This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Niên khóa 1963-1964, đậu kỳ thi tuyển vào trường P. Trường Vĩnh Ký (mà bà con mình thường gọi tắt là: ‘Petrus Ký’), tôi được xếp vào lớp Đệ thất 5.
Môn Quốc Văn (tên môn học chánh thức thời đó; chớ không phải là Việt Văn) được chia làm hai phần: Cổ Văn và Kim Văn. (Cổ là cũ; học văn hồi xưa. Kim là hiện thời; học văn bây giờ). Lớp Đệ thất được 6 giờ một tuần. Từ năm Đệ lục trở lên được 4 giờ. Số giờ nhiều như vậy so với các môn học khác vì là môn học chánh. Nhưng thật ra mình chỉ gặp Thầy Cô dạy Quốc Văn có 144 giờ suốt cả năm học. Tính ra không có bao nhiêu nhưng lạ thay (chắc đầu óc con nít lúc đó chỉ biết lo ăn với học) nên có quá nhiều kỷ niệm.
Điểm trùng hợp khá lý thú là các Giáo sư dạy tôi môn Quốc Văn nầy trong ba năm thất, lục, ngũ đều có cùng tên Dung.
Năm Đệ thất là Thầy Võ Văn Dung. Tôi cứ nhớ mãi bài ‘Vè cờ bạc’ mà Thầy dạy là:
“Nghe vẻ nghe ve. Nghe vè cờ bạc
Đầu hôm xao xác. Bạc tốt như tiên
Đến khuya hết tiền. Bạc như chim cú.
Cái đầu sù sụ. Con mắt trõm lơ.
Hình đi phất phơ. Như con chó đói.
Chân đi cà khói. Dạo xóm dạo làng
Quần rách lang thang. Lấy tay mà túm…”
Thầy còn phụ để thêm là trò nào lớn lên mà ham mê cờ bạc là mấy thằng ngu!
Năm Đệ ngũ là Cô Phạm Thị Ngọc Dung mặc chiếc dài tha thướt màu thiên thanh với mái tóc thề, dài chấm tới ngang lưng. Năm Đệ lục là Cô Trần Thị Ngọc Dung với mái tóc ‘Sylvie Vartan’ làm đám học trò nhỏ chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ! Tài sắc vẹn toàn!
Rời trường đã rất lâu, nhưng tôi cứ nhớ mãi bài Cô đã dạy là: ‘Tôi đi học’ của Thanh Tịnh.
“Hằng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
… Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương Thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.
…Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bở ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ….
…Ông đốc trường Mỹ Lý nhìn chúng tôi nói sẽ: ‘Thế là các em đã vào lớp năm… Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học”.
…Tôi bất giác…dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo.
…Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm.
…Tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật…Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc: Bài tập viết: Tôi đi học!”
***
Giờ đọc lại bài ‘Tôi đi học’ thuở thiếu thời, tôi nghĩ đây là một hồi ký, một tự truyện về ngày đầu đi học của nhà văn Thanh Tịnh. Nhưng có những nhà phê bình và ngay cả chính tác giả lại cho đây là một truyện ngắn.
Ôi cái thuở 12, 13 tuổi, học Đệ lục thì Thầy Cô rót vào đầu cái gì thì mình nhận cái đó. Học từ chương, rán nhét vào đầu cho nó đầy, cho dù đôi khi hiểu hổng được bao nhiêu.
Khi đi gần hết cuộc đời, nhìn lại thì té ra có những chuyện mình tưởng vậy mà không phải vậy. Chẳng hạn, theo thiển ý của tôi, có những điều không hợp lý lắm trong truyện ngắn ‘Tôi đi học’ của nhà văn Thanh Tịnh.
Tôi định nhờ các Thầy Cô dạy tôi môn Quốc Văn ngày cũ cắt nghĩa thêm cho nó rõ ràng; cho nó rõ ngô khoai. Nhưng tiếc thay khi Miền Nam thân yêu của chúng ta sụp đổ vì lọt vào tay CS, thầy trò sẻ đàn tan nghé, tứ tán khắp bốn phương trời thất lạc, nên khó tìm nhau!
Ấm ức hoài về cái bài ‘Tôi đi học’ nầy, hổng lẽ chịu thua sao? Tôi bèn tìm hiểu thêm về tác giả Thanh Tịnh
Thanh Tịnh sinh năm 1911, tại xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô cố đô Huế. tên thật là Trần Văn Ninh, lên 6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh.
Đến năm 11 tuổi, thì theo học chữ Quốc ngữ tại trường Tiểu học Đông Ba và Trung học trường Đạo ‘Pellerin’ ở Huế.
Đỗ bằng Thành chung, năm 1933, Thanh Tịnh làm nghề dạy học và viết văn, làm thơ cho các báo Phong hóa, Ngày nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị, Tinh Hoa…
Tháng Tám, năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, Thanh Tịnh làm Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ quân đội. Năm 1957, sau khi đất nước bị chia đôi, ông ở lại Miền Bắc, tham gia thành lập Hội Nhà văn. Cấp bậc cuối cùng của ông là Đại tá của Quân đội CS Việt Nam.
***
Truyện ngắn “Tôi đi học’ được in trong tập truyện Quê Mẹ xuất bản năm 1941 và được đưa vào sách giáo khoa trước và sau 75 của cả hai miền Nam và Bắc.
Vấn đề đặt ra là: Đây không phải là một tự truyện viết về chính cuộc đời của chính tác giả mà là một truyện ngắn, là một hư cấu.
Thời gian của truyện ‘Tôi đị học’ là:“Vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều (?!)”
Tựu trường ở nước ta từ thời Tây tới giờ đều vào đầu tháng Chín, nghĩa là mới chấm dứt mùa Hè, mới vào độ sơ Thu. Sơ Thu mà ông Thanh Tịnh lại tự động dời ngày tựu trường cho nó vào độ cuối Thu để lá rụng nhiều, để văn thêm phần thơ mộng thì tôi e rằng chi tiết về thời gian nầy không hợp lý lắm.
Hai là:“Những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc: Bài tập viết: Tôi đi học!”
Mới 6 tuổi, vào lớp 5, tức lớp Một bây giờ, chưa biết đánh vần a,b, c, (nghĩa là mù chữ Quốc ngữ toàn tập) thì ngay ngày khai trường đâu có Thầy giáo nào cho ngay bài tập viết: ‘Tôi đi học’ bao giờ?
***
Tôi tính đem mấy cái ‘thắc mắc’ nầy nhờ Cô Trần Thị Ngọc Dung, người Thầy đã dạy tôi môn Quốc Văn ngày cũ, tại trường Petrus Ký, (đã đến Mỹ đoàn tụ với các con vào năm 1989), cắt nghĩa thêm mới được.
Buồn thay ngày thứ Ba, mùng 5, tháng Mười Một, năm 2015, lúc 11 giờ 9 phút 15 giây trên Great Seneca Highway ở góc đường Clopper Road, bi kịch ụp đến. Một chiếc xe Hyundai Elantra chạy ngược chiều đã tông thẳng vào đầu chiếc Toyota Camry trên đường đi Chùa về.
Tai nạn thảm khốc nầy đã làm Cô Trần Thị Ngọc Dung bị nguy kịch, và Thầy Huỳnh Bá Thông, phu quân của Cô, bị thiệt mạng tại Suburban Hospital.
Sau nhiều tháng trời nằm trong bịnh viện chiến đấu với tử thần, người Thầy cũ của tôi, Cô Trần Thị Ngọc Dung chiến thắng, còn sống sót. Nhưng thương tật do tai nạn gây ra rất nặng nề khiến Cô phải chuyển về tịnh dưỡng tại một ‘Nursing Home’ ở tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ.
Cô Trần Thi Ngọc Dung
Năm năm trời đằng đẳng đã trôi qua trong cơn mộng dữ! Rồi đêm nay, nhận được ‘emails’ của mấy người bạn học đồng song trường Petrus Ký năm cũ bên Hoa Kỳ khấp báo là:
“Cô Trần Thị Ngọc Dung, giáo sư Quốc Văn Petrus Ký, đã qua đời vào lúc 11 giờ 30 sáng, ngày 19, tháng Năm, năm 2020 tại Maryland, Hoa Kỳ!”
Vì lệnh cách ly của chánh quyền tiểu bang Maryland Hoa Kỳ, do đại dịch COVID -19 gây ra, khiến thân nhân và học trò cũ không thể đến viếng Cô một lần cuối. Nhà quàn sẽ tự thu xếp tang lễ và đem Cô đi hỏa táng.
***
Cát bụi lại trở về cát bụi! Người Thầy từng dạy tôi bài ‘Tôi đi học’ hơn 56 năm về trước đã lặng lẽ ra đi, bỏ lại một đời giông bão. Cô ra đi, mang theo cả một mảnh đời thơ ấu của tôi, của bè bạn cùng lóp, cùng trường năm cũ và những câu hỏi chưa có lời giảng giải cho nó tỏ tường thêm về bài ‘Tôi đi học’ của nhà văn Thanh Tịnh ngày xưa.
Lỗi tại tôi cứ lần lữa mãi; vì nặng nợ áo cơm nên tất cả giờ đã trễ tràng.
Xin Vĩnh biệt người Thầy cũ của tôi, Giáo Sư Quốc Văn trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, Cô Trần Thị Ngọc Dung.
Người con gái cao hơn hắn một cái đầu. Mắt hắn nhìn thẳng, đọng ngay giữa ngực. Ngực cô ta sâu một đường khe. Hắn nuốt nước miếng, tô phở đi vào bụng nửa tiếng trước bắt đầu tạo phản ứng? Bột ngọt vị tinh mì chính, thủ thuật gia giảm liều lượng đinh hương đinh hồi. Khô khát cổ họng.
– Một trăm.
Đứa con gái đá lông nheo. Hết tiếng Pháp lại đổi sang tiếng Anh. Giọng khan, môi son đỏ co giãn và hai hàm răng không ngừng nhai kẹo cao su. Hắn ngửi được một mùi thơm, rất đàn bà. Quyến rũ gấp vạn lần xí quách húng quế ngò gai ớt chua tương ăn phở.
– Cần nói thêm là đã tính luôn tiền phòng cộng với bao cao su.
Mua một món hàng thì ai cũng săm soi nhìn trước ngó sau. Hắn thọc tay vào túi quần và đầu thì đang bị mấy chữ trường túc bất chi lao hiện ra dằn vặt. Đi đâu mà vội, hút một điếu thuốc cái đã. Vã lại ông bà mình có dặn, mới ăn no chớ nên xã láng năng lượng vô ba cái vụ này. Thân thể con người chia làm ba phần, đầu mình và tứ chi. Đợi ba bộ phận ấy ngứa ngáy khó chịu rồi hẳn tính.
– Cho tao một điếu. OK?
Khói thuốc bay cùng lần nơi hai mái đầu chụm lại. Tóc vàng tóc đen quấn quít sợi ngắn sợi dài. Hắn thổi đám mây xám bay lên những bậc cấp ám tối. Có lẽ trên đó, sau cánh cửa im ỉm đóng là nơi hành lạc? (Không hành trần chẳng giá chín).
Buổi trưa, nắng không có, nhưng nóng. Bầu trời trám chì nặng nề đã mấy hôm rồi, tức giông. Chiều nay trời không mưa thì tôi sẽ làm mưa. Hắn nhai đám khói thuốc trước khi thở ra lỗ mũi. Phiá bên kia đường có tiệm bán băng dĩa cũ và DVD phim ba X. Tuy ban ngày mà đèn chớp nháy ngó thật rậm rật. Cửa mở rộng treo bảng đại hạ giá, nhạc hard rock như thác chảy từ trong đó tuôn ra. Bản ấy đang đứng top. “The Unforgiven” của bọn Metallica. Đứa con gái nhún nhảy. Bộ ngực nhún nhảy. Hai cái thánh giá đeo lủng lẳng dưới trái tai cũng nhún nhảy, sáng chói màu kim loại. Lạ. Thời buổi này thánh giá bán rất chạy, cho những cô gái đeo làm vật trang sức; trong khi lời nhạc thì xem thường sự có mặt của thần linh, gào thét thứ ẩn ngôn của ma qủy. Mạt pháp!
Từ trên mười tám bậc cấp có tên đàn ông râu rậm loạng quạng đi xuống. Mặt thằng chả đỏ ké, da thịt bóng nhờn mồ hôi xuất hạn dầm dề, ngang qua đứa con gái thò tay lông lá véo ngắt vào mông.
– Bận sau anh sẽ đi với em. Con Rosé ăn thứ gì mà trở chứng?
– Nó ăn thịt ba của anh chứ ăn thứ gì. Đừng cà chớn.
– Đù má em.
Thằng đàn ông cười khan trong cổ. Nhổ một đám nước dãi rồi bỏ đi. What the Hell…
– Tao chán những đứa lắm chuyện như thế không thể tả. Nghe đồn dân Á châu rất ngon lành trong ba cái vụ im hơi lặng tiếng và ít bày đặt kiểu cọ?
– Có lẽ.
– Thế còn keo kiệt? Thấy một trăm mắc thì dang ra chỗ khác chơi cha nội.
Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn lại con đĩ có giọng nói khan. Và chua như giấm. Chiếc áo thun đen in hàng chữ tiếng Pháp chạy méo mó trên vũng thịt lồi lõm, rung động không áo nịt ngực. Dốt ngoại ngữ lắm trí óc hắn cũng tự động phiên dịch ra tiếng Việt: “Hãy cứu vớt linh hồn tôi!”. Hắn từng là thuyền nhân. SOS. Và hắn từng được người giàu lòng từ bi cứu vớt lên thuyền lớn.
– Trên đó phải không? Hắn hất hàm.
– Chịu rồi phải không? Con nhỏ tóc vàng chu mỏ thổi bay cục cao su ra ngoài đường. Đi theo tao.
Mười tám bậc cấp. Có ai dè địa ngục mà phải bước lên. Trần gian đang ở đâu thế? Bên kia đại dương chăng? Ở đó có cô vợ hờ mà người ta nói tương lai sẽ thuộc về hắn. Người ta sẽ chịu chi một cái vé máy bay về bển với điều kiện hắn ra Quy-nhơn tổ chức đám cưới rồi lo mọi thủ tục để có ngày vớt cô vợ bé bỏng ấy sang đây. Người ta cho hắn xem hình đen trắng, ai đó còn xổ Kiều phụ họa thêm: Thấy không? Cũng khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang! Tiếc là tấm ảnh nhỏ chỉ thu lấy khuôn mặt, mình và tứ chi thì chẳng rõ có nở nang? Hắn xem xét, lòng những muốn phiêu lưu vào cuộc hôn nhân quái đản nhưng miệng vẫn ngậm câm chưa có ngay câu xác định: Yes or No. Thiên hạ kháo nhau chuyện tầm phào, gái Quy-nhơn không có lông. Xời, biết đâu đó là lối quảng cáo thiệt khéo nhằm đánh động tính tò mò.
– Lẹ lên cưng.
Đem tuổi tác ra mà so thì chưa rõ hơn thua, nhưng lấy thể xác mà đọ thì đúng là chị trước em sau. Cánh cửa đóng kêu cái két, tù mù một hành lang ẩm mốc với dãy phòng có cửa sơn màu tím. Tiếng giày cao gót gõ xuống nền gỗ hư hao chuyển mình rên rĩ. Một hai lóc cóc ba bốn. Thình thịch thùm thụp lóc cóc. Hắn hơi ngộp thở, có thứ gì đó chẳng tượng hình làm trái tim ép sát lồng ngực. Phòng số 10. Nâm-bờ Ten. Chẳng rộng rãi thoáng khí như hắn lỡ mường tượng. Vách dán giấy hoa có nơi keo không ăn vật mình tờ giấy xuống, oằn oại lưng chừng. Đinh đóng vào vách lỗ chỗ chẳng rõ để làm gì, trống trơn không một tấm tranh móc treo lên. Một bàn vuông nằm trong góc. Hai cuốn sổ niên giám điện thoại dày như chuyện kể nghìn lẻ một đêm hoặc Hồng lâu mộng. Bốn năm vỏ chai bia lăn lóc. Cái gạt tàn thuốc. Cùi một trái táo ai gặm không hết vất dưới chân giường khô quắt tựa một khúc xương người tiền cổ vừa được khai quật. Và cái giường là vật thể cuối cùng nằm chình ình ra đó. Giường nhỏ, trải tấm ra màu xanh bẩn như giường có trong bệnh viện, khu hộ sinh.
– Nóng bức quá hả?
Đứa con gái phát biểu cảm tưởng trong lúc cởi quần jean rách đầu gối treo lên một cây đinh. Hắn phát hiện chẳng có cửa sổ nào cả, như một cái hộp vuông vức. Không quạt trần, không luôn cả máy lạnh điều hoà không khí. Mồ hôi tuôn như đang đứng ở Gò Vấp. Montréal xứ tuyết vẫn có khi qủy quái như thế đó. Lạnh Liên-xô mà nóng Việt-nam.
– Đưa tiền đây.
Năm ngón tay chìa ra. Cánh tay còn lại đang chống nạnh, quần lót màu đỏ nhỏ chút xíu có ưa dùng để hỉ mũi lau cũng không sạch nước giải. Mấy ngón nhịp nhịp trên sợi giây thun chờ đợi. Một trăm là năm tờ giấy hai chục. Hắn thè lưỡi thấm nước miếng mà đếm. Tiền trao nhưng cháo chưa múc.
– Đợi tao dội qua miếng nước cho sạch sẽ. OK?
Nước? Nước non ngàn dặm ra đi. OK. Nụ cười con nhỏ ngó dễ ghét. Chữ ghét này phải hiểu ngược lại. Như mẹ ẳm con thơ lên, lòng vui vô hạn để thì thầm: Cái mặt thấy ghét quá hà! Chiếc áo “cứu vớt linh hồn” được cởi ra, ném vào mặt hắn rồi cô quay lưng bước tới vách, nơi có miếng giấy hoa gần rơi rụng. Chà, hiện đại nhỉ! Có cánh cửa gắn ở đó mà hắn nào thấy. Đằng sau là phòng vệ sinh dồn đẩy mùi long não ra khi cửa mở. Đứa con gái tụt miếng vải cuối cùng vặn vẹo người cho đến hồi nó thoát hẳn đôi chân dài. Hắn ngồi ở mép giường giương mắt ốc ra ngó từng cử động. Tiếng nước chảy, tiếng vòi nước bị khóa lại nơi cái robinet đã han rỉ. Cô bước ra. Đám lông xoắn xít và nó vê lại như một cụm râu cắm dưới cằm con dê tuổi mới lớn.
– Chưa cởi đồ ra sao?
Hắn nhìn cái tam giác co giãn đang chuyển dịch lại gần. Những giọt nước rơi xuống, từ đó rơi xuống. Người ta cho hay, nhỏ đó tên Thủy, mới mười chín tuổi và bảo đảm là chưa thất thân. “Nói láo xe cán, ai lại thất đức làm mai cho cậu một người vợ mất trinh”.
– Xong hết rồi đó. Làm lẹ đi.
Đứa con gái vật mình xuống giường nằm ngữa dang rộng tay chân. Hắn lóng cóng hồi lâu trong việc thoát y. Chậm chạp nhưng sau rốt cũng xong. Hắn phát hiện chiều dài không đồng nhất của hai thân thể đã làm so le những bộ phận cần được bổ sung điền khuyết cho nhau. Hèn gì người ta dùng chữ cân cặp xứng đôi khi tả đến hình ảnh một cặp vợ chồng.
– Mày dễ thương hiền lành hơn tao tưởng.
Đứa con gái nói trong khi hắn thở mệt. Chẳng cân cặp gì cả. Một bên nhịp tim điều hòa như đang từ tốn đi bước nhẹ kiểu tập taichi. Bên kia thì hào hển bấn loạn tựa chạy việt dã ở vòng đua cuối cùng. Phù du! Bận sau nhất định không ghé tiệm phở ấy nữa. Gia vị, nước lèo nấu không đúng bài bản đã đành, lại thêm chẳng có chút gì bổ khỏe cả! Ăn vào khát nước, làm tình thì chóng mỏi gối chồn chân. Lếu láo thật! Năm phút, khoảng đó, là năm tờ giấy hai chục bị đốt cháy. Một trăm đồng, đi cày ở hãng xưởng đổ mồ hôi sôi nước mắt cả ngày mới gặt hái được. Sau năm phút, những động tác ban đầu lại được tái lập, đi ngược trình tự. Xì-líp kéo lên, đi nhón gót tới xỏ chân vào quần jean. Cầm chiếc áo thun lên, rũ rũ.
– Lộn rồi, áo đó của tao. Hắn nói.
– Xin lỗi. Đứa con gái cười và vuốt lấy những sợi tóc rối trước mặt.
– Không sao, thích thì cứ giữ lấy mà mặc.
Đưá con gái hôn một bên má hắn, nhe răng cắn nhẹ vào trái tai:
– Tao tên Nancy. Lần sau có đến tìm thì tự nhiên giá cả sẽ thay đổi.
Hắn mặc chiếc áo “cưú vớt linh hồn” vào người. Áo sực nức mùi đĩ thõa làm da thịt phải nổi gai, châm chích thứ cảm giác lạ.
Khi bước xuống mười tám bậc cấp, trời hung hãn đổ mưa. Cuồng nhiệt, thịnh nộ, rầm rộ và có vẻ dai dẳng dài hơi.
– Đi bộ hả? Thôi bai nghe.
Nancy không bước xuống bậc cuối. Hắn sãi chân ra vuông sân đất nồng, bong bóng vỡ ra khi nước đâm vào đất, mưa xối xả quất vào lưng hắn trăm ngàn roi vọt như cách thức trừng phạt của cao xanh. Hắn nhắm hướng có trạm tàu điện ngầm để tìm tới. Chẳng vội vã, hắn muốn tắm gội, hắn muốn tẩy xóa. Phố phường không bóng bộ hành, tất cả đều đụt mưa dưới mái hiên nhà những mong người được khô ráo. Bốn giờ chiều, con chuột lột về đúng chỗ trọ ướt nghe ngói đứng mở cửa. Mưa móc ràn rụa chẳng làm phai nhạt mùi hương có trên chiếc T-shirt. Cửa mở, anh hắn hiện ra ở lối đi nhỏ dẫn sâu vào bếp, tay vày vò cái khăn ca-rô dùng để lau chén bát. Sau lưng là bóng điện vàng, sau nữa là có thứ mùi gì đó. Chả giò vừa chiên xong? Mùi chanh tỏi ớt nước mắm? Rất nhiều mùi, đòi thoát khỏi căn phòng ngột ngạt.
– Về rồi à? Có sướng không?
Ngọn đèn vàng trên trần nhà chẳng sáng bằng đôi mắt anh hắn. Đôi mắt của kẻ đang làm công việc tra tấn, lấy khẩu cung. Dữ dằn pha lẫn miệt thị nhốt chật trong đó.
– Ngó xuống con người mày đi. Tàn tệ và dơ bẩn đến thế là cùng. Coi, bày đặt chơi chữ nữa chứ. Cứu với lại vớt…
Hắn đứng sững. Nước từ người tụ một vũng dưới chân như sợ hãi tới độ són đái.
– Hồi trưa, khoảng hai giờ mày làm gì ngoài phố? Nói tao nghe.
– Tui hai mươi mốt tuổi rồi đó anh à. Tui không còn là đứa con nít ngày nào chạy theo anh đi vượt biển.
– Tao biết. Ừ, mày lớn bộn rồi. Lúc nào cũng vỗ ngực. Thật khốn nạn! Tao hối hận đã dắt mày đi qua đây.
– Có chuyện gì thế? Anh sắp lấy vợ, sắp ở riêng rồi sao còn nhăn nhó làm chi cho mất vui.
– Thật mất mặt. Tao chở bà Thuyên đi chợ trời thì trông thấy mày đứng trò chuyện mặc cả với một con đĩ. Tại sao vậy? Ăn nói sao cho ổn với người ta?
– Cùng lắm thì hủy cái hợp đồng vợ chồng kia đi. Nghe như giễu vậy mà anh lại tin. Chứ không phải anh là kẻ luôn hò hét chửi rủa những tên đi về Việt-nam à?
– Đây là nói tới chuyện của tao. Mày hại thanh danh và hạnh phúc của tao cũng vừa phải thôi. Rồi mai đây trong cộng đồng họ đồn tùm lum ra.
– Tui chơi đĩ chứ phải anh đâu mà sợ. Bộ tính nghiên cứu lý lịch kỹ như Việt-cộng hay sao đây?
– Mày câm mỏ đi.
Anh hắn bỏ lui sau bếp, ném mạnh một vật gì đó vào bồn rửa chén.
– Tao hẹn bà Thuyên chiều nay lại nhà ăn cơm. Mày đi đâu khuất mắt cho tao nhờ.
– Tui lại nhà anh Đại thì có chi phiền cho anh không?
Hắn thấy anh hắn đang nắm lấy con dao. Chắc chỉ để xắc thịt hoặc thái hành ngò gì đó. Tính khí anh hắn rất nóng nảy, nhưng chỉ thấy lộ ra trên những dòng chữ viết. Bình thường anh tỏ ra là người đàn ông rất dịu dàng nhỏ nhẹ khi lăng xăng bên cạnh chị Thuyên. Bà ấy đã có chồng con, quyết li dị để sống gần anh. Anh Đại nghĩ tình bạn cũ một mực cản ngăn và hậu quả tên chí tình kia trở nên một kẻ… thân Cộng. Lý do ư? Trong người còn giữ mãi một hòn đạn AK47, bắn gần trúng tim mà không chịu chết đi. Hắn nhắc tới ông Trung-uý Biệt động quân ấy để mỉa mai cho vui vậy thôi, chớ ai dại gì vác mặt mốc tới nhìn kẻ từng xám mặt kêu trời không thấu.
– Tao không hơi sức đâu dài lời với đứa mất dạy như mày. Địt má, em với út!
Hắn cũng cảm thấy rát cổ, mở tủ lạnh tìm chai bia. Phòng ăn ngó tươm tất xôm tụ hơn một bữa tiệc đoàn viên theo chương trình “Ra đi có trật tự”. Anh hắn nổi tiếng trong nhiều lãnh vực, không ngờ chuyện bếp núc còn khéo léo tới độ khó tin. Trộn gỏi nhanh hơn múa bút, cắt nem dồi chả heo quay xá xíu sắp ngay ngắn trong dĩa còn đẹp mắt hơn bày đồ cúng ông bà cha mẹ. Loay hoay, tẳn mẳn vụn vặt. Gỉa dụ nếu có kiếp sau, thì kiếp ấy anh sẽ là một mụ đàn bà. Và hắn cầu xin, mọi người sống trong cõi ấy phải chịu trả tiền riêng cho cái khoảng nói năng. Lời nói phải mất tiền mua, phát biểu linh tinh phải chịu đóng thuế. Chắc rằng những kẻ từng bị chụp mũ sẽ đồng thanh hoan hô nhất trí. Phải thế không anh Đại?
– Mày làm gì đó? Nem của bà Thuyên mua không phải để cho mày nhậu khan.
– Cần tui phụ cái gì không?
– Mày xéo đi. Đừng có táy máy hai bàn tay nhơ nhớp vào thức ăn.
– Thế nào là nhơ nhớp? Anh đã nghe anh Đại giảng nghĩa chữ đó chưa? Rằng khi xưa chị Thuyên có lần…
Hắn ngậm miệng. Ánh thép vừa loáng lên và cây dao cắm ngập lưỡi vào cái thớt gỗ. Những trái dưa leo dưa chuột giật bắn mình mẫy lăn đổ xuống đất. Bàn tay anh hắn nổi vồng gân xanh.
– Mày có tin là tao sẽ giết mày không?
– Vì miếng ăn hay vì đàn bà?
Mắt anh hắn đã tắt đi ngọn đèn pha, đọng bên trong đỏ ngầu một tia lửa tỏa nhiệt. Mí mắt căng ra, nhìn hắn không nháy.
– Kể từ giờ này mày nên đi khỏi nhà ngay. Nuôi mày đã mười năm tao chẳng còn gì để hối hận cả. Tròn trịa quá rồi, vun đầy quá rồi. Và nếu có sức mẻ thì vết rạn nứt ấy do mày tạo nên.
– Tui biết anh không nỡ giết tui. Đăng một ô vuông từ em in trên tờ báo chợ thì có lẽ hợp với chuyên môn của anh hơn. Còn chuyện nuôi nấng? Thiệt cám ơn anh, sao anh chẳng nói là vừa thí cho tui một trăm đồng để đi xả xui.
– Khốn nạn thật! Miệng lưỡi y hệt như thằng Đại. Tao thật không ngờ mày chóng học nên những điều thâm độc từ bọn bất lương kia, mày có biết là chúng nó cố tình chia rẽ tình anh em không?
– Nhiều lần, tui cũng cố tin như vậy rồi anh ơi!
– Mày đã nghe nói qua chiến dịch Hoa hồng xám của bọn Việt cộng?
– Tiếng Việt tui dốt lắm. Và anh là người đã gây cho tui nỗi sợ hãi không muốn dây dưa với người đồng hương quanh đây. Chơi với tụi Tây đầm thiệt khỏe trí, không lươn lẹo. Tui yêu sự sòng phẳng quá chừng, như muốn ngủ với gái thì quẳng cho nó một mớ tiền.
Hắn ngửa cổ, đổ xuống một hơi bia đầy. Bia đắng, nhưng hậu vị là cả một sự ngọt ngào. Tình anh em trôi nổi sang xứ người, ban đầu thì mặn mà, thét còn lại cái cốt lõi chát chua. Cũng chẳng trách cứ gì ai được. Con người anh hắn khó tìm ra một kẻ tâm đầu ý hợp, vớ được bà Thuyên buộc lòng anh hắn phải trân qúy và xem mọi thứ khác đều là cỏ rác.
– Anh còn tiền không? Cho tui vay một trăm.
– Không có.
– Bao nhiêu đồ đạc tui sắm trong nhà này không đáng với cái giá đó sao? Cái T.V. Cái DVD. Cái đầu máy Video tui mua hơn cả ngàn chứ có phải đi ăn trộm của bá tánh đâu.
– Mày tính bán à? Bán thì tao mua. Một trăm, có phải không?
– Ừ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Xem như đám cưới anh tui là người tặng quà cáp hiến lễ sớm sủa nhất. Còn lời chúc anh chị trăm năm đầu bạc thì tui xin khất.
– Mày lại giở giọng điệu gì nữa đây? Mày tuồng như luôn có ác ý với bà Thuyên!
– Cái đó là do anh suy luận. Anh tài giỏi thì đừng để có ngày chị ấy phải ra thông cáo đòi li dị.
– Tiền đây. Cầm lấy mà đi chơi bời cho mắc bệnh chết cha mày luôn.
– Anh đã dẫn chị Thuyên đi thử máu chưa? Không khéo lại dính vô chữ hoa hồng xám quái quỷ gì đó!
Anh hắn sững mặt ra, trong một giây. Một giây sau thì bàn tay cầm lên chén nước mắm đặt gần đấy tạt hắt vào người hắn. Xác ớt tỏi giã vụn bám không rời hàng chữ “Hãy cứu vớt linh hồn tôi”, thấm vào da bỏng rát, tanh nồng. Hắn cười. Tiếng cười run rẫy giữ trong cần cổ, nghẹn vướng. Hắn cởi chiếc áo ném vào thùng rác:
– Anh nói giùm với chị Thuyên là linh hồn tui đã lỡ bán cho qủy rồi. Chuyện lấy Thủy, cô vợ Quy-nhơn xa ngãi mà chị ấy giới thiệu thì… no fucking way!
Hắn vào phòng vơ đại một chiếc áo rồi bỏ đi. Trời tạnh ráo. Gió thì thào trên cao làm những chùm lá cây như biết đái, rắc nước nhỏ giọt xuống người hắn. Cơn mưa hồi chiều thấm vào mặt lộ đen, thơm mùi ngai ngái. Những hàng đèn cháy đỏ bên kia đường, từ tiệm bán phim sex và diã nhạc không đủ sức thâm nhập vào vũng tối có đám yêu nữ trú thân. Một hai tiếng huýt sáo mồm trỗi lên. Ở xa, tiếng còi xe cảnh sát sắc nhọn đâm về từng chuỗi dài. Ba bốn mái đầu quay đảo ngó quanh quất.
– Uả, lại là mày nữa sao?
Con Nancy từ hẽm tối bước ra. Cách nhau mấy tiếng đồng hồ, bộ tịch và mặt mày nó vẫn không hề suy suyển, nhai kẹo cao su chanh chách và hai cái thánh giá vẫn luôn nhún nhảy.
– Phải mày không? Chiếc áo kia đâu?
– Tao đã lộng kiếng mà treo lên vách rồi.
– Cái gì? Mày nói sao?
– Ở xứ tao, vật gì quý giá hoặc thứ mà mình tỏ lòng yêu mến đều lộng kiếng cả. Xem nặng hơn cả ảnh ông bà cha mẹ. Bộ lạ lắm sao?
– Fuck you! Đừng làm tao cảm động chứ. Dù sao thì lần này mày chỉ trả có tám chục thôi.
– Tao chỉ còn năm chục. Mày có thể cho tao ngủ với mày một đêm không? Ngủ chay. Tuyệt đối chỉ ôm thôi, hoặc không thì nằm nói chuyện đời trước khi ngủ.
– Trên cuộc đời này có mẹ gì để nói, hở baby? Ăn ngủ ỉa đái và Fuck. Ngần ấy thôi. Hiểu không? Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ hư hao rồi. Mẹ kiếp cuộc đời!
– Tao chẳng thể hiểu được. Không có tình yêu chân thật hoặc thánh thiện sao?
Con đĩ ngựa cười ré lên:
– Đồ khùng. Đằng kia có cái nhà thờ, mày vào đó thì họ sẽ welcome.
Theo tay dong của con Nancy, ở hướng đó có thằng nhóc con quýnh quáng đạp xe trờ tới. Thằng nhỏ phun một tràng ngôn ngữ trong hơi thở đứt đoạn rồi cắm đầu đạp xe đi như một đứa say rượu. Mấy ả ăn sương biến mất thật nhanh, như nước thấm vào lòng đất. Chắc bị động ổ. Con đường chỉ còn lại mình hắn, đứng lẻ loi. Đứng như một cột điện đã có ai tháo gỡ bóng đèn. Đứng câm nín. Không mấy lâu, trên bức tường vôi đổ nát loang loáng ánh đèn xanh đỏ vẽ hoa ngũ sắc. Xe cảnh sát chạy thật chậm như đang đưa đám một đồng nghiệp đã xả thân diệt sạch tệ nạn xã hội. Trong xe vẳng ra tiếng máy truyền tin kêu ù ù cạc cạc và cặp mắt ai đó mãi nhìn hắn săm soi.
Hắn rảo buớc về hướng phố Tàu, ghé tiệm ăn quen thuộc và kéo lê chiếc ghế sắt đánh động bầu không khí đang uể oải trong quán.
– Hây. Lông thai nâu xi. Khoẻ không tài lũ? Lị xực cái gì đây?
– Hoành thánh mì.
– Thêm gì khác? Nước trà nhé?
– Hầy. Dậm xà.
Hắn ngó cái thằng người Tàu sinh quán ở Chợ-lớn. Tất cả chúng sinh dường như đều chạy trốn cộng sản. Chạy chết bỏ, chạy bất kể cha già mẹ yếu và cuối cùng có được trong tay tấm căn cước ghi chú hàng chữ: Vô tổ quốc. Ở trên một vùng đất đầy cỏ dại và ta phải cuốc xới tự khai quang để mong gieo được lúa. Một cánh đồng rộng, cày bở hơi tai trong câm lặng, nhiều ngộ nhận, dễ mất mùa. Nó đó. Nó tên A Hính, nói tiếng Việt xỉu xỉu, không nhiều. Cà lăm, sốt ruột khi nghe đương sự phát biểu ý kiến. Nhưng đa phần, những ý kiến ấy đều thành thực, rất an tâm khi tiếp cận.
– Lị còn ở chỗ cũ không?
Hắn hỏi. A Hính đáp:
– Còn chớ. Sao không ghé tới chơi?
– Ghé chơi làm gì, ngộ tính dọn tới ở chung với lị, có được không?
– Lị cỏn mách dệ? Nói sao? Đùa chơi hả?
– Thật chớ. Tiền nhà chia đôi. Chỉ mong có một chỗ để ngã lưng vào ban đêm thôi.
– OK. Thời buổi lày đi đâu cũng nghe nói tới kinh tế khó khăn. Tiết kiệm kiểu đó cũng nên lắm. Để mai ngộ đi làm thêm chiếc chià khoá.
– Li quả là hảo bằng hữu!
– Đừng rườm lời. Mụ cỏn mại li ti a! Chuyện nhỏ.
Hắn chià tay ra nắm bắt bàn tay của A Hính. Trước đây hắn từng xua tay và nói câu đó với Hính khi hai đứa làm chung trong một nhà máy. Giúp đỡ và dạy tiếng xứ người cho Hính. Điền một lá đơn xin bảo lãnh thân nhân, giới thiệu tới anh Đại để mua lại chiếc xe cũ với giá tượng trưng. Hắn nhấp môi vào tách trà nóng:
– Lị làm ở đây có khá không?
– Sao bằng chỗ cũ được. Được cái là rất sướng miệng khi nói tiếng Quảng-đông. Dính mảnh? Hầy ngộ sợ phải nói tiếng Anh với bọn mắt xanh lắm. Chẳng phải lộng ngôn chứ hạnh phúc đôi khi nằm ngay trong những cái thật tầm thường. Con em ngộ viết thư qua trách, đàn ông lấy công danh làm trọng sao anh lại chui đầu vào trong tửu lầu cao lâu mà phục vụ, hoang phí tuổi xanh. Than ôi, luôn luôn kẻ ở quê nhà đều ngó tới mình bằng tất cả những ngộ nhận!
– Ngộ hiểu. Sống chốn này có nhiều cái bực mình, bức rức như… mẵn cuối khíu chọ.
– Lị nói tiếng Tiều tiếng Quan-thoại hay tiếng Miên thế?
– Tiếng Việt đấy. Nghĩa của nó là muỗi cắn khó chịu.
– Cảo xồ a lị! Lộn xộn quá!
Tô mì hoành thánh nhạt nhẽo, hèn gì mà quán vắng khách. Tô phở hắn ăn hồi trưa cũng không khá hơn nhưng thực khách lai rai trên dưới mười người. Có vậy mới nghiệm ra dân tộc Việt-nam bác ái và độ lượng vô cùng. Dễ ăn, dễ nuôi, dễ tin, dễ bị lừa. Gốc gác Phật tổ chắc là người Việt mình thôi, con rồng cháu tiên mà lị, nghe sướng như nghe chuyện thần thoại hoang đường khoa học giả tưởng. Mô Phật! Hôm nay con ngã mặn dữ quá. Đã thế còn bị hứng nguyên một chén nước mắm từ tay ông anh, mặn hơn cả biển Thái-bình. Thôi, ta không vào địa ngục thì ai vào?
Hắn gọi chai Bud. A Hính mang ra chai bia nhãn hiệu cầu chứng tận cố quốc. Huda.
– Uống thử xem, hàng độc đó nghe, năm khi mười họa mới có.
Hắn cũng hiếu kỳ ngửa cổ rót bia xuống họng.
– Cũng dậy thôi. Xoàng. Huda là con mẹ gì?
– Là bia Huế do Đan-mạch làm sư phụ chỉ đạo. Họ ghép tên hai địa danh ấy lại và họ nhổ bớt lông lá cho được sạch sẽ gọn nhẹ.
– Hú hồn! Chẳng sáng tạo được chữ nào nghe quyến rũ hơn sao?
Hắn chẳng thể chuyện trò dông dài với thằng bồi bàn. Một đám nai vàng bầu đoàn thê tử vừa kéo nhau vào, loạn xạ tiếng cười đùa tự nhiên như người Hà-lội. Và dĩ nhiên A Hính bị quay mòng giữa biển người đó. Chỉ một tiếng chào cũng phân tâm không thể đáp lễ. Cước bộ thoăn thoắt. Khăn trải bàn, bình trà nóng và chồng ly tách chén dĩa cao ngất ngưỡng trong tay ôm.
Hắn bước xuống những bậc thềm, đứng dưới tấm bảng vẽ hình Long Phượng quấn quít vặn vẹo cái lưng. Chẳng còn một địa chỉ nào khác. Cơ thể mỏi mệt réo gọi thầm một mặt nệm, một giấc ngủ. Hắn từng có khi tiêu phí thời gian bằng cách chui xuống métro, đi từ khởi điểm này đến một kết thúc khác. Đổi tuyến đường màu này sang một tuyến đường màu nọ. Loanh quanh dưới lòng đất, sật sừ với độ rung chuyển của con tàu xé gió, đi cùng khắp những địa đạo mà Montréal có được. Nhưng bây giờ thì không thể. Não nề lắm. Côi cút lắm. Trông như một kẻ bị ruồng bỏ, vô công rỗi nghề, vô tổ quốc vô gia đình vô gia cư… Vô tận cùng của chữ vô buốt giá. Hãy về ngủ thôi. Giờ này họ đã ăn xong. Có thể đã từ biệt hôn nhau bịn rịn trước sân cỏ lung linh ngàn lá đùa nghịch dưới ánh đèn đường. Cánh tay buông thỏng khi người kia rời ra, nói lời hứa sẽ trở lại. Tiếng máy xe nổ và bàn tay có đeo chiếc vòng ngọc thò ra vẫy, cánh tay trần, da trắng đục một màu sữa khuấy rối từng vệt trong bóng tối. Nghe tả, hồ ly tinh đẹp hãi hùng. Nhan sắc của bà Thuyên chẳng có ma lực gì để khiến người đối diện phải mê mẫn tâm thần. Hắn không hiểu được tình yêu. Người đàn ông bốn mươi tuổi như anh hắn bỗng dại khờ như một nam đồng tử còn trinh trắng, mù quáng đi theo tiếng gọi của ma nữ, sẵn sàng làm con thiêu thân lao vào vũng sáng quáng gà, thui chột.
Khi hắn mở cửa vào nhà, tai hắn đón nhận một chuỗi tiếng động lạ. Phòng anh hắn còn thắp đèn, thứ đèn mờ dùng để đọc sách trên giường liếm ra ngoài hành lang một vệt vàng xỉn. Nó đi qua cánh cửa khép không kín nên nó bị ép nhỏ thành hình một lưỡi kiếm nhọn mũi. Có tiếng cười sắc như dao của bà Thuyên len lỏi ra:
– Anh nhìn cái vật của con mẹ đó đi. Ghê quá hở? Xời, tài tử gì trông phát khiếp!
– Ủa, vậy thì bình thường nó đẹp hơn sao?
– Dĩ nhiên… Hà, còn giả bộ ngây thơ. Cái mặt sững sờ ngó phát ghét!
Những tiếng thở gấp rút có nhạc đệm gợi tình từ cái TV stereo bức rức xướng họa. Tài tình thật. Mua rẻ một trăm, muốn ăn chắc liền bê từ ngoài phòng khách vào thu dấu trong buồng mình. Và phút giây đầu tiên, chủ nhân ông bắt nó lao động liền tù tì, phục vụ chiếu hình đồi trụy bá thở, chim bướm bay đầy trời, hơi bị thoải mái.
– Anh mua nhằm phim dở rồi. Chẳng có cốt truyện gì cả. Cứ làm lui làm tới chừng đó động tác.
– Đâu có lựa được. Hồi chiều cứ sợ nó nhìn thấy bọn mình đứng đó thì quê mặt cả đám.
– Thuyên hỏi thật cái này nghe. Em thì hoang đàng như thế, còn ông anh thì sao? Ngủ với đĩ lần nào chưa?
– Nói tầm bậy. Coi phim đi, đặng chốc nữa còn làm tài tử.
– Nó có dẫn xác về bất tử không đó?
– Yên tâm. Nó có tiền và bọn trẻ thì thiếu gì mục ăn chơi về khuya.
– Nó có tương lai lắm chứ không đùa à nghe.
– Là sao?
– Đẹp trai hơn anh. Nhỏ tuổi thua anh. Hai con mắt cu cậu rất thu hồn. Mỗi lần nó nhìn Thuyên, có cảm tưởng như mình đang trần truồng. Thuyên sợ…
– Sợ gì? Anh đuổi cổ nó đi mất đất rồi. Mà tại sao em ưa nhắc tới nó vậy?
– Ừ. Chẳng hiểu tại sao. Thuyên yêu anh và sợ một ngày nào đó nó sẽ làm chuyện tầm bậy.
– Nghĩ quẩn. Em chỉ nên tập trung đầu óc vào chuyện giấy tờ li dị thôi. Ô kê? Có được trong tay một ít tài sản thì hoàn cảnh sẽ biến đổi ngay.
– Cũng cầu mong thế. Nhưng có tiền đâu phải làm cha thiên hạ, đạp đổ lời đàm tiếu ong ve dư luận.
– Khờ quá. Tụi mình sẽ bỏ cái thành phố lắm chuyện này mà đi xa.
– Anh tính toán nghe cũng tạm được. Nhưng có người chồng thông minh chưa đủ, để thử chuyện kia xem anh làm có tới không?
Họ yên lặng, thôi thì thầm, ngưng nói năng. Cái giường già nua, từ hồi chính phủ cho khi mới sang, trường thọ tới giờ này bắt đầu lẩy bẩy kêu ca cót két. Hắn nín thở. Tiếng rên của bà Thuyên mỗi lúc một khuếch đại hơn lên. Chịu không nổi, hắn tới mở hé cánh cửa, rộng hơn một tẹo. Cuốn phim đã hết nhưng màn ảnh truyền hình chẳng ai rảnh tay để tắt đi. Căn phòng như có tráng lân tinh, xanh xao một cách quái đản. Bà Thuyên đang ngồi trên người anh hắn, sừng sững khối thịt da trắng muốt. Anh hắn như chiếc ghe mà mặt nệm là đại dương sóng lớn. Thân hình người đàn bà lắc lư uốn lượn. Mái tóc rối loạn dập dềnh. Đôi mắt khép hờ, đê mê. Đôi mắt nhắm lại, thụ hưởng. Nhắm kín rồi mở to. Mở trước tụ điểm mà mình hoài nghi, không tin. Ngây dại, hoảng hốt. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Khi đã xác tín ra sự thật thì bắt đầu cất lên tiếng thét, thất thanh, sảng viá như đang gặp ma, đưa tay cuống cuồng giật vội một mảnh xiêm y. Anh hắn trồi đầu lên khỏi chăn khỏi gối, khỏi niềm hạnh phúc đang đi ngon trớn giữa đàng.
– Lại là mày, thằng khốn kiếp!
Hắn đứng lù lù ra đó như một hình nhân bị thôi miên.
– Mả cha mày. Trời sinh mày ra làm chi để luôn báo hại người khác!
– Tui kiểm lại rồi. Hồi nãy anh chỉ đưa cho tui có bảy mươi lăm đồng…
– Thì mai tao đưa thêm cho. Bộ có con đĩ đứng ngoài dọa đào mả hay sao mà khẩn trương dữ vậy?
Anh hắn không biết thẹn thùng, chẳng thu cất của qúy, trần truồng nhảy khỏi giường chạy lại đóng mạnh cánh cửa.
– Thật mất sướng. Thôi, để Thuyên về.
– Em đừng chơi ngặt, rồi cả hai sẽ ngủ không xuống đâu.
– Thấy chưa? Thuyên vừa kể cho anh nghe… Sao nó linh như một cái miễu. Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo xuất hiện.
– Thằng chó chết.
– Chẳng biết cu cậu đã bỏ đi hay còn đứng rình ở ngoài?
– Địt me, càng nghĩ càng tức, thằng này chắc không phải em ruột của anh, phải tống cổ ra ngoài đường mới khỏi lôi thôi.
Cánh cửa mở ra. Anh hắn đã tròng vào thân chiếc quần cụt, mình trần trơn ướt, tay nắm cây vợt tennis như vừa chơi xong mấy trận hào hứng. Người đàn bà đứng ló đầu ra khỏi cửa phòng hồi hộp theo dõi màn chung kết. Trước kẻ ngoại tộc ai lại vạch áo cho người xem lưng. Hắn nói, có chút thành thật:
– Tui xin lỗi. Thôi, chúc ngủ ngon.
– Ngủ con mẹ gì. Mày nói có khi mà đúng, mai tao sẽ đăng báo cái mẫu tin từ em. Giòng họ Hồ sẽ bớt đi được một thằng khốn nạn.
Thêm một cánh cửa nữa vừa đóng sập, sau lưng hắn. Đóng giận dữ. Phát ra tiếng động khô, tựa một hòn đạn thoát khỏi nòng súng. Đêm đã khuya, không một chiếc xe chạy ngang con đường tối. Hắn ngửa mặt lên trời, chẳng một vì sao. Đen dày, mông lung. Đêm hấp hối, đêm rạn nứt. Phiá sân nhà hàng xóm có tiếng chó sủa, tru tréo, ngầm xua đuổi. Đã lâu, giờ này hắn mới nghe lại tiếng chó gâu, gâu. Đi đi? Ừ, thì đã đành. Nhưng nào ta biết đi đâu!
Ngọn lửa và cây kiếm, phù hiệu một ngôi trường. Quân trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu. Si vis pacem, para bellum: Dù ta đang sống yên, vẫn lo phòng nguy biến. Đó là lý do hiện hữu ra câu thơ: Xếp bút nghiên theo việc đao cung. Thơ vẽ nên một cảnh giới không thực, hoặc nó đã trôi tuột theo những trang sách xưa. Hết tráng sĩ, hết tay gươm, hết bầu rượu, hết hí lộng với bờm ngựa, thôi vó câu rầm rộ, hết trăng treo trên mái lầu, hết sông trôi màu cổ nguyệt, hết áo bào thay chiếu anh về đất.
Đất ở đây nát nhừ đạn pháo, đất thực sự nguy biến và anh chỉ biết có mỗi việc là mong được sống yên. “Đừng quên cầu nguyện hôm nay bởi thượng đế sẽ chẳng quên đánh thức bạn mỗi sáng”. Giảng đường, thư viện đã đóng lại cánh cửa ngày hôm qua nhưng lời của Oswald Chambers còn dây dưa khi hôm nay anh đã khoác vào thân bộ quân phục. Giáo dục đôi khi làm cho con người trở nên mềm yếu và chẳng thực dụng khi đối mặt với cảnh giới này, cao độ 960 mét so với mặt biển. Tiểu đoàn anh nằm với gió mùa thất thường cuối tháng 3, khô cằn nắng nung thân để án binh trong giao thông hào đã hai tuần, những mộ huyệt tự đào loay hoay chật chội nhằm đón đợi và chuẩn bị đánh trả Bắc quân. Họ mang nguyên sư đoàn 320 Điện Biên nguyện đánh hết rác. Với 13 lá bài khi binh xập xám chướng, cơ bản là “Thùng thì thủ, cù lũ thì dương”. Và bộ đội sinh bắc tử nam đang được nắm giữ con bài sáng giá “cù lũ”. Nó đánh xuống chiếu bạc bằng thứ tiền tệ “tiền pháo hậu xung”. Đất động kinh từng cơn địa chấn, đất nát vụn đá tảng cỏ cây và xương thịt những đứa con trong tiểu đoàn. Sơn pháo 75 ly, cối 80 ly, hoả tiễn 122 cho tới 130 ly chuyên cần rót vãi, cực mê muội. Bụi đỏ phủ chụp xuống nón đồng, mắt đóng ghèn và tự động nước trong hố mắt ứa ra, lấm lem. Không có giải thích nào hay hơn về kiếp người bằng hình ảnh: Khi mở mắt chào đời ai trong chúng ta cũng đều cất tiếng khóc, và hạnh phúc thay khi chết đi, bạn chẳng nghe ra tiếng khóc của thân bằng quyến thuộc vây quanh.
Hoả lực rát quá ông thầy, đạn dược mình đâu đủ chia đều cho bọn chúng? Cầm cự được bao lâu? Anh ngó thằng lính, một sinh linh đồng loại mà ngỡ nó tựa kẻ ngoài hành tinh, nói như tự an ủi, binh chủng Dù đang tới giải vây, tiểu đoàn 11 “Song kiếm trấn ải” đang điều quân vào trận tiền. Mặt thằng lính thôi bám bụi, tươi tỉnh khi nghe tới tên đơn vị tiếp viện. Thế còn Thuỷ quân lục chiến, họ đang ở đâu? Vốn liếng của một Trung đội trưởng như anh rất khiêm nhượng nhưng buộc phải trả lời thằng đàn em trong chừng mực: Hiện tại họ đang làm sạch, khai thông một con lộ an toàn từ Khe Sanh xuống tới thị xã Quảng Trị và họ đang chịu những tổn thất lớn. Đối phương hăm he nổ lực làm chủ cục diện, dốc hết hoả lực nhằm chiếm bằng được Quảng Trị. Rõ là nó dồn chúng ta vào thế bị động, nó khơi mào và ta chỉ có việc đáp trả theo phản ứng, nhằm ngăn cản một vết dầu loang. Chận đứng mưu đồ xâm lăng, đó là nhiệm vụ trước tiên và sau cùng của một thằng lính. Quân đội chúng ta chưa từng đơm ý tưởng lấn chiếm và giải phóng một ai, chúng ta chỉ đi lấy lại từng phần lãnh thổ bị đối phương thâu tóm. Cái gì của César thì hãy nên trả lại cho César! Mông muội và đơn giản để hiểu thế.
Khi tai nhét chật sự bung nổ thật gần của hoả tiễn, sắp sửa bị chúng làm rách màn nhĩ thì mặt trận đột ngột im hẳn tiếng đạn pháo. Thính giác chỉ còn dây dưa manh động tiếng gì nghe như côn trùng rả rích, ù ù cạc cạc; hoặc đó là lời thì thầm của thiên thần, rằng ta đã cứu chuộc ngươi ra khỏi bàn tay của quỷ dữ. Để trả lời cho phút hoang mang, tiểu đoàn trường cho hay đơn vị thiện chiến Nhảy dù đã nhập cuộc và đẩy chúng không manh giáp về lại Trường sơn, chúng ta được lệnh triệt thoái. Hãy kiểm điểm lại những tổn thất, hãy thu vén những đổ vỡ, hãy hoàn hồn để lui binh về dưỡng sức ở hậu phương. Đi ngược, xuôi Nam khoảng tám cây số đường chim bay để dừng chân nơi bộ tư lệnh tiền phương đang cắm dùi, ở đó họ sẽ tìm cho tiểu đoàn một địa bàn để khai mở ra canh bạc mới sau khi chỉnh đốn và được bổ sung thêm quân số. Xuôi Nam, hiểu đơn giản là tuổi thọ của kiếp lính được kéo dài ra. Gió lành ở đó mê man thổi, nó lấy đi giùm anh nét phong sương đang bám và nó đánh cắp vẻ dữ tợn của đứa vừa thoát rời vùng giao tranh giăng bủa máu me.
Giống nòng súng bỏng khét khi xả đạn, con người anh cần giải nhiệt bởi khí trời. Sau lưng thị xã Quảng Trị, ngọn gió Lào khắc nghiệt bị xua đuổi bằng những cơn mưa bất chợt, bằng từng luồng gió nồng muối biển chạy luông tuồng vào từ cánh tay quàng mềm mại hướng Đông. Hoà bình là một thứ gì rất thật, rất nhỏ bé, rất tầm thường, nó ẩn mình sau tiếng gà gáy, trong tiếng chim trao đổi trên mỗi cành cây. Tiếng chó sủa cách khoảng giữa trưa, những cánh diều chao đảo ngập bóng nắng và ngay cả tiếng khóc khát sữa của một hài nhi, nó vẽ ra đủ đầy một bức tranh nhốt chặt hoà bình. Anh cảm động đến độ nghe chân mỏi khi phát hiện, nhìn nhận ra cái vẻ đẹp của vùng đất im tiếng súng. Anh thèm được đắm mình vào để thụ hưởng và đôi giày saut lấm bụi đỏ của anh đặt vào hiên quán cà phê đứng neo thân bên con lộ đen màu hắc ín. Căn cứ của đồng minh không hiện diện quanh khu vực phòng thủ, nhưng ở mái tranh vách đất này có chiếc cassette đang phát giọng trầm buồn của James Taylor hát bài You’re got a freind. “Khi bạn rơi xuống bao phiền muộn thì xin hãy gọi tên tôi, tôi sẽ đến kề bên bạn…” Thật cảm động, thật chân tình và dường như nó đang gần trở thành một thứ tựa như hàng hiếm. Bạn anh có đứa chết chẳng toàn thây ngày đầu ra đơn vị, có đứa nằm trong poncho đun vào ngăn lạnh ở tổng y viện Duy Tân chờ mẹ run rẩy từ Sài-gòn ra lo hậu sự. Mẹ bảo nằm mộng nghe tiếng con gọi lên từ địa ngục môn và mẹ đang đến gần bên con hòng mang hình hài con về lại quê cũ. Có đứa xuống tóc làm thầy chùa ẩn thân nơi heo hút khản giọng đọc miết trang kinh khô lạnh A di đà. Có đứa mất dấu trần thân đi suốt 4 vùng chiến thuật mà những KBC luôn từ chối một đón nhận hoặc chuyển trao tâm thư…
Anh gọi một ly cà phê đen đá để tự trắc nghiệm lấy trí nhớ, đã mấy tháng qua anh mới uống lại thứ chất lỏng đen đúa này? Ngoài dung lượng chỉ thuần để giải khát, cà phê còn mang lại cho anh một thức tỉnh quý giá về sự so sánh, hơn ba sư đoàn thay nhau điều quân về trấn giữ vùng hoả tuyến, có ai trong số họ từng đón nhận phút thảnh thơi đầy sảng khoái này. Hãy bình tâm chiêm nghiệm nó, như hình ảnh một vị tỳ khưu đi suốt cuộc lữ với mục đích duy nhất là đào bới đời sống để giải quyết chuyện sống chết, mang sứ mệnh cởi bỏ ràng buộc cho chúng sinh. Anh là một quân nhân, bị thời cuộc vây hãm, anh cũng góp phần giải quyết sự sống chết nhưng anh chỉ là mặt sau, phần ám tối nhất mà vị tỳ khưu kia đã buông bỏ. Tâm anh vẫn thường hiện ra câu văn: Khi tôi chết đi, xin bạn đừng đến gần bên tôi, bởi khi đó tôi sẽ không tài nào với tay ra để lau khô những giọt nước mắt của bạn được.
Khi uống cạn ly cà phê đá ngon ngoài sức tưởng tượng anh mới phát hiện ra trong quán còn có một vị khách xa lạ. Quen mắt với khói bụi, với nắng nung lửa, với áo giáp nón đồng, súng đạn quân trang quân dụng, giờ đây anh không khỏi bỡ ngỡ khi nhìn thấy một suối tóc đổ xuống bên lưng một người con gái yếu mềm. Giữa heo hút cách trở chốn này, hiện thân cô nơi góc tối quả là một điều không tưởng, cô như một trái hoả châu vừa bung nở giữa đêm nồng mùi thuốc súng. Bóng tối sẽ phủ chụp nhưng đốm sáng lẻ loi kia vẫn còn ẻo lã trôi trong võng mô. Cô ngồi hướng mặt tới anh, khuôn mặt dịu hiền ấy thoáng thắp nên một nụ cười. Cô đã ngầm quan sát anh, nụ cười nọ tựu thành do bởi sự tin cậy, rằng có thể anh ta là một Thiếu uý sạch nước cản chẳng đáng ngại. Tôi thật chẳng muốn về lại nơi dưỡng quân giờ này, chúng ta nên uống thêm một thứ gì đó chăng? Anh nói trong khi đứng lên, một chiếc GMC nặng nhọc chạy ngang khiến cô gái bị phân tâm. Cô cũng đứng lên, ngó vu vơ ra ngoài khung cửa vàng nắng bụi. Theo kinh nghiệm tôi có được cô không nên ngồi gần bên cửa, lùi sát vào vách nhà, càng xa mặt đường càng tốt. Anh tự động làm người công binh vạch ra một nơi anh cho là an toàn rồi hỏi: Cô có bận rộn việc gì không?
Họ vào ngồi bên một vuông bàn khác, xa luồng sáng. Cái máy cassette đặt gần đó thôi phát ra âm thanh, nghe tiếng dép lẹt xẹt đi lại gần. Anh gọi ly cà phê khác còn cô gái gọi chai nước cam. Cô ngó cái bảng tên thêu chỉ đen may trên túi áo, nó không có dấu. Anh tên Trường, phải không? Hay tên Trương? Cô gái nói, giọng Huế, trong vắt, ngọt như một ngụm nước cam thấm đẫm trên lưỡi. Sao chỉ nhặt ra có hai thôi? Bởi vì chẳng có ai tên Trướng, và Trưởng là tên một vị tướng tư lệnh vùng 1, Thiếu uý phải biết kiêng dè và lễ độ chớ. Anh cười thích thú với lối khơi mở câu chuyện của cô ấy. Phải, tôi tên Trường bởi tôi ghét mang tên Trương “miếu ai như miếu vợ chàng Trương, ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ…” Tôi đoán không lầm cô là một học sinh? Hay sinh viên? Dạ, học sinh trường Nữ Thành nội. Có bao giờ anh đón nhận một món quà mọn được trao đi từ các “em gái hậu phương”? Có chuyện đó sao? Tại tôi sinh sau đẻ muộn chăng? Cô nữ sinh nhìn vào khuôn mặt rám nắng của người lính chỉ lớn tuổi hơn cô chừng bảy tám năm, cô nói: Khoản tháng trước trường có tổ chức một chuyến đi uỷ lạo bằng trực thăng đến các tiền đồn. Ba mươi ngày trước anh đóng quân ở đâu? Ở một nơi chẳng mấy an toàn cho trực thăng đáp xuống, thành thực để nói là sinh mạng các em học sinh ở thành phố rất lớn lao, sợ chúng tôi không đủ khả năng để bảo vệ; và như vậy thì chúng tôi nào có may mắn để nhận quà phương xa.
Cô gái vén tóc lui sau, moi trong túi quần ra một chiếc khăn tay trắng ngần được gấp làm tư, vuông vắn, cỏ vẻ mềm mại, thơm tho. Cô đặt nó trên bàn, tránh những vòng tròn ngấn nước, trước mặt anh: Tặng cho anh đó. Cô nói và cúi mặt miệng ngậm chặt cái ống hút, mực nước trong chai vơi thấp. Trước khi cầm lấy món quà bất ngờ, anh ngó qua đôi bàn tay mình rồi chà xát mười ngón lên đầu gối, chỗ ấy vốn sẵn đã ngã màu. Vải phin mỏng, may tay công phu ở bốn bề cho vải khỏi xơ và nơi góc có cánh hoa thêu bằng chỉ tím. Một góc khác là hàng chữ nhỏ: Trần Thị Vĩnh Định, 11 A Nữ Thành Nội. Vĩnh Định cho tôi à? Nếu anh không kiêng cử dị đoan về một cái khăn tay. Vĩnh Định quê ở đây? Sao anh biết? Vì chúng ta ngồi không xa một con sông có tên Thạch Hãn trôi ngang mà Vĩnh Định là một phụ lưu của con sông đó. Vì tình hình càng lúc càng mất an ninh nên Mạ em quyết định bán đi căn nhà ở ngoài này, ngày mai hai mạ con lại lục đục trở vô lại Huế. Liệu Huế có phải chịu cảnh bom rơi đạn lạc không anh? Làm sao anh biết được, bọn anh đã gắng sức lập ra một hàng rào phòng thủ nhằm bảo vệ lấy Huế của Vĩnh Định. Cấp trên bảo, hãy giữ lấy bằng bất cứ giá nào. Miền Nam mà mất Huế, đó là điều không thể xẩy ra. Cũng tựa như chiếc khăn thêu này, anh sẽ giữ nó cho tới hồi buông súng.
Họ chia tay khi trời dim bóng nắng, khi quán bắt đầu ồn ào bởi có toán lính vào gọi bia. Họ đứng tần ngần một đỗi, anh bảo là ngày mai anh chẳng thể đưa tiễn Vĩnh Định ở bến xe đò, chiếc khăn vuông vắn mãi nằm yên trong túi áo, không thể trải rộng ra, đưa lên cao vung vẫy theo đuôi chiếc xe đò vừa khuấy bụi. Vĩnh Định cúi mặt nói: Anh ráng giữ gìn. Anh nói: Yên tâm, sẽ có lúc anh đi lùng sục ở Huế để tìm cho ra nơi Vĩnh Định sống, sẽ mang theo một món quà bất ngờ… Và rồi họ chia tay, đâu lưng, đi mỗi lúc một xa trên con lộ còn lưu giữ nhiệt lượng của mặt trời. Phía tây bắc vừa chuyền gửi về cơn địa chấn.
Phối hợp cùng một đơn vị của sư đoàn 3 bộ binh, tiểu đoàn anh được lệnh mang con cái ra “thăm thú” cổ thành Quảng Tri. Càng bắc tiến càng cảm nhận cái nóng khô xô đẩy trong luồng gió ngược, táp lấy tựa một ngọn lửa. Những ngọn lá tre, những bẹ lá chuối bắt đầu vàng vọt oằn thân hứng chịu. Không còn một sinh vật nào chạy hoảng loạn trên quốc lộ 1 mỗi lúc một thu bé bề rộng. Đôi chỗ đạn pháo cắm xuống làm bung vỡ mặt lộ đổ dầu hắc trầy da tróc vảy lỗ hê lỗ hổng. Mưa xuống sẽ biến nó thành những cái giếng nước mọc cách khoảng làm nơi giải hạn cho chim chóc thú hoang về trầm mình tắm táp dạn dĩ đùa cợt.
Dừng quân khi đêm về và dàn trải đội hình bên khúc sông đầy cỏ lau, có thể đó là sông Thạch Hãn, nếu đúng thì tiểu đoàn đang ở phía tây nam Cổ thành Quảng Trị và không chừng bên kia sông đang có sự hiện diện của Bắc quân. Giữa đôi bờ gió nhẹ reo vi vu la đà trên mặt sông đen thẩm chừng kèm gửi chút mùi vị lạ. Không là hương hoa dại làm người ngầy ngật mà sự ngây dại này do mơ hồ nhận biết ấy là mùi của tử khí. AK 47 bắt đầu khai hoả từng tràng rầm rộ, vi vút và léo nhéo bay qua con sông nước thấp, vạch từng đường đạn cháy bỏng màn đêm. Bờ bên này PRC 25 cũng bắt đầu phát sóng nhằm bắt đúng tần số liên lạc cốt để báo cáo thẩm quyền chúng tôi đang nằm trong tầm nhắm của đối phương, chúng trực xạ và áng chừng khó bề mang quân sang sông. Anh nghe nhói đau ở ngực, chiếc khăn tay gấp làm tư có thêu một nụ hoa bằng chỉ màu đang bị nhuộm máu, loang dần sang Trần Thị Vĩnh Định. Một suối tóc đen trôi đổ sau lưng và mơ hồ tai anh nghe lời tình tự của James Taylor: “When you’re down and troubled, and you need some love and care; and nothing, nothing is going right. Close your eyes and think of me, and soon I will be there… You’re got a freind…”
Anh nhắm mắt lại, còn đó là nụ cười trong sáng hiền dịu. Xin em đừng gọi tên anh, bởi anh chẳng tài nào đến được bên em. Mơ tưởng về một ngày đặt chân vào kinh thành Huế dọ hỏi căn nhà có Vĩnh Định ngồi thêu thùa đã vuột mất giờ này. Giai đoạn mà chúng ta đang sống đã thật sự chẳng kiếm đâu ra một người bạn nguyện san sẻ niềm đau của chúng ta. Anh đổ người xuống bên dòng nước cạn, tiếng thằng đệ tử gào trong hoảng loạn: Ông thầy, ông thầy, Thiếu uý đừng sớm bỏ em… Nothing, nothing is going right. Lửa đã tắt và cây kiếm vừa gãy. Cư an tư nguy. Nguy khốn đang phủ chụp, chẳng có lấy chút bình an.
Từ khi có iPhone em thôi ngó ngàng tới cái đồng hồ đeo tay. Một hôm em reo lên: A, chị có cái này cho Tâm. Đứa con gái tuổi 20 đi du lịch ngắn ngày, từ Việt-nam sang thăm người chị bà con, mặt rạng rỡ: Bất kể là thứ gì, đối với em quà chị trao cũng đều có giá trị cả.
Lùng sục một hồi rõ lâu, áng chừng thời khắc làm lụn tàn ba cây nhang. Tôi phải điền vào chỗ trống để hỏi chuyện Tâm, bâng quơ về mưa nắng bên nhà. Tâm khoẻ mạnh, có nước da mặn mà của kẻ chẳng ngại phơi đầu trần giữa chốn phồn hoa lấm bụi. Biết là em họ của vợ nhưng tôi không dọ hỏi quàng xiên về dây mơ rễ má. Nếu Tâm là đờn ông con trai không chừng khi ấy hai đứa sẽ chuyện trò rôm rả hơn, mời bia lạnh thay vì nước trà nóng.
Em xuất hiện, có vẻ vui vì tìm ra thứ lỡ phụ bạc. Hoặc giả vui vì biết ít ra thằng chồng mình cũng có chút lịch sự tối thiểu, gã diện đồ tử tế ra han hỏi chẳng để khách ngồi nóng ruột hoang mang. Quà em trao là chiếc đồng hồ, nhớ không lầm tôi mua tặng em hôm ăn mừng sinh nhật tuổi 40. Đồng hồ làm ở Thuỵ sĩ, tuy không mang thương hiệu Rolex, Omega nhưng giá trị nó tuyệt chẳng hề thấp kém. Nó có mười hai trụ đèn và một cửa sổ. Hôm nay ngày mấy anh? Tâm trả lời thế kẻ đang ra sức hồi nhớ. Dạ, ngày 31. Vừa vặn trục chốt, dĩ nhiên là theo chiều quay của kim đồng hồ, em vừa giải thích: Cái này thuộc loại đồng hồ có người lái em ạ, em phải vung vẫy đánh tay, em phải nhúc nhích nó mới hoạt động theo. Nó nằm trong tủ hẳn lâu nên nó tạm thời tắc thở. Dạ, em biết, ở bên mình gọi là ô tô ma lắc.
Nói mới nhớ, hôm nay đã là cuối năm. Mình sửa soạn đi shopping để chị mua tặng em chiếc áo ngự hàn, ăn mặc phong phanh kiểu em thì chịu đời chi thấu. Mai đầu năm mọi nơi đều đóng cửa, chợ búa thì sao hở anh? Tâm nhìn tôi với ánh mắt xem chừng âu yếm, thinh lặng dè chừng gửi trao. Em thì ngó tôi ngầm chờ đợi một đáp trả nhằm nói lên đẳng cấp của một người đàn bà đã xoá bôi hai chữ “nội trợ” trong mục nghề nghiệp. Tôi thành thực khai báo: Hai người cứ an tâm đi mua sắm, tôi sẽ đi chợ và chí thú nấu ăn, tối nay mình làm bữa tiệc tống cựu nghinh tân rầm rộ. Tâm thích ăn gì nào? Dạ em thuộc diện dễ nuôi, anh cho gì thì em ăn nấy. Vừa nói Tâm vừa săm soi chiếc đồng hồ đeo vừa vặn ở cổ tay, xem thử mình cố tình nhúc nhích mà “hắn” có chịu lao động không. Ở xứ này hẳn chẳng có đồ hàng nhái. Eo ôi, qua chưa đầy tháng mà vòng số hai đã sớm nuôi mộng bành trướng. Sao thức gì tộng vào họng cũng thấy ngon, khổ thế!
Em bảo với cô em họ, nhờ trời là ảnh nấu ăn cỡ huyền đai nhất đẳng nên chị đỡ cực thân đôi phần. Một đầu bếp, thường họ không ưa kẻ khác nhúng tay vào, sợ hư bột hư đường, em hiểu không? Đôi khi áy náy xắn tay đòi phụ nhặt rau cũng bị ổng cự nự. Giời, nhất chị rồi, bên mình kêu bằng: thiệt khéo tu! Đàn ông bên mình hư đốn lắm chị ạ! Gia trưởng độc tài phong kiến lạc hậu rất bức xúc!
Khi được ca ngợi, lời có chắp cánh, thường thì đứa được tuyên dương sẽ phổng mũi lên, nhưng trường hợp này khác, đợi đó, chờ chiều tối hẳn nở mũi cũng chưa muộn. Công việc nấu ăn, khứu giác cũng góp phần chẳng phải ít. Để phân biệt giữa thơm thối, khét khê nhão cháy sống chín chẳng hạn. Anh rắc chút này vào nồi, anh ném chút kia vào chảo là cũng do cái lỗ mũi nó xúi đấy thôi, bàn tay chỉ là phương tiện nhất thời phụng mạng nghe theo cái sự ngửi. Dọn thức ăn ra mà vợ phán: ngửi không được thì ta phải thua keo này bày keo khác. Đứt tay phỏng chân liên hồi kỳ trận thì ắt có ngày phải kinh nghiệm đầy mình vậy.
Hai quý bà quý cô linh hoạt dồn đẩy nhau vào phòng khép hờ cửa thay đổi xiêm y, rộn ràng từ giã căn nhà cô quạnh để hứng khởi lao vào chốn rậm rật ánh đèn người chen kẻ lấn vất cái này xuống cầm cái kia lên huyên thuyên môi cười miệng nói, bỏ quên thằng đàn ông đứng thầm lặng sau cánh cửa đóng sập ngăn buốt giá tuyết đầu mùa. Hắn đứng, đầu óc mê muội không có đáp án với bài toán hiểm hóc: Chẳng biết nấu nướng món gì đặc sắc hòng đãi người phương xa vui chân tạm trú? Không nem công chả phượng thì chí ít phải nhẹ nặng mặn ngọt đuề huề bốn món bày ra ngó xôm tụ mâm cơm. Tam thập lục kế mà ai kia đã xoá đi chữ “tẩu vi thượng sách”. Mụ mị với bần thần thở dài đánh sượt. Rõ là ta dại ta bắt tay ông Táo người khôn người đến chốn lao xao.
Trời lạnh, rau cỏ trái cây chất xanh nói chung là thực vật thảy đều lên giá. Tâm em có tin anh không chứ cầm hai trăm đô vất ra để đổi được chiếc xe chất đồ lỏng le khật khùng đẩy tới quầy tính tiền. Nghêu sò ốc hến, heo bò tôm thịt lần lượt chất lên mà thiếu bầu cua cá cọp nai gà. Hai trăm đồng vô ngồi sòng bài casino có khi phát tài thành ngàn đô nếu vận số đang hồi đỏ. Một nghìn đồng, ừ nhỉ, khi ấy tớ về trùm chăn ngủ giấc mộng đẹp, năm sáu giờ vươn vai ngồi dậy nhẫn nha bốc điện thoại gọi tên một nhà hàng biểu mang lại cho tớ cái thứ mà chúng mày chuyên đãi trong tiệc cưới đấy. Cái thực đơn mười món mà đọc lên nghe róc rách như ngâm một bài cổ thi thời nhà Đường bên nước lạ.
Chợ chiều, chợ phút chót mà cũng lắm kẻ nhanh tay đi nhặt nhạnh hàng ế ẩm và an ủi thay, nhìn quanh nhìn quất toàn cả một bè lũ đại trượng phu mày ngài râu hùm hàm én cá mè một lứa tựa nhau cả. Lạ, cứ y như rằng hôm nay là ngày phụ nữ quốc tế mà theo hợp đồng không văn bản chính thức tuyên bố: Hãy để cho chị em ta ngơi nghỉ kẻo sứt mẻ ngọc thể. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh. Đàn bà đi shop thì đàn ông phải nấu ăn. Fair enough. Còn ai trồng khoai đất này!
Trồng khoai xong, thu hoạch vụ mùa rồi chất khoai lên xe chạy u về nhà. Gọt rửa khoai và bắt khoai lên bếp lửa ninh hầm. Chớ già mà cũng đừng non, lửa trung bình dục tốc bất đạt. Mở máy điện toán thông minh, sa chân vào mạng lưới chằng chịt hòng tra cứu bí kíp do các chưởng môn nhân ẩm thực dốc lòng truyền đạt, tu luyện xem mình có được mấy phần hoả hầu. Ấy, cũng phải có căn cơ mới đọc thông khẩu quyết, bởi vì cũng là bún bò phở gà cháo cá lươn xào mực ran nấm nhồi thịt mì chiên dòn súp bát bửu… mà bà nội này vẽ đường hươu chạy kiểu khác với cha nội kia. Đơn giản như công thức làm thế nào để nấu món chay ngó sao cho mặn miệng thì vị áo lam bày đường khác với vị áo vàng hăng say chỉ lối kia. Nấu không đạt là do thí chủ lòng còn nặng nghiệp chướng đấy thôi. Người như thí chủ đã xuống tóc rồi mà tham sân si còn dùng dằng luyến lưu nơi cổng chùa chưa đành đoạn dứt bỏ thì ta chỉ biết chắp tay: Tội lỗi tội lỗi. Thí chủ mà nghe một nữ nhơn rống khóc bên hàng dậu tru tréo đồ lừa lọc thì có vào đây sám hối đọc làu ba ngàn cuốn sách suốt đời cũng chẳng đắc đạo. Em khóc chi tiếng đau lòng, hậu liêu đêm vắng nước mắt anh lòng thòng đổ ra.
Loay hoay và lui cui mặc thời gian là vó câu vụt phóng qua ô cửa. Chiều tà nhuộm bóng hoàng hôn rồi đèn đường cháy tỏ mừng đón đêm về. Nhị vị cô nương tay xách nách mang vừa kịp hạ sơn, cung kính không bằng phụng mạng em thi triển khinh công ảo diệu đến sát người: Các hạ ở nhà có nhớ bản cô nương không? Tại hạ có mua cho các hạ một thanh bảo kiếm, từ nay chớ than là thái thịt đến mỏi tay. Ngôn rằng bảo kiếm vì giá gốc nó ghi là 195 lạng bạc, xeo rồi còn đúng 50 lạng. Lòng nghi hoặc cầm lên dụt xuống rồi lại cầm lên. Bản cô nương tậu nó vì mấy chữ “Made in Japan” thổi sợi tóc qua lưỡi rơi làm hai rất đỗi nhẹ nhàng tợ kiếm của samurai chính hiệu, chớ sản xuất từ China thì đã chẳng tha về cho chật bếp sếp la.
Tâm góp tiếng: Em bảo chị để em giả tiền mua làm quà tặng anh mà chị can ngăn, vợ chồng cho nhau đao kiếm thì được chứ để người ngoài tặng nó thì chớ nên. Nó xui cả năm em ạ! Bên nhà ưa xài dao Thái-lan. Bén lắm, mấy bà khuyến mãi tiếp thị nói thiến cái đó cũng ngọt ngào chứ đừng nói chi cho dông dài. Em hỏi “cái đó” là cái chi chi. Tâm nhìn tôi, đưa tay bụm miệng, mặt đứa em bà con tự dưng đỏ au. Để khoả lấp, Tâm nói: Đợi em đi đái chút xíu, xong em sẽ đứng bên anh chờ nghe sai bảo. Là con gái em thiệt áy náy khi ngó ra anh luôn tay động thủ giận cá chém thớt. Em chêm cục gạch: Khoan đã, vào thử bộ nội y hàng hiệu cho chị xem, nếu thấy nó xếch xi thì chị sẽ đi sắm sau.
Họ lại rù quến lôi nhau vào phòng trửng giỡn khoe nội y. Ai không nói chứ em ưa moi iPhone ra xeo-phì tự sướng, đưa lý do chính đáng: chứ bữa nào già khú lại hối tiếc mơ mòng hổng biết ngày ấy da thịt mình ra sao. Họ thắp đèn, họ đóng cửa kêu cái đùng. Phòng ngủ ấm áp kia biến thành lãnh cung từ ngày có Tâm đột ngột dẫn xác qua thăm, em đã ra sắc lệnh buộc tôi phải ôm đồ đoàn lưu vong ra chiếm ngự phòng khách, tạm trú nơi cái futon trằn trọc năm canh nát nhàu giấc điệp, trăn trở nhác chơi tựa như long sàn có rệp. Em lập ngôn: Hổng được cự nự, tiên vi khách hậu vi chủ. Chung quy tại Tâm nên lóng rày hoàng thượng nghe long thể bất an chút đỉnh. Vua không ngai nên chẳng lấy đó làm điều, chẳng có long bào nên lộ ra cõi lòng vô lượng tuyệt đối không chấp nê. Ái khanh ngủ với cung tần, cảm giác mới lạ ấy ắt hẳn êm đềm hơn chân cẳng bệ hạ gát lên ban ơn mưa móc?
Rồi cơm nóng canh sốt được dọn lên bàn, rồi trần ai khoai củ so đũa xới cơm bày biện tinh tươm thiếu đường thưa bẩm kính mời nhị vị tiên cô di dời gót ngọc hạ cố dùng bữa tiệc mọn đêm cùng năm tận. Tâm xuất hiện và phát biểu cảm tưởng chỉ duy một chữ cô đọng: Wow! Một chữ hà tiện chẳng nói lên được điều gì cụ thể nhưng cũng chính nó tải hết biết bao nhiêu sự ngưỡng mộ chẳng thể chuyển đạt thành lời. Tôi cũng muốn gào chữ Wow khi ngó dáng Tâm chờn vờn lay động bên thân. Ngày đầu Tâm qua, hương mùi cố quận váng vất những trưa hè với gió biển mặn muối. Ai khiến xui mà giờ này Tâm xịt nước hoa khắp người khiến mỗi chân đi là mỗi một dật dờ khiến châu thân ta chóng mệt, ý nghĩ ta đơm đặt ngươi có mang dụng ý gì không? Đêm hôm nhà ngói cũng như nhà tranh, gieo rắc hương nồng u mê làm chi cho phí phạm tinh dầu của ngàn giống kỳ hoa dị thảo đã chắt lọc? Đã thế nó làm triệt tiêu bao mùi vị mà ta đã gia công ninh hầm củi lửa cốt trình bày một sản phẩm mang nặng tính nghệ thuật, biểu dương tài nghệ nhằm chúc mừng năm mới.
Chẳng biết ở bên nhà Tâm có từng làm thanh niên xung phong, làm giao liên, làm du kích hay không mà sao ở đây ngụ chưa lâu Tâm đã tường tận mỗi một kẹt xó trong nhà để lôi ra những chai rượu quý tôi cố tình thu cất. Sẵn hứng chí, Tâm mở tủ lạnh nắm cổ xâu bia Bud lủng lẳng mang lại bàn. Tôi làm thinh đợi chờ tiếng pháo lệnh của em. Em nổ ngay: Cũng có lý, mỗi tháng đều có ngày rằm mà bi chừ thì cuối năm, chẳng rượu vào lời ra thì xem chừng cũng thiếu sót, nhỉ? Đợi thủ trưởng dứt lời, bí thư Tâm phán tiếp: Nói xa nói gần không bằng nói thiệt, ai biểu đồ nhắm anh hai làm ngó bắt mắt thế kia. Có ba mạng thôi mà thức ăn ê hề như thể dành cho cả đại đội, đêm này quyết ăn nhậu tới bến cành hông để sang năm mới khỏi làm con ma đói cơm. Tâm rót rượu chát ra ly rồi bắt mọi người nâng lên, tiếng thuỷ tinh va chạm vào nhau nghe sướng đôi tai, có sướng thứ khác thì hẳn hạ hồi phân giải. Tâm nhai cái càng cua áo bột vừa chấm vào nước sốt chua ngọt, môi cô bóng ướt: Em xin cám ơn tấm lòng rộng rãi mà anh chị đã ưu ái dành cho, mai mốt về lại bên ấy e sẽ phải nhớ quắt quay những giây phút trên cả tuyệt vời như này.
Tôi thầm mang một cảm nhận, là các người trẻ con rồng cháu tiên giờ này họ rất khéo ăn nói, họ dạn dĩ, họ tự nhiên, họ giỏi khoa tâm lý học và họ có ngàn cách để thu phục cảm tình của bạn. Em đang cảm động mà tôi cũng đang bồi hồi. Nói cho ngay vợ chồng tôi chỉ chí thú cày bừa ở hãng xưởng, chẳng quen biết ai ở nơi này nên khi Tâm hiện diện, cô gần như mang theo một món quà tinh thần khiến căn nhà đang phẳng lặng bỗng rầm rộ triều dâng trong phút chốc. Em đã cho Tâm biết bao tặng phẩm mà lòng chẳng đắn đo, kể cả cái đồng hồ kỷ vật do chính thằng chồng âu yếm trao tay một tối đáng nhớ.
Em say lăn quay đổ đèn không biết trời xa đất gần, tôi tính xốc nách mụ vợ chịu chơi vào phòng nhưng Tâm dành việc, để đó em lo. Tôi tính đi pha một cốc trà chanh cho em giã rượu nhưng Tâm cản, không nên dựng đầu chị ấy, hãy để chị ngủ say một đêm không mộng mị, sớm mai chị sẽ tỉnh táo liền khi. Tôi ngạc nhiên ngó Tâm. Nhìn gì? Ừ, bị anh hơi ngạc nhiên chút xíu, em uống quá cỡ thợ mộc mà sao chẳng hề hấn gì cả. Anh có sợ em không, khi em nói là em biết uống gượu từ hồi 12 tuổi lận, em là gái miền tây nam bộ chính hiệu con nai vàng mà anh.
Tôi cũng say, vì bia rượu thì ít mà choáng váng khi ngó thấy một bãi chiến trường đọng vũng trên bàn những máu đổ thịt rơi. Lại phải làm sứ giả hoà bình mang thân lao vào chốn lửa đạn. Còn ai trồng khoai đất này? Khổ thế! Ấy chết, để em giúp anh. Tâm nói, cảm tử quân đang xắn cao tay áo. Chiếc áo mới tinh chắc vừa tậu ban chiều quên cắt nhãn hiệu đính giá tòn ten ẩn nấp dưới nách. Chất liệu hẳn không phải cotton, tuy đứng khá xa với một nhãn tuyến phải mang kính khi đọc sách như tôi, cũng nhìn ra cái nịt vú màu đỏ có ở bên trong. Kín mít cũng không, lộ liễu cũng không, cái đẹp thường nằm ở chỗ lững lờ nửa kín nửa hở ấy. Chẳng mấy kinh nghiệm, tôi đồ chừng Tâm dùng nịt vú size B-34. Lớn không lớn nhỏ không nhỏ, cái đẹp thường đọng ở mức lưng chừng.
Tâm đứng cạ thân vào tôi: Anh rửa chén, em lau khô. Một người làm sao có thể “thân này ví xẻ làm đôi” được? Tôi nói: Anh chưa bao giờ đi chợ nấu ăn rửa chén mà có người đứng kề mình cả. Tội nghiệp, hoàn cảnh này bên mình gọi là ô-xin. Anh chưa nghe qua chữ này, nghĩa nó là sao? Là kẻ hầu người hạ, mấy cô gái quê ở bên mình ưa làm nghề này khi muốn sang Hàn quốc hoặc Đài-loan sinh sống. Có đáng khinh không? Tuỳ trường hợp, như anh thì đáng yêu muốn chết. Em chỉ ao ước mai này có được người chồng nguyện làm ô-xin cho em. Nhổ lông mày nè, đào hồ bán nguyệt xây gạch Bát tràng cho em rửa chân nè, leo trèo hái trầu cau cho em nè, qua cầu cởi áo cho em nè, cạo gió cho em nè, đấm bóp cho em nè… Tôi ho khan: thôi, nhiêu đó đủ rồi, trong lúc này xin em chớ làm luận văn. Sao anh không cho em nói thêm tính tốt mà anh đang sở hữu, đi chợ giặt giũ nấu ăn và rửa chén. Số em chắc vụng tu, kiếm đâu ra một nửa tuyệt vời như anh. Ở bên mình, chúng gọi hạng người như anh là thứ động vật hiếm quý còn sót lại trên quả đất này.
Lao động không bao giờ là quang vinh. Hơn ai hết Tâm và tôi đều hiểu rõ chuyện ấy. Vì thế chỉ rửa được khoảng một phần ba ly tách chén bát son nồi chúng tôi buộc phải gián đoạn công việc. Ngay cả lau khô đôi bàn tay đầy bọt xà phòng cũng chẳng tìm ra thời khắc để chu toàn. Mặc xác ướt át, mặc xác hành ngò xì dầu tàu vị yểu nước mắm ớt chanh tỏi lây lất, chúng tôi bu như sam, xoắn lấy nhau ngấu nghiến nhau, đèo bồng nhau ra tới cái futon để vất người xuống. Không ngại rách toạc cái áo mới mua, thậm ghét cái màu đỏ xốn xang trêu ngươi đậu trên đôi vú trắng mịn, cởi phăng những Victoria’s secret xuống đất, trần như nhộng vì nhiệt độ cơ thể có rượu tiếp sức làm nóng bỏng tới cả ngàn độ.
Tâm ngây thơ không? Tâm trong trắng không? Có là tài thánh tôi mới biết được, nhưng tôi ngó ra con bướm của Tâm tươi non giống như một đứa trẻ con chưa bước qua ngạch cửa vị thành niên, chưa đến hạng tuổi trưởng thành. Nói bỏ lỗi là nó tựa hình thể một cái mõ đẹp có sức mạnh khiến tôi phải cầm đùi gõ lên. Đồ đệ phái Nga Mi gằn giọng: Thằng đạo sĩ thúi phái Võ Đang kia, có ngon thì kíp nhập cuộc. Bản cô nương đang nóng ruột đợi xem tài nghệ của nhà ngươi thâm hậu tới cỡ nào. Uyên ương kiếp pháp nhịp nhàng thi triển khi nhu khi cương bất phân thắng bại. Thời khắc cứ thế mà trôi đi, chừng nấu sôi một bình trà thì đối phương thay đổi đấu pháp. Em vụng tu, đúng không? Ngày đầu đặt chân vào nhà này em đã bị anh dùng Hấp tinh đại pháp, cách không đả huyệt làm em sửng sờ, em đã trộm phải lòng anh. Nếu mà ở bên nhà, em sẵn lòng mua gói thuốc chuột về trộn cơm cho chị ấy ăn để hòng chiếm đoạt anh. Tâm dùng hai chân khoá lưng tôi lại, hai tay mãi xoa đầu tôi, tôi ngó sự chuyển dịch của thời gian đi vòng tròn trên cái đồng hồ đeo ở tay Tâm, ô cửa sổ ở đó hiện ra nửa số 31 và nửa kia là số 1 sắp lộ hình. Đã khởi đầu năm mới rồi ư?
Em về, hy vọng sẽ mang theo được giọt máu của anh tượng hình trong bụng. Anh tuyệt vời như thế há lẽ làm kẻ bàng quang ngó lơ chẳng trợ cấp cho mẹ con em? Tôi đổ mồ hôi, tôi xuất tinh, tôi rời khỏi cục nam châm luôn phát nhiệt lượng. Tôi rủa thầm: Đồ con khỉ!
Dễ hiểu thôi bởi vì hầu như tất cả các vụ cướp biển, chận bắt tầu vượt biên, giết người, bắt đàn bà con gái, lục soát cướp đoạt tài sản người vượt biên, đánh đắm tầu, không cho ai sống còn để khai báo, v.v… là do ngư phủ Thái Lan cả. Ngư phủ Mãi Lai chỉ xàm xở với đàn bà con gái, cướp dầu, mì gói, lương thực, chứ không giết người, bắt người như ngư phủ Thái Lan.
Bọn ngư phủ nầy tung hoành trong vịnh Thái Lan, không ai làm gì chúng được, vì chúng có dù che!!!???
Để ngăn chận tệ nạn nầy, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc, mỗi năm chi ra một triệu đô la cho chính phủ Thái Lan để chính phủ nầy có thêm phương tiện hoạt động, nhưng từ khi có thêm tiền thì tệ nạn hải tặc không bớt đi mà lại gia tăng! Ấy là tại sao? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.
Cô cao ủy Daeng, như tôi giới thiệu trong phần trên, là người đặc trách về hải tặc của cao ủy tỵ nạn, là người rất có lương tâm, rất tận tâm, cũng phải sợ những cái dù của đám ngư phủ hải tặc Thái Lan.
Việc truy tìm hải tặc Thái Lan không thuộc sở trường của cao ủy Daeng, nên cô không tìm được nhiều những tên hải tặc do các nạn nhân, thoát chết, tới được đảo, khai báo với cô. Thường lời khai các nạn nhân thì có: nhân dạng (mặt mũi, mầu da, tóc tai, tuổi tác, v.v…).
Nhận dạng người và nhận dạng tầu.
Người thì nhỏ nhưng dễ nhận dạng vì khi chúng nhẩy qua tầu vượt biên, chúng không cần phải che dấu mặt, nghênh ngang cầm dao lớn hay mã tấu, đi tới đi lui trên ghe, lục soát, nạt nộ người nầy, đâm chém người kia, bắt con gái đàn bà mà không sợ ai cả. Còn ghe của chúng thì to lắm, gấp ba gấp bốn ghe vượt biên, nhưng người ta không rõ tầu gì. Bọn hải tặc lấy các tấm bạt nylon che mất số tầu. Người ta chỉ nhìn cách chúng nó trang trí ghe như thế nào, sơn mầu xanh mầu đỏ gì đó, vẽ hình những con vật gì đó để khai với cao ủy Daeng.
Khi tôi tới đảo, anh Võ Thế Long, cựu đại úy Cảnh Sát, sau khi du học ở Mỹ về, hoạt động trong ngành Interpol của bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa, tới đảo trước tôi ít lâu, đã giúp việc cho cao ủy Daeng một thời gian.
Ông Long dùng những phương pháp chuyên môn trong ngành như phân tích nhân dạng, phân tích tầu, đối chiếu, v.v… và tìm ra được một số tầu, một số người để các cô gái nạn nhân nhận dạng người và tầu. Nhờ vậy, cô cao ủy Daeng dẫn các nạn nhân qua Bangkok để nhận mặt các tên hải tặc, một số bị tòa án Thái Lan xử tù.
Từ đó, bọn hải tặc Thái Lan không vào bờ. Khi tầu của chúng đánh cá xong, trở vào bờ, gần tới nơi, chúng nhảy qua những tầu ra khơi để đi tiếp. Cảnh sát Thái Lan có biết tên tuổi chúng, cũng không làm gì được.
Vả lại, chủ tầu đánh cá Thái Lan là “bọn” tướng tá quân đội và cảnh sát Thái Lan. Tôi dùng chữ “bọn” không phải sai đâu! Vì quyền lợi đánh cá, “bọn” tướng tá nầy bao che cho “bọn” hải tặc, ngăn chận và hăm dọa những người hoạt động trong công việc chống hải tặc, nên những người nầy sợ chúng, chẳng dám làm gì hơn.
Chính cao ủy Daeng, người Thái Lan, biết chuyện đó, cũng sợ chúng. Mỗi lần đi Bangkok, khi cao ủy Daeng tới biên giới Mã Lai – Thái Lan, cô phải cải dạng, ăn mặc như một người đàn bà Thái Lan bình thường, để khỏi bị chúng nhận ra và ám hại.
Kể từ khi Cảnh Sát Thái Lan bắt giữ và đưa một số ngư phủ hải tặc Thái Lan ra tòa, hành động của chúng càng tàn ác và hung tợn nhiều lắm. Thay vì cướp của, bắt đàn bà con gái, giết những ai chống lại chúng rồi thả cho ghe vượt biên đi. Bây giờ cướp ghe nào, sau khi lấy hết những gì chúng muốn, bắt những ai chúng muốn, giết những ai chúng muốn, còn lại, chúng đánh chìm ghe vượt biên, cho chết hết, ở ngoài biển khơi, để không còn ai sống sót mà khai báo với Cao Ủy Tị Nạn.
Tàu chúng thì to, mới và rất tốt, ghe vượt biên thì nhỏ, cũ, mong manh. Chúng chỉ cần cho tàu của chúng đâm thẳng vào ghe vượt biên, ghe vở toang ra, chìm xuống biển, chẳng ai sống sót.
Ghe của tôi mang số MC 483. Ghe trước tôi, không nhớ rõ, hình như MC 482 hay MC 481 khoảng 130 người vượt biên trên ghe, bị chết đuối trên biển hết trọi, sau khi bị ghe hải tặc Thái Lan đánh cướp, bắt đi mấy người con gái, đàn bà. Những người bị bắt nầy bị chúng đem về nhốt ở một hoang đảo nào đó, rồi trước sau cũng chết vì đói khát, vì bị chúng hảm hiếp liên miên, hoặc bị chúng giết, thả xuống biển, sau khi chúng đã chán chê.
Khi tôi đang ở đảo, báo Đường Sống, báo của di dân hải ngoại viết về thuyền nhân, có kể chuyện một cô gái, hình như con của một đại úy phi công chế độ cũ, bị hải tặc bắt, đem về giam ở một hòn đảo hoang, sau có một tên hải tặc đã già đem cô về đất liền Thái Lan để làm vợ. Cô gái ấy trốn được, lên tận Bangkok, tố cáo với Cao Ủy Tỵ Nạn. Mấy tên hải tặc bị bắt, bị tòa xử tù. Cô gái thoát nạn được định cư ở Mỹ, và tuyên bố cô ta sẽ xây dựng lại đời cô, sẽ thành một bác sĩ. Tôi ước mong cô ta sẽ toại nguyện. Con người can đảm như thế, khí phách như thế, sẽ đạt được ý nguyện của mình thôi!
Khi tôi còn làm việc ở phòng SB, một hôm, thấy có năm hoặc sáu người vượt biên mới tới, từ Văn Phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai đưa sang. Nhìn họ, tôi nói với kỹ sư Nguyễn Dương Hảo, ngồi làm việc bên cạnh tôi:
– “Ông xem, mấy người nầy trông ghê quá!”
Da họ đen xạm, nhiều chỗ nứt nẻ, rướm máu. Họ đi không vững, có người phải có người đỡ.
Ông Hảo ra đứng xem, hỏi chuyện với họ. Sau đó tôi được biết:
Tầu họ khoàng 120 người, bị hải tặc Thái Lan tấn công. Sau khi bắt đi mấy cô gái, chúng cho tầu của chúng đâm vào ghe vượt biên. Ghe vỡ, phần đông chết đuối cả. Mấy người nầy ôm những tấm ván vỡ, trôi lềnh bềnh trên biển hai đêm hai ngày, may nhờ tầu đánh cá Mã Lai vớt được, đưa vào Terrenganu. Hai ngày hai đêm trên biển, vừa đói vừa khát, vừa đuối sức nhưng cũng cố bám vào tấm ván nên sống sót. Trên thì nắng nhiệt đới, dưới là nước biển, da họ bị sưng lên, rồi vở ra, nứt nẻ nên trông khiếp như vậy. Tôi nhớ ghe của họ được đặt tên là MC 513.
Hôm sau, lại thêm ba người nữa được đưa tới, cũng tình trạng y như những người đến ngày hôm qua, đuối sức, da nứt nẻ, đi không vững. Hỏi ra, họ đi cùng ghe với những người ngày hôm qua, nhưng được vớt trễ hơn một ngày, có người vướng vào lưới đánh cá của ghe ngư phủ Mã Lai, được lưới kéo lên. Những người nầy được đặt tên là MC 514, tuy cùng ghe với những người trước.
Ngư dân hải tặc Thái Lan không phải là những tên gan dạ. Chẳng qua vì người vượt biên sợ hãi quá, nhát gan quá, lại không ai chỉ huy, thống nhứt để chống lại nên chúng mới lộng hành như thế.
Có một ghe vượt biên, phần đông là thanh niên Saigon, gan lắm. Khi ghe hải tặc Thái Lan đến gần, họ cùng đứng lên, gặp gì, thấy gì, họ cầm lên, cương quyết chống cự. Có người thì quăng nồi, quang thùng sang tầu hải tặc, có người lăm cầm cây sào chờ bọn hải tặc nhảy qua tầu họ là họ sẽ tấn công. Thấy “khí thế” như vậy, bọn hải tặc Thái Lan quay mũi tầu chạy mất.
Trường hợp Đại úy Nguyễn Văn Trọng khá buồn cười.
Trước 1975, Đại úy Trọng làm quản lý Câu Lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc của Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Do đó, ông biết mặt nhiều nhân vật nổi tiếng, nhứt là trong giới không quân. Sau 1975, tù cải tạo về, Việt Cộng không cho ông ở lại Saigon, nhà ông ở khu vực cuối đường Nguyễn Tri Phương, gần chợ cá Trần Quốc Toản. Chúng nó buộc ông đi kinh tế mới.
Khó khăn quá, ông bèn vượt biên. Biết ông là sĩ quan chế độ cũ, người chủ vượt biên giao cho ông nhiệm vụ xem bản đồ để định hướng cho ghe đến đúng Bidong, và giao thêm một cây súng Carbin M-1 (bắn từng phát một) để phòng, hễ bọn hải tặc tới thì phản ứng.
Ông Nguyễn Văn Trọng, người ốm nhom, đứng nhiều khi muốn té, cười cười kể (cho tôi nghe):
– “Tôi đứng ở phía sau cabin của tài công, chỉ đường cho ghe chạy. Một hôm, mới tảng sáng, tôi thấy ghe Thái Lan đuổi theo. Trời sáng, tụi nó thấy rõ ghe mình mới đuổi theo còn trong đêm, tôi biểu tài công tắt đèn mà chạy để bọn Thái Lan không thấy. (Ghe tôi đi, tài công là “Phong dưa hấu” cũng làm y như thế, tắt đèn chạy trong đêm để tránh hải tặc nhận ra ghe vượt biên). Tui bình tĩnh đứng sau cabin chờ ghe hải tặc tới. Tay tôi thủ cây súng Carbin, đạn đã lên nòng, khóa an toàn. Mấy ngày nay, ngày nào, tôi cũng chùi súng, rất kỹ. Tui chùi nòng cho thật sáng, xem lại cơ bẩm, kim chích hỏa. Tui chờ ghe Thái Lan tới cách khoảng năm chục thước, bèn đưa súng lên, mở khóa an toàn, nhắm cho đầu ruồi đúng vào chỗ tài công tụi nó. Xong, tui nổ một phát. Súng cũ quá, cơ bẩm văng ra khỏi súng, rơi xuống sàn đánh bụp một cái, rồi dội lên, văng tuốt xuống biển đánh ùm. Tôi lo lắm, than thầm: “Chết cha rồi!” Nhưng khi ngó lại, tui thấy ghe hải tặc bỏ chạy mất. Mừng rúm!”
Người Thái Lan theo đạo Phật, nhưng theo tôi thấy, họ không giống người Việt theo đạo Phật chút nào. Đạo Phật Việt Nam ở trong truyền thống dân tộc, ai chăm thì đi chùa thường, học kinh học kệ, nói ra thì đầy những kinh sách, Phật dạy thế nầy, thế kia. Ngoài ra, giới bình dân, người ta ít đi chùa hơn, mỗi năm vài ba lần trong những ngày vía, rồi thôi. Đạo Phât của họ là trong cách sống thường nhựt, ăn hiền ở lành, thương người nghèo khó, hoạn nạn, ăn mặn nhưng tránh sát sanh, v.v… nên người ta ít cuồng tín.
Người Thái Lan đi chùa rất thường, rất cung kính, cầu nguyện, xin xỏ, mong cầu, phù phép, và rất tin, phần đông cuồng tín. Họ tin Phật như vậy mà tại sao ác thế. Hay cứ làm ác rồi vào chùa cầu xin là xong. Họ cũng chẳng hiền hòa như người bình dân Việt Nam.
Với tôi thì “Tận tín thư bất như vô thư” cho nên chẳng bao giờ tôi có thể trở thành một tín đồ ngoan đạo, đạo nào cũng vậy. Nhưng tôi tin ở Bác ái Công giáo và Từ bi Hỷ xã Phật giáo. Những điều ấy thật là vĩ đại, là cần nhứt cho nhân loại mà thôi!
Trên đồi tôn giáo, tại sân trước nhà thờ, Cao Ủy Tỵ Nạn và chính quyền Mã lai đồng ý cho Văn Phòng trại và đại diện các tôn giáo xây một tượng đài kỹ niệm những người đã bỏ mình trên biển.
Kiến trúc khá hiện đại: Trên một bệ đá hình tròn là hình dạng một chiếc ghe vượt biên tơi tả với ba cánh buồm, cao thấp không bằng nhau, vươn cao lên. Tượng được xây theo lối vẽ cách điệu, nhìn dáng cách thì biết chứ không rõ đường nét như tranh thường.
Bên cạnh đài tưởng niệm là một bức tường đá. Những tầư đến từ mấy năm trước, người ta muốn để lại một kỹ niệm nên khắc tên tàu mình lên một tấm bảng gỗ hay ximăng, hay bằng đồng rồi đặt lên đó, cái cao cái thấp bên cạnh nhau. Kể hàng trăm tấm bảng như thế! Tôi cố tìm tấm bảng kỹ niệm của ghe con gái thứ ba (kể theo trong Nam) của tôi đến đây 5 năm trước. Tôi vui mừng khi thấy nó: MB 475.
Buổi chiều, leo lên ngồi trên bệ đá nhìn ra khơi: Phía bên nầy biển khơi mù mịt, phía bên kia là rặng núi cao, là xương sống của bán đảo Mã Lai, làm tôi nhớ tới rặng Trường Sơn ở quê nhà.
Khi mặt trời chiều đỏ ối như một khối lửa nghiêng xuống, đụng vào đỉnh núi tóe ra muôn vàn tia mặt trời đỏ như hình nan quạt, rồi chìm khuất sau những đỉnh núi hình răng cưa, làm tôi nhớ nhà da diết.
Người xưa ra đi khi còn trẻ, già trở về cố hương, ấy là “Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi”. Tôi nay đã “lão đại hồi” mới “ly gia”, rồi mai đây học nói tiếng Anh, tiếng Mỹ, làm sao mà còn “hương âm vô cải” và chắc chắn không hát được câu “Tung cánh chim tìm về tổ ấm.” Mà về làm gì, nơi đầy đọa ấy, nơi quê hương là “Chùm khế chua.” Tôi chợt nhớ ngày xưa, khi báo chí phỏng vấn tướng Nguyễn Văn Hinh, hỏi ông nghĩ gì về Việt Nam và Pháp, ông ta trả lời: “Việt Nam là nơi xua đuổi tôi, Pháp là nơi cho tôi hạnh phúc.” Vậy muốn sống, người ta phải tìm nơi hạnh phúc là lẽ đương nhiên, sao tôi vội trách ông là người mất gốc. Nay nghĩ lại câu nói của ông, tôi thấy hối hận. Ở đời đừng vội chê ai!
Ở Bidong, có thêm một đài kỹ niệm nữa là tượng “Ông Già Bidong” Sự tích ông già Bidong là một huyền thoại, được thêm bớt tùy theo người kể. Tuy nhiên, Ông Già Bidong là người tỵ nạn tiên khởi, tới Bidong trước nhất, so với đám hậu duệ là những người như chúng tôi.
Ông là tài công chiếc tầu sắt đến đây từ lâu lắm, trước khi có các đợt vượt biên, người Việt bỏ nước ra đi. Ông ta đến đây với mấy chục thuyền nhân trên tàu của ông. Lúc đó Bidong hoàn toàn là đảo hoang, không có người ở. Thỉnh thoảng ngư dân Mã lai dừng lại đây ít hôm, tránh gió hoặc chờ qua cơn bão lại để tiếp tục ra khơi bỏ lưới. Chính quyền Mã Lai hoàn toàn vắng mặt nơi đây, và ngay cả Liên Hợp Quốc cũng chưa có chương trình cứu trợ những người Việt Nam chạy trốn Cộng Sản, để làm thuyền nhân, và ngay cả hai tiếng “boat people” mà người ta dịch là “thuyền nhân” cũng chưa có tên trong tự điển.
Thế mà Ông già Bidong đến đó. Thuyền ông nằm trên bãi cát. Thuyền thì hết xăng dầu, người cũng hết lương thực, đói lã. Có người đi hái những trái dừa trên đảo hoang để kiếm nước uống và ăn cơm dừa. Nhưng đâu có phải ai cũng làm được như vậy. Một buổi chiều, Ông Già Bidong ra ngồi dưới gốc dừa ngó mông ra biển. Đứa cháu gái đã chết trên tay ông. Và ông già, – có người thêm thắt cho ly kỳ, ngộ nghĩnh, – bị một quả dừa khô rơi trúng đầu, và ông cũng trút hơi thở cuối cùng nơi gốc dừa đó, với đứa cháu gái còn trên tay ông.
Câu chuyện Ông Già Bidong có thật đấy, bởi vì, khi thấy chiếc tầu sắt đã rữa mục nằm trên bãi cát khu A, là chiếc tầu do Ông già Bidong lái tới đây, như một lời chứng cho huyền thoại về ông già đáng thương đó. Tuy nhiên, vì hồi đó, những người cùng đi với ông, đâu biết ai còn ai mất, sau khi một số người được chính quyền Mã Lai cứu giúp, rồi Bidong trở thành đảo tỵ nạn, có khi đông nhất lên tới bốn chục ngàn người, thì câu chuyện Ông Già lái tầu tới biển được thêm vào trong kho tàng văn chương chuyện kể Việt Nam.
Có thực hay không – nhưng ít ra cũng có một ông già lái tầu như thế – đã đến đây và chết ở đây, trở thành một câu chuyện linh thiêng, có người khấn vái ông để được đi định cư, và thuyền nhân lần lượt được định cư thật, thì câu chuyện thêm phần huyền bí linh thiêng.
Độc giả nhớ cho rằng, những thuyền nhân tiên khởi ấy, khi họ bỏ nước ra đi, chưa có chương trình tỵ nạn của Liên Hợp Quốc, chưa có chương trình giúp dân tỵ nạn của chính quyền các nước Đông Nam Á thì nỗi lo sợ của các bậc tiên khởi của chúng ta lớn biết bao nhiêu! Chưa có lời hứa hẹn của chính phủ các nước cho định cư, chưa có các trại giúp người tỵ nạn, số phận các bậc tiên phong đó, bồng bềnh như cánh bèo trên sông, biết đi đâu và dừng lại nơi đâu?! Thành ra, nỗi bơ vơ lạc lõng của họ hồi ấy thật là vô bờ bến, không như nhưng kẻ đi sau, biết chính phủ Mỹ, chính phủ Úc và các nước Châu Âu mở vòng tay đón đợi, yên tâm hơn nhiều.
Thế rồi vì nhớ ơn Ông Già linh thiêng ấy, người tỵ nạn họp với nhau lại bàn bạc, có văn phòng trại hưởng ứng, giúp đỡ, tượng Ông Già Bidong được dựng lên: Một ông già râu tóc dài, đứa cháu gái chết nằm trên tay, đặt gần bờ biển, phía chân đồi tôn giáo. Mỗi ngày, nơi tượng Ông Già Bidong khói hương nghi ngút vì người ta tiếp nối nhau cầu nguyện ông phù hộ cho mau định cư, hoặc định cư nơi muốn chọn, hoặc cầu nguyện cho gia đình ly tán mau sum họp, hay cầu nguyện anh nầy chị kia được kết duyên Tấn Tần, v.v…
Càng về sau nầy, khi có chương trình “Thanh lọc người tỵ nạn”, sợ bị “hỏng thanh lọc”, sợ bị “cưỡng bức hồi hương”, tượng Ông Già Bidong càng thêm nghi ngút khói, cho đến một ngày thuyền nhân đi hết, trại Bidong giải tán, trở lại thành đảo hoang. Và Ông Già Bidong vẫn còn ngồi lại đó, đứa cháu gái chết rồi vẫn còn nằm vắt trên tay ông. Mắt ông nhìn ra biển khơi.
Ông Già Bidong kính mến!
Có lẽ ông nhớ về cố quận, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ông bỏ đi khi tuổi đã già, bơ vơ nơi đất khách, bỏ mình nơi đảo hoang, một thời được gọi là “Đảo Rắn.” Đảo Rắn là tiếng dịch từ hai chữ Bidong trong ngôn ngữ người Mã Lai.
Dù gì thì người tỵ nạn vẫn cám ơn người dân và chính quyền Mã Lai đã đón tiếp thuyền nhân, cho một nơi tạm trú, trong khi chờ định cư ở quốc gia thứ ba.
Dù gì thì cũng phải cám ơn dân chúng Mã Lai, mặc dù, về sau, khi có chương trình cưỡng bức hồi hương, chính quyền Mã Lai, muốn người tỵ nạn về nước cho mau, đã không nương tay khi lôi kéo, xô đẩy, đánh đập những người kém may mắn, buộc phải hồi hương theo chương trình của Liên Hợp Quốc.
Tấm lòng nhân ái, phát xuất từ lòng nhân đạo của người Mã hay từ đạo Hồi là tôn giáo của số đông người Mã. Tuy nhiên, nói ra là thấy đau lòng. Tại sao chính quyền Mã Lai lại cho đập phá bia kỹ niệm của người Việt dựng lên ở Bidong sau khi người tỵ nạn đã đi hết và Bidong lại trở thành một đảo hoang.
Bia kỹ niệm thuyền nhân của người Việt dựng lên ở Bidong có hai ý nghĩa. Họ ghi nhớ những thuyền nhân đã đến đây, đã đi định cư hoặc bỏ mình trên đảo.
Bên cạnh đó, ý nghĩa thứ hai của bia kỹ niệm là ghi nhớ công ơn của chính quyền và nhân dân Mã Lai đã có lòng nhân đạo, giang tay đón rước người Việt Nam tỵ nạn, bỏ quê nhà ra đi. Ơn ấy, rất khó trả, và bia kỹ niệm ấy nói lên ơn ấy, lòng nhân đạo ấy.
Chính quyền Mã Lai nghe ai mà đập bỏ bia kỹ niệm ấy đi. Đập bỏ nó chính là chính quyền Mã Lai đã phủ nhận lòng nhân đạo của chính mình! Phủ nhận cái hay cái tốt của chính phủ mình, nhân dân mình. Điều ấy có hay ho gì đâu!
Lẽ nào vì một ít quyền lợi buôn bán mà phủ nhận lòng nhân ái của mình. Phủ nhận chính mình! Buồn cuời thay! Người có lương tri ai làm thế bao giờ.
Về tới Bidong, như thủ tục, chúng tôi được đưa tới “Văn Phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai”. Ở đây, chúng tôi khai tên họ qua loa, sau đó đước đưa thẳng vào phòng SB (Special Branch) để khai báo sơ lược lý lịch. Nhân viên ở đây kêu từng người vào bàn làm việc của họ, hỏi lược qua quá trình.
Người phỏng vấn tôi, trước khi xếp hồ sơ, nói với tôi: – “Ở đây đang cần người có khả năng như anh, mai mốt anh lên đây làm việc với chúng tôi.” Tôi cười và “Cám ơn.”
Phòng SB là một chi nhánh của cơ quan tình báo Mỹ, do ông đại tá Bill phụ trách. Ông Bill không thường xuyên ở tại đây. Văn phòng chính của ông ở Bangkok. Cứ vài tháng, ông ta qua Bidong một lần, đọc lý lịch từng người rồi ghi vào một cái máy xách tay. Hồi ấy, tôi chưa biết computer là cái gì. Trước 1975, ở Saigon tôi chỉ nghe nói có máy IBM: Bộ Tư lệnh Cảnh Sát có một máy IBM để làm căn cước cho dân chúng. Bộ Tổng Tham Mưu có một máy IBM để lập hồ sơ quân nhân. Hình như Phủ Thủ Tướng cũng có một máy IBM khác nữa. Khoảng các năm 1973, 74, học sinh đi thi tú tài, làm bài bằng cách khoanh a, b, c. để máy IBM chấm bài nên hồi đó, người ta gọi đùa là “tú tài abc khoanh”, hay “tú tài IBM”. Một máy IBM chiếm một gian nhà. Trước khi vượt biên thì có nghe người ta nói “tin học”, nhưng tin học là cái gì thì có biết đâu! Còn ông Bill, ông có cái máy xách tay, bề mặt lớn tờ giấy photocopy một chút, dày hơn cuốn sách thông thường. Có lẽ đó là cái laptop, nhưng hồi đó tôi cũng chưa biết laptop là cái gì, có lẽ nó chưa phổ biến như bây giờ. Suốt mấy ngày ông Bill ngồi đánh máy vào laptop. Xong, ông xách máy về Bangkok, thế là rồi việc. Coi như ông ta mang hết hồ sơ đi. Sau nầy, sau khi tôi vào làm ở phòng SB nầy một thời gian, ông xuống chỗ tôi ở, ăn cơm chơi với vợ chồng tôi, ông “bật mí” vài chi tiết về đời tư.
Ông Bill qua Việt Nam năm 1954, khi mới ra trường, mang loon thiếu úy. Hồi ấy, ông ta học tiếng Việt do người Bắc dạy, nên ông nói tiếng Việt theo giọng Bắc. Có một thời gian, ông sống ở khách sạn Morin Huế, khi khách sạn nầy chưa trở thành cơ sở của viện đại học Huế. Khoảng trước tết Mậu Thân, ông cưới vợ Huế, tên Dung, nhà bán thuốc lá Cẩm Lệ ở đường Duy Tân, ngang phố chợ An Cựu. Sau nầy, khi ở Mỹ đã lâu, gặp nhiều nhân vật cố cựu ở An Cựu, tôi biết thêm vài việc vui vui. Té ra, cô Dung, vợ ông Bill, là học trò cũ của tôi mà tôi không biết. Thứ hai, bố vợ ông Bill, cũng như cha con ông “Thiên Tường” (người ta hay đùa, nói ngược lại là “Thương Tiền”) nhà kế cận nhà cô Dung, đều có hoạt động cho Dziệt Cộng. Bố cô Dung, có lẽ nhờ là bố vợ ông Bill, nên không bị gì phiền hà nhiều, vả ông ta chỉ bị “mang tiếng” vậy thôi, chớ chẳng thấy hoạt động gì, còn cha con ông Thiên Tường thì đều bị Quốc Gia xử tử ở cầu Kho Rèn, ngay sau tết Mậu Thân vừa xong vì hoạt động cho Dziệt Cộng.
Ông Bill là bạn đồng nghiệp với ông Bell. Ông nầy cũng cưới vợ Huế, bà Nam Trân, họ Trương Như, người làng Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, quê nội của tôi.
Về vụ cha con ông Thiên Tường, nếu độc giả muốn biết thêm, xin đọc hồi ký của tôi viết về Mậu Thân ở Huế. Xứ An Cựu nầy, cùng “trang lứa” với cô Dung, còn có thêm một “anh hùng quái kiệt” nữa. Đó là Lê Văn Tống. Bởi vì tiếng Mỹ viết ngược nên tên Lê Văn Tống được viết là Tong Le. Đọc ngược lại một lần thứ hai nữa, ra tiếng Việt thì thành Lý Tống. Vì cái IBM và laptop nầy mà nhiều người bị “bể dĩa”.
Người ta nói là trước 30 tháng Tư- 1975, người Mỹ rời Việt Nam với 2 cái dĩa IBM là trong đó có đủ hồ sơ lý lịch toàn thể quân nhân Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nay có người nào khai gian lý lịch, ví dụ như trung sĩ khai thành trung úy, ông Bill chỉ cần đối chiếu lý lịch người ấy khai ở đảo đã ghi trong laptop của ông với lý lịch trong dĩa IBM là xì ra ngay. Khai gian như thế thì dễ bị “Phái đoàn Mỹ” từ chối, nghĩa là không được định cư ở Mỹ, chờ phái đoàn các nước khác như Úc, Hòa Lan, Na Uy, Thụy Điển tới xét cho định cư theo “diện nhân đạo”.
Ông Trần Văn Chính Mù có kể câu chuyện, một anh Việt Cộng khai là đại tá Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Anh tình báo nầy “điều nghiên” kỹ lắm nên khai dúng y chang lý lịch một ông đại tá nào đó. Cuối cùng, xong rồi, anh nhân viên Mỹ mới hỏi “Đại tá có còn gì để khai nữa không?” Anh chàng tình báo Việt Cộng trả lời rằng khai thế là xong, đầy đủ hết rồi. Bấy giờ nhân viên Mỹ mới ngồi ngữa người ra mà cười ha hả, nói rằng, còn một điều mà “đại tá” chưa khai, đó là “đại tá đã chết vào ngày 28 tháng Tư- 1975 rồi.”
Té ra anh tình báo Dziệt Cọng bị tổ trác, ông đại tá nầy chết vào những ngày cuối cùng, hồ sơ chưa kịp cập nhật, anh ta không hay, nhưng Mỹ thì đã hay rồi!!! Lại có anh lính địa phương quân, khai rằng sau 30 tháng Tư anh ta về quê nuôi vịt, ấp hột vịt lộn. Cái nầy hơi rắc rối vì người Mỹ không ăn hột vịt lộn, nên tiếng Mỹ đâu có danh từ nào nói tới nghề ấp hột vịt lộn đâu! Cái đó chưa đau! Nhân viên Mỹ hỏi ấp trứng vịt xong bán cho ai? Bán cho hợp tác xã. Hợp tác xã là tổ chức của Dziệt Cộng, có nghĩa rằng anh lính địa phương quân hợp tác với Dziệt Cộng nên anh ta bị “phái đoàn Mỹ từ chối.” Ngay trong nhà tôi ở cũng có một trường hợp đặc biệt khác. Nguyên ông nầy là cán sự lâm nghiệp, làm trưởng hạt kiểm lâm. Xe be từ trong rừng ra, ông ta chỉ việc lấy thước đo gỗ súc mà tính tiền, nên cũng giàu có lắm. Xe be vào rừng lấy gỗ thì đương nhiên gặp Dziệt Cộng, đóng thuế hay tiếp tế cho Dziệt Cộng là việc không thể tránh được, dù gỗ của “đức cha”, hay của bà Nhu, hay của ông Đỗ Cao Lụa ở Biên Hòa.
Ngược lại, do Mỹ yêu cầu, ông cán sự kiểm lâm cũng lấy tin từ các xe be, về việc Dziệt Cộng di chuyển, giờ giấc, đông ít, ở trong rừng mà báo cho kiểm lâm. Ông nầy báo lại cho Mỹ. Sau 1975, ông cán sự còn được Dziệt Cộng “lưu dung” một thời gian vì “khả năng chuyên môn”. Trước khi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, anh ta tin chắc rằng anh sẽ được đi Mỹ vì trước kia từng trao tin Dziệt Cộng cho Mỹ, v.v…
Nhân viên Mỹ hỏi sau 1975 anh ta có làm gì không? Anh ta trả lời có làm việc cho chế độ mới một thời gian. Như vậy, có nghĩa là có hoạt động cho Dziệt Cộng nên bị từ chối đi Mỹ. Gặp “phái đoàn Mỹ” xong ra về, tới nhà, anh ta chưởi Mỹ không biết bao nhiêu mà kể. Anh ta đâu có biết, trên nguyên tắc, từng làm việc cho tình báo Mỹ, mà sau đó có hợp tác với Dziệt Cộng thì coi như xong, chịu khó định cư ở Úc, Canada hay châu Âu vậy!
Tầu tôi được đặt tên là MC 483. Làm thủ tục xong, tôi được đưa về chỗ ở. Sau khi có “đổi mới”, Dziệt Cộng nới lỏng cho người vượt biển được thêm đông để sau nầy làm “Dziệt kiều hồi hương”. Ở Bidong lúc ấy là 14 ngàn người. (Thời kỳ đông nhất là hồi nạn kiều, Bidong chứa khoảng 40 ngàn người). Tất cả các longhouse đều chật ních. Tôi, vợ tôi và đứa con nhỏ được chia một chỗ nằm bằng một chiếc chiếu đôi. Chúng tôi phải gởi gạo ăn chung với một gia đình khác ở longhouse khác. Lại phải nói tiếp về phòng SB. Tàu tôi vượt biên có ba sĩ quan. Ông Cao Dai, thiếu tá; ông Nguyễn Văn Di, đại úy, và tôi. Về ông Cao Dai thì tôi biết ông từ lâu, năm 1960, năm thứ hai tôi dạy ở trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế. Tôi dạy ở lớp đệ tam, làm “giáo sư hướng dẫn” (có trường gọi là giáo sư cố vấn) cho lớp “đệ nhị học lại”, gồm những học sinh thi hỏng tú tài 1, nay học lại để thi thêm keo nữa. Thầy dạy lớp nầy gồm toàn các “cụ”, tức là mấy cụ già ở trường, từng nhiều năm kinh nghiệm trong ngành giáo dục như cụ Đinh Thành Chương (Năm sau ông vào làm hiệu trưởng trường Sư phạm Qui Nhơn), cụ Cao Xuân Lữ (nguyên là giáo sư Anh Văn của tôi), cụ Lâm Toại, cụ Trần Điền (sau nầy là thượng nghị sĩ). Học trò thì gồm nhiều người nổi tiếng như Hà Thanh, nữ danh ca đất thần kinh, ca sĩ Duy Khánh, quê ở Quảng Trị, cũng nổi tiếng ở Saigon, và không ít giai nhân như Vĩnh Thành, Nguyễn Cửu Thị Thi, Đặng Thị Chiểu… và một vài “quái kiệt” khác.
Anh Cao Dai là một trong những học sinh cũng nổi tiếng. Trong các buổi họp hội đồng giáo sư, tôi nghe các giáo sư dạy lớp nầy nhắc tới tên ông, có khi là Cao Đài, có khi là Cao Đại, hoặc Cao Đãi bởi vì không ai ngờ rằng có người có cái tên Dai thay vì Giai. Do đó, hồi ấy, tôi có nghe tên anh ta mà ít thấy mặt, anh học không chuyên. Cũng may, anh ta biết tôi. Khi còn ở trại Marang, anh ta tới hỏi tôi:
– “Anh có dạy Bán Công phải không?”
Nhớ tên anh ta, tôi cười:
– “Ông cũng học ở đó rồi đi Thủ Đức, nay mang cấp bậc gì rồi?
– “Thiếu tá!” Ông ta trả lời.
Tôi nói đùa:
– “Vậy ông là cấp trên của tui.” Rồi tôi kiếm chuyện làm quà:
– “Xem ra tướng ông cũng tốt đấy. Hậu vận không đến nỗi gì đâu!”
– “Tướng tôi sao?” Anh ta hỏi.
– “Anh học hành ra sao tôi không rõ, tướng không đẹp trai nhưng tốt!”
– “Không đẹp trai mà tốt nỗi gì?” Anh ta phản bác.
– “Ậy! Ông Khổng Tử có đẹp trai đâu, nhưng tướng ông là tướng tốt! Anh biết không?” Tôi giải thích.
– “Vậy tướng tôi sao?” Anh ta lại hỏi.
– “Ông có thấy cái mũi ông to hơn bình thường không? Đó là một. Trong ngũ nhạc, mũi to, mũi sư tử là tốt!”
– “Ngũ nhạc là cái chi?” Anh ta lại hỏi.
– “Ngũ nhạc gồm có trán, hai gò má, mũi và cằm. Mũi ở giữa, cao và to hơn các gò khác là tốt.” Tôi giải thích.
– “Tôi khổ vì cái mũi cà chua của tôi. Soi gương thấy kỳ cục quá!” Anh ta than.
– “Ông Khổng Tử trán dồ, ông ta có than như anh đâu!”
– “Trán dồ thì sao?” Anh ta lại hỏi.
– “Mấy người trán dồ bướng lắm.” Tôi nói.
– “Tôi có cái chi tốt nữa!” Anh ta lại hỏi.
– “Giọng nói. Đàn ông phải có tiếng nói lớn, dỏng dạc mới tốt. Sách tướng nói đó là tướng chỉ huy, ra lệnh cho người khác.” Tôi trả lời.
Điều tôi nói có thể đúng. Sau nầy, ở Bidong, anh ta làm trưởng Khối An Ninh của trại.
Vào trại Bidong được hai hôm, Cao Dai lên làm việc ở phòng SB vì quen với Trần Đình Khánh, trưởng phòng. Ngay chiều hôm đi làm việc về, anh tìm gặp tôi, nói:
– “Tôi có đề nghị với anh Khánh gọi anh lên làm việc. Anh ta ừ rồi. Mai mốt anh lên làm với tôi cho vui.”
Hôm sau, có loa gọi tôi lên phòng SB. Tôi gặp ông Lữ Quới Trang và cả ông Trần Đình Khánh nữa. Rồi họ đưa cho tôi một xấp giấy, bảo khai lại lý lịch, khai thật đầy đủ. Tôi làm y lời, khai từ khi nhỏ đến ngày vượt biên.
Theo tôi biết, hai ông Khánh và ông Lữ Quới Trang thì ông Khánh là trưởng phòng vì ông Khánh tới đảo trước, ông Lữ Quới Trang đến sau, vào làm phó phòng cho ông Trần Đình Khánh. So cấp bậc, ông nào cũng thiếu tá. Ông Khánh thuộc Lực Lượng Đặc Biệt, ông Lữ Quới Trang thuộc Dù.
Khi tôi nạp bản khai, nói chuyện với cả hai ông trưởng và phó. Khi tôi chào ra về, chỉ còn ông Lữ Quới Trang với tôi. Ông ta nói: “Tôi là trưởng phòng SB.”
Tôi hỏi ngay:
– “Ông Khánh sao?”
– Ông Khánh cũng trưởng phòng. Tôi sắp lên trung tá.”
“Trời ơi!” – Tôi than thầm-. Tới nước nầy rồi, đi ăn cơm xin mà còn mơ thiếu tá với trung tá. Chắc hai con cọp nầy ở chung một rừng không lâu.
Quả vậy, tháng sau, ông Khánh bàn giao trưởng phòng SB cho ông Lữ quới Trang. Ông Trang liền đuổi ông Khánh ra khỏi phòng, xuống ở dưới longhouse, không cho ở tại phòng SB nữa.
Trưởng phòng SB ở ngay tại chỗ, khỏi ở chung với đồng bào tỵ nạn. Ai nói đời không bạc như vôi!
Làm lý lịch xong rồi, tôi chờ mấy ngày không thấy phòng SB kêu lên nhận việc. Cao Dai hỏi tôi, tôi nói: “Có thấy kêu lên đâu!” Cao Dai lên hỏi Trần Đình Khánh, mới biết bản khai lý lịch của tôi ông Lữ Quới Trang đọc xong đem cất, không đưa cho ông Khánh. Ông ta kỵ gì tôi khi ông ta đọc lý lịch tôi!? Ông Khánh hỏi ông Lữ Quới Trang hồ sơ đâu, lấy lui, rồi cho gọi tôi lên nhận việc.
Sau nầy, biết lý lịch của ông Lữ Quới Trang, tôi nói với Nguyễn Dương Hảo, nguyên là kỹ sư canh nông, nhỏ tuổi hơn tôi, cũng làm việc tại phòng SB, thường ngồi bên cạnh tôi ở chỗ làm việc, rằng Lữ Quới Trang là tay rất thủ đoạn.
Kỹ sư Hảo nói với tôi:
– “Khi còn ở Việt Nam, em là “vua thuốc tây” chợ trời Saigon. Mỗi ngày giá cả lên xuống là do nơi em. Lữ Quới Trang cũng buôn thuốc Tây. Sáng sớm, nó chạy chiếc Yamaha dame tới quán caphê, chỗ em thường ngồi, chờ em ra giá xong, nó chạy mối kiếm tiền còm. Qua đây, thấy em, nó gọi em lên phòng SB làm việc liền, đâu có chờ như anh.”
– “Nó trám miệng ông đấy! Nó sợ ông nói chuyện cũ về nó, chớ gì! Ông biết vậy không?” Tôi nói.
Kỹ sư Hảo trả lời tôi:
– “Biết rõ hơn chớ, nó làm phó phòng 3 Sư Đoàn Dù mà cải tạo chỉ có bốn năm rưởi thì về. Răng về sớm rứa?!”
Sau nầy, qua vài người quen, tôi biết thêm, Lữ Quới Trang có vợ bé là con gái bà Hòa Khanh hay Hòa Khánh gì đó, tiệm bán vỏ xe hơi ở góc đường Nguyễn Cư Trinh và Ngô Tùng Châu, Saigon. Bà nầy là em ông chủ hiệu Rồng Vàng ở Huế. Ông nầy làm kinh tài cho Việt Cộng, còn bà nầy, sau 30 tháng Tư, mang “loon” thiếu tá Công An. Đó là lý do tại sao Lữ Quới Trang đi tù cải tạo về sớm, cùng một thời gian với Trung tá Hải Quân Lê Kim Lợi, cháu gọi Lê Đức Anh bằng chú ruột. Lê Kim Lợi đi H.O. còn Lữ Quới Trang thì vượt biên. Anh ta là thiếu tá, sắp lên trung tá, vậy phải là sĩ quan giỏi, và qua cái giỏi đó, có bao nhiêu tin tức từ Sư Đoàn Dù qua tay vợ bé của y mà tới tay Việt Cộng?! Những người từng học và làm tình báo như tôi, phải đặt những câu hỏi như thế chứ?
Cũng chưa hết, Lữ Quới Trang vượt biên theo đường giây của Ngy-en Khoài ở Bến Tre. Khoài là đại úy Dù, không đi cải tạo, lại về Bến Tre tổ chức vượt biên, cho vợ đi trước, mở cửa hàng siêu thị ở San José rồi Khoài đi chuyến “hốt hụi chót”, móc Lữ Quới Trang theo. Thiên địa ơi! Chuyện gì mà kỳ vậy nè? Đại úy Dù, đã không đi tù cải tạo mà lại còn tổ chức vượt biên? Không phải là Trời cũng đoán biết chuyện chi xảy ra! Lữ Quới Trang vượt biên cùng với Khoài cũng chỉ là “ngưu tầm ngưu” mà thôi!
Do có tì vết, Lữ Quới Trang “bắt giò” đại tá Bill rất chặt, để được che chở, nào là yêu cầu ai làm việc ở phòng SB góp tiền tổ chức mừng “Happy Birthday” đại tá Bill, nào cơm nước điếu đóm và… chuyện gì nữa thì xin hỏi cô Lan, quê Vĩnh Bình, sau nầy lấy một ông bác sĩ người Thụy Điển làm việc ở bệnh viện SickBay trên đảo Bidong.
Cô nầy cũng có một cái “vết”. Trước 1975, cô ta chưa chồng. Tới đảo, trong hồ sơ, cô ta khai tên chị ruột, vợ một sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, hy vọng núp dưới cái dù “chế độ cũ” một chút, mong được ưu đãi hơn, đi Mỹ chẳng hạn. Đến khi ông bác sĩ người Thụy Điển làm việc ở bệnh viện SickBay muốn cưới cô, cô muốn lấy lại tên cũ. Ở văn phòng Cao Ủy chắc không khó khăn gì trong việc nầy, nhưng ở phòng SB có dễ khó gì không mà cô ta phải thập thò ra vào phòng SB sau giờ làm việc? Chưa hết đâu!
Một hôm có chuyến vượt biên tới, trời đã tối. Tôi được gọi lên lập lý lịch cho “đồng bào mới tới đảo”.
Tàu nầy, có hai nhân vật đặc biệt. Một là Bùi Thị Mi, vợ Nguyễn Văn Hiệp, Trung tá Giám đốc sở Công An tỉnh Đồng Nai. Hiệp là người thay chức Mười Vân, người bị bắt và bị xử bắn vì tổ chức vượt biên ở Xuyên Mộc. Việc nầy, ở Việt Nam, nhiều người biết.
Việt Cộng dùng Hiệp để lật Vân, rồi chúng lại lật Hiệp. Vợ Hiệp, Bùi Thị Mi, từ Hà Nội mới về, nghe tin chồng bị bắt, sợ vạ lây, – hay thị là đồng bọn? -, bèn bỏ chạy, tới Bidong.
Cùng vượt biên với Bùi Thị Mi có Văn Thúy Sang, sinh viên đại học Vạn Hạnh trước 1975, con của ông Văn Văn Lộ, trước 1975 là nghị viên Hội đồng Thị xã Vũng Tầu.
Thúy Sang gọi Bùi thị Mi bằng mợ, hai mợ cháu cùng vượt biên, hay cháu đem mợ vượt biên, hay cả hai cùng đi trốn vì cùng là đồng bọn? Tối hôm đó, tôi không lập hồ sơ cho hai người nầy.
Hôm sau, nghỉ giải lao, đang uống nước, vài anh em chúng tôi nói với nhau về hai người vượt biên mới tới đảo nầy: Bùi thị Mi và Văn Thúy Sang.
Cựu đại úy Cảnh Sát Tống Văn Thừa, cùng làm ở phòng SB, nói với tôi:
– “Anh Hải biết không? Hai người nầy (Bùi thị Mi và Sang) ở trong vụ N-2.”
– “Vụ án hình sự ở Đồng Nai, báo Saigon có đăng?” Tôi hỏi.
– “Chớ chi nữa. Thằng thay chưn Mười Vân làm y như Mười Vân, bị bắt rồi!”
– “Tui có đọc báo, biết sơ sơ! Ông lưu ý ông Khánh chưa?”
– “Chưa! Ông Khánh sắp rời đảo đi định cư rồi, nói làm chi. Tôi tính nói với ông Trang, nhưng mấy chả nầy biết mẹ gì về tình báo mà làm! Anh với tui phải làm mới được.”
– “Được, tui chẳng giỏi gì về tình báo đâu, nhưng làm chi cũng được, “tan hàng, cố gắng” mà.” Tôi nói đùa.
Hôm sau, có lẽ do đại úy Tống Văn Thừa nói với ông Lữ Quới Trang, nên Bùi Thị Mi và Văn Thúy Sang bị gọi lên phòng SB.
Tống Văn Thừa điều tra Bùi Thị Mi còn tôi điều tra Văn Thúy Sang.
Văn Thúy Sang khai:
+ Về Nguyễn Văn Hiệp: quê ở Đất Đỏ, Đồng Nai, khoảng các năm 1950, 51 là học sinh trường Nguyễn Văn Khuê, gần chợ Cầu Muối (Sau nầy là trường Bồ Đề Saigon), bỏ học trốn theo Việt Minh, năm 1954 tập kết ra Bắc, sau 1975 về nam, làm phó giám đốc cho Mười Vân. Có công trong vụ tố cáo Mười Vân nên được thưởng, lên thay Mười Vân làm giám đốc Công An Đồng Nai. Đầu năm 1989, Hiệp bị điều tra về việc tổ chức vượt biên ở Xuyên Mộc.
Đây là vụ tranh ăn giữa Công An (Saigon) và Công An (Đồng Nai). Khách vượt biên phần nhiều là dân Saigon, trong đó không ít là bạn học cũ của Văn Thúy Sang (thị chối, không khai là do thị móc nối vượt biên để ăn chia với cậu của thị). Dân Saigon mà lại đem vàng đóng cho Đồng Nai ăn ngon, nên mấy “ông Công An” (Saigon) không chịu thua. Thế là họ bí mật theo dõi, xin lệnh trung ương về tận Xuyên Mộc bắt vượt biên, Nguyễn Văn Hiệp bị tù.
Hôm Nguyễn Văn Hiệp bị bắt, Bùi Thị Mi đang ở Hà Nội. Thị khai về thăm gia đình. Khi thị Mi vô tới Saigon, biết tin, không dám về nhà, tìm gặp Văn Thúy Sang. Cả hai mợ cháu cùng đi trốn và vượt biên. Hiệp đang ở tù, các con ở với nhau, không cha, không mẹ.
Theo Văn Thúy Sang, Bùi thị Mi không biết gì về việc làm của chồng, coi như vô tội nhưng sợ Việt Cộng quá, bị bắt lây, bèn vượt biên cùng Sang. Văn Thúy Sang khai là sinh viên văn khoa đại học Vạn Hạnh, trước 1975. Sau 1975, Sang về Vũng Tầu ở với cha là ông Văn Văn Lộ, nghị viên Hội đồng Thị xã, có cửa hàng buôn bán xe Honda ở Vũng Tầu nhưng đã dẹp tiệp sau khi bị đánh tư sản. Ông Văn Văn Lộ không phải đi cải tạo, đã vượt biên và hiện định cư ở Canada. Văn Thúy Sang cũng từng vượt biên, đi cùng người yêu, một thiếu úy Quân Đội VNCH, nhưng chuyến vượt biên không thành. Tuy nhiên, đến khi ông bố bảo lãnh cho cả hai người, Sang và người tình, khai là chồng, thì Sang lại không đi, người tình đi một mình. Thị ở lại, quan hệ với bác sĩ Ái, người Quảng Nam, tốt nghiệp Y Khoa Huế, chuyên sửa sắc đẹp ở Saigon. Trong đám nầy, ở đảo còn có Vĩnh Việt Phước, sau đi Úc. Nhờ vậy, theo Sang khai, thị làm ăn khá, và có nhà riêng, trên đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) và có một số tài sản hiện chôn dấu, nhưng nói với tôi rằng, “nhất định, chết thì thôi”, không chịu khai cho ai biết nơi thị chôn dấu.
Tôi lấy lời khai của thị đến đó thì “tạm ngưng”, Lữ Quới Trang bảo để xem lại. Mấy hôm sau, hồ sơ của thị được chuyển cho Dương Văn Hiếu, trung úy, sĩ quan Phòng 2, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3, tiếp tục hỏi cung. Tôi không ngạc nhiên việc “tạm ngưng” nầy, bởi vì, sau hôm Văn Thúy Sang khai có một số tài sản hiện chôn dấu ở Saigon, thì chiều hôm đó, cơm nước xong, tôi cùng vợ tôi ra bãi biển khu C ngồi chơi. Bãi biển khu C tương đối vắng và sạch. Ngồi ở đó, ngồi nhìn ra biển là thấy Hòn Cá Mập, đảo hoang, không có người ở. Hòn đảo có hình giống như con cá mập vừa trồi đầu nửa lưng lên mặt nước.
Gần bãi biển khu C, có một cái longhouse nằm riêng, ít ồn ào, cựu thiếu tá Ngu-yên Văn Nghiêm, khóa 20 Võ Bị Đà Lạt, nguyên là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1(?) XXX. Dù, tiểu đoàn mới thành lập, cùng gia đình ở trong longhouse đó với người tỵ nạn. Ông Lữ Quới Trang, khóa 18 Võ Bị là khóa đàn anh ông Nghiêm.
Ông Lữ Quới Trang chuẩn bị kỹ lắm: Thay ông Khánh, và đuổi Khánh ra khỏi phòng SB. Rồi Lữ Quới Trang “khóa cửa hậu”: Đưa ông Nghiễm vào chức phó phòng. Vậy là hai mặt tiền, hậu, Lữ Quới Trang che kỹ, không ai vào SB để biết, trình báo, tố cáo, moi hồ sơ vợ lớn, vợ bé, mẹ vợ bé là thiếu tá Công An, v.v… và v.v… Coi như “an toàn” trên con đường đi… Mỹ của ông ta.
Chiều hôm đó, khi tôi đi ngang cái longhouse ông Nghiêm ở, phía trước có một cái bàn đóng liền ghế, vài người và ông Nghiêm đang ngồi nghe BBC. Từ hồi vượt biên tới giờ, tôi không có radio nên không nghe được đài nào. Vả lại, đài BBC là đài tôi nghe rất quen, từ năm mới học trung học đệ nhị cấp 1955 cho tới ngày đi tù cải tạo, nên khi tôi chào ông Nghiêm xong, bèn ghé lại ngồi nghe ké.
Được một lúc, tôi có cảm tưởng như ai từ phía sau lưng đang nhìn tôi. Quay lại thì thấy Bùi Thị Mi và Văn Thúy Sang đang đứng chờ, không phải chờ tôi mà chờ ôngNghiêm. Tôi biết ý, bèn chào ông Nghiêm, cùng vợ con đi ra bãi biển. Tôi nghi hai mợ cháu nhà nầy sợ, đang “chạy thuốc”. Hôm sau, tôi không còn điều tra Văn Thúy Sang nữa.
Tôi nói với ông cựu Đại úy Thừa việc ấy. Thừa cũng nói anh ta không còn phỏng vấn Bùi Thị Mi, hồ sơ giao cho ai đó tiếp tục, tôi không nhớ tên.
Đã vắt giò lên cổ chạy trốn Việt Cộng, cũng không chừa thói cũ: “Có ba trăm lạng việc nầy mới xong.” Nghe nói không phải ba trăm lạng mà hai ngàn tiền Mã Lai đấy!
“Tổ quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi” vì tổ quốc của thời loạn lạc nầy, thiên hạ tranh ăn, quậy nát không khác chi tổ cò. Với lại, chú ba Lữ Quới Trang, gốc Tầu thì tổ quốc của anh ta đâu phải là… Việt Nam.
Văn Thúy Sang khai thêm về “Vợ bé của ông Thiệu” thường gọi là bà “Sì Nốc”, viết đúng chữ Tây là Cirnos (hay Cyrnos).
Đây là một restaurant nổi tiếng ở Vũng Tầu, của ông Tây tên là Cyrnos. Khoảng giữa thập niên 1950, ông Tây về Tây, sang tiệm lại cho bà Kim Anh. Bà vẫn giữ tên tiệm ăn như cũ để khỏi mất khách.
Hồi trước 1975, báo chí Saigon cũng nói xa gần, mà người ta cũng đồn rằng bà Kim Anh là bồ của tổng thống Thiệu. Một người bạn của tôi làm chuyên viên ở phủ tổng thống thì nói rằng việc ấy không có. Chẳng qua, ông Thiệu tính tình hay vui đùa, nên trong những lần ông ra thăm Vũng Tầu, trong các buổi tiệc tùng, người ta “cặp đôi” ông Thiệu với bà Kim Anh vậy thôi. Hỏi Văn Thúy Sang việc nầy, vì bố cô ta là ông Văn Văn Lộ với bà Kim Anh là đồng viện: Hội đồng Thị xã Vũng Tầu. Văn Thúy Sang, khai là có nghe bố kể lại, bà Kim Anh có một đứa con trai với ông Thiệu, đặt tên là Thiếu. Tại sao đặt tên Thiếu, chắc là không phải thiếu nợ tiền mà thiếu nợ tình đó chăng?
Sau 1975, bà Kim Anh bị bắt đi tù cải tạo, vì tội gì Văn Thúy Sang không biết. Tôi cũng không nhớ Văn Thúy Sang khai bà Kim Anh bị giam ở trại nào. Tuy nhiên, có lần cậu Văn Thúy Sang là Hiệp, trung tá Công An đến thăm trại, nhân viên trong trại giới thiệu một người đàn bà tiều tụy, xấu xí, đang giữ việc nuôi heo, là “tình nhân cũ của thằng Thiệu” (Viết như thế cho đúng “ngôn ngữ Việt Cộng”). Hiệp thấy cũng tội nghiệp. Ấy là Văn Thúy Sang kể lại như thế!
Ít lâu sau, bà Kim Anh được tha, và trong một lần bà đến thăm Mười Vân, đi ngang văn phòng Hiệp, lúc đó đang làm phó cho Vân. Hiệp giật mình khi biết đó là người đàn bà nuôi heo mà Hiệp đã gặp mấy tháng trước. Hiệp không ngờ trên đời nầy có người đẹp và sang trọng đến thế. Nếu không có người nói cho Hiệp biết thì Hiệp không thể nghĩ ra đó là người đàn bà nuôi heo mà Hiệp từng gặp trong trại tù.
Từ đó trở đi, bà Kim Anh đến văn phòng Mười Vân rất nhiều lần, và cuối cùng Mười Vân bị bắt.
Bấy giờ Saigon bàn tán xôn xao về vụ Mười Vân và bồ cũ của ông Thiệu. Bà ấy chơi một đòn độc. Nhưng cũng chẳng ai thương hại Mười Vân cả. Sau nhiều chuyến vượt biên ở Xuyên Mộc do bà Kim Anh và Mười Vân hợp tác tổ chức, thu không biết bao nhiêu vàng, thì trong một chuyến gần chót, không biết bà Kim Anh thuyết phục Mười Vân như thế nào mà Mười Vân để cho bà ấy rời Việt Nam.
Người ta đồn bà Kim Anh đem theo tất cả những tài liệu gì cần thiết để kết tội Mười Vân, kể cả những tấm hình bà ấy ăn nằm với Mười Vân. Những tài liệu nầy, khi bà Kim Anh ra tới hải ngoại rồi, được bà gởi thẳng cho Mascơva. “Sư phụ” Liên Xô bèn gởi những tài liệu ấy cho “đệ tử” Hà Nội, không quên kèm theo lời khiển trách, và Mười Vân bị bắt, bị đưa ra tòa xử tử hình.
Bấy giờ báo chí Việt Cộng mạnh dạn tố cáo Mười Vân, lôi cả dòng họ cha ông Mười Vân ra tố khổ, nào bảo rằng Mười Vân, tên thiệt là Nguyễn Hữu Giộc, là con chủ tiệm vàng ở Biên Hòa ngày trước. Từ một chủ tiệm vàng trước 1945 thì cũng chẳng có gì gọi là giàu có lắm, báo chí Việt Cộng nâng lên thành tiệm kim hoàn để kết tội Mười Vân là con nhà tư sản thành thị, theo “cách mạng” cũng chỉ là theo hùa, kiếm ăn, thiếu giác ngộ chủ nghĩa Mác, là nòi bóc lột, phản động v.v… và v.v…
Dân Saigon có người lại vắt chân ngồi chưởi đổng. Biết người ta là con nhà tư sản bóc lột, không phải là “tam đợi bần nông”, tại sao lại cho theo “cách mạng” mà không loại trừ ngay từ đầu, nâng tới chức giám đốc sở Công An, “quân hàm” đại tá rồi mới hạ bệ, bôi lọ không thiếu chỗ nào!
Dân Saigon lại đồn hôm ra tòa, tòa hỏi Muời Vân thu bao nhiêu vàng, chôn dấu nơi nào, Mười Vân trả lời tỉnh khô:
– “Hỏi ông Lê Duẫn thì biết!”
Tại sao lại hỏi ông Lê Duẫn? Ông Lê Duẫn làm to lắm, chức Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, chớ có làm quản gia cho Mười Vân đâu mà có nhiệm vụ cất vàng cho Mười Vân. Có người nói mỉa như thế đấy. Nhưng ai ai cũng biết Mười Vân tổ chức vượt biên thu vàng có ăn một mình đâu. Cứ “xuân thu nhị kỳ”, Mười Vân ra thăm Tổng Bí thư Lê Duẫn, đi bằng xe hơi riêng và có mang theo va-li nặng nhẹ như thế nào, làm sao biết được. Bây giờ Lê Duẫn theo chân “bác” xuống… địa ngục rồi, đâu còn chứng cớ. Bà Bảy Vân (vợ bé Lê Duẫn, quê ở Cần Thơ) tuy còn sống đấy, Lê Kiên Thành (con trai trưởng Lê Duẫn với bà vợ người Quảng Trị, dâu ông thợ mộc làng Trung Kiên), tuy còn sống đấy, nhưng liệu hỏi tới thì họ cũng hô to: “Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẫn muôn năm”, ngang hàng với “Hồ Chủ tịch muôn năm.” Đời người ta không dại nói thiệt đâu! Tục ngữ bảo rằng “Thật thà là cha dại” mà.
Có người kể rằng bà con đến thăm vợ Mười Vân, thấy bà ta tỉnh khô, làm như chồng bà ta vẫn yên hàn vô sự, không có chuyện chi xảy ra cả. Người ta đòi đi thăm mộ thắp nhang cho Mười Vân thì bà ta gạt đi mà cười. Vậy là sao?! Không lý người bị đem xử tử không phải là Mười Vân mà lại là một tên tù vô danh nào đó thế mạng. Có người không tin, có người tin. Có việc gì xảy ra trong chế độ Cộng Sản mà khiến người ta tin được?!
Phỏng vấn Văn Thúy Sang hai hôm, tôi moi được chừng đó tin tức. Tôi háo hức hy vọng còn moi thêm nhiều tin hay nữa, nhưng bỗng nhiên, tôi được lệnh ngưng phỏng vấn “người đẹp hay nói” nầy, người đã có lần khiếu nại với tôi rằng tôi hay hỏi những câu “bắt thóp” khiến cô ta không khai cũng không được.
Sau nầy, khi ông Nghiêm lên thế ông Trang rời đảo đi định cư, có lần ông Bill xuống longhouse ăn cơm với vợ chồng tôi và một người cháu vợ ông Bell, mà cũng là cháu của tôi, tên là Trương Thị Quí Phi, nhân lúc uống nước trà ăn bánh ngọt, tôi hỏi ông Bill về cái “kho tàng” của Văn Thúy Sang còn dấu lại ở Saigon. Ông Bill trả lời tôi trong lời khai của Văn Thúy Sang, ông ta có thấy nói gì tới “kho tàng” nào đâu! Tài thật, cũng khá khen cho chú ba Lữ Quới Trang có tài âm binh, hủy bỏ những bản cung tôi khai thác ở Văn Thúy Sang và thay vào đó những trang lý lịch “sạch sẽ”.
Nói chuyện đó với Nguyễn Dương Hảo, Hảo đồng ý với tôi rằng “tay ấy” ma đầu. Một mình y, từ nịnh trên nạt dưới, dẫn gái, ma cô, mà xoay chuyển bao nhiêu người như không!
Làm việc ở SB tôi thấy có nhiều cái hay. Nếu cứ nghiên cứu tất cả những lời khai của các binh lính, sĩ quan chế độ cũ, người ta có thể vẽ ra một bức tranh ảm đạm vào những ngày cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Cứ như thế mà làm, người ta có thể thấy không khí ngày 30 tháng Tư ở Saigon hay đâu đó như thế nào. Nếu cứ nghiên cứu những lời khai của cán binh Việt Cộng, tình báo Mỹ có thể biết tình hình quân đội Dziệt Cộng sau 30 tháng tư như thế nào, hiểu được những gì Dziệt Cộng đã làm trước và sau khi tấn công Kampuchia. Cứ nghiên cứu lời khai của cán bộ đảng viên, công nhân, cán sự, kỹ sư vượt biên tới đảo, tình báo Mỹ sẽ hiểu rõ tình hình miền Nam Việt Nam hay Saigon nói riêng đang diễn tiến như thế nào.
Có điều đáng tiếc, khi hỏi những người vượt biên có học thức, bằng cấp về tình hình các trường đại học ở Saigon như thế nào, thì vì những lý do riêng tư, phe nhóm, có người làm việc ở phòng SB chưa từng học đại học bao giờ, lại đảm nhận việc phỏng vấn ấy. Như trường hợp hai anh em ông Hà, ông Hải. Hai anh em ông nầy mới đậu tú tài 1 rồi đi Thủ Đức, chưa từng bước chân vào ngưỡng cửa đại học thì biết gì về ngành nầy để phỏng vấn các kỹ sư, bác sĩ khi họ vượt biên tới trại tỵ nạn? Trình độ hiểu biết hạn chế đã thu hẹp khả năng làm việc của họ và ảnh hưởng đến kết quả công việc.
Họ được chỉ định làm những việc đó chẳng qua họ là “đệ tử ruột” của các ông trưởng phòng SB, biết dấu kín những gì ông trưởng phòng muốn dấu…
Đối với đồng bào tỵ nạn trên đảo – tôi dùng chữ “đồng bào” với đầy đủ nghĩa bóng của nó – thì phòng SB và khối An Ninh là nơi họ rất sợ. Tuy gọi là An Ninh nhưng thực ra công việc của nó chỉ là giữ trật tự, ngăn chận hoặc bắt giữ những người phạm pháp, quậy phá, du côn, du đảng – thường gọi là “bồ tạt” – khối An Ninh tự phân xử lấy, nếu trường hợp không có gì nghiêm trọng, có thể giam giữ ít hôm ở Monkeyhouse, là phòng giam gần khu làm việc của Cao Ủy Tỵ Nạn.
Trường hợp nghiêm trọng thì mời Cao Ủy đặc trách về an ninh, thường là ông Francesco, người Ý, đến phân xử. Còn những vụ án mạng thì phải giải qua Terrenganu cho tòa án Mã Lai xử tội. Có lẽ họ áp dụng theo luật Mã Lai, tôi không rành về các việc nầy vì tôi không làm việc ở khối An Ninh. Riêng về phòng SB, người tỵ nạn coi nó như là một cơ quan mật vụ, mật thám Tây, đảm trách các vụ chính trị, Việt Cộng len lỏi vào trong số đồng bào tỵ nạn để hoạt động sau nầy, v.v…
Tôi không hiểu sao đồng bào sợ phòng SB đến thế, ngay cả môt số sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Họ có “tì vết” gì chăng? Có hợp tác với chế độ mới chăng? Có người đi tù cải tạo, không ít người bị đưa ra Bắc, có người đi tù về chẳng làm gì hết, hoặc đạp xích lô, hoặc thợ chụp hình, vá xe đạp, buôn thuốc Tây lậu, hoặc thợ hớt tóc, thợ may, hoặc làm việc cho hợp tác xã, cho công ty, xí nghiệp, v.v… và v.v…
Khi tôi làm việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng, chăm lo tờ báo của phòng nầy, ngoại trừ anh Hoàng Vũ là người thẳng thắn, lui tới chuyện trò với tôi một cách tự nhiên. Còn ngoài ra, vài anh em khác cứ thậm thụt, làm như họ sợ phòng SB biết họ có quan hệ với chúng tôi. Còn riêng anh em chúng tôi như kỹ sư Hảo, Hồ Đắc Liệu, Bửu Tộ và tôi, bỏ phòng SB mà qua làm việc ở đây, sợ phòng SB gì nữa?
Nếu chỉ chừng đó thì có chi đáng sợ?
Người phải sợ chính là ông Lữ Quới Trang, trưởng phòng SB chớ?! Ông ta là phó phòng 3 (Hành quân) Sư đoàn Dù, “sắp lên trung tá” – như ông ta nói, đi tù 4 năm rưởi thì về – như người khác, cùng cấp bậc như thế, chức vụ như thế, thì phải ngồi gở trên 10 cuốn lịch trong trại tù đấy -, Có phải là vì ông ta có mẹ vợ bé là “Dziệt Cộng nằm vùng”, sau 30 tháng Tư đeo “loon” thiếu tá Công An?
Bạn ông, ông Ngu-yên Khoài, người chủ tàu cho ông vượt biên, là cựu đại úy Dù, không học tập cải tạo, lại còn tổ chức vượt biên ở Bến Tre, quê hương ông ta. Những người như thế mới có nghi vấn, mới có câu hỏi chứ?! Còn như người nào có làm việc cho hợp tác xã, công ty, xí nghiệp thì cũng chẳng có gì đáng ngại cả. Mắc chi sợ bóng, sợ gió vậy?
Những người làm việc ở phòng SB hầu hết tham gia chế độ cũ, ít nhiều có đi tù, nên oán hận và thù ghét Việt Cộng, và “hình như” – tôi nói hình như – họ đem cái oán hận đó đổ lên đầu những người vượt biên có ít nhiều quan hệ đến Dziệt Cộng.
Chẳng hạn như có hôm tàu vượt biên xuất phát từ Bến Tre tới, đồng bào sắp hàng dọc, ngồi bệt trên sàn nhà chờ gọi làm tờ khai sơ khởi, nên có nhân viên SB nhìn họ, gọi mỉa “À! Tàu quê hương Đồng Khởi!” Một bà thuộc tầu nầy trả lời, cay đắng: “Bây giờ Đồng Khổ rồi ông ơi!”
Nghe lời đối đáp, tôi hiểu cả hai bên nói và trả lời, và thấy thương cho người dân Bến Tre.
Trong tập thơ “Nước Non Ngàn Dặm” của Tố Hữu có mấy câu:
“Hỡi ngươi chị của Bến Tre,
Quê hương Đồng Khởi bốn bề đó chăng?!
Miền Nam gan dạ ai bằng,
Đội quân đầu tóc khăn rằn vắt vai.
Người chị của Bến Tre là bà Nguyễn Thị Định, chức chưởng là “Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam”, đứng sau ông Trần Văn Trà. Nhưng chức của Trà hay Định cũng là cái chức “dỗm”, nói ra nghe buồn cười và đau lòng cho người miền Nam dễ tin, nhẹ dạ.
Cả tỉnh Bến Tre, đâu có phải ai cũng là Nguyễn Thị Định hay “đội quân khăn rằn vắt vai” của bà Định cả hay sao? Họ cũng như toàn thể dân miền Nam vĩ tuyến 17 vậy, có người theo quốc gia, có người theo cộng sản. Không phải hễ cứ ai là Bến Tre đều là Dziệt Cộng cả.
Trong trại tù Cải Tạo, khi tôi bị đưa vào “trại Đá” – tức là trại A của Z30-A, trại có xây hàng rào cao và giam kỹ lắm, Việt Cộng sợ chúng tôi trốn trại, thì tôi gặp không biết bao nhiêu sĩ quan chế độ cũ quê ở Bến Tre, bị đưa từ “trại Vườn Đào” từ Cai Lậy lên. Thường hay chơi đùa với tôi thì có Đỗ Trọng Khiêm, chi khu phó Trúc Giang (Không phải bố Trúc Hồ đâu!), Huỳnh Hà Đông, Lê Khắc Thiệu, Lê Văn Tào, Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Thành Trung, (Trung méo, không phải Trung phi công theo Dziệt Cộng, cũng quê ở Bến Tre), Huỳnh Văn Trí (chúng tôi thường gọi đùa là Tư thiềng liềng –(1), hầu hết là tiểu đoàn trưởng Địa Phương quân. Còn nhiều nữa, có dịp xin kể lại sau. Nếu bây giờ họ có vượt biên tới trại tỵ nạn, nhân viên SB cũng coi họ “quê hương Đồng Khởi”, thân Cộng, theo Dziệt Cộng cả hay sao?
Khi lập hồ sơ, nếu ai có đi bộ đội, hay làm việc cho Dziệt Cộng thường bị nạt nộ, có khi chưởi bới nặng lời. Có lần Nguyễn Văn Cường, kỹ sư luyện kim, ở chung longhouse, than phiền với tôi: “Em học đại học nửa chừng thì Dziệt Cộng chiếm miền Nam, nên tốt nghiệp sau 1975. Tốt nghiệp rồi Dziệt Cộng kêu đi làm thì phải làm. Không ở với chế độ được nên em đi vượt biên. Em có phải là Dziệt Cộng đâu mà SB làm dữ vậy!” Còn nếu như ai là bộ đội, thì bị nạt nộ, hăm dọa dữ dằn, cứ bảo là khai gian, khai láo. Xem hồ sơ, tôi thấy họ bị bắt đi “nghĩa vụ quân sự”. Nó cũng giống như ngày trước bị “quân dịt quân gà” vậy, cũng chỉ là kẻ cầm súng, làm bia đỡ đạn cho chế độ. Họ có là quan quyền gì đâu mà ghét bỏ, thù hận họ dữ thế!?
Có một thanh niên, chỉ nói quê quán thôi, độc giả thừa biết anh ta là người như thế nào. Quê quán là ấp Mò Ó, xã Đại Ngãi, quận Long Phú, tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng cũ). Sinh sống ở ấp Mò Ó thì rõ ràng anh ta mới thấy “đèn điện” – ngọn đèn treo ngược, như cụ Phan Thanh Giản nói – sau khi anh ta tới trại tị nạn. Còn vượt biên: xã Đại Ngãi gần biển, dễ vượt biên, nhất là sau khi Việt Cộng “thả lỏng”, người ta đi thì anh ta “canh me” mà đi. Xứ anh ta dễ “trốn nghĩa vụ” nên anh ta trốn. Vậy mà SB không chịu hỏi cho kỹ, cho là có đi bộ đội mà không khai, nên Lữ Quới Trang giải giao cho Mã Lai, đem giam vào khám. Anh ta bị Mã Lai đánh cho mặt mũi sưng vù lên. Giam mấy hôm, đem anh ta về, anh ta cứ một mực “Tui biết chi bộ đội mà khai.”
Cũng là nạn nhân Cộng Sản cả, làm gì mà bức bách nhau dữ thế?!
Thật ra, có những sự kiện thuộc lãnh vực tình báo, dân chúng trên đảo nhiều người biết, lại biết rõ, mà phòng SB lại chẳng biết “mô tê” gì cả.
Tôi có thể cầm chắc tình báo Mỹ không có tài liệu nào nói tới tầu MC 522, là tầu “đi lạc” tới Bidong.
Câu chuyện đầu đuôi như thế nầy:
Chiếc tầu MC 522 là tầu mới đóng ở Bình Triệu Saigon, do “Sở Công an Thành phố” (Saigon) chủ trương, đóng để “gài” “Sở Công an Long Xuyên” tổ chức vượt biên.
Khi tầu đóng xong, “Sở Công an Thành phố” (Saigon) cho người giả dạng móc nối với “Công an Long Xuyên”. Tàu được đưa về Long Xuyên, “khách” phần đông là dân Saigon, được người của “Công an Long Xuyên” móc nối để lên “ghe lớn”, ghe đậu ngay tại “Ngã Ba Lộ Tẻ.”
Kế hoạch vạch ra là khi “khách “lên ghe xong đâu đó rồi, “Công an Thành phố” sẽ bao vây, bắt ghe, lập biên bản, truy tố “Công an Long Xuyên” tổ chức vượt biên.
Để nắm gọn toàn bộ “khách” không cho ai chạy thoát, thì tài công là người của “Công an Thành phố” gài vào. Bên cạnh tài công, còn có một tay làm điểm chỉ cho công an, tên nầy là con trai của Ba Trí, nhà ở phía ngoài cư xá Thanh Đa, đối diện “Nhà Nghỉ Thanh Đa” Saigon. Tên nầy được cấp một cây Carbine, chờ hễ khi Công an Thành phố bao vây xong, y đưa súng lên, bắt tất cả mọi người vượt biên ngồi im, không được trốn chạy.
Ở Thanh Đa (phường 27, quận Bình Thạnh), nhiều người biết Ba Trí. Trước 1975, y là tên cầm đầu du đãng ở ngã năm Bình Hòa, Gia Định, trốn quân dịch. Ngày 30 tháng Tư, 1975, y dẫn đường cho Việt Cộng từ cầu Băng-ky vào tiếp thu tòa Hành Chánh tỉnh Gia Định. Sau đó, y được tuyển dụng làm tài xế cho sở Công Nghiệp Thành phố (Saigon cũ). Vì bản chất là một tay du thủ du thực, một gốc với “thằng Cảnh”, tức Trần Quốc Hoàn, y được chế độ mới ưu đãi. Con trai của y chẳng đứa nào phải “thi hành nghĩa vụ quân sự” và làm chỉ điểm cho công an địa phương.
Tài công là người miền Nam, nhưng vợ tài công là con gái cán bộ, hợp tác với con trai Ba Trí trong vụ “gài vượt biên” nầy. Chồng của thị, không biết việc làm của vợ.
May mắn cho chuyến tàu vượt biên MC 522 nầy là khi “khách” đã lên tầu xong xuôi, đầy đủ, thâu hết vàng của khách rồi, thì “Công an Long Xuyên” ra lệnh nhổ neo, theo Kinh Núi Sập ra biển, có “Công an Long Xuyên” hộ tống, trong khi “Công an Thành phố” chưa kịp về tới.
Dĩ nhiên, đến Bidong, phần đông “khách” đi tầu không biết việc nầy. Người bị kẹt là con trai của Ba Trí, y là người do “Công an Thành phố” gài vào chứ đâu có muốn vượt biên. Y khai là cây súng Carbine do người tổ chức vượt biên trao cho y, đề phòng hải tặc Thái Lan. Sau đó, y xin được hồi hương, và suốt ngày trốn trong nhà. Y biết ở đảo, không ít người gốc ở Thanh Đa, nhận ra y là con Ba Trí. Mãi đến khi y được Cao Ủy cho rời đảo để hồi hương, việc y được “Công an Thành phố” gài vào tổ chức vượt biên mới bật mí nhiều người biết.
Và tôi cũng biết, biết rõ hơn những ngươi khác vì trước khi vượt biên, tôi cũng ở Thanh Đa, một xóm với Ba Trí.
Trường hợp Phan thị Hương cũng khá đặc biệt. Trước 1975, Phan thị Hương là sinh viên, hoạt động cho Việt Cộng. Khi Cộng Sản chiếm Saigon, Phan thị Hương là cán bộ, đội nón cối, mặc đồ bộ đội màu xanh, hằng ngày đi làm có xe hơi đưa rước. Cán bộ “cấp trung, cấp cao” lui tới nhà thị tấp nập.
Rồi Phan thị Hương có bầu. Năm 1988, Phan thị Hương vượt biên tới Bidong với đứa con trai khoảng 1 tuổi là đứa con không biết cha là ai trong đám cán bộ lui tới nhà thị. Phan thị Hương không có khả năng đoán được cha nó là ai? Khi có người tố cáo quá trình của thị cho phòng SB, Phan thị Hương bị điều tra. Thị cứ một mực khai sau “giải phóng” thị bán thuốc Tây ở chợ trời. Phòng SB cũng chịu thua. Sau đó Phan thị Hương định cư ở Canada.
Dĩ nhiên, tôi chán làm việc ở đây. Tôi thấy mình thừa! Ông Tống Văn Thừa, sau vụ Bùi Thị My, Văn Thúy Sang cũng thấy thừa, đúng như tên ông là Thừa, nên ông bỏ làm, đi chơi lang thang “mà còn hơn”, như ông nói với tôi vậy.
Nhũng gì tôi biết ở trên là thật, từ chuyện ông Trần Đình Khánh, tới ông Lữ Quới Trang cho tới ông Ngu-yên Văn Nghiêm. Có những việc tôi không nói là vì thuộc đời tư của người ta. Nhưng những việc như ông Lữ Quới Trang đi tù chỉ có bốn năm rưởi được tha, những việc như ông có mẹ vợ bé là Việt Cọng nằm vùng (sau 30 tháng Tư đeo loon thiếu tá công an) và việc ông Lữ Quới Trang có đưa tin tức gì ông ghi nhận được ở Sư Đoàn Dù khi ông ta làm Phó Phòng 3 Sư Đoàn thì còn là đời tư gì nữa?
Nó không phải là ngọn dao đâm sau lưng chúng ta, những người lính Việt Nam Cộng Hòa hay sao?
Có người cho tôi biết, hiện y chui sâu vào ngành cảnh sát Mỹ, mai danh ẩn tích, không tiếp xúc với ai, không tham gia hội đoàn nào của người Việt hải ngoại. Họ còn yêu cầu tôi hãy báo cáo ngay cho cơ quan tình báo FBI Mỹ về tên địch vận nầy, bởi vì chắc gì khi tới Mỹ, y lại không tiếp tự công việc địch vận như y đã từng làm.
Và tôi cũng không ngần ngại khi làm việc ấy. Nói cho rõ thêm, ở xứ Mỹ nầy, đâu phải chỉ có một Lữ Quới Trang mà thôi đâu!!!!
Kỹ sư Nguyễn Dương Hảo chuẩn bị qua làm việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng. Có lẽ qua Hảo giới thiệu, một hôm ông cố vấn Trương Mạnh Hùng qua phòng SB gặp tôi, yêu cầu tôi qua làm việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng với ông ta.
Tôi trả lời:
– “Tôi đi rồi, các con tôi ở Việt Nam đang chuẩn bị vượt biên theo cha mẹ. Tôi muốn làm việc ở phòng SB để được là người đón các con khi chúng vừa đến đảo.”
Cố Vấn Trương Mạnh Hùng cười:
– “Anh yên tâm. Làm việc ở đây, anh chỉ được đón con anh khi chúng đến phòng SB. Còn tôi, tôi sẽ đưa anh ra tận cầu jetty, đón các con anh khi chúng vừa bước chân lên đầu cầu.”
Nghe thế, tôi cũng khoái trong bụng, nhưng chưa quyết đoán.
Đến gần Noel, chiếc ghe vượt biên của các con tôi đến đảo nhưng không có đứa con nào của tôi trên ghe đó cả. Tôi chỉ nhận được một lời nhắn của đứa con gái đầu, nhắn lại với người đi cùng chuyến: “Em qua nói với ba chị, Bi chết, chị và các em phải quay trở lui để tìm xác Bi.”
“Taxi” chúng nó bị lật trên đường ra chiếc ghe lớn. Chúng lên được ghe lớn rồi mà phải quay trở lui.
Bỏ việc, tôi ra về. Tôi và vợ tôi nằm ôm mặt khóc suốt buồi chiều hôm đó!
hoànglonghải
(1) Tư thiềng liềng: Khi còn làm đại đội truởng, anh ta cặp với một bà góa chồng. Đêm đầu tiên, anh ta hỏi “tà lọt”: “Của tao nhỏ quá, làm sao mầy?” Tà lọt nói: “Ông thầy đừng lo.” Xong, tà lọt hái mấy lá thiềng liềng, bỏ vào nón sắt giả nhỏ, bảo anh ta thoa vào cái ấy. Tư thiềng liềng cười khoe với chúng tôi: “Thoa xong, của tao to bằng chai xá xị”. Ai nấy đều cười. Anh ta có tên “Tư thiềng liềng” sau câu chuyện “khoe khoang” đó của anh.
Chiếc ghe vượt biên tôi đi cặp vào đầu cầu jetty của đảo Pulau Bidong vào xế chiều ngày 1 tháng 6 năm 1989, sau hơn 50 giờ rời cửa Sò Lưới, gần mũi ông Trang, Cà Mau.
Cũng khó quên được mối cảm xúc khi đặt chân lên chiếc phà ở đầu cầu. Mặt phà bằng sắt, “nóng như lửa”, ấy là cách nói thông thường. Bị mất đôi giép trên đường ra cửa sông, tôi kéo hai bó củi – loại củi phát cho người tị nạn để nấu nướng, – đạt chân lên đó cho đỡ nóng. Bỗng tôi cúi xuống, chống hai tay lên hai bó củi khác, và… nước mắt trào ra.
Tại sao tôi khóc?!
Tôi khóc vì 14 năm sống dưới chế độ Cộng Sản với 7 năm 10 ngày trong trại cải tạo. Kinh Quá! Trong chế độ đó, tôi gánh đầy đủ mấy tiếng Đày Đọa và Đói Khát, về cả hai mặt: Vật chất lẫn Tinh thần. Vì vậy, bây giờ, khi đặt chân lên đầu cầu, tôi cảm nhận một cách đầy đủ và sung sướng hai tiếng “Giải thoát”. Đã lên được đầu cầu là chính quyền Mã Lai không còn đuổi ra khơi được nữa, là được vào trại tị nạn, là được định cư ở một đất nước tự do, v.v… và v.v…
Nhưng nghĩ lại, tôi thầm nói với tôi: Không được khóc!
Không được khóc! Rồi trong cơn xúc động đó, tôi nhớ ngay đến mấy câu thơ của Karl Marx, trong cuốn “Tuổi Trẻ Karl Marx” do Cao Xuân Hạo dịch, cuốn sách tôi đọc nhiều lần trong cái gọi là “Trại Cải Tạo”:
Chỉ có ai bằng chiến đấu hiên ngang, Giành cuộc sống tự do từng giờ từng phút, Mới đáng hưởng tự do và cuộc đời chân thật.
Tôi không là người chiến sĩ hiên ngang của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chỉ là người cần cù và chăm chỉ với công việc của mình, khi còn là dân sự – day học – và khi ở trong quân đội, chính quyền. Điều an ủi với tôi là khi rời trường tôi dạy để nhập ngủ, bạn đồng nghiệp và học trò thương mến, “tiếc” một ông thầy bỏ phấn bảng, và khi tôi rời binh chủng Thiết Giáp để được biệt phái, thì xếp trực tiếp của tôi, đại tá Nguyễn Mạnh Lâm, tiễn tôi bằng một câu khiến tôi… nở lỗ mũi và muốn ở lại: “Anh là người không ai bỏ anh.” Vậy mà suốt 14 năm sống dưới chế độ Việt Cộng, họ không dùng tôi. Họ đúng đấy. Họ không dùng vì không phải họ biết tôi có khả năng chống họ bằng “xiết cò súng”, hay bằng “Mồm mép đỡ chân tay” – câu tôi nói đùa khi tôi phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị” mà chính là vì bản chất con người tôi. Họ không thể nào chấp nhận một con người có bản chất như tôi: “Tiểu tư sản thành thị”, không dính líu bất cứ “một đời vô sản” nào trong “ba đời khai báo”. Như thế, làm sao tôi có thể giác ngộ “hận thù giai cấp” để đi theo con đường Mác – Lê được?! Khi những “thứ tiểu tư sản” như tôi, nếu không lột xác để giác ngộ Mác thì sẽ chống ngầm, và chống triền miên. Chống ngầm là một phương cách chống đối tiềm ẩn, rất nguy hiểm. Nó không biểu hiện trên bề mặt để có thể đàn áp, triệt tiêu, kết tội. Tuy nhiên, Cộng Sản vẫn có một cái án tù cho những người đó. Cái án tù gọi bằng nhiều cách khác nhau: “Nguy hiểm cho chế độ”, “Không thích hợp cho chế độ”, “Phần tử nguy hiểm”, “Phần tử phản động ngấm ngầm.” Và ở tù không có án, không có ngày về. Và nếu có tha về, lại cũng tiếp tục chống đối. Đó là “bọn” – như Việt Cộng gọi – ngoan cố. Bọn chống Cộng Sản giai dẳng, chống triền miên… Để độc giả có thể tin tôi, tôi xin đưa ra một ví dụ: Ông Tôn Thất Tần trong “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên chẳng hạn. Ông ta là nhân vật có thật ở ngoài đời đấy, không phải do ông Vũ Thư Hiên tưởng tượng ra. Ông ta là người “ở tù muôn năm”, tù cho đến chết. Có thể độc giả không biết ông đó là ai? Con nhà Tôn Thất? Dòng dõi vua chúa? Dòng dõi con quan? Có thể đấy. Quan trọng không kém, chính ông ta là em (hay anh) vợ ông Hà Thúc Ký. Ông Hà Thúc Ký là lãnh tụ đảng Đại Việt, và là người chống Cộng bền bĩ, kiên trì… Làm sao ông Tần có ngày về?! Bề ngoài, ông ta có cái tù 20 năm, nhưng cái án tù ấy được nhân lên nhiều lần, cứ hết 20 nầy lại tới 20 năm khác, cho đến khi ông ta không còn sống để nhận án 20 năm nữa! Chúng ta, những người “tù cải tạo” là “Tôn Thất Tần (1) thứ hai”, thứ ba, là thứ một triệu… Nếu không có Mỹ can thiệp, yêu cầu thả, và nếu không có Tàu Cộng đem quân đánh dọc 6 tỉnh biên giới…. thì có thể bây giờ hoặc sau nầy, con cháu chúng ta sẽ thành Mán, Mường, Lô-lô, Tày, Nùng, v.v…Như vậy thì “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở!” hay sao?! Đó là cái nghịch lý đau đớn của thời đại chúng ta! Thế rồi tôi sắp vào hàng theo lệnh của Cao ủy Long, một người Tàu-Mã. Tôi đứng cuối, trước mặt tôi là vợ và đứa con gái út. 26 người. Tàu tôi có tất cả 26 người, kể cả tài công và hai anh em con người chủ tàu. Cao ủy Long vừa đi vừa đếm từng người. Tới tôi là chót. Tôi nhìn ông. Ông nhìn tôi. Tôi nhớ hình ảnh ông kỹ lắm, lớn con, đẹp người, còn trẻ. Điều tôi muốn nói ở đây là lời cám ơn vì ông là người đầu tiên của Cao Ủy Tịn Nạn, hay có thể gọi là người của Thế Giới Tự Do cũng được, đón tôi ở nơi nầy, nơi, nói một cách văn hoa là “Bến bờ Tự do.” Vì vậy, hai năm sau, trước khi rời Bidong, tôi mời ông ra ngay chỗ bến tầu nầy chụp chung với gia đình tôi một tấm hình. Trước khi chụp, tôi nói với Cao Ủy Long tôi muốn chụp hình với ông vì ông là người đầu tiên đón tôi khi tôi vừa thoát khỏi chế độ Cộng Sản Việt Nam. Sau khi đếm người xong, chưa lấy tên họ gì cả, 26 người chúng tôi được đưa vào một gian nhà tôn, bên cạnh đầu cầu jetty. Lúc ấy, “cô Cao ủy Daeng” – người ta thường gọi như thế, một người lai: Cha Thái Lan, mẹ Việt Nam, sinh đẻ ở Chợ Lớn, lớn lên ở Bangkok, nói tiếng Việt không sõi lắm, thường tự xưng với bất cứ ai bằng “Mình”, chẳng hạn như có lần nói với tôi sau nầy: “Mình gởi lời thăm vợ mình.” khiến tôi phải bật cười. Cao ủy Daeng lập danh sách từng người, hỏi rất kỹ mấy đứa con gái bị tụi ngư dân Mã Lai xàm xở như thế nào. Bọn chúng chỉ xàm xở, không làm gì quá hơn. Xong, tất cả được cấp phát quần áo, mỗi người hai bộ, chăn màn, chiếu và sang phòng bên, có chia đôi nam nữ để tắm rửa. Mấy ngày “ém quân” nơi ấp Đậu Sấu, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, xứ nước mặn, chẳng được tắm táp gì. Hai ngày ở trên ghe nước rửa mặt còn không có, nói chi tới tắm rửa. Vì vậy, bữa nay tắm thoải mái, không hạn chế nước ngọt; sướng thật! Có điều buồn cười! Khi vượt biên, vợ tôi có mang theo một tượng Phật tạc bằng đá cẩm thạch núi Non Nước. Tượng to bằng hai nắm tay. Trước khi vào buồng tắm, tôi nói vợ tôi để cái tượng trên lan can, hành lang đi thẳng lên bờ. Đem tượng Phật vào buồng tắm là không nên. Nhưng khi tắm xong trở ra, ai lấy mất tượng rồi! Vợ chồng tôi băn khoăn vì mất tượng Phật mà không biết hỏi ai. Vợ tôi khóc! Nhà bếp đem cơm xuống cho chúng tôi, cũng có đủ chén bát, muỗng đũa cho tất cả mọi người. Ăn xong, để một chỗ, nhà bếp sẽ xuống lấy. Gần tối, một linh mục người Úc, cha Quentin xuống thăm. Ông thăm hỏi từng người, rất ân cần. Cuối cùng, vợ tôi than phiền bị mất tượng Phật. Ông bảo yên tâm, để ông đi tìm. Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, ông trở lại, tượng Phật ông bồng trong tay, đưa cho chúng tôi. Hỏi ông tìm thấy ở đâu? Cha Quentin nói: “Ở chùa!” Té ra có một đám thanh niên làm việc cho “supply”. Họ xuống lấy củi ở cầu tàu. Thấy tượng Phật, họ bèn lấy đem lên chùa. Họ theo đạo Phật, thấy tượng Phật để trên hành lang thì họ đem về chùa! Có gì lạ đâu! Nhưng tôi thì thấy buồn cười. Ở nước tôi, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, có “Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc”, Việt Cộng thấy tượng Phật thì nắm quẳng ra hàng rào, cho là thứ thuốc phiện, có hại. Nếu là người có đạo Thiên Chúa, có lẽ họ không tôn trọng, không tin tưởng. “Thiên Chúa là ánh sáng”. Cái gì không Thiên Chúa là bóng tối? Phải chống lại, diệt trừ! Phải vậy không? Ở đây là Thế giới Tự Do. Nó không thuộc ai cả, nên nó khác lạ: Một ông linh mục đạo Thiên Chúa, đi lên chùa tìm tượng Phật đem về cho người tị nạn theo đạo Phật. Người ta không có sự phân biệt tôn giáo như quê nhà tôi, trước kia cũng như bây giờ!!! Khi trời gần tối, tôi đứng ở cửa sổ nhìn lên đảo. Trên đảo lại có một ngọn đồi. Người ta gọi là “Đồi Tôn giáo”. Chùa, nhà thờ, chùa Cao Đài, chùa Hòa Hảo, quây quần với nhau trên ấy, hòa hợp vui vầy!!! Khi ấy lễ nhà thờ vừa xong, con chiên của Chúa từ trong nhà thờ túa ra, phần đông là các bà, các cô, mặc áo trắng. Họ đi theo con đường xuống chân đồi, vòng qua phía tượng “Ông Già Bidong” rồi quẹo qua phía đầu cầu jetty, đi ngược lên đảo. Họ đông lắm, đi liền nhau, như một con rắn trắng, uốn mình theo con đường cong. Tại sao người ta đi nhà thờ đông thế? Tại vì ở quê họ không được đi nhà thờ, hoặc có đi mà còn sợ Công An. Có thể ở đây vì không khí tự do, người ta cần cầu xin cho mình một tương lai. Dù với lý do gì, thấy họ đi đông, lòng tôi vui lên, trước một cảnh tượng đẹp, không kém phần trang nghiêm của tôn giáo và sự tự do. Đêm đó, ngày 1 tháng 6 năm 1989, tôi ngủ ngon trong chăn ấm, dù ngôi nhà đó nằm trên bờ biển, gió thổi suốt đêm! Hôm sau, ăn uống xong, thay vì được đưa lên đảo, chúng tôi được đưa xuống tàu sắt Su-Ma, tàu của trại tỵ nạn, để vào đất liền, thuộc tiểu quốc Terrenganu.
Từ bến tàu chúng tôi được đưa lên xe bus để về trại Marang. Mã Lai nguyên là thuộc địa cũ của Anh nên xe chạy bên trái thay vì bên phải như ở nước ta. Vì vậy, mỗi khi thấy có chiếc xe chạy ngược, tôi hơi ngờ ngợ. Sau nầy, quen thân với ông Đại úy Di, người cùng đi chuyến tàu vượt biên, tôi hỏi đùa ông về cái cảm giác xe chạy ngược chiều, ông bảo: “Tôi cứ đạp thắng phụ cho tài xế hoài, nhưng xe vẫn chạy”. Điều nầy, đối với người quen đi bên phải, pjải ngỡ ngàng. Trong cuốn đi Tây của Nhất Linh, ông kể rằng khi tới Aden, thuộc địa của Anh, ông viết đùa là phải tính nhẩm bên trái, bên phải để tránh xe. Trại Marang là một ngôi nhà lớn, đã cũ, có lẽ do Cao Ủy Tỵ Nạn thuê lại của chủ, làm nơi tạm trú cho người tỵ nạn được tấp vào bờ ở bán đảo Mã Lai, trước khi đưa ra đảo Bidong hoặc cho đồng bào tị nạn ở đảo vào đất liền có công việc gì đó, thường như là khám bệnh do bệnh viện Sickbay của đảo chuyển vào. Ngôi nhà có mấy cái sàn lớn để làm chỗ ngủ, có chỗ nấu bếp, và một phòng y tế. Sau nhà là một vườn dừa lớn, khoảng hơn 50 cây. Dừa đã có trái, cấm hái. Tuy nhiên, nhiều thanh niên vẫn chờ đêm khuya, hái trộm ăn chơi. Chính nhân viên trật tự Mã Lai cũng bao che cho họ, hái trộm dừa. Trại có vòng rào kẽm B-40 rào quanh. Cổng trại luôn đóng kín, cấm người tỵ nạn ra khỏi trại. Phía bên hông ngôi nhà là bờ biển, phẳng, nhưng cát hơi vàng. Vòng rào quanh nhà cũng ngăn không cho người đi ra biển.
Trước khi tôi tới đảo khoảng một vài tháng là thời gian người vượt biển đến đông, ngôi nhà nầy không đủ chỗ để ở. Chính quyền Mã Lai dựng thêm nhà bạt hay phát các tấm nylong để người tỵ nạn che chỗ ở quanh vòng rào. Bây giờ thì người đã ít đi. Hôm tôi tới, chỉ có 26 người của ghe tôi đi. Chiều hôm chúng tôi tới thì có một toán thuộc Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai đến lấy danh sách. Ghi tên từng người xong, họ hỏi: “Muốn định cư ở đâu?” Ai cũng mừng, cứ tưởng như vài hôm nữa sẽ được thỏa ý nguyện. Kẻ nói đi Úc, người đòi đi Mỹ. Tôi thì phân vân. Con gái thứ hai của tôi ở Mỹ nhưng tôi chẳng muốn đi Mỹ. Tôi có định kiến! Hai cuôc chiến tranh Đông Dương kéo dài từ 1945 đến 1975 là 30 năm. Ai gây ra cuộc chiến tranh nầy, nếu không phải là 4 anh đầu sỏ: Mỹ, Pháp, Nga, Tàu hay sao? Chắc chắn không ai muốn định cư ở Nga hay Tầu. Đi tìm tự do mà định cư ở các nước Cộng Sản nầy thì có khác chi cô Kiều “Hết nạn nọ đến nạn kia”. Còn như Pháp, Mỹ thì họ có tội với dân tộc Việt Nam đấy. Pháp tái xâm lăng Việt Nam với súng đạn Mỹ, còn Mỹ thì chính là “đồng minh chạy làng” của chúng ta. Chơi vậy thì chơi với ai.” Hôm sau, khoảng 80 người của một chiếc tàu khác, tấp vào bán đảo, được chuyển đến đây ở chung. Chiếc tầu nầy cũng bị hải tặc Thái Lan tấn công, nhưng thoát được. Ai nấy hú hồn. Ở trại Marang có ba hôm, chẳng làm gì ngoài các thủ tục vô bổ như thế, hôm sau, 26 người chúng tôi lại được xuống tầu đưa về lại đảo Bidong. Hôm ấy đúng là ngày 4 tháng 6 năm 1989, vụ thảm sát ở Thiên An Môn đang xảy ra.
Đâu có phải sợ con chim hay con cá. Trước kia thì người thương người. “Thương người xa xứ lạc loài tới đây.” Bây giờ không phải là người xa xứ, mà lại là người cùng xứ. Người cùng xứ giết nhau không gờm tay! Ấy là vì ai? Là vì chủ nghĩa? (Cộng Sản), vì người? (Cộng Sản) hay vì cuồng tín? (tôn giáo) hay vì cái gì nữa? Biết bao nhiêu là cái vì?
Một hôm tôi nhận được cái giấy mời đi ăn giỗ. Thư viết tay, giấy xé từ tập học trò nhưng bỏ trong bì thư đàng hoàng. Người mời là “trưởng ban”. Không nói ban gì. Hỏi ông thượng sĩ Lê Đức Vũ, nhân viên của tôi, “rân ri cư”, – như tôi thường nói đùa -. Ông ta bảo: “Đây là mấy ông cựu Dân Xã Đảng”. Ông Vũ nói tiếp: “Cũng lạ! Xưa nay họ không mời ai! Sao bây giờ lại mời Chỉ huy trưởng?”
Từ giữa thập niên 1950, tôi có nghe báo chí nói về “Dân Xã Đảng”. Đó là tiếng gọi tắt “Dân Chủ Xã Hội Đảng” do giáo chủ Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1946, với sự góp sức của ông Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Bảo Toàn để chống Pháp lẫn Việt Minh (Cộng Sản), với mục đích thực hiện một cuộc cách mạng con người, dân tộc và xã hội. Tổng Bí Thư là ông Nguyễn Bảo Toàn. Ông nầy lại là một tín đồ Thiên Chúa Giáo (1), lại chính là người đề xướng lên việc “truất phế Bảo Đại”, mời ông Diệm lãnh đạo đất nước năm 1955.
Tôi đến dự bữa giỗ đó, tại “trụ sở” của họ. Đó là một gian nhà tranh nhỏ, nằm sâu trong một con hẽm, gần phía đồng lúa. Hẽm nầy cách chợ Kiên Tân chưa tới nửa cây số.
Khi tôi tới, các cựu đảng viên Dân Xã Đảng đã tới hết, khoảng gần hai chục người. Phần đông họ đã già, trông qua, biết họ gốc là nông dân, không đến nỗi vai u thịt bắp, nhưng trông ai cũng mạnh khỏe, dân lao động.
Tôi được mẹ dạy từ nhỏ: “kính lão đắc thọ”, nôm na là kính trọng người lớn tuổi, nên khi vào đây, tôi cất mũ, đứng qua một bên cửa, chào mọi người. Có mấy bàn tiệc, họ mời tôi ngồi bàn giữa. Tôi xin phép ngồi bàn để một bên, sát vách. Có lẽ họ mến tôi vì thái độ ấy. Quanh cái bàn tròn là mấy ông già, vui vẻ, hiền, cứ nhìn tôi cười. Tôi hỏi thăm sức khỏe từng vị. Tôi lấy làm lạ: Những “ông già” hiền từ nầy là những người nầy một thời nổi tiếng giết người không gớm tay hay sao!
Tôi nghĩ thầm: Ai cũng có vẻ hiền từ, vậy mà một thời nổi tiếng hung dữ tàn ác.
Câu chuyện như vầy: Sau khi giáo chủ Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo bị Việt Minh thủ tiêu, chuyện trả thù giữa hai bên xảy ra bằng sự chém giết lẫn nhau rất tàn bạo. Hễ bên nầy bắt được bên kia là giết, thả trôi sông. Thả trông sông một người hay năm ba người cột liền với nhau bằng một cây tre. Có khi người ta chèo ghe trên sông, bị gọi vào bờ, biểu mua một cánh tay, một cái chân hay một cái đầu người. Người dân thấy mà khiếp nhưng vẫn phải mua, mua xong đem ra giữa sông, thả xuống nước. Việc ấy xảy ra nhiều năm mãi đến khi Việt Minh phải rút khỏi vùng Hậu Giang, tình hình mới êm.
Tò mò chuyện nầy, muốn hỏi cho biết, nhất là với những ông già nầy là người trong cuộc. Chờ đến cuối tiệc, khi đã vãn, chỉ còn mấy ông cụ, tôi bèn hỏi họ. Một ông già trông có vẻ hiền hậu, tên thường gọi là ông Tư, nhà ở bên kia kinh xáng, nơi tôi từng đến thăm ông, nhà ông chuyên làm “bánh tráng chuối” – bánh tráng có chuốn xắt lát mỏng đặt lên trên, ăn khá ngon – giải thích:
_ “Chuyện đó không phải là không có, nhưng tùy nhóm” – theo tôi hiểu là tùy lực lượng Hòa Hảo khác nhau. “Lực lượng Ba Cụt” (Lê Quang Vinh), “lực lượng Năm Lửa” (Trần Văn Soái), “lực lượng Nguyễn Giác Ngô”, “lực lượng Lâm Thành Nguyên”… – Ông Tư nói tiếp: “Có nhóm thì hiền, có nhóm thì dữ. Nói chung, vấn đề tôn giáo mà ông. Việt Minh họ vụng tính, chủ quan. Đụng tới giáo chủ của người ta thì người ta để yên sao được! Kết lại, là do Việt Minh thủ tiêu “Đức Thầy”. Giết bao nhiêu Việt Minh mới bù cho đủ tính mạng “Đức Thầy”?
Tôi ra về, thấy lòng buồn lắm. Người dân miền Tây Nam Bộ hầu hết là lưu dân. Có những người lưu lạc vào đây từ thời nhà Nguyễn “mở đất phương Nam”, có những người gốc Quảng Nam, Quảng Ngãi, không theo Tây Sơn mà theo chúa các chúa Nguyễn, chiến đấu dưới ngọn cờ của Nguyễn Vương, đến khi “Gia Long tẩu quốc” thì họ không theo Nguyễn Ánh sang Xiêm La được. Hai mươi năm, khi Nguyễn Ánh trở về phục hồi cơ nghiệp thì họ cũng đã già, có con có cháu, lo “làm ăn” mà quên chuyện chiến tranh. Rồi khi Gia Long lên ngồi trên ngai vàng ở Huế, trả thù người dân Qui Nhơn từng theo phò ba anh em nhà Tây Sơn, thì những người nầy lại bỏ xứ vào miền Tây Nam Bộ. Những kẻ thù cũ gặp nhau, là những lưu dân như nhau, thương yêu đùm bọc nhau.
Câu chuyện buồn về cuộc Nam Tiến của người Việt ở cuối phần đất nước không thiếu cảm động, nhất là môi khi tôi nghe câu hò:
Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai
Nước sông xanh sao lại chảy hoài?!
Thương người xa xứ lạc loài tới đây!
Câu ca dao mô tả kiếp người Việt lưu vong ở đất Nam Bộ. Tình thế đã yên, vua đã lên ngồi trên ngai vàng (Rồng chầu). Việc cai trị cũng đã xong đâu đó (Ngựa tế Đồng Nai – con ngựa tế là con ngựa đi chậm rãi, đưa quan đi). Vậy mà “nước sông xanh vẫn chảy” – người dân vẫn tiếp tục cuộc đời lưu lạc – Như tôi vậy chăng, từ “giới tuyến” mà cuộc đời đưa đẩy tôi vào tận miền đất xa xôi nầy – Vậy đó! Vì hoàn cảnh đáng thương ấy nên người ta thương nhau, thương người “xa xứ”, thương kẻ “lạc loài”…
Vì đâu mà ngày nay, những người thương nhau vì “xa xứ” lại giết nhau một cách bạo tàn như vậy?! “Đức Thầy”, “Phật Thầy Tây An” hay “Đức Thầy Hùynh Phú Sổ” dạy tu hiền, dạy thương yêu! Vây ai dạy hận thù? Ai dạy “Đấu tranh giai cấp”, ai dạy “Giết! Giết nữa bàn tay không ngừng nghỉ…”
Vùng Cái Sắn ngày nay không còn những huyền thoại như ngày xưa nữa bởi vì sau khi lập dinh điền (dinh điền Cái Sắn), người ở ngày càng đông, nhà cửa ngày càng nhiều, đất hoang lùi dần vào… dĩ vãng, nay chỉ còn toàn là ruộng thì sinh vật vùng đất thấp Hậu Giang đã mai một, tuyệt chủng hay càng ngày càng ít đi. Cá sấu thì nay không tìm được con nào. Giống nầy mất dạng. Tôi nhớ tới câu chuyện bắt cá sấu trong “Hương Rừng Cà Mâu” của Sơn Nam, thấy tiếc một chút như thế nào ấy. Tôi cũng nghĩ tới cái dạ dày của con người ta. Có con vật nào thoát khỏi bị tiêu hóa!?
Thượng sĩ Trần Thông Đến, nguyên là con một ông chủ điền giàu có ở vùng nầy, kể:
_ “Bây giờ không còn “mùa đốt đồng”. Ngày xưa vui lắm! Sau khi gặt hái xong, rơm rạ để lại ngoài đồng. Ít lâu sau, lau sậy mọc đầy. Quá nửa mùa hè, lau sậy bắt đầu khô. Bọn tôi chờ ngày nào có gió lộng thì đi đốt đồng. Giăng một cái lưới ngang phía dưới gió, rồi lên trên gió, cầm mồi lửa mà đốt. Lửa cháy rần rần. Vậy là thỏ, chồn, rùa rắn, đủ thứ loại, kéo nhau chạy xuống cuối gió. Đến đó thì hết chạy, chúng chui vào lưới rồi nằm yên, chờ người đến bắt.
_ “Nhậu hết?” Tôi hỏi.
_ “Nhậu thế nào mà hết được! Đem bán, chở lên Saigon.” Ông Đến nói.
Tôi nghĩ tới những bữa tiệc ở Saigon tôi từng được ông anh tôi cho đi theo! Thịt rừng, thủy sản. Còn những con đuông bắt trên ngọn dừa, hay chà là thì gọi nó là gì? Không là thủy sản, không là lâm sản thì nó là “không sản” vì bắt nó trên không! Không cần đi đâu xa, cứ ở Saigon, món ngon vật lạ nào mà thiếu được. Lại nghĩ tới cái dạ dày của con người mà khiếp thật.
Đem ý ấy mà nói với ông Đến, cứ ở Saigon, món gì cũng có. Ông Đến nói:
-_ Nghèo mà! “Chỉ huy trưởng”! Dù ngon, dù muốn ăn, cũng phải nhịn để kiếm ít tiền.”
Tôi hỏi đùa: “Anh nghĩ nhân loại nầy có hòa bình được không?”
Anh ta hỏi ngược tôi: “Chỉ huy trưởng muốn nói gì?”
Tôi cười: “Chuyện gì nữa! Chuyện ăn. Ăn là chuyện “loạn trên đời”. Vì ăn mà thiên hạ đại loạn; xưa cũng vậy, nay cũng vậy, sau nầy cũng vậy.”
Chúng tôi đều cười.
Một lúc, thượng sĩ Đến nói với tôi: “Ở đây, lúa thì không bao giờ thiếu, không bao giờ đói được. Người ta có giết nhau là vì những lý do khác, chớ không vì đói. Cờ bạc là lý do thông thường. Đâu cũng đánh bạc. Thua hết tiền thì đi ăn cướp chớ có ai đi ăn cướp vì đói đâu. Ông có thấy những cái cà-tang lúa mà khiếp không?
_ “Lúa đâu mà dữ vậy. Mới trông, xa xa, tôi tưởng là ngọn đồi. Mới mấy hôm trước, đi ngang có thấy gì đâu!”
Trăn hội
Nói về thú hoang, ở Cái Sắn không còn cá sấu, nhưng trăn thì còn! Trưởng ấp Đông, đệ tử linh mục Nguyễn Bá Lộc, có nuôi một con trăn. Con trăn nầy rất tạp ăn. Gà dịch, vịt chết, heo chết… thả vào lồng sắt cho nó, nó ăn hết. Thỉnh thoảng, sổ lồng, nó bắt gà hàng xóm, khiến hàng xóm bắt đền trưởng ấp Đông.
Có một sự kiện mà sau nầy, khi đọc tập sách “Mao Trạch Đông, tấn thảm kịch của đảng Cộng Sản Trung Quốc” tôi mới “ngộ” ra mà thấy hay. Trăn mà ít đi thì chuột lại nhiều. Khi đến mùa sạ, chuột đồng lông vàng và mập, đầy đồng. Mầm lúa sạ là món ăn ngon và tốt. Chuột lại mắn đẻ, một tháng đẻ một lần thì làm sao diệt cho hết được. Một hôm, trời mới sáng, khi tôi tới gần bến đò Tân Hiệp thì thấy bên đường có một bức tường đen quá đầu người, dài khoảng hai chục mét. Tới gần nữa thì toàn là những lồng chuột được sắp chồng lên nhau như một bức tường. Lồng nào cũng đầy chuột. Người ta đang chờ xe đến để chở chuột lên Saigon bán.
Chuột là mồi ngon của trăn. Trăn không còn thì chuột mặc sức đẻ. Nông dân có dùng bẫy chuột thì cũng không hết được. Đó là chưa kể loài chuột rất tinh khôn, không thể bẫy nó nhiều lần được. Câu chuyện nầy cũng giống như “chiến dịch chim sẻ” của Mao. Chim sẻ chết hết thì sâu ra nhiều, phá hoại lúa còn hơn chim sẻ. Tạo hóa sinh ra muôn loài muôn vật là đã tính chuyện “điều hòa” giữa chúng với nhau. Đi ngược lại con đường đi của Tạo Hóa làm sao được.
Trăn vùng rừng tràm Trà Tiên “phong phú” hơn vì đất hoang, rừng rậm còn nhiều. Một hôm, vừa về đến nhà, nhà tôi nói:
_ “Ông thượng sĩ Năm Huê vừa đem cho một khúc thịt trăn. Sợ quá, em bảo tài xế Thành đem cho mất rồi. Thành nói: “Khúc thịt trăn dài hơn gang tay, to bằng bắp chân, thịt trắng thấy ngon mà “cô” sợ.” “Cô” là tiếng nhân viên của tôi gọi nhà tôi. Tôi nói: “Thôi mấy ông chia nhau mà nhậu đi!”
Tôi nhớ một câu chuyện cũ, tận mắt tôi thấy, tôi cũng “ngán”, nên tôi không tiếc khúc thịt trăn đem cho. Hồi còn trẻ, tôi hay đến chơi với Phan Xuân Phú, bạn học. Thân sinh Phan Xuân Phú là ông Phan Xuân Sang, nổi tiếng hai việc: Chủ tiệm may “đồ Tây Xuân Sang” đẹp nhất và lớn nhất ở thị xã Quảng Trị. Ông là người đi săn giỏi, bạn cùng đi săn với ông Ngô Đình Nhu trước 1945. Có lần ông kể: Năm 1956, ông lái xe từ Khe Sanh về Đông Hà, dọc theo đường số 9. Trời tối đen, khi gần tới một khúc quanh, ông thấy một đống gì đó, phản ánh đèn xe Jeep của ông, chiếu lấp lánh nhiều mầu xanh đỏ, rất đẹp. Qua khỏi khúc quanh, ông ta mới biết cái đống lấp lánh đó là một con trăn rất lớn, nằm khoanh lại bên đường. Ông ta quyết định bắn con trăn đó. Hai người đi săn cùng ông bảo “đừng”. Con trăn to quá, họ sợ. Ông Sang quay xe lui, chiếu đèn xe vào con trăn. Con trăn vẫn nằm im. Có lẽ nó đang ngủ. Ông Sang núp bên thành xe, ngang đầu máy, kê súng nhắm bắn. Ông ta cũng sợ. Lỡ bắn trật, con trăn bị thương, không chết, nó sẽ vùng lên tấn công. May mắn, sau khi nổ súng, ông ta giết được con trăn. Con trăn rừng – đây là con trăn rừng – to quá, mình to như cái cột nhà. Ba người phải hè nhau hết sức mới đem con trăn lên thùng xe được. Chết rồi mà cái đuôi con trăn còn vùng vẫy. Hai người cùng đi sợ quá, phải leo lên ngồi trên thành xe. Khi Phú chỉ cho tôi xem một khúc thịt trăn, miếng thịt còn nhúc nhích, giựt từng chặp. Thịt trăn khác với các loài thịt khác như thịt cọp hay thịt nai, phải lâu lắm, miếng thịt trăn mới chết hẳn.
Con trăn đồng – trăn ở miền Tây Nam Bộ là trăn đồng – nhỏ hơn trăn rừng. To lắm thì mình nó bằng cổ chân hay bắp chuối, da vàng chớ không đen như trăn rừng. Mấy hôm trước, đi ngang một căn nhà ở ấp Lò Bôm, thấy đông người, tôi dừng xe lại hỏi. Té ra nhà nầy là nơi mua trăn, lột da phơi khô. Thịt trăn thì đem bán. Da trăn sống phơi khô, bán lên Saigon. Ở đó, mấy chú Ba sẽ “thuộc”, nhuộm, bán cho các tiệm may bóp, giày cho phụ nữ hay trẻ con.
Năm Cẩn, nhân viên của tôi, nhà sát nhà lột da trăn, giải thích với tôi:
_ “Tới mùa trăn hội thì trăn về nhiều lắm!”
Giọng nói Nam Bộ, anh ta phát âm “trăn” cũng giống như “trăng”, nên tôi hỏi, có ý đùa:
_ “Trăng thì chỉ có một vầng trăng, làm gì có nhiều trăng mà “hội?”
_ “Trăn là con trăn đó!” Cẩn giải thích. “Hội là chúng nó “hội” nhau lại. Tới mùa con trăn cái động đực, cả chục con trăn đực tìm tới. Cả chục con trăn đực mới làm cho con trăn cái đậu thai. Sau đó, nó đẻ mấy chục cái trứng. Người ta chờ tới mùa “trăn hội” thì đi bắt trăn. Bắt trăn dễ lắm, chỉ cần một cái khăn rằn và một cái bị bàng sâu, khâu nhỏ miệng lại để con trăn không chui ra được. Người ta theo dấu con trăn bò trên mặt đất, đến chỗ nó hội. Khi thấy con trăn, chờ nó ngóc cao đầu, thì người ta phất cái khăn ngang mặt nó. Nó đớp cái khăn nên bị mắc kẹt, khi đó người ta chỉ cần chụp đầu con trăn đè xuống rồi bắt bỏ vào bị bàng.” (2) Có khi hai con trăn đang “xà nẹo” nhau, kết lại như sợi giây đay, “anh chị đang đờ đẫn”, bắt dễ ợt.
“Người đi săn tài lắm. Nhìn lằn con trăn bò trên mặt đất, người ta biết đó là con trăn đực hay trăn cái. Có con bị tật, người ta cũng biết!”
_ “Tật như thế nào?” Tôi hỏi.
_ “Ví dụ xương sống đuôi bị gãy. Đường nó bò không ngay! Nhìn thì biết!” Cẩn giải thích.
_ “Chắc họ có kinh nghiệm!” Tôi nói.
_ “Nghề gì mà không có kinh nghiệm, như tui làm thợ mộc vậy!” Nói xong, anh ta nhìn tôi, nhoẻn miệng cười.
Ông Hồng Ràng, chủ tiệm buôn bán vật liệu ở ấp Ngã Ba, gần chợ Kiên Lương, là con chiên của linh mục Nguyễn Thượng Hiền ở họ đạo An Hòa. “Hồ sơ trận liệt” ghi nhận, hồi 9 năm (3) ông ta theo Việt Minh, hoạt động vùng Kiên Lương/ Hòn Chông/ Hà Tiên quá tới Trà Phô bên Miên. Có lần, trong một bữa nhậu, có cả ông thiếu tá Sầm Long, quận trưởng và linh mục Lương Công Đại, cha xứ họ đạo An Bình của thị trấn Kiên Lương, tò mò, tôi hỏi:
_ “Xứ nầy tức cười! Đạo Thiên Chúa với Cộng Sản như nước với lửa, vậy mà hồi 9 năm, dân An Hòa theo Việt Minh không sót mặt nào!”
Ông Hồng Ràng nói, có vẻ gay gắt:
_ “Yêu nước mà ông! Chống Tây giành độc lập, ai không theo! Trong Rạch Đùng (4), còn sót mấy ông cha Tây trong Dòng Tu, dù không ưa Việt Minh cũng không dám chống. Chúng tôi cũng thông cảm. Cha Tây là người Tây thì ủng hộ Tây. Nếu là người Việt, theo Tây mới là vấn đề!”
_ “Có người Việt nào theo Tây không?” Tôi hỏi, nhẹ nhàng vì sợ mất lòng ông Hồng Ràng như câu tôi vừa nói ở trên.
_ “Giáo dân thì không nhưng cũng có vài ông cha người Việt. Mấy ông cha nầy chạy trốn về Long Xuyên cả. Việt Minh giết như không! Hồi đó, Việt Minh, Hòa Hảo giết nhau như giết gà!” Ông Hồng Ràng nói, vẻ bất mãn.
_ “Hồi đó Việt Minh hoạt động qua tận bên Miên?” Tôi hỏi.
_ “Đất hai bên dính liền nhau. Kinh Vĩnh Tế là do ông Thoại Ngọc Hầu đào mà thôi. Xưa kia đất hai bờ kinh là một. Khi Tây nó lùng lắm hay bên đó kêu cứu thì mình dọt qua bên đó. Khi cần thì về bên nầy. Rút qua rút lại như đưa võng.” Ông Hồng Ràng giải thích.
_ “Bây giờ Việt Cộng nó cũng vậy, thường theo con đường ở mật khu Trà Tiên.” Tôi nói.
Ông Hồng Ràng cười: “Việt Cộng cái gì! Con đường đó là con đường của tụi tui “khai sơn phá thạch”. Sau nầy Việt Cộng đi theo.”
_ “Quốc Gia cũng biết. Ông nhớ bên kia có đồn Trà Phô.” Tôi nói.
Bấy giờ quận Long mới tham gia:
_“Trà Phô trước là “căn cứ Mỹ”, sau nầy Mỹ rút, giao lại cho Biệt Động Quân Biên Phòng. Cái đồn đó là ngọn dao kề cổ Việt Cộng đó.”
_ “Chận đường di chuyển, như “Cây Số 15?” (5) Tôi hỏi.
_ “Căng hơn!” Quận Long nói. Lính không nằm im trong đồn. Ban đêm, bung ra phục kích. Việt Cộng biết phục kích chỗ nào mà tránh, bị “dính chấu” hoài.”
_ “Tại sao bây giờ rút bỏ Trà Phô? Vị trí đó quan trọng lắm mà!” Tôi hỏi.
_ “Ai mà biết! Quân Khu bảo rút thì rút! Nơi sanh tử, Việt Cộng chết nhiều mà mình cũng hao!” Quận Long trả lời tôi.
_ “Hồi đó, rừng Trà Tiên là rừng nguyên sinh, ông Hồng Ràng có thấy gì không?” Tôi hỏi.
Ông Hồng Ràng kể:
_ “Một hôm có lệnh bên Miên rút về. Trước hết, cho hai người đi tiên phong dò đường. Hai anh nầy đi mất tiêu, không thấy tăm hơi gì cả, không quay lui báo cáo tình hình để có thể về hay không! Cuối cùng, chỉ huy ra lệnh về, vừa đi vừa dò đường. Về tới rừng Trà Tiên, phát hiện hai con trăn lớn lắm, có người bảo là thuồng luồng chớ không phải trăn. Tụi tui bắn chết một con, con trăn đực, nó cứ lảng vảng không chịu đi. Có người nói nó muốn bảo vệ cho con cái. Mổ bụng ra, một anh bộ đội còn nguyên trong đó. Té ra, hai anh bộ đội bị trăn nuốt mất rồi.”
Thấy câu chuyện có vẻ huyễn hoặc, tôi không tin nhưng không nói gì. Một người ngồi chung bàn nhậu cười nói: “Trăn mà làm như người. Con đực không chịu đi vì lo bảo vệ con cái. Bộ “Anh yêu em xuốt đời” sao?”
Nghe câu nói đùa, ai nấy đều cười.
Một lúc quận Long nói:
_ “Chuyện ông Hồng Ràng, hồi còn trẻ, tôi cũng có nghe dân Hà Tiên kể lại. Hồi xưa, vịnh Rạch Giá thiếu gì thuồng luồng. Ông nội tôi kể, hồi còn trẻ, ông đi ghe buồm, thuồng luồng ngóc cao đầu đuổi theo ghe là thường. Ghe phải căng buồm mà chạy cho mau. Đuổi kịp, nó mổ một anh mà nuốt như rắn nuốt ếch chớ khó gì?”
_ “Ông nói là thuồng luồng ngóc đầu đuổi theo ghe? Ai dám đi biển!” Tôi nói.
_ “Ông ở ngoài kia vô đây nghe dzậy tưởng lạ. Thời Tây, thuồng luồng còn đầy. Mấy năm chiến tranh, tàu Tây bắn chết nhiều lắm. Bây giờ nó “di tản” qua vùng khác chớ chưa tuyệt diệt đâu.”
Quận Long kể một câu chuyện khác: “Gần Chùa Hang có con kỳ đà ở trong hang. Nó không cần ra khỏi hang. Nước lên, cá theo nước ở ngoài vào. Nước xuống, cá kẹt lại trong hang, làm mồi cho con kỳ đà. Ăn riết, to quá, cái miệng hang thì nhỏ, có muốn ra khỏi hang cũng không ra được.”
_ Rồi nó chết già trong hang, như ông đạo Còm?” Tôi hỏi.
_ “Đâu có, chuyện nầy là chuyện hồi chín năm. Tàu Tây hay đi tuần!”
Tôi cũng tò mò, muốn đi xem cho biết, nhưng rồi chỉ xem được Hang Tiền mà thôi.
Gần Ba Hòn, có một cái hang nhỏ, miệng hang thấp, ngang mặt biển, gọi là Hang Tiền. Tôi nghe nói cha Đại (linh mục Lương Công Đại), xứ đạo Kiên Lương cho dựng một cái thánh giá ngay miệng hang. Tôi rủ cha Đại vô hang một lần, tò mò vì nghe người ta nói ngày xưa, thời “Gia Long tẩu quốc”, đây là nơi Nguyễn Ánh cho đúc tiền hay giấu tiền gì đó, trong hang còn những cái khuôn đúc tiền bằng đá. Vô đó rồi, tôi có thấy gì đâu. Nếu thật, đây là một di tích lịch sử, phải gìn giữ mới được.
Đang ngồi nói chuyện, có nhiều chuyện liên hệ đến “hồi 9 năm”. Tôi hỏi ông Hồng Ràng:
_ “Hồi đó, ông có tham gia việc làm cản đến không?”
Ông Hồng Ràng cười:
_ “Cha trung sĩ Lợi, “đệ tử” của ông chớ ai! Nghề thợ mộc nhà ấy là “cha truyền con nối”.
_ “Ông ta làm gì?” Tôi hỏi.
_ “Cưa, đục, làm mộng! Làm “cản” không cho tàu Tây qua lại.”
_ “Sau nầy mới phá?”
_ “Sau nầy đâu! Hồi đó đánh Tây, mình còn quê. Tưởng đóng cọc, giăng ngang cây làm cản, Tây chịu thua. Tàu nó có đại bác, bắn một phát, bay hết!”
Nói xong, ông ta cười! Ai nấy cũng cười theo.
Tôi kể:
_ “Hôm mới về, nghe nói phía ngang núi Trầu, trên kinh Kiên Lương/ Hà Tiên có cái cản, tôi cứ tưởng như cọc gỗ trên sông Bạch Đằng. Tới nơi coi chơi, tôi thấy chỉ còn mấy cái đầu cọc. Sợ nguy hiểm cho ghe tàu, tôi biểu xã trưởng Long cho nhổ đi, nhưng ông ta nói không nhổ được. Để có dịp, ông ta cho người lặn xuống đáy kinh, buộc mìn vào đó, cho nổ, công việc dễ hơn. Tôi có hứa tôi sẽ xin chất nổ của Nhà Máy cho ông ta.”
Giữa năm 1974, tôi về Rạch Giá. Tham dự một buổi họp chuẩn bị thành lập một tỉnh mới, tên là tỉnh Kiên Hà, lấy tên từ Kiên Giang và Hà Tiên. Tỉnh mới gồm có 3 quận cũ là Phú Quốc, Hà Tiên và Kiên Lương. Một quận mới sẽ được thành lập là quận Giang Thành, từ xã Giang Thành cũ là một phần đất cuối kinh Vĩnh Tế. “Xếp” của tôi nói: “Tôi đã đề nghị Philip Đạt làm chỉ huy trưởng. Chú làm chỉ huy phó. Philip Đạt còn trẻ lại ham chơi, chú lớn tuổi hơn, chín chắn hơn. Công việc mới được tốt đẹp.”
Tôi nói: “Mình chia lãnh thổ nhỏ ra để dễ kiểm soát. Việt Cộng gặp khó khăn nhiều hơn. Mình làm, chúng nó phá. Việc nầy giống như việc thành lập tỉnh Phước Thành thời Ngô Đình Diệm. Tỉnh Phước Thành chưa yên chỗ, chưa hoàn tất hệ thống phòng thủ thì Việt Cộng tấn công, bắt sống tỉnh trưởng. Kiên Hà rồi cũng sẽ như vậy. Về nắm tỉnh nầy, lạnh giò lắm.”
_ “Chú biết như vậy thì chú nên về đấy. Kinh nghiệm là cần thiết.” Xếp nói.
Tôi nói nửa đùa, nửa thật
_ “Quả thật là nguy hiểm, nhưng trung tá yêu cầu, em sẽ về, nhưng nếu “Tổ Quốc ghi ơn”, trung tá nhắc với chính phủ đừng quên vợ con em.”
Sau đó, về Kiên Lương, được ít hôm, tôi lên ấp Hòn Heo, nơi sẽ lập tỉnh lỵ mới, thay vì Hà Tiên hay Kiên Lương.
Từ Ba Hòn, cửa biển Kinh Xáng Hà Tiên đi lên hướng Hà Tiên là ấp Cần Thăng. Đây là vùng đất hơi cao, không làm ruộng lúa mà làm ruộng muối vì đất pha mặn. Từ Cần Thăng đi lên, đất càng lúc càng cao: Ấp Hòn Heo, ấp Bãi Chà Và. Qua khỏi mũi Hòn Cọp là xã Thuận Yên thuộc Hà Tiên. Xã nầy có núi Tô Châu, không cao lắm. Hết núi Tô Châu là Đông Hồ.
Nhìn kỹ, ấp Hòn Heo là một dãi đất cao, dài, từ hướng Núi Trầu kéo ra tận bờ biển. Sát bờ biển là một ngọn núi không cao lắm, có con đường đất vòng quanh núi rồi trở lại địa điểm cũ. Ở đây, có ngôi chùa, tương đối vắng khách thập phương. Trụ trì là một ông thầy chùa trẻ, là một ông thầy mượn cớ tu hành để “hoãn dịch vì lý do tu sĩ” khỏi đi lính chớ chẳng tu hành gì đâu! Biết vậy, nhưng tôi làm gì được khi ông ta có giấy hoãn dịch của Nha Động Viên của ông tướng Bùi Đình Đạm. Kinh nghiêm làm việc khiến tôi rất ngại mấy ông thầy chùa nầy. Học hành ít, dễ tin, dễ bị Việt Cộng tuyên truyền, lại thiên tả, dễ làm giao liên cho Việt Cộng. Qua đầu năm sau, Danh Chịa, một trung đội trưởng Nghĩa Quân giỏi bị chết vì mìn gài ở ngọn núi nầy. Thiếu Tá Sầm Long chảy nước mắt khi được báo tin Danh Chịa tử trận. Dấu hỏi về ông thầy chùa càng to hơn, nhưng tôi chưa làm gì được!
Quách Thị Hoa, mới ở tù Côn Đảo về. Thiếu úy Chiếu báo cáo với tôi là ông ta đang theo dõi “con nhỏ” nầy tái hoạt động. Thị mới về, ai móc nối thị? Móc nối ở đâu? Lúc nào? Thị cũng là người nhạy bén, biết bị động, thị đổi vùng vô Chùa Hang, rồi lại móc nối với thị Vinh ở ấp Lung Lớn, kéo nhau về Rạch Giá mất! (6)
Vùng nầy không trồng trọt gì được cả, toàn cây cỏ hoang, với một vài cây dừa, hay mãng cầu – sách tập đọc gọi là “a quả na” – người ta trồng nhưng bỏ hoang đã lâu.
Tôi dừng xe ngoài đường lộ – liên tỉnh lộ 80 – đi bộ về phía Núi Trầu. Đất cao và khô, bỏ hoang đã lâu. Nhìn lên Núi Trầu, tôi biết phía bên kia, xa xa là Rừng Tràm Trà Tiên, là Mật Khu Trà Tiên, là căn cứ Việt Cộng, là căn cứ tỉnh ủy Long Châu Hà – tỉnh của Việt Cộng, liên kết giữa ba tỉnh Long Xuyên/ Châu Đốc/ Hà Tiên. Thế nào khi đặt tỉnh lỵ ở đây, chúng nó sẽ về phá, mà phá nát ra, không cho tỉnh Kiên Hà hình thành, như chúng đã làm ở Phước Thành. Chính phủ Nguyễn Khánh phải giải thể tỉnh nầy trước kia vậy.
Tôi hơi lo. Từ quê quán bên bờ sông Thạch Hãn, tôi vô tới đây, đánh nhau với Việt Cộng ở đây, biết đời tôi sẽ còn mất như thế nào!? Sao đời lính đưa tôi đi xa quá vậy? Xa như thế nầy, đến tận đây, một vùng đồi hoang nơi tận cùng đất nước. Bất chợt, tôi thấy một cây mắc cỡ bên cạnh con đường mòn. Đây là vùng đất đỏ, nên cây mắc cỡ xanh tốt, to rậm, không như mắc cỡ ở truông Ai Tử. Ái Tử là vùng đất cao, đầy cát khô, nên cây mắc cỡ nhỏ, hoa lá không sum suê. Ái Tử là nơi rất nhiều kỷ niệm, nơi tôi từng “đi chơi” với nhà tôi nhiều lần, khi chúng tôi chưa cưới.
Biết khi nào không còn chiến tranh, tôi lại về Huế dạy học, lại về Ái Tử đi chơi cùng cô ấy như ngày xưa, hơn là ở lại nơi hoang vắng nầy.
Tôi bỗng nhớ một bài hát của Trần Thiện Thanh viết về cây mắc cỡ: “Tôi không phải là vua nên mộng ước thật bình thường.” Tôi là lính, tôi không phải là vua… Bảo Đại. Nhưng rõ ràng bên cạnh chân tôi là một bụi hoa: “Hoa trinh nữ không mặn mà” mà tất cả bọn con nít, rất thích “một loài hoa trên vùng đá sỏi buồn phiền”.
Đá sỏi buồn phiền chỉ là nhân cách hóa. Buồn phiền chính là ở lòng tôi, một người lính đang “lang thang” trên một vùng “đất nước lạ lùng…”./
hoànglonghải
(1)-Ông Nguyễn Bảo Toàn bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và thủ tiêu ở trên sông Nhà Bè. Đại úy (cấp bậc năm 1956, trước 1975 là cựu đại tá) Đào Quang Hiển là người thi hành việc nầy, do lệnh ông Ngô Đình Nhu
(2)_ Đệm, tiếng miền Trung/ Bắc
(3) _ “Hồi 9 năm”, tiếng địa phương: 9 năm kháng chiến chống Pháp.
(4) _ Ấp cuối của núi Hòn Chông, căn cứ cũ của Nguyễn Trung Trực. Sau khi cuộc kháng chiến tan rã, thực dân Pháp thu nhỏ vùng nầy, thành lập quận Hòn Chông để dễ kiểm soát, quận lỵ ở đầu núi, phía Chùa Hang. Cuối ngọn núi nầy, là một Dòng Tu Thiên Chúa Giáo, đào tạo tăng lữ. Nhiều người “rửa tội”. Họ đạo Hòn Chông được thành lập.
(5) _ “Cây số 15”, cách Rạch Giá 15km, trên liên tỉnh lộ 80, là điểm chính trên đường giây 1-C của Việt Cộng, di chuyển từ hướng Campuchia về Cà Mau. (Xem Hương Tràm Trà Tiên, cùng tg).
(6)_ Sau 75, cả hai thị “liên hệ” với cựu xã trưởng Hồ Văn Chánh, bị Công An bắt vì tội “đưa người vượt biên.”
Lễ Giáng Sinh, còn được gọi là Noel, từ tiếng Pháp Noël. Còn tiếng Anh, lễ Giáng Sinh được gọi là Christmas! Đó là ngày sinh của Chúa Jesus.
Gần đến ngày Giáng Sinh, trên đường phố Melbourne, tại các quảng trường, các siêu thị đều có trang hoàng cây thông Giáng Sinh với giày ủng đỏ đựng đầy bánh kẹo bên trong, các vòng lá thông gắn băng lụa đỏ và chuông mạ vàng.
Một số nhân viên bán hàng còn hóa trang thành ông già Noel để dụ khị con nít! Và mấy em phục vụ trong quầy tiệm nhậu cũng đội nón của ông già Noel để dụ khị tui! Lễ Giáng Sinh ngày 25 và ngày 26, tháng 12 là Boxing Day, chủ yếu là ngày nghỉ lễ để quý em yêu mặc tình đi mua sắm; giống như Black Friday, một ngày sau Lễ Tạ ơn, Thanksgiving bên Mỹ vậy!
Nước Úc tự do tôn giáo nên có nhiều đạo khác nhau. Đa phần người Úc gốc Anh theo Anh Giáo; còn những di dân Âu Châu khác như dân Ý theo Thiên Chúa Giáo La Mã. Dẫu vậy, lễ Giáng Sinh là dành cho tất cả dù lương hay giáo, có đạo hay không! Ai cũng khoái vì hai ngày nầy là ngày nghỉ lễ chính thức cho toàn quốc, tất cả mọi người nếu buộc phải đi làm việc vào hai ngày nầy đều được trả lương gấp 2.5 ngày thường. Bằng nghỉ cũng có hưởng lương; nhưng ít hơn! Có còn hơn không mà!
Giáng Sinh là ngày lễ lớn nhất Úc Châu, tương tự với Tết Nguyên Đán ở Việt Nam vậy. Theo truyền thống Giáng Sinh, là một dịp đoàn tụ gia đình! Có những người con đi làm ăn xa cũng lặn lội bay về với cha mẹ, anh em, họ hàng và bạn bè, lối xóm. Sau buổi thánh lễ chiều ngày 24, tháng 12, ngoài đường gần như không còn người qua lại. Các siêu thị đóng cửa vào 6 giờ chiều để nhân viên nghỉ, tụ họp gia đình cùng ăn tối và trao quà vào lúc nửa đêm. Sáng ngày 25, tháng Chạp, thường là cả gia đình cùng đi nhà thờ dự thánh lễ.
***
Sống ở Úc nầy cũng khá lâu, mấy mùa Giáng Sinh đầu, tui chỉ thả hồn mình về quê cũ. Tui vẫn nhớ dọc lề đường Hai Bà Trưng, trước cửa Nhà Thờ Tân Định, kéo dài từ ngã tư Hiền Vương tuốt tới chợ Tân Định, người ta bày bán thiệp Giáng Sinh nhiều màu sắc; có cả cây thông thiệt đốn từ trên rừng Bảo Lộc chở về!
Trong khuôn viên nhà thờ có một máng cỏ đặt trong hang đá làm bằng giấy bồi, với tượng Chúa Jesus, Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, xung quanh là các thiên sứ, mục đồng cùng các gia súc như bò, lừa. Bên trên thường có gắn một ngôi sao dẫn đường cho các nhà thông thái và các mục đồng đến đến Bethlehem, xứ Judea (thuộc Palestine ngày nay, lúc bấy giờ thuộc Đế quốc La Mã), để dâng tặng những phẩm vật lên Chúa Hài Đồng, vì Người sinh ra để làm Đấng Cứu Thế.
Dù đất nước mình, thuở đó, đang chìm đắm trong chiến tranh tàn khốc nhưng mỗi mùa Giáng Sinh về, người dân Sài Gòn, dù lương hay giáo, đều náo nức trong mùa lễ hội. Năm 75, sau khi Sài Gòn sụp đổ và ngay cả khi bôn tẩu tới nước Úc nầy đây, tui không còn tìm được cảm giác say say, nắm tay em yêu êm đềm đi giữa mùa Giáng Sinh như ngày cũ.
Tui có hai đứa cháu nội, học trường đạo. Năm nay, thằng cháu trai lên 6 tuổi, vốn rất liếng khỉ, đóng vai “shepherd” tức mục đồng, người chăn chiên nghèo khổ, người đã tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa trong vở kịch Giáng Sinh trình diễn trước toàn trường. Thấy thằng cháu cưng trong vai diễn áo vũ cơ hàn, em yêu của tui chép miệng, thở dài: “Tội nghiệp nó quá hè!”
Rồi cứ vào mùa Lễ, hàng đêm, tui dẫn mấy đứa cháu hòa theo dòng người, có đến hàng trăm, lũ lượt kéo đến một tư gia, mà chủ nhà đã bỏ nhiều ngày công ròng rã từ tháng Mười Một để trang điểm một cảnh huy hoàng của một đêm Giáng Sinh với hàng ngàn bóng đèn chớp nháng cho bà con mình chiêm ngưỡng! Cảnh Chúa sinh ra trong hang lừa máng cỏ, hình những người tuyết, những cây thông, những cặp chuông, dây giả tuyết, những chiếc ủng, những gói quà tượng trưng và hàng chữ Merry Christmas làm bằng những bóng đèn ca ngợi ngày Lễ. Có Ông già Noel cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà và leo qua ống khói, bỏ quà vào những chiếc vớ treo lủng lẳng dưới cây thông Giáng Sinh trong khi các em nhỏ đang ngủ. Có hình nhân Santa Claus cao tới 3.2 m! Rồi hai con tuần lộc, mỗi con cao tới 1.2 m! Tốn cả vài ngàn đô la cho tiền trang trí và vài trăm đô tiền điện một tháng.
Có những con đường, thị dân đua nhau trang trí trước cửa nhà mình cho mùa Lễ hội. Đêm về, ánh dương vừa lặn, trời sụp tối là cả hàng chục căn nhà bật đèn lên rực rỡ! Nhạc Giáng Sinh, “Jingle Bells! Jingle Bells!” truyền đi từ đài phát thanh địa phương trên băng tầng FM rộn rã cả một khúc đường.
Xe cộ không được phép lưu thông để giữ an toàn cho khách có nhiều con nít đền thưởng ngoạn. Những vị chủ nhà đáng yêu nầy không làm chuyện bao đồng mà là một hành động có ý nghĩa kéo dài đôi khi suốt cả 50 năm, cha truyền con nối! Vì họ yêu không khí tưng bừng của mùa Lễ Giáng Sinh; yêu những ánh mắt sáng rỡ như sao sa, những nụ cười, những ngón tay nhỏ xíu dễ cưng, chỉ chỏ của trẻ thơ khi nhìn ngắm cảnh tượng sinh động nầy!
Tuy nhiên, gia chủ cũng không quên để cái hộp trước cửa để quyên tiền bá tánh đến xem hầu giúp cho các bịnh viện nhi đồng. Cũng là một truyền thống rất hay. Nhưng Mùa Giáng Sinh không phải chỉ dành riêng cho con nít mà còn dành cho đôi lứa! Trai gái thường nhân mùa Giáng Sinh để: “I love you!”, Mỗi mùa Giáng Sinh về, chúng ta lại nhớ đến truyện ngắn the gift of the Magi (Món quà Giáng Sinh) của O. Henry, in lần đầu vào ngày 10, tháng Tư. năm 1906 tại New York, được xem là một trong những truyện ngắn về Giáng Sinh hay nhất mọi thời đại.
Chuyện rằng: Jim và Della là một cặp vợ chồng trẻ, nghèo. Vào lễ Giáng Sinh, dù chỉ còn số tiền 1 đồng đô la 87 xu dính túi, Della quyết định mua một sợi dây bằng bạch kim, đơn giản, không cầu kỳ cho mặt cái đồng hồ bỏ túi quý giá của Jim, vì là của gia bảo!
Dẫu sợi dây đồng hồ giá chỉ 21 đô lúc đó, (theo trượt giá bây giờ bằng khoảng 500 đô!) nhưng đầy giá trị bởi chính bản thân nó chứ không bởi sự lòe loẹt bên ngoài! “Nó cũng giống như anh ấy. Thầm lặng nhưng đầy giá trị!” Để có đủ tiền, Della quyết định cắt mái tóc dài và đẹp của mình, thứ quý giá nhất mà nàng có, để bán cho tiệm làm tóc giả. Cùng lúc, Jim quyết định bán cái mặt đồng hồ quý giá của mình để mua một bộ kẹp tóc có đính đá quý, cài lên mái tóc óng ả mượt mà của em yêu. Cuối cùng, cái kẹp cài tóc thời có mà mái tóc dài em đã bán đi! Dây đồng hồ thời có mà chiếc đồng hồ anh lại bán đi. Tréo ngoe hết ráo!
Món quà của hai người yêu nhau, dành tặng nhau trong mùa Gíang Sinh không dùng được. Như cái tình yêu của đôi lứa chúng ta dâng tặng cho nhau thì lại lớn hơn, trường cửu hơn nhiều! Như vậy, hồi xưa ở Mỹ, cách đây hơn một thế kỷ, người nghèo cũng phải bán đi mái tóc óng mượt, tài sản duy nhứt của thân mình để có tiền chi dụng. Bây giờ, những người phụ nữ nghèo ở Ấn Độ, Trung Quốc hay những nước Đông Âu vẫn thường bán đi mái tóc mượt mà của mình với khoản tiền ít ỏi.
Rồi cũng có những người phụ nữ Ấn Độ xuống tóc để hiến dâng cho vị thần Vishnu, trong tín ngưỡng của người Hindu, được tôn kính như là Đấng tối cao, là Chúa tể của sáng tạo, người cai quản quá khứ, hiện tại và tương lai. nhằm cầu mong sức khoẻ, bình an cho chồng con nên không được cắc nào. Hàng ngày, trong khu vực ngôi đền có khoảng 500 tới 600 thợ cắt tóc làm việc liên tục để thực hiện nghi lễ xuống tóc cho 20.000 người. Trước đây, tóc của các tín đồ hành hương sau khi thực hiện xong nghi lễ sẽ được thả xuống sông. Nhưng ngày nay tóc được các chức sắc trong đền thờ thu gom lại để bán cho các nhà buôn tóc giả ở các nước phương Tây, thu được số tiền khổng lồ lên tới cả 100 triệu đô Mỹ mỗi năm! Những chiếc giỏ lớn đựng đầy tóc mỗi sáu giờ gom lại một lần, sẽ được người ta gỡ tóc rối bằng tay một cách cẩn thận!
Sau đó, tóc được phân loại theo chiều dài, màu sắc, chất lượng tốt xấu rồi đem đi rửa sạch, chải mượt và phơi khô dưới ánh mặt trời. Tóc phụ nữ Ấn Độ, chưa bao giờ được cắt tỉa, được gọi là “tóc trinh nữ” thường bán được giá bởi chúng được nuôi lâu, dày mượt và hầu hết chưa bao giờ sử dụng thuốc nhuộm hoặc màu nhân tạo. Những bộ tóc dài trên 45cm được xếp vào nhóm đắt nhất, với giá khoảng 300 – 450 đô Mỹ đôi khi có thể bán tới 800 đô một ký lô.
Số tóc này được làm thành những bộ tóc giả bồng bềnh, phục vụ nhu cầu làm đẹp của quý mệnh phụ phu nhân, tài tử, người mẫu sang giàu.
Chỉ cần bỏ ra một số tiền khá lớn lên tới cả một, hai ngàn đô là tha hồ chọn lựa, từ màu vàng óng ả xoăn tự nhiên kiểu châu Âu, nâu trầm suông mượt kiểu Hàn Quốc.
Những lọn tóc được mình nâng niu, nuôi dưỡng từ nhỏ trở thành những bộ tóc giả đắt tiền, chu du khắp nơi trên thế giới nhưng những chủ nhân thực sự của chúng vẫn phải ngày ngày sống trong cảnh nghèo đói và phải cần đến những lời cầu nguyện với thần linh để có cuộc sống đỡ khổ hơn.
Đời mà! Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn! Kẻ ăn không hết; người lần không ra. Ở Ấn Độ phụ nữ phải bán tóc để sống còn còn ở nước mình đôi khi người phụ nữ phải bán cả máu của mình để mua gạo cho con!
Mùa Giáng Sinh mùa của yêu thương, của san sẻ, sớt chia: chính là thông điệp mà Đức Chúa Jesus đã truyền cho nhân loại! Xin hãy lắng lòng suy nghĩ và san sẻ tình thương yêu của chúng ta với nhau và cho những người không được may mắn được như chính chúng ta mỗi độ Giáng Sinh về.
“Sáng danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm!” Merry Christmas!
Tôi mang chiếc ghế nhựa ra ngồi ngoài cửa. Không một ai. Tôi hài lòng bởi nỗi vắng lặng đang chiếm ngự khoảng trống. Bình thường nó chẳng được vậy. Nhặng xị, ồn ào. Những thứ tiếng khiến người ta điên đầu đã trốn đi. Hôm nay mồng Một, mọi cánh cửa đều đóng kín nơi hành lang dãy nhà trọ, những đứa thuê ngụ trong đó đã về quê ăn Tết; chúng sẽ làm ồn, khuấy động khi gặp lại gia đình, sẽ tận hưởng sự ấm cúng, no đủ cho bỏ những ngày cơ cực.
Tôi đốt thắp một điếu thuốc và ngó thấy cái thau nhôm móp méo đặt ở giữa sân. Hôm qua bà chủ nhà trọ đứng cúng vái ở đó, có thể bà đã đốt vàng bạc áo xống điện thoại di động tư trang vật dụng cho ai kia khuất mặt và cái thau nhôm giờ này hứng đầy tro. Tôi bước lại gần, ném điếu thuốc xuống chiếc gạt tàn vĩ đại. Tôi moi ví da đựng giấy tờ tùy thân sau túi quần ra. Mỏng manh, nó ít khi được chứa nhiều tiền. Một tờ giấy xanh gấp làm tám được mở rộng, tôi đọc chậm rãi, bình tĩnh, từ đầu tới cuối nội dung của bức thư không ghi ngày tháng. Tôi đặt để mắt nhìn có hơi lâu vào hai chữ cuối: Sương Sa. Cô ấy thực sự đã ở một chỗ quá xa, khuất lấp. Có thể do linh tính, cô đã gửi thêm cho tôi một tấm ảnh. Tôi xem lá thư cả ngàn lần, điều này cũng đồng nghĩa là tôi ngắm tấm ảnh này 1001 lần. Ảnh trầy trụa, ngắm hư hao. Tôi thuộc nằm lòng mọi hàng chữ mà Sương Sa đã viết xuống trang thư. Không cần nhìn bề trái tấm ảnh tôi cũng đọc ra hàng chữ: “Chụp hôm sinh nhật tuổi 17”. Màu mực xanh bị nhòe khi vẽ hình một trái tim bé xíu bên dưới. Một trái tim biến dạng, hoen mờ.
Tôi moi bọc áo ra chiếc bật quẹt, đốt cháy lá thư trước, bỏng tay mới đốt tấm ảnh sau. Chúng co quắp nhăn nhíu lại trước khi biến mất. Rồi gió sẽ thổi ngang, tàn tro bay có làm cho mắt ai cay? Tôi đứng cúi đầu, y như khi bà chủ nhà trọ hoàn tất mọi nghi thức cúng kiếng. Bà ấy có vẻ thành tâm, đứng trầm ngâm tựa đang mặc niệm, hoặc hồi tưởng vụn vặt những kỉ niệm từng có với kẻ vắn số.
Tôi bước vào phòng, rửa mặt, lựa bộ đồ màu đen để thay. Tôi tránh nhìn mặt mình trong gương soi, dắt xe gắn máy 50 phân khối ra sân, khởi động. Vặn tay ga, tiếng máy nổ như biết đập cùng nhịp với trái tim. Rầm rộ gào lên từng hồi, và chính nó, đã trấn an tôi. Đội mũ bảo vệ vào đầu bù xù rồi phóng xe ra khỏi lối đi hẹp, nhiểu rác rưởi. Tôi chạy qua, lần lượt những con đường quen thuộc. Chỗ này tôi từng có thời theo toán thợ lắp ráp dây điện, đặt để camera thu hình ở mỗi góc. Chỗ nọ tôi từng mặc đồng phục cứng ngắt, ưỡn ngực làm nhân viên bảo vệ, ca đêm… Nói chung tôi là một công nhân viên siêng năng và giỏi chịu đựng. Tôi thích hợp nhanh cho từng công việc, ngành nghề khác nhau. Và quan trọng nhất, tôi chưa hề lãng phí của công. Nói theo phương ngữ xa xưa, tôi là thằng người biết làm chủ tập thể. Do đó, lạ lùng thay, tôi chẳng bao giờ có được cơ hội thăng tiến. Tôi chậm lụt. Tôi không biết “văn hóa phong bì” là thứ gì. Đồng nghiệp có đứa từng chửi thẳng vào mặt tôi: “Đù má mày, muốn máy chạy đều an toàn xa lộ thì phải biết châm nhớt chớ. Có ngày mày sẽ phải chết khô đó con!” Những nhà tiên tri tóc xanh mái đầu ấy đã phán đúng. Tôi chết. Tôi chết. Và tôi chết. Tôi nói tôi giỏi chịu đựng và tôi cứ luôn thay đổi công việc là vì vậy.
Như một giã từ thầm lặng, sau rốt tôi đổi hướng, chạy về bãi trống của bến xe đò liên tỉnh. Một vòng, hai vòng, cuối cùng tôi lựa chọn được một cửa tiệm vắng khách. Tắt máy, dựng chống xe bên bờ lề loang màu ngũ sắc của dầu mỡ. Cởi nón kẹp bên hông, tôi nói với người đàn ông đen đúa đứng án trước cửa: Ông muốn mua chiếc xe này không?
Sau lưng ông thắp sáng ngọn néon xanh lét. Ông ta to lớn dềnh dàng một cách chẳng được bình thường. Áo quần ông mặc vào người không phải là thứ mà người ta ưa chưng diện trong ba ngày tết. Đó là hạng người lao động cần cù và lễ lạc là thứ xa xỉ ông chẳng màng quan tâm. Nhưng nghe câu hỏi của tôi ông tỏ ra có hứng thú. Từ bỏ thái độ lơ là, ông bước lại gần tôi, dáng vẻ linh hoạt. Cần tiền tiêu tết hả chú em? Cây tăm tre cắn giữa hai hàm răng không vì thế mà rơi rụng đi. Hai mươi bốn giờ qua tôi chưa ăn gì cả, ông ta thì tuồng như vừa điểm tâm xong. Cuộc mua bán diễn ra khá nhanh, bởi tôi chẳng phải kẹt tiền tiêu tết. Có lâu lắc chăng là tôi phải để cho ông ta chạy thử một vòng thăm dò tình trạng chiếc xe như lời ông nói. Xong, phải trình thẻ chứng minh nhân dân cho ông xem. Những ngón tay to, u nần ấy soạn viết tươm tất một tờ giấy sang nhượng chủ quyền “cho đúng thủ tục”- chữ ông dùng. Sau cùng, ông bảo, như phát mệnh lệnh: Chú em ký tên ở đây là xong. Ông mời tôi một điếu thuốc Craven A, tự ông bật lửa, đưa tới với hai tay khum. Khuôn mặt giãn nở khi ông thở khói thuốc, như nghệ sĩ vừa hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật đầy ưng ý. Rồi niềm nở bắt tay tôi, ân cần, ấm áp. Chưa bao giờ tôi đón nhận được từ kẻ lạ sự thân thiện gần mức thâm tình đến vậy. Nếu đôi tay không lấm len dầu mỡ hẳn ông sẽ ôm lấy tôi. Hệt như tôi về làng ăn tết và tôi đang mặc áo gấm. Ông quay đầu, hét vào cái hình khối xanh mét ánh điện để lát sau có người đàn bà xuất hiện ở ngạch cửa. Một bó tiền, tôi ngó ông đếm những tờ bạc mà chẳng nghi ngờ cái số thành khi ông hô to: Đủ. Chú em kiểm lại cho khỏi lôi thôi. Lôi thôi, tôi nhét bó tiền vào lưng quần mà không buồn kiểm. Tôi quay lưng sau khi nói, một cách khó nhọc: Năm mới phát tài. Ông cười toe, cả người đàn bà cũng thế: Ừ, năm mới thắng lợi mới. Được ba bước, giọng người đàn bà đuổi theo. Thế còn cái mũ bảo hiểm thì tính sao? Tôi dừng chân, biểu diễn thứ động tác của cầu thủ bóng rỗ, ném chuẩn xác chiếc nón giá gần nửa triệu vào đôi tay ông ta. Cám ơn chú em lì xì quà tết. Chúc sức khỏe và tai qua nạn khỏi nhé.
Tôi lẳng lặng cắm đầu đi tới quầy bán vé xe. Người ngợm sắp hàng rồng rắn nhộn nhạo. Tôi mua cái vé chợ đen, giá đắt gấp bốn lần mức quy định và tôi dỗ giấc ngủ khi đã yên chỗ trên chiếc xe cồng kềnh hôi chua có ai nôn mữa trước đó. Tôi nhẫm đọc bức thư của Sương Sa đã khắc ghi vào ký ức. Tôi mường tượng lại khuôn mặt ngây thơ nơi tấm ảnh co rúm biến dạng khi bị đốt cháy. Và rồi thì xe chạy, hục hặc về miền Trung.
Tôi ăn một bữa cơm thịnh soạn nhất đời. Làm buổi giỗ, cúng kỵ ông bà cha mẹ sơn hào hải vị bày sắp trước bàn thờ cũng không thể xôm tụ hơn. Cùng chung mâm với tôi là cô tiếp viên nhà hàng ăn vận rất thông thoáng. Cô luôn cười, cơ bắp từ khóe miệng ảnh hưởng xuống tới đôi vú. Áo rung động và hàng vải mỏng tuyệt chẳng có nội y. Cô rót bia, đưa tận miệng. Cô dùng thìa, tom góp thức ăn rồi đút vào mồm tôi, chật cứng. Cô muốn thế và nếu thực khách chẳng phải là kẻ tàn phế, đôi tay thừa thải của hắn sẽ dùng vào việc gì? Tôi không muốn bóp vú cô, tôi chẳng thích lùa sâu bàn tay vào cái váy ngắn cô đang ngồi với tư thế gợi mở bày hàng.
– Này anh giai, có thích chơi em không, hở?
– Không.
– Sao anh lại nỡ lòng nào nói thế? Em có gì không tốt chứ?
– Trời đánh còn phải tránh bữa ăn.
– Thế thì ăn xong anh tính sao? Nhà nghỉ chỉ nằm bên kia đường.
– Chúng ta tìm một trò chơi khác, được không?
Tôi gạt chén bát sang, đặt xuống khoảng trống mặt bàn một xấp tiền.
– Tìm hộ tôi một người, số tiền đó tôi dành trả công.
– Khó khăn nhỉ? Anh giai cần phải dài lời hơn. Ma cô, móc túi, gái bán dâm… Đại loại thế.
– Không, thuộc diện cán bộ. Ông ta tên X. làm ở ngân hàng…
– Hú hồn. Cứ ngỡ là ngăn sông cách núi, sóng lớn bể rộng. Ông ấy thi thoảng vẫn lui tới đây, nhẵn mặt.
– Tìm đúng nhà có dễ không?
– Em có thể biết lý do?
– Tết nhất, có người cậy việc nhờ chuyển giao một phong bì lì xì.
– Số một linh tám ở phố Sơn La. Tiền này dành riêng cho em đấy hở?
Tôi nốc hết chai bia cuối cùng vào lúc ba giờ sáng. Khi chạng vạng, tôi đã vẽ được một lối vào căn biệt thự ấy. Trèo cột điện, phóng mình qua một cành cây, nhảy xuống cỏ, đập vỡ cửa kính, thò tay vào xoay nắm cửa, ngồi yên cho mắt quen bóng tối. Bước lên lầu, tôi tìm ra nơi lão X. ngủ chẳng mấy khó. Tôi bật sáng ngọn đèn bắt trên đầu nằm. Lão ngủ cùng người đàn bà, có lẽ là vợ. Cả hai đều béo tốt, mập mạp. Và cả hai cùng tỉnh thức, giã biệt mộng lành. Tôi ngó vẻ mặt hốt hoảng của họ, nỗi sợ hãi làm người họ co quắp. Tôi đã nhập tâm khuôn mặt lão X, có biến dạng tôi vẫn nhận diện được. Tôi vung dao lên, chất xúc tác của bia đã không làm tay tôi run. Máu bắt đầu loang đỏ trên chăn nệm, vấy cả lên mặt người đàn bà. Thủy chung bà ta chẳng la lên được một tiếng cầu cứu. Bà chỉ ú ớ, răng cắn siết vào một góc chăn.
– Bà có đọc báo không? Một tháng trước ông này dùng uy lực cưỡng hiếp cô gái vị thành niên, phá trinh xong lại còn man khai nạn nhân chủ động bán dâm. Luật pháp đã để ông này thong dong tại ngoại trong lúc cô gái xấu số kia bị nhốt vào tù. Cô ta là một nửa của tôi.
Tôi gói con dao vào tờ nhật báo. Tôi bước ra đường nhựa rút thuốc châm lửa thở khói. Bình minh nhú lên vài cọng sáng mỏng manh cuối tầm nhìn. Sương sớm mai ẩm lạnh phả xuống nguời. Tôi đi bộ hết hai dãy phố đang cựa mình thức giấc, điếu thuốc cháy cụt thì gặp phải đồn công an. Tôi bước vào đầu thú với một cánh tay đầy máu đang khô. Có tiếng người la lên: Coi chừng, nó có hung khí. Tôi bị đạp từ sau lưng, hai gã công an vật tôi xuống, bẻ gập đôi tay nhừ mỏi. Mặt tôi va vào nền xi măng ẩm lạnh, mắt hoa lên. Hình ảnh cuối, tôi thấy con kiến tha hột cơm trên lưng, bò nhọc mệt vào sau những chấn song.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.