêu thuận thảo với nhau. Tôi khác xa đứa trúng số lô độc đắc, bởi ít ra muốn trở thành triệu phú tình cờ việc cơ bản đầu tiên là anh phải có tiền để mua lấy sự may rủi đầy hoang tưởng.

 Tắm xong, tôi bước lại chiếc giường không mấy lớn đặt trong góc nhà, buông rũ mùng xuống. Giường gỗ đánh vẹc-ni nâu bóng, kiểu cổ xưa và có thể nó hiện diện ở đấy từ khi căn nhà này được xây cất lên. Gần trên mái nhà, tôi đọc ra con số 1950 ai khắc vụng về vào xi-măng. Khi ngó thấy, tôi đã nhẫm tính, nó ra đời trước tôi gần cả chục năm. Giường trải chiếu mới, chiếu nhuộm mực xanh lem nhem hình long phụng quấn quýt vờn mây giỡn nguyệt. Đang là mùa hè, nhưng để làm an tâm là chúng tôi đầy đủ, có ai cuộn tròn cái chăn bông đặt để ngay ngắn phiá dưới chân. Đầu kia là hai chiếc gối, gối có thêu ren và chúng căng phồng như ngầm bảo: chúng em vẫn còn trinh nguyên.

 Tôi vạch mùng chui vào giường, lót mí mùng xuống dưới chiếu. Cẩn trọng, từ tốn. Tôi nằm ngó lên, cảm giác mình được an toàn, được bao bọc, được no đủ. Tôi không nhắm mắt bởi tôi sợ sự sảng khoái này sẽ rủ rê mời gọi giấc ngủ tới. Và như vậy, mọi chuyện sẽ hỏng bét. Làm bà xã không hài lòng! Tôi nằm ngửa, căng mắt chờ. Đợi Hương tắm xong, tôi ngắm kỹ để làm quen từng vuông da thịt vợ mình. Tôi sẽ hít đầy ngực hương thơm cùng khắp thân thể Hương, khi ấy tôi mới có ý kiến rõ ràng về câu nói: Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

 Mùng làm bằng vải trắng, sợi mịn, dệt thưa. Đó là thứ vải mà y tá dùng để băng bó vết thương. Là thứ mà người ta dùng để lọc nước. Để chùi răng, rà miệng em bé. Để qúy bà qúy cô nhét vào quần lót khi tới chu kỳ kinh nguyệt nó hành tái xanh mặt máu. Nó có nhiều công dụng và hiện tại nó cho tôi cái ảo giác mình đang nằm dưới một vuông trời mù sương. Sương đục như sữa, dịu dàng vây phủ và mình nhìn ra thế giới bên ngoài thảy đều mơ hồ, không thực. Tôi nghe tiếng nước chảy vọng tới, như suối khe róc rách, như mưa rơi sau vườn, từ tốn giữa canh khuya. Tiếng nước chảy, tự nó cũng nói được nhiều điều. Êm tai, thì thầm làm dễ ngủ. Và mặt khác, nó vén mở trí tưởng mình ra, dắt mình tới một khung cảnh thiếu ánh sáng có vợ tôi khom người kỳ cọ, vuốt ve. Bọt xà phòng thay phiên trôi tuột xuống da thịt trơn láng, lên đồi xuống núi để cuối cùng ngập ngừng vướng mắc ở khe, nhỏ từng giọt chậm rãi vào đất và đám lông ấy vê lại tựa một đập chắn nước cuối cùng.

 Khi tôi đổi thế nằm, vợ tôi đã tắm xong, đi nhẹ tới giường. Hương di động và tôi như ngửi ra luồng thơm mát chờn vờn đẩy đưa ngoài vải mùng làm rối rắm mọi cảm nhận.

 – Tắt đèn đi, vào đây nằm anh kể cho nghe câu chuyện thần thoại hoang đường.

 – Huân nghe câu nói “chạy trời không khỏi nắng” chưa?

 – Là sao?

 – Là hãy từ tốn, bởi trước sau gì Hương cũng sẽ nộp mạng cho Huân. Chạy trốn đâu giờ này!

 Hương bước lại gần chỗ bắt công-tắc đèn, ngọn néon dài tám tất chưa kịp khép mắt thì có tiếng đập cửa. Người ở ngoài bóng tối lộ rõ sự nôn nóng qua chuỗi tiếng động mà tự hắn tạo ra. Tôi không nghĩ là anh Vân trở lại. Một người như anh ấy sẽ chẳng bao giờ làm được chuyện gì to tát, kể cả việc khum tay đập gõ vào bất kỳ cánh cửa nào. Tôi ngồi dậy trong khi vợ tôi lật đật chạy tới mở cửa.

 – Chúng tôi đến kiểm tra hộ khẩu. Hồi chiều thấy có lắm người tụ họp chẳng biết có ai ngủ lại mà không đăng ký?

 Tôi chui ra khỏi mùng, đứng khó khăn và nhọc mệt khi tròng được vào thân bộ áo quần. Tôi chóng mặt lúc tìm ra tờ giấy èo uột in xấu xí hàng chữ “Giấy đăng ký kết hôn”.

 – Tôi là tổ trưởng khu phố, còn đây là anh Thân, công an khu vực.

 Một người đứng dưới bậc thềm cất tiếng. Ông không già, chẳng trẻ; một khuôn mặt khó chẩn đoán tuổi tác. Ánh điện xâm thực ra sân đất, soi lờ mờ dáng người thanh niên mặc sắc phục màu vàng. Hắn đang hút thuốc, đốm lửa cháy đỏ từng hồi trên môi và có lẽ đó là một trong những bao thuốc mà mạ của Hương đã cất công đem biếu xén từ hôm qua khi bà ra đồn xin phép được nhóm họp. Người ta truyền đạt kinh nghiệm, mạ Hương thực hành nghiêm chỉnh thứ lề luật kia, chẳng biết có tạo lỗi lầm thiếu sót? Hương dấu nỗi bực dọc sau lưng, chià ra trước tất cả những giấy tờ hợp lệ mà chúng tôi có được.

 – Mời bác vào trong để kiểm tra. Mới đến ở, bọn tôi chưa kịp bắt thêm đèn cho nó sáng lòa ra.

 Người tổ trưởng khu phố đón lấy những chứng cứ ghi nhận chúng tôi là công dân của một đất nước văn minh giàu mạnh. Giấy tái sinh luôn co quắp trong bàn tay ông. Ông không ngó xuống chúng, ông lách thân sang bên để nhường lối cho người có thẩm quyền. Hắn còn nhỏ tuổi, nhưng hắn già đầu ở lãnh vực khác; tựu trung khi dòm hắn, đọng trong mắt nhìn là một cái gai. Châm chích, khó chịu, chẳng ưa gặp phải. Da mặt hắn tái, như một tửu đồ chả bao giờ biết say, càng nốc rượu càng lầm lì, độ cồn, hơi men đều thoát ra, bốc hơi nơi hố mắt. Hắn ngó láo liên. Tôi cũng nhìn cái giang sơn mới mẻ của mình. Trống trải quá, lưa thưa quá, cạn kiệt quá. Phải mà còn một ít thức nhắm, chút rượu sót nằm dưới đáy chai; cà phê thuốc lá linh tinh, tôi sẽ mang ra gọi là “giao lưu tình cảm”. Tuyệt không có gì. Chẳng còn gì sất! Yên lặng, thứ lặng yên rất nặng nề, thình thịch như tim lê nhịp đau. Hắn vứt mẩu thuốc cụt xuống nền nhà, dí chân lên:

 – Hình như anh Huân còn có một người anh, phải không nhỉ?

 Tôi sửng sốt. Làm sao hắn biết điều đó? Bởi nếu anh Vân chưa được thả khỏi trại tù, chính tôi cũng chẳng hay là thực sự tôi có được một ông anh. Lạ lùng!

 – Nếu anh ta có đến trú ngụ, nhớ ra đồn thông tin cho chúng tôi hay nhé.

 – Vâng. Bất kể là ai, nếu đến đây, chúng tôi sẽ phải đi đăng ký.

 – Vậy là tốt. Đám cưới suông sẻ cả chứ?

 – Vâng. Mạ tôi nói mọi thứ có được đều do công sức của mấy anh cả.

 Hương đối đáp và vợ tôi thật bất cẩn. Áo Hương mặc quên cài những ba hạt nút. Gã công an thôi kiểm tra da thịt lụa là, hắn chuyển ánh mắt sang ông tổ trưởng:

 – Thôi, chẳng có gì. Ta đi nhà khác vậy.

 Ông tổ trưởng trả lại giấy tờ.

 – Mừng anh. Những kỳ họp tới tụi mình thấy mặt nhau thường xuyên hơn.

 Họ quay lưng. Và họ mang theo tất cả những háo hức, những dự tưởng thơ mộng của tôi. Đứa đóng vai chú rể đóng chặt cánh cửa lại, thấy mồ hôi chạy dọc sống lưng. Nếu họ không tới, hắn làm gì giờ này giữa bóng tối dâng tràn những tiếng thở vội? Mồ hôi hắn đổ ra nhưng đó là sự giải thủy vô hạn những ngây ngất.

 – Vậy mà tốt. Còn hơn dựng đầu mình dậy giữa canh khuya.

 Hương như đọc ra những ý nghĩ của tôi, nhưng Hương chỉ nhìn thấy có một nửa. Nửa kia là tôi nghĩ tới cái quái đản của chữ động phòng dành ám chỉ việc ái ân của đôi vợ chồng son. Động phòng. Như thế này là động phòng? Mẹ rượt! Phòng đang êm ả bỗng dưng những nắm đấm tay sắt tác hại lên cánh cửa làm náo động thiên cung!

 Tôi là đứa duy vật, có thể nói như vậy, bởi ít khi tôi tin tới ma qủy, để tâm tới những điềm gỡ, những báo mộng, dị đoan. Nhưng giờ đây, đứng án lưng vào cánh cửa mong manh, mơ hồ tôi thấy ra cái tương lai chẳng mấy tốt đẹp của hai đứa chúng tôi. Đôi vợ chồng ngác ngơ này sẽ học thêm những gì, khởi đi từ đêm động phòng, tuần trăng mật, từ những tháng năm xao xác sẻ chia để cố lấp đầy một khoảng trống?

 Có tiếng chó sủa từ xa vọng tới. Đêm nóng ngột ngạt trong gian nhà nhỏ bé. Tôi đi ngủ với lời nguyền rủa: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Dây thun lỏng

 Hồ Đình Nghiêm
Post by Sơn râu 10 Dec 2023

         Bắt đầu là tiếng “Huế mềnh” đặc sệt của một gã lưu vong đã ở xứ lạ quá nửa đời người- gợi nhớ một lần nghe ông Cao Xuân Hạo giải thích về khuynh hướng “càng ly tâm càng hướng tâm” khi tôi thắc mắc vì răng người Nam bộ vốn nổi tiếng ăn nói mộc mạc, giản dị mà trong ca dao tục ngữ lại giữ một lượng lớn thành ngữ Hán Việt cổ điển- rồi đến giọng “u-mua” lẫn tí mùi tán gái cợt nhã, bụi bờ, mà pha được điệu ngậm ngùi thế sự mới tài! Tôi cho nó phải là một trong những đặc trưng lối văn Hồ Đình Nghiêm.

“Khúc đưới” (phần dưới) của o Ngà được chính đương sự nhận là xấu- tiếc là người kể không nói rõ thêm “đưới” nớ ra răng mà chịu xấu rứa!- nhưng khúc đưới (kết) của truyện ngắn thì “couldn’t be better”.

Cảm ơn Nghiêm: Cái đau của đời có khi hơn… hoạn thiệt, nhưng cái đau văn chương đem lại đâu chỉ thuần thương đau.

Nguyễn Thanh Văn
Sài Gòn

Long người Nam, từ Sài-gòn ra trọ học, ở gần nhà và học cùng lớp nên chúng tôi làm bạn với nhau. Lối ăn mặc, cách tiêu pha có vẻ như con nhà khá giả. Hắn lỡ phạm một lỗi lầm nào đó, nên ra Huế, với hắn là bản án lưu đày mà gia đình đã tuyên xử, nỡ xuống tay. Thức ăn cay, mưa gió rả rích, phố xá nhỏ chật… hắn có thể tìm ra cả vạn lý do để minh định lập trường: Không cảm tình với Huế.

Một bữa, Long ghé nhà, hậm hực. Hình như đương sự có chửi thề. Tôi đang nằm đọc cuốn “Uyên ương gãy cánh” và những hình ảnh thơ mộng trong cuốn sách đã bị tước đoạt trong nháy mắt. Tôi hỏi, để được biết là hắn đi may một cái quần tây khá đắt tiền nhưng khi mang về thì phát hiện rất nhiều lầm lỗi. Thất bại! Hắn nói. Đó là chữ hắn thường dùng để chấm câu. Uống một cốc cà phê hơi nhạt. Thất bại! Mua một quả cam chua. Thất bại! Tất cả đều thất bại. Tựu thành một việc hằng mong mỏi, chưa bao giờ nghe hắn nói: Thành công.

Tôi trấn an, chuyện gì cũng còn có đó, ông may quần ở đâu?

Hắn có chiếc xe gắn máy, Honda 65 phân khối chở từ “trỏng” ra, gắn bảng số quận 3 Sài-gòn. Hắn từng giựt le với đám bạn học về cái sự bốc của chiếc xe và cả đám đều xuýt xoa, y như rằng cái con “hắc mã” đó là độc nhất vô nhị ở cái xứ hiếm của lạ luôn trầm mặc này. Chạy mau lắm thê, không phải nói trạng mô nợ. Một vài đứa trong lớp gốc gác ngoại thành phát biểu cảm tưởng. Tôi leo lên yên sau, ôm bọc giấy gói kín chiếc quần không như ý để hắn bốc tới nơi gây phiền hà. Tiệm nằm ngoài phố, bảng hiệu có người ra công vẽ sơn hình tháp Eiffel đồ sộ như thể cầu chứng, mang tay nghề về từ kinh đô ánh sáng.

Tiệm vắng, đứng bên chiếc bàn dài là người đàn ông tóc tém lui sau, chải mượt bóng dầu mỡ thấy rõ sự chuyên cần mà răng lược đã cày qua. Áo bỏ vào quần tươm tất, điệu đàng, đỏm dáng. Tiếc một điều chân mang dép cao su mòn vẹt và ông xứng đáng để đại diện cho những người thiếu thước tấc. Ông cao ngang vai tôi, cổ ông có sợi thước dây vắt tròng, vật trang sức như ta thường thấy nơi mấy vị chuyên nghề đo đạc.

Ông tính nói điều gì đó nhưng thoáng cau mày khi nhìn ra thằng bạn tôi. Hẳn ông đã đánh hơi ra chuyện thất thường. Hai đứa ni tới để kiện tụng chớ không phải mua sắm may mặc. Chúng tôi đã lựa thời điểm là sau buổi trưa, tránh giờ mở hàng “mất mì xưa” của chủ tiệm, mình chưa nói năng họ đã càm ràm nghe cũng ngán.

Rồi cái quần được trải thẳng trên mặt bàn dài. Tôi như đứa thông ngôn vì có khi mặt bạn tôi nghệch ra, ú ớ không hiểu lời phân trần. Tui đồng ý là khúc trữa có hơi bị nhăn nhíu, nhưng khúc đưới và khúc côi ni, anh xem đi, phải nói là khéo tay. Hàng vải ni rất khó may, anh thông cảm để tui chỉnh sửa lại. Côi, trữa, đưới. Thất bại, phải không? Tuy thương hiệu có vẽ cái tháp biểu tượng của Paris, nhưng ổng hổng nói tiếng Tây tiếng u đâu. Đậm đà bản sắc địa phương đó nợ, chớ mô lai tạp đầu Ngô mình Sở: Chín giờ kèn thổi “cu-sê”, thôi em ở lại anh về “áp-bên”. Coucher là ngủ ngáy mà appel là điểm danh, nôm na là tục tác gọi gà về chuồng, trời túi hung rồi.

75 là cú thổi “áp-bên” đầy xao xác khiến giấc “cu-sê” mãi không tròn giấc, hoặc có người làm cú “cu-sê” dài dằng dặc, dài miên man. Tất cả ngác ngơ lạc hồn như gà con mất mẹ.

Bữa nọ tôi ngác ngơ đi vào chợ trời để bán bộ áo quần còn lành lặn thì có người con gái gọi đúng tên tôi. Chiếc nón lá, quai lụa tím, tóc ngang vai. Tôi ngó và tôi tưởng tai mình nghe lầm. Tôi chẳng thể nhìn ra chút gì quen thuộc nơi khuôn mặt lạ lẫm kia. Anh Long bữa ni trốn ở chỗ mô hả anh? Long hả, thì nó vào lại Sài-gòn từ khuya, từ độ xấc bấc xang bang ai cũng giỏi chân tháo chạy. Có còn mô đây mà hỏi. Cô là chi của hắn? Chuyện dài lắm, lôi thôi lắm, làm răng nói năng? Chứ anh đi mô đây? Ôm kè kè cái bọc chi rứa?

Cô tên Ngà, đang hành nghề mánh mung. Cô thật thà khai báo. Cứ đi lòng vòng, gặp con nai vàng cỡ như tôi thì nhảy ra chận đầu, mua đi bán lại thứ “chà đồ nhôm” chôm đồ nhà. Thượng vàng hạ cám đều có thể tiêu thụ giữa thời buổi lắm phong ba mãi làm sấp ngửa.

Anh kẹt tiền hung? Ngà hỏi. Ai mà không kẹt. Tôi trả lời. Cần tiền để trang trải chuyện chi? Ậy, cà phê thuốc lá cũng xúi mình tằn tiện việc ăn việc mặc vậy. Cứ nhất y độc quỡn cho giống với người ta. Lạnh thân chứ không thể buồn miệng.

Nhờ Ngà, bộ áo quần lành lặn của tôi bay biến rất mau. Ngà đưa tôi nạm tiền rít rát như biết ứa mồ hôi, chất giấy xấu như thứ dành để cúng cô hồn. Em không lấy tiền công, anh có thể bao em một chầu cà phê cà pháo không?

Tôi chở Ngà ra tới đầu đường, chun vô ngồi dưới một mái tồn che nắng của cái quán nước tả tơi ghế bàn. Nền đất nện không phẳng, ly tách không đồng dạng, cà phê bít tất nằm trong cái ấm đen thui bắt trên kiềng ba chân có ngọn lửa mãi táp. Mấy thanh củi ẩm làm cay mắt. Hai đứa ngồi xuống ghế nhựa, phải xê dịch đôi chút mới tìm được sự quân bình. Một cà phê đá một chè đậu đỏ. Thằng nhỏ ở trần nói vọng lui sau, nơi có sợi dây thép chùng mãi rung động ba cái khăn nhàu rách đang phơi. Ngà ngồi gần, tôi ngó vô áo bà ba và thấy một đường khe rám nắng. Hình như vì trời oi bức, chẳng thấy bóng dáng chiếc xu-chiêng. Vóc vạc, mặt mày, tay chân, hình thể, tôi đoán tuổi Ngà khoảng hai chục, hoặc nhỏ hơn.

Em luôn loanh quanh khu chợ trời này, lần sau kẹt tiền nhớ chạy vô hú em một tiếng. Ngà nói khi nhìn chiếc xe đạp tôi dựng bên một gốc cây. Cây thưa lá nên nắng chang chang trên vuông đất khô. Tôi cũng thấy mình kiệt cạn dần, rụng từng ngày nghèo đủ thứ, nghèo tới độ có muốn đăng ký làm dân vô sản cũng bị họ chê bai, không đủ tư cách. Một ngày chẳng xa, tôi sẽ bán chiếc xe đạp ấy, tài sản giá trị cuối cùng để thoi thóp đón đợi tin vui. Người tôi yêu đã vượt biên, chả thèm ư hử. Tuy đau lòng nhưng tôi mãi mong cho người đến được bến bờ trong an lành. Cả tháng dài lâu chưa nghe vọng động. Ở ngoài chợ có bà bán cá thấy trong ruột nó lấp lánh chiếc nhẫn đính hột kim cương. Nghe lạ không? Chẳng lạ, nhưng nên tránh ăn cá biển. Ăn cá sông hồ và con nào càng nhỏ càng tốt. Hừ, tiền đâu mà mua cá to?

Cà phê cạn dần, hột đậu đỏ cuối cũng đã mắc vào kẽ răng Ngà, chuyện vãn nhạt thua cả nước đá; cuối cùng tôi bới móc về dấu hỏi vĩ đại: Vì răng em quen Long để rồi biết tới tên anh? Ngà đổi thế ngồi, tay cầm nón quạt lia quạt lịa, tóc Ngà phất phơ mà mặt tôi cũng đón được chút gió thơm mùi mồ hôi dầu của đương sự. Chừng mỏi tay, Ngà đưa mấy ngón mân mê sờ soạn chiếc quai lụa, mặt cúi xuống. Anh còn nhớ cái bữa mà hai người chạy tới tiệm may để ca cẩm kiện tụng chiếc quần tây không? Có thể là anh không biết chuyện ni, sau bữa nọ, chẳng biết răng mà anh Long siêng trở lui để may áo quần. Em ở dưới quê lên học nghề, hay đúng ra là lo cơm nước cho chú Quý, chủ tiệm. Ngồi khuất sau màn chờ nghe sai việc, nay đơm bộ khuy, mốt thì chạy u đi vắt sổ, giặt khúc vải, ủi cái áo… Chú Quý nói, tao chịu đèn cái thằng Sè-gòn đó rồi. Hắn nhiều tiền, không ưa mặc cả, dễ tính, là hạng người mà mình có chặt đẹp hắn cũng mần thinh. Hắn ưa ngủ đò cho biết sự tình mà tao can ngăn, vui thú chi nơi mà ham, chưa kể dây dưa tới bịnh tình. Chú đưa em tám ngàn, nói mi ngủ với hắn chút xíu có chết đi mô mà sợ. Em nhắm mắt đánh liều cho anh Long ưa làm chi đó thì mặc sức làm. Em thì ốt dột mà anh Long thì gà mờ, loay hoay chi chút mà cũng bở hơi tai. Anh nói: Thất bại! Lần khác anh lợi sẽ uýnh một trận ngó đường hoàng hơn. Giờ thì anh phải dìa.

Tôi có kinh nghiệm đau thương, là khi mà bạn đã lỡ bán đi một thứ gì đó, thì việc làm kia nó tạo trớn để bạn thấy dễ dãi tiếp tục lần hai, lần ba, lần bốn. Cũng có thể mang thành ngữ ra để giải thích, tựa như: Ngựa quen đường cũ, ăn quen bén mùi.

Chừng một tháng, sau khi gặp Ngà, tôi lại đạp xe vào “thị tại môn tiền náo”. Chỉ một tháng mà lắm đổi thay, chợ nhộn nhịp, người mua kẻ bán đông chật hơn, phạm vi được nới rộng ra. Duy có thứ vẫn bổn cũ soạn lại, vẫn một mực giữ nguyên, đó là thần sắc người ngợm vô ra thảy đều lạc hồn xanh mướt chân đi xiêu lạc áo quần tả tơi. Sáng ra đứng phố ngồi hè, phồn hoa đô hội đâu dè thế ru.*

Ngà rất mừng khi ngó thấy tôi, cái tở mở thành thực nằm đọng trong đôi mắt long lanh. Ngà đủ thông minh để hiểu thấu cớ sao tôi dẫn xác vào chốn này. Ngà phủ bàn tay lên những ngón tôi bấu vào gi-đông xe. Anh tìm em phải không? Chơ cớ làm răng mà mặt anh xanh ngắt ra rứa? Tôi thiếu chất dinh dưỡng, bên bệnh viện họ phán thế. Cậu thiếu vitamin, thiếu đủ thứ, A, B, C, D, E. Đừng có đi bán máu nữa nhé. Tôi viết cho cậu tờ giấy chứng nhận để khỏi phải đi lao động xã hội chủ nghĩa vào chủ nhật tới. Nên bồi dưỡng, nên tranh thủ ăn nhiều chất đạm vào. Nhớ chưa?

Tôi không nhớ gì cả. Tôi chỉ nhớ Ngà. Tôi thiếu vitamin N. Khủng hoảng thiếu. Trầm trọng vắng. Tôi hỏi Ngà ở đâu? Ngà nói ở chung với đứa bạn buôn bán ve chai và đồ đồng nát, gần chỗ ni, có điều tồi tàn lắm, cốt để tránh gió mưa. Chỉ chỗ đi, anh chở em về. Anh đang nói chơi à? Nói chơi làm chi cho tốn hơi. Anh nói thiệt, anh bán chiếc xe đạp ni cho Ngà, mua không? Ôn mệ ơi, tiền bạc mô đủ mà mua anh. Đời em như tấm mền rách thì anh cũng đã chộ rồi. Bậy nà, anh chưa hề thấy qua. Nói thiệt nghe, khúc đưới của em có hơi xấu, ở côi thì ngó tàm tạm, còn khúc trữa? Chắc Ngà phải cho anh thấy mới nói năng linh tinh như ông Quý tiệm may.

Ngà cười một tràng trong vắt. Nếu tôi là bạo chúa sẽ bắt Ngà về cười suốt, thay vì nghe tiếng xé lụa hoặc tiếng lửa reo bên doanh trại đối phương. Một tiếng cười hưng phấn. Ngà nhảy phóc lên yên sau, mang nguyên cả cánh tay ra ôm choàng lấy tấm thân gầy xé gió của tôi. Tôi cảm nhận được cái mềm mại của trái vú sữa nằm gần khúc côi của Ngà. Thứ trái cây rám nắng tự nẩy nở lấy mà chẳng nhiêu khê chín giú trong xú-chiêng.

Cửa đóng then cài không lâu, tôi và Ngà lần lượt mở khóa cho nhau. Ngà mặc quần vải mỏng có tròng giây thun ở lưng, thắt thỏm. Đói ăn bụng lép rồi giây thun đang tới hồi lỏng, mất tính đàn hồi co giãn nên chi thoắt một cái là khúc trữa lộ hình. Nó sẽ tiết ra một giòng sữa mật mà riêng viện bào chế chẳng chịu gọi là vitamin. Nó sẽ bồi dưỡng cho tôi thứ mà văn học gọi trái cấm ở thiên đường nhiều cám dỗ.

Tôi ôm giữ lấy khuôn mặt Ngà. Tôi hôn vào môi khô đang bấn loạn thở. Tôi đồng ý với anh là khúc đưới hơi thô thiển, nhưng phần côi và khúc trữa xoắn tít những cụm chỉ rối vụng về tay gỡ, thì phải mạnh dạn để nói, đó là tặng vật của đời.

Tôi vật Ngà xuống tấm chiếu có vẽ hình long phụng đưa móng bám giữ chữ Phúc. Hôm qua, tôi nghe hung tin, người yêu tôi (người tôi yêu) đã bị rơi vào tay bọn hải tặc Thái. Tôi đã chết, hôm qua. Và hôm nay, hồn ma tôi chợt hiện. Nó yêu Ngà để nước mắt quỷ sứ tự dưng chảy hoen ra chiếu lạnh.

Tiếng rao “Có ai bán nồi niêu chén bát sứt cọng gãy càng không” chẳng làm cho hai con thú tật nguyền phân tâm. Chúng mãi chia ngọt sẻ bùi dưới căn hộ hoang sơ tựa một cổ mộ mà thời buổi đương đại này chưa đủ chất xám để định hình, giải mã, rêu rao.

Đất hẹp

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 10 Dec 2023

 Nhà quàn Bougie nằm trên con đường dẫn ra ngoại ô. Nó như một lằn ranh được mọc lên, vô tình ngăn chia sự tạp nhạp của phố phường, chận đứng những thứ tiếng động dài hơi lại và rồi mở ra sau đó những lối đi trống trải, với bát ngát cánh đồng cỏ chạy tứ tán về phương trời xa. Nhà quàn, tự thân nó, đã là hình ảnh của chia lìa, của ngăn cách rồi. Mọi thứ khác chỉ trang điểm thêm vô, chỉ trùng hợp ngoài ý muốn.

  Đường tới nhà quàn cây cối xanh tươi, trồng ngay hàng thẳng lối. Cây không mấy cao và cành lá xum xuê luôn đan kết với nhau khiến người ta có cái cảm giác dễ chịu là được đi dưới sự che chắn của thứ bóng im mát chẳng đứt đoạn. Con đường không mấy rộng, có tấm bảng sơn trắng lưu ý những người lái xe hãy kềm giữ tốc độ từ ba mươi cây số giờ trở xuống. Sự yên tĩnh thường trực chiếm giữ lấy một vùng không gian. Nghe mơ hồ tiếng kêu lách cách đều đặn của cái vòi phun nước nằm cuộn mình ẩn dấu dưới cỏ như một con rắn lục kì dị. Một con rắn rung chuông nhân tạo, và gửi theo tiếng kêu của nó, nước sẽ phun đi xa, tưới ướt đẫm một vùng cỏ mượt mà. Cỏ chạy từ lề đường xi-măng lên tới tuốt nhô đất cao bưng bít tầm nhìn. Nó không giống một sân chơi golf, nó tựa một cái nghĩa địa mà người ta sợ những tấm mộ bia khi trồng dựng lên sẽ làm rối mắt, mất mỹ thuật.

  Gió hiu hiu thổi. Góc vườn nhà ai phơi những tấm khăn trải giường trắng. Sợi giây chùng xuống, vẽ một đường cong sáng ngời. Những cánh buồm không căng gió và những chiếc thuyền mãi loanh quanh không định được phương hướng. Trời hanh. Tháng bảy vẫn có những chiều mang thứ sắc màu ủ dột như vậy. Thứ ánh sáng mạnh bạo bị vây hãm bởi mây dày. Nó tức tưởi tựa một cơ thể đang sung bỗng chốc bị hao hụt khi phải dồn sức chống đỡ bệnh hoạn. Vọng bị ung thư cuống họng, những câu nói đùa của Vọng không vì thế mà mất đi cái duyên dáng thường nhật. Người ta nhìn ra vẻ lạc hồn trên khuôn mặt Vọng, nhưng sau đó những nghi hoặc của họ thảy bị nhận chìm rất mau. Họ dễ dàng tìm thấy ngay câu trả lời: Có mấy đứa viết văn luôn giữ cho mặt mình được bình thường? Vênh váo ở chỗ này và buồn bực ở chốn khác. Một con gà trống khi đứng gáy và một con gà mái đang mắc đẻ.

  Có cái cầu vồng mọc mờ nhạt, lưng chừng phía sau nhà quàn. Óng ả, huyền hoặc. Mưa rơi ở nơi nào mà chốn này hơi nước lẫn về trong gió hiếm. Lá xao xác, như nó biết rùng mình khi ngửi ra mùi hương trầm phảng phất. Mùi tử khí rất Viet-nậm. Một nhân viên nhà quàn ngồi trực nơi bàn kê ở lối ra vào. Hắn có khuôn mặt láng lẫy đặc thù của một dân tộc hãnh diện về món Pizza, Spaghetti. Hắn vô cảm, không dị ứng với đám mây trì nặng từ trong trôi dạt ra, nhưng hắn sẽ đứng lên, can thiệp với bộ điệu chẳng mấy thiện cảm nếu thấy một kẻ buồn miệng đang đứng lớ ngớ châm lửa điếu thuốc. Sau lưng hắn là cái hành lang thắp đỏ những bóng điện yếu ớt, buồn tủi màu vàng đục. Hành lang quáng gà, là con lộ duy nhất mở ra những căn phòng có kẻ thuê nằm chờ hoá thân về với cát bụi. Và cái nhà quàn này, sao nó có đầy sự đe doạ như cái Baté motel trong phim Psycho? Thuỳ Mị bước lên những bậc cấp, cô nghĩ tới tấm màn nylon treo trong bồn tắm, cái bóng đen đứng thầm lặng bên ngoài và rồi tiếng kêu thảng thốt của những cái móc sắt khi tấm màn bị níu kéo, bứt rời.

  Vọng nằm căn thứ 5. Cửa rộng mở nhưng ngược lại có cái giá dựng tấm bảng đen đứng án một góc. Những con chữ bằng nhựa trắng sắp trên bảng xộc xệch như thứ đồ chơi cho trẻ con học tập mẫu tự và vọc đùa với toán số. Nó không tiên liệu trước sự rắc rối dành cho những thân chủ người ngoại quốc cho nên tên Vọng không cách nào có được cái dấu nặng bên dưới. Vong là vong thân, là tiêu vong, là biến mất là xoá sạch. Còn Vọng? Là sự chấn động, là dội về, là âm ba, là trùng trùng những sân si chẳng bao giờ diệt sạch.

  Những người đến viếng linh cửu thảy đều phải đi qua cái bục gỗ. Ngọn đèn, cây bút và cuốn sổ đặt ở đó lưu giữ chân bước rụt rè của họ lại trong phút giây. Nếu trong quang cảnh dễ làm chảy nước mắt này mà ai đó lòng còn dấy lên những tạp niệm u tối khác, giả như nhác thấy một “người đẹp” vừa xuất hiện sáng loà; thì họ rất dễ dàng để biết ngay ra cái xuất xứ hiển lộng kia. Tên họ và địa chỉ chưa khô nét mực còn nằm cứng người trên trang giấy.

  “Xin lỗi, cô là Thuỳ Mị có phải không?”

  Người con gái thoáng bối rối, hoặc giả đó là cái bối rối thường trực khi cô đặt chân vào lãnh địa của nhà quàn.

  “Lâu quá rồi, có thể Thuỳ Mị đã khuấy quên tôi”.

  Thuỳ Mị. 365 rue Vincent. Appt. #25. Ville St-Lảuent sẽ rụt rè ngó lên khuôn mặt thằng đàn ông. Trong lúc này, cô không thể bình tâm mà lục soạn trí nhớ mình được, vả lại cái đứa đứng gạ chuyện kia chẳng có đui què mẻ sứt gì ráo. Nó bình thường tới độ tầm thường, nó chẳng mang dấu vết dị hình để khiến mình phải thảng thốt nhìn nhận ra ngay. Thằng đàn ông hiểu được chuyện ấy hơn ai cả, hắn còn biết thêm một điều, là khi đứng gần kẻ chết, tuồng như lòng dạ của kẻ còn sống có phần nào mềm đi. Độ lượng hơn, rộng rãi hơn, quên bẵng đi những hoài nghi mà thường khi họ xem đó là cách ứng xử an toàn nhất trong cuộc sống.

  “Muốn hay không, khi đến nhìn mặt Vọng lần cuối này, mặc nhiên chúng ta đã có một sợi dây liên hệ nào đó rồi, Thuỳ Mị thấy không?”

  Giọng nói hắn nhỏ, gần như thì thầm bên tai cô. Làm như to tiếng hơn một chút thì có thể đánh thức Vọng dậy, và đó là điều mà chẳng ai muốn cả. Thuỳ Mị xem đó là cách lý giải hay nhất, cọng thêm chút tự trọng bởi không làm phiền đám đông. Cô cần một người đồng hành để giúp cô có sự can đảm khi đứng sát bên quan tài Vọng. Với cô, bao giờ người chết cũng dễ sợ cả và cô luôn ngờ vực câu nói: “Sợ là sợ người sống chứ ai lại đi sợ kẻ chết!” Trước khi bước lên bậc tam cấp, ở ngoài sân Thuỳ Mị đã nghe tiếng nói đùa của hai gã đàn ông: “Tụi này nó lấy chữ Bougie để cầu chứng môn bài mần ăn nghe cũng hay nhỉ? Mẹ, ông ngán tới độ teo bu-ri”. Thuỳ Mị hiểu chữ teo bu-ri nhằm ám chỉ cái vật gì và cô không cho lời đùa nghịch kia là vô duyên. Cô sợ nhìn mặt người chết, dẫu người đó là Vọng. Và cô sẽ không hiểu được bộ phận nào trên cơ thể cô sẽ teo lại khi đối đầu với niềm sợ hãi. Có một đứa tự nhận là người quen cũ khiến Thuỳ Mị đỡ phải teo… tim.

  “Tôi không biết cách thức vái lạy người chết. Tôi đi theo Thuỳ Mị để bắt chước học lóm, đồng ý không?”

  Thuỳ Mị gật đầu. Không ai đủ nhẫn tâm để từ chối lời yêu cầu đáng thương ấy cả.

  Vọng. Cuối cùng thì tôi cũng đến được gần anh. Tôi đến trễ và một lần nữa, giữa chúng ta luôn còn đó sự ngăn chia. Lần này thì trầm trọng hơn, nó chẳng giống trò chơi cút bắt nữa. Anh bị đạp mạng và anh sẽ thực sự biến mất. Còn tôi, bao lâu nữa thì tôi mới thực sự quên hẳn anh? Người ta bôi son trét phấn làm anh lạ lùng hẳn ra, anh trẻ trung anh tươi hồng tới độ kỳ cục. Phấn son là thứ của đàn bà, người ta cho phép đàn ông sử dụng khi mà kẻ đó đã thực sự xuôi tay. Anh có bực mình vì chuyện đó không? Thời trước, anh vẫn xa lánh những đứa mà anh bảo chúng nó luôn đeo mặt nạ. Anh luôn cô đơn, bởi vì trước tiên anh là một nghệ sĩ, và sau rốt, tôi đồng tình với anh một điều: Thật khó cho chúng ta kiếm được một người bạn chân tình, bên kia trái đất cũng như bên này bán cầu. Thôi anh đi, cõi vĩnh hằng kia biết đâu lại chẳng dễ thở hơn dương thế? Hằng năm, vào ngày này tôi sẽ nhớ thắp lên cho anh một nén hương.

  Thuỳ Mị bước ra khỏi đám đông, đi tới cửa. Cô dừng chân dưới bậc thềm, đứng hít thở mùi đất nồng mùi cỏ ẩm. Đầu hơi váng vất, đôi mắt cay. Thuỳ Mị nhìn nhớ ngoại cảnh một lát rồi mới biết đâu là trạm dừng của xe buýt để mang cô về lại thành phố.

  “Lên xe đi. Tôi sẽ chở Thuỳ Mị về”.

  Thuỳ Mị nhìn thằng đàn ông ngồi trong xe, trước tay lái. Xe nổ máy, lăn bánh chậm rãi bên hông cô.

  “Tôi tên Đán. Tôi nghĩ là sẽ có nhiều điều mà Thuỳ Mị muốn biết”.

  “Về chuyện gì?”

  “Về Vọng”.

  Đán. Cái tên chẳng đánh động chút gì vào ký ức Thuỳ Mị.

  “Anh với Vọng quan hệ ra sao?”

  “Lên xe rồi hẳn nói. Thứ bảy, đợi cả tiếng mới có xe buýt”.

  Thuỳ Mị nhìn quanh. Bên phải, đồng cỏ rộng và xa lộ vạt xẻ một đường đen hút mắt dẫn tới cây cầu treo. Xe cộ chạy ùa về phía đó như có ma đuổi. Hai ba giờ chiều, trời đất âm thầm chứa một nỗi buồn trĩu nặng làm chân đi chóng mỏi. Thuỳ Mị mở cửa, trong xe có tiếng nhạc quen thuộc, xa vắng. “Nhớ tới ngày nào cùng bước xuống… mùa thu quyến rũ anh rồi…”

  “Tại sao không rẽ tay trái?”

  “Đi theo lộ trình xe buýt à? Mình lấy xa lộ sẽ mau hơn”.

  “Bao lâu thì người ta sẽ chôn cất anh Vọng?”

  “Thứ hai. Có lẽ vậy”.

  “Tại sao ở bên đây cứ nghe tin người chết hoài, trong khi lý ra…”

  “Lý ra điều gì? Buồn bã, lạc lõng, thương nhớ cũng dễ làm mình đổ bệnh vậy!”

  “Tôi không tin. Ở bên nhà, mọi điều kiện sống đều tồi tệ hơn đây vậy mà người ta cứ sống nhăn. Sống trân tráo”.

  “Vì họ còn lòng tin. Họ chờ đợi, họ hy vọng”.

  “Hy vọng?”

  “Bị rớt xuống biển sông ai cũng mong leo được lên thuyền… Thuỳ Mị qua đây đã lâu chưa?”

  “Gần ba năm”.

  Thuỳ Mị trả lời, thoáng khó chịu. Cô nới lỏng sợi dây an toàn.

  “Anh Đán thì sao?”

  Đán nhìn chiếc áo trắng Thuỳ Mị mặc. Sợi dây đen gài chéo lên đó, luồn ở giữa và vì vậy ngực của Thuỳ Mị có cái gì đó bắt mắt.

  “Mười hai năm. Tôi sắp đổi xe lần thứ ba… Ý tôi muốn nói là xứ này, tuyết nó làm tuổi thọ của mỗi chiếc xe kéo dài được sáu năm thôi. Thuỳ Mị thấy đó, sắt thép còn vậy huống hồ con người!”

  “Anh quen anh Vọng trong trường hợp nào?”

  “Hồi nãy trong nhà quàn tôi cũng tự hỏi vậy mà không nhớ ra. Một trận nhậu? Một buổi ra mắt sách? Một cuộc triển lãm tranh? Dẫu sao thì chúng tôi cũng đã có với nhau những thứ gần như tình bạn. Tôi mến con người nghệ sĩ có ở Vọng… Thuỳ Mị khát không? Tụi mình ghé vào một quán nước nhé?”

  “Không cần thiết, khi khác đi. Tôi thấy chẳng được khoẻ”.

  Mây dồn xuống thành phố. Những vệt nắng loang lỗ rải đều trên đường bị chùi sạch đi. Trời sẽ đổ mưa, và mưa sẽ tắm gội đồng đều những thứ cắm trên mặt đất, chẳng bỏ sót. Người ta sẽ dễ dàng hơn trong việc xẻ xắn một cái mộ huyệt. Những cây dù đen sẽ trương ra, mưa tráng một lớp thuỷ tinh trước tầm nhìn, nhấp nhô những bóng đen di chuyển bên hàng thập tự trắng có trong một nghĩa trang gầy ốm bóng cây.

  “Chẳng được khoẻ? Có cần uống thuốc không? Advil? Tylenol?”

  “Anh có sẵn?”

  “Không. Gần đến nhà rồi. Đừng đổ thừa là lối lái xe của tôi dễ làm kẻ khác chóng mặt. Ai cũng thế cả, bước khỏi nhà quàn làm sao mà giữ lòng được thư thái?”

  Xe chạy qua một cái chợ lộ thiên. Mùi cá tanh ở đầu đường và cuối đường là mùi thơm của đào, dâu, cam, chuối trộn lẫn cùng đủ thứ hoa tươi.

  “Buổi tối khi chợ vãn, ở lòng đường còn gửi mùi lên ô cửa phòng tôi. May một điều là họ không hoán đổi vị trí cái chợ cá. Ban đêm thao thức, ngửi mùi trái cây vương vấn, tôi có cảm giác mình là một oan hồn đang hưởng “chùa” thứ hương hoa của bá tánh!”

  Thuỳ Mị đổ người ra trước khi xe dừng ở một vuông sân đất. Bên kia hàng rào lưới sắt có bọn nhỏ tụ tập đá banh, những thứ tiếng động không ngớt tràn ra ngoài đường cái, kể cả bụi bặm.

  “Vào nhà một lát cho biết. Tôi để dành cho Thuỳ Mị một ngạc nhiên”.

  “Tôi đang có mặt ở đây, giờ phút này, chưa đủ là một ngạc nhiên à?”

  Đán mở cánh cửa gỗ không phát tiếng, dùng lưng để dọn sẵn một lối đi.

  “Tôi có giữ được hai bức tranh Vọng vẽ đã lâu. Bảo đảm Thuỳ Mị sẽ xúc động khi nhìn lại chúng”.

  “Anh còn bảo đảm chuyện gì khác cho tôi không?”

  Thuỳ Mị nói khi bước vào phòng. Đán bật đèn, đóng hai lần cửa.

  “Đừng đùa. Hãy uống trước một viên thuốc cho bảo đảm rồi hẳn nói chuyện”.

  “Anh ở một mình?”

  “Tạm thời thì như vậy. Bởi vì cuối cùng thì ai cũng phải lập gia đình cả, đúng không?”

  “Chưa chắc”.

  “Thuỳ Mị ngồi xuống đó đi. Ừ, chưa chắc; nhưng có thêm một người trong nhà thì đỡ lạnh lùng, đỡ trống trải, đó là chưa nói tới trường hợp bị ốm đau… Tôi mở quạt máy cho mát, Thuỳ Mị thấy nóng không?”

  Gió đi qua rồi lại lùa về. Tóc Thuỳ Mị rối và tấm màn buông che cửa sổ lay động từng hồi. Căn phòng ngăn nắp. Thuỳ Mị nhận xét, bởi vì thực ra nó chẳng có gì nhiều để bày biện, để tạo nên sự lộn xộn. Tạm bợ, và dường như điều ấy không nhằm chứng minh chủ nhân là một kẻ độc thân. Đán từ phòng sau mang ra hai ly nước. Thuỳ Mị đón lấy uống rồi nhăn mặt đặt xuống bàn:

  “Thứ gì vậy?”

  “Một loại rượu nhẹ, để xua đuổi tử khí. Thuỳ Mị biết không, những tay làm ở nhà đòn, những đứa rửa ráy xác chết đều phải tợp rượu mạnh cả”.

  “Vậy à. Họ mượn nó để tránh đụng mặt với niềm sợ hãi?”

  “Không rõ. Tìm đến rượu thì có nhiều nguyên nhân, đa số đều phát xuất từ buồn nản… Thật lạ lùng, trước đây tôi quen được một người bạn do bởi ngồi chung bàn trong một cái đám cưới thịt rượu ê hề. Giờ này thì đám ma… nếu Thuỳ Mị cho phép tôi dùng tới chữ bạn”.

  “Vách trống trơn, tranh đâu không treo?”

  “Tôi treo trong phòng ngủ. Để tôi mang ra xem, và Thuỳ Mị sẽ hiểu do đâu tôi đặt nó trên đầu chỗ nằm”.

  Đán quay lưng. Hắn cao hơn Vọng, hơi chải chuốt. Hắn có dáng vẻ một tên làm ở cửa hiệu bán xe hơi, hoặc một công ty chuyên lo ba cái vụ bảo hiểm. Những công việc hoàn toàn trái khuấy với con người Vọng. Thuỳ Mị uống thêm một ngụm nước. Ngọt, chua, nồng và tê lạnh ở đầu lưỡi. Trong rượu tuồng như có pha sẵn một ít mùi vị trái cây. Một đằng nó làm giải khát và đằng khác nó bay biến đi mau, để lại một cần cổ khô khốc, đòi hỏi đền bù.

  “Trong hai bức, đây là bức mà tôi quý nhất”.

  Đán nói. Hắn đặt tấm tranh trên một chiếc ghế trống, kéo lùi sát vách, vừa đủ mãn nhãn tầm nhìn. Hắn vặn vẹo những ngón tay vào nhau, nhìn rõ nét đổi thay có trên gương mặt Thuỳ Mị. Nụ cười nở ra trên miệng hắn, tự mãn không kém một kẻ vừa làm nên một kỳ tích. Hắn đặt đít xuống mặt nệm, cái soà rùng mình lan truyền qua người Thuỳ Mị một cơn sóng. Nỗi váng vất có ở nhà quàn đã rút khỏi người Thuỳ Mị, thế vào đó cô đón nhận một sự rung động kỳ quặc.

  “Dưới chữ ký của Vọng có để năm. Đã mười lăm năm, theo tôi người trong tranh vẫn chẳng có gì đổi thay”.

  Thuỳ Mị mãi miết nhìn như đang bị thôi miên. Như một người ngồi trước gương soi và lạc hồn nuối tiếc khi nhìn ra sự tàn phai có trên nhan sắc mình. Tủi hờn và cảm động làm Thuỳ Mị muốn khóc. Thuỳ Mị khoả thân trong tranh nhìn tới cô bằng ánh mắt dịu dàng. Vọng vẽ thật xuất thần, tia nhìn đằm thắm kia nửa như an ủi cô, nửa biết đe doạ. Nó làm Thuỳ Mị ngạt thở.

  “Anh Đán. Tôi muốn… anh bán lại bức tranh này cho tôi”.

  “Bán nó? Theo cô thì tôi phải ra giá là bao nhiêu… Một tác phẩm nghệ thuật…”

  “Bao nhiêu cũng được… Anh nói đi”.

  Đán cười. Tiếng sắc, cao. Suốt buổi, lần đầu tiên Thuỳ Mị nghe giọng cười của hắn. Cô nghĩ, có gì bất thường đang rung nơi cần cổ kia.

  “Nếu tôi là đứa không túng thiếu, không cần tiền bạc thì Thuỳ Mị tính sao?”

  Ly rượu làm đầu Thuỳ Mị trì nặng. Mặt cô nóng và có lẽ cô chẳng còn chút sáng suốt để toan tính. Cô ngồi yên trên ghế, bềnh bồng với tất cả những hình ảnh cũ vừa lùa về. Trời nóng, chiếc áo thun ướt đẫm dán vào da thịt. Một góc vải trắng che mất nửa người Vọng, đầu tóc anh rối và con mắt dưới đó như một luồng sáng thỉnh thoảng quét lên cơ thể Thuỳ Mị. Nó có thể lột trần mình ra một cách kỳ diệu, trung thực đến độ phải phát hoảng khi mình nhìn thấy bề mặt tấm tranh. Nếu dùng cọ nhỏ để chấm một nốt ruồi son bên trên ngực trái thì khi ấy tranh với người sẽ là hai giọt nước.

  “Anh đừng chơi ác. Xin anh hiểu cho bức tranh này nguyên thuỷ là của tôi. Một ngàn đồng, anh đồng ý không?”

  Đán cởi ca-vàt ném xuống ghế, hắn trạc áo và xắn cao ống tay lên gần nách. Hắn có bôi đeỏoant ngăn mồ hôi và mũi Thuỳ Mị ngửi được thứ mùi thơm làm choáng váng. Bức tranh, ly rượu, căn phòng đóng kín cửa, quạt máy khuấy động thêm sự bần thần… Mọi thứ có vẻ như sắp đặt.

  “Trời đã đổ mưa, xem chừng nó giữ Thuỳ Mị lại đến tối”.

  “Anh Đán, thực ra thì anh muốn gì?”

  “Thuỳ Mị đoán thử coi”.

  Thuỳ Mị nhìn hắn. Không. Vọng chẳng thể có một người bạn như hắn. Cũng như hắn không thể làm chủ bức tranh này được. Không đủ tư cách!

  “Anh có bao rác không? Loại bao rác lớn”.

  “Để làm gì? Thế áo đi mưa à?”

  “Làm phiền anh bọc hộ bức tranh kia lại, xong rồi tôi sẽ nghe theo điều kiện đánh đổi của anh”.

  “Tốt lắm. Tôi rất yêu sự thẳng thắng của Thuỳ Mị. Tôi cũng rất có cảm tình với cái tên Thuỳ Mị. Thuỳ Mị… Tại sao lại không là Thông Minh? Làm thêm một cốc rượu nữa nhé?”

  “Sẵn lòng. Uống cho có can đảm”.

  “Nói nghe ghê vậy? Không sợ say sao?”

  “Được say lại càng tốt. Khi say thường người ta phải mửa ra, đúng không? Một ngày nào đó cái chợ cá đằng kia sẽ dọn tới đây cho xem, anh tin không?”

  Rượu đổ tràn ra ngoài ly, chảy ướt một vạt áo Thuỳ Mị. Màu trắng bị hoen ố, nước xâm thực mau trên sứa vải tựa cái tả lót của một đứa bé đang làm bậy. Chẳng hề chi. Rồi mưa sẽ tắm gội tuốt những dơ bẩn khác có trên người. Cơ thể Thuỳ Mị nóng ran. Cô nằm dài xuống ghế, đầu nhức buốt:

  “Tôi đọc ở đâu đó chuyện kể một bà mẹ thuê nhà ở gần chợ… Chắc anh chưa hề nghe qua? Ở gần chợ nên đứa nhỏ chửi thề như sáo. Hoảng quá bà mẹ liền mang con tới mướn nhà sát nách một trường học… Đã gói dùm tôi bức tranh chưa?”

  Cái ly thuỷ tinh trên tay Thuỳ Mị rơi xuống nền gỗ. Tiếng vỡ dội vào ngực cô đau râm ran một nỗi buồn của mất mát. Thuỳ Mị nghĩ tới những hạt nút bị cởi tháo ra, áo này áo nọ, quần này quần kia. Da dẻ sẽ nổi gai và sau đó… Cô nhắm nghiền mắt lại. Trong trí cô, khuôn mặt phấn son kỳ quái của Vọng lại hiện ra. Anh ta nhắm mắt nhưng sao khuôn mặt anh ta hoàn toàn không được thư giãn như một kẻ ngủ say. Vọng ơi, có lẽ em cũng đã chết một nửa người rồi!

  Mưa cào rầm rộ trên cửa gương. Quạt gió vẫn luân phiên thổi. Thuỳ Mị co rút người lại khi bên tai cô có tiếng thở rất gần. Hâm hấp nóng. Tấm nệm của futon lún xuống, mùi thuốc bôi nách xông đầy. Chiếc giày cao gót rời khỏi chân, lăn lóc đâu đó rồi nằm yên. Thuỳ Mị chìm dần, chìm… sâu. Bao lâu thì Vọng sẽ bị hạ huyệt?

Hồ Đình Nghiêm

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 10 Dec 2023

Bài 6

Văn bút Bidong
Nhà thơ Hoàng Vũ là một người rất yêu thơ, thích hoạt động văn nghệ. Mới đến đảo chưa lâu, Anh tìm gặp những người yêu thơ để thành lập nhóm “Thi Bút Bidong”. Anh cùng vài anh em gặp cố vấn Trương Mạnh Hùng, xin giúp đỡ trong việc sinh hoạt. Việc nầy xảy ra trước khi tôi làm việc ở phòng nầy.

Sau khi tờ Sinh Hoạt Cộng Đồng ra số đầu tiên, việc sinh hoạt của nhóm “Thi bút Bidong” được xúc tiến mạnh hơn. Tôi không có công gì trong việc nầy. Đó chỉ là công việc giữa Anh Hoàng Vũ, ông Nguyễn Mạnh Dạn và Cố vấn Hùng. Sự có mặt của tôi ở phòng nầy chỉ có tác dụng làm cho anh em sinh hoạt văn nghệ văn gừng mạnh dạn đến với phòng PTCĐ, không e ngại đến sự dòm ngó của phòng SB như anh em đã từng e ngại. Cũng vì sự xuất hiện của tờ SHCĐ, vì cần người viết, nên số anh em viết văn có mặt nhiều hơn nên anh Hoàng Vũ thay đổi tên nhóm “Thi bút Bidong” thành “Văn bút Bidong” cho phù hợp với tình hình thực tế lúc đó.

Anh Hoàng Vũ không những làm thơ hay mà còn rành chữ Nôm, chữ Nho. Hôm nhóm “Văn bút Bidong” tổ chức sinh hoạt ở một lớp học của Trường Sinh ngữ, đến thăm, tôi thấy trên bảng đen lớp học, có một bài thơ viết theo hai cách chữ Nôm của Anh Hoàng Vũ, do Anh viết sẵn lên đó, bằng phấn. Chữ viết rất đẹp. Tôi đứng nhìn bài thơ đó, hỏi Anh:

– “Một bài thơ nhưng Anh viết theo hai cách khác nhau, phải không Anh?”

Hoàng Vũ cười:

– “Tôi viết theo hai cách. Bài nầy,” – Anh chỉ bên phải, – “tôi viết chân phương. Bài nầy.” – Anh chỉ bài bên trái – “viết theo lối thảo.”

Nhìn hai bản viết một lúc, tôi nói:

– “Nhìn cách nào, Anh viết cũng đẹp. Tôi thích lối viết thảo, bay bướm hơn. Đúng là “Hoa tay thảo những nét, như phượng múa rồng bay.”

– “Đúng là người ta thường ưa cách viết thảo, bay bướm lắm. Chân phương là theo đúng bài bản. Viết thảo thì tùy hoa tay mỗi người.” Anh Hoàng Vũ giải thích.

Cách viết thảo, sau nầy, ở hải ngoại, người ta thuờng mô phỏng theo để viết chữ quốc ngữ mà nhà danh họa Vũ Hối gọi là “Thư họa”. Tôi cũng có một bản thư họa do anh Vũ Hối viết cho, về mấy câu trong kinh Hoa Nghiêm: “Từ nhãn thị chúng sanh.”
Vì phục tài của Anh, tôi thường hỏi chuyện Anh khá lâu, mỗi khi Hoàng Vũ ghé lại chỗ tôi làm việc chơi. Có một buổi tối, nghe trên dài RFI, nhà phê bình văn học Thụy Khuê giới thiệu thơ Quách Tấn, bà Thụy Khuê cho rằng Quách Tấn là người cuối cùng làm thơ theo lối cổ điển. Đem chuyện ấy hỏi Anh Hoàng Vũ, Anh bảo rằng Thụy Khuê nói sai.
Hiện giờ (khoảng các năm 1989, 90) ở Việt Nam còn rất nhiều người làm thơ theo lối cổ. Họ thành lập các nhóm thơ, có tên hội và sinh hoạt thường xuyên, tuy phải lén lút vì sợ Việt Cộng. Xin phép chính quyền Cộng Sản thì các vị nầy không muốn vì phải sinh hoạt theo đường lối, chủ trương, chính sách, làm thơ theo … chỉ thị. Họ không muốn.

Hoàng Vũ kể cho tôi nghe một số người, và hội thơ, cũng như sinh hoạt của họ, như tôi có thuật lại trong bài “Những nhà làm thơ cổ điển”, xin trích lại một đoạn:

“Những thi sĩ âm thầm làm thơ cổ điển hiện nay ở Việt Nam không phải là ít: Lạc Nam, Trương Sư Xuyên, Nam Hà, Vọng Chi (tức Thái Can, thi sĩ, bác sĩ, đã đi Pháp), Vũ Khắc Văn (Trác Ngọc), Trúc Khê (mới, không phải Trúc Khê Ngô văn Triện, cũ) Trúc Phong (đã đi Pháp), Trình Xuyên, Thu Vân (nữ), bà Song Hường, bà Mỹ Linh, Liên Huê (nữ), Trương Duy Hy (có lẽ đã qua Mỹ theo chương trình HO), Tuyết Ngọc, Toại Khang, Đan Phượng, Hành Sơn Lưu Vĩnh Thuật (đã qua đời), Vũ Hân (đã qua đời) Chính Hà (cháu 7 đời Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều) , Thường Quân Vĩnh Mạnh, Hoàng Vũ … Họ còn sống ở khắp cả ba miền Trung, Nam, Bắc và sinh hoạt trong các hội thơ như Thạch Động Tao Đàn, Hồng Đô Thi Các, Tao Đàn Thái Hòa …

Để tránh sự theo dõi, chú ý và có thể bắt giữ của chính quyền Cộng Sản Việt Nam, họ sinh hoạt không thường xuyên. Theo Hoàng Vũ, buổi họp thơ cuối cùng của ông trước khi trốn khỏi nước là vào năm 1988, tại Saigon, tại nhà của Thường Quân Vĩnh Mạnh, có Lạc Nam, Chính Hà (từ Bắc vào dự) và có cả Tô Kiều Ngân, nữ sĩ Cao Mỵ Nhân, mới tù “cải tạo” về.” (Xin xem toàn bài ở phần phụ lục)

Mười ba ngàn người tỵ nạn. Lúc ấy, tổng số người tỵ nạn, tính chung là bằng con số ấy. Tuy nhiên, trong đó, không ít là “tinh hoa” của người Việt: Bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhà thơ, nhà văn, ca sĩ… Trong cái tổng số ít ỏi đó, so với mấy chục triệu dân Việt Nam, không ít là người có tài, không phân biệt tuổi tác, giới tính.

Vì vậy, tôi xin trích lại đây vài bài thơ hay. Tôi không thể trích hết thơ và cũng không trích lại văn vì… dài quá. Các quí vị định cư đâu đó, nếu các bài thơ bài văn của quí vị đã thất lạc, muốn có lại để làm kỷ niệm, xin liên lạc với tôi. Tôi sẽ photocopy, gởi đến quí vị.

Dĩ nhiên, bài thơ tôi trích lại đầu tiên là của Hoàng Vũ. Sau khi định cư, ở Cali, ông có xuất bản một tập thơ. Tôi có được tặng, nhưng rồi, ba năm trước, ba lần lên bàn mổ, tôi mang theo để đọc sau khi mổ xong. Việc di chuyển trong bệnh viện từ phòng nầy qua phòng khác, trong khi tôi chưa tỉnh thuốc mê, tập thơ ông tặng lạc mất, nay chỉ còn một bài, trích trong tờ SHCĐ.

Với bóng
Hoàng Vũ

Ta cám ơn mình đó bóng ơi!
Bên nhau từ thuở mới ra đời
Ngày xa cố quận không đành bỏ,
Buổi tếch trùng dương chẳng nỡ rời

Gắn bó một lòng chung số mệnh.
Bôn ba hai đứa khắp phương trời
Lâu nay ta đã vô tình quá!
Chẳng vỗ về nhau lấy nửa lời

Pulau Bidong, 1990



Bài Thơ Trong Nỗi Đau

Nguyễn Mạnh An Dân


Trường học đã vắng người
Thư viện đìu hiu như ngày đóng cửa
Nụ cười từ lâu đã hiếm hoi mới nở
Giờ tắt hẵn trên môi
Mười ba ngàn trái tim cùng nói một lời
Hãy để chúng tôi làm người
Hãy cho chúng tôi được sống
Những giọt lệ buồn như lòng phải dấu
Sao tràn đổ bây giờ?
Này chị – Này anh – cụ lão – trẻ thơ
Ôi đồng bào tôi! Những người khốn khổ
Chúng ta muốn sống bình thường như tất cả
Sao đồng loại chối từ?

*

Sáng hôm nay điều ấy đến rồi!
Thảm họa – nhẹ nhàng gọi tên Thanh lọc
Rất ít nụ cười! Rất nhiều nước mắt!
Tám mươi phần trăm làm lại từ đầu
Hy vọng mịt mờ! Rất thật khổ đau!
Trăm tai biến đang thật gần, trước mắt!

*

Buồn có thể chia khi xảy ra khoảnh khắc
Rồi sẽ qua, sẽ hết trong đời!
Đồng bào tôi – Bidong – và khắp mọi nơi
Tai biến sẽ mang suốt trong cuộc sống
Thế giới Tự do – Đồng loại có người
Sao đủ cả mà như không ai cả

Pulau Bidong, 18-5-1990



Nếu Có Một Ngày

Mỹ Liên MC 404

Nếu có một ngày
Tôi trở về bên ấy
Tôi xin làm một cánh bèo trôi
Dòng nước chảy xuôi
Cánh bèo trôi giạt!
Tôi chẳng bao giờ hỏi han, thắc mắc
Vì một lần
Tôi đã ra đi!
Cũng không biết thế nào là Giải Thoát
Phải mua bằng Nước Mắt
Đốt cháy tháng ngày
Vẫn không thấy đâu là bờ bến
Quê hương ơi!
Sao tôi chạy trốn Người?
Có phải Người là nơi để thương để nhớ
Hay vì tôi đầu kiếp lầm nơi?



Sóng

Sóng mơn man bờ cát
Gió hôn làn tóc em
Vầng trăng soi sóng biếc
Thấm ngọt ngào hương đêm
Phương nào đi mỏi mắt
Lối về ngàn dặm xa!
Đường trường nhiều sương gió
Có gì nhắc nhở ta?

Mỹ Liên MC 404

Màn Sương Biển Động


Có màn sương giá buốt ngoài kia
Ngoài khơi của biển đông thăm thẳm
Có linh hồn người đi viễn xứ
Giăng lên cánh buồm nhỏ nhoi
Chờ cơn gió – Ngọn sóng xô đi
Vào biển trời mênh mông
Có ray rứt kỳ lạ cõi lòng
Ôi! Đêm nay ta ra đi
Sau mười mấy năm trường mòn mỏi
Có thể là:
Tôi đã sống sót – Đất liền còn mịt mờ xa xăm!
Hay hải đảo xanh rì giữa biển mênh mông
Có Tự do – Phố chợ thị thành nhộn nhịp!
Và có những cánh chim lượn quanh hải đảo



Con thuyền

Đang tê buốt trong màn sương
Lẫn quất đi tìm thị thành làng mạc…
Tìm mua thực phẩm để làm Tiệc
Mừng Tự do tỏa ánh sáng Bình minh
Hỡi!
Banthat, Bidong, Galang Bataan, Whitehead
Đang vui hay buồn? Đang lên cơn sốt!
Vì tình người băng giá lạnh lùng
Sao thầm lặng ẩn mình trong lãng quên



Hôm nay!

Tôi cúi xuống, trong đêm trường hải đảo
Nhìn thân phận – thân xác phủ rong rêu
Những xác thân còn thở mà trái tim đã vỡ
Đang cúi gập trên thân thể, nơi bến bờ Tự Do
Tôi cúi xuống trong sương giá biển đông!
Đang dày đặc cho mất cả tương lai
Đang che mất con đường vào thế giới
Và che kín khốn khổ – những mảnh đời lưu vong
Tôi cúi xuống đếm tháng ngày trôi qua
Đợi chờ thanh lọc! Đợi chờ những lá thư
Đợi chờ Hội nghị! – Đợi chờ Phái đoàn
Và đợi chờ khai sinh lại trong Tự Do
Tôi cúi xuống – tạc thơ vào hải đảo

Để rêu xanh ôm kín những thuyền nhân
Khi quê hương không còn lẽ sống
Những mảnh đời rướm máu, dưới Độc Tài
Hỡi ngày 14 sao nghiệt ngã đắng cay
Sao ghì chặt đội chân ta vào hải đảo
Làm rã rời đôi cánh vừa thoát khỏi ngục tù
Sao nỡ rào hải phận, – Sao nỡ xua đuổi đồng minh.
Hỡi mây: Bay ngang đồi Bidong
Cho ta gởi: Lời thơ vào mầu trắng Tự Do



Ta gởi lời:

– Kêu gọi lòng nhân đạo, có lẽ đã ngủ quên ở: Luân Đôn, Hồngkông, Bangkok
Hỡi tình người
Tôi đi tìm tự do bạn đang có
Hãy chia xẻ cùng tôi bầu trời
Một chỗ đứng dung thân
Vì quê hương tôi dã biến thành ngục tù vây hãm
Hỡi tình người! Hãy mở cửa
“Thế Giới Tự Do”

1990 – Phù Sa

Bởi vì 13 ngàn người tỵ nạn hiện đang sống trên đảo Bidong, kể từ tàu MC. 326 là đến sau 12 giờ đến ngày 14 tháng 3 là ngày “đóng cửa đảo” (Cut-off date) nên phải qua “thanh lọc” (Screening). Ai “đậu thanh lọc” (được xác nhận là người tỵ nạn chính trị) mới được đi định cư ở nước thứ ba, còn như “hỏng thanh lọc” thì có nguy cơ phải hồi hương, không sẽ bị “cưỡng bức hồi hương”.

Thành thử, các bài thơ trích dẫn ở trên đều là tâm rạng, nỗi lo lắng, sợ hãi, v.v… trước tình trạng thanh lọc. Về sự kiện nầy, tôi sẽ nói tiếp sau.

Trong các tác giả trích dẫn ở trên, có những người lớn tuổi. Riêng Mỹ Liên MC. 404 thì còn rất trẻ. Cô ta vượt biên cùng một người em gái tên Cầm. Thân phụ của họ là bạn đồng ngũ với cựu thiếu tá Trần Văn Lễ, người sau nầy là trưởng phòng SB thế cho ông Nghiêm.

Phụ lục:

Nói Chuyện thơ:

Những Nhà Làm Thơ

Cổ Điển

Hồi cuối năm 1990, bà (hay cô) Thụy Khuê của đài RFI (tiếng nói Quốc tế từ nước Pháp), nhân dịp thi sĩ Quách Tấn qua đời ở Việt Nam, có bài nói về nhà thơ cổ này và nhận định rằng: “Quách Tấn là nhà thơ cổ điển cuối cùng của thi ca Việt nam ở thế kỷ 20 này.”

Nói vậy là không đúng đâu!

Thời tiền chiến, trong khi phong trào thi ca lãng mạn đang lan rộng ở nước ta, người ta đua nhau làm thơ mới, từ hình thức đến nội dung, chịu ảnh hưởng không ít của thi ca lãng mạn Pháp thì Quách Tấn đi ngược lại. Ông làm thơ cổ điển, xuất bản một tập thơ cổ điển (tập “Mùa Cổ Điển”). Ông là đóa hoa cô đơn và nổi bật trong thời kỳ đó về những bài thơ làm theo lối cổ của ông, mà nổi tiếng nhất là bài “Đêm Thu nghe quạ kêu”, với nhiều thành ngữ, điển cố – lối làm thơ chứng tỏ sự uyên bác cổ văn mà rõ nhất là “Cung Oán Ngâm Khúc” của Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều. Đây là một bài thơ hay, tôi xin ghi lại như sau:

Đêm Thu Nghe Quạ Kêu

Từ Ô Y Hạng rũ rê sang

Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng

Bồn chồn thương kẻ nương sông bạc

Lặng lẽ nhà ai rụng giếng vàng

Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi

Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.

(Quách Tấn – Mùa Cổ Điển)

Ô y hạng: Ngõ áo thâm, tức là ngõ nhà quan, người trong họ mặc cùng một màu áo. Tỷ dụ như giòng họ ông Phan Đình Phùng (12 đời, đời nào cũng có người đổ đại khoa – tiến sĩ), dòng họ đại thi hào Nguyễn Du, dòng họ Thân Trọng, Hà Thúc, Nguyễn Khoa ở Huế, nhiều đời đổ đại khoa và làm quan to trong triều.

Bến Phong Kiều: Ý từ trong bài thơ Đường nổi tiếng “Phong Kiều Dạ bạc” của Trương Kế.

Xích Bích: Chỗ đóng quân của Tào Tháo trên sông Trường Giang. Khổng Minh bày mưu hỏa công cho Tôn Quyền đốt cháy thuyền của Tào.

&

Tôi không rõ bà Thụy Khuê rời Việt Nam năm nào và trong thời gian ở xứ người, dù bà thường hay bàn đến thơ văn Việt Nam, không chắc bà có dịp để tìm hiểu thêm về những nhà làm thơ cổ hiện đại. Tôi không nghĩ bà ấy cho rằng họ là người kém tài, không xứng để bà nói đến họ. Có thể bà chưa có dịp nói đến họ nhưng khẳng định Quách Tấn là “Nhà thơ Cổ Điển cuối cùng” thì hoàn toàn sai.

Những người làm thơ chân chính thì không về hùa với ai để dùng thơ làm nấc thang danh vọng như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, và cũng không làm thơ theo “Đơn Đặt hàng” của Hội nhà văn, nhà veo, của đảng (Cọng Sản). Bởi vậy, ngoài những nhà thơ và người ái mộ thơ với nhau, thơ của họ không được phổ biến rộng rãi và những Hội Thơ (Tao Đàn) của họ, đối với “Bác và Đảng” đều “Phi Pháp”. Họ phải hoạt động âm thầm, nhiều người không biết tới, nhất là “người nước ngoài”, “người có quốc tịch nước ngoài” thì không chắc biết tới.

Những thi sĩ âm thầm làm thơ cổ điển hiện nay ở Việt Nam không phải là ít: Lạc Nam, Trương Sư Xuyên, Nam Hà, Vọng Chi (tức Thái Can, thi sĩ, bác sĩ, đã đi Pháp), Vũ Khắc Văn (Trác Ngọc), Trúc Khê (mới, không phải Trúc Khê Ngô văn Triện, cũ) Trúc Phong (đã đi Pháp), Trình Xuyền, Thu Vân (nữ), bà Song Hường, bà Mỹ Linh, Liên Huê (nữ), Trương Duy Hy (có lẽ đã qua Mỹ theo chương trình HO), Tuyết Ngọc, Toại Khang, Đan Phượng, Hành Sơn Lưu Vĩnh Thuật (đã qua đời), Vũ Hân (đã qua đời) Chính Hà (cháu 7 đời Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều) , Thường Quân Vĩnh Mạnh, Hoàng Vũ … Họ còn sống ở khắp cả ba miền Trung, Nam, Bắc và sinh hoạt trong các hội thơ như Thạch Động Tao Đàn, Hồng Đô Thi Các, Tao Đàn Thái Hòa …

Để tránh sự theo dõi, chú ý và có thể bắt giữ của chính quyền Cọng Sản Việt Nam, họ sinh hoạt không thường xuyên. Theo Hoàng Vũ, buổi họp thơ cuối cùng của ông trước khi trốn khỏi nước là vào năm 1988, tại Saigon, nhà của Thường Quân Vĩnh Mạnh, có Lạc Nam, Chính Hà (từ Bắc vào dự) và có cả Tô Kiều Ngân, nữ sĩ Cao Mỵ Nhân, mới “cải tạo” về.

Năm 1989, sau khi đến Bidong một thơi gian ngắn, Hoàng Vũ thành lập ở đó nhóm “Thi Bút Bidong”, tổ chức nhiều buổi nói chuyện thơ. Chủ tọa là Hoàng Vũ, người điều khiển chương trình rất khéo là Trịnh Hí Phùng. Nghe thông báo, tôi có đến nghe và rất ngạc nhiên trước nét chữ Nho bay bướm của Hoàng Vũ. Ông ta viết được cả 2 loại: viết thảo và chân phương. Với loại nào, ông cũng tỏ ra là người tài hoa. Tôi trích in lại sau đây cả ba bản: Bản chữ Nho viết theo lối Chân Phương, Bản dịch âm và Bản dịch nghĩa để độc giả nhàn lãm, cùng với một số thơ khác của ông. Đây là những bài thơ đầu tiên, tôi hy vọng sẽ có dịp giới thiệu với độc giả nhiều bài thơ khác làm theo lối cổ điển nữa.

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 10 Dec 2023

Bài 5

Phòng Phát Triển Cộng Đồng.
Sau khi anh em chúng tôi nói chuyện với nhau về việc viết bài phải hết sức tránh dùng “Danh từ Việt Cộng”, một hôm, ông Ngô Văn Quảng gọi tôi tới, lưu ý tôi tờ báo phải tránh dùng những “từ Việt Cộng.”

Bực mình vì cái ông Quảng nầy, tôi hỏi ông:

– “Anh thấy bài nào trong tờ SHCD có dùng “danh từ Việt Cộng”?

– “Chưa thấy!” Anh ta trả lời, thật thà.

Tôi hỏi tiếp:

– “Theo anh nghĩ, những tiếng nào là “danh từ Việt Cộng”?

– “Chẳng hạn như “đảm bảo, “bảo đảm.” Anh đưa ví dụ.

– “Anh còn thấy tiếng nào nữa không? Anh cho tôi ví dụ đi!”

Anh ta lúng túng, không trả lời thêm được.

Tôi tự kềm chế cho khỏi nổi nóng bất tử:

– “Khi anh nói “Từ Việt Cộng” là anh đã dùng “danh từ Việt Cộng.” Hồi trước, khi còn đi học, tôi chỉ nghe thầy cô giảng “danh từ” chớ không nói trổng “từ”. Từ “danh từ” mới nảy sinh thêm “chủ từ”, “động từ”, “túc từ”, v.v… Ở vùng Quốc gia, sau nầy là miền Nam, chúng ta nói theo cách hồi xưa. Ngoài Bắc, họ gọi chung là “từ” sau đó mới có “danh từ”, “đại từ”, “túc từ”, v.v… Tôi không nói ai đúng ai sai, nhưng khi chúng ta bỏ cách nói của ngươi miền Nam mà nói theo cách của người miền Bắc là chúng ta đã bị “Việt Cộng hóa” rồi đấy. Vì tự ái, tôi không nói “Từ Việt Cộng” như anh. Tôi nói “Danh từ Việt Cộng” theo cách của chúng ta ngày trước. Sau nầy, khi không còn Việt Cộng, chính quyền Việt Nam có nhiệm vụ lập ra những hội đồng để xét lại việc nầy, mới thống nhứt được. Bây giờ, tôi không tự động “thống nhứt” với Việt Cộng như anh được.”

Nghỉ một lúc, tôi nói tiếp:

– “Thật ra, tôi đã viết một bài như vầy để lưu ý anh em. Bây giờ, không ít người dùng “Danh từ Việt Cộng” mà họ không hay. Này nhé:

– “Trước gọi là Sự việc, bây giờ gọi là Vụ việc,

– “Trước gọi là “Khoảng cách”, bây giờ gọi là “Cự ly”. Anh biết cự ly là cái gì không?” –

Thấy ông Trưởng Phòng ngồi ngẩn mặt ra, tôi giảng giải: “Cự ly là khoảng cách giữa hai cái cựa gà. Cự là cựa, ly là khoảng cách. Đó là danh từ Hán Việt. Việt Cộng không ưa dùng danh từ Hán Việt, không gọi “máy bay trực thăng” mà gọi “máy bay lên thẳng”, nhưng tại sao không dùng “khoảng cách” cho dễ hiểu mà lại dùng “cự ly”? Còn nhiều nữa, như “khắc phục khó khăn”. “Khắc phục khó khăn” là cái gì? Tại sao không nói vượt qua, hay giải quyết khó khăn như chúng ta dùng trước 1975”?

Tôi ít ưa ai dạy tôi một cách trịch thượng như thế. Ngồi ở văn phòng, gọi tôi tới trình diện, dạy tôi một cách ngớ ngẩn như vậy, làm sao tôi chịu được.

Khi tôi tới làm việc ở phòng PTCĐ, tôi chỉ nghĩ tới việc làm phát thanh, làm báo, v.v… chớ tôi có nghĩ tới cái ghế trưởng phòng. Các anh em tôi quen, như Hảo, Tộ, Liệu, Tường, ngoài việc nghĩ tới những công việc như tôi nói, chẳng ai xúi tôi làm trưởng phòng, chẳng ai đề nghị Cố vấn Trương Mạnh Hùng để tôi làm trưởng phòng cả. Cái chức trưởng phòng nầy là do đề nghị của Vĩnh Việt Phước. Có lần Phước nói với Hảo: “Để ông Quảng làm trưởng phòng PTCĐ vì ông ấy thiếu tá, anh Hải mới đại úy.”

Hảo cũng chẳng quan tâm tới việc đó, vì Hảo muốn tôi làm đúng việc tôi ưa thích mà thôi. Vì vậy, sau khi ông Quảng làm trưởng phòng, Hảo nói với tôi:

– “Đ. mẹ, cái thằng Phước nầy lưu manh. Tụi nó nói với tui thằng cha Quảng nầy khóa 12 Thủ Đức, mới lon đại úy mà nó phong thằng chả lên thiếu tá để cho làm trưởng phòng.”

Tôi cười, nói với Hảo:

– “Yên tâm học tập cải tạo đi” – tôi thường nhại câu cán bộ Việt Cộng thường nói ở trong các trại “tù cảo tạo”. Gì mà nóng rứa! Thằng cha Phước nầy chưa từng đi lính mà sao nó rành chuyện “lấy loon đè người” trong chế độ cũ. Nó làm gì thì làm, đừng đụng tới công việc của mình là được rồi.”

– “Nó mới gọi anh tới dằn mặt về việc “danh từ Việt Cộng” chớ sao không? Nó biết con mẹ gì? Nó dám dạy anh cách viết văn. Tui nóng chớ!”

– “Kệ mẹ nó, vui thì làm chơi, không vui thì nghỉ, ngày ngày ra thư viện đọc sách, có sao đâu!”

Thật ra, tôi cũng bực mình việc làm của Quảng. Tôi đi dạy trung học từ năm 1958, không ít học trò của tôi đi Thủ Đức từ khóa 11, 12. Tới 1975, có người đã là thiếu tá, cũng còn có ông còn đại úy. Ngô Văn Quảng cũng khóa 12 Thủ Đức, cũng đại úy, lại tính chuyện “lấy chức đè người”, gọi tôi dằn mặt để chứng tỏ anh ta có quyền thì anh ta dại lắm, không biết mình, biết người chút nào cả. Tuy nhiên, cũng từ đó về sau, không bao giờ anh ta nói gì với tôi nữa, nhất là sau khi tờ báo SHCĐ đăng bài tôi viết “Danh Từ Việt Cộng”. Bài nầy tôi gởi cho báo “Lửa Việt” ở Canada. Họ cũng đăng trên báo ấy. Họ thường gởi báo cho phòng PTCĐ.

Thật ra, tôi quá lo xa, cứ sợ thiếu người viết cho tờ SHCĐ. Dĩ nhiên, văn hào, thi hào thì khó kiếm nhưng người có khả năng viết thì cũng không thiếu. Hôm anh Nguyễn Ngọc Bảy thay ông Lê Chiêu Thông, giữ nhiệm vụ quản lý Bệnh Viện SickBay, (không rõ ông nầy có trùng tên với ông Lê Chiêu Thông trong vụ “Còi hụ Long An” hay không?!) (4) tình cờ tôi gặp cô Thủy, bạn ông Bảy. Qua nói chuyện công việc, cô Thủy nói hồi còn đi học, cô có viết tập san cho trường, tôi nói:

– “Đã viết báo hồi trước! Sao bây giờ lại không?”

Cô Thủy hứa sẽ gởi cho tờ SHCĐ một bài.

Không ngờ bài báo cô ta viết hay quá.

Nội dung câu chuyện thì không có gì gay cấn cả. Một người đàn bà đến đảo với một đứa con 5 tuổi. Ngày ngày, người mẹ lên làm thông dịch viên cho Cao ủy Tỵ nạn. Một hôm, trời nổi cơn bão nhẹ. Thấy gió thổi quá, người mẹ nghĩ tới con ở nhà khôg ai chăm sóc, đâm lo, không rõ thằng bé đang ở nhà hay bỏ đi chơi đâu đó, lỡ có chuyện gì xảy ra thì sao?! Người mẹ bèn xin phép Cao ủy về với con. Về tới nơi, té ra thằng bé đi chơi đâu đó, không có nhà. Người mẹ bỗng hốt hoảng đi tìm con, từ longhouse nầy qua longhouse khác, cứ “Cún ơi! Cún!”, tên đứa con trai mà gọi. Người mẹ đi giữa cơn bão biển, gió thổi ào ào, cây cối rung chuyển. Nhứt là những cây dừa lão, cây nào cũng trên dưới 50 tuổi, cao ba bốn chục mét, ngọn dừa lắc lư, những trái dừa cao gần muốn rớt. Lỡ có một trái rớt trúng đầu thì cũng không khác chi bị thiên lôi giáng cho một lưỡi tầm sét. Trong cơn giận dữ của ông trời như thế, người mẹ vẫn chịu khó đi tìm con, ướt át, bồn chồn, lo lắng, sợ hãi, mệt mõi…

Cái hay của câu chuyện là tác giả mô tả được tâm lý của người mẹ đi tìm con, vừa sâu sắc, vừa chi tiết, vừa cảm động, đầy tình mẫu tử.

Tôi đăng truyện ngắn ấy. Khi đem báo tới tặng cô Thủy làm việc ở văn phòng Cao ủy, tôi yêu cầu cô ta viết tiếp, không hiểu tại sao cô ta “lặn” luôn, không có bài thứ hai.

Tôi lại đi tìm người viết!

Nhớ hôm đầu tiên đi họp về việc làm tờ đặc san, khi còn làm việc ở phòng SB, ngồi trước mặt tôi là hai cô gái còn trẻ. Trước khi họp có người đến bắt tay tôi, thấy người gọi tên tôi, một cô quay lại hỏi:

– “Bác là ba của Hoàng-Hà Long?”

– “Vâng”, Tôi nói: “Hà Long là con gái đầu của tôi.”

– “Cháu là Hồng, bạn với Hà Long ở trường sư phạm.” Cô ta nói.

Tôi cười:

– “Cháu cũng ở trong nhóm “lục bình trôi”?

Cô ta cười:

– “Bác cũng biết, cháu ở trong nhóm. Hà-Long thứ tám.”

Bọn chúng có 8 đứa, chơi với nhau rất thân vì hai lý do: Ngụy, mà lại ngụy ròng, “ngụy chăm phần chăm”, tức là không có đứa nào bà con chi với “cách mạng” cả. Thứ hai, chúng nó thi vào y khoa. Điểm đậu là 18, chúng nó đứa nào cũng trên 20 nhưng không được học y, bị đầy qua sư phạm, như người ta đẩy lục bình nên 8 đứa chúng nó tự đặt tên là lục bình. (Việt Cộng gọi là lý lịch số 13). Lớn tuổi nhứt, đẹp nhứt, và điểm đậu cao nhứt là Phạm Thị Thanh Mai, con gái Bác sĩ Chuẩn tướng Phạm Hà Thanh. Hoàng-Hà Long, nhỏ tuổi nhứt, nhỏ con nhứt, – vào đại học mới 17 tuổi, được bọn chúng đặt tên là Tám. Đám nầy hao mòn lần lần: Vượt biên, bỏ học, ODP, v.v…

Hồng ở trong nhóm nầy, qua bạn bè, biết tên tôi nên quay lại chào hỏi tôi. Ngồi bên cạnh là Mỹ Liên, cùng trạc tuổi.

Tôi cũng lên Cao ủy, tìm hai “đứa” nầy, khuyến khích viết bài về phụ nữ. Mấy cô làm bên Trung Tâm Phụ Nữ của cô Cố vấn Hồng Bích, tôi đã thăm dò, không có khả năng viết. Phụ nữ trên đảo đông hơn đàn ông. Làm báo bỏ qua họ sao được. Trong hai cô nầy, Mỹ Liên viết được lắm, nhứt là những nhận định, phê bình, giải thích về gia đình, vệ sinh, ăn uống, chăm sóc trẻ con, v,v…

May mắn, tôi được nhiều người viết: Tự động họ đem bài đến cũng có, tôi đi tìm, yêu cầu viết, khuyến khích cũng có. Người viết càng ngày càng đông. Đó là vị: Vương Quân, Hồng Sơn, Hoài Ân, Hà Giang, Hồ Quang Đặng (Cựu Hiệu trưởng QĐ Quang Trung), Thúy Mỹ, Quỳnh Tân, Nguyễn Bình Định, Hoài Nhân, Trần Đình Nghị, Phạm Nam Quan, Nguyễn Phan Thái, Hoài Minh, Việt Cường – Bửu Phôi (nhạc), Xuân Minh, Vũ Nga, Nhật Di, Định Nhơn Hương (Cố vấn Trương Mạnh Hùng), Vương Quân, Đỗ Xuân Nguyên, Bảo Quốc, Hải Hồ, Long Huyền Thông, Ngọc Long, Hoàng Ngọc, Nguyễn Huy Phước, Trần Ngọc, T. Mỹ, Mỹ Liên MC 404, Phù Sa, Ngũ Liêm, Nguyễn Vĩnh Ngọc, T. Sơn, Tây Thành, Khôi Nguyên, Nguyễn Thanh Hoàng, T. Hải, Hoài Vân, Lam Thi, Minh Nam, Thế Nguyễn, Phạm Trần, Nhất Lam, K. Hùng, Phan Bình, Hùng Long. Việt Linh, Đại Bường, Hồng Gấm, Vi Vu, Lam Thi, Trần Nguyên Hãn, Ái Khanh, Như Hạnh, và nhạc sĩ Trường Sa (cựu Hải quân thiếu tá Nguyễn Thìn)…

Xin nói đôi điều về Trường Sa. Con người ông và cá tính ông rất tương phản. Ông có thân hình cao lớn; thông thường, ít ra, cao hơn người khác nửa cái đầu. Thân mình cũng “dềnh dàng” (Nói theo kiểu người Nam), nhưng cách nói năng, giọng điệu, bộ tịch thì bao giờ cũng nhỏ nhẹ, dịu dàng. Làm chung phòng SB với ông, tôi chưa từng thấy ông nói to với ai bao giờ. Nói to chứ đừng nói là “lớn tiếng”.

Hôm tầu MC 516 cặp cầu Jetty Bidong, giữa chính quyền Mã Lai và Cao ủy tỵ nạn tranh chấp: phía Cao ủy yêu cầu cho đồng bào lên bờ, phía Mã Lai không đồng ý, phải chờ cấp cao hơn của Mã Lai giải quyết.

Nó có một nguyên tắc rất “kỳ cục”: Ghe tuy cập vào cầu, nhưng chưa có ai lên cầu hay bờ biển. Nếu có một thuyền nhân nào đó, nhảy xuống biển, bơi vào cầu hay đất liền, là coi như Mã Lại “thua”. Còn ghe tuy cặp vào cầu, nhưng mọi người còn ở trên ghe thì coi như chưa tới đảo, có thể bị đẩy ra khơi. Người lái chiếc ghe vượt biên nầy là cựu Hải Quân Trung tá Châu Ngọc Tuấn, quê ở Quảng Tín, bạn thân của Trường Sa. Thương bạn, lại sợ ghe bạn bị đẩy ra khơi, vì chưa ai được lên bờ cả, Trường Sa cứ loay hoay, lo lắng suốt ba hôm tàu bị neo ngoài đầu cầu jetty như thế. Trông ông ta, nói theo thông tục, như “gà mắc đẻ”, vừa tội nghiệp cho ông (hơn là bạn ông còn ngoài ghe) vừa buồn cười. Trường Sa tìm mọi cách, kể cả việc nhờ mấy em thanh, thiếu niên làm việc cho khối tiếp liệu, hay cho tàu buôn hàng Mã Lai đem hàng từ đất liền ra cho “Cửa hàng Mã” (tiệm chạp phô trên đảo), những người nầy có thể ra tận đầu cầu jetty, tiếp tế lương thực và nước ngọt cho ông Tuấn đang kẹt trên ghe vượt biên.

Cũng thời gian nầy, thấy người ta tiễn đưa nhau đi định cư, ra tới cầu jetty, kẻ vui người khóc, nhạc sĩ Trường Sa sáng tác bài hát “Tiễn Em Ra Cầu Nhung Nhớ”. Có lẽ tôi là một trong những người đầu tiên, hân hạnh được ông ta tìm tới (ở văn phòng) hát cho nghe bản nhạc mới của ông.

Trường Sa thì đã nổi tiếng từ trước 1975, và bài hát mới nầy, cũng hay lắm. Phải chi có Lệ Thu hát nhạc Trường Sa thì hợp quá, hay quá. Đằng nầy, chính Trường Sa hát nhạc Trường Sa bằng cái giọng ồ ề của anh, cái hay mất đi 90%.

Nghe xong, tôi nói với anh ấy: “Hay lắm. Tôi nói thiệt, không phải lấy lòng. Mai mốt có nhạc hội, anh nhờ cô Vũ Nga hát cho. Anh đừng hát. Khó mà được người ta vỗ tay.”

Nghe tôi nói, Trường Sa cười hền hệt, như cái cười thông thường của anh. Những người chung quanh, nghe chuyện, chẳng ai không cười.

Cũng xin nói thêm về anh Trần Đình Nghị. Anh Nghị nguời Bắc, Đại úy Biệt Động Quân, nhà ở khu cư xá trên đường Trần Quí Cáp, gần ngã tư Hai Bà Trưng Saigon. Anh Nghị rất khoái làm phóng viên, bất cứ sinh hoạt quan trọng nào trên đảo, anh đều có mặt, chụp hình, viết bài. Viết bài xong, đưa tôi đánh máy, cho phát thanh và đăng lên báo, còn hình anh chụp thì chịu, in ra làm sao được, anh đành cất đem theo khi đi định cư, làm kỹ niệm. Sau khi định cư ở Úc, anh vẫn giữ liên lạc với tôi, vẫn làm phóng viên truyền hình. Hình anh chụp ở Úc, vác camera trên vai, to như một cái vali.

Ban Biên Tập tờ báo thì ghi:

Chịu trách nhiệm tổng quát: Hoàng Long Hải, Hoàng Vũ, Phụ trách ban biên tập: Nguyễn Mạnh An Dân,

Thường trực tòa soạn: Đỗ Xuân Nguyên, Hà Giang, Ngọc Hảo, Thanh Hữu.

Bìa: Hồ Kim Phong.

Minh họa: Hồ Kim Phong, Kim Phượng.

Việc chọn thơ thì nhận bài nào, tôi đưa cho ông Hoàng Vũ chọn lấy.

Văn, tôi đưa cho ông Nguyễn Mạnh An Dân, cũng làm như ông Hoàng Vũ.

Trên thực tế, chẳng ai chịu đánh máy bài (Không biết “đã tự” hay không có thì giờ… gì đó). Tôi là người cuối cùng, vừa chủ bút, vừa chủ nhiệm, chủ đánh máy, chủ đánh dấu, chủ ấn loát (đem đi quay roneo), chủ đóng tập, chủ phân phối. Cái gì tôi cũng “chủ” hết. Tôi nói đùa: “Nhân dân làm chủ chính là tui. Tôi làm chủ nên tôi là nhân dân…”

Tôi tự đánh máy vào giấy stencil, tự đánh dấu vì máy chữ ở trại tỵ nạn không có dấu chữ Việt, đem đi quay Roneo ở văn phòng Cố vấn Tieou, phụ trách giáo dục, sắp trang và đóng thành tập, đem phân phối cho các cơ quan và các khu người tỵ nạn cư trú A, B, C, D.

Thật ra, ngoại trừ đánh máy và đánh dấu, các việc khác đều có anh em phụ giúp, làm việc chung với nhau nên thật vui! Có một việc tôi không làm được, tôi mù tịt về việc nầy là vẽ bìa và vẽ trang trí các trang trong, phải nhờ các anh em có hoa tay vẽ giúp.

Sau khi ra số đầu, tôi bàn với anh em số tới phải có hình của trại Bidong. Bidong cũng có nhiều cảnh đẹp và hùng vĩ vì một bên là núi, một bên là biển. Có tới ba bốn bãi biển mà bãi khu C là đẹp nhứt. Đứng nơi bãi C, nhìn ra khơi là hòn Cá Mập, đảo hoang vì không có nước ngọt. Gọi là hòn Cá Mập vì hòn đảo kéo dài ra, một đầu cao, một đầu thấp như con cá mập đang ngóc đầu lên. Ngồi ở bãi biển khu A nhìn ra biển thì phía trước mặt, xa xa là dãy núi dài, tôi không biết tên, xương sống của bán đảo Mã Lai. Tuy nó không gần như khi tôi còn trẻ ngồi bên bờ sông Thạch Hãn nhìn lên rặng Trường Sơn, nhưng dãy núi nầy hùng vĩ cũng không kém gì Trường Sơn ở nước ta. Nhìn rặng núi ấy, tôi thấy nhớ nhà da diết, nhất là nhớ thời niên thiếu, khi 14, 15 tuổi, chưa xa xia đình, ngày ngày vui chơi cùng bạn bè, tắm táp, đùa giỡn trong dòng nước trong xanh của sông Thạch Hãn.

Về chuyện vẽ hình cho trang bìa số báo sắp tới, tôi nói với anh em:

– “Nên có hình “Ông già Bidong”. Hình đó có ý nghĩa nhứt.”

Thế rồi ông Nguyễn Mạnh Dạn nhận đảm đương công việc ấy. Không rõ anh ấy tự vẽ lấy hay nhờ ai vẽ giúp, mấy hôm sau, chúng tôi có được bức vẽ hình Ông già Bidong và đứa cháu gái nằm chết vắt trên tay ông. Hình vẽ đẹp lắm, nhưng khi “can” vào tờ stencil để in, thì bức hình không còn đẹp như trước. Khi in ra thì hình lem nhem, không rõ nét. Phương tiện in ấn khó khăn đành chịu vậy. Nếu như bây giờ thì khỏe quá, scan vào máy là xong. Bức hình ấy, sau đem triển lãm, rồi không biết nó thất lạc về đâu. Bất cẩn làm xảy ra nhiều điều đáng tiếc là vậy!

Một hôm, anh Hồ (bút hiệu Hà Giang), người thường cộng tác bằng các bài báo, vì không tham gia từ đầu nên không biết những ý tôi đã trình bày về tên tờ báo, hỏi tôi:

– “Sao anh không đặt tên tờ báo nghe cho hay hơn một chút.”

– “Tên gì bây giờ?” Tôi hỏi.

– “Niềm tin.” Anh Hồ nói.

– “Niềm Tin.” Tôi nhắc lại. Bỗng tôi hát đùa với anh câu hát trong một “Bài không tên số mấy đó” của Vũ Thành An. “Tôi biết tin ai bây giờ!!!” Rồi tôi nói tiếp: “Thời đại chúng ta, người ta gọi là thời đại khủng hoảng niềm tin, không ai tin ai được cả. Anh tin ai mà anh muốn đặt tên là “Niềm Tin”?

Hồ cười:

– “Tôi tin tôi!”

– “Anh tin anh thì quí lắm.” Rồi tôi nói đùa: “Nhiều khi tôi cũng chẳng tin tôi. Có điều chắc chắn là không bao giờ tôi tin “bác” hay “đảng”. Bọn xạo không!”

Ông Hồ cứ cải:

– “Nhưng người ta sống là phải có niềm tin chứ?”

Tôi nói:

– “Niềm tin là lẽ sống, mất niềm tin là mất lẽ sống, là tuyệt vọng, là đi tới cái chết. Không có niềm tin làm sao người ta định hướng cuộc đời. Không có niềm tin, “Tôi biết tin ai bây giờ” thì dễ phản bội.”

Một lúc tôi nói tiếp:

– “Kẹt một cái là khi nói niềm tin thì cái “tin” ấy, nội dung nó không phải là nhỏ. Nó ở trong tâm lý học, trong văn chương, trong giáo dục… mà tôi thì tấy khả năng chúng ta hạn chế. Viết như ông Dạn “Tự ái dân tộc” là cao lắm rồi. Thành phần tỵ nạn ở đảo thì anh biết rồi đấy, độc giả ở đảo của mình là ai? Tôi muốn thực tế, cứ “Con Trâu” (5) của Trần Tiêu mà viết là thiết thực hơn cả. Vì vậy, tôi mới lấy tên là “Sinh hoạt Cộng Đồng.”

Có lẽ nhiều người không đồng ý với tôi về cái “tính thực tế” đó. Họ muốn cái gì cao hơn, đẹp hơn, nên sau khi tôi rời tờ báo, thì nó được đặt tên là “Niềm Tin.”

Về chương trình phát thanh hằng ngày, tôi lấy tin, đánh máy rồi đưa cho cô Mỹ Duyên. Cô ta có vài “đệ tử” làm xướng ngôn viên. Họ cũng chịu khó tập nên đọc ít bị vấp váp khiến cho nhiều người vừa lòng. Đọc tin vấp váp, đọc trật, gián đoạn nhiều khi sai lạc cả ý nghĩa. Những bản tin do thông cáo của Cao ủy hay Task Force (lực lượng đặc nhiệm Mã Lai) hay của Khối An Ninh, Vệ Sinh, v.v… thì cứ nội dung của họ mà đọc.

Có lần tôi kể chuyện vui. Khi tôi còn làm việc ở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh, Trung Úy Nguyễn Đăng Đức kể: “Có thằng bé lớp Ba học bài như thế nầy “Năm nay em đã lớn, em không còn chơi bời lêu… em không còn chơi bời lêu… lổng, lổng.
Đấy, kể xong câu chuyện, tôi nói với cô Mỹ Duyên: Nhớ nhắc chừng mấy “đệ tử” của cô, đọc cho hết câu! Đọc sai, cứ tự nhiên nói: “Xin lỗi thính giả, tôi xin đọc lại”, rồi đọc lại cho đúng cả câu; cũng như khi giới thiệu ban phát thanh hay ban nào đó trong nội bộ, xướng ngôn viên phải giới thiệu các bạn của mình ở trong ban trước, sau chót mới giới thiệu tên mình. Nếu tự giới thiệu mình trước tiên, người ta cho mình có “văn hóa Chí Phèo”. Sợ cô Mỹ Duyên chưa rõ, tôi nói thêm: “Văn hóa Chí Phèo là Văn hóa Vô sản đấy!”

&

Về tin tình hình quốc tế, Việt Nam, mỗi đêm, tôi nghe đài BBC, đài VOA, đài Úc, thu băng rồi sáng hôm sau, lên phòng làm việc, tôi vừa nghe lại, vừa đánh máy. Công việc chỉ một mình tôi làm, cũng vất vả. May mắn, có một người quen rời đảo, đi định cư, cho tôi một cái radio cassette hiệu Sony, còn mới, nên tôi có phương tiện làm tin. Khi rời trại tỵ nạn, tôi tặng cái radio cassette nầy cho bác sĩ Vũ Ngọc Khuê. Vả lại, tôi có thói quen nghe radio từ mấy chục năm nay, ngoại trừ hơn 7 năm trong trại tù Việt Cộng, nên tuy vất vả mà cũng thích thú.

Làm công việc phát thanh, tôi khám phá ra một điều mới lạ và thích thú khác nữa. Lúc bấy giờ đang có tranh giải bóng tròn Euro. Làm bản tin, tôi cũng ghi lại các cuộc tranh giải ngày hôm trước, các đội gặp nhau, đội nào thắng, đội nào bại, thua bao nhiêu bàn, ai đá hay nhất, ai làm bàn nhiều nhứt, ai vua phá lưới… Cứ Xuân Hồng, Vĩnh Phúc, Đỗ Văn nói như thế nào, tôi ghi lại y chang như vậy.

Sau khi phát thanh, có lẽ vì những lý do nào đó, người ta nghe không kịp, nhứt là đám thanh niên. Họ tranh cãi nhau và kéo nhau lên phòng PTCĐ hỏi lại cho rõ. Tôi bèn xin ông Cố vấn Hùng kéo ra ngoài hành lang của phòng một tấm bảng đen có chân đứng, rồi dán bản tin trong ngày lên đó, để ai muốn xem thì cứ đến đó đọc lại. Vậy nên, cứ mỗi sáng sớm, đám thanh niên chen nhau đọc bản tin thể thao tranh giải; họ cãi nhau, khen chê, rất vui… Tất cả anh em chúng tôi vui lây cảnh đó. Để họ khỏi chờ đợi, tôi phải đi làm sớm, làm bản tin sớm, dán bản tin lên bảng sớm để “khán giả bóng đá hàm thụ” khỏi chờ đợi. Giờ phát thanh thường trễ hơn, 11 giờ trưa.

Sự kiện nầy cũng chứng minh lòng ham chuộng môn bóng đá của người Việt Nam.

Việc phát thanh cũng gây đụng chạm. Một hôm tôi nhận một bài, phê phán một cách gay gắt một số người, nhờ có thân nhân ở hải ngoại gởi tiền về nhiều, sinh ra ăn chơi, nay cặp cô nầy, mai cặp cô khác. Một số người chế độ cũ, thay vì làm gương, phải chứng tỏ rằng mình là người đi tìm tự do, chống Cộng sản thì cũng lại sinh tật. Câu cuối trong bài viết đại ý là “Chúng ta không phải là những người đi tìm lại “thời hoàng kim”. Tôi để ý câu nầy lắm và trước khi cho phát thanh, tôi có trình bày với ông Cô vấn Trương Mạnh Hùng rằng câu nầy sẽ có người phản ứng đây. Có thể ai đó cho rằng mình nói xấu họ, nhưng đây là thực tế của trại.

Việc “sinh tật” nầy đáng phê phán lắm. Ông Cố vấn Hùng bảo cứ phát đi, đừng ngại. Hễ ai có phản ứng, ông ấy sẽ giải thích với họ. Cô Mỹ Duyên, người phụ trách phát thanh cũng đồng ý như thế. Quả nhiên, phát thanh lúc 11 giờ trưa, chưa đầy nửa giờ đồng hồ sau, ông Cựu Đại tá Nguyễn Thiều, gặp ông Cố vấn Hùng yêu cầu bỏ câu ấy. Ông Cố vấn Hùng không đồng ý, khi về phòng nói lại với chúng tôi. Ai nghe cũng cười.

Cô Mỹ Duyên nói: “Sợ thì đừng làm.” Không rõ cô ta nói ai? Dĩ nhiên khi chúng tôi đã cho phát thanh là không sợ mấy ổng. Còn mấy ổng sợ bị người ta phê phán thì mấy ổng đừng sinh tật. Vậy có phải là hay không???!!!

Đang ngồi làm việc, nghe chuyện “phản ứng” Cố vấn Hùng nói lại với mọi người ở trong phòng, tôi bỗng nhớ một câu trong Lục Vân Tiên, bèn đọc to cho mọi người nghe:

“Ở đây nào phải trường thi,

Ra đề, hạn vận, một khi buộc ràng.

Bửu Tộ, vốn hay đùa, nói to lên:

“Tới đảo rồi ông ơi! Tới đảo rồi, đâu còn Việt Cộng nữa!”

Thấy vui, các anh em khác cũng nhao nhao lên: “Tới đảo rồi! Tới đảo rồi.” Đó là câu reo vui của người vượt biển khi tàu vượt biên tới được đảo tỵ nạn.

Khi mới tới đảo, tôi có đi xem một buổi triển lãm do phòng Phát Triển Cộng Đồng tổ chức. Bây giờ, tôi đề nghị với Cố vấn Hùng tổ chức thêm một lần nữa. Phương tiện như giấy, bút, màu, v.v… do phòng PTCD cung cấp cho ai muốn tham gia. Phần đông là những tranh vẽ, hoặc hàng thủ công như những chiếc ghe vượt biên bằng gỗ mỏng, v.v… Phòng Dịch Vụ của Nguyễn Dương Hảo và chính anh ấy đảm trách việc triển lãm nầy. Hôm khai trương, tôi thấy nhiều hàng thủ công làm rất kheo tay. Nhiều người tỏ ý muốn mua để khi đi định cư mang theo làm kỷ niệm. Cũng từ đó, nhiều người phát triển việc làm thuyền gỗ thủ công tại chỗ ở để bán cho người đi định cư.

Về tranh vẽ, bức tranh đoạt giải nhứt rất có ý nghĩa. Bối cảnh bức tranh là nửa nước: màu xanh đậm; nửa trời: màu xanh nhạt, không có núi non hay bờ bến gì cả, mênh mông giữa biển trời. Ở giữa là hình ba bàn tay màu trắng hồng có ba vị thế khác nhau: Bàn tay thứ nhứt, buông các ngón ra, coi như chịu thua số phận; bàn tay thứ hai là nắm đấm; bàn tay thứ ba là hai ngón tay hình chữ V: Thắng lợi. Buông xuôi thì chết, đấu tranh sẽ thắng lợi. Đó là số phận người tỵ nạn trước “rào” cản thanh lọc

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 10 Dec 2023

Bài 4

Phòng Phát Triển Cộng Đồng (PTCĐ).
Khi tôi nhận việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng thì một vài anh em trước kia làm việc cho phòng SB nay cũng đã qua làm việc cho phòng PTCĐ rồi, như kỹ sư Nguyễn Dương Hảo, anh Hồ Đắc Liệu, nguyên Trung úy phòng 2 Sư Đoàn 1/ BB. Những người mới vô làm thì có Bửu Tộ, kỹ sư canh nông. Ông Nguỵ Vũ, ông Lê Vĩnh Tường, hai người nầy phụ trách ban Văn Nghệ. Người cũ thì tôi không biết ai không, ngoại trừ cô Nguyễn Thị Mỹ Duyên. Ông Vĩnh Việt Phước, không làm gì ở đây nhưng là người đứng sau lưng Cố vấn Trương Mạnh Hùng, ưa giựt giây ông nầy.

Ngay sáng hôm tôi nhận việc, ông Cố vấn Trương Mạnh Hùng kêu mọi người lại họp ngay tại bàn tôi làm việc. Họp ở đây rất tiện. Đó là một cái bàn dài bằng gỗ ép, hai cái băng dài đặt hai bên. Tôi ngồi trong góc, sát cửa sổ.

Nội dung buổi họp là bàn về việc phát thanh, làm tờ đặc san, v.v…

Truớc hết, tôi nói chuyện làm tờ đặc san.

Khi tôi mới tới đảo ít lâu, nghe trên loa gọi chung, ai có nhiệt tình hay khả năng gì đó, đến văn phòng trại tham dự buổi họp để bàn việc làm một tờ đặc san cho trại.

Tại buổi họp đó, trước hết, người ta bàn về việc đặt tên cho đặc san. Ông Cựu Đại tá Nguyễn Thiều thì đề nghị một cái tên nghe rất kêu: “Khát Vọng Tự Do.” Một người ngồi bên tôi, không nhớ là ai, nói đùa: “Mấy hôm ở trên ghe, không có nước uống, khát thiệt! Nay tới đảo rồi, mỗi ngày Mã Lai phát cho mỗi người môt xô nước ngọt, khát gì nữa.”

Có người đề nghị đặt tên là “Vượt Sóng”. Và người ta còn đề nghị nhiều tên nữa, tôi không nhớ hết.

Về nội dung, tờ báo nói cái gì, không nghe bàn kỹ, chỉ nghe kêu gọi ai có bài nào xin gởi tới, sẽ có ban tuyển chọn để cho đăng vô đặc san. Tôi không có ý kiến chi cả, họp cho biết và cũng không nghĩ rằng tôi sẽ gởi bài.

Từng viết bài viết bung hồi còn đi học, tôi thấy việc làm báo làm bung thường “phe đảng”, chọn bài phe ta, và hay “mặc áo thụng vái nhau.” Thứ hai nữa, không tìm được những người có khả năng để mời cộng tác, thì tờ đặc san sẽ rất “tào lao”, nội dung chẳng nói lên được chi cả.

Tuy nhiên, trong số những người đến họp, tôi để ý một ông già, – cũng chưa già lắm, nhưng vì gầy nên trông già vậy thôi -, nói năng mạch lạc, rõ ràng, giọng Quảng Nam. Tôi nghĩ thầm: “Mấy ông ngũ phụng tề phi, Quảng Nam hay cãi (2), nhưng có khả năng lắm đây.” Ấy là kinh nghiệm hồi còn đi học với mấy anh “trong Quảng ra thi” (3).

Hồi ấy Quảng Nam chưa có đệ nhị cấp, mấy tay Quảng Nam phải ra học chung với dân Huế và Quảng Trị ở Khải Định, sau vài năm đổi tên trường Quốc Học Ngô Đình Diệm; và hồi cộng tác với tờ “Mùa Lúa Mới”.

Các ông Võ Thu Tịnh, Đỗ Tấn, Vũ Hân, Kỳ Quang là dân Nam Ngãi Bình Phú hết. Sau khi ông Võ Thu Tịnh vào Nam, tờ báo giao lại cho giáo sư Lê Hữu Mục, đổi tên là Rạng Đông, mấy ông Nam Ngãi Bình Phú không cộng tác nữa, tờ Rạng Đông như đứa bé thiếu dinh dưỡng, không mấy hồi thì “tiêu diêu.”

Kiểu nầy thì Khát Vọng Tự Do hay Vượt Sóng, chưa sinh đã tử, mặc dù ông Cố vấn Trương Mạnh Hùng hứa hẹn giúp đỡ việc in ấn.

Về tờ báo, tôi phát biểu:

“Về in ấn, có tiền thì đưa qua đất liền in, không thì quay roneo cũng được. Việc ấn loát hay đấy nhưng không quan trọng lắm. Trước hết là mục đích của tờ báo và người tham gia viết bài.

Làm báo để làm chi? Làm cho đồng bào có cái đọc. Họ muốn đọc gì? Trước hết là tin tức sinh hoạt trên đảo; thứ đến là việc định cư; thứ ba, điều bây giờ ai cũng lo lắng là phải thanh lọc. Thanh lọc như thế nào chưa ai biết! Vậy tờ báo phải đáp ứng những cái đó.

Ấy cũng là kinh nghiệm hồi tôi nhận lại tờ “Kỵ Binh”, viết cho lính Thiết Giáp đọc, từ tay ông bạn học cũ giao cho: Đại úy Lương Thúc Trình, khi ông nầy biệt phái về bộ Giáo Dục.

Thứ hai là giáo dục. Không phải dậy chữ nghĩa hay tiếng Anh, tiếng Pháp. Điều ấy có khối Giáo Dục của Cao ủy lo. Giáo dục chúng tôi nói ở đây là vệ sinh, trật tự… Phải phối hợp với Khối Vệ Sinh, cổ động, tuyên truyền cho công việc của họ. Longhouse nào cũng phải sạch sẽ, tránh bệnh, tránh dịch. Phát động một phong trào diệt chuột, chuột nhiều quá, đông gấp ba gấp bốn số người tỵ nạn, kinh quá. Phối hợp với khối An Ninh trong việc giữ gìn an ninh trật tự, gìn giữ văn hóa phong tục của người Việt Nam. Mấy bà mấy cô ở đảo, không ít người hiểu lầm “giải phóng người phụ nữ” và “tự do”, “tự do” và “lang chạ”, nên việc phá thai xảy ra thường ngày, bừa bãi, vô luật pháp, không hợp y tế vệ sinh… Cuối cùng mới là văn nghệ văn gừng, đọc giải trí, sinh hoạt văn chương, văn nghệ, v.v… Liệu chừng đó việc có làm được không với chừng nầy người, hay phải tìm thêm người có khả năng viết lách. Tôi nói khả năng viết lách, không hy vọng có nhiều nhà văn nhà thơ. Nếu có thì cũng chỉ vài ba người, không có nhiều đâu.

Sau khi bàn bạc, mọi người đồng ý với cái tên tôi đề nghị, lấy tên tờ báo là “Sinh hoạt Cộng Đồng” (SHCĐ) vì mục đích tờ báo là nói tới các “Sinh hoạt” của “Cộng đồng”. Đặt những cái tên nghe thật gồ ghề mà nội dung không có gì, sợ người ta cười cho. Thứ hai là tìm người cộng tác, chừng nầy người không làm nỗi.

Tìm người?

Tôi qua văn phòng trại tìm “ông già” tôi để ý hôm trước, mới biết đó là ông Hoàng Vũ. Tôi mời ông Hoàng Vũ lên phòng PTCĐ, nói rõ mục đích việc ra tờ báo. Ông Hoàng Vũ lôi thêm một người đi theo, còn trẻ, là ông Nguyễn Mạnh Dạn, tức nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân.

Tôi trình bày với hai người nầy việc làm tờ “Sinh hoạt Cộng Đồng” và việc phải “tấn công” vào cách sinh hoạt của một số đông đồng bào trên đảo, từ vệ sinh, quan hệ trai gái, thậm chí không ít cô chịu “làm tiền” với đàn ông trên đảo, với nhân viên Mã Lai, v.v… Ông Nguyễn Mạnh Dạn hứa sẽ viết một bài.

Tôi nói:

– “Những bài về mục đích nầy, anh em mình sẽ phát thanh trước, trong buổi phát thanh hằng ngày, cho nóng, thời gian tính. Đăng báo sợ chậm vì còn phải in ấn lôi thôi.”

Chiều hôm đó, ông Nguyễn Mạnh Dạn đưa một bài, nhan đề là “Tự Ái Dân tộc”. Bài viết không những hay mà sát với thực tế nên hôm sau phát trong chương phát thanh. Tôi đề nghị với cô Mỹ Duyên, người phụ trách chương trình đọc, là nên đọc đi đọc lại nhiều lần, người ta mới “thấm”. Bài ấy đăng ngay trong tờ “SHCĐ số 1, cùng với một bài thơ hay của Hoàng Vũ: “Chùm Thơ treo đỉnh gió” Bài thơ không chỉ có 4 câu, hay lắm. Tiếc rằng, tôi đã để lạc tờ SHCĐ nầy đâu đó, tìm mãi không được. Bốn câu sau đây là hay nhứt, nói lên tâm trạng người tỵ nạn trước ngưỡng cửa thanh lọc thuyền nhân:

Chín tầng lồng lộng cao xanh ấy,

“Chúa, Phật ngài đang ngự nơi nào

Muốn mượn chùm thơ treo đỉnh gió

Gọi tình người bốn biển năm châu.”

Hoàng Vũ làm bài thơ nầy lúc tình trạng đồng bào tỵ nạn đang lơ lững, chưa biết tương lai sẽ ra sao! Ở hải ngoại, người ta đang vận động để bỏ thanh lọc, ai tới được đảo rồi sẽ cho đi định cư. Tuy nhiên, xem ra tình hình cũng khá tuyệt vọng.

Bidong là một hòn núi nổi lên giữa biển. Khu định cư ở phía đông đảo, ít gió. Nhưng khi ai trèo lên tới đỉnh núi thì gió bên phía Tây thổi tới lồng lộng nên người ta gọi là “Đỉnh gió.” Không rõ ai đặt ra cái tên nầy. Chữ đỉnh gió trong bài thơ trên là nói tới cái đỉnh núi ấy. Nó khác với “Đỉnh Gió Hú” hay còn gọi là “”Đồi Gió Hú” củ Emily Bronté.

Ông Hoàng Vũ chỉ làm thơ, không viết văn. Ông Nguyễn Mạnh Dạn thì viết văn, không biết có làm thơ hay không. Có lẽ ở Bidong, ông chưa từng cho đăng bài thơ nào lên tờ SHCĐ. Thấy cần thêm người tham gia, ông Hoàng Vũ, ông Nguyễn Mạnh Dạn cũng như vài anh em khác tìm tòi ai có khả năng thì mời tham gia viết báo. Sau đó, cũng có thêm một ít vị nữa, trong đó có hai người cháu của ông Hoàng Vũ, cũng thuộc quê hương “hay cãi” (2). Tuy nhiên, người làm thơ thì nhiều mà người viết văn thì ít nên việc ra một tờ báo hàng tháng, dày không bao nhiêu trang, cũng khá vất vả cho tôi.

Tôi liên lạc được với ông Phạm Đình Chiến, tu xuất, cử nhân Anh Văn, một người rất năng nổ trong công việc thiện nguyện, hợp tác với tờ báo, nhưng anh ấy chỉ tham gia những gì cần có Anh ngữ mà thôi.

Một hôm, đoàn Thanh Niên Thiện Chí của cô Mỹ Duyên làm công tác dọn vệ sinh ở con suối từ trên núi chảy xuống, ngang giữa khu B và khu D. Con suối nầy dơ lắm vì người Việt có thói quen rất “truyền thống”, hễ cái gì dư thừa, không muốn giữ trong nhà mình nữa thì quẳng ra đường, nơi công cộng, sân bóng, công viên và con suối như ở Bidong.

Tôi nói với Cựu Trung úy Hồ Đắc Liệu:

– “Ông xuống coi người ta làm như thế nào rồi viết một bài phóng sự đi. Tụi mình cần mà!”

Liệu nói:

– “Tui mà viết cái gì. Xưa tới giờ, tui có viết khi nào đâu!”

– “Ông cứ viết như hồi mình còn đi học viết văn tả cảnh vậy. Thấy chi viết nấy! Khó gì đâu!”

– “Lỡ mình viết tối nghĩa, viết sai chữ, dùng “danh từ Việt Cộng” để người ta chưởi cho.”

Tôi khuyến khích:

– “Cứ viết đi, tui sẽ xem lại, cần thì tui sửa giúp ông. Mình cứ ngại ngùng thành thấy khó.”

Nghe tôi xúi, Liệu cầm cuốn sổ tay đi. Trưa, ông ta về, ngồi bên cạnh tôi, lúi húi viết. Tôi giả bộ làm lơ, tránh không nhìn, sợ ông ta mắc cở.

Chiều ông Liệu cho tôi xem bài viết. Xem xong, tôi cười:

– “Thấy chưa! Học trò Huế viết văn hay lắm! Viết vậy chớ còn gì. Tui chỉ sửa vài chỗ, ông sợ “danh từ Việt Cộng” thôi.

Quả thật bài phóng sự ông ta viết hay lắm. Đọc ở trong phòng, ai cũng khen hay. Sau đó, đem phát thanh và đăng báo SHCĐ.

Sau đó thì ông Liệu hăng hái lắm. Hễ đâu có những sinh hoạt gì, như “Phong trào diệt chuột”, các buổi họp của trại, của Cao ủy Tỵ nạn giải thích về thanh lọc, v.v… ông Liệu tham dự về viết lại đầy đủ, chi tiết. Đồng bào ai đi họp về quên mất hay muốn tìm hiểu trở lại thì tìm trong báo SHCD mà đọc. Việc ấy khiến tôi phải xin Cố vấn Trương Mạnh Hùng gia tăng số lượng in, từ 150 lên 300 cho đồng bào khỏi mất công chạy quanh tìm báo hay lên xin ở phòng SHCĐ.

Sau đó, có lần kỹ sư Nguyễn Dương Hảo nói với tôi:

– “Thằng Liệu (Liệu với Hảo là bạn thân, Liệu bỏ phòng SB về phòng PTCĐ là nghe lời Hảo) nó nói làm việc với anh học được nhiều cái hay lắm. Anh chịu khó và tận tình với công việc, với anh em.”

Tôi nói:

– “Bây giờ là lúc mình có thể làm việc cho người khác, cho đồng bào mà mình khỏe re. Ở Việt Nam hay mai mốt đi định cư, lo làm lo ăn, không còn thì giờ đâu! Ở đây cơm ngày ba bữa có Cao ủy lo, áo quần cần bao nhiêu có bấy nhiêu, có lo gì đâu!”

Sau đó, trong một buổi họp đông ngưòi, tôi nói lại ý kiến ấy để khuyến khích anh em tham gia những việc thiện nguyện. Quả thật, nhận xét tôi không sai. Sau nầy, khi đồng bào phải thanh lọc, nhiều người hướng dẫn giúp đồng bào, hoặc khi đồng bào hỏng thanh lọc, phải làm “request” (bằng tiếng Anh) nhiều người tôi quen như anh Phạm Đình Chiến, kỹ sư Bửu Tộ, Trương Như Thanh Tùng… (gọi tôi bằng chú) làm giúp cho đồng bào; đọc, dịch các bài request liền tù tì ngày nầy qua ngày khác, chẳng nhận của ai một đồng bạc hoặc ly cà phê mà cũng chẳng than van bao giờ.

Do công việc, chỗ tôi ngồi thành nơi của nhiều anh em đến phòng PTCĐ ngồi nói chuyện chơi. Tôi cũng là người ưa thích bạn bè, chuyện trò nên tôi rất vui khi có ai tới chơi. Có bận lắm thì tôi vừa làm việc vừa nói chuyện.

Sau khi tờ SHCĐ ra số 1, anh em đến chơi nhiều hơn. Chúng tôi cũng có nhiều chuyện để nói, để bàn.

Một hôm, anh Lê Vĩnh Tường, phụ trách phần cải lương của ban Văn Nghệ. Ban văn nghệ do hai người phụ trách: Ông Ngụy Vũ phụ trách bên tân nhạc. Anh Vĩnh Tường tính tình chất phát, thật thà, tuy đôi khi cũng có “nổ”.

Tôi từng làm trong nghề tình báo, đôi khi cũng xem tướng người để dùng người hay quan hệ công việc. Không hiểu vì sao, tôi có cảm tình với anh Lê Vĩnh Tường hơn với ông Ngụy Vũ. Do đó, đã có lần, trong một buổi họp, ông Ngụy Vũ phê bình tôi gay gắt vì tôi không giúp đỡ gì cho băn Văn nghệ của ông cả. Một lần ông Cố vấn Trương Mạnh Hùng chê ca sĩ của của ông Ngụy Vũ hát nhạc ngoại quốc sai be bét. Tôi nói: “Họ mới học tiếng Anh, hát sai là đương nhiên. Ông cố vấn nên mời họ lên, tập cho họ hát cho đúng tiếng Anh.”

Tuy nhiên, việc tôi đề nghị vẫn không xảy ra.

Một hôm, Lê Vĩnh Tường lên chơi, ngồi đối diện với tôi, bỗng nói:

– “Tiếng Việt mình không hay như tiếng Anh.”

Tôi cười:

– “Ông là nghệ sĩ cải lương, lại có viết tuồng. Ông nói vậy là chết rồi! Tiếng Việt tinh tế lắm.”

Tường nói:

– “Cháu viết tiếng Việt, nhiều khi thấy nó dễ dàng, không như tiếng Anh.”

Tôi giải thích:

– “Viết thoại kịch nhiều khi dễ mới đúng hơn. Người ta viết những tiếng thông thường. Trong cải lương, nhiều khi người ta viết theo cách xưa, dùng nhiều danh từ Hán – Việt mới khó hơn chứ! Tại sao ông lại nói vậy. Tiếng Việt tinh tế lắm.”

– “Tinh tế là sao?” Tường hỏi.

Tô lại giải thích:

– “Tôi ví dụ. Tiếng Anh black là đen. Con ngựa đen gọi là gì?”

– “Black horse.” Tường trả lời.

– “Mèo đen gọi là gì?” Tôi hỏi tiếp.

– “Black cat!” Tường nói.

– “Ông dịch chữ black horse ra tiếng Việt là gì?” Tôi hỏi.

– “Con ngựa đen.” Tường trả lời.

Tôi nói:

– “Ông dịch trật lất! Vậy black cat là gì?”

– “Con mèo đen.”

Tôi cười to:

– “Lại trật nữa.”

Lúc ấy có nhiều người đến chơi ngồi quanh, thấy tôi hỏi đố Tường, ai cũng cười. Bửu Tộ, ngồi sát tôi, nói nhỏ với tôi:

– “Anh để tôi dợt thằng cha nầy một trận cho nó trắng mắt ra.”

Xong, Tộ hỏi Tường:

– “Con gà đen, tiếng Việt gọi là gì?”

Lúng túng môt lúc, Tường nói:

– “Thì con gà đen chớ gì?”

Tộ cười:

– “Gà quạ ông ơi!”

Tôi nói một hơi:

– “Mèo mun, đũa mun, gà quạ, ngựa ô, chó mực. Thằng Mỹ nào học tiếng Việt, nội một chữ đen nầy cũng đủ điên đầu.”

Hảo hỏi Tường:

– “Ông có rành danh từ Hán Việt không? Trong Nam người ta học Việt Văn ẩu tả lắm. Chữ Hán, một gạch thì gọi là gì?”

– “Một gạch là nhứt.” Tường nói ngay.

– “Hai gạch là gì?” Hảo hỏi tiếp.

– “Là nhị.” Tường cười.

– “Ba gạch là gì?” Hảo cười hỏi.

– “Ba gạch là tam.” Tường trả lời ngay.

– “Gạch gạch một đống là gì?” Hảo hỏi.

Tường cười ha hả:

– “Gạch gạch một đống là đống gạch.”

Ai cũng cười. Tôi nói:

– “Mấy ông ăn cắp bài bản của Phi Thoàn. Cái nầy Phi Thoàn diễn hài.”

Rồi tôi nói:

– “Tôi hỏi tất cả mấy ông. Con cò có lông cổ đỏ thì người ta gọi là gì?”

– “Cò lửa.” Tộ trả lời, rồi cười nói tiếp: “Tui cử nhân canh nông mà anh.”

– “Chưa xong đâu,” Tôi nói. “Vậy chớ con cóc, đầu mình chân da gì cũng cóc mà không gọi là con cóc thì con gì?”

Tường cười:

– “Cũng Phi Thoàn nữa! Cóc con chớ gì!”

– “Ông thấy không. Tiếng Mỹ người hay vật gì đều gọi là children. Mình thì khác. Con gà, gà con. Con tôm, tôm con. Có gọi là children đâu. Chỉ cần đổi vị trí trước ra sau, gọn bưng.” Tôi nói.

Tộ cười:

– “Đâu phải lúc nào cũng vậy. Con bò con không gọi bò con, gọi là con bê. Con trâu con gọi là con nghé. Mình cũng điên cái đầu, nói chi tới người ngoại quốc.”

– “Người ngoại quốc chớ không phải người nước ngoài.

Mấy ông viết bài, nhớ cẩn thận, đừng dùng danh từ Việt Cộng, người ta chưởi cho.” Tôi nói.

-“Đề nghị anh Hải viết một bài về đề tài nầy, nhắc chừng mọi người. Không chừng mai mốt thay vì “Hải ngoại thương ca” người ta sửa thành “Nước ngoài thương ca” thì nguy quá.”

Câu cuối của Hảo làm ai nấy cùng cười. Tôi cũng vậy và nghĩ bụng, chắc phải viết một bài về đề tài nầy.

Nhưng đó là chuyện “Xem hồi sau sẽ rõ.”

Giọt nước mắt cho người Thầy cũ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 9 Dec 2023

Niên khóa 1963-1964, đậu kỳ thi tuyển vào trường P. Trương Vĩnh Ký (mà bà con mình thường gọi tắt là: ‘Petrus Ký’), tui được xếp vào lớp Ðệ thất 5.

Thời dụng biểu thời đó tùy theo môn chính hoặc môn phụ mà xếp số giờ. Quốc văn hay Anh văn mỗi tuần tới 6 giờ. Môn phụ như Nhạc, Vẻ, Thể dục tuần chỉ một giờ. Riêng Sử Địa, sau nầy già rồi tui thấy nó cực kỳ quan trọng, mà chỉ được xếp như môn phụ. Sử một giờ. Địa một giờ.

Tại sao tui nói môn Sử Địa là quan trọng? Vì Sử, nó nói chuyện của ông bà mình. Địa, nó nói về vùng đất mình sinh ra và lớn lên. Có kính trọng ông bà; có thương yêu vùng đất quê hương, nơi cuống nhau Ba vùi trong quê đất thì mình mới biết thương nước, thương người mà không đi theo CS để tàn hại quê hương, đất nước của mình.

Năm Ðệ Lục và Đệ Ngũ dạy Sử Địa cho lớp tui học là Bà Phạm Thị Thiên Hương. Đám học trò gọi quý vị nữ giáo sư dạy các môn khác là Cô! Không phải vì các Cô khác còn trẻ hơn Bà Phạm Thị Thiên Hương mà vì vị Giáo sư dạy môn Sử Địa trường Petrus Ký Phạm Thị Thiên Hương khá là nghiêm khắc. Cô Thiên Hương nghiêm khắc nên đứa nào cũng ngán. Ngán thì tui nó gọi là Bà hè!

Mở đầu giờ dạy của Cô, hổng đứa nào dám hó hé, giỡn hớt gì ráo trọi. Tim đập thình thịch khi thấy Cô giở Sổ Điểm danh ra. Nhứt là những đứa có tên (xếp theo vần ABC) đứng chần vần trên đầu sổ. Giở ra, rồi Cô xếp lại, (chắc bữa đó bài học khá dài). Đứa nào cũng thở phào nhẹ nhõm! Vì sợ xui rủi bị Cô kêu lên trả bài! Đứng cạnh bàn giáo sư mà đành đực mặt, cúi gầm xuống. Như tử tội sắp lên giàn hỏa!

Dẫu Cô chỉ rầy rà, chì chiết, cằn nhằn, cửi nhửi mà thôi! Nhiêu đó nghe đã nhức hai cái lỗi tai rồi. Cô đâu có nhéo lỗ tai hay kí đầu nghe ‘cốc cốc’ gì mà đứa nào cũng ngán. Chỉ xin thời gian hãy qua mau!

***

Ôi cái thuở 12, 13 tuổi, học Ðệ Lục, Đệ Ngũ thì Thầy Cô rót vào đầu cái gì thì mình nhận cái đó. Học từ chương, ráng nhét vào đầu cho nó đầy, cho dù đôi khi hiểu hổng được bao nhiêu.

Về môn Sử Địa, tui chỉ khoái những bài đọc thêm trong sách Giáo Khoa môn Địa của ông bà Tăng Xuân An để thỏa mãn cái óc tò mò của con nít. Coi trên thế giới thiên hạ sống ra sao và làm cái giống gì?

Khi đi gần hết cuộc đời, tui nhìn lại thì té ra có những chuyện mình tưởng vậy mà không phải vậy. Môn Sử Địa nó rất quan trọng, nếu không hơn thì cũng không thua gì so với các môn chính khác.

***

Sau nầy mất nước, Thầy trò phiêu bạt bốn phương trời. Tui vẫn ao ước phải chi mình gặp lại được các Thầy Cô ngày cũ. Dạy môn gì cũng được! Để tui có dịp hỏi vài ba câu, mà hồi xưa thuở đi học vì sợ quá, mà mình không dám hỏi?

Nếu gặp lại Cô Phạm Thị Thiên Hương thì câu hỏi của tui sẽ là: “Em là dân Sài Gòn mà trong sách Sử Địa em học lại không được các Thầy Cô soạn sách Giáo Khoa chỉ cho em Sài Gòn, dân nó ra làm sao, sống như thế nào hết trơn hết trọi vậy Cô?”

“Vì trước khi yêu con đầm Tây, á xẩm Tàu nào đó… thì em phải yêu con nhỏ hàng xóm, dân Sài Gòn mới phải chớ?”

Xa trường Petrus Ký, vào đời lưu lạc rồi phiêu dạt tận quê người, tui mang câu hỏi đó đi cùng Trời cuối đất! Và tiếc thay khi Miền Nam thân yêu của chúng ta sụp đổ vì lọt vào tay CS, Thầy trò sẻ đàn tan nghé, tứ tán khắp bốn phương trời thất lạc, nên khó tìm nhau! Thì làm sao trò xưa hỏi để Thầy cũ vài câu cho đặng chớ?

***

Gần 60 năm trời đằng đẵng đã trôi qua trong cơn mộng dữ! Rồi đêm nay, tui nhận được ‘emails’ của mấy thằng bạn học đồng song, đồng môn trường Petrus Ký năm cũ bên Hoa Kỳ khấp báo là:

“Cô Phạm Thị Thiên Hương, giáo sư Sử Địa Petrus Ký, vừa đã qua đời rất đơn chiết tại thành phố Montpellier miền Nam nước Pháp!”

Người Thầy từng dạy tôi nhưng bài Sử Địa hơn 56 năm về trước. Cát bụi lại trở về cát bụi! Chợt bùng lên kỷ niệm xưa trở về mồn một trong tiềm thức! Nhớ cô dạy rằng vẻ bản đồ đất liền và biển phải lấy viết chì màu tô cái rìa màu xanh dương để người ta biết đây là biển.  

(Hạng Võ Sở Bá Vương có tới 9000 đệ tử qua Ô Giang mong làm nghiệp lớn. Khi thất bại trở về dòng sông cũ còn có được Ngu Cơ.) Còn người thầy cũ của tôi, suốt một đời đi dạy (chắc số đệ tử còn nhiều hơn Hạng Võ Sở Bá Vương) đã lặng lẽ ra đi một mình, bỏ lại một đời giông bão. Cô đi, mang theo cả một mảnh đời thơ ấu của tui, của bè bạn cùng lớp, cùng trường năm cũ.

Đêm nay quê người, Melbourne, Victoria, Australia nghe tin dữ, tui buồn biết bao trong tấc dạ.

“Xin Vĩnh biệt người Thầy cũ của tui, Cô Phạm Thị Thiên Hương Giáo Sư Sử Địa trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký!”

Trò cũ.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.