Hoàng Long Hải
Post by Sơn râu 10 Dec 2023

Bài 6
Văn bút Bidong
Nhà thơ Hoàng Vũ là một người rất yêu thơ, thích hoạt động văn nghệ. Mới đến đảo chưa lâu, Anh tìm gặp những người yêu thơ để thành lập nhóm “Thi Bút Bidong”. Anh cùng vài anh em gặp cố vấn Trương Mạnh Hùng, xin giúp đỡ trong việc sinh hoạt. Việc nầy xảy ra trước khi tôi làm việc ở phòng nầy.
Sau khi tờ Sinh Hoạt Cộng Đồng ra số đầu tiên, việc sinh hoạt của nhóm “Thi bút Bidong” được xúc tiến mạnh hơn. Tôi không có công gì trong việc nầy. Đó chỉ là công việc giữa Anh Hoàng Vũ, ông Nguyễn Mạnh Dạn và Cố vấn Hùng. Sự có mặt của tôi ở phòng nầy chỉ có tác dụng làm cho anh em sinh hoạt văn nghệ văn gừng mạnh dạn đến với phòng PTCĐ, không e ngại đến sự dòm ngó của phòng SB như anh em đã từng e ngại. Cũng vì sự xuất hiện của tờ SHCĐ, vì cần người viết, nên số anh em viết văn có mặt nhiều hơn nên anh Hoàng Vũ thay đổi tên nhóm “Thi bút Bidong” thành “Văn bút Bidong” cho phù hợp với tình hình thực tế lúc đó.
Anh Hoàng Vũ không những làm thơ hay mà còn rành chữ Nôm, chữ Nho. Hôm nhóm “Văn bút Bidong” tổ chức sinh hoạt ở một lớp học của Trường Sinh ngữ, đến thăm, tôi thấy trên bảng đen lớp học, có một bài thơ viết theo hai cách chữ Nôm của Anh Hoàng Vũ, do Anh viết sẵn lên đó, bằng phấn. Chữ viết rất đẹp. Tôi đứng nhìn bài thơ đó, hỏi Anh:
– “Một bài thơ nhưng Anh viết theo hai cách khác nhau, phải không Anh?”
Hoàng Vũ cười:
– “Tôi viết theo hai cách. Bài nầy,” – Anh chỉ bên phải, – “tôi viết chân phương. Bài nầy.” – Anh chỉ bài bên trái – “viết theo lối thảo.”
Nhìn hai bản viết một lúc, tôi nói:
– “Nhìn cách nào, Anh viết cũng đẹp. Tôi thích lối viết thảo, bay bướm hơn. Đúng là “Hoa tay thảo những nét, như phượng múa rồng bay.”
– “Đúng là người ta thường ưa cách viết thảo, bay bướm lắm. Chân phương là theo đúng bài bản. Viết thảo thì tùy hoa tay mỗi người.” Anh Hoàng Vũ giải thích.
Cách viết thảo, sau nầy, ở hải ngoại, người ta thuờng mô phỏng theo để viết chữ quốc ngữ mà nhà danh họa Vũ Hối gọi là “Thư họa”. Tôi cũng có một bản thư họa do anh Vũ Hối viết cho, về mấy câu trong kinh Hoa Nghiêm: “Từ nhãn thị chúng sanh.”
Vì phục tài của Anh, tôi thường hỏi chuyện Anh khá lâu, mỗi khi Hoàng Vũ ghé lại chỗ tôi làm việc chơi. Có một buổi tối, nghe trên dài RFI, nhà phê bình văn học Thụy Khuê giới thiệu thơ Quách Tấn, bà Thụy Khuê cho rằng Quách Tấn là người cuối cùng làm thơ theo lối cổ điển. Đem chuyện ấy hỏi Anh Hoàng Vũ, Anh bảo rằng Thụy Khuê nói sai.
Hiện giờ (khoảng các năm 1989, 90) ở Việt Nam còn rất nhiều người làm thơ theo lối cổ. Họ thành lập các nhóm thơ, có tên hội và sinh hoạt thường xuyên, tuy phải lén lút vì sợ Việt Cộng. Xin phép chính quyền Cộng Sản thì các vị nầy không muốn vì phải sinh hoạt theo đường lối, chủ trương, chính sách, làm thơ theo … chỉ thị. Họ không muốn.
Hoàng Vũ kể cho tôi nghe một số người, và hội thơ, cũng như sinh hoạt của họ, như tôi có thuật lại trong bài “Những nhà làm thơ cổ điển”, xin trích lại một đoạn:
“Những thi sĩ âm thầm làm thơ cổ điển hiện nay ở Việt Nam không phải là ít: Lạc Nam, Trương Sư Xuyên, Nam Hà, Vọng Chi (tức Thái Can, thi sĩ, bác sĩ, đã đi Pháp), Vũ Khắc Văn (Trác Ngọc), Trúc Khê (mới, không phải Trúc Khê Ngô văn Triện, cũ) Trúc Phong (đã đi Pháp), Trình Xuyên, Thu Vân (nữ), bà Song Hường, bà Mỹ Linh, Liên Huê (nữ), Trương Duy Hy (có lẽ đã qua Mỹ theo chương trình HO), Tuyết Ngọc, Toại Khang, Đan Phượng, Hành Sơn Lưu Vĩnh Thuật (đã qua đời), Vũ Hân (đã qua đời) Chính Hà (cháu 7 đời Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều) , Thường Quân Vĩnh Mạnh, Hoàng Vũ … Họ còn sống ở khắp cả ba miền Trung, Nam, Bắc và sinh hoạt trong các hội thơ như Thạch Động Tao Đàn, Hồng Đô Thi Các, Tao Đàn Thái Hòa …
Để tránh sự theo dõi, chú ý và có thể bắt giữ của chính quyền Cộng Sản Việt Nam, họ sinh hoạt không thường xuyên. Theo Hoàng Vũ, buổi họp thơ cuối cùng của ông trước khi trốn khỏi nước là vào năm 1988, tại Saigon, tại nhà của Thường Quân Vĩnh Mạnh, có Lạc Nam, Chính Hà (từ Bắc vào dự) và có cả Tô Kiều Ngân, nữ sĩ Cao Mỵ Nhân, mới tù “cải tạo” về.” (Xin xem toàn bài ở phần phụ lục)
Mười ba ngàn người tỵ nạn. Lúc ấy, tổng số người tỵ nạn, tính chung là bằng con số ấy. Tuy nhiên, trong đó, không ít là “tinh hoa” của người Việt: Bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhà thơ, nhà văn, ca sĩ… Trong cái tổng số ít ỏi đó, so với mấy chục triệu dân Việt Nam, không ít là người có tài, không phân biệt tuổi tác, giới tính.
Vì vậy, tôi xin trích lại đây vài bài thơ hay. Tôi không thể trích hết thơ và cũng không trích lại văn vì… dài quá. Các quí vị định cư đâu đó, nếu các bài thơ bài văn của quí vị đã thất lạc, muốn có lại để làm kỷ niệm, xin liên lạc với tôi. Tôi sẽ photocopy, gởi đến quí vị.
Dĩ nhiên, bài thơ tôi trích lại đầu tiên là của Hoàng Vũ. Sau khi định cư, ở Cali, ông có xuất bản một tập thơ. Tôi có được tặng, nhưng rồi, ba năm trước, ba lần lên bàn mổ, tôi mang theo để đọc sau khi mổ xong. Việc di chuyển trong bệnh viện từ phòng nầy qua phòng khác, trong khi tôi chưa tỉnh thuốc mê, tập thơ ông tặng lạc mất, nay chỉ còn một bài, trích trong tờ SHCĐ.
Với bóng
Hoàng Vũ
Ta cám ơn mình đó bóng ơi!
Bên nhau từ thuở mới ra đời
Ngày xa cố quận không đành bỏ,
Buổi tếch trùng dương chẳng nỡ rời
Gắn bó một lòng chung số mệnh.
Bôn ba hai đứa khắp phương trời
Lâu nay ta đã vô tình quá!
Chẳng vỗ về nhau lấy nửa lời
Pulau Bidong, 1990
Bài Thơ Trong Nỗi Đau
Nguyễn Mạnh An Dân
Trường học đã vắng người
Thư viện đìu hiu như ngày đóng cửa
Nụ cười từ lâu đã hiếm hoi mới nở
Giờ tắt hẵn trên môi
Mười ba ngàn trái tim cùng nói một lời
Hãy để chúng tôi làm người
Hãy cho chúng tôi được sống
Những giọt lệ buồn như lòng phải dấu
Sao tràn đổ bây giờ?
Này chị – Này anh – cụ lão – trẻ thơ
Ôi đồng bào tôi! Những người khốn khổ
Chúng ta muốn sống bình thường như tất cả
Sao đồng loại chối từ?
*
Sáng hôm nay điều ấy đến rồi!
Thảm họa – nhẹ nhàng gọi tên Thanh lọc
Rất ít nụ cười! Rất nhiều nước mắt!
Tám mươi phần trăm làm lại từ đầu
Hy vọng mịt mờ! Rất thật khổ đau!
Trăm tai biến đang thật gần, trước mắt!
*
Buồn có thể chia khi xảy ra khoảnh khắc
Rồi sẽ qua, sẽ hết trong đời!
Đồng bào tôi – Bidong – và khắp mọi nơi
Tai biến sẽ mang suốt trong cuộc sống
Thế giới Tự do – Đồng loại có người
Sao đủ cả mà như không ai cả
Pulau Bidong, 18-5-1990
Nếu Có Một Ngày
Mỹ Liên MC 404
Nếu có một ngày
Tôi trở về bên ấy
Tôi xin làm một cánh bèo trôi
Dòng nước chảy xuôi
Cánh bèo trôi giạt!
Tôi chẳng bao giờ hỏi han, thắc mắc
Vì một lần
Tôi đã ra đi!
Cũng không biết thế nào là Giải Thoát
Phải mua bằng Nước Mắt
Đốt cháy tháng ngày
Vẫn không thấy đâu là bờ bến
Quê hương ơi!
Sao tôi chạy trốn Người?
Có phải Người là nơi để thương để nhớ
Hay vì tôi đầu kiếp lầm nơi?
Sóng
Sóng mơn man bờ cát
Gió hôn làn tóc em
Vầng trăng soi sóng biếc
Thấm ngọt ngào hương đêm
Phương nào đi mỏi mắt
Lối về ngàn dặm xa!
Đường trường nhiều sương gió
Có gì nhắc nhở ta?
Mỹ Liên MC 404
Màn Sương Biển Động
Có màn sương giá buốt ngoài kia
Ngoài khơi của biển đông thăm thẳm
Có linh hồn người đi viễn xứ
Giăng lên cánh buồm nhỏ nhoi
Chờ cơn gió – Ngọn sóng xô đi
Vào biển trời mênh mông
Có ray rứt kỳ lạ cõi lòng
Ôi! Đêm nay ta ra đi
Sau mười mấy năm trường mòn mỏi
Có thể là:
Tôi đã sống sót – Đất liền còn mịt mờ xa xăm!
Hay hải đảo xanh rì giữa biển mênh mông
Có Tự do – Phố chợ thị thành nhộn nhịp!
Và có những cánh chim lượn quanh hải đảo
Con thuyền
Đang tê buốt trong màn sương
Lẫn quất đi tìm thị thành làng mạc…
Tìm mua thực phẩm để làm Tiệc
Mừng Tự do tỏa ánh sáng Bình minh
Hỡi!
Banthat, Bidong, Galang Bataan, Whitehead
Đang vui hay buồn? Đang lên cơn sốt!
Vì tình người băng giá lạnh lùng
Sao thầm lặng ẩn mình trong lãng quên
Hôm nay!
Tôi cúi xuống, trong đêm trường hải đảo
Nhìn thân phận – thân xác phủ rong rêu
Những xác thân còn thở mà trái tim đã vỡ
Đang cúi gập trên thân thể, nơi bến bờ Tự Do
Tôi cúi xuống trong sương giá biển đông!
Đang dày đặc cho mất cả tương lai
Đang che mất con đường vào thế giới
Và che kín khốn khổ – những mảnh đời lưu vong
Tôi cúi xuống đếm tháng ngày trôi qua
Đợi chờ thanh lọc! Đợi chờ những lá thư
Đợi chờ Hội nghị! – Đợi chờ Phái đoàn
Và đợi chờ khai sinh lại trong Tự Do
Tôi cúi xuống – tạc thơ vào hải đảo
Để rêu xanh ôm kín những thuyền nhân
Khi quê hương không còn lẽ sống
Những mảnh đời rướm máu, dưới Độc Tài
Hỡi ngày 14 sao nghiệt ngã đắng cay
Sao ghì chặt đội chân ta vào hải đảo
Làm rã rời đôi cánh vừa thoát khỏi ngục tù
Sao nỡ rào hải phận, – Sao nỡ xua đuổi đồng minh.
Hỡi mây: Bay ngang đồi Bidong
Cho ta gởi: Lời thơ vào mầu trắng Tự Do
Ta gởi lời:
– Kêu gọi lòng nhân đạo, có lẽ đã ngủ quên ở: Luân Đôn, Hồngkông, Bangkok
Hỡi tình người
Tôi đi tìm tự do bạn đang có
Hãy chia xẻ cùng tôi bầu trời
Một chỗ đứng dung thân
Vì quê hương tôi dã biến thành ngục tù vây hãm
Hỡi tình người! Hãy mở cửa
“Thế Giới Tự Do”
1990 – Phù Sa
Bởi vì 13 ngàn người tỵ nạn hiện đang sống trên đảo Bidong, kể từ tàu MC. 326 là đến sau 12 giờ đến ngày 14 tháng 3 là ngày “đóng cửa đảo” (Cut-off date) nên phải qua “thanh lọc” (Screening). Ai “đậu thanh lọc” (được xác nhận là người tỵ nạn chính trị) mới được đi định cư ở nước thứ ba, còn như “hỏng thanh lọc” thì có nguy cơ phải hồi hương, không sẽ bị “cưỡng bức hồi hương”.
Thành thử, các bài thơ trích dẫn ở trên đều là tâm rạng, nỗi lo lắng, sợ hãi, v.v… trước tình trạng thanh lọc. Về sự kiện nầy, tôi sẽ nói tiếp sau.
Trong các tác giả trích dẫn ở trên, có những người lớn tuổi. Riêng Mỹ Liên MC. 404 thì còn rất trẻ. Cô ta vượt biên cùng một người em gái tên Cầm. Thân phụ của họ là bạn đồng ngũ với cựu thiếu tá Trần Văn Lễ, người sau nầy là trưởng phòng SB thế cho ông Nghiêm.
Phụ lục:
Nói Chuyện thơ:
Những Nhà Làm Thơ
Cổ Điển
Hồi cuối năm 1990, bà (hay cô) Thụy Khuê của đài RFI (tiếng nói Quốc tế từ nước Pháp), nhân dịp thi sĩ Quách Tấn qua đời ở Việt Nam, có bài nói về nhà thơ cổ này và nhận định rằng: “Quách Tấn là nhà thơ cổ điển cuối cùng của thi ca Việt nam ở thế kỷ 20 này.”
Nói vậy là không đúng đâu!
Thời tiền chiến, trong khi phong trào thi ca lãng mạn đang lan rộng ở nước ta, người ta đua nhau làm thơ mới, từ hình thức đến nội dung, chịu ảnh hưởng không ít của thi ca lãng mạn Pháp thì Quách Tấn đi ngược lại. Ông làm thơ cổ điển, xuất bản một tập thơ cổ điển (tập “Mùa Cổ Điển”). Ông là đóa hoa cô đơn và nổi bật trong thời kỳ đó về những bài thơ làm theo lối cổ của ông, mà nổi tiếng nhất là bài “Đêm Thu nghe quạ kêu”, với nhiều thành ngữ, điển cố – lối làm thơ chứng tỏ sự uyên bác cổ văn mà rõ nhất là “Cung Oán Ngâm Khúc” của Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều. Đây là một bài thơ hay, tôi xin ghi lại như sau:
Đêm Thu Nghe Quạ Kêu
Từ Ô Y Hạng rũ rê sang
Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng
Bồn chồn thương kẻ nương sông bạc
Lặng lẽ nhà ai rụng giếng vàng
Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi
Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.
(Quách Tấn – Mùa Cổ Điển)
Ô y hạng: Ngõ áo thâm, tức là ngõ nhà quan, người trong họ mặc cùng một màu áo. Tỷ dụ như giòng họ ông Phan Đình Phùng (12 đời, đời nào cũng có người đổ đại khoa – tiến sĩ), dòng họ đại thi hào Nguyễn Du, dòng họ Thân Trọng, Hà Thúc, Nguyễn Khoa ở Huế, nhiều đời đổ đại khoa và làm quan to trong triều.
Bến Phong Kiều: Ý từ trong bài thơ Đường nổi tiếng “Phong Kiều Dạ bạc” của Trương Kế.
Xích Bích: Chỗ đóng quân của Tào Tháo trên sông Trường Giang. Khổng Minh bày mưu hỏa công cho Tôn Quyền đốt cháy thuyền của Tào.
&
Tôi không rõ bà Thụy Khuê rời Việt Nam năm nào và trong thời gian ở xứ người, dù bà thường hay bàn đến thơ văn Việt Nam, không chắc bà có dịp để tìm hiểu thêm về những nhà làm thơ cổ hiện đại. Tôi không nghĩ bà ấy cho rằng họ là người kém tài, không xứng để bà nói đến họ. Có thể bà chưa có dịp nói đến họ nhưng khẳng định Quách Tấn là “Nhà thơ Cổ Điển cuối cùng” thì hoàn toàn sai.
Những người làm thơ chân chính thì không về hùa với ai để dùng thơ làm nấc thang danh vọng như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, và cũng không làm thơ theo “Đơn Đặt hàng” của Hội nhà văn, nhà veo, của đảng (Cọng Sản). Bởi vậy, ngoài những nhà thơ và người ái mộ thơ với nhau, thơ của họ không được phổ biến rộng rãi và những Hội Thơ (Tao Đàn) của họ, đối với “Bác và Đảng” đều “Phi Pháp”. Họ phải hoạt động âm thầm, nhiều người không biết tới, nhất là “người nước ngoài”, “người có quốc tịch nước ngoài” thì không chắc biết tới.
Những thi sĩ âm thầm làm thơ cổ điển hiện nay ở Việt Nam không phải là ít: Lạc Nam, Trương Sư Xuyên, Nam Hà, Vọng Chi (tức Thái Can, thi sĩ, bác sĩ, đã đi Pháp), Vũ Khắc Văn (Trác Ngọc), Trúc Khê (mới, không phải Trúc Khê Ngô văn Triện, cũ) Trúc Phong (đã đi Pháp), Trình Xuyền, Thu Vân (nữ), bà Song Hường, bà Mỹ Linh, Liên Huê (nữ), Trương Duy Hy (có lẽ đã qua Mỹ theo chương trình HO), Tuyết Ngọc, Toại Khang, Đan Phượng, Hành Sơn Lưu Vĩnh Thuật (đã qua đời), Vũ Hân (đã qua đời) Chính Hà (cháu 7 đời Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều) , Thường Quân Vĩnh Mạnh, Hoàng Vũ … Họ còn sống ở khắp cả ba miền Trung, Nam, Bắc và sinh hoạt trong các hội thơ như Thạch Động Tao Đàn, Hồng Đô Thi Các, Tao Đàn Thái Hòa …
Để tránh sự theo dõi, chú ý và có thể bắt giữ của chính quyền Cọng Sản Việt Nam, họ sinh hoạt không thường xuyên. Theo Hoàng Vũ, buổi họp thơ cuối cùng của ông trước khi trốn khỏi nước là vào năm 1988, tại Saigon, nhà của Thường Quân Vĩnh Mạnh, có Lạc Nam, Chính Hà (từ Bắc vào dự) và có cả Tô Kiều Ngân, nữ sĩ Cao Mỵ Nhân, mới “cải tạo” về.
Năm 1989, sau khi đến Bidong một thơi gian ngắn, Hoàng Vũ thành lập ở đó nhóm “Thi Bút Bidong”, tổ chức nhiều buổi nói chuyện thơ. Chủ tọa là Hoàng Vũ, người điều khiển chương trình rất khéo là Trịnh Hí Phùng. Nghe thông báo, tôi có đến nghe và rất ngạc nhiên trước nét chữ Nho bay bướm của Hoàng Vũ. Ông ta viết được cả 2 loại: viết thảo và chân phương. Với loại nào, ông cũng tỏ ra là người tài hoa. Tôi trích in lại sau đây cả ba bản: Bản chữ Nho viết theo lối Chân Phương, Bản dịch âm và Bản dịch nghĩa để độc giả nhàn lãm, cùng với một số thơ khác của ông. Đây là những bài thơ đầu tiên, tôi hy vọng sẽ có dịp giới thiệu với độc giả nhiều bài thơ khác làm theo lối cổ điển nữa.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.